• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

RƯỢU MÁU, MẶT MO

Ông bạn Lee Le, tác giả ảnh Photoshop trên đây, là người có ý hay và khéo tay. CTHĐ bái phục ông.

Ông bạn Lee Le, tác giả ảnh Photoshop trên đây, là người có ý hay và khéo tay. CTHĐ bái phục ông.

Đêm buồn – một đêm buồn trong những năm 1981, 1982, những năm ấy đêm nào tôi cũng buồn, không phải một mình tôi buồn, những năm ấy 30 triệu anh đàn ông công dân nước Việt Nam Cộng Hòa bại trận đều buồn – nằm bên cái radio Sony cũ rích trong căn gác lửng vo ve tiếng muỗi – tôi nghe đài phát thanh BBC loan tin anh VC Phạm Văn Đồng đến một số quốc gia Âu châu. Tôi không nhớ rõ ở đâu, dường như ở Paris, một số người Việt đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng chào đón Phạm Văn Đồng. Những người Việt này đến để “kính dâng lòng thành kính tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.”

Bản tin có đoạn: “Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khuyên người Việt:

“Sống ở đâu phải theo pháp luật ở đấy, nhưng phải luôn luôn hướng lòng về đất nước.”

“Thời gian vỗ cánh bay như quạ. Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi.” Thơ ông Tchya, tức ông Tẩy Chìa Đái Đức Tuấn. Thấm thoắt dzậy mà đã mấy chục mùa thu lá bay qua cuộc đời. Năm nay – Tháng Bẩy 2015 – lại thấy anh Tổng Bí Thư Bắc Cộng Nguyễn Phú Trọng khuyên người Việt ở Mỹ:

Hãy nhớ mình là người Việt Nam.”

Những anh Tổng Bí Thư Cộng Đảng Tầu, Cộng Đảng Việt không phải là người đại diện nhân dân Tầu, nhân dân Việt. Hai anh chỉ là những tên Đầu Xỏ Đảng Cộng sản, nhưng chính quyền Mỹ vẫn chào đón hai anh với tư cách Quốc Trưởng. Chính phủ Mỹ có mời bọn Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng mới đến được Hoa Kỳ. Không những chỉ đến Hoa Kỳ suông, chúng còn là những thượng quốc khách của chính phủ Hoa Kỳ.

Tháng Sáu, Tháng Bẩy 2015, người Việt ở Mỹ bảo nhau:

“Đừng nghe những gì người Mỹ nói, hãy xem những gì người Mỹ làm.”

Đến Kỳ Hoa – 20 năm trước – tôi viết:

“Tôi muốn tôi sẽ không nhìn thấy lá Cờ Máu VC bay trên đất Mỹ. Tôi muốn tôi không phải thấy một bọn người Việt nào ở  Mỹ đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng, tự nhận là Phái Đoàn Người Việt, đến để “kính dâng lòng tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.””

20 năm trước, tôi viết:

“Tôi muốn Ngày 30 Tháng Tư đến, tôi đầu bù, tóc rối, râu không cạo, cổ choàng sợi xích sắt, bận bộ quần áo cũ rách, đi chân đất, đến ngồi một góc trong Trung Tâm Thương Mại Eden, để tạ cái tội tôi đã không giữ được Sài Gòn.”

Sống ở Mỹ đã 20 năm, đến hôm nay, Ngày 16 July 2015, tôi chưa nhìn thấy Cờ Máu Bắc Công bay ở bất cứ đâu trên đất Mỹ, tôi chưa thấy bọn người Việt nào đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng “kính dâng lòng tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.”

Nhưng “chưa có” không phải là “không bao giờ có.”

trong

Trên Internet, tôi nhìn thấy Cờ Máu trong đám người Việt đến phi trường đón VC Nguyễn Phú Trọng. Tôi nhắc lại: Tôi nhìn thấy Cờ Máu trên Internet. Và tôi sợ cứ cái đà viên chức chính phủ Mỹ kết thân với bọn Bắc Cộng như đang diễn ra, sẽ có ngày tôi nhìn thấy Cờ Máu bay trên đất Mỹ, có ngày tôi thấy những bọn người Việt đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng sì sụp quì lậy  ảnh Hồ Chí Minh, sì sụt nói lời  kính dâng lòng tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Theo nghi lễ Mỹ, khi vị Quốc Trưởng một quốc gia được chính phủ Mỹ mời đến Mỹ, Tổng Thống Mỹ mở một quốc yến – một bữa tiệc trong Nhà Trắng – để khoản đãi vị quốc khách. Nhưng bao nhiêu năm rồi Mỹ không có quốc yến đãi Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình, không có quốc yến đãi Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng. Không phải Nhà Trắng, không phải Tập Cận Bình, Nguyễn Phú Trọng không muốn có quốc yến. Không có quốc yến cho bọn Đầu Xỏ Tầu Cộng, Việt Cộng là vì Nhà Trắng không tổ chức được.

Quốc Yến đãi Tập Cận Bình ít nhất phải có 20 người Tầu sống ở Mỹ cùng dự, quốc yến đãi Nguyễn Phú Trọng phải có ít nhất 20 người Việt sống ở Mỹ đến dự. Bữa tiệc chỉ có chủ nhà với khách loe ngoe  ăn uống với nhau không thể và không phải là quốc yến.

Tôi vẩn vương nghĩ: nếu Tổng Mỹ đãi quốc yến Đầu Xỏ Bắc Cộng Nguyễn Phú Trọng, Phủ Tổng Thống Mỹ sẽ mời những người Việt nào ở Mỹ đến dự? Tôi  sống cách ly, cách biệt, cô đơn, cô độc, cô đủ thứ nên tôi chỉ biết có mấy ông bà người Việt có thể là khách mời, như bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, các ông Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hữu Liêm, Bùi Duy Tâm, Trương Vũ, Nguyễn Bá Long….

Quí vị biết nhiều hơn tôi xin giúp tôi một Danh Sách Khách Mời dự quốc yến Mỹ-Việt. Tôi cám ơn.

o O o

Tháng November 2006, Tổng Thống Bush đến Hà Nội. Trước ngày ông đi,  cộng đồng người Việt ở Mỹ yêu cầu ông Tổng Mỹ nói với bọn Bắc Cộng vài câu về tình trạng những người Việt tranh đấu cho Dân Chủ, Nhân Quyền bị bọn Bắc Cộng bắt, giam tù mút chỉ cà tha kiêm mút mùa Lệ Thủy. Nhiều người Việt ở Mỹ hy vọng được ông Tổng Thống Mỹ nói cho vài lời, bọn Bắc Cộng sẽ phải bớt hung hãn và nới tay đàn áp những người đòi Dân Chủ, Nhân Quyền trong nước.

Uống đi Triết, uống cho say Rượu này pha máu dân mày, dân tao. Uống đi Bi, uống cho hào Rượu này pha máu dân tao, dân mày.

Uống đi Triết, uống cho say
Rượu này pha máu dân mày, dân tao.
Uống đi Bi, uống cho hào
Rượu này pha máu dân tao, dân mày.

Một Thư Ngỏ – Open Letter – của Cộng Ðồng người Việt ở Mỹ gửi ông Tổng Thống Mỹ Bush được đăng nguyên một trang trên Nhật Báo The Washington Post. Tôi có thấy cái Thư Ngỏ ấy. Rất tiếc tôi đã không giữ tờ báo để hôm nay in Thư Ngỏ lên đây.

Nghe nói tiền chi trang báo The Washington Post lên đến 50.000 USD – U Ét Ðô-la – Tôi tiếc tiền hùi hụi – Ðô-la không phải của tôi, nhưng Ðô-la của các ông bà người Việt, tôi cũng là người Việt, tôi có quyền đau xót. Tôi đau xót , tôi đắng cay vì Thư Ngỏ Vô Ích – Vô Ích đến Năm Chăm Phần Chăm – Thư Xin ông Tổng Mỹ Bush khi đến Việt Nam làm ơn, làm phúc nói vài lời xa gần đến những người Việt tranh đấu cho Dân Chủ trong nước bị bọn Bắc Cộng giam tù; bức thư một trang báo phải chi đến 50.000 USD, nhưng thư này rõ ràng là không được ông Tổng Mỹ đọc. Ông đến Hà Nội, rồi ông bay vào Sài Gòn, ông ăn ở Sài Gòn vài bữa, ông đái ở Sài Gòn vài bãi, rồi ông lên phi cơ bay về Mỹ. Ông không nói một lời nào – một nửa lời ông cũng không nói – về những người Việt đòi Nhân Quyền bị bọn Cộng giam tù.

Về Mỹ được vài ngày, ông Tổng Bush đến Prague dự cuộc họp quốc tế của những người tranh đấu cho Nhân Quyền trên thế giới. Trên diễn đàn hội nghị này, ông Tổng Bush trâng tráo tự nhận:

“Tôi là Tổng Thống của những Người Bất Ðồng Chính Kiến.”

“I am the president of the dissidents.”

Không một ông Chính Trị nào, ở trong nước Việt và ở Mỹ, nói một lời phản đối thái độ Hờ Hững với vấn đề Nhân Quyền ở Việt Nam Cộng Sản của Tổng Thống Bush. Tất cả các ông Chính Chị, Chính Anh đều nín khe. Không ông nào nói dù chỉ một lời than:

“Tổng Thống Bush quá lạnh với chuyện Nhân Quyền ở Việt Nam.”

Tôi thấy Một Người Việt Nam chỉ trích thái độ của ông Tổng Bush.

Người Việt duy nhất đó là Hoà Thượng Quảng Ðộ. Hoà Thượng nói với một phóng viên truyền thông Tây Âu đến gặp ông ở Quang Minh Thiền Viện, đường Trương Tấn Bửu, Sài Gòn:

Ông Bush nói một đàng, làm một nẻo. Ông Bush đã phản bội chúng tôi.”

Trước khi TT. Bush đi Việt Nam, một số ông bà người Việt sống ở Virginia được mời đến Nhà Trắng, hay Bộ Ngoại Giao Mỹ. Nhóm người Việt được mời là những nhân vật nổi trội trong cộng đồng người Việt. Một viên chức Mỹ tiếp nhóm người Việt được mời này. Nghe nói viên chức Mỹ trấn an nhóm ông bà Việt. Có thể viên chức Mỹ nói TT Bush sẽ không làm gì, nói gì có hại cho người Việt trong nước, cộng đồng Việt cứ yên tâm. Viên chức Mỹ có thể hứa: TT. Bush sẽ bầy tỏ sự quan ngại về tình trạng đàn áp nhân quyền ở Việt Nam.

Bổn cũ soạn lại. TT Obama tiếp Nguyễn Phú Trọng, PTT Biden đãi

Ăn Nguyễn Phú Trọng, một số ông bà người Việt ở Virginia được viên chức Mỹ mời đến gặp. Tôi chắc là để an ủi. Tôi vẩn vương nghĩ nếu tôi ở trong số ông bà Việt được mời, tôi sẽ nói:

“Các ông kết thân với chúng nó, đó là quyền của các ông. Xin để chúng tôi được yên với nỗi buồn, nỗi nhục của chúng tôi. Đừng coi chúng tôi như bọn con nít cần được các ông xoa đầu, vỗ đít, khuyên đừng buồn, dúi cho kẹo bánh.”

Còn Tình đâu nữa.

Chưa là Thù. Nhưng Tình thì không còn.

Tôi nhớ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhạc sĩ Việt Khang, cô Tạ Phong Tần…và bao nhiêu người nữa, những em thực hành Pháp Luân Công..giờ này mòn mỏi trong tù ở quê nhà.

o O o

Viết ở Rừng Phong.

Năm cùng, tháng tận… Là một Cựu Tù Nạn Nhân Cộng Sản, người từng nằm phơi rốn 8 mùa lá rụng trong ngục tù cộng sản ở quê hương, người Cựu Tù nay được sống an nhiên ở Xứ Mỹ, tôi nhớ, tôi viết về những người Việt nay đang bị bọn Bắc Cộng giam tù.

Dường như ở Mỹ hôm nay chẳng còn người Việt nào nhớ đến cô Tạ Phong Tần, người đàn bà Sài Gòn từng lớn tiếng chửi bọn Công An VC ngay trong trụ sở của chúng:

“Công an chúng mày không biết Nhục. Chúng mày hung hăng với nhân dân, chúng mày quì mọp chúng mày lậy bọn Tàu Cộng..!”

“Thằng kia.. Tao đẻ ra mày được nhen. Mày đừng có hỗn láo với tao..”

“Chúng mày bám đít tao như bầy ruồi bám lỗ trôn trâu cái..”

Tôi nhớ Linh mục Nguyễn Văn Lý. Linh mục đòi Tự Do Tôn Giáo. Bọn Cộng bắt giam ông, chúng đưa ông ra toà. Giữa toà, ông hô lời đả đảo Ðảng Cộng Sản. Một tên công an dùng bàn tay bẩn của nó bịt miệng, bịt cả mũi ông, thằng công an vênh mặt nhìn vào máy ảnh; rồi chúng thả ông về Nhà Thờ, ông tiếp tục chống chúng, chúng bắt lại ông, ông lại bị chúng giam tù mút chỉ. Ngày này, tháng này Linh mục Nguyễn Văn Lý đang ở trong tù.

Ông Cựu Tù Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, người cùng ra tòa án Cs với cô Tạ Phong Tần, sang Mỹ ngồi ngang hàng với TT Obama trong Nhà Trắng, người tù Tạ Phong Tần bị hành hạ trong tù. Ai nhớ, ai thương người tù Tạ Phong Tần? Sống trong một trại tù khổ sai, sau ngày đi cuốc, mùa đông Thanh Hóa, trời rét, người nữ tù Tạ Phong Tần tắm ở bên giếng nước trong sân nhà tù.

Còn bao nhiều người nữa trong những ngày năm cùng, tháng tận này ngậm ngùi “Xuân này ta không về..” mà tôi không thể viết đến trong bài này. Tôi xin lỗi các vị.

Tôi nghĩ đến chuyện người vì yêu nước mà bị bọn Cộng giam tù sống trong tù như người dằng giật với kẻ thù con dao sắc: Người Tù cầm dao đằng lưỡi dao. Dằng co với bọn Cộng Ác, Người Tù chỉ có từ Chết đến Chết. Bọn Cai Tù VC nắm dao đằng chuôi, chúng không hề hấn chi cả.

Chuyện Mỹ Tư Bổn Tuyệt Tình làm tôi chán và buồn..

Ðây là một bài Phóng Dzao tôi làm ở Sài Gòn những năm 1981, 1982:

Cột đèn Em ngỡ cây cau.
Thấy thuyền Trung Cộng, tưởng Tầu Iu-Dza.
Còn duyên Mỹ dúi đôla.
Hết duyên mới biết Kỳ Hoa bạc tình.

o O o

VC Nguyễn Phú Trọng đến Sacramento, thành phố thủ đô Cali, làm cuộc thành phố Hồ Chí Minh kết nghĩa với thành phố Sacramento. Tin trên Internet cho thấy nhiều người Việt đến Sacramento biểu tình đả đảo tên độc tài Việt Cộng, và phản đối việc kết tình kết nghĩa nham nhở. Những bản tin không được rõ; tin này báo cuộc kết thân không thành, tin khác báo hai bên Mỹ Việt đã họp, ký kết tình ngãi ở một địa điểm mà người Việt không biết.

Đây là bản tin trên Blog KBCHN:

Thành phố Hồ Chí Minh và Sacramento hoàn tất thủ tục kết nghĩa và bang giao

Hình thức buổi lễ ký kết hiệp ước đầu tư và thương mại cũng như kết nghĩa chị em giữa thành phố Hồ Chí Minh và Sacramento đã diễn ra như bình thường, mặc dù có sự phản đối của của nhóm gần 100 người trong đó có những nhân vật quậy từ quận Cam.

Tin của KBCHN: phái đoàn do Bí thư thành Ủy Lê Thành Hải hướng dẫn đã được hội đồng thành phố đón tiếp lúc 16 giờ thứ Ba ngày 14/7/2015 địa phương tức 6 giờ sáng thứ Tư ngày 15/7/2015 tại Việt Nam. Theo chương trình buổi lễ sẽ được diễn ra công cộng, nhưng vì không muốn cuộc vui mất ý nghĩa vì một nhóm hoan hô đả đảo nên hội đồng thành phố quyết định chỉ tiến hành lễ giới thiệu và quan trọng là các ký kết thương mại và trao đổi đầu tư giữa 2 thành phố vẫn diễn tiến như bình thường.

Chương trình dự kiến tiếp xúc với Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn và đại diện cộng đồng người Việt đã bị hội đồng thành phố quyết định hủy bỏ vì thái độ hung hăng của nhóm biểu tình lúc 15.30.

Nhóm chống đối đã “vui vẻ” và ngây thơ ra về không biết chuyện gì đã xảy ra bên trong sau khi đọc thông báo hủy bỏ buổi họp. Hơn nữa dưới cơn nóng 91F (32.7 C) cũng làm đoàn biểu tềnh lăn kềnh ra về sớm.

Tuy nhiên sau đó, nghị viên Diệp Miên Trường và TNS Janet Nguyễn trao đổi trên Radio Bolsa lúc 18 giờ quận Cam (tức 8 giờ sáng Việt Nam) đều là màn lừa bịp lỗ tai của đồng bào nhẹ dạ: “Đoàn biểu tình đã chiến thắng hiệp đầu khi thành phố phải hủy bỏ chương trình.”

Chính trị ngây thơ hủy bỏ buổi lễ không có nghĩa là hủy bỏ việc ký kết. Lúc 4 giờ chiều phái đoàn Việt Nam dưới sự hướng dẫn của Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí MInh đã kết thúc buổi lễ ký kết văn bản kết nghĩa và hợp đồng thương mại giữa 2 thành phố.

o O o

Chuyện chính phủ Obama mời và chào đón tên VC Nguyễn Phú Trọng làm tôi hết còn “cảm khái cách gì;” Tôi buồn quá cỡ. Tôi buồn và tuyệt vọng.

Hôm nay tôi sợ có ngày tôi nhìn thấy Cờ Máu VC bay trên đất Mỹ, tôi sợ có ngày tôi thấy có nhóm người Việt ở Mỹ đến Tòa đại Sứ VC kính dâng lòng biết ơn Chủ Tich Hố Chí Minh.

Tôi sang chuyện khác.

Trước năm 1975, Khu Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, nơi Công Tử Hà Ðông sống mấy chục năm, mùa mưa đến thường bị ngập nước, khu nhà tôi sức mấy. Bây giờ Công Tử sống ở Virginia, Hoa Kỳ, nơi chàng vẫn gọi là Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, sức mấy mà mưa làm ngập lụt nơi chàng ở, còn tôi ở khu Nguyễn Thiện Thuật, Quận Ba, Sài Gòn, mùa mưa đến khu nhà tôi nước ngập quá xá..”

Ðấy là lời Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang, người sống bền với Sài Gòn từ năm 1954 và năm nay vẫn sống ở Sài Gòn, viết trong bức thư mới nhất của chàng. Ðúng thôi. Trước năm 1975, Thuyền Trưởng ngụ cùng nhà với ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, chức vụ cuối cùng của Trung Tá, tức đến 11 giờ trưa ngày 30 Tháng Tư năm 1975, là Quản Ðốc Ðài Phát Thanh Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến là anh em cùng vợ – đúng ra là “anh em cùng nhiều vợ” – với Thuyền Trưởng Hai Tầu kiêm văn sĩ tiểu thuyết phơi-ơ-toong diễm tình Văn Quang Chân Trời Tím, Tiếng Khóc Học Trò.

Nhà, phải gọi là tư gia, nâng bi là tư dinh, của Trung Tá ở trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, Sài Gòn, là nhà lầu, mới xây, đầy đủ tiện nghi, tô-lô-phôn, máy lạnh, phòng khách sa-lông Tây bọc da, phòng ăn bàn ghế gỗ cẩm lai, phòng ngủ kiểu Tây riêng biệt, có cửa đóng kín.  Năm mươi năm xưa Cư Xá Chu Mạnh Trinh là một trong những cư xá khang trang, thanh lịch nhất Sài Gòn, đặc biệt là cư xá ấy có nhiều văn nghệ sĩ cư ngụ nhất. Trước năm 1975 mỗi khi mùa mưa đến, Cư Xá Chu Mạnh Trinh chẳng bao giờ bị ngập nước. Nhưng đấy là chuyện trước năm 1975.

Trước năm 1975 Sài Gòn của tôi rất đẹp, chỉ sau năm 1975 bọn Bắc Việt Cộng nón cối, dép râu, lính cái đít bự hơn cái thúng, khiêng ảnh Lão Già Hồ vào Sài Gòn, Sài Gòn của tôi mới xấu đi, mới bẩn đi. Trước năm 1975 mỗi năm khi mùa mưa đến với những trận mưa lớn đầu mùa – đồng bào tôi gọi là những “cây mưa” – mưa lớn quá nước mưa chẩy ra sông không kịp, Sài Gòn của tôi cũng có vài con đường bị ngập nước, nhưng rất ít. Chẳng hạn như đường Lê Lai, nơi có tòa soạn nhật báo Ngôn Luận tôi thường đến hàng ngày, nhưng dù mưa có lớn đến đâu, dù có bị ngập nước mấy đi nữa chỉ hai giờ đồng hồ sau khi dứt mưa là đường Lê Lai lại khô ráo, sạch boong, nước đã rút hết. Thành phố Sài Gon yêu thương của tôi chỉ bị nạn nước mưa ngập không thuốc chữa từ sau ngày bọn Bắc Việt Cộng vào chiếm Sài Gòn.

Trước 1975 Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, Quản Ðốc Ðài Phát Thanh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, ở nhà lầu, nhà lầu của ông, không phải nhà mướn, đi xe tu-bin Toyota, hút thuốc điếu Winston, xài bật lửa gaz Dupont. Một tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975 ông xách túi, từ biệt bà vợ hiền — bà vợ hiền thứ tư của ông — ông theo lệnh của cái gọi là “Ủy Ban Quân Quản”, cái ủy ban mà người dân Sài Gòn gọi là Ủy Ban Quanh Quẩn, ông lên đường đi “học tập cải tạo.”

Ngày xa xưa ấy, một sáng Tháng Năm năm 1975, chắc ông, cũng như nhiều vị sĩ quan quân đội tôi, nghĩ rằng ông chỉ đi xa tòa nhà lầu của ông trong cư xá Chu Mạnh Trinh nhiều lắm là một, hai tháng rồi ông lại trở về trong vòng tay ấm của bà vợ hiền của ông, vì vậy ông đi tù cộng sản mà ông mang theo cái bật lửa gaz Dupont và hai tuýp gaz Dupont dzin để sạc bật lửa!

Như thị ngã văn. Chuyện sĩ quan ta mang hộp quẹt Dupont đi tù cải tạo là do chính ông Trung Tá kể cho tôi nghe. Nhưng sự đời thảm não tơ vương không có chuyện đi tù cộng sản rồi lại thơ thới trở về mái nhà xưa êm đẹp như ông Trung Tá quân ta tưởng. Bắc Việt Cộng nó cho ông đi tù mười mùa lá rụng. Khi ông trở về thành phố cũ, vỉa hè xưa, bà vợ hiền của ông đã đi một đường không sang sông mà là vượt biển tự bao giờ, tòa nhà lầu của ông đã bị bọn Bắc Việt Cộng chiếm mất, một thằng cán bộ Việt Cộng làm chủ ngang xương tòa nhà lầu của ông trong cư xá Chu Mạnh Trinh.

Vắn tắt, tóm lại, đại khái cuộc sống của ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến ở Sài Gòn những năm 1986, 1987, 1990 không có một ly ông cụ nào khác với cuộc sống của không biết bao nhiêu ông sĩ quan quân đội tôi kẹt giỏ bỏ súng, bỏ lính, bỏ nhiệm sở, bỏ nhân dân, bỏ nước, chạy lấy người không kịp, bị bọn Bắc Việt Cộng nó bắt đi tù. Cuộc sống ấy đã được một ông Tầu từ mấy ngàn năm xưa miêu tả đầy đủ trong mấy câu: “Nhà mình người ở, xế mình người đi, vợ mình người chí chạt, con mình người đưa sang Kampuchia lấy xác bón cây thốt nốt..” Cuộc sống của các ông đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái lá đa ca dao, rách, nát, bèo nhèo hơn cái mền Sakymen, xưởng máy bên Cầu Bình Triệu. Ông Trung Tá đi tù về trên răng dưới không có lựu đạn, quả đáng tội trên răng dưới ông cũng có đôi giép, không nhà, không vợ con – lại phải nói cho đúng ông có nhà, có vợ con, cái gì chứ vợ con thì ông có hơi nhiều, nhưng ông bị mất nhà, mất vợ con, ông về sống trong một nhà cho mướn ở đường Sư Vạn Hạnh. Căn nhà này có nhiều phòng nhỏ được làm để cho những em lấy Mỹ mướn những năm 1965, 1970. Năm xưa ấy khi chủ nhân căn nhà chia nhà ra làm nhiều phòng nhỏ chỉ là để cho các em lấy Mỹ mướn thôi, chủ nhà đâu có ngờ rằng chẳng mấy mùa cóc chín sau khi các em lấy Mỹ không còn khứa Mỹ nữa những căn phòng nhỏ đó lại có khách mướn. Lần này khách mướn không phải là Me Mỹ mà là các ông sĩ quan ta đi tù về. Hai ông Trung Tá ở chung một phòng, mỗi ông một cái giường sắt cá nhân, không ông nào có vợ con chi, bữa mô ông nào cần tiếp khác–  – thì ông kia phú lỉnh đi khỏi phòng chừng ba, bốn tiếng đồng hồ mới về. Rồi ông Trung Tá dạt về sống trong Cư Xá Nguyễn Thiện Thuật. Mỗi năm mùa mưa tới, những cây mưa lớn đổ xuống Sài Gòn, con đường Nguyễn Thiện Thuật nước ngập như sông, nước ngập cả ngày, cả đêm, 24 tiếng đồng hồ nước chưa rút đi hết, bọn trẻ nhỏ trong khu phố có dịp ở truồng chạy ra đường nghịch nước.

Sài Gòn hiện nay có đến 100 chỗ bị ngập nước trong mùa mưa. Một chỗ ngập nặng là đường Trần Quốc Toản của ta, nay bị bọn Việt Cộng gọi bằng cái tên không giống con giáp nào là đường 3 Tháng 2. Ðoạn đường này mỗi trận mưa lớn nước ngập lên cả thước. Nghe nói bọn Việt Cộng xây cái gọi là Nhà Hát Hòa Bình của chúng ngay trên cửa cống chính của đường Trần Quốc Toản, bít luôn ống cống nên đường này mới ngập nước nặng đến như thế. Năm nào trong mùa mưa cũng có cả chục người Sài Gòn chết thảm vì bị nước cuốn vào những miệng cống.

Liêu lạc bi tiền sự. Sống buồn ở nước Mỹ, quê người Mỹ, chuyện mưa Sài Gòn làm tôi nhớ Sai Gòn quá chời, quá đất. Bây giờ là Tháng Năm Tây, bây giờ là Tháng Ba Ta. Tháng Ba đầu mùa hạ, tiết trời thật oi ả. Năm nào Tháng Ba Ta Sài Gòn cũng oi mưa, nóng bức, khó chịu đến mười lăm, hai mươi ngày. Rồi trận mưa đầu mùa đến Sài Gòn, sấm vang, chớp giựt đùng đùng, loe lóe, đất trời Sài Gòn chuyển động, nháng lửa, gió lớn, cây lá vặn mình, những đường dây đdiện Sài Gòn đong đưa nhẩy tuýt, cả thành phố nín thở chờ đợi, bầu trời vỡ bung, nước đổ xuống sầm sập.

Mưa..! Mưa..! Không khí nhẹ đi. Mát rượi. Người Sài Gòn thở ra khoan khoái. Ôi.. phải được sống ở Sài Gòn người Việt Nam mới có cái thống khoái chờ, và thấy, và hưởng cái khoái lạc khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống…

Những cây mưa đầu mùa Sài Gòn…! Những năm 1960 tôi từng viết: “Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp mới tắm xong.…” Từ ấy đã bốn mươi mùa mưa đi qua cuộc đời, những nàng trinh nữ năm ấy nay đã thành những bà cụ già, nhiều nàng có thể còn đa tình, trái tim còn sống mạnh nhưng già thì các nàng vẫn già, hôm nay nhớ lại tôi lấy làm lạ tại sao một anh cả đẫn ngớ ngẩn như tôi lại viết được một câu gợi cảm đến như thế về thành phố Sài Gòn của tôi sau cơn mưa lớn:

“Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong!”

Mai sau nếu có chàng trai hào hoa, phong nhã nào ngửi da thịt người đàn bà chàng yêu thương vừa mới tắm xong, thơm phức, và nói: “Em sạch như thành phố Sài Gòn sau cơn mưa lớn…” thì một nửa câu nói tình tứ ấy là của tôi!

Ở đây thép rỉ, gang mòn… Xa quê hương, tôi nhớ những mùa mưa tôi nằm trong phòng tù Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu ở quê hương tôi.

Những phòng tù Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, bốn tường kín mít, mái tôn, không có trần, nhốt 20 người đã khó thở nhưng nhồi nhét đến 40 người tù. Những tháng mùa nắng phòng tù nóng như lò nướng bánh mì. Bọn tù chúng tôi rôm sẩy đầy mình, nải chuối sứ hãy còn xanh được treo trên tường phòng tù chỉ sau một đêm chịu hơi người sáng hôm sau đã chín vàng rọm. Trận mưa lớn đổ xuống, có tên cai tù tốt bụng mở cửa phòng tù cho tù chạy ra sân tắm mưa ở ống máng, chỉ hai phút tắm mưa bao nhiêu rôm xẩy lặn hết.

Tôi nhớ những trận mưa lớn ở Nhà Tù Chí Hòa.

Nhà Tù Chí Hòa có nhiều chuột cống. Bọn chuột cống biết bọn tù chúng tôi bị nhốt trong phòng, không động được đến cái chân lông của chúng nên tối xuống, khi cửa sắt hành lang đã đóng, đã khóa, bọn chúng đàng hoàng kéo nhau ra hành lang, đưổi nhau, đùa rỡn, nhẩy măm-bô, nhót tăng-gô, nựng nhau, cắn nhau; bọn tù chúng tôi đứng sau hàng song sắt suỵt suỵt dọa nạt chúng, chúng tỉnh queo, chúng coi như pha, chúng không thèm chấp. Chúng còn dương mắt nhìn chúng tôi khinh bỉ, chúng tôi nghe tiếng chúng nói:

“Chúng mày tù, chúng mày làm gì được chúng ông? Suỵt soạt ký gì?”

Nên khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống, nước thoát đi không kịp, các ống cống đầy nước, bọn chuột cống phải chạy lên sân nhà tù, chúng tôi thích thú khi thấy anh em tù nhân được ra làm những việc chia cơm, quét dọn, vây đuổi đập chết cả  chục con.

Và sau những trận mưa lớn đầu mùa, đêm xuống, nằm thao thức không ngủ được trên nền xi-măng phòng tù Chí Hòa, tôi ngạc nhiên nghe tiếng ếch nhái kêu vang suốt đêm. Tôi tự hỏi trong cả bẩy, tám tháng trời nắng nóng vừa qua, bọn nhái bén, chẫu chàng, chẫu chuộc trốn nấp ở đâu, làm sao chúng sống qua cả bẩy, tám tháng trời nắng nóng để đêm nay, trời vừa đổ cơn mưa lớn, chúng kéo nhau lên mặt đất đồng ca vang rân như thế?

Tôi nhớ mùa mưa thứ nhất tôi nằm trong sà-lim số 15 Khu B Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Mùa mưa năm 1977, đây là những tháng thứ nhất tôi bị tù trong đời tôi. Một đêm mưa lạnh, không ngủ được, tôi làm thơ:

Nằm trong khám tối âm u
Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa
Bồi hồi tưởng mái nhà xưa
Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao?
Thương Em nhạt phấn, phai đào
Ðêm đêm trở giấc chiêm bao một mình.
Ngủ đi Em, mộng bình minh
Mưa bao nhiêu giọt là Tình bấy nhiêu

TẠI SAO ĐAU KHỔ?

quatNgàn xưa Thích Ca đã chỉ cho thấy chúng sinh trong cõi ta bà phải chịu tám đau khổ lớn. Phật gọi đó là Bát Ðại Khổ Não :

— Sinh, Lão, Bệnh, Tử: Sống, già đi, đau ốm và chết. Bốn đau khổ lớn mà tất cả chúng sinh đều phải chịu. Không một mạng nào thoát. Bạo chúa Tần Thủy Hoàng hung hãn hay Anh Con Trai Bà Cả Ðọi hiền khô cả đời không gây sự đánh nhau với ai bao giờ đều bị đau khổ vì phải sống, phải già đi, bị hành hạ vì đủ thứ bệnh hoạn từ nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, Aid Mẽo, Siđa Thành Hồ đến những bệnh gây khó chịu như liệt dương, đái đường.. Nhắc lại và nhấn mạnh:

Chúng sinh hằm bà lằng síu oằt đều phải chịu bốn đau khổ lớn Sinh, Lão, Bệnh, Tử . Và:

— Muốn mà không có cái mình muốn. Ðau khổ lớn thứ năm .

— Ðau khổ lớn thứ sáu: Có mà không giữ được cái mình có .

— Ðau khổ lớn thứ bẩy: Thù ghét nhau mà phải sống gần nhau .

— Ðau khổ lớn thứ tám: Yêu thương nhau mà không được sống gần nhau .

Muốn sang giầu để hưởng thụ, muốn đỗ đạt, vinh hiển, có địa vị, quyền thế, vợ đẹp, con khôn, một đời không hoạn nạn. Ða số chúng sinh đều muốn như thế. Nhưng nhiều người muốn mà ít người được. Chuyện ấy em nhỏ lên ba, cụ già chín bó đều biết. Khỏi cần phụ đề Việt ngữ lòng thòng. Ta sang Ðau Khổ Lớn thứ sáu .

Có mà không giữ được như có địa vị, đang là nguyên thủ quốc gia oai như hạch, lãnh tụ anh minh, cha già dân tộc, tiền hô, hậu ủng, nịnh thần điếu đóm, nâng bi..bỗng dưng một chiều bị bọn lính tập, bọn dân ngu cu đen xuống đường mần đảo chính, hè nhau lôi cổ Cha già, Mẹ Trẻ ra bãi cỏ dí súng vào đầu bắn bỏ — như trường hợp thê thảm của các ông Ngô đình Diệm, Ngô đình Nhu, vợ chồng Toỏng Bí Thư Cộng sản Sôxétcu Lỗ mã ni — đại doanh thương công kỹ nghệ kiêm xuất nhập cảng gia đang lên Mercury, xuống Mercedes, vợ bé, vợ bao hai ba chị, bạc tiền tiêu năm bẩy đời không hết, đời đang lên hương nhưng phạm sai lầm tài sản khánh kiệt, vợ hiền ôm kim cang, đô la trèo sang thuyền khác, đời tàn trong ngõ hẹp, nghèo đói, cô đơn và bị quên lãng. Trường hợp này ta thấy xẩy ra với những anh trọc phú ở Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Những anh này chỉ sống để làm giầu, các anh ôm giữ của theo kiểu : “Mười quan đắt quá! Thà chết còn hơn..” Trước 1975 nếu có kẻ nào cướp giựt của mấy anh chỉ vài ngàn bạc thôi, mấy anh cũng sẵn sàng và sốt sắng làm những việc để cho người đó vào tù một hai năm. 30 Tháng Tư 75 bọn Bắc Cộng kéo vào Sài Gòn, không những nó chỉ lấy hết tiền của, nhà cửa của mấy ảnh, nó còn cho mấy ảnh vào Sốâ 4 Phan đăng Lưu, ÔTen Chí Hoà ngồi rù gãi háng mút chỉ cà tha . Mấy anh im re .

Ta bỏ qua bọn trọc phú. Ðau khổ thứ sáu “Có mà không giữ được ..” được thể hiện trong những lời thơ :

Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương ..
…..
Vèo trong lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi ..

Ðấy là nỗi đau tiếc thương tuổi trẻ chóng qua, nhan sắc phai tàn. Than ôi ..Vẫn biết người ta sống là phải già đi, không ai có thể tươi trẻ mắt sáng, môi hồng, da thịt thơm mùi phấn ái ân hay thơm như múi mít được mãi. Tất cả mọi người đều già đi — người khác già đi là chuyện tự nhiên — nhưng ta già đi, nhan sắc ta phai tàn, ta bị gọi bằng cụ thì ta đau đớn dzô cùng tận .

Hai Ðau Khổ Lớn thứ bẩy, thứ tám thuộc về Tình Yêu và là chủ đề của bài viết ở Rừng Phong một ngày cuối mùa hạ. Thù ghét nhau mà phải sống gần nhau là đau khổ! Thù ghét là mặt trái của Tình Yêu. Thù hận và Tình Yêu luôn luôn đi đôi với nhau như bóng với hình. Những người thù ghét nhau bị bắt buộc phải sống gần nhau nhiều khi đi đến giết nhau, hoặc chết dần, chết mòn vì uất hận. Cuộc sống của những người thù ghét nhau mà phải sống gần nhau là một thảm kịch .

Ðau khổ lớn thứ tám: Yêu thuơng nhau mà không được sống gần nhau. Ðời sống của những người này cũng là một thảm kịch. Dzậy thì ngược lại : những người yêu thương nhau mà được sống gần nhau là hạnh phúc. Thế nhưng trong thi ca — ít nhất cũng trong thi ca Việt — chỉ thấy những ông thi sĩ, nhạc sĩ ca tụng Tình Dang Dở, mấy ổng cho Tình Dang Dở — Tình Dang Dở viết hoa ba chữ đầu TêDêDê: yêu nhau mà không chung sống với nhau — là đẹp đẽ, tốt lành. Như dzậy cũng có nghĩa là mấy ổng coi việc những người yêu nhau mà thành vợ, thành chồng, chung sống với nhau đến lúc đầu bạc, răng giả là không đẹp: Ðời hết vui khi đã vẹn câu thề. Tình chỉ đẹp những khi tình dang dở.

Chỉ thấy hình ảnh những cô nhân tình, nhân bánh ẩn hiện thướt tha trong thơ văn cuả những ông văn thi sĩ Mít. Gần như tuyệt đối không thấy bóng dáng người vợ hiền trong thơ văn của mấy ổng. Kỳ dzậy ? Dù là văn nghệ sĩ mấy ổng cũng có vợ, có con như bất cứ anh phó thường dân nào trên cõi đời này. Tôi từng théc méc về chuyện ấy. Như ông Thi sĩ Vũ Hoàng Chương chẳng hạn: ông lấy vợ sớm, bà vợ ông là bà Oanh, chị ruột ông Thi sĩ Ðinh Hùng. Ông sống chân chỉ hạt bột cơm nhà, quà vợ với bà Oanh nhưng thơ ông than khóc, thương tiếc loạn cào cào, châu chấu những nàng Kiều Thu hề Tố em ơi :

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai .
Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của ai ?
Kiều Thu hề Tố em ơi
Ta đang đốt lửa tơi bời Mái Tây …

Và ông than dài:

Gập gỡ chừng như chuyện Liễu Trai
Ra đi chẳng hưá một ngày mai
Em ơi.. lửa tắt, bình khô rượu
Ðời vắng em rồi, say với ai ?

Nữ thi sĩ TTKH còn huỵch toẹt hơn khi tuyên bố bằng thơ thẳng thừng rằng nàng sống với chồng nhưng nàng không yêu thương chồng, nàng cũng không nể nang ông chồng khốn khổ, khốn nạn của nàng một ly ông cụ nào, có chồng nàng vẫn thương nhớ người nàng yêu. TTKH, nạn nhân điển hình của cả hai Ðau Khổ Lớn Thứ Bẩy, Thứ Tám: Không yêu thương nhau mà phải sống mí nhau như vợ chồng, yêu thương nhau mà không được sống vợ chồng với nhau. Nàng than thở bằng thơ :

Từ đấy thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ .
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết , từng thu chết
Vẫn dấu trong tim dáng một người .
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi người ấy có buồn không ?

Thi ca thương tụng Nhân tình, Nhân bánh thật nhiều, ca tụng Vợ hiền thật ít. Nhưng có thật là trên cõi đời này không có một nhà thơ nào làm thơ về mgười vợ hiền không ? Câu hỏi được đặt lại cho thêm rõ ràng: Trong thi văn của ta có bài thơ nào viết về người vợ hiền không ?

Không nhiều thì ít. Ít nhưng chắc phải có. Có lý nào văn thơ ta lại không có được dăm bài. Như bài “Hôn nhau lần cuối” của Nguyễn Bính :

Cầm tay anh khẽ nói .
Khóc lóc mà làm chi.
Hôn nhau một lần cuối.
Em về đi, anh đi .
Rồi ..một, hai ba năm.
Danh thành anh trở lại.
Ta sẽ là vợ chồng.
Sẽ yêu nhau mãi mãi …

Chẳng phải chỉ tình Nhân tình, Nhân bánh mới đẹp, tình vợ chồng đôi khi cũng đẹp chứ ? Nhưng những lời thơ trên đây cho ta thấy cảnh vợ chồng thơ mộng trồng dâu, chăn tầm, dệt lụa Hà đông, Hà tây, yêu nhau mãi mãi ấy mới chỉ là cảnh thi sĩ mơ thấy sẽ xẩy ra chứ chưa thực sự xẩy ra. Thi sĩ có vẻ lạc quan tí đỉnh khi ông hẹn với nàng “Rồi.. một , hai ba năm.. Danh thành anh trở lại ..” Chỉ trong hai, ba mùa lá rụng ông đã thành danh rồi. Thi sĩ có khác. Phó thường dân đổ mồ hôi, sôi máu mắt hai ba chục mùa ổi chín cũng chưa chắc đã vồ được chút danh còm .

Thi sĩ Ðinh Hùng trong bài Tự Tình dưới hoa :

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ
Nắng trong hoa , với gió bên hồ
Dành riêng em đấy. Khi tình tự
Ta sẽ đi về những cảnh xưa
Rồi buổi ưu sầu , em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời…

Quả thực là vợ chồng đôi khi nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời thiệt. Nhưng chuyện ta théc méc ở đây là không biết có phải Thi sĩ tả cảnh vợ chồng hay Người tưởng nếu Người lấy được người yêu làm vợ thì Người chỉ nhìn nàng cũng đủ no? Không có gì bảo đảm với chúng ta rằng người thiếu nữ đẹp như trăng, mắt xanh lả bóng dưà hoang dại, thăm thẳm nhìn Thi sĩ mà không nói năng trong thơ là bà xã của Người .

Thi sĩ Nguyễn Bính tả cảnh vợ chồng rõ rệt hơn trong bài thơ Thoi Tơ

Em lo gì trời gió. Em sợ gì trời mưa.
Em buồn gì mùa hạ. Em tiếc gì mùa thu.
Em cứ yêu đời đi. Yêu đời như thưở nhỏ.
Rồi để anh làm thơ. Và để em dệt lụa.
Lụa dệt xong may áo, áo anh và áo em .
May áo nếu lụa thiếu. Xe tơ em dệt thêm.
Thơ làm xong anh đọc. Bên anh em lắng nghe.
Và để lòng thổn thức. Theo vần âu yếm kia .
Mộng đẹp theo ngày tháng. Ði êm đềm như thơ .
Khác nào trên khung cửi. Qua lại chiếc thoi tơ .

Thi sĩ Hữu Loan làm hình ảnh người vợ hiền bé bỏng chiều quê thời kháng chiến chống Pháp trở thành bất tử trong Mầu tím hoa sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những đứa em nàng, có em chưa biết nói .
Khi tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi.
Tôi là người chiến binh xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái .
Ngày hợp hôn, nàng không đòi may áo cưới.
Tôi mặc đồ quân nhân
Ðôi giày đinh bết bùn đất hành quân .
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.

Người vợ trong bài thơ thứ hai viết về người vợ tôi được biết cũng là người vợ đã chết. Tôi đọc bài thơ này năm 1952 trong Giai phẩm Xuân của Nhật báo Tia Sáng thời ấy ấn hành ở Hà nội. Theo thông lệ những số báo Tết, báo Xuân thuờng tối kỵ đăng những chuyện dính dáng xa gần đến tình đứt đoạn, người tình chết , sinh ly, tử biệt, tai hoạ vv . Nhưng số Xuân Tia Sáng Hà Nội năm 1952 lại đăng bài thơ tôi sắp kể.

Năm mươi mùa lá rụng đã trôi qua kể từ năm 1952 xa xưa xanh ngăn ngắt ấy. Từ chàng thanh niên tuổi đời mới tròn Hai Bó chưa lẻ que nào nay tôi đã trở thành ông Khưá Lão trên vai mang nặng Sáu Bó lẻ năm, bẩy que, khuôn mặt phong trần, cằn cỗi in hằn những vết roi đời. Tôi vẫn nhớ nằm lòng bài thơ tôi đọc mùa xuân xa lắm tôi còn trẻ, chưa biết đau thương, biết nợ nần. Ðời chỉ có hoa và mật ngọt. Da thịt thơm mùi phấn ái ân ..

Tôi vẫn biết Em là người mộng
Em là tiên trên động Bồng Lai
Lỡ tay trong tiệc Dao Ðài
Ðánh rơi chén ngọc , đầu thai xuống trần .
Tôi vẫn biết tiến nhân, hậu quả
Tôi cùng Em nợ trả chưa xong
Tiên cung lòng tưởng nhớ lòng
Nhớ nhung Em xuống vợ chồng với tôi .
Tôi vẫn biết nghiệp trời có thế
Mười năm qua, trích lệ đã qua
Xe mây tung cánh hạc già
Bách thần mở tiệc hoàng hoa tẩy trần .
Vẫn biết đấy là xuân muôn thưở
Xuân ngàn năm rực rỡ không cùng
Nhưng nơi Nước Nhược, Non Bồng
Em còn tơ tưởng vợ chồng nhân gian ?

Tôi không nhớ bài thơ trên của ông nào trong hai ông thi sĩ họ Hoàng tên tuổi mới nổi lên ở Hà Nội khoảng năm 1950. Hai ông Hoàng công Khanh, Hoàng phụng Tỵ. Ông Hoàng công Khanh là tác giả vở Kịch Thơ Bến Nước Ngũ Bồ. Năm 1954 cả hai ông Hoàng Công. Hoàng Phụng đều ở lại Hà Nội .

Và như vậy ta có thể viết như vầy :

— Các văn nghệ sĩ nói chung, cổ kim đều giống nhau, chỉ mần thơ ra rít về những mối tình Nhân tình, Nhân bánh. Hình ảnh người tình trong thơ văn của mấy ổng chỉ là những người mấy ổng yêu thương nhưng vì những lý do nào đó không trở thành người vợ hiền của mấy ổâng.

— Ðôi khi có một vài ông lẻ tẻ mần thơ văn biểu lộ tình yêu với vợ hiền thì …thường là ..người vợ hiền của mấy ổng đã về quê, đã tịch, đã tạnh, đã hai năm mươi, đã đi tầu suốt ..

Những ông thi sĩ hiện đại thì như vậy, còn những ông thi sĩ thời xưa, những ông mần thơ cuối thế kỷ trước – Thế kỷ 19 — đầu thế kỷ này – 1910–1920 — thì sao ?

Tình hình không khá gì hơn. Các ông Ngô thì Nhậm, Phan thanh Giản làm một hai bài thơ “Ký Nội,” tức là thư gửi cho bà vợ hiền ở nhà. Thơ các ông làm bằng chữ Hán và các ông là những nhà cai trị làm thơ nhiều hơn là nhà thơ làm thơ. Hai ông Nguyễn Khuyến, Trần tế Xương làm Văn Tế Vợ với mục đích khôi hài, rỡn chơi nhiều hơn là khóc thật :

Con gái nhà lành, lấy chồng kẻ chợ .
Tiếng có mà không, gập chăng hay chớ .
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo,
ai dám chê rằng béo, rằng gầy.
Người ung dung , tính hạnh khoan hoà ,
chỉ một mầu hay gàn, hay dở .
Ðầu sông, cuối bến, đua tài buôn chín, bán mười.
Trong họ ngoài làng , vụng lẽ chào dơi, nói thợ.

Ðoạn Văn Tế trên đây của ông Tú Xương. Ông này ăn chơi vàng trời nhưng lại có thơ viết về bà vợ với những câu như: “… Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Eo sèo mặt nước buổi đò đông ..”

Tôi tìm trong trí nhớ của tôi xem có người thơ nào viết về người vợ hiền trữ tình, yêu thương và nghiêm túc hay không? Và tôi tìm được một người.

Nhà thơ đó là Cao Bá Quát .

Khi Cộng sản nắm quyền văn nhân, thi sĩ đi tù quá nhiều, chuyện tù đày trong chế độ cộng sản trở thành chuyện thuờng. Nhưng đây là ta nói chuyện trước kia, trước khi dân ta mắc nạn Cộng sản, trưóc kia ta có những người làm thơ nào lâm cảnh tù đầy? Khi nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn Gia Long diệt, hai ông văn thần làm thơ nổi tiếng triều Tây Sơn là Ngô thì Nhậm, Phan huy Ích, bị quân chiến thắng bắt giam, đem ra Văn Miếu căng nọc đánh đòn vì cái tội là”Nho gia mà phục vụ Ngụy triều.” Nghe nói ông Ngô thì Nhậm bị đánh quá đau nên chếát sau đó ít ngày, ông Phan huy Ích còn sống được khoảng mười năm sau tai họa. Chắc chắn ông Phan Huy Ích phải làm ít nhất vài bài thơ mô tả tâm trạng ông khi hoạn nạn đưa ông đến trước Tử thần, khi ông bị người ta bắt nằm sấp để đánh đòn, hoặc thương khóc ông anh vợ ông là ông Ngô thì Nhậm. Tôi nghĩ những người trong gia đình ông đã hủy đi những bài thơ ấy.

Thi sĩ Tố Như cũng có ít ngày ở tù. Thời gian tù ngắn ngủi và chẳng có gì gay cấn của ông được ghi chỉ có một câu trong bài “My Trung mạn hứng “:

Thập tuần lao ngục tử sinh tâm ..” Mười tuần trong lao ngục , lòng nghĩ đến việc chết sống. Một tuần của Á đông là 10 ngày. Thi sĩ ở tù thập tuần là 100 ngày, hơn ba tháng chút đỉnh. Chuyện bên lề bài thơ kể rằng ngày ấy ông làm cuộc vượt biên vào Nam với Chúa Nguyễn, trên đường đi ông bị bắt ở biên giới. Nhờ có ông anh làm lớn trong triều đình Tây Sơn ông được thả ngay chỉ sau có 100 ngày tù. “Mười tuần trong tù lòng nghĩ đến chuyện sống chết ..” Cũng đúng thôi. Người mới vào tù thường bồn chồn, sợ hãi, khắc khoải nghĩ đến chuyện mình sẽ chết trong tù. Người ở tù lâu vài ba niên sẽ quen đi, sẽ dạn dầy, sẽ không còn bận tâm gì đến chuyện sống chết.

Người thơ Cao Bá Quát bị tù một thời gian dài đến hai năm. Ông bị tra tấn, ông để lại cho ta bài thơ tả cái roi song và trận đòn ông phải chịu. Ta sẽ nói với nhau về Thơ Tù của Cao Bá Quát trong một bài khác. Hôm nay ta chỉ nói đến bài thơ ông làm khi ở trong tù ông nhận được gói quà bà vợ ông từ làng Phú thị, Bắc Hà gửi vào cho ông. Vào thời ấy — những năm 1840 — đường xá đi lại khó khăn, con đường ông cha ta phải đi từ thành Thăng Long vào đến thành Phú Xuân đúng là xa vạn dậm. Bà vợ ông gửi người mang vào tù cho ông cái áo rét, mấy cây bút và vài thứ đồ dùng. Ðêm ấy xúc động ông làm thơ :

Nhất giam đăng hạ vạn hàng đề
Thử dạ tàn hồn nhiễu tú khuê .
Trường hận thùy giao luân cẩm tự ?
Ðộc miên nhân tự vọng kim kê .
Hàn y ổn thiếp phong tân tứ .
Tố quản tiêm minh tẩy cựu đề .
Lai thất tha thời hảo qui khứ ,
Nhập môn tri hữu nhẫm thung thê .

Một phong thư đọc dưới đèn, muôn hàng lệ rỏ .
Ðêm nay hồn vật vờ quanh chốn buồng thêu .
Mối hận vô cùng, ai sui mình bàn chuyện dệt gấm?
Kẻ nằm một mình vẫn trông chờ tin gà vàng.
Aùo rét xếp phẳng phiu, gói ghém bao ý mới .
Ngọn bút trắng, nhọn, xóa sạch những lời đề xưa .
Mai đây khi trở về nơi Nhà Lai
Bước vào cửa được biết rằng có vợ hiền từng giã gạo mướn .

Lời chú của tác giả: “Kim kê tinh hiện tắc quốc hữu xá”: Sao Kim Kê hiện là điềm trong nuớc có việc ân xá.” “Cẩm tự “chữ gấm lấy từ điển “Cẩm tự hồi văn “thường được gọi là “Cẩm hồi văn”. Tần Ðậu Thao giận vợ là nàng Tô Huệ. Tần đi làm quan ở Tương châu, bỏ Tô Huệ ở nhà và đoạn tuyệt tin tức. Tô Huệ dệt một bức gấàm trên có bài thơ lời lẽ tha thiết gửi cho chồng. Ðậu Thao cảm động cho người về đón nàng. Nhà Lai: nhà ở gò Lai. Làng quê của Cao tiên sinh có cái gò tên là Gò Lai. Giã gạo mướn lấy ở điển nàng Mạnh Quang là vợ Lương Hồng đời Ðông Hán, nhà nghèo, thường đi giã gạo thuê cho người ta kiếm ăn .

Bị tù hơn hai năm Cao Bá Quát được tha và cho làm việc lại. Triều đình bắt ông phải “duơng trình hiệu lực”: Ði làm việc ở nước ngoài để chuộc tội. Sự thay đổi thật lạ kỳ: 100 năm trước — năm 1840 — những người có tội phải gia nhập những sứ bộ đi công cán nước ngoài để chuộc tội. 100 năm sau — 1950 — người được tháp tùng những phái đoàn chính phủ đi công cán nước ngoài là những công thần của chế độ, là bọn COCC Con ông, Cháu cha được hưởng đặc ân. Trên thuyền sang Tân-gia-ba người thơ Chu Thần thấy trong hành lý có chiếc gương bà vợ để vào, nhớ bà ông làm thơ :

Tự quân chi xuất hỹ
Dạ dạ thủ không sàng .
Hải nguyệt chiếu cô mộng ,
Giang phong sinh mộ lương .
Tiểu kính ký viễn khiếp ,
Hàn y lưu cố phường. (phòng)
Trì thử các tự úy ,
Bất khiển lưỡng tương vương (vong)

Từ ngày anh ra đi
Ðêm đêm em giữ chiếc giường không .
Trăng biển soi giấc mộng cô đơn ,
Gió sông thổi lạnh trời chiều .
Cái gương nhỏ gửi vào tráp người đi xa ,
Tấm áo lạnh để lại nơi phòng cũ .
Giữ những vật ấy để cùng tự an ủi ,
Không để cho đôi ta quên nhau .

Những đêm u ám năm 1976 tôi lấy những quyển sách trong tủ sách của tôi ra đọc lại. Có những quyển tôi đem về cất đó rồi mải làm việc, mải chơi, tôi không một lần mở đọc cho đến những đêm tuyệt vọng ấy. Trong một quyển sách bị bỏ quên tôi đọc được một lời than của Cao Bá Quát làm tôi vỡ tim. Ðó là lời ông gửi cho bà vợ ông. Năm 1977 Công An Thành Hồ đưa xe bông đến nhà đón tôi đi chuyến xe bông thứ nhất. Hai mùa lá rụng sau tôi trở về tìm không thấy quyển sách xưa trong có lời than vỡ tim từng làm tôi xúc động. Có thể là quyển sách ấy nằm trong số sách bị Công An Thành Hồ lấy đi khi họ đến bắt tôi .

Nhưng tôi còn nhớ lời than ấy đến hôm nay và hôm nay tôi viết lại lời than ấy theo trí nhớ của tôi. Trong cơn yêu thương tha thiết người thơ họ Cao kêu lên :

— Người ta vẫn nói :
Nữ vô duyên vi tài tử phụ .
Nam bất hạnh tác hồng nhan phu !
Người đàn bà vô duyên phải làm vợ kẻ tài tử .
Người đàn ông không may phải làm chồng người đàn bà đẹp .
Những người ấy đau khổ trong cuộc đời . Nhưng em ơi, anh không phải là tài tử, em không phải là hồng nhan ..Tại sao đôi ta cùng đau khổ ?

Câu hỏi xé trời không có câu trả lời .

Nhiều đêm trong tù, trằn trọc không ngủ được, nằm nhắm mắt lơ mơ nghĩ, nhớ lại những chuyện xưa, đôi khi câu hỏi xé trời của Cao Chu Thần vang động trong tim tôi, làm tôi thổn thức, bồi hồi như chính tôi là người hỏi câu đó chứ không phải là ông:

Nữ vô duyên vi tài tử phụ.
Nam bất hạnh tác hồng nhan phu .
Em ơi.. Anh không phải là tài tử, em không phải là hồng nhan. Tại sao đôi ta cùng đau khổ ?

ĐÍT VỊT, ĐẦU RỒNG

TT Clinton được dân Bắc Việt nồng nhiệt chào đón ở Hà Nội năm 2000. Theo tôi, lẽ ra người Hà Nội phải căm thù người Mỹ - Mỹ đánh bom Hà Nội – Sau Hà Nội, ông Clinton vào Sài Gòn. Dân Sài Gòn không một ai để ý gì đến ông.

TT Clinton được dân Bắc Việt nồng nhiệt chào đón ở Hà Nội năm 2000. Theo tôi, lẽ ra người Hà Nội phải căm thù người Mỹ – Mỹ đánh bom Hà Nội – Sau Hà Nội, ông Clinton vào Sài Gòn. Dân Sài Gòn không một ai để ý gì đến ông.

Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngỏng đầu rồng.

Thơ ông Tú Xương. Ngày xưa những ông thi đỗ cử nhân được Vua ban áo mũ và bằng sắc. Nếu thi ở Huế, các ông được vào cung quì lây Vua, nếu thi ở một tỉnh Bắc Kỳ, các ông quì lậy vị Tổng Đốc tỉnh đó. Ở Bắc Kỳ ngày xưa ông Tổng Đốc thay mặt Vua.

Ca dao:

Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Dường như không có cuộc thi chữ Hán nào đươc tổ chức ở Nam Kỳ. Thí sinh Nam Kỳ phải ra Huế dự thi.

Tấm ảnh đi cùng bài viết này cho ta thấy cảnh các ông trúng cử quì lậy trong sân Dinh Tổng Đốc. Trong ảnh ông Tổng Đốc khăn đóng, áo dài đứng trên thềm cao. Cùng đứng với ông Tổng Đốc là những viên chức Pháp trong tỉnh. Những ông quan Tây đội mũ casque trắng. Như vậy Quan Tây nhờ đứng với ông Tổng Đốc nên được các ông Cử quì lậy. Các ông Cử lậy Vua, các ông không lậy Tây.

Dân Bắc Kỳ dùng nhiều loại mũ casque này. Những năm 1940-1945 tôi từng đội cái mũ casque đó. Sau 1945 Hồ Chí Minh đội cái mũ này – Mũ casque được dân Bắc Kỳ gọi là “nón cối’” vì hình dáng giống cái cối, tên gọi thật đúng – Dân Nam Kỳ ít người sài nón cối. “Nón cối: casque,” di sản của Thực Dân Pháp, được Việt Công giữ và dùng. Hồ Chí Minh là người Việt đội nón cối nổi tiếng nhất. Vì Hồ Chí Minh đội nón cối nên nón cối Thực Dân Tây sống mạnh, sống mãi ở Bắc Kỳ.

Nhưng không có bà Đầm trong những cuộc lễ của chính quyền. Bà vợ công chức Pháp không bao giờ đi theo chồng ra nơi công chúng. Vì vậy không có chuyện những ông Cử Nhân Việt phải quì  lậy bà Đầm.

Không có cảnh:

Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngỏng đầu rồng.

Thời Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bà vợ các ông Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng không bà nào đi theo ông chồng ra nơi công chúng, khi ông chồng gập nhân dân với tư cách viên chức chính quyền. Những bà Đầm vợ các ông Công Sứ Pháp lại càng không xuất hiện bên ông chồng. Do vậy không thể có chuyện Ông Phủ Vĩnh cõng Bà Đầm như được tả trong bài thơ:

Thằng cha Phủ Vĩnh thế mà thâm
Nịnh Bố Cu Tây, cõng Mẹ Đầm.
Đôi vú ấp vai, đầu nghển nghển
Hai tay ôm đít, mặt hầm hầm.
Phen này cứng cựa nhờ ơn tổ
Lúc ấy sa chân chết bỏ bầm.
Chẳng thiết mề-đay cùng tưởng lục
Đưa tay lên mũi, miệng cười thầm.

Bài thơ xưa không thấy ghi tên tác giả, tả cảnh Bà Đầm vợ ông công sứ Pháp, theo chồng đi thăm làng quê trong tỉnh, đến chỗ đường bị ngập nước, ông Tri Phủ Mít cõng Bà Đầm qua chỗ lội.

Tôi đề cao tác giả bài thơ. Thi sĩ tác giả bài thơ này phải có tài làm thơ ngang với Thi bá Vũ Hoàng Chương. Tài và tưởng tượng. Rất tiếc ông đã không để lại tên ông cho hậu thế vinh danh. Bài Thơ Ông Phủ ôm đít Bà Đầm chắc đã có từ những năm 1920. Với tôi, bài thơ là một tuyệt tác.

Phủ Vĩnh Tường ở tỉnh Phúc Yên.

Nhưng chuyện Ông Phủ Mít cõng Bà Đầm qua chỗ lội là chuyện không thể xẩy ra, chuyện không có thật, vì như đã viết, một: bà vợ những ông công chức không đi theo ông chồng trong khi các ông đi làm công việc; hai: công chức người Pháp ít khi, có thể nói là không bao giờ, đi xét thăm những làng quê, đó là việc của giới quan chức Việt; ba: nếu quan Phủ đến thăm làng, chánh tổng, lý trưởng chuẩn bị đón quan cả tháng trước; các ông ra tận đường lớn chờ quan đến. Mới chỉ nói quan Phủ thôi, chưa nói đến Tổng Đốc hay Công Sứ đến thăm làng quê.

Có hai ông Phủ Vĩnh trong Thơ Dân Gian. Đây là bài Thơ thứ Hai về ông Phủ Vĩnh; tác giả Hồ Xuân Hương:

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng tùi càn không khép lại rồi.
Hăm bẩy tháng trời là mấy lúc
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!

o O o

Cảnh những ông mới đỗ Cử Nhân quì lậy ông Tổng Đốc, người đại diện Vua, trong sân Dinh Tổng Đốc. Ảnh ghi khoảng năm 1910-1915.

Cảnh những ông mới đỗ Cử Nhân quì lậy ông Tổng Đốc, người đại diện Vua, trong sân Dinh Tổng Đốc. Ảnh ghi khoảng năm 1910-1915.

Xã Hội Ba Đào Ký

TẢN ĐÀ viết về những cuộc thi chữ Hán ngày xưa:

Ba năm Vua mở khoa thi
Lộn chồng, trả của, Em đi bán hàng.

Hai câu phong dao ấy tôi từ thuở nhỏ có nghe mà đến nay không thấy ai hát, nghĩ chẳng vì thực cảnh của xã hội xưa sau biến đổi cho nên câu hát cũng theo đó mà trôi chìm đi mất ru? Nhớ ngày nào vào khoảng tháng Mười Tây, có nhẽ đó là năm Bính Ngọ (1906 ), năm ấy có khoa thi Nam Định, tôi theo ông anh làm phúc khảo đi chấm trường. Các quan tiến trường, lính hầu áo nỉ, học trò ứng thí, đầy tớ gọng lều. Phố Khách, Hàng Thao, ngựa xe chật ních; Mỹ Trọng, Lang Tĩnh, đường xá chen mông, hai bên hàng phố. Cái quang cảnh ở Nam Định khi ấy tưởng không có hội nào vui bằng. Khoa thi năm ấy, học trò chưa pha vẻ văn minh, thi cử hãy còn theo lối cũ; kinh nghĩa, thi phú, văn sách, ba kỳ thêm kỳ nữa là bốn. Ông Cử, ông Tú, xuất thân toàn thị các ông đồ trong làng Nho “Dài lưng, tốn vải, ăn no…” mà rồi bảng vàng, mũ bạc, lọng xanh, vinh quy bái tổ. Mà rồi nữa Hoàng Giáp, Thám Hoa, Tiến Sĩ, thênh thênh đường cái thanh vân. Nữa mà rồi võng lọng, ngựa xe, lâu đài, chung đỉnh, phu nhân, công tử, phú quý, vinh hoa. Bao nhiêu cái sự không có của các ông đồ trong làng Nho khi bấy giờ với các bạn quần thoa ta rất là có giá trị, cho nên trong xã hội mới có câu ca dao như xưa.

Khóa Kỷ Dậu ( 1909 ), phép thi đổi mới, kỳ văn sách đem lộn lên trên nhất, bài ra năm đạo rồi kỳ luận là thứ hai. Phần chữ Nho thì có như thế. Kỳ thứ ba mới có thi Quốc ngữ, ai muốn thi chữ Tây thì thi. Từ đấy mà con đường Lang Tĩnh, Mỹ Trọng đây “Giầy cao ống mau chân thì bước trước.” Khoa Nhâm Tử ( 1912 ) thi cử như khoa trước mà cảnh tượng thêm não nùng, mưa gió chết người, đến lúc văn chương tàn cục vậy. Sau còn khoa Ất Mão ( 1915 ) nữa là hết; cờ bạc canh cuối, ai vớ được cũng hơn không.

An Nam Tạp Chí Số 14 – 1930.

o O o

CTHĐ:

Ba năm Vua mở khoa thi
Lộn chồng, trả của Em đi bán hàng.

Trường Thi mở ở tỉnh nào, cả ngàn thí sinh khắp Bắc Kỳ tụ tập về đó, Những hàng nước, hàng ăn, nhà trọ được mở ở đó để phục vụ thí sinh. Nhiều cô chủ quán xinh đẹp làm mê mẩn những chàng học trò si tình; những gặp gỡ dẫn đến hôn nhân. Do đó thời xưa ấy nhiều cô gái nhà lành mở hàng nước ở gần trường thi để kiếm chồng.

Tôi théc méc: 100 năm xưa làm sao những thị trấn Bắc Kỳ, như tỉnh Nam Định, có đủ nhà để chứa cả ngàn thí sinh các tỉnh khác đến dự thi.

 

Ông Tản Đà, ông Phan Khôi đều có đi thi chữ Hán. Hai ông cùng không đỗ. Ông Ngô Tất Tố cũng có đi thi chữ Hán, ông Tố cũng không đỗ, dù chỉ đỗ Tú Tài. Dường như ông Phan Khôi có đậu Tú Tài, nhưng ngày xưa thi chữ Hán mà đậu Tú Tài coi như không đỗ, không được chính quyền dùng làm quan cai trị. Không thấy người thời ấy gọi ông Phan Khôi là ông Tú Khôi, trong khi ông Trần Tế Xương vì thi đỗ Tú Tài, đươc gọi là ông Tú Xương.

Nhà Thơ Tản Đà viết về chuyện Đi Thi Ngày xưa:

Sự Thi Hỏng Khoa Nhâm Tứ.

Khoa thi nước Nam ta lập ra, tôi không nhớ rõ là năm nào, khoa thi nước Nam ta bỏ đi, cũng không biết trước là năm nào. Vì một sự thi đó, người vinh hiển cũng nhiều, kẻ khốn nạn cũng nhiều. Các ông đồ xứ quê, nhiều người bán ruộng mà đi thi, thi hỏng lại về, ba năm sau lại bán ruộng mà đi thi, thi hỏng lại về. Mỗi khoa thi, đi thửa ruộng. Ruộng đi, đầu bạc, văn cùn, hỡi người khuê khổn có buồn hay chăng?

Dẫu thế, nếu duyên may, phận tốt, thời cũng nghiên, cũng bút, có khi thấm thót đãthành quan, bà khóa trong làng, buông quang, bỏ ghính. Cho nên một trường thi đó thực là vòng danh lợi của sĩ phu nước ta. Cái vòng danh lơi cong cong, kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào. Sau này nếu có một ngày nào bỏ hẳn sự khoa cử, thời người sinh về sau dầu muốn biết cái tình cảnh đi thi của thi xưa, không dò đâu cho thấy. Vậy nên làm một bản chớp ảnh bằng chữ, chớp một người đi thi, để lại cho người sau cùng xem và cũng giúp cho nhà khảo cổ.

Tôi đã từng là người đi thi, trải biết cảnh tượng sự đi thi, mà nhất là khoa thi năm Nhâm Tứ.

Năm giờ chiều hôm ba mươi tháng Chín năm Nhâm Tứ là năm khoa thi trường Nam, ở Nam Định, thu xếp xong lều, chõng, chiếu, áo tơi, tráp mộc, ống quyển, que ghim, giây chằng, chai nước, nắm cơm, và các đồ văn phòng tứ hữu, xét lại một lượt, đâu vào đó, rồi đi ăn cơm chiều. Ăn xong, uống nước với kẹo cò, rồi nằm để tĩnh dưỡng. Lúc ấy, trong bụng chu mật như người con gái đến ngày cưới xếp đồ quần áo về nhà chồng; các người cùng trọ, đại khái cũng thế cả

Một giờ đêm, dậy ăn cháo với trứng gà, xong, sắn quần áo, nịt bít tất, đeo ống quyển, cho người nhà gánh lều chiếu theo đến trường, vào kỳ đệ nhất. Đường đi vừa trơn, vừa tối, tay cầm đuốc, tai nghe trống, chân bước đi. Lúc ấy, trong bụng nghiêm chỉnh, như quân ông Câu Tiễn nửa đêm đánh úp quân Ngô; các người cùng đến trường, cũng đại khái thế cả!

Lĩnh xong quyển, vào xong vi, đóng xong lều, ngồi nghỉ một lúc, thấy trống ra đầu văn, chen đứng chép lấy về lầu làm. Vừa làm vừa viết, vừa nghĩ, vừa ăn cơm. Độ quá trưa, hơi thấy mưa, rồi thấy gió, rồi cả mưa cả gió, rồi mưa gió thật to. Nóc lều dột, cột lều lung lay, gió thốc áo tơi hai đầu lều, thổi vào đến quyển. Vừa che, vừa giữ, vừa viết, lựa cho khỏi ướt quển thời lưng ra ngoài lều. Bấy giờ giời đã chiều hôm, văn viết đoạn cuối, nước mưa thấm áo dạ mà vào gần đến lưng, nước bùn thấm bít tất mà lên gần đến gối. Các người cùng vi, cũng đại khái thế cả. Lúc ấy, trong bụng vững chắc như ngồi canh tổ tôm đỏ, phỗng để thập thành. Rồi ra khỏi vi, nộp xong quyển, vất tráp cho thầy tớ mà chạy về, thoáng trông các thầy tớ đi đón, đứng rạp hai bên đường, như quân Hán Vương sắp đánh vào Tuy Thủy.

Trưa hôm sau, nghe nói có người học trò người  tỉnh Phú Thọ bị mưa gió mà chết, đó là một kết cục kỳ thi chữ Nho.

Đến sớm hôm ra bảng để vào thi kỳ thứ hai, nghe tin báo hỏng, còn như chuyện ông Tăng Sâm giết người. Báo đến ba tin, hôm sau đã lên đến Hà Nội, hôm sau nữa đến Việt Trì, lại hôm sau nữa đến Hòa Bình. Hoa vàng, cỏ lục. nước biếc, non xanh, cho hay là thói hữu tình, hãy cho thoát khỏi trong vành bước ra.

Khoa Kỷ Dậu tôi thi đã hỏng, khoa Nhâm Tứ tôi lại hỏng thi. Từ đấy chừa nghề thi. Thiên hạ còn thi  thiên hạ hãy còn người thi hỏng.

CTHĐ. Đọc chuyện thi cử ngày xưa tôi théc méc:

Không có chuyện thi trong nhà. Không có căn nhà nào đủ lớn để có thể làm trường thi cho cả ngàn thí sinh. Có những kỳ thi số thí sinh lên đến 4000 người. Có lẽ vì số thí sinh quá đông nên trường thi được dựng trên một bãi đất, có khi là cánh đống, ngoài tỉnh.

Thí sinh phải tự mang lều chõng vào trường thi, phải tự tay dựng lấy lều để ngồi làm bài thi. Buổi thi kéo dài từ sáng sớm đến chiều gần tối. Cơm nước có thể mang theo nhưng  không thấy ghi gì về việc thí sinh cần đi tiểu thì làm sao giải quyết. Tiểu thôi, nói gì đến đại. Việc nhỏ nhưng rất quan trọng.

Ông Tản Đà kể thí sinh phải ra cổng trường thi chép đề thi. Ngày xưa chưa có roneo, photocopy nên không thể in đề thi phát cho thí sinh. Tôi thấy việc ghi đề thi rất phiền nhiễu cho thí sinh. Đề thi được viết trên giấy, dán ở cổng trường, hay được đọc qua loa? Thí sinh viết bằng bút lông, bút lông muốn viết phải chấm mực, không lẽ khi ra cổng trường để ghi đề thi, thí sinh phải bưng theo cả nghiên mực cùng với giấy bút? Năm xưa ấy nước ta chưa có bút chì.

Cả ngàn ông chen chúc nhau ghi đề thi? Ghi đề cho sớm để về lều làm bài. Làm sao ghi?

Thí sinh được phát quyển, tức phát tập giấy, để viết bài thi. “Lĩnh xong quyển, vào xong vi..” Lấy tập giấy được phát để làm bài thi, vào xong vi là vào trong vòng rào của trường thi. Giấy đâu mà phát cho cả ngàn người trong một lúc?

o O o

Mời quý vị đọc sang chuyện khác:

CTHaDong@xxxxx.??? Sent: Saturday, May 09, 2015. To: hv@xxxxx.???

Rừng Phong 9 giờ sáng Thứ Bẩy. Được tin HV. Rất mừng. Mấy năm nay nhiều thân hữu bỏ tôi, nhiều độc giả bỏ tôi. Mất ai tôi cũng tiếc nhưng nếu mất HV tôi tiếc nhất.

Quá lâu không được thư nào của HV, biết HV về Việt Nam, tôi nghĩ HV về sống luôn ở VN hay sao? Hiện HV ở đâu? Kỳ Hoa hay Sài Gòn, Việt Nam?

Cô Alice càng ngày càng yếu. Có thể cô ra đi bất cứ lúc nào. Năm nay cô Tám Bó lẻ Bốn Que. Tôi sợ cô đi trước, phải sống thiếu cô, tôi sẽ khổ lắm. Tình cảnh đó có thể đến với tôi bất cứ lúc nào, nên tôi xuống tinh thần. Tôi phải nói là “xuống lắm”, tức không phải xuống vừa. Nay nhiều lần thấy cô nằm im, tôi nghĩ có thể cô đã đi rồi, cô đã xa tôi, mà tôi không biết.

Viết là việc tôi thích làm, ước mơ được làm từ năm tôi 10 tuổi. Tôi từng viết:

“Với tôi Viết là Hạnh Phúc. Tôi sống để Viết, tôi Viết để Sống.”

Đã viết dài dài trong 20 năm nay, tôi viết ngay từ ngày thứ hai tôi đến Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích; trên “hoanghaithuy.com” nay đã có 900 bài Viết ở Rừng Phong; nay tôi hết ý hay để viết. Có đề tài gì hấp dẫn, có gì trong tim tôi, tôi viết ra hết rồi. Nhiều lần đang viết, tôi thấy tôi vô duyên, viết chuyện nhạt, chuyện không đáng gì, tôi bỏ ngang bài viết.

Nhờ người bạn trẻ Bắc Thần dựng cho tôi Blog “hoanghaithuy.com,” tôi có điều kiện tìm ra, đọc lại những bài Viết ở Rừng Phong của tôi, những bài VoRP từ hai mươi năm nay. Nhiều lần muốn viết về một chuyện gì đó, chưa kịp viết thì tôi tình cờ thấy chuyện đó tôi đã viết rồi, đã viết từ năm, mười năm trước, chuyện đăng trong Blog của tôi. Nay nếu tôi viết lại đề tài ấy, bài sẽ nhạt hơn, vàng võ, còm cõi hơn bài trước. Tôi cũng không có hứng viết lại những gì tôi đã viết.

Từ năm 2003 cô Alice bị ngã, tôi bỏ hết mọi cuộc gặp anh em, tôi ở nhà 24/24 chăm nom cô. Tôi bỏ anh em nên anh em bỏ tôi. Tết vừa rồi, tôi thấy vợ chồng tôi cô đơn dễ sợ. Hoài Nguyên, con trai chúng tôi, ở Houston, Kiều Giang, con gái chúng tôi, ở Cincinnaty. HV biết dư tình cảnh người Việt sống ở Mỹ: phải bám víu job, không thể bỏ việc soành soạch để đến thành phố xa sống với bố mẹ già vài ngày.

Nay tôi ngày 3 lần Computer. Sáng 9 giờ đến 11.30 trưa, chiều 3 giờ đến 5 giờ, dành 1 giờ tập thể dục, tôi đi trên treadmill 30-40 phút, 20 phút tập tay với mấy quả tạ nhỏ. Nhà chúng tôi – housing for low-income seniors – thường được gọi là “Nhà Già” – vợ chồng tôi sống trong nhà già này từ 20 năm nay, nhà có Exercice Room với đủ các thứ máy tập ngay trong nhà. Mùa xuân, mùa thu tôi thích, tôi hay đi ngoài trời 60 phút, lúc 5, 6, 7 giờ chiều. Thành phố Mỹ sạch, vắng và đẹp. Cây xanh, hoa lá hai bên đường. Không rác bụi, không khói xe ô tô. Đi bộ thật đã. Phải nói là lý tưởng cho những người già thích đi bộ như tôi, người từng tập thể dục mỗi chiều trong phòng giam Nhà Tù Chí Hòa, người từng đi bộ trong Công Viên Lê Văn Tám, Hòa Hưng, nơi trước 1975 là nghĩa địa đô thành..

Thành phố chúng tôi sống có nhiều cây xanh. Virginia có danh hiệu là Virginia is for Lovers. Năm 1994 khi được ODP Saigon chấp thuận cho đi sang Mỹ, vợ chồng tôi chưa biết nên đến thành phố Mỹ nào thì chúng tôi được thư ông bạn Anh Ngọc gửi về. Trong thư có ảnh ông bà ngồi trên thảm cỏ xanh có những cánh lá vàng.

Tôi nói với Alice:

“Virginia đẹp quá. Chúng mình đến thành phố này nhé.”

Và đôi cánh đại bàng United Airlines đưa vợ chồng tôi qua Thái Bình Dương đến San Francisco. Và một buổi trưa Tháng 11, 1994 vợ chồng tôi đến phi trường Reagan, Washington DC.

Tôi vẫn mong được tin HV. Đừng bỏ tôi nhé. Hiện nay cuộc sống của HV ra sao? Cô Alice vẫn nhớ HV – 10 năm trước –HV làm cho cô một CD ghi tất cả những ca sĩ hát bản Les Feuilles mortes. Cô vẫn thường nghe CD ấy và nhớ HV. Chúc HV vui mạnh. HHT

From hv@xxxxx.???:

Bác Thủy và cô Alice quý mến

Cháu về VN, internet chậm quá nên không mở được emails comcast. Xin lỗi bác và cô Alice. Cháu kính gửi lời hỏi thăm sức khỏe cô Alice. Chúc Bác và cô luôn vui khỏe.

Đọc thư bác Thủy cháu xúc động. Cháu thật có lỗi với bác Thủy và cô Alice, biết cô Alice trông tin cháu mà cháu không liên lạc thăm hỏi gì cả.

Cháu vẫn ở Portland, OR. Cháu có bà chị bên nhà đã già mà ở một mình nên 1 năm cháu về VN vài ba tháng ở chơi với chị cháu.

Bên này thì cháu lu bu với gia đình mấy đứa nhỏ, hết đi California lại đi New York thăm cháu. Nhiều lần cháu muốn đến Washington DC thăm cô Alice mà không có dịp.

Nghe bác cho biết nay cô Alice ngày càng yếu, cháu buồn quá và thương cô quá. Cháu chỉ lo chuyện té ngã làm cô Alice đau nhức ngủ không được mỗi khi trở trời là khổ lắm.

Sức khỏe của bác Thủy ra sao ? Tuần nào cháu cũng vào blog đọc bài bác viết, bài nào cũng thấy hay thấy thích, không bao giờ nhàm chán. Bác Thủy còn viết được là cháu rất mừng, dù cháu cũng muốn bác ‘về hưu’ vì biết viết lách cũng cực nhọc lắm. Làm sao bây giờ? “Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ.”  Những nhà văn chống Cộng của thế hệ chúng ta dần dần rụng hết, còn được mấy người còn nhiệt huyết như bác ?? Thật buồn. bác ơi ..

Bác cứ viết đi dù bác có lập lại đề tài cả trăm nghìn lần độc giả cũng không chán vì phong cách viết của bác rất có duyên và rất tự nhiên. Chưa kể trí nhớ siêu việt và phong phú của bác, cháu muốn nói “uyên bác,” cháu luôn mến phục bác .

Cháu thích nhất là những câu chuyện bác kể về những sinh hoạt và kỷ niệm với những “nghệ sĩ” bạn của bác ở Sai Gon trước 75, những chuyện lôi cuốn và hấp dẫn. Đọc những bài viết đó cháu như được sống lại trong Sài Gòn thân yêu ngày xưa.

Về VN, đi giữa những con đường xưa nhưng nay mang những cái tên phố xa lạ, cháu buồn muốn khóc, như hôm cháu đến Chợ Ông Tạ – bây giờ là chợ Phạm Văn Hai – thấy người ta bán thịt cầy tơ trên vỉa hè trước chợ, cháu cứ miên man nhớ nghĩ đến bác: “Bác Thủy ngày xưa ở gần Chợ Ông Tạ,” “bác Thủy thích món thịt cầy”. Hu..hu.. bây giờ bác Thủy đi rồi, chợ ông Tạ nhìn…buồn thiu !

Bác Thủy nhé… bác không cô đơn đâu, hàng ngàn độc giả hàng tuần mong đọc bác. Bác vui đi, đừng bỏ viết, cháu xin bác thế thôi. Cháu luôn cầu xin cho bác được khỏe mạnh và có nhiều cảm hứng để viết.

Cháu HV

Rừng Phong. 10 giờ sáng July 3, 2015.

Cám ơn HV.

CHÁY ở KỲ HOA

US-POLITICS-OBAMA

Những năm 1970, khi đọc và dịch The First Circle của Alexandre Solzhenytsin thành Tầng Đầu Địa Ngục, tôi gặp lời tác giả viết:

“Sống trong kìm kẹp cộng sản người dân nào cũng phải vào tù ít nhất là một lần trong đời.”

Vấn đề thảo luận của những người tù trong The First Circle là:

“Người ta nên đi tù lúc trẻ hay nên đi tù lúc già?”

Viết thêm cho rõ:

“Sống trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, người dân nào cũng phải đi tù ít nhất là một lần trong đời, người ta đi tù lúc trẻ đỡ khổ hơn hay người ta đi tù lúc già đỡ khổ hơn?”

Người Tù Ngụy Kinh Sinh. Ảnh năm 2000.

Người Tù Ngụy Kinh Sinh. Ảnh năm 2000.

Sang Kỳ Hoa, tôi đọc được lời ông Nhà Văn Nga nói ở Kỳ Hoa:

“Khi ta nghe thằng cộng sản nói láo, ta phải có can đảm đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không dám nói nó nói láo, ta phải đứng lên bỏ đi. Nếu ta không dám bỏ đi, ta sẽ không nhắc những lời thằng cộng sản nói láo với người khác.”

Tôi cảm khái vì lời nói của ông Nhà Văn. Nhưng tôi nghĩ:

“Thằng cộng sản chỉ có thể nói láo ở nơi bọn chúng nắm quyền, ở nơi chúng có thể bỏ tù mút chỉ những người dân đòi tự do, đòi quyền làm người, ở những nơi người dân có thể chỉ mặt chúng, chửi thẳng vào mặt chúng:

“Chúng mày là những thằng nói láo. Chúng mày là những thằng ăn cắp.”

Ở Sài Gòn những năm sau năm 1975, khi  nghe thằng Cộng nói láo, tôi không thể đứng lên nói nó nói láo. Vì tôi chưa đứng lên, bọn công an Cộng đã nắm cổ tôi, đã còng tay tôi, đã đưa tôi đi tù năm bẩy niên. Còn ỡ những nơi bọn Cộng không cầm quyền, như ở Kỳ Hoa, làm sao thằng Cộng có thể nói láo? Nó vừa mở miệng là nó đã bị ngay các bà người Việt nhét đủ thứ vào mồm nó. Tôi nghĩ ta có thể nhắc lại những lời thằng Cộng nói láo với người khác với điều kiện ta phải nói rõ “thằng Cộng nói láo.”

Tháng Năm, Tháng Sáu 2015, nhân vật Việt Nam nổi đình đám nhất ở Mỹ là ông Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải. Nhân chuyện ông Cựu Tù Điếu Cầy đến Mỹ tôi nhắc lại việc đến Mỹ của một số nhân vật chính trị lưu vong thế giới.

Trước nhất và nổi tiếng nhất là ông Nhà Văn Nga Alexandre Solzhenytsin. Ông này bị bọn Đặc Vụ Nga bắt giữa đường, tống lên máy bay cho ra nước ngoài. Ông sang Đức, rồi sang sống ở Mỹ. Ông có viết một số sách ở Mỹ nhưng những tác phẩm này của ông không còn hấp dẫn người đọc thế giới nữa. Người thế giới quên ông, người Nga cũng quên ông. Thời ông Nhà Văn Nga mới đi lưu vong là thời Tổng Thống Carter, thời Tổng Thống Reagan. Hai  ông Tổng Thống Mỹ không ông nào gặp mặt, nhắc đến tên ông Nhà Văn, nói gì đến chuyện ông Nhà Văn được Tổng Thống Mỹ mời đến Nhà Trắng.

Trường hợp của ông Sozhenitsyn cho người ta thấy những nhà đấu tranh cho dân chủ chỉ có giá trị khi sống và đấu tranh với nhà cầm quyền độc tài ở trong nước của các ông. Một khi các ông ra khỏi nước, đến sống ở những quốc gia dân chủ Âu Mỹ, các ông cũng giống như tất cả những người lưu vong khác.

Từ lâu bọn Cộng Sản Nga, Tầu vẫn xử dụng chiến thuật tôi gọi là Chính Trị Con Tin. Chúng bắt giam tù một hai nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Chính phủ Hoa Kỳ, và nhân dân Hoa Kỳ, lên tiếng xin được lãnh những nhận vật này, bọn Cộng thả cho họ đi đổi lấy một số thuận lợi chính trị. Và cứ như thế: bắt giam, Mỹ xin, thả, cho đi.

Và những nhân vật này khi ra sống ở nước ngoài là mất hết giá trị. Tình trạng này gọi là “bị cháy.”

Ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh là người tù chính trị thứ nhất được đón sang Mỹ theo cách thức đó. Tháng 11 năm 1997, ông Tù Ngụy đang sống trong một trại tù khổ sai, một ông viên chức Mỹ đến tận nhà tù đón ông, đưa ông lên phi cơ, ông Mỹ này cùng ông Tù Ngụy bay thẳng sang Mỹ.

Tháng 11 năm 1997 tôi – CTHĐ – vì đã sống ở Mỹ nên có điều kiện theo dõi sự kiện ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh đến Mỹ. Khi ông đến New York ông hết thuốc lá. Ông nghiện hút một hiệu thuốc lá Tầu Cộng. Người Mỹ lao nhao đến những tiệm thực phẩm-tạp hóa của người Tầu ở Phố Tầu ở New York tìm mua hiệu thuốc lá Tầu ấy cho ông. Bản tin không cho  biết người Mỹ có tìm được hiệu thuốc ông khách quí hút ở Chinatown New York hay không.

Người Mỹ đưa ông Tầu Ngụy đến Nhà Trắng ở Washington DC. Năm 1997 chính phủ Clinton còn nể mặt bọn lãnh tụ Tầu Cộng nên TT Bill Clinton không chính thức tiếp ông Tầu Ngụy. Khi ông Tầu Ngụy ngồi trong văn phòng một ông Tham Vụ Báo Chí trong Nhà Trắng, TT Clinton làm như tình cờ đi ngang, ghé vào văn phòng này, bắt tay, ngồi nói chuyện với ông Ngụy Kinh Sinh vài phút.

taphongtan

Tình hình khác hẳn trong năm nay – 2015 – khi ông Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải đến Mỹ. Ông Điếu Cầy đến Mỹ một mình, chỉ có người Việt đến đón ông ở phi trường Mỹ. Nhưng sau đó ông được TT Obama mời đến gặp. Ông Điếu Cầy, khi ở trong tù. là nhân vật chính trị Việt Nam duy nhất được ông TT Mỹ Obama nhắc đến:

“Lúc này chúng ta nên nhớ đến ông Điếu Cầy đang ở trong tù.”

Ông Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải là người tù duy nhất trên thế giới được một ông Tổng Thống Mỹ đang tại chức nhắc đến. Ông là người tù Việt được chính phủ Mỹ đón trịnh trọng nhất. Nhưng rồi trong thời gian tới giá trị của ông sẽ ra sao!

Trước người tù Điếu Cầy, cộng đồng người Việt ở Mỹ có người tù Trần Khải Thanh Thủy. Bà này được nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam đến tận trại tù khổ sai, đón ra, đưa lên phi cơ bay sang Mỹ. Nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ ở Việt Nam cùng đi với bà sang Mỹ. Đến Mỹ bà nói bà sẽ viết một số tác phẩm, và theo lời bà “những tác phẩm này sẽ là những trái bom nổ giữa thời bình.”

Đến Mỹ giữa năm 2011, bà  TK Thanh Thủy có viết một số bài đăng báo, bà xuất bản tác phẩm “Chết Ngoài Kế Hoạch.”  Theo thông lệ “sang Mỹ là cháy,” bà chìm dần trong biển dâu lưu vong, bà phải bận tâm về sinh kế, bà phải sống như những người Việt ở Mỹ.

o O o

Theo dõi những hoạt động của ông Ngụy Kinh Sinh tôi thấy khi Giang Trạch Dân được chính phủ Anh mời sang nước Anh; Họ Giang được bà Vua Elizabeth mời ngồi chung xe tứ mã dạo một vòng trong thủ đô London. Bà Vua Anh chỉ mời một số rất ít thượng khách ngồi chung xe tứ mã đi dạo với bà, trong số thượng khách ít ỏi ấy có Tổng Thống Pháp Charles De Gaule. Tin cho biết ông Ngụy Kinh Sinh, cùng một số người Tầu, đến biểu tình đả đảo Độc Tài Giang Trạch Dân, họ tụ tập ở bên đường xe Hoàng Gia Anh đi qua. Cảnh sát Anh đến mời tất cả những người Tầu biểu tình, tất nhiên trong số có ông Ngụy Kinh Sinh, đưa đến giữ ở một trường học, vài giờ sau thả ra.

Đại diện Cảnh Sát nói:

“Quốc khách của chúng tôi không phải là người để các ông bà đả đảo.”

Đến Mỹ cuối năm 1997, tới nay đã gấn 20 năm, trên Internet thấy ông Ngụy Kinh Sinh nói từ ngày đến Mỹ ông làm được rất nhiều việc, trong số có việc ông thành lập rất nhiều Wei Jingsheng Foundation. Việc người ta thấy rõ là ông mập ra, ông bận com-lê vẹt-tông, mặt ông tròn đầy, bụng ông phệ. Ông là một ông Tầu Bơ Sữa như cả triệu ông Tầu Bơ Sữa ở Kỳ Hoa. Và bọn Tầu Cộng vẫn cứ ngồi cao ở trong nước Tầu.

Khi Tập Cận Bình đến thăm một thành phố Mỹ, cảnh sát Mỹ ngăn không cho bất cứ ai đến gần Tập Cận Bình. Ngăn ở xa đến 1 mile.

o O o

Cô Tạ Minh Tú, em của tù nhân Tạ Phong Tần kể về chuyến đi thăm cô Tần hiện đang bị giam ở Trại giam Số 5, Thanh Hóa. Người phỏng vấn là phóng viên Gia Minh:

Gia Minh: Chị đến thăm ở trại thì tình hình ra sao và thăm được bao lâu?

Tạ Minh Tú: Đi thăm nói được có mấy tiếng thì an ninh nó lôi chị Tần ngược vô trại vì chị có cự cãi nó. Chị tôi kể chuyện trong trại giam chị bị bọn cùng tù chúng nó khủng bố tinh thần: chúng chửi chị, chửi tục tĩu và chửi luôn tới cả bà mẹ chị. Chị nói là cái nón lá chị đội có để chữ Hoàng Sa – Trường Sa. Bọn nó giật của chị, xé rách nón.

Gia Minh: Đây là lần đi thăm hằng tháng hay là mấy tháng mới thăm lại như thế?

Tạ Minh TúHai tháng mới được đến thăm một lần.

Gia MinhSức khỏe của chị Tần như thế nào và chị có nhắn điều gì không?

Tạ Minh Tú: Hiện chị tôi đang bị viêm họng. Nói chuyện thì không nói được lớn. Chị tôi dặn tôi là làm hồ sơ kháng án nữa. Mới nói tới đó là nó đã lôi chị vô.

Gia Minh: Như vậy lần này tình hình có khác gì hơn với những lần thăm trước không?

Tạ Minh Tú: Lần này khác hơn. Lần này nó khủng bố tinh thần chị tôi nặng gấp đôi. Lúc trước nó chỉ kiếm chuyện nó chửi thôi, chị Tần tôi đã làm đơn khiếu nại với quản giáo nhưng quản giáo  làm lơ, không giải quyết.

Cô Tạ Phong Tần sinh năm 1968 tại Bạc Liêu. Cô  từng là  sĩ quan công an. Cô là một thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do cùng với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, và luật gia Phan Thanh Hải. Cô có blog mang tên “Công Lý & Sự Thật” đăng tải những bài viết chống tham nhũng, bất công tại Việt Nam. Trên blog của cô, cô chửi bọn Công An Cộng Sản tàn tệ.

Cô bị bắt tháng 9 năm 2011 với  tội danh ‘tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam’. Phiên tòa sơ thẩm  ngày 24 tháng 9 năm 2012 tuyên án cô 10 năm tù giam. Phiên phúc thẩm  ngày 28 tháng 12 cùng năm y án sơ thẩm đối với cô Tạ Phong Tần.

Án tù 10 năm khổ sai, người tù phải ở tù ít nhất là 7 năm. Nếu không có gì xẩy ra – viết rõ là nếu người tù Tạ Phong Tần không được người Mỹ xin thả, lãnh đưa sang Mỹ, cô sẽ bị hành hạ trong tù đến năm 2020.

Ngày 30 tháng 7 năm 2012 bà mẹ cô Tạ Phong Tần tự thiêu tại khu hành chính tỉnh Bạc Liêu.

Tháng 3 năm 2012, nhân Ngày Phụ Nữ Quốc Tế, cô Tạ Phong Tần, được chính phủ Hoa Kỳ vinh danh là một trong 10 phụ nữ cam đảm trên thế giới.

Thư của bà Đặng Thị Kim Liêng, bà mẹ của tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần. Bà Kim Liêng viết thư này trước khi tự thiêu:

Tại sao tôi phải chết?

Tôi phải chết vì chính quyền trù dập, dùng thủ đoạn gài bẫy, cột đủ thứ tội lên vai tôi, vu khống tôi để lấy nhà của tôi.

Những người đe dọa tôi  gồm một số nhân viên An Ninh như:

– Bùi Thanh Đào – Nguyễn Thành Trí.
– Vương Thị Mỹ Dung – Lưu Văn Tháo (?)
– Quách Văn Hiếu – Phan Trung Hiếu
– Bà Dự – cùng một số người khác.

Họ thừa nước đục thả câu, họ mượn gió bẻ măng, họ đưa tôi vào con đường chết.
Chúc các người sống vui vẻ hưởng thụ trên cái chết của tôi.

Đặng Thị Kim Liêng

Theo Wikipedia, Ngày 30 tháng 7 năm 2012, trước trụ sở chính quyền thành phố Bạc Liêu, bà Đặng Thị Kim Liêng đã tự thiêu để phản đối chính quyền Việt Nam trong việc giam giữ và chuẩn bị đưa ra xét xử con gái bà là Tạ Phong Tần.

Bà được đưa đi cấp cứu từ Bặc Liêu lên Sài Gòn, nơi có phương tiện y tế hiện đại hơn, nhưng bà đã qua đời trên đường đi vào lúc 15 giờ 30. Theo con gái của bà Liêng là bà Tú thì mẹ bà có hành động này là do gần đây gặp nhiều chuyện buồn và việc bà Tần sắp phải ra tòa về tội tuyên truyền chống Nhà nước. Bà Tú nói trong gia đình không ai biết gì về ý định tự thiêu của bà Liêng dù gần đây bà gặp đủ thứ chuyện buồn. Sau khi tự thiêu  bà Liêng bị bỏng đến 90% và rơi vào trạng thái hôn mê. Con trai bà khi được vào viện để nhận mặt thì kể là thân thể bà  “bị cháy đen”.

Bà Liêng thọ 64 tuổi.

Trong bài này có bức ảnh ghi cảnh cô Tạ Phong Tần và ông Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải trước tòa án. Ảnh làm tôi – CTHĐ – cảm khái. Và ngậm ngùi. Hai người tranh đấu cho Dân Quyền bị bọn Cộng bắt, đưa ra tòa xử cùng trong một phiên xử. Hai người đứng ngang nhau. Thế rồi, năm tháng qua một người tù sang Mỹ, ngồi cạnh, ngồi ngang hàng với ông Tổng Thống Mỹ, người kia bị đầy ải trong ngục tù cộng sản.

Rất có thể một ngày nào đó cô Tạ Phong Tần cũng sẽ sang Mỹ. Nếu sang Mỹ cô cũng sẽ được chào đón nhiệt tình trong một thời gian, nhưng rồi tình cảm sẽ phai nhạt đi, cô cũng sẽ “bị cháy” như Trần Khải Thanh Thủy, người sang Mỹ trước cô.

Phải chăng người ta nói đúng:

“Người tranh đấu nào khi sang Mỹ cũng bị cháy.”

Cảm khái cách gì.

TÌNH YÊU BẨY CHỮ

Julie Foudy

Julie Foudy

Mùa Xuân năm 1991 tôi từ Trại Cải Tạo Z30 A trở về mái nhà xưa sau 6 năm xa cách. Nhờ có tiền các bạn tôi ở những nước Âu Mỹ, Úc gửi về giúp, vợ tôi mua một máy TiVi Sanyo để sẵn cho chồng nàng ở tù về xem. TiVi Mầu. Lần thứ nhất – tình cờ mở đài – tôi được xem trên TiVi trận đá banh của hai Đội Tuyển Nữ: Đội Nữ Hoa Kỳ và Đội Nữ Tầu Cộng.

Xem trận đá banh Nữ thứ nhất trong đời ấy tôi được hưởng cái lạc thú Đội Nữ Mỹ thắng, Đôi Nữ Tầu thua. Lần thứ nhất trong đời tôi thấy Mia Hamm và Julie Foudy: hai nữ cầu thủ Mỹ. Liền tù tì túy suỵt tôi mê Mia Hamm nhất, tôi mê Julie Foudy nhì.

Hôm nay khi viết bài này tôi phải qua một giờ mò tìm trên Internet những tấm ảnh của các nàng để đăng cùng trong bài. Ảnh các nàng có ê hề trên Net, nhưng tôi cần có ảnh các nàng đẹp, hấp dẫn theo ý tôi. Các nàng tôi mê đây là ba nàng: Mia Hamm, Julie Foudy và Brandi Chastain.

Tại sao Đội Bóng Mỹ Nữ thứ nhất lại có nhiều nàng có duyên đến thế?? Vừa xuất hiện trên sân có, các nàng sáng như những ngôi sao, tất cả các nàng trong Đội Nữ Mỹ thứ nhất đều có sắc, có tài, dễ thương, Vừa xuất hiện, các nàng đoạt ngay Giải Vô Địch Thế Giới, các nàng chế ngự thế giới Banh Tròn trong nhiều năm. Tuy tôi vẫn xem đều những trận Hội Tuyển Soccer Mỹ Nữ trổ tài trên sân cỏ nhưng tôi thấy trong bao nhiều năm – từ 1991 tới nay, 2015 – không một nàng nào làm tôi ái mộ như Mia Hamm, như Julie Foudy.

Tôi thán phục Brandi Chastain: trong trận chung kết Tranh Cúp Vô Địch Thế Giới với Đội Tầu Nữ, hai đội hòa nhau. Đá thêm giờ hai lần vẫn hòa. Trận đấu giải quyết bằng 5 trái bóng đá từ 6 mét vào gôn. Chastain đá trái cuối cùng. Thủ môn Tầu bắt không trúng. Banh đi vào lưới. Giữa tiếng hoan hô vang động cầu trường, Chastain mừng, nàng cởi áo biểu diễn niềm vui của nàng. Trước mắt cả mấy chục ngàn người, nàng cởi áo, phất áo. Một kiểu tỏ lộ mừng vui si-po rất phụ nữ Mỹ. Nhiều nam cầu thủ bắt chước Chastain cởi áo trên sân. FIFA phải ra lệnh cấm cởi áo. Những nam cầu thủ ghi bàn thắng cởi áo trên sân không có một xu teng đẹp mắt. Bắt chước cũng không xong.

Viết, nói đến Đội Bóng Mỹ Nữ mà quên không nhắc đến Briana Scurry là một thiếu sót. Nàng thủ môn Mỹ Đen, thủ môn da đen thứ nhất của Đội Mỹ Nữ. Scurry là tuyển thủ Nữ Mỹ Đen duy nhất trong Đội Cầu Nữ Mỹ thứ nhất. CTHĐ tôi thấy Scurry quả có bị thiệt thòi.

Mia Hamm. Julie Foudy giã từ sân cỏ từ lâu. Nhưng hình ảnh hai nàng vẫn thấp thoáng trên màn hình TiVi mỗi lần tôi xem Đội Banh Nữ Mỹ tranh tài.

Mia Hamm. Champion 1999.

Mia Hamm. Champion 1999.

Tôi hào hứng khi Đội Banh Nữ Mỹ thắng, tôi ỉu sìu sìu như bánh mì gặp nước mưa khi Đội Banh Nữ Mỹ thua. Tôi cảm thấy tính co rãn của Thời Gian khi xem những trận ra sân của Đội Mỹ: khi Đội Nữ Mỹ dẫn gôn – 2/1 – tôi hồi hộp mong Thời Gian qua mau, để đối thủ không thể gỡ hòa, khi Đội Nữ Mỹ thua bàn, tôi bồi hồi mong Thời Gian qua thật chậm để Đội Nữ Mỹ gỡ hòa. Không những chỉ gỡ hòa mà còn đá ghi bàn thắng. Chuyện đáng nói là khi tôi mong Thời Gian qua nhanh, nó qua chậm rì rì; khi tôi mong Thởi Gian qua chậm, nó qua vùn vụt.

Giải Vô Địch Soccer Nữ Thế Giới đang được tranh ở Canada khi tôi viết những dòng chữ này. Tôi mong Đội Nữ Mỹ đoạt Cúp Vô Địch Thế Giới năm nay. 2015.

Tôi hơn ông Tầu Kim Thánh Thán ở  việc tôi có thể hưởng tất cả 36 cái khoái lạc ông kể, ông không thể hưởng cái khoái lạc thấy Đội Bóng Nữ Mỹ thắng như tôi.

Đội Bóng Nữ Mỹ vừa đá mấy trận đầu đã nổi danh, đã được coi là Đội Bóng Đàn Chị. Trong khi đó Đội Bóng Tròn Nam Mỹ – Đội Đàn Ông Mỹ – thành tích rất dở, đá banh không ra làm sao cả. Thật khó hiểu: tại sao cùng một dân tộc, phụ nữ đá banh thật giỏi mà đám đàn ông đá banh thật dở.

Không nhớ rõ năm bao nhiêu – cũng chẳng cần phải ghi rõ năm tháng, chỉ cần nói là một năm sau năm 1975 – một tối nằm nghe radio  trong căn gác lửng tối om vo ve tiếng muỗi, tôi nghe tin Đài BBC loan về một trận tranh tài Bóng Bàn Thế Giới: Đội Tuyển Bóng Bàn Tầu Cộng đoạt tất cả các chức Vô Địch Thế Giới.

Brandi Chastain

Brandi Chastain

Tất cả các chức Vô Địch ở đây là Bẩy Vô Địch;

1 – Vô Địch Đơn Nam.

2 –  Vô Địch Đơn Nữ.

3 –  Vô Địch Đôi Nam.

4 – Vô Địch Đôi Nữ.

5 – Vô Đich Đôi Nam Nữ

6 – Vô Địch Toàn Đội.

Và:

7 –  Vô Địch Trưởng Đoàn.

Trong trận tranh giải này các ông Trưởng Đoàn Hội Tuyển cũng thi tài với nhau, Trưởng Đoàn Tầu Cộng đoạt Cúp Vô Địch.

Khi tôi nói théc méc của tôi với bạn tôi:

“Sao bọn Tầu nó chơi bóng bàn hay quá thể?”

Bạn tôi nói:

“Mỗi ngày có 50 triệu tên Tầu chơi ping-pong; làm sao chúng nó lại không giỏi.”

Nhưng… Mỗi ngày có 200 triệu tên Tầu đá bóng, sao chúng nó đá dở thế? Quá bết.

o O o

Tháng Sáu 2015, vụ hai anh tù Mỹ vượt ra được Nhà Tù gọi là loại Nhà Tù Maximum Security – An Ninh Tối Đa – của Mỹ ở New York là một tin mà làng báo Sài Gòn Xưa – những năm 1950, 1960 – gọi là Tin Giật Gân, Tin sì-căng-đan: Scandal.

Cách nay khoảng hai năm, một sì-căng-đan xẩy ra trong một nhà tù Mỹ cho người ta thấy tình trạng bê bối trong những nhà tù Mỹ. Trong một nhà tù Mỹ – dường như ở thành phố Baltimore – có đến 4 chị giám thị – Nữ Cai Tù – có chửa với một anh Tù Đen bị tù vì tội cướp của, giết người. Bốn chị Cai Tù – không phải một, hai chị mà bốn chị – không chỉ đem thân cho anh Tù Đen chơi thả dàn mà còn đưa cellphone vào phòng giam cho anh Tù; anh Tù này thoải mái dùng cellphone liên lạc với đồng bọn ngoài nhà tù, thân nằm trong tù, anh vẫn chỉ huy được bọn đàn em bên ngoài thực hiện những vụ làm ăn phạm pháp.

Tôi ngỡ ngàng trước những vụ bê bối như thế xẩy ra dài dài trong những nhà tù Mỹ. Bốn chị Cai Tù có thể sa đọa – vì Tiền, vì Dzâm, vì Ngu – nhưng nhà tù còn bao nhiều Cai Tù khác, những Cai Tù lương thiện tất có người biết việc làm của bọn Cai Tù gian manh, sao những trò Sex Nặng như thế có thể xẩy ra?

Tháng Sáu hai anh Tù Mỹ được một chị Cai Tù lén đưa cho dụng cụ kìm, búa, cưa, rũa, hai anh cắt tường sắt của Nhà Tù, chui ống cống ra được bên ngoài. Hai anh chui lên từ một nắp cống ở giữa đường. Cảnh sát tìm ra ngay nắp cống này chỉ hai, ba giờ sau khi hai anh tù chui lên đường. Chó săn của cảnh sát  đưa đến đánh hơi, dẫn cảnh sát đi theo hơi người hai anh tù vào khu rừng gần nhà tù. Hai anh này mất tích luôn. Tới hôm này hai anh Tù đã ra đi được  14 ngày. Chị Cai Tù bị bắt. Có tin hai anh tù đã sang Mexico.

Đúng là “Ở trong chăn mới biết chăn có rận.” Tưởng xã hội Mỹ cái gì cũng tốt là ngớ ngẩn.

Nhà Tù Chí Hòa ở Sài Gòn – Nhà Tù Lớn Nhất, Hiện Đại Nhất, Kiên Cố Nhất Đông Dương – vẫn được kể là “Nhà Tù Không Anh Tù nào có thể vượt ngục “– anh em tù kể cho nhau nghe chuyện bọn xây Nhà Tù Chí Hòa đã chôn sống 4 cô trinh nữ ở giữa sân nhà tù, bốn hồn oan trinh nữ này giữ cho không anh tù nào có thể vượt ra khỏi nhà tù

Như thị ngã văn.. Như thị ngã thuật… Chuyện tôi nghe như thế, tôi kể như thế. Nhưng tôi vẫn nghĩ: “Chuyện bịa.”Năm 1988 trong một đêm mưa, vào lúc nửa đêm, nhiều anh tù đang say giấc điệp, trong số có tôi, tù nhân Phòng 10 Khu ED, bỗng choàng tỉnh khi nghe tiếng hô:

“Đứng lại. Nằm xuống.”

Tiếp đó là ba, bốn tiếng súng nổ vang.

Hôm sau được biết có một số nh em tù ở phòng giam dưới đất cắt song sắt thoát được ra khỏi phòng gian, cậy nắp cồng  trong sân chui xuống, mò trong ống cống chui ra. Nhưng anh em chưa chui ống cống ra được bên ngoài vòng tường bao quanh nhà tù đã đẩy nắp cống chui lên. Không anh tù nào biết số anh em tù vượt ngục bị bắt lại ấy bị giam ở đâu, số phận anh em ra sao.

Nhà Tù Chí Hòa là nhà tù giam những phạm nhân đã có án, không phải là nhà tù thẩm vấn, nên chỉ có một số sà-lim ở chân thang lầu dùng để giam những tù nhân vi phạm kỷ luật. Thang xoáy chôn ốc. Nhà Tù Chí Hòa có một khu gọi là Khu Kiên Giam. Khu này có những phòng nhỏ, trong có cầu tiêu, một phòng giam được hai người thoải mái.

Năm 1978 tôi nằm 12 tháng trong một xà-lim  Khu C Một Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu. Qua cửa gió xà-lim tôi nhìn thấy ông Lê Khải Trạch, Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin thời Bộ Trưởng Trần Chánh Thành. Ông Trạch nằm Phòng Tập Thề Số 3 C 1 cùng với nhà thầu khoán Trần Ngọc Trình. Năm 1980 tôi ra tù, hỏi thăm về ông Trạch, bà Trạch cho biết ông Trạch bị mất tích. Bộ Nội Vụ, hay Cục Quản Lý Trại Giam, gửi một thư cho bà Trạch, thư viết “Người Tù Lê Khải Trạch mất tích trên đường chuyển trại.”

Có người nói ông Lê Khải Trạch bị bọn Cai Tù đưa đi “thủ tiêu” – bọn Cai Tù VC gọi “thủ tiêu” là giết. Tôi không tin chuyện ấy. Nếu bọn VC muốn giết ông Lê Khải Trạch, chúng đã giết ông ngay từ cuối năm 1975 khi ông bị chúng bắt.

Việc ông Lê Khải Trạch mất tích trong tù CS là một bí mật.

o O o

Cuba bị Castro và đồng bọn chiếm chính quyền từ năm 1960. Từ năm ấy – 1960 – các chính phủ Mỹ liên tiếp không bang giao với Cuba, cô lập Cuba, bao vây Cuba. Người Mỹ chờ đợi dân Cuba nổi dậy lật đổ chế độ Castro. Nhưng việc đó đã không xẩy ra. Qua 60 năm, đến nay Chính phủ Obama lập lại bang giao với Cuba. Theo ý ngu của tôi: Castro và đồng bọn đã thắng Mỹ Tư Bổn.

dancingTôi nghĩ hôm nay trên cõi đời này còn rất ít quí vị người Việt nhớ bộ phim Our Man in Havana – Điệp Viên Ta ở Havana. Phim Mỹ, được làm năm 1959, chiếu trên màn ảnh xi-nê Sài Gòn năm 1960. Phim đen trắng. Diễn viên: Maureen O’Hara, Alec Guiness, Jo Morrow. Phim làm theo tiểu thuyết Our Man in Havana của Graham Greene. Tôi có xem phim này, tôi có đọc truyện này, nhưng tất nhiên qua 60 năm, tôi chỉ còn nhớ lờ mờ cốt truyện.

Our Man in Havana trên Internet:

Chuyện xẩy ra vào thời gian Cuba còn Tổng Thống Batista. Viết rõ hơn: khi bọn Castro chưa vào Havana, khi Tổng Thống Batista chưa chạy sang Mỹ. Một thường dân Mỹ tên là James Wornmold – Alec Guiness thủ vai – chủ tiệm bán máy hút bụi, máy giặt ở Havana. James góa vợ, hay bị vợ bỏ, sống độc thân với cô con gái 17 tuổi. James được một nhân viên Tình Báo Anh – Intelligence Service – hoạt động ở Havana đề nghị anh lấy tin và gửi tin Cuba cho IS. Vì nhàn rỗi, vì tò mò, và vì cần tiền, James nhận lời. Để được IS cấp thêm tiền, James bịa ra chuyện anh lấy tin từ người nọ, người kia. Những báo cáo của anh không mấy hấp dẫn, nên IS không chi thêm tiền cho anh. Một hôm ngồi buồn trong tiệm, nhìn mấy cái máy hút bụi không ai mua, James bỗng nghĩ ra chuyện báo cáo Nga Xô vừa cho đặt một dàn phóng hỏa tiễn trong lãnh thổ Cuba. Dàn phóng được đặt trong một vùng rừng núi Cuba và tất nhiên là được dấu kín, được bảo vệ tối đa. Tin bịa này của chàng điệp viên bất đắc dĩ – cũng tất nhiên – được IS vố lấy khai thác. Năm ấy trận chiến tranh lạnh đang kịch liệt diễn ra giửa Hoa Kỳ là Liên Bang Xô Viết – gọi tắt là Nga Xô – việc Nga Xô đặt dàn hỏa tiễn trên đất CuBa, sát ngay Hoa Kỳ, là một đại họa cho Hoa Kỳ. Điệp viên James được IS  chú ý, khai thác tận tình. Tin trong lãnh thổ Cuba có dàn phóng hỏa tiễn của Nga Xô được loan báo trên khắp thế giới. Intelligence Serrvice, gửi một nữ điệp viên đến Havana làm thư ký cho James.

Nàng điêp viên-thư ký này do cô đào Mareen O’Hara thủ diễn. Cô đến và chẳng bao lâu sau khi cô đến James thú thật với cô về hành động bịp bợm của anh. Cô điêp viên thứ thiệt vì yêu James nên tìm cách cứu anh. James không những là không bị kết tội báo cáo láo mà còn được vinh danh và đưa về nước, cho nghỉ hưu trong danh dự.

Our Man in Havana được Graham Greene viết như một tiểu thuyết chế riễu những công vụ gọi là điệp báo của những tổ chức Intelligence Servive, CIA. Người ta đọc Our Man in Havana như đọc một tiểu thuyết giải trí.

Nhưng năm 1961 Nga Xô quả thật có cho đặt một dàn phóng hỏa tiễn trên đất Cuba. Tổng Thống John F. Kennedy quyết liệt phản đối, đòi Nga Xô phải tháo gỡ ngay dàn hỏa tiễn. Quá thời hạn do chính phủ Mỹ định, Mỹ sẽ dùng quân lực tấn công Cuba. Krushev tuyên bố Liên Xô sẽ bảo vệ Cuba. Hải Quân Mỹ bao vây biển Cuba, Chiến hạm Nga Xô đến cứu Cuba. Chiến tranh Mỹ Nga sẽ nổ ra trong sớm tối. Nhưng rồi Nga Xô nhượng bộ, chịu tháo gỡ dàn phóng đem đi.

Castro tuyên bố:

“Dàn phóng hỏa tiễn trong lãnh thổ Cuba là của Cuba. Liên Xô không có quyền đem dàn phóng ra khỏi Cuba.”

Nhưng rồi  Nga Xô cũng tháo dàn phóng đem đi. TT. Kennedy thắng Krushev trong trận này.

o O o

Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục anh và em sống mãi bên nhau.”

Đó là lời Ân Tố Tố nói với Trương Thúy Sơn trong đêm họ mới yêu nhau, họ ân ái với nhau lần đầu, họ nằm ôm nhau trong khoang thuyền đưa họ lên biển Bắc.

Với tôi, đó là lời Tuyên Ngôn của Tuyệt Đỉnh Tình Yêu – TÌNH YÊU viết Hoa bẩy Chữ, Hoa luôn dấu Huyền, dấu Mũ –  Đây là lời biểu lộ về Tình Yêu thứ hai làm tôi cảm khái.

Trong phim Havana Nights – Đêm Havana – những năm Castro và đồng bọn chưa vào Havana – Người thiếu nữ Mỹ là con gái một thương gia Mỹ ở Havana, chàng thanh niên là dân Cuba. Họ gặp nhau trong một phòng dậy khiêu vũ. Nàng và chàng cùng yêu khiêu vũ, họ nhẩy rất đẹp và họ đẹp đôi. Họ yêu nhau. Họ cố luyện tập để dự một đại dạ hội khiêu vũ sắp được tổ chức ở Havana. Nếu họ đoạt Giải Nhất, Tiền Giải 5.000 Đô Mỹ sẽ dành cho chàng sang Mỹ du học.

Nhưng dạ hội khiêu vũ chưa kịp tổ chức thì bọn Castro kéo vào Havana. Nàng phải theo gia đình nàng về Mỹ. Đêm. Đôi tình nhân nhẩy với nhau lần cuối.

Trước khi chia tay nhau vĩnh viễn, họ hôn nhau, nàng để bàn tay chàng lên chỗ trái tim nàng:

havana“Em đưa anh sang Mỹ với em.”

Chàng đặt bàn tay nàng lên trái tim chàng:

“Anh giữ em ở lại đây với anh.”

Phụ đề tiếng Việt:

“Em đưa anh sang Mỹ với Em trong trái tim Em.”

“Anh giữ Em ở lại đây với Anh trong trái tim Anh.”

Ôi.. TÌNH YÊU..! TÌNH YÊU viết Hoa bẩy Chữ, Hoa luôn dấu Huyền, dấu Mũ, Hoa luôn dấu “chấm than !”

Cảm khái cách gì!

Cảm khái quá chời.

VÌ TÌNH YÊU Ý MAI

himes1

Trong một Dancing tại Sài Gòn những năm 1970, vào lúc 11 giờ đêm, khách mới không còn đến, khách đến từ 8 giờ đã bắt đầu ra về, cảnh trong Dancing trầm buồn. Em ca sĩ đứng trước micro:

“Để thay đổi không khí, LT xin trình bầy bản…”

Không khí Rừng Phong không trầm buồn, nhưng lâu lâu cũng nên cho Viết ở Rừng Phong thay đổi không khí..Mời quí vị đọc một đoạn tiểu thuyết.

Đoạn truyện này trích trong truyện phơi-ơ-tông Hắc Lâm Cuồng Nộ – tiểu thuyết phóng tác; nguyên bản A Rage in Harlem của người viết Chester Himes, văn sĩ Mỹ Đen, nổi tiếng về loại tiểu thuyết gọi là Thriller, Detective. Tiểu thuyết Mỹ có cái trò đổi tên truyên khi tái bản: A Rage in Harlem còn có những tên For The Love of  Imabel, The Four Cornered Stone..v..v.. Nhân vật trong những tiểu thuyết của Chester Himes toàn là Mỹ Đen.

A Rage in Harlem mở đầu bằng cảnh một bọn lưu manh Mỹ Đen lừa dân Mỹ Đen khờ khạo bằng trò “Bạc Đẻ’ : làm tờ giấy bạc 10 đô trở thành tờ 100 đô. Năm 2005, tôi – CTHĐ – thấy có tin cái gọi là trò Bạc Đẻ được diễn ở Sài Gòn.

hime3Mời quí vị vào truyện:

Tư Hãn đếm lại sấp giấy bạc: 150 tờ giấy 10 đô-la. Ðếm xong, Y hỏi Vũ Son bằng vẻ mặt và giọng nói hết sức trang trọng:

— Anh chia cho tôi mười phần trăm, như ta đã thỏa thuận. Ðúng không?

Vũ Son gật đầu:

— Ðúng. Tôi sẽ chia cho anh mười phần trăm.

Văn Ðô, gã thanh niên Mỹ đen thứ ba trong cuộc họp mặt, thấy cần phải lên tiếng:

— Phần tôi là năm phần trăm. Tôi đươc chia bảy trăm năm mươi đô. Ðúng không? Yêu cầu xác nhận lần cuối.

Như vậy là Vũ Son phải chia một ngàn năm trăm đô cho Tư Hãn, bẩy trăm năm mười đô cho Văn Ðô, số tiền còn lại là mười hai ngàn bảy trăm năm mưôi đô chẵn. Anh lại gật đầu:

— Ðúng. Phần môi giới của anh là bảy trăm năm mươi đô.

Người lên tiếng cuối cùng về việc chia tiền là Ý Mai:

— Còn bao nhiêu là của tôi hết.

Ba gã đàn ông cùng cười, những tiếng cười vừa tham lam, chờ đợi vừa gượng gạo.

Ý Mai đươc coi là vợ của Vũ Son. Nàng là người thiếu nữ da đen vừa tròn hai mươi xuân xanh, khuôn mặt trái soan, sống mũi cao chứ không nở và dẹt như mũi đa số phụ nữ Mỹ đen khác. Ðôi mắt nàng long lanh đa tình, đôi môi nàng đầy, cong và khêu gợi.

Với tấm thân hấp dẫn tượng thần Vệ Nữ, Ý Mai làm choáng váng những chàng trai được gần nàng. Các chàng rạo rực, thèm muốn những khi nàng lắc nhẹ đôi mông tròn nây hoặïc cố ý để cho thiên hạ thấy cặp đùi thon, dài của nàng trong lớp vớ nylon mỏng dính.

Vũ Son yêu Ý Mai say đắm, nồng nàn, anh yêu nàng bằng thứ tình yêu tuyệt đối. Anh và nàng sống chung trong một căn phòng trong nhà chung cư này, phòng của họ nằm cùng một tầng lầu với phòng bà quản gia.

Sáng nay, một buổi sáng mùa đông năm 1950, lợi dụng lúc bà quản gia đi vắng, họ mượn tạm căn bếp của bà để thực hiện cuộc biến đổi giấy bạc đô-la, mượn mà bà quản gia không biết. Họ đang làm một việc phạm pháp: Tư Hãn sẽ làm 150 tờ giấy bạc 10 đô trở thành 150 tờ 100 đô.

Mùa đông, trời đang đổ tuyết, cả bốn người trong căn bếp nhỏ ai cũng thấy nóng, chẳng ai để ý gì đến thời tiết.

Vũ Son trố mắt nhìn kỹ từng động tác nơi đôi tay của Tư Hãn. Gã chuyên viên cuộn tròn 150 tờù 10 đô vào trong 150 tờ giấy hóa học, cho tất cả vào mấy cái ống nhôm rồi trịnh trọng xếp vào trong lò nướng. Sau đó, gã sẽ mở điện cho lò đỏ lửa trong 10 phút.

Sau 10 phút, lò tắt, lấy những ống nhôm ra, họ sẽ thấy những tờ giấy bạc 10 đô trở thành những tờ giấy bạc 100 đô. Vũ Son cố gắng thản nhiên nhưng anh không sao có thể giữ được bình tĩnh. Tim anh đập thịch thịch, mồ hôi chẩy trên bộ mặt bóng nhẫy của anh, mồ hôi cũng chẩy dài trong sống lưng anh. Sự căng thẳng làm cổ họng anh khô nghẹn. Giọng nói của anh trở nên khàn khàn; bồn chồn, anh hỏi:

— Không thể thất bại đươc chứ, ông thầy?

Chuyên viên Tư Hãn nhếch mép:

— Chắc ăn chăm phần chăm. Yên chí lớn.

Ý Mai cảm thấy sự hồi hộp của Vũ Son lên đến cao độ. Ðứng sau ghế Vũ Son, nàng choàng đôi cánh tay ôm lấy anh, những ngón tay gợi tình của nàng xoa xoa trên ngực anh, nàng nói nhẹ vào tai anh:

— Ðừng có căng quá chứ. Cưng đã thấy ông thầy làm phép rồi mà. Ổng là chuyên viên duy nhất trên cõi đời này có khả năng thần sầu dùng khoa học biến tờ mười đô thành tờ trăm đô.

Thực vậy, mới ngày hôm qua, Tư Hãn đã làm việc biến tiền trước sự chứng kiến đầy nghi ngờ của Vũ Son. Tư Hãn đã làm biểu diễn một tờ 10 đô thành tờ 100 đô theo cách này trước sự chứng kiến và giám sát từ đầu đến cuối của Vũ Son. Dễ dàng, ngon lành. Hơn thế nữa Tư Hãn còn đưa tờ 100 đô cho Vũ Son mang ra nhà băng đổi lấy 10 tờ 10 đô. Cũng ngon lành luôn. Tờ 100 đô là giấy bạc thật.

Qua trung gian giới thiệu của Văn Ðô và sự cổ vũ hết sức nhiệt thành của Ý Mai, bọn họ đi đến một giao ước: Vũ Son sẽ cung cấp 1500 đô bằng 150 tờ giấy 10 đô, Tư Hãn sẽ dùng giấy hóa học—thứ giấy riêng gã biết cách chế tạo—và phương pháp riêng, chuyển hóa 150 tờ 10 đô thành 150 tờù 100 đô. Họ sẽ chia nhau số tiền lời như đã thỏa thuận.

Mặc dù mắt thấy, tai nghe, tay cầm, miệng hỏi, trong giờ phút trọng đại này Vũ Son vẫn cứ hồi hộp dữ dội. Thần kinh anh căng thẳng đến tột độ. Một ngàn năm trăm đô la là tất cả tài sản của anh, đó là tất cả số tiền anh chắt bóp, dành dụm được sau cả ba năm trời lao động cần cù, vất vả trong Sở Mai Táng Kim Kê. Công việc chính của Vũ Son ở đây là tài xế xe hòm. Anh lái xe của sở đi nhận những xác chết ở khắp nơi trong thành phố đem về sở cho chuyên viên tẩm liệm và trang điểm. Ngoài việc lái xe Vũ Son kiêm việc rửa ráy và làm thơm xác chết, anh còn phải làm vệ sinh căn phòng “trang điểm”, đem đi đổ và rửa sạch những sô nước đầøy máu và các thứ lầy nhầy khác.

Ngoài số tiền dành dụm đươc Vũ Son còn phải muợn trước của chủ nhân Kim Kê một khoản tiền sẽ trừ dần vào lương tháng. Việc muợn tiền Chủ nhân Kim Kê không phải là chuyện dễ, Kim Kê coi tờ giấy một đô lớn bằng tờ nhật báo; Vũ Son còn phải đem đi cầm cái đồng hồ quả quýt vỏ vàng, cái kẹp ca-vát có gắn viên kim cương nhân tạo, cả cái nhẫn vàng anh tìm thấy trong túi một xác chết thân chủ, cộng tất cả lại mới đủ số tiền 1500 đô.

Nếu cuộc chuyển hóa giấy bạc này bất thành, nói rõ ra là nếu 1500 đô—vì lý do trục trặc kỹ thuật—cháy tiêu hết trong cái lò nướng mới toanh của bà quản gia, Vũ Son sẽ không những chỉ trắng tay mà còn lâm vào tình trạng công nợ ngâp đầu. Anh sẽ phải nai lưng ra làm thân trâu ngựa không biết đến đời nào mới trả cho hết nợ.

Vũ Son cảm thấy vòng tay âu yếm của Ý Mai ôm anh, anh ngửi thấy mùi da thịt hấp dẫn, kích thích của nàng, nhưng lúc này không phải là lúc để anh thưởng thức cái mùi mê ly hắt hủi đó, anh nói nhỏ với nàng:

ymai— Hồi hộp quá, em à. Số tiền này là cả cuộc đời anh. Nếu có chuyện chẳng may chúng mình lấy gì mà sống?

Vũ Son lo âu nhưng Ý Mai lại tỏ ra hết sức lạc quan và tin tưởng. Những ngón tay nàng mơn, vờn cần cổ anh:

— Làm sao có chuyện chẳng may được. Việc mình làm chắc ăn như cua gạch mà cưng.

Tư Hãn đã xếùp xong tất cả những ống nhôm đựng tiền vào trong lò nướng. Gã đóng cửa lò, mở điện rồi long trọng tuyên bố:

— Vũ Son… Mười phút nữa anh sẽ làm chủ hơn mười ngàn đô la thơm phức.

— A men. Xin tạ ơn Thiên Chúa!

Vũ Son vừa thành khẩn nói vừa làm dấu thánh giá. Anh theo Ðạo Tin Lành và là con chiên rất ngoan đạo, anh luôn luôn làm dấu thánh giá trong những giây phút nghiêm trọng để đươc yên tâm là có Thiên Chúa che chở cho anh.

Khi làm dấu thánh giá Vũ Son đứng lên, Ý Mai níu vai cho anh ngồi xuống:

— Ngồi yên dùm đi cưng. Sao hai đầu gối cưng cứ đập vào nhau lộp cộp nghe dễ sợ quá vậy…

Vũ Son ngồi xuống ghế, Ý Mai vẫn đứng sau lưng anh, nàng lại vòng tay ra ôm cổ anh và kéo đầu anh ngả vào bộ ngực co đôi vú nây tròn, căng của nàng. Ðôi mắt trắng rã của Vũ Son mở rộng nhìn chăm chăm vào cái lò nướng định mệnh. Thời gian chậm chạp, nặng nề trôi…

Tư Hãn và Văn Ðô đứng hai bên cái lò nướng. Thấy Tư Hãn nhìn đồng hồ tay, sốt ruột quá chịu không nổi, Vũ Son hỏi:

— Xong chưa?

— Sắp rồi. Một phút nữa thôi.

Tư Hãn trả lời rồi đi tới vòi nước lấy một ly nước uống. Vũ Son gần như nín thở trong chờ đợi, trái tim anh như muốn nhẩy ra khỏi lồng ngực. Anh kêu lên:

— Quá một phút rồi còn gì?

Bùng…!

Tiếng nổ vang lên trong căn bếp nhỏ. Vũ Son nghe như đó là tiếng nổ của bom nguyên tử. Anh tối tăm mắt mũi nhưng vẫn còn đủ sáng suốt để biết tiếng nổ ấy phát ra cái lò nướng mới mua của bà quản gia. Cửa lò bật tung, những ống nhôm trong lò bắn lung tung ra ngoài cùng với khói đen và mùi khét lẹt.

Vũ Son đứng bật lên:

— Lậy Chuá tôi..

— Coi chừng, cưng ơi…

Ý Mai ôm lấy Vũ Son. Nàng níu anh lại quá mạnh làm anh mất thăng bằng, anh ngã ngửa trên sàn.

Trong cơn bấn loạn, một giọng nói dõng dạc vang lên:

— Tất cả mọi người đứng im. Dơ tay lên. Cảnh sát…

Một thanh niên Mỹ đen, dong dỏng cao, quắc thước, đột ngột xuất hiện với vẻ mặt lạnh lùng, dáng điệu đầy quyền uy của những viên cảnh sát Mỹ. Tay trái viên cảnh sát dơ lên huy hiệu cảnh sát bằng đồng, tay phải lăm lăm khẩu súng lục. Họng súng đen ngòm chĩa ngay vào mặt Vũ Son:

— Ðứng yên. Tôi là sĩ quan cảnh sát. Ai chạy tôi bắn!

Ý Mai ré lên:

— Cảnh sát..!

Tiếng la của Văn Ðô tiếp theo:

— Chạy..!

Văn Ðô nhào tới xô viên cảnh sát ngã chúi vào cái bàn. Cùng với động tác ấy gã lao mình thật nhanh ra cửa.

Nhưng người chạy ra khỏi hiện trường phạm pháp nhanh nhất là Tư Hãn. Không biết bằng cách nào anh chuyên viên chuyển hóa giấy bạc lại có thể thoát ra khỏi căn bếp nhanh đến như thế. Như biết cách tàng hình, thoáng một cái gã biến mất. Can phạm chạy thoát thứ hai là Văn Ðô.

Ý Mai lại hét lên:

— Chạy đi anh…

— Em chạy đi..

Khi Vũ Son đứng lên được và nhìn rõ được anh thấy chỉ còn anh và viên cảnh sát đứng đó. Viên cảnh sát trừng mắt, chĩa họng súng vào ngực Vũ Son:

— Chạy tôi bắn nát óc…

— Trung úy đừng bắn. Tôi đâu có chạy…

Trong cơn bấn loạn Vũ Son còn đủ thông minh để gọi kẻ chĩa súng vào ngực mình là Trung úy, dù anh này bận thường phục.

Trong nháy mắt viên cảnh sát đã móc cái còng Số 8 vào hai cổ tay Vũ Son . Cắc…Cắc…Hai tiếng sắt thép xiết vào nhau khô khan và ghê rợn vang lên khi hai vòng còng ôm lấy hai cổ tay người bị bắt.

Viên cảnh sát hừ lên một tiếng, anh tỏ vẻ không hài lòng vì bọn tội phạm chạy hết anh chỉ bắt được có một tên:

— Mấy người coi thường pháp luật. Ðược lắm. Bản án hai mươi năm tù sẽ cho mấy người biết thế nào là lễ độ.

Mặt tái mét, Vũ Son run rẩy:

— Tôi có làm gì đâu. Tôi xin thề tôi không làm gì phi pháp cả.

Viên cảnh sát cúi xuống lượm mấy cái ống nhôm cháy sém nằm ngổn ngang trên sàn, anh rút cuộn giấy bên trong ống ra xem rồi giận dữ lớn tiếng:

— In bạc giả còn nói là không làm gì phạm pháp. Như vầy mà anh dám nói anh không làm gì cả? Anh có biết tội in giấy bạc giả bị phạt tù bao nhiêu năm không? Hình luật phạt tù khổ sai chung thân những kẻ làm giả giấy bạc nhà nước. Án tù của anh hai mươi năm là nhẹ nhất.

Giọng nói của Vũ Son run run như giọng con nít muốn khóc:

— Trung úy ơi.. Không phải tôi làm vụ này. Tôi thề tôi không biết gì về vụ in bạc giả ghê gớm này. Bọn làm bậy vừa mới chạy ra đó. Tôi là người cư ngụ ở đây. Tôi có công ăn, việc làm đàng hoàng. Tôi là người lương thiện. Phòng của tôi ở đầu dẫy này. Tôi không nói dối..

Viên cảnh sát cắt ngang:

— Ðừng có chối bậy. Anh không in bạc giả thì anh vô đây làm gì?

— Tôi đi qua, khát nước, vô đây lấy ly nước uống. Tôi vừa vô thì ông vô.

Toàn thân Vũ Son tê tái khi anh nghe viên cảnh sát gọi đúng tên anh:

— Thôi mà Vũ Son. Anh là Vũ Son, đúng không? Chúng tôi theo rõi hai thằng kia lâu rồi. Anh móc nối với hai thằng đó để in bạc. Anh càng ngoan cố án tù của anh càng nặng. Tin đi.

Nước mắt tuôn rơi trên hai gò má, Vũ Son rên rỉ:

— Trung úy ơi..Xin ông nghe tôi. Tôi mà nói dối thì tôi nguyện tôi không đươc hưởng phần Thiên Chúa cho tôi trên Nước Thiên Ðàng. Ông đã biết rồi, tôi xin nói thật: tên chủ chốt trong vụ này là tên Tư Hãn. Nó có thứ giấy hóa học có thể in tờ 10 đô thành tờ 100 đô. Tên thứ hai là thằng Văn Ðô, nó giới thiệu thằng Tư Hãn với vợ chồng tôi.

Viên cảnh sát vỗ nhẹ lên vai Vũ Son:

— Anh khỏi lo. Hai thằng đó sẽ bị tóm cổ. Anh sẽ gập lại chúng nó trong tù. Còn bây giờ, nhân danh pháp luật, tôi báo cho anh biết kể từ phút này anh bị bắt. Anh có quyền không nói gì cả. Mọi lời anh nói đều có thể đươc dùng để buộc tội anh. Tôi đưa anh về Sở Ðiều Tra Liên Bang. In bạc giả là tội đại hình thuộc quyền điều tra của Cảnh Sát Liên Bang.

Hai đầu gối Vũ Son khuỵu xuống, anh quỳ gối dưới sàn, đưa hai tay bị còng lên trước ngực:

— Vì Tình yêu Thiên Chúa, vì tình yêu loài người, Trung úy ơi.. Xin thương xót tôi.. Tôi suốt đời sống lương thiện. Tôi chưa từng bị bắt lần nào. Tôi kính Chúa, tôi đi nhà thờ dâng lễ mỗi tuần. Tôi xin nói thật để ông rõ đầu đuôi nội vụ. Tôi chỉ là người bỏ vốn thôi. Còn việc in bạc hoàn toàn là việc của tên Tư Hãn. Xin ông nghĩ lại mà thương tôi.. Xin ông vì lòng nhân đạo xét đến tình cảnh đáng thương của tôi..

Nghe những lời van xin thảm thiết ấy viên cảnh sát chỉ lắc đầu:

— Ðứng lên đi, Vũ Son. Ðã gây nên tội thì phải đền tội. Anh hãy chấp nhận hình phạt như người đàn ông có can đảm, luôn luôn ngửng đầu cao nhìn đời. Pháp luật không thể nào tha cho kẻ phạm tội chỉ vì kẻ phạm tội khóc lóc, van xin. Anh đừng nghĩ là tội anh nhẹ. Nếu anh không cung cấp những tờ mười đô thì thằng Tư Hãn lấy tiền đâu ra mà in bạc? Chính vì anh cung cấp tiền nên nó mới có cơ hội làm bậy. Tội anh không nhẹ hơn tội nó đâu.

Hai lỗ tai Vũ Son lùng bùng, anh không còn nghe rõ viên sĩ quan cảnh sát nói những gì nữa. Anh chỉ biết là anh sắp phải ngồi tù, một việc mà anh không bao giờ ngờ tới. Không cần đến mười năm, chỉ một, hai năm tù thôi, anh đã chết ngắc. Anh vừa đươc gặp, đươc yêu, được chung sống với Ý Mai có mấy tháng trời nay. Ðời anh đang đẹp, đang tươi. Thế là hết. Ðời anh sẽ không còn nghĩa lý và lẽ sống nếu anh không có Ý Mai. Nàng hứa nàng sẽ làm lễ kết hôn với anh khi nàng ly dị xong anh chồng nàng, anh này là thứ đàn ông không ra gì, chơi bời, trác táng, bỏ bê vợ, hiện anh ta đang sống bê bối ở một tiểu bang xa tít dưới miền Nam. Anh biết nàng yêu anh lắm, nhưng nàng là phụ nữ trẻ, nàng không thể nào sống cô đơn để chờ anh lâu được trong cái thành phố Hắc Lâm nổi tiếng ác ôn này. Chỉ cần anh đi tù một, hai năm thôi nàng đã có người tình khác. Ðó là chuyện tự nhiên, chuyện tất nhiên, nàng chẳng có lỗi gì cả. Và rồi nếu anh được Chúa thương, Chúa cho anh trở ra sau bẩy, tám năm bị pháp luật của người đời giam hãm trong tù, khi ấy nàng đã có chồng, nàng đã tay bế, tay bồng; tình cờ gặp nhau giữa phố đông có thể nàng sẽ không nhìn ra anh. Ở tù ra anh sẽ hom hem, già yếu, mắt mờ, chân chậm, tay run, anh sẽ không sao kiếm được việc làm khả dĩ nuôi được tấm thân tàn…

Càng tưởng tượng Vũ Son càng thấy những hình ảnh đen tối hiện ra. Anh đau thương nghĩ: “Rồi mình sẽ là gã đàn ông bệ rạc, râu ria, hôi hám, đứng cầm cái ca xin tiền ở góc phố, đêm đêm nằm co quắp trên ghế đá công viên hay dưới đường hầm xe điện. Lậy Chúa.. Sống như thế thà chết còn hơn..”

Vẫn quì gối, hai bàn tay bị còng của Vũ Son nắm lấy ống quần viên cảnh sát:

— Xin ông mở lòng thương xót kẻ lỗi lầm, ông bạn nhân từ. Thiên Chúa sẽ ban phước cho ông. Tôi phạm tội, nhưng tôi không phải là người bất lương. Tôi chỉ bị cám dỗ. Vợ tôi muốn có vài món nữ trang không phải là đồ giả quá đỗi rẻ tiền, muốn có cái áo lông mặc trong mùa đông như mọi người. Tội nghiệp nàng, từ ngày nàng về sống với tôi, tôi chưa mua tặng nàng đươc món gì đáng giá. Vì vậy tôi đã bị cám dỗ. Xin ông rủ lòng thương, ông cũng là người da mầu như chúng tôi, chắc ông thông cảm hoàn cảnh của tôi.

Nước mắt chẩy ràn rụa trên mặt Vũ Son, viên cảnh sát đẩy anh ra:

— Ðã bảo đừng có van xin. Vô ích. Tôi đâu phải là cha sở mà giải tội cho anh được. Ði uống ly nước, rửa mặt rồi đi theo tôi.

Vũ Son gượng đứng lên, anh đi tới vòi nước hứng lấy một ly. Hai bàn tay bị còng run run đưa ly nước lên miệng, uống được vài miếng anh khóc ròng như chú con nít gập chuyện oan ức, tủi thân:

— Ông cũng phải có chút tình xót thương đồng loại chứ. Tôi đã bị mất hết số tiền dành dụm được trong mấy năm trời vất vả làm việc còn hơn trâu ngựa. Trâu ngựa chúng làm việc có giờ, tôi làm việc bất kể ngày đêm. Vậy mà ông còn muốn đẩy tôi vào tù nữa sao? Tôi đi tù, hay tôi sống ở ngoài đời, thì có ảnh hưởng gì đến ông đâu?

Dường như những lời tả oán lâm ly, thống thiết của Vũ Son cũng làm cho người sĩ quan cảnh sát động lòng đôi chút, giọng nói của anh ta dịu lại:

— Vũ Son, anh không phải là tên phạm tội đầu tiên mà tôi bắt, anh cũng không phải là tên cuối cùng. Anh phải biết rằng bắt những kẻ phạm tội là công việc của tôi.Nếu tôi cứ vì thương xót mà thả những tên phạm tội, như thả anh chẳng hạn, thì người ta sẽ đuổi tôi ra khỏi ngành, người ta có thể cho tôi vào tù. Tôi sẽ đói và rồi tôi cũng làm bậy như anh vậy.

Vũ Son đưa mu bàn tay lên chùi nước mắt, chất thép lạnh của cái còng Số 8 chạm vào má anh làm anh rùng mình. Anh nhìn thấy đôi mắt không chút tình người trên khuôn mặt dài lạnh như tiền của viên cảnh sát, anh biết con người có bộ mặt lạnh ấy không biết thế nào là tình thương. Nếu bà mẹ đẻ ra hắn phạm tội, hắn cũng còng tay bà, đưa bà vào nhà tù như thường. Ánh mắt tàn nhẫn của viên cảnh sát làm cho Vũ Son nghĩ thầm: “Bọn da mầu thằng nào cũng vậy. Một khi chúng đươc đứng vào hàng ngũ bọn cảnh sát lập tức chúng không còn biết thương xót là gì nữa. Vì mặc cảm chúng đối xử với người cùng mầu da với chúng tàn tệï hơn cả bọn da trắng..”

Nhưng rồi—đúng là “phúc đáo tâm linh”—Vũ Son nghĩ ra một lối thoát:

— …Trung úy ơi.. Tôi xin biếu ông hai trăm đô nếu ông tha cho tôi. Ông làm ơn, làm phúc đi ông…

Viên cảnh sát nhìn bộ mặt nhòe nhoẹt những nước mắt của Vũ Son, anh lắc đầu tỏ vẻ thương hại rồi thở dài:

— Vũ Son.. Tôi thấy tình cảnh của anh cũng đáng thương. Chỉ vì muốn có tiền để làm vừa lòng đàn bà, anh đã nhúng tay vào tội lỗi. Vì chúng ta cùng là người da mầu với nhau, nếu anh hứa với tôi anh sẽ không bao giờ tái phạm nữa tôi có thể bỏ qua cho anh lần này. Ðưa hai trăm đô đây.

Vũ Son như người sắp chết đuối vớ được cái phao. mừng quýnh anh định quì xuống hôn chân viên cảnh sát để tỏ lòng biết ơn, nhưng bất chợt mặt anh nghệt ra: lấy đâu ra hai trăm đô bây giờ. Phải có ngay hai trăm đô. Chỉ còn một cách là về sở mai táng lấy trộm trong két sắt của ông chủ. Cả đời anh chưa lấy trộm của ai một đồng cắc. Nhưng biết làm sao được, không còn cách nào khác, đành phải làm thôi. Tuy là lấy tiền mà chủ nhân không biết nhưng anh chỉ muợn thôi chứ không lấy luôn. Bằng mọi giá, bằng mọi cách, anh sẽ trả chủ nhân số hai trăm đô anh mượn hôm nay.

— Tôi không mang theo tiền. Tôi để tiền ở Sở..

Viên cảnh sát gật đầu:

— Cũng đươc. Tôi đưa anh về đó lấy. Nhưng anh phải hứa danh dự với tôi là anh không được trốn.

Vũ Son kêu lên:

— Lậy Chúa.. Tôi là người không biết nói dối. Chỉ vì không có sẵn tiền ở đây nên tôi mới phải về sở lấy. Ông cũng phải tin tôi một chút chứ.

Không nói gì thêm viên cảnh sát mở còng cho Vũ Son, ra hiệu cho Vũ Son đi trước. Khi ra đến vỉa hè, viên cảnh sát chỉ tay về phía chiếc xe Ford cũ:

— Anh thấy cái xe cũ nát của tôi đó. Tôi cũng nghèo như anh vậy.

Vũ Son vội nói lời đồng ý:

— Trung úy cũng không khá nhưng dù sao ông cũng đỡ hơn tôi nhiều. Bây giờ tài sản của tôi là con số không. Tôi không còn một xu dính túi, lại thêm nợ nần..

Viên cảnh sát mở cửa xe:

— Thôi đi, Vũ Son… Bây giờ không phải là lúc anh than thở về số phận đen hơn mõm chó của anh.

Hai người lên xe. Vũ Son chỉ đường. Chiếc xe bụi bậm phóng nhanh về khu nam của Hắc Lâm, đến đường số 134 xe chuyển hướng về phía đông, rồi dừng lại trước tòa nhà sơn trắng mang bảng hiệu đắp bằng xi-măng có gắn ống néon trên mặt tiền: SỞ MAI TÁNG KIM KÊ

Ra khỏi xe Vũ Son lặng lẽ đi lên những bậc thềm bằng đá lên cửa vào tòa nhà. Anh nhẹ nhẹ đi trên tấm thảm cao su đỏ vào gian phòng lớn được gọi long trọng là đại sảnh đường, nơi đặt những cỗ quan tài trong có người chết đã được trang điểm để thân nhân, bằng hữu đến nhìn mặt lần cuối.

Sát vách tường bên trong đại sảnh đường có cái ghế dài bọc da mầu đỏ, để dành cho công nhân ngồi nghỉ. Trong bóng tối mờ mờ của gian phòng lớn buổi trưa không có khách nên đóng kín cửa Vũ Son biết Chín Mến, anh bạn công nhân đồng sở, đồng mầu da đen của anh, đang ôm ấp, hôn hít, vật lộn với chị tình nhân da đen. Chị này là công nhân một siêu thị gần đó, gần như giờ nghỉ ăn trưa nào chị cũng chạy vội đến Nhà Quàn làm tình với Chín Mến. Hai người này đang mê ly nên không biết có Vũ Son đi vào nhà.

Vũ Son nhẹ gót đi về cuối hành lang, nơi có những ngăn tủ gỗ chứa những cây chổi, bàn chải, khăn lau, sô nước, hũ sà bông, bình thuốc sát trùng, máy hút bụi và những dụng cụ để rửa nhà, lau nhà. Anh nhẹ tay mở tủ lấy ra cái khăn lau và cây phất trần, rồi anh nhẹ bước trở lại, đi vào văn phòng của chủ nhân Kim Kê.

Buổi trưa Chủ nhân Kim Kê vẫn quen lệ nằm ngả lưng, nhắm mắt thiu thiu chừng một giờ trên cái đi-văng nhỏ đặt trong góc văn phòng. Ði-văng này có màn che để khách không nhìn thấy. Cửa văn phòng khép hờ, Vũ Son len lén bước vào. Anh đặt cây phất trần lên bàn, rồi cầm khăn lau nhẹ cái két sắt kê sau bàn giấy của Chủ nhân Kim Kê.

Ðây là cái két sắt kiểu cổ, nặng và trông không thanh nhã nhưng rất chắc chắn. Chìa khóa két vẫn mắc ở ổ khóa, Chủ nhân Kim Kê tuy rất kỹ tính nhưng lại có thói quen không khóa két sắt khi ông ta có mặt trong phòng.

Nghé mắt nhìn Vũ Son thấy ông chủ nằm nghiêng, quay mặt vào tường để tránh ánh sáng, anh hồi hộp không biết ông đang ngủ hay thức.

Không quay lại ông Kim Kê bỗng lên tiếng làm cho Vũ Son giật mình:

— Chín Mến đấy hả?

— Dạ… Tôi ạ.. Tôi là Vũ Son..

— Vũ Son? Anh đến đây làm gì?

— Dạ.. Dọn dẹp mấy nơi trong nhà, thêm dầu, thêm nước cho cái Ca-đi-ắc chạy ngon lành..

Vừa nói Vũ Son vừa mở cánh cửa két sắt.

Giọng ông Kim Kê nhừa nhựa:

— Hôm nay là ngày nghỉ của anh mà?

— Thưa ông vâng. Vợ tôi đi thăm người bà con, ở nhà chẳng có việc gì làm, tôi đến sở còn đỡ buồn hơn là tôi cứ quanh quẩn ở nhà..

— Vợ anh đi vắng hả? Có thế anh mới đến đây chứ gì. Nhưng mà đừng có sốt sắng quá, không có chuyện tăng lương đâu.

Vũ Son cười cầu tài:

— Dzà.. Dzà.. Ông chủ cứ nói thế chứ.. Tôi đâu có…

Nhìn vào trong két anh thấy những tập giấy bạc 20 đô đươc xếp lại từng sấp một trăm nằm đó. Anh đưa tay vào nhón năm sấp. Ðã phóng lao phải theo lao. Ðằng nào anh cũng phải mượn tiền của chủ, mượn hai trăm thì cũng như mượn năm trăm Anh sẽ trả lại mà, chắc như bắp là anh sẽ trả lại không thiếu một đồng. Anh thầm cầu nguyện:

— Lậy Chúa.. Xin Ngài tha tội cho con. Con bị bắt buộc phải làm việc này. Con xin hứa con sẽ trả ông ấy đầy đủ.

Rồi anh nói:

— Thưa ông.. Tôi đi lo cái xe..

Không thấy ông Kim Kê ừ ào gì cả.

Vũ Son cất khăn lau, phất trần rồi vọt lẹ ra khỏi nhà. Trên cái ghế bọc da đỏ Chín Mến và chị tình nhân vẫn quần thảo nhau.

Vũ Son cầm sẵn hai trăm đô gọn trong lòng tay, đi đến đưa qua cửa xe. Viên cảnh sát bỏ ngay tiền vào túi. Trước khi rồ máy cho xe đi, Y nói:

— Vũ Son… Ðây là bài học anh phải nhớ đời: Làm bậy không khá được!

Ngưng truyện

Một gã trong bọn lừa Vũ Son giả làm viên cảnh sát.

himes2

NƯỚC MẮT CHẨY XUÔI

guo

Bản Tin trên Internet April 5, 2015: Người cha đi 10 vòng Trái Đất trong 18 năm để tìm con.

Một người đàn ông Trung Quốc tên là Guo Gantang, 45 tuổi, đã sống qua 18 năm đi trên quãng đường 400.000 km – độ dài tương đương 10 vòng Trái Đất – để tìm con trai ông bị thất lạc.

Ông Guo Gantang bắt đầu cuộc hành trình tìm  con trai ông vào ngày 21/9/1997 sau khi bé Guo Zhen, 2 tuổi, bị bắt cóc ngay trước nhà ông ở tỉnh Sơn Đông. Theo lời người chứng có mặt tại hiện trường, cậu bé đã bị bắt đi bởi một người phụ nữ luống tuổi.

Kể từ đó, ông bố dành quãng đời còn lại để đi tìm con trai. Anh Guo đã vượt hơn 400.000 km đi khắp các tỉnh Trung Quốc, ngoại trừ khu tự trị Tân Cương ở Tây Tạng. Trong gần 20 năm rong ruổi tìm con, đi bằng xe mô tô, Guo Gangtang phải thay mới 10 chiếc xe mô tô.

Dẫu dành bao nhiêu công sức và lòng thương để đi tìm con, 18 năm qua, Guo vẫn chưa được nhìn thấy mặt con trai. Nhưng người đàn ông yêu con đó đã trở thành ân nhân của nhiều gia đình. Nhờ ông mà hàng chục đứa trẻ thất lạc được đoàn tụ với bố mẹ chúng. Nhờ Guo Gangtang, những người bắt con nít cảm được nỗi đau của những người cha bị mất con nên đã tìm cách cho đứa trẻ bị bắt về với bố mẹ chúng.

Cuộc đi vạn lý của Guo Gangtang thì vẫn chưa thể kết thúc vì ông nhất định phải tìm và  đưa con trai ông trở về nhà. Có những lúc trong túi chỉ còn 5 xu, không đủ mua nổi một suất cơm nhưng người cha chưa bao giờ từ bỏ hy vọng tìm thấy con. Ông nói:

“Lúc nào tôi cũng tự nhủ rất có thể ngày mai tôi sẽ tìm thấy Zhen.”

Câu chuyện tìm con làm  xúc động hàng triệu trái tim đã trở thành cảm hứng cho một tác phẩm điện ảnh Trung Hoa sản xuất năm 2015, mang tên “Lost and Love”, với diễn xuất của ngôi sao Lưu Đức Hoa. Đông đảo khán giả nhờ xem phim này mà biết được hoàn cảnh đáng thương của Guo Gangtang. Hiện nay rất nhiều cư dân mạng tự nguyện giúp đỡ Guo tìm ra con trai.

“Thật cảm động. Chuyện làm tôi muốn khóc… Tôi ước mong Gangtang sớm được đoàn tụ với con trai.” Đó là lời cầu chúc của nhiều cư dân mạng gửi đến người cha yêu thương con mà bị mất con.

Theo BBC, khoảng 20.000 trẻ em ở Trung Quốc bị bắt cóc mỗi năm. Những đứa trẻ xấu số này sẽ bị đưa vào “chợ đen bán trẻ con” hoặc bị rao bán công khai trên mạng, tất nhiên với tên giả.

Buổi sáng ngày 21/9/1997, anh Guo Gangtang, khi đó 27 tuổi, rời khỏi nhà đến làm việc ở hầm mỏ gần đó như thường lệ. Trước cửa ngôi nhà ở thành phố Liêu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, cậu con trai hai tuổi Guo Zhen của anh đang chơi đùa. Khi Guo về nhà sau một ngày làm việc, anh không tìm thấy đứa con trai nhỏ của anh ở đâu. Cậu bé đã bị bắt cóc.

Kể từ đó, Guo bắt đầu hành trình tìm con. Suốt 18 năm qua, anh lái xe máy rong ruổi khắp nơi để tìm Guo Zhen. Tuy nhiên, cuộc tìm kiếm dài hơn 400.000 km, làm anh phải đổi 10 chiếc xe mô tô của anh tới nay vẫn chưa có kết quả.

Theo Shanghaiist, từ khi con trai mất tích, cả nhà Guo chưa bao giờ chụp ảnh chung. Guo Gangtang cho biết gia đình anh sẽ chỉ trọn vẹn khi con trai anh trở về.

o O o

CTHĐ: Buổi sáng Tháng Tư 2015, mưa xuân rơi trên Rừng Phong. Virginia không còn lạnh mùa đông. Trời mát. Chuyện người cha đi tìm con trai trên Internet làm tôi xúc động.

bike

Nước mắt chẩy xuôi.. Lời nói diễn tả tình cha mẹ yêu thương con. Chúng ta yêu thương con chúng ta hơn chúng ta yêu thương cha mẹ chúng ta. Các con chúng ta yêu thương con của chúng hơn chúng yêu thương chúng ta là cha mẹ chúng. Cũng phải nói là hai Tình Yêu đó khác nhau. Mọi sinh vật trên Trái Đất này đều yêu thương con.

Chuyện đi tìm con của người đàn ông Tầu gợi tôi nhớ chuyện Vua David trong Kinh Thánh. Vua David, người khi là chú thiếu niên, đã dùng ná thung bắn cục đá hạ người khổng lồ Goliah. David dùng ná thung bắn cục đá trúng vào giữa hai mắt người khổng lồ Goliath. Vì chiến thắng này David được tôn vinh làm Vua.  Vua anh minh, hiền hậu nên được dân yêu thương, triều thần quí trọng. Vua yêu thương con trai của ông là Absalom. Về già Vua thường thấy lạnh. Các quan trong triều tuyển Abigail, một trinh nữ 16 tuổi, để cô nằm trong lòng Vua David khi Vua ngồi xử việc nước. Hơi ấm của thân thể trinh nữ Abigail truyền sang làm ấm thân già của Vua David, làm cho vua vui khỏe. Đây là chuyện được gọi theo công thức Tầu là “Thiếu Âm bổ Lão Dương.” Tôi – CTHĐ – từng viết một bài về đề tài Thiếu Âm Bổ Lão Dương. .

Trong bài viết ấy tôi đưa ra câu hỏi:

“Nếu Thiếu Âm bổ Lão Dương thì chắc chắn là Thiếu Dương bổ Lão Âm. Những cô gái trinh, trẻ làm cho những ông già gần họ, viết rõ hơn là ôm ấp họ, hôn hít da thịt họ, hay được họ ôm ấp, được vui mạnh thì những chàng trẻ khỏe cũng làm cho những bà già gần họ được vui mạnh.”

Absalom là con trai lớn của Vua David. Chàng đẹp trai, hào sảng, tài kiêm văn võ. Nhưng Vua Cha sống lâu quá mà Thái Tử Absalom thì nôn nóng được làm Vua. Thái Tử lại yêu nàng Abigail. Thái Tử dấy binh làm phản, định cướp ngôi vua, làm chủ nàng Abigail. Có thể Thái Tử sẽ không giết Vua Cha, ông chỉ ép Vua Cha phải làm Thái Thượng Hoàng. Một số võ tướng trung thành với Vua hợp lực tấn công Thái Tử. Trong trận chiến, Absalom phi ngựa qua dưới hàng cây, mái tóc chàng – mái tóc dầy, đen, tuyệt đẹp – vướng vào cành cây, chàng bị treo lơ lửng dưới tàng cây. Các võ tướng không ai dám một mình đến phóng giáo giết Thái Tử. Họ sợ bị mang tội giết Thái Tử. Nhưng họ phải giết Thái Tử vì họ biết nếu để Thái Tử sống, Thái Tử sẽ được Vua Cha tha tội, và Thái Tử sẽ giết họ. Năm, sáu võ tướng cùng phi ngựa đến, cùng một lúc phóng những  ngọn giáo của họ đâm chết Absalom. Họ cùng phóng giáo giết Thái Tử trong một lúc để không ai bị kết tội đã giết Thái Tử.

david

Chú thiếu niên David dùng ná thung – một thứ như súng cao su của thiếu nhi Bắc Kỳ xưa – bắn một cục đá trúng vào giữa hai mắt Người Khổng Lồ Goliath.

Khi được báo tin con trai ông đã chết, Vua David kêu lên:

“Absalom..! Absalom..! Ước gì cha được chết thay cho con.”

Tiếng kêu đứt ruột, tiếng kêu xé trời.

Đó cũng là tiếng kêu trong tim của nhiều người cha có con bị chết:

“Absalom…! Con ơi..Ước gì Bố được chết thay cho Con.”

Năm 1957 tôi tình cờ có tác phẩm tiểu thuyết “Absalom! Absalom! “của Nhà Văn William Faulkner. Tôi đọc  nhưng phải bỏ ngang vì tôi không hiểu tác giả viết gì. Tôi chỉ biết tác phẩm “Absalom! Absalom!” của William Faulkner không phải là chuyện viết về nhân vật Absalom trong Kinh Thánh.

Nhiều năm trước một ông bạn tôi có con nhỏ bị chết, ông bảo tôi:

“Con mình chết, mình chết nửa người.”

Những năm 1960 thanh bình ở Sài Gòn tôi quen biết Phương, một thanh niên đồng tuổi tôi. Phương là con nhà giầu – nhà buôn xuất nhập cảng – anh đẹp trai, ăn diện sang, đúng mode,  nên có danh hiệu là Phương Cao Bồi. Là con nhà giầu Phương Cao Bồi không phải làm việc kiếm tiền, anh chỉ ăn chơi. Anh ái mộ Nhà Tiểu Thuyết Thanh Nam nên hay đi ăn chơi với Thanh Nam. Vợ anh là con nhà giầu. Vợ chồng xứng lứa, đẹp đôi. Phương có đứa con trai năm ấy sáu, bẩy tuổi. Một chiều Phương đưa con tới một biệt thự ở đường Chi Lăng. Vi la này có hồ bơi – piscine – trong nhà. Phương chỉ lơ là trong một thoáng: nhìn lại anh thấy con trai anh nằm dưới đáy hồ. Con anh đã chết. Anh bồng con lên ô tô, đưa con về nhà. Vợ anh phát điên. Chị cho là Phương mải đấu hót với cô nào đó bên hồ bơi không trông con nên để con chết. Quá đau thương, nàng bỏ chồng.

Con ta chết, ta đau thương. Nỗi đau này nặng hơn nỗi ta đau khi cha mẹ ta qua đời. Nỗi đau con ta chết sẽ nguôi theo năm tháng. Nhưng còn nỗi đau ta bị mất tích con, con ta bị bắt đi, thì sao?

Năm 1956 vợ chồng tôi có con trai đầu lòng. Năm ấy tôi làm nhân viên Sở Mỹ USOM – United States Operation Mission – Cơ Quan Hoa Kỳ Viện Trợ – Những năm 1960 USOM đổi tên là USAID.

Năm 1954 tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Sàigonnmới, lương tháng 3000 đồng. Tôi có vợ, vợ chồng tôi không còn ở chung nhà với bố mẹ chúng tôi được nữa. Chúng tôi phải ra riêng, tức mướn nhà ở riêng. Số tiền lương hàng tháng 3000 đồng của tôi năm ấy không đủ cho vợ chồng tôi sống, tôi đòi nhà báo tăng lương tôi lên 4000 đồng. Bà Bút Trà, bà chủ báo Saigònmới, và là bà chủ của tôi – trong đời làm ký giả của tôi, tôi chỉ nhận một mình bà Bút Trà là bà chủ tôi – không chịu tăng lương cho tôi. Tôi bỏ việc trong nhà báo Saigonmới.

Lâm, anh bạn tôi, chỉ đường cho tôi đi làm Sở Mỹ. Tôi thành nhân viên Sở Mỹ USOM. Tôi làm trong Travel Section của Sở. Tôi chuyên  việc đem passport của nhân viên Sở đến những Tòa Đại Sứ, những Tòa Tổng Lãnh Sự, xin Entry Visa. Nhân viên USOM có Passport Diplomatic ra vào các quốc gia bạn không cần Entry Visa, nhân viên Mỹ cầm Passport loại thường phải xin Entry Visa. Tôi đi lấy vé máy bay cho nhân viên đi công tác. Những năm 1955, 1956 nhân viên Mỹ lo việc viện trợ cho Việt Nam đến Sài Gòn thật đông. Những nhân viên USOM mới đến này được gọi là những New Arrival. Tôi phải đón họ khi họ đến phi trường Tân Sơn Nhất, đôi khi ở bến tầu Khánh Hội khi có người đến Sài Gòn bằng tầu thủy. Những chuyến phi cơ từ Tokyo, HongKong  đến Tân Sơn Nhứt ban đêm, hai, ba giờ sáng là chuyện thường. Tôi được báo trước số người đến, giờ họ đến, tôi lấy xe USOM đến phi trường đón họ, đưa họ về Hotel Majestic. Việc này làm tôi có nhiều giờ overtime. Nhân viên Mỹ USOM, sau là USAID, đông hơn số nhân viên Mỹ trong Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Cùng thời gian này tôi viết tiểu thuyết phóng tác cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi đang kiếm được nhiều tiền. Nhưng rồi tôi chán công việc tôi làm ở USOM. Tôi đã nhiều lần viết: Tôi muốn làm báo, viết tiểu thuyết. Tôi muốn sống bằng việc Viết. Tôi không muốn làm thư ký, dù là thư ký Sở Mỹ với việc làm dễ, thoải mái, lương nhiều. Một chiều tôi nói với vợ tôi:

Hoàng Hải Thủy và Hoài Nguyên, Sài Gòn năm 1957

Hoàng Hải Thủy và Hoài Nguyên, Sài Gòn năm 1957

“Anh bỏ USOM. Ngày mai anh không đi làm USOM nữa.”

Vợ tôi ngạc nhiên:

“Tại sao anh là bỏ việc ở USOM?”

“ Anh muốn làm báo, anh muốn viết truyện.”

“Anh cứ đi làm USOM mà anh vẫn viết truyện được mà? Sao anh lại phải bỏ USOM?”

“Anh muốn biết anh có thể sống bằng việc Viết của anh hay không.”

Bỏ USOM, vợ chồng tôi sống được với số tiền nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong – hai báo đều do ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng làm chủ nhiệm – hai báo trả tôi mỗi tháng là 7000 đồng: 5000 Ngôn Luận, 2000 Văn Nghệ Tiền Phong. Năm 1957 vì những xích mích vớ vẩn với anh em trong tòa soạn tôi bỏ ngang việc viết cho Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong. Nguyên nhân “con nít ke”: một số anh viết cho Văn Nghệ Tiền Phong không ưa tôi. Người không ưa tôi nhất trong số vài anh em này là anh Hoàng Tùng. Anh là nhân viên Sở Nghiên Cứu Xã Hội thuộc Phủ Tổng Thống, giám đốc Sở là  Bác sĩ Trần Kim Tuyến. Anh phụ trách Trang Khôi Hài của VNTP. Anh sáng chế chuyện “Kê Mao Côn: Chổi Lông Gà,” võ khí của những bà vợ đanh đá bắt nạt những ông chồng sợ vợ. Trang của anh đăng nhiều bài thơ độc giả gửi về, đại khái thuộc loại:

“Này này bác Hoàng Tùng
Bác đừng có lừng khừng..”
Bác giở điên, giở khùng..
Kê Mao Côn đét đít
Là bác chạy lung tung..”

Nhóm Hoàng Tùng khống chế tờ Văn Nghệ Tiền Phong làm cho tờ báo mất dần độc giả. Chuyện kỳ cục và con nít là có vẻ như anh Hoàng Tùng, và mấy người bạn của anh, muốn đá tôi ra khỏi tờ Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi bị chỉ trích – kín đáo thôi – ngay trên báo Văn Nghệ Tiền Phong là tôi can tội “thuổng văn của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng.”

Quả thực là khi đó tôi có bắt chước giọng văn, lối viết, cách vẽ vời nhân vật trong truyện của ông Vũ Trọng Phụng. Khi bị chỉ trách là “thuổng văn của Vũ Trọng Phụng,” tôi có thể nói:

“Tôi thuổng văn Vũ Trọng Phụng thì đã sao? Tôi không thuổng văn Vũ Trọng Phụng thì tôi thuổng văn ai? Tôi bắt chước lối viết và dùng một số ngôn ngữ trong văn phẩm của ông Vũ Trọng Phụng. Sao lại bảo tôi ăn vắp văn Vũ Trọng Phụng?”

Nhưng thay vì đối phó với sự chỉ trích một cách đàng hoàng, người lớn như thế, năm đó tôi trẻ tuổi, tôi mới 24 tuổi, tôi nhiều tự ái rởm, tôi có tật giận dỗi và giận hờn, giận mà không nói ra, tôi ngu dzốt. Tôi giận ông Hồ Anh chủ báo đã để cho ông Hoàng Tùng là bạn thân của ông, viết cạnh khóe tôi trên báo, chửi tôi ăn cắp văn, không nói một lời với ông Hồ Anh  tôi bỏ ngang việc viết truyện cho Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong.  Ông Hồ Anh chắc giận tôi vì tôi bỏ ngang truyện, ông không hỏi tôi tại sao tôi ngưng viết ngang xương cho báo của ông. Không viết cho Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, tôi mất số tiền 7.000 đồng một tháng.

Chủ nhiệm Hồ Anh phải tự cho báo VNTP đình bản một thời gian để tổ chức lại. Nhóm Hoàng Tùng bị gạt ra khỏi tòa soạn.

Năm 1957 tuần báo Kịch Ảnh ra đời. Tôi làm nhân viên tòa soạn Kích Ảnh, lương tháng 5000 đồng. Vợ tôi sinh cháu Kiều Giang. Tôi kể dài dòng để nói lên tình trạng sống của vợ chồng tôi năm đó: chúng tôi rơi vào cái gọi là Série Noire” Chu Kỳ Đen. Chúng tôi sống thiếu hụt với số tiền 5.000 đồng một tháng của tuần báo Kịch Ảnh.

Một tai họa khủng khiếp đến với tôi. Buổi sáng, khoảng 7 giờ, tôi sửa soạn đi làm. Vợ tôi mới sinh cháu Kiều Giang, còn nằm trong giường. Khi vào phòng tắm, thấy Hoài Nguyên, con trai tôi, khi ấy cháu hai tuổi, chưa biết nói, quanh quẩn bên tôi, tôi đưa cho cháu một đồng:

“Con bảo chị Năm mua sôi con ăn.”

Năm là tên chị người làm của chúng tôi. Lúc ấy, Năm và ba, bốn em người làm những nhà quanh đấy đang đứng trước cửa nhà tôi. Khi tôi từ trong phòng tắm ra, thấy Năm từ ngoài ngõ vào nhà, tôi hỏi:

“Em đâu?”

“Em đâu con đâu có biết.”

Nhìn quanh, tôi không thấy Hoài Nguyên đâu cả. Tôi vội lên xe Vespa chạy một vòng quanh khu phố. Không thấy con tôi đâu. Tôi đến Ty Cảnh Sát Quận Ba – năm ấy ở đầu đường Hiền Vương. Sáng sớm vào phòng trực, khai với thầy cảnh sát trực:

“Con tôi bị bắt.”

Thầy cảnh sát trạc tuổi tôi, đang hí hoáy viết gì đó trên sổ trực, nhẩn nha hỏi:

“Con ông đi lạc hay bị bắt?”

“Con tôi bị bắt. Nó mới hai tuổi, chưa biết nói. Nó đi đâu mà đi lạc.”

“Ông ngồi chờ đến lượt ông khai.”

Tôi nhìn quanh. Trên chiếc ghế dài có đến ba, bốn người  đang ngồi chờ khai báo. Người bị mất trộm đêm qua, người bị thương chắc vì đánh nhau. Chờ mấy ông bà này khai xong chắc phải mất ít nhất lá hai giờ. Gan ruột tôi nóng như bị lửa đốt.

Tôi trở về nhà, bỏ xe Vespa lại nhà, chạy bộ tìm con. Thấy bà già đi chợ Tân Định về, tôi hỏi bà:

“Bà có thấy thằng bé nào đứng khóc ở quanh đây không ạ?”

Bà trả lời:

“Có thằng bé đứng khóc ở trạm xe búyt trước chợ.”

Tôi chạy vi-tét đến chợ Tân Định. Không thấy con tôi ở trạm xe buýt, tôi vừa thở vừa hỏi  mấy bà bán hàng trước chợ:

“Các bà có thấy thằng bé nào đứng khóc ở đây không?”

Có bà trả lời:

“Có thằng bé đứng khóc ở đây. Thầy cảnh sát đưa nó về bót rồi.”

Tôi vẫy taxi. Khi tôi chạy vào phòng trực, thầy cảnh sát vẫn ngồi đó, vẫn hí hoáy viết. Ông bảo tôi:

“Con ông đi lạc mà ông nói nó bị bắt.”

Ông cầm chùm chìa khóa, tôi theo ông đến cánh cửa lưới sắt phòng giam của Ty. Ông mở cửa, một chị trạc 30 tuổi, không biết bị giam vì tội gì, bồng con tôi ra. Tôi ôm con tôi. Không  nói cám ơn chị, không nói cám ơn thầy cảnh sát, tôi ôm con tôi chạy ra, vào taxi, về thẳng nhà. Trên xe, tôi thấy con tôi khóc đỏ hồng hai má, một tay con tôi cầm cái bánh bich-qui sâm-banh. Người đàn bà đi ngang thấy cháu đứng xớ rớ ờ đầu ngõ bế cháu đi, mua bánh cho cháu, nhưng cháu không ăn. Cháu khóc.  Phúc lớn cho vợ chồng tôi là người bắt con tôi  không đi taxi, không đi xích lô, người đó chỉ cần lên xe xích lô đạp là vợ chồng tôi bị mất con. Người đó đón xe búyt về Phú Nhuận. Đến trạm xe búyt cửa chợ Tân Định, vì con tôi khóc, người đó sợ, bỏ con tôi lại, lên xe đi mất.

Chỉ một lần tôi hỏi vợ tôi:

“Nếu ngày đó mình bị mất con, em và anh có thể sống được với nhau không?”

Nàng trả lời;

“Đừng hỏi em câu đó. Em sợ.”

Nhiều lần nhớ lại chuyện vợ chồng tôi bị mất con trong khoảng hai giờ đồng hồ tôi nghĩ nếu mất cháu luôn chắc vợ chồng tôi không thể sống được với nhau.

o O o

Chuyện người bố bị mất con trai hai tuổi, hai mươi năm đi khắp nước Tầu tìm con, là chuyện có thật.

Tôi chỉ không biết những tấm ảnh tôi dùng trong bài này là ảnh người thật hay ảnh trích trong bộ phim điện ảnh Trung Quốc làm theo  chuyện ông bố mất con đi tìm con.

Và chi tiết “ông bố sáng đi làm, bỏ con trai hai tuổi đứng ở cửa nhà” làm tôi nghĩ đứa nhỏ không có mẹ.

Và làm tôi nghĩ: “Tai họa xẩy ra trong một nháy mắt. Tai họa có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, xẩy đến với bất cứ ai. Ai có phúc thì thoát.”

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 173 other followers