• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

HÔN và HÍT

Hôn ở Ga Lyon Đèn Vàng: Ra ga tiễn Anh đi. Chưa bao giờ buồn thế. Em nói bằng tiếng Hôn…

Hôn ở Ga Lyon Đèn Vàng: Ra ga tiễn Anh đi. Chưa bao giờ buồn thế. Em nói bằng tiếng Hôn…

Chuyện tôi – CTHĐ – thấy lạ là ông Vũ Trọng Phụng, và ông Lê Văn Trương, hai ông viết tiểu thuyết nổi tiếng của nước tôi, hai ông cùng “đong thóc,” tức nghiện thuốc phiện, hai ông nghiện trong nhiều năm; nghiện như hai ông thuộc loại nghiện nặng,  vậy mà hai ông viết rất không đúng về tâm trạng, hành động của những đệ tử của Cô Ba Phù Dung.

Không phải bất cứ ông Hít Tốp nào cũng biết tiêm thuốc phiện, tiêm thuốc phiện không khó gì lắm xong cũng không phải dễ, không phải bất cứ ai cứ nằm vào bàn đọi, cầm cây tiêm là tiêm được thuốc phiện. Muốn tiêm được thuốc phiện người ta phải là dân nghiện thực thụ, cũng có người không nghiện nhưng biết tiêm thuốc phiện, số người này rất ít. Và những người không nghiện mà biết tiêm thuốc phiện phải là người lê la bên bàn đèn nhiều ngày, từng có nhiều giờ tập tiêm thuốc, từng làm cháy thuốc, làm rơi rớt thuốc, làm phí nhiều thuốc phiện.

Trong tiểu thuyết Giông Tố, tác giả Vũ Trọng Phụng cho anh thư ký Long vừa đến Ấp Vạn Lý Trường Thành đã phom phom lên sập nằm tiêm thuốc phiện cho Nghị Hách.

Giông Tố. Trích:

“Ngh Hách cm lá thư, li hi:

– Anh có biết tiêm thuc phin đy ch?

– Bm vâng.

–  Thế anh ci giày ra, lên sp.

Ngưng trích.

Và thế là anh thư ký chân chỉ hạt bột của trường Ðại Việt phăng phăng la tuy-líp bỏ giầy, lên sập nằm tiêm thuốc phiện.

 

Ảnh hôn nhau được người trên thế giới xem nhiều nhất: Người Lính Hải Quân Mỹ đi vào Time Square ở New York được tin Nhật đầu hàng, Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Mọi người vui mừng. Anh Lính Mỹ ôm hôn một nữ y tá anh không quen biết. 70 năm sau, ảnh được dùng lại nhân kỷ niệm V Day 1945. Người ta thắc mắc: Không biết tên anh Lính và cô y tá trong ảnh.

Ảnh hôn nhau được người trên thế giới xem nhiều nhất: Người Lính Hải Quân Mỹ đi vào Time Square ở New York được tin Nhật đầu hàng, Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Mọi người vui mừng. Anh Lính Mỹ ôm hôn một nữ y tá anh không quen biết. 70 năm sau, ảnh được dùng lại nhân kỷ niệm V Day 1945. Người ta thắc mắc: Không biết tên anh Lính và cô y tá trong ảnh.

Câu hỏi của Nghị Hách:

“Anh có biết tiêm thuc phin đy ch?

..thay vì câu hỏi:

“Anh có biết tiêm thuc phin không?

Cho tôi cái cảm nghĩ là tác giả Giông Tố mặc nhiên cho rằng ở cái thời Nghị Hách hiếp dâm Thị Mịch trong xe ô-tô, ngôn ngữ Bắc Kỳ thời ấy gọi là “xe hòm,” thời Mịch nằm nghiêng cho Long hưởng thụ ái tình; thời tôi – kẻ  viết dòng chữ này – 10 tuổi, việc biết tiêm thuốc phiện là chuyện rất thường với thanh niên Bắc Kỳ, cứ như thời ấy rất nhiều thanh niên Bắc Kỳ biết tiêm thuốc phiện.

Việc anh thư ký Long, không nghiện á phiện, nhưng biết tiêm thuốc phiện đã kỳ cục, việc ông Tú Anh, Hiệu Trưởng Ðại Việt Học Hiệu, một ông Tây học, trí thức, biết tiêm thuốc phiện, tiêm thuốc phiện lành nghề, là chuyện không còn kỳ cục nữa, nó là chuyện vô lý! Không những nó chỉ vô lý mà thôi, nó là chuyện tối vô lý.

Ông giáo Tú Anh đến tiệm thuốc phiện tìm Long, ông tỉnh queo nằm bên bàn đèn, tiêm thuốc cho Long hút.

Trong Giông Tố ông Vũ Trọng Phụng chỉ cho cậu Tú Anh không nghiện thuốc phiện mà biết tiêm thuốc phiện, ông Lê Văn Trưông đi xa hơn trong tiểu thuyết Trường Ðời. Trong Trường Ðời, ông Lê Văn Trưông cho tất cả những nhân vật chính, phụ hít tô phê ráo trọi. Cậu Trọng Khang nghiện dở  đi ngựa đường núi mỏi mệt tối đến cậu cần hít vài bi lấy lại sức không nói làm gì, trên đường qua biên giới sang Tầu làm đường, cậu ngả bàn đèn cho cô Marie Khánh Ngọc, cậu Francois Giáp, hai nhân vật “văn miêng” du học nhiều năm ở Pháp mới về nước, ông Nam Ðồng chủ nhà thầu –  ông Nam Ðồng là ông bố cô Khánh Ngọc –  ba người nằm vào bàn đọi hít tô phe tỉnh queo, như việc đi đường xa tối đến người ta hút thuốc phiện cho khỏe, cho lại sức, là chuyện tự nhiên nhất đời, là chuyện tất cả mọi người đều nên làm và có thể làm..

Cô Marie Khánh Ngọc là “tiến sĩ luật khoa” mới du học ở Pháp về, cậu Francois Giáp cũng mới du học ở Pháp về với cô Marie Khánh Ngọc; cậu Francois Giáp là “kỹ sư cầu cống”, thời xưa học vị ấy thường được kính trọng gọi bằng cái tên Tây là “anh-dzê-ni-ơ pông-shốt.”

Thời xưa ấy ông Nam Đồng  ít gì cũng phải năm bó tuổi đời, chắc từng đi hát cô đầu, từng hít tốp nên tối đến đoàn người đi ngừng lại, căng lều vải nghỉ bên đường biên  giới, nằm hít tốp không có gì lạ, chuyện cô Marie Khánh Ngọc và cậu Francois Giáp hồ hởi nằm vào bàn đọi, thơ thới ngậm mồm vào cái dọc tẩu lần đầu mà không thấy cảm giác gì lạ cả mới là chuyện lạ. Ông Lê Văn Trưông cho cậu Trọng Khang giới thiệu “ thoóc” :

– Thn dược đy. Ðang mi mt, làm vài khói là khe ngay…

Và Nữ tiến sĩ Luật Marie Khánh Ngọc, Kỹ sư Pông-Shốt Francois Giáp nghe theo, làm theo, nằm nghiêng bên khay đèn, mỗi người hít một cặp, tức hai bi, và thế là hai người thấy hết mỏi mệt, tinh thần sảng khoái đúng như lời cậu Trọng Khang nói!

Việc một ông Thầu Khốn Việt Nam ở Hà Nội trúng thầu làm một đoạn đường trên đất Tầu là chuyện khĩ tin. Ở đời cĩ nhiều chuyện “khĩ tin nhưng cĩ thật,” nhưng chuyện khĩ tin người Việt sang làm đường ở bên Tầu là chuyện khĩ tin mà không cĩ thật.

Đồn người sang Tầu đang đi, tối đến nghỉ, ăn, ngủ bên đường, ông Trọng Khang đào đâu ra bàn đèn thuốc phiện?? Ông Trọng Khang không thể mang bàn đèn theo. Đi bộ trên đường qua biên giới, dựng lều vải ngủ đêm ở dọc đường, ông không thể cho người vào trong xĩm mượn bàn đèn của dân địa phưông.

Vậy thì – trong Trường Đời – ông Trọng Khang lấy bàn đọi ở đâu ra?

Tôi sẽ viết về tiểu thuyết Trường Ðời và những chuyện “ đong thoóc” trong Trường Ðời. Ta trở lại tiểu thuyết Giông Tố:

Trích:

“..c tim lúc y li n ào lên vì nhng câu chuyn k l thú v đc bit khác. Vì l ai cũng ch nghĩ đến chuyn làm rm rĩ lên, ai cũng tranh ly nói mà không ai đ tai nghe…

Ngưng trích

Tôi – CTHĐ – lại phải lấy làm lạ vì ông Vũ Trọng Phụng tả cảnh tiệm hút á phiện không đúng,  không những chỉ không đúng thường mà là không đúng quá xá – quá đỗi. Sai không thể tha thứ được. Người hút á phiện xử sự  khác hẳn người uống ruợu, không chỉ khác mà còn có những cái tật trái ngược. Người uống rượu khi rượu bốc thích ồn ào, nói nhiều, nói lớn, la lối, lôi kéo người khác vào cuộc uống với mình, ép người khác phải uống, ép được người khác càng uống nhiều càng thú, dù là ép người khác uống ruợu của mình. Như vậy người uống ruợu khi say cởi mở, dễ dãi, có những bợm nhậu khi say ai nói gì cũng ừ, ai hỏi vay tiền cũng đưa ngay; người hút á phiện khi thuốc ngấm thì khép kín, đóng kín tình cảm, không cần biết đến ngoại cảnh;  các tiên ông thích tĩnh, tối kỵ ồn ào, ghét nói to, vì vậy bàn đèn còn được gọi là bàn tĩnh. Người nghiện á phiện bo bo giữ số thuốc của mình, không thích mời ai hút thuốc của mình, rất ghét bị người hút boóng. Người uống rượu khi say thường nói to, la lối om sòm, người hút thuốc phiên khi say nhắm mắt nằm lơ mơ, nằm phi, văn huê là đi mây, về gió. Cũng có những ông Hít Tốp khi đủ thuốc rồi thì hào hứng nói đủ thứ chuyện nhưng ông nào cũng chỉ nói đủ nghe với ông bạn trong bàn đèn của mình thôi, không ông nào la lối. Có những ông đủ thoóc là nói như khiếu, các ông làng Bẹp có một câu để gọi mấy ông hít vào nói như khiếu là:

“Hắn dùng Cao Xưông Khiếu nên hắn nói như khiếu hót..”

Về cái gọi là cao, có cao Hổ Cốt, cao Ban Long, các tiên ông thêm vào một thứ cao nấu bằng xưông chim khiếu gọi là Cao Xương Khiếu. Số tiên ông Cao Xương Khiếu này rất ít.

Giông Tố. Trích:

Long chưa hp ngay được vi bu không khí n ào y, tai còn đưông rn lên vì tiếng cười r, nhng cái ho khc, nhng tiếng nói bô bô, nhng điu văng tc ghê gm, thì mt anh bi tiêm sà ngay xung sp, hi Long cn dùng bao nhiêu. Ðon anh bi chy ngay đi ly thuc và đem v ch c mt m nước nóng giy..

Ngưng trích

Ðây là cảnh tiệm ăn, quán nhậu Ba Tầu, không phải là cảnh tiệm hút á phiện. Không ai “chạy” trong tiệm hút, những anh bồi tiêm lại càng không bao giờ chạy. Những anh bồi tiêm trong những tiệm hút công khai ngày xưa, khi việc hút thuốc phiện chưa bị cấm, chưa bị coi là một tội hình sư,ï người hút chưa bị bắt, bị ra tòa, bị có án, bị tù, là những người đáng thưông. Các anh nghiện hút nhưng không có tiền nên phải làm bồi tiêm. Các tiệm hút ngày xưa mở cửa tiếp khách suốt ngày đêm nên những anh bồi tiêm không đêm nào được ngủ, họ phải thức suốt đêm, đêm này qua đêm khác, nên lúc nào họ cũng phờ phạc, vật vờ nửa sống, nửa chết, họ như những xác ma cịn đi được. Tiệm hút nào cũng hẹp, họ không cần phải chạy, họ có muốn chạy cũng không được. Nói to, chạy, đèn sáng là những thứ cấm kỵ trong tiệm hút.

Ðến đoạn ông Vũ Trọng Phụng cho nhân vật tiểu thuyết của ông là Tú Anh nói loạn về tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ thi tôi không còn thấy lạ nữa, tôi ngạc nhiên. Ðây là nguyên văn đoạn đó:

Giông Tố. Trích:

“…Tôi xin nói thng rng nhng cái dây liên lc thiêng liêng nht đi, đi khái như tình mu t, tình ph t, tình huynh đ chng hn, cũng lm khi ch đáng đ dưới đt mà di dưới gót chân! Là vì trong sut mt đi người, thế nào ri b mình cũng có điu không tt vi mình, m mình thì cũng phi có điu ăn không ra sao vi mình, anh ch em mình th nào cũng phi có điu gì khn nn, đu cáng vi mình…

Ngưng trích.

Tôi không hiểu tại sao ông Vũ Trọng Phụng lại có thể hạ bút viết một đoạn kỳ cục như thế. Người như Tú Anh không thể mở miệng nĩi ra những lời như trên.

Những năm 1960 thời tôi viết trên nhật báo Ngôn Luận những cái tơi goi là phóng sự tiểu thuyết thời đại “ Ông Tây, Bà Ðm, Yêu Tì, Bà Ln, tôi bị một số người phê bình tôi là một tác giả đểu, văn HHT là Văn Ba Que. Năm ấy ông Trọng Lang viết về những phóng sự của tôi và cá nhân tôi như sau:

“Trước kia ch có nhng nhân vt trong phóng s đu thôi, bây gi c tác gi phóng s cũng đu.

Năm xưa ấy tôi tự bào chữa:

“Tôi không đu. Nhân vt trong phóng s ca tôi đu. Tôi không chu trách nhim gì v nhng li các nhân vt phóng s ca tôi nói, nhng vic các nhân vt phóng s ca tôi làm. Nhng nhân vt phóng s ca tôi nói nhng li đu cáng, làm nhng vic ti t, tôi có nói nhng li y, tôi có làm nhng vic y đâu..

Viết rõ: “Nhân vật “tôi” trong những phóng sự của tôi không phải là “tôi, HHT, tác giả.”

Sáu mươi năm sau ngày tôi đọc Giông Tố lần đầu, hôm nay tôi trách nhà văn lớn Vũ Trọng Phụng về việc ông đã cho nhân vật tiểu thuyết của ông nói những câu có thể gây hại cho người đọc, tôi muốn nói đến những người đọc trẻ tuổi dễ bị ảnh hưởng bởi những chuyện họ đọc trong tiểu thuyết.

Nhiều người trẻ tuổi đọc đoạn truyện Giông Tố trên đây có thể sẽ nghĩ như nhân vật Tú Anh:

“..b m mình ăn không phi vi mình, anh ch em mình đu cáng vi mình, đi không có th tình gì là thiêng liêng c.. Nghĩ như thế là sai, là bậy, là vô luân!

Tôi không nghĩ như thế. Ðây là trường hợp riêng của tôi nhưng tôi tin rằng trường hợp của nhiều người khác cũng giống tôi. Tôi thường nghe nói con người ta trong đời nên có, và cần có, những lúc hồi tưởng những ngày đã sống của mình, những việc mình đã làm, và đánh giá những ngày ấy, những việc làm ấy, xem đúng hay sai, xấu hay tốt. Có người nói những lúc tốt nhất để người ta nhớ lại là những lúc người ta đau ốm, nằm một chỗ. Tôi thấy khi ta đau ốm, thân thể ta bị bệnh tấn công, hành hạ, trí óc ta không thể sáng suốt được, thời gian hay nhất, tốt nhất để ta làm cái việc hồi tưởng, đánh giá ấy là lúc ta nằm trong tù. Tù mà phải là tù nằm sà-lim, tức nằm riêng một mình một chỗ. Tôi có kinh nghiệm ấy khi tôi bị bọn Công An Thành Hồ nhốt tôi nằm một mình 12 tháng 2 ngày  trong sà-lim số 15 Khu B rồi sà-lim số 6 Khu C Một Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu năm 1976-1977.

Bị nhốt một mình trong một sà-lim quá lâu, suốt ngày nằm ngủ lơ mơ, đêm tôi không ngủ được. Ðêm tôi nghe tiếng xe gắn máy cuối cùng lúc 1 giờ sáng chạy ngoài đường Chi Lăng, rồi tôi nghe tiếng xe ba bánh gắn máy, xe lam thứ nhất chạy trong ngày lúc 3 giờ sáng. Tôi phải nghĩ ra chuyện để nghĩ, để đầu óc tôi không bị trống rỗng, để tôi không bị phát điên. Tôi làm hiện ra trong óc tôi căn nhà của thầy mẹ tôi ở tỉnh lỵ Hà Ðông, tôi nhớ lại hình ảnh phòng khách nhà tôi với những sập gụ, tủ chè, hoành phi, câu đối, bộ sa lông Tầu, cái bàn học của anh em tôi bên cửa sổ, hai cái ghế để hai bên cửa ra vào, hai con voi bằng sứ .. vv..Và tôi nhớ lại những việc tôi đã làm với thầy mẹ tôi, với các em tôi.

Nghĩ, nhớ lại những việc ấy tôi chỉ thấy tôi hối hận. Tôi đã nhiều lần đối xử không tốt với thầy mẹ tôi, với các em tôi, kể cả những việc tôi làm tốt với thầy mẹ tôi, với các em tôi, tôi cũng thấy ân hận, tôi ân hận vì tôi thấy tôi có thể làm tốt hơn nhưng tôi đã không làm.

Bố mẹ tôi không làm qua một  điều gì không phải với tôi, chỉ có tôi đã làm rất nhiều điều không phải với bố mẹ tôi, anh chị em tôi không ai làm điều gì đểu cáng với tôi. Bố mẹ tôi đã yêu thưông tôi như bây giờ vợ chồng tôi yêu thưông các con chúng tôi. Gieo ý nghĩ bố mẹ mình, anh chị em mình đối xử đểu cáng với mình  vào óc người khác là một trọng tội.

o O o

Người Âu Tây “hôn,” người Việt Nam”hít.”

“Hôn” bằng miệng, bằng môi, “Hít” bằng mũi.

Theo tôi giống người da vàng dùng mũi hít mùi da thịt người mình yêu.

Tả người Việt – nhất là những người Việt xưa, những người Việt trước năm 1945 – khi làm tình với nhau, khi yêu nhau – hôn nhau là không đúng.

Như đoạn tả dưới đây trong tiểu thuyết Giông Tố:

Ban đêm Long về làng Mịch. Đang đi trong đêm giữa cánh đống, Long nghe tiếng người gọi tên chàng. Người gọi chàng là Mịch. Mịch đi đào trộm khoai. Mịch kể:

Giông Tố. Trích:

“ Chiều hôm qua u nhịn cơm, em phải nấu cám cho thầy ăn. Ngày hôm nay cả nhà nhịn đói. Tối nay làng vào đám, tuần tráng xem chèo ở đình, em phải liều ra đây.”

“ Trời ơi..! Làm sao lại đến nỗi thế?”

“ Nhà có mấy sào ruộng mầu thì đã bán hôm mồng bẩy Tết. Bây giờ nhà em chẳng còn gì, em phải đi ăn trộm thôi.”

“ Sao lại khổ đến thế được?”

“ Chứ anh tính.. Khốn nạn, nhà nào còn cái gì. Thầy u đinh bán cái nhà và mấy con lợn xong là ra tỉnh ở nhờ anh cả em. Ở làng thì chết đói.. Nhà có người hỏi mua nhưng người mua cãi vã một trận với thầy u em nên người ta lại thôi. Lợn có người định mua nhưng người ta đợi chúng lớn nữa người ta mới bắt. Anh tính bây giờ có ai còn đến học thầy nữa đâu. Rồi cứ cãi nhau luôn  nên u cũng không có ai mướn đi làm đồng nữa. Đã sống dở, chết dở lại thêm nỗi cả làng mai mỉa mình, đay nghiến mình. Khổ lắm, anh ạ.”

Long nghe xong cứ đứng đờ người ra. Rồi Long lôi Mịch về mình, ôm chặt lấy người yêu, in lên miệng Mịch một cái hôn đau thương, rỏ trên má Mịch mấy giọt lệ nóng.

Ngưng trích

Tôi thấy tả cảnh trai gái Việt Nam những năm trước 1945 ôm nhau, hôn lên miệng nhau như thế là không đúng. Viết cách khác: Trai gái Việt Nam trước năm 1945 không ôm nhau, không hôn lên miệng nhau như Long và Mịch trong tiểu thuyết Giông Tố.

Tôi nhắc lại và kết thúc bài Viết ở Rừng Phong này:

Người Việt xưa không hôn, người Việt thời Long và Mịch không hôn nhau. Long dùng mũi hít má Mịch, Long không dùng miệng hôn lên miệng Mịch.

2 Responses

  1. Kính Hoàng Đại ca,
    Tháng rồi, nhà xuất bản SPBRA đã in và phát hành khắp thế giới quyển:
    “The life Stories:Pregnant Women At Sea” của tiểu đệ. Sách viết lại từ tập truyện “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Biển Đông”.
    Sách được bán trên Amazon, Barnes&Noble,e.book
    Xin Đại ca cho biết địa chỉ để gửi tặng Đại ca quyển sách này.
    Email của tiểu đệ:laomoc247@gmail.com.
    Kính,
    Lão Móc Nguyễn Thiếu Nhẫn

    • Virginia 9 giờ sáng Thứ Sáu.
      Kính ông Lão Móc. Ông mỏ I-Meo sẽ thấy Meo tôi gửi ông. HHT

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: