• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

NƯỚC MẮT CHẨY XUÔI

guo

Bản Tin trên Internet April 5, 2015: Người cha đi 10 vòng Trái Đất trong 18 năm để tìm con.

Một người đàn ông Trung Quốc tên là Guo Gantang, 45 tuổi, đã sống qua 18 năm đi trên quãng đường 400.000 km – độ dài tương đương 10 vòng Trái Đất – để tìm con trai ông bị thất lạc.

Ông Guo Gantang bắt đầu cuộc hành trình tìm  con trai ông vào ngày 21/9/1997 sau khi bé Guo Zhen, 2 tuổi, bị bắt cóc ngay trước nhà ông ở tỉnh Sơn Đông. Theo lời người chứng có mặt tại hiện trường, cậu bé đã bị bắt đi bởi một người phụ nữ luống tuổi.

Kể từ đó, ông bố dành quãng đời còn lại để đi tìm con trai. Anh Guo đã vượt hơn 400.000 km đi khắp các tỉnh Trung Quốc, ngoại trừ khu tự trị Tân Cương ở Tây Tạng. Trong gần 20 năm rong ruổi tìm con, đi bằng xe mô tô, Guo Gangtang phải thay mới 10 chiếc xe mô tô.

Dẫu dành bao nhiêu công sức và lòng thương để đi tìm con, 18 năm qua, Guo vẫn chưa được nhìn thấy mặt con trai. Nhưng người đàn ông yêu con đó đã trở thành ân nhân của nhiều gia đình. Nhờ ông mà hàng chục đứa trẻ thất lạc được đoàn tụ với bố mẹ chúng. Nhờ Guo Gangtang, những người bắt con nít cảm được nỗi đau của những người cha bị mất con nên đã tìm cách cho đứa trẻ bị bắt về với bố mẹ chúng.

Cuộc đi vạn lý của Guo Gangtang thì vẫn chưa thể kết thúc vì ông nhất định phải tìm và  đưa con trai ông trở về nhà. Có những lúc trong túi chỉ còn 5 xu, không đủ mua nổi một suất cơm nhưng người cha chưa bao giờ từ bỏ hy vọng tìm thấy con. Ông nói:

“Lúc nào tôi cũng tự nhủ rất có thể ngày mai tôi sẽ tìm thấy Zhen.”

Câu chuyện tìm con làm  xúc động hàng triệu trái tim đã trở thành cảm hứng cho một tác phẩm điện ảnh Trung Hoa sản xuất năm 2015, mang tên “Lost and Love”, với diễn xuất của ngôi sao Lưu Đức Hoa. Đông đảo khán giả nhờ xem phim này mà biết được hoàn cảnh đáng thương của Guo Gangtang. Hiện nay rất nhiều cư dân mạng tự nguyện giúp đỡ Guo tìm ra con trai.

“Thật cảm động. Chuyện làm tôi muốn khóc… Tôi ước mong Gangtang sớm được đoàn tụ với con trai.” Đó là lời cầu chúc của nhiều cư dân mạng gửi đến người cha yêu thương con mà bị mất con.

Theo BBC, khoảng 20.000 trẻ em ở Trung Quốc bị bắt cóc mỗi năm. Những đứa trẻ xấu số này sẽ bị đưa vào “chợ đen bán trẻ con” hoặc bị rao bán công khai trên mạng, tất nhiên với tên giả.

Buổi sáng ngày 21/9/1997, anh Guo Gangtang, khi đó 27 tuổi, rời khỏi nhà đến làm việc ở hầm mỏ gần đó như thường lệ. Trước cửa ngôi nhà ở thành phố Liêu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, cậu con trai hai tuổi Guo Zhen của anh đang chơi đùa. Khi Guo về nhà sau một ngày làm việc, anh không tìm thấy đứa con trai nhỏ của anh ở đâu. Cậu bé đã bị bắt cóc.

Kể từ đó, Guo bắt đầu hành trình tìm con. Suốt 18 năm qua, anh lái xe máy rong ruổi khắp nơi để tìm Guo Zhen. Tuy nhiên, cuộc tìm kiếm dài hơn 400.000 km, làm anh phải đổi 10 chiếc xe mô tô của anh tới nay vẫn chưa có kết quả.

Theo Shanghaiist, từ khi con trai mất tích, cả nhà Guo chưa bao giờ chụp ảnh chung. Guo Gangtang cho biết gia đình anh sẽ chỉ trọn vẹn khi con trai anh trở về.

o O o

CTHĐ: Buổi sáng Tháng Tư 2015, mưa xuân rơi trên Rừng Phong. Virginia không còn lạnh mùa đông. Trời mát. Chuyện người cha đi tìm con trai trên Internet làm tôi xúc động.

bike

Nước mắt chẩy xuôi.. Lời nói diễn tả tình cha mẹ yêu thương con. Chúng ta yêu thương con chúng ta hơn chúng ta yêu thương cha mẹ chúng ta. Các con chúng ta yêu thương con của chúng hơn chúng yêu thương chúng ta là cha mẹ chúng. Cũng phải nói là hai Tình Yêu đó khác nhau. Mọi sinh vật trên Trái Đất này đều yêu thương con.

Chuyện đi tìm con của người đàn ông Tầu gợi tôi nhớ chuyện Vua David trong Kinh Thánh. Vua David, người khi là chú thiếu niên, đã dùng ná thung bắn cục đá hạ người khổng lồ Goliah. David dùng ná thung bắn cục đá trúng vào giữa hai mắt người khổng lồ Goliath. Vì chiến thắng này David được tôn vinh làm Vua.  Vua anh minh, hiền hậu nên được dân yêu thương, triều thần quí trọng. Vua yêu thương con trai của ông là Absalom. Về già Vua thường thấy lạnh. Các quan trong triều tuyển Abigail, một trinh nữ 16 tuổi, để cô nằm trong lòng Vua David khi Vua ngồi xử việc nước. Hơi ấm của thân thể trinh nữ Abigail truyền sang làm ấm thân già của Vua David, làm cho vua vui khỏe. Đây là chuyện được gọi theo công thức Tầu là “Thiếu Âm bổ Lão Dương.” Tôi – CTHĐ – từng viết một bài về đề tài Thiếu Âm Bổ Lão Dương. .

Trong bài viết ấy tôi đưa ra câu hỏi:

“Nếu Thiếu Âm bổ Lão Dương thì chắc chắn là Thiếu Dương bổ Lão Âm. Những cô gái trinh, trẻ làm cho những ông già gần họ, viết rõ hơn là ôm ấp họ, hôn hít da thịt họ, hay được họ ôm ấp, được vui mạnh thì những chàng trẻ khỏe cũng làm cho những bà già gần họ được vui mạnh.”

Absalom là con trai lớn của Vua David. Chàng đẹp trai, hào sảng, tài kiêm văn võ. Nhưng Vua Cha sống lâu quá mà Thái Tử Absalom thì nôn nóng được làm Vua. Thái Tử lại yêu nàng Abigail. Thái Tử dấy binh làm phản, định cướp ngôi vua, làm chủ nàng Abigail. Có thể Thái Tử sẽ không giết Vua Cha, ông chỉ ép Vua Cha phải làm Thái Thượng Hoàng. Một số võ tướng trung thành với Vua hợp lực tấn công Thái Tử. Trong trận chiến, Absalom phi ngựa qua dưới hàng cây, mái tóc chàng – mái tóc dầy, đen, tuyệt đẹp – vướng vào cành cây, chàng bị treo lơ lửng dưới tàng cây. Các võ tướng không ai dám một mình đến phóng giáo giết Thái Tử. Họ sợ bị mang tội giết Thái Tử. Nhưng họ phải giết Thái Tử vì họ biết nếu để Thái Tử sống, Thái Tử sẽ được Vua Cha tha tội, và Thái Tử sẽ giết họ. Năm, sáu võ tướng cùng phi ngựa đến, cùng một lúc phóng những  ngọn giáo của họ đâm chết Absalom. Họ cùng phóng giáo giết Thái Tử trong một lúc để không ai bị kết tội đã giết Thái Tử.

david

Chú thiếu niên David dùng ná thung – một thứ như súng cao su của thiếu nhi Bắc Kỳ xưa – bắn một cục đá trúng vào giữa hai mắt Người Khổng Lồ Goliath.

Khi được báo tin con trai ông đã chết, Vua David kêu lên:

“Absalom..! Absalom..! Ước gì cha được chết thay cho con.”

Tiếng kêu đứt ruột, tiếng kêu xé trời.

Đó cũng là tiếng kêu trong tim của nhiều người cha có con bị chết:

“Absalom…! Con ơi..Ước gì Bố được chết thay cho Con.”

Năm 1957 tôi tình cờ có tác phẩm tiểu thuyết “Absalom! Absalom! “của Nhà Văn William Faulkner. Tôi đọc  nhưng phải bỏ ngang vì tôi không hiểu tác giả viết gì. Tôi chỉ biết tác phẩm “Absalom! Absalom!” của William Faulkner không phải là chuyện viết về nhân vật Absalom trong Kinh Thánh.

Nhiều năm trước một ông bạn tôi có con nhỏ bị chết, ông bảo tôi:

“Con mình chết, mình chết nửa người.”

Những năm 1960 thanh bình ở Sài Gòn tôi quen biết Phương, một thanh niên đồng tuổi tôi. Phương là con nhà giầu – nhà buôn xuất nhập cảng – anh đẹp trai, ăn diện sang, đúng mode,  nên có danh hiệu là Phương Cao Bồi. Là con nhà giầu Phương Cao Bồi không phải làm việc kiếm tiền, anh chỉ ăn chơi. Anh ái mộ Nhà Tiểu Thuyết Thanh Nam nên hay đi ăn chơi với Thanh Nam. Vợ anh là con nhà giầu. Vợ chồng xứng lứa, đẹp đôi. Phương có đứa con trai năm ấy sáu, bẩy tuổi. Một chiều Phương đưa con tới một biệt thự ở đường Chi Lăng. Vi la này có hồ bơi – piscine – trong nhà. Phương chỉ lơ là trong một thoáng: nhìn lại anh thấy con trai anh nằm dưới đáy hồ. Con anh đã chết. Anh bồng con lên ô tô, đưa con về nhà. Vợ anh phát điên. Chị cho là Phương mải đấu hót với cô nào đó bên hồ bơi không trông con nên để con chết. Quá đau thương, nàng bỏ chồng.

Con ta chết, ta đau thương. Nỗi đau này nặng hơn nỗi ta đau khi cha mẹ ta qua đời. Nỗi đau con ta chết sẽ nguôi theo năm tháng. Nhưng còn nỗi đau ta bị mất tích con, con ta bị bắt đi, thì sao?

Năm 1956 vợ chồng tôi có con trai đầu lòng. Năm ấy tôi làm nhân viên Sở Mỹ USOM – United States Operation Mission – Cơ Quan Hoa Kỳ Viện Trợ – Những năm 1960 USOM đổi tên là USAID.

Năm 1954 tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Sàigonnmới, lương tháng 3000 đồng. Tôi có vợ, vợ chồng tôi không còn ở chung nhà với bố mẹ chúng tôi được nữa. Chúng tôi phải ra riêng, tức mướn nhà ở riêng. Số tiền lương hàng tháng 3000 đồng của tôi năm ấy không đủ cho vợ chồng tôi sống, tôi đòi nhà báo tăng lương tôi lên 4000 đồng. Bà Bút Trà, bà chủ báo Saigònmới, và là bà chủ của tôi – trong đời làm ký giả của tôi, tôi chỉ nhận một mình bà Bút Trà là bà chủ tôi – không chịu tăng lương cho tôi. Tôi bỏ việc trong nhà báo Saigonmới.

Lâm, anh bạn tôi, chỉ đường cho tôi đi làm Sở Mỹ. Tôi thành nhân viên Sở Mỹ USOM. Tôi làm trong Travel Section của Sở. Tôi chuyên  việc đem passport của nhân viên Sở đến những Tòa Đại Sứ, những Tòa Tổng Lãnh Sự, xin Entry Visa. Nhân viên USOM có Passport Diplomatic ra vào các quốc gia bạn không cần Entry Visa, nhân viên Mỹ cầm Passport loại thường phải xin Entry Visa. Tôi đi lấy vé máy bay cho nhân viên đi công tác. Những năm 1955, 1956 nhân viên Mỹ lo việc viện trợ cho Việt Nam đến Sài Gòn thật đông. Những nhân viên USOM mới đến này được gọi là những New Arrival. Tôi phải đón họ khi họ đến phi trường Tân Sơn Nhất, đôi khi ở bến tầu Khánh Hội khi có người đến Sài Gòn bằng tầu thủy. Những chuyến phi cơ từ Tokyo, HongKong  đến Tân Sơn Nhứt ban đêm, hai, ba giờ sáng là chuyện thường. Tôi được báo trước số người đến, giờ họ đến, tôi lấy xe USOM đến phi trường đón họ, đưa họ về Hotel Majestic. Việc này làm tôi có nhiều giờ overtime. Nhân viên Mỹ USOM, sau là USAID, đông hơn số nhân viên Mỹ trong Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Cùng thời gian này tôi viết tiểu thuyết phóng tác cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi đang kiếm được nhiều tiền. Nhưng rồi tôi chán công việc tôi làm ở USOM. Tôi đã nhiều lần viết: Tôi muốn làm báo, viết tiểu thuyết. Tôi muốn sống bằng việc Viết. Tôi không muốn làm thư ký, dù là thư ký Sở Mỹ với việc làm dễ, thoải mái, lương nhiều. Một chiều tôi nói với vợ tôi:

Hoàng Hải Thủy và Hoài Nguyên, Sài Gòn năm 1957

Hoàng Hải Thủy và Hoài Nguyên, Sài Gòn năm 1957

“Anh bỏ USOM. Ngày mai anh không đi làm USOM nữa.”

Vợ tôi ngạc nhiên:

“Tại sao anh là bỏ việc ở USOM?”

“ Anh muốn làm báo, anh muốn viết truyện.”

“Anh cứ đi làm USOM mà anh vẫn viết truyện được mà? Sao anh lại phải bỏ USOM?”

“Anh muốn biết anh có thể sống bằng việc Viết của anh hay không.”

Bỏ USOM, vợ chồng tôi sống được với số tiền nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong – hai báo đều do ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng làm chủ nhiệm – hai báo trả tôi mỗi tháng là 7000 đồng: 5000 Ngôn Luận, 2000 Văn Nghệ Tiền Phong. Năm 1957 vì những xích mích vớ vẩn với anh em trong tòa soạn tôi bỏ ngang việc viết cho Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong. Nguyên nhân “con nít ke”: một số anh viết cho Văn Nghệ Tiền Phong không ưa tôi. Người không ưa tôi nhất trong số vài anh em này là anh Hoàng Tùng. Anh là nhân viên Sở Nghiên Cứu Xã Hội thuộc Phủ Tổng Thống, giám đốc Sở là  Bác sĩ Trần Kim Tuyến. Anh phụ trách Trang Khôi Hài của VNTP. Anh sáng chế chuyện “Kê Mao Côn: Chổi Lông Gà,” võ khí của những bà vợ đanh đá bắt nạt những ông chồng sợ vợ. Trang của anh đăng nhiều bài thơ độc giả gửi về, đại khái thuộc loại:

“Này này bác Hoàng Tùng
Bác đừng có lừng khừng..”
Bác giở điên, giở khùng..
Kê Mao Côn đét đít
Là bác chạy lung tung..”

Nhóm Hoàng Tùng khống chế tờ Văn Nghệ Tiền Phong làm cho tờ báo mất dần độc giả. Chuyện kỳ cục và con nít là có vẻ như anh Hoàng Tùng, và mấy người bạn của anh, muốn đá tôi ra khỏi tờ Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi bị chỉ trích – kín đáo thôi – ngay trên báo Văn Nghệ Tiền Phong là tôi can tội “thuổng văn của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng.”

Quả thực là khi đó tôi có bắt chước giọng văn, lối viết, cách vẽ vời nhân vật trong truyện của ông Vũ Trọng Phụng. Khi bị chỉ trách là “thuổng văn của Vũ Trọng Phụng,” tôi có thể nói:

“Tôi thuổng văn Vũ Trọng Phụng thì đã sao? Tôi không thuổng văn Vũ Trọng Phụng thì tôi thuổng văn ai? Tôi bắt chước lối viết và dùng một số ngôn ngữ trong văn phẩm của ông Vũ Trọng Phụng. Sao lại bảo tôi ăn vắp văn Vũ Trọng Phụng?”

Nhưng thay vì đối phó với sự chỉ trích một cách đàng hoàng, người lớn như thế, năm đó tôi trẻ tuổi, tôi mới 24 tuổi, tôi nhiều tự ái rởm, tôi có tật giận dỗi và giận hờn, giận mà không nói ra, tôi ngu dzốt. Tôi giận ông Hồ Anh chủ báo đã để cho ông Hoàng Tùng là bạn thân của ông, viết cạnh khóe tôi trên báo, chửi tôi ăn cắp văn, không nói một lời với ông Hồ Anh  tôi bỏ ngang việc viết truyện cho Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong.  Ông Hồ Anh chắc giận tôi vì tôi bỏ ngang truyện, ông không hỏi tôi tại sao tôi ngưng viết ngang xương cho báo của ông. Không viết cho Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, tôi mất số tiền 7.000 đồng một tháng.

Chủ nhiệm Hồ Anh phải tự cho báo VNTP đình bản một thời gian để tổ chức lại. Nhóm Hoàng Tùng bị gạt ra khỏi tòa soạn.

Năm 1957 tuần báo Kịch Ảnh ra đời. Tôi làm nhân viên tòa soạn Kích Ảnh, lương tháng 5000 đồng. Vợ tôi sinh cháu Kiều Giang. Tôi kể dài dòng để nói lên tình trạng sống của vợ chồng tôi năm đó: chúng tôi rơi vào cái gọi là Série Noire” Chu Kỳ Đen. Chúng tôi sống thiếu hụt với số tiền 5.000 đồng một tháng của tuần báo Kịch Ảnh.

Một tai họa khủng khiếp đến với tôi. Buổi sáng, khoảng 7 giờ, tôi sửa soạn đi làm. Vợ tôi mới sinh cháu Kiều Giang, còn nằm trong giường. Khi vào phòng tắm, thấy Hoài Nguyên, con trai tôi, khi ấy cháu hai tuổi, chưa biết nói, quanh quẩn bên tôi, tôi đưa cho cháu một đồng:

“Con bảo chị Năm mua sôi con ăn.”

Năm là tên chị người làm của chúng tôi. Lúc ấy, Năm và ba, bốn em người làm những nhà quanh đấy đang đứng trước cửa nhà tôi. Khi tôi từ trong phòng tắm ra, thấy Năm từ ngoài ngõ vào nhà, tôi hỏi:

“Em đâu?”

“Em đâu con đâu có biết.”

Nhìn quanh, tôi không thấy Hoài Nguyên đâu cả. Tôi vội lên xe Vespa chạy một vòng quanh khu phố. Không thấy con tôi đâu. Tôi đến Ty Cảnh Sát Quận Ba – năm ấy ở đầu đường Hiền Vương. Sáng sớm vào phòng trực, khai với thầy cảnh sát trực:

“Con tôi bị bắt.”

Thầy cảnh sát trạc tuổi tôi, đang hí hoáy viết gì đó trên sổ trực, nhẩn nha hỏi:

“Con ông đi lạc hay bị bắt?”

“Con tôi bị bắt. Nó mới hai tuổi, chưa biết nói. Nó đi đâu mà đi lạc.”

“Ông ngồi chờ đến lượt ông khai.”

Tôi nhìn quanh. Trên chiếc ghế dài có đến ba, bốn người  đang ngồi chờ khai báo. Người bị mất trộm đêm qua, người bị thương chắc vì đánh nhau. Chờ mấy ông bà này khai xong chắc phải mất ít nhất lá hai giờ. Gan ruột tôi nóng như bị lửa đốt.

Tôi trở về nhà, bỏ xe Vespa lại nhà, chạy bộ tìm con. Thấy bà già đi chợ Tân Định về, tôi hỏi bà:

“Bà có thấy thằng bé nào đứng khóc ở quanh đây không ạ?”

Bà trả lời:

“Có thằng bé đứng khóc ở trạm xe búyt trước chợ.”

Tôi chạy vi-tét đến chợ Tân Định. Không thấy con tôi ở trạm xe buýt, tôi vừa thở vừa hỏi  mấy bà bán hàng trước chợ:

“Các bà có thấy thằng bé nào đứng khóc ở đây không?”

Có bà trả lời:

“Có thằng bé đứng khóc ở đây. Thầy cảnh sát đưa nó về bót rồi.”

Tôi vẫy taxi. Khi tôi chạy vào phòng trực, thầy cảnh sát vẫn ngồi đó, vẫn hí hoáy viết. Ông bảo tôi:

“Con ông đi lạc mà ông nói nó bị bắt.”

Ông cầm chùm chìa khóa, tôi theo ông đến cánh cửa lưới sắt phòng giam của Ty. Ông mở cửa, một chị trạc 30 tuổi, không biết bị giam vì tội gì, bồng con tôi ra. Tôi ôm con tôi. Không  nói cám ơn chị, không nói cám ơn thầy cảnh sát, tôi ôm con tôi chạy ra, vào taxi, về thẳng nhà. Trên xe, tôi thấy con tôi khóc đỏ hồng hai má, một tay con tôi cầm cái bánh bich-qui sâm-banh. Người đàn bà đi ngang thấy cháu đứng xớ rớ ờ đầu ngõ bế cháu đi, mua bánh cho cháu, nhưng cháu không ăn. Cháu khóc.  Phúc lớn cho vợ chồng tôi là người bắt con tôi  không đi taxi, không đi xích lô, người đó chỉ cần lên xe xích lô đạp là vợ chồng tôi bị mất con. Người đó đón xe búyt về Phú Nhuận. Đến trạm xe búyt cửa chợ Tân Định, vì con tôi khóc, người đó sợ, bỏ con tôi lại, lên xe đi mất.

Chỉ một lần tôi hỏi vợ tôi:

“Nếu ngày đó mình bị mất con, em và anh có thể sống được với nhau không?”

Nàng trả lời;

“Đừng hỏi em câu đó. Em sợ.”

Nhiều lần nhớ lại chuyện vợ chồng tôi bị mất con trong khoảng hai giờ đồng hồ tôi nghĩ nếu mất cháu luôn chắc vợ chồng tôi không thể sống được với nhau.

o O o

Chuyện người bố bị mất con trai hai tuổi, hai mươi năm đi khắp nước Tầu tìm con, là chuyện có thật.

Tôi chỉ không biết những tấm ảnh tôi dùng trong bài này là ảnh người thật hay ảnh trích trong bộ phim điện ảnh Trung Quốc làm theo  chuyện ông bố mất con đi tìm con.

Và chi tiết “ông bố sáng đi làm, bỏ con trai hai tuổi đứng ở cửa nhà” làm tôi nghĩ đứa nhỏ không có mẹ.

Và làm tôi nghĩ: “Tai họa xẩy ra trong một nháy mắt. Tai họa có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, xẩy đến với bất cứ ai. Ai có phúc thì thoát.”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: