• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TÀ ÁO VĂN QUÂN

Nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng: Tà Áo Văn Quân.

Nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng: Tà Áo Văn Quân.

Trong những Chuyện Tình của người Tầu tôi cảm khái vì Chuyện Tình của chàng Tư Mã Tương Như và nàng Trác Văn Quân. Chuyện Tình này nhiều người Việt biết, nên tôi kể vắn tắt:

Tư Mã Tương Như sinh trưởng ở Ba Thục, người có văn tài. Thưở trẻ vì ái mộ nhân vật Lạn Tương Như thời Chiến Quốc, chàng lấy tên là Tương Như. Về sau chàng làm chu7a1c Tư Mã nên được gọi là Tư Mã Tương Như. Chàng vào kinh đô Lạc Dương để tìm công danh. Khi qua cây cầu biên giới, Tư Mã thề:

“Không có công danh ta sẽ không trở lại cầu này.”

Không biết chuyện Tư Mã thề trên cầu biên giới đất Thục là chuyện có thật hay là chuyện do người đời sau bịa ra; chỉ biết cây cầu ấy có thật. Và nhờ lời thề của Tư Mã Tương Như, cây cầu ấy được người đời gọi lả “Cầu Tư Mã.”

Cầu Tư Mã trong Thơ Nguyễn Bính:

“Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may.”

Tư Mã Tương Như Thơ Hay mà Đàn Ngọt. Chàng còn nổi tiếng về tài chơi đàn. Trên đường tìm công danh chàng đến thị trấn Lâm Cùng. Chàng biết Lâm Cùng có ông nhà giầu họ Trác. Trác Ông có nàng con gái tên là Trác Văn Quân. Nàng Văn Quân đẹp nhưng vừa lấy chông được hai, ba năm thì chồng nàng chết. Sương Phụ Văn Quân trở về sống ở nhà ông bố. Tư Mã tìm cách chiếm trái tim Văn Quân. Nhờ ông bạn chàng ở Lâm Cùng giới thiệu, chàng được Trác Ông mời đến nhà dự tiệc. Trong tiệc Tư Mã biểu diễn đàn. Văn Quân – đã nghe tiếng Tư Mã đàn rất hay – nấp sau màn nghe đàn. Tư Mã đàn khúc Phượng cầu Hoàng. Nghe đàn, Văn Quân biết Tư Mã ngỏ ý yêu nàng, chàng muốn có nàng làm vợ. Đêm ấy, Văn Quân bỏ nhà, lẻn đến nơi Tư Mã ngụ, nàng đáp ứng lời tỏ tình qua tiếng đàn của chàng, tự nguyện làm vợ chàng. Tư Mã đưa Văn Quân về quê chàng. Nhà chàng quá nghèo. Câu thành ngữ “Tứ đồ bích lập: Bốn vách tường không” được dùng rất đúng cho nhà của Tư Mã.

Trác Ông giận con gái bỏ nhà theo trai nên ông không cho vợ chồng Tư Mã Văn Quân một su teng. Ông “cấm vận” họ. Tư Mã đưa Văn Quân trở lại Lâm Cùng. Chàng mở tiệm thịt chó ở chợ. Văn Quân ngồi két thu tiền. Nhiều ông bà họ Trác đến than phiền với Trác Ông:

“Vợ chồng nó làm chúng tôi xấu hổ. Ông cho chúng nó ít tiền để chúng nó mang nhau đi chỗ khác.”

Chuyện dân gian kể như thế, nhưng đó là chuyên người đời sau bịa ra. Chuyện thật là Trác Ông có cho vợ chồng Tư Mã  tiền, vàng và người làm. Việc ấy được ghi trong Sử Tầu:

Sử Trung Hoa. Tác giả Nguyễn Hiến Lê. Bản in năm 1983.

Bọn quí tộc, quan liêu – ( đời Hán ) – được nâng đỡ trong việc khẩn hoang, miễn phụ đảm. Do đó có nhiều địa chủ giầu lớn, có tới 800 nông nô. Có hồ câu cá, có rừng săn thú. Thời Hán Võ Đế, khi Tư Mã Tương Như sống vợ chồng với nàng Trác Văn Quân, được ông bố vợ cho một trăm nông nô và một triệu đồng tiền, khoảng 72 kí-lô Vàng.

Tôi, người viết những dòng chữ này, thấy chuyện Tư Mã Trác Văn Quân Cầy Tơ Sáo Măng Rựa Mận hay hơn, vừa tình tứ, lãng mạn  vừa thực tế. Tôi biết chuyện Tư Mã đờn kìm, Văn Quân theo trai từ năm tôi hai mươi tuổi. Chuyện làm tôi thắc mắc: Tư Mã chơi đàn, làm sao Văn Quân nghe đàn mà biết chàng yêu nàng? Sáu mươi năm sau, sống ở Kỳ Hoa, mò trên Internet, tôi tìm được lời giáp đáp: Tư Mã đờn khúc nhạc có lời. Đây là lời bản Phượng Cầu Hoàng:

Chim phượng, chim phượng về cố hương,
Ngao du bốn bể tìm chim hoàng
Thời chưa gặp chừ, luống lỡ làng.
Hôm nay bước đến chốn thênh thang.
Có cô gái đẹp ở đài trang,
Nhà gần người xa não tâm tràng.
Ước gì giao kết đôi uyên ương,
Bay liệng cùng nhau thỏa mọi đường.

Nguyên văn:

Phượng hề, phượng hề quy cố hương,
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng,
Thời vị ngộ hề vô sở tương,
Hà ngộ kim tịch đăng tư đường.
Hữu diệm thục nữ tại khuê phường,
Thất nhĩ nhân hà sầu ngã trường.
Hà duyên giao cảnh vi uyên ương
Tương hiệt cương hề cộng cao tường.

Sài Gòn khoảng năm 1960 Nhạc sĩ Châu Kỳ làm bản nhạc Phượng Cầu Hoàng. Đây là lời Nhạc:

Trác Văn Quân. Tranh do Thợ Vẽ Tầu đời nay tưởng tượng vẽ ra: Nàng Sương phụ đa tình nép sau màn nghe Chàng Tư Mã hào hoa đàn khúc Phượng cầu Hoàng.

Trác Văn Quân. Tranh do Thợ Vẽ Tầu đời nay tưởng tượng vẽ ra: Nàng Sương phụ đa tình nép sau màn nghe Chàng Tư Mã hào hoa đàn khúc Phượng cầu Hoàng.

Ôi gót son bao giờ em tôi 
Có theo chim Hoàng đưa lối
Cây mùa Xuân nối vòng tay
Ôi gió nào hôn khẽ làn tóc
Tóc nào anh quấn vai này?
Trăng nào tô chuốt đôi mày?

Em gót chân yêu kiều in dấu
Cánh chim phiêu bồng về đâu
Sông nào in bóng hình nhau?
Ôi núi còn dung nhan mười sáu?
Mây đoàn viên lướt ngang đầu
Đưa hồn lên những tinh cầu

Ngàn đời còn thương ai thương nhớ phút sánh vai
Lời thề cùng tương lai ghi gió nước ra khơi
Hỡi em hoa trang đài
Sao sáng đôi vai gầy
Lời nguyền anh chép vào mây

Em giấc xuân đêm nào lưu luyến
Có nghe cung đàn kỳ duyên
Đưa tình sang bến thuyền quyên
Ôi phút kề môi trong tiền kiếp
Tay cầm tay đón Nghê Thường
Cho trần gian hoá Thiên Đường

Alice và tôi rất mê bản Nhạc Phượng Cầu Hoàng Châu Kỳ. Nhạc hay, lời Nhạc là Thơ Hay Tuyệt Cú.

Tôi hỏi Thái Thủy:

“Lời bản Phượng Cầu Hoàng Nhạc Châu Kỳ là Thơ ai thế?”

Thái Thủy:

“Thơ Đinh Hùng. Năm ấy Đài Phát Thanh dự định làm một vở Kịch Thơ. Dự định này nửa chừng bị bãi bỏ. Châu Kỳ thấy bài Thơ của Đinh Hùng làm cho vở Kịch, cảm khái mà làm Nhạc.”

Tôi viết rõ: “..gót son bao giờ em tôi..” Không phải “gót son bao giờ em tới…” Gót son bao giờ em theo chim hoàng đến với anh? Hoàng đến với anh..”

 o O o

Không nhớ năm nào, chỉ nhớ là trong khoảng 10 năm từ 1955 đến năm 1965, tôi được nghe bản Nhạc “Tà Áo Văn Quân.” Đây là Lời Nhạc:

Có những chiều hoa, nồng nhạt say liên hoan
Bên những người hoa, ngạt ngào hương tóc phấn
Một chàng phiêu lãng, ôm đàn tới giữa đời
Đàn hôn làn tóc, người đẹp tươi nét môi
Mộng vương tà áo
Nhạc giao tình chơi vơi!

Ta gửi về người ơi! Mấy cung đàn Tư Mã xưa
Yêu đôi mắt huyền
Xinh như dáng thuyền
Ai nhẹ lay màn the thấp thoáng?
Nàng nhẹ đôi gót hài
Dừng bên mái ngoài
Văng vẳng tiếng ai cười
Như mộng đời xa xôi

Tư Mã chàng ơi, dừng đàn bên Văn Quân
Nâng phím hào hoa, kề làn môi giai nhân
Dựng nhà bên suối, cung đàn ấp má đào
Mộng chưa tàn khúc, Phượng Cầu lưu luyến nhau
Phượng ôi! Đàn vắng
Tìm chim Hoàng nơi nào?

Nhạc và Lời Tà Áo Văn Quân là của ông Phạm Duy Nhượng. Ông này là anh của Nhạc sĩ Phạm Duy. Phạm Duy Nhương sống đời bình dị, không nổi tiếng lắm mà cũng không tai tiếng.

Phạm Duy Nhượng (1919-1967) là người anh thứ hai của nhạc sĩ Phạm Duy. Ông là em ông Phạm Duy Khiêm. Là một nhà giáo, một nghệ sĩ tài tử, Phạm Duy Nhượng để lại cho nền Tân nhạc Việt Nam một số ít nhạc phẩm, nhưng bài nào cũng có giá trị.

Phạm Duy kể về Phạm Duy Nhượng.

Từ lúc sinh ra cho tới khi trưởng thành, tôi và người anh thứ hơn tôi hai tuổi — Phạm Duy Nhượng — có khoảng 16 năm sống gần nhau, Tôi rất thân với anh Nhượng. Trong một gia đình thiếu người cha, vắng người anh cả nhưng tuổi niên thiếu của chúng tôi rất lành mạnh, chúng tôi không bị lôi cuốn vào những thú vui không tốt như đánh bạc, hút thuốc. Tôi và anh Nhượng có chung một cái thú là đọc sách, giữ sách, và ca hát, đánh đàn. (.. .. .. )

Anh Nhượng chăm học và ít ham chơi. Có lẽ vì anh bị bệnh thương hàn lúc còn bé rồi mang tật méo miệng nên anh sống ít giao thiệp. Tài hoa của anh phát tiết ra ngoài khi tôi kéo anh vào lĩnh vực nghệ thuật mà tôi đang cổ võ: phổ biến: một nền âm nhạc mới toanh, so với nền nhạc cổ đang suy tàn.(.. .. .. )

Thế rồi, cuộc đời làm cho anh em tôi phải xa nhau, tôi bỏ nhà đi theo một gánh hát lưu diễn từ Bắc vào Nam, anh Nhượng lấy vợ là chị Hoàng Thị Sâm, học trò của anh và là cô con gái nhà lành đẹp nhất Hưng Yên. Chị Sâm đẻ cho anh Nhượng hai đứa con trai, rồi chị dâu tôi bị bệnh qua đời. Mẹ tôi cho tôi biết  sau ngày vợ chết, trong mấy năm liền, anh Nhượng thường giở những chiếc áo dài của vợ ra nhìn ngắm và khóc. (.. .. .. )

Không biết anh tôi khởi sự hút thuốc lá vào lúc nào, nhưng khi thường xuyên sống gần anh trong những ngày ở Phú Nhuận, tôi thấy anh ”đốt” trong một ngày tới ba, bốn bao thuốc lá… Thầy anh hút quá nhiều thuốc lá, tôi sợ cho anh quá. Quả nhiên, vào năm 1967 anh Nhượng chết vì bệnh ung thư phổi.

Đây là lời bản Nhạc Vui của nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng

Ba Bà Mẹ Chồng

Ba bà đi bán lợn xề
Ấy thế mới gặp ngày hôm nay là ngày thứ sáu
Ba bà lóc cóc trở về lon ton…
Ði bán lợn con
Chứ ba bà bây giờ thời đi bán lợn con
Hôm này là cái hôm cấm thịt
Bà ới cũng lon ton, ấy lon ton trẩy, trẩy về…
Ði đường xa có bạn bè
Ấy thế mới chuyện trò loanh quanh
Ba bà kể tội con dâu
Nàng dâu nhà tôi
Ới a cầm tinh con Hợi
Vừa ngu  vừa dại
Vừa béo vừa đen
Mắt trắng môi thâm
Lưng bằng cái tủ
Người hôi như cú
Ðầu tóc bù xù như cái ổ chuột trù…

Làm chậm như rùa
Ăn như ăn cướp
Nói sau quên trước
Ruột để ngoài da
Suốt ngày tơ tưởng đến cái cô hàng quà
Ới dâu ơi là dâu
Ới râu ơi là rầu….

— Con dâu tôi nó giống con dâu bà,
Ðêm nằm nó ngáy như gọi đò sang sông
Hễ bảo quét nhà thời bẩy ngày nó quét chửa xong
Hễ ăn là nó ăn tém tẹm hết nồi trong nồi ngoài…

— Con dâu của tôi thì khác hẳn con dâu của các bà.
Nàng dâu nhà tôi
Ới a cầm tinh con Ngọ
Vừa ngoan vừa ngộ
Vừa khéo  vừa khôn
Mặc juýp eo thon
May quần xít hẹp
Lái mô-bi-lét
Chạy khắp Sè gòn
Chạy phom phom như cái kiểu ngựa lồng
Nhiều cậu si tình cay như cay ớt
Kéo nhau xúm xít chầu chực bon chen
Suốt ngày ngơ ngẩn đứng bên cột đèn
Ới dâu ơi là dâu
Ới rầu ơi là rầu….

Khoảng năm 1965 tôi làm trong tòa soạn Nhật báo Tiền Tuyến cùng với Phan Lạc Phúc. Một hôm tôi nói đến chuyện tôi không biết  tác giả bài Tà Áo Văn Quân có vào Sài Gòn năm 1954 hay không, Phan Lạc Phúc nói:

“Phạm Duy Nhượng ở Sài Gòn. Muốn nói chuyện với Lúy không?”

PL Phúc gọi điện thoại ngay cho Phạm Duy Nhượng, tôi được nói chuyện với nhạc sĩ tác giả Tà Áo Văn Quân:

“Tôi mê Tà Áo Văn Quân nhưng chẳng bao giờ tôi được gặp anh.”

Tác giả Tà Áo Văn Quân qua đời ở Sào Gòn năm 1966. Như vậy là tôi được nói chuyện với anh khoảng một năm trước khi anh vĩnh biệt cõi đời này.

Ông Phạm Duy Tốn – thân phụ của ba anh em Phạm Duy Khiêm, Phạm Dung Nhượng, Phạm Duy Cẩn – là một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên của Việt Nam. Ông PD Tốn là tác giả bộ sưu tập chuyện Tiếu Lâm Việt Nam. Tôi trích vài truyện trong tập BẨM QUAN LỚN, NGÀI MINH LẮM !

Anh lính ngớ ngẩn

Xưa có một ông Quan đi làm ở huyện sở; có cái lông voi vẫn để xỉa răng, bỏ quên ở nhà. Mới gọi một thằng lính, bảo nó rằng :

– Mày về bẩm với bà đưa cho tao cái lông voi.

Anh lính ngớ ngẩn, đi đường quên mất, không nhớ là lông gì, chỉ nhớ “lông” mà thôi. Về đến nhà, bẩm bà xin bà một cái lông cho Quan. Bà ngẩn ra, không hiểu làm sao ông lại cho nó về lấy một cái lông ! Hay là ông nhớ, mà muốn có một cái của mình để cho đỡ nhớ chăng ? Thôi, dễ thường phải thế đấy ! Vội vàng vào trong buồng, luồn tay nhổ một cái, gói vào mảnh giấy, đưa cho thằng lính mà dặn nó rằng :

– Mầy phải giữ cho cẩn thận, đừng có giở ra xem mà bay mất thì mày chết.

Thằng lính vâng, rồi đi.

Nhưng mà ban nãy nó quên, chỉ nhớ ông dặn về lấy cái lông, cho nên bây giờ nó tò mò, muốn biết rõ là lông gì. Đi đến bờ sông, nó mới giở ra xem. Chẳng may gió thổi sợi lông bay mất. Nó sợ quá.

Song nó đã biết đó là lông gì rồi, cho nên vội vàng chạy về nhà, nói chuyện đầu đuôi với mẹ, và xin mẹ một cái lông khác để thế vào, không có thì Quan đánh chết. Mẹ thương con, bèn nhổ cho con một cái, gói vào giấy cẩn thận, rồi đưa cho con mang đi.

Thằng lính đem về trình Quan.

Quan giở ra, trông thấy; giận lắm, quát lên rằng :

– Lông gì thế này ?

– Dạ,… bẩm… lông… lông…

– Lông ! lông ! lông l.. … mẹ mày đây à!

Thằng lính về nói với mẹ nó:

– Quan huyện ta tinh ý lắm. Quan nhìn thấy là biết ngay lông của mẹ.

Anh chàng lẩn thẩn

Ngày xưa có một anh tính khí lẩn thẩn: hễ vợ đi đâu, cũng đi theo đấy; vợ ngồi đâu cũng ngồi ngay bên cạnh, để giữ gìn cái của vợ, kẻo sợ nó đánh rơi mất.

Người vợ bảo làm sao cũng chẳng nghe, cứ quấn quít, không chịu rời nó ra một bước nào.

Vợ tức mình quá, một hôm, mới nhặt một cái mảnh sành, giắt sẵn vào lưng, rồi ra đi chợ. Anh chồng lẽo đẽo theo sau.

Ði đến một cái ao, nó quay lại bảo cu cậu về đi, không về thì nó vất cái ấy xuống ao cho rồi. Cu cậu không về. Nó mới cầm miếng mảnh sành, ném đánh “bõm” một cái xuống ao, mà nói giỗi rằng:

– Bảo mãi cũng chẳng nghe thì để làm gì mà không vất đi cho rảnh

 Nói rồi, ngoay ngoảy đi.

Anh nọ tưởng vợ ném cái ấy xuống ao thật, vội vàng chạy về nhà lấy cái gầu đến tát nước. Tát cạn ao rồi, xắn quần, lội xuống ao mị tìm. Tôm cá nhảy chung quanh bên mình vô số, cũng chẳng bắt, cứ hì hục mò tìm cái kia; mãi cũng không thấy.

Có một chị đi đến đấy, thấy thế hỏi rằng:

– Bác tìm gì vậy? Sao cá nhiều thế kia, mà không bắt?

– Tôi tìm cái này. Chẳng thiết gì cá!

– Thế thì bác cho tôi xuống bắt ít cá vậy, chẳng có hoài của.

– Ừ, cá đấy, tha hồ xuống mà bắt. Nhưng mà hễ có tìm thấy cái gì, thì phải trả tôi.

Chị nọ cũng chẳng biết là cái gì; chỉ muốn bắt mấy con cá, cho nên cứ ừ liều. Rồi vén váy, lội xuống ao, bắt cá. Ai ngờ chị ta cúi chổng mông, để hở cái gì ra! Anh kia trông thấy, vội vàng chạy lại, nắm lấy cái ấy, mà kêu lên rằng:

– A! a! a! đây rồi! Của tôi đây rồi! Gớm! Mầy để tao tìm mãi từ sớm đến giờ!

Nói rồi, lại trách chị kia rằng:

– Sao chị tệ thế? Chị bắt được, mà chị lại không trả cho tôi?

Chị nọ kêu giãy nãy:

– Buông ra! Ô hay chửa kìa!

Anh ta không buông, cữ giữ chặt lấy.

Chị cãi của chị, anh cãi của anh; đương lôi thôi thì người vợ vừa về đến đấy, thấy thế, vội vàng tốc váy lên, bảo chồng rằng:

– Của nhà ta đây kia mà! Ơ nhầm! Buông bác ấy ra chứ!

Anh nọ trông lên, thấy rõ của mình đâu vẫn ở đấy, mới buông chị kia ra, mà nhăn nhở nói rằng:

– Ô hay! Của bác ấy cũng như cái của ta nhỉ?

THÉC MÉC THÁNG TƯ

ga

Tháng Ba 2015. 9 giờ sáng, tôi ngồi vào bàn computer với nỗi sầu muộn, tim tôi trĩu nặng. Việc tôi thích làm nhất đời tôi là việc Viết. Tôi từng viết:

“Tôi Sống để Viết, tôi Viết để Sống.”

“Với tôi Viết là Hạnh Phúc.”

Nhưng…

Đến những năm tháng này – 2015 – nhiều lúc tôi thấy tôi không muốn Viết nữa. Không phải nay tôi chán Viết mà là nay tôi không còn hào hứng để Viết. Phải chăng tôi không còn hứng Viết là vì nay tuổi đời tôi đã Tám Bó? Không chỉ Tám Bó mà còn là Tám Bó Lẻ Mấy Que. Phải chăng vì Cuộc Biệt Ly Vĩnh Viễn ngàn đời không gặp lại nhau của vợ chồng tôi có thể xẩy đến bất cứ lúc nào làm tinh thần tôi rệu rã? Hay vì tôi đã Viết quá nhiều. Bánh xe tị nạn đưa vợ chồng tôi sang Kỳ Hoa năm 1995, từ đó đến nay thấm thoắt đã 20 năm, tôi đã viết dzễ đến 1.000 bài Viết ở Rừng Phong? Phải chăng vì trong Tuổi Già tôi thấy tôi cô đơn? Phải chăng vì những sự kiện xẩy ra tôi thấy mỗi ngày trên TiVi Mỹ, trên Internet: người cắt cổ người, những phi cơ chở 450 khách chìm dưới biển, 200 nữ sinh Nigeria bị bọn phiến loạn bắt đi mất tích.. làm tinh thần tôi rung động?

Người đàn bà đã sống với tôi 60 năm trong cuộc đời này, đã cùng tôi qua Cầu Đoạn Trường, đã cùng tôi trôi nổi trong cuộc ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh, nói:

“Anh kỳ quá. Già rồi ai mà không thế. Em thấy các ông bạn anh bằng tuổi anh có ông nào than thở như anh đâu.”

Khi tôi than tôi buồn với Văn Quang, từ Bàn Cờ, Sài Gòn, anh “meo” cho tôi:

“Mày là thằng có nhiều may mắn hơn anh em. Sầu buồn ký gì!”

Thư Văn Quang gửi cho tôi:

Hoàng Hải Thủy,

Hôm nay là NGÀY TÌNH NHÂN; ở Sài Gòn người ta không “nhộn nhạo” nhưng cũng có nhiều cặp tưng bừng chào đón Tình Yêu.

Tao chỉ chúc Tình Yêu cho một mính mày thôi vì tao vẫn nhận mày là NGƯỜI VN YÊU VỢ NHẤT THẾ GIỚI. Ngay từ khi còn trẻ mày đã từng công khai đăng trên các báo Tình Yêu Alice, Alice giận mày bỏ đi, mày la làng kiểu “Em không vế thì anh chết.” Thứ hai là đến bây giờ tuổi mày hơn Tám Bó, mày chỉ lo một điều duy nhất là bà Alice ra đi.

Trong rất nhiều bài viết trên trang web của mày, độc giả đọc được những “dòng huyết lệ” ấy. Thật ra mày đã viết rất nhiều về Tình Yêu giùm cho những ông già, bà lão yêu nhau đang sống những ngày cuối đời bên nhau.  Nhưng người suốt ngày đêm tự nguyện sống quanh quẩn bên vợ, sợ phải xa vợ như mày thì nay hơi khó kiếm đấy.

THẾ NÊN HÔM NAY TAO CHÚC TÌNH YÊU CỦA MÀY CÓ HƠN MỘT TRĂM NGÀY TÌNH NHÂN.

Tao nói những điều này bằng tất cả tấm lòng của vợ chồng tao. Nịnh mày thì ăn cái giải gì.

Anh Hai Bàn Cờ của mày ở Sài Gòn. Ngày 14 tháng 12 năm 2014.

o O o

CTHĐ: Tôi không nên kể lể sầu buồn làm những người đọc bài tôi viết buồn lây. Không chỉ không nên, tôi không có quyền làm cho những người đọc bài tôi phải buồn. Sáng nay tôi gượng vui để Viết.

Mời bạn đọc bài Thơ của Vũ Hoàng Chương:

Đinh đóng vào săng

Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người 
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.

Bà thân mẫu của Thi Bá qua đời ở Sài Gòn khoảng năm 1960. Theo tôi: không có việc “đóng đinh áo quan.” Quan tài có những khoen, những mộng, đậy ván thiên lên là những khoen, những mộng lắp vào nhau.

Bài Thơ “Đinh đóng vào săng” đã có đời sống 60 năm. Tôi không thấy ai théc méc chuyện “đinh đóng vào săng.”

o O o

light1Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để lại cho đời câu nói:

“Đừng nghe những gì bọn Cộng sản nói, hãy xem những gì bọn Cộng sản làm.”

Ông nói câu trên khoảng năm 1970. Nay, năm 2015, câu nói của ông vẫn còn giá trị.

Ngoài câu nói “để đời” trên đây, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu còn để lại cho đời những chiếc hộp quẹt Zippo. Tôi là người thích chơi hộp quẹt máy – bật lửa – nhưng năm xưa tôi không biết chuyện Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tặng bật lửa Zippo cho người đời, tôi cũng chưa bao giờ nhìn thấy cái Zippo tặng phẩm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Năm 2005, khi sống ở Mỹ, nhờ Internet, tôi mới nhìn thấy cái Zippo có chữ ký của TT Nguyễn Văn Thiệu. Đến lúc đó tôi mới biết những năm 1970 ở Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa,  TT Nguyễn Văn Thiệu có tặng những chiếc Zippo có chữ ký của ông cho nhiều người.

Cũng trên Internet tôi đọc được chuyện những năm trước năm 1920, trước khi các cuộc Thi chữ Hán bị bãi bỏ, tôi không nhớ đúng năm nào, tôi cũng không nhớ tên quan Toàn Quyền Pháp, người đã tặng cho các vị Tiến sĩ, Cử nhân tân tuyển trong khoa thi mỗi vị một chiếc đồng hồ — không phải đồng hồ đeo tay mà là đồng hồ bỏ túi, người Bắc gọi là đồng hồ quả quít – đồng hồ do quan Toàn Quyền tặng có khắc tên người được tặng. Đoạn chuyện xưa ngắn không viết rõ tên các vị tân khoa trên quẹt máy được ghi bằng chữ Hán hay chữ quốc ngữ. Tôi tiếc đã không save đoạn chuyện ấy.

Một bạn đọc viết về Hộp Quẹt Zippo:

Ảnh chiếc Zippo này có thể được ghép theo Photoshop. Nhưng chính mắt tôi thấy chiếc Zippo có ảnh Cờ Vàng trong tiệm kim hoàn Dupont, Trung Tâm Eden, Virginia năm 2000.

Ảnh chiếc Zippo này có thể được ghép theo Photoshop. Nhưng chính mắt tôi thấy chiếc Zippo có ảnh Cờ Vàng trong tiệm kim hoàn Dupont, Trung Tâm Eden, Virginia năm 2000.

Chuyện này có thật: Hộp quẹt Zippo do TT. Nguyễn Văn Thiệu thân tặng.

Ông anh của tôi từng được TT Nguyễn Văn Thiệu đích thân tặng 1 hộp quẹt Zippo có chữ ký của Tổng Thống như cái Zippo trong ảnh đi với bài này, ông anh tôi được tặng một hộp quẹt Zippo và 1 “Chiến Thương Bội Tinh.” Rất tiếc là qua một thời gian dài từ đó với nhiều biến động nên ông anh tôi không giữ được cái Zippo Tổng Thống tặng cùng những kỷ vật thời đó (hoặc không có can đảm giữ…) để hôm nay tôi chụp hình, đưa lên đây cho anh em xem lấy le.

Chiếc Zippo của ông anh tôi được Tổng Thống tặng tại chiến trường Buôn Mê Thuột. Và những cái Zippo “TT Nguyễn Văn Thiệu thân tặng” vào thời bấy giờ không phải thuộc hàng quá hiếm (hiếm nhưng không đến nỗi quá hiếm), lính tráng ngày xưa mỗi khi cafe cafao, nhậu nhẹt thường hay quăng những chiếc Zippo TT Nguyễn Văn Thiệu tặng lên bàn để “khè” nhau. Đơn giản vì những chủ nhân thực sự của những hôp quệt Zippo này phần nhiều thuộc hàng lính “dữ dằn” của QLVNCH — họ là những chiến sĩ có chiến công. Lại vì những chiếc Zippo này được chính tay TT Nguyễn Văn Thiệu tặng thường đi kèm với những “Anh Dũng Bội Tinh”, “Chiến Thương Bội Tinh.”

CTHĐ: Quí vị quân nhân nào hiện sống ở Kỳ Hoa nay còn giữ chiếc Zippo TT. Nguyễn Văn Thiệu thân tặng xin lên tiếng, và xin gửi cho kẻ viết bài này cái ảnh chiếc Zippo do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tặng ông. Cám ơn ông.

Hiện nay ở Sài Gòn có nhiều người chơi Collection Hộp Quẹt Xưa. Internet cho thấy ảnh những tiệm, những sạp ở chợ mua bán những hộp quẹt Zippo bầy cả trăm chiếc Zippo Xưa.

Trong Trung Tâm Eden gần Rừng Phong có tiệm Kim Hoàn Dupont. Tiệm mua bán Vàng, Kim Cương và đồng hồ, hộp quẹt. Tiệm Dupont có tủ kính trong bầy hộp quẹt Zippo. Năm 2000 tôi thấy trong tiệm có chiếc Zippo in hình Cờ Vàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Nhìn chiếc Zippo Cờ Vàng này tôi bồi hồi:

“Quốc Gia VNCH bị tiêu vong đã hai mươi năm.. Nhà sản xuất Zippo vẫn in quốc kỳ VNCH trên hộp quẹt Zippo. Đâu phải chỉ có mình ta thương tiếc Quốc Gia VNCH. Cảm khái cách gì!”

o O o

Sống ở Kỳ Hoa đã 20 năm, tôi đã viết khoảng ba, bốn bài về Ngày Oan Trái:

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ.
Cây Đời đã cỗi gốc Yêu Đương.
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho nắm xương tàn được nở hương.

Năm nay – 2015 – tôi không còn gì mới để viết về Ngày 30 Tháng Tư; tôi tìm trên Internet những chuyện về Ngày 30 Tháng Tư:

Quốc Thư Cuối Cùng của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu gửi Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Kính Ngài Tổng Thống.

Những sự kiện trong vài tuần gần đây đã đưa miền Nam Việt nam vào 1 tình  huống mới và nghiêm trọng.  Hiện nay chúng tôi phải đương đầu với lực  lượng địch quân đông hơn và trang bị tối tân hơn.  Khi quân Cộng Sản đang tập trung cửa ngõ vùng đồng bằng, nhân dân và quân đội chúng tôi đã  chuẩn bị với quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ lãnh thổ và sự Tự Do của dất nước.  Để thực hiện thành công  sự quyết tâm này, chúng tôi  vô cùng cần đến những phương tiện chiến đấu, đó là vũ khí và đạn dược. Vì vậy, tôi rất biết ơn Tổng Thống tích cực vận dộng, thúc giục Quốc Hội biểu quyết chấp thuận việc viện trợ thêm về quân sự cho Việt Nam Cộng  Hoà.  Tuy nhiên vì việc viện trợ quân sự cho VNCH đã là một  vấn đề được mọi người biết đến  và đang nóng lòng mong chờ nếu Quốc Hội biểu quyết từ chối chắc chắn sẽ  là một đòn mãnh liệt giáng xuống tinh thần quân đội chúng tôi khi  chúng tôi đang chuẩn bị cho những trận đánh quyết định sắp tới. Chúng  tôi muốn  điều này sẽ không xẩy ra.

Chúng tôi trân trọng và biết ơn sâu sắc với tất cả những hy sinh xương máu và tài sản của người dân nước Mỹ trong thời gian qua để giúp chúng tôi bảo vệ sự Tự Do của  miền Nam Việt nam. Chúng tôi hoàn toàn hiểu rõ những vấn đề đạo đức và chính trị mà những nhà  lập pháp Hoa Kỳ phải đương đầu khi họ xem xét vấn đề viện trợ cho VNCH.

Nếu vì lý do nào đó họ thấy không thể cung cấp viện trợ quân sự cho  VNCH, tôi có một đề nghị với Tổng Thống và mong Tổng Thống cứu xét cho.

Thưa Tổng Thống, tôi đề nghị Tổng Thống yêu cầu Quốc Hội đồng ý cho chúng tôi vay dài hạn lần cuối cùng số tiền 3 tỷ đô la, được phân chia trong 3 năm và kỳ hạn hoàn trả là 10 năm với mức lãi suất do
Quốc Hội quyết  định.  Tiềm năng về dầu hỏa và nguồn lợi về nông nghiệp của chúng tôi sẽ  thế chấp cho món nợ này.  Số tiền vay này được gọi là “Freedom Loan”.

Số tiền này sẽ cho phép chúng tôi có cơ hội để được tồn tại trong một đất nước Tự Do và Dân Chủ.

Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng nhân đạo của nhân dân Hoa Kỳ trước cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, một người bạn đồng minh trung thành với nhân  dân Hoa Kỳ trong suốt 20 năm sóng gió, một dân tộc đã chịu nhiều hy sinh  vì chiến tranh, đau khổ vì Cộng sản trong hai thập niên chiến đấu để giữ mảnh đất Tự Do này.  Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và  sự giúp đỡ.

Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Tổng Thống thúc giục Quốc Hội xem xét dễ dàng, cấp bách cho lời yêu cầu của tôi là được vay  “Số tiền vì Tự Do“.  Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng của tôi, một người bạn đồng minh, gởi đến Tổng Thống và toàn thể nhân dân Hoa Kỳ.
Trân trọng kính chào.

Nguyễn Văn Thiệu.

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà

o O o

CTHĐ: Không những không viện trợ thêm, Quốc Hội Mỹ còn ngưng cấp ngân khoản 300 Triệu Mỹ Kim cho Quốc Gia VNCH; số tiền này đã có sẵn, chỉ còn chờ gửi. Ác ôn quá thể.

Con trai tôi 15 tuổi năm 1975. Con tôi năm ấy không biết gì nhiều về Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, con tôi không biết gì về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Năm 2005 con tôi sang sống ở Houston, Texas. Mới đây con tôi phone cho tôi:

“Con xem trên You Tube những đoạn phim video ghi những cuộc nói chuyện, trả lời nhà báo phỏng vấn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ở Mỹ. Con thấy ông Thiệu hay quá. Ông nói, ông trả lời đâu ra đấy, hùng hồn, thuyết phục. Theo con, ông Thiệu là Ông Tướng giỏi nhất trong số các vị Tướng của ta.”

Một bạn đọc của tôi, hiện ở Sài Gòn, viết cho tôi:

“Nếu tôi có thể đưa được vợ con tôi ra khỏi nước, tôi sẽ đến sống ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, nhưng tôi nhất định không đến sống ở Mỹ. Tôi thù người Mỹ. Họ đã phản bội dân tộc tôi.”

Đọc lại chuyện xưa chỉ thấy ngậm ngùi.

Xin kể một chuyện không buồn, không vui, gọi là “chuyện vô thưởng, vô phạt.”

Cùng đi với bài này có ảnh “Thuyền Trưởng 10 Tầu.” Anh gà trống trong ảnh đi qua cây cầu, — cây cầu là một thân cây nằm ngang dòng suối — đi theo anh là 10 chị gà mái. Những chị gà mái này tự ý đi theo anh gà trống. Tấm ảnh làm tôi nhớ một buổi chiều khoảng năm 1989 tôi ở cùng một phòng tù với Người Tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Chiều ấy, Thát và tôi cùng ngồi trong phòng tù nhìn qua song sắt ra sân. Thấy một đàn gà – do cai tù nuôi, thả trong trại – đi qua sân, tôi nói với Thát:

“Thầy coi kìa. Một con gà trống đi, cả 10 con gà mái đi theo. Bọn gà mái tự ý đi theo, con gà trống có ép buộc con gà mái nào đi theo nó đâu. Con trống không nuôi bọn mái. Bọn gà mái tự kiếm cái ăn nhưng cứ đi theo con gà trống. Con người cũng thế. Nói là đàn bà phải phục tùng đàn ông vì bọn đàn ông nắm giữ mọi nguồn sinh kế, đàn bà không theo ý đàn ông là chết đói, là nói láo. Nữ phải theo Nam, Âm phải theo Dương là Luật Thiên Nhiên.”

Lê Mạnh Thát không nói gì cả.

Viết lại cho rõ: Thuyền Trưởng Hai Tầu là những ông Thuyền Trưởng chạy hai Tầu cùng một lúc. Những Thuyền Trưởng bỏ tầu này, chạy tầu khác, không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu.

o O o

Những là đắp nhớ, đổi sầu
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.

Đấy là lời cậu Kim Trọng than với cô Thúy Kiều:

“Nhớ em, tôi buồn, nỗi sầu nhớ làm mái tóc tôi nhuốm bạc.”

Khi nghe Kim Trọng nói câu đó, Thúy Kiều phải cười lên thành tiếng, và nói:

“Anh dzóc quá.”

Nếu cô Kiều nói thế, tôi đồng ý với cô. Kim Trọng nói dzóc quá đáng. Cậu nói dzóc không ngượng miệng. Câu là Tổ Sư Dzóc. Cô cậu gặp nhau trong Tháng Ba – “Thanh Minh trong tiết Tháng Ba. Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh..” Gặp nhau cuối mùa xuân, qua mùa hè, đến mùa thu, chỉ ba, bốn tháng, cậu gặp lại cô ở vườn sau nhà – Cậu nhìn tận mặt, cô e cúi đầu — làm ký gì mà cậu than vì nhớ cô tóc cậu hoa râm, tức lốm đốm bạc. Cô không phá lên cười:

“Ối dzời ơi. Anh dzoóc quá.”

Thật lạ!

VŨ TRỌNG PHỤNG và VIỆT CỘNG

nhattan

vutrongphung

Impot Personnel Indigene: Thuế Thân bản xứ.

Thời người Pháp làm chủ nước Việt Nam – tiếng văn huê là “bảo hộ” – người Việt Nam phải đóng tiền thuế thân mỗi năm. Dân làng đóng tiền thuế cho lý trưởng, lý trưởng nộp tiền thuế cho chánh tổng, chánh tổng mang tiền thuế lên nộp ở tỉnh. Người đóng tiền thuế được cấp một thẻ gọi là “thẻ thuế thân.” Người dân Bắc Kỳ phải mang thẻ này theo mình. Người dân vi phạm tội gì, nhẹ như ban đêm đi xe đạp không đèn, đái đường, bị phú lít chặn bắt, phải trình thẻ thuế thân. Không mang thẻ theo là bị bắt nằm bót.

Đấy là chuyện tiền thuế thân ở Bắc Kỳ. Không biết việc tiền thuế thân ở Trung Kỳ, Nam Kỳ những năm trước 1945 ra sao. Tôi cũng không biết người dân Bắc Kỳ đến tuổi nào – 18, 20 tuổi – là phải có thẻ tuế thân, trên toàn quốc có bao nhiêu người phải có thẻ thuế thân. Tôi nhớ – dường như – thời xưa chỉ đàn ông mới có thể thuế thân, đàn bà không phải đóng thuế thân, không có thẻ thuế thân.

Tấm ảnh Thẻ Thuế Thân của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng năm 1938 cho thấy giá tiền thuế thân năm ấy là 2$50 – 2 đồng bạc và 50 xu – Những năm xưa nhiều người dân nghèo Bắc Kỳ không có 2$50 xu đóng tiền thuế thân mỗi năm. Những người này can tội lậu thuế. Tôi không biết những người dân Bắc Kỳ không thẻ thuế thân khi bị bắt, bị xử phạt ra sao.

Năm tôi 10 tuổi – 1940 – tôi được thấy tấm Thẻ Thuế Thân của ông bố tôi. Thẻ giấy cứng, mầu xanh lá cây. Tôi không biết những tấm carte này có giá trị trong bao nhiêu năm.

o O o

Nhà văn Vũ Trọng Phụng chỉ có một cô con gái – cô Vũ Mỹ Hằng – cô Hằng lấy chồng, có con, chết sớm. Chồng cô, người con rể của ông Vũ, là ông Nghiêm Xuân Sơn. Ông Sơn được hưởng những khoản tiền vợ ông được hưởng nhờ những tác phẩm của ông bố vợ.

Bản tin trên Web:

Ông Nghiêm Xuân Sơn, con rể nhà văn Vũ Trọng Phụng cho biết gia đình đã có đơn yêu cầu, Hội Nhà Văn VN năm 2003 cũng có công văn gửi Bộ Văn Hoá và TP Hà Nội xin cho Khu Tưởng Niệm Nhà Văn Vũ Trọng Phụng thành Di tích Nhà nước.

Khá lâu, tôi không gặp ông Nghiêm Xuân Sơn, con rể văn hào tả chân Vũ Trọng Phụng tại Hà Nội. Nghe đâu từ hồi chị Vũ Mỹ Hằng, vợ ông, con của ông Vũ Trọng Phụng, qua đời – Tháng 11 năm 1996 – ông Sơn ở miết trong Sài Gòn, khi có công chuyện mới về Hà Nội. Nhà cửa, đất cát ông giao cho vợ chồng chị Lan, cô con gái của ông  trông nom.

Hồi trước Tết vừa rồi, bỗng thấy quán rượu “Số Ðỏ” đầu ngõ bị đập bỏ, xây lại thành ngôi nhà ba tầng, tôi thấy lạ, bèn hỏi chị Lan, chủ quán rượu, và biết ông Sơn đã về Hà Nội.

– Chuyến này có lẽ bố cháu về ở hẳn  đấy ông ạ. Bố cháu bảo năm nay phải lo lễ sinh nhật thứ 95 cho ông ngoại cháu.

Nghe chị Lan nói, tôi được biết: Nhà văn họ Vũ sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912, mất ngày 13 tháng 10 năm 1939, tháng 10 này tròn 95 năm sinh và 68 năm mất của ông .

Lần đến thắp hưông viếng  nhà văn Vũ Trọng Phụng sau đợt rét Nàng Bân, tôi thật bất ngờ khi gặp ông Sơn cởi trần, quần xà lỏn, đang cùng anh con trai và thằng cháu ngoại hí húi trồng cây, nhổ cỏ ngoài phần mộ. Dáng người nhỏ nhắn, gưông mặt hiện lên vẻ lịch lãm và hiền hậu, lại luôn mang cặp kính trắng, ông Sơn có phong thái một  học giả hơn là một người làm vườn.

– Bác chủ quan quá, mặc áo vào kẻo cảm lạnh — Tôi nói sau khi đáp lễ — Phải đến thất thập mới đạt đến tuổi trời.

– Bẩy mươi hai rồi đấy chú ạ. Tôi ẩn tuổi ông bố vợ tôi, tôi kém ông cụ đúng hai giáp.

Thì ra cả tôi và ông Sơn cùng tuổi Tý. Tôi kém ông Sơn một giáp. Cùng tuổi Tý mà sao người tài trong tấm ảnh cẩn trên đá hoa cương bia mộ kia lại chỉ được hưởng dưông có 27 năm? Tài tình chi lắm cho trời đất ghen?

Thi hào Nguyễn Du từng viết thế. Và đôi câu đối viếng người tài họ Vũ do nhà văn Ðồ Phồn viết trong đám tang ngày lạnh giá năm 1939 ấy được khắc hai bên mộ chí kia, cũng da diết thế:

“Cạm bẫy người tạo hóa khéo căng chi, qua Giông tố tưởng thêm Số đỏ.

Số độc đắc văn chưông vừa trúng thế, bỗng Dứt tình Không một tiếng vang”

– Không mấy người có số phận chìm nổi như ông cụ bố vợ tôi chú ạ — Ông Sơn thổ lộ — Ðến đời ông cụ là ba đời độc đinh. Giống vợ tôi, ông cụ mất bố từ năm một tuổi.

Trong giấy khai sinh của ông cụ mà chúng tôi còn giữ trong nhà thờ kia, tên ông nội vợ tôi là Vũ Văn Lân, bà nội vợ tôi là Phạm Thị Khách. Hồi còn sống, bao nhiêu lần vợ chồng tôi đã về Mỹ Hào, Hưng Yên tìm gốc tích nhưng chỉ tìm thấy và xây được phần mộ ông nội cụ Phụng… Ân hận nhất của tôi cho đến bây giờ là không biết mộ bố cụ Phụng nằm đâu… Riêng mộ bố vợ tôi, phải sau bốn lần di dời, ông cụ tôi mới được về nằm ở mảnh đất bên ngoại này…

– Lần đầu tiên là đám tang từ ngôi nhà số 73 phố Cầu Mới về nghĩa trang Quảng Thiện…

Tôi nói và bỗng nhớ đến bài “Một đêm họp đưa ma Phụng” của Nguyễn Tuân. Mấy nhà văn bạn Vũ đang chơi bên Gia Lâm thì được tin Vũ mất. Tảng sáng, không còn tiền, họ đi bộ qua cầu sông Cái về Cầu Mới, rồi nhập vào đám tang đưa tiễn Vũ về nơi an nghỉ ở nghĩa trang làm phúc Quảng Thiện.

– Năm 1955, nghĩa trang Quảng Thiện giải tỏa để lập Khu công nghiệp Thượng Ðình, phần mộ ông cụ được di về khu đất đầu làng Giáp Nhất, nay là địa điểm Truyền hình cáp. Rồi máy bay B52 Mỹ đánh bom khu ấy. Gia đình lại chuyển mộ về nghĩa địa Quán Dền. Năm 1988, một phần nghĩa địa Quán Dền phải giải toả làm mương và làm đường, gia đình xin với chính quyền địa phương dời mộ ông cụ về khu đất của gia đình…

– Vậy là chính mảnh đất này là hương hỏa của bên vợ nhà văn?

– Vâng. Thổ đất này là của cụ Cửu Tích, một nhà tư sản có cửa hàng thuốc ở phố Hàng Bạc. Bà mẹ vợ tôi, cụ Vũ Mỹ Lương , tên thường gọi là bà Gái, là con người vợ thứ tư của cụ Cửu Tích. Hồi ấy, cụ Phụng cùng với bà mẹ thuê nhà ở phố Hàng Bạc.

Mến tài năng và lòng hiếu đễ của nhà văn, bà Cửu Tích đồng ý gả cô con gái yêu, nổi tiếng xinh đẹp nhất làng Mọc và cả đất Hà thành cho nhà văn danh tiếng. Ðám hỏi và đám cưới của bố mẹ tôi, người trong làng bây giờ còn nhớ. Nếu chú muốn tôi đưa chú đến hầu chuyện cụ Nguyễn Bá Ðạm, nhà ở gần đây…

Ði hết cái ngõ sâu có hàng rào ô rô dẫn lối, bỗng gặp một khuôn viên rộng chừng năm trăm mét vuông có ngôi biệt thự hai tầng nằm giữa vườn cây tĩnh lặng. Cả cụ ông và cụ bà đều ngoại tám mươi, tóc trắng như cước, phong thái như những ẩn sỹ, tiếp chúng tôi hết sức ân cần lịch thiệp.

Tôi nghe danh cụ Nguyễn Bá Ðạm, người sưu tầm tiền cổ, hiện vật cổ, bạn thân của những Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tuân và nhiều danh sĩ đã lâu, nhưng bây giờ tôi mới được gặp cụ. Dáng người cao, đôi mắt sáng, cụ Ðạm còn giữ nguyên vẻ quắc thước, thông tuệ, giống như bức chân dung mà danh họa Bùi Xuân Phái vẽ tặng cụ treo trên tường kia.

Nghe nói, cụ Phái từng vẽ mấy chục bức chân dung về cụ Ðạm. Số tranh ấy giờ có giá bạc tỷ. Lại nghe nói cụ Ðạm còn giữ nhiều thư và bút tích của Nhà văn Nguyễn Tuân.

– Dạ thưa cụ, chắc cụ còn nhớ đám cưới Nhà văn Vũ Trọng Phụng…

– Tôi là người hâm mộ tài văn của cụ Phụng từ hồi còn trẻ – Cụ Ðạm chậm rãi kể lại như lật giở những trang hồi ức – Mê văn ông cụ tới mức, có quyển sách mới của Vũ Trọng Phụng là tôi đến mượn chị Gái đọc ngấu nghiến. Nhà tôi với nhà chị Gái gần nhau.

Tôi kém tuổi chị Gái, kém nhà văn Vũ Trọng Phụng chục tuổi, là bậc đàn em. Hồi ấy tôi mười sáu tuổi. Lần đầu trong đời tôi được thấy một đám cưới to và sang trọng như thế.

Nhà gái, ông bà Cửu Tích giàu có danh giá thì ai cũng biết: Anh cả Vũ Kim Bảng có hiệu thuốc ở Ðường Láng, anh Vũ Bồi Chinh có cửa hiệu bánh ngọt ở Cầu Ðất, Hải Phòng, anh Vũ Cự Chân chủ hiệu thuốc cam Hàng Bạc nổi tiếng. Chú rể là một nhà văn nghèo tiền nhưng danh tiếng  nổi như cồn.

Tôi  nhớ lễ ăn hỏi trước đám cưới nửa tháng. Nhiều nhà trong làng được biếu một bánh chưng, một bánh dày, một gói nem kèm quả cau và lá trầu vấn danh. Ngày 23 tháng 1 năm 1938, lễ cưới của nhà văn Vũ Trọng Phụng và chị Vũ Mỹ Lương diễn ra như trong tiểu thuyết. Suốt từ chợ Cống Mọc đến cổng làng Giáp Nhất, người xem đông nghịt. Mười chiếc ô tô con sơn đen nối đuôi nhau. Từ cổng làng, đoàn rước dâu xuống đi bộ.

Chú rể Vũ Trọng Phụng mặc áo đoạn, đội khăn đóng, đi giày Gia Ðịnh. Ðoàn nhà trai nhiều người mặc complê, thắt cravát, trong đó có nhiều ông nhà văn nổi tiếng. Tiếng pháo nổ giòn mừng đón nhà trai. Lễ rước dâu được cử hành ngay tại ngôi nhà ngang trên phần đất nhà tưởng niệm bây giờ.

Cô dâu, bà chị Gái của tôi, ngày cưới đẹp như hoa hậu. Chị lộng lẫy duyên dáng trong chiếc khăn vành dây màu lam, hoa tai đầm, cổ đeo kiềng vàng, áo dài màu hồng, chân đi giày nhung đen cẩn hạt cườm. Chú rể, cô dâu cùng bước tới trước bàn thờ gia tiên làm lễ. Lại một tràng pháo nổ. Ðúng giờ hoàng đạo, nhà trai xin phép rước dâu về phố Hàng Bạc…

Tôi cố mường tượng ra đoàn rước dâu qua cổng làng Giáp Nhất. Ði sau một cụ già râu tóc bạc phơ, áo sa màu lam , cầm hương nghi ngút, là chú rể nhà văn của chúng ta đi giữa hai chàng phù rể. Rồi cô dâu tiếp sau, đi giữa hai nàng tố nữ phù dâu, tay cầm quạt che mặt. Trên mắt nàng hình như có ngấn lệ. Không biết nàng quá hạnh phúc hay nàng thương cha mẹ vì phận gái xa nhà…

Có ai ngờ ngấn nước mắt ấy, chỉ chưa đầy hai mươi mốt tháng sau, tức ngày 13/10/1939, đã trở thành giọt thương phu trích lệ, khóc cho nỗi đau hai mươi nhăm tuổi đời đã thành sương phụ!

– Trong thú chơi sưu tập suốt mấy chục năm, bây giờ đã 86 tuổi, tôi đắc ý nhất là đã chuộc lại được tấm thẻ nhà báo và cuốn sổ biên đồ mừng cưới của Nhà văn Vũ Trọng Phụng.

Nghe cụ Ðạm nói, tôi giật mình, tưởng như người chơi đồ cổ bỗng tìm thấy một bảo vật thời Lý Trần.

– Dạ, con đang nghe cụ…

– Chuyện này liên quan đến một học giả đã mất mấy năm nay, mà vì lý do tế nhị tôi muốn chú giấu tên, nay ta cứ gọi là ông T. Hồi ấy tôi thường giao du với ông T. và thấy ông T. có hai bảo vật kia của nhà văn Vũ Trọng Phụng.

Với tình cảm rất ngưỡng vọng nhà văn, lại là người biết rõ giá trị của hai bảo vật, tôi tìm mọi cách để ông T. nhượng lại. Cuối cùng tôi phải đổi một bức sơn dầu hề chèo mà danh hoạ Bùi Xuân Phái đã cho tôi để có được cuốn sổ và tấm thẻ nhà báo của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Tôi khoe với chị Hằng và anh Sơn về chuyện này. Tôi bảo sẽ tặng lại hai vợ chồng, nhưng với điều kiện khi nào con gái và con rể cụ Vũ Trọng Phụng xây được nhà tưởng niệm cho bố…

– Dạ, thế còn bức tranh? Tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái giờ ở đâu, thưa cụ?

Cụ Ðạm trầm ngâm vẻ buồn rầu:

– Tiếc rằng người ta đã bán mất… Tôi được biết ông Tuấn ở Sài Gòn đã mua bức tranh chân dung ấy với giá 6.000 đôla. Buồn hơn nữa là sau này, nghe anh Sơn nói, chính chị Hằng và anh Sơn đã cho ông T. mượn tấm thẻ nhà báo và cuốn sổ tay để làm tài liệu nghiên cứu. Rồi ông T. “quên ” không trả.

Tôi không buồn mà chỉ thở dài.

– Chú biết là tôi mừng khi chuộc được hai bảo vật ấy như thế nào không? – Cụ Ðạm lại hào hứng nói — Cuốn sổ chỉ  bằng bàn tay thôi, nhưng đọc những gì ghi trong đó, sẽ nhận ra cốt cách của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Ông ghi lại tất cả những gì bạn hữu, người thân đã mừng đám cưới vợ chồng ông . Ghi để nhớ ơn và rồi để trả nợ.

Tôi thấy ông cộng tất thảy được 63 đồng tiền mặt và rất nhiều hiện vật, câu đối tặng, trong đó lớn nhất là 7 đồng nộp tiền cheo cho làng của bà Cả Viên, chị ruột cô dâu.

Tục làng ngày ấy, con gái lấy chồng người làng phải nộp cheo 5 đồng, lấy chồng thiên hạ phải nộp 7 đồng. Tiền cheo ấy để làng mua gạch lát đường hoặc xung vào các việc công ích. Nói thêm để chú dễ hình dung nhé. Một đồng ngày ấy bằng một trăm xu, bằng hai trăm chinh. Hai đồng mua được một tạ gạo, ba đồng một chỉ vàng, đi xe điện từ Cầu Mới đến Bờ Hồ mất ba xu…

Ðể ghi nhớ công ơn của Nhà văn Vũ Trọng Phụ, con cháu ông đã quy hoạch trên nền đất cũ của gia đình 300 mét vuông, có sổ đỏ, tường bao quanh, bao gồm nhà tưởng niệm, khu mộ phần, sân vườn và nhà khách, thành một khu Tưởng nhớ Nhà văn Vũ Trọng Phụng.

Tôi cảm tạ cụ Ðạm rồi trở lại Nhà Tưởng Niệm Nhà văn Vũ trọng Phụng để xem những di vật.

Ông Nghiêm Xuân Sơn trịnh trọng lấy chìa khóa mở tủ. Quả là ông con rể quí của Nhà văn đang như người chủ một bảo tàng tư nhân độc đáo và quí hiếm. Tấm giấy khai sinh viết bằng ba thứ chữ Pháp, Hán và Việt của Nhà văn Vũ Trọng Phụng từ 95 năm trước vẫn còn nguyên vẹn với dấu triện đồng sắc nét. Hai tấm thẻ nhà báo, đều có ảnh nhà báo Vũ Trọng Phụng đóng đấu nổi.

Bút tích của nhà văn họ Vũ, bằng bút chì đỏ, bút chì than và bút mực, thoáng hoạt và rắn rỏi như mới viết hôm qua, ghi: Nguyễn Tuân đi thuê ô tô ở Hàng Bông. Ngô Tất Tố và Phạm Cao Củng mừng bức trướng “Hồng diệp thi thanh”. Ông Nguyễn Văn Ða, chủ nhiệm báo Phụ Nữ Thời Đàm mừng câu đối.

Nhà xuất bản Mai Lĩnh in tặng 110 giấy báo hỉ và mừng câu đối:

“Ngoài bể sóng vang, mây tối ngán thay đời thiết huyết

Trước vườn hoa nở, đuốc hồng vui có bạn quần thoa”.

Ðái Ðức Tuấn mừng một bài thơ lồng trong khung kính. Hai anh em Nguyễn Giang và Nguyễn Nhược Pháp mừng hai dò hoa thủy tiên. Ngọc Giao, Vũ Bằng, Phùng Bảo Thạch mừng ba chai vang Emer Pháp. Vũ Ðình Liên mừng một hộp thuốc lá Lucky v..v…

– Sao bác không xin Nhà Nước lập một bảo tàng tư nhân? — Tôi quá choáng ngợp bởi những bảo vật mà mình đang thấy trước mặt — Hay là bác định dành tặng Bảo tàng Nhà văn đang sắp hoàn thành?

Thấy tôi nói như gãi trúng chỗ ngứa, ông Sơn mở lòng:

– Thú thật với chú, tôi thu xếp từ Sài Gòn về sống luôn ở đây cũng vì việc này. Lâu nay tôi thấy tôi có lỗi với ông cụ và với nhà tôi. Cũng là vì bôn ba sinh kế, vì phải lo dạy con cái…

Ông Sơn dừng lại. Tôi đoán ông đang nghĩ đến những chuỗi ngày rất dài đã qua. Làm rể nhà văn mà không hề biết mặt bố vợ. Yêu cô con gái độc nhất của Nhà văn họ Vũ năm cô 16 tuổi, khi đó cô Hằng cùng với bà nội và mẹ đẻ là ba người đàn bà sống dựa vào nhau bằng mẹt hàng chợ Cầu Mọc và nghề đan, khâu vá thuê.

Ông Sơn cưới vợ, ở nhà vợ, ông tự học lấy bằng sư phạm và kỹ sư kinh tế. Mấy năm là chiến sỹ thi đua ngành đường sắt, có bố đẻ tham gia tiền khởi nghĩa, là bộ đội Ðiện Biên Phủ, cựu đảng viên, nhưng ông Sơn bao lần xin vào Ðảng mà không được. Chỉ vì ông có ông bố vợ là nhà văn tác giả những “tác phẩm phản động,  đồi trụy,” bị ghi sổ đen, bị cấm in, cấm đọc…

– Nhiều người bảo rằng cụ Vũ Trọng Phụng được người con rể lo cho rất chu tất…

Ông Sơn vội chữa:

– Tôi thì lại nghĩ tôi chưa làm được là bao. Khi bước vào tuổi bẩy mươi, tôi thấy thời gian của mình không còn nhiều. Không thể để công việc cho các cháu được chú ạ. Liệu mình có sống được bao năm nữa mà lo kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông cụ? Cho nên, tôi đang gấp rút lo kỷ niệm 95 năm vào tháng 10 này…

Vừa rồi tôi có chương trình đi thắp hương viếng những người âm, những ông bạn văn của ông cụ. Tơi đã đến kính báo các cụ Tản Ðà, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao. Sắp tới tôi sẽ đi thắp hương viếng cụ Vũ Ðình Liên, cụ Hoàng Thiếu Sơn…

– Ðể mời các cụ về dự lễ 95 năm kỷ niệm Nhà Văn Vũ Trọng Phụng?

– Vâng. Nhưng việc chính là tôi muốn kính báo với các cụ rằng, từ hồi Nhà văn Vũ Trọng Phụng được Nhà nước chiêu tuyết, cho lập tên đường phố, sách được tái bản, con cháu đều được hưởng lộc, đều có chút của ăn của để.

Ðể ghi nhớ công ơn của cụ, con cháu đã quy hoạch trên nền đất cũ của gia đình 300 mét vuông, có sổ đỏ, bao gồm nhà tưởng niệm, khu mộ phần, sân vườn và nhà khách, thành một khu tưởng nhớ Nhà văn Vũ Trọng Phụng.

– Nghe nói còn có cả Giải thưởng Vũ Trọng Phụng…?

– Một số bạn hữu và những người hâm mộ ông cụ cũng khuyên tôi làm thế. Chúng tôi dành dụm từ số tiền nhuận bút tái bản sách của cụ, cùng tiền cho thuê nhà, đất, được hơn trăm triệu đồng, dự tính nhờ thêm anh em bạn bè, làm một số suất học bổng cho học sinh giỏi văn và giải thưởng hằng năm cho một tác phẩm phóng sự xuất sắc…

– Một ý tưởng quá hay bác ạ — Tôi nói — Nhà văn Nguyễn Tuân, nhạc sỹ Lưu Hữu Phước… cũng đã có giải thưởng do gia đình các ông ấy lập. Việc này bác cứ đề đạt, Nhà nước và xã hội sẽ đồng tình.

– Còn việc này nữa. Gia đình đã có đơn, Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2003 cũng đã có công văn gửi Bộ Văn Hoá và chính quyền thành phố Hà Nội xin công nhận khu tưởng niệm ông cụ thành Di tích Nhà nước. Chúng tôi chỉ xin chứng nhận thôi. Ðất đai cùng mọi cơ sở vật chất gia đình chúng tôi xin tự lo tất. Cái chính là chúng tôi xin Nhà nước cho ba chữ…

– Ba chữ gì hả bác?

– Ba chữ “Cấm vi phạm.” Tôi muốn phòng xa. Tôi muốn tất cả con cháu sau này không đứa nào được nhòm ngó chia chác khu linh thiêng này. Ðất ở đây nay giá vài chục triệu đồng một mét vuông. Ba trăm mét vuông này là cả chục tỷ đồng…

Ông Hồng Minh Tường viết tiếp:

Nhân đây tôi muốn được thưa lại  với nhà thơ cách mạng Tố Hữu về câu đại tự của ông viết năm 1949 được gia đình khắc trang trọng trên phần mộ nhà văn:

“Vũ Trọng Phụng không phải nhà cách mạng, nhưng cách mạng cám ơn Vũ Trọng Phụng.”

Ngay từ những năm 1930, Vũ Trọng Phụng đã là nhà văn của người lao khổ. Càng đọc tác phẩm của ông ta càng thấy rõ điều đó. Nếu ông không bị lao lực bệnh tật mà qua đời năm 1939, chắc chắn trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, như các ông bạn văn của ông, những Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân… ông đã  đứng trong hàng ngũ những người cách mạng.

Làng Mọc, 23/4/2007

Người viết Hoàng Minh Tường.

Công Tử Hà Đông: Tháng Ba 2015, tôi tìm được bài viết về Nhà Văn Vũ Trọng Phụng trên đây trong Internet. Tôi đăng nguyên văn bài viết để quí vị đọc. Quí vị đọc trang Web này nhiều vị không có thì giờ, điều kiện tìm kiếm trên Mạng như tôi.

Khi đăng bài này tôi muốn nói lên chuyện tác giả Hoàng Minh Tường viết: “Ngay từ những năm 1930, Vũ Trọng Phụng đã là nhà văn của người lao khổ. Càng đọc tác phẩm của ông ta càng thấy rõ điều đó. Nếu ông không bị lao lực bệnh tật mà qua đời năm 1939, chắc chắn trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, như các ông bạn văn của ông, những Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân… ông đã  đứng trong hàng ngũ những người cách mạng.”

CTHĐ: Năm 1956 anh già Hoàng Văn Hoan, người đảng viên cộng sản có tuổi đảng cao hơn tuổi đảng của Hồ Chí Minh, lên tiếng kết tội :

“Vũ Trọng Phụng làm việc cho Mật Thám Pháp, Vũ Trọng Phụng được Mật Thám Pháp chi tiền, cho xe ô tô đưa đến tiệm hút thuốc phiện. Vũ Trọng Phụng viết nhiều bài vu các Đảng Cộng Sản Nga.“

Lời tố cáo không được đăng báo, chỉ là bản viết tay của Hoàng Văn Hoan, truyền tay trong giới văn nghệ Hà Nội. Và tất cả những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị cấm đọc, cấm xuất bản, cấm lưu hành trong nhiều năm.

Phải chăng người viết Hoàng Minh Tường có ý tảng lờ như không có việc Hoàng văn Hoan kết tội láo Nhà Văn Vũ Trọng Phụng?

Theo tôi, nếu Vũ Trọng Phụng còn sống trong năm 1946, ông đã bị bọn Việt Minh bắt, đem đi thủ tiêu, cho đi mò tôm, tức cho đi trôi sông mất xác, như năm ấy chúng đã giết các ông Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật.

Những năm 1935, 1936, Vũ Trọng Phụng đã thấy trước cái Họa Cộng Sản, ông viết nhiều bài tố cáo bọn Cộng Sản Nga gây rối loạn trên thế giới. Những bài viết tố cáo Cộng Sản của Nhà Văn họ Vũ hiện nay vẫn còn trong những thư tịch ở Hà Nội. Bọn Cộng Hà Nội cố tình không nhắc đến việc Nhà Văn lên án những việc làm của bọn Cộng Nga, chúng làm như không có việc đó. Có thể viết ngay từ những năm 1935 Nhà Văn Vũ Trọng Phụng đã thấy chủ nghĩa cộng sản là bậy bạ, bọn đảng viên Đảng Cộng Sản Nga là bọn ác ôn. Ông là Nhà Văn Việt Nam Thứ Nhất chống Cộng Sản.

Viết “Nhà Văn Vũ Trọng Phụng đứng chung hàng ngũ với những tên bồi bút Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố là việc mạ lỵ tác giả Giông Tố, Số Đỏ ..v…v..”

Nhà Văn qua đời năm ông 27 tuổi. Người đời sau gọi ông là “ông cụ.” Tôi thấy kỳ kỳ.

NGƯỜI ĐỌC, NGƯỜI VIẾT

Tôi nhận được thư của người bạn đọc DT Dũng. Thư gửi từ Ottawa, Canada.

BRUNO SAMMARTINO, Đô Vật Wrestler nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ những năm từ 1950 đến 1970. Bruno chỉ đánh những trận đô vật ở Madison Square Garden, New York. Khán giả Việt mê xem Wrestling Mỹ không một lần được thấy Bruno Sammartino biểu diễn trên TiVi Quân Đội Mỹ.

BRUNO SAMMARTINO, Đô Vật Wrestler nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ những năm từ 1950 đến 1970. Bruno chỉ đánh những trận đô vật ở Madison Square Garden, New York. Khán giả Việt mê xem Wrestling Mỹ không một lần được thấy Bruno Sammartino biểu diễn trên TiVi Quân Đội Mỹ.

Thưa Chú Thủy,

Con nhỏ tuổi hơn chị Kiều Giang, có lẽ tuổi con xấp xỉ bằng tuổi Anh Hoài Nguyên, con trai của Chú.

Con chăm đọc những bài Chú viết trên internet.  Con rất mừng thấy Chú còn giữ được một số sách Chú viết trước năm 1975.  Con muốn biết Chú có vui lòng nhường lại những quyển sách này cho ai không?

Con sanh trưởng trong một gia đình rất quí trọng sách báo.  Con biết là Chú quí những sách báo mà Chú đã tưng tiu, gìn giữ như những kỷ niệm thân yêu.   Con hết sức cám ơn Chú nếu Chú đồng ý trao tủ sách của chú cho con giữ.  Xin Chú cho biết giá tiền và danh sách.  Nếu Chú muốn tiếp tục giữ những quyển sách của chú, xin chú cứ giữ, đến một ngày nào Chú thấy chú đã lớn tuổi, chú muốn nhường lại những cuốn sách này cho một người khác tiếp tục gìn giữ, xin Chú nghĩ tới con!

Con hết sức say mê sách báo. Con muốn được cái hân hạnh tiếp tục gìn giữ  Tủ sách của Chú Hoàng Hải Thủy.

Con xin phép gởi Chú đôi lời mộc mạc, nhắc vài chuyện cũ con nhớ về Chú.  Mong gợi lại vài kỷ niệm đẹp trong lòng con và trong tâm Chú.  Những chuyện con viết đây hoàn tòan dựa vô trí nhớ, nếu có điều chi không đúng, xin Chú rộng lượng không trách.

Con là người Nam.  Xin Chú cho phép con trò chuyện cùng Chú bằng ngôn ngữ miền Nam cho tự nhiên và thân mật.  Con rất thương ngôn ngữ miền Nam nên muốn luôn luôn và mãi mãi xử dụng tiếng và giọng nói miền Nam.

Con là một độc giả rất ít tuổi của Chú.  Thời Chú  viết văn ở Sài Gòn,  con còn nhỏ nên chưa đủ trình độ để thưởng thức văn tài Chú.  Nhưng con có biết Chú.  Ba con và Anh con rất mê sách báo, con có nghe Ba con và Anh con nhiều lần nhắc tên tác giả Hoàng Hải Thủy. Ba con và Anh con mua rất nhiều sách báo.  Trong tủ sách gia đình con có đầy đủ các sách của Bình Nguyên Lộc, Chu Tử, Lê Xuyên, Nhã Ca, Mai Thảo, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long và Hoàng Hải Thủy v.v  và rất nhiều sách chưởng.

Trên kệ sách nhà con, con thấy nhiều sách Chú phóng tác như Kiều Giang, Môi thắm nửa đời, Nổ như tạc đạn, Ngoài cửa thiên đường, vv và vv.

Hồi đó con còn nhỏ, chưa tới tuổi đọc tiểu thuyết tình nên nhà con có sách của Chú mà con không đọc.

Con đọc bài Chú viết lần đầu về trò Đô Vật – Wrestling – trên báo Quyết Sống.  Lúc đó con đương học lớp Tư tiểu học.  Con thích coi đô vật trên đài truyền hình băng tần 11 – Channel 11 – của Quân đội Hoa Kỳ nên con say mê theo dõi Trang Đô Vật trên báo do Chú phụ trách với bút hiệu là Thương Hoài Nguyên.  Anh con nói Thương Hoài Nguyên chính là Hoàng Hải Thủy.  Con nghe Anh con nói thì con biết vậy!  Chớ khi đó con đâu có biết gì về Hoàng Hải Thủy! Ngoại trừ chuyện ổng là một văn sĩ.

Chú viết mục đô vật rất ngộ và có duyên.  Chú chia đô vật ra làm hai phe, “đánh bẩn” và “đánh sạch.”  Phe đánh sạch là những đô vật tôn trọng luật đô vật, không ăn gian, không đánh lén, không chọc mắt, không chẹt cổ đối thủ.  Phe đánh bẩn là những kẻ xài những đòn độc, đòn bị cấm dùng, như đấm nắm tay vào mặt, móc miệng, chọc mắt…, những mánh khoé ăn gian để hạ đich thủ.  Phe đánh sạch có những đô vật như Mil Mascaras – Người Muôn Mặt, – có lực sĩ Rocky Johnson, đô vật da đen đánh sạch với ngọn song phi thần tốc, Peter Martin, chàng đô vật một thời đeo đai vô địch. Phe đánh bẩn gồm những đô vật như Kojika –  Kå-dzí-cà, đô vật Nhựt hay quì lạy đối thủ rồi thình lình đánh lén, Freddie Blassie đô vật già, tóc trắng, đánh dữ, hay cắn địch thủ.. v..v..

Nhờ chú giải thích, con và nhiều người mê coi Wrestling được biết những luật lệ của Wrestling như bị đối thủ đè nằm ngửa trên sàn, đè hai vai sát xuống sàn, trọng tài đập tay xuống sàn, đếm đến 3 mà không nhắc được một bên vai lên khỏi mặt sàn là thua – đòn này tiếng Mỹ là « đè pin ,» –  như luật đánh đôi : võ sĩ bị đánh đau, hay mệt, muốn đồng bạn vào ring đánh thay mình, phải bắt được bàn tay đồng bạn.

 Anh chàng đô vật đánh bẩn Kojika ngoài trò quì lạy còn có một ngón đòn “bẩn” khác là quăng bột muối vô mắt địch thủ.  Cũng vì chuyện nầy mà con nhớ có một chuyện tức cười trong mục trả lời độc giả do Chú phụ trách.  Có một  độc giả gởi thơ cho Chú để “giải thích” cho Chú hiểu về trò quăng muối nầy.  Theo vị độc giả này thì có một vị giáo sư quen anh ta cho biết là Kojika không có quăng muối vô mắt địch thủ.  Sự thực là Kojika luyện karate tới trình độ cao thâm.  Anh ta có khả năng búng chỉ phong vô mắt địch thủ.  Những lúc mà Chú tưởng là Kojika quăng muối chính là những lúc anh tung chỉ phong làm mờ mắt địch thủ.  Con nhớ Chú trả lời anh độc giả này là:

MIL MASCARAS, Người Muôn Mặt.

MIL MASCARAS, Người Muôn Mặt.

“Anh không dám “kiêu ngạo” vị giáo sư khả kính của em đâu!  Nhưng rõ ràng là ông ta giải thích theo truyện kiếm hiệp.  Nếu quả thật Kojika có tài đề khí, phi thân, tung chỉ phong thì anh ta chỉ cần thổi nhẹ một cái cũng đủ hạ địch thủ rồi. »

Con thấy tức cười quá!  Sau con thấy Chú có trả lời một độc giả, Chú xác nhận Hoàng Hải Thủy, Thương Hoài Nguyên và Gã Thâm là một người.  Chừng đó con mới biết chắc Thương Hoài Nguyên chính là Hoàng Hải Thủy.  Sau Chú ra tuần báo Đô Vật chuyên về đô vật.  Con có đọc các số báo Đô Vật nầy.  Thời gian sau, đài truyền hình Mỹ ngưng phát hình chương trình Wrestling.  Tuần báo Đô Vật đình bản.  Và con cũng không còn đọc tuần báo Quyết Sống.  Do đó, Con cũng ít có dịp đọc bài của Hoàng Hải Thủy. Thỉnh thoảng con có đọc vài bài Chú viết về truyện chưởng hay tuồng chưởng.

Ba con rất thích đọc truyện chưởng Kim Dung, ba con cũng có đọc những bài Chú viết về truyện Kim Dung.  Con nhớ Ba con nói :

“Thằng cha Hoàng Hải Thủy khoái truyện Cô Gái Đồ Long lắm!  Thằng chả hay viết thương nhau như Trương Thúy Sơn và Hân Tố Tố thương nhau”.  Có lẽ Chú viết là “yêu nhau” nhưng Ba con là người Nam nên nói là “thương nhau.” Con lúc đó đã thích đọc truyện chưởng nên nhớ câu nói ấy của Ba con.  Ba con lớn hơn Chú khoảng chừng 20 tuổi.  Đây là lời nói của Ba con về Chú.  Con thành thât kể lại với Chú.

Và cũng vì mê chuyện chưởng nên con có dịp đọc bài của Chú viết.  Đây là bài Chú kể lần đầu Chú nghe nói về Kim Dung  Con nhớ bài nầy đăng trong một trong một tạp chí số đặc biệt về Kim Dung.  Tạp chí đó có đăng một số chuyện chưởng như Đại Cái Bang, Cuồng Kiếm Ca vv. Chú kể là khi Chú gặp mấy nhà văn như Mai Thảo và một số vị khác, thường nghe họ bàn tán sôi nổi về chuyện Cô Gái Đồ Long, đăng trên các nhựt báo Sài Gòn hồi đó. Chú thắc mắc khi nghe những tên “lạ hoắc” như Trương Vô Kỵ, Trương Thúy Sơn, Hân Tố Tố.  Rồi Chú nghe có ngưới hỏi diễn tiến vụ sáu đại môn phái bao vây Quang Minh Đỉnh kết cục ra sao?  Chú hỏi nhà văn Mai Thảo về Kim Dung.  Mai Thảo chỉ giản dị nói với Chú là tiểu thuyết Kim Dung đặc biệt lắm, đọc thử rồi biết.  Chú viết là bộ chưởng đầu tiên Chú đọc của Kim Dung là bộ Cô Gái Đồ Long do Tiền Phong Từ Khánh Phụng dịch.  Chú nói Chú bắt đầu say mê câu chuyện khi Dư Đại Nham, và thanh đao Dồ Long, xuất hiện.  Chú tỏ ra khâm phục Kim Dung sáng tạo ra nhơn vật Tạ Tốn rất sống động.  Chú kết luận bài viết về Kim Dung bằng cách lập lại lời nhà văn Mai Thảo :

“Tiểu thuyết Kim Dung đặc biệt lắm!  Đọc rồi mới biết cái hay”.

Con có đọc vài bài khác Chú viết về các tài tử phim Chưởng.  Chú so sánh các tài tử phim Chưởng Hong Kong như Vương Vũ, Khương Đại Vệ, Địch Long, Lý Tiểu Long.  Chú viết Khương Đại Vệ và Vương Vũ đều ốm yếu, không nở nang, không có vẻ có võ nghệ như Lý Tiểu Long và Địch Long. Nhưng theo Chú thì Khương Đại Vệ thích hợp với tuồng chưởng hơn Vương Vũ. Chú chê tài tử Vương Vũ không hợp với các vai anh hùng, đại hiệp.  Theo Chú thấy, mặt Vương Vũ con nhà giàu, công tử, chỉ nên đóng các vai trong tuồng xã hội, tình cảm. Chú viết  Chú thấy mặt Khương Đại Vệ giống mặt nhà văn Mai Thảo.  Rồi Chú diễu :

“Chừng nào Thái Thanh đóng phim kiếm hiệp, chúng ta sẽ thấy mặt Mai Thảo. Còn bây giờ, ai muốn biết mặt Mai Thảo ra sao cứ nhìn Khương Đại Vệ sẽ biết!”.

Con nhớ con có đọc một truyện ngắn Chú viết trong tap chí Thứ Tư hay Chọn Lọc.  Mấy chục năm rồi, con không nhớ rõ tên tờ báo.  Con nhớ Chú viết về “Con ve và con kiến” phỏng theo tựa bài ngụ ngôn của La Fontaine.  Nhưng khác với La Fontaine, Chú nói là Chú ghét con kiến, Chú thương con ve.  Chú viết “con kiến bần tiện, ích kỷ, chỉ biết lo cho thân mình; con ve là một nghệ sĩ  ca hát làm vui cho cả mùa hè mà không đòi hỏi được trả công.”.  Chú kể câu chuyện “con ve và con kiến” thứ thiệt mà Chú đã chứng kiến ngoài đời.  Có hai anh em Chú biết từ hồi học chung ở tiểu học.  Người anh tánh giống con kiến, siêng năng, chăm chỉ nhưng ích kỷ, không bao giờ giúp đỡ bạn hữu.  Người em trai tánh tình cởi mở, dễ chơi.  Sau nhiều năm, khi đã trưỏng thành, Chú gặp lại hai anh em này thì biết người Em – con ve –  thành công trong cuộc sống, có cuộc sống sung túc.  Ngược lại, người Anh – con kiến – gặp hết thất bại này tới thất bại khác, vất vả, nghèo khổ.  Người anh lại tỏ ra bất mãn vì cái hạnh phúc của em mình.  Con nhớ Chú viết:

“À thì ra, bây giờ con kiến lại ganh tị với con ve.’

Con nhớ bài này vì con đồng ý với Chú là con ve dễ thương hơn con kiến, khác với điều các sách luân lý dạy  con kiến là tấm gương ta nên theo.

Ngoài ra con còn đọc vài cuốn tiểu thuyết gián điệp 007 do Chú phóng tác.

Con có đọc cuốn “Bỏ súng bên trời” Chú phóng tác. Điệp viên Hoàng Giang cùng cận vệ Đặng Dao hộ tống nhà tỉ phú Dương bạch Long, cô thơ ký và luật sư Trần Thịnh chống lại âm mưu ám sát.  Con nhớ hai đoạn trong cuốn này, có lẽ vì Chú viết trúng ý con.  Đoạn một, Hoàng Giang nghĩ thầm «  có bao nhiêu người chết vì lý tưởng cao đẹp thì cũng có bao nhiêu người  chết vì lý tưởng sai lầm. »

Hoàng Giang tham gia Thế Chiến Thứ Hai, chàng có cái sung sướng chiến đấu cho một lý tưởng mà chàng tin là cao đẹp.  Nhiều năm sau, chàng lại có thêm cái sung sướng là thấy cái lý tưởng mình theo đuổi đúng và đẹp.  Đoạn hai, nhà tỉ phú Dương Bạch Long kể câu chuyện về Hồ ly tinh.  Có một Hồ ly tinh thắc mắc vì sao loài người lại sợ các Hồ ly tinh?  Theo như Hồ ly tinh này thì “chỉ có đồng loại mới có thể hại được đồng loại. Kẻ thù đáng ngại nhứt của con người là con người.  Và địch thủ đáng ngại nhứt của hồ ly tinh là một hồ ly tinh khác.’  Khi đọc sách này, con còn nhỏ tuổi nên thấy những điều này rất  ‘ngộ, ‘  và con nhớ luôn từ đó tới bây giờ!

Sau con thấy Anh con có mua cuốn tryện Hồn ma đa tình do Hoàng Hải Thủy phóng tác.  Con có mượn cuốn này đọc và nhớ vài chuyện như Đầu người Bô Rô, trong đó có một người da trắng bị ám ảnh vì cái đầu một thổ dân bộ lạc Bô Rô.  Người Bô Rô này bị anh da trắng mướn kẻ giết người giết và cắt đầu. Cái đầu người Bô Rô được anh da trắng cho ướp khô, treo trong phòng riêng của anh.  Ít lâu sau, anh da trắng này bị ám ảnh thấy cái gì cũng là cái đầu đẫm máu của anh thổ dân Bô Rô.  Sau cùng anh ta dùng dao cạo cắt cổ anh khi anh nhìn vô kiếng để cạo râu vì thấy mặt mình là đầu người Bô Rô.  Hồn ma đa tình – chuyện một phụ nữ trẻ thích cầu cơ với một hồn ma mà Chú kêu là “phụ đồng chén. » Hồn ma đa tình này yêu người phụ nữ, y giết chồng người phụ nữ này và cô ta hóa điên.  Con nhớ truyện ma này và thích lắm.  Như Chú biết ở đâu có, Chú cho con biết.

Tóm lại, tới 1975, khi tụi Việt Cộng Bắc Kỳ chiếm miền Nam của mình, con chỉ biết chút đỉnh về Chú: – những bài viết về đô vật, sách chưởng, tuồng chưởng, hai ba cuốn tiểu thuyết chuyện ma, hoặc gián điệp.  Còn những sách nổi tiếng do Chú viết con chưa biết.

Chừng con qua đươc Canada, con được tin Ba con còn ở bên Việt Nam  cho biết, bao nhiêu sách, báo của gia đình con đều bị đốt sạch!!!  Con tiếc quá!  Nhưng biết sao đây?  Dân miền Nam lúc đó chỉ còn là những con cá nằm trên thớt mặc sức cho tụi Việt Cộng Bắc Kỳ muốn làm gì thì làm! Họ đem cho dân miền Nam hai đai họa : Cộng sản hóa và Bắc kỳ hóa!!!

Những năm đầu ở Canada, con ở với Anh con.  Anh con tiếp tục thú chơi sách.  Tuy tủ sách Anh con ở Canada không nhiều như tủ sách gia đình hồi còn bên Việt Nam nhưng cũng có khá nhiều sách.  Con khi đó còn đương đi học nên chưa có tiền mua sách.  Nhưng nhờ ở với Anh con, nên con có dịp đọc các sách Chú phóng tác như Đen hơn bóng tối, Đỉnh gió hú, Kiều Giang, Ngoài cửa thiên đường, Tìm em nơi thiên đường.  Chừng đó, con mới thưởng thức trọn vẹn tài viết văn của Chú.  Con đọc lại mấy cuốn tiểu thuyết gián điệp Hoàng Giang.  Trong cuốn “Thầy Nô”, có đoạn này Chú phóng tác rất ngộ.  Chú cho điệp viên Hoàng Giang nghĩ thầm về nàng Mật :

“Anh cứ tưởng là nhà văn Kim Dung bịa đặt ra A Tử, không ngờ rằng em là một A Tử thật ở cõi đời này!  Có điều em còn hơn cả A Tử.  A Tử phải cần tới Bích ngọc vương đỉnh mới luyện được Hóa Công đại pháp còn em thì chỉ cần anh nhìn em là cũng đủ làm công lực anh tiêu tan. »

Chú viết tức cười quá!  Trong cuốn Đen hơn bóng tối, Chú viết một câu làm con rất thích, con nhớ Chú có nhận xét về tiếng “ngộ” của người Nam.  Chú viết là tiếng ‘ngộ’  hay hơn tiếng ‘hay” nhiều và gợi cảm hơn nữa. Chú cũng có nhắc tới tiếng “thương” của người Nam, trong một cuốn tiểu thuyết khác, Chú viết “ngoài Bắc, thì thương là thương hại, thương xót nhưng trong Nam thi thương là yêu.’   Con đọc mấy nhận xét nầy của Chú mà thấy vui như mở cờ trong bụng.  Con rất thích các nhận xét này của Chú vì thấy Chú tuy là người Bắc nhưng biết thương, biết tôn trọng những đặc thù của người Nam. Khác hẳn với với một số đông người Bắc như tụi Việt Cộng Bắc Kỳ.  Tụi nham nhở này luôn kiếm cách đồng hóa người Nam!

Con nhớ là đọc trong cuốn Bây giờ tháng mấy, mượn của Anh con, tên thiệt của Chú là Dương Trọng Hải.  Hai người con của Chú là Kiều Giang và Hoài Nguyên.  Chú cho biết là tên người gia đình Chú viết chữ Hán đều có “chấm thủy”.  Té ra Chú biết chữ Hán nữa!

Trong những năm 80, theo dõi tin tức bên Việt Nam, con  biết là Chú đương bị ở tù Việt Cộng.  Ba con lúc đó đã qua Canada khi nghe tin Chú bị tù “trại cải tạo” của Việt Cộng thì ngậm ngùi nói :

“Như vậy là Hoàng Hải Thủy phải chết thôi!”

Con có nghe nhiều tin xấu về các văn nghệ sĩ của miền Nam tự do.  Các tin đồn nầy có tin đúng nhưng cũng có tin sai.  Như con có nghe là các nhà văn Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường… đều chết trong trại tù Việt Cộng.  Khi nghe là Chú bị tù Việt Cộng, con chắc là Chú Hoàng hải Thủy rồi đây cũng  chịu cùng chung số phận.  Giai đoạn đó, tai họa xảy ra dồn dập cho mọi người dân Việt.  Nào là nạn cướp biển!  Nào là tàu tị nạn bị xua đuổi! Nào  là thoát chết tới trại tị nạn rồi cũng chưa chắc được yên thân,! Không có nước nào chịu chứa!  Nào là thân nhơn còn có người kẹt bên Việt Nam!  Nào là có người vượt biển rồi mất tích luôn!  Do đó, tin xấu về các văn nghệ sĩ bị chìm đắm trong các tin khác và ít gây chú ý cho dư luận người Việt ở ngoại quốc.

Trong khoảng thời gian nay, con dọn qua một thành phố khác ở Canada để tiếp tục đi học.  Vì bận rộn chuyện học hành, thi cử lại không còn ở chung với anh con, vả lại con còn đi học, nghèo chưa có tiền mua sách truyện nên con không còn dịp đọc sách báo Việt trong một thời gian nhiều năm.

Bẳng đi một thời gian khá lâu, trong lúc con không còn để ý tới sách báo Việt, con tình cờ đọc một bài Chu viết trên một tạp chí nào không nhớ rõ.  Con mới biết là Chú đã thoát khỏi “thiên đường”  Việt Cộng. Sau đó, con có đọc thêm những bài Chú viết đăng rải rác trong các báo.  Chú  kể chuyện vụ các văn nghệ sĩ Sài Gòn bị kêu đi họp vơi các công an văn nghệ Việt Cộng.   Chú kêu mấy văn nghệ sĩ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản như Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu là  tụi « phi cầm, phi thú ».  Chú kể vụ Chú viết phiếm luận “Đen hơn mõm chó” chửi  “thiên đàng cộng sản”, bị tui công an văn nghệ Việt Cộng biết được rồi bắt Chú bỏ tù. Chú kể là chú ở tù chung phòng với Ông Lê mạnh Thát, Chú kể chuyện “Cô gái đồ long”.  Ông Lê mạnh Thát cho Chú biết “Hân Tố Tố” thiệt ra là “Ân Tố Tố.”  Sau Chú kiểm lại thì thấy quả thiệt là Ân Tố Tố.

Con nhớ Chú có viết là Chú đồng ý với nhận xét là giới văn sĩ Sài Gòn cũ có một lỗi nhỏ và đông thời họ cũng có một công nhỏ.  Lỗi nhỏ đó là trong cuộc chiến đấu sanh tử với Cộng sản, các văn sĩ Sài Gòn có thái độ thờ ơ, thụ động.  Coi như cuộc chiến sanh tử chống Cộng để bảo vệ tự do không liên quan gì tới mình.  Còn cái công nhỏ là họ đã không về hùa với Việt Cộng sau khi tụi nó chiếm được miền Nam tự do.  Cái “lỗi nhỏ” đó, theo con nghĩ, không riêng gì giới văn sĩ Sài Gòn có mà có lẽ  ngoại trừ các chiến sĩ trong Quân đội ngày đêm hy sanh xương máu để bảo vệ miền Nam, còn đại đa số người dân miền Nam tự do đều mắc phải.  Sống trong sự tự do của miền Nam, có người ra vẻ “ta đây” đứng ngoài và đứng trên cuộc chiến.  Tời chừng Việt Cộng chiếm miền Nam, những kẻ “đứng ngoài, và đứng trên” đó cũng chịu chung số phận với những chiến sĩ tự do chống cộng.  “Lưng chừng” và “phản động”  đều bị khổ nhục như nhau dưới chế độ Việt Cộng!   Trong cuốn hồi ký cải tạo “Đáy địa ngục”, Ông Tạ Tỵ có cho biết một anh quản giáo nói với ổng là :

“Các anh chỉ lo tranh giành quyền lợi riêng của các anh.  Nhưng không anh nào nghĩ tới chuyện giữ cái miếng đất, cái chế độ đã đem các quyền lợi đó cho các anh! »

Ông Tạ Tỵ viết là ổng  nghĩ anh quản giáo nầy có lý!    Còn về cái “công nhỏ”, con  nhớ  Chú có  kể vụ tụi công an văn nghệ Việt cộng xúi Chú viết bài nói xấu các chánh khách trong chế độ cũ.  Chú giả đò ừ, ào cho qua chuyện rồi không viết gì hết.

Sau này, gặp Anh con, Anh con cho biết là “Hoàng hải Thủy có viết lại rồi!”. Anh con có mua đầy đủ các sách Chú viết bên Mỹ. Anh con cho con biết là chú có một số tiểu thuyết phóng tác mới.

Con có đọc bài “Thiên long bát bộ luận anh hùng” Chú viết, không nhớ trong báo nào. Trong bài nầy, con thấy Chú viết trật hai chỗ!  Thứ nhứt, Chú viết Đoàn Dự khi nhảy xuống một thung  lũng, vì không có thức ăn chàng ăn hai con Mãng cổ chu cáp và do đó chàng có “Chu cáp thần công”.  Sự thực không phải vậy!  Hai con Mãng cổ chu cáp là của Chung Linh – hồi đâù chuyện còn là con gái Chung Vạn Cừu – cho Đoàn Dự để chế ngự mấy con rắn Kim Linh và Thanh Linh. Chung Linh vì thương Đoàn Dự nên cho Đoàn Dự mượn hai con rắn và cái hộp đựng Mãng cổ chu cáp.  Đoàn Dự bỏ cái hộp có hai con Mãng cổ chu cáp vô túi thì không có rắn nào làm hại được.  Khi Đoàn Dự và Mộc Uyển Thanh bị Đoàn Diên Khánh – Ác quán mãn doanh bắt – hai người lúc đó còn tưởng là hai anh em cùng bố là Đoàn Chính Thuần – bị ăn nhằm thuốc Âm dương hòa hợp tán là thuốc khích dâm.  Đoàn Dự vì sợ làm hại em gái mình nên lấy hai con Mãng cổ chu cáp ra ăn để tự tử.  Không phải như Chú nhớ trật!

Thứ hai, Chú viết nhà văn Kim Dung đặt ra nhơn vật Lý Diên Tông cứu Đoàn Dự và Vương Ngọc Yến nhưng không có giải thích Lý Diên Tông là ai!  Điều nầy Chú nhớ trật và nói oan cho Kim Dung.  Thiệt ra Kim Dung có cho biết Lý Diên Tông là ai nhưng tới gần hết chuyện mới cho biết.  Chú nhớ lúc Mộ Dung Phuc quăng Đoàn Dự xuống giếng để qua Tây Hạ cầu hôn với công chúa.  Anh ta có cho Đoàn Dự và Vương Ngọc Yến biết là chính anh ta đã hóa trang thành Lý Diên Tông. Con đọc bài Chú viết này nhiều năm rồi, bữa nay con mới có dịp cải chánh với Chú và minh oan cho Kim Dung..

Vài năm gần đây con thấy mấy bài Chú viết trên Internet.  Con mừng là Chú còn tiếp tục viết.  Đọc các bài Chú viết, con còn thấy được hình ảnh thân yêu của Sài Gòn cũ.  Con thấy Chú có vẻ buồn khi viết về cuốn “Hồi ký một thằng hèn” của Tô Hải.  Chú nghĩ là độc giả cũ của Chú có lẽ đã quên Chú!  Thưa Chú, Con nghĩ là Chú đừng lo! Chắc chắn có những độc giả thầm lặng còn nhớ, còn thương các văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ.  Như con đây là môt thí dụ!

Kể lể lẩm cẩm các chuyện xưa bây nhiêu chắc Chú đọc cũng mệt rồi!

Bây giờ, con đã ra trường và đi làm nhiều năm.  Con muốn mua lại tất cả các sách của Chú.  Nhưng  thị trường sách báo của Sài Gòn cũ ngày càng khan hiếm.  Độc giả không còn bao nhiêu! Hết nhà sách này tới nhà sách kia đóng cửa.  Con chỉ còn biết vét chợ chiều.  Còn bao nhiêu sách thì mua bấy nhiêu.

Con xin nhắc lại câu hỏi mà con viết ở phần đầu lá thơ này :

Chú Hoàng Hải Thủy có muốn bán lại cho con tất cả số sách chú viết và chú có hiên nay không?  Nếu bây giờ Chú còn muốn tiếp tục giữ những quyển sách đó, xin Chú cứ giữ, Con xin được gửi tiền mua tủ sách của chú.Nhưng đến một lúc nào đó con nghĩ Chú cũng nên giao số sách của chú cho một người khác tiếp tục giữ gìn, thương yêu các sách đó.  Con xin Chú nhớ tới con khi nào Chú thấy Chú đã lớn tuổi và muốn nhường lại các sách của Chú.

Mong tin Chú và chúc Chú luôn sáng suốt, mạnh giỏi.  Được đọc bài Chú viết là tiếp tục thấy lại thành phố Sài Gòn thân yêu của mình và được sống lại cái tuổi thơ hồn nhiên mấy chục năm trước.

Con

CTHĐ: Tháng Ba 2015 tôi nhận được thư của bạn DT Dũng ở Ottawa, Canada gửi đến. Tôi viết hỏi bạn Dũng tại sao bạn biết địa chỉ nhà tôi mà gửi thư cho tôi? Bạn Dũng trả lời trên e-mail cho tôi biết bạn đã liên lạc qua e-mail với tôi từ hai, ba năm trước. Trên đây là nguyên văn thư bạn Dũng đã gửi cho tôi khoảng năm 2008.

FRED BLASSIE, Đô Vật Tóc Bạc, không “Đánh Bẩn” nhưng “Đánh Dữ.”

FRED BLASSIE, Đô Vật Tóc Bạc, không “Đánh Bẩn” nhưng “Đánh Dữ.”

Cám ơn bạn DT Dũng, bạn vẫn nhớ tôi trong khi tôi thấy rất nhiều bạn đọc đã bỏ tôi, đã quên tôi. Thư của bạn DT Dũng làm tim tôi ấm lại.

Xin trã lời: Hoài Nguyên là anh của Kiều Giang. Hoài Nguyên sinh năm 1956, Kiều Giang sinh năm 1957.

Từ lấu lắm rồi không còn ở đâu có bán những quyển tiểu thuyết của tôi xuất bản trước năm 1975. Nếu tôi biết ở đâu có quyển Hồn Ma Đa Tình tôi đã tìm mua trước bạn.

Tủ Sách của tôi hiện nay ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, không có giá trị gì cả. Toàn những sách rất thường. Khi tôi đi khỏi cõi đời này, ba con tôi sẽ mỗi đứa giữ một số.

Thư bạn Dũng gơi tôi nhớ thời gian tôi làm những tập Đô Vật Wrestling ở Sài Gòn. Những năm 1970 một số người Sài Gòn thích xem những trận Wrestling trên Đài TiVi của Quân Đội Mỹ. Xem nhờ. Mỗi tuần TiVi Quân Đội Mỹ chỉ trình chiếu có 30 phút Wrestling, phim chiếu lúc 5 giờ chiều ngày Thứ Năm. Wrestling Mỹ là những cuộc trình diễn: hai võ sĩ đã đấu dượt với nhau trước khi lên đài. Nhưng trên đài họ đánh nhau như đánh thật. Người xem tưởng là họ đánh nhau, quật nhau thật. Ngày ấy tôi nhờ anh bạn làm Sở Mỹ gửi mua cho tôi từ Mỹ một số sách báo Wrestling. Tôi lấy tài liệu, ảnh trong những báo đó làm những tập Đô Vật của tôi. Hai tuần tôi làm một số báo Đô Vật. Anh bạn nhận in và phát hành trả tôi mỗi số báo Đô Vật là 10.000 đồng. Khi TiVi Quân Đội Mỹ ngừng chiếu phim Wrestling, tập báo Đô Vật do anh Thương Hoài Nguyên biên tập chết không kèn, không trống, không quan tài, không cả bó chiếu.

Những chuyên viên bình luận Wrestling trên TiVi Mỹ chia các đô vật ra làm hai loại: Clean Wrestlers, Dirty Wrestlers, tôi dịch là “Đánh sạch, Đánh bẩn.”

Em Mật được ví với Em A Tử Kim Dung là em Honey, nữ nhân vật trong một truyên James Bond 007.

Khi tôi viết truyện Môi Thắm Nửa Đời, các bạn tôi riễu tôi:

“Truyện của mày là truyện Môi Thắm Nửa Đùi.”

Khi tôi viết truyện Bỏ Súng Bên Trời, các bạn tôi gọi đó là truyện “Bỏ Súng Bên Giường.”

Mùa xuân về trên xứ người. Hoa anh đào hồng trắng nở bên dòng sông Potomac. Tôi thấy tôi cô đơn, tôi buồn quá đỗi.

HAY CHỮ LỎNG

Buổi sáng Tháng Ba, trận tuyết cuối cùng trong năm đến Rừng Phong. Trong phòng ấm, đèn vàng, yên tĩnh, nhìn trên màn kính computer tôi thấy chuyện Em Hoa Hậu Nguyễn Cao Kỳ Duyên đến chúc Tết nhân vật Vũ Khiêu ở Hà Nội.

Thoạt đầu tôi tưởng Em Nguyễn Cao Kỳ Duyên này là Em Nguyễn Cao Kỳ Duyên EmXi Chem Chép Paris by Night. Nhưng không phải. Hai người trùng tên nhau.

Mời quí vị đọc Wikipedia:

de1Vũ Khiêu, tên thật là Đặng Vũ Khiêu, là một học giả Việt Nam, Viện Trưởng đầu tiên của Viện Xã Hội Học Việt Nam, nguyên Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội, nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

Vũ Khiêu sinh ngày 19 tháng 9 năm 1916 tại làng Hành Thiện xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định.

Ông tốt nghiệp tú tài trường Bonnal, Hải Phòng, năm 1935. Ông làm Giám đốc Sở Văn hóa Khu 10 tại Việt Bắc, 1947 – 1954, Về Hà Nội, ông sang Bắc Kinh học trường Đảng cao cấp ,1954 – 1956, trở về nước, ông giữ chức Phó Tổng Giám đốc Thông Tấn Xã Việt Nam. Tới 1959, ông tổ chức cơ sở Mỹ học đầu tiên ở VN rồi sang Hungary học, về nước ông dậy học ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Sau năm 1954, ông chuyển sang công tác nghiên cứu. Ông cũng tham gia giảng dạy triết học và lý luận khoa học xã hội cho các trường Đảng và các trường đại học. Năm 1959, ông làm Thư ký khoa học xã hội của Ủy ban Khoa học Việt Nam, sau đó được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệmỦy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học.

Từ năm 1958, ông đã viết gần 30 cuốn sách và tham gia biên soạn với tập thể chừng 30 cuốn nữa ở nhiều lĩnh vực: triết học, đạo đức học, văn học, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, nghiên cứu, giới thiệu thơ văn và cuộc đời của một số thi hào… Nhiều tác phẩm của ông ca ngợi tư tưởng Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các tác phẩm của ông về văn hóa gồm: Đẹp (1963), Anh hùng và nghệ sĩ (1972), Cách mạng và nghệ thuật (1979). Tác phẩm lớn nhất là bộ sách ba tập, dày gần 1.500 trang, cuốn Bàn về Văn hiến Việt Nam. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có “Cao Bá Quát” (1970), “Ngô Thì Nhậm” (1976), “Nguyễn Trãi” (1980), “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của người trí thức Việt Nam” (1980), “Bàn về văn hiến Việt Nam” (3 tập, năm 2000).

Giáo sư Vũ Khiêu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ  năm 1996 cho các công trình Anh hùng và nghệ sỹ (1972), Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng và văn hoá (1987), Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử[.

Năm 2000, giáo sư được phong danh hiệu Anh hùng Lao động .

Ngày 12 tháng 9 năm 2006, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thay mặt Hội đồng Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất cho Giáo sư Anh hùng Lao động Vũ Khiêu.

Trong Đại hội Thi đua Thủ đô Hà Nội, Gs Vũ Khiêu được trao tặng danh hiệu “Công dân Ưu tú Thủ đô.”

Ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng câu đối:

 “Triết gia trong cách mạng – Nghệ sĩ giữa Anh hùng”.

Và:

Sơn hà linh khí tại
Kim cổ nhất hiền nhân.

Trên đây là  tiểu sử  Nhà Văn Hóa Hà Nội VC Vũ Khiêu trên Wipikeada. Tiếp đây là những lời người Hà Nội năm 2015 viết về nhân vật Vũ Khiêu:

deBài phóng sự “Sự thật quả ấn đền Trần ở Thái Bình” đăng trên phiên bản điện tử của báo Tiền Phong ngày 11/06/2010 viết về lễ khai ấn tại đền Trần Hưng Hà ngày 13 tháng Giêng năm 2010, cho biết: trong dịp khai ấn này, đã có hàng vạn bản ấn được đóng lên giấy, phát, bán cho nhân dân.

Quả ấn được đóng trong lễ này là một quả ấn “nhái,”  – ấn giả, làm theo hình dạng quả ấn thật – ấn giả bị khắc chữ Hán ngược; ấn có 4 chữ “Thượng Nguyên Chu Thị” nhưng lại được coi là ấn cổ, ấn quý, là ” Ấn vua Trần.” Giám đốc Nhà Bảo Tàng tỉnh Thái Bình đã nhờ GS Vũ Khiêu đọc giúp bốn chữ Hán trên quả ấn.  GS Vũ Khiêu đọc và trả lời rằng đó là bốn chữ:

“Quốc vương thiên nhân.”

Một câu đối của Vũ Khiêu dâng nhà thờ tổ họ Vũ giống câu đối ở đình làng An Trì, Hải Phòng, ngôi đình thờ Ngô Quyền được xây dựng từ đầu thế kỷ 19.

Câu đối của Vũ Khiêu dâng vào Miếu Thần tổ Vũ Hồn ở Mộ Trạch, Hải Dương:

“Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo.
Cửu tiêu nhật nguyệt phúc trùng quang”

Câu đối ở đình làng An Trì tại Hải Phòng:

“Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo.
Cửu vân nhật nguyệt ánh trùng quang”

o O o

Đầu năm Ất Mùi 2015, Hoa hậu Việt Nam 2014 Nguyễn Cao Kỳ Duyên  tới thăm và chúc Tết ông Vũ Khiêu tại nhà riêng của ông, Hoa hậu chúc mừng giáo sư bước sang tuổi 100, đồng thời bày tỏ sự ngưỡng mộ và cảm phục trước tấm gương học tập và nghiên cứu không ngừng nghỉ của ông.

Trong dịp này, Giáo sư Vũ Khiêu tặng Hoa hậu Kỳ Duyên câu đối:

“Trí như bạch tuyết, tâm như ngọc
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung”

Trong chuyến thăm nói trên, bức ảnh chụp GS Vũ Khiêu ôm và hôn lên má Hoa hậu Việt Nam 2014 gây nên nhiều tranh cãi trong dư luận và cộng đồng mạng.

Thật là xui cho cô hoa hậu miệt vườn, đầu năm đến thăm “Anh hùng” không những bị “Anh hùng” hôn gỡ gạc, còn  bị “Anh hùng” tặng thơ, trong thơ cô bị chê là “não rỗng!” Coi bộ năm Dê chẳng phải là năm hên của cô hoa hậu chạy tiền này!

Hai câu đối về vần điệu đã sai, mà cũng chẳng ra là câu đối. Câu đầu thì dùng chữ Hán Việt, câu sau lại dùng rặt chữ Hán, ý tứ 2 câu  chẳng có chút nào liên quan với nhau.

Câu thứ 2 “Vân tường y thường hoa tường dung” là câu ông học giả họ Vũ  “đạo” của Lý Bạch. Đây là câu thơ trong bài Thanh Bình Điệu, tả vẻ đẹp gợi dục của Dương Quý Phi sau 1 đêm ân ái với Đường Minh Hoàng!

Vân tường y thường, hoa tưởng dung” có nghĩa là “nhìn mây ngỡ xiêm y của nàng, nhìn hoa ngỡ dung nhan của nàng”! Ai đời 1 cụ già trăm tuổi lại đi tặng 1 cô gái đáng tuổi cháu chắt mình 1 câu thơ tình đắm đuối như vậy!”

o O o

hoaNhạc sĩ Tô Hải, tác giả Hồi ký “Thằng Hèn,” viết về nhân vật Vũ Khiêu:

Tôi bảo đảm rằng lão già này –  Vũ Khiêu  – là đồ đại bịp, lão được chúng nó “phóng” lên thành một “trí thức cộng sản anh hùng… bịp!” Lão không thể có bằng tú tài ở trường Bonnal Hải Phòng vì trường này thời thuộc Pháp không có cycle secondaire, trường không có quyền tổ chức thi tú tài. Tất cả những ai ở Hải Phòng muốn học trên primaire superieur  đều phải về Hà Nội học những trường ở Hà Nội, trong số người Hải Phòng về Hà Nội học đó có tôi. Hơn thế nữa, những năm 60 thế kỷ 20, chính lão Vũ Khiêu này đi học… tiếng Pháp buổi tối cùng lớp với bà xã (cũ) của tôi, những năm ấy lão hay đến nhà tôi tán tỉnh bà vợ diễn viên của tôi, nên tôi biết tỏng lão là cái loại người gì. Nói chung lão chỉ là 1 trong hàng vạn thằng giáo sư-tiến sỹ-anh hùng dỏm hiện đang phá hoại đất nước Việt này! Vạch mặt chúng có đến… hết Thế kỷ xxx cũng không hết!

Vũ Khiêu có một hành động rất ghê tởm mà chưa thấy bị tố cáo: Sau ngày 30 Tháng Tư 75 lão vào Sai Gòn, đến Thu Viện Quốc Gia nhân danh “quan chức Đảng,” đã “lấy cắp” một số sách cổ, quý của thư viện mang ra nhà lão ở Hà Nội làm của riêng. Đề nghị khám xét nhà Vũ Khiêu để thu hồi những quyển sách cổ quý là tài sản quốc gia này.

Nhà phê bình văn học Trần Mạnh Hảo trao đổi với BBC về bài viết trên mạng hôm 27/2/2015 trong đó ông lý giải hiện tượng Giáo sư Vũ Khiêu ‘bị ném đá’ trên truyền thông mạng Việt Nam đầu xuân Ất Mùi (2015).

Trong bài này, ông Hảo viết:

“Có thể vì chế độ nâng GS. Vũ Khiêu, một người không phải trí thức lên thành biểu tượng của trí thức, biểu tượng của văn hóa Việt Nam mà nhân dịp cụ ôm hôn gái trẻ kiểu trai lực điền và tặng cô gái một câu đối đểu nên đã bị dân mạng ném đá cho bõ tức vì họ bị lừa hết vụ này sang vụ khác chăng?

Tôi đã đọc hầu hết các cuốn sách của GS. Vũ Khiêu, tôi thấy trình độ của GS chưa thể gọi là trí thức.

Vũ Khiêu quả tình không thể gọi là nhà trí thức khi ông muốn lấy hoa mào gà làm quốc hoa. Ơ hay, bệnh mào gà là bệnh gì GS. chưa biết hay sao?”

GS.Vũ Khiêu đã lấy nguyên một câu thơ của  thi hào Lý Bạch trong bài thơ “Thanh Bình điệu”: “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” làm câu đối tặng gái. Đạo văn như thế sao có thể là nhà trí thức?”

Khi được hỏi liệu có hợp với đạo lý của người Việt Nam hay không, khi người trẻ tuổi hơn ‘phê phán, chỉ trích’ người lớn tuổi hơn, đặc biệt một vị cao niên đã một trăm tuổi như thế, nhà phê bình văn học nói:

“Vẫn phải tôn trọng? Ông gần một trăm tuổi mà ông ôm một cô gái đáng tuổi chắt của ông, mà ông ôm hôn cô ta theo kiểu lực điền như vậy thì ai chịu được?”.

Ông TM Hảo nói với phóng viên Đài BBC hôm 1 tháng 3, 2015:

“Một loạt các Giáo sư, hàng loạt các nhà trí thức thực sự và có đóng góp lớn cho đất nước, cho dân tộc thì đều bị thất sủng, còn các Giáo sư bần cố nông mà ít học thì lại được tôn vinh là nhà trí thức.”

Quý vị vừa đọc một số chuyện Ruồi Bu về nhân vật Vũ Khiêu, người được coi là “đại trí thức, đại văn hóa-văn học” của bọn Cộng Hà Nội. Hôm nay, một ngày Tháng Ba 2015, trận bão tuyết cuối cùng của năm 2015 đến trên Rừng Phong,  những cánh hoa anh đào đã nở bên sông Potomac, tôi viết bài này về Ruồi Bu Vũ Khiêu để nhắc đến Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather.

Tháng Sáu 1976 Tú và tôi đi dự cái khóa học mà bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng gọi là “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị ” cho bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn Việt Nam Cộng Hòa, bọn đầu hàng lơ láo và ngơ ngáo. Khóa học diễn ra trong 21 ngày. Tôi đã viết nhiều về “Khóa Bồi Dưỡng” này. Ngày bế mạc Khóa được tổ chức ở Nhà Hát Lớn Sài Gòn. Trong số những nhân vật được Ban Tổ Chức mời đến nói chuyện với các học viên có Huy Cận, Chế Lan Viên, Hoàng Trinh và Vũ Khiêu.

Vũ Khiêu nói chuyện từ 8 giờ sáng đến khoảng 10 giờ thì nghỉ 20 phút. Tú bảo tôi:

Thằng cha này hay chữ lỏng.”

Tôi thấy Tú hay quá. Tú bằng tuổi tôi, Tú học lem nhem như tôi, Tú từ Hà Nội vào Sài Gòn trước tôi. Tú nhanh trí, Tú sắc xảo nước đời hơn tôi. Chỉ nghe anh Vũ Khiêu nói  trong 30 phút, Tú thấy ngay anh này là học giả dzởm – anh là học giẻ – vốn học thức của anh nông cạn, hiểu biết của anh đựng không đầy cái lá mít; anh nói lang bang không đâu vào đâu. Anh đề cao tình nghĩa  và tính đoàn kết của người Việt. Anh kể chuyện:

“Một gia đình năm đời sống chung với nhau, sống êm, sồng đẹp, sống thân ái. Vua ban khen nhà này. Muốn thử xem những người trong nhà này chia nhau ra sao quà thưởng của Vua, Vua cho nhà này một trái lê.

Một trái lê Vua ban mà phải chia cho cả trăm người. Làm sao chia? Làm sao cho cả trăm người cùng được hưởng ơn Vua? Ông Trưởng Tộc nghĩ ra cách cho trái lê Vua ban vào nồi đồng ba mươi, nấu nước, cho mỗi người uống một chén. Vậy là cả trăm người được hưởng cái gọi là Ơn Vua.

Chuyện Trái Lê Vua Ban Nấu Nước Chia Nhau là chuyện của người Tầu, không cần biết là chuyện đời Tầu nào, đời Đường hay đời Mật, đời Tống hay đời Táng, học giẻ Ruồi Bu Vũ Khiêu kể đó là chuyện người Việt đời Trần.

Đã một lần tôi viết:

Nếu diễn giả Vũ Khiêu không biết chuyện Trái Lê Vua Ban là chuyện Tầu thì ông quá dzốt.

Nếu ông biết đó là chuyện Tầu mà ông cho rằng ông có nói đó là chuyện người Việt bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn đầu hàng ngơ ngáo không tên nào biết thì ông quá ngu.

Dòng thời gian dài một ánh bay,

Những ngày như lá, tháng như mây.

Sài Gòn Tháng Sáu năm 1976, Kỳ Hoa Tháng Ba năm 2015…129. 807.593.224.682 lít nước chẩy dưới cầu đoạn trường.

Tú ơi.. Nguyễn Ngọc Tú-Ngọc Thứ  Lang-Tú Lé; hôm nay tao nghe vẳng tiếng mày nói buổi sáng gần trưa năm xưa trong Nhà Hát Lớn:

Thằng cha này hay chữ lỏng.”

Mày hay quá là hay. Sao mày nhớ ra thành ngữ Bắc Kỳ “Hay Chữ Lỏng “– tiếng để gọi những anh dzốt hay nói chữ, hay tỏ ra mình là kẻ có học – để gọi học giẻ VC Vũ Khiêu đúng đến như thế!!!

NHẬT BÁO ÁNH SÁNG

Nhà Văn, Nhà Báo LƯ KHÊ, Chủ nhiệm Nhật báo Ánh Sáng. Nhà báo Việt Nam thứ nhất bị bắn chết ở Sài Gòn.

Nhà Văn, Nhà Báo LƯ KHÊ, Chủ nhiệm Nhật báo Ánh Sáng. Nhà báo Việt Nam thứ nhất bị bắn chết ở Sài Gòn.

Nhiều lần, trong những bài Viết ở Rừng Phong, tôi viết về ông Lư Khê:

“Buổi sáng, ba ông nhà báo Lư Khê, Nam Quốc Cang, Đinh Xuân Tiếu, ngồi cùng bàn uống cà phê trong một tiệm cà phê vỉa hè đường Frère Louis, bị kẻ vô danh cầm súng đến bắn. Ba ông chết tại chỗ.”

Tôi viết vụ ám sát ba ông nhà báo Sài Gòn xẩy ra khoảng năm 1948, 1949. Vụ ám sát bị cho chìm suồng: không tìm ra thủ phạm. Tôi viết:

“Tên sát nhân đến để bắn ông Nam Quốc Cang. Hai ông Lư Khê, Đinh Xuân Tiếu chết oan. Ông Nam Quốc Cang viết nhiều bài báo chống thực dân Pháp tái chiếm Việt Nam nên ông bị Surete Pháp bắn chết.”

Tôi đã viết sai về cái chết của ông Lư Khê.

Đầu năm 1952 Lê Minh Hoàng Thái Sơn bảo tôi:

“Tao mới gặp Thanh Sanh. Lúy nói báo Ánh Sáng cần một rì-pọt-tơ – ( Reporter: phóng viên ) – Mày đến thử xem. Nói tao giới thiệu.”

Anh Thanh Sanh năm ấy là Chủ Bút nhật báo Ánh Sáng.

Tôi đến, tôi được anh Thanh Sanh – xét  khả năng của tôi, anh đưa tôi dịch một bản tin chữ Pháp ra chữ Việt –  nhận ngay vào làm nhân viên tòa soạn. Những bước đầu trong đời phóng viên nhà báo của tôi được khởi đi từ tòa soạn nhật báo Ánh Sáng. Những năm 1950 nhật báo Ánh Sáng không phải là tờ báo có nhiều độc giả, nhưng  số báo bán được đủ cho tờ báo sống đàng hoàng. Tòa soạn nhật báo Ánh Sáng những năm 1950 ở đường Bonard – sau năm 1956 là đường Lê Lợi – từ chợ Bến Thành đi lên Nhà Hát Lớn, tòa soạn Ánh Sáng nằm ở bên trái, bên cạnh là một nhà in của chủ nhân Pháp, qua tiệm chụp ảnh Tân Mỹ là Restaurant Kim Hoa rồi rạp chiếu bóng Casino de Saigon. 60 năm sau ngày đó hôm nay nhớ lại, tôi thấy tôi đã gặp nhiều may mắn trong đời. Muốn và có mộng viết truyện, làm phóng viên nhà báo từ năm 10 tuổi. Năm 20 tuổi, tôi được viết truyện, được làm phóng viên nhật báo.

Tôi biết ông chủ nhiệm sáng lập nhật báo Ánh Sáng là ông Lư Khê, ông bị bắn chết trước năm 1950, nhưng tôi chỉ biết có thế về ông Lư Khê. Đầu năm 2015 khi tôi viết về Nhật báo Ánh Sáng, tôi tìm thấy những tài liệu về ông Lư Khê trên Wipikeda; Tôi trích:

Lư Khê (1916 – 1950), tên thật là Trương Văn Em (còn được gọi là Đệ), tên chữ là Tuấn Cảnh, bút hiệu là Bá Âm, Lư Khê; là nhà thơ, nhà báo Việt Nam thời tiền chiến.

Ông sinh ngày 20 tháng 1 năm 1916 tại làng Rạch Vược, xã Thuận Yên, tỉnh Hà Tiên, trong một gia đình lao động. Thân sinh là ông Trương Văn Huynh (ngư dân) và bà Trần Thị Chín.

Thuở nhỏ, Trương Văn Em học tiểu học ở Hà Tiên, học trung học ở Cần Thơ (Collège de Cần Thơ), đậu bằng Thành Chung năm1928 rồi lên Sài Gòn lập nghiệp.

Ở Sài Gòn, ông dạy học tại trường Huỳnh Khương Ninh, Đồng Nai…và cộng tác với các báo: Thế giới tân văn, Nữ lưu tuần báo, Văn nghệ, Tự do, Nay, Đông Tây, Gió mùa

Năm 1935, ông cùng với Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà (4 người  được mệnh danh là “Hà Tiên tứ tuyệt”), xuất bản tờ báo Sống, địa chỉ tòa soạn báo ở Hà Tiên, nhưng báo in và phát hành ở Sài Gòn.

Ông yêu nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh, hai người thành hôn ngày 11 tháng 11 năm 1937.

Sau năm 1945, ông làm Chủ bút báo Tân Việt. Từ năm 1947 đến năm 1950, ông làm Giám đốc kiêm Chủ nhiệm nhật báo Sự Thật và chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng. Lúc này, ông là người  “chủ trương thống nhất quốc gia, độc lập dân tộc, đồng thời đấu tranh chống thực dân Pháp.”

Ngày 3 tháng 7 năm 1950, ông bị một số kẻ lạ mặt; dư luận cho là những người thuộc nhóm chủ trương phân ly – Nam Kỳ Quốc – sát hại tại nhà riêng, cùng một ngày với nhà báo Nam Quốc Cang. Khi ấy, ông Lư Khê mới 34 tuổi.

Những văn phẩm của Lư Khê.

  • Douleur secrète(tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Luk, 1939),
  • Phút thoát trần(tập truyện ngắn và tùy bút, Nhà xuất bản Luk 1942)
  • Nhạc đêm(tập Thơ)
  • La Littérature Chinoise et ses ressources artistiques(tiểu luận)
  • Khảo về văn chương nước Nhật
  • L’ amour dans la poésie annamite(tiểu luận)
  • Jour perdu(tiểu thuyết)
  • Au fil de l’heure(thơ)

Và rất nhiều bài phóng sự, nghị luận chính trị, khảo luận văn thơ.

Theo Trương Minh Đạt, Lư Khê là học sinh Hà Tiên đầu tiên đậu bằng Thành Chung.

Nhà nghiên cứu văn học Trương Minh Đạt (em trai ông Lư Khê, gọi nữ sĩ Manh Manh là chị dâu), kể:

“…Chị (Manh Manh) cư xử với nhà chồng rất tốt, được bên nhà chồng yêu quí. Chị là thứ nữ của ông Huyện Trị, anh Lư Khê là con nhà nghèo ở Rạch Vược (Hà Tiên)…Song, chị không hợm mình, lúc nào chị cũng quí trọng chồng và gia đình chồng, chị quí trọng người nghèo rất thật tình, không phân biệt giai cấp. Chị thường viết báo, diễn thuyết bênh vực dân nghèo…Khi sinh bé Mi Nu, chị Kiêm bị mất khả năng sinh sản. Chị không còn sinh đẻ được nữa. Năm sau, bé Mi Nu (bị liệt từ lúc mới sinh) qua đời…, chị Kiêm buồn sầu. Để anh Lư Khê có con, chị tự ý  cho anh có vợ khác…Đầu năm 1945, trước ngày Nhật đảo chính Pháp, anh Lư Khê có người vợ thứ hai…Khoảng đầu năm 1950, chị Manh Manh sang sống bên Pháp. Sau nhiều năm sống cô đơn ở xứ người, chị Manh Manh qua đời trong một nhà dưỡng lão ở Paris vào ngày 26 tháng 1 năm 2005, thọ 91 tuổi.

Theo Trương Minh Đạt nhà báo Lư Khê là người “chủ trương quốc gia thống nhất – một nước Việt Nam gồm ba miền Nam Trung Bắc – Ông là tác giả loạt bài nổi tiếng ‘Đả đảo Bazin,’ và nhiều bài “lên án thực dân Pháp.”

Bazin là nhân viên Sureté Pháp nổi tiếng tàn ác với những người Việt Nam chống Pháp bị bắt giam những năm đó ở Bót Catinat.

o O o

Bà vợ ông Lư Khê.

Bà vợ ông Lư Khê.

MANH MANH

Nguyễn Thị Manh Manh (1914-2005) là một nữ sĩ Việt Nam thời tiền chiến.  Bà là người phụ nữ miền Nam đầu tiên làm thơ – Thơ Mới – đăng thơ trên báo, viết bài đề cao Thơ Mới,  diễn thuyết cổ vũ phong trào Thơ Mới tại Việt Nam[.

Nữ sĩ tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, sinh ngày 3 tháng 1 năm 1914 tại Sài Gòn, quê quán của bà ở Gò Công. Bà là con gái thứ của ông Tri huyện Nguyễn Đình Trị, tục danh Huyện Trị, ông Trị cũng là một cây bút trong làng báo lúc bấy giờ.

Bà học ở Trường Áo Tím, Gia Long (Sài Gòn). Sau khi tốt nghiệp bằng Thành Chung, bà gia nhập làng báo Sài Gòn. Với bút hiệu Nguyễn Thị Manh Manh, có khi ký tắt là Manh Manh, bà thường xuyên cộng tác với tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, và  viết cho nhiều tờ báo khác như: Công luận, Nữ lưu, Việt Nam.

Đầu năm 1932, nhà văn Phan Khôi đề xướng Phong trào Thơ Mới . Hưởng ứng, nữ sĩ Manh Manh  gửi những bài thơ mới của bà để đăng trên tờ Phụ nữ tân văn. Sau đó, nữ sĩ còn nhiều lần diễn thuyết cổ vũ cho phong trào này. GS.Phan Cự Đệ kể:

“Cuộc tấn công của “TMới” vào “TCũ” ngày càng quyết liệt. Tối ngày 26 tháng 7 năm 1933, Nguyễn Thị Kiêm (tức nữ sĩ Manh Manh, khi ấy mới 19 tuổi) diễn thuyết tại Hội Khuyến Học Sài Gòn về “Lối thơ mới”. Hội này thành lập đã 25 năm nay mới có một phụ nữ lên diễn đàn, đây cũng là buổi diễn thuyết có đông thính giả nhất. Hơn hai năm sau (tháng 11 năm1935), Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết một lần nữa tại Hội Khuyến học Sài Gòn. Lần này, bà và ông Nguyễn Văn Hạnh cùng diễn thuyết tranh luận về TMới.

Không chỉ đề cao và bảo vệ Thơ Mới, nữ sĩ Manh Manh còn là một chiến sĩ đòi giải phóng phụ nữ, đòi phụ nữ bình quyền với nam giới. TS. Phan Văn Hoàng viết:

“Chị đả kích các tập tục hủ bại như trọng nam khinh nữ, tảo hôn, đa thê…, bênh vực những quyền lợi chính đáng của nữ giới. Trong năm 1934, chị đã đi tới 4 thành phố (Huế, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng) để diễn thuyết với các đề tài: “Dư luận nam giới đối với phụ nữ tiên tiến”, “Một ngày của một người đàn bà tiên tiến”, “Có nên tự do kết hôn chăng?” “Nên bỏ chế độ đa thê hay không”? Ý tưởng của chị trong các buổi diễn thuyết đó đã tạo ra trong xã hội hai luồng dư luận trái chiều (tán thành và phản đối) phản ảnh qua báo chí trong Nam ngoài Bắc.

Năm 1936, nữ sĩ Manh Manh tích cực tham gia phong trào Đông Dương đại hội. Tuy mới 22 tuổi,  nữ sĩ là một trong hai phụ nữ được cử vào Ủy ban lâm thời tổ chức Đông Dương đại hội tại Sài Gòn, bên cạnh các nhân vật nổi tiếng thời đó như Nguyễn An Ninh, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm…

Ngày mồng 1 tháng Mười năm Bính Tý (tức 11 tháng 11 năm 1937), nữ sĩ thành hôn với ông Trương Văn Em, người Hà Tiên, một nhà giáo dạy Việt văn ở trường Trung học Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn, đồng thời là một nhà báo với bút hiệu Lư Khê.

Nữ sĩ Manh Manh qua đời trong một nhà dưỡng lão ở Paris vào ngày 26 tháng 1 năm 2005, bà  thọ 91 tuổi.

Nữ sĩ Manh Manh làm thơ rất ít, và không xuất bản tập thơ nào.

Sự cổ vũ nồng nhiệt của nữ sĩ Manh Manh về “Thơ Mới”, được Hoài Thanh-Hoài Chân ghi lại trong văn phẩm  Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1941), như sau:

“Từ hai tháng trước, hôm 26 juillet (tháng 7) 1933, một nữ sĩ có tài và có can đảm, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn Hội Khuyến Học Sài Gòn diễn thuyết về Thơ Mới. Hội Khuyến Học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm. Đây là lần thứ nhất một vị nữ lưu lên diễn đàn của Hội đây cũng là lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người đến nghe.”

Ghi nhận công lao của nữ sĩ Manh Manh, trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển thượng) có đoạn:

“Trong hồi dậy men của nền thơ mới, nữ sĩ Manh Manh là người đàn bà đầu tiên đáp ứng tiếng gọi đàn của nhà tiên phong Phan Khôi…Chúng ta ngày nay nhìn lại việc qua, giữa cái cũ kỹ từ nghìn đời sừng sững như tòa cổ thành kiên cố; thế mà, bỗng chốc, một Phan Khôi táo bạo nổ phát súng cách mạng thi ca; người nữ chiến sĩ tiền phong anh dũng và hăng say hoạt động để bảo vệ và củng cố nền tảng TMới bén rễ và sống mạnh, ta phải kể Nguyễn Thị Manh Manh, một người  đã đóng góp công lao không nhỏ cho nền văn học đất nước.

CTHĐ: Tôi xúc động khi đọc những dòng tiểu sử ông Lư Khê. Tôi vào làng báo Việt Nam bằng cửa nhật báo Ánh Sáng, tờ báo do ông sáng lập, mà trong bao nhiêu năm tôi không biết ông Lư Khê là một nhà văn viết nhiều tác phẩm biên khảo văn thơ bằng văn Pháp, một việc mà tôi thấy dường như chưa có ông chủ báo Sài Gòn nào làm được. Năm 1952 khi tôi được anh chủ bút Thanh Sanh nhận vào làm phóng viên, tôi được biết ông chủ nhiệm Lư Khê bị sát hại, chính quyền Sài Gòn thời ấy cho bà vợ ông Lư Khê thay ông làm chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng, tờ báo tiếp tục xuất bản. Bà vợ ông Lư Khê mời anh Thanh Sanh làm chủ bút nhật báo Ánh Sáng.

Năm 1952 phòng ngoài tòa soạn Ánh Sáng một bên là Ty Trị Sự-Quản Lý, một bên là bàn làm việc của nhân viên, ký giả, phóng viên. Phòng trong có bàn làm việc của anh Thanh Sanh, bàn làm việc của anh Hải Âu. Giữa phòng kê bàn giấy của bà Chủ nhiệm. Mỗi tháng bà chủ nhiệm đến tòa soạn hai, ba lần, bà đến xem sổ sách của Ty Quản Lý, ký giấy tờ. Năm 1952 tôi thấy bà trạc 40, 45 tuổi, trang phục lịch sự, bà khá đẹp. Bà tên là Nguyễn Ngọc Diêu. Những năm 1965 tôi nghe tin bà kết hôn với ông Hoàng Hồ, một nhân vật chính trị ở Pháp về.

Như vậy, theo tôi biết, bà vợ góa của ông Lư Khê, người kế tiếp ông làm chủ nhật báo Ánh Sáng,  không phải là bà thi sĩ Manh Manh.

Nhật báo Ánh Sáng do anh Thanh Sanh làm chủ bút sống đến ngày chính phủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành Luật:

– Nhật báo phải đóng tiền ký quỹ 20 triệu đồng.

– Tuần báo phải đóng tiền ký quỹ 10 triệu đồng.

Nhật báo Ánh Sáng chết vì báo không có 20 triệu đồng.

Nhà báo Nam Quốc Cang là ký giả thứ hai bị bắn chết ở Sài Gòn.

Wipikedia ghi về Nhà Báo Nam Quốc Cang:

Nam Quốc Cang (1917-1950) tên thật Nguyễn Văn Sinh, là nhà báo Việt Nam. Ông lấy tên ba ông nhà báo nổi tiếng là các ông Nguyễn Kỳ Nam, Trần Tấn Quốc, Lê Trung Cang làm thành bút hiệu Nam Quốc Cang.

Ông quê ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vào Sài Gòn năm 1940. Năm 1945, ông viết bài cho nhật báo Tin điển. Ông chủ trương chống thực dân Pháp, đặc biệt phụ trách mục Trớ trêu và được độc giả yêu thích. Dưới bút danh Nguyễn Thạch Sơn, trong bài Sài Gòn hoạt cảnh, ông chế giễu những hoạt động của Thủ Tướng Nam Kỳ Quốc Nguyễn Văn Thinh. Sau báo Tin điển, ông giữ chức chủ bút những báo  Thời cuộcCông chúngChống xâm lăng rồi cuối cùng làm quản lý cho tờ Dân Quý.

Ngày 6 tháng 5 năm 1950, nhà báo Nam Quốc Cang cùng với nhà báo Đinh Xuân Tiếu bị ?ám sát trước tòa soạn báo Dân Quý ở góc đường D’Arras-Frère Louis (nay là đường Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi). Ông mất khi mới 33 tuổi. Cái chết của hai nhà báo đã gây chấn động giới báo chí và công chúng Sài Gòn. Đám tang của ông được tổ chức vào ngày 9 tháng 5, 1950, hàng vạn dân chúng Sài Gòn đến đưa tiễn ông.

Trong buổi nói chuyện về Thơ Mới ở Hội Khuyến Học Sài Gòn ngày 26 tháng 7, năm 1933, Thi sĩ Manh Manh đọc bài Thơ Mới của bà:

Canh tàn

Em ơi, em lắng nghe
Gió đêm thoảng ngoài cửa
Lụn tàn một góc lửa
Lạnh ngắt chốn buồng the.

Gió đêm thoáng qua cửa
Não dạ dế tỉ tê
Lạnh ngắt chốn buồng the
Em ơi, khêu chút lửa

Não dạ dế tỉ tê
Gió ru tha thiết chi nữa
Em ơi, khêu chút lửa
Rồi lại ngồi đây nghe

Gió ru tha thiết chi nữa
Sụt sùi mấy cành tre
Em ngồi đây có nghe
Tơ lòng chị đứt nửa.  

SÀI GÒN VÀNG HOA

saigon1

Xin đọc bài ÁO VÀNG HOA 2007

Năm 1975, năm 1976, 1977, rồi những năm 2000, 2010… — Vèo…, như những cánh lá thu  bay trong Thơ Tản Ðà, ba mươi mùa thu vàng đã qua trên những lối mòn mờ dấu chân xưa…

Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi !

Thi sĩ Tản Ðà có mộng công danh, mộng của ông không thành nên ông than: “Công danh phù thế có ngần ấy thôi..” Tôi không có mộng công danh — công danh đây nói theo nghĩa đen, không những chỉ đen thường mà là đen sì, đen sịt, công danh theo nghĩa hẹp, không những chỉ hẹp vừa mà là hẹp khít; mộng công danh đen và hẹp này là mộng thi đỗ, trước 1945 ra làm quan, làm tri huyện, tri phủ, tổng đốc, thượng thư; sau 1945 làm tỉnh trưởng, bộ trưởng, đại sứ, tổng thống vv — Tôi không có mộng công danh ngay từ khi tôi oe.. oe mấy tiếng vào đời. Những năm tôi 10 tuổi, tôi rất khó chịu khi có ai gọi đuà tôi là “Ông Huyện Hải.” Tôi không có mộng công danh trong kiếp này, kiếp trước, kiếp sau. Trong ba kiếp của tôi tôi chỉ muốn làm người viết tiểu thuyết, thứ tiểu thuyết Tình giải trí cho những người đàn bà đa tình, chung tình và đẹp. Vì vậy khi cảm khái vì thời gian qua mau, tôi than:

Vèo trông lá rụng đầy sân
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi !

Khi người khác già đi, người khác nuối tiếc hoa niên, người khác sầu buồn, não nùng, than thở, tôi cho là chuyện tự nhiên chẳng có gì đáng théc méc. Sống lâu thì phải già đi, muốn trẻ mãi sao, sầu buồn, than thở vì già đi là vô lý. Nhưng khi chính tôi già đi, tôi mất xuân thì, tôi buồn, tôi khổ đau ghê gớm. Tôi thấy việc tôi già đi là thậm vô lý, là không thể chấp nhận được. Ai cũng có thể già đi nhưng tôi thì không thể nào già đi được, hoặc ít nhất tôi cũng không thể nào già đi nhanh đến như thế. Mới buổi sáng nào đây tôi mười tuổi, tôi ngồi xe tay Omic nhà đến trường Tự Ðức trong thị xã Hà Ðông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà, có đường xe điện dài nhất Ðông Dương nối liền thị xã Hà Ðông với thành phố Hà Nội; mới những buổi chiều nào đây tôi đi học ở trường Phan Chu Trinh, Hà Nội, sáng tôi đi, chiều tôi về Hà Ðông bằng xe điện, đoạn đường xe đẹp nhất là đoan từ trạm Thanh Xuân vào thị trấn. Tôi nhớ bên đường có làng Phùng Khoang với tòa nhà thờ cổ và đẹp. Ðó là chuyện xẩy ra năm 1946 mà tôi tưởng như mới xẩy ra tháng trước. Rồi buổi sáng mùa thu trời trong vắt chú thiếu niên đi kháng chiến là tôi lòng mở hội đi trên đường Thái Nguyên vào Việt Bắc; qua cầu treo Ðại Từ, lên đến Rừng Khế, Tuyên Quang, mới buổi chiều cuối năm lành lạnh nào đây tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tôi đứng bên sạp báo trước Nhà Hàng Kim Hoa đường Bonard chờ người thiếu nữ tôi yêu ra mua báo.

saigon2

Nàng là người yêu thứ nhất của tôi, thành phố Sài Gòn ngày ấy, năm ấy mới có xe taxi. Tôi đón nàng ở cửa Tây Chợ Bến Thành, tôi đưa nàng đi chơi bằng xe taxi, đưa nàng vào chơi Sở Thú. Buổi chiều nắng vàng nàng ngồi trên thảm cỏ chụp hình. Mới ngày nào đây tôi ba mươi tuổi, tôi làm trong tòa soạn Nhật báo Sàigònmới, tôi viết tiểu thuyết phóng tác trên báo Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, Kịch Ảnh, Ðiện Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai, tôi sống, tôi viết truyện, tôi yêu, tôi được yêu, tôi ăn chơi vi vút giữa lòng thành phố Sài Gòn…Mới những đêm trăng nào đây tôi phóng xe Hillman mui trần chở người yêu lên xa lộ…

– Có phải Em là mùa thu Hà Nội
Tuổi hoa niên anh lót lá Em nằm..?

Lời một bài ca Tình tôi nghe được ở Sài Gòn những năm 1981, 1982, những người Sài Gòn hát cho nhau nghe. Tác giả bài ca tả cảnh ông  yêu ở Hà Nội, ông lót lá thu vàng cho người yêu của ông nằm ở thảm cỏ bên Hồ Tây, trên bờ đê Yên Phụ hay ở Rặng Ổi sau Nhà Bảo Tàng Louis Finot. Tôi yêu ở Sài Gòn. Tôi trải cái áo mưa xanh Không Quân Mỹ cho người yêu tôi nằm dưới rặng dừa ven xa lộ.

Những ngày hồng, những đêm xanh ấy tưởng như mới là những ngày hôm qua, những đêm hôm kia…

Có phải Em trăng mùa thu xa lộ
Tuổi hoa niên Anh lót áo Em nằm..?

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 157 other followers