• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

VIỆC TỪNG NGÀY

linh

Một cuộc biểu tình ở Sài Gòn. Ảnh năm 1970.

Bánh xe tị nạn khấp khểnh, muộn màng đưa vợ chồng tôi đến Xứ Kỳ Hoa sau 20 năm chúng tôi sống dzở, chết dzở ở Sài Gòn. Đến Kỳ Hoa đầu năm 1995, tôi viết ngay những bài Viết ở Rừng Phong. Tôi mang theo cái máy đánh chữ sang Mỹ nên trong năm 1995, năm thứ nhất tôi sống ở Kỳ Hoa, tôi viết những bài Viết ở Rừng Phong bằng máy đánh chữ.

Từ năm 1990 máy đánh chữ đã hết thời. Người thế giới đã cho những chiếc máy đánh chữ vào kho phế thải, kho sắt vụn. Sài Gòn đã có computer. Trong số những người bạn văn nghệ của tôi Văn Quang là anh bạn thứ nhất dùng computer. Văn Quang có phone, có computer sớm nhất trong giới văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở Sài Gòn.

Ai bảo anh đàn ông có nhiều vợ, nhiều con là khổ?

hht2

Hoàng Hải Thủy, phóng viên báo Sài Gòn Mới, trong đoàn tháp tùng Đức Hồng Y Agagianan đi thăm Huế và Nhà Thờ La Vang. Ảnh ghi ở phi trường Qui Nhơn. Năm 1956.

Anh đàn ông có nhiều vợ, nhiều con tôi biết là ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, bút hiệu Văn Quang, ông là người nhiều vợ, nhiều con nhưng ông không bị khổ một ly ông cụ nào. VQ có phone, có computer là nhờ ông có 4 bà vợ, 8 người con ở Kỳ Hoa. Đi tù cải tạo hơn 10 mùa sầu riêng trổ gai, VQ trên răng, dưới giép trở về Sài Gòn, nhà ông  người khác ở, vợ con ông đi hết, VQ sống cu ky trong một căn phòng nhỏ đường Sư Vạn Hạnh. Chủ nhà là một ông Thiếu Tá Quân Đội VNCH. Ông Thiếu Tá xây nhà lầu này để những cô em lấy Mỹ thuê. Phòng toàn là phòng nhỏ, cầu tiêu, nhà tắm chung ở cuối dẫy mỗi tầng. Năm 1972 người Mỹ đi khỏi Sài Gòn, những cô em lấy Mỹ chuyển sang nghề khác. Năm 1980 một số ông sĩ quan Quân Đội VNCH đi tù khổ sai trở về Sài Gòn, nhiều ông bị mất nhà, nhiều ông có bà vợ dắt con đi vượt biên sang Mỹ, nên nhiều ông – như ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến – đến sống trong tòa nhà đường Sư Vạn Hạnh. Từ căn nhà đường Sư Vạn Hạnh, ông chuyển về một căn phòng trên lầu nhất chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Hiện nay – Tháng 8/ 2016, ông vẫn sống trong căn phòng này.

Ông Văn Quang kể bốn bà vợ ông ở Kỳ Hoa mỗi lần về Sài Gòn đều đến thăm ông. Có lần hai bà cùng đến nhà ông thăm ông – tình cờ, không hẹn – hai bà cùng đứng niệm hương khấn vái trước bàn thờ bà mẹ ông. Ông kể: hai bà cùng rưng rưng nước mắt.

Tôi – CTHĐ –  từ Trại Tù Khổ Sai Z 30 A trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền – nôm na là trở về Ngã Ba Ông Tạ – vào đầu năm 1990. Buổi sáng Thái Thủy đến nhà tôi, hai chúng tôi ra đi trên hai xe đạp. Chúng tôi ăn sáng bánh cuốn vỉa hè rồi Thái Thủy đưa tôi đến  gập Văn Quang.

Ông hay Anh cũng là Văn Quang. Đến đây tôi gọi Văn Quang là Anh. Anh ở trong một tòa nhà cao lênh khênh đường Sư Vạn Hạnh. Đi tù, Văn Quang hút thuốc lào. Năm 1990 về Sài Gòn anh vẫn hút thuốc lào. Có cái điếu bát để trên chiếc ghế đẩu bên cái giường sắt một người nằm của anh.  Chừng hai năm sau anh mới bỏ thuốc lào, Văn Quang không uống được rượu, dù là bia.

Văn Quang là văn nghệ sĩ Sài Gòn thứ nhất dùng computer để viết. Anh đi hoc một khóa dậy Cách Dùng Computer. Anh biết cách layout. Bọn chúng tôi đa số dùng computer sau VQ đều nhẩy đại vào computer mà không học cách dùng, chúng tôi đánh máy mổ cò bằng hai ngón tay trỏ. Chúng tôi viết bài bằng computer, gửi bài đến tòa báo. Bài được báo đăng. Vậy là chúng tôi hài lòng.

Những năm 1995, 1996, khi viết bằng computer, người Việt đã có chữ Việt – VNI – với những dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và những chữ ư,ơ, â, ă …Tôi không biết ông người Việt nào đã sáng chế ra font Chữ VNI để viết trên computer. Tôi không biết tên ông, không biết ong sống ở Kỳ Hoa hay sống ở Việt Nam. Tôi vinh danh ông, tôi cám ơn ông.

Trước ngày có VNI, những bài viết chữ Việt đều không có dấu. Bài viết phải in ra giấy, đánh dấu hỏi, ngã bằng bút, cắt dán thành trang báo Việt, gửi đến nhà in. Đinh Hiển – một tên khác là Họa sĩ Hĩm – nói về việc cắt dán này:

– Những trang bài đựợc dùng để cắt dán lộn xộn một đống như cái rổ rác. Việc cắt dán nản lắm.

Sang Kỳ Hoa, tôi vẫn viết bằng máy đánh chữ. Tôi trung thành với máy đánh chữ. Tôi thích viết bằng máy đánh chữ vì vừa viết vừa được nghe những tiếng máy gõ lách tách, tiếng guồng máy chạy rẹt rẹt – guồng máy đánh chữ tiếng Pháp là rouleau –  tiếng chuông máy gõ keng. Bộ phận quan trọng của máy đánh chữ là cái ruban. Cái dây vải thấm mực. Tôi không tìm được cái tên nào bằng tiếng Việt để gọi cái ruban của máy đánh chữ. Khoảng 10 năm nay máy đánh chữ bị dẹp, những nhà Staple, Office Depot không còn bán ruban. Tôi, hay bất cứ ai, muồn dùng máy chữ cũng không còn dùng được. Những máy chữ còn tốt bị bỏ quên trong góc tủ.

Máy đánh chữ khi chạy phát ra tiếng động nghe vui tai…Rẹt..rẹt…Keng..! Máy computer êm ru khi viết, không một tiếng động.

Năm 1968 tôi sống trong căn phòng bên cạnh nhà Duy Sinh, nhà số 19 hay số 21 đường Hồ Biểu Chánh. Tiếng máy đánh chữ trong phòng tôi vang sang nhà Duy Sinh. Anh Nguyễn Đức Quỳnh đến chơi nhà Duy Sinh, anh bảo tôi:

– Tôi nghe tiếng máy chữ của anh, tôi biết anh đang viết, tôi rất thích,

Năm 1995, ở Kỳ Hoa Đất Trích,  tôi đọc trên nhật báo The Washington Post bản tin có một số ông văn sĩ Mỹ, ký giả Mỹ, lập Hội Những Người Yêu Máy Chữ. Tất nhiên những ông này không chịu dùng computer.  Các ông tuyên bố các ông cứ dùng máy đánh chữ. Tôi tự gia nhập Hội của những ông này, tôi cứ viết những bài Viết ở Rừng Phong bằng máy đánh chữ.

Nhưng việc viết bài bắt buộc tôi không được làm theo ý tôi. Bài viết trên máy đánh chữ làm nhà báo phải viết lại trên computer, mất thì giờ. Nhiều báo phải mướn người đánh máy bài, phải trả tiền.

Năm 1995 Nguyên Sa có tờ báo tuần Dân Chúng, anh bảo tôi gửi bài cho anh. Được vài tuần anh bảo tôi ngừng gửi bài. Anh không nói lý do báo anh không đăng bài tôi nữa, nhưng tôi biết: anh phải gửi bài viết bằng máy chữ của tôi cho người viết lại bằng com puter, bài báo của tôi trở thành quá đắt tiền: anh trả tôi 50 đô một bài, tiền đánh máy bài thêm 30 hay 50 đô, tiền bài thành ra 100 đô. Quá đắt.

Trong những bài viết thứ nhất của tôi ở Kỳ Hoa – dưới bút hiệu Công Tử Hà Đông, bút hiêu tôi dùng để ký những bài tôi viết trên tuần báo Con Ong, Sài Gòn những năm 1970 – tôi nói ngay: tôi sẽ viết về những chuyện hay, lạ, tôi đọc được trong các sách – tôi làm theo ông Lê Quý Đôn khi ông viết những tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ, Kiến Văn Tiểu Lục – Như chuyện này:

Chuyện đăng trong: “1965. Việc Từng Ngày. Tác giả Đoàn Thêm.”

Ngày 23 Tháng 1, 1965.

Thủ Tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân, kêu gọi mọi người lãnh trách nhiệm đối với tình thế, tránh nhữngvụ xách động, ông lên án “ lũ lưu manh  trọc đầu, mặc y phục tăng ni, làm những trò khỉ..”

Hơn một trăm thanh niên nam nữ kéo tới Viện Hóa Đạo. Họ bi binh sĩ Nhẩy Dù ngăn chặn. Một giáo sư thấy cô con gái ông trong đám biểu tình, ông yêu cầu vị Đại Tá chỉ huy toán bình sĩ, bắt cô con gái ông lại, đánh cho ba roi. Binh sĩ nhân dịp bắt 60 cô nữ sinh biểu tình, đánh cho mỗi cô ba roi, đuổi về.

CTHĐ bàn loạn: Trong hai năm 1964, 1965, những cuộc biểu tình, những cuộc không phải là đảo chính mà là những cuộc hạ bệ thủ tướng, xẩy ra liên tiếp trong thành phố Sài Gòn. Chiều nay, một buổi chiều Tháng Tám năm 2016, viết chuyện xưa tôi thấy lại thấp thoáng hình ảnh những đoàn người lúc 6, 7 giờ tối lũ lượt đi  trên những con đường dẫn tới Viện Hóa Đạo. Những người này không đi biểu tình, họ tới Viện Hóa Đạo để nghe các ông Sư Viện Hóa Đạo nói chuyện. Những vị sư này không thuyết pháp, tức không nói với người ta về đạo giáo, về cách tu thân, mà nói về tình hình chính trị. Các ông Sư Hóa Đạo chống chính phủ. Phật tử biểu tình, tín hữu Thiên Chúa Giáo biểu tình. Cả hai phe Phật Giáo – Thiên Chúa Giáo – cùng chống chính phủ, đúng hơn là chống ông Thủ Tướng. Hai ông Thủ Tướng bị chống đồi những năm ấy là ông Trần Văn Hương, ông Phan Huy Quát.

Trên đây quí vị vừa đọc một đoạn tin viết về cuộc biểu tình ngày 23 Tháng 1, 1965. Tôi trích đoạn tin này trong tác phẩm “ 1965. Việc Từng Ngày” do ông Đoàn Thêm sưu tập. Tôi thấy chuyện có những sự kiện vô lý, những chuyện không có thật và không thể xẩy ra.  Như khi một số người tập hợp để làm cuộc biểu tình, lực lượng cảnh sát đến ngăn chặn, giải tán họ. Quân Đội Quốc Gia không  bị dùng vào việc ngăn chặn biểu tình. Chuyện gì cũng có thể xẩy ra nhưng chuyện “ 60 cô nữ snh đi biểu tình, bị binh sĩ bắt, đánh cho mỗi cô ba roi, đuổi về..” là chuyện tôi biết chắc không thể xẩy ra được. Theo tôi, chuyện ấy: chuyện “ 60 cô nữ sinh bị binh sĩ bắt chổng mông ngay giữa đường phố, quất cho mỗi cô ba roi quắn đít,” là chuyện do một anh phóng viên nhật báo nào đó bịa ra đăng trên báo. Chuyện đó đến các em nhỏ lên ba Sài Gòn cũng không tin. Nhưng soạn giả Đoàn Thêm đã tin, đã cho vào tác phẩm “ 1965. Việc Từng Ngày.” Tôi không hiểu tại sao ông Đoàn Thêm lại tin chuyện ấy là chuyện thật.

Nhưng trong một đoạn hồi ký, Đại Úy Phan Nhật Nam  kể có một lần đơn vị Nhẩy Dù trong có ông bị điều động đi đóng chốt ngăn không cho một đoàn biểu tình kéo đến Viện Hóa Đạo, hay Dinh Gia Long. Tôi chắc có nhiều vị cũng đọc đoạn chuyện này do ông Đại Úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam kể.  Tuy vậy việc “ binh sĩ bắt 60 nữ snh đi biểu tình, đánh mỗi cô ba roi..” là chuyện bịa. Bịa 1000/100.

Thủ Tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân, kêu gọi mọi người lãnh trách nhiệm đối với tình thế, tránh những vụ xách động, ông lên án “ lũ lưu manh  trọc đầu, mặc y phục tăng ni, làm những trò khỉ..”

Đoạn tin trên trích trong tác phẩm “ Việc từng ngày,” tác giả Đoàn Thêm.

Ông Thủ Tướng Trần Văn Hương – dường như – bị cả hai phe Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo có ác cảm, hai phe cùng đòi cho ông ngồi chơi sơi nước, tức không chịu để ông làm Thủ Tướng. Lời kêu gọi dân chúng ngừng những cuộc ông gọi là “ xách động, “ rõ hơn là xuống đường, biểu tình chống chính phủ ..v..v..trong có câu: “ lũ lưu manh trọc đầu, mặc y phục tăng ni, làm những trò khỉ..” là việc làm đổ dầu xăng vào lửa. Lời kêu gọi này chỉ làm cho những người chống ông thấy họ đúng khi họ chống ông’ làm cho họ hung hãn hơn.

Năm 1965 trong các báo Sài Gòn,  trong ngôn ngữ người Sài Gòn, có thành ngữ “ xuống đường.” Vài năm sau tiếng “ xuống đường” tự động mất đi. “ Xuống đường” là tiếng gọi việc người Sài Gòn ra đường biểu tình trong thành phố.

Đất Bắc Việt.

Trích trong “Hai Mươi Năm Qua. Tác giả Đoàn Thêm.”

Ngày 18 Tháng 5, 1955

Một hộp đựng đất Bắc Việt do ông Đại Biểu Chính Phủ Lê Quang Luật đưa vào Nam trên tầu “ Ville de Haiphong,” được tiếp đón long trọng,  được phủ quốc kỳ, đặt tại Tòa Đô Chính cho dân chúng chiêm ngưỡng. Trong thời gian này, Tòa Đại Biểu Chính Phủ Nam Phần được đặt tại Tòa Đô Chánh. Sau đó, hũ đất Bắc Việt được trưng bầy trong Trụ Sở Quốc Hội.

Ngày 25 Tháng 2, 1965. 12 giờ trưa nay Đại Tướng Nguyễn Khánh đi khỏi Việt Nam, khi lên phi cơ tay ông cầm một hôp đựng đất Việt Nam. Ông hẹn sẽ trở về.

CTHĐ: Ngày 18 Tháng 5, 1955, ông Lê Quang Luật, Đại Biểu Chính Phủ Bắc Phần, đưa một hũ đất Bắc Việt vào Sài Gòn. Tôi – kẻ viết chuyện này – không biết sau thời gian được trưng bầy, hũ đất này đi về đâu? Hũ đất này nay ở đâu?

Tôi nghĩ hũ đất này nếu nay còn, chắc bị nằm trong một góc tủ hay một xó nhà nào đó ở Kỳ Hoa. Không biết Nhà Bảo Tồn của ông Giao Chỉ ở San José có hũ đất này không? Nếu bị bỏ trong xó nhà nào đó, chắc Hũ Đất Quê Hương buồn lắm, có thể Hũ Đất nghĩ:

– Chúng mày quên tao. Chúng mày không khá được.

Ngày 25 Tháng 2, 1965, một hộp đất Sài Gòn được Đại Tướng Nguyễn Khánh mang sang Hoa Kỳ. Khi đi ông hẹn ông sẽ trở về nước. Lời hẹn theo gió Tân Sơn Nhứt bay đi. Ông Nguyễn Khánh chết già ở Hoa Kỳ. Tôi không biết hộp đất Tổ Quốc ông Nguyễn Khánh mang sang Mỹ nay ở đâu. Nếu ông Nguyễn Khanh hôm nay còn sống, tôi sẽ hỏi ông về chuyện hũ Đất Quê Hương năm xưa ông mang sang Mỹ.

Việc từng Ngày. Trích: Cuộc hạ bệ Quốc Trưởng Bảo Đại.

Ngày 15 Tháng 5, 1955. Biểu tình hàng vạn người trước Phú Văn Lâu, Huế, đòi truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại, ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Ngày 31 Tháng 5, 1955, Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng bắt mở rộng cửa Ngọ Môn, Huế, những người trong Hội Đồng này đi qua Ngọ Môn, vào Nội Cung tịch thu ấn tín và nhiều đồ vật trong văn phòng của Quốc Trưởng Bảo Đại.

CTHĐ: Vua Bảo Đại hai lần bị hạ bệ. Lần thứ nhất ông mất ngôi vua khi ông thoái vị trong Tháng Tám năm 1945. Lần thứ hai ông bị phế năm 1956. Nôm na là ông bị đuổi, một số người Việt hạ bệ ông, dù ông đã tự ý bỏ ngôi vua và tự nhận là Quốc Trưởng, một số người Việt vẫn không cho ông làm Quốc Trưởng, họ không cho ông về nước,

Tôi từng théc méc về việc ông Vĩnh Thụy được đưa lên làm vua. Tôi thấy cái tên Bảo Đại của ông báo trước việc ông mất ngôi vua: Bảo Đại là Bại Đảo. Vua mà Bại Đảo thì không thể không mất ngôi. Nhưng – dường như – trong mấy chục triệu người Việt thời tôi chỉ có tôi là người théc méc về cái tên Bảo Đại – Bại Đảo.

Như trong lịch sử thời vua Lê, Chúa Trịnh, có ông Chúa Trịnh vương hiệu là Án Đô Vương. Án Đô là Đố An. Trong đời ông Chúa Án Đô, kiêu binh làm loạn ở kinh thành Thăng Long. Tình trạng Bắc Việt loạn lạc rối tinh rối mù mãi cho đến ngày Vua Gia Long dẹp Lê, dẹp Trịnh, dựng lên vương triều Nguyễn.

Một số sự kiên được tr1ch trong ” Việc Từng Ngày”, tác giả Đoàn Thêm:

20 – 1 – 1945. Những tác phẩm được Giải Văn Chương 1944.

Giải Gia Long: Nhà Nho của Chu Thiên, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân, Bịnh Ho Lao của Lê Văn Ngôn, Lều Chõng của Ngô Tất Tố, Đời Sống Tinh Thần của Thiếu Sơn, Cư Kỉnh của Hồ Biểu Chánh.

Giải Alexandre de Rhodes: Thơ Pháp Nam của Phan Văn Chi, Petain  Cách Ngôn. Á Đông Triết Lý của Đặng Thúc Liêng và Hồ Đắc Trung, được Giải Khuyến Khích 200 đồng.

7 – 2 – 1945. Nam Vang bị phi cơ Mỹ oanh tạc: 100 người chết, 350 người bị thương. Sài Gòn – Chợ Lớn bị phi cơ Mỹ ném bom dữ dội: 151 người chết, trong số có 31 người Â, 54 người bị thương, trong số có 6 người Âu.

Quân Mỹ tiến vào Manila, kịch chiến với quân Nhật trong thành phố.

10 – 2 – 1945. Tạp Chí Tân Á Số Tết, phát hành ở Sài Gòn, đăng bài Thơ Xuân; trong bài có câu:

Một khi Tân Á dựng nên tòa

Mỹ Anh kình bóng, nhà nhà hoan hô.

1 – 3 – 1945. Nhiều người chết đói. Ở nhiều nơi dân chết đói cả vạn người. Nhiều nơi chết đói cả nhà, cả làng. Dân quê bị đói kéo về các thành phố, mong

kiếm được cái ăn. Dân đói chết thảm ngoài đường, nhiều nhất là ở Hà Nội.

10 – 3 – 1945. Bài đăng trong Tạp Chí Tân Á Số 53.

Lời tuyên bố của ông Hồ Nhật Tân. Đảng trưởng Đảng Việt Nam Ái Quốc.

Trong vùng Đại Đông Á mênh mông bát ngát, dưới ánh sáng lãnh đạo rực rỡ, chói lọi của nước đại Nippon, dân tộc Việt Nam gồm có năng lực đầy đủ hy vọng sẽ kiến thiết một quốc gia đúng theo nguyên tắc công bằng và tự do.”

19 – 8 – 1945. Đê Đông Lao, Hà Đông, bị vỡ, nước tràn vào nhiều vùng.

22 – 8 – 1945. Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị.

23 – 8 – 1945. Chính phủ Hồ Chí Minh ra đời.

9 – 9 – 1945. Quân đội Trung Hoa sang Bắc Việt để giải giới quân Nhật. Tổng số quân Trung Hoa trên đất Bắc là 180.000 người.

Ngày 25 Tháng 2, 1965.

Đại Tướng Nguyễn Khánh, được tặng Đệ Nhất Hạng Kim Khánh, trưa nay rời khỏi Việt Nam, tay cầm nắm đất, hứa sẽ trở vể.

Ngày 11 Tháng 10, 1965. Một bức tượng Đức Bà Maria, đưa từ Bồ Đào Nha sang Việt Nam, được rước đi các giáo khu.

Ngày 30 Tháng10 – 1965. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cảnh cáo: Người Mỹ nào giúp đỡ bất cứ bằng cách gì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam sẽ có thể bị truy tố tội phản quốc.

Ngày 30 Tháng 12, 1965. Trưa nay, ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy bị đặc công Việt Cộng sát hại bằng 4 phát súng lục trước nhà riêng ở đường Bà Hạt, Sài Gòn.

Ngày 10 Tháng 7, 1965. Lễ Ra mắt tại Chợ Lớn của 500 đoàn viên thuộc Tổng Đoàn Thanh Niên Trừ Gian.

Ngày 22 Tháng 7, 1965. Cao Mên tiếp nhận nhiều võ khí do Trung Cộng viện trợ. Sihanouk tuyên bố: “ Trung Cộng là bạn thân nhất của Cao Mên.”

Ngày 23 Tháng 7, 1965. Jack Ryan, người Mỹ, chuyên viên an ninh của Cơ Quan Viện Trợ Mỹ, bị ám sát tại đường Hiền Vương, Sài Gòn, cùng một phụ nữ Việt Nam tên là Nguyễn Thị Hải.

Ngày 24 Tháng 7, 1965. Jack Kimball, nhân viên Sở Viện Trợ Mỹ, bị bắt vì đã hạ sát Jack Ryan và Nguyễn Thị Hải.

Những Lời Nói đáng nhớ:

Quốc Trưởng Bảo Đại: Làm dân một nước độp lập hơn làm vua một nước nô lệ.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu; Đừng nghe những gì bọn cộng sản nói, hãy xem những gì bọn cộng sản làm.

Quốc Gia còn, tất cả còn.

Quốc Gia mất, tất cả mất.

Tổng Bí Thư Lê Duẩn: Trung Quốc là kẻ thù trước mắt và muôn đời của dân tộc Việt Nam.

Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa.

Toàn dân, toàn quân phấn khởi hồ hởi tiến lên xã hội chủ nghĩa.

Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nếu mỗi người lính Cộng Hòa mỗi người bắn chúng ta một phát súng, chúng ta không vào được Sài Gòn.

Nếu mỗi người Sài Gòn ném chúng ta một cục đá, chúng ta không vào được Sài Gòn.

Tôi hơn Bác Hồ chứ. Bác Hồ đâu dám đánh Tầu, tôi dám đánh Tầu.

o O o

Thơ Hoàng Hải Thủy

Vườn Quên Lãng, làm ở Sài Gòn năm 1976.

Người đi bỏ lại Vườn Quên Lãng.

Tôi ở Vườn Quên chẳng lãng quên.

Xuân hồng hoa nở tôi cay đắng.

Đông sám hồn tôi vẫn ngủ yên.

Hạ trắng tôi không nhìn thấy nắng.

Thu vàng tôi chẳng gập ai quen.

Người đi có nhớ Vườn Quên Lãng.

Đà lãng quên hay vẫn đỗ quên.

*

Tiếng Hát Thanh

Tiếng mẹ ru từ thưở nằm nôi.

Mẹ thôi, Mẹ không hát nữa

Khi Anh chân bước vào đời.

Tiếng Hát Mẹ nằm trong ký ức

Tung cánh bay khi Em hát cho Người.

 

Ngày xưa xa lắm ở bên trời

Có ngươi xưa hát lúc đi rồi

Mười hôm tiếng hát còn vương vấn

Trên mái nhà xưa âm chửa rơi.

Tiếng Hát Em tim Anh nức nở

Hai chục năm trời Thanh chửa thôi.

 

Em hát khi Anh vừa bỏ học

Em hát khi Anh sắp bỏ đời.

Em hát khi Anh chưa biết khóc

Em hát khi Anh biết mỉm cười.

Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc

Em hát khi Anh giấc ngủ vùi.

Em hát tan vàng, ca nát đá.

Em hát cho Anh biết ngậm ngùi.

 

Nắng chia nửa bãi chiều rồi.

Đêm tàn Em hát, buồn ơi lá sầu.

Động Hoa Vàng có tên nhau,

Thương thì thương nhé mặc cầu gió bay.

Tiếng Em buồn cuối sông này.

M6y đầu sông thẫm bóng ngày khóc Em.

 

Nhạc Trầm

Đừng hát một mình

Bài ca sầu những uộc Tình ly tan.

Thôi buồn, hãy hát theo đàn.

Tình Yêu như ngọc, như vàng cho nhau.

 

Trong bóng đêm sâu

Những người yêu ngủ giấc sầu ngàn năm.

Trong lòng mộ tối Tình nằm

Bây giờ chắc mệt như tằm rũ tơ.

Trời lại mưa….

Trời lại mưa, Anh lại nhớ thương.

Thương, thương gần, nhớ, nhớ tha hương.

Thương gần mái tóc thơm hương cũ

Nửa đoạn trường xanh, nửa trắng thương.

Nhớ xa cặp mắt nâu không ngủ

Đêm lại đêm dài lạnh viễn phương.

 

Em gần hãy mộng trang hồng sử

Chờ sáng mai trời rạng ánh dương.

Em xa hãy trọn sầu ly xứ.

Còn nhớ thương Em cứ nhớ thương.

Ngày mưa, tháng gió nên tâm sự

Người nhớ, người thương để nhớ thương.

Năm năm cứ đến Mùa Ngâu Rũ

Trời lại mưa, Anh lại nhớ thương.

Đêm trong Sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu

Nằm trong khám tối âm u

Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa.

Bồi hồi tưởng mái nhà xưa

Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao.

Thương Em nhạt phấn, phai đào

Đêm đêm trở giấc chiêm bao một mình.

Ngủ đi Em, mộng bình minh

Mưa bao nhiêu giọt là Tình bấy nhiêu.

Thị Mịch 77

Lạc loài góc phố, vỉa hè xưa

Gặp Em nằm ép mái hiên mưa.

Nửa mái Tây hiên, tình tứ nhỉ.

Chín tầng Địa ngục, não nùng chưa.

Từ Thức về trần, cù chẳng nói.

Giáng Tiên xuống thế, gọi không thưa.

Nàng nghiêng Thị Mịch, chàng ôm gối.

Khói thuốc khơi dòng Thơ vẩn vơ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: