• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TÌNH YÊU BẨY CHỮ

Julie Foudy

Julie Foudy

Mùa Xuân năm 1991 tôi từ Trại Cải Tạo Z30 A trở về mái nhà xưa sau 6 năm xa cách. Nhờ có tiền các bạn tôi ở những nước Âu Mỹ, Úc gửi về giúp, vợ tôi mua một máy TiVi Sanyo để sẵn cho chồng nàng ở tù về xem. TiVi Mầu. Lần thứ nhất – tình cờ mở đài – tôi được xem trên TiVi trận đá banh của hai Đội Tuyển Nữ: Đội Nữ Hoa Kỳ và Đội Nữ Tầu Cộng.

Xem trận đá banh Nữ thứ nhất trong đời ấy tôi được hưởng cái lạc thú Đội Nữ Mỹ thắng, Đôi Nữ Tầu thua. Lần thứ nhất trong đời tôi thấy Mia Hamm và Julie Foudy: hai nữ cầu thủ Mỹ. Liền tù tì túy suỵt tôi mê Mia Hamm nhất, tôi mê Julie Foudy nhì.

Hôm nay khi viết bài này tôi phải qua một giờ mò tìm trên Internet những tấm ảnh của các nàng để đăng cùng trong bài. Ảnh các nàng có ê hề trên Net, nhưng tôi cần có ảnh các nàng đẹp, hấp dẫn theo ý tôi. Các nàng tôi mê đây là ba nàng: Mia Hamm, Julie Foudy và Brandi Chastain.

Tại sao Đội Bóng Mỹ Nữ thứ nhất lại có nhiều nàng có duyên đến thế?? Vừa xuất hiện trên sân có, các nàng sáng như những ngôi sao, tất cả các nàng trong Đội Nữ Mỹ thứ nhất đều có sắc, có tài, dễ thương, Vừa xuất hiện, các nàng đoạt ngay Giải Vô Địch Thế Giới, các nàng chế ngự thế giới Banh Tròn trong nhiều năm. Tuy tôi vẫn xem đều những trận Hội Tuyển Soccer Mỹ Nữ trổ tài trên sân cỏ nhưng tôi thấy trong bao nhiều năm – từ 1991 tới nay, 2015 – không một nàng nào làm tôi ái mộ như Mia Hamm, như Julie Foudy.

Tôi thán phục Brandi Chastain: trong trận chung kết Tranh Cúp Vô Địch Thế Giới với Đội Tầu Nữ, hai đội hòa nhau. Đá thêm giờ hai lần vẫn hòa. Trận đấu giải quyết bằng 5 trái bóng đá từ 6 mét vào gôn. Chastain đá trái cuối cùng. Thủ môn Tầu bắt không trúng. Banh đi vào lưới. Giữa tiếng hoan hô vang động cầu trường, Chastain mừng, nàng cởi áo biểu diễn niềm vui của nàng. Trước mắt cả mấy chục ngàn người, nàng cởi áo, phất áo. Một kiểu tỏ lộ mừng vui si-po rất phụ nữ Mỹ. Nhiều nam cầu thủ bắt chước Chastain cởi áo trên sân. FIFA phải ra lệnh cấm cởi áo. Những nam cầu thủ ghi bàn thắng cởi áo trên sân không có một xu teng đẹp mắt. Bắt chước cũng không xong.

Viết, nói đến Đội Bóng Mỹ Nữ mà quên không nhắc đến Briana Scurry là một thiếu sót. Nàng thủ môn Mỹ Đen, thủ môn da đen thứ nhất của Đội Mỹ Nữ. Scurry là tuyển thủ Nữ Mỹ Đen duy nhất trong Đội Cầu Nữ Mỹ thứ nhất. CTHĐ tôi thấy Scurry quả có bị thiệt thòi.

Mia Hamm. Julie Foudy giã từ sân cỏ từ lâu. Nhưng hình ảnh hai nàng vẫn thấp thoáng trên màn hình TiVi mỗi lần tôi xem Đội Banh Nữ Mỹ tranh tài.

Mia Hamm. Champion 1999.

Mia Hamm. Champion 1999.

Tôi hào hứng khi Đội Banh Nữ Mỹ thắng, tôi ỉu sìu sìu như bánh mì gặp nước mưa khi Đội Banh Nữ Mỹ thua. Tôi cảm thấy tính co rãn của Thời Gian khi xem những trận ra sân của Đội Mỹ: khi Đội Nữ Mỹ dẫn gôn – 2/1 – tôi hồi hộp mong Thời Gian qua mau, để đối thủ không thể gỡ hòa, khi Đội Nữ Mỹ thua bàn, tôi bồi hồi mong Thời Gian qua thật chậm để Đội Nữ Mỹ gỡ hòa. Không những chỉ gỡ hòa mà còn đá ghi bàn thắng. Chuyện đáng nói là khi tôi mong Thời Gian qua nhanh, nó qua chậm rì rì; khi tôi mong Thởi Gian qua chậm, nó qua vùn vụt.

Giải Vô Địch Soccer Nữ Thế Giới đang được tranh ở Canada khi tôi viết những dòng chữ này. Tôi mong Đội Nữ Mỹ đoạt Cúp Vô Địch Thế Giới năm nay. 2015.

Tôi hơn ông Tầu Kim Thánh Thán ở  việc tôi có thể hưởng tất cả 36 cái khoái lạc ông kể, ông không thể hưởng cái khoái lạc thấy Đội Bóng Nữ Mỹ thắng như tôi.

Đội Bóng Nữ Mỹ vừa đá mấy trận đầu đã nổi danh, đã được coi là Đội Bóng Đàn Chị. Trong khi đó Đội Bóng Tròn Nam Mỹ – Đội Đàn Ông Mỹ – thành tích rất dở, đá banh không ra làm sao cả. Thật khó hiểu: tại sao cùng một dân tộc, phụ nữ đá banh thật giỏi mà đám đàn ông đá banh thật dở.

Không nhớ rõ năm bao nhiêu – cũng chẳng cần phải ghi rõ năm tháng, chỉ cần nói là một năm sau năm 1975 – một tối nằm nghe radio  trong căn gác lửng tối om vo ve tiếng muỗi, tôi nghe tin Đài BBC loan về một trận tranh tài Bóng Bàn Thế Giới: Đội Tuyển Bóng Bàn Tầu Cộng đoạt tất cả các chức Vô Địch Thế Giới.

Brandi Chastain

Brandi Chastain

Tất cả các chức Vô Địch ở đây là Bẩy Vô Địch;

1 – Vô Địch Đơn Nam.

2 –  Vô Địch Đơn Nữ.

3 –  Vô Địch Đôi Nam.

4 – Vô Địch Đôi Nữ.

5 – Vô Đich Đôi Nam Nữ

6 – Vô Địch Toàn Đội.

Và:

7 –  Vô Địch Trưởng Đoàn.

Trong trận tranh giải này các ông Trưởng Đoàn Hội Tuyển cũng thi tài với nhau, Trưởng Đoàn Tầu Cộng đoạt Cúp Vô Địch.

Khi tôi nói théc méc của tôi với bạn tôi:

“Sao bọn Tầu nó chơi bóng bàn hay quá thể?”

Bạn tôi nói:

“Mỗi ngày có 50 triệu tên Tầu chơi ping-pong; làm sao chúng nó lại không giỏi.”

Nhưng… Mỗi ngày có 200 triệu tên Tầu đá bóng, sao chúng nó đá dở thế? Quá bết.

o O o

Tháng Sáu 2015, vụ hai anh tù Mỹ vượt ra được Nhà Tù gọi là loại Nhà Tù Maximum Security – An Ninh Tối Đa – của Mỹ ở New York là một tin mà làng báo Sài Gòn Xưa – những năm 1950, 1960 – gọi là Tin Giật Gân, Tin sì-căng-đan: Scandal.

Cách nay khoảng hai năm, một sì-căng-đan xẩy ra trong một nhà tù Mỹ cho người ta thấy tình trạng bê bối trong những nhà tù Mỹ. Trong một nhà tù Mỹ – dường như ở thành phố Baltimore – có đến 4 chị giám thị – Nữ Cai Tù – có chửa với một anh Tù Đen bị tù vì tội cướp của, giết người. Bốn chị Cai Tù – không phải một, hai chị mà bốn chị – không chỉ đem thân cho anh Tù Đen chơi thả dàn mà còn đưa cellphone vào phòng giam cho anh Tù; anh Tù này thoải mái dùng cellphone liên lạc với đồng bọn ngoài nhà tù, thân nằm trong tù, anh vẫn chỉ huy được bọn đàn em bên ngoài thực hiện những vụ làm ăn phạm pháp.

Tôi ngỡ ngàng trước những vụ bê bối như thế xẩy ra dài dài trong những nhà tù Mỹ. Bốn chị Cai Tù có thể sa đọa – vì Tiền, vì Dzâm, vì Ngu – nhưng nhà tù còn bao nhiều Cai Tù khác, những Cai Tù lương thiện tất có người biết việc làm của bọn Cai Tù gian manh, sao những trò Sex Nặng như thế có thể xẩy ra?

Tháng Sáu hai anh Tù Mỹ được một chị Cai Tù lén đưa cho dụng cụ kìm, búa, cưa, rũa, hai anh cắt tường sắt của Nhà Tù, chui ống cống ra được bên ngoài. Hai anh chui lên từ một nắp cống ở giữa đường. Cảnh sát tìm ra ngay nắp cống này chỉ hai, ba giờ sau khi hai anh tù chui lên đường. Chó săn của cảnh sát  đưa đến đánh hơi, dẫn cảnh sát đi theo hơi người hai anh tù vào khu rừng gần nhà tù. Hai anh này mất tích luôn. Tới hôm này hai anh Tù đã ra đi được  14 ngày. Chị Cai Tù bị bắt. Có tin hai anh tù đã sang Mexico.

Đúng là “Ở trong chăn mới biết chăn có rận.” Tưởng xã hội Mỹ cái gì cũng tốt là ngớ ngẩn.

Nhà Tù Chí Hòa ở Sài Gòn – Nhà Tù Lớn Nhất, Hiện Đại Nhất, Kiên Cố Nhất Đông Dương – vẫn được kể là “Nhà Tù Không Anh Tù nào có thể vượt ngục “– anh em tù kể cho nhau nghe chuyện bọn xây Nhà Tù Chí Hòa đã chôn sống 4 cô trinh nữ ở giữa sân nhà tù, bốn hồn oan trinh nữ này giữ cho không anh tù nào có thể vượt ra khỏi nhà tù

Như thị ngã văn.. Như thị ngã thuật… Chuyện tôi nghe như thế, tôi kể như thế. Nhưng tôi vẫn nghĩ: “Chuyện bịa.”Năm 1988 trong một đêm mưa, vào lúc nửa đêm, nhiều anh tù đang say giấc điệp, trong số có tôi, tù nhân Phòng 10 Khu ED, bỗng choàng tỉnh khi nghe tiếng hô:

“Đứng lại. Nằm xuống.”

Tiếp đó là ba, bốn tiếng súng nổ vang.

Hôm sau được biết có một số nh em tù ở phòng giam dưới đất cắt song sắt thoát được ra khỏi phòng gian, cậy nắp cồng  trong sân chui xuống, mò trong ống cống chui ra. Nhưng anh em chưa chui ống cống ra được bên ngoài vòng tường bao quanh nhà tù đã đẩy nắp cống chui lên. Không anh tù nào biết số anh em tù vượt ngục bị bắt lại ấy bị giam ở đâu, số phận anh em ra sao.

Nhà Tù Chí Hòa là nhà tù giam những phạm nhân đã có án, không phải là nhà tù thẩm vấn, nên chỉ có một số sà-lim ở chân thang lầu dùng để giam những tù nhân vi phạm kỷ luật. Thang xoáy chôn ốc. Nhà Tù Chí Hòa có một khu gọi là Khu Kiên Giam. Khu này có những phòng nhỏ, trong có cầu tiêu, một phòng giam được hai người thoải mái.

Năm 1978 tôi nằm 12 tháng trong một xà-lim  Khu C Một Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu. Qua cửa gió xà-lim tôi nhìn thấy ông Lê Khải Trạch, Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin thời Bộ Trưởng Trần Chánh Thành. Ông Trạch nằm Phòng Tập Thề Số 3 C 1 cùng với nhà thầu khoán Trần Ngọc Trình. Năm 1980 tôi ra tù, hỏi thăm về ông Trạch, bà Trạch cho biết ông Trạch bị mất tích. Bộ Nội Vụ, hay Cục Quản Lý Trại Giam, gửi một thư cho bà Trạch, thư viết “Người Tù Lê Khải Trạch mất tích trên đường chuyển trại.”

Có người nói ông Lê Khải Trạch bị bọn Cai Tù đưa đi “thủ tiêu” – bọn Cai Tù VC gọi “thủ tiêu” là giết. Tôi không tin chuyện ấy. Nếu bọn VC muốn giết ông Lê Khải Trạch, chúng đã giết ông ngay từ cuối năm 1975 khi ông bị chúng bắt.

Việc ông Lê Khải Trạch mất tích trong tù CS là một bí mật.

o O o

Cuba bị Castro và đồng bọn chiếm chính quyền từ năm 1960. Từ năm ấy – 1960 – các chính phủ Mỹ liên tiếp không bang giao với Cuba, cô lập Cuba, bao vây Cuba. Người Mỹ chờ đợi dân Cuba nổi dậy lật đổ chế độ Castro. Nhưng việc đó đã không xẩy ra. Qua 60 năm, đến nay Chính phủ Obama lập lại bang giao với Cuba. Theo ý ngu của tôi: Castro và đồng bọn đã thắng Mỹ Tư Bổn.

dancingTôi nghĩ hôm nay trên cõi đời này còn rất ít quí vị người Việt nhớ bộ phim Our Man in Havana – Điệp Viên Ta ở Havana. Phim Mỹ, được làm năm 1959, chiếu trên màn ảnh xi-nê Sài Gòn năm 1960. Phim đen trắng. Diễn viên: Maureen O’Hara, Alec Guiness, Jo Morrow. Phim làm theo tiểu thuyết Our Man in Havana của Graham Greene. Tôi có xem phim này, tôi có đọc truyện này, nhưng tất nhiên qua 60 năm, tôi chỉ còn nhớ lờ mờ cốt truyện.

Our Man in Havana trên Internet:

Chuyện xẩy ra vào thời gian Cuba còn Tổng Thống Batista. Viết rõ hơn: khi bọn Castro chưa vào Havana, khi Tổng Thống Batista chưa chạy sang Mỹ. Một thường dân Mỹ tên là James Wornmold – Alec Guiness thủ vai – chủ tiệm bán máy hút bụi, máy giặt ở Havana. James góa vợ, hay bị vợ bỏ, sống độc thân với cô con gái 17 tuổi. James được một nhân viên Tình Báo Anh – Intelligence Service – hoạt động ở Havana đề nghị anh lấy tin và gửi tin Cuba cho IS. Vì nhàn rỗi, vì tò mò, và vì cần tiền, James nhận lời. Để được IS cấp thêm tiền, James bịa ra chuyện anh lấy tin từ người nọ, người kia. Những báo cáo của anh không mấy hấp dẫn, nên IS không chi thêm tiền cho anh. Một hôm ngồi buồn trong tiệm, nhìn mấy cái máy hút bụi không ai mua, James bỗng nghĩ ra chuyện báo cáo Nga Xô vừa cho đặt một dàn phóng hỏa tiễn trong lãnh thổ Cuba. Dàn phóng được đặt trong một vùng rừng núi Cuba và tất nhiên là được dấu kín, được bảo vệ tối đa. Tin bịa này của chàng điệp viên bất đắc dĩ – cũng tất nhiên – được IS vố lấy khai thác. Năm ấy trận chiến tranh lạnh đang kịch liệt diễn ra giửa Hoa Kỳ là Liên Bang Xô Viết – gọi tắt là Nga Xô – việc Nga Xô đặt dàn hỏa tiễn trên đất CuBa, sát ngay Hoa Kỳ, là một đại họa cho Hoa Kỳ. Điệp viên James được IS  chú ý, khai thác tận tình. Tin trong lãnh thổ Cuba có dàn phóng hỏa tiễn của Nga Xô được loan báo trên khắp thế giới. Intelligence Serrvice, gửi một nữ điệp viên đến Havana làm thư ký cho James.

Nàng điêp viên-thư ký này do cô đào Mareen O’Hara thủ diễn. Cô đến và chẳng bao lâu sau khi cô đến James thú thật với cô về hành động bịp bợm của anh. Cô điêp viên thứ thiệt vì yêu James nên tìm cách cứu anh. James không những là không bị kết tội báo cáo láo mà còn được vinh danh và đưa về nước, cho nghỉ hưu trong danh dự.

Our Man in Havana được Graham Greene viết như một tiểu thuyết chế riễu những công vụ gọi là điệp báo của những tổ chức Intelligence Servive, CIA. Người ta đọc Our Man in Havana như đọc một tiểu thuyết giải trí.

Nhưng năm 1961 Nga Xô quả thật có cho đặt một dàn phóng hỏa tiễn trên đất Cuba. Tổng Thống John F. Kennedy quyết liệt phản đối, đòi Nga Xô phải tháo gỡ ngay dàn hỏa tiễn. Quá thời hạn do chính phủ Mỹ định, Mỹ sẽ dùng quân lực tấn công Cuba. Krushev tuyên bố Liên Xô sẽ bảo vệ Cuba. Hải Quân Mỹ bao vây biển Cuba, Chiến hạm Nga Xô đến cứu Cuba. Chiến tranh Mỹ Nga sẽ nổ ra trong sớm tối. Nhưng rồi Nga Xô nhượng bộ, chịu tháo gỡ dàn phóng đem đi.

Castro tuyên bố:

“Dàn phóng hỏa tiễn trong lãnh thổ Cuba là của Cuba. Liên Xô không có quyền đem dàn phóng ra khỏi Cuba.”

Nhưng rồi  Nga Xô cũng tháo dàn phóng đem đi. TT. Kennedy thắng Krushev trong trận này.

o O o

Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục anh và em sống mãi bên nhau.”

Đó là lời Ân Tố Tố nói với Trương Thúy Sơn trong đêm họ mới yêu nhau, họ ân ái với nhau lần đầu, họ nằm ôm nhau trong khoang thuyền đưa họ lên biển Bắc.

Với tôi, đó là lời Tuyên Ngôn của Tuyệt Đỉnh Tình Yêu – TÌNH YÊU viết Hoa bẩy Chữ, Hoa luôn dấu Huyền, dấu Mũ –  Đây là lời biểu lộ về Tình Yêu thứ hai làm tôi cảm khái.

Trong phim Havana Nights – Đêm Havana – những năm Castro và đồng bọn chưa vào Havana – Người thiếu nữ Mỹ là con gái một thương gia Mỹ ở Havana, chàng thanh niên là dân Cuba. Họ gặp nhau trong một phòng dậy khiêu vũ. Nàng và chàng cùng yêu khiêu vũ, họ nhẩy rất đẹp và họ đẹp đôi. Họ yêu nhau. Họ cố luyện tập để dự một đại dạ hội khiêu vũ sắp được tổ chức ở Havana. Nếu họ đoạt Giải Nhất, Tiền Giải 5.000 Đô Mỹ sẽ dành cho chàng sang Mỹ du học.

Nhưng dạ hội khiêu vũ chưa kịp tổ chức thì bọn Castro kéo vào Havana. Nàng phải theo gia đình nàng về Mỹ. Đêm. Đôi tình nhân nhẩy với nhau lần cuối.

Trước khi chia tay nhau vĩnh viễn, họ hôn nhau, nàng để bàn tay chàng lên chỗ trái tim nàng:

havana“Em đưa anh sang Mỹ với em.”

Chàng đặt bàn tay nàng lên trái tim chàng:

“Anh giữ em ở lại đây với anh.”

Phụ đề tiếng Việt:

“Em đưa anh sang Mỹ với Em trong trái tim Em.”

“Anh giữ Em ở lại đây với Anh trong trái tim Anh.”

Ôi.. TÌNH YÊU..! TÌNH YÊU viết Hoa bẩy Chữ, Hoa luôn dấu Huyền, dấu Mũ, Hoa luôn dấu “chấm than !”

Cảm khái cách gì!

Cảm khái quá chời.

VÌ TÌNH YÊU Ý MAI

himes1

Trong một Dancing tại Sài Gòn những năm 1970, vào lúc 11 giờ đêm, khách mới không còn đến, khách đến từ 8 giờ đã bắt đầu ra về, cảnh trong Dancing trầm buồn. Em ca sĩ đứng trước micro:

“Để thay đổi không khí, LT xin trình bầy bản…”

Không khí Rừng Phong không trầm buồn, nhưng lâu lâu cũng nên cho Viết ở Rừng Phong thay đổi không khí..Mời quí vị đọc một đoạn tiểu thuyết.

Đoạn truyện này trích trong truyện phơi-ơ-tông Hắc Lâm Cuồng Nộ – tiểu thuyết phóng tác; nguyên bản A Rage in Harlem của người viết Chester Himes, văn sĩ Mỹ Đen, nổi tiếng về loại tiểu thuyết gọi là Thriller, Detective. Tiểu thuyết Mỹ có cái trò đổi tên truyên khi tái bản: A Rage in Harlem còn có những tên For The Love of  Imabel, The Four Cornered Stone..v..v.. Nhân vật trong những tiểu thuyết của Chester Himes toàn là Mỹ Đen.

A Rage in Harlem mở đầu bằng cảnh một bọn lưu manh Mỹ Đen lừa dân Mỹ Đen khờ khạo bằng trò “Bạc Đẻ’ : làm tờ giấy bạc 10 đô trở thành tờ 100 đô. Năm 2005, tôi – CTHĐ – thấy có tin cái gọi là trò Bạc Đẻ được diễn ở Sài Gòn.

hime3Mời quí vị vào truyện:

Tư Hãn đếm lại sấp giấy bạc: 150 tờ giấy 10 đô-la. Ðếm xong, Y hỏi Vũ Son bằng vẻ mặt và giọng nói hết sức trang trọng:

— Anh chia cho tôi mười phần trăm, như ta đã thỏa thuận. Ðúng không?

Vũ Son gật đầu:

— Ðúng. Tôi sẽ chia cho anh mười phần trăm.

Văn Ðô, gã thanh niên Mỹ đen thứ ba trong cuộc họp mặt, thấy cần phải lên tiếng:

— Phần tôi là năm phần trăm. Tôi đươc chia bảy trăm năm mươi đô. Ðúng không? Yêu cầu xác nhận lần cuối.

Như vậy là Vũ Son phải chia một ngàn năm trăm đô cho Tư Hãn, bẩy trăm năm mười đô cho Văn Ðô, số tiền còn lại là mười hai ngàn bảy trăm năm mưôi đô chẵn. Anh lại gật đầu:

— Ðúng. Phần môi giới của anh là bảy trăm năm mươi đô.

Người lên tiếng cuối cùng về việc chia tiền là Ý Mai:

— Còn bao nhiêu là của tôi hết.

Ba gã đàn ông cùng cười, những tiếng cười vừa tham lam, chờ đợi vừa gượng gạo.

Ý Mai đươc coi là vợ của Vũ Son. Nàng là người thiếu nữ da đen vừa tròn hai mươi xuân xanh, khuôn mặt trái soan, sống mũi cao chứ không nở và dẹt như mũi đa số phụ nữ Mỹ đen khác. Ðôi mắt nàng long lanh đa tình, đôi môi nàng đầy, cong và khêu gợi.

Với tấm thân hấp dẫn tượng thần Vệ Nữ, Ý Mai làm choáng váng những chàng trai được gần nàng. Các chàng rạo rực, thèm muốn những khi nàng lắc nhẹ đôi mông tròn nây hoặïc cố ý để cho thiên hạ thấy cặp đùi thon, dài của nàng trong lớp vớ nylon mỏng dính.

Vũ Son yêu Ý Mai say đắm, nồng nàn, anh yêu nàng bằng thứ tình yêu tuyệt đối. Anh và nàng sống chung trong một căn phòng trong nhà chung cư này, phòng của họ nằm cùng một tầng lầu với phòng bà quản gia.

Sáng nay, một buổi sáng mùa đông năm 1950, lợi dụng lúc bà quản gia đi vắng, họ mượn tạm căn bếp của bà để thực hiện cuộc biến đổi giấy bạc đô-la, mượn mà bà quản gia không biết. Họ đang làm một việc phạm pháp: Tư Hãn sẽ làm 150 tờ giấy bạc 10 đô trở thành 150 tờ 100 đô.

Mùa đông, trời đang đổ tuyết, cả bốn người trong căn bếp nhỏ ai cũng thấy nóng, chẳng ai để ý gì đến thời tiết.

Vũ Son trố mắt nhìn kỹ từng động tác nơi đôi tay của Tư Hãn. Gã chuyên viên cuộn tròn 150 tờù 10 đô vào trong 150 tờ giấy hóa học, cho tất cả vào mấy cái ống nhôm rồi trịnh trọng xếp vào trong lò nướng. Sau đó, gã sẽ mở điện cho lò đỏ lửa trong 10 phút.

Sau 10 phút, lò tắt, lấy những ống nhôm ra, họ sẽ thấy những tờ giấy bạc 10 đô trở thành những tờ giấy bạc 100 đô. Vũ Son cố gắng thản nhiên nhưng anh không sao có thể giữ được bình tĩnh. Tim anh đập thịch thịch, mồ hôi chẩy trên bộ mặt bóng nhẫy của anh, mồ hôi cũng chẩy dài trong sống lưng anh. Sự căng thẳng làm cổ họng anh khô nghẹn. Giọng nói của anh trở nên khàn khàn; bồn chồn, anh hỏi:

— Không thể thất bại đươc chứ, ông thầy?

Chuyên viên Tư Hãn nhếch mép:

— Chắc ăn chăm phần chăm. Yên chí lớn.

Ý Mai cảm thấy sự hồi hộp của Vũ Son lên đến cao độ. Ðứng sau ghế Vũ Son, nàng choàng đôi cánh tay ôm lấy anh, những ngón tay gợi tình của nàng xoa xoa trên ngực anh, nàng nói nhẹ vào tai anh:

— Ðừng có căng quá chứ. Cưng đã thấy ông thầy làm phép rồi mà. Ổng là chuyên viên duy nhất trên cõi đời này có khả năng thần sầu dùng khoa học biến tờ mười đô thành tờ trăm đô.

Thực vậy, mới ngày hôm qua, Tư Hãn đã làm việc biến tiền trước sự chứng kiến đầy nghi ngờ của Vũ Son. Tư Hãn đã làm biểu diễn một tờ 10 đô thành tờ 100 đô theo cách này trước sự chứng kiến và giám sát từ đầu đến cuối của Vũ Son. Dễ dàng, ngon lành. Hơn thế nữa Tư Hãn còn đưa tờ 100 đô cho Vũ Son mang ra nhà băng đổi lấy 10 tờ 10 đô. Cũng ngon lành luôn. Tờ 100 đô là giấy bạc thật.

Qua trung gian giới thiệu của Văn Ðô và sự cổ vũ hết sức nhiệt thành của Ý Mai, bọn họ đi đến một giao ước: Vũ Son sẽ cung cấp 1500 đô bằng 150 tờ giấy 10 đô, Tư Hãn sẽ dùng giấy hóa học—thứ giấy riêng gã biết cách chế tạo—và phương pháp riêng, chuyển hóa 150 tờ 10 đô thành 150 tờù 100 đô. Họ sẽ chia nhau số tiền lời như đã thỏa thuận.

Mặc dù mắt thấy, tai nghe, tay cầm, miệng hỏi, trong giờ phút trọng đại này Vũ Son vẫn cứ hồi hộp dữ dội. Thần kinh anh căng thẳng đến tột độ. Một ngàn năm trăm đô la là tất cả tài sản của anh, đó là tất cả số tiền anh chắt bóp, dành dụm được sau cả ba năm trời lao động cần cù, vất vả trong Sở Mai Táng Kim Kê. Công việc chính của Vũ Son ở đây là tài xế xe hòm. Anh lái xe của sở đi nhận những xác chết ở khắp nơi trong thành phố đem về sở cho chuyên viên tẩm liệm và trang điểm. Ngoài việc lái xe Vũ Son kiêm việc rửa ráy và làm thơm xác chết, anh còn phải làm vệ sinh căn phòng “trang điểm”, đem đi đổ và rửa sạch những sô nước đầøy máu và các thứ lầy nhầy khác.

Ngoài số tiền dành dụm đươc Vũ Son còn phải muợn trước của chủ nhân Kim Kê một khoản tiền sẽ trừ dần vào lương tháng. Việc muợn tiền Chủ nhân Kim Kê không phải là chuyện dễ, Kim Kê coi tờ giấy một đô lớn bằng tờ nhật báo; Vũ Son còn phải đem đi cầm cái đồng hồ quả quýt vỏ vàng, cái kẹp ca-vát có gắn viên kim cương nhân tạo, cả cái nhẫn vàng anh tìm thấy trong túi một xác chết thân chủ, cộng tất cả lại mới đủ số tiền 1500 đô.

Nếu cuộc chuyển hóa giấy bạc này bất thành, nói rõ ra là nếu 1500 đô—vì lý do trục trặc kỹ thuật—cháy tiêu hết trong cái lò nướng mới toanh của bà quản gia, Vũ Son sẽ không những chỉ trắng tay mà còn lâm vào tình trạng công nợ ngâp đầu. Anh sẽ phải nai lưng ra làm thân trâu ngựa không biết đến đời nào mới trả cho hết nợ.

Vũ Son cảm thấy vòng tay âu yếm của Ý Mai ôm anh, anh ngửi thấy mùi da thịt hấp dẫn, kích thích của nàng, nhưng lúc này không phải là lúc để anh thưởng thức cái mùi mê ly hắt hủi đó, anh nói nhỏ với nàng:

ymai— Hồi hộp quá, em à. Số tiền này là cả cuộc đời anh. Nếu có chuyện chẳng may chúng mình lấy gì mà sống?

Vũ Son lo âu nhưng Ý Mai lại tỏ ra hết sức lạc quan và tin tưởng. Những ngón tay nàng mơn, vờn cần cổ anh:

— Làm sao có chuyện chẳng may được. Việc mình làm chắc ăn như cua gạch mà cưng.

Tư Hãn đã xếùp xong tất cả những ống nhôm đựng tiền vào trong lò nướng. Gã đóng cửa lò, mở điện rồi long trọng tuyên bố:

— Vũ Son… Mười phút nữa anh sẽ làm chủ hơn mười ngàn đô la thơm phức.

— A men. Xin tạ ơn Thiên Chúa!

Vũ Son vừa thành khẩn nói vừa làm dấu thánh giá. Anh theo Ðạo Tin Lành và là con chiên rất ngoan đạo, anh luôn luôn làm dấu thánh giá trong những giây phút nghiêm trọng để đươc yên tâm là có Thiên Chúa che chở cho anh.

Khi làm dấu thánh giá Vũ Son đứng lên, Ý Mai níu vai cho anh ngồi xuống:

— Ngồi yên dùm đi cưng. Sao hai đầu gối cưng cứ đập vào nhau lộp cộp nghe dễ sợ quá vậy…

Vũ Son ngồi xuống ghế, Ý Mai vẫn đứng sau lưng anh, nàng lại vòng tay ra ôm cổ anh và kéo đầu anh ngả vào bộ ngực co đôi vú nây tròn, căng của nàng. Ðôi mắt trắng rã của Vũ Son mở rộng nhìn chăm chăm vào cái lò nướng định mệnh. Thời gian chậm chạp, nặng nề trôi…

Tư Hãn và Văn Ðô đứng hai bên cái lò nướng. Thấy Tư Hãn nhìn đồng hồ tay, sốt ruột quá chịu không nổi, Vũ Son hỏi:

— Xong chưa?

— Sắp rồi. Một phút nữa thôi.

Tư Hãn trả lời rồi đi tới vòi nước lấy một ly nước uống. Vũ Son gần như nín thở trong chờ đợi, trái tim anh như muốn nhẩy ra khỏi lồng ngực. Anh kêu lên:

— Quá một phút rồi còn gì?

Bùng…!

Tiếng nổ vang lên trong căn bếp nhỏ. Vũ Son nghe như đó là tiếng nổ của bom nguyên tử. Anh tối tăm mắt mũi nhưng vẫn còn đủ sáng suốt để biết tiếng nổ ấy phát ra cái lò nướng mới mua của bà quản gia. Cửa lò bật tung, những ống nhôm trong lò bắn lung tung ra ngoài cùng với khói đen và mùi khét lẹt.

Vũ Son đứng bật lên:

— Lậy Chuá tôi..

— Coi chừng, cưng ơi…

Ý Mai ôm lấy Vũ Son. Nàng níu anh lại quá mạnh làm anh mất thăng bằng, anh ngã ngửa trên sàn.

Trong cơn bấn loạn, một giọng nói dõng dạc vang lên:

— Tất cả mọi người đứng im. Dơ tay lên. Cảnh sát…

Một thanh niên Mỹ đen, dong dỏng cao, quắc thước, đột ngột xuất hiện với vẻ mặt lạnh lùng, dáng điệu đầy quyền uy của những viên cảnh sát Mỹ. Tay trái viên cảnh sát dơ lên huy hiệu cảnh sát bằng đồng, tay phải lăm lăm khẩu súng lục. Họng súng đen ngòm chĩa ngay vào mặt Vũ Son:

— Ðứng yên. Tôi là sĩ quan cảnh sát. Ai chạy tôi bắn!

Ý Mai ré lên:

— Cảnh sát..!

Tiếng la của Văn Ðô tiếp theo:

— Chạy..!

Văn Ðô nhào tới xô viên cảnh sát ngã chúi vào cái bàn. Cùng với động tác ấy gã lao mình thật nhanh ra cửa.

Nhưng người chạy ra khỏi hiện trường phạm pháp nhanh nhất là Tư Hãn. Không biết bằng cách nào anh chuyên viên chuyển hóa giấy bạc lại có thể thoát ra khỏi căn bếp nhanh đến như thế. Như biết cách tàng hình, thoáng một cái gã biến mất. Can phạm chạy thoát thứ hai là Văn Ðô.

Ý Mai lại hét lên:

— Chạy đi anh…

— Em chạy đi..

Khi Vũ Son đứng lên được và nhìn rõ được anh thấy chỉ còn anh và viên cảnh sát đứng đó. Viên cảnh sát trừng mắt, chĩa họng súng vào ngực Vũ Son:

— Chạy tôi bắn nát óc…

— Trung úy đừng bắn. Tôi đâu có chạy…

Trong cơn bấn loạn Vũ Son còn đủ thông minh để gọi kẻ chĩa súng vào ngực mình là Trung úy, dù anh này bận thường phục.

Trong nháy mắt viên cảnh sát đã móc cái còng Số 8 vào hai cổ tay Vũ Son . Cắc…Cắc…Hai tiếng sắt thép xiết vào nhau khô khan và ghê rợn vang lên khi hai vòng còng ôm lấy hai cổ tay người bị bắt.

Viên cảnh sát hừ lên một tiếng, anh tỏ vẻ không hài lòng vì bọn tội phạm chạy hết anh chỉ bắt được có một tên:

— Mấy người coi thường pháp luật. Ðược lắm. Bản án hai mươi năm tù sẽ cho mấy người biết thế nào là lễ độ.

Mặt tái mét, Vũ Son run rẩy:

— Tôi có làm gì đâu. Tôi xin thề tôi không làm gì phi pháp cả.

Viên cảnh sát cúi xuống lượm mấy cái ống nhôm cháy sém nằm ngổn ngang trên sàn, anh rút cuộn giấy bên trong ống ra xem rồi giận dữ lớn tiếng:

— In bạc giả còn nói là không làm gì phạm pháp. Như vầy mà anh dám nói anh không làm gì cả? Anh có biết tội in giấy bạc giả bị phạt tù bao nhiêu năm không? Hình luật phạt tù khổ sai chung thân những kẻ làm giả giấy bạc nhà nước. Án tù của anh hai mươi năm là nhẹ nhất.

Giọng nói của Vũ Son run run như giọng con nít muốn khóc:

— Trung úy ơi.. Không phải tôi làm vụ này. Tôi thề tôi không biết gì về vụ in bạc giả ghê gớm này. Bọn làm bậy vừa mới chạy ra đó. Tôi là người cư ngụ ở đây. Tôi có công ăn, việc làm đàng hoàng. Tôi là người lương thiện. Phòng của tôi ở đầu dẫy này. Tôi không nói dối..

Viên cảnh sát cắt ngang:

— Ðừng có chối bậy. Anh không in bạc giả thì anh vô đây làm gì?

— Tôi đi qua, khát nước, vô đây lấy ly nước uống. Tôi vừa vô thì ông vô.

Toàn thân Vũ Son tê tái khi anh nghe viên cảnh sát gọi đúng tên anh:

— Thôi mà Vũ Son. Anh là Vũ Son, đúng không? Chúng tôi theo rõi hai thằng kia lâu rồi. Anh móc nối với hai thằng đó để in bạc. Anh càng ngoan cố án tù của anh càng nặng. Tin đi.

Nước mắt tuôn rơi trên hai gò má, Vũ Son rên rỉ:

— Trung úy ơi..Xin ông nghe tôi. Tôi mà nói dối thì tôi nguyện tôi không đươc hưởng phần Thiên Chúa cho tôi trên Nước Thiên Ðàng. Ông đã biết rồi, tôi xin nói thật: tên chủ chốt trong vụ này là tên Tư Hãn. Nó có thứ giấy hóa học có thể in tờ 10 đô thành tờ 100 đô. Tên thứ hai là thằng Văn Ðô, nó giới thiệu thằng Tư Hãn với vợ chồng tôi.

Viên cảnh sát vỗ nhẹ lên vai Vũ Son:

— Anh khỏi lo. Hai thằng đó sẽ bị tóm cổ. Anh sẽ gập lại chúng nó trong tù. Còn bây giờ, nhân danh pháp luật, tôi báo cho anh biết kể từ phút này anh bị bắt. Anh có quyền không nói gì cả. Mọi lời anh nói đều có thể đươc dùng để buộc tội anh. Tôi đưa anh về Sở Ðiều Tra Liên Bang. In bạc giả là tội đại hình thuộc quyền điều tra của Cảnh Sát Liên Bang.

Hai đầu gối Vũ Son khuỵu xuống, anh quỳ gối dưới sàn, đưa hai tay bị còng lên trước ngực:

— Vì Tình yêu Thiên Chúa, vì tình yêu loài người, Trung úy ơi.. Xin thương xót tôi.. Tôi suốt đời sống lương thiện. Tôi chưa từng bị bắt lần nào. Tôi kính Chúa, tôi đi nhà thờ dâng lễ mỗi tuần. Tôi xin nói thật để ông rõ đầu đuôi nội vụ. Tôi chỉ là người bỏ vốn thôi. Còn việc in bạc hoàn toàn là việc của tên Tư Hãn. Xin ông nghĩ lại mà thương tôi.. Xin ông vì lòng nhân đạo xét đến tình cảnh đáng thương của tôi..

Nghe những lời van xin thảm thiết ấy viên cảnh sát chỉ lắc đầu:

— Ðứng lên đi, Vũ Son. Ðã gây nên tội thì phải đền tội. Anh hãy chấp nhận hình phạt như người đàn ông có can đảm, luôn luôn ngửng đầu cao nhìn đời. Pháp luật không thể nào tha cho kẻ phạm tội chỉ vì kẻ phạm tội khóc lóc, van xin. Anh đừng nghĩ là tội anh nhẹ. Nếu anh không cung cấp những tờ mười đô thì thằng Tư Hãn lấy tiền đâu ra mà in bạc? Chính vì anh cung cấp tiền nên nó mới có cơ hội làm bậy. Tội anh không nhẹ hơn tội nó đâu.

Hai lỗ tai Vũ Son lùng bùng, anh không còn nghe rõ viên sĩ quan cảnh sát nói những gì nữa. Anh chỉ biết là anh sắp phải ngồi tù, một việc mà anh không bao giờ ngờ tới. Không cần đến mười năm, chỉ một, hai năm tù thôi, anh đã chết ngắc. Anh vừa đươc gặp, đươc yêu, được chung sống với Ý Mai có mấy tháng trời nay. Ðời anh đang đẹp, đang tươi. Thế là hết. Ðời anh sẽ không còn nghĩa lý và lẽ sống nếu anh không có Ý Mai. Nàng hứa nàng sẽ làm lễ kết hôn với anh khi nàng ly dị xong anh chồng nàng, anh này là thứ đàn ông không ra gì, chơi bời, trác táng, bỏ bê vợ, hiện anh ta đang sống bê bối ở một tiểu bang xa tít dưới miền Nam. Anh biết nàng yêu anh lắm, nhưng nàng là phụ nữ trẻ, nàng không thể nào sống cô đơn để chờ anh lâu được trong cái thành phố Hắc Lâm nổi tiếng ác ôn này. Chỉ cần anh đi tù một, hai năm thôi nàng đã có người tình khác. Ðó là chuyện tự nhiên, chuyện tất nhiên, nàng chẳng có lỗi gì cả. Và rồi nếu anh được Chúa thương, Chúa cho anh trở ra sau bẩy, tám năm bị pháp luật của người đời giam hãm trong tù, khi ấy nàng đã có chồng, nàng đã tay bế, tay bồng; tình cờ gặp nhau giữa phố đông có thể nàng sẽ không nhìn ra anh. Ở tù ra anh sẽ hom hem, già yếu, mắt mờ, chân chậm, tay run, anh sẽ không sao kiếm được việc làm khả dĩ nuôi được tấm thân tàn…

Càng tưởng tượng Vũ Son càng thấy những hình ảnh đen tối hiện ra. Anh đau thương nghĩ: “Rồi mình sẽ là gã đàn ông bệ rạc, râu ria, hôi hám, đứng cầm cái ca xin tiền ở góc phố, đêm đêm nằm co quắp trên ghế đá công viên hay dưới đường hầm xe điện. Lậy Chúa.. Sống như thế thà chết còn hơn..”

Vẫn quì gối, hai bàn tay bị còng của Vũ Son nắm lấy ống quần viên cảnh sát:

— Xin ông mở lòng thương xót kẻ lỗi lầm, ông bạn nhân từ. Thiên Chúa sẽ ban phước cho ông. Tôi phạm tội, nhưng tôi không phải là người bất lương. Tôi chỉ bị cám dỗ. Vợ tôi muốn có vài món nữ trang không phải là đồ giả quá đỗi rẻ tiền, muốn có cái áo lông mặc trong mùa đông như mọi người. Tội nghiệp nàng, từ ngày nàng về sống với tôi, tôi chưa mua tặng nàng đươc món gì đáng giá. Vì vậy tôi đã bị cám dỗ. Xin ông rủ lòng thương, ông cũng là người da mầu như chúng tôi, chắc ông thông cảm hoàn cảnh của tôi.

Nước mắt chẩy ràn rụa trên mặt Vũ Son, viên cảnh sát đẩy anh ra:

— Ðã bảo đừng có van xin. Vô ích. Tôi đâu phải là cha sở mà giải tội cho anh được. Ði uống ly nước, rửa mặt rồi đi theo tôi.

Vũ Son gượng đứng lên, anh đi tới vòi nước hứng lấy một ly. Hai bàn tay bị còng run run đưa ly nước lên miệng, uống được vài miếng anh khóc ròng như chú con nít gập chuyện oan ức, tủi thân:

— Ông cũng phải có chút tình xót thương đồng loại chứ. Tôi đã bị mất hết số tiền dành dụm được trong mấy năm trời vất vả làm việc còn hơn trâu ngựa. Trâu ngựa chúng làm việc có giờ, tôi làm việc bất kể ngày đêm. Vậy mà ông còn muốn đẩy tôi vào tù nữa sao? Tôi đi tù, hay tôi sống ở ngoài đời, thì có ảnh hưởng gì đến ông đâu?

Dường như những lời tả oán lâm ly, thống thiết của Vũ Son cũng làm cho người sĩ quan cảnh sát động lòng đôi chút, giọng nói của anh ta dịu lại:

— Vũ Son, anh không phải là tên phạm tội đầu tiên mà tôi bắt, anh cũng không phải là tên cuối cùng. Anh phải biết rằng bắt những kẻ phạm tội là công việc của tôi.Nếu tôi cứ vì thương xót mà thả những tên phạm tội, như thả anh chẳng hạn, thì người ta sẽ đuổi tôi ra khỏi ngành, người ta có thể cho tôi vào tù. Tôi sẽ đói và rồi tôi cũng làm bậy như anh vậy.

Vũ Son đưa mu bàn tay lên chùi nước mắt, chất thép lạnh của cái còng Số 8 chạm vào má anh làm anh rùng mình. Anh nhìn thấy đôi mắt không chút tình người trên khuôn mặt dài lạnh như tiền của viên cảnh sát, anh biết con người có bộ mặt lạnh ấy không biết thế nào là tình thương. Nếu bà mẹ đẻ ra hắn phạm tội, hắn cũng còng tay bà, đưa bà vào nhà tù như thường. Ánh mắt tàn nhẫn của viên cảnh sát làm cho Vũ Son nghĩ thầm: “Bọn da mầu thằng nào cũng vậy. Một khi chúng đươc đứng vào hàng ngũ bọn cảnh sát lập tức chúng không còn biết thương xót là gì nữa. Vì mặc cảm chúng đối xử với người cùng mầu da với chúng tàn tệï hơn cả bọn da trắng..”

Nhưng rồi—đúng là “phúc đáo tâm linh”—Vũ Son nghĩ ra một lối thoát:

— …Trung úy ơi.. Tôi xin biếu ông hai trăm đô nếu ông tha cho tôi. Ông làm ơn, làm phúc đi ông…

Viên cảnh sát nhìn bộ mặt nhòe nhoẹt những nước mắt của Vũ Son, anh lắc đầu tỏ vẻ thương hại rồi thở dài:

— Vũ Son.. Tôi thấy tình cảnh của anh cũng đáng thương. Chỉ vì muốn có tiền để làm vừa lòng đàn bà, anh đã nhúng tay vào tội lỗi. Vì chúng ta cùng là người da mầu với nhau, nếu anh hứa với tôi anh sẽ không bao giờ tái phạm nữa tôi có thể bỏ qua cho anh lần này. Ðưa hai trăm đô đây.

Vũ Son như người sắp chết đuối vớ được cái phao. mừng quýnh anh định quì xuống hôn chân viên cảnh sát để tỏ lòng biết ơn, nhưng bất chợt mặt anh nghệt ra: lấy đâu ra hai trăm đô bây giờ. Phải có ngay hai trăm đô. Chỉ còn một cách là về sở mai táng lấy trộm trong két sắt của ông chủ. Cả đời anh chưa lấy trộm của ai một đồng cắc. Nhưng biết làm sao được, không còn cách nào khác, đành phải làm thôi. Tuy là lấy tiền mà chủ nhân không biết nhưng anh chỉ muợn thôi chứ không lấy luôn. Bằng mọi giá, bằng mọi cách, anh sẽ trả chủ nhân số hai trăm đô anh mượn hôm nay.

— Tôi không mang theo tiền. Tôi để tiền ở Sở..

Viên cảnh sát gật đầu:

— Cũng đươc. Tôi đưa anh về đó lấy. Nhưng anh phải hứa danh dự với tôi là anh không được trốn.

Vũ Son kêu lên:

— Lậy Chúa.. Tôi là người không biết nói dối. Chỉ vì không có sẵn tiền ở đây nên tôi mới phải về sở lấy. Ông cũng phải tin tôi một chút chứ.

Không nói gì thêm viên cảnh sát mở còng cho Vũ Son, ra hiệu cho Vũ Son đi trước. Khi ra đến vỉa hè, viên cảnh sát chỉ tay về phía chiếc xe Ford cũ:

— Anh thấy cái xe cũ nát của tôi đó. Tôi cũng nghèo như anh vậy.

Vũ Son vội nói lời đồng ý:

— Trung úy cũng không khá nhưng dù sao ông cũng đỡ hơn tôi nhiều. Bây giờ tài sản của tôi là con số không. Tôi không còn một xu dính túi, lại thêm nợ nần..

Viên cảnh sát mở cửa xe:

— Thôi đi, Vũ Son… Bây giờ không phải là lúc anh than thở về số phận đen hơn mõm chó của anh.

Hai người lên xe. Vũ Son chỉ đường. Chiếc xe bụi bậm phóng nhanh về khu nam của Hắc Lâm, đến đường số 134 xe chuyển hướng về phía đông, rồi dừng lại trước tòa nhà sơn trắng mang bảng hiệu đắp bằng xi-măng có gắn ống néon trên mặt tiền: SỞ MAI TÁNG KIM KÊ

Ra khỏi xe Vũ Son lặng lẽ đi lên những bậc thềm bằng đá lên cửa vào tòa nhà. Anh nhẹ nhẹ đi trên tấm thảm cao su đỏ vào gian phòng lớn được gọi long trọng là đại sảnh đường, nơi đặt những cỗ quan tài trong có người chết đã được trang điểm để thân nhân, bằng hữu đến nhìn mặt lần cuối.

Sát vách tường bên trong đại sảnh đường có cái ghế dài bọc da mầu đỏ, để dành cho công nhân ngồi nghỉ. Trong bóng tối mờ mờ của gian phòng lớn buổi trưa không có khách nên đóng kín cửa Vũ Son biết Chín Mến, anh bạn công nhân đồng sở, đồng mầu da đen của anh, đang ôm ấp, hôn hít, vật lộn với chị tình nhân da đen. Chị này là công nhân một siêu thị gần đó, gần như giờ nghỉ ăn trưa nào chị cũng chạy vội đến Nhà Quàn làm tình với Chín Mến. Hai người này đang mê ly nên không biết có Vũ Son đi vào nhà.

Vũ Son nhẹ gót đi về cuối hành lang, nơi có những ngăn tủ gỗ chứa những cây chổi, bàn chải, khăn lau, sô nước, hũ sà bông, bình thuốc sát trùng, máy hút bụi và những dụng cụ để rửa nhà, lau nhà. Anh nhẹ tay mở tủ lấy ra cái khăn lau và cây phất trần, rồi anh nhẹ bước trở lại, đi vào văn phòng của chủ nhân Kim Kê.

Buổi trưa Chủ nhân Kim Kê vẫn quen lệ nằm ngả lưng, nhắm mắt thiu thiu chừng một giờ trên cái đi-văng nhỏ đặt trong góc văn phòng. Ði-văng này có màn che để khách không nhìn thấy. Cửa văn phòng khép hờ, Vũ Son len lén bước vào. Anh đặt cây phất trần lên bàn, rồi cầm khăn lau nhẹ cái két sắt kê sau bàn giấy của Chủ nhân Kim Kê.

Ðây là cái két sắt kiểu cổ, nặng và trông không thanh nhã nhưng rất chắc chắn. Chìa khóa két vẫn mắc ở ổ khóa, Chủ nhân Kim Kê tuy rất kỹ tính nhưng lại có thói quen không khóa két sắt khi ông ta có mặt trong phòng.

Nghé mắt nhìn Vũ Son thấy ông chủ nằm nghiêng, quay mặt vào tường để tránh ánh sáng, anh hồi hộp không biết ông đang ngủ hay thức.

Không quay lại ông Kim Kê bỗng lên tiếng làm cho Vũ Son giật mình:

— Chín Mến đấy hả?

— Dạ… Tôi ạ.. Tôi là Vũ Son..

— Vũ Son? Anh đến đây làm gì?

— Dạ.. Dọn dẹp mấy nơi trong nhà, thêm dầu, thêm nước cho cái Ca-đi-ắc chạy ngon lành..

Vừa nói Vũ Son vừa mở cánh cửa két sắt.

Giọng ông Kim Kê nhừa nhựa:

— Hôm nay là ngày nghỉ của anh mà?

— Thưa ông vâng. Vợ tôi đi thăm người bà con, ở nhà chẳng có việc gì làm, tôi đến sở còn đỡ buồn hơn là tôi cứ quanh quẩn ở nhà..

— Vợ anh đi vắng hả? Có thế anh mới đến đây chứ gì. Nhưng mà đừng có sốt sắng quá, không có chuyện tăng lương đâu.

Vũ Son cười cầu tài:

— Dzà.. Dzà.. Ông chủ cứ nói thế chứ.. Tôi đâu có…

Nhìn vào trong két anh thấy những tập giấy bạc 20 đô đươc xếp lại từng sấp một trăm nằm đó. Anh đưa tay vào nhón năm sấp. Ðã phóng lao phải theo lao. Ðằng nào anh cũng phải mượn tiền của chủ, mượn hai trăm thì cũng như mượn năm trăm Anh sẽ trả lại mà, chắc như bắp là anh sẽ trả lại không thiếu một đồng. Anh thầm cầu nguyện:

— Lậy Chúa.. Xin Ngài tha tội cho con. Con bị bắt buộc phải làm việc này. Con xin hứa con sẽ trả ông ấy đầy đủ.

Rồi anh nói:

— Thưa ông.. Tôi đi lo cái xe..

Không thấy ông Kim Kê ừ ào gì cả.

Vũ Son cất khăn lau, phất trần rồi vọt lẹ ra khỏi nhà. Trên cái ghế bọc da đỏ Chín Mến và chị tình nhân vẫn quần thảo nhau.

Vũ Son cầm sẵn hai trăm đô gọn trong lòng tay, đi đến đưa qua cửa xe. Viên cảnh sát bỏ ngay tiền vào túi. Trước khi rồ máy cho xe đi, Y nói:

— Vũ Son… Ðây là bài học anh phải nhớ đời: Làm bậy không khá được!

Ngưng truyện

Một gã trong bọn lừa Vũ Son giả làm viên cảnh sát.

himes2

NƯỚC MẮT CHẨY XUÔI

guo

Bản Tin trên Internet April 5, 2015: Người cha đi 10 vòng Trái Đất trong 18 năm để tìm con.

Một người đàn ông Trung Quốc tên là Guo Gantang, 45 tuổi, đã sống qua 18 năm đi trên quãng đường 400.000 km – độ dài tương đương 10 vòng Trái Đất – để tìm con trai ông bị thất lạc.

Ông Guo Gantang bắt đầu cuộc hành trình tìm  con trai ông vào ngày 21/9/1997 sau khi bé Guo Zhen, 2 tuổi, bị bắt cóc ngay trước nhà ông ở tỉnh Sơn Đông. Theo lời người chứng có mặt tại hiện trường, cậu bé đã bị bắt đi bởi một người phụ nữ luống tuổi.

Kể từ đó, ông bố dành quãng đời còn lại để đi tìm con trai. Anh Guo đã vượt hơn 400.000 km đi khắp các tỉnh Trung Quốc, ngoại trừ khu tự trị Tân Cương ở Tây Tạng. Trong gần 20 năm rong ruổi tìm con, đi bằng xe mô tô, Guo Gangtang phải thay mới 10 chiếc xe mô tô.

Dẫu dành bao nhiêu công sức và lòng thương để đi tìm con, 18 năm qua, Guo vẫn chưa được nhìn thấy mặt con trai. Nhưng người đàn ông yêu con đó đã trở thành ân nhân của nhiều gia đình. Nhờ ông mà hàng chục đứa trẻ thất lạc được đoàn tụ với bố mẹ chúng. Nhờ Guo Gangtang, những người bắt con nít cảm được nỗi đau của những người cha bị mất con nên đã tìm cách cho đứa trẻ bị bắt về với bố mẹ chúng.

Cuộc đi vạn lý của Guo Gangtang thì vẫn chưa thể kết thúc vì ông nhất định phải tìm và  đưa con trai ông trở về nhà. Có những lúc trong túi chỉ còn 5 xu, không đủ mua nổi một suất cơm nhưng người cha chưa bao giờ từ bỏ hy vọng tìm thấy con. Ông nói:

“Lúc nào tôi cũng tự nhủ rất có thể ngày mai tôi sẽ tìm thấy Zhen.”

Câu chuyện tìm con làm  xúc động hàng triệu trái tim đã trở thành cảm hứng cho một tác phẩm điện ảnh Trung Hoa sản xuất năm 2015, mang tên “Lost and Love”, với diễn xuất của ngôi sao Lưu Đức Hoa. Đông đảo khán giả nhờ xem phim này mà biết được hoàn cảnh đáng thương của Guo Gangtang. Hiện nay rất nhiều cư dân mạng tự nguyện giúp đỡ Guo tìm ra con trai.

“Thật cảm động. Chuyện làm tôi muốn khóc… Tôi ước mong Gangtang sớm được đoàn tụ với con trai.” Đó là lời cầu chúc của nhiều cư dân mạng gửi đến người cha yêu thương con mà bị mất con.

Theo BBC, khoảng 20.000 trẻ em ở Trung Quốc bị bắt cóc mỗi năm. Những đứa trẻ xấu số này sẽ bị đưa vào “chợ đen bán trẻ con” hoặc bị rao bán công khai trên mạng, tất nhiên với tên giả.

Buổi sáng ngày 21/9/1997, anh Guo Gangtang, khi đó 27 tuổi, rời khỏi nhà đến làm việc ở hầm mỏ gần đó như thường lệ. Trước cửa ngôi nhà ở thành phố Liêu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, cậu con trai hai tuổi Guo Zhen của anh đang chơi đùa. Khi Guo về nhà sau một ngày làm việc, anh không tìm thấy đứa con trai nhỏ của anh ở đâu. Cậu bé đã bị bắt cóc.

Kể từ đó, Guo bắt đầu hành trình tìm con. Suốt 18 năm qua, anh lái xe máy rong ruổi khắp nơi để tìm Guo Zhen. Tuy nhiên, cuộc tìm kiếm dài hơn 400.000 km, làm anh phải đổi 10 chiếc xe mô tô của anh tới nay vẫn chưa có kết quả.

Theo Shanghaiist, từ khi con trai mất tích, cả nhà Guo chưa bao giờ chụp ảnh chung. Guo Gangtang cho biết gia đình anh sẽ chỉ trọn vẹn khi con trai anh trở về.

o O o

CTHĐ: Buổi sáng Tháng Tư 2015, mưa xuân rơi trên Rừng Phong. Virginia không còn lạnh mùa đông. Trời mát. Chuyện người cha đi tìm con trai trên Internet làm tôi xúc động.

bike

Nước mắt chẩy xuôi.. Lời nói diễn tả tình cha mẹ yêu thương con. Chúng ta yêu thương con chúng ta hơn chúng ta yêu thương cha mẹ chúng ta. Các con chúng ta yêu thương con của chúng hơn chúng yêu thương chúng ta là cha mẹ chúng. Cũng phải nói là hai Tình Yêu đó khác nhau. Mọi sinh vật trên Trái Đất này đều yêu thương con.

Chuyện đi tìm con của người đàn ông Tầu gợi tôi nhớ chuyện Vua David trong Kinh Thánh. Vua David, người khi là chú thiếu niên, đã dùng ná thung bắn cục đá hạ người khổng lồ Goliah. David dùng ná thung bắn cục đá trúng vào giữa hai mắt người khổng lồ Goliath. Vì chiến thắng này David được tôn vinh làm Vua.  Vua anh minh, hiền hậu nên được dân yêu thương, triều thần quí trọng. Vua yêu thương con trai của ông là Absalom. Về già Vua thường thấy lạnh. Các quan trong triều tuyển Abigail, một trinh nữ 16 tuổi, để cô nằm trong lòng Vua David khi Vua ngồi xử việc nước. Hơi ấm của thân thể trinh nữ Abigail truyền sang làm ấm thân già của Vua David, làm cho vua vui khỏe. Đây là chuyện được gọi theo công thức Tầu là “Thiếu Âm bổ Lão Dương.” Tôi – CTHĐ – từng viết một bài về đề tài Thiếu Âm Bổ Lão Dương. .

Trong bài viết ấy tôi đưa ra câu hỏi:

“Nếu Thiếu Âm bổ Lão Dương thì chắc chắn là Thiếu Dương bổ Lão Âm. Những cô gái trinh, trẻ làm cho những ông già gần họ, viết rõ hơn là ôm ấp họ, hôn hít da thịt họ, hay được họ ôm ấp, được vui mạnh thì những chàng trẻ khỏe cũng làm cho những bà già gần họ được vui mạnh.”

Absalom là con trai lớn của Vua David. Chàng đẹp trai, hào sảng, tài kiêm văn võ. Nhưng Vua Cha sống lâu quá mà Thái Tử Absalom thì nôn nóng được làm Vua. Thái Tử lại yêu nàng Abigail. Thái Tử dấy binh làm phản, định cướp ngôi vua, làm chủ nàng Abigail. Có thể Thái Tử sẽ không giết Vua Cha, ông chỉ ép Vua Cha phải làm Thái Thượng Hoàng. Một số võ tướng trung thành với Vua hợp lực tấn công Thái Tử. Trong trận chiến, Absalom phi ngựa qua dưới hàng cây, mái tóc chàng – mái tóc dầy, đen, tuyệt đẹp – vướng vào cành cây, chàng bị treo lơ lửng dưới tàng cây. Các võ tướng không ai dám một mình đến phóng giáo giết Thái Tử. Họ sợ bị mang tội giết Thái Tử. Nhưng họ phải giết Thái Tử vì họ biết nếu để Thái Tử sống, Thái Tử sẽ được Vua Cha tha tội, và Thái Tử sẽ giết họ. Năm, sáu võ tướng cùng phi ngựa đến, cùng một lúc phóng những  ngọn giáo của họ đâm chết Absalom. Họ cùng phóng giáo giết Thái Tử trong một lúc để không ai bị kết tội đã giết Thái Tử.

david

Chú thiếu niên David dùng ná thung – một thứ như súng cao su của thiếu nhi Bắc Kỳ xưa – bắn một cục đá trúng vào giữa hai mắt Người Khổng Lồ Goliath.

Khi được báo tin con trai ông đã chết, Vua David kêu lên:

“Absalom..! Absalom..! Ước gì cha được chết thay cho con.”

Tiếng kêu đứt ruột, tiếng kêu xé trời.

Đó cũng là tiếng kêu trong tim của nhiều người cha có con bị chết:

“Absalom…! Con ơi..Ước gì Bố được chết thay cho Con.”

Năm 1957 tôi tình cờ có tác phẩm tiểu thuyết “Absalom! Absalom! “của Nhà Văn William Faulkner. Tôi đọc  nhưng phải bỏ ngang vì tôi không hiểu tác giả viết gì. Tôi chỉ biết tác phẩm “Absalom! Absalom!” của William Faulkner không phải là chuyện viết về nhân vật Absalom trong Kinh Thánh.

Nhiều năm trước một ông bạn tôi có con nhỏ bị chết, ông bảo tôi:

“Con mình chết, mình chết nửa người.”

Những năm 1960 thanh bình ở Sài Gòn tôi quen biết Phương, một thanh niên đồng tuổi tôi. Phương là con nhà giầu – nhà buôn xuất nhập cảng – anh đẹp trai, ăn diện sang, đúng mode,  nên có danh hiệu là Phương Cao Bồi. Là con nhà giầu Phương Cao Bồi không phải làm việc kiếm tiền, anh chỉ ăn chơi. Anh ái mộ Nhà Tiểu Thuyết Thanh Nam nên hay đi ăn chơi với Thanh Nam. Vợ anh là con nhà giầu. Vợ chồng xứng lứa, đẹp đôi. Phương có đứa con trai năm ấy sáu, bẩy tuổi. Một chiều Phương đưa con tới một biệt thự ở đường Chi Lăng. Vi la này có hồ bơi – piscine – trong nhà. Phương chỉ lơ là trong một thoáng: nhìn lại anh thấy con trai anh nằm dưới đáy hồ. Con anh đã chết. Anh bồng con lên ô tô, đưa con về nhà. Vợ anh phát điên. Chị cho là Phương mải đấu hót với cô nào đó bên hồ bơi không trông con nên để con chết. Quá đau thương, nàng bỏ chồng.

Con ta chết, ta đau thương. Nỗi đau này nặng hơn nỗi ta đau khi cha mẹ ta qua đời. Nỗi đau con ta chết sẽ nguôi theo năm tháng. Nhưng còn nỗi đau ta bị mất tích con, con ta bị bắt đi, thì sao?

Năm 1956 vợ chồng tôi có con trai đầu lòng. Năm ấy tôi làm nhân viên Sở Mỹ USOM – United States Operation Mission – Cơ Quan Hoa Kỳ Viện Trợ – Những năm 1960 USOM đổi tên là USAID.

Năm 1954 tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Sàigonnmới, lương tháng 3000 đồng. Tôi có vợ, vợ chồng tôi không còn ở chung nhà với bố mẹ chúng tôi được nữa. Chúng tôi phải ra riêng, tức mướn nhà ở riêng. Số tiền lương hàng tháng 3000 đồng của tôi năm ấy không đủ cho vợ chồng tôi sống, tôi đòi nhà báo tăng lương tôi lên 4000 đồng. Bà Bút Trà, bà chủ báo Saigònmới, và là bà chủ của tôi – trong đời làm ký giả của tôi, tôi chỉ nhận một mình bà Bút Trà là bà chủ tôi – không chịu tăng lương cho tôi. Tôi bỏ việc trong nhà báo Saigonmới.

Lâm, anh bạn tôi, chỉ đường cho tôi đi làm Sở Mỹ. Tôi thành nhân viên Sở Mỹ USOM. Tôi làm trong Travel Section của Sở. Tôi chuyên  việc đem passport của nhân viên Sở đến những Tòa Đại Sứ, những Tòa Tổng Lãnh Sự, xin Entry Visa. Nhân viên USOM có Passport Diplomatic ra vào các quốc gia bạn không cần Entry Visa, nhân viên Mỹ cầm Passport loại thường phải xin Entry Visa. Tôi đi lấy vé máy bay cho nhân viên đi công tác. Những năm 1955, 1956 nhân viên Mỹ lo việc viện trợ cho Việt Nam đến Sài Gòn thật đông. Những nhân viên USOM mới đến này được gọi là những New Arrival. Tôi phải đón họ khi họ đến phi trường Tân Sơn Nhất, đôi khi ở bến tầu Khánh Hội khi có người đến Sài Gòn bằng tầu thủy. Những chuyến phi cơ từ Tokyo, HongKong  đến Tân Sơn Nhứt ban đêm, hai, ba giờ sáng là chuyện thường. Tôi được báo trước số người đến, giờ họ đến, tôi lấy xe USOM đến phi trường đón họ, đưa họ về Hotel Majestic. Việc này làm tôi có nhiều giờ overtime. Nhân viên Mỹ USOM, sau là USAID, đông hơn số nhân viên Mỹ trong Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Cùng thời gian này tôi viết tiểu thuyết phóng tác cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi đang kiếm được nhiều tiền. Nhưng rồi tôi chán công việc tôi làm ở USOM. Tôi đã nhiều lần viết: Tôi muốn làm báo, viết tiểu thuyết. Tôi muốn sống bằng việc Viết. Tôi không muốn làm thư ký, dù là thư ký Sở Mỹ với việc làm dễ, thoải mái, lương nhiều. Một chiều tôi nói với vợ tôi:

Hoàng Hải Thủy và Hoài Nguyên, Sài Gòn năm 1957

Hoàng Hải Thủy và Hoài Nguyên, Sài Gòn năm 1957

“Anh bỏ USOM. Ngày mai anh không đi làm USOM nữa.”

Vợ tôi ngạc nhiên:

“Tại sao anh là bỏ việc ở USOM?”

“ Anh muốn làm báo, anh muốn viết truyện.”

“Anh cứ đi làm USOM mà anh vẫn viết truyện được mà? Sao anh lại phải bỏ USOM?”

“Anh muốn biết anh có thể sống bằng việc Viết của anh hay không.”

Bỏ USOM, vợ chồng tôi sống được với số tiền nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong – hai báo đều do ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng làm chủ nhiệm – hai báo trả tôi mỗi tháng là 7000 đồng: 5000 Ngôn Luận, 2000 Văn Nghệ Tiền Phong. Năm 1957 vì những xích mích vớ vẩn với anh em trong tòa soạn tôi bỏ ngang việc viết cho Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong. Nguyên nhân “con nít ke”: một số anh viết cho Văn Nghệ Tiền Phong không ưa tôi. Người không ưa tôi nhất trong số vài anh em này là anh Hoàng Tùng. Anh là nhân viên Sở Nghiên Cứu Xã Hội thuộc Phủ Tổng Thống, giám đốc Sở là  Bác sĩ Trần Kim Tuyến. Anh phụ trách Trang Khôi Hài của VNTP. Anh sáng chế chuyện “Kê Mao Côn: Chổi Lông Gà,” võ khí của những bà vợ đanh đá bắt nạt những ông chồng sợ vợ. Trang của anh đăng nhiều bài thơ độc giả gửi về, đại khái thuộc loại:

“Này này bác Hoàng Tùng
Bác đừng có lừng khừng..”
Bác giở điên, giở khùng..
Kê Mao Côn đét đít
Là bác chạy lung tung..”

Nhóm Hoàng Tùng khống chế tờ Văn Nghệ Tiền Phong làm cho tờ báo mất dần độc giả. Chuyện kỳ cục và con nít là có vẻ như anh Hoàng Tùng, và mấy người bạn của anh, muốn đá tôi ra khỏi tờ Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi bị chỉ trích – kín đáo thôi – ngay trên báo Văn Nghệ Tiền Phong là tôi can tội “thuổng văn của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng.”

Quả thực là khi đó tôi có bắt chước giọng văn, lối viết, cách vẽ vời nhân vật trong truyện của ông Vũ Trọng Phụng. Khi bị chỉ trách là “thuổng văn của Vũ Trọng Phụng,” tôi có thể nói:

“Tôi thuổng văn Vũ Trọng Phụng thì đã sao? Tôi không thuổng văn Vũ Trọng Phụng thì tôi thuổng văn ai? Tôi bắt chước lối viết và dùng một số ngôn ngữ trong văn phẩm của ông Vũ Trọng Phụng. Sao lại bảo tôi ăn vắp văn Vũ Trọng Phụng?”

Nhưng thay vì đối phó với sự chỉ trích một cách đàng hoàng, người lớn như thế, năm đó tôi trẻ tuổi, tôi mới 24 tuổi, tôi nhiều tự ái rởm, tôi có tật giận dỗi và giận hờn, giận mà không nói ra, tôi ngu dzốt. Tôi giận ông Hồ Anh chủ báo đã để cho ông Hoàng Tùng là bạn thân của ông, viết cạnh khóe tôi trên báo, chửi tôi ăn cắp văn, không nói một lời với ông Hồ Anh  tôi bỏ ngang việc viết truyện cho Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong.  Ông Hồ Anh chắc giận tôi vì tôi bỏ ngang truyện, ông không hỏi tôi tại sao tôi ngưng viết ngang xương cho báo của ông. Không viết cho Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, tôi mất số tiền 7.000 đồng một tháng.

Chủ nhiệm Hồ Anh phải tự cho báo VNTP đình bản một thời gian để tổ chức lại. Nhóm Hoàng Tùng bị gạt ra khỏi tòa soạn.

Năm 1957 tuần báo Kịch Ảnh ra đời. Tôi làm nhân viên tòa soạn Kích Ảnh, lương tháng 5000 đồng. Vợ tôi sinh cháu Kiều Giang. Tôi kể dài dòng để nói lên tình trạng sống của vợ chồng tôi năm đó: chúng tôi rơi vào cái gọi là Série Noire” Chu Kỳ Đen. Chúng tôi sống thiếu hụt với số tiền 5.000 đồng một tháng của tuần báo Kịch Ảnh.

Một tai họa khủng khiếp đến với tôi. Buổi sáng, khoảng 7 giờ, tôi sửa soạn đi làm. Vợ tôi mới sinh cháu Kiều Giang, còn nằm trong giường. Khi vào phòng tắm, thấy Hoài Nguyên, con trai tôi, khi ấy cháu hai tuổi, chưa biết nói, quanh quẩn bên tôi, tôi đưa cho cháu một đồng:

“Con bảo chị Năm mua sôi con ăn.”

Năm là tên chị người làm của chúng tôi. Lúc ấy, Năm và ba, bốn em người làm những nhà quanh đấy đang đứng trước cửa nhà tôi. Khi tôi từ trong phòng tắm ra, thấy Năm từ ngoài ngõ vào nhà, tôi hỏi:

“Em đâu?”

“Em đâu con đâu có biết.”

Nhìn quanh, tôi không thấy Hoài Nguyên đâu cả. Tôi vội lên xe Vespa chạy một vòng quanh khu phố. Không thấy con tôi đâu. Tôi đến Ty Cảnh Sát Quận Ba – năm ấy ở đầu đường Hiền Vương. Sáng sớm vào phòng trực, khai với thầy cảnh sát trực:

“Con tôi bị bắt.”

Thầy cảnh sát trạc tuổi tôi, đang hí hoáy viết gì đó trên sổ trực, nhẩn nha hỏi:

“Con ông đi lạc hay bị bắt?”

“Con tôi bị bắt. Nó mới hai tuổi, chưa biết nói. Nó đi đâu mà đi lạc.”

“Ông ngồi chờ đến lượt ông khai.”

Tôi nhìn quanh. Trên chiếc ghế dài có đến ba, bốn người  đang ngồi chờ khai báo. Người bị mất trộm đêm qua, người bị thương chắc vì đánh nhau. Chờ mấy ông bà này khai xong chắc phải mất ít nhất lá hai giờ. Gan ruột tôi nóng như bị lửa đốt.

Tôi trở về nhà, bỏ xe Vespa lại nhà, chạy bộ tìm con. Thấy bà già đi chợ Tân Định về, tôi hỏi bà:

“Bà có thấy thằng bé nào đứng khóc ở quanh đây không ạ?”

Bà trả lời:

“Có thằng bé đứng khóc ở trạm xe búyt trước chợ.”

Tôi chạy vi-tét đến chợ Tân Định. Không thấy con tôi ở trạm xe buýt, tôi vừa thở vừa hỏi  mấy bà bán hàng trước chợ:

“Các bà có thấy thằng bé nào đứng khóc ở đây không?”

Có bà trả lời:

“Có thằng bé đứng khóc ở đây. Thầy cảnh sát đưa nó về bót rồi.”

Tôi vẫy taxi. Khi tôi chạy vào phòng trực, thầy cảnh sát vẫn ngồi đó, vẫn hí hoáy viết. Ông bảo tôi:

“Con ông đi lạc mà ông nói nó bị bắt.”

Ông cầm chùm chìa khóa, tôi theo ông đến cánh cửa lưới sắt phòng giam của Ty. Ông mở cửa, một chị trạc 30 tuổi, không biết bị giam vì tội gì, bồng con tôi ra. Tôi ôm con tôi. Không  nói cám ơn chị, không nói cám ơn thầy cảnh sát, tôi ôm con tôi chạy ra, vào taxi, về thẳng nhà. Trên xe, tôi thấy con tôi khóc đỏ hồng hai má, một tay con tôi cầm cái bánh bich-qui sâm-banh. Người đàn bà đi ngang thấy cháu đứng xớ rớ ờ đầu ngõ bế cháu đi, mua bánh cho cháu, nhưng cháu không ăn. Cháu khóc.  Phúc lớn cho vợ chồng tôi là người bắt con tôi  không đi taxi, không đi xích lô, người đó chỉ cần lên xe xích lô đạp là vợ chồng tôi bị mất con. Người đó đón xe búyt về Phú Nhuận. Đến trạm xe búyt cửa chợ Tân Định, vì con tôi khóc, người đó sợ, bỏ con tôi lại, lên xe đi mất.

Chỉ một lần tôi hỏi vợ tôi:

“Nếu ngày đó mình bị mất con, em và anh có thể sống được với nhau không?”

Nàng trả lời;

“Đừng hỏi em câu đó. Em sợ.”

Nhiều lần nhớ lại chuyện vợ chồng tôi bị mất con trong khoảng hai giờ đồng hồ tôi nghĩ nếu mất cháu luôn chắc vợ chồng tôi không thể sống được với nhau.

o O o

Chuyện người bố bị mất con trai hai tuổi, hai mươi năm đi khắp nước Tầu tìm con, là chuyện có thật.

Tôi chỉ không biết những tấm ảnh tôi dùng trong bài này là ảnh người thật hay ảnh trích trong bộ phim điện ảnh Trung Quốc làm theo  chuyện ông bố mất con đi tìm con.

Và chi tiết “ông bố sáng đi làm, bỏ con trai hai tuổi đứng ở cửa nhà” làm tôi nghĩ đứa nhỏ không có mẹ.

Và làm tôi nghĩ: “Tai họa xẩy ra trong một nháy mắt. Tai họa có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, xẩy đến với bất cứ ai. Ai có phúc thì thoát.”

EM HAI MƯƠI TUỔI

Chiến tranh Việt Pháp 1946-1954: tình hình chiến sự rất nặng trên đất Lào. Người Việt thời ấy quen nghe tin, quen đọc trên báo những tin về những trận đánh diễn ra ở Xieng Khuang, Savannakhet, Paksé, Seno…

Chiến tranh Việt Pháp 1946-1954: tình hình chiến sự rất nặng trên đất Lào. Người Việt thời ấy quen nghe tin, quen đọc trên báo những tin về những trận đánh diễn ra ở Xieng Khuang, Savannakhet, Paksé, Seno…

Tôi có cảm tình với Thi sĩ Quang Dũng.

Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Thanh Tịnh, Hoàng Cầm, Nguyễn Bính đều có thơ ca tụng Hồ Chí Minh; Quang Dũng không một lời thơ nhắc đến họ Hồ.

Tôi thấy Thơ về Kháng Chiến 1946-1954, Thơ Quang Dũng là Nhất.

Tôi 15 tuổi năm 1946. Tôi có 4 năm đi kháng chiến. Gọi là “đi kháng chiến,” viết rõ là tôi – như rất nhiều thiếu niên cùng tuổi – đi làm liên lạc viên, mang thư tay của cơ quan, đi chân đất mang thư đến những cơ quan kháng chiến khác. Nhờ vậy tôi có 4 năm sống với nhân dân miền quê, tôi cảm được Thơ Quang Dũng.

dance

Năm 1954 ở Sài Gòn tôi mới được biết trọn vẹn những bài Thơ Hay Nhất của Quang Dũng.

Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên Hội Đuốc Hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

— Phù Lưu Chanh, 1948

Thi sĩ Quang Dũng và cô con ông

Thi sĩ Quang Dũng và cô con ông

Đôi Mắt Người Sơn Tây

Em ở Thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta

Đôi Bờ

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai?

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến Tề

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ

Xa quá rồi em người mỗi ngã
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?

Nhiều người Việt thuộc Thơ Quang Dũng. Nhưng viết về Thơ Quang Dũng, CTHĐ tôi không thể không kể những bài Tây Tiến, Đôi Bờ, Đôi mắt người Sơn Tây…

o O o

chim

Quang Dũng viết về Tây Tiến:

Tôi nhập ngũ đúng ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Năm đó tôi hai mươi sáu tuổi. Trước cách mạng, tôi học Ban Trung học trường Thăng Long. Tốt nghiệp, tôi đi dạy học tư ở Sơn Tây để kiếm sống.

Những ngày đầu vào quân đội, tôi nhận công tác ở Phòng công vụ Bắc Bộ. Phòng này do anh Nguyễn Văn Chân phụ trách. Tôi làm phái viên của phòng, có nhiệm vụ đi thu mua vũ khí ở vùng Hà Nam – Sơn Tây. Thấy tôi có chút học thức, lại yêu mến văn chương, anh Chân giới thiệu tôi lên chiến khu làm công tác báo chí. Tôi trở thành phóng viên tiền phương của tờ báo Chiến đấu thuộc Khu II.

Thời đi học tôi rất mê Đường Thi Tam Bách Thủ, nhất là những bài dịch của nhà thơ Tản Đà. Tôi cũng say mê thơ mới, tôi thích thơ Thế Lữ hơn cả, đặc biệt là bài Nhớ Rừng. Nhà văn tôi ái mộ là Thạch Lam. Thạch Lam không chỉ viết văn mà còn dịch những bài thơ văn xuôi của Pháp. Và có lẽ tôi tiếp thu được gì ở thơ ca Pháp ngày ấy, là do đọc các bản dịch này. Khi làm công tác báo chí tôi lại càng thấy thích văn phong của Thạch Lam. Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam là một tập bút ký giàu chất thơ.

Tôi ở báo Chiến Đấu đến đầu năm 1947 thì được điều đi học  Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây.

Những tháng học ở trường, tôi nhớ mãi hình ảnh vị giáo sư quân sự người Nhật như một kiểu mẫu sĩ quan mà chúng tôi mơ ước và kính nể. Giáo sư có tên Việt Nam là Lâm Sơn. Đại tá Lâm Sơn. Ông là sĩ quan Nhât sau Thế Chiến II không chịu về Nhật. Giáo sư lên lớp bằng tiếng Nhật, có người thông ngôn. Giọng ông sang sảng nghe đầy uy quyền. Kỷ luật trong trường quân sự hồi đó rất nghiêm khắc, nếu như bây giờ có thể gọi là “quân phiệt.” Giờ học đã đành, giờ nghỉ cũng rất “khuôn phép.” Có lần tôi ra quán uống cà phê về muộn, cảnh vệ bắt được, cứ lo như ngày nhỏ trốn học bị thầy bắt được. Sáng thứ hai đầu tuần, sau lúc chào cờ, Đại tá bắt tôi bò bốn vòng quanh cột cờ. Tôi bò một cách tự giác, bởi nghĩ rằng: đã mặc áo lính tất phải chịu nhữnh hình phạt như thế, nếu mình phạm kỉ luật.

Có lần Bác Hồ đến thăm trường. Tôi nhớ Bác còn nói cho chúng tôi nghe một cuốn sách viết về chiế tranh du kích. Vốn giàu óc tưởng tượng về hành động chiến đấu của người lính, tôi rất thú hình ảnh người du kích. Bac nói: “lại vô ảnh, khứ vô hình”, nghĩa là đến và đi không ai thấy. Chỉ nội mấy cái âm chữ Hán, đọc lên nghe đã xuất quỷ nhập thần rồi, chưa nói đến việc vận dụng nó vào chiến thuật quân sự.

Sau lớp học, tôi về Trung đoàn Tây Tiến, tức là Trung đoàn 54. Anh Tuấn Sơn làm Trung đoàn trưởng. Tôi ở đại đội bộ, làm đại độ trưởng. Tiểu đoàn 212 của tôi là tiểu đoàn trước đây đã từng làm náo động các sân bay Cát Bi, Bạch Mai… bây giờ chuyển sang nhận nhiệm vụ Tây Tiến.

Tây Tiến là chiến dịch tiến quân từ Khu III, Khu IV lên Khu X tức là Tây Bắc, vùng Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Năm 1945 khi khắp nơi nổi dậy cướp chính quyền thì nhân dân vùng này nhiều nơi vẫn chưa được giác ngộ cách mạng. Năm 1946, Trung đoàn Sơn La có đánh vào Tây Bắc, nhưng mới chỉ có ý nghĩa thăm dò. Đầu năm 1947 ta thành lập Trung đoàn Tây Tiến  đầu tiên, gồm các chiến sĩ tình nguyện của Khu III, Khu IV và tự vệ Thành Hà Nội trước thuộc Trung đoàn Thủ đô. Đợt Tây Tiến đầu tiên, ta đánh sâu nhưng phải rút lui ngay, vì lực lượng địch tập trung và mạnh. Tôi đi đợt hai. Nhiệm vụ của chúng tôi là mở đường qua đất Tây Bắc. Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là công tác dân vận gây dựng cơ sở, tranh thủ sự giác ngộ của nhân dân. Vì thế đi đôi với chức vụ đại đội trưởng, tôi còn được cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào – Việt.

Chúng tôi xuất phát từ Sơn Tây. Lúc đầu đi bằng ô tô, những xe ô tô chở khách của những hãng xe Con Thỏ, Trung Hà, Từ Đường, Mỹ Lâm… đều được xung công làm nhiệm vụ quân sự. Chúng tôi đi qua đường số 6, qua suổi Rút. Thị trấn Hoà Bình năm ấy còn tự do. Sau, chúng tôi chuyển sang hành quân bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến: xuyên rừng, ngủ rừng. Những cái dốc thăm thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường Hịch cọp trêu người”, rồi rải rác dọc biên cương những “nấm mồ viễn xứ”… những cảnh, những tình tôi mô tả trong bài thơ Tây Tiến là rất thực, có pha chút âm hưởng Nhớ Rừng của Thế Lữ, tôi viết “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc”. Hồi ấy trong đoàn chúng tôi rất nhiều người sốt rét đầu rụng hết tóc. Trong điều kiện gian khổ, thiếu ăn, kiệt sức, bộ đội chết vì sốt rét rất nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân, cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà trưởng thôn để tiễn một người vĩnh biệt rừng núi. Tiếng cồng ở Tây Tiến nghe buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng cồmg.

Đối với miền Tây, gay nhất là thuốc, vì đường tiếp tế rất khó. Tôi nhớ có lần được thuốc từ Khu II gửi lên. Cụ Thi Sơn trong Mặt trận Liên Việt tặng thuốc (nguyên cụ Thi Sơn là tướng của ông Đề Thám). Trong buổi lễ trao thuốc long trọng này, Anh Hồng Thanh, chính uỷ Trung đoàn, đã thay mặt bộ đội nhận thuốc. Anh còn làm cả thơ. Tôi còn nhớ mấy câu:

Một buổi sớm mọi người đều hoan hỉ
Từ bệnh nhân đến bác sĩ đều vui
Vì được tin kháng chiến chiến Khu II
Vừa gửi tặng 3.000 viên thuốc sốt…

Không hiểu cảm động vì có thuốc hay vì nghe thơ, mà anh Hồng Thanh đọc thơ xong, ai cũng rưng rưng nước mắt…

Tôi muốn gợi thêm một ý của bài thơ Tây Tiến để nói lên cái gian khổ, thiếu thốn ở miền Tây. Ngay cả khi nằm xuống, nhiều tử sĩ cũng không có manh chiếu liệm. Nói “áo bào thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tôi, cách nói ước lệ của thơ trước đây để an ủi những đồng chí của mình đã ngã xuống giữa đường.

Bài thơ Tây Tiến tôi làm khi về dự Đại hội Toàn quân ở Liên khu III, làng Phù Lưu Chanh (tên một tổng của tỉnh Hà Nam thời Pháp.) Tôi làm thơ rất nhanh, làm xong đọc trước Đại hội, được mọi người hoan nghênh. Nhân có Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu Hội Nhà Văn ở Việt Bắc về dự, lúc đi, tôi gửi anh bài thơ đó. Sau anh Xuân Diệu cho in ngay ở Tạp chí Văn nghệ. Hồi đó tấm lòng và cảm xúc của mình ra sao thì viết vậy. Tôi chả có chút lý luận gì về thơ cả. Dẫu sao bài thơ Tây Tiến có cái hào khí của lãng mạn một thời gắn với lịch sưở kháng chiến anh dũng của dân tộc… Từ Tây Tiến trở đi tôi làm nhiều thơ. Những bài Đường mười hai, Ngược đường số 6, Đôi mắt người Sơn Tây là những bài thơ mà tôi thích.

Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, tôi về làm trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52… Rồi làm trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III.

Tháng 8 năm 1951, tôi xuất ngũ. Còn cái trung đoàn Tây Tiến của tôi, hình như sau này được phân chia, bổ sung để thành lập sư đoàn 320 thì phải.

Quang Dũng

CTHĐ Sao Y Bản Chính.

CTHĐ: Tuổi hoa niên tôi ngất ngư vì những lời Thơ Đôi Bờ, Quán bên đường, Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây..

Tôi dành bài Thơ Quang Dũng làm tôi – trong tuổi già Tám Bó – cảm động nhất để kết thúc bài Viết ở Rừng Phong Tháng Năm 2015.

Quang Dũng làm bài Thơ này năm 1970. Theo tôi, đây là bài Thơ Cuối Cùng của ông.

EM HAI MƯƠI TUỔI

Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Những cây ổi thơm ngày ấy
Và vầng hoa ngâu mưa thu
Tóc Anh đã thành mây trắng
Mắt Em dáng thời gian qua

Ngày nay ngày nay
Chuyện đẹp qua đi
Thời gian gấp ruổi
Còn lại chúng ta
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp

Ơi! Con đường xưa
Những mùa trút lá
Cành bàng mồ côi
Cổng cũ rêu phong
Ý đợi người

Ơi! Con đường xưa
Men vườn ổi thơm
Em tuổi hai mươi
Yêu Anh hào hiệp

Bỏ Em Anh đi
Đường hai mươi năm
Dài bao chia ly
Có những vợ chồng
Không là trăm năm
Mà tình thương yêu
Sông ơi! Dài sao
Rộng ơi! Biển cả
Thôi Em nước mắt
Đừng rơi lã chã!

Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp 

o O o

CTHĐ: Năm 1949, tôi được Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm cho lên Việt Bắc học Khóa Huấn Luyện Kháng Chiến II. Vị giáo sư trưởng của Trường là Đại Tá Lâm Sơn. Người thông ngôn là anh Châu. Đại Tá và bà vợ – ông bà không có con – và anh Châu, ở thôn bên cạnh trường. Đại Tá – trạc 50 tuổi – bận sơ-mi trắng cộc tay, quần kaki, đi botte, đi ngựa. Anh Châu cũng vậy. Ngựa hai ông đi là ngựa Tây, cao, khỏe, đẹp. Trong khóa học có một sĩ quan Nhật trẻ tuổi dậy Judo. Năm ấy tôi nghe các anh trong trường nói Đại Tá Lâm Sơn là Tư Lệnh Quân Nhật ở đảo Hải Nam. Nhật bại trận, ông không chịu về nước.

o O o

Có con chim đậu nhành dây điện
Lại nhớ ngày xưa chuyện chúng minh.
Em đã đi rồi, chim gọi nắng,
Em còn nghe tiếng nữa bao giờ!

Ôi… Cảm khái cách gì!

KHẨU SÚNG, GÓI THUỐC

Truyện viết ở Sài Gòn Giáng Sinh 1970

bayeyNăm tôi lên sáu, lên bảy – 1940 – trận Ðại Chiến Thế Giới Thứ Hai chưa nổ, đường giao thông từ Á sang Âu vẫn còn, hàng hóa từ Pháp vẫn còn được đưa sang Ðông Dương và nhà Gô Ða ở Hà Nội vẫn mở cửa. Những năm đó, đôi lần được thầy mẹ tôi dắt tay cho vào đi chơi trong nhà Gô Ða, tôi chỉ để ý đến mấy cô đầm bán hàng, tóc hung, mắt xanh và nói tiếng Pháp líu lo. Không khác những anh bé con khác cùng tuổi, khu vực đẹp nhất trái đất này của tôi ngày ấy là khu bán đồ chơi trẻ con trong nhà Gô Ða. Nơi có những chiếc xe tăng chạy bằng dây cót biết leo phăng phăng lên những chồng nhật báo xếp lên nhau giả làm đường núi, những khẩu súng Eureuka co tên đầu gắn cao su bắn bằng lò xo. Phập… Mũi tên dính chặt vào mặt gỗ phẳng mỗi lần rút ra phát ra tiếng bục.

Lên năm, lên sáu tuổi, tôi đã được chơi súng nhưng đến năm tôi mười một, mười hai tuổi – 1942. 1943 – khi tôi thật sự biết chơi súng, thích chơi súng, bắt đầu biết tưởng tượng tôi lại không còn có súng để mà chơi, để tưởng tượng và thích thú. Vì cuộc Thế Chiến Thứ Hai nổ ra vào năm tôi mười tuổi. Ðường giao thông giữa hai lục địa Âu và Á bị cắt đứt, hàng hóa của Pháp không sang được Ðông Dương, nhà Gô Ða phải đóng cửa. Ðồ chơi trẻ con bằng sắt có máy như xe tăng, xe hơi, súng hơi… hết hẳn ở Hà Nội.

Tôi được biết nhà Gô Ða đã đóng cửa vào một buổi sáng mùa đông. Chủ nhật, thầy tôi từ Hà Ðông ra Hà Nội có việc. Ông định cho tôi đi theo nhưng đến phút sau cùng, có lẽ vì sợ phải chạy bom – Hà Nội đang bị oanh tạc – ông lại không cho tôi đi theo. Tôi tần ngần đứng ở cửa khi thầy tôi sắp ra đi. Ông cho tôi tờ giấy một hào để tôi ở nhà ăn quà. Tôi đưa lại ông tờ giấy bạc và nói:

– Con muốn có một cái súng như cái súng thầy mua cho con hồi trước. Thầy ra Hà Nội nhớ mua súng cho con…

Tôi thấy nét mặt của thầy tôi khác đi. Bây giờ hồi tưởng, tôi nghĩ rằng giây phút đó thầy tôi buồn. Buồn vì không chiều được tôi. Ông không cầm tờ giấy bạc:

– Con cứ cầm tiền ăn quà. Ðể thầy xem, có thầy mua cho, nhưng chắc bây giờ không còn đồ chơi đâu.

Tôi nghĩ đến gian bán đồ chơi sáng trưng trong nhà Gô Ða:

– Trong nhà Gô Ða con thấy bán nhiều lắm…

– Nhà Gô Ða đóng cửa từ lâu rồi, con…

Chuyến đi Hà Nội hôm ấy, thầy tôi không mua được súng cho tôi. Buổi tối khi ông về, tôi chờ đón và thấy ông về tay không, tôi cảm thấy buồn rầu như tôi vừa mất một quyền lợi gì. Khi tôi biết chơi súng, tôi không có súng để mà chơi. Từ đó cho tới năm tôi chơi được súng thực, tôi không được cầm lại một khẩu Eureuka bắn tên nào nữa…

o O o

Trong bẩy năm, chánh phủ cấm nhập cảng mọi thứ súng lục giả nhưng giống súng thực dành cho trẻ con chơi. Trẻ con Việt Nam trong thời này được chơi đủ thứ xe tăng, phi cơ, dĩa bay, người máy nhưng thiếu súng lục. Từ năm 1963, súng lục trẻ con giống súng thực bắt đầu lác đác có ở Sài Gòn. Loại súng giả này được mang lậu vào Sài Gòn từ Cao Miên, Thái Lan.

Ðến Noel năm nay thì hè phố Lê Lợi, khoảng chung quanh nhà Tax, có bày quá nhiều súng lục trẻ con, những khẩu súng lục giống súng thực và đẹp đến nỗi người lớn trông cũng phải thích. Kể cả những anh người lớn đã từng được cầm súng thực bắn chết người thực.

Tôi đứng ngắm mãi – khi không có tiền để có thể mua, khi biết chắc mình không thể mua được món đồ gì dù món đồ đó có đẹp, hấp dẫn đến đâu tôi cũng ít khi cầm xem, nhưng lần này vì khẩu súng đẹp quá, tôi phải miễn cưỡng phá lệ – tôi cầm khẩu súng lên. Ðó là một khẩu Parabellum, loại súng mà tôi vẫn thích. Nó lại có ống hãm thanh, trông y như súng của điệp viên James Bond 007. Không phải là đồ Nhật. Hàng chữ Made in West Germany hiện rõ trên cán súng. Không nặng bằng Parabellum thật nhưng cũng không hẫng như súng nhựa. Mầu súng cũng xanh xanh như màu thép già.

phillipQuanh tôi, người coi trầm trồ:

– Mẹ… Giống súng thực quá…!

– Mua khẩu này đi ăn cướp được đó mậy…

– Mua cái bao da bỏ vào… Không ai có thể biết là súng giả.

– Ðêm tối đưa ra… Sợ bằng thích…

Họ nói đúng. Phải cầm lên tay mới biết khẩu này là súng giả của trẻ con. Tôi hỏi người bán:

– Bao nhiêu khẩu này?

Hắn đáp với ba ngón tay ngạo mạn:

– Ba ngàn đồng…

Như hắn đoán biết tôi chỉ coi chứ không đủ tư cách mua, mà hắn đoán trúng. Lương mười hai ngàn đồng với một vợ, một con, tiền ăn, tiền nhà cả tháng. Hiện trong túi tôi chỉ có bốn trăm đồng với vài đồng bạc cắc. Tôi muốn mua một món đồ chơi cho con. Nó đã sáu tuổi. Nó đã bằng tuổi tôi ngày xưa ở Hà Ðông. Bằng tuổi tôi đã được chơi súng.

Tôi đi lẫn trong đám người đi mua đồ Noel. Mình được bố mẹ yêu thương chừng nào, mình cũng yêu thương con mình y như thế, nếu không yêu hơn. Ngày mình còn nhỏ, bố mẹ mua cho mình những món đồ chơi gì, bây giờ mình có con, mình cũng có bổn phận phải mua cho con mình những món tương xứng. Nếu không, chỉ là anh bố tồi… Tuấn mà được cái súng có gắn ống hãm thanh y như súng điệp viên, chắc cu cậu khoái lắm. Nó không khoái chơi xe. Trẻ con hai ba tuổi mới khoái chơi xe. Nó đã sáu tuổi, nó cần được chơi súng… Ba ngàn đồng… Made in West Germany…

– Ê… ông! Ði đâu mà ngất ngư thế ông?

Trước cửa nhà Pole Nord, nó vỗ vai tôi, miệng cười nhăn nhở… năm bẩy năm trước, chúng tôi gọi nó là thằng Ðăng Xê Xê vì răng nó vàng và đầy bựa. Có khi chúng tôi còn gọi nó là thằng AntiHynos vì nó chê bàn chải với thuốc đánh răng. Bây giờ ăn nên, làm ra, có địa vị trong xã hội rồi, chắc nó vẫn giữ nguyên cái tật chê đánh răng như cũ vì hàm răng nó nhe ra giữa cặp môi dầy có mầu vàng đậm hơn và cải mả, dơ dáy hơn trước:

– Lâu quá mới lại được gặp ông. Mời ông vào đây cho tôi được quyền chi ông ly nước…

Nó kéo tôi vào Pole Nord. Veston nâu, cravate đỏ, giầy nâu, tay cầm tờ Newsweek, mái tóc dài bóng nhoáng brillantine, trông nó long trọng rõ ra một kẻ có chức việc phải có mặt trong những buổi lễ lạc. Cảm thấy cái nhìn của tôi đánh giá bộ quần áo trên con người nó, nó nhún vai:

– Phái đoàn nghị sĩ Hoa Kỳ vừa đến thăm trụ sở… Phải đến tiếp mấy ổng… Vừa mới trốn được tiệc trà chạy vội ra đây định mua cái gì về làm quà Nô En cho mấy ông ôn ở nhà…

– Mày đi ngoại quốc luôn mà còn phải mua quà ở đây sao?

– Ði ngoại quốc mua quà về là một chuyện, Nô En lại phải có quà Nô En… Ngày tao đi Nhật về có mấy cái bật lửa , tao định cho mày nhưng cóc thấy mặt mũi mày đâu cả, chúng nó tới vồ hết…

– Mày có quà phải đem đến tao chứ! Tao rình mày đi chơi về để đến xin quà màysao?

Nó nhăn nhó như người khổ sở thực tình:

– Mày sáo lắm. Anh em mày đến chơi thăm tao không được ư? Như thế là mày có mặc cảm… Việc gì cứ phải tao đi tìm mày mới được? Tao hơn chó gì mày?

– Sao lại không hơn? Bây giờ mỗi tháng lương mày bốn chục sắp, tao có hơn mười ngàn. Mày có quyền bất khả xâm phạm… Tao mà léng phéng là bị phú lít bắt bỏ bóp ngay tức khắc…!

– Chuyện đó thì có ăn nhậu gì đến tình bạn giữa tao và mày? Tao và mày vẫn là bạn.

Tôi bỗng cảm thấy tôi cay đắng với nó. Tôi cay cú vì tôi không được bằng nó. Việc gì tôi lại phải tỏ ra ghen với nó nhỉ? Nó bị các báo chửi nát người ra, chỉ còn thiếu nước bị lôi ra chợ nhét của dơ vào miệng. Còn tôi, tôi đâu có bị ai nói nặng một câu!

Chuyện gẫu. Hỏi thăm thằng nọ, thằng kia. Nó ăn kem. Tôi uống 33. Nó móc túi trả tiền, lấy ra một gói thuốc lá Phillip bao vàng:

– Này… cái thuốc này mày với thằng Trí vẫn thích này? Phải không? Lâu lắm không thấy bán. Hồi sang Hồng Kông tao thấy bên ấy có nhiều lắm. Có phải đúng thứ thuốc hồi trước mày thích không?

Nó nhớ đúng. Tôi cách đây năm bẩy năm thích hút Phillip vàng. Ít năm gần đây, Philip đổi thành bao giấy trắng, chữ đỏ, chất thuốc kém hẳn nên tôi bỏ Phillip.

– Tao lấy gói này trong phủ Tổng Thống… Mày lấy mà hút…

Ra khỏi nhà hàng, trời bắt đầu tối và có mưa lâm râm, nó ngửa mặt lên nền trời xám:

– Nô En mà mưa là nhất rồi. Ðêm nay đi ăn đi chơi tha hồ mà mát. Khỏe…

Nó nhìn xuống:

– Sài Gòn nhiều hàng ngoại quốc quá. Chẳng thiếu món gì. Chỉ thiếu có tiền… À, mày đã mua gì cho thằng con mày chưa? Năm nay nó lên mấy rồi nhỉ? Nhân dịp mày cho phép tao mua cái gì cho thằng nhỏ.

Nó định mua cho con tôi cái xe hơi tám trăm. Tôi lắc đầu:

– Con tao nó có xe rồi. Nếu mày không tiếc tiền, mày mua cho tao khẩu súng. Ðằng kia có bán mấy khẩu súng đẹp lắm. Tao không đủ tiền mua.

– Thì mua súng… Ðâu súng đâu? Mẹ kiếp… Bố chuyên bắn súng Ca-nông sao không khuân về nhà cho con một khẩu cho nó chơi mà lại phải ra đây mua súng giả cho nó?

Số bạc ba ngàn làm nó đau, nhưng lỡ rồi, nó anh dũng móc sấp giấy năm trăm ra mua khẩu Parabelum đưa cho tôi. Tôi tha thứ hết mọi lỗi lầm của nó.

o O o

Tôi vẫn thèm cây súng của thằng An ở đầu hẻm. Bố nó có xe hơi nhưng nó vẫn ít đồ chơi hơn tôi. Mới đây, chú nó là sĩ quan đi học bên Hoa Kỳ về – tôi nghe nó khoe như thế – mua cho nó một khẩu súng giống như khẩu súng của cao bồi. Từ ngày có súng, nó lên mặt với tôi. Nó đem súng đi chơi với bọn ở hẻm bên. Bên đó, bọn trẻ con đã lớn, thằng nào cũng có súng, toàn là súng làm bằng gỗ. Thằng An có súng thật nên được bọn chúng chịu cho chơi chung. Mẹ tôi có mua cho tôi mấy khẩu súng nhưng toàn là súng giả làm bằng nhựa bán ở tiệm chú Tầu. Súng nhựa mà bắn ai! Tôi đòi mẹ tôi mua cho tôi khẩu súng thật như súng của thằng An, mẹ tôi nói mẹ không biết chỗ nào bán, chờ bố về bảo bố mua cho.

Bố tôi làm sĩ quan ở xa, cả tháng bố mới về nhà một lần. Bố có nhiều súng nhưng toàn là súng người lớn, nặng lắm, tôi không thể chơi được. Lần này ngày lễ, tôi được nghỉ học, bố tôi về nhà. Nghe mẹ tôi kể chuyện tôi thích cái súng của thằng An, bố tôi không nói gì, bố tôi lên Sài Gòn một lúc mang về cho tôi cái súng này.

Súng của tôi còn đẹp hơn súng của thằng An. Súng của tôi đen nhánh, súng của nó trắng. Súng mà trắng là thua rồi. Bố tôi bảo đi đánh nhau ban đêm, súng phải đen chứ nếu súng trắng, quân thù nó trông thấy nó bắn mình chết. Lúc đó bọn chúng nó đang chơi bắn chau, tôi mang súng ra, cả bọn xúm lại coi. Thằng nào cũng thích. Chúng nó thích súng của tôi hơn súng thằng An. Thằng nào cũng bồ với tôi hết. Thằng An khoe súng của nó là súng của cao bồi. Trong bọn có thằng bồ với tôi, bênh súng của tôi, nó nói súng của tôi là súng điệp viên và điệp viên đánh nhau cừ hơn cao bồi.

Bố tôi còn có một bao thuốc lá mầu vàng. Tôi nói với bố tôi bao giờ bố hút hết thuốc lá thì cho tôi cái bao thuốc. Bố tôi hỏi lấy bao thuốc làm gì? Bố tôi biết là ở trường, ở cả trong xóm tôi, bọn trẻ con chúng tôi vẫn dùng bao thuốc lá làm tiền. Những bao thuốc giấy xanh, giấy đỏ có nhiều nên rẻ lắm, chỉ gọi được là năm mươi đồng với một trăm đồng thôi. Bao thuốc giấy vàng như bao thuốc bố tôi đang hút được cho là năm trăm đồng. Ít thằng nào có bao thuốc vàng đó lắm.

– Bao giờ bố có bao thuốc này nữa, bố nhớ để dành cho con, bố nhá…

Còn mấy điếu ở trong bao, bố tôi bỏ hết ngoài để đưa cho tôi cái bao. Chỉ cần có một bao thuốc này, tôi cũng có nhiều tiền hơn chúng nó. Tôi có thể đổi một bao này lấy mười bao của bọn nó. Chúng nó tranh nhau mà đổi cho tôi.

Chiều hôm qua, tôi đi học về, thấy chú Quýnh đến nhà. Chú Quýnh cũng đi sĩ quan với bố tôi. Lần này chỉ có chú về mà không có bố tôi về. Chú ngồi nói nhỏ cái gì với mẹ tôi, tôi thấy mẹ tôi khóc, mắt đỏ hoe. Tôi hỏi tại sao mẹ khóc, mẹ bảo bố tôi bị đau phải đi nằm nhà thương, mẹ ôm tôi vào lòng, hôn lên tóc tôi. Chú Quýnh cũng ôm hôn tôi. Chú nói sáng mai chú đem xe díp lại đón mẹ tôi với tôi đi lên nhà thương thăm bố tôi. Tôi đem súng ra khoe chú. Chú nói súng tôi đẹp hơn cả súng của chú. Chú nói nếu có khẩu súng này chú đem ra dọa Việt Cộng, chắc Việt Cộng phải sợ.

Tôi đưa bao thuốc lá vàng bố tôi cho hôm nọ ra – nhiều thằng gạ đổi lắm nhưng tôi không chịu – hỏi chú Quýnh chú có bao thuốc này đem về cho tôi. Chú Quýnh cũng không biết bao thuốc vàng này trị giá bao nhiêu. Khi tôi nói cho chú biết, chú hứa sẽ đi kiếm cho tôi ít nhất là mười cái. Chú không hút thuốc này nhưng chú biết trên Sài Gòn có chỗ bán, chú sẽ đi mua về lấy thuốc hút còn bao cho tôi.

Buổi sáng, mẹ tôi đánh thức tôi dậy sớm. Tôi được nghỉ học để đi thăm bố. Tôi được bận quần áo đẹp. Chú Quýnh đúng hẹn, chú đem xe díp đến. Chú ngồi cầm lái, tôi ngồi cùng ghế với mẹ tôi.

Chú lái xe đưa mẹ con tôi đi xa lắm, đi qua những nơi tôi chưa từng đi qua bao giờ. Xe chạy ra khỏi thành phố. Tôi trông thấy bên đường có một bãi cỏ lớn lắm, lớn như sân đá banh mà không phải là sân đá banh. Trong bãi cỏ những tốp người Mỹ đi bộ, chú Quýnh bảo tôi đó là sân gôn của người Mỹ. Tôi không biết người Mỹ đánh gôn ra sao, chú Quýnh cũng không biết.

Nhà thương có lính gác, chú Quýnh phải xuống xe trình giấy người ta mới cho xe vào. Chúng tôi tới một tòa nhà có thềm cao. Có nhiều người bận quần áo mầu xanh ngồi chơi ở đó. Tôi thấy nhiều người cụt chân, có người cụt tay, có người tay chân còn buộc băng trắng toát. Người nào trông cũng gầy yếu. Trên cái ghế gỗ, có mấy bà nữa đã ngồi chờ trước khi mẹ con tôi đến. Bà nào cũng khóc, khăn tay cứ đưa lên chấm mắt luôn. Một lúc sau mẹ tôi cũng khóc. Mẹ tôi khóc khác mấy bà kia. Mấy bà ấy trong lúc khóc trông xấu hơn lúc không, còn tôi thấy mẹ tôi lúc khóc vẫn đẹp. Mẹ tôi đẹp hơn mấy bà ngồi bên nhiều.

Chú Quỳnh để mẹ con tôi ngồi đấy, chú đi đâu rất lâu. Ở đây chẳng có gì chơi, chẳng có gì coi, cũng không có hàng quà. Tôi ngồi buồn nhưng tôi biết rằng bố tôi đang đau, tôi không nên chạy chơi. Những ông ở đây chắc đều là bạn của bố tôi. Các bác, các chú cũng đau, tôi chẳng nên đùa nghịch làm phiền các bác, các chú.

Ðến gần trưa, khi tôi bắt đầu thấy đói bụng, chú Quýnh mới trở lại. Chú đưa mẹ con tôi qua nhà khác. Chỗ nào tôi cũng thấy có người đau ngồi, nằm. Tới một cửa phòng mẹ tôi vào trước, tôi đứng với chú Quýnh ở ngoài. Tôi đứng chờ một lúc thì thấy mẹ tôi đẩy hé cánh cửa, vẫy tôi vào.

Bố tôi nằm trên cái giường sắt. Một chân bố bị treo lên, quấn đầy băng, ngực và đầu bố cũng có băng quấn. Nhưng bố tôi vẫn cười với tôi. Bấy giờ mới biết là bố tôi đi đánh giặc bị thương chứ không phải bố tôi đau bịnh. Tôi hỏi bố có đau không? Bố đưa bàn tay không bị buộc băng ra cho tôi nắm, bố tôi nói có đau lúc mới bị nhưng bây giờ thì hết rồi…

Bố tôi hỏi cái súng tôi có còn bắn được không hay tôi đã làm hư rồi, tôi ghé má vào cho bố hôn. Tôi cũng hôn lại bố tôi. Bố tôi lấy dưới gối lên một cái bao giấy đưa cho tôi. Tôi mở coi, bên trong có bao thuốc lá vàng, thứ bao thuốc giá năm trăm đồng mà tôi thích.

Bố vuốt tóc tôi, bố dặn tôi về đi học, mẹ có cho ăn gì mới được ăn chớ không được đòi, tuần sau tôi lại được vào thăm bố. Chú Quýnh dắt tôi ra xe trước để cho mẹ tôi ở lại nói chuyện với bố tôi một lúc nữa. Ra ngoài sáng, tôi lại mở gói giấy ra coi. Có bao thuốc bị dính vết gì đỏ. Tôi hỏi chú Quýnh đây là vết gì, chú bảo có lẽ là vết máu.

TÙ NGỤC XƯA NAY

Tướng Việt Cộng Ðặng Kim Giang, người bị bọn Lê Duẩn, Lê đức Thọ giam tù nhiều năm.

Tướng Việt Cộng Ðặng Kim Giang, người bị bọn Lê Duẩn, Lê đức Thọ giam tù nhiều năm.

Ra Tết đã 15 ngày, mời quí vị đọc một số chuyện về Tù Ngục Xưa Nay ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghiã.

Nhiều đoạn trong bài này được trích trong Hồi Ký Ðêm Gữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên.

Tôi – HHT – muốn qua những lời kể của Vũ Thư Hiên, một đảng viên CS ở Hà Nội, trình bày bộ mặt thật tàn ác tận cùng của bọn CS Hà Nội – Bọn CS Hà Nội nói chung, nói riêng là bạn Lê Ðức Thọ – Lê Duẩn – Trường Chinh – Tố Hữu.

Bọn CS Hà Nội không chỉ tàn ác với những người công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoa, chúng đối xử tàn ác cả với những tên CS đồng Ðảng với chúng.

Vũ Thư Hiên, tác giả Ðêm Giữa Ban Ngày, là con trai đảng viên Vũ Ðình Huỳnh. Những năm từ 1945 đến 1954, ông Vũ Ðình Huỳnh là Bí thư của ông Hồ Chí Minh. Năm 1967 bọn Lê Duẩn bắt giam ông Vũ Ðình Huỳnh, rồi bắt giam Vũ Thư Hiên, hai cha con họ Vũ cùng bị giam một thời gian ở Nhà Tù Hỏa Lò Hà Nội.

Khi xem những trang sử Tù Ngục để viết loạt bài này, tôi thấy trong Lịch Sử Tù Ngục Việt Nam có ba cha con bị giam tù cùng một lúc:

  1. Ông Dương Bá Trác và ông thân của ông cùng bị giam ở Côn Ðảo những năm 1910.
  2. Ông Vũ Ðình Huỳnh và con trai là Vũ Thư Hiên cùng bị giam ở Nhà Tù Hoả Lò, Hà Nội những năm 1967, 1968.
  3. Ông Phan Huy Quát, Cựu Thủ Tường Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà và người con trai bị CS giam trong Nhà Tù Chí Hoà năm 1976, 1977. Ông Phan Huy Quát chết trong Nhà Tù Chí Hoà.

Trong bài này Vũ Thư Hiên kể chuyên bọn Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ giam tù Cựu Bí Thư Vũ Ðình Huỳnh và viên Tướng CS Ðặng Kim Giang.

Trích ÐÊM GIỮA BAN NGÀY, Tự Bạch của Vũ Thư  Hiên:

Tôi tặng cuốn sách này cho:

Những người con của nước Việt  đã cống hiến đời mình cho một nước Việt Nam độc lập, tự do và dân chủ.

Hương hồn cha tôi, và những người cộng sản đã chết bởi tay các đồng chí của họ.

Mẹ tôi, người dạy tôi sống không cúi đầu.

Vợ tôi, người cùng tôi chia sẻ vô vàn khốn khó trong những năm tháng đen tối của đời tôi.

Các bạn tù của tôi, cộng sản cũng như không cộng sản.

Các thế hệ sau tôi, hi vọng họ sẽ không bao giờ phải sống như tôi đã sống, dưới bất cứ gông cùm chuyên chế nào.

*****

teCuốn sách này không phải là lời lên án một xã hội nay mai sẽ trôi vào quá khứ.

Tôi không dám đặt cho mình mục đích buộc tội. Chỉ vì lịch sử thường có sự lặp lại, cho nên tôi muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo.

Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội được bởi trong xã hội mà tôi sống tôi không đơn thuần là nạn nhân. Về mặt nào đó, trong chừng mực nào đó, tôi còn là thủ phạm.

Tôi viết vì tôi không thể không nói lên tiếng nói của mình. Tôi quan niệm kẻ không dám nói “Không”trước Tội Ác là kẻ đồng lõa với Tội Ác.

Và sau hết, theo cách biểu đạt của Nhà văn Nga Prishvine, tôi chỉ là “một cái lá trong hàng triệu cái lá của cây đời, và nói về một cái lá thì cũng là nói về những cái lá khác”. Số phận tôi được nói đến trong cuốn sách này cũng là số phận của nhiều người cùng thế hệ với tôi.

Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo lời trăn trối của Người.

Cuốn sách còn là một vòng hoa muộn, một nén hương thêm đặt lên mồ những nạn nhân xấu số của một thời kỳ đen tối, những con người bất hạnh đã không chờ được đến ngày cuộc đời lập lại lẽ công bằng cho họ.

*****

Thế hệ chúng tôi bất hạnh: chúng tôi ra đời trong thân phận nô lệ, lớn lên trong khói lửa chiến tranh và trưởng thành trong nỗi sợ hãi các đồng chí.

Tôi chạnh nghĩ đến cha tôi. Giờ này ông ở đâu ? Theo lời đồn thì ông bị giam trong một biệt thự đầy đủ tiện nghi tại Hà Nội. Tôi không tin. Lời đồn không thể kiểm chứng nọ chắc hẳn do một trung tâm có chỉ đạo tung ra. Cũng như trong những việc đồi bại khác, các nhà lãnh đạo vẫn thích chưng ra bộ mặt tử tế – các đồng chí tuy có sai lầm khuyết điểm thật, nhưng đều là người có công với cách mạng, cho nên cách đối xử với các đồng chí phải khác.

Tôi lo cha tôi đêm nay lại bị cơn đau gan dày vò. Bệnh gan là hậu quả những cơn sốt rét rừng mà ông kiếm được từ trại giam Sơn La của Pháp. Nhưng ông còn đau đớn hơn bởi sự đối xử tàn nhẫn của những đồng chí ngày hôm qua của ông.

*****

Vũ Thư Hiên kể chuyện gặp Tướng VC Ðặng Kim Giang trong Nhà Tù Hỏa Lò, năm 1967:

Lần này viên quản giáo không đưa tôi tới phòng hỏi cung lần trước mà đi xa hơn, tới gần cổng Hỏa Lò, nơi có một lối đi hẹp dẫn vào những ngôi nhà dài thuộc cánh phải. Anh ta bảo tôi đứng đợi trong lối hẹp đó.

Lê Ðức Thọ, tục danh Sáu Buá, tên Lãnh Ðạo Cùng Hung Cực Ác của bọn  Cộng sản Bắc Kỳ.  Hí họa của Hoạ sĩ Choé, vẽ năm 1972.

Lê Ðức Thọ, tục danh Sáu Buá, tên Lãnh Ðạo Cùng Hung Cực Ác của bọn Cộng sản Bắc Kỳ. Hí họa của Hoạ sĩ Choé, vẽ năm 1972.

Bỗng tôi giật mình: cách tôi chừng mươi mét, một người tù già tóc bạc phơ, dáng đi nặng nhọc, hai tay bưng tô cơm, một con cá khô cắm đầu xuống giương chẽ đuôi cứng đơ lên trời. Người tù ngẩng mặt lên và tôi nhận ra ông là Tướng Ðặng Kim Giang. Bác Giang của tôi gày xọm, râu mọc dài, cũng bạc như cước. Chao ôi, chúng nó đã làm gì bác mà mới có hơn hai tháng tù bác thay đổi nhiều đến thế ? Nhưng phong thái ông xem ra vẫn không thay đổi, vẫn đàng hoàng lắm. Nhìn thấy tôi ông mỉm cười. “Ðừng sợ, cháu ! Phải cứng rắn lên !”, cái nhìn của ông nói. Một giây sau ông đi khuất vào một khúc quanh, theo sau là một quản giáo bận bộ áo màu hoàng thổ. Có phải với cái nhìn ấy, nụ cười ấy ông muốn nhắn tôi phải kiên định, không nhận gì hết. Nhưng tôi thì kiên định cái quái gì chứ ! Tôi có gì để mà nhận ? Hay ông lo tôi bị dụ dỗ, bị lung lạc, do quá sợ hãi mà bị bọn chấp pháp ép cung, khai bậy bạ cho người khác ?

Tướng Ðặng Kim Giang hoạt động cách mạng cùng với cha tôi từ những năm 30, từng ở tù cùng cha tôi tại ngục Sơn La. Trước khi trở thành đảng viên cộng sản ông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Quốc Dân Ðảng. Trong kháng chiến chống Pháp ông làm Tổng cục phó Tổng cục Hậu cần, là Chủ nhiệm Hậu cần mặt trận Ðiện Biên Phủ. Hòa bình lập lại, ông phụ trách khối bộ đội chuyển sang làm nông nghiệp, với chức vụ thứ trưởng Bộ Nông trường. Nhanh nhẹn trong chiếc áo choàng bằng dạ kaki cấp tướng, ông xăng xái lúc ở chỗ này lúc ở chỗ khác trên địa bàn rộng lớn miền Bắc. Chúng tôi, những đứa cháu con bạn ông, rất yêu ông. Trong ông chẳng có gì của vị Tướng trong cái hình dung thông thường của mọi người. Ông giản dị, xuề xòa và hồn hậu. Cũng giống như chúng tôi, những người lính nông dân vừa rời tay súng về cầm cày không coi ông là Tướng, mà là người cha, người chú trong gia đình.

Khi nổ ra cuộc xung đột ý thức hệ Trung-Xô, ông không do dự đứng ngay về phía Liên Xô. Là đảng viên cộng sản lão thành, nhưng ông không rành lý thuyết cộng sản bao nhiêu. Ông, theo chỗ tôi biết, là một nho sĩ với phương châm xử thế bất biến lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu. Với tinh thần nho sĩ ông gay gắt lên án Stalin giết hại đồng chí để củng cố quyền lực, ông chống Mao, mà ông gọi là “tên đồ tể”cũng mạnh mẽ không kém.

– Stalin ngập trong máu, bác biết lắm chứ, nhưng đó không phải là chủ nghĩa xã hội. — ông nói với tôi — Cái nhà không xấu chỉ vì chủ nhà là một thằng khốn nạn. Bác nghĩ thế. Hôn quân có thể làm sập một vương triều, nhưng không làm mất nổi một đạo. Cháu thấy không, các triều vua thay nhau đổ trong khi Nho giáo, Khổng giáo vẫn cứ trường tồn. Chủ nghĩa Mác với tư tưởng giải phóng nhân loại còn mãi. Chủ nghĩa Mác không muốn thấy một nhân loại như bây giờ. Nhân loại phải được sống hạnh phúc. Con người phải được sống như con người. Khrusov lên án sùng bái cá nhân là phải lắm, người có luân thường tất không thể làm khác. Mao mới là tên ăn cháo đá bát. Lợi dụng chống Khrusov chống luôn Liên Xô. Thử hỏi không có Liên Xô làm sao Trung Quốc có ngày nay ? Công nghiệp gang thép ai dựng cho ? Rồi công nghiệp máy cái, tàu bay, tàu biển, ô tô ? Trước kia Trung Quốc có gì ? Ngày nay có gì ? Ừ thì lãnh đạo Liên Xô cư xử không nên không phải khi nổ ra bất đồng, nhưng ai là người đổ mồ hôi sôi nước mắt giúp Trung Quốc vững vàng được như bây giờ ? Là nhân dân Liên Xô chứ, là người lao động Liên Xô chứ. Xét cho cùng, cũng chẳng lấy gì làm lạ — mộng vương bá là cố tật của người Trung Hoa. Cứ xem sử Trung Quốc thì thấy, mỗi vùng mỗi vua, anh nào cũng lăm le bá chủ thiên hạ, chưa bá chủ được chưa yên. Nước ta rồi còn khổ với mấy cái anh bá này !

Trong thời gian làm thứ trưởng Bộ Nông trường ông đã đề xuất những chủ trương táo bạo như khuyến khích sản xuất bằng lợi ích vật chất, chia ruộng phần trăm cho nông trường viên, hợp tác đầu tư với các nước xã hội chủ nghĩa, cho các nông trường liên doanh với các nông trường nước bạn. Tất cả những chủ trương cách tân đó đều bị Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ coi là “xét lại”, “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”.

Tướng Giang đi khuất rồi, tôi còn phải đứng đợi một lúc nữa mới thấy viên quản giáo xuất hiện.

*****

Còn nhớ ngày ông Ðặng Kim Giang hấp hối trong căn nhà lá ọp ẹp nằm trong khuôn viên chùa Liên Phái.

– Bác đừng chết bây giờ ! — tôi ghé sát vào tai ông, thì thầm kêu lên — Cố lên bác, chết bây giờ là thua keo nữa đấy, bác. Bác đừng cho thằng Duẩn, thằng Thọ sướng. Bác chết đi, chúng nó sướng lắm đấy. Cố mà sống, bác ơi !

– Bác đang cố đây !

Ông gượng cười với tôi. Giọng ông đã yếu lắm, nghe không còn rõ, nhưng nụ cười của ông vẫn là nụ cười trước kia, chất phác và hồn nhiên làm sao !

Tôi ngồi bên ông, nắm chặt tay ông, tôi muốn truyền sức sống của tôi cho ông.

– Cháu ơi ! — lát sau ông thều thào gọi tôi.

– Dạ !

– Sinh hữu hạn, tử bất kỳ, cháu ạ ! — ông kéo tay tôi lên ngực ông, dưới bàn tay tôi trái tim người lính của ông đập chậm chạp và mỏi mệt trong lồng ngực trơ xương — Con người không chống nổi mệnh trời. Bác sẽ cố, nhưng nếu không cố được…

Tôi cúi xuống sát mặt ông để nghe cho rõ. Có thể đó là những lời cuối cùng ông nói với tôi :

-… đến lượt các cháu… phải gắng sức… vì đất nước…

Tôi hiểu ông muốn nói gì.

– Vâng, thưa bác. Cháu xin hứa với bác.

Tôi hôn lên trán ông, để rơi xuống đó một giọt nước mắt xúc động.

Ông mất ít ngày sau, khi tôi đã trở lại Sài Gòn.

Ông là người được nhân dân yêu mến. Ðồng bào các vùng ông hoạt động thời bí mật vẫn nhớ ông. Hồi ông mới được thả có người dân Ðình Bảng lén lút đạp xe về Hà Nội thăm ông.

“Dân chúng cháu nhớ bác, sai cháu mang về biếu bác mấy con vịt để bác bồi dưỡng”.

Bước vào nhà anh ta vui vẻ khoe với ông. Nói rồi te tái chạy ra ngoài tháo cái bọc trên yên đèo hàng xuống. Vừa mở cái bọc ra, anh ta bưng mặt khóc òa :

“Vịt chết hết cả rồi, bác ơi ! Cháu phải mang giấu cho bác, mới bỏ chúng nó vào bao tải cho người ta khỏi thấy, khốn trời nóng quá chúng nó chết ngộp hết rồi !”.

Tướng Giang cũng nước mắt dòng dòng.

o O o

Ông Ðặng Kim Giang thọ 73 tuổi, bị tù thời Pháp thuộc 12 năm, thời xã hội chủ nghĩa 7 năm, tổng cộng tất cả những năm tù và quản thúc trong cả hai chế độ là 25 năm. Ông qua đời trong căn nhà dột nát rộng 14 mét vuông ở khu chùa Liên Phái, nơi trú ngụ của lớp cùng dân của xã hội — những bà đồng nát, những người phu quét rác không hộ khẩu và những đứa trẻ làm nghề móc túi…. Khi ông hấp hối vẫn có hai công an viên ngồi kèm bên giường. Bà Giang phải bảo họ đi ra ngoài cho ông được nhắm mắt.

Sao Y Bản chính: Đêm giữa ban Ngày

SẦU TRƯỜNG THÁNG TƯ 2015

75

Hai mươi năm sống ở Kỳ Hoa, tôi đã viết khoảng bốn, năm bài về Ngày 30 Tháng Tư 1975. Năm nay – 2015 – nếu tôi viết về Ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi sẽ chỉ viết lại những gì tôi đã viết. Viết lại với nỗi cảm khái đã nhạt, viết lại với những lời đã nhão, những ý đã mòn.

Đêm tha hương – 12 giờ đêm, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, – phòng vắng, đèn vàng, yên tĩnh năm chăm phần chăm, tôi mở computer đọc những bài viết của tôi về Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tôi trích một bài làm tôi cảm động khi tôi đọc đêm nay để gửi đến Bạn.

19-5

Ôi Người Bạn Đọc ở xa Tôi ngàn dậm, ở phần bên kia Trái Đất.  Người bạn Đọc ở Chín Phương Trời, Mười Phưng Đất; Người Bạn Đoc ở Quê Nhà, Người Bạn Đọc Sống Lưu Vong như tôi ở nơi chân trời, góc biển, nơi cuối bãi, đầu ghềnh hải ngoại thương ca….

Tôi gửi đến Bạn bài này.

Thơ tôi làm Tháng Tư năm 2010 ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Ngày Oan Trái

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Mất  nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương…

Một đời ba, bốn phen dâu bể
Mười điều trông thấy chín đau thương
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Nước mất, quân tan, thân chiến bại
Sống nhờ cơm áo ở tha phương
Vèo trông lá rụng đầy đường
Kỳ Hoa Ðất Trích đoạn trường thế thôi.

Huống chi ta đã không còn trẻ
Tự thưở tan hàng ở cố hương.
Tháng Tư..! Ta lặng nhìn sông núi
Sông núi người dưng trắng khói sương.
Quê ta xa mãi bên kia biển
Chỉ thấy tơi bời mây trắng vương.
Ta đau người lính vừa thua trận
Nát gió mưa nằm giữa sa trường
Vẫn nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu Thiên Ðường.

Ðất đá tim ta nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ Em khóc thương?

o O o

Tôi không viết bạn cũng thấy trong Thơ Tôi – Thơ Công Tử Hà Đông trên trang này – có Thơ Thanh Nam, Thơ Quang Dũng, Thơ Nguyễn Bá Trác, Thơ Nguyễn Bính.

o O o

Bài Thơ thứ hai tôi làm ở Kỳ Hoa, Tháng Tư 2010.

Sầu Trường..

Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tha hương

Cúi đầu mà khóc
Nghẹn lời mà gọi
Kỳ Hoa mang mang… ơi người mất nước..
Rừng Phong cùng ta cạn mấy sầu trường.

Sầu trường..Sầu trường đau thương.
Ta biết thương  về đâu?
Ðông phương ngàn dậm thẳm
Mây nước một mầu sương
Tây phương trời đẹp lắm
Có người mất nước như điên, như cuồng…

Hỡi ơi… bạn tác ngoài trôi dạt
Chẳng đọc Thơ Ta cũng đoạn trường!

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Xa nửa địa cầu thương nhớ mãi
Xương có tàn xin hãy nở hương.

o O o

Hơn ba mươi Ngày 30 Tháng Tư đã đến, đã qua đời ta kể từ ngày ta mất nước, ta không thể sống như loài ếch nhái nằm trong góc ao đêm mưa ì ộp gọi nhau, ta thương khóc dù ta biết ta có thương khóc bao nhiêu cũng chỉ là vô ích; nhưng sẽ chẳng còn lâu nữa  những Tháng Tư sẽ đến với những người Việt không biết gì về Tháng Tư; ngày Quên sẽ tới khi trên cõi đời này không còn người Việt nào đau nhói trái tim khi Tháng Tư trở lại. Khi trên cõi đời này không còn người Việt Nam nào ba mươi tuổi trong Ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Vì năm tháng sẽ qua, vì người sẽ quên, vì đời sẽ lãng, nên khi chúng ta còn sống, năm năm cứ đến Ngày Oan Trái, ta cứ thắp hương lòng để nhớ thương. Ai không nhớ mặc ai, còn ta, ta cứ một mình rơi nước mắt vào những sầu trường tha hương, thất quốc.. Bạn ơi.. Giờ này, Ngày 25 Tháng Tư, 1975…, quân ta đang chặn đánh quân Bắc Việt Cộng ở mặt trận Long Khánh, Xuân Lộc, anh em ta, đồng bào ta đang chết để cho chúng ta sống…

Ơi các bạn của tôi – quen biết hay không quen biết – ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, trong đau thương, trong tủi cực, trong cô đơn, tuyệt vọng, tôi gửi những lời Thơ này đến các bạn:

Gửi thân lữ thứ trăm miền
Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn. THANH NAM

Sài Gòn ơi.. Ta đã mất Em trong cuộc đời…NAM LỘC
Sài Gòn Ðẹp Lắm, Sài Gòn ơi..! Y VÂN

Chín mười giờ một đêm năm 1978, 1979..Sài Gòn mưa rơi, thành phố tắt điện, tối đen, tôi – kẻ viết những dòng chữ này – trên xe đạp đi qua trước Chợ Ông Tạ. Trong bóng tối, giữa hai dẫy nhà đen, hai dòng người trên xe đạp, một dòng đi về Đông, một dòng đi về Tây; như những bóng ma lầm lũi đi trên đường Địa Ngục.

Trên xe đạp, tôi làm bài thơ:

Sắc Cỏ

Ở đấy mộ người đều cỏ trắng
Riêng mộ người yêu cỏ sắc xanh.
Đêm mưa, đèn tắt, thành xưa vắng
Thương nhớ Tình Ta chỉ một Anh.
Em đi mùa ấy mưa hay nắng?
Đời vắng Khanh Đời chỉ nhớ Khanh.
Lầu vàng, lều cỏ rồi yên lặng
Phố chợ, rừng hoang cũng vắng tanh.
Người yêu, người ghét cùng quên lãng
Chẳng còn Em cũng chẳng có Anh.
Mồ Em cỏ ấy vàng hay trắng?
Anh biết Mồ Anh cỏ sắc xanh.

Chuyện Tầu: Chiêu Quân sang đất Hồ, chết ở đất Hồ. Đất Hồ trời lạnh quanh năm, cỏ trên những nấm mồ mầu trắng, riêng cỏ trên mộ Chiêu Quân mầu xanh.

Tháng Tư mùa soài. Lúc 10 giờ một buổi sáng Tháng Tư năm 1976, hay 1977, tôi đứng trên đường Hai Bà Trưng, đoạn đường trước chợ Tân Định, bên cột ngừng Xe Buýt, nhìn sang chợ bên kia đường. Trời nắng vàng. Những trái soái vàng óng dưới nắng.

Thơ đến với tôi:

Mình Anh ăn miếng soài này
Năm năm soài chín nhớ ngày Em đi.
Phải cùng chăng, tiếc làm chi.
Năm năm soài chín, chợ thì vắng Em.
Tưởng Em xa nước Em thèm

Còn Anh soài đỏ, soài đen, quản gì.
Chúng ta vùi một cơn mê
Có bao giờ tỉnh? Còn gì là ta?
Hướng Dương Em có như hoa
Hồn Anh nắng đã chiều tà, Em ơi.

Mỗi nhà một lá cờ vàng. Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa có bao nhiêu lá cờ? Tôi không biết, tôi chắc không ai biết. Chỉ biết sau Ngày 30 Tháng Tư tất cả những lá cờ ấy – Quốc Kỳ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – biến mất. Những đêm dài thao thức, tôi không là thi sĩ, Thơ đến với tôi:

Mất nhau trong cuộc biển dâu
Hồn Anh hoa muộn, lá sầu hoang sơ.
Tim Anh quằn quại bóng cờ
Tai Anh mán hú, mọi hờ quanh năm.
Trời bỏ ta, khóc đi Em.
Hoa tàn,  hương lạnh trên thềm tang thương.
Ô Giang vó ngựa ngập ngừng.
Cùng đường Hạng Vũ, đoan trường Ngu Cơ

*

Mưa Sài Gòn

Trời lại mưa, Anh lại nhớ thương.
Thương, thương gần, Nhớ, nhớ tha phương.
Thương gần, mái tóc thơm hương cũ
Nửa đoạn trường xanh, nửa trắng thương.
Nhớ xa, đôi mắt nâu không ngủ
Đêm lại đêm dài, lạnh viễn phương.
Em gần hãy mộng trang hồng sử
Chờ sớm mai trời rạng ánh dương.
Em xa hãy trọn sầu ly xứ
Còn nhớ thương, Em cứ nhớ thương.

Ngày mưa, tháng gió nên tâm sư
Người nhớ, người thương để vấn vương.
Năm năm cứ đến Mùa Ngâu rũ
Trời lại mưa, Anh lại nhó thương.

*

Anh bước ra
Không thấy phố
Không thấy nhà
Không thầy mưa sa
Trên mầu cờ  đỏ.
Chỉ thấy hồn tan
Dù không thấy gió.
Thầy mẹ già trong cửa héo hon
Anh thấy Em môi nhạt mầu son
Gốc cây Đói, Đời buồn đứng đợi.
Thấy chúng ta giữa lòng ngục tối
Còn vu vơ kêu gọi Thiên Đường.
Thấy cuộc đời những Khóc cùng Thương
Thấy con ta đầu đường, xó chợ.
Anh bước ra.. Không thấy cười, không thấy thở
Chỉ thấy người người nghẹn ngào, nức nở
Vợ thương chồng, con nhớ mong cha.

Muối nào bào dạ xót sa
Dao nào cắt trái tim ta đêm ngày!
Khóc trong giấc ngủ nào hay
Tỉnh ra mới biết gối này ẩm sương.
Anh nghe ở cuối đêm trường
Tiếng Em khóc ở mười phương vọng về.
Còn Em, trong mộng, trong mê
Có nghe má lạnh tái tê giọt sầu
Có nghe trên tóc phai mầu
Lệ Anh ướt nửa mái đầu không Em?

Theo đúng thông lệ: bọn Cộng vào thành phố nào, lập tức thành phố ấy có Chợ Trời – một tên khác là Chợ Vỉa Hè – dân thành phố bị Cộng chiếm đem đồ dùng trong nhà: bàn ủi, quạt máy, nồi cơm điện, bát đĩa, quần áo v..v… ra bầy bán ở vỉa hè. Trong Tháng Năm 1975 Sài Gòn thành một Chợ Trời lớn nhất thế kỷ. Ngàn xưa Sài Gòn không có, ngàn sau Sài Gòn cũng không có một Chợ Trời lớn như Chợ Trời Sài Gòn 1975.

CTHĐ bèn có Thơ:

Trời chiều đi dạo Chợ Trời
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui.
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra:
Lạc loài áo gấm, quần hoa..
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa.
Bán đồ toàn những người ta
Mua đồ thì rặt những ma cùng mường.
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường?
Đầu Âm Phủ, cuối Thiên Đường là đây.

o O o

pacman

Tháng Năm 2015 Hoa Kỳ có trận đánh Box lớn. Nhờ có TiVi người ta ở khắp thế giới được xem trận đấu ngay lúc trận đấu đang diễn ra ở Mỹ. Lần thứ nhất một võ sĩ người Á Châu – người Phi-luật-tân – so găng ngang ngửa với võ sĩ Mỹ. Chuyện người ta đánh nhau cho người khác xem, người ta đánh nhau vì Tiền, làm tôi nhớ bài viết của ông Phan Khôi về chuyện Đá Gà và Đá Người.

Đá Gà với Đấu Võ

PHAN KHÔI viết Ngày 7 Tháng 8, năm 1928 tại Sài Gòn. Bài đăng trên Đông Pháp Thời Báo. Tác giả ký bút hiệu dưới những bài phiếm này là Tân Việt.

rooster* Đã lâu nay ở Sài Gòn đây chính phủ ra lịnh cấm đá gà. Cấm là phải. Vì trong cuộc đá gà, hay sinh sự rầy rà, huống chi cho hai con gà nó đá nhau, rập đầu, chẩy máu rồi người ta vỗ tay mừng rỡ và nhờ đó mà được tiền thì thật là xấu quá, cho nên cấm là phải.

Song le mấy người ưa đá gà mà bị cấm đi thì họ buồn lắm.

Tôi nói với mấy người đó rằng nếu buồn thì sao bữa mới rồi không đi coi đấu võ? Dẫu đấu võ là người ta đá người ta, song cũng chẳng khác đá gà là mấy. Coi đấu võ cũng như coi đá gà.

Bắt đầu hai võ sĩ ra trận hươu tay trước mặt vừa xây vòng vừa giữ miếng nhau, ngó hệt như hai con gà vô hồ nạp và soi nhau. Đánh nhau một chập, người giám thị gõ chuông cái “keng” ra dấu mãn một hiệp, ấy là như đá gà mà mãn hồ.

Đá gà mãn một hồ thì đem gà ra bồng nước: bên “đá người” cũng vậy. Mỗi một võ sĩ có hai “tay nước” chờ sẵn, võ sĩ ra thì ngồi sải tay chơn trên ghế, rồi họ vuốt ngực và bóp tay bóp chân cho. Nực cười họ lấy khăn ướt vắt nước vào miệng võ sĩ như người ta vắt nước vào họng gà vậy.

Bồng nước xong rồi thì thả vô lại. Nếu võ sĩ này đánh võ sĩ kia được một cái mạnh, thì bao nhiêu người ngồi coi vỗ tay cười reo lên, tỏ ra ý khoái lạc vô cùng. Nếu cái đánh mạnh đến nỗi võ sĩ trúng đòn bị sặc máu, hay hộc cơm thì người ta càng vỗ tay reo cười hơn nữa, tỏ vẻ khoái lạc cao độ, như là mừng cho một người đồng loại với mình bị hộc cơm hay sặc máu.

Bên đá gà có ăn thua về tiền bạc thì bên “đá người” cũng vậy. Song luôn luôn là những người tổ chức được ăn còn những người coi là thua.

Những người tổ chức nhờ sự sặc máu, hộc cơm của đồng bào mình mà được tiền, những người đi coi chịu bỏ tiền ra để thấy đồng loại mình bị đánh sặc máu, hộc cơm mà lấy làm khoái, cái tâm lý của loài người lạ thay. Vậy thì cho đá gà còn hơn.

Có người bảo:

“Nói làm vậy là nhà quê quá. Đồ gà nó ngu, nó chỉ biết đá nhau chí tử mà thôi; còn người ta khôn hơn: hai võ sĩ đánh nhau hộc máu, sặc cơm xong rồi thường ôm nhau, bắt tay nhau để tỏ tình thân ái, “ Nhân vi vạn vật chi linh” là ở đó.”

Ừ phải. Hèn chi chính phủ cấm đá gà mà không cấm “đá người.” Hèn chi chính phủ cho mở những trận đấu võ luôn luôn.

Tân Việt

Sao Y Bản Chính

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 171 other followers