• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TẾT và TUYẾT

Hoàng Hải Thủy trong Rừng Phong Tuyết Trắng. Ảnh Photoshop, do HHT làm, TẾT 2016. Ảnh HHT ghi ở Pleiku năm 1972.

Hoàng Hải Thủy trong Rừng Phong Tuyết Trắng. Ảnh Photoshop, do HHT làm, TẾT 2016. Ảnh HHT ghi ở Pleiku năm 1972.

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không?

Từ năm 1995 khi bánh xe tị nạn khấp khểnh, muộn màng đưa tôi đến Kỳ Hoa Đất Trích, năm nào Tết đến tôi cũng có một bài gọi là Bài Xuân, bài Tết. Những ngày như lá, tháng như mây – Thơ Thanh Nam – đến Tết Bính Thân 2016, tôi đã sống 20 năm ở Kỳ Hoa.

Vẫn biết Thời Gian qua nhanh, không ngờ Thời Gian qua nhanh đến thế. Hôm nay một sáng mùa Xuân nắng vàng trên Rừng Phong, tưởng như mới trưa hôm qua vợ chồng tôi líu ríu dắt nhau vào phi trường Washington DC. Nhưng – dòng thời gian dài một ánh bay – thấp thoáng vậy mà đã qua 20 năm, 20 cái Tết. Tết năm nay – 2016 – tôi không có bài viết nào về Xuân, về Tết. Đây là bài Viết ở Rừng Phong đầu năm Bính Thân, February 2016, của tôi.

Tháng 10 năm 1994 khi tôi mới đến Kỳ Hoa được mấy ngày, anh bạn tôi, Tạ Quang Khôi đưa tôi sang thăm thủ đô Washington DC. Anh nói:

“Người Mỹ chọn Virginia làm nơi đặt thủ đô vì Virginia không có những thiên tai động đất, cháy rừng, lũ lụt, bão lốc, bão tuyết. Virginia khí hậu thuận hòa, không nóng quá, không lạnh quá. Mùa đông Virginia có tuyết, không lẽ Virginia mùa đông không có tuyết. Nhưng tuyết Virginia là tuyết làm cảnh, tuyết làm duyên.”

Khôi nói về Virginia như thế trên đường xe trở về thị trấn Falls Church, nơi có nhà anh, nhà tôi. Khoảng 3 giờ chiều. Đúng lúc đó có những sợi tơ trắng rơi trên kính xe, anh nói:

“Tuyết đấy.”

Cơn mưa tuyết thứ nhất đến với tôi khoảng năm, sáu ngày sau khi vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa. Đúng như lời Khôi nói, Tuyết Virginia là Tuyết làm duyên. Trong 20 năm Virginia cũng có hai, ba trận bão tuyết, tuyết lên đến đầu gối, nhưng so với tuyết ở New York, Boston thì không đi đến đâu.

Những ngày gần Tết năm nay thành phố tôi sống có tuyết. Chuyện đáng kể là năm nay vì tuyết, khu tòa nhà nhiều tầng, nhiều phòng dành cho những Người Già có Thu Nhập Thấp, trong có vợ chồng tôi, có ông Nhà Văn Già Cô Đơn Tạ Quang Khôi – bị cô lập trong ba ngày, ba đêm. Vì tuyết ngập đường, xe ủi tuyết của thành phố dọn đường không kịp, xe ngoài thành phố không vào được parking nhà chúng tôi, xe trong nhà chúng tôi không ra khỏi được parking, tôi có thì giờ mở những tập tài liệu linh tinh ra xem lại.

Trong số sách báo tàng trữ trong tủ sách tôi gọi là Phong Lâm Tàng Kinh Các, tôi tìm được thi phẩm “Les Vingt Huits Etoiles” của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi phẩm xuất bản năm 1961 ở Sài Gòn. Con tôi tìm được trong những tiệm sách báo cũ, gửi sang Mỹ cho tôi trong Tháng 5, 2001.

Thi phẩm của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, chữ Việt dịch sang chữ Pháp, Sài Gòn 1961.Bản tiểu sử của thi phẩm ghi “LES VINGT HUIT ETOILES. Poemes. Traduit du Vietnamien par Simone Kuhnen de la Coeuillery.”

Thi phẩm của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, chữ Việt dịch sang chữ Pháp, Sài Gòn 1961.Bản tiểu sử của thi phẩm ghi “LES VINGT HUIT ETOILES. Poemes. Traduit du Vietnamien par Simone Kuhnen de la Coeuillery.”

Thi phẩm có 20 bài Thơ. Đây là bài Thơ Số 1:

Cảm hứng đêm khuya

Bẩy bước Thơ vừa gieo hạt châu
Ngang trời sao đã mọc thành câu
Đông Tây mây sóng tâm tình loạn
Phút chốc vồng lên bẩy sắc cầu

INSPIRATIOB DANS LA NUIT (1)

Après le septième pas, la Poésie sème sa septième perle, (2)

Alors s’étend au firmanent la Constellation aux Sept Etoiles (3) qui s’alligne en un vers heftasyllabe.

De l’Est à l’Ouest, les vagues et les nuages bouleversent les sept sentiments. (4)

Et tout de suite, le pont aux sept couleurs unit les deux horizons. (5)

( 1 ) Le poème fait allusion au vers de 7 syllabes: 7 perles, 7 étoiles, 7 sentiments, 7 couleurs.

( 2 ) D’après une anecdote chinoise, le poète TAO THUC achève un poème après avoir fait 7 pas.

( 3 ) La Grande Ourse.

( 4 ) Selon la psychologie de la Chine antique, il existe 7 sentiments: jpie, tristesse, amour, haine, désir, désesespoir, regret.

( 5 ) L’Arc-en-ciel.

Bài Thơ Số 2 — Viễn tượng kinh hoàng

Một thời nguyên tử đã đi qua
Khiến mặt trăng đầy nốt rỗ hoa
Bóng vẫn còn in cây nấm độc
Ai rằng cây quế với cây đa

Bài Thơ Số 3 — Sao mãi chưa đành

Nếm càng ghê vị nuốt càng tanh
Lại máu xương nào nữa Chiến Tranh
Họng súng lưỡi gươm còn biết ngán
Mà sao nhân loại mãi chưa đành

Bài Thơ Số 4 — Bí mật cung thiềm

Từ mấy ngàn thu đối mật trăng
Thi nhân ngắm đã chán Cô Hằng
Sao cô chẳng chịu quay lưng lại
Thua vẻ thon mềm gái Sở chăng

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có bài Thơ trong có câu về Tuyết:

Tuyết xuống phương nào, lạnh lắm không?
Mà đây lòng trắng một mùa đông.

o O o

Mời đọc bài văn Chúc Tết Vua và Toàn Quyền của Ông Nguyễn Tiến Lãng. Ông NT Lãng từng là Thư Ký Riêng của Hoàng Hậu Nam Phương. Ông giỏi tiếng Pháp. Ông từ trần ở bên Pháp.

NAM PHONG SỐ TẾT — NGUYỄN TIẾN LÃNG

Chúc TẾT VUA TA, QUAN TÂY

Kính chúc Hoàng Thượng và Quan Toàn Quyền.

Nghĩa vua tôi là nghĩa cổ, tình thầy trò là tình sâu. Tình sâu, nghĩa cổ, đã mấy khi mà được giải tỏ tấm lòng son.

Nay gập Tết Nguyên Đán, đông qua, xuân lại, khí giời mát mẻ, muôn vật hanh thông, bản báo xin thay mặt cả quốc dân mà dâng lên mấy nhời kính chúc hai đứng chúa tể trong nước là Đức Kim Hoàng ta và Quan Toàn Quyền Xa-lộ.

Chúc Hoàng Thương sống lâu muôn tuổi, trị vì mãi mãi cõi Việt Nam này để mỗi ngày trông lũ dân hèn bước lên đường tiến bộ, tô điểm thêm cho vẻ vang giang sơn cũ.

Chúc Quan Toàn Quyền phúc lành đầy đủ, Mẫu quốc tín nhiệm, cầm quyền chính trị cõi Đông Dương, dầy tháng, lâu năm, cho dân thuộc quốc được hưởng nhờ công gây dựng, ơn khai hóa bấy lâu nay.

Dân Nam Việt gập được đứng quân chủ như Đức Kim Hoàng ta, gập được đứng “quốc sư “như Quan Toàn Quyền “Xa – lộ ,”thực là một cái hạnh phúc vô cùng, từ nay trong lịch sử nước nhà mở ra một thời kỳ mới, tiền đồ sau này sẽ vẻ vang mà rực rỡ biết chừng nào.

Nay gập Hội Tân Xuân xin tung hô:

Đại Nam Khải Định Hoàng Đế vạn tuế.

Toàn Quyền Xa – lộ Đại Nhân vạn tuế.

Đại Nam cố quốc vạn vạn tuế.

Đại Pháp ân quốc vạn vạn tuế.

o O o

Nguyễn Tiến Lãng: Xe tối tân, nhưng cứ phải cúi đầu chui vào.. Khách: Ông nên cúi đầu cho quen.

Nguyễn Tiến Lãng: Xe tối tân, nhưng cứ phải cúi đầu chui vào..
Khách: Ông nên cúi đầu cho quen.

Bài Hành Phương Nam (Nguyễn Bính)

Hai ta lưu lạc phương Nam này 
Đã mấy mùa qua én nhạn bay 
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở 
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay ! 
Lòng đắng xá chi muôn hớp rượu 
Mà không uống cạn mà không say ! 
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã 
Mà áo khinh cừu chưa ai may ! 
Ngươi giam chi khí vòng cơm áo 
Ta trói thân vào lụy nước mây 
Ai biết thương nhau từ buổi trước 
Bây giờ gặp nhau trong phút giây 
Nợ thế, trả chưa tròn một món 
Sòng đời, thua đến trắng hai tay 
Quê nhà xa lắc xa lơ đó 
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay 

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc 
Ly tán vì cơn gió bụi này 
Người ơi ! Buồn lắm mà không khóc 
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy 
Vẫn dám ăn tiêu cho đến hết 
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay 
Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ? 
Cốt nhất cười vui trọn tối nay 
Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn 
Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay . 

Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt 
Giữa chợ ai người khóc nhận thây ? 
Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén 
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay ? 
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự 
Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây 

Ta đi nhưng biết về đâu chứ? 
Đã dấy phong yên khắp bốn trời 
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ 
Uống say mà gọi thế nhân ơi ! 

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ 
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười 
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại 
Hát rằng phương Nam ta với ngươi 
Ngươi ơi ! Ngươi ơi ! Hề ngươi ơi ! 
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh 
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi ! 

Đa Kao 1943 
Gửi Văn Viễn

oOo

Tư Mã Tương Như đời Hán, đàn giỏi, gảy khúc Tư Mã phượng cầu, Trác Văn Quân là người đẹp, nghe đàn, sau hai người lấy nhau .

Kinh Kha qua sông vào đất giặc. Bài thơ viết về Kinh Kha có câu: Tráng sĩ một đi không trở về.

Phùng Hoan, thực khách của Mạnh Thường Quân lãnh nhiệm vụ đi đòi nợ, khi đến ấp Tiết gọi các con nợ lại và tuyên bố đốt hết văn tự nợ. Sau về nói với Mạnh Thường Quân là tiền nợ ấy đã lấy mua “Đức” hết rồi.

Sau Mạnh Thường Quân bị vua Tề phế, khi qua ấp Tiết thì toàn dân ra đón linh đình, nhờ thế vua Tề thu dụng lại.

Cảm Tác

Thơ suông, rượu nhạt, quán cơm nghèo,
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều.
Chín hẹn đã sai mười: bạn quý.
Nghìn voi không được một: người yêu.
Bá Nha thưở trước còn Chung Tử.
Kim Trọng đời nay hết Thuý Kiều.
Võng tía, tàn vàng đi nượp nượp,
Giũ tà áo vải bụi bay theo.
1941

Đêm Cuối Cùng

Hội làng mở giữa mùa thu,
Trời cao gió cả trăng như ban ngày.

Hội làng còn một đêm nay,
Gặp em còn một lần nầy nữa thôi.
Phường chèo đóng Nhị độ Mai,
Sao em lại đứng với người đi xem ?
Mấy lần tôi muốn gọi em,
Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ.

Tình tôi mở giữa mùa thu,
Tình em lẳng lặng kín như buồng tằm.
1936

Gái Xuân

Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến, xuân đi, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân

Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Mưa Xuân

Em là con gái trong khung cửi 
Dệt lụa quanh năm với mẹ già 
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng 
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay 
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy 
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ 
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”. 

Lòng thấy giăng tơ một mối tình 
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh 
Hình như hai má em bừng đỏ 
Có lẽ là em nghĩ đến anh. 

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn 
Em ngửa bàn tay trước mái hiên 
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh 
Thế nào anh ấy chả sang xem! 

Em xin phép mẹ, vội vàng đi 
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe.
Mưa bụi nên em không ướt áo 
Thôn Đoài cách có một thôi đê.

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm 
Em mải tìm anh chả thiết xem 
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh 
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em. 

Chờ mãi anh sang anh chẳng sang 
Thế mà hôm nọ hát bên làng 
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn 
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng! 

Mình em lầm lũi trên đường về 
Có ngắn gì đâu một dải đê! 
áo mỏng che đầu mưa nặng hạt 
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya 

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay 
Hoa xoan đã nát dưới chân giày 
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ 
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”. 

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày 
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ 
Để mẹ em rằng hát tối nay?
1936

Mùa Xuân Xanh

Mùa xuân là cả một mùa xanh,
Trời ở trên cao, lá ở cành.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh,
Tôi đợi người yêu đến tự tình.
Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là chiếc thắt lưng xanh.

Thơ Thanh Nam.

Xuân Đất Khách

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .

Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .

Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .

Seattle, mùa xuân 1977 .

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Xuân Bính Thân. 2016.

5 Responses

  1. Hom nay bong dung gap duoc website cua Anh, em rat la vui. Em la Pham van Hong day bong ban o Minh Nghia co danh banh voi Anh tai do va co nho Anh dich dum mot tai lieu bong ban nhung cho mai khong thay Anh den, chi Chin Minh Nghia bao cho em hay la Anh da bi bat. Em o My hon 35 nam roi, hom nay biet Anh o My em rat mung.
    Chuc Anh va Gia Dinh nhieu suc khoe.

  2. LIÊN HỘI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM Ở THỤY SĨ

    Đọc lại Thơ Miền Nam Việt Nam Tự Do (lưu vong)

    SAO LÀ NHỚ

    Đất nước nơi nào đất nước tôi
    Chiều hôm mưa bụi phủ chân trời
    Nhớ sao là nhớ sao là nhớ
    Nỗi niềm xuân lỡ bước khôn nguôi

    Chuyến bay rời bến phút từ giã
    Tiễn đưa người lạ cũng vẫy tay
    Ai mang hành lý tôi tâm sự
    Sao được bồng bềnh như gió mây

    Về Miền Nam bầu bí thương nhau
    Chín cửa sông mừng đón đồng bào
    Hà Nội lầm than vùng giặc chiếm
    Cầu vồng vĩ tuyến chờ mưa Ngâu

    Quê Mẹ mơ hồ mắt mỏi trông
    Vì sao thổn thức mãi trong lòng
    Qua chín năm quá nhiều tang tóc
    Anh bên này em bên kia sông

    Ngày mai ai vượt Thái Bình Dương
    Hỡi mây và gió sắp lên đường
    Hỡi dòng nước chảy qua Đông Hải
    Cho tôi gởi hồn về cố hương.
    (San Francisco 1960)
    Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Trích tập thơ Những Dòng Nước Trong,
    Văn Nghệ xuất bản năm 1962,
    tại Sài Gòn, thủ đô nước Việt Nam Cộng Hòa.
    **********************************************

    LÒNG KẺ Ở

    Dấu hiệu nào hứa hẹn bình minh
    Một mình tôi đứng trông bến đêm
    Mùa đông không gió sao mà rét
    Muốn thả lên trời đôi cánh chim

    Và gởi cho đời đôi ánh mắt
    Với nguồn lửa ấm của tim tôi
    Cành Nam ai nhớ đâu là hướng
    Hồn Việt tìm trên đường chim bay

    Người đi xa xứ qua đồng cỏ
    Nghe tiếng chim ca ngợi thái bình
    Cảm ơn những tấm lòng kẻ ở
    Đã ngăn tàn bạo chiếm quê hương

    Bảo lớn chờ neo tôi với bến
    Thuyền trong giấc ngủ sắp căng buồm
    Sông bao nhiêu nhánh đều ra biển
    Tìm thấy nhau lúc trời rạng đông.
    (Montréal 1966)
    Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Trích tập thơ Quê Hương Như Một Thánh Tích,
    Văn Uyển xuất bản năm 1969,
    tại Sài Gòn, thủ đô nước Việt Nam Cộng Hòa.

    Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt* gởi lời thân thăm anh Hoàng Hải Thủy ,

    * Nhà văn Việt Nam lưu vong, phó chủ tịch Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại (Centre Suisse Romand de PEN International), đặc trách Ủy ban Nhà Văn Bị cầm tù.

  3. Kính chúc hai bác nhiều sức khỏe!

  4. Hôm qua có đọc thấy bài viết của ông trên báo Sài Gòn nhỏ nay thuộc về bọn chủ báo Người Việt mà buồn quá! Là người dân mất nước, lòng oán hận bọn cộng phỉ khôn nguôi dẫu sức tàn lực kiệt quyết không tiếp tay bọn chúng. Sống ở xứ tự do nếu không bợp tai,đá đít được bọn chúng thì ta vẫn có chút tự trọng là không phải bắt tay,bắt chân chúng. Nay phải chăng vì chút tiền nhuận bút hay chỉ vì được đăng bài mà ông hợp tác với bọn báo Người Việt, cái bọn trở cờ, bọn hàng hai, bọn chồn lùi, bọn cỏ đuôi chó…
    Hôm nay không những tôi buồn mà có nhiều người cũng buồn lắm!!!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: