• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Từng Hẹn Mùa Xưa…

Những thiếu niên - nhi đồng trong Trung Đoàn Thủ Đô, Hà Nội năm 1947.

Những thiếu niên – nhi đồng trong Trung Đoàn Thủ Đô, Hà Nội năm 1947.

Tháng 12, 2015, tôi gửi bài Viết ở Rừng Phong này đến những vị quí bạn đọc năm nay tuổi đời Tám Bó. Tôi nghĩ quí vị phải là những thiếu niên 14, 15 tuổi năm 1946, sống ở miền Bắc, quí vị mới cảm khái khi đọc những dòng chữ này.

Tôi ghi lại trong bài này những bài hát tôi từng hát năm 1946, năm tôi 14 tuổi. Nếu ông bạn ở Kỳ Hoa năm nay Tám Bó, nếu ông bạn 14, 15 tuổi năm 1946, ông bạn sống ở Bắc Kỳ, tôi chắc ông bạn biết và ông bạn còn nhớ những lời ca này.

Chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Sài Gòn rất sớm, chiến tranh lan ra thật nhanh trong miền Nam Việt Nam. Thời ấy miền Nam gọi theo ngôn ngữ Việt Minh là Nam Bộ. Chỉ vài ngày sau ngày Quân Đội Pháp, theo chân Quân Đội Anh vào miền Nam tiếp nhận cuộc đầu hàng của Quân Đội Nhật, người Pháp đã gây chiến ở Sài Gòn. Viết “Quân Đội Pháp theo chân Quân Đội Anh vào miền Nam…” là không đúng. Những ngày cuối Tháng Tám 1945 có khoảng 5000 người Pháp – là lính Pháp, và công chức Pháp, thường dân Pháp, sống ở Việt Nam. Những người Pháp này bị Quân Đội Nhật bắt giam trong những trại tập trung. Quân Anh vào miền Nam giải thoát họ, cấp võ khí cho họ, và số người Pháp này dưới sự bảo vệ của quân Anh, đánh chiếm những công sở ở Sài Gòn.

Một số Tin trích trong tác phẩm “Hai Mươi Năm Qua. 1945-1954.” HMNQ. Tác giả Đoàn Thêm:

Ngày 3 Tháng 10, 1945. Một đoàn quân Pháp do Tướng Leclerc chỉ huy, đến Việt Nam. Ngày 5/ 10/ 1945 Tướng Leclerc đến Sài Gòn, tuyên bố “Sẽ bình định Nam Bộ.

CTHĐ viết thêm: Đây là đơn vị lính Pháp thứ nhất từ Pháp Quốc đến Việt Nam sau ngày kết thúc Thế Chiến Thứ Hai. Số lính này đến Sài Gòn bằng tầu biển, họ lên bộ ở Vũng Tầu. Trong số lính này có nhiều binh sĩ người da đen được Pháp tuyển ở những quốc gia châu Phi thuộc Pháp. Có ông lính về sau nổi tiếng là Tổng Thống Bokassa. Khi đến Việt Nam, Trung sĩ Bokassa trú đóng ở Gò Vấp. Ông lấy vợ Việt, có cô con gái Martine Bokassa. Mãn thời hạn đăng lính, Sergent Bokassa về nước. Ông bỏ bà vợ và cô con gái ông ở lại Gò Vấp. Năm 1970 Sergent Bokassa thành Tổng Thống. Ông tìm bà vợ Việt của ông và cô Martine Bokassa. Bà vợ Việt của ông đã có chồng khác, cô Martine được ông bố nay là Tổng Thống đón sang sống với ông.

Chú liên lạc viên đi công tác mùa mưa ở Bắc Việt năm 1948. Chiếc áo tơi này, hình như, chỉ có ở đồng quê miền Bắc.

Chú liên lạc viên đi công tác mùa mưa ở Bắc Việt năm 1948. Chiếc áo tơi này, hình như, chỉ có ở đồng quê miền Bắc.

Tiến trình Quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ.

9/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh.

20/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Mỹ Tho.

28/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Gò Công.

29/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Vĩnh Long.

30/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Cần Thơ.

19/11/ 1945. Quân Pháp chiếm đóng Nha Trang.

1/12/1945. Quân Pháp từ Nha Trang tiến lên chiếm đóng nhiều vùng ở cao nguyên.

20/1/ 1946. Quân Pháp chiếm đóng Rạch Giá.

4/2/1946. Quân Pháp chiếm đóng Cà Mâu.

7/4/1946. Quân Pháp đến Nam Định.

21/6/1946. Quân Pháp chiếm đóng Pleiku và Kontum.

8/7/1946. Quân Pháp chiếm đóng Lạng Sơn.

17/7/1946. Quân Pháp chiếm đóng Đồng Đăng.

18/12/1946. Tự Vệ Hà Nội và Lính Nhẩy Dù Pháp bắn nhau ở Chợ Đồng Xuân.

19/12/1946. 8 giờ tối, Nhà Máy Điện Hà Nội bị phá, thành phố tối đen. Súng nổ. Cuộc Chiến Việt Pháp nổ ra trên khắp nước Việt Nam.

o O o

Đầu Tháng 12, 1946, gia đình tôi tản cư về làng quê mẹ tôi – làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Sống ở quê ngoại tôi ít ngày, thầy mẹ tôi biết không thể sống lâu đến mấy năm ở đây. Thầy mẹ tôi đưa anh em tôi trở về căn nhà ở tỉnh lỵ Hà Đông. Khi ấy chiến tranh đã nổ ra ở Hà Nội. Gia đình tôi không thể từ Hà Đông đi ra Hà Nội, qua Cấu Sông Cái để về quê nội tôi ở Gia Lâm, một làng quê ven bờ sông Đuống. Chúng tôi phải đi lên vùng gần Văn Điển, đi đò qua sông Hồng, sang phủ Văn Lâm ở bên kia sông, đi bộ về làng quê tôi ở phủ Gia Lâm. Ngày ấy đi trên cánh đồng, anh em tôi trông thấy những chiếc phi cơ Spitfire bắn phá những vùng quanh phi trường Gia Lâm. Nhìn lại, tôi thấy những vùng khói bốc lên ở Hà Nội.

Năm 1947, tôi ở trong Ban Kịch Thiếu Nhi Gia Lâm. Anh Dũng, người là Ủy Viên Thanh Niên Gia Lâm, tổ chức Ban Kịch này. Ban Kịch chỉ có 5 chú thiếu niên bằng tuổi tôi. Tôi mang theo được khoảng 10 số báo Thắng Tiến của Hội Hướng Đạo. Trong số có những vở kịch Ngắn Hướng Đạo. Ban Kịch chúng tôi diễn những vở kịch này ở những đình làng trong phủ. Diễn kịch ở làng nào, người làng ấy nuôi cơm chúng tôi. Khán giả toàn những người trẻ, dễ tính,không đòi hỏi gì nhiều.

Vài tháng sau, lính Pháp hành quân qua vùng làng tôi. Ban Kịch tan hàng.

Một chiều anh em chúng tôi được anh Dũng đưa đến gặp anh Đại Đội Trưởng Vệ Quốc Quân. Anh em tôi ngồi quanh anh nghe anh nói chuyện. Trong những lời anh nói có câu:

“Các anh chiến đấu dành đôc lập cho các em sống hạnh phúc.”

Bẩy mươi năm qua, hôm nay tôi nghe văng vẳng lời nói ấy.

Năm 1949 tôi được lên Việt Bắc dự Khóa Huấn Luyện Tình Báo. Tôi sống ít ngày ở Trạm Giao Liên chờ anh em từ miền suôi lên, cùng đi đến trường. Một chiều anh em tôi ra đồi đào sắn. Tối ấy sáng trăng, anh em tôi ngồi ngoài sân quanh rổ sắn luộc. Tôi là chú nhỏ trong anh em. Một anh lớn chỉ tôi:

“Bọn anh đi kháng chiến. Đó là bổn phận của các anh. Chỉ thương những em như em. Ở tuổi em giờ này em phải được sống trong tình yêu thương của cha mẹ em, em được đi học. Vậy mà em cũng đi chiến đấu như các anh.”

Khi Ban Kịch Thiếu Niên tan hàng, có một tổ tình báo đến ở nhà ông bác tôi. Tổ này có các anh Tường Lan, Quốc Bảo, Quốc Ấn, Trần Trung Thành. Toàn là bí danh. Anh Trần Trung Thành là anh họ tôi, anh được gọi là anh Ba Tê. Tôi có cảm tình với anh Tường Lan. Anh trạc 30, 35 tuổi, anh để râu như ông Hồ Chí Minh. Anh thường cho tôi đi theo anh trong những chuyến anh đi công tác trong vùng. Một hôm anh nói với tôi:

“Anh đổi công tác. Anh sẽ hoạt động ở nơi khác. Em có muốn đi theo anh không?”

Tất nhiên là tôi muốn, anh nói:

“Đi theo anh là em phải thoát ly gia đình. Em phải xin phép mẹ em.”

Tôi đi theo anh Tường Lan mà không nói gì với mẹ tôi. Tôi biết nếu tôi nói, mẹ tôi sẽ không cho tôi đi. Một đêm tôi theo anh Tường Lan đi qua sống Đuống. Khi ấy quân Pháp đã chiếm đóng vùng quê tôi, đã đóng đồn trên đê sông Đuống, bên kia sông là miền Việt Minh. Chỉ ban đêm mới có thuyền chở người qua sông Đuống. Tôi theo anh Tường Lan qua sông ban đêm. Qua sông, chúng tôi ngủ trong một quán trọ ven đường. Sáng dậy tôi nhìn thấy vầng mặt trời lên ở phương Đông. Buổi sáng nắng vàng tuyệt đẹp.

Trên đò đêm sang sông tôi thấy một thiếu nữ trạc tuổi tôi. Hình ảnh người thiếu nữ ấy làm tôi năm 1950 viết truyện ngắn “Người con gái áo xanh.” Truyện đoạt Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn năm 1950 của Nhật báo Tiếng Dội. Tiền của Truyện Giải Nhất là 3.000 đồng.

Anh Tường Lan để tôi ở lại cơ sở Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm ở Yên Phong, Bắc Ninh. Anh không gọi tôi đi theo anh. Vài năm sau tôi được tin anh qua đời ở Lạng Sơn.

Đây là những bài ca tôi hát năm tôi 14 tuổi. Những bài hát của Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi…

Bài hát thứ nhất “Thu trên Đảo Kinh Châu.” Năm nay – 2015 – tôi tìm bài hát trên Internet. Tác giả bài hát này là Nhạc sĩ Lê Thương.

Thu trên đảo Kinh Châu

Đàn chim bay thiết tha, trên núi cao miền xa 
Mang theo những nỗi buồn mộng mơ
Nguồn thảm sầu đã qua.
Khi ta đi liễu đang còn xanh lá
Trong đám cây oanh hót vài lời ca để chòng đám hoa

Ngày nay cúc đẫm thâu, hoa héo khô vì đâu.
Chim oanh nhắc tiếng một vài câu để thương đời cúc thâu
Sông Kinh Châu có con buồm trắng
Gió thu mang người biệt ly vào cảnh sầu đó chăng 

Tôi hát nhiều nhất những bài ca của Văn Cao.

Suối mơ
Bên rừng thu vắng,
giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng.
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương.

Suối ơi!
Ôi nguồn yêu mến,
còn ghi khi bóng ai tìm đến.
Đàn ai nắn buông lưu luyến.
Suối hát theo đôi chim quyên.

Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối .
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi .

Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người.
Trong chiều nào giữa chốn đây,
Hồn cầm lắng tiếng đời.

Suối ơi!
Nghe rừng heo hút.
Giòng êm đưa lá khô già trút.
Còn như lưu hương yêu dấu .
Với suối xưa trôi nơi đâu .

Ơi… Ông Bạn Tám Bó của tôi, tôi chắc ông – như tôi, – không nhớ toàn bài nhưng còn nhớ một số lời những bản nhạc này:

Thiên Thai.

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kìa đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
Theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi
Chắc không đường về Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên.

Với tôi, Thiên Thai là bài ca Tuyệt Nhất của Văn Cao.

Bẩy mươi mùa lá rụng trôi qua đời tôi, tôi còn nhớ lời bản Bắc Sơn của ĐỖ NHUẬN

Bắc Sơn

Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gió
Ðau lòng bao năm sống lầm than đây đó
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừng
Còn vang khe núi tiếng quân oai hùng
Lớp lớp chiến đấu Lạng Sơn tung bay cờ
Rồi vùng đồi núi nhớ bao nhiêu hận thù
Dân quân du kích. Cách mạng bùng mùa thu
Sao vương bóng cờ bay trên chiến khu

Bắc Sơn! Ðây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn
Giặc Pháp tàn ác giày xéo
Từng xác ngập đất máu xương
Nhà đốt, cầm giáo cầm súng
Dân quân vùng ra sa trường
Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa
Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!
Bắc Sơn! Ðây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn
Giặc Pháp tàn ác giày xéo
Từng xác ngập đất máu xương
Nhà đốt, cầm giáo cầm súng
Dân quân vùng ra sa trường
Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa
Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!

Và bài NHỚ CHIẾN KHU

Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều.
Bên đèo lắng suối reo ngàn thông réo.
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo đạn bay vèo.
Hôm nay đây vai vác súng trông mây, trăng gió buồn đứng.
Chiều vàng nhớ núi rừng.
Chiều nay xa chiến khu trên đường về.
Sương chiều lác đác rơi trời dần tối.
Rừng sâu xa, núi cao cao mờ.
Tiếng quân hò lời chưa dứt dưới bóng cờ.
Thôi chia ly vai vác súng trông mây trăng gió buồn đứng
Chiều vàng nhớ núi rừng.

 Đỗ Nhuận 

Một trong những bài được giới thiếu niên chúng tôi hát nhiều năm xưa ấy là bài DIỆT PHÁT XÍT củ Nguyễn Đình Thi:

Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than 
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Loài phát xít cướp thóc lúa cướp đời sống dân mình
Đồng bào tuốt gươm vùng lên
Diệt phát xít giết bầy chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ cộng hòa
Mau mau mau, vai kề vai, không phân già trẻ trai hay gái.

Ta đi lên, ta tiến lên, ta diệt quân thù 

Việt Nam,Việt Nam,Việt Nam
Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm
Việt Nam,Việt Nam muôn năm

o O o

Tuổi Đời Tám Bó, sống ở quê người, tôi nhớ những bài ca tôi từng hát năm tôi 14 tuổi ở quê hương.

Cảm khái cách gì.

Ơi.. Những ông năm nay Tám Bó Tuổi Đời…. Những ông năm 1946, 1947 ..là những thiếu niên 15, 16, 17 tuổi.. Đọc bài viết này các ông có xúc động chút nào không?

CTHĐ

5 Responses

  1. Kính Hoàng Dai ca, Rât’ mù’ng khi thây’ Dai ca viêt’ lai sau môt thò’i gian nghi? xã ho’i ! Xin go’i? dên’ Dai ca và các ban bän ” Thu Trên Däo Kinh Châu” mà khi còn bé tôi dã ca nghêu ngao ( theo các anh, dù tôi còn bé tí – sinh 1941!). Kê? nhu’ dã gân` 70 nãm trôi qua !

  2. Tiêu? dê. dinh du’a lên bài ” Nhó’ chiên’ khu”, nhu’ng thây toàn là vc hát và cò’ máu ko hà, nên ko dám, so’. bi chû’i là xui hêt nãm nay !
    Kính chúc Hoàng huynh và phu nhân hu’Õ’ng môt mùa Noel tu’ng bù’ng vui ve?, và môt Nãm Mo’i’ 2016 nhiêù Sú’c Khoe?, May Mã’n và dây` O’n Phu’ó’c !

  3. Dã go’i? Õ’ ” LIÊN LAC “, nay gÕ’i thêm cho các ban xem :

  4. Cảm khái thật.Tôi là dân Nam kỳ quốc,nam nay hơn 80 bó (1934).Tôi thuộc hầu như tất cả . Còn nhiều bài rất hay mà ở tuổi thiếu niên mê thích như bài Nam Bộ kháng chiến ,An phú đông v.v.
    Nhắc chi ngày xưa đó cho đau lòng nhau !!!!!!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: