• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG

TT Clinton được dân Bắc Việt nồng nhiệt chào đón ở Hà Nội năm 2000. Theo tôi, lẽ ra người Hà Nội phải căm thù người Mỹ - Mỹ đánh bom Hà Nội – Sau Hà Nội, ông Clinton vào Sài Gòn. Dân Sài Gòn không một ai để ý gì đến ông.

TT Clinton được dân Bắc Việt nồng nhiệt chào đón ở Hà Nội năm 2000. Theo tôi, lẽ ra người Hà Nội phải căm thù người Mỹ – Mỹ đánh bom Hà Nội – Sau Hà Nội, ông Clinton vào Sài Gòn. Dân Sài Gòn không một ai để ý gì đến ông.

Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngỏng đầu rồng.

Thơ ông Tú Xương. Ngày xưa những ông thi đỗ cử nhân được Vua ban áo mũ và bằng sắc. Nếu thi ở Huế, các ông được vào cung quì lây Vua, nếu thi ở một tỉnh Bắc Kỳ, các ông quì lậy vị Tổng Đốc tỉnh đó. Ở Bắc Kỳ ngày xưa ông Tổng Đốc thay mặt Vua.

Ca dao:

Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Dường như không có cuộc thi chữ Hán nào đươc tổ chức ở Nam Kỳ. Thí sinh Nam Kỳ phải ra Huế dự thi.

Tấm ảnh đi cùng bài viết này cho ta thấy cảnh các ông trúng cử quì lậy trong sân Dinh Tổng Đốc. Trong ảnh ông Tổng Đốc khăn đóng, áo dài đứng trên thềm cao. Cùng đứng với ông Tổng Đốc là những viên chức Pháp trong tỉnh. Những ông quan Tây đội mũ casque trắng. Như vậy Quan Tây nhờ đứng với ông Tổng Đốc nên được các ông Cử quì lậy. Các ông Cử lậy Vua, các ông không lậy Tây.

Dân Bắc Kỳ dùng nhiều loại mũ casque này. Những năm 1940-1945 tôi từng đội cái mũ casque đó. Sau 1945 Hồ Chí Minh đội cái mũ này – Mũ casque được dân Bắc Kỳ gọi là “nón cối’” vì hình dáng giống cái cối, tên gọi thật đúng – Dân Nam Kỳ ít người sài nón cối. “Nón cối: casque,” di sản của Thực Dân Pháp, được Việt Công giữ và dùng. Hồ Chí Minh là người Việt đội nón cối nổi tiếng nhất. Vì Hồ Chí Minh đội nón cối nên nón cối Thực Dân Tây sống mạnh, sống mãi ở Bắc Kỳ.

Nhưng không có bà Đầm trong những cuộc lễ của chính quyền. Bà vợ công chức Pháp không bao giờ đi theo chồng ra nơi công chúng. Vì vậy không có chuyện những ông Cử Nhân Việt phải quì  lậy bà Đầm.

Không có cảnh:

Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngỏng đầu rồng.

Thời Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bà vợ các ông Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng không bà nào đi theo ông chồng ra nơi công chúng, khi ông chồng gập nhân dân với tư cách viên chức chính quyền. Những bà Đầm vợ các ông Công Sứ Pháp lại càng không xuất hiện bên ông chồng. Do vậy không thể có chuyện Ông Phủ Vĩnh cõng Bà Đầm như được tả trong bài thơ:

Thằng cha Phủ Vĩnh thế mà thâm
Nịnh Bố Cu Tây, cõng Mẹ Đầm.
Đôi vú ấp vai, đầu nghển nghển
Hai tay ôm đít, mặt hầm hầm.
Phen này cứng cựa nhờ ơn tổ
Lúc ấy sa chân chết bỏ bầm.
Chẳng thiết mề-đay cùng tưởng lục
Đưa tay lên mũi, miệng cười thầm.

Bài thơ xưa không thấy ghi tên tác giả, tả cảnh Bà Đầm vợ ông công sứ Pháp, theo chồng đi thăm làng quê trong tỉnh, đến chỗ đường bị ngập nước, ông Tri Phủ Mít cõng Bà Đầm qua chỗ lội.

Tôi đề cao tác giả bài thơ. Thi sĩ tác giả bài thơ này phải có tài làm thơ ngang với Thi bá Vũ Hoàng Chương. Tài và tưởng tượng. Rất tiếc ông đã không để lại tên ông cho hậu thế vinh danh. Bài Thơ Ông Phủ ôm đít Bà Đầm chắc đã có từ những năm 1920. Với tôi, bài thơ là một tuyệt tác.

Phủ Vĩnh Tường ở tỉnh Phúc Yên.

Nhưng chuyện Ông Phủ Mít cõng Bà Đầm qua chỗ lội là chuyện không thể xẩy ra, chuyện không có thật, vì như đã viết, một: bà vợ những ông công chức không đi theo ông chồng trong khi các ông đi làm công việc; hai: công chức người Pháp ít khi, có thể nói là không bao giờ, đi xét thăm những làng quê, đó là việc của giới quan chức Việt; ba: nếu quan Phủ đến thăm làng, chánh tổng, lý trưởng chuẩn bị đón quan cả tháng trước; các ông ra tận đường lớn chờ quan đến. Mới chỉ nói quan Phủ thôi, chưa nói đến Tổng Đốc hay Công Sứ đến thăm làng quê.

Có hai ông Phủ Vĩnh trong Thơ Dân Gian. Đây là bài Thơ thứ Hai về ông Phủ Vĩnh; tác giả Hồ Xuân Hương:

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng tùi càn không khép lại rồi.
Hăm bẩy tháng trời là mấy lúc
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!

o O o

Cảnh những ông mới đỗ Cử Nhân quì lậy ông Tổng Đốc, người đại diện Vua, trong sân Dinh Tổng Đốc. Ảnh ghi khoảng năm 1910-1915.

Cảnh những ông mới đỗ Cử Nhân quì lậy ông Tổng Đốc, người đại diện Vua, trong sân Dinh Tổng Đốc. Ảnh ghi khoảng năm 1910-1915.

Xã Hội Ba Đào Ký

TẢN ĐÀ viết về những cuộc thi chữ Hán ngày xưa:

Ba năm Vua mở khoa thi
Lộn chồng, trả của, Em đi bán hàng.

Hai câu phong dao ấy tôi từ thuở nhỏ có nghe mà đến nay không thấy ai hát, nghĩ chẳng vì thực cảnh của xã hội xưa sau biến đổi cho nên câu hát cũng theo đó mà trôi chìm đi mất ru? Nhớ ngày nào vào khoảng tháng Mười Tây, có nhẽ đó là năm Bính Ngọ (1906 ), năm ấy có khoa thi Nam Định, tôi theo ông anh làm phúc khảo đi chấm trường. Các quan tiến trường, lính hầu áo nỉ, học trò ứng thí, đầy tớ gọng lều. Phố Khách, Hàng Thao, ngựa xe chật ních; Mỹ Trọng, Lang Tĩnh, đường xá chen mông, hai bên hàng phố. Cái quang cảnh ở Nam Định khi ấy tưởng không có hội nào vui bằng. Khoa thi năm ấy, học trò chưa pha vẻ văn minh, thi cử hãy còn theo lối cũ; kinh nghĩa, thi phú, văn sách, ba kỳ thêm kỳ nữa là bốn. Ông Cử, ông Tú, xuất thân toàn thị các ông đồ trong làng Nho “Dài lưng, tốn vải, ăn no…” mà rồi bảng vàng, mũ bạc, lọng xanh, vinh quy bái tổ. Mà rồi nữa Hoàng Giáp, Thám Hoa, Tiến Sĩ, thênh thênh đường cái thanh vân. Nữa mà rồi võng lọng, ngựa xe, lâu đài, chung đỉnh, phu nhân, công tử, phú quý, vinh hoa. Bao nhiêu cái sự không có của các ông đồ trong làng Nho khi bấy giờ với các bạn quần thoa ta rất là có giá trị, cho nên trong xã hội mới có câu ca dao như xưa.

Khóa Kỷ Dậu ( 1909 ), phép thi đổi mới, kỳ văn sách đem lộn lên trên nhất, bài ra năm đạo rồi kỳ luận là thứ hai. Phần chữ Nho thì có như thế. Kỳ thứ ba mới có thi Quốc ngữ, ai muốn thi chữ Tây thì thi. Từ đấy mà con đường Lang Tĩnh, Mỹ Trọng đây “Giầy cao ống mau chân thì bước trước.” Khoa Nhâm Tử ( 1912 ) thi cử như khoa trước mà cảnh tượng thêm não nùng, mưa gió chết người, đến lúc văn chương tàn cục vậy. Sau còn khoa Ất Mão ( 1915 ) nữa là hết; cờ bạc canh cuối, ai vớ được cũng hơn không.

An Nam Tạp Chí Số 14 – 1930.

o O o

CTHĐ:

Ba năm Vua mở khoa thi
Lộn chồng, trả của Em đi bán hàng.

Trường Thi mở ở tỉnh nào, cả ngàn thí sinh khắp Bắc Kỳ tụ tập về đó, Những hàng nước, hàng ăn, nhà trọ được mở ở đó để phục vụ thí sinh. Nhiều cô chủ quán xinh đẹp làm mê mẩn những chàng học trò si tình; những gặp gỡ dẫn đến hôn nhân. Do đó thời xưa ấy nhiều cô gái nhà lành mở hàng nước ở gần trường thi để kiếm chồng.

Tôi théc méc: 100 năm xưa làm sao những thị trấn Bắc Kỳ, như tỉnh Nam Định, có đủ nhà để chứa cả ngàn thí sinh các tỉnh khác đến dự thi.

 

Ông Tản Đà, ông Phan Khôi đều có đi thi chữ Hán. Hai ông cùng không đỗ. Ông Ngô Tất Tố cũng có đi thi chữ Hán, ông Tố cũng không đỗ, dù chỉ đỗ Tú Tài. Dường như ông Phan Khôi có đậu Tú Tài, nhưng ngày xưa thi chữ Hán mà đậu Tú Tài coi như không đỗ, không được chính quyền dùng làm quan cai trị. Không thấy người thời ấy gọi ông Phan Khôi là ông Tú Khôi, trong khi ông Trần Tế Xương vì thi đỗ Tú Tài, đươc gọi là ông Tú Xương.

Nhà Thơ Tản Đà viết về chuyện Đi Thi Ngày xưa:

Sự Thi Hỏng Khoa Nhâm Tứ.

Khoa thi nước Nam ta lập ra, tôi không nhớ rõ là năm nào, khoa thi nước Nam ta bỏ đi, cũng không biết trước là năm nào. Vì một sự thi đó, người vinh hiển cũng nhiều, kẻ khốn nạn cũng nhiều. Các ông đồ xứ quê, nhiều người bán ruộng mà đi thi, thi hỏng lại về, ba năm sau lại bán ruộng mà đi thi, thi hỏng lại về. Mỗi khoa thi, đi thửa ruộng. Ruộng đi, đầu bạc, văn cùn, hỡi người khuê khổn có buồn hay chăng?

Dẫu thế, nếu duyên may, phận tốt, thời cũng nghiên, cũng bút, có khi thấm thót đãthành quan, bà khóa trong làng, buông quang, bỏ ghính. Cho nên một trường thi đó thực là vòng danh lợi của sĩ phu nước ta. Cái vòng danh lơi cong cong, kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào. Sau này nếu có một ngày nào bỏ hẳn sự khoa cử, thời người sinh về sau dầu muốn biết cái tình cảnh đi thi của thi xưa, không dò đâu cho thấy. Vậy nên làm một bản chớp ảnh bằng chữ, chớp một người đi thi, để lại cho người sau cùng xem và cũng giúp cho nhà khảo cổ.

Tôi đã từng là người đi thi, trải biết cảnh tượng sự đi thi, mà nhất là khoa thi năm Nhâm Tứ.

Năm giờ chiều hôm ba mươi tháng Chín năm Nhâm Tứ là năm khoa thi trường Nam, ở Nam Định, thu xếp xong lều, chõng, chiếu, áo tơi, tráp mộc, ống quyển, que ghim, giây chằng, chai nước, nắm cơm, và các đồ văn phòng tứ hữu, xét lại một lượt, đâu vào đó, rồi đi ăn cơm chiều. Ăn xong, uống nước với kẹo cò, rồi nằm để tĩnh dưỡng. Lúc ấy, trong bụng chu mật như người con gái đến ngày cưới xếp đồ quần áo về nhà chồng; các người cùng trọ, đại khái cũng thế cả

Một giờ đêm, dậy ăn cháo với trứng gà, xong, sắn quần áo, nịt bít tất, đeo ống quyển, cho người nhà gánh lều chiếu theo đến trường, vào kỳ đệ nhất. Đường đi vừa trơn, vừa tối, tay cầm đuốc, tai nghe trống, chân bước đi. Lúc ấy, trong bụng nghiêm chỉnh, như quân ông Câu Tiễn nửa đêm đánh úp quân Ngô; các người cùng đến trường, cũng đại khái thế cả!

Lĩnh xong quyển, vào xong vi, đóng xong lều, ngồi nghỉ một lúc, thấy trống ra đầu văn, chen đứng chép lấy về lầu làm. Vừa làm vừa viết, vừa nghĩ, vừa ăn cơm. Độ quá trưa, hơi thấy mưa, rồi thấy gió, rồi cả mưa cả gió, rồi mưa gió thật to. Nóc lều dột, cột lều lung lay, gió thốc áo tơi hai đầu lều, thổi vào đến quyển. Vừa che, vừa giữ, vừa viết, lựa cho khỏi ướt quển thời lưng ra ngoài lều. Bấy giờ giời đã chiều hôm, văn viết đoạn cuối, nước mưa thấm áo dạ mà vào gần đến lưng, nước bùn thấm bít tất mà lên gần đến gối. Các người cùng vi, cũng đại khái thế cả. Lúc ấy, trong bụng vững chắc như ngồi canh tổ tôm đỏ, phỗng để thập thành. Rồi ra khỏi vi, nộp xong quyển, vất tráp cho thầy tớ mà chạy về, thoáng trông các thầy tớ đi đón, đứng rạp hai bên đường, như quân Hán Vương sắp đánh vào Tuy Thủy.

Trưa hôm sau, nghe nói có người học trò người  tỉnh Phú Thọ bị mưa gió mà chết, đó là một kết cục kỳ thi chữ Nho.

Đến sớm hôm ra bảng để vào thi kỳ thứ hai, nghe tin báo hỏng, còn như chuyện ông Tăng Sâm giết người. Báo đến ba tin, hôm sau đã lên đến Hà Nội, hôm sau nữa đến Việt Trì, lại hôm sau nữa đến Hòa Bình. Hoa vàng, cỏ lục. nước biếc, non xanh, cho hay là thói hữu tình, hãy cho thoát khỏi trong vành bước ra.

Khoa Kỷ Dậu tôi thi đã hỏng, khoa Nhâm Tứ tôi lại hỏng thi. Từ đấy chừa nghề thi. Thiên hạ còn thi  thiên hạ hãy còn người thi hỏng.

CTHĐ. Đọc chuyện thi cử ngày xưa tôi théc méc:

Không có chuyện thi trong nhà. Không có căn nhà nào đủ lớn để có thể làm trường thi cho cả ngàn thí sinh. Có những kỳ thi số thí sinh lên đến 4000 người. Có lẽ vì số thí sinh quá đông nên trường thi được dựng trên một bãi đất, có khi là cánh đống, ngoài tỉnh.

Thí sinh phải tự mang lều chõng vào trường thi, phải tự tay dựng lấy lều để ngồi làm bài thi. Buổi thi kéo dài từ sáng sớm đến chiều gần tối. Cơm nước có thể mang theo nhưng  không thấy ghi gì về việc thí sinh cần đi tiểu thì làm sao giải quyết. Tiểu thôi, nói gì đến đại. Việc nhỏ nhưng rất quan trọng.

Ông Tản Đà kể thí sinh phải ra cổng trường thi chép đề thi. Ngày xưa chưa có roneo, photocopy nên không thể in đề thi phát cho thí sinh. Tôi thấy việc ghi đề thi rất phiền nhiễu cho thí sinh. Đề thi được viết trên giấy, dán ở cổng trường, hay được đọc qua loa? Thí sinh viết bằng bút lông, bút lông muốn viết phải chấm mực, không lẽ khi ra cổng trường để ghi đề thi, thí sinh phải bưng theo cả nghiên mực cùng với giấy bút? Năm xưa ấy nước ta chưa có bút chì.

Cả ngàn ông chen chúc nhau ghi đề thi? Ghi đề cho sớm để về lều làm bài. Làm sao ghi?

Thí sinh được phát quyển, tức phát tập giấy, để viết bài thi. “Lĩnh xong quyển, vào xong vi..” Lấy tập giấy được phát để làm bài thi, vào xong vi là vào trong vòng rào của trường thi. Giấy đâu mà phát cho cả ngàn người trong một lúc?

o O o

Mời quý vị đọc sang chuyện khác:

CTHaDong@xxxxx.??? Sent: Saturday, May 09, 2015. To: hv@xxxxx.???

Rừng Phong 9 giờ sáng Thứ Bẩy. Được tin HV. Rất mừng. Mấy năm nay nhiều thân hữu bỏ tôi, nhiều độc giả bỏ tôi. Mất ai tôi cũng tiếc nhưng nếu mất HV tôi tiếc nhất.

Quá lâu không được thư nào của HV, biết HV về Việt Nam, tôi nghĩ HV về sống luôn ở VN hay sao? Hiện HV ở đâu? Kỳ Hoa hay Sài Gòn, Việt Nam?

Cô Alice càng ngày càng yếu. Có thể cô ra đi bất cứ lúc nào. Năm nay cô Tám Bó lẻ Bốn Que. Tôi sợ cô đi trước, phải sống thiếu cô, tôi sẽ khổ lắm. Tình cảnh đó có thể đến với tôi bất cứ lúc nào, nên tôi xuống tinh thần. Tôi phải nói là “xuống lắm”, tức không phải xuống vừa. Nay nhiều lần thấy cô nằm im, tôi nghĩ có thể cô đã đi rồi, cô đã xa tôi, mà tôi không biết.

Viết là việc tôi thích làm, ước mơ được làm từ năm tôi 10 tuổi. Tôi từng viết:

“Với tôi Viết là Hạnh Phúc. Tôi sống để Viết, tôi Viết để Sống.”

Đã viết dài dài trong 20 năm nay, tôi viết ngay từ ngày thứ hai tôi đến Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích; trên “hoanghaithuy.com” nay đã có 900 bài Viết ở Rừng Phong; nay tôi hết ý hay để viết. Có đề tài gì hấp dẫn, có gì trong tim tôi, tôi viết ra hết rồi. Nhiều lần đang viết, tôi thấy tôi vô duyên, viết chuyện nhạt, chuyện không đáng gì, tôi bỏ ngang bài viết.

Nhờ người bạn trẻ Bắc Thần dựng cho tôi Blog “hoanghaithuy.com,” tôi có điều kiện tìm ra, đọc lại những bài Viết ở Rừng Phong của tôi, những bài VoRP từ hai mươi năm nay. Nhiều lần muốn viết về một chuyện gì đó, chưa kịp viết thì tôi tình cờ thấy chuyện đó tôi đã viết rồi, đã viết từ năm, mười năm trước, chuyện đăng trong Blog của tôi. Nay nếu tôi viết lại đề tài ấy, bài sẽ nhạt hơn, vàng võ, còm cõi hơn bài trước. Tôi cũng không có hứng viết lại những gì tôi đã viết.

Từ năm 2003 cô Alice bị ngã, tôi bỏ hết mọi cuộc gặp anh em, tôi ở nhà 24/24 chăm nom cô. Tôi bỏ anh em nên anh em bỏ tôi. Tết vừa rồi, tôi thấy vợ chồng tôi cô đơn dễ sợ. Hoài Nguyên, con trai chúng tôi, ở Houston, Kiều Giang, con gái chúng tôi, ở Cincinnaty. HV biết dư tình cảnh người Việt sống ở Mỹ: phải bám víu job, không thể bỏ việc soành soạch để đến thành phố xa sống với bố mẹ già vài ngày.

Nay tôi ngày 3 lần Computer. Sáng 9 giờ đến 11.30 trưa, chiều 3 giờ đến 5 giờ, dành 1 giờ tập thể dục, tôi đi trên treadmill 30-40 phút, 20 phút tập tay với mấy quả tạ nhỏ. Nhà chúng tôi – housing for low-income seniors – thường được gọi là “Nhà Già” – vợ chồng tôi sống trong nhà già này từ 20 năm nay, nhà có Exercice Room với đủ các thứ máy tập ngay trong nhà. Mùa xuân, mùa thu tôi thích, tôi hay đi ngoài trời 60 phút, lúc 5, 6, 7 giờ chiều. Thành phố Mỹ sạch, vắng và đẹp. Cây xanh, hoa lá hai bên đường. Không rác bụi, không khói xe ô tô. Đi bộ thật đã. Phải nói là lý tưởng cho những người già thích đi bộ như tôi, người từng tập thể dục mỗi chiều trong phòng giam Nhà Tù Chí Hòa, người từng đi bộ trong Công Viên Lê Văn Tám, Hòa Hưng, nơi trước 1975 là nghĩa địa đô thành..

Thành phố chúng tôi sống có nhiều cây xanh. Virginia có danh hiệu là Virginia is for Lovers. Năm 1994 khi được ODP Saigon chấp thuận cho đi sang Mỹ, vợ chồng tôi chưa biết nên đến thành phố Mỹ nào thì chúng tôi được thư ông bạn Anh Ngọc gửi về. Trong thư có ảnh ông bà ngồi trên thảm cỏ xanh có những cánh lá vàng.

Tôi nói với Alice:

“Virginia đẹp quá. Chúng mình đến thành phố này nhé.”

Và đôi cánh đại bàng United Airlines đưa vợ chồng tôi qua Thái Bình Dương đến San Francisco. Và một buổi trưa Tháng 11, 1994 vợ chồng tôi đến phi trường Reagan, Washington DC.

Tôi vẫn mong được tin HV. Đừng bỏ tôi nhé. Hiện nay cuộc sống của HV ra sao? Cô Alice vẫn nhớ HV – 10 năm trước –HV làm cho cô một CD ghi tất cả những ca sĩ hát bản Les Feuilles mortes. Cô vẫn thường nghe CD ấy và nhớ HV. Chúc HV vui mạnh. HHT

From hv@xxxxx.???:

Bác Thủy và cô Alice quý mến

Cháu về VN, internet chậm quá nên không mở được emails comcast. Xin lỗi bác và cô Alice. Cháu kính gửi lời hỏi thăm sức khỏe cô Alice. Chúc Bác và cô luôn vui khỏe.

Đọc thư bác Thủy cháu xúc động. Cháu thật có lỗi với bác Thủy và cô Alice, biết cô Alice trông tin cháu mà cháu không liên lạc thăm hỏi gì cả.

Cháu vẫn ở Portland, OR. Cháu có bà chị bên nhà đã già mà ở một mình nên 1 năm cháu về VN vài ba tháng ở chơi với chị cháu.

Bên này thì cháu lu bu với gia đình mấy đứa nhỏ, hết đi California lại đi New York thăm cháu. Nhiều lần cháu muốn đến Washington DC thăm cô Alice mà không có dịp.

Nghe bác cho biết nay cô Alice ngày càng yếu, cháu buồn quá và thương cô quá. Cháu chỉ lo chuyện té ngã làm cô Alice đau nhức ngủ không được mỗi khi trở trời là khổ lắm.

Sức khỏe của bác Thủy ra sao ? Tuần nào cháu cũng vào blog đọc bài bác viết, bài nào cũng thấy hay thấy thích, không bao giờ nhàm chán. Bác Thủy còn viết được là cháu rất mừng, dù cháu cũng muốn bác ‘về hưu’ vì biết viết lách cũng cực nhọc lắm. Làm sao bây giờ? “Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ.”  Những nhà văn chống Cộng của thế hệ chúng ta dần dần rụng hết, còn được mấy người còn nhiệt huyết như bác ?? Thật buồn. bác ơi ..

Bác cứ viết đi dù bác có lập lại đề tài cả trăm nghìn lần độc giả cũng không chán vì phong cách viết của bác rất có duyên và rất tự nhiên. Chưa kể trí nhớ siêu việt và phong phú của bác, cháu muốn nói “uyên bác,” cháu luôn mến phục bác .

Cháu thích nhất là những câu chuyện bác kể về những sinh hoạt và kỷ niệm với những “nghệ sĩ” bạn của bác ở Sai Gon trước 75, những chuyện lôi cuốn và hấp dẫn. Đọc những bài viết đó cháu như được sống lại trong Sài Gòn thân yêu ngày xưa.

Về VN, đi giữa những con đường xưa nhưng nay mang những cái tên phố xa lạ, cháu buồn muốn khóc, như hôm cháu đến Chợ Ông Tạ – bây giờ là chợ Phạm Văn Hai – thấy người ta bán thịt cầy tơ trên vỉa hè trước chợ, cháu cứ miên man nhớ nghĩ đến bác: “Bác Thủy ngày xưa ở gần Chợ Ông Tạ,” “bác Thủy thích món thịt cầy”. Hu..hu.. bây giờ bác Thủy đi rồi, chợ ông Tạ nhìn…buồn thiu !

Bác Thủy nhé… bác không cô đơn đâu, hàng ngàn độc giả hàng tuần mong đọc bác. Bác vui đi, đừng bỏ viết, cháu xin bác thế thôi. Cháu luôn cầu xin cho bác được khỏe mạnh và có nhiều cảm hứng để viết.

Cháu HV

Rừng Phong. 10 giờ sáng July 3, 2015.

Cám ơn HV.

4 Responses

  1. Hôm rồi đi thủ đô tham gia biểu tình chống việt cộng nguyễn phú trọng, tôi cố ghé qua khu thương mãi Eden hầu thấy lại những ông Toàn bò , Bảy bán báo hay ông Thủy, ông Ngọ … lang thang đâu đấy ! Rồi nơi công viên trước Bạch ốc vắng bóng những Phan Vỹ, Trương Như Phùng, Nguyễn Tấn Đức, Nguyễn Tái Đàm, Lai Thế Hùng, Hà Hải … ôi sao buồn quá !!!

  2. Kính tặng Bác 2 câu thơ Bút tre em mới sáng tác do vui mừng đột xuất khi nghe Trư Bát Giới Phùng Quang Thanh qua đời

    Nghe tin Đại Tướng Phùng Quang
    Thanh đang còn sống chuyển sang từ trần!

  3. Muốn biết sự thể thi cử ngày xưa thế nào, xin đọc Lều Chõng của cụ Ngô Tất Tố. Nhiều chi tiết hơn bài viết của cụ Tản Đà. Còn một cuốn nữa là Bút Nghiên của cụ Chu Thiên, chắc là về học hành nhiều hơn về thi cử; nói “chắc” là vì thú thực tôi cũng chưa đọc cuốn này.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: