• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

FBI và Gián Ðiệp VC

Trong nhiều năm tôi thấy trên Tuần báo “Ngày Mới-Phụ Nữ Mới” phát hành ở Virginia đăng Thông Cáo FBI:

FBI KÊU GỌI CỘNG ÐỒNG VIỆT HỢP TÁC

U.S. DEPARTEMENT OF JUSTICE FEDERAL BUREAU OF INVESTIGATION

THÔNG BÁO

Cơ quan an ninh Liên Bang (FBI) kêu gọi người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ hãy tích cực giúp đỡ chính quyền trong công tác bảo vệ an ninh.

Kính thưa quí vị,

Trong những công việc và hoạt động của cơ quan FBI triệt để thi hành bảo vệ luật pháp Hoa Kỳ, công tác phản gián là một nhiệm vụ rất quan trọng. Trong thời gian qua, cơ quan FBI đã thành công với sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ. Nay, trước sự gia tăng số người Việt Nam đến định cư  tại Hoa Ky, chúng tôi nghĩ rằng những hoạt động của cơ quan tình báo, gián điệp Cộng Sản Việt Nam cũng len lỏi gài cán bộ hoạt động gây rối và phá hoại an ninh trong cộng đồng người  Việt Nam tị nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ. Ðể ngăn cản sự phát triển của những phần tử xấu này, Cơ quan FBI một lần nữa kêu gọi sự tích cực của người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản đã và đang có mọi liên quan đến sự giao dịch với chính quyền Cộng sản Việt Nam, biết rõ về sự hoạt động của những cán bộ Cộng sản nằm vùng, hoặc những người đã được chính quyền Cộng sản Việt Nam yêu cầu, khuyến dụ, dọa nạt, cưỡng bách, chỉ thị.. để thi hành bất cứ công tác nào trong lãnh thổ Hoa Kỳ, nay đã không còn tin tưởng và bất mãn với chế độ Cộng sản Việt Nam. Nấu quý vị muốn giúp đỡ chính quyền Hoa Kỳ và đồng bào Việt Nam hải ngoại tiêu diệt sự hoạt động hăm dọa và lộng hành ..của giới cán bộ tình báo Cộng sản Việt Nam nằm vùng tại Hoa Kỳ. Xin quý vị liên lạc với chúng tôi.

Những ai liên laic với cơ quan FBI để cung cấp tin tức, tài liệu liên quan đến những hoạt động tình báo của Cộng sản Việt Nam, tất cả sẽ được giữ kín và bảo mật danh tánh.

Những ai nói tiếng Việt và ở ngoài vùng Vịnh San Frncisco xin gọi điện thoại đến cơ quan FBI số : 1-510-451-9782 xin gặp FBI Agent (T. Nguyen) hoặc có thể viết thư cho chúng tôi bằng Anh ngữ hay Việt ngữ về địa chỉ :

To: FBI (Field Office)

180 Grand Ave. Suitr 1100

Oakland, CA 94162

Quý vị cũng có thể tìm số điện thoại của cơ quan FBI trong quyển niên giám điện thoại nơi bạn cư ngụ.

Hết Thông Cáo.

CTHÐ: Tuần báo Ngày Mới-Phụ Nữ Mới đăng Thông Cáo FBI trên đây dài dài đến nay đã 5 năm. Bản Thông Cáo FBI quí vị vưà đọc được đăng trong báo NM-PNM số ra tuần này – 14/12/2012. Thông Cáo này không có ngày tháng. Theo tôi, Thông Cáo này là Thông Cáo FBI thật, nhưng nó  chỉ có giá trị vào những năm 1980. Từ năm 2000 chính phủ Hoa Kỳ bỏ Cấm Vận Bắc Cộng, thi hành chính sách sống chung hòa bình với bọn Tầu Cộng, Việt Cộng – Tổng Thống Ðảng nào cũng theo chính sách hòa hoãn ấy, in hệt, trước là hoà với Cộng Tầu, sau là hòa với Cộng Việt – chính phủ Hoa Kỳ mời bọn Ðầu Xỏ Cộng Tầu, Ðầu Xỏ Cộng Việt đến thủ đô Washington D.C, đãi bọn Cộng như thượng khách, quốc khách. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ mời bọn Tướng Tầu đến Pentagon, trình bầy cho chúng thấy nếu có chiến tranh xẩy ra Hoa Kỳ sẽ đánh như thế nào, sẽ dùng những võ khí gì. Bọn Cộng Tầu, Cộng Việt công khai đến Mỹ, phây phây như chúng đi chợ. Khi những việc như thế đã xẩy ra, FBI còn ra Thông Cáo kêu gọi người Việt cộng tác bắt bọn gián điệp Việt Cộng hành sự trên đất Hoa Kỳ làm chi nữa?

Năm 2010, chính phủ Mỹ chính thức mời tên Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An Việt Cộng, đến Washington coi chơi những cái gọi là bí mật quốc phòng của Mỹ. Cấp bậc của Lê Hồng Anh là “Ðại Tướng.” Trên Internet có nhiều bài kể tông tích và tài năng của “Ðại Tướng Cảnh Sát Lê Hồng Anh.” Toàn là những bài viết của những người trong nước. Lê Hồng Anh bị người trong nước chê là ngu, đần, vô học. Mời quí vị đọc một bài viết nhẹ nhất về nhân vật Lê Hồng Anh.

VUA HỀ LÊ HỒNG ANH

Ðại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An Bắc Cộng.

Ðại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An Bắc Cộng.

Vài tuần nay có thể nói chức “Vua Hề” nằm trong tay Chủ tịch nước VNCS Nguyễn Minh Triết với câu pha trò nổi tiếng:

“Có người ví von: Việt Nam Cuba như là được trời đất sinh ra. Một anh ở phía Ðông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.”

Nay thì vị Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh đã cướp cái chức Vua Hề này cách ngoạn mục chưa từng có. Việc đó đã xảy ra trong cuộc trao đổi với báo giới chiều ngày 4 tháng 11 bên lề kỳ họp quốc hội.

Hãy xem phóng viên Vietnamnet đã ghi được gì trong cuộc trao đổi đó.

Trước hết, người đọc ngay từ phút đầu đã phải cười đứt ruột khi ngài Lê Hồng Anh nói việc điều tra vụ PCI của công an ta là “CHẬM mà CHẮC”. Hẳn rồi, nhìn cái bộ mặt của Ngài Bộ trưởng là thấy ngay. Bộ mặt Ngài to và dày như một cái thớt lim, mặt Ðại Tướng Bộ Trưởng vừa có dáng vẻ của một cái mặt… heo (!) vừa giống mặt của một anh đồ tể hạng Một. Mặt cỡ đó thì có bắn đại bác vô cũng hổng suy suyển. Hèn chi mà từ khi phía Nhật cung cấp chứng cứ viên chức cao cấp Việt đòi tiền hối lộ tới giờ Ngài Bộ trưởng ta và các chiến sĩ công an chuyên chánh vô sản vẫn “bình chân như vại”, đâu có vội vã hấp tấp như mấy anh ở cái xứ mặt trời mọc  nôn nóng ấy! Chắc Bộ trưởng sẽ ‘ngâm’ vụ án hối lộ này lâu kỷ lục, để cả thế giới phải kính nể “Cái CHẮC made in VN”!

Kế đến, Ngài Lê Hồng Anh cho biết tốc độ và cường độ làm việc của các cơ quan dịch thuật ở Bộ Công an siêu đẳng ra sao. Không đầy hai năm trời mà toàn bộ lực lượng dịch thuật hùng hậu của cả cái Bộ đó đã dịch xong những gần 4000 trang tài liệu! Nếu là nước khác (như Mỹ chẳng hạn) mà  làm việc CHẮC như ta thì có lẽ người cả nước đổ xô vào cùng dịch cũng phải mất chừng thế kỷ ?

Thứ ba, ngài Bộ trưởng cho biết: dù những chứng cứ viên chức ta ăn hối lộ do phía nước ngoài cung cấp có xác thực mấy thì ta cũng chưa chắc đã xử, vì “mới là lần đầu tiên, chưa có tiền lệ, phải coi lại luật pháp của mình như thế nào”. Cho nên quý vị đừng có mà nổi cơn hâm, đòi xử vụ ăn hối lộ này bằng đượ! Quan chức của ta ăn cắp mà chứng cớ do nước khác cung cấp thì không phải là ăn cắp đâu nghen! Theo luật pháp của ta không chừng đó là việc tốt cần tuyên dương đó! (Cứ  xem vụ Vedan thì rõ!)

Rất hài hước mà cũng rất khiêm tốn, Ngài Bộ trưởng không tự ý kết luận đúng sai. Còn phải ‘ngửi’ ý kiến của mấy ông bên Viện Kiểm sát với bên Toà án, khởi tố kẻ có tội mà mấy ông Kiểm sát, Tòa án không ưng thìBộ trưởng công an bẽ mặt.

Vua Hề Lê Hồng Anh cũng không quên động viên mấy anh Nhật Bổn tuy nóng vội hơn phía ta nhiều nhiều nhưng các chứng cứ buộc tội của họ — người Nhật — cũng “CÓ CƠ SỞ”.

Về vụ Securency hối lộ ông Lương Ngọc Anh và cha con ông Lê Ðức Thuý, Vua Hề Lê Hồng Anh cũng diễn hài na ná như rứa.

Hài nhất là khi trả lời câu hỏi về việc tại sao quan chức cấp cao khi phạm tội tham nhũng được xử án rất nhẹ, Vua Hề Công An trả lời:

“… Cán bộ cấp càng cao, nói gì thì nói, dù sao tư tưởng cũng đỡ lệch lạc hơn cấp dưới. Cũng như trong gia đình, người cha, người mẹ cũng chững chạc hơn con cái.”

Noi gương hài hước của Vua Hề, tôi xin diễn giải rõ hơn:

“Cán bộ cấp cao thì tuy cũng thối nát lắm, nhưng dù gì thì cũng cứ đỡ thối nát hơn, đớp hít kín đáo hơn cấp dưới. Cũng như trong một gia đình vô phúc, dù sao thì cha mẹ cũng giỏi làm ra vẻ chững chạc hơn bọn con chút chút!”

Ðúng là Vua Hề Lê Hồng Anh (phát âm chuẩn là Lê Hòng Ăn) đã cho dân chúng một phen được cười nứt họng. Những câu phát ngôn của Ngài thì dù ai có thông thái mấy cũng không bao giờ nghĩ ra được.

Bởi nó vượt mọi tầng mức của… sự ngu xuẩn,đểu cáng và trơ trẽn!

06.11.2009

TRẦN NAM CHẤN

Mời quí vị đọc bài báo kể về tình trạng Cảnh Sát Giao Thông Việt Cộng đòi người dân nộp tiền hối lộ ngay tại công sở. Bài này đăng trên Tuần báo Công An Nhân Dân Bắc Cộng.

Nếu như Ðội trưởng đội Cảnh sát trật tự cơ động Q.6 (TP.HCM) “làm luật” với chủ xe tại quán nhậu, thì Ðội Cảnh sát trật tự cơ động – Công an Quận Bình Tân lại công khai hơn, ra giá với chủ xe ngay tại trụ sở công an.  Chủ xe chung tiền cho cảnh sát cũng ngay tại đồn cảnh sát.

Ðội trưởng Cảnh Sát Giao Thông Việt Cộng bắt chủ xe nộp tiền hối lộ ngay tại văn pbòng.

Ðội trưởng Cảnh Sát Giao Thông Việt Cộng bắt chủ xe nộp tiền hối lộ ngay tại văn pbòng.

Trong quá trình tìm hiểu nạn “làm luật” để mua đường, đi đâu, gặp tài xế nào chúng tôi cũng nghe kể vanh vách cách làm tiền trắng trợn, có tổ chức của Ðội Cảnh sát Công an Quận Bình Tân. Theo cánh tài xế, sau khi ngã giá xong mức chung chi hằng tháng, chủ xe phải đóng tiền, báo số lượng xe và biển số cho Trung tá Thiều Quang Văn, người được coi là “thủ quỹ” của Ðội Cảnh sát Công an Bình Tân.

 Anh H. là một tài xế xe mới bị hai cảnh sát bắt xe, nhưng không lập biên bản mà chỉ giữ giấy tờ. Trước khi cầm giấy tờ của tài xế phóng mô tô đi, hai cảnh sát dặn lại:

“Muốn gì thì tới đội làm việc.”

 Sáng 27.11, anh H. tới trụ sở Ðội Cảnh sát Công an Bình Tân. Vào đến phòng, thấy có 3 cảnh sát đang làm việc, H. nói:

“Hôm qua  hai anh Khoa và Mẫn giữ giấy tờ xe của em, nay em đến gặp để xin lại.”

 Mấy cảnh sát nói:

 “Muốn gặp Khoa và Mẫn thì 10 giờ mai đến đây.”

Trước đó, H. đã nghe nhiều tài xế khác nói “Thấy ai tên Chương thì  cứ đặt thẳng vấn đề”, nên H. nhìn và thấy một Trung tá ngồi ở bàn làm việc có bảng tên “Nguyễn Hoàng Chương – Phó đội trưởng đội CSTTCД. H. đặt vấn đề luôn với Trung tá Chương:

“Em có 7 chiếc xe tải chạy, nhờ anh giúp đỡ.”

 Nghe vậy, Trung tá Chương liền cho H. số điện thoại của Thiếu tá Hoàng Văn Khoa và dặn:

“Cứ điện thoại cho Khoa xưng là cháu chú Chương, nó sẽ trả lại giấy tờ.”

Khoảng 11 giờ, anh H. điện thoại cho Thiếu tá Khoa và được hẹn đến ngã tư quốc lộ 1A và Lê Trọng Tấn. Ðến nơi, Thiếu tá Khoa dẫn anh H. vào một quán nhậu và gọi mấy người bạn tới cùng nhậu với anh H. Nhậu xong, Thiếu tá Khoa trả lại anh H. giấy tờ xe và dặn:

“Ðến gặp ông Chương nhé!”.

Do bận nhiều việc nên hai ngày sau anh H. vẫn chưa lên gặp ông Chương. Sáng 28.11, Trung tá Chương điện thoại trực tiếp cho anh H. hẹn 7 giờ sáng 29.11 đến đồn  gặp ông Sáng sớm, anh H. điện thoại xin “gia hạn” thì ông Chương trách:

“Cả buổi hôm qua anh chờ mãi mà mày không tới, sáng nay mày đến đi, anh đợi ở cơ quan…”.

 Khoảng 7 giờ 30, anh H. bước vào phòng làm việc của Ðội Cảnh sát TTCÐ, lúc này bên trong đội có Trung tá Nguyễn Hoàng Chương (đội phó) và 3 cán bộ: Ðại úy Võ Minh Mẫn, Trung tá Võ Văn Lâm, Trung tá Thiều Quang Văn.

Trung tá Chương nói ngay:

 “Mày có mấy chiếc xe, ý mày muốn sao mày nói luôn đi, mày đăng ký số xe ra đây để anh em chúng tao  tính.”

Anh H. nói:

“Em có 7 chiếc xe nhưng đi vào địa bàn Bình Tân chỉ có hai chiếc thôi”.  Ðại úy Mẫn nói ngay:

“Ðăng ký 2 chiếc nhưng chiếc thứ 3 vô quận  thì sao?”

Ngồi bàn kế bên, Trung tá Lâm đưa ra phương án:

 “Thôi kệ nó, có 7 chiếc đăng ký 2 chiếc, tính 2 chiếc; còn xe ra vô, xe nào tính xe đó.”

 Ttrung tá Chương cảnh cáo:

“Có 7 xe mà chỉ đăng ký 2 xe hả. Nếu xe thứ ba vô bị phạt nặng ráng chịu.”

 Ðại úy Mẫn nói tiếp:

“Anh em đâu đó đàng hoàng, đăng ký hai chiếc ghi biển số xe, còn chiếc thứ 3 vào ráng chịu nha, anh em nói một là một hai là hai. Giờ sao, anh ghi số xe đi, tháng anh ủng hộ anh em bao nhiêu nào, nếu được thì bụp, còn không thì mình tính… cách khác.”

Anh H. nói:

“Mỗi xe năm trăm ngàn, được không ạ?

Ðại úy Mẫn nói thêm:

“Anh em nói thẳng nha, số tiền này chỉ là tiền chi cho cảnh sát trật tự thôi, còn giao thông và công chánh anh tự lo nha”.

Ngưng bài phóng sự.

CTHÐ: Tham nhũng ở Việt Nam: Không có thuốc chữa. Không phải “Hết Thuốc Chữa” mà là “Không có Thuốc Chữa.”

Mà có Thuốc, bọn Ðầu Xỏ Bắc Cộng cũng không dùng. Vì chúng nó tham nhũng, ăn cướp, ăn cắp từ Thằng Ðầu Xỏ xuống đến Thằng Tép Riu. Trong hai nước Tầu, Việt nay còn bọn đảng viên Cộng Sản cầm quyền, Tham Nhũng là Quốc Nạn, Quốc Bệnh. Tham Nhũng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà Xưa không đi đến đâu so với Tham Nhũng Xã Hội Chủ Nghiã.

Hoàng Hải Thủy Trả Lời Các Bạn

Tôi xin lỗi các vị đã gửi thư cho tôi trong bao lâu nay mà tôi chưa trả lời; từ ngày có hoanghaithuy.com tới nay, có thể đã 2 mùa thu lá bay. Xin kể vài dòng: hoanghaithuy.com có mặt ở đời là nhờ công phu cuả bạn trẻ Bắc Thần, một trong những người đọc tiểu thuyết phóng tác của tôi từ 30 năm xưa, người những năm 1991, 1992 đã nhân dịp từ Mỹ về Sài Gòn, tìm gặp tôi ở nhà tôi trong Cư Xá Tự Do, giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền, tôi cám ơn riêng bạn Bắc Thần. Không có Bắc Thần, cuộc đời không có hoanghaithuy.com.

Từ ngày có hoangaithuy.com tới nay dường như tôi chưa trả lời thư của bạn nào. Xin quí vị thứ lỗi.
 

US Embassy

Trước hết tôi phải đính chính: tôi đã kể sai khi viết “Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ nay ở đường Hồng Thập Tự, Sài Gòn.” Số là năm 1994 khi vợ chồng tôi bánh xe lãng tử ÔĐiPi sang Hoa Kỳ, các con tôi không sống chung nhà với chúng tôi nên không có tên trong cái gọi Sổ Hộ Khẩu cùng với vợ chồng tôi. Luật ODP năm ấy không cho những người con không có tên trong Sổ Hộ Khẩu được sang Mỹ với cha mẹ. Vợ chồng tôi rứt áo ra đi, các con tôi ở lại Sài Gòn.

Những muà thu lá bay theo nhau qua, 8 năm sau, Thượng Nghị Sĩ John McCain đệ trình Quốc Hội Mỹ Dự Luật cho phép con những người Việt HO không sống chung nhà với cha mẹ nay được sang Hoa Kỳ đoàn tụ với cha mẹ. Dự Luật này được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận. Bà Khúc Minh Thơ, người bảo lãnh cho vợ chồng tôi đến Virginia, làm dùm chúng tôi tất cả mọi thứ giấy tờ, thủ tục để bảo lãnh các con tôi. Sau 9 năm bị cha mẹ bỏ lại Sài Gòn, một đêm Tháng Ba 2003 các con tôi đến Washington DC. Trong một bức ảnh các con tôi chụp khi đến nơi phỏng vấn, tôi thấy các con tôi đứng trước một toà nhà không phải là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tôi đã biết. Tôi cứ nghĩ đó là toà nhà nơi mặt sau Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Cũ. Như thế Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ phải ở đường Hồng Thập Tự. Mới đây tôi hỏi lại, các con tôi nói:

– Chúng con có nói Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ nay ở đường Hồng Thập Tự đâu. Chúng con đi theo Chương Trình Tu Chính Án John McCain. Giấy tờ chứng nhận của Bố từ Mỹ gửi về, chúng con làm hồ sơ, gửi Bưu Điện đến địa chỉ ghi trong đơn xin. Chúng con được thư gọi đến phỏng vấn ở một vi-la đường Phan Đình Phùng. Người Mỹ mướn vi-la này để phỏng vấn riêng bọn đi Mỹ theo Tu Chính Án John McCain, chúng con không đến Toà Lãnh Sự Mỹ ở Sài Gòn.
 
US Embassy
 
Viết thêm: nhân viên phỏng vấn ở đây là người Việt được tuyển ở Hoa Kỳ.

Nhắc lại: tôi đã sai khi viết Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ nay ở đường Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Toà Tổng Lãnh Sư HK hiện nay là toà nhà bên phải Toà Đại Sứ Cũ.

Cám ơn các vị đã đọc hoanghaithuy.com và cho biết những chuyện viết sai, những lầm lỗi, những dzốt nát của tôi về Tiếng Tây, Tiếng U, dzốt về cả Tiếng Việt, xin quí vị bỏ qua cho tôi những chuyên tôi cao hứng phóng bút viết bừa tăng tít, những lời cợt nhả vô duyên, những hỗn xược tuy không cố ý nhưng vẫn đáng trích, những bút sa Gà không chết nhưng Gà bị chửi tắp bếp — Tôi sinh năm Quý Dậu, 1933, tuổi Gà. Đã Gà mà còn là Gà Què Ăn Quẩn Cối Xay kiêm Gà Mắc Dây Thun — trong bài này tôi trả lới một số các vị.

US EmbassyLại phải viết thêm về Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Cũ ở Ngã Từ Hàm Nghi-Võ Di Nguy, đối diện với Nhà Charterd Bank, và ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ cuối cùng ở đường Thống Nhất, Sài Gòn, làm tôi cảm khái. Tôi từng đến, từng vào trong hai Toà Đại Sứ ấy. Ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở đường Thống Nhất, Sài Gòn — Đây là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ cuối cùng ở Sài Gòn — làm tôi nghĩ đến chuyện Thành, Trụ, Hoại, Không.

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ được xây lên năm 1965: Thành. Nó Trụ trong 10 năm. Năm 1975 nó bắt đầu Hoại, năm 1999 nó mất tiêu: Không.

Vạn vật ở trong tình trạng Thành, Trụ, Hoại, Không. Trời, Đất, Trăng Sao.. Tất cả rồi sẽ mất hết. Có những vật Trụ được tương đối lâu như Angkor Vat, Kim Tự Tháp, Vạn Lý Trường Thành. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn chỉ Trụ được trong có 10 năm.

Tôi xin trả lời các vị:

Muốn liên lạc với tôi qua E-mail, xin quí vị cho tôi trước E-mail của quí vị. E-mail của tôi chỉ nhận những E-mail bạn đã có trong AddressBox của tôi.

Xin gửi thư cho tôi về:

ĐỜI NAY.
Công Tử Hà Đông
P.O. Box 5061
Falls Churh. VA 22044.

* Em cháu ngoại Bà Bút Trà: Rất tiếc tôi không có một tài liệu nào về Nhật Báo SàiGònMới. Em có tấm hình nào của Bà Ngoại em, em gửi cho tôi. Mới đây trên Internet có một số hình Bà Ngô Đình Nhu và Hội Phụ Nữ Liên Đới những năm 1960. Trong số các bà hội viên Liên Đới trên ảnh có một bà giống bà ngoại em, giống thôi, không phải, bà ngoại em không ở trong Hội Phụ Nữ Liên Đới.

* Tất cả những tiểu thuyết phóng tác của tôi trước 1975 nay đều không còn quyển nào bán ở Hoa Kỳ. Vì truyện tôi không còn ai mua nên không thể tái bản. Kể cả việc đánh máy lại những truyện đó để post lên đây cũng là một khó khăn đối với tôi.

* Xin bà K.O. gửi cho tôi bài và ảnh LCM về Địa chỉ trên, ĐỜI NAY.

* Cám ơn bạn định gửi cho tôi toàn bộ Phim James Bond mới. Xin đừng gửi. Tôi không còn thích xem loại phim ấy nữa.

* Xin ông bạn có phim Le Couple Invisible gửi cho tôi phim này về Đời Nay. Cám ơn.

* Cư Xá Tự Do: Chắc bạn là dân Cư Xá Tự Do nên bạn muốn thấy tôi viết về Cư Xá này. Tôi sống trong căn nhà nhỏ dẫy A trong Cư Xá từ năm 1975 đến cuối năm 1994. Tôi cũng muốn viêt về Cư Xá nhưng ngại quá. Có nhiều nhà, nhiều người trong Cư Xá sống bê bối, sa đọa quá. Rất ít gia đình tôi thấy đàng hoàng như gia đình ông Lộc ở dẫy B. Bạn có biết ông Lộc không? Ông Lộc là hạ sĩ quan quan đội. Ông bà có 5 con còn nhỏ. Sau 1975 bà Lộc ngày ngày nấu hai thúng khoai lang gánh đi bán dạo. Cả nhà 7 miệng ăn chỉ trông vào tiền lời bán khoai lang của bà. Các con ông bà đói cơm xanh như những lá rau. Vậy mà gia đình sống rất tư cách, can đảm chịu đựng. Có thời ông Lộc làm kẹo bột cho con bán ở chợ Ông Tạ. Ông nấu kẹo, đập kẹo, vắt kẹo gần như suốt đêm. Tôi mến phục ông Lộc. Anh Trưởng Khu trong Cư Xá — vợ chồng tôi gọi là anh Trổng Khu — thì tư cách quá tệ. Anh này là Trung sĩ dậy đánh máy trong quân đội. Anh hân hạnh được làm Trưởng Khu. Nhà anh, đặt mấy cái máy chữ dậy đánh máy, treo 2 cái cờ máu. Gặp thằng Chủ Tịt Phường, anh khom lưng mặt anh xuống đến rốn nó để bắt tay nó.

Bên khu vi-la của Cư Xá có nhà Tướng Hồ Trung Hậu. Chiều tối ông Cựu Tướng nhậu sỉn, thường đi loạng quạng không nhớ đường về nhà, người nhà ông phải đi tìm, dắt ông về. Khi sỉn ông bạ đâu đái đó. Năm 1992, gặp ông, tôi thấy ông rất đàng hoàng. Chiều ông Cựu Tường ngồi trong một quán vắng, nghèo sơ xác trong hẻm, uống xị Rượp Nếp Than, nhấm nháp vài hạt lạc rang. Ông nhỏ nhẹ nói:

– Uống bia tôi không có tiền, uống đế tôi say, tôi làm bậy ngoài đường. Chiều buồn, tôi ra đây ngồi. Tôi uống thứ này là tốt nhất.

Ông thường ngồi một mình trong quán vắng đó từ 4, 5 giởi chiều đến 7, 8 giờ tối, ông lững thững về nhà. Nghe nói khi ông đến Văn Phòng ODP phỏng vấn đi HO sang Hoa Kỳ, nhân viên ODP cho ông biết ông sang Hoa Kỳ với tư cách bảo lãnh đoàn tự gia đình, một người con của ông ở Hoa Kỳ đã làm hồ sơ bảo lãnh gia đình sang Hoa Kỳ. Vì vậy ông không được sang Hoa Kỳ với tư cách là Cựu Tù Nhân Tị Nạn Chính Trị. Ông chửi toáng lên trong Văn Phòng ODP. Ít lâu sau tôi được tin ông Cựu Tướng từ trần ở Cư Xá Tự Do.

Ba tháng sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, vợ chồng tôi về sống trong căn nhỏ dẫy A Cư Xá Tự Do, nhà này của mẹ tôi, vẫn bỏ không nhiều năm. Vợ chồng tôi không thích sống trong căn nhà này. Nhà thiếu tiện nghi, Tôi kỵ nhất là nhà liền mái, tiếng người nói trong nhà này vang sang nhà bên cạnh. Chúng tôi đi ở thuê nhưng Sổ Gia Đình của chúng tôi mang địa chỉ nhà này. Nhờ vậy sau ngày mất nước, vợ chồng tôi có chỗ chui ra, chui vào, nhà của mình, đỡ khổ hơn nhiều người không có nhà. Trong căn nhà nhỏ đó hai lần bọn Công An Thành Hồ đến bắt tôi đi, hai lần tôi từ Tù Ngục Cộng Sản trở về. Vợ chồng tôi sống lui cui bên nhau 19 năm trong căn nhà đó. Cứ mỗi trận mưa lớn đổ xuống là đường trong cư xá ngập nước đến đầu gối.

Đây là bài thơ tôi làm về Cư Xá Tự Do:

Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
Anh rạt về đây, xóm hẹp, người đông.
Nhà Em, Nhà Anh cách hai thước ngõ,
Những chiều mưa buồn, nước ngập như sông.
Em đứng mỏi mòn trước dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đời trông.
Anh đứng võ vàng trong ô cửa sổ
Như người tù nhìn đời qua chấn song.
Anh đứng trông mây, Em đứng trông chồng.
Vắng chồng con bế, con bồng Em mang.

Cái bống là cái bống bang
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
Vương trên khung cưả bây giờ tang thương.
Đìu hiu cuối ngõ, cùng đường
Bên Anh tuyệt vọng, đoạn trường bên Em.
Ngày lại ngày, đêm lại đêm
Ngày rơi tàn tạ, đêm chìm phôi pha.
Buồn từ trong cửa buồn ra
Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.
Ta đang sống, ta đang mê?
Hay ta đang chết não nề, Em ơi.

Tôi nhớ Cư Xá Tự Do có cái chợ nhỏ đầu cư xá. Chợ nhỏ nhưng đủ thịt cá, rau dưa. Tôi nhớ Cư Xá Tự Do có Bà Tư Răng có thời bán bánh xèo tôi cho là ngon nhất Sài Gòn. Tôi nhớ Cư Xá Tự Do trong nhiều năm có Tiệm Cầy Tơ nổi tiếng ở bên kia đường.

Đã có đủ bài để tôi làm thành SÀI GÒN VANG BÓNG Tập MỘT, tôi biết các vị không đòi hỏi tôi phải viết SGVB thật hay. Có SGVB là được nhưng tôi vẫn lần lữa chưa soạn thành Tập. Một trong những nguyên nhân làm tôi không sốt sắng trong việc soạn SGVB thành Tập là việc tôi không thể tự xuất bản, gửi sách đến các nhà xuất bản với lời đề nghị « Làm ơn xuất bản dzùm » tôi không thích.

Đến đây xin đăng vài E-mail của quí bạn.

Thư của ông Vincent Sou :

Năm 1978 tôi ở cùng với anh trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu. Tôi mấy lần thấy anh từ phòng biệt giam được ra sân phơi nắng. Anh như tầu lá chuối bị dội nước sôi. Năm ấy tôi tưởng anh không thể sống mà ra khỏi tù. Mừng anh sống sót.

Thư của ông Bùi Xuân Cảnh:

Tôi yêu CTHĐ không biết bao nhiêu. Ông đã viết hộ, nói thay cho nhiều người tị nạn chúng tôi. Không có ông, bọn phản phúc, bọn ăn cháo đá bát sẽ một mình một chơ, sẽ bốc thơm nhau, chúng sẽ tưởng chúng là “những nhà văn sâu sắc, đáng kính.”

Viết đi, CTHĐ. Ông chỉ còn 10 năm nữa để viết. Tôi nguyện cầm roi theo sau ngựa của ông. Thương ông rất nhiều.

* Phong Nhĩ, December 17th, 2008.

Kính thưa qúy độc gỉa,

Có phải qúy vị cũng đồng ý với bỉ nhân: Đọc những bài viết của Hoàng Công Tử, chúng ta được nhiều điều khoái không thể tả. Một trong những điều khoái đó là Hoàng Công Tử viết dùm ta những điều u uất ta muốn nói lên, muốn thét lên cho hả bao nhiêu điều chất chứa trong lòng. Trong cuộc đổi đời, tang thương dâu biển vừa qua, thật không kể xiết những đau thương tủi nhục, những khốn khó lọc lừa mà dân miền Nam ta phải gánh chịu. Trong vô số nỗi bất hạnh vì tan nhà , mất nước vào tay một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa đời đời, kiếp kiếp, ta có nỗi đau phải chịu đựng bọn “văn nhân vô hạnh, xướng ca vô loài” như Vương Hồng Sển, Á Nam Trần Tuấn Khải, Trịnh Công Sơn, Vũ Hạnh, Sơn Nam. Trong tuổi hoa niên, trước năm 1975, it nhiều chúng ta có yêu mến hoặc có cảm tình với những người ấy. Được chế độ Cộng Hòa ưu đãi, được chiến sĩ ta đổ xương máu cho họ bình an ngồi dũa văn, múa bút… nên họ có điều kiện tạo ra tên tuổi. Nếu họ chỉ có tri óc nhỏ như trí óc loài gà vịt, tất họ hiểu ngay rằng họ không thể có những văn phẩm, nhạc phẩm như họ đã có nếu họ sống ở cái gọi là miền Bắc Xã Hội Chủ Nghiã.

Bọn họ đã cố tình quên, hay vờ vịt không thấy cái sự thực hiên nhiên đó. Họ quay lưỡi liếm đit giặc, ngay cả khi giặc không muốn họ liếm. Họ trâng tráo, bịa đặt bỉ ổi để bôi xấu Quốc Gia VNCH., họ dùng “văn tài” ca ngợi cái xấu, cái ác. Nọc độc của bọn này có thể gây nguy hại cho những người trẻ tuổi, cho con cháu chúng ta, vì có thể hiểu lầm bọn họ là các nhà văn nhà báo nhớn., hay tưởng rằng tất cả những văn nhân Vệt Nam Cộng Hoà sau 1975 đều tồi tàn như họ.

Hoàng Công Tử đã vĩnh viễn chôn vùi bọn chúng trong đống rác ô uế. Đó chẳng là điều làm cho chúng ta khoái trá hay sao. Cảm ơn Công Tử!

* Michael Han, April 1, 2009.

Kính thưa Ông Hoàng-Hải-Thủy Công-Tử-Hà-Đông tự Con-Trai-Bà-Cả-Đọi, từ lâu tôi rất kính phục ông, với một lập trường kiên định đối với bọn Việt Gian Cọng-sản. Mỗi lần tôi đọc báo Sài Gòn Nhỏ, trước hết là tôi đọc bài báo của Ông, rồi đến bài báo của Cô Đào Nương Hoàng-Dược-Thảo, thế là xong tờ SGN. Ông có giọng văn cực kỳ hấp dẫn, có những danh từ Ông dùng mang đậm tính chất Hoàng-Hải-Thủy, và chỉ có Hoàng-Hải-Thủy … mới viết được như thế.

Chúc Ông được thật nhiều sức khỏe, để viết những bài báo thật hay.

Thân mến – Michael Hàn.

* Công Từ Hà Đông kính thưa quí vị,

Tôi ấm lòng trước cảm tình của các vị. Như Quân Tử Tầu nói:

– Tình nhiều quá thì không còn Lời để nói.

Tôi chỉ có thể nói với các vị một Lời: Cám ơn.

Và tôi đền đáp cảm tình của các vị trong những bài viết của tôi.

Kính chúc các vị và bảo quyến vui mạnh.

 

 

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Rừng Phong. Tháng Tư 2009.

Toà Đại Sứ Xưa (bài 2)

 
Nhân đọc trên báo The Washington Post bản tin:

Hoa Kỳ sẽ xây Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Bagdad, Irak. Tòa Đại Sứ này sẽ là Toà Đại Sứ Lớn Nhất trong tất cả các Tòa Đại Sứ trên thế giới.

Trạnh niềm hoài cổ, nhớ lại Sài Gòn năm xưa, buồn chuyện biển dâu, tôi viết bài “Toà Đại Sứ Xưa.”
 

US Embassy
 
Trong bài “Tòa Đại Sứ Xưa” đăng trên Nhật Báo SàiGòn Nhỏ, tôi đặt 3 câu hỏi:

  1. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, trước năm 1975, với 6 tầng lầu, 1 tầng hầm, sân thượng, cả ngàn văn phòng, có thể được coi là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất Thế Giới thời đó không?
  2. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ nay có còn ở Đường Thống Nhất, Sài Gòn, hay đã bị phá?
  3. Nếu Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn đã bị phá thì bị phá năm nào?

Bài đăng lên, tôi được ông Tư Ổi gửi Thư Điện cho biết ông tìm được trên Web mấy bài viết về Toà Đại Sứ Mỹ, có kèm ảnh, của một ông Mỹ. Ông Mỹ này là Cựu Trung Sĩ John Valdez của Quân Đội Mỹ. Ông từng là quân nhân bảo vệ Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cho đến phút Đại Sứ Graham Martin cuốn cờ lên trực thăng bay đi. Ông là thành viên của một nhóm cựu quân nhân Mỹ 7 người trở lại Sài Gòn năm 1995 để nhận lại Tòa Đại Sứ.
 

US Embassy

 
Tôi, CTHĐ, trích vài đoạn trong bài viết của ông John Valdez:

In September 1995, seven former Marine Security Guards who experienced the Fall of Saigon, including Major James Kean, and myself, Master Sergeant John Valdez, returned to Ho Chi Minh City.

Dịch: Tháng Chín năm 1995, bẩy cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến Bảo Vệ An Ninh từng chứng kiến cuộc Sài Gòn thất thủ, trong số có Thiếu Tá James Kean, và tôi Trung Sĩ John Valdez trở lại Thành phố Hồ chí Minh.

Ông John Valdez viết tiếp:

I would like to share some U.S. Embassy, Saigon photos sent to me by Alex Acheimets, a gentleman who visited Ho Chi Minh City in 1992 and 1994 prior to The Embassy being torn down, and who was interested in sharing them with me since he had visited my association’s website –www.fallofsaigon.org – and was aware that I had served in Saigon during the evacuation. The Embassy had not been occupied or used since it was given back to the U.S. in 1994. Washington, D.C. and Hanoi normalized relations in 1995 and exchange ambassadors the following year. The Embassy, the site of a historic helicopter evacuation on April 30, 1975, where Americans and thousands of South Vietnamese fled before North Vietnamese took over, was eventually demolished. In 1997, the U.S. Government (State Department) opened a consulate in Ho Chi Minh City at a location separate from the old embassy.

Dịch: Tôi muốn chia xẻ vài tấm ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ do ông Alex Acheimets chụp và gửi cho tôi. Ông Archeimets đến Thành phố Hồø chí Minh năm 1992 và năm 1994 trước khi Toà Đại Sứ bị phá, ông gửi mấy tấm ảnh đó cho tôi vì ông có xem website www.fallofsaigon.org có tôi cộng tác, và biết tôi có phục vụ tại Sài Gòn trong cuộc di tản. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn không được dùng kể từ khi nó được trả lại cho Hoa Kỳ năm 1994, Washington DC và Hà Nội bình thường hoá quan hệ năm 1995, trao đổi Đại Sứ năm sau.

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, địa điểm lịch sử của cuộc di tản bằng trực thăng ngày 30 Tháng Tư, 1975, nơi người Mỹ và nhiều ngàn người Việt Nam ra đi trước khi Quân Bắc Việt vào chiếm Sài Gòn. Năm 1997, Chính phủ Hoa kỳ ( Bộ Ngoại Giao) mở một Lãnh Sự Quán ở một nơi xa cách Toà Đại Sứ cũ.

Ngưng trích.

chickenTổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn hiện nay ở đường Hồng Thập Tự, nó nhỏ bé, một tầng, không có cổng, không vuờn trước, vườn sau, mặt tiền u ám, hãm tài, nghèo nàn, mạt rệp, trông thật thiểu não. Nó khác hẳn Toà Đại Sứ cũng của nước nó ở Sài Gòn trước năm 1975.

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn trước 1975 nhìn ra sông Sài Gòn, tức nhìn ra Biển, nhìn ra hướng Đông Mặt Trời Lên. Toà Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn hiện nay nhìn về phiá mặt trời lặn, về nước Kampuchia, u tì, nhọ hơn mõm chó, te tua hơn cái lá đa rách. Trông mặt mà bắt hinh dong. Chỉ cần nhìn cái Toà Đại Sứ hay Tòa Lãnh Sự của một nước là biết uy tín, địa vị của quốc gia chủ hai cái Toà ấy ra sao. Cứ nhìn cái gọi là Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ u tì ở Thành Hồ là thấy cái uy tín của Hoa Kỳ trong nước chủ nhà như cái giẻ rách.

Cơ Quan PetroViet Nam từng đặt văn phòng trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Nhìn ảnh bên trong Toà Đại Sứ, trước mấy cái xe ô-tô của bọn Petro, thấy có con gà. Gà của bọn bảo vệ nuôi, tôi nhớ những năm 1981, 1982 có những buổi chiều tôi trên xe đạp đi ngang trước Dinh Độc Lập, nhìn vào Dinh thấy vắng teo bóng người, thấy một đàn gà thả rong, cảm khái tôi làm mấy câu:

Phá Ngô, một lũ vào Dinh,
Om sòm tướng lãnh mặc tình ba hoa.
Đầy dinh vang tiếng hoan ca,
Bây giờ chỉ có toàn là Vi Xi.

Toà Đại Sứ của Đại Cường Quốc kiêm Đệ Nhất Cường Quốc Thế Giới Thế Kỷ 20 xây lên, đứng đó không đầy 10 năm! Không phải đến 100 năm toà Dinh Thự bê-toong bom đánh không đổ mới chuyển thành đất bằng, với Cọp Plastic Hoa Kỳ, thời gian “Thành, Trụ” chỉ là 10 năm!

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất Thế Giới sắp được xây lên ở Bagdad, Irak, sẽ trụ ở đó được bao nhiêu năm?

Năm 2009, Nữ Thi Sĩ Quan Thanh sau nhiều năm xa cách đất nước, từ hải ngoại trở về thành phố Sài Gòn, đi qua Đường Thống Nhất xưa, Nữ Thi Sĩ thấy Toà Đại Sứ Hoa Kỳ năm xưa, năm bà hai mươi tuổi, đã mất, thay vào đó là một bãi đất hoang, cảm khái Nữ Thi Sĩ làm Thơ:

Tạo hoá gây chi cuộc chán chường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngưạ, Toà Đại Sứ,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương..
Mỹ vẫn trơ mày cùng Bắc Cộng,
Việt còn đau bẹn với tang thương.
Mười năm Toà cũ thay cờ đỏ,
Cảnh đấy, người đây muốn liệt dzường.

Tòa Đại Sứ Xưa

Ai về Toà Đại Sứ Xưa
Hỏi thăm cảnh sắc bi giờ ra sao?

Nhật báo The Washington Post, ngày 24 Tháng Hai, 2009, loan tin:

Hoa Kỳ sẽ xây Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bagdad, Irak. Toà Đại Sứ này sẽ là Toà Đại Sứ lớn nhất trên thế giới.

Viết thêm: Không phải chỉ là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất trong số những Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở nước ngoài, mà là Toà Đại Sứ Lớn Nhất trong tất cả những Toà Đại Sứ của các quốc gia trên thế giới.
 
US Consulate
 
Bản tin người Mỹ khoe Toà Đại Sứ của họ lớn, không phải lớn xuông mà là Lớn Nhất Thế Giới, làm tôi trạnh niềm hoài cảm, tôi ngậm ngùi cảnh cũ, chuyện xưa.

gateMời quí vị nhìn ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, những năm trước năm 1975. Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ quí vị thấy trong ảnh được xây lên khoảng năm 1965. Trong 10 năm có nó nằm ở đoạn đường đó, đoạn đường trung tâm thành phố thủ đô của tôi, có thể tôi đã đi qua đó cả ngàn lần, tôi đã nhìn thấy nó, cái Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ấy, ù cả ngàn lần, nhưng cho đến sáng nay, một buổi sáng đầu Xuân Kỷ Sửu Trâu Đánh Tránh Đâu, trời Virginia lạnh 2 Độ C, nhưng có nắng vàng, có mây trắng, gió nhẹ, trong phòng ấm xứ người, an ninh 500% , ngồi viết trước máy computer sáng choang, đèn vàng, 40 năm sau ngày có nó — Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn — tôi mới nhìn kỹ nó trong ảnh, mới đếm những tầng lầu của nó.

Mời quí vị cùng tôi đếm: Nó — Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn — có 6 tầng lầu. Tôi không biết nó dài, nó rộng bao nhiêu thước. Tôi chỉ có thể ước lượng trong 6 tầng lầu đó có cả ngàn văn phòng. Ta có thể cho cái Toà Đại Sứ đó là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất Thế Giới được không? Có thể được lắm.

uy nhiemNăm 1989 xe tù Cộng sản đưa tôi, từ Nhà Tù Lớn Chí Hoà, đến Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Ngã Ba Ông Đồn, Xuân Lộc, Đồng Nai. Tại đây tôi gặp lại Lê Vĩnh Xuân, bạn tôi. Xuân làm nhân viên Sở Mỹ nhiều năm, từng được cấp súng lục Smith-Wesson 5 viên hộ thân, trước Ngày 30 Tháng Tư 1975 Đen Hơn Mõm Chó bỏ nước chạy lấy người không kịp, bị Công An Bắc Cộng nó bắt, nó nghi là Gián Điệp My gài lại để hoạt động, nó cho tù mút chỉ cà tha kiêm mút mùa Lệ Liễu. Xuân bị Công An Bắc Cộng nó bắt ở Sài Gòn năm 1977, bị đưa lên Trại Z 30 A năm 1979. Như vậy đến năm 1989 Xuân đã ở trại này 10 năm. Xuân có chị đàn bà sống chung trước 1975 theo kiểu “già nhân ngãi, non vợ chồng.” Sau 1975 cả nước tan hàng, Xuân sống cu ky không vợ con, Xuân dzô tù VC không người thăm nuôi. 10 năm tù không một người đến thăm, không được người thân tiếp tế một đồng bạc Hồ Thổ Tả. Gặp tôi, Xuân nói:

– Mình cứ ở tù riết thôi, không có án, không biết ngày nào ra, chẳng thằng nào hỏi đến mình cả.

Xuân than:

– Mình 10 năm ở đợ cho Mỹ, mà nó tàn nhẫn bỏ rơi mình.

MartinTừ năm 1955 người Mỹ đến Sài Gòn, đến năm 1975 người Mỹ đi khỏi Sài Gòn, tôi có chừng 5 năm “ở đợ” cho Mỹ. “Ở đợ” theo nghĩa Lê Vĩnh Xuân dzùng đây là “làm bồi, làm đầy tớ” cho Mỹ. Tôi làm bồi cho Mỹ lần thứ nhất từ năm 1955 đến năm 1957 — nhân viên USOM, 35 Ngô Thời Nhiệm, tiền thân của USAID, tôi làm công cho Mỹ lần thứ hai từ năm 1973 đến Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, tôi làm trong ban biên tập — đúng ra là ban Dịch thuật – Tạp Chí Triển Vọng — Outlook — của USIS, Sở Thông Tin Hoa Kỳ.

Với tư cách là nhân viên USIS tôi có hai lần đến và vào bên trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Lần thứ nhất năm 1973, Hoa Kỳ giúp chính phủ VNCH bài trừ ma túy, một cuộc hoả thiêu Héroine, Cocaine — bạch phiến — bị cơ quan công lực VNCH bắt, tịch thu, được tổ chức ở Công Trường Con Ruà. Tôi và anh Lê Anh Tài, nhiếp ảnh gia quốc tế, nhân viên USIS, đến đó xem cuộc đốt những bao nylon bạch phiến, chụp ảnh, viết bài đăng trên Triển Vọng. Rồi tôi đến Toà Đại Sứ Hoa Kỳ, vào Phòng Narcotics của Toà Đại Sứ, hỏi và lấy tài liệu về những chương trình Hoa Kỳ giúp VNCH bài trừ ma túy. Xếp Mỹ của tôi xin gặp, hẹn trước, tôi cầm giấy giới thiệu của USIS vào Toà Đại Sứ bằng cổng đường Mạc Đĩnh Chi, được một Thủy Quân Lục Chiến Mỹ dẫn đến trước Bureau Narcotics. Cửa vào Bureau này khoá, ngay cả nhân viên Mỹ không có việc cũng không được vào. Đến đây, tôi lại trình giấy giới thiệu, trình Thẻ Nhân Viên USIS, mới được mở cửa cho vào. Tài liệu tôi lấy được chẳng có gì nhiều. Tất nhiên chỉ là những con số. Dù là tạp chí chính thức của USIS. Toà Đại Sứ Mỹ cũng không tiết lộ những việc làm cần giữ bí mật trong cuộc bài trừ ma túy ở Việt Nam. Trong chừng một tiếng trong Phòng Narcotics, tôi thấy trên tường văn phòng tôi vào có một cái window, một khung kính, trong gắn một bộ bàn đèn thuốc phiện thật đẹp. Không chỉ thật đẹp mà đẹp quá là đẹp. Đủ dọc tẩu, đèn, tiêm,móc, hộp ngà voi đựng thuốc, hộp sừng đựng sái, tả-bô, tức tapis: khăn lau. Đủ bộ. Từng là đệ tử của Cô Ba Phù Dung, tôi có đủ tư cách để nói tôi biết thế nào là một bộ bàn đèn giá trị. Nhìn bộ bàn đèn quá đẹp đó tôi théc méc không biết viên chức Việt Nam nào đã làm cái window trong có bộ bàn đèn ấy làm tặng phẩm cho người Mỹ? 1973-2009, 39 năm trời đã qua, hôm nay nhớ lại chuyện Toà Đại Sứ Xưa, tôi théc méc không biết người Mỹ có mang bộ bàn đọi ấy đi với họ về Mỹ không, hay họ bỏ lại? Nếu Mỹ bỏ lại, bộ bàn đọi ấy về tay anh Bắc Cộng nào?

Em ơi.. Em đẹp qúa đi mất. Bi giờ Em ở đâu? Em ở ví ai? Thằng nào làm chủ em?

Lần thứ hai tôi vào trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ là dịp ông Đại Sứ Graham Martin, vị Đại Sứ Hoa Kỳ Cuối Cùng của Sài Gòn, trồng trong vườn hoa trước Toà Đại Sứ cái cây gọi là Freedom TreeCây Tự Do — cây này chắc đem từ Mỹ sang. Lần này có anh Lê Anh Tài cùng đi, anh chụp ảnh, tôi viết bài. Một số quan chức Việt Mỹ chừng 10 người đến dự cuộc trồng Cây Tự Do. Ông Đại Sứ đãi khách chầu champagne trong đại sảnh Toà Đại Sứ. Rồi chính ông đào đất trồng Cây Tự Do.

Cây Tự Do — Freedom Tree — chắc chưa bén rễ, chưa ra được cánh lá nào thì Đại Sứ Graham Martin cuốn cờ Mỹ, lên trực thăng phú lỉnh khỏi Sài Gòn.

Từ đấy không người Mỹ nào còn đến Sài Gòn như những người Mỹ đến Sài Gòn trước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Người Mỹ đến Sài Gòn trước 1975 để sát cánh với người Việt đánh lại bọn Bắc Cộng, người Mỹ đến Sài Gòn sau 1975 là để bắt tay với bọn Bắc Cộng.

Nghe nói, và mới đây có tin, tin không rõ rệt lắm, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn ta thấy trong ảnh đã bị phá đi, phá thành đất bằng, phá trong êm đềm, phá mà chẳng có người Sài Gòn nào để ý. Tôi théc méc: có thật là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn đã bị phá? Hay vẫn còn đó, vẫn trơ nóc mốc cùng tuế nguyệt? Nếu bị phá thì bọn Bắc Cộng phá nó bằng cách nào? Có cho nổ mìn làm đổ toà nhà lớn 6 tầng đó không? Nó chở sà bần: vôi gạch, đi đổ ở đâu? Ông bà Việt Kiều nào có dịp về Sài Gòn, xin tạt qua đường Thống Nhất, ghé mắt nhìn xem Toà Đại Sứ Hoa Kỳ còn đó không? Ông bà cho tôi biết, tôi cám ơn.

Cây Tự Do, Toà Đại Sứ Xưa, Sài Gòn Năm Tháng Cũ, tôi đi một đường cảm khái, tôi mần Thơ:

Ai về Toà Đại Sứ Xưa
Hỏi thăm cảnh cũ bi giờ ra sao.
Cây Tự Do trồng năm nào,
Năm nay, lá sám, lá đào, lá xanh?
Não nùng Đại Sứ Mác-tanh
Cuốn cờ làm cuộc lộn vành Uy-dza.
Tự Do.. Mình chẳng ra hoa.
Tự Do.. có biết rằng Ta nhớ Mình?

Một Thời Để Yêu

Phù vân, thật là phù vân.

Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu bao gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến, nhưng trái đất vẫn mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lặn; mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó mọc lên. Gió thổi xuống phiá nam, rồi xoay về phiá bắc: gió xoay lui, xoay tới rồi gió đi, gió trở qua, trở lại lòng vòng. Mọi khúc sông đều xuôi ra biển, nhưng biển chẳng đầy. Sông chẩy tới đâu thì từ đó sông lại tiếp tục. Chuyện gì cũng nhàm chán, chẳng thể nói gì hơn. Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới.
 

ban tu

Trên đây là đoạn mở đầu Sách Giảng ViênEcclesiastes — trong Kinh Thánh. Bồi hồi tưởng nhớ những năm 1982, 1983 u ám khủng khiếp ở Sài Gòn, bọn ác ôn tịch thu tất cả những kho sách Kinh Điển Công Giáo, Tin Lành. Khi ấy, với những người Con của Thiên Chúa, và những người đau khổ tìm đến với Chuá, sách Kinh Thánh quí hơn vàng. Người ta mua vàng dễ dàng, mua bao nhiêu vàng cũng có, nhưng người ta không thể tìm mua được Kinh Thánh, vì không có nơi nào ở Sài Gòn những năm ấy có bán Kinh Thánh.

Các ngươi sẽ đói lời Ta từ bờ biển này tới bờ biển kia!” Thưa đúng như Ngài đã nói. Sau 1975, chúng tôi đói lời Chúa một cách thê thảm. Một nhóm tu sĩ tại gia chỉ in ronéo một số bài giảng, tập lịch đạo năm mới, phát cho tín hữu, bị bắt vào tù với tội “in ấn bất hợp pháp“. Ra toà năm 1985 ba ông thầy can tội “in ấn” lãnh mỗi ông ba cuốn lịch.

Tri SieuNoel năm 1983 trong căn gác nhỏ trong Cư Xá Tự Do ở Ngã Ba Ông Tạ, tôi ngồi dịch sách Ecclesiastes ra tiếng Việt. Tôi viết và trình bầy như một tập sách nhỏ, đem đến tặng các bạn ở nhà thờ, các bạn truyền tay nhau đọc, ai muốn có tập sách ấy chỉ cần chép lại hay đi chụp photocopy.

Hôm nay, tôi sống xa Ngã Ba Ông Tạ, xa Nhà Thờ Chí Hoà, Nhà Thờ Đồng Tiến, Nhà Thờ Tân Định, Nhà Thờ Dòng Chuá Cứu Thế, Vương Cung Thánh Đường… không biết bao nhiêu ngàn cây số. Trong căn phòng của vợ chồng tôi ở Rừng Phong hiện giờ có đến bốn, năm quyển Kinh Thánh. Sách Kinh Thánh quí nhất của tôi là bản tiếng Việt mới được dịch và xuất bản tại Sài Gòn. Trong số những vị dịch giả có Linh mục Nguyễn Công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam.

Năm 1987, rồi năm 1989, tôi ở tù chung phòng với Cha Nguyễn Công Đoan ở Nhà Tù Chí Hoà và Trại Lao Động Cải Tạo Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Cha Đoan bị án tù 14 năm. Cha, cùng nhiều Linh mục, bị bắt năm 1982.

Những ngày như lá, tháng như mây… Chúng tôi ra khỏi tù, vợ chồng tôi sang Kỳ Hoa năm 1995. Tháng Tám 1999 Cha Đoan, từ Sài Gòn, đi công việc đạo sang Vatican, Roma, Ý Quốc, Cha ghé sang Hoa Kỳ, Cha đến Washington DC và Cha đến Rừng Phong gập vợ chồng tôi. Tôi đứng đón Cha dưới hàng cây trên lối vào Rừng Phong. Từng sống với nhau ở Nhà Tù Chí Hoà, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, có bao giờ tôi tưởng tượng một buổi trưa mùa hạ tôi bồi hồi đứng trong con đường vắng, đầy bóng cây, trên đất Hoa Kỳ chờ Cha Đoan đến. Gập nhau mừng mừng, tủi tủi, Cha cầm tay tôi mãi như không muốn buông ra. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Cha không khác chút nào qua năm năm trời kể từ ngày chúng tôi đi khỏi Sài Gòn.

*****

Trong lần tù thứ hai của tôi — 6 năm, từ 1984 đến 1989, ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hoà, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A — tôi ở tù chung phòng, từng ăn chung với các Ông Tù Tôn Giáo:

Tu sĩ Thích Tâm Lạc, Tu sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tu sĩ Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Linh muc Nguyễn Công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam, Linh mục Nguyễn Hoàng Hai, Thư ký của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Linh mục Ngô Quang Tuyên, Thầy Sáu Lê Văn Bẩy, Mục sư Nguyễn Hữu Cương, Mục sư Hồ Hiếu Hạ, Thầy Truyền Đạo Lê Thiên Dũng.

Tôi sống trong 6 năm, mỗi ngày vanh cát syua vanh cát — 24/24 giờ, tức suốt ngày đêm — với các Tinh Hoa cuả Ba Tôn Giáo Phật Giáo, Thiên Chuá Giáo và Tin Lành. Không chỉ sống xuông, tôi hoà đời sống, buồn vui, sợ hãi, thất vọng và hy vọng của tôi với các vị tu hành tôi vừa kể. Trong 6 năm tù đầy, tôi không giúp gì được gì các vị, các vị giúp tôi thật nhiều.

Chiều nay, chiều cuối đông, trời Virginia lạnh đến 2 Độ C, trong phòng ấm, bình an viết những dòng chữ này, tôi bồi hồi sống lại trong vài phút cuộc sống xưa của tôi trong những Phòng Tù 7, Phòng Tù 6, Sà-lim 10, Sà-lim 6 Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Phòng Tù 9, Phòng Tù 10, Phòng Tù 20 Nhà Tù Chí Hoa, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, tôi nhớ lại vẻ mặt, tiếng nói, tiếng cười của các vị.

Một điều hay là từ ấy đến nay, năm đầu là năm 1984, năm cuối là năm 1989, hai mươi năm đã qua, tất cả những vì tôi vừa kể tên đều còn sống. Tôi gửi lời cám ơn và lời chúc bình an đến các vị.

Ba tu sĩ Phật giáo Tâm Lạc, Trí Siêu, Tuệ Sĩ bị bắt vì tội gia nhập Tổ Chức Âm Mưu Lật Đổ Bàn Thờ Bác Hồ — Tổ Chức mua súng, định lập chiến khu — các thầy bị bọn Ác Cộng phang án rất nặng: Trí Siêu, Tuệ Sĩ bị án tử hình, sau xuống án 20 năm khổ sai, chịu án trong 15 năm mới được về chùa. Nói vì các tổ chức dân chủ, dân quyền, Phật giáo Quốc Tế đòi hỏi, làm áp lực nên bọn Ác Cộng phải nới tay đánh các thầy là không đúng. Chỉ có tội thành lập tổ chức, chưa giết được một thằng Ác Cộng, chưa bắn được phát súng, chưa rải được tờ truyền đơn, mà xử 2 án tử hình, án nhẹ nhất là tù 4 năm, 2 người tù tử hình xuống án 20 năm, ở tù 15 năm. Nó chịu áp lực, nó phải nhẹ tay chỗ nào?

Linh mục Nguyễn Công Đoan, cùng 9 linh mục, không có tội gì cả. Bọn Ác Công muốn chiếm Tu Viện Dòng Tên nên bắt các ông. Chúng chiếm Tu Viện Dòng Tên êm ru.

Linh mục Nguyễn Hoàng Hai, Linh mục Ngô Quang Tuyên bị bắt vì tội tổ chức vuợt biên.

Thầy Sáu Lê Văn Bẩy, đã học xong nhưng không được làm Linh mục, bị bắt cùng 2 ông thầy khác vì tội in ronéo mấy bài giảng phát cho giáo dân, và tội in ronéo tập lịch đạo. Ra toà, hai ông thầy kia lãnh mỗi ông 3 năm tù, ông chủ nhà in ronéo tù 2 năm, máy ronéo bị tịch thu. Riêng Thầy Bẩy, vì ông anh sĩ quan quen biết và ngưỡng mộ Nhà Văn Duyên Anh nên lãnh tác phẩm Đồi Fanta của Duyên Anh về nhà đánh máy ra nhiều tập. Khi bị xét nhà vì “tội in ấn bất hợp pháp” bọn Ác Cộng bắt được 1 bản đánh máy Đồi Fanta. Vì tội này Thầy Bẩy bị án 5 năm tù, cộng 3 năm tù tội in ấn, tất cả là 8 năm tù.

Hai mục sư Nguyễn Hữu Cương, Hồ Hiếu Hạ, Thầy Truyền Đạo Lê Thiện Dũng không có tội gì cả. Bọn Ác Cộng bắt các ông để chiếm Nhà Thờ Tin Lành đường Trần Cao Vân, chiếm Kho Sách Tin Lành ở Nhà Thờ An Đông, Sài Gòn.

*****

Tôi bị quyến rũ bởi lời và ý Sách Giảng Viên — những bản dịch Kinh Thánh trước dịch là Truyền Đạo — Những lời như Thơ, những ý tình man mác…

Trích trong Kinh Thánh, bản do Toà Tổng Giám Mục Sài Gòn xuất bản năm 1998:

Ở dưới bầu trời này
mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:
một thời để chào đời, một thời để lìa thế;
một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây;
một thời để giết chết, một thời để chữa lành;
một thời để phá đổ, một thời để xây dựng;
một thời để khóc lóc, một thời để vui cười;
một thời để than van, một thời để múa nhẩy;
một thời để quăng đá, một thời để lượm đá;
một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn;
một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất;
một thời để giữ lại, một thời để vất đi;
một thời để xé rách, một thời để vá khâu;
một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng;
một thời để yêu thương, một thời để thù ghét;
một thời để gây chiến, một thời để làm hoà.

Chúng ta ra đời trong Thế Kỷ Hai Mươi đẫm máu; máu đẫm thế kỷ này từ những ngày đầu đến những ngày cuối. Hai tai hoạ lớn nhất của loài người cùng đến trong Thế Kỷ Hai Mươi: Hoạ Phát Xít và Họa Cộng Sản. Có nhiều quốc gia chỉ bị đau khổ vì một tai họa, Hoạ Phát Xít, hoặc Hoạ Cộng Sản, nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam bị khổ sở vì cả hai tai họa. Dân tộc Việt Nam đau khổ trong gần trọn Thế Kỷ Hai Mươi. Thế Kỷ Hai Mươi Mốt đến, chúng ta mong ta được hưởng một thời để yêu thương.

Và đây những lời khuyên cuối của Vị Giảng Viên:

Giữa tuổi thanh xuân
bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình.
Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới
đừng chờ cho năm tháng qua đi,
những năm tháng mà rồi bạn sẽ phải nói:
“Tôi chẳng có được một niềm vui nào trong thời gian đó cả.”
Đừng chờ đến khi mặt trời với ánh sáng,
mặt trăng cùng tinh tú đều trở thành tối tăm, và mây đen tụ lại khi cơn mưa đã dứt.
Ngày ấy, người giữ nhà sẽ run lẩy bẩy,
chàng trai vạm vỡ phải khòm lưng
các cô xay bột không còn xay tiếp vì không đủ người xay,
các bà nhìn qua cửa sổ: chỉ thấy lờ mờ.
Ngày ấy, cánh cửa ngó ra đường sẽ đóng lại
tiếng cối xay bột từ từ nhỏ đi,
người ta trổi dậy khi vừa nghe tiếng chim hót
và mọi cô ca sĩ sẽ phải lặng thinh.
Ngày ấy, đường hơi dốc cũng làm người ta sợ,
chân bước đi mà lòng thật kinh hoàng.
Ngày ấy, hoa hạnh đào nở ra trắng xóa,
loài châu chấu trở nên chậm chạp, nặng nề,
trái bạch hoa hết còn hương vị.
Bởi vì con người tiến đến nơi an nghỉ ngàn thu,
bên đường đầy những người khóc than ai oán.
Đừng chờ đến khi sơi dây bạc đứt, bình vàng vỡ,
vò nước bể ngay tại hồ chứa nước,
ròng rọc gẫy, vụt rơi xuống giếng sâu.
Đừng chờ đến khi bụi đất lại trở về với đất,
khi phàm nhân trả lại cho Thiên Chúa
hơi thở Người đã ban cho mình.

*****

Phù vân, quả là phù vân, mọi sự đều là phù vân cả !

Trên đây là bản dịch tiếng Việt theo bản văn Kinh Thánh Cổ. Đây là bản văn trên viết bằng tiếng Anh hiện đại, trích từ Good News Bible, Nhà Xuất Bản American Bible Society:

So remember your Creator while you are still young, before those dismal days and years come when you will say: “I don’t enjoy life.” That is when the light of the sun, the moon and the stars will grow dim for you, and the rains clouds will never pass away. Then your arms, that have protected you, will tremble, and your legs, now strong, will grow weak. Your teeth will be too few to chew your food, and your eyes to dim to see clearly.

Your ears will be deaf to the noise of the street. You will barely be able to hear the mill as it grinds or music as it plays, but even the song of a bird will wake you from sleep. You will be afraid of high places and walking will be dangerous. Your hair will turn white; you will hardly be able to drag yourself along, and all desire will be gone.

We are going to our final resting place, and then there will be mourning in the streets. The silver chain will snap, and the golden lamp will fall and break; the rope at the well will break, and the water jar will be shattered. Our bodies will return to the dust of the earth, and the breath of life will go back to God, who gave it to us.

Useless, useless, said The Philosopher. It is all useless…

Vậy hãy nhớ đến Đấng Tạo Tác ra anh trong khi anh còn trẻ, trước khi những ngày, những năm sầu thảm đến và anh nói: “Tôi sống không lạc thú.” Đó là khi ánh mặt trời, ánh mặt trăng và ánh sáng những ngôi sao mờ đi với anh, và mây đen cơn mưa không bao giờ tan đi nữa. Khi ấy cánh tay anh, những cánh tay vẫn bảo vệ anh, sẽ run run, và đôi chân anh, lúc này đang mạnh, sẽ trở thành yếu. Răng anh sẽ còn quá ít để có thể nhai thức ăn, mắt anh sẽ quá mờ để có thể nhìn rõ. Tai anh sẽ điếc với những tiếng động ngoài đường phố. Anh sẽ chỉ còn nghe được mơ hồ tiếng cối xay đang xay hay tiếng nhạc đang trổi, nhưng chỉ cần tiếng hót của con chim cũng làm anh thức giấc. Anh sẽ sợ hãi những nơi cao, việc đi lại sẽ trở thành nguy hiểm. Tóc anh sẽ bạc trắng; anh gần như chỉ còn có thể sống vất vưởng, và tất cả những ham muốn đều mất.

Chúng ta đi đến nơi an nghỉ cuối cùng, có tiếng than khóc bên đường. Sợi dây bạc sẽ đứt, chiếc đèn vàng sẽ rơi, sẽ vỡ, sợi dây thừng ở giếng sẽ đứt và bình nước sẽ tan tành. Thể xác ta sẽ trở về với bụi của đất, hơi thở của ta sẽ trở lại với Thượng Đế, Người đã ban nó cho ta.

Vô ích, vô ích. Nhà Hiền Triết nói. Tất cả là vô ích.

*****

Từ Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, một chiều nhớ quê hương, tiếc thương tuổi trẻ, tôi viết bài này, tôi gửi bài viết này đến Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Thầy Sáu Lê Văn Bẩy, Tu sĩ Thích Tâm Lạc, Tu sĩ Thích Trí Siêu, Tu sĩ Thích Tuệ Sĩ, Giáo Sư Mã Thành Công, Kỹ Sư Lê Công Minh.

Tôi từng được tù chung phòng tù ở quê hương tôi với các vị trên đây, các vị hiện đều sống ở Sài Gòn. Mục sư Nguyễn Hữu Cương, Mục sư Hồ Hiếu Hạ, Thầy Truyền Đạo Lê Thiên Dũng nay là Mục sư, đang hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.

Bài Học Nặng Ký

Singers
 
Hôm nay — Ngày 26 Tháng Giêng Kỷ Sửu, ra giêng đã 26 ngày — tôi — CTHĐ — sẽ gần như không bàn loạn gì về những chuyện trong bài viết này. Xin chỉ trình bày mấy chuyện quí vị đọc qua rồi quên.

Trước hết là bài BÀI HỌC NẶNG KÝ, người viết Anderson Thái Quang. Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu U Ét đa-la — Đô-la Mỹ — về Việt Nam làm ăn và… chào thua, và bỏ của chạy lấy người.

Bài Học Nặng Ký. Người viết Anderson Thái Quang. Trích:

Sài Gòn những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa tươi đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, hoa và muà xuân là biểu tượng của hy vọng vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn. Nhưng nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng những con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Sài Gòn. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng đã đến trong quá khứ.

Một chút ít về cái “tôi” để người đọc cảm thông thêm về tính cách chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một Đại úy của Quân đội miền Nam; năm 1975 tôi mới 5 tuổi, tôi chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chế độ của đất nước, của dân tộc tôi. Sang xứ Mỹ, cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngược xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để sống và để nuôi anh em tôi. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như quê hương chính thức, dù tôi vẫn biết nói tiếng Việt theo tiếng nói của cha mẹ tôi. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống cuộc đời trung lưu như cả triệu người Mỹ khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp bàn luận về tình hình Việt Nam, các ông hay nói với nhau về những thù ghét của các ông với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả những chuyện đó đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.

Cuộc sống bình lặng đó thay đổi khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô-la, cộng với giá nhà đang tăng cao và một khoản tiền tiết kiệm khá lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một cơ nghiệp mới ở trong nước. Tất cả những gì tôi đọc được cho tôi thấy một nước Việt Nam đổi mới với những con số rất tốt về sự đầu tư của tư bản nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một “con rồng mới”. Cha tôi không phản đối việc tôi về Việt Nam làm ăn, ông chỉ cho tôi một lời khuyên:

Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm.

Tôi về Sài Gòn vào tháng Mười năm 2007. Khi ấy chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số tiền thu nhập của các đại gia Việt Nam. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi tôi bàn chuyện đầu tư ở VN. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Tôi thấy ngay có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ những con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Việc chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ giăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt thật điêu tàn và thê thảm.

Tôi nhận ra rằng cái cơ chế “kinh tế thị trường” mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng mồi béo bở đều nằm trong tay bọn quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như trong tay những bà con thân thuộc trong gia đình họ. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh và bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai làm ăn có lời đều phải chia chác cho bọn quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức CS và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập mà không cần phải hy sinh xương máu và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu có. Ở VN thì những tay doanh thương ngoại quốc nay đang cấu kết với Nhà nước CS Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.

Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh đuổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những người nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí và sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ.

Tôi nhận ra rằng cuộc sống của hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh ta sẽ thấy ông ta là một chính trị gia quỷ quyệt, làm nhiều việc mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông Hồ có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ ông cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con rơi, con rớt sinh ra từ những cuộc tình của ông trên khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin Thực dân Pháp ban ơn với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu của ông, (chuyện kể do Cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov); ông bỏ Nga theo Tàu khi ông thấy theo Tầu ông có lợi (Hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời sống độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi ông có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (Nguyễn Thị Minh Khai, vợ Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em bà Xuân, vì hai người này muốn tạo xì-căng-đan về mối tình khi chung sống với ông (tài liệu trong cuốn sách ‘Ho Chi Minh: A Life‘ của William Duiker và cuốn ‘Đỉnh Cao Chói Lọi‘ của Bà Dương Thu Hương). Chuyện ông Hồ thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng “Gương đạo đức của Bác Hồ”.

Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách ‘China and the Vietnam wars‘ của Qiang Zhai. Tác giả Qiang Zhai cho biết là một Tướng Tàu, Tướng Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của Tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông — Tướng Wei Gouqing, cố vấn, đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, Hồ Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao về chuyện xảy ra trên đất Việt, Tướng Tàu không thể công khai xuất hiện ở Việt Nam. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông Tướng Giáp?

Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thật căn bản của xã hội Việt thời này: tất cả mọi con người, mọi con số ở Việt Nam hiện nay đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành, bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ gì về khía cạnh vô đạo đức của hiện tượng Nói Dối Cả Nước hiện nay.

Trong môi trường đó, tôi đã không làm gì được như dự tính. Suốt 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rườm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân tôi; tôi chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người Việt hiện sống ở Việt Nam.

Anderson Thái Quang.

Nay mời quí vị đọc về tình trạng Ma Túy, Mãi Dâm hiện nay ở Việt Nam.

Tuần báo Tuổi Trẻ. Trích:

Trước ngày 28-2, UBND TP. HCM báo cáo Thủ tướng về tệ nạn mua bán, hút chích ma túy diễn ra hằng ngày trước mắt người dân tại thành phố, gây nhiều lo lắng cho cộng đồng dân cư, vụ này đã được báo Tuổi Trẻ phản ánh.

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt chỉ đạo của Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng – Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Phòng chống AIDS và Phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm.

Từ ngày 3-2, báo Tuổi Trẻ đã đăng tải loạt bài “Ma túy lại lộng hành!”. Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của loạt bài là phản ánh tình trạng mua bán ma túy công khai, lúc nào cũng có, ở thành phố Hồ Chí Minh.

Hơn 1/3 trung tâm cai nghiện không đạt điều kiện

Tại cuộc hội thảo về công tác cai nghiện- phục hồi năm 2009 vào hôm qua (19-2), ông Nguyễn Văn Minh – cục trưởng Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) – cho biết hiện nay có hơn 1/3 trung tâm cai nghiện trên địa bàn cả nước không đủ điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo quy trình cai nghiện.

Cũng theo ông Minh, các hoạt động dạy văn hóa, dạy nghề và tổ chức lao động sản xuất cho học viên trong thời gian chữa trị, cai nghiện tại các trung tâm cũng chưa hiệu quả.

Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố đến cuối năm 2008, số người nghiện được quản lý, cai nghiện là 45.261 lượt người. Tuy nhiên chỉ có 1/3 số người đi cai nghiện là tự nguyện. Tỉ lệ tái nghiện có xu hướng giảm song vẫn ở mức khá cao, tại TP.HCM tỉ lệ tái nghiện là 14,94% và Hà Nội tới 53%.

Và đây là chuyện một số Ca sĩ Việt ở Mỹ trở về Sài Gòn.

Bài đăng trên Tuần Báo Thanh Niên, Sài Gòn:

Chưa năm nào ca sĩ hải ngoại về Việt Nam ăn Tết và biểu diễn nhiều như năm nay. Sở dĩ có “làn sóng” này là vì nước Mỹ đang bị nạn kinh tế suy thoái nên các show diễn cũng giảm. Về Việt Nam ăn Tết vừa vui, được thăm gia đình, bạn bè, vừa là cách kiếm thêm thu nhập.

Ngay từ những ngày đầu tháng 1-2009, nhiều ca sĩ hải ngoại đã có mặt tại Việt Nam để tham gia các show diễn tại phòng trà và các chương trình ca nhạc mừng xuân.

Duc HuyTại phòng trà Văn Nghệ, các ca sĩ Thanh Hà, Nhật Hạ, Mai Quốc Huy, Ái Vân, Kim Anh đã có lịch diễn liên tục từ ngày 9-1. Vợ chồng ca sĩ Lynda Trang Đài và Tommy Ngô, sau khi tham gia chương trình ca nhạc từ thiện Tiếng hát từ nguồn cội tại Hà Nội, đã bay vào TPHCM để diễn tại sân khấu Trống Đồng, phòng trà Không Tên, đến 25-1 lại tham gia một chương trình ca nhạc từ thiện. Từ Mùng 1 Tết đến Mùng 10 tết, Lynda Trang Đài và Tommy Ngô sẽ lưu diễn các tỉnh miền Tây.

Ca sĩ Phi Nhung có một đêm nhạc (20-1) tại Phòng trà Không Tên. Ca sĩ Tuấn Ngọc và Khánh Hà đang ráo riết tập luyện cho chương trình Gala Dinner tại Khách sạn Sheraton vào tối 18-1.

Ca sĩ – nhạc sĩ Đức Huy đang chuẩn bị hẳn một Tour diễn trong dịp Tết này, bắt đầu ngày 20-1 (25 Tết) anh diễn tại Hải Phòng, đêm giao thừa anh biểu diễn tại Hà Nội, sau đó về Phan Thiết và cuối cùng dừng lại tại TPHCM.

Ca sĩ Duy Quang chỉ tham gia các chương trình ca nhạc mừng xuân trên sóng truyền hình. Ca sĩ Lệ Thu có 3 đêm diễn (mùng 1, 2, 3 Tết) tại Phòng trà Văn Nghệ.

Ca sĩ Thái Châu có hai đêm diễn ngày mùng 1, 2 Tết tại Phòng trà Không Tên, sau đó từ Mùng 6 Tết anh tham gia các show diễn tại các tỉnh miền Tây. Sau Tết, nhạc sĩ – ca sĩ Trịnh Nam Sơn cũng sẽ về biểu diễn tại phòng trà Văn Nghệ.

Háo hức và hạnh phúc là tâm trạng chung của các ca sĩ hải ngoại khi có mặt tại Việt Nam trong dịp Tết này. Ca sĩ Tuấn Ngọc từng ăn Tết tại quê nhà trong dịp anh về nước thực hiện một DVD, nhưng lần này, anh nói:

– Tôi muốn cùng với chị tôi — ca sĩ Bích Chiêu, xuất hiện trở lại trên sân khấu quê nhà sau 40 năm. Ăn Tết tại Việt Nam cho tôi cảm giác vui và có ý nghĩa rất nhiều.

Duc HuyVới ca sĩ Lệ Thu, đây là lần đầu tiên chị được ăn Tết tại quê nhà sau gần 30 năm. “Tôi thật xúc động và thấy hạnh phúc lắm. Tôi chúc mọi người đều được may mắn, mạnh khỏe”, chị nói trong sự phấn khích. Chị bảo chị còn vui hơn nữa khi xuất hiện trong chương trình truyền hình Sức Sống Mới, phát sóng đúng dịp Tết.

Nhạc sĩ – ca sĩ Đức Huy đã là lần ăn tết thứ ba, nhưng anh bảo mỗi năm lại cho anh một cảm giác mới. “Xuân về, tôi thấy mình như trẻ lại. Năm nay, kết hợp với việc biểu diễn ngoài Bắc, tôi cũng sẽ đi thăm, chúc tết một số người thân của tôi ngoài ấy”.

Cách đây 2 năm, vợ chồng ca sĩ Lynda Trang Đài và Tommy Ngô đã có dịp ăn Tết tại quê nhà. Lịch diễn khá dày đặc, hai vợ chồng không thể đem con nhỏ theo nên cũng chạnh lòng.

Chị Lynda nói:

– Nhớ con lắm, nhưng phải chịu vì công việc mà. Về ăn Tết và biểu diễn tại quê nhà lần này, Lynda vui vì mỗi lần về lại thấy đất nước mình phát triển hơn, khán giả lúc nào cũng nồng nhiệt.

Ngưng trích báo trong nước viết về những Nam Nữ Xướng Ca Việt Nam từ Mỹ lộn về Sài Gòn.

Chiều xuống, trời lạnh nhưng có nắng vàng, tôi tắt máy viết để đi ra Rừng Phong.

Hẹn sẽ lại trò chuyện với quí vị ngày mai.

VIỆT NAM và NĂM BỔN LỀ

John Wayne
 
Ngày 17 Tháng 2, 2009 trên một số Website Việt có tin một bộ phim tài liệu của Mỹ về Chiến Tranh Việt Nam — tên phim VIETNAM! VIETNAM! — “sau 40 năm bị chính phủ Mỹ cấm không cho chiếu” nay mới được lấy trong két sắt ra và được cho trình chiếu.

John FordChuyện phim VIETNAM! VIETNAM! bị chính phủ Hoa Kỳ cấm chiếu được kể trong bản tin tiếng Việt, tôi không có bản tin tiếng Anh về chuyện này nên không được biết rõ ất giáp ra sao, tôi viết về phim VIETNAM! VIETNAM! với sự hiểu biết của tôi — những cái tôi cho là hiểu biết của tôi có thể không đúng lắm.

Thoạt thấy bản tin trên Internet, tôi chú ý ngay vì cái tên Đạo Diễn John Ford — Ông qua đời năm 1973 — Ông làm phim ở Hollywood từ năm 1917, những bộ phim đầu tay của ông là Phim Câm. 60 năm trước, ở Hà Nội, Sài Gòn, tôi xem 3 bộ phim nổi tiếng nhất của ông, cả 3 phim làm tôi mê mẩn:

The Grapes of Wrath. Phim làm năm 1940 theo tiểu thuyết cùng tên cuả John Steinbeck, diễn viên Henry Fonda.

How green was my valley. Phim làm năm 1941. Diễn viên Maureen O’Hara, Walter Pidgeon.

The Quiet Man. Phim làm năm 1952, Diễn viên Maureen O’Hara, John Wayne.

Tôi xem 3 phim trên đây trong khoảng 4 năm — từ 1950 đến 1954 — Từ ấy 50 mùa thu lá bay đã qua đời tôi. Hôm nay, sáng Tháng Hai 2009 ở Virginia, trời xuống tuyết, trong phòng ấm, đèn vàng, viết những dòng chữ này, tôi nhớ lại những chi tiết của 3 phim trên mà tôi còn nhớ.
 
Henry Fonda
 
Trong phim The Grapes of Wrath, tôi nhớ cảnh phim đoàn người Mỹ đi tìm đất sống, đến vùng đồi xanh ấy đoàn xe dừng lại, trong đoạn ông già chết — ông già bố của chàng thanh niên Joad do Henry Fonda đóng — bà già muốn chôn ông già ở đây, bà nói — phim chuyển âm tiếng Pháp:

Để ổng nằm ở đây đi. Ít nhất nơi này cũng có cây xanh, suối trong.

Trong phim How green was my valley — Thung lũng xưa xanh biết chừng bao — tôi xem 50 năm trước, trên màn ảnh rạp xi-nê Majestic, Hà Nội, tôi nhớ cảnh cô gái Maureen O’Hara yêu ông Mục sư Walter Pidgeon nhưng cô bị ông từ chối. Ông nói:

Tôi không thể để em làm vợ tôi, vì làm vợ tôi, em sẽ khổ lắm.

Mục sư muốn nói — theo tôi hiểu – vì ông làm mục sư nên ông nghèo về tiền bạc, ông không muốn người đẹp Maureen O’Hara chịu khổ vì nghèo chung với ông.

Ngay khi nghe ông Mục sư nói câu đó trong rạp xi-nê, trong lòng tôi đã nổi lên sự phản đối. Tôi nghĩ: “Ê.. Cái nhà ông Mục sư này nói cái gì kỳ dzậy? Nàng biết dư ông là mục sư, ông nghèo, nhưng nàng yêu ông. Sao ông lại từ chối Tình Yêu của nàng? Làm mục sư đâu có đến nỗi nghèo không nuôi nổi vợ? Nghèo không bao giờ là lý dzo để người ta không yêu nhau!”

Năm nay 2009, 50, 60 năm sau, nhớ lại chuyện phim xưa, tôi vẫn nghĩ: “Mục sư nói kỳ bỏ cha đi. Mục sư làm mất Tình Yêu của người ta.”

Sau khi xem phim How green was my valley, tôi có đọc bản dịch truyện ra tiếng Pháp Qu’elle était verte ma valleé. Nếu tôi nhớ không lầm thì phim được làm theo tiểu thuyết cùng tên của Nhà văn Alain Paton.

HoNăm 1970 chính phủ Hoa Kỳ mở những cuộc đàm phán với Bắc Việt Cộng để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, để đưa những tù binh Mỹ ở Bắc Việt ra khỏi tù và về nước, để rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Bằng mọi giá chính phủ Mỹ phải lấy được số tù binh Mỹ bị cầm tù đã 5, 6 năm ở xứ Bắc Cộng về nước. Thoả ước hoà bình giữa Hoa Kỳ và Bắc Công được ký năm 1972 ở Paris. Theo thoả ước ấy Hoa Kỳ cam kết không giúp Quốc Gia VNCH tiếp tục chiến tranh, chịu “ngừng mọi hành động tuyên truyền chống Bắc Cộng“. Tạp chí Thế Giới Tự Do của Mỹ ngưng ngang, thay vào đó là Tạp Chí Triển Vọng do Cơ quan USIS ở Sài Gòn điều hành, Triển Vọng không đả động gì đến chiến tranh, quân viện, chỉ có những bài về đời sống của người Mỹ, khoa học, kỹ thuật Mỹ, Đài Phát Thanh Tiếng Nói Tự Do từng đả kích Bắc Cộng trong nhiều năm bị Mỹ cho im tiếng, thay vào đó là Đài Mẹ Việt Nam.

Phim tài liệu VIETNAM! VIETNAM! của Đạo diễn John Ford không được đem chiếu 40 năm xưa là vì lý do lúc đó chính phủ Mỹ không đả kích Bắc Cộng nữa, rồi phim bị bỏ quên trong kho cho đến hôm nay. Chỉ có vậy thôi.

Không biết tôi nghĩ như thế có đúng hay chăng? Xin quí vị tìm xem phim VIETNAM! VIETNAM! và có những ý kiến về phim của quí vị.

*****

Bọn Đầu Xỏ Bắc Cộng có một cái “hay” là “nói mà không nói gì cả,” và “nói những câu vô nghiã.” Mời quí vị đọc bản tin:

Trích Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng.

Chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn quốc, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nói:

Giữ vững nguyên tắc đi đôi với năng động, sáng tạo.

Ngày 12-2, tại TPHCM, Ban Tổ chức TƯ khai mạc Hội nghị cán bộ toàn quốc về công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2009. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Năm 2008, công tác tổ chức xây dựng Đảng triển khai khá đồng bộ; nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng của Nghị quyết Đại hội X và các nghị quyết Trung ương được cụ thể hóa và đi vào cuộc sống. Hệ thống tổ chức tiếp tục được kiện toàn và làm rõ chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, thẩm quyền, trách nhiệm…

Năm 2009, các đơn vị tập trung 3 nhiệm vụ trọng tâm: Tạo chuyển biến trong công tác cán bộ, đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và tham mưu chuẩn bị tốt đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần các nghị quyết Trung ương. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và xây dựng cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ trong sạch, vững mạnh về mọi mặt.

Phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cho rằng, công tác cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước để hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, chuẩn bị phục vụ đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng.

Không những chỉ vô nghiã, em nhỏ lên ba cũng thấy những lời gọi là “phát biểu, chỉ đạo” của Nông Đức Mạnh là “lèm bèm, nhạt nhẽo, rẻ rách.”

Những năm trước 1980 bọn Bắc Cộng vẫn có những cái gọi là Kế Hoạch 5 Năm, trong Kế Hoạch có năm chúng gọi là Năm Bổn Lề. Như Kế Hoạch 5 năm từø1961 đến 1965, một kỳ Đại Hội Đảng Cộng, thì năm 1965 là Năm Bổn Lề, năm ấy làm bổn lề lật qua Kế Hoạch Năm Năm mới 1966-1970.

Những năm 1981, 1982, đời tôi nhọ hơn mõm chó, rách như cái lá đa ca dzao, dzậy mà mỗi lần nghe anh Đầu Xỏ Bắc Cộng nào nói đến “Năm Bổn Lề” tôi lại nhếch mép cười méo hẹo.

Mẹ bố cả Đảng nhà chúng nó! Năm gì không năm, Năm Bổn Lề!

Nông đức Mạnh có thể để dành bài phát biểu trên đây để sang năm khi cần phát biểu, anh thoải mái mở ra sài lại, chỉ cân đổi Năm Bổn Lề 2009 ra Năm Bổn Lề 2010.

Thực hiện lời thúc đít của Tổng Bí Lê Duẩn: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc xuống Hố Rác Xã Hội Chủ Nghiã” năm Kế Hoạch Mõm Chó nào của Đảng Bắc Cộng cũng là Năm Bổn Lề.

*****

Tin Đài VOA — Voice of America: Tiếng Nói Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ trục xuất người Việt sống bất hợp pháp ở Mỹ

Bà Julie Myers, Giám Đốc cơ quan Di Trú và Hải Quan của Hoa Kỳ,

vừa bắt đầu cho thi hành việc trục xuất các di dân bất hợp pháp người Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Tin của Thông tấn AP — Associated Press — bà Julie Myers, người đứng đầu cơ quan này mới đây cho hay các di dân bất hợp pháp người Việt Nam đã sinh sống tại Hoa Kỳ trên 13 năm sẽ không bị trục xuất.

Bà Myers nói rằng thỏa thuận hồi hương ký giữa Hoa Kỳ và Việt Nm cho phép Hoa Kỳ trục xuất về Việt Nam những công dân Việt Nam đang sinh sống không có giấy tờ hợp lệ tại Hoa Kỳ. Phải mất 10 năm thương thảo hai nước mới đạt được thoả thuận này vì trước đây Việt Nam không muốn nhận lại những công dân Việt sống không hợp pháp ở Hoa Kỳ..

Đã có khoảng 6,200 người Việt Nam có lệnh bị trục xuất trước khi thỏa thuận này được ký kết, và có khoảng 1,500 người Việt Nam khác đang trong quá trình bị đưa trở về Việt Nam.

Thỏa thuận được Hoa Kỳ và Việt Nam ký hồi Tháng Giêng Tây — January 2009, nhưng phải 60 ngày sau mới có hiệu lực thi hành.

*****

Dân nước nào?

Một người Pháp, một người Mỹ và một người Việt Nam tranh luận xem Adam và Eva là người nước nào?

Người Pháp: “Trần truồng và mần tình ngay trước mặt Thượng đế như thế, chỉ có thể là dân Pháp”.

Người Mỹ: “Yêu tự do đến mức lẽ ra có thể sống hạnh phúc, chỉ cần đừng đụng đến trái táo, vậy mà họ vẫn không chịu sự cấm đoán thì chỉ có thể là dân Mỹ”.

Cuối cùng, người Viêt Nam nói: “Quần áo chẳng có, nhà cửa chẳng có, đến ăn một trái táo cũng bị cấm, thế mà vẫn bảo là sống trên thiên đường, thì chỉ có thể là dân Việt Nam…”

Đá Bát Sấp Ngửa

Trinh Da Bat
 

Ly Qui ChungKể từ ngày trên Internet có những cái gọi là Báo Điện chữ Việt, số người Việt đọc Báo Điện tăng lên thật nhanh. Người đọc Báo Điện có cái khoái là có thể gửi thư điện đến Báo Điện — không mất tem — nói lên ý kiến của mình, một việc mà thính giả, độc giả: người nghe Đài Phát Thanh, người đọc Báo Giấy, không làm được.

Ngày 14 Tháng Hai, 2009, Trang Báo Điện DCVonline đăng bài “Nhớ Núi“, người viết Zulu. “Nhớ Núi” viết về Trịnh công Sơn, Núi là Sơn. Dễ có đến 100 người dọc bài “Nhớ Núi” gửi điện thư về DCVonline góy ý. Tôi trích một số điện thư ấy:

Ý của Trần quang Hạ

Cách đây vài năm, tôi có dự buổi ca nhạc TCS tại San Jose, California. Có Khánh Ly, Cẩm Vân và một số ca sĩ khác. Chương trình không quảng cáo có lẽ sợ bị chống đối. Chưa khai mạc hội trường đã hết chỗ. Không biết khán giả biết bằng cách nào. Người đến sau ngồi dọc lối đi, đứng dựa vào vách. Khánh Ly hát liền 5 bài rồi ra taxi đi ngay, cô bị người quản lý hối vì sợ… trễ máy bay. Lúc đầu, âm thanh bị trục trặc, ban tổ chức luôn miệng cáo lỗi, nhưng không nghe ai phàn nàn. Những người ngồi bên tôi dễ thương kỳ lạ. Họ yên lặng nghe nhạc, vỗ tay nhiệt tình. Hình như những người thích nhạc Trịnh đều dễ thương một cách kỳ lạ.

Thế mới biết dù bị cay đắng chì chiết, những bản nhạc của TCS vẫn thu hút nhiều người. Tên tuổi anh vẫn được ngưỡng mộ. Buổi Ca nhạc tổ chức “lén” mà rạp hát hết ghế ngồi. Người nhạc sĩ “theo VC” vẫn được giới thức giả nể trọng, yêu mến. Không chỉ do tài năng mà còn do tư chất cao cả của anh nữa.

Cách đây khá lâu, có một bạn đọc DCV nói rằng: “TCS bay bỗng như đại bàng trên cao, cao vút. Những con chim sẻ ngu ngốc không hiểu và chẳng bao giờ hiểu được.”

Ý của Bạn đời của dân hèn

Cách đây khá lâu, có một bạn đọc DCV nói rằng: TCS bay bỗng như đại bàng trên cao, cao vút. Những con chim sẻ ngu ngốc không hiểu và chẳng bao giờ hiểu được.” Trích lời ông TQ Hạ…

Thưa, thường thì thứ rởm, dốt hay khoe giỏi. Khoe, mà lại chớp cái câu của anh La Quán Trung (qua nhân vật Khổng Minh) làm của mình để chửi thiên hạ, là… quá xá láo! Là đạo văn, là… ăn cắp!

Ý cuả Trần Cali

Nhạc Trịnh? Give me a break.

Phải nói đó là “nhạc đám ma“. Bản nào cũng toàn là tông thứ  (minor) nghe buồn thúi ruột. Từ Am Dm đến Em Gm rồi cứ dzậy mà làm tới. Tôi gần với nhạc Ngô Thuỵ Miên hơn. Đầy tình yêu, lãng mạn, và trẻ trung.

Ý của Vân Anh

Bởi vì là “nhạc đưa đám ma” nên VNCH mới chết để cho Hồ già nhảy vào. Ai khen nhac họ Trịnh hay chứ cứ nhìn cái mặt nó là tôi muốn ói rồi

Ý của Sóng Bạc Đầu

TCS là nhạc sĩ, ông đã ra đi,để lại cho đời nhiều tác phẩm tuyệt vời. Là một người nghe nhạc, tôi cám ơn Trịnh Công Sơn đã cho tôi những bản nhạc làm phong phú tuổi thơ tôi ngày mới lớn, và ký ức đó vẫn còn trong tôi cho đến hôm nay.

Nhưng về một người đàn ông tên Trịnh Công Sơn, lại là một chuyện khác. Tôi đã có dịp gặp và biết anh, và tôi… không thích anh, vì những yếu đuối và nhu nhược của anh, có đôi lúc tôi rất bực mình vì anh hơi hèn (trong những năm ở Huế sau 1975 và trước khi thoát vô được Sài Gòn sau đó). Nhưng, chưa bao giờ tôi ghét anh. Nói khác đi, tôi chấp nhận con người anh như thế.

Tôi rất bình tâm khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi nhớ lại một buổi chiều anh cùng tôi ngồi bên bờ sông Hương, ở cái công viên nhỏ bên cạnh Đài Phát thanh, trước Khách sạn Saigon-Morin bây giờ, suốt hai giờ đồng hồ không ai nói với ai một câu. Chỉ trước khi về anh nói: “Moa thích bài Chủ Nhật buồn” (Sombre Dimanche?)

Hiện tại, Nhà nước Việt Nam vẫn cấm hát, cấm in public những bản nhạc phản chiến của anh. Dĩ nhiên, ở các quán café thì người ta vẫn nghe tưng bừng nếu muốn.

Lần rồi về Huế, tôi nghe Nhà nước định đặt tên một con đường vinh danh TCS. Tôi nói với “mấy ông”, đó là một thái độ “Ngụy công tử của mấy anh, của những người cộng sản. Cách vinh danh có gía trị nhất là bỏ lệnh cấm hát nhạc phản chiến của TC Sơn.” Hãy để cho ba phần tư người Việt hôm nay, cái thế hệ sinh sau 1975, không nợ nần gì tới cuộc chiến ngày xưa được nghe và phán đoán, chọn lựa.

Ý của Tâm Việt

Vào thời gian phong trào nghe nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly được phổ biến, tôi đã có cảm giác buồn vời vợi và lo lắng cho tương lai đất nước, cho dũng khí của thanh niên đồng lứa với tôi. Và y như rằng, đám thanh niên trong đó có một, hai người bạn rủ tôi tham gia vào việc biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh, ném chai xăng, gạch đá vào cảnh sát, đập phá xe cộ tại Sài Gòn. Tôi đã kiếm cớ không tham dự và đến bây giờ tôi th61y việc tôi từ chối là đúng. Nhạc Trịnh Công Sơn là món khai vị trước khi ra bãi biểu tình chống chính phủ.

Ý cuả Nguyễn Bình

Trước năm 1975, hầu hết mọi người sống bên này vĩ tuyến 17 đều yêu nhạc Trịnh vì họ thù ghét chiến tranh, ghét bạo tàn, chém giết…, với bản chất hiền hoà, mơ mộng, họ yêu nhạc và mến luôn chàng nhạc sĩ… Khi chàng phản chiến, chống đối chính phủ VNCH, không đi quân dịch bằng cách nhịn ăn để không đủ cân nặng cho khỏi bị vào lính, chàng can trường biết mấy! Vậy mà sau khi được sống dưới sự  “chăm sóc” của Nhà nước XHCN, chàng bỗng dưng… biết sợ. Tôi được nghe Khánh ly nói trên radio, khi được Đài SBS Úc châu phỏng vấn, TCS được phép xuất ngoại để thăm thân nhân và KL tìm đến gặp Trịnh. Tôi không nhớ rõ nguyên văn câu nói của KL, nhưng đại ý là “TCS tuy được đi ra nước ngoài nhưng đang bị theo dõi và anh Sơn sợ lắm…” Nhiều người nghe cuộc phỏng vấn này, không phải chỉ có một mình tôi. Thì ra Chàng nhạc sĩ này cũng biết đi theo con đường “biết sợ” của văn sĩ Nguyễn Tuân.

Ý của Vô Sắc

TCS không theo VC! “Ông chỉ là một nhạc sĩ miền Nam phản chiến, muốn thấy đất nước hòa bình (mà không có giải pháp hợp lý cùng chính đáng). Một người đi giữa hai lằn đạn.” Đó là nhận định của biết bao nhiêu người thân thiết, bao nhiêu nhà nghiên cứu về ông đưa ra trong nhiều tài liệu, sách báo. Tôi có nhiều, hay đã đọc qua rất nhiều, những tài liệu đó. Trong đó, có những dẫn chứng rất khả tín.

Một số điểm tôi nhớ lại cho thấy:

– TCS làm bài “Hát trên những xác người” (Những hố hầm chôn xác anh em), lên án cuộc thảm sát tại Huế thay vì ca tụng cuộc Tổng tiến công, tổng nổi dậy tại đây;

– Ông viết bài “Hát cho người nằm xuống” thương tiếc Cố Chuẩn tường Không Quân VNCH Lưu Kim Cương. Theo VC thì không thể cầu chúc một sĩ quan cao cấp phe địch sau khi tử trận được lên thiên đàng (Xin cho một người vừa nằm xuống thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang);

– Ông dùng chữ “nội chiến” (20 năm nội chiến từng ngày) cho cuộc chiến VN. Đó là điều cấm kỵ của phe Cs, (phải là chống xâm lăng);

– Sau 1975, khi ở Huế, ông bị đày đi nông trường lao động, dù có nhiều bạn bè thân thiết là VC (cứ nhìn cơ thể ông mà đi lao động thì biết khổ ải đến mức nào), cho đến khi được Võ văn Kiệt cứu đưa về SG;

– Ông không có bài hát nào ca ngợi “Quân giải phóng” như những nhạc sĩ theo VC nằm vùng;

– Rất nhiều bài hát của ông vẫn bị cấm hát, trong khi thời VNCH thì được hát khắp nơi, dù không chính thức; tập nhạc Ca Khúc Da Vàng bán khắp các nhà sách

– Bản chất con người nghệ sĩ và tiểu tư sản của ông không thể hợp với chủ nghĩa Cs. Tôi chưa nghe nói lần nào ông tán tụng Đảng csVN.

Ông, cũng như một số trí thức miền Nam, hay một số người hiếu động ở các quốc gia tự do thời chiến tranh lạnh, có khuynh hướng thiên tả (nhưng đa số không là Cs, hay chỉ là Cs một thời gian ngắn rồi vỡ mộng). Vì mê muội một phần; vì muốn bênh vực kẻ yếu, chống lại kẻ mạnh áp bức; v.v… ; và vì sự tuyên truyền mạnh mẽ ngày trước của cái chủ nghĩa “nói một đàng làm một nẻo này.” Do đó nhiều người trí thức bị lầm lạc. Ông TCS có một số bạn bè tại Huế theo VC, muốn lôi kéo, nhưng ông không theo. Sau này thấy tài danh của ông thì lại “thấy người sang bắt quàng làm họ” (như với ông Sơn Nam), ra vẻ ông cùng lập trường chính trị với họ.

Ý cuả Vô Sắc

TCS thời đó có trốn lính nhưng không bị bắt giam (dù cảnh sát biết ông ở đâu). Bạn bè thân thiết của ông, ngoài nhóm Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường, Bửu Ý, v.v… ở Huế, ông cũng có nhiều bạn bè thân thiết là sĩ quan VNCH ở Sài Gòn (Lưu Kim Cương, Văn Quang, v.v…). Các em ông cũng là sĩ quan VNCH.

Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ

TCS, một con người nghệ sĩ với những mơ mộng tình cảm thật say đắm, lại chất chứa đầy triết lý về cuộc sống, cuộc đời, như thế không thể nào là (làm) Cs được.

Ý của Hà Châu

Tình cảm con người nó lạ lắm…

Nhiều tướng tá VNCH đỡ đầu cho TCS, trong đó có ông Râu Kẽm. Ông này nói với TCS: “Anh hát phản chiến nó vừa vừa thôi, kẻo lính nó đánh cho bỏ mẹ.” Râu Kẽm phủ dụ TCS, rồi cho ra về.

Tin Tình Báo cho hay: TCS là “gián điệp hai mang”, từng được Tình Báo VNCH gởi vô bưng tìm tin về MTGPMN.

TCS có lãnh tình báo phí hàng tháng.

Ý của Sean Nguyễn

Phải công nhận đây là một bài viết khá hay về TCS. Tôi định nghĩa hay ở đây không mang màu sắc chính trị, mà hay chỉ vì nó diễn tả được một phần con người của TCS, một nhạc sĩ tài năng. Nhưng sanh ra không phải thời.

“Quê hương ta có ba cụm núi. Cụm anh thư, hào kiệt làm nên lịch sử oai hùng. Cụm tao nhân mặc khách đưa văn hoá dân tộc vào vùng sáng, mở ra những chân trời lạ, thênh thang, những con đường vui bất diệt, và cũng là cái hàn thử biểu xác định tồn vong của giống nòi. Cụm nghĩa mẹ, tình cha đem tuổi thơ vào đời, với tiếng hát, câu hò và biết bao tình tự nuôi ta khôn lớn đưa ta về với quê hương, dân tộc.” Cách so sánh và diễn đạt hay.

Trong chiến tranh người ta có thể xem nhạc TCS là “phản chiến”. Trong “Cách Mạng” người ta xem nhạc ông như mộng mị làm mất sức chiến đấu. Nhưng trong lúc bình tĩnh lắng lòng, người ta mới cảm thụ hết chiều sâu của những lời ca, như những tiếng vọng của kiếp người, những cái mong manh muốn vươn về miền bất tận. Cái hay trong các câu ca của ông là ông “thánh hóa” được những cái tưởng chừng rất bình thường, như giọt nước mắt, tình yêu, hạt bụi, nỗi đau, sự trống vắng…..

Tôi cho rằng thật thiếu công bằng khi mang nhãn quan chính trị để đánh giá nhạc và con người của TCS vì ông đã không chọn chính trị làm lẽ sống mà vẫn phải tồn tại trong chính trị. Đó chính là cái hệ lụy mà nhạc TCS phải gánh chịu.

Dĩ nhiên trong suốt cuộc đời của một nghệ sĩ tài danh nào cũng không tránh khỏi có những bài rất dở như một số bài ông viết sau 1975. Nhưng bảo đó là thái độ chính trị của ông thì không đúng cho lắm. Tôi cho rằng ông đã chọn âm nhạc làm lẽ sống và đã sống trọn vẹn một cuộc đời nghệ sĩ giản dị dễ hài hòa dù ở thể chế chính trị nào chứ không chọn chính trị hay quyền thế. Thậm chí ông cũng không có ý định dùng danh tiếng của mình để mưu cầu hạnh phúc lớn lao gì hơn là một nhạc sĩ bình dị pha chút thiền vị cho cuộc đời.

Ý của Tàng

Có những bài rất dở như một số bài ông viết sau 1975.”

Nè, mí cha đừng có phét lác, sau 1975 mà Trịnh không “ca tụng Bác và Đảng” thì Trịnh cũng “ối mê ly đời ta, sáng cà phê hạt diệp tối là lá la khoai sùng…” mà Trịnh thì “nhát như con chuột” dù cho có tài viết như có người đặt là “phù thuỷ của ngôn từ.” … Vì vậy muốn sống còn thì phải bưng bô có thế thôi, ai không thích ngửi thì đừng có lại gần … Nói vậy thì cũng có người cãi :”đã vậy sao không chạy ra nước ngoài?” ….. Ra nước ngoài vào những năm đầu thì Trịnh chỉ có mà “độn thổ”, phong trào chống Cộng đang ở “tột đỉnh,” Trịnh mà ló mặt ra thì cái răng húp cháo không còn……

Người nghệ sĩ xin quí vị đừng đòi hỏi họ phải có cái đức của người quân tử … nếu không thì sao ông bà mình thường hay nói “xướng ca vô loài” ?!

Ngưng trích DVConline.

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG sao y bản chánh.

Lính Mà Em

Linh Cong Hoa
 
Ra Giêng, trời đất vào Xuân — Dzù Trời Hoa, đất Mỹ ngày tháng đông mãi cũng phải vào Xuân, Nắng Vàng trở lại trên Rừng Phong. Buổi sáng, mở computer thấy bài viết về Người Lính Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà — người viết Nguyên Trân — hay quá là hay.

Ôi.. Xứ người, thương nhớ biết bao giờ nguôi. Con chim phải xa nước của nó, nó cũng nhớ thương, nó đậu ở cành cây phiá Nam hướng về nước nó, con ngựa Đất Hồ thấy gió đông thổi đến, nhớ nước nó còn hí lên, huống chi là tôi. Tôi là người. Đọc bài viết này, chỉ đọc lời ca, chưa cần nghe nhạc, tôi nghe vẳng bên tai lời ca, tiếng nhạc tôi từng nghe 50 năm xưa, 40 năm xưa — những lời ca những năm tôi còn trẻ, thời gian tóc tôi xanh, mắt tôi sáng — tôi không đi một đường cảm khái, tôi không ngất ngư con tầu đi sao được.
 
Linh Cong Hoa

 Bài viết Lính mà Em làm tôi xúc động. Và từ lâu tôi vẫn hành xử theo qui luật tự giác, tự nguyên — tự tôi đặt cho tôi — “Lộc bất khả hưởng tận“. Chỉ riêng “Lộc” mình đã không nên hưởng hết một mình, mình phải chia với người, nay tôi có” Lộc” mà lại có cả “Lạc” — có niềm vui trong Lộc — tôi phải chia với quí vị. Tôi đăng lại ở đây bài Lính mà Em của người viết Nguyên Trần để quí vị cùng thưởng thức. Tôi tìm được bài này trên Website nguoivietboston. Tôi đăng lại mà không xin phép tác giả, tôi biết dù tôi có không xin phép, tác giả cũng cho phép thôi.

Mời quí vị đọc:

LÍNH mà EM. Người viết Nguyên Trần, nguoivietboston.com

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng nước non đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống

Bức tâm thư — Nhạc và Lời Lam Phương.

Bài hát nầy nổi tiếng một thời, có người sửa lời lại là:

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi em tắt cái đường kinh

Mấy chàng họ Sở mà nghe câu nầy chắc phải áp dụng chước thứ 36 trong Tam Thập Lục Kế của Tôn Tử là “tẩu vi thượng kế“, nôm na là “quất ngựa truy phong.”

Công Tử Hà Đông: Lẽ ra thì không được bàn loạn ngang xương trong bài viết của người, nhưng hào hứng quá chịu không nổi, xin góp đôi câu:

Vài hàng gửi anh yêu quí
Tháng này Em tắc tị đường kinh

Tí síu Lẩy Kiều:

Đến kỳ vẫn sạch lòa loà
Thất kinh, Em chửa, biết là làm sao?

Thoáng bóng áo hoa của Nàng T.T.K.H:

Rồi một ngày kia tôi tắt kinh,
Bảo chàng, chàng lại cứ mần thinh.

Trở lại bài viết đàng hoàng của ông Nguyên Trần:

Chàng trai giã từ người yêu, xóm làng để tòng chinh diệt giặc:

Tôi tiễn anh lên đường trời hôm nay mưa nhiều lắm
Mưa thắm ướt vai gầy, mưa giá buốt con tim
Mình cầm tay nhau, chưa nói hết một câu
Thôi đừng buồn anh nhé! Tiếng còi đã ngân dài

Một người đi — Nhạc và Lời Mai Châu

Ra đi nhưng chàng trai vẫn không quên nhắn nhủ bạn bè thân tình còn ở lại là chàng chỉ về khi quê hương sạch bóng quân thù:

Rồi đây mai nầy ai hỏi đến tên tôi
Bạn ơi! Hãy nói khoác chiến y rồi
Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
Giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền
Có về là khi nước non vui bình yên

Biệt kinh kỳ — Nhạc và Lời Minh Kỳ

Vào quân trường với phút đầu bỡ ngỡ nhưng sau đó chàng trai quen đi với nếp sống “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu“. Sau thời gian huấn nhục, chàng tân binh mong chờ người đẹp đến thăm:

Hôm nay ngày chúa nhật, vườn Tao Ngộ, em đến thăm anh
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi

Vườn Tao Ngộ — Nhạc và Lời Nhật Hà

*****

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khỏi những kinh thành tan
Đôi cánh tung hoành vuợt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Không Quân Hành Khúc

Có chàng thì theo những đoàn tàu chiến thỏa mộng hải hồ giữ yên vùng sông biển:

Thân phơi trên Nam Băng Dương
Nước xanh hồn Thái Bình Dương
Ra khơi sóng vang dạt dào
Mênh mông sóng va thân tàu

Hải Quân Việt Nam

Nhưng đa số đều in gót chân trên khắp nẽo đường quê hương để lùng diệt giặc:

Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh tung sương lướt gió reo vang

Lục Quân Hành Khúc

Những chàng trai lính rất dũng cảm trên chiến trường nhưng trên tình trường, chàng cũng lãng mạn đa tình hào hoa một mực:

Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm
Là tình riêng trong lòng anh yêu em
Có lúc muốn lấy hoa rừng
Anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời
Kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giàu
Mà chắc không nghèo tình yêu

Lính đa tình Nhạc và Lời Y Vân

Và còn gì lãng mạn hơn là:

Nếu em không là người yêu của lính
Ai sẽ đón em chủ nhật trời xinh
Em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
Và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng

Người yêu của lính Nhạc và Lời Trần Thiện Thanh

Cũng vô cùng tình tứ:

Nếu vắng anh ai dìu em đi chơi trong chiều lộng gió
Nếu vắng anh ai đợi chờ em khi sương mờ nẻo phố
Nếu vắng anh ai đón em khi tan trường về

Nếu vắng anh — Nhạc và Lời Anh Bằng.

Và cũng vì cái tính đào hoa hào hùng nên lính được nhiều người đẹp yêu mến:

Dù cho sông kia quên bến cũ
Bóng chinh nhân không phai mờ cõi lòng
Dù cho non cao hay suối vắng
Tim em theo cùng

Mơ người lính chiến — Nhạc và Lời Mai Sơn

Và mơ ước lứa đôi:

Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ
Ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa
Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em
Trong khi vang ca say theo chiến trường

Chiến sĩ của lòng em — Nhạc và Lời Trịnh văn Ngân.

Đời lính có những vui buồn dễ thương nhưng cũng có cái đau hơn hoạn như sau thời gian dài giữ đồn, hành quân, chàng được phép cuối tuần về gặp người yêu hay vợ trẻ đang phơi phới xuân tình. Chàng đã lau chùi súng ống, nạp đạn sẵn sàng để chuẩn bị kích hỏa thì mồ tổ thằng Việt Cộng mò về quấy phá xóm làng làm vị chỉ huy trưởng ra … lệnh Cấm Trại 100%. Xin các bạn nghĩ xem trên đời có cái gì đau khổ hơn không? Thà chết sướng hơn. Và bọn Việt Cộng thật là tội ác ngút trời:

Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Người yêu anh ơi ! Chiều nay lại cấm trại rồi
Nào đâu nào biết tâm tư đời lính
Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau … Với em tâm tình

100% — Nhạc và Lời Vũ Chương

Có những cuộc hành quân kéo dài cả hai, ba tuần lễ thế nên trong khi chờ xe đưa về hậu cứ nghỉ ngơi, người lính đã vội viết thư cho người yêu:

Sau ngày hành quân, anh về vui trong chiến thắng
Súng còn mang vai đã viết thư cho người yêu
Em ơi ! Thư vắn hơn tình
Xin em đừng buồn, xin em đừng hờn
Chớ bảo không thèm, không đọc thư anh

Sau ngày hành quân — Nhạc và Lời Lê Dinh.

Người lính chiến ra đi biền biệt, dãi dầu sương gió nơi tiền đồn heo hút để người em hậu phương mòn mỏi nhớ thương đợi chờ cho đến lúc nàng vì tình yêu người trai thời chinh chiến đã lặn lội vào nơi địa đầu giới tuyến để thăm chàng:

Em đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
Ngoài trời mưa lê thê qua ngàn chốn sơn khê

Mấy dặm sơn khê — Nhạc và Lời Nguyễn văn Đông

Cũng có lúc ngồi gác giặc mà người lính mơ ước ngày về với kết nối duyên thề:

Chiến tuyến người trai ôm súng ước mơ
Rủ chinh y trọn ước với câu thề
Theo lối về thôn cũ đường thắm hoa
Gió trăng lạnh tình không phai niềm nhớ

Mấy độ thu về — Nhạc và Lời Minh Kỳ

Khi người lính trở về thành phố thăm người yêu thì mặc cho mưa gió mịt mờ trời đất, họ vẫn quấn quít bên nhau để bù lại những ngày xa cách nhớ nhung và chạy đua với những giờ nghỉ phép phù du mong manh :

Hôm mình đi ciné về mưa nhiều
Áo dài xanh bên áo trắng hoa biển
Anh che cho em đừng làm ướt áo
Anh quen rồi mưa gió ” lính mà em”

Lính mà em — Nhạc và Lời Anh Thy

Thời gian về phép của người lính rất quý báu, nó được tính từng giờ vì “tân thú bất như viễn quy” cơ mà:

Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại anh cho em tất cả em ơi!
Ta đưa ta đến vùng tuyệt vời

Hai mươi bốn giờ phép — Nhạc và Lời Trúc Phương.

Cũng có lúc vì những sự việc bất thường trong đơn vị, người lính đã phải lỗi hẹn với người yêu để nàng khắc khoải đợi chờ:

Chinh chiến nên anh cuối tuần không đến
Một lần xa cách trăm vạn lần thương
Gục đầu nghe tiếng tình yêu dỗi hờn
Những chiều không anh đến tìm
Thương dài từng bước cô đơn

Nếu đời không có anh — Nhạc và Lời Hoàng Trang

Lênh đênh giữa sóng nước đại dương, chàng lính thủy nhìn những con sóng trắng xóa bạt ngàn rồi tưởng chừng một loài hoa biển tặng người yêu:

Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng
Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm: Em ơi! Tình mình trắng như hoa đại dương

Hoa biển — Nhạc và Lời Anh Thy

Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa?

Đồn vắng chiều xuân — Nhạc và Lời Trần Thiện Thanh

Giữa lúc muôn người nô nức đón xuân sang với pháo đỏ rượu nồng, với cao lương mỹ vị, với muôn hoa rực rỡ , với lời chúc tốt đẹp thì người lính:

Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền

Phiên gác đêm xuân — Nhạc và Lời Nguyễn văn Đông

Anh! Anh! Nhớ anh trời làm cơn bão
Anh! Anh! Tiếc anh chiều rừng thay áo
Ôi! Vết đau nào nào đưa anh đến
Ngàn đời của nhớ thương
Hỡi bức chân dung trên công viên buồn

Người ở lại Charlie — Nhạc và Lời Trần Thiện Thanh

Và hỡi các anh hùng vị quốc vong thân! Các người không bao giờ chết, không bao giờ chết trong lòng những người Việt Nam yêu chuộng tự do, công bằng, nhân bản trong và ngoài nước:

Anh, anh không chết đâu em
Anh chỉ về với mẹ mong con
Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người tiếc thương đời lính

Anh không chết đâu em — Trần Thiện Thanh

Trước khi kết thúc bài viết nầy, người viết xin các bạn một giây phút lắng đọng tâm hồn để cùng nhau thắp nén hương lòng tưởng niệm tất cả anh linh các Quân, Dân, Cán, Chính đã bỏ mình vì lý tưởng Tự Do trong cuộc chiến tàn ác phi nhân của lịch sử nhân loại.

Toronto Jan 27, 2009. Mồng 2 Tết Kỷ Sửu

Nguyên Trần

Cựu Sinh Viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, khoá 11 ĐS (1963-1966). Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Bộ Binh Thủ Đức, khóa 23 (1966 -1967)

*****

Năm 1946 trên những đường phố vắng trong thị xã Hà Đông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà chẩy ngang, chú thiếu nhi là tôi năm ấy 13, 14 tuổi, vừa đi vưà hát những lời ca:

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khói những kinh thành tan
Đôi cánh tung hoành vuợt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng
Đây đó hồn nước ơi!
Không Quân Việt Nam lướt trên ngàn mây gió
Ù.. ù.. u.. u.. ú.. ú..
Không Quân ra đi cánh bay rợp trời.

Hình ảnh chú thiếu niên ấy, âm hưởng lời ca ấy, làm tôi hôm nay — ông già tóc bạc, răng giả, khuôn mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời — viết đến những dòng chữ này, bỗng ưá nước mắt.

Tôi mượn bài viết của ông Nguyên Trần để kính gửi tình tôi đến anh hồn các vị tử sĩ, để thưa với các vị tôi cám ơn các vị — các vị đã chết đề tôi và các con tôi được sống — xin các vị biết chúng tôi không quên công các vị.

Tôi đăng bài này để gửi đến quí vị Lão Ông Sáu Bó, Bấy Bó, Tám Bó sống ở bẩy phương trời, tám phương đất, mười phương biển, mười ba phương núi, hai mươi phương rừng hải ngoại thương ca, để quí vị nhớ lại thời quí vị 10, 20, 30 tuổi quí vị từng hát, từng nghe những lời ca trong bài viết này.

Tôi đăng bài này để nói với những người Việt Nam, bẩy trăm năm nữa đến cõi này, biết rằng chúng tôi, những người Việt ra đời những năm 1930, từng hát, từng nghe, từng xúc động vì những lời ca nhạc trong bài này.

Tác giả Nguyên Trần không để tên nhạc sĩ, tôi để thêm:

Không Quân Hành Khúc. Lời và Nhạc Văn Cao

Hải Quân Hành Khúc. Lời và Nhạc Văn Cao

Lục Quân Hành Khúc. Lời và Nhạc Lưu Hữu Phước.

Dzi Chúc Dzởm

Alex
 
Nhà Văn Alexandre Solzhenitsym: “Khi thấy thằng cộng sản nói láo, ta phải có can đảm đứng lên nói nó nói láo, nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên đi ra, không ở lại nghe nó nói láo, nếu ta không có can đảm bỏ đi, ta phải ngồi lại, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác.”

——————–

Những năm 1980 trong ngôn ngữ của người Sài Gòn có tiếng “Dzởm” để gọi những vật phẩm làm giả. Tiếng “Dzởm 1980” của dân Sài Gòn khác với tiếng “Rởm” trong ngôn ngữ dân Bắc Kỳ những năm trước 1954.

Từ năm 1985, tiếng “Dzởm” chuyển thành tiếng “Dzỏm” và tiếng “Dzỏm” được dân Sài Gòn sài đến bây giờ.
 
Ho Chi Minh
 
Cái gọi là đời tư — văn huê là cuộc đời ái tình và sự nghiệp — của Chủ Tịt Hồ chí Minh đầy những cái Dzỏm. Hồ chết, trong số những cái Lá Đa Rách gọi là Dzi Chúc của Hồ có nhiều bản dzỏm. Đây là một chuyện về Dzi Chúc Dzỏm của Hồ được đăng trên Internet.

Dzi Chúc của Hồ Chủ Tịt:

Bản gọi là Dzi Chúc của Hồ chí Minh được báo Con Ong Tỵ Nạn tại Paris tung ra vào năm 1981. Sau đó được báo Thức Tỉnh của ông Nguyễn văn Nghi ở San Diego đăng lại nguyên văn. Nghe nói chữ viết trong bản chúc thư đã được đưa cho kiểm tự Pháp để kiểm chứng và đã được xác nhận là đúng chữ viết của Hồ chí Minh. Toàn bộ bản di chúc của Hồ chí Minh được công bố có nội dung như sau:

Thời xưa ở bên Trung Quốc người ta thường nói, “Con chim trước khi chết thì tiếng kêu thương, còn người trước khi chết thì lời nói phải.”

Tôi tự xét mình chẳng còn sống bao lâu nữa, nên cố gắng viết di chúc này, mong rằng những điều viết ra không phải là những điều sai quấy.

Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, ép buộc tôi phải viết bản di chúc theo ý muốn của họ. Tôi đã viết mà trong bụng vẫn tấm tức vô cùng.

Nay tôi viết thêm tờ di chúc này, xin coi là chính thức. Ngoài ra tôi không công nhận bất cứ bản di chúc nào khác. Tôi ước mong một ngày nào đó, bản di chúc tôi viết đây sẽ được mọi người biết tới, thì ở thế giới bên kia tôi mới được thỏa lòng.

Ho quy goi Tôi vốn con nhà nghèo nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, và đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn, gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày tổ quốc ta độc lập, giàu mạnh, dân ta hạnh phúc, tự do.

Tôi thường đọc lịch sử nước Việt Nam ta, thấy có ông Trần Thủ Độ là một tay hào kiệt hiếm có trên đời, đã không quản ngại làm việc ác, làm phản mà gây nên cơ nghiệp hiển hách của nhà Trần, đuổi giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho cả dân tộc về cả văn minh và đời sống.

Không lường sức mình, không đo tài mình, tôi đã hành động như ông Trần Thủ Độ nên đất nước mới tan nát, nhân dân ta mới điêu linh, mà đầu mình thì nặng nề không biết bao nhiêu tội ác, không thể nào tha thứ được.

Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo Cộng sản Mác Xít mà không biết là chủ nghĩa này chẳng qua chỉ là giả bộ, để đánh lừa giai cấp nghèo mà cướp lấy chính quyền cho nước Nga khi đó.

Tôi cũng ngay tình mà dùng những người hợp tác với tôi. Tôi cứ tưởng những người đó quý yêu tôi, đâu ngờ họ đều là mật thám của Nga sô, vây quanh tôi chỉ là để kiểm soát tôi, khéo léo hướng dẫn tôi đi theo con đường Nga đã vạch sẵn. Họ đề cao và tâng bốc tôi để khi nào làm điều gì độc ác thì tôi phải chịu hết trách nhiệm với dân tộc. Nhiều khi họ quyết định mà không hề cho tôi hay biết gì, như vụ cải cách điền địa ở Bắc Bộ chẳng hạn, bây giờ nhân dân có quyền rủa oán trách tôi không biết để đâu cho hết.

Dù sao tôi vẫn là người có tội, tôi không dám chối cãi, chỉ dám mong lịch sử sau này xét kỹ cho tôi mà đừng lên án tôi quá nặng nề.

Đầu năm 1963, hồi đó tôi còn chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân viên Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người.

Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết trong Nam, còn ở ngoài Bắc thì tôi bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định điều gì nữa cả. Đáng lý ra tôi có thể bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tuổi còn được thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để tôi sống thêm. Tôi đã già rồi, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh tù giam lỏng, cứ nghĩ đến điều này làm tôi ứa nước mắt. Họ đã không giết tôi nhưng sai ông Bác sĩ Tôn thất Tùng cho tôi uống thuốc độc để tôi không thể đi đâu được nữa, mà cũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc. Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết dần, chết mòn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày tắt thở.

Thật cũng tiếc, khi về già, biết mình sai lầm, muốn chuộc lỗi mà không được nữa.

Trước khi viết phần cuối của tờ di chúc này, tôi xin thú nhận, tôi là một người không phải thần thánh gì nên khi tôi còn sống cũng đủ “bảy tình” như kinh nhà Phật đã đề cập. Tôi không có vợ, nhưng cũng có được đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi, khi đọc tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi đã không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm.

Ai cũng tưởng tôi là con người vô thần, nhưng riêng Đức Cha Lê hữu Từ thì biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hóa. Vì tin có ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng sản khác trên thế giới sớm thoát ách Cộng sản.

Tôi cũng xin ông Trời cho tờ di chúc này có ngày được phổ biến khắp nơi.

Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều, dùng hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước cao xanh:

Rằng con biết tội đã nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam

Hà Nội 14-8-1969

Tên ký: Hồ chí Minh

Công Tử Hà Đông: Miễn phê bình.

Mời quí vị đọc chuyện Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy, Hà Nội, và chuyện Nhà Văn Alexandre Solzhenitsyn, Nga Sô:

Mấy ngày đầu năm Trâu Đánh, có một số người đến thăm Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy ở Hà Nội. Bọn Công An đến bắt đi mấy người khách của bà Nhà Văn. Bà viết kể lại chuyện:

Du Xuân gặp Du Côn. Người viết Trần Khải Thanh Thủy.

Không khí căng thẳng, ngột ngạt như trong lò lửa, giữa mùa đông mà người cứ nóng hần hập, tê đờ. Biết đối thoại mấy cũng vô ích, nhất là với một người mà bọn chúng coi là ngoan cố, lộng ngôn như tôi, nên bọn chúng cứ kéo anh Nguyễn Kim Nhàn và Vương Trí Kiều đi theo chúng.

Ra cưả, Vương Trí Kiều bất ngờ hô lớn:

– Đả đảo Đảng Cộng Sản!
Đả đảo bọn tham nhũng!
Đả đảo bọn Công An bắt người vô cớ!

Trước những cặp mắt nhìn tò mò, ngỡ ngàng của những người dân vây quanh, hô xong Vương Trí Kiều lớn tiếng:

– Tôi chống tham nhũng mà bị chúng nó bắt. Xã hội này là xã hội gì?

( Không trích một đoạn. Mọi người trong nhà TK Thanh Thủy lo âu chờ tin về hai người bị bọn Công An đến bắt lên đồn. Chừng 3 tiếng đồng hồ sau..)

Nghe tiếng động và thấy bóng người ngoài cửa, tôi mừng rỡ:

– Kiều về.

Vương Trí Kiều dáng vẻ vừa mệt mỏi vừa phấn khích, vào nhà, ngồi xuống ghế, nói:

– Chúng xét túi thổ cầm của em, lấy mất tờ báo Tổ Quốc Số 56 và quyển sổ tay của em. Chúng lập biên bản, bắt em ký, em xé tờ biển bản làm tư. Chúng xông đến định đánh em, nhưng rồi chúng không dám đánh.

Ngưng trích bài viết của Trần Khải Thanh Thủy.

Chuyện bà TK Thanh Thủy kể về cảnh bọn Công A Bắc Cộng bắt người ở Hà Nội — người bị bắt hô “Đả đảo Đảng Cộng Sản” ngay trước cưả nhà, và hỏi những người Viêt chứng kiến vụ bắt người:

– Tôi chống tham nhũng mà chúng nó bắt tôi. Tôi có tội gì?

Làm tôi nhớ lại những vụ bọn Công An Thành Hồ bắt những văn nghệ sĩ Sài Gòn Viêt Nam Công Hoà những năm 1976, 1977 và dzài dzài những năm sau đó. Những văn nghệ sĩ Sài Gòn, và những người Sài Gòn bị Công An VC bắt, đều im re, đều líu ríu đưa tay chịu còng, đi theo chúng ra khỏi nhà. Những văn nghệ sĩ VNCH bị bọn VC phang những cái án năm, mười năm, nhiều người bị bắt, bị án vài năm chỉ vì làm một bài thơ, một bản nhạc, nhiều người chẳng có tội gì cả. Nhưng năm nay, 2009, ta thấy bọn Công AN VC “sìu” rồi, chúng chỉ còn hung hăng con bọ xít dzoạ dzẫm người dân, người bị bắt hô “Đả đảo Đảng Cộng” ở giữa đường phố Hà Nội, ngay trước mũi chúng mà chúng chỉ giữ đương sự có vài tiếng đồng hồ là thả về.

Tôi nhớ lời kể của Nhà Văn Nga Alexander Solzhenitsyn khi ông bị bọn Mật Vụ Nga đến tận đơn vị Pháo Binh ở mặt trận biên giới Ba-lan-Đức bắt ông đầu năm 1945, Nhà Văn năm ấy là Đại Úy Pháo Binh. Hai tên Mật Vụ giải Đại Uý về Moscow. Về tới nhà ga thủ đô, chúng không biết đường đến Nhà Tù Lubyanka. Nhà Tù Nga này năm 1945 cũng như Nhà Tù Chí Hòa với dân Sài Gòn những năm 1980. Ông Đại Úy bị bắt kể trong Tiểu Thuyết The First Circle – Tầng Đầu Địa Ngục – của ông:

– Tôi phải chỉ đường cho chúng đưa tôi đến Nhà Tù. Trên đường đi, nhiều lúc tôi muốn đứng lại, nói to với mọi người chung quanh: “Tôi bị bắt. Tôi không làm tội gì cả mà chúng bắt tôi.” Tôi muốn nói với mọi người rằng tôi bị bắt oan, nhưng rồi tôi không nói. Vì tôi nghĩ lúc ấy tôi nói có nhiều lắm là vài chục người nghe, sẽ có ngày tôi nói tôi bị bắt oan với cả triệu người nghe.

Ông Đại Úy bị phang 7 năm tù, 10 năm lưu đày ở Siberia, ông bị ung thư nhưng ông không chết, ông trở thành Nhà Văn. Không phải Nhà Văn Thường, Nhà Văn Suông mà là Nhà Văn Lớn, Nhà Văn Tố Cáo Tội Ác của Bọn Cộng Sản. Ông thực hiện được ý muốn khi ông mới bị bắt:

Có ngày tôi nói với cả triệu người rằng tôi bị bắt oan.

Nhà Văn Alexandre Solzhenitsyn không chỉ tố cáo tội ác của bọn Cộng Nga với một triệu người, ông nói chuyện ấy với cả trăm triệu người đủ mọi mầu da trên thế giới.

Nhưng.. than ôi.. Cả trăm triệu người bị bọn Công sản bắt đi tù chỉ có một Nhà Văn Alexandre Solzhenitsyn là được như thế, 999.999.999 người kia chết thảm trong tù.