• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

A Tu

Thiên Long Bát Bộ, tên thứ hai là Lục Mạch Thần Kiếm, tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, được đăng từng ngày trên nhiều nhật báo Sàigòn những năm 66, 67. Không nhớ đích xác năm nào, chỉ nhớ mang máng là trước Tết Mậu Thân. Những năm cuối thập niên 60…Thấp thoáng vậy mà bốn mươi mùa lá đổ muôn chiều đã trôi qua cuộc đời. Những năm xưa xanh thắm ấy cuộc đời Công Tử Hà Ðông trôi êm giữa    lòng thành phố Sàigòn thân thương, Công Tử chưa thực sự biết thế nào là đau khổ. Thế rồi đến những đêm đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái lá đa ca dao sau 1975 sống cơ cực trong thành phố Sàigòn thương yêu bị đổi tên, hoài niệm thời hoa niên Công Tử có mần mấy câu thơ khi Công Tử ngất ngư con tầu đi trong một đêm buồn nghe tiếng hát tuyệt diệu một đời:

…Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc,

Em hát khi Anh giấc ngủ vùi.

Em hát khi Anh chưa biết khóc,

Em hát khi Anh biết mỉm cười.

Em hát tan vàng, ca nát đá…

Em hát cho Anh biết ngậm ngùi…

Em hát khi Anh chưa biết khóc…Ngay cả khi chưa biết khóc, khi chưa thực sự biết thế nào là tuyệt vọng, sợ hãi, Công Tử đã cảm khái khi đọc đến đoạn Chưởng Môn Vô Vi Phái than:

— Ở đời mười việc  có đến bẩy, tám việc không được vừa ý…

Cũng như câu “Lo việc mười năm trồng cây. Lo việc trăm năm trồng người..” không phải là công thức do Hồ Chủ Tịt sáng chế ra, Chủ Tịt mượn câu này của quân tử Tầu, lời nhận xét “Ở đời mười việc thì có đến bẩy, tám việc không được vừa ý..” cũng là một câu dường như  có  ghi trong sách Minh Tâm Bảo Giám của ông Ðoàn Trung Còn.

Từ ngày khốn nạn 30 Tháng Tư Ðen 1975 cuộc đời những ông Con Trai Bà Cả Ðọi công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa ngất ngư đi vào chu kỳ phải nói là đen hơn mõm chó mực, đen hơn cả cái lá đa ca dao. Với những ông này ở đời mười việc thì không phải chỉ có bẩy, tám việc các ông không được vừa ý mà là có đến mười ba, mười bốn việc. Việc mấy ông không được vừa ý nhất là việc bọn Công sản bị gậy ăn mày khắp nơi trên thế giới, nhưng ở đất nước của mấy ông nó vẫn cứ sống phây phây, nó vẫn cứ nắm quyền, nó vẫn nhơn nhơn nói chủ nghĩa cộng sản của nó là tốt đẹp, khó chịu nhất là nó vẫn có quyền bỏ tù các ông mút chỉ cà tha kiêm mút mùa Lệ Liễu…

LUẬT VÔ THƯỜNG

Nghĩa Trang Quân Đội VNCH, Biên Hòa

Nghĩa Trang Quân Đội VNCH, Biên Hòa

Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường — Trần Văn Khê

Từ Thứ ra đi, Lưu Bị đưa tiễn.

Vì luyến tiếc Từ Thứ, Lưu Bị đi theo đưa tiễn mãi.

Từ Thứ dừng ngựa, chắp tay, nói:

“Tiễn nhau ngàn dặm cũng đến chỗ phải chia tay. Xin Ngài dừng ở đây.”

Lưu Bị ngồi trên ngựa, nhìn theo Từ Thứ.

 Khi Từ Thứ đi khuất vào hàng cây bên đường, Lưu Bị đưa roi ngựa lên chỉ hàng cây:

“Ta muốn chặt hàng cây kia đi.”

Người đi theo hỏi tại sao.

Lưu Bị:

“Vì nó che mắt ta, không cho ta thấy Từ Thứ.”

Tôi – CTHĐ – vừa kể một đoạn trong truyện Tam Quốc Chí. Tôi kể để nói lên chuyện:

“Những người yêu thương nhau, chung sống với nhau bao nhiêu năm, cuối cùng cũng phải chia ly.”

Cái Chết chia ly những người yêu thương nhau trên cõi đời này.

Như vợ chồng tôi. Alice và tôi gập nhau Tháng Bẩy năm 1954, chúng tôi yêu nhau trong Tháng Bẩy năm 1954, ngay sau Ngày Đất Nước chúng tôi bị cắt làm hai.

Sống vợ chồng với nhau từ Tháng Bẩy 1954, đến nay, Tháng Tư năm 2016, chúng tôi đã yêu nhau, đã chung sống với nhau 60 năm. Tính đúng là 62 năm.

Yêu nhau, sống vợ chồng với nhau trăm năm, cũng đến ngày phải chia tay.

Đó là Luật Vô Thường.

Tháng này, năm nay – Tháng Tư 2016 – chúng tôi đứng trước ngã ba đường chia tay đó. Trên ngã ba có tấm bảng đề hàng chữ “Ngã Ba Vô Thường.”

Tôi đã viết: những năm 17, 18 tuổi, tôi có làm một số bài thơ. Vì mê thích viết Truyện, vì không phải là thi sĩ, sau năm 20 tuổi, tôi không làm Thơ. Nhưng khi gặp Alice và yêu nhau, tôi làm Thơ:

Mùa Thu mây  trắng xây thành.

Tình Em mầu ấy có xanh da trời?

Hoa lòng Em có về tươi?

Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú – dịch giả Bố Già The Godfather – chúng tôi biết nhau, quen nhau ở Sài Gòn năm 1952. Tú và tôi vào Sài Gòn sớm hơn nhiều người cùng tuổi với chúng tôi. Tú vào Sài Gòn trước tôi.

Tú làm câu thơ theo thơ tôi:

Hoa lòng Em có về tươi mãi?

Môi Em có thắm suốt đời không?

Tú kể:

– Tao nghe bà Thu ru con Mùa thu mây trắng xây thành.Tao hỏi :

Thơ thằng Hải. Sao chị biết?

Bà ấy nói:

– Ca dao. Thơ nào của Hoàng Hải Thủy?

Chị Thu là bà chị của Tú.

Những năm 1985, 1986, sống trong Nhà Tù Chí Hòa, tôi làm mấy câu:

Mùa thu mây trắng xây thành

Tình Em mầu ấy có xanh da trời?

Hoa lòng Em có về tươi?

Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

 

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh

Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.

Từ xanh đến bạc mái đầu,

Tình Ta nước biển một mầu như xưa.

Yêu bao giờ, đến bao giờ?

Thời Gian nào rộng cho vừa Tình Ta?

Hoa Lòng Em vẫn tươi hoa

Môi Em thắm đến Em già chưa phai.

Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai

Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em.

Mặt trời có lặn về đêm

Sớm mai Em dậy, bên thềm lại soi.

Cuộc Đời có khóc, có cười

Có cay đắng, có ngọt bùi, mới hay.

Thu về, trời lại xanh mây

Đầy trời ta thấy những ngày ta yêu.

Càng yêu, yêu lại càng nhiều

Nhớ Em, Anh nhắn một điều: Yêu Em.

Những năm 1985, 1986, khi tôi làm những lời Thơ trên đây, chúng tôi yêu nhau đã hai mươi năm lẻ. Tháng Tư 2016, khi tôi viết những chữ này, chúng tôi đã yêu nhau, đã chung sống với nhau 60 năm. Kể đúng là 62 năm.

Victoria Hospital Center

Victoria Hospital Center

Từ Tết Bính Thân đến hôm nay, Tháng Tư 2016, ba lần Alice phải đi Emergency vào Virginia Hospital. Bệnh viện gần tòa nhà chúng tôi ở nhất.

Cuộc xét nghiệm cả ba lần cho thấy Alice không có bệnh gì cả. Nàng yếu chân, đang đi xụm ngã, nằm liệt giường, nàng không ăn, sức khỏe cạn kiệt, thở thoi thóp.

Lần mới nhất đây xẩy ra lúc 9 giờ tối, anh bạn tôi – Đào Trường Phúc – ghé đến nhà thăm chúng tôi. Thấy vợ tôi nằm gần như mê man, anh nói:

– Gọi 911, đưa chị ấy đi cứu cấp. Còn chờ gì nữa?

Tôi:

– Nhà tôi không chịu đi.

– Không chịu đi anh phải đưa chị ấy đi. Nằm nhà đợi chết à?

Đ T Phúc gọi 911.

Nhân viên Medical Team đến ngay trong 5 phút, hai y tá, tiếng Mỹ là Nurse  – một nam, một nữ – đẩy một giường có bánh xe đến bên giường vợ tôi, chuyển nàng lên giường của họ, đẩy vào xe Ambulance đậu chờ trước cửa nhà.

Trong tuần ấy Kiều Giang về thăm chúng tôi. Kiều Giang đi theo mẹ vào bệnh viện. Tôi ở nhà chờ. Lúc ấy là 10 giờ đêm. Đến 4 giờ sáng Kiều Giang từ bệnh viện gọi về:

– Bố ơi. Cuộc xét nghiệm cho thấy Má con không có bệnh gì cả. Má con kiệt sức vì thiếu ăn, thiếu nước. Bác sĩ cho về, dặn phải đến bác sĩ gia đình điều trị ngay.

Kiều Giang cho tôi biết trong mấy giờ nằm chờ xét nghiệm, bệnh viện vào cho vợ tôi hai bịch nước biển.

Alice ra khỏi nhà lúc 10 giờ đêm, về nhà lúc 5 giờ sáng. Hai nurse đưa Nàng ra khỏi giường, hai nurse đưa Nàng trở về giường.

Bác sĩ gia đình của chúng tôi là Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân. Từ ngày chúng tôi đến thành phố Falls Church, đã 20 năm, bác sĩ Nguyễn Quốc Quân là bác sĩ của chúng tôi. Trong 20 năm đã ba lần ông cứu sống vợ tôi. Ngoài kinh nghiệm trị bệnh cho người già, tôi phục ông về tài chích thuốc của ông. Ông kém tôi chừng 7, 8 tuổi. Viết rõ là năm nay ông khoảng 73, 74. Mắt ông vẫn sáng, tay ông không run, khi chích veine ông không phải mang kính lão. Ông tự tay chích cho bệnh nhân. Tài chích veine của ông tôi đề cao là “bách phát bách trúng.” Tay người bệnh không nổi veine, mũi kim chích mỏng như sợi tóc, ông chích trúng veine ngay.

Lần đau mới đây, vợ tôi không đi được, không cả ngồi lên được. Ông bà bác sĩ đến nhà  thăm vơ tôi. Ông đem theo thuốc đến chích cho vợ tôi. Hôm sau vợ tôi ngồi lên được, đứng lên được. Ba ngày sau vợ tôi đi lại được trong nhà. Sau lần chích thứ hai, vợ tôi đi được hai giờ liền trong chợ thực phẩm Fortune.

Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân là một trong những ông bà vợ chồng tôi mang ơn ở Virginia.

Vợ chồng tôi mang ơn nhiều ông bà ở Virginia. Tôi xin lỗi tôi không kể được tên tất cả các vị. Người vợ chồng tôi mang ơn trước nhất là anh Ung Văn Luông. Anh nguyên là nhân viên USIS – Sở Thông Tin Hoa Kỳ. United States Information Service – Anh và gia đình anh đi thoát trong Ngày 30 Tháng Tư. Sang Mỹ, anh vào làm trong USIA – Cục Thông Tin Hoa Kỳ. United States Information Agency – Không quên những người bạn đồng sở bị kẹt lại ở Sài Gòn, anh nhắc những ông Mỹ trong USIA về tình trạng đáng thương của họ, những ông Mỹ USIA đề nghị Quốc Hội Hoa Kỳ làm luật cho nhân viên USIS được sang Hoa Kỳ định cư.

Chính phủ Hoa Kỳ chỉ cho sang Mỹ những nhân viên trong chính quyền Việt Nam – từ cấp Trưởng Ty, bị Cộng Sản Bắc Việt bắt đi tù khổ sai trên 3 năm, và các sĩ quan từ cấp Thiếu Úy, bị tù khổ sai trên 3 năm. Tôi không biết tình trạng sang Mỹ – không được sang Mỹ – của nhân viên người Việt các Sở Mỹ khác ở Sài Gòn ra sao. Nhân viên USIS được sang Mỹ nhưng không được coi như HO: không được hưởng trợ cấp, không có quyền lợi gì đặc biệt. Tôi và vợ con tôi sang Mỹ không phải vì tôi là “văn nghệ sĩ,” mà vì tôi là nhân viên Sở Mỹ bị Cộng Sản bắt đi tù hai lần, 8 năm. Khi xét hồ sơ tôi xin đi sang Mỹ, các vị ODP quyết định cho tôi được là “tỵ nạn chính trị: political refugee”. Tôi không đòi, tôi không xin. Tôi có đòi, có xin, cũng không được.

o O o

Những ngày tháng đầu năm Giáp Thân 2016, tôi xúc động khi đọc trên Internet lới thơ:

Tử sanh dẫu biết Luật Vô Thường

Nhưng khó ngăn dòng lệ tiếc thương 

Thơ ông Trần Văn Khê, ông làm bài thơ này khi bà vợ ông qua đời.

Đây là nguyên văn bài thơ:

Tử sanh dẫu biết Luật Vô Thường

Nhưng khó ngăn dòng lệ tiếc thương.

Những tưởng phượng loan về một tổ

Đâu ngờ cầm sắt rẽ đôi đường.

Điếu em chấp bút lau dòng lệ

Tiễn bạn ôm đàn đốt nén hương

Cầu nguyện Phật Trời mau tế độ

Hồn em siêu thoát tận Tây phương.

Tháng Tư 2016, vợ chồng tôi nắm tay nhau đứng trước Pháp Đình Vô Thường cùng nghe tuyên đọc Luật Vô Thường. Chúng tôi đã sống với nhau 60 năm, nhưng sống với nhau 60 năm không phải là sẽ được sống với nhau mãi mãi. Rồi cũng đến lúc chúng tôi phải chia tay.

Đêm khuya, trong bệnh viện Mỹ, phòng vắng, đèn mờ, im lặng, tôi ngồi sát gần giường để nghe tiếng vợ tôi:

– Đây là đâu? Em đang nằm ở đâu?

– Đây đâu phải là nhà ta?

– Em đang nằm trong bệnh viện ư? Sao không thấy có giường người bệnh nào khác?

Khi nàng mê sảng:

– Có ông bà nào đứng trước cửa. Anh ra tiếp ông bà ấy đi.

– Ai khóc? Nghe dễ sợ quá.

– Nguyên, Giang vừa vào thăm Em, Anh gặp các con không?

– Chúng mình có được sang Mỹ không anh?

Khi Alice mê, nàng hỏi Kiều Giang:

– Mày là ai?

– Tao có chồng đâu mà có con?

Khi Nàng tỉnh:

– Anh đưa Em về nhà mình. Em muốn được ra đi ở nhà mình, Em đã sống với anh ở đấy hai mươi năm. Ở nhà mình Em có chị, có em, có nhiều bà mến thương Em. Em được ấm lòng.

Nhà chúng tôi là một căn phòng trong tòa nhà dành cho Người Già thu nhập thấp – Seniors Low Income – Một ông Mỹ xây tòa nhà nhiều phòng cho Sở Xã Hội Mỹ mướn, giá mướn mỗi phòng, theo như tôi biết, là 750 Mỹ kim. Sở Xã Hội cho người già, nghèo, tiền thu nhập thấp chúng tôi mướn lại với giá khoảng 300 Mỹ kim, một phần ba số tiền SSI của chúng tôi. Tiền SSI – Social Security Income của người nghèo ở Virginia là 750 Mỹ kim một tháng.

Những con số tôi viết ở đây là “khoảng chừng,” không thật đúng.

Đêm khuya trong phòng bệnh viện, Tôi hỏi vợ tôi:

– Chúng ta có mấy đứa con?

– Các con chúng ta tên là gì?

– Chúng ta gặp nhau năm nào? Em nhớ không?

– Chúng ta sống với nhau bao nhiêu năm rồi?

Tôi hỏi để xem nàng có nhớ không, nàng nhớ. Nàng trả lời đúng, tôi biết là nàng tỉnh.

o O o

Mời bạn đọc mấy bài Thơ về Tình Vợ Chồng:

O.. That it were possible – Thi sĩ Lord Tennyson

O.. That ‘t were possible

After long grief and pain

To find the arms of my true love

Round me once again!

 

A shadow flits before me,

Not thou, but like to thee;

Ah… Christ ! that it were possible

For one short hour to see

The souls we loved, that they might tell us

What and where they be!

Những bài Thơ Việt ở đây do H2T phóng tác:

Ôi Hạnh phúc chừng nào

Qua bao nhiêu đớn đau

Được trong vòng tay ấm

Em về ôm chặt nhau!

Một bóng dáng thoáng qua

Không phải Em, giống Em.

Có thể nào chúng ta

Trong một phút êm đềm

Thấy linh hồn yêu dấu

Trở về và họ bảo:

Họ là gì, ở đâu!

Làm tại Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Ngày 16 Tháng 11, 1989.

o O o

Ernest Dowson (1867-1900)

Vitae Summa Brevis

Thay are not long, the weeping and the laughter

Love and Desire and Hate;

I think they have no portion on us after

We pass the Gate.

 

They are nót long, the days of wine and roses;

Out of a misty dream

Our path emerges for a while then closes

Within a Dream.

Từ giấc mơ mù sương

Không dài lâu tiếng khóc, tiếng cười

Tình Yêu, Ước Mong và Thù Hận

Tất cả chẳng cón gì, Em ơi

Khi ta qua cánh cửa Đời.

Không dài lâu Đất Rượu, Trời Hoa

Từ giấc mơ mù sương

Đường ta đi rồi sẽ chia xa

Trong giấc Mộng Vô Thường.

Z 30 A. 11 Tháng 11, 1989

o O o

Thomas Moore – At the Mid Hour of Night

At the mid-hour of night, when stars are weeping, I fly to the lone vale we loved, when life shone up in thy eyes;

An I think oft, if spirits can steal from the region of air

To revisit past scenes of delight , thou wilt come to me there,

And tell me our love is remembered even in the sky.

 

Then I sing the wild song it once was a rapture to hear

When our voice commingling breathed like one on the ear;

And as Echo far off through the vale my sad orion rolls

I think, O My Love, ’tis thy voice from The Kingdom of Souls

Faintly answering still the notes that once was so dear.

 o O o

Bài Hát Ngày Xưa

Anh bay, khi sao trời khóc lúc nửa đêm

Về thung lũng cô đơn đôi ta yêu khi Tình Yêu sáng trong mắt Em.

Nhiều khi Anh nghĩ nếu linh hồn có thể trở về từ Trời, để thăm lại những nơi yêu thương

Em sẽ về đó với Anh và nói Tình đôi ta được nhớ ngay cả trên Thiên Đường.

Khi ấy Anh sẽ hát khúc ca du dương ngày xưa

Khi tiếng đôi ta hòa một êm như mộng, mơ;

Và khi tiếng vang từ thung lũng xa vọng lại tiếng Anh cầu nguyện buồn,

Anh nghĩ, Em ơi, đó là tiếng Em từ Vương Quốc Linh Hồn

Êm dịu trả lời những âm thanh ta yêu ngày xưa, ngày xưa…

Z 30 A 12/11/ 1989.

o O o

Felicia Dorothea Hemans (1793 – 1835)

Dirge

Calm on the bosom of thy God,

Fair spirit, rest thee now!

E’en while with ours thy footsteps trod

His seal was on thy brow.

 

Dust, to its narrow house beneath!

Soul, to its place on high!

They that have seen thy look in death

No more may fear to die.

o O o

Tang Ca

Bình yên trong Chúa của Em,

Linh hồn đẹp, thôi Em yên nghỉ.

Khi bên Anh Em đi những bước chân êm,

Dấu Chúa đã in trên mày Em.

Cát bụi, trở về cát bụi!

Linh hồn, trở về trời cao!

Khi Anh đã thấy Em về tới,

Cái Chết nào Anh có sợ đâu.

Z 30 A. 10/1989

o O o

William Butler Yeast – When you are old

When you are old and gray and full of sleep

And nodding by the fire, take down this book,

Anh slowly read, and dream of the soft look

Your eyes had once, and of theirs shadows deep;

 

How many loved your moments of glad grace,

And loved your beauty with love false or true,

But one man loves the pilgrim’ soul in you

And loved the sorrows of your changing face.

 

Anh bending down beside the glowing bars

Murmur, a little sadly, how love fled

And pace upon the moutains overhead

And hid his face amid a crown of stars.

Khi Em già

Khi Em già úa, Em sầu rũ

Ngồi bên đèn, đọc lại thư tình,

Em sẽ mơ về năm tháng cũ,

Ngày môi Em thắm, tóc Em xanh.

Biết bao nhiệu kẻ đã yêu Em

Những chiều Em đẹp, tối Em duyên;

Chỉ có một người trong tất cả

Yêu hồn Em nặng những ưu phiền.

Người ấy nghiêng mình bên ánh lửa

Yêu nét buồn trên mặt sầu miên.

Tình đi, nuối tiếc, người than thở

Rồi núi cao người nhẹ bước lên,

Đỉnh núi sương mù người lệ rỏ,

Trong chuỗi sao mờ dấu mặt tên.

Z 30 A – 1989

o O o

Christina Georgina Rosetti – Remember

Remember me when I am gone away

Gone far away into the silent land;

When you can no more hold me by the hand,

Nor  I half turn to go, yet turng stay,

Remember me when no more day by day

You tell me of our future that you plann’d.

Only remember me, you understand;

It will be late to counsel then or pray,

Yet if you should forget me for a while

And afterwards remember, do not grieve:

For if the darkness and corruption leave

A vestige of the thoughts that once I had,

  Better by far you should forget and smile

Than that you should remember and be sad.

Nhớ

Hãy nhớ Em khi Em đã đi xa

Đi xa lắm vào vùng u tịch,

Khi Anh không còn nắm được tay Em,

Em không còn nửa ngại ngần, nửa thích,

Khi không còn những chiều xanh ngọc bích

Anh kể Em nghe những chuyện êm đềm,

Những chuyện xưa sau, những chuyện thần tiên,

Khi đã muộn những lời ước nguyện .

Hãy nhớ Em , nhưng nếu Anh quên,

Rồi lại nhớ, đừng buồn thê thiết,

Nếu từ âm u, nếu từ hủy diệt

Em còn chút gì thấp thoáng, mong manh,

Em muốn Anh cười, Em muốn Anh quên

Hơn Anh khóc mà nhớ rằng Em chết.

Z 20 A. Ngày 12 – 11 – 1989.

Thơ làm ở Việt Nam, chép lại ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích Tháng Tư 2016.

NGỤY CÔNG TỬ

nguy

Sau năm 1975 khi viết những bài diễn tả cuộc sống của nhân dân ta dưới ách Cộng sản, từ Sài Gòn gửi sang các bạn tôi ở Anh, Pháp, Úc, Mỹ,  tôi ký nhiều tên; trong số có bút danh Ngụy Công Tử.

Thời tôi ba mươi tuổi, tôi thích đọc Tam Quốc Chí. Đến năm tôi sáu mươi, tôi thích đọc Đông Chu Liệt Quốc. Sang Mỹ năm 1995, tới nay đã 21 năm,  Đông Chu Liệt Quốc,  tác phẩm của Phùng Mộng Long, là quyển sách tôi đọc nhiều nhất.  Đông Chu Liệt Quốc là “sách gối đầu giường” của tôi. Tôi đọc đi đọc lại những đoạn truyện trong Đông Chu Liệt Quốc – ĐCLQ – Đọc nhiều lần vẫn thấy chuyện hấp dẫn, vẫn nhận ra nhiều sự kiện mới, nhiều ý nghĩa của chuyện, nhiều bài học về Tình Đời, Tình Người  mà những lần đọc trước tôi không thấy.

Tôi đọc đi, đọc lại những đoạn truyện về cuộc sống của những ông Công Tử Đông Chu. Thời Đông Chu nước Tầu chia ra làm nhiều nước nhỏ, những ông Vua Tầu thời Đông Chu có nhiều vợ. Một ông con được coi là Thế Tử – Thế Tử sẽ nối nghiệp làm Vua – những ông con vua khác được gọi là Công Tử.

Một bút hiệu của tôi là Ngụy Công Tử. Tôi có cảm tình nhất với ông Ngụy Công Tử Đông Chu Liệt Quốc.

nguy2

Mời quí vị đọc tiểu sử của Ngụy Công Tử ĐCLQ  trên Internet.

Công tử nước Ngụy, tên Vô Kỵ là con út của Ngụy Chiêu Vương, và là em cùng cha khác mẹ với An Ly Vương nước Ngụy. Chiêu Vương chết, An Ly Vương lên ngôi phong công tử làm Tín Lăng Quân. Công tử là người nhân hậu, khiêm tốn đôi với kẻ sĩ. Kẻ sĩ không kể người hiền hay người dở, công tử đều khiêm tốn, lấy lễ đối đãi, không cậy mình giàu sang mà kiêu ngạo. Vì vậy kẻ sĩ trong vòng mấy ngàn dặm đều tranh nhau theo Công Tử. Khách trong nhà nhiều đến ba nghìn người.

Năm thứ hai mươi, đời vua An Ly Vương nước Ngụy (năm 237 trước Công nguyên), Tần Chiêu Vương sau khi phá quân Triệu ở Trường Đình, tiến binh vây Hàm Đan, kinh đô nước . Chị của công tử là vợ Bình Nguyên Quân, em trai vua Huệ Văn Vương nước Triệu. Bình Nguyên Quân đã mấy lẩn đưa thư cho Ngụy Vương và Ngụy công tử xin nước Ngụy cứu viện. Vua Ngụy sai tướng quân Tấn Bỉ cầm mười vạn quân đi cứu Triệu. Vua Tẩn sai sứ giả nói với vua Ngụy:

– Ta đánh Triệu, sớm chiều thể náo cũng phá Triệu, chư hầu ai dám cứu Triệu thì sau khi phá Triệu, ta sẽ đem binh đến đánh.

Vua Ngụy ra lệnh cho Tấn Bỉ, đóng quân ở đất Nghiệp, tiếng là cứu Triệu, nhưng  thực ra là đi nước đôi để chờ xem tình thế. Sứ giả của Bình Nguyên Quân liên tiếp sang Ngụy, đem lời Bình Nguyên Quân trách Ngụy Công tử:

– Thắng sở dĩ tự phụ về chỗ kết nghĩa hôn nhân là vì cho rằng Công tử là ngườì có nghĩa khí cao, có thể giải cứu người ta lúc nguy khốn. Nay Hàm Đan sớm chiều sẽ  phải đầu hàng nước Tần mà cứu binh của Ngụy không đến, thế thì Công tử cứu nguy khốn cho người khác ở chỗ nào? Nếu Công tử khinh Thắng này,  Thắng phải đầu hàng nước Tần, thế thì Công tử không thương bà chị của Công tử sao?

Ngụy Công tử  mấy lần xin Ngụy Vương đánh Tần, và giục các tân khách, biện sĩ tìm đủ mọi cách nói với Ngụy Vương. Nhưng Ngụy Vương sợ Tần,  không nghe lời Công tử. Công tử nghĩ mình không nên sống một mình để nước Triệu mất, nên tụ tập các tân khách, quân kỵ và hơn một trăm cỗ xe, định qua đánh quân Tần, rồi cùng chết với nước Triệu.

Công tử đi qua cửa Di Môn ghé thăm Hầu Sinh và từ biệt ra đi. Hầu Sinh nói:

–  Tôi già yếu rồi, không thể đi theo Công tử được.

Công tử đi được mấy dặm, không vui, nghĩ:

–  Nay ta sắp chết, thế mà Hầu Sinh không có nửa lời tiễn ta, phải chăng ta có điều gì không phải?

Bèn quay xe về, hỏi Hầu Sinh. Hầu Sinh cười, nói:

– Tôi biết thế nào Công tử cũng quay lại..

Lại nói:

– Công tử yêu kẻ sĩ nổi tiếng khắp thiên hạ, nay gặp nạn  lớn có thể chết mà không có ai giúp phương kế nào khác, lại muốn lao vào quân Tần, thế cũng như là ném thịt cho hổ đói chứ có ích gì đâu! Như thế thì dùng tân khách làm cái gì? Nhưng công tử đối đãi với tôi rất hậu, công tử ra đi mà tôi không tiễn, vì tôi biết công tử sẽ trở lại.

Công tử lạy hai lạy. Hầu Sinh nói riêng:

– Doanh này nghe nói “Binh phù” của nhà vua  để trong phòng ngủ của nhà vua mà nàng Như Cơ được nhà vua rất yêu; nàng ra vào phòng ngủ của nhà vua, có thể lấy trộm được binh phù. Doanh nghe nói cha của Như Cơ bị người ta giết. Như Cơ chứa giận ba năm, muốn tìm người báo thù cho cha, nhưng từ nhà vua trở xuống, không có một người nào giúp. Như Cơ khóc với công tử. Công tử sai người khách chém đầu kẻ giết cha  Như Cơ. Như Cơ muốn báo ơn công tử, chết cũng không từ chối, nhưng  chưa có dịp đấy thôi. Nay nếu công tử nói với Như Cơ một lời thì thế nào Như Cơ cũng làm theo. Một khi đã có được “hổ phù”, Công tử giành lấy quyền chỉ huy quân đội của Tấn Bỉ, đem quân về phía Bắc, cứu nước Triệu, đuổi nước Tần về phía Tây, đó là công lao của Ngũ bá đời xưa.
Công tử nghe theo kế của Hầu Sinh. Như Cơ lấy  trộm được binh phù, dưa cho công tử.

Công tử ra đi, Hầu Sinh nói:

– Tướng quân ở trên mặt trận  có những lúc không nghe theo lệnh của nhà vua. Công tử đến, nếu như Tấn Bỉ không trao quân cho công tử mà lại muốn hỏi lại nhà vua thì công việc hỏng mất. Người bạn tôi là anh hàng thịt Chu Hợi có thể cùng đi với Công tử, anh ta là một lực sĩ. Nếu như Tấn Bỉ nghe theo thì tốt. Nếu không thì Chu Hợi sẽ đánh Tấn Bỉ chết.

Công tử  khóc. Hầu Sinh hỏi:

– Công tử sợ chết hay sao?

– Tôi không sợ chết.

– Tại sao lại khóc?

Công tử nói:

– Tấn Bỉ là một vị lão tướng yêu nước. Tôi đến cướp quyền, sợ ông ta không nghe, phải giết ông cho nên tôi khóc.

Đến đất Nghiệp Công tử giả lệnh của vua Ngụy thay Tấn Bỉ, Tấn Bỉ ghép binh phù lấy làm ngờ, nói:

– Nay tôi cầm binh mười vạn, đóng nơi biên giới. Ông đi một chiếc xe đến đây thay tôi, là nghĩa thế nào?

Tấn Bỉ có ý không chịu trao quyền. Chu Hợi dúng cái chùy sắt bốn mươi cân, đánh Tấn Bỉ vỡ sọ chết, Công tử bèn chỉ huy quân của Tấn Bỉ, chỉnh đốn đội ngũ, ra quân lệnh:

– Nếu cả cha và con đều ở trong quân, cho cha trở về; nếu cả anh và em ở trong quân cho anh trở về; nếu là con một không có anh em thì cho trở về mà nuôi cha mẹ.

Chọn được tám vạn quân, tiến đánh quân Tần. Quân Tần rút lui, công tử cứu được nước Triệu.

Trên đây là đoạn truyện về Ngụy Công Tử trên Internet. Dưới đây là đoạn truyện về Ngụy Công Tử trong truyện Đông Chu Liệt Quốc: Tôi – CTHĐ – cảm động khi đọc đoạn truyện này.

Trích ĐCLQ: Có con chim cưu bị con chim rao đuổi bắt, bay vào thư phòng của Ngụy Công Tử để trốn. Tưởng con chim rao đã bay đi, công tử thả con chim cưu ra, không ngờ con chim rao nấp đâu đó, bắt và ăn thịt con chim cưu. Công tử tự trách đã làm chết con chim cưu nên buồn và ân hận. Người dân trong vùng bắt được mấy chục con chim rao, nhốt trong lống, dâng để Công tử trị tội. Công tử nghĩ chỉ một con chim rao phạm tội mà giết cả mấy chục con thì không được, bèn cầm thanh gươm, gõ gươm vào từng lồng chim, nói với con chim trong lồng:

– Mày không giết con chim cưu thì kêu lên ba tiếng, ta tha cho.

Những con chim rao trong lồng, nghe hỏi, đều kêu lên. Có một con nghe hỏi, không kêu mà gục đầu xuống.

Đây là đoạn chuyện thứ hai tôi cảm khái: chuyện nàng Như Cơ và chiếc binh phù của Vua Ngụy:

ĐCLQ Trích: Ba ngày sau Vua Ngụy mới biết binh phù bị lấy trộm, tra hỏi cung nhân, không ra thủ phạm. Vua nhớ Ngụy Công Từ – tức Tín Lăng Quân – nhiều lần xin mình ra lệnh cho Tướng Tấn Bỉ tấn công quân Tần, bèn cho gọi Ngụy Công Từ đến hỏi. Khi ấy Vua mới biết Công Tử cùng gia khách đã đi khỏi kinh đô. Vua Ngụy giận quá, sai Tướng Vệ Khánh dẫn quân đuổi bắt Ngụy Công Tử.

Ngụy Công Tử giữ Vệ Khánh lại, không cho về kinh đô. Vua Ngụy giận, định ra lệnh bắt giam vợ con Ngụy Công Tử.

Như Cơ khóc, quỳ lậy khai tội lấy trộm binh phù:

– Thân phụ của thiếp bị người giết thảm, đại vương không thể báo thù cho thiếp, nhưng Ngụy Công Tử đã trả thù cho thiếp. Thiếp lấy trộm binh phù, xin Vua trị tội thiếp.

Vua hỏi:

– Đứa nào mang binh phù đi trao?

Nhan Ân bị khai ra. Vua muốn giết Nhan Ân. Nhan Ân kêu:

– Kẻ nô tỳ này có biết binh phù là cái gì đâu?

Như Cơ nói:

– Hôm trước ta sai ngươi mang lẵng hoa đi biếu Tín Lăng Quân phu nhân. Ta dấu binh phù trong đó.

Nhan Ân òa khóc:

– Phu nhân giết tôi. Tôi chết oan.

Nhu Cơ khóc:

– Thiếp có tội. Xin Vua giết thiếp.

Vua bỏ tù Nhan Ân, cho Như Cơ vào lãnh cung. Hai tháng sau khi đánh lui quân Tần, Ngụy Công Tử cho Vệ Khánh dẫn quân về nước, dâng nộp binh phù và biểu tạ tội.

Vệ Khánh về triều, tâu với Vua Ngụy:

– Tín Lăng Quân đại thắng quân Tần, biết có tội nên không dám về nước, xin ở lại nước Triệu, gửi lời về tâu: Ngày khác sẽ xin về nước chịu tội.

Công Tử ở lại nước Triệu, là thượng khách của vua Triệu và của anh rể là Bình Nguyên Quân.

Vua Ngụy cho Nhan Ân ra khỏi ngục, cho Như Cơ ra khỏi lãnh cung, cho vợ con Ngụy Công Tử được hưởng những bổng lộc, đất phong của Ngụy Công Tử, nhưng không cho đón Ngụy Công Tử về nước.

Ngày tháng qua đi…

Ngụy Công Tử ở lại nước Triệu..

Vua Tần cho quân đánh Ngụy, nước của Ngụy Công Tử. Quân Tần bao vây thành Đại Lương, kinh đô nước Ngụy. Vua Ngụy sai sứ giả sang Triệu mời Ngụy Công Tử về nước. Nhưng Ngụy Công Tử không chịu tiếp Sứ Giả. Sứ Giả nước Ngụy bèn nhờ Mao Công  và Tiết Công, hai người hiền của nước Triệu. Ngụy Công Tử rất trọng Mao Công và Tiết Công.

Mao Công, Tiết Công đến gập Ngụy Công Tử, cùng nói:

– Được tin Công Tử sắp về nước Ngụy, chúng tôi đến tiễn ngài.

Ngụy Công Tử:

– Tôi có tính về nước đâu.

– Quân Tần đánh nước Ngụy của ngài, đang vây hãm thành Đại Lương. Ngài không hay biết gì sao?

– Tôi có nghe nói, nhưng tôi từ bỏ nước Ngụy đã 10 năm, nay tôi là người nước Triệu, tôi không còn lưu luyến gì nước Ngụy.

Mao Công, Tiết Công:

– Sao Công Tử lại nói thế? Công Tử được trọng đãi ở Triệu, tiếng khen vang khắp các nước, là nhờ có nước Ngụy, nhờ ngài là ngưới nước Ngụy. Nay quân Tần đánh Ngụy mà Công Tử không thương nước, thương dân, nếu quân Tần vào được thành Đại Lương, phá hủy tôn miếu của tiên vương, Công Tử còn mặt mũi nào mà cứ sống nhờ ở Triệu!

Ngụy Công Tử toát mồ hôi, đứng lên vái lậy tạ ơn chỉ bảo.

Bèn lập tức ra lệnh cho tùy tùng, tân khách, sửa soạn về Ngụy. Công Tử vào triều từ biệt Vua Triệu.

Vua Triệu không muốn cho Ngụy Công Tử về nước, cầm tay Ngụy Công Tử, khóc, nói:

– Quả nhân từ khi mất Bình Nguyên Quân, may có Công Tử, mới giữ được nước. Nay Công Tử bỏ đi, quả nhân như mất cả hai tay.

Ngụy Công Tử:

– Vô Kỵ này không thể để quân Tần phá hủy tôn miếu, thế tất phải về cứu nước. Nếu nhờ hồng phúc của Đại Vương, nước Ngụy không mất. Đại Vương và thần sẽ có ngày gặp lại nhau.

Vua Triệu:

– Công Tử khi trước dùng quân Ngụy cứu được nước Triệu. Nay quả nhân xin giúp quân lương để ngài về cứu nước.

Vua ba nước Yên, Hàn, Sở cho quân hợp với quân Triệu – do Ngụy Công Tử thống lĩnh – về Ngụy đánh quân Tần. Quân Tần phải rút về nước.

Phá Tần, Ngụy Công Tử về nước. Vua Ngụy ra đón ngoài thành. Anh em vương giả xa cách 10 năm, nay gặp lại nhau, xiết bao mừng thương, ngồi chung xe về triều.

Vua Tần dùng kế giao hảo với nước Ngụy, sai Sứ Giả sang mời Ngụy Công Tử qua chơi nước Tần. Ngụy Công Tử không sang Tần. Tần dùng kế ly gián, phao tin Ngụy Công Tử mưu toan lên làm Vua. Biết Vua Ngụy nghi mình cướp ngôi, Ngụy Công Tử xin từ nhiệm. Từ đó Công Tử sống vui với rượu và đàn bà đẹp, cho đến ngày từ giã cõi đời.

o O o

Chu Hợi là dũng sĩ  đi theo Ngụy Công Tử và dùng cây dùi sắt đánh chết Tướng Tấn Bỉ, Mấy năm sau vua Ngụy cho Chu Hợi làm sứ giả, mang ngọc bích sang tặng vua Tần. Vua Tần giữ Chu Hơi lại, muốn cho Chu Hợi làm Tướng ở Tần. Chu Hợi nhất định không chịu. Vua Tần cả giận,  sai quân đẩy Chu Hợi vào chuồng cọp cho cọp ăn thịt.

Con hổ đốm, đói, nhẩy đến vồ. Chu Hợi quát lên một tiếng. Hai mắt Chu Hợi đỏ ngầu. Hổ sợ, nằm phục xuống.

Bị giam trong ngục đá, Chu Hợi đập đầu vào cột đá. Cột bị mẻ,  Chu Hợi vẫn không chết. Sau cùng Chu Hợi tự tử bắng cách cấu cổ, móc cuống họng.

o O o

Tài liệu trong bài Ngụy Công Tử được trích trong sách ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC của Phùng Mộng Long, văn sĩ Trung Hoa đời Minh, bản Việt Văn của Nguyễn Đỗ Mục.

o O o

Thân kinh gửi quý bạn:

Từ Tết đến hôm nay, vợ tôi đau – Bệnh Già. Nàng 84 tuổi – mấy lần tôi tưởng Nàng ra đi lần cuối. Tôi đau, tôi sợ mất Nàng.

Hôm nay, ngày 2 Tháng Ba 2016, Tết ra đã được 25 ngày, sức khỏe vợ tôi tạm ổn, tôi gắng viết bài này.

Đây là bái Viết ở Rừng Phong Đầu Năm Nhâm Thân của tôi.

Cô Đầu, Cô Đuôi

hht1

Tôi không gọi đây là tập khảo luận văn học, tôi gọi bài viết này là tập tài liệu văn học. Tôi viết bài này trong khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1984. Tôi bị Công An Thành Hồ bắt lần thứ nhất năm I977, tù 24 tháng, tôi trở về mái nhà xưa năm 1979. Trên căn gác nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ Sàigòn, từ 1981 đến 1984 tôi viết nhiều bài gửi ra nước ngoài. Tháng Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai. Bài viết này của tôi chưa kịp gửi đi. Sau sáu năm tù, năm 1990  lần thứ hai tôi từ ngục tù cộng sản trở về mái nhà xưa ở Cư Xá Tự Do. Tôi tìm được bài viết này lạc trong số sách vở của tôi. Trong đêm đến bắt tôi, bọn Công An Thành Hồ không tìm thấy nó.

Bài viết của tôi sẽ đi ngược dòng thời gian, bắt đầu từ Thi sĩ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, nửa đầu Thế Kỷ 20, đi ngược về những nhà thơ đời Lý, Thế Kỷ 11. Ðây chỉ là công trình biên khảo về một chủ đề, giúp các bạn yêu văn học đỡ mất công tìm kiếm. Tôi mong tập tài liệu này sẽ được in thành một quyển.

Trong thơ của người xưa chúng ta gập một số hình ảnh đàn bà Việt Nam mà ngày nay, và mãi mãi về sau, xã hội Việt Nam không còn họ nữa: những người đàn bà làm nghề cô đầu, một nghề phục vụ đàn ông đã có trong xã hội ta kể từ những năm giữa Thế kỷ 19 – khi nền đô hộ của người Pháp đã được đặt vững vàng trên đất nước ta, thời gian dân ta được hưởng một thời gian thanh bình, xã hội không có những xáo trộn lớn – và suy tàn đi vào những năm 1940 – khi Việt Nam đi vào chu kỳ loạn và thay đổi.

Dù có tinh thần bài Trung Hoa nặng đến đâu chăng nữa, tôi nghĩ ta cũng phải nhận rằng người Việt Nam, từ mấy ngàn năm, đã học tập rất nhiều thứ của người Trung Quốc, trong số có nghề chơi là một. Hát ả đào, hay hát cô đầu ở nước ta, là một biến thể của nghề ca kỹ ở Trung Quốc. Hình ảnh đậm nét nhất, gây ấn tượng nhất của những nàng ca kỹ Trung Hoa là hình ảnh và tâm sự người thiếu phụ bến Tầm Dương, do Bạch Cư Dị vẽ lên và để lại, sống mãi trong thơ văn từ hơn ngàn năm trước đến nay.

Hai ông Ðỗ Bằng Ðoàn, Ðỗ Trọng Huề, trong quyển Việt Nam Ca Trù Biên Khảo, viết:

“Lối hát ả đào có từ thời nhà Lý. Năm Thuận Thiên thứ 16 – 1025 – Vua Lý Thái Tổ đặt chức quản giáp cho giới con hát. Trong đời nhà Lý, có Tống Ðạo sĩ là người nước Tầu sang ngụ nước ta, dậy con gái nước ta múa hát.

“Cuối đời nhà Hồ – 1400-1407 – có người con hát họ Ðào, quê ở làng Dào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết, dân làng nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng là thôn Ả Ðào, Từ đấy, những cô gái đi hát được gọi là Ả đào, hoặc Ðào nương.”

Nghệ thuật múa hát ông cha ta học được của người Tầu đó truyền đến Thế kỷ 19 thì chia thành hai ngành chuyên biệt và chuyên nghiệp, nhiều người làm hai ngành này đã có thể sống được với nghề: trình diễn ca múa trên sân khấu: chèo, tuồng, và hát trong phòng: hát ả đào.

Hát ả đào, hay hát cô đầu, có nhiều cách, thể, điệu: Hát nói, Hát ru, Gửi thư, Kể chuyện, Bồng mạc, Sa mạc vv..Không có ý chuyên khảo về đề tài Hát Ả Ðào nên tôi chỉ viết thoáng qua phần này. Lời của các điệu hát giống nhau, thường là thơ lục bát, lời ca Hát nói là một thể riêng. Hát nói cũng là điệu ca phổ biến nhất trong những điệu ca ả đào. Các thi sĩ xưa sáng tác khá nhiều bài Hát nói. Như thểâ thơ Lục bát, Hát nói là thể thơ hoàn toàn Việt Nam; trong Hát nói ta thấy rất ít ảnh hưởng của thơ Ðường luật.

Tản Ðà, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn công Trứ, Cao bá Quát đều sáng tác Hát nói, nhiều bài được làm ra với dụng ý rõ ràng là để cho cô đào hát. Một số vị quan lại thời ấy, tuy không phải là thi sĩ theo nghĩa chúng ta hiểu hiện nay, đã sáng tác Hát nói, đặc biệt là sáng tác của những ông quan lại họ Dương chỉ toàn là những bài Hát nói. Ngoài những bài Hát nói ấy ra ta không thấy các ông làm qua một thể thơ nào khác. Nhũng nhân vật nổi nhất trong  lớp người sáng tác Hát nói ấy là những ông họ Dương: Dương Khuê, Dương Lâm, Dương tự Nhu. Nghề cô đầu ở nước ta thịnh vươnïg nhất cùng với thời hiển đạt của những ông  Aùn sát, Tuần phủ, Tổng đốc nhà Nguyễn.

hht2

Thi sĩ Tú Xương công khai tuyên dương thú hát cô đầu của ông trong bốn câu:

Có phải rằng ta chẳng học đâu,

Mỗi năm ta học một vài câu.

Ví dù Vua mở khoa thi Trống,

Lạc nhạn, xuyên tâm, đủ ngón chầu.

Lời thơ vừa ngông, vừa hài hước, nhưng cũng có nhiều thực tế. Nếu như Vua mở khoa thi đánh trống cô đầu thật, biết đâu ông Tú Xương đã chẳng đỗ ông Nghè – Nghè Trống cũng là Nghè – đường công danh của ông đã không lận đận như với khoa thi chữ. Chúng ta hãy nghe ông diễn tả nhân sinh quan của ông qua bài

Hát Cô Ðầu

Nhân sinh quí thích chí

Chẳng gì hơn hú hí với cô đầu.

Khi vui chơi năm ba ả ngồi hầu,

Chén rượu cúc, đánh chầu năm ba tiếng.

Tửu hậu khán hoa nhàn bất yếm,

Hoa tiền chước tửu hứng vô nhai.

Hỡi ai ơi..Chơi lấy kẻo hoài,

Chơi cũng thế mà không chơi cũng thế.

Của trời đất xiết chi mà kể,

Nợ công danh thôi thế cũng xong.

Chơi cho thủng trống tầm bông.

Nhân sinh quí thích chí: người ta ở đời cốt thỏa thích ý mình. Uống rượu, xem hoa mãi chẳng chán, trước hoa, uống rượu thú không biết ngần nào. Trống tầm bông: trống hai mặt, thắt lại ở giữa, đánh lên tiếng kêu nhẹ là tầm, tiếng kêu nặng là bông.

Thi sĩ nói: Chơi là lãi. Chơi cũng thế mà không chơi cũng thế! Người trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm sống, nếu nghe theo lời khuyên này, có thể mang hại. Có làm thì mới có thể có chơi. Chúng ta phải làm rồi mới chơi được. Dù cho ta có điều kiên đi nữa nếu ta chỉ sống để chơi, để hưởng thụ không mà thôi, cuộc sống của ta cũng bị lệch. Theo tôi, điều kiện để chơi là phải làm việc. Nhưng chỉ hùng hục làm thôi mà không chơi, không biết chơi, không biết hưởng lạc thú ở đời, cũng là hỏng.

Về một mặt, nói một chiều, tính ra quả “chơi là lãi” thật. Trong thời gian nằm trong tù tôi đã có dịp suy nghĩ – lơ mơ thôi – về đề tài ấy. Nằm cùng với tôi trong nhà tù cộng sản có những anh nhà buôn, nhà bán, cả đời ăn mắm, mút ròi, tính lợi cho mình, hại cho người, buôn gian, bán lận, một vốn, bốn lãi, chất chứa, ký cóp, bòn mót của cải để làm giầu. Cộng sản vào Sàigòn, các anh này mất hết, không những chỉ bị mất hết của cải, nhà cửa, các anh còn bị cộng sản cho vào tù vì cái tội giầu tiền. Sống trong cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa – quái thai của quái quỉ Cộng sản – thì anh ăn chơi cũng tù mà anh không ăn chơi cũng tù. Chỉ có điều khác là những anh giầu tiền đã bị tù rồi còn phải khai báo, phải nộp của, đã mất trắng những của nổi nhà cửa, kho hàng, tiền vàng, các anh còn bị bóp cho lè những của chìm ra,  những anh đã ăn chơi đã đời rồi thì nằm phây phây, các anh này không còn gì để bọn cộng sản có thể lột. Trong trường hợp ấy – đúng như lời ông Tú Xương nói – quả thật sống ở đời “chơi là lãi” đấy.

Nói đến hát cô đầu, nhiều người Việt – những người chưa từng bao giờ biết cái thú hát cô đầu – cũng ít nhiều biết bài Hát nói, như bài này :

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết

Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông

Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì.

Bây giờ Tuyết đã đến thì

Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già.

 

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết

Mới ngày nào chửa biết cái chi chi,

Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì

Ngoảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu.

Ngã lãng du thời quân thượng thiếu,

Quân kim hứa giá ngã thành ông.

Cười cười, nói nói thẹn thùng

Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.

Riêng một thú thanh sơn đi lại

Khéo ngây ngây, dại dại vì tình.

Ðàn ai một tiếng Dương tranh!

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết – nghe nói. Nghe nói thôi, người viết gần như mù tịt về chuyện này – là bài hát được hát nhiều nhất trong những chầu hát cô đầu. Vì lời hay đủ khổ, dễ hát, bài HHTT còn được dùng làm bài mẫu cho các em cô đầu tập hát – Cô đầu có hai loại: cô đầu hát và cô đầu rượu, cô đầu rượu không biết hát, chỉ để hầu khách – Tác giả HHTT là Dương Khuê, người được Nhà thơ Yên Ðổ khóc trong thơ:

Bác Dương.. Thôi đã thôi rồi..

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…

Vân Trì Dương Khuê, sinh năm 1836, mất năm 1898, quê làng Vân Ðình, Hà Ðông, đỗ tiến sĩ năm Tự Ðức 21 – 1868 – từng làm Tổng Ðốc Nam Ðịnh và Ninh Bình.

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết diễn tả tâm trạng của những tay chơi hào hoa khi đã có tuổi. Vào những năm 1960 tâm trạng này được diễn tả bằng câu :”Ðừng gọi anh bằng chú..” Cô bé mười tuổi chưa biết cái gì cả năm ta bốn mươi tuổi, số tuổi sung mãn nhất của người đàn ông, trở thành cô gái hai mươi tươi mởn khi ta năm mươi tuổi, thể xác ta đã suy nhược nhưng lòng ta vẫn còn đầy những tham lam chưa thỏa. Ta thấy hạnh phúc đã ở ngoài tầm tay với của ta. Khi ta đang ăn chơi, em còn nhỏ. Nay em đến tuổi lấy chồng, ta già rồi. Xưng chú, xưng anh đều ngượng miệng, xưng ta thì nhạt nhẽo và phách lối. Gọi nàng là em thì kỳ kỳ mà gọi nàng là cháu thì vô luân. Tình trạng ngành phè, vô duyên, ngôn không chính mà danh chẳng thuận một ly ông cụ nào.

Sau Tháng Tư 1975 vợ chồng tôi trôi dạt về căn nhà nhỏ trong cư xá nghèo này. Lúc chúng tôi mới về đây cô bé nhà trước cửa mới mười tuổi, còn chơi trò nhẩy dây, đánh cầu ngoài đường. Những mùa mưa, mùa nắng Sàigòn qua đi, tôi võ vàng, gầy ốm, méo mó, răn reo, ngồi bó gối sau khung cửa sổ, nhìn ra con đường nhỏ buồn phiền. Tôi xách cái túi rách lên xe bông đi tù..Những mùa mưa, mùa nắng Sàigòn qua đi, tôi xách cái túi rách trở về mái nhà xưa. Tôi lại ngồi bó gối sau khung cửa sổ nhìn ra còn đường buồn phiền. Tôi già hơn, mệt mỏi hơn, võ vàng, gầy ốm hơn, méo mó hơn. Cư xá nghèo hơn, đổ nát hơn, rêu phong hơn, u ám hơn. Một sáng tôi sững sờ nhìn cô gái mười bẩy, mười tám tuổi nhà trước cửa. Chưa bao giờ tôi thấy thời gian qua rõ ràng đến như thế..Bẩy, tám năm trời qua mau ơi là mau..

Dương Vân Trì có mấy bài Hát nói diễn tả tâm tình tiếc ngày xưa, thương người cũ, ngậm ngùi vì thời gian qua mau: “Ðêm khuya chợt nhớ chuyện thời trẻ. Trong mắt người ta đã già rồi…” thật cảm động:

Tặng Cô Ðầu Phẩm

Dạ thâm hốt ức thiếu niên sự

Giận hồng quân ghen ghét kẻ hồng quần.

Trải nắng mưa gầy biết mấy phần xuân,

Mà son phấn cũng phong trần thế nhỉ?

Nhãn trung chi nhân ngô lão hĩ!

Lệ Giang Châu chan chứa bởi vì ai!

Tân tri, cựu hận bời bời,

Tình duyên ấy lôi thôi bao kể xiết.

Ướm hỏi khách biết chăng, chẳng biết ?

Thương cho tình mà lại tiếc cho tài.

Hay là nhớ chốn Chương Ðài,

Xạ lan mùi cũ, hán hài lối xưa?

Hay là nhớ chốn mây mưa.

Gập Cô Ðầu Cũ

Hốt ức lục, thất niên tiền sự

Nợ phong lưu chưa trả hương nguyền.

Ðến bây giờ lại gập người quen,

Nỗi lưu lc, ghét ghen là thế thế.

Thiếp tự thân khinh, lang vị khí.

Thần tuy tội trọng, đế do liên.

Can chi mà tủi phận, hờn duyên,

Ðể son phấn đàn em sau khúc khích.

Ý trung nhân chỉ khả tình tương bạch.

Thôi bút nghiên, sênh phách cũng đều ai.

Trông nhau nói nói, cười cười.

Giải nghĩa mấy câu chữ Hán: Chợt nhớ chuyện sáu, bẩy năm về trước. Thiếp tự thân khinh: Em biết cái thân em không ra gì nhưng chàng chưa nỡ bỏ em. Thần tuy có tội nặng nhưng vua vẫn còn thương. Ý trung nhân: người có tình với nhau chỉ nên nói thật nỗi lòng với người tình…

Trong một tỉnh nhỏ nào đó ở miền Bắc Việt nam trong một đêm cách đêm nay một trăm ba mươi, một trăm bốn mươi năm, người lãng du Dương Vân Trì đi hát cô đầu. Cô đào aht có chồng là kép đàn, theo đúng quy luật đã thành văn:

Cô đầu, cô đách

Lấy quan, quan cách,

Lấy khách, khách về Tầu,

Lấy nhà giầu, nhà giầu phải tội tiêu xưng,

Trở về lấy chú tửng tưng

Tốt bền cố hỉ.

Những người đàn bà chơi bời thường không lấy được chồng tử tế, dù có nhiều thiện chí muốn trở về cuộc sống lương thiện, có nhiều cố gắng đến mấy đi nữa, thường họ cũng không gập được hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng. Có lẽ vì một phân họ đã quen với nếp sống ăn chơi sa đọa, chỉ quen hưởng thụ, phần vì thành kiến của xã hội không tin tưởng họ, vì chẳng có mấy người đàn ông dại dột làm cuộc thử nghiệm vợ chồng với họ. Nhưng trong đời ta cũng thấy có nhiều em chơi bời thực sự trở thành vợ hiền khi có người yêu thương họ. Và một khi đã hiền, các em hiền, tốt hơn nhiều những em con nhà lành đổ đốn khi có chồng.

Người đào hát trong bài Hát nói dưới đây có chồng là kép đàn, ông kép đàn mới chết. Nhà hát có khách, nàng hát vài bài rồi xin phép ngừng, vì đang có tang chồng, không tiện ngồi lâu. Ta có thể cười chê việc nàng làm là trò giả dối: đã là cô đầu tiếp khách thì dù hát vài bài hay hát suốt đêm cũng là tiếp khách, còn bầy đặt làm gì. Nhưng đôi khi chúng ta cũng quá dễ dãi trong việc khen chê. Cuộc sống còn có đạo đức là do những giữ dìn nho nhỏ ấy. Và giữ dìn lễ nghĩa nho nhỏ như vậy cũng là tốt rồi, ta không nên đòi hỏi gì hơn. Chỉ khi nào chúng ta không còn giữ dìn gì cả, không còn biết ngượng ngùng chi hết, dù là giả vờ, lúc dó chúng ta và cuộc sống mới thật là khốn nạn.

Cô đào xin phép ngừng hát vì chồng nàng mới chết, ông khách lãng su sáng chng có biết chồng nàng, từng nhiều lần được nghe vợ chồng nàng đàn hát, tức cảnh làm bài hát nói:

Tặng Cô Ðầu Hai

Lấy ai là kẻ đồng tâm

Lấy ai là kẻ tri âm với nàng.

Ðêm khuya luống những bàng hoàng

Người đi đâu vắng mà đàn còn đây?

Nghe đàn nhớ lão Trung kỳ

Vợ mi ở đó, mi đi mô chừ?

Sớm khuya xe tẩu phụng thờ

Hóa chồng cũng thể như chưa có chồng.

Nhân vong cầm tại

Nhớ chàng Hai mà gặp lại cô Hai

Tiện đây hỏi một đôi lời

Ðàn bản ấy cùng ai so phím cũ?

Hồng phần kỷ nhân vi quả phụ?

Bạch đầu nam lão Trác văn Quân!

Thế thì khi gió gác, lúc trăng sân

Chừng Bạch Tuyết, Dương Xuân còn tưởng nhớ.

Hãy ngồi lại hát chơi khúc nữa

Có trách chi tang trở xóm Bình Khang.

Xưa nay nghề nghiệp thế thường.

Ngắn thôi nhưng đủ ý, bài hát nói vừa trữ tình, vừa hiện thực, vừa cảm thương, đường hoàng, vừa hóm hỉnh và khéo nói. Hiện thực ở câu:” Sớm khuya xe tẩu phụng thờ..” Một câu thôi mà nói lên được một số sự kiện: đi hát cô đầu là có đàn bà, rượu và thuốc phiện. Tửu, sắc, yên, đổ, bốn món ta quen gọi là Tứ Ðổ Tường, ba món đã tập hợp trong nhà cô đầu, chỉ thiếu có cờ bạc. Ðổ: cờ bạc, thường đi một mình. Ðã cờ bạc là không có đàn bà, không có rượu, thuốc phiện. Những ông kép đàn cho cô đầu hát thường nghiện thuốc phiện, nhiều cô đầu biết tiêm thuốc phiện. Qua bài hát nói ta thấy anh kép đàn nghiện hút đã chết, vợ anh bầy bộ bàn đèn của chồng lên bàn thờ để thờ. Chi tiết này rất hiện thực. Nó ghi lại hình ảnh một thời kỳ đã qua trong xã hội ta, khi việc dùng á phiện được nhà cầm quyền coi là hợp pháp, khi Nhà Nước Bảo Hộ tổ chức việc nhập cảng á phiện và bán á phiện cho dân. Người kép đàn là người miền Trung. Dương Vân Trì đã khéo léo dùng tiếng Trung Kỳ để gợi lại việc Bá Nha Chung Tử Kỳ cảm nhau qua tiếng đàn. “Mi” trong câu “Vợ mi ở đó mi đi mô chừ..?” không mang ý khinh thường mà la tiếng gọi nhau thân mật của người miền Trung. “Nhân vong, cầm tại: người mất, đàn còn” lấy ở điển Bá Nha-Tử Ky, diễn tả thật đúùng cảnh người kép đàn không còn nhưng cây đàn của anh vẫn còn đó. Phải tài hoa và tài tình lắm mới tức cảnh làm ngay dược bài thơ nhiều ý hay như Dương vân Trì làm bài này. Ðó chưa kể kinh nghiệm sống: đàn bà đẹp khó có thể ở góa lâu được; các nàng có muốn ở góa bọn đàn ông cũng không chịu, những anh yêu nàng, muốn các nàng, thường làm đủ mọi cách để ép buộc các nàng phải bước đi bước nữa. Ða tình như nàng Trác Văn Quân làm sao có thể ở góa cho dến lúc bạc đầu cho được? Ðó chỉ là qua kinh nghiệm thôi, và kinh nghiệm đó đúng.

Ta có câu: “Chẳng ai giầu ba họ, chẳng ai khó ba đời..” Tôi thấy kinh nghiệm trên chỉ đúng trong thời loạn, khi xã hội có những biến động lớn, có sự thay đổi lớp người cầm quyền, nhưng trong những thời xã hội yên bình, một số gia đình nào đó nắm quyền thống trị xã hội trong vài trăm năm, ta thấy có những nhà quyền quí cha truyền, con nối không phải chỉ ba đời mà là cả chục đời. Vì vậy ta có câu ca dao:

Con vua thì lại làm vua

Con lão sãi chùa lại quét lá đa.

Nhưng một dòng họ không thể nắm quyền thống trị xã hội được mãi mãi. Tranh dành và chiếm giữ quyền làm chủ xã hội là việc mà loài người đã làm dài dài từ ngày họ sống thành xã hội. Sau năm 1954 ở miền Bắc, ta thấy tình trạng:

Con anh mõ làng lên làm chủ tịch,

Con nhà chánh tổng ra ở chuồng vịt ngoài đồng.

Những năm 1930 trong số những người sống ở bến sông Nhị, Ha nội, có câu:

Con ơi đừng khóc, mẹ sầu,

Cha con đốt lửa dưới tầu Long Môn.

Bao giờ con lớn, con khôn

Thì con lại xuống Long Môn con làm…

Từ năm 1975 câu hát trên có thay đổi chút ít để hợp với hiện cảnh:

… Bây giờ con lớn, con khôn

Con làm chủ tịch để con thằng tư sản

 nó xuống Long Môn nó làm…

Ta vừa đi lạc chút síu ra ngoài đề tài: “Tình Yêu và Hình Ảnh Ðàn bà trong Thơ Xưa”, nay ta trở lại:

Gập Cô Ðầu Khanh

Cầm tay nhớ những bao giờ

Mười lăm năm lại tình cờ gặp nhau.

Cuộc vui chớ gợi tiếng sầu

Tri âm ta lại bắt đầu tri âm.

Thế thượng tri âm tối nan đắc

Ðộc khanh tri ngã, ngã tri khanh.

Ðem má hồng ánh với mắt xanh,

Ấy ai ấy với mình duyên ngộ nhỉ!

Ngã thính khanh ca tần quán nhĩ,

Khanh tri ngã túy thả vong tình.

Thôi thời thôi, ta hãy mần thinh,

Chẳng túc trái cũng tiền sinh chi đấy tá.

Liên khanh đáo để hoàn liên ngã,

Hữu tình ta dám há vô tình.

Ái khanh thị dĩ khanh khanh!

Dương Tự Nhu

Sao y bản chính

TẾT và TUYẾT

Hoàng Hải Thủy trong Rừng Phong Tuyết Trắng. Ảnh Photoshop, do HHT làm, TẾT 2016. Ảnh HHT ghi ở Pleiku năm 1972.

Hoàng Hải Thủy trong Rừng Phong Tuyết Trắng. Ảnh Photoshop, do HHT làm, TẾT 2016. Ảnh HHT ghi ở Pleiku năm 1972.

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không?

Từ năm 1995 khi bánh xe tị nạn khấp khểnh, muộn màng đưa tôi đến Kỳ Hoa Đất Trích, năm nào Tết đến tôi cũng có một bài gọi là Bài Xuân, bài Tết. Những ngày như lá, tháng như mây – Thơ Thanh Nam – đến Tết Bính Thân 2016, tôi đã sống 20 năm ở Kỳ Hoa.

Vẫn biết Thời Gian qua nhanh, không ngờ Thời Gian qua nhanh đến thế. Hôm nay một sáng mùa Xuân nắng vàng trên Rừng Phong, tưởng như mới trưa hôm qua vợ chồng tôi líu ríu dắt nhau vào phi trường Washington DC. Nhưng – dòng thời gian dài một ánh bay – thấp thoáng vậy mà đã qua 20 năm, 20 cái Tết. Tết năm nay – 2016 – tôi không có bài viết nào về Xuân, về Tết. Đây là bài Viết ở Rừng Phong đầu năm Bính Thân, February 2016, của tôi.

Tháng 10 năm 1994 khi tôi mới đến Kỳ Hoa được mấy ngày, anh bạn tôi, Tạ Quang Khôi đưa tôi sang thăm thủ đô Washington DC. Anh nói:

“Người Mỹ chọn Virginia làm nơi đặt thủ đô vì Virginia không có những thiên tai động đất, cháy rừng, lũ lụt, bão lốc, bão tuyết. Virginia khí hậu thuận hòa, không nóng quá, không lạnh quá. Mùa đông Virginia có tuyết, không lẽ Virginia mùa đông không có tuyết. Nhưng tuyết Virginia là tuyết làm cảnh, tuyết làm duyên.”

Khôi nói về Virginia như thế trên đường xe trở về thị trấn Falls Church, nơi có nhà anh, nhà tôi. Khoảng 3 giờ chiều. Đúng lúc đó có những sợi tơ trắng rơi trên kính xe, anh nói:

“Tuyết đấy.”

Cơn mưa tuyết thứ nhất đến với tôi khoảng năm, sáu ngày sau khi vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa. Đúng như lời Khôi nói, Tuyết Virginia là Tuyết làm duyên. Trong 20 năm Virginia cũng có hai, ba trận bão tuyết, tuyết lên đến đầu gối, nhưng so với tuyết ở New York, Boston thì không đi đến đâu.

Những ngày gần Tết năm nay thành phố tôi sống có tuyết. Chuyện đáng kể là năm nay vì tuyết, khu tòa nhà nhiều tầng, nhiều phòng dành cho những Người Già có Thu Nhập Thấp, trong có vợ chồng tôi, có ông Nhà Văn Già Cô Đơn Tạ Quang Khôi – bị cô lập trong ba ngày, ba đêm. Vì tuyết ngập đường, xe ủi tuyết của thành phố dọn đường không kịp, xe ngoài thành phố không vào được parking nhà chúng tôi, xe trong nhà chúng tôi không ra khỏi được parking, tôi có thì giờ mở những tập tài liệu linh tinh ra xem lại.

Trong số sách báo tàng trữ trong tủ sách tôi gọi là Phong Lâm Tàng Kinh Các, tôi tìm được thi phẩm “Les Vingt Huits Etoiles” của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi phẩm xuất bản năm 1961 ở Sài Gòn. Con tôi tìm được trong những tiệm sách báo cũ, gửi sang Mỹ cho tôi trong Tháng 5, 2001.

Thi phẩm của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, chữ Việt dịch sang chữ Pháp, Sài Gòn 1961.Bản tiểu sử của thi phẩm ghi “LES VINGT HUIT ETOILES. Poemes. Traduit du Vietnamien par Simone Kuhnen de la Coeuillery.”

Thi phẩm của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, chữ Việt dịch sang chữ Pháp, Sài Gòn 1961.Bản tiểu sử của thi phẩm ghi “LES VINGT HUIT ETOILES. Poemes. Traduit du Vietnamien par Simone Kuhnen de la Coeuillery.”

Thi phẩm có 20 bài Thơ. Đây là bài Thơ Số 1:

Cảm hứng đêm khuya

Bẩy bước Thơ vừa gieo hạt châu
Ngang trời sao đã mọc thành câu
Đông Tây mây sóng tâm tình loạn
Phút chốc vồng lên bẩy sắc cầu

INSPIRATIOB DANS LA NUIT (1)

Après le septième pas, la Poésie sème sa septième perle, (2)

Alors s’étend au firmanent la Constellation aux Sept Etoiles (3) qui s’alligne en un vers heftasyllabe.

De l’Est à l’Ouest, les vagues et les nuages bouleversent les sept sentiments. (4)

Et tout de suite, le pont aux sept couleurs unit les deux horizons. (5)

( 1 ) Le poème fait allusion au vers de 7 syllabes: 7 perles, 7 étoiles, 7 sentiments, 7 couleurs.

( 2 ) D’après une anecdote chinoise, le poète TAO THUC achève un poème après avoir fait 7 pas.

( 3 ) La Grande Ourse.

( 4 ) Selon la psychologie de la Chine antique, il existe 7 sentiments: jpie, tristesse, amour, haine, désir, désesespoir, regret.

( 5 ) L’Arc-en-ciel.

Bài Thơ Số 2 — Viễn tượng kinh hoàng

Một thời nguyên tử đã đi qua
Khiến mặt trăng đầy nốt rỗ hoa
Bóng vẫn còn in cây nấm độc
Ai rằng cây quế với cây đa

Bài Thơ Số 3 — Sao mãi chưa đành

Nếm càng ghê vị nuốt càng tanh
Lại máu xương nào nữa Chiến Tranh
Họng súng lưỡi gươm còn biết ngán
Mà sao nhân loại mãi chưa đành

Bài Thơ Số 4 — Bí mật cung thiềm

Từ mấy ngàn thu đối mật trăng
Thi nhân ngắm đã chán Cô Hằng
Sao cô chẳng chịu quay lưng lại
Thua vẻ thon mềm gái Sở chăng

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có bài Thơ trong có câu về Tuyết:

Tuyết xuống phương nào, lạnh lắm không?
Mà đây lòng trắng một mùa đông.

o O o

Mời đọc bài văn Chúc Tết Vua và Toàn Quyền của Ông Nguyễn Tiến Lãng. Ông NT Lãng từng là Thư Ký Riêng của Hoàng Hậu Nam Phương. Ông giỏi tiếng Pháp. Ông từ trần ở bên Pháp.

NAM PHONG SỐ TẾT — NGUYỄN TIẾN LÃNG

Chúc TẾT VUA TA, QUAN TÂY

Kính chúc Hoàng Thượng và Quan Toàn Quyền.

Nghĩa vua tôi là nghĩa cổ, tình thầy trò là tình sâu. Tình sâu, nghĩa cổ, đã mấy khi mà được giải tỏ tấm lòng son.

Nay gập Tết Nguyên Đán, đông qua, xuân lại, khí giời mát mẻ, muôn vật hanh thông, bản báo xin thay mặt cả quốc dân mà dâng lên mấy nhời kính chúc hai đứng chúa tể trong nước là Đức Kim Hoàng ta và Quan Toàn Quyền Xa-lộ.

Chúc Hoàng Thương sống lâu muôn tuổi, trị vì mãi mãi cõi Việt Nam này để mỗi ngày trông lũ dân hèn bước lên đường tiến bộ, tô điểm thêm cho vẻ vang giang sơn cũ.

Chúc Quan Toàn Quyền phúc lành đầy đủ, Mẫu quốc tín nhiệm, cầm quyền chính trị cõi Đông Dương, dầy tháng, lâu năm, cho dân thuộc quốc được hưởng nhờ công gây dựng, ơn khai hóa bấy lâu nay.

Dân Nam Việt gập được đứng quân chủ như Đức Kim Hoàng ta, gập được đứng “quốc sư “như Quan Toàn Quyền “Xa – lộ ,”thực là một cái hạnh phúc vô cùng, từ nay trong lịch sử nước nhà mở ra một thời kỳ mới, tiền đồ sau này sẽ vẻ vang mà rực rỡ biết chừng nào.

Nay gập Hội Tân Xuân xin tung hô:

Đại Nam Khải Định Hoàng Đế vạn tuế.

Toàn Quyền Xa – lộ Đại Nhân vạn tuế.

Đại Nam cố quốc vạn vạn tuế.

Đại Pháp ân quốc vạn vạn tuế.

o O o

Nguyễn Tiến Lãng: Xe tối tân, nhưng cứ phải cúi đầu chui vào.. Khách: Ông nên cúi đầu cho quen.

Nguyễn Tiến Lãng: Xe tối tân, nhưng cứ phải cúi đầu chui vào..
Khách: Ông nên cúi đầu cho quen.

Bài Hành Phương Nam (Nguyễn Bính)

Hai ta lưu lạc phương Nam này 
Đã mấy mùa qua én nhạn bay 
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở 
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay ! 
Lòng đắng xá chi muôn hớp rượu 
Mà không uống cạn mà không say ! 
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã 
Mà áo khinh cừu chưa ai may ! 
Ngươi giam chi khí vòng cơm áo 
Ta trói thân vào lụy nước mây 
Ai biết thương nhau từ buổi trước 
Bây giờ gặp nhau trong phút giây 
Nợ thế, trả chưa tròn một món 
Sòng đời, thua đến trắng hai tay 
Quê nhà xa lắc xa lơ đó 
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay 

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc 
Ly tán vì cơn gió bụi này 
Người ơi ! Buồn lắm mà không khóc 
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy 
Vẫn dám ăn tiêu cho đến hết 
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay 
Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ? 
Cốt nhất cười vui trọn tối nay 
Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn 
Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay . 

Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt 
Giữa chợ ai người khóc nhận thây ? 
Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén 
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay ? 
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự 
Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây 

Ta đi nhưng biết về đâu chứ? 
Đã dấy phong yên khắp bốn trời 
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ 
Uống say mà gọi thế nhân ơi ! 

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ 
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười 
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại 
Hát rằng phương Nam ta với ngươi 
Ngươi ơi ! Ngươi ơi ! Hề ngươi ơi ! 
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh 
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi ! 

Đa Kao 1943 
Gửi Văn Viễn

oOo

Tư Mã Tương Như đời Hán, đàn giỏi, gảy khúc Tư Mã phượng cầu, Trác Văn Quân là người đẹp, nghe đàn, sau hai người lấy nhau .

Kinh Kha qua sông vào đất giặc. Bài thơ viết về Kinh Kha có câu: Tráng sĩ một đi không trở về.

Phùng Hoan, thực khách của Mạnh Thường Quân lãnh nhiệm vụ đi đòi nợ, khi đến ấp Tiết gọi các con nợ lại và tuyên bố đốt hết văn tự nợ. Sau về nói với Mạnh Thường Quân là tiền nợ ấy đã lấy mua “Đức” hết rồi.

Sau Mạnh Thường Quân bị vua Tề phế, khi qua ấp Tiết thì toàn dân ra đón linh đình, nhờ thế vua Tề thu dụng lại.

Cảm Tác

Thơ suông, rượu nhạt, quán cơm nghèo,
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều.
Chín hẹn đã sai mười: bạn quý.
Nghìn voi không được một: người yêu.
Bá Nha thưở trước còn Chung Tử.
Kim Trọng đời nay hết Thuý Kiều.
Võng tía, tàn vàng đi nượp nượp,
Giũ tà áo vải bụi bay theo.
1941

Đêm Cuối Cùng

Hội làng mở giữa mùa thu,
Trời cao gió cả trăng như ban ngày.

Hội làng còn một đêm nay,
Gặp em còn một lần nầy nữa thôi.
Phường chèo đóng Nhị độ Mai,
Sao em lại đứng với người đi xem ?
Mấy lần tôi muốn gọi em,
Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ.

Tình tôi mở giữa mùa thu,
Tình em lẳng lặng kín như buồng tằm.
1936

Gái Xuân

Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến, xuân đi, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân

Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Mưa Xuân

Em là con gái trong khung cửi 
Dệt lụa quanh năm với mẹ già 
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng 
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay 
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy 
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ 
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”. 

Lòng thấy giăng tơ một mối tình 
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh 
Hình như hai má em bừng đỏ 
Có lẽ là em nghĩ đến anh. 

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn 
Em ngửa bàn tay trước mái hiên 
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh 
Thế nào anh ấy chả sang xem! 

Em xin phép mẹ, vội vàng đi 
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe.
Mưa bụi nên em không ướt áo 
Thôn Đoài cách có một thôi đê.

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm 
Em mải tìm anh chả thiết xem 
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh 
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em. 

Chờ mãi anh sang anh chẳng sang 
Thế mà hôm nọ hát bên làng 
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn 
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng! 

Mình em lầm lũi trên đường về 
Có ngắn gì đâu một dải đê! 
áo mỏng che đầu mưa nặng hạt 
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya 

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay 
Hoa xoan đã nát dưới chân giày 
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ 
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”. 

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày 
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ 
Để mẹ em rằng hát tối nay?
1936

Mùa Xuân Xanh

Mùa xuân là cả một mùa xanh,
Trời ở trên cao, lá ở cành.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh,
Tôi đợi người yêu đến tự tình.
Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là chiếc thắt lưng xanh.

Thơ Thanh Nam.

Xuân Đất Khách

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .

Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .

Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .

Seattle, mùa xuân 1977 .

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Xuân Bính Thân. 2016.

ĐI TÂY

Cô đầm nằm hút trong một tiệm hút ở Sài Gòn năm 1950. Cô để chân trái lên cái gối sứ, loại gối đặc biệt của những tiệm hút chủ nhân Tầu.Loại gối này lâu rồi không còn nữa ở Việt Nam.

Cô đầm nằm hút trong một tiệm hút ở Sài Gòn năm 1950. Cô để chân trái lên cái gối sứ, loại gối đặc biệt của những tiệm hút chủ nhân Tầu.Loại gối này lâu rồi không còn nữa ở Việt Nam.

– Bẩm cụ… Vậy là lần này cụ nhất định đi ạ?

– Phải đi chứ chú. Không đi không được. Các cháu chúng nó giục quá. Chúng nó muốn tôi qua chơi bên ấy từ đầu năm, tôi lần chần mãi. Không đi thì phụ lòng các cháu.

– Dạ.. Cụ đi chơi là phải. Các ông, các bà ấy đã có lòng…

vanTrong gian phòng êm vắng như tờ, không có cả tiếng quạt máy chạy rì rì. Phòng không có quạt máy là bởi vì nơi đặt bàn thờ Cô Ba Phù Dung, nói trắng ra là bàn đèn thuốc phiện – đôi khi còn được gọi là “pờ-la-ti” hay “bàn đọi” — là nơi rất kỵ gió. Tối kỵ nữa là đằng khác. Dù trời có nóng đến chẩy mỡ, chẩy dầu, dù nhà có cả chục cây quạt máy, nơi đặt bàn đèn cũng không dùng quạt. Quạt là có gió, mà có gió thì ngọn đèn dầu thế nào cũng bị ảnh hưởng, hút không được. Vì vậy, buổi tối trong gian phòng nhỏ này, chỉ có ngọn đàn dầu lạc là sáng. Ông chủ nhà và cũng là chủ bàn đèn, người được gọi là cụ, không thích đèn sáng. Bàn đèn không cần đèn điện; bàn đèn chỉ cần có ngọn đèn dầu lạc, và ngọn đèn dầu lạc cứ thắp sáng là đủ rồi. Mọi thứ đèn khác đều là thừa.

Cụ nằm một bên khay đèn, chú nằm bên kia. Chú tiêm thuốc, cụ hút. Cụ và chú đang nói chuyện về một chuyến đi. Chuyến đi thật xa. Xa đến tận bên trời Tây, tức là qua nửa bên kia của trái đất. Cụ đi sang Pháp quốc nói chung, Paris nói riêng. Cụ có hai ông con sống bên Pháp. Ông là kỹ sư, ông là bác sĩ. Cả hai ông đều có vợ đầm. Các ông không về nước thăm bố mẹ được. Để hiển dương lòng hiếu và phụ tử tình thâm, hai ông mời hai cụ sang Pháp chơi.

Việc đi sang Pháp chơi được coi là giấc mộng vàng của nhiều người Việt Nam, những người Việt từng thán phục nền văn minh của nước Đại Pháp, cái nước có công khai sáng nước An Nam. Cả những anh nghèo rớt mồng tơi, nghèo lõ đít, kiết xác, kiết xơ cũng thầm ao ước: “Mình mà được đi sang Pháp chơi thì đã quá.”

Nhưng đó là chuyện của người thường. Trường hợp của cụ thì lại khác hẳn. Tất cả mọi người đều có thể đi sang Tây nếu có điều kiện, riêng cụ thì không thể. Vì cụ nghiện thuốc phiện. Và những người nghiện, những đệ tử của Nàng Tiên Nâu, đều kỵ phải đi xa, nhất là đi sang Tây, nơi thuốc phiện bị cấm ngặt, nơi thuốc phiên hiếm và đắt hơn vàng.

Cụ là một công chức hồi hưu. Thời tại chức, nhờ bổng lộc nhiều, lại có quyền thế nên cụ cho được hai ông con sang Tây học. Khi thành tai, hai ông không về nước. Chuyện sang Tây du học, thành tài, trở về nước phục vụ, đồng bào với mấy ông này là chuyện khôi hài nhạt. Về nước làm cái quái gì? Nước nhà chưa có những nhà máy lớn, những phòng thí ngiệm xứng đáng được dùng khả năng của các ông. Về nước để ngồi bàn giấy, làm những việc lẩm cẩm, phí tài học của các ông. Ở Pháp, các ông có việc làm tốt, có nhà, có vợ đầm, con các ông Tây lai Việt nhưng nói toàn tiếng Tây. Dù có bị người Tây cho là người Tầu, người Nhật cũng chẳng sao. Tự ái mẹ gì. Những bà vợ đầm của các ông da trắng, mắt xanh, tóc vàng sợi nhỏ  không hào hứng theo chồng về Đông Dương. Nếu các quan Đại Pháp còn cai trị mấy nước Đông Dương như cách đây năm mươi năm thì may ra các bà đầm có thể chịu về chơi quê chồng. Về chơi, không ở luôn.

Nhưng, như đã nói, việc sang Tây chơi là giấc mơ của nhiều người Việt nhưng lại lá ác mộng của những ông người Việt đệ tử của Phù Dung Tiên Nữ. Ông cụ từng khất đi, khất lại mấy lần. Có lần sổ thông hành đã có, vé máy bay đã mua, tiền đã đổi, hành lý đã gửi, cụ chỉ còn việc lên Air France, cụ lăn đùng ngã ngửa ra, cụ đau, cụ không đi đái được, cụ đái không ra. Cụ phải vào Grall nằm, và tất nhiên là chuyến đi Tây của cụ phải hoãn lại.

Nhưng hoãn gì thì hoãn cũng đến lần hoãn cuối cùng. Ông con năn nỉ quá, cụ không thể không đi. Trừ phi cụ từ chối hẳn:

“Thầy già rồi, thầy không đi xa được nữa. Con nhớ thầy thì về thăm thầy.”

Chú đến làm thuốc cho cụ cũng nghiện – tất nhiên – chú nghiện đói, nghiện rách. Chú thường đến hầu thuốc cụ để cụ cho hút, cho sái. Phong trào chích choác giờ đây lên cao như hỏa tiễn, thuốc phiện đắt hơn vàng, sái thuốc phiện đắt như vàng. Người ta tìm được thuốc phiện dễ hơn là tìm được sái. Những ông có bàn đèn ở nhà thường tích sái lại để bán, để đổi lấy thuốc. Cụ ông đây dư giả nên cụ có thể cho chú chứ không bán. Bàn đèn này của ông cụ là nguồn cung cấp sái rất vững của chú.

Cụ trạc 65 tuổi, chú trạc 40. Cả hai cùng hút đã lâu nên cùng già trước tuổi. Cả hai cùng gầy đét, cùng xanh như hai tầu lá chuối non. Từ ngày rước bàn thờ Cô Ba về nhà, cụ ông đã dậy cụ bà tiêm thuốc, nhưng cụ bà không thích nằm bên bàn đèn, và đàn bà tiêm thuốc phiện thường không điệu nghệ như đàn ông. Lại còn những lúc đèn hư, bấc rối, bấc không ăn dầu, nhĩ tụt, dọc tắc. Sự có mặt của chú bên bàn đèn của cụ đôi khi thật là cần thiết. Do đó cụ tiếp chú bằng sự nồng hậu làm chú thấy ấm lòng.

Biết mình là kẻ đến tiêm thuốc cho chủ nhà để được hút, được cho sai, chú rất cẩn thận trong lời ăn, tiếng nói. Với chuyến đi Tây của chủ nhân chú không góp ý kiến gì ngoài việc tán thành những quyết định của ông cụ.

– Tôi phải đi, chú ạ. Người ta muốn đi  mà không được đi, mình có dịp đi mà không đi là uổng.

– Dạ. Cụ đi chơi là phải. Người ta có bạc triệu chưa chắc đã đi được.

– Các cháu chúng nó xa tôi, chúng nó nhớ tôi. Chúng nó về thì không tiện, nước nhà đang có chiến tranh.

– Dạ. Các ông ấy về đâu có tiện. Thời buổi này người ta muốn đi không được; dại gì mà về. Lỡ ra có chuyện như Tết Mậu Thân.

Giọng nói của cụ có âm thanh lo âu:

– Sang bên đó thì đầy đủ mọi thứ. Các con tôi có nhà, có xe. Chỉ lo có mỗi một chuyện là sang bên đó là phải nghỉ hút. Bên đó cái trò này hiếm lắm.

Chú nín im, chờ đợi cụ cho biết cụ giải quyết việc hút ra sao, chỉ có hai bàn tay chú là hoạt động.

– Nhưng tôi cũng chẳng lo gì lắm. Nhân dịp, tôi nghỉ ít tháng cho khỏe người. Tôi đem đi vài lạng bỏ vào chai rượu thuốc. Lúc nào cần thì uống cho ấm. Cai ít tháng, có chết ai.

– Dạ, thưa cụ. Mình thích thì mình chơi, mình nghỉ ít ngày đâu có sao. Cụ đi nhiều lắm là vài tháng, về lại chơi. Bên ấy lạnh, mát. Sang bển có khi cụ không cần rựơu thuốc lắm ạ.

– Có khi không cần đâu nhưng mình cứ phải đề phòng.

– Dạ. Hai cụ đi chơi chuyến này chắc là ăn Tết ở bển?

– Không. Chúng tôi về chứ. Bên Tây làm gì có Tết. Từ giờ đến Tất còn những bốn tháng. Chúng tôi ở bển nhiều lắm là hai tháng. Hai tháng chơi với các cháu là đủ rồi.

– Dạ. Hai tháng là đủ lắm rồi. như vậy là vào khoảng Tháng Chạp ta hai cụ về?

– Cuối tháng Một hay đầu tháng Chạp.

– Thế nào mà các ông, các bà ấy chẳng giữ hai cụ ở lại.

– Giữ cũng chẳng được. Tết nhất chúng tôi phải về chứ. Phải cúng giỗ tổ tiên, ông bà. Ba ngày Tết bỏ đâu có được. Tôi lại là con trưởng.

Chú tính nhẩm: vậy là nguồn cúng cấp sái của chú sẽ bị ngừng trong vài tháng giáp Tết. Tạm ngừng thôi nhưng ngừng tạm cũng là ngừng. Chú hy vọng trước khi đi cụ sẽ cho chú một bịch sái lớn gấp đôi, gấp ba những bịch sái hàng tháng trước đó.  Gần Tết chú mới trở lại thăm cụ. Đi Tây về lần này chắc chắn cụ sẽ có món tiền lớn do các ông con chung góp. Còn chú, chú sẽ đi kiếm ăn nơi khác. Trời sinh, trời dưỡng. Lo gì. Vả lại cụ cũng không phải là người cung cấp duy nhất của chú. Vài ba ngày chú mới tới cụ một lần.

Bữa ấy được coi là bữa hút chia tay. Hai người, một già một chưa già nhưng cũng không còn trẻ, hút một bữa thật say. Sau đây, chú sẽ lau chùi bàn đèn, cụ sẽ cất bàn đèn vào tủ. Trưa mai cụ lên phi cơ, sáng mai cụ dùng rượu thuốc, để đi máy bay cho đỡ mệt. Cụ quyết định như thế, chú tán đồng hoàn toàn; đi máy bay đã mệt rồi, lại say thuốc nữa thì khó chịu lắm.

o O o

Anh nghiện á phiện nạo sái. Tranh vẽ trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư.

Anh nghiện á phiện nạo sái. Tranh vẽ trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư.

Đã hai lần cụ định đi rồi hoãn, rồi không đi. Lần này cụ đi thật. Chú được cụ cho một lạng thuốc, hai lạng sái trước khi chia tay. Số sái chú bán được 2 ngàn đồng, chú hút đủ trong một tháng, theo lối hút tần tiện của chú. Vợ chú bán bánh cuốn ở đầu ngõ. Chú đóng góp công sức vào công việc của vợ bằng cách mỗi sáng chú dậy từ 4 giờ để xay bột cho vợ chú tráng bánh. Số tiền bán sái chú dùng hết, không chia cho vợ đồng nào.

Chừng nửa tháng sau ngày cụ đi tình cớ chú gặp ông bạn chú. Ông bạn này cũng nghiện như chú. Trước đây ông bạn cũng đói rách như chú nhưng bây giờ thì ông khá rồi. Nhờ quân đội Mỹ vào Việt Nam đánh cộng sản, họ sống và làm giầu cho một số người Việt. Ông bạn chú theo bà vợ đi thầu đổ rác cho căn cứ Mỹ. Đổ rác Mỹ là việc làm ra tiền không ai ngờ. Bốc hốtdập gẫy  trong vòng mấy năm, ông bạn trở thành triệu phú. Trước đây ông bạn chú cũng đi hút lang thang, lưu động như chú trong những tiệm hút, nay ông đặt bàn đèn ở nhà, thuốc mua từng ký, vừa rẻ vừa ngon, an ninh tối đa. Các ông nghiện có cái tật thích có bạn hút, cần có bạn hút hợp tính, đấu hót. Đó là cái lý do làm cho nhiều ông nghiện có bàn đèn ở nhà vẫn mò đến tiệm hút gặp anh em. Các ông đã hút đủ ở nhà, các ông đến tiệm hút thêm để được gặp anh em. L1y do thứ hai là các ông thích nằm hút thoải mài do người khác tiêm thuốc.

Chú được ông bạn đưa về nhà, cho hút và đề nghị:

– Toa đến đây hút với moa. Đi tiệm vất vả. Bị vồ thì khổ.

Hai người đi đến thỏa ước: mỗi ngày chú được cung cấp 5 phân thuốc, mỗi tháng chú được cấp 500 đồng, chú phải đến đúng giờ tiêm thuố cho ông bạn bót. Ông bạn có khách đến chơi, chú phải tiêm thuốc cho những ông này. Nói tóm lại chú bà bồi tiêm của ông bạn. Chú d0ãn nhận công việc ấy một cách hoan hỉ. Chú chẳng mong đợi gì hơn là có một nơi nằm hút yên tĩnh, an ninh, có một số thuốc đều mỗi ngày mà không phải chi. Thời buổi khó khăn này, người hút ít như chú không mấy tiệm muốn tiếp. Đến tiệm, hút xong chú phải bốc đi ngay, không được nằm phi bên bàn đèn, hút đủ đô nằm phi bên bàn đèn là một lạc thú của giới tiên ông.

Nay chú không còn có ý kiến riêng nữa. Ý kiến bây giờ của chú là ý kiến của người có thuốc cho chú hút. Chú đồng ý về mọi vấn đề theo ý của ông bạn chủ bàn đèn. Cuộc giao hảo giữa chú và ông bạn diễn ra tốt đẹp. Chú thấy lời các cụ nói thật đúng: “Ở hiền gập lành.” Chú vì hiền lành nên được ông bạn thương, đem về cưu mang. Chú nằm đây thật an ninh. Bàn đèn riêng lại kín như thế này, muôn năm “Sẹc bài trừ “cũng không biết. Mà có biết cũng không sao, nhân viên bài trừ ma túy ít khi để ý đến những bàn đèn tư gia, họ chỉ thích vồ những tiệm lớn, đông khách.

Nhưng cuộc đời không đẹp, không êm như chú tưởng. Tai bay, vạ gió thường đến những lúc nạn nhân không ngờ nhất. Vào một buổi trưa khi chú đàng nằm múa tiêm, ông bạn chủ nhân đang nằm hút, thời gian hòa lẫn với không gian đang êm ả bỗng rộn lên những tiếng chân giầy lên thang lầu. Chú vừa kịp ngóc đầu lên nhìn đã thấy khuôn mặt người lạ nhưng lại rất quen của nhân viên cảnh sát bài trừ ma túy. Người đi đầu rút ngay cặp còng ra còng cổ tay khẳng khiu của chú vào cổ tay chân gà của ông bạn chú. Việc làm thứ hai của viên cảnh sát bận thường phục này llu7po75m vái dọc tẩu lên tay trong khi chủ nhân bàn đèn ú ớ nói không ra tiếng.

Cuộc lục xoát sau đó kéo dài lê thê nhưng nhân viên bài trừ không tìm thấy gì. Một bộ bàn đèn đang hút, chừng một lạng thuốc. Vậy là hết. Tang vật chỉ có thế. Chủ nhà có cả ký thuốc nhưng nhân viên cảnh sát không tìm thấy. Nhưng chỉ cần bộ bàn đèn đã đủ để chủ nhà và ông khách bị bắt, đưa về nhà giam quận cảnh sát, chờ ra biện lý; họ sẽ bị tống giam vào Nhà Tù Chí Hòa chờ ngày ra tòa.

Bàn đèn riêng không tiếp khách, không bán chác gì hết, tại sao lại bị lộ? Tai vạ, những tai bay, vạ gió, thường đến bất ngờ như tất cả những cái gọi là tai bay, vạ gió ở cõi đời này. Nguyên nhân tại vạ được tóm tắt như sau:

Một ông bạn của chủ nhân là thương gia giầu tiền, ông này xuất ngoại. Vì nghiện, ông mang theo một số thuốc phiện trong hành lý. Nhân viên khiểm xoát ở phi trường tìm thấy số ma túy này. Trong hộp đựng mau túy có danh thiếp của mấy ông bạn ông thương gia. Trong số có danh thiếp của ông chủ bàn đèn. Ngay trong ngày nhân viên quan thuế  phối hợp vớ cảnh sát đến khám xét mấy địa chỉ trên những danh thiếp. Tất cả những địa chỉ này đền có dính líu đến ma túy.

Tù một thương gia đi ngoại quốc đến chú bồi tiêm tài tử không có liên hệ gì với nhau; nếu có liên hệ thì đó chỉ là sự liên hệ giữa hai kẻ cùng hội, cùng thuyền. giữa hai người cùng nghiện. Ông thương gia xuất ngoại, chú nghiện không hay biết, nhưng khi ông thương gia bị vồ, chú nghiện bị vồ luôn.

Ông bạn chủ bàn đèn vì có tiền nên đỡ khổ hơn chú. Chú nhận bàn đèn là của chú  để chịu tội thay ông bạn. Bù lại, ông bạn chú gửi thuốc, gửi tiền vài tù chó chú, ông chạy tiền cho chú được nhẹ tội. Ra tòa chú bị tòa phạt hai tháng tù ở.

Chú ra khỏi khám vào một ngày cuối năm. Thành phố đang náo nhiệt sửa soạn ăn Tết. Năm nào Tết đến người ta cũng than vật giá lên cao nhưng người ta vẫn mua sắm mo1ib thứ để đón Tết. Dường như ai cũng có món tiền, lớn nhỏ, để chi cho Tết, riêng nhân vật trong truyện này là không có lấy năm chục bạc. Chú buồn sầu đi lang thang trong đường phố đông người. Khi ngồi nghỉ trên ghế xi-măng trong công viên trước chợ Bến Thành, chú bỗng nhớ tới cụ.

– Chắc ông cụ ở bên Tây về rồi. Mình còn đợi gì mà không đến thăm cụ?

Hy vọng được có bữa hút cuối năm làm chú thấy mạnh và hăng hái đi đến nhà ông cụ.Chú chi 10 đồng cuối cùng vào cuốc xe lam từ chợ Bến Thành đến chợ Tân Định. Xuống xe chú đi phăng phăng đến nhà cụ, hai chân chú như mọc cánh.

Căn nhà quen thuốc đây rồi. Sau khung cửa này là bộ bàn đèn sáng choang, là cuộc sống với chất khói thơm thấm vào lục phủ ngũ tạng, đáng thức dậy cái tiềm lực đang nằm rũ trong đó. Cọc.. cọc.. Chú gõ lên cánh cửa gỗ như mọi lần đến chú vẫn gõ như thế.

Khuôn mặt người đàn bà chứng bốn mưi – bà vợ kế của cụ — hiện ra giữa khung cửa mở:

– Lậy cụ ạ – Chú chào vui như chưa bao giờ vui thế – Hai cụ đi Pháp về đã lâu chưa ạ? Hôm nay chác mới đến thăm được hai cụ.

Chú theo cụ vào nhà, hai bàn tay xương sẩu xoa vào nhau, chú nói líu tìu tìu:

– Bẩm cụ.. Hai cụ đi Pháp chơi vui chứ ạ? Cụ ông cháu chắc khỏe hơn. Dạ bẩm.. Cháu xin cụ tha lỗi chứ cháu trông cụ trẻ hẳn ra đấy.

Sự thực là chú không khen tặng láo, cụ bà có vẻ trẻ hơn; điều chắc chắn và thấy rõ là cụ bà mập hơn, hồng hào phây phây hơn. Nhưng chú sững sờ khi thấy cụ bà rầu rầu vẻ mặt, như người muốn khóc. Lạ chưa kìa! Chú có nói gì thất thố đâu.Bu74s thuốc hôm nay phèo hay sao đây?

– Buồn quá chú ơi..

Chú choáng váng khi nge cụ bà nghẹn ngào:

– Ông nhà tôi mất rồi còn đâu.

Chú ú ớ:

– Bẩm..cụ ông…mất ?

– Dạ phải. Ông nhà tôi mất ở bên Pháp. Ông nhà tôi qua bển được một tháng thì đau, các cháu đưa vào nhà thương lớn nhất, đắt tiền nhấ ở Paris..Ông nhà tôi…

“Ông nhà tôi… Ông nhà tôi..”  Hai tai chú ù ù, cơn mệt mỏi trở lại với chú dũ dội hơn trước, hai đầu gối chú mềm nhũn, chú ngồi như ngã xuống ghế. Cụ đã chết; mà lại chết ở tận bên Tây. Thế là hết. Bữa hút hôm nay phèo. Phèo…!

Chú ngồi đờ người, nước mắt, nước mũi chú ứa ra. Chú khóc mà không biết mình khóc. Nhưng cụ bà biết chú khóc. Vẻ đau thương của chú làm cụ bà cảm động, cụ tưởng chú khóc vì thương cụ ông, chú thật có tình.

Cụ bà kể lể một hồi. Chú nghe tiếng được, tiếng mất, tiếng đực, tiếng cái; âm thanh như hơi gió từ trong hai lỗ tai chú phào ra..Chú choàng sống lại khi cụ bà đặt cái hộp Guigoz lên bàn:

– Có cái này biếu chú.. — Cụ bà sụt sịt – Ông nhà tôi trước khi đi có để sẵn cái hộp này, dặn tôi đến Tết biếu chú.

Hộp sái. Hai con mắt ướt lèm nhèm của chú sáng lên. Nếu sái trong hộp Guigoz này mà lèn chặt, sái phải có tới bốn, năm lạng. Mỗi lạng sái, thuốc tinh tốt như thuốc cụ ông hút, giá rẻ bây giờ cũng là 1500 đồng. Chú có thể có 10.000 đồng nhờ hộp sái này. Sức lực trở lại với chú, tay chú tự đông đưa lên quẹt mũi. Chú dùng tay áo chấm nước mắt.

– Xin cụ cho cháu được dâng cụ ông nén nhang..

Bàn thờ cụ ông đặt trong căn phòng trên gác, căn phòng từng đặt bàn đèn. Bức hình cụ  giữa bàn thờ chiếu đôi mắt hiền từ nhìn chú. Chú thành kính thắp nén nhang, đưa lên trán lẩm nhẩm khấn rồi vái cụ.

Ôm hộp sái trước ngực, chú đi phăng phăng trong phố, Buổi tối cuối năm trời hơi lạnh. Con đường trước chợ Tân Đinh sáng choang ánh đèn, người ta chen chân nhau đi. A..Tết đến đít rồi. Mình cũng phải mua sắm chút gì cho tụi nhỏ. Tội nghiệp..Ông cụ đi Tây chắc là thiếu thóc. Nên đi tầu suốt. Đúng là đi Tây. Mẹ kiếp. Đã nghiện oặt lại già cấc, đi Tây làm gì cho nó khổ. Cứ ở nhà hít đều chưa chắc đã tịch. Cụ bà còn phây phây, còn lấy chồng được, không chừng còn đẻ được năm, bẩy tí nhau ấy chứ lại

Đến lúc này chú mới chợt nhớ là trong lúc vội vã, bối rối  chú quên hỏi cụ bà có đem được cụ ông về nước không, hay là cụ ông nằm luôn ở bển.

Hoàng Hải Thủy.

o O o

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Một ngày gần Tết Nhâm Thân, 2016.

“Đi Tây”  đăng trong VĂN GIAI PHẨM XUÂN  NHÂM TÝ, phát hành ở Sài Gòn ngày 1 – 2- 1972. 

“Đi Tây” Truyện ngắn tôi – Hoàng Hải Thủy — viết trong một ngày gần Tết Nguyên Đán năm Nhâm Tý – 1972 — Năm 2015, sống những ngày cuối đời tôi ở Kỳ Hoa Đất Trích, một sáng tôi được điện thư của một bạn đọc:

“Anh có nhớ truyện Đi Tây anh viết năm xưa không?”

Tôi không nhớ gì hết về truyện Đi Tây.

Người bạn gửi cho tôi số báo VĂN XUÂN NHÂM TÝ. Tôi buồn vui khi VĂN XUÂN NHÂM TÝ đến Rừng Phong. Người bạn đã mang tập VĂN này theo khi bạn đi khỏi nước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Bạn đã giữ tập VĂN này trong gần 50 năm. Sau nửa thế kỷ, tôi cảm khái đọc những dòng chữ tôi viết khi tôi còn trẻ. 

Tôi chép lại truyện Đi Tây, không sửa một chữ. Tôi gửi Đi Tây đến các bạn.

Tôi cám ơn bạn HV, người đã mang tập VĂN XUÂN NHÂM TÝ sang Kỳ Hoa, người đã giữ tập VĂN trong 50 năm.

Cảm khái cách gì!

Đại Úy HHT

tientuyen
Ngày xưa ấy là những năm 1966, 1967, tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến.  Nhật báo Tiền Tuyến do Cục Tâm Lý Chiến xuất bản, phát hành như nhật báo tư nhân, nhân viên 50% là quân nhân, 50% là ký giả thường dân. Thời gian đầu tòa soạn Tiền Tuyến ở nhà in Hợp Châu, đường Cống Quỳnh; rồi vào trong khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến, đường Hồng Thập Tự.

Tòa soạn Tiền Tuyến những năm ấy có: Phan Lạc Phúc (Ký giả Lô Răng), Huy Vân, Dương Ngọc Hoán, Viêm Hồng, anh Vũ Uẩn  (cựu võ sĩ quyền Anh Làng Bốc-sơ Bắc Kỳ những năm 1935-1940), họa sĩ Hĩm (Đinh Hiển).

Khi tòa soạn ở nhà in Hợp Châu, nhật báo Tiền Tuyến có Hoàng Anh Tuấn; khi tòa soạn vào Cục Tâm Lý Chiến; Hoàng Anh Tuấn lên Đalat làm quản đốc đài Phát thanh Đalat.

Những năm ấy, tôi hút một ngày khoảng 50 điếu thuốc lá.  Ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng; vợ tôi dậy từ 4 giờ, đun nước, pha cho tôi ly cà phê đen — để đó — nàng vào giường ngủ tiếp với các con; tôi rửa mặt, bận y phục, hút khoảng 3 điếu thuốc đầu tiên trong ngày, uống ly cà phê đen vợ tôi pha, ra khỏi nhà; đến tòa báo lúc 6 giờ sáng.

Những sáng cuối năm trời lạnh, trời Sài Gòn, lúc 5 giờ sáng có khi còn trăng sao.  Từ 6 giờ đến 9 giờ; ngồi làm việc trong tòa sọan, tôi hút khoảng 5, đến 6 điếu thuốc. Thuốc Mỹ: Lucky, Pall Mall, Philip Morris Vàng. Đến 9 giờ sáng; bụng tôi cồn cào, dạ dày tôi chỉ có chất cà- phê đen, trong phổi tôi chỉ có khói thuốc và ni-cô-tin — tôi phải ăn sáng để hoá giải chất khói và cà phê trong tôi.

Nữ diễn viên Điện Ảnh Như Loan và Nhà Văn Văn Quang.

Nữ diễn viên Điện Ảnh Như Loan và Nhà Văn Văn Quang.

Cục Tâm Lý Chiến những năm ấy chưa có căng-tin.  Cục cho phép chị vợ một hạ sĩ quan mở một quán cà-phê, nước ngọt, hủ tíu, cơm; cho binh sĩ có nơi ăn uống, mà không phải ra ngoài trại.  Quán ăn ở góc trại, mái tôn, vách tôn, có chừng 4, 5 cái bàn nhỏ.  Gần như sáng nào trong tuần, vào khoảng 9 giờ; tôi cũng vào quán này ăn sáng; để khỏi phải đi xa; và, ăn xong, còn phải trở vào tòa soạn làm việc tiếp.

Tôi chỉ ăn sáng một trong 2 món: bánh mì ốp-la, hay bánh mì  ra-gu.  Mỗi sáng, chị chủ quán thường bảo con trai chị, trạc 11, 12 tuổi:

phamhuan“Ra hỏi Đại úy, sáng nay ăn gì?”

Ăn xong, tôi uống ly cà-phê đen; và, chỉ uống cà-phê đen; nên thấy tôi ăn sáng xong, không cần hỏi tôi uống gì, chị bảo con:

“Bưng cà- phê, Đại úy”.

Năm 1952, khi tôi làm lính Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền, đơn vị thuộc Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Trần Tử Oai là Trưởng Phòng 5; tôi mang lon Trung sĩ (Sergent)

15 năm sau tôi trở lại Cục Tâm lý chiến; và, được chị chủ quán gọi là Đại úy.  Ấy là, dù tôi chỉ mặc đồ ‘si-dzin’ (civil) thường dân; nhưng vì tôi hay ngồi ăn sáng trong quán với ông Đại úy Nguyễn Quang Tuyến – nhà văn Văn Quang — và ông Đại úy Phạm Huấn, 2 ông Đại úy, vào năm 1966- 67 làm việc trong tòa soạn Chiến sĩ Cộng hòa, tòa báo này ở ngay cạnh tòa soạn báo Tiền Tuyến — nên, gần như ngày nào tôi cũng được gặp, hay nhìn thấy 2 ông.

Hai ông cũng hay ăn sáng, cà-phê ở quán trong Cục.  Chị chủ quán biết tôi làm trong tòa báo Tiền Tuyến, chị không thấy tôi mặc quân phục, mang lon Đại úy; có thể chị không biết tên tôi; song, chị thấy tôi thuờng ngồi ăn sáng với 2 ông Đại úy quân phục, lon lá đàng hoàng; là Đại úy Văn Quang, Đại úy Phạm Huấn, chị thấy tôi trạc tuổi hai ông; tôi có thái độ ngang hàng với hai ông; và, hai ông cũng có thái độ ngang hàng với tôi, hai ông mày tao với tôi, tôi mày tao với hai ông —  chị nghĩ tôi cũng là Đại úy, chị gọi tôi là Đại úy.

Cho đến một sáng, tôi ngồi ăn một mình.  Ăn xong, tôi nghe chị chủ quán bảo con:

“Bưng cà- phê, Thiếu tá ”

Tôi hơi lấy làm lạ.  Chị chủ thường ngày gọi tôi là Đại úy; sao hôm nay chị lại gọi tôi là Thiếu tá. Tôi ‘théc méc’ tí chút, rồi quên ngay — đang là Đại úy, có bị người ta gọi là Trung úy mới ‘théc méc’, là Đại úy được gọi là Thiếu tá, ‘théc méc’ cái gì?

Về tòa soạn làm việc tiếp; tôi thấy 3, 4 ông sĩ quan vào phòng, chúc mừng Đại úy Phan Lạc Phúc vừa lên Thiếu tá.  Và tôi biết tại sao hôm nay chị chủ quán lại gọi tôi là Thiếu tá; chị được biết trong Cục,  có mấy ông Đại úy vừa được lên Thiếu tá, trong đó có ông Đại úy báo Tiền Tuyến; nên chị nghĩ cấp bậc mới của tôi là Thiếu tá; chị gọi tôi là Thiếu tá.

Trong số sĩ quan đến chúc mừng Thiếu tá Phan Lạc Phúc sáng hôm ấy, có Đại úy Nguyễn đình Phúc, ông Đại úy này còn có tên là ‘Phúc Khàn’; và, ông cũng vừa lên Thiếu tá hôm qua.  Thấy 2 ông Thiếu tá Phúc trong phòng; tôi tức cảnh làm câu đối:

Phúc Lạt, Phúc Khàn, hai Phúc thiếu
Quang Văn, Quang Vũ, một Quang thừa

Hai ông sĩ quan tên Đình Phúc, Lạc Phúc cùng là Thiếu tá. (Lạc, nói theo giọng Nam, đôi khi nghe như Lạt.)

Năm ấy Cục trưởng Cục Tâm Lý Chiến là Đại tá Vũ Quang; Cục lại có ông Đại úy Văn Quang (Nguyễn quang Tuyến.)

Quân tử Tàu nói: “… Quốc gia, triều đại mà có ‘vũ quang’, tức ‘vũ sáng’; hay, có ‘văn quang’ là ‘văn sáng’– là nước được trị.” Cục Tâm Lý Chiến những năm 1966, 67; có cả  hai Vũ: ‘vũ quang, văn quang.”

Năm 1988, đi tù CS về; ông Văn Quang trên răng, dưới dép’; căn nhà trong Cư xá Chu Mạnh Trinh của ông bị bọn Bắc Cộng chiếm, ông không có nhà ở; cả 4 bà vợ ông đều đã ‘sang sông’, nôm na và huỵch tẹt là đã vượt biên, vượt biển sang Huê Kỳ.  Viết các bà “sang sông” là không đúng; đúng ra phải viết là các bà “qua biển.”

Sống độc thân giữa thành phố Sài Gòn cờ đỏ; ông Văn Quang viết tiểu thuyết tình vô thưởng vô phạt, ký tên ‘tác giả dzởm’  bán cho nhà xuất bản.

Những năm ấy các ông lái sách Sài Gòn đặt mua tiểu thuyết mới của các ông văn sĩ Sài Gòn cũ, yêu cầu tác giả để bút hiệu khác.

* Thập niên 80, (thế kỷ trước ) có điều luật không thành văn là ‘Không cho nhà văn Sài Gòn trước 1975 được tái bản sách xuất bản trước 1975, và không được viết truyện mới.’ Những tiểu thuyết các ông nhà văn Sài Gòn viết sau năm 1980 không được để tên đúng của tác giả.

Văn Quang là nhà văn thứ nhất — có thể là nhà văn Sài Gòn duy nhất — đi học ‘khoá sử dzụng computer’ ở nhà trường hẳn hoi; học có bài bản, bí kíp đàng hoàng; ông cũng là người ‘sử dzụng computer’ thứ nhất, nhuần nhuyễn nhất, trong số những ông nhà văn Sài Gòn cũ nay còn viết lách ở Sài Gòn cờ đỏ.

Vì những lý do riêng, không phải vì ghét Mỹ; nhà văn Văn Quang, Trung tá Nguyễn Quang Tuyến (1933- ) không đi H.O sang Huê Kỳ. Từ năm 2000, ông viết loạt bài ‘Thiên hạ sự’ gửi qua Internet, sang các nước Âu Mỹ — loạt bài thời sự viết về Sài Gòn,  được người Việt hải ngoại theo dõi, tìm đọc.

Khoảng tháng 2/ 2009, Công an Tp.HCM đến nhà riêng của Văn Quang; lấy đi tất cả dàn máy computer; nhà văn bị gọi đến cơ quan để khai báo, về những bài ông viết gửi ra nước ngoài.

Khi ấy ông nhắn những ông bạn viết của ông ở hải ngoại ‘đừng làm ồn ào vụ ông’ vì ông được đối xử hòa nhã, lịch sự  v.v … — ông cũng muốn tỏ ra hòa nhã đối xử lại…’

Đã 5, 6 tháng qua, ‘Lẩm cẩm Sài gòn thiên hạ sự’ hết còn xuất hiện trên một số báo Việt ở hải ngoại; và, 300 bài ‘Lẩm cẩm…’ trữ trong máy, mất luôn —  đôi khi tôi thấy tôi – CTHĐ — không viết gì về Văn Quang cũng kỳ, bạn đọc người Việt ở hải ngoại có thể, nghĩ:

” … Những người khác bị CACS cấm viết; thì, ông chửi ‘loạn cào cào’; đến khi bạn của ông bị nó sờ đít; ông im thin thít, như gái ngồi phải cọc.”

Những năm 1991, 92 có lần tôi nói với Văn Quang: “Tao chỉ được ‘mày, tao’ với mấy thằng mày, toàn là Trung tá. Nếu không có gì thay đổi, Quốc gia mình, Quân đội mình còn đến hôm nay thì mày thấy: những thằng nào trong số bọn mày có thể lên được ‘Tướng’ để,tao được ‘mày, tao với ‘Tướng’?”

Văn Quang trả lời ” …Nhiều thằng lắm chứ.”

oOo

Rừng Phong, Virginia, January 2016

Tôi viết bài trên khoảng năm 2000. Hôm nay, Ngày Một Tháng Giêng 2016, tôi viết thêm:

Đại Tá Vũ Quang những năm 2000 sống ở Minnesota, Kỳ Hoa. Tôi không biết năm nay – 2016 – ông ra sao.

Trung Tá Phan Lạc Phúc hiện sống ở Sydney, Úc.

Hoàng Anh Tuấn, Phạm Huấn qua đời ở Cali, Kỳ Hoa.

Anh Vũ Công Uẩn qua đời ở Sài Gòn.

Văn Quang hiện sống ở Sài Gòn. Hĩm Đinh Hiển ở Cali.

Đại Úy Phạm Huấn là sĩ quan Quân Lực Quốc Gia VNCH duy nhất bận quân phục đúng chụp ảnh giữa thành phố Hà Nội. Năm 1973 ông ở trong Ban Kiểm Xoát Đình Chiến Quốc Tế nên ông có dịp về Hà Nội.

Hôm nay – Ngày Một January 2016 – tôi biết trọn đời tôi, tôi không được mày tao với một ông Tướng nào.

o O o

Thơ Xuân Đất Khách (Thanh Nam)

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .

Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .

Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .

Seattle, mùa xuân 1977 .

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 210 other followers