• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

BA BÓ, TÁM BÓ

Buổi sáng đầu năm ở quê người, trước khung hình computer,  tôi buồn vời vợi. Buồn và tuyệt vọng. Cuộc sống không còn có gì cho tôi vui. Mùa đông Virginia, tuyết làm duyên, vườn đất Virginia mùa đông cũng có tuyết, nhưng tuyết làm cảnh, tuyết thoáng qua, như  không lẽ Virginia Mùa Đông lại không có tuyết.

Trong phòng ấm, ly cà phê nóng, màn ảnh TiVi trình diễn những khuôn mặt phụ nữ Mỹ trẻ, duyên, hấp dẫn, những chuyên viên xướng ngôn TiVi tiếng Mỹ được gọi là những anchor; người đàn bà sống với tôi trong 60 năm ngồi với ly cà phê bên tôi.

Lúc 5 giờ sáng, trong căn phòng Housing for Seniors Low Income  – tôi trở dậy. Tôi pha ly cà phê cho tôi, tôi làm sẵn ly cà phê đợi vợ tôi dậy là pha nước sôi. Chúng tôi bắt đầu một ngày sống bên nhau. Có nàng sống chung,  tim tôi vẫn nặng. Tim tôi nặng vì tôi biết tôi không còn được sống với nàng bao lâu nữa. Chúng tôi có thể vĩnh biệt nhau bất cứ lúc nào. Một sáng nào đó trong căn phòng người lưu vong già đầy ắp kỷ niệm, nàng không dậy nữa.

Nàng không dậy nữa…!

Thế là xong. Tôi biết cảnh đó sẽ đến, sắp đến, nó có thể đến với tôi trong bất kỳ buổi sáng nào, nhưng tôi không thể tưởng khi nàng không trở dậy, đứng bên giường nàng tôi sẽ nghĩ gì, tôi sẽ làm gì. Tôi sợ tôi phải sống không có nàng. Tôi không thể sống không có nàng.

Tôi nhớ lại những buổi sáng năm xưa tôi trở dậy trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi rừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng. Tôi bị bắt giam hai lần. Lần thứ nhất tù trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, hai năm, lần thứ hai tù sáu năm, trong số có 4 năm tù trong Nhà Tù Chí Hòa.

Tôi nhớ những buổi sáng tôi  ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài lọt vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách –  ca nước lạnh để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá, tù không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng trong sà-lim ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.

Buổi sáng hôm nay, tôi vào kho Ký Ức, tìm lại hình ảnh những người bạn tôi đã từ bỏ cõi đời này kể từ Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tháng tận, năm cùng, Tết đến. Viết về những Người Bạn Đã Chết – theo tôi – là đúng Sách Vở. Tôi núp sau câu “Sinh Dữ, Tử Lành.” Ông cha tôi nói theo kinh nghiệm:

Di ảnh Nhà Văn Nguyễn Đức Quỳnh.

Di ảnh Nhà Văn Nguyễn Đức Quỳnh.

“Nói chuyện Sinh Đẻ là không nên, nói chuyện Chết là tốt.”

Tại sao ông cha tôi lại quả quyết như thế? Tôi không biết.

Người bạn nào của tôi ra đi trước nhất sau Tháng Tư 1975? Tôi nhớ có thể không đúng. Đành nhớ ai viết về người ấy, đành nhớ chuyện gì viết về chuyện ấy.

“Tuổi phong sương anh vẫn gắng quay về..”

Anh Già Tám Bó vất vả gượng nhớ, gượng kể những chuyện xẩy ra từ 40, 50 năm xưa. Những chuyện xưa quá rồi, làm sao anh kề đúng chăm phần chăm? Nếu có kể sai, xin bỏ qua. Cám ơn.

Trước năm 1975 tôi đưa tiễn hai người đến nơi an nghỉ cuối cùng: anh Nguyễn Đức Quỳnh, và anh Từ Chung. Nhà Văn Nguyễn Đức Quỳnh là đàn anh tôi. Tôi không được thân với anh. Nên khi đưa anh đến nơi anh an nghỉ ngàn đời, tôi không có gì đáng gọi là xúc động, Đám tang anh có đông văn nghệ sĩ đi đưa.

Những năm 1968, 1969 – Tết Mậu Thân – tôi sống trong căn nhà nhỏ cạnh nhà Duy Sinh – Nhà  Số 19 hay nhà Số 21 đường Hồ Biểu Chánh – có lần anh Quỳnh đến ở chơi nhà Duy Sinh, con anh. Duy Sinh thường gọi tôi sang ăn cơm với anh. Một lần anh Quỳnh bảo tôi:

“Tôi nghe tiếng máy đánh chữ của anh; biết anh đang viết, tôi rất thích.”

Tôi bằng tuổi Duy Sinh, tôi mày tao với Duy Sinh. Lẽ ra tôi phải gọi anh Quỳnh là bác, nhưng anh vẫn  cho tôi gọi anh là anh. Ngôn ngữ trong giới văn nghệ là như thế. Mày tao với anh con, anh tôi với ông bố bạn.

Duy Sinh kẹt lại ở Sài Gòn, anh và gia đình vượt biên sang Mỹ khoảng năm 1978. Nghe nói những năm đầu Duy Sinh nổi tiếng với danh vị chủ báo. Năm 1995 tôi đến Cali, gặp lại nhiều anh em, nhưng tôi không gặp lại Duy Sinh. Từ mấy năm nay tôi nghe nói Duy Sinh yếu, lãng trí, hay mặc áo thun, quần cụt đi ra đường.

Qua Duy Sinh tôi được quen với Lê Trọng Nguyễn. Từ năm 1980 đến năm 1984 là năm Lê Trọng Nguyễn và vợ con anh sang Mỹ. Nguyễn và tôi rất thân nhau. Gần như chiều nào chúng tôi cũng gặp nhau. Chúng tôi thường trên hai xe đạp, đến ngồi uống rượu ở quán rượu nghèo ven đường xe lửa Cổng Số 6. Quán rượu này có thể được gọi là quán rượu nghèo nhất thế giới.  Rựơu đế 1 đồng một ly, nhâm nhi với lạc rang 1 đồng một gói. Mỗi chiếu-tối ngồi quán nghèo như thế chúng tôi chi khoảng 10 đồng: 4 ly rượu, 4 gói lạc rang.

Tôi có mấy câu thơ tặng Nguyễn:

“Xót mày dạ trúc, lòng tơ
Họa cung đàn mọi bây giờ hẳn đau.
Tóc chia hai thứ trên đầu.
Thương thì đã muộn mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo. “

Vợ Nguyễn được gia đình bảo lãnh sang Mỹ, Nguyễn đi theo vợ con. Năm 1995 khi vợ chồng tôi đến Cali, Nguyễn chỉ phone nói chuyện với tôi, tôi không được gặp lại Nguyễn ở Mỹ.

Từ Chung từng là bạn mày tao với tôi từ thời nhật báo Ngôn Luận. Ngôn Luận bị đóng cửa,  Nhật báo Chính Luận ra đời, Từ Chung và tôi xa nhau. Đời anh lên hương, lên dốc, đời tôi xuống dốc không phanh. Từ Chung có Chính Luận, tôi mấtSa2igoonmoi. Trong đám người đưa tiễn Từ Chung, tôi thấy tôi là người xa lạ, người khách không được trọng, người bạn bị bỏ quên.

Chính Luận là tờ báo duy nhất kể từ ngày Việt Nam có nhật báo cung cấp dịch vụ y tế cho nhân viên. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm được mời làm y sĩ điều trị cho nhân viên báo Chính Luận. Nhân viên Chính Luận đau ốm được đến phòng mạch của BS Phiếm, khám chữa bệnh miễn phí. Nhà báo đài thọ chi phí thuốc men cho nhân viên. Nhà báo vẫn tháng tháng trả lương Cố Thư Ký Tòa Soạn Từ Chung cho bà vợ của Từ Chung. Trả lương đều cho đến ngày bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn. Trong lịch sủ nhật báo Việt Nam chỉ có nhật báo Chính Luận trả lương tháng cho vị Thư Ký Sáng Lập đã chết.

Cảm giác bị đời bỏ quên năm xưa ấy trở lại với tôi trong buổi ký giả Phạm Trần tổ chức buổi gặp lại anh Huyền Vũ. Trước ngày Nhật báo Sàigonmới bị bóp cổ chết – Tháng Tư 1964 – ký giả Huyền Vũ là biệp tập viên mục Thể Thao Nhật báo Sàigònmới. Mỗi tuần ít nhất là hai, ba buổi sáng tôi được gặp anh Huyền Vũ ở tòa soạn báo. Anh đến tòa báo viết tin. Anh đi khỏi Sài Gòn trước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Sang Mỹ anh sống ở Ocean City, một thị trấn ven biển cách Washington DC khoảng ba giờ chạy xe. Ngày tôi mới đến anh gọi điện thoại hỏi thăm tôi.

Ngày tháng qua mau. Trong buổi gặp lại anh, tôi tưởng trong số người được ban tổ chức mời kể vài kỷ niệm xưa với anh Huyền Vũ thể nào cũng có tôi. Tôi là người duy nhất trong số người đến gập anh lần cuối ấy từng làm việc với anh trong một tòa báo. Nhưng tôi đã bị bỏ quên. Người ta mời nhiều người kể kỷ niệm với anh Huyền Vũ, người ta không mời tôi. Hôm ấy tôi đến gần anh Huyền Vũ, cúi xuống bên anh, nói nhỏ:

“Anh Huyền Vũ, tôi là Hoàng Hải Thủy. Anh nhớ tôi không?”

Anh nói bốn tiếng:

“Làm sao quên được.”

Anh ra đi vài tháng sau đó.

Dương Hà, tác giả Bên Dòng Sông Trẹm, Thủ Đức năm 2005. Dương Hà nay sống bình yên ở Thủ Đức.

Dương Hà, tác giả Bên Dòng Sông Trẹm, Thủ Đức năm 2005. Dương Hà nay sống bình yên ở Thủ Đức.

Một trong những người bạn đồng nghiệp của tôi ra đi sớm nhất sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 là Trọng Nguyên. Anh cùng làm việc với tôi nhiều năm trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới. chúng tôi trạc tuổi nhau. Khoảng năm 1976 gặp lại nhau, Trọng Nguyên cho tôi biết anh bị ung thư phổi. Tôi đến Bệnh Viện Hồng Bàng thăm anh. Rồi tôi đến Bệnh Viện Bình Dân thăm anh khi anh  đến đấy chờ giải phẫu. Lần thứ nhất tôi vào Khu Ung Thư Bệnh Viện Bình Dân thăm Trọng Nguyên. Khi ấy tôi đã sống 24 tháng trong phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, tôi thấy Khu Ung Thư, ở trên lầu Bệnh Viện Bình Dân, không khí ghê rợn hơn ở những phòng giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Ở phòng giam tù có mùi hơi người, mùi lông tóc, mùi mồ hôi, mùi cống, ở phòng Ung Thư Bệnh Viện có đủ những thứ mùi vừa kể, thêm mùi máu, mùi mủ, những người bệnh đàn ông ở trần, khoác cái khăn trước bụng.

Buổi tối, tôi đến Tang Nghi Quán Quảng Đông chào vĩnh biệt Trọng Nguyên. Linh cữu Trong Nguyên quàn ở đấy. chị Trọng Nguyên kể:

“Buổi sáng nhà tôi bảo tôi mở tủ, lấy ra cái máy chữ và mấy quyển tiểu thuyết của anh, anh ngồi yên nhìn ngắm. Anh đi lúc bẩy giờ tối.”

Năm 1980 ở tù hai năm trở về, tôi được tin Minh Đăng Khánh bị liệt. Nghe kể anh hút điếu thuốc lào, bị sốc, ngã xuống, tỉnh lại, bị liệt nửa người bên trái. Anh ngã xuống là không tự đứng lên được,  anh vẫn lết chân trái đi lại được, nhưng đi rất chậm và vất vả. Anh vẫn dậy vẽ ở nhà. Anh nói ngọng nhưng còn nói được:

“Tao vào tiệm phở, người ta cho tiền tao. Tao nói: “Cám ơn.. Tôi không phải là ăn mày.”

Đưa đám Minh Đăng Khánh, tôi đứng bên anh Thiếu Lang. Anh hỏi tôi:

“Cậu có biết Hoàng Hải Thủy bây giờ ra sao không?”

Biết anh tưởng lầm, tôi hỏi lại anh:

“Anh thấy tôi là ai?”

Anh trả lời:

“Cậu là Hoàng Anh Tuấn chứ ai!”

Mạc Tử, kém Trọng Nguyên và tôi hai, ba tuổi,  làm phóng viên báo Sàigònmới cùng thời với chúng tôi. Tháng Tư 1964 Sàigònmới bị Nguyễn Khánh, Đỗ Mâu đóng cửa. Anh em chúng tôi tản lạc. Mạc Tử đi quân dịch. Tôi nghe kể trong một cuộc hành quân, người lính Mạc Tử bị tên VC bắn sẻ bắn trúng tim. Mạc Tử chết ngay. Mạc Tử không vợ, không con

Anh bạn bị bại liệt thứ hai của tôi là Văn Minh, chủ nhiệm Tuần Báo Con Ong. Xước danh của anh là Minh Vồ, dù cả đời anh chẳng vồ cái gì của ai. Minh bị nằm liệt khoảng ba năm trước khi hết nợ đời.

Trong đám tang Văn Minh, chị Minh bảo tôi nói lời vĩnh biệt anh. Đứng bên quan tài Minh, tôi nói:

“Minh ơi.. Khi người ta đi ra khỏi cõi đời này, người ta đi lên, hay người ta đi xuống. Khi chúng ta đi ra khỏi cõi đời này, chúng ta đi ngang. Minh sang bên ấy trước, chúng tôi sang sau.”

o O o

Chú Tư Cầu Lê Xuyên bị bại liệt khoảng năm 2000. Chú là người viết tiểu thuyết duy nhất kiếm được tiền đủ sống cho riêng chú trong kìm kẹp cộng sản. Sau 30 Tháng Tư 1975 chú bị bắt tù cùng một số ký giả Sài Gòn. Được thả ra khoảng một năm sau, chú bắt tay ngày vào việc đi xe đạp sáng sớm lấy bánh tiêu, bánh bò trong lò bánh của người Tầu ở Chợ Lớn, đạp xe đem đi giao khắp thành phố,  buổi chiếu chú đạp xe đi thu tiền. Rồi chú làm chủ tủ bán thuốc lá lẻ vỉa hè. Chú ngồi sau tủ thuốc từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Chú kiếm tiền tuy không nuôi được vọ con chú nhưng nuôi được thân chú.

Khoảng năm 1981, hay 1982, vợ tôi không ăn được cơm. Khoảng 8 giờ tối, tôi thường xách cái gà-men ra xe hủ tíu ở vỉa hè Ngã Ba Ông Tạ mua cho vợ tôi 10 đồng hủ tíu. Một tối trời mưa lất phất, đang đứng chờ lấy hủ tíu, tôi nghe tiếng người:

“Có tiền cho tôi..”

Tôi nhận ra ngay người xin tiền tôi là Bình Đô. Anh là một trong những người sống bằng việc viết truyện ngắn bán cho tuần bào Phụ Nữ Ngày Mai trong những năm tuần báo này bán chạy nhất. Bình Đô trạc tuổi tôi. Kể từ ngày nhật báo SGM bị đóng cửa Tháng Tư năm 1964 đến tối nay tôi mới gặp lại Bình Đô. Tôi hỏi anh:

Hoàng Hải Thủy, phóng viên nhật báo Saigonmới, ở phi trường Qui Nhơn năm 1960.

Hoàng Hải Thủy, phóng viên nhật báo Saigonmới, ở phi trường Qui Nhơn năm 1960.

“Ở đâu?”

Anh trả lời:

“Ở vỉa.”

“Ở vỉa” là đêm ngủ trên vỉa hè.

Phụ Nữ Ngày Mai là tuần báo của anh Sáu Khiết, anh con thứ sáu của bà Bút Trà. Sáu Khiết có cái tốt – tôi thấy  anh là người chủ báo tốt nhất trong đời viết, bán truyện tiểu thuyết của tôi: anh mua truyện ngắn, ký bông trả tiền ngay nhưng không đăng ngay, mua để dành. Truyện ngắn mua xong anh đưa cho Dương Hà giữ. Mỗi truyện ngắn được trả 500 đồng.

Nhiều lần ký bông trả tiền xong, Sáu Khiết bảo tôi:

“Anh đưa truyện cho Dương Hà dùm tôi.”

Dương Hà là người được giao việc nhận và sắp xếp những truyện đăng trên tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai.

Tôi giữ truyện, đổi tên truyện, khoảng hai, ba tuầu sau tôi lại đem truyện ấy, với tên truyện mới, bán cho Sáu Khiết, anh dễ dàng ký bông trả tiền.

Dương Hà giữ truyện của chúng tôi nhiều đến nỗi nhiều lần anh bảo:

“Truyên của chúng mày tao giữ nhiều quá. Chúng mày đến tao, tao đưa lại cho.”

Dương Hà sống nhiều năm trong một phòng cho mướn trên lầu một tòa nhà nhiều phòng ở đầu đường Hàm Nghi. Từ nhà này anh chỉ đi trăm bước là tới tòa báo SàiGònMới. Dương Hà sống với vợ ở nhà ấy trong nhiều năm. Rồi chắc nhờ công thu vén của vợ anh là Kim Lệ, vợ chồng anh có căn nhà mặt tiền đường Cao Thắng, trước cửa rạp xi-nê Cao Đồng Hưng. Khoảng năm 1980 Kim Lệ sang sống bên Pháp. Dương Hà và các con sống trong căn nhà Cao Thắng này. Tôi nghe nói khoảng năm 1995 Dương Hà bán căn nhà này, chia tiền cho các con, anh gửi số tiền của anh vào ngân hàng, tháng tháng lấy tiền lời để sống. Anh sống yên bình ở vùng Thủ Đức, sáng, trưa, chiều, tối anh ngồi quán, quanh năm anh uống bia, ăn hột vịt lộn, tôm chiên, không ăn cơm.

Dưng Hà thành công, nổi tiếng ngay với tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm, tiểu thuyết phơi-ơ-tông đầu tay của anh. Bên Dòng Sông Trẹm đăng khoảng năm 1950 trên báo Sàigònmới. Từ đó anh viết truyện đều cho SGM đến khi báo bị đóng cửa.

Tôi gặp, quen Văn Quang khoảng năm 1955, 1956, khi anh là Trung Úy. Ngày chúng tôi mất nước, Văn Quang là Trung Tá. Anh – có thể – là vị sĩ quan Quân Đội VNCH duy nhất không đi Hát Ô sang Mỹ. Ở lại Sài Gòn, vào khoảng năm 2000 Văn Quang viết loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” gửi sang đăng ở những tờ báo Việt ngữ hải ngoại. Nhờ Internet, anh dễ dang gửi bài viết ra nước ngoài, rõ hơn là sang Mỹ, Canada, Úc. Văn Quang là văn sĩ Sài Gòn trước 1975 thứ nhất viết và gửi tác phẩm  ra nước ngoài. Văn Quang sống được với công việc ấy. Anh là nhà văn Việt Nam Cộng Hòa kiếm được nhiều đô-la Mỹ nhất với việc Viết ở Sài Gòn Cờ Đỏ.

Tạ Quang Khôi cùng viết với tôi trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Số 1, tuần báo ra đời năm 1956. Trên Văn Nghệ Tiền Phong Tạ Quang Khôi viết tiểu thuyết “Mưa Gió Miền Nam,” tôi viết “Vũ Nữ Sài Gòn.”

Nửa thế kỷ trôi qua, nay Tạ Quang Khôi tuổi đời Tám Bó Tám Que. 88 tuổi. Dòng đời đưa đẩy, nay Khôi và tôi cùng sống trong một nhà dành cho người già thu nhập thấp. Anh ở Lầu Ba, tôi ở Lầu Hai. Một mình trong phòng vắng, từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, Tạ Quang Khôi ngồi trước computer, moi móc tìm, rị mọ viết, gửi và nhận e-mail.

Nghe tôi nói tôi sợ tôi không sống được nếu cuộc đời này không còn vơ tôi, TQ Khôi nói:

“Mày tưởng chỉ có mình mày yêu vợ ư? Sau ngày mất nước, vợ tao chết, tao quyết định chết theo. Đêm khuya tao sắp uống thuốc để sáng mai không dậy nữa, tao nghe tiếng con tao:

“Bố ơi… Con khát nước..”

Tiếng thằng con út của tao Năm đó nó mới bẩy, tám tuổi. Tỉnh lại, tao vứt thuốc. Sáu tháng sau tao đưa các con tao vượt biên đi thoát.”

Đây là bài Thơ Cuối Đời của Tạ Quang Khôi:

Buổi tối vào giường chỉ ước mong
Sáng mai không dậy nữa là xong.
Cuộc đời lắm nỗi buồn tê tái,
Tha thiết chi cho nát cõi lòng.

Bao giờ tôi chết, xin đừng khóc
Để níu chân tôi vướng cõi trần.
Xin hãy cười vui giờ vĩnh biệt,
Mừng tôi đã thoát nợ gian truân.

Cảm khái cách gì.

Những ngày như lá, tháng như mây…! Sài Gòn 1960, Sài Gòn Ðẹp Lắm Sài Gòn ơi.., Virginia is for American Lovers, Xứ Tình Nhân Mỹ, Kỳ Hoa Ðất Trích.. Chiều  5 giờ trời đã tối… Thấm thoắt dzậy mà đã 50 muà lá rụng đi qua đời tôi kể từ ngày tôi bước chân ra khỏi tòa soạn Nhật báo Sàigònmới lần cuối cùng trong đời tôi.

Chiều nay, trong 234 sát-na tôi trở về đứng trên hành lang trên lầu toà soạn nhật báo Sàigònmới, nhìn trời Sài Gòn chiều chuyển mưa xanh sám trên chợ Bến Thành, tôi nghĩ:

– Trong một chiều trời đất buồn như thế này, Từ Hải dừng bước giang hồ để trở về với Kiều!

Tôi trở lại là tôi năm tôi ba mươi tuổi.

Năm nay tuổi đời qua giới hạn Bát Thập – nôm na là Tám Bó Lẻ Bốn Que – ở xứ người, một xứ cách nước tôi hai biển lớn, trong vài sát-na, tôi trở lại là tôi năm tuổi đời tôi Ba Bó.

Trong trí nhớ của tôi nay vẫn còn nguyên hình ảnh chàng phóng viên lãng tử nhật báo Sàigònmới năm xưa – năm 1960 – chàng phóng viên ăn dziện đúng mode Italie: sơ-mi hai túi ngực, hai cây bút Bi Parker cắm ở hai túi áo, một bút mực đen, một bút mực đỏ, đồng hồ tay Internamatic, mặt đen, mua ở Bangkok, quần sanspli, giầy mocassin Trinh’s Shoes Tự Do 500 đồng một đôi – 500 đồng năm ấy là giá tiền một chỉ vàng –  trong túi áo ngực có bao thuốc điếu Lucky Strike, hay bao Philip Morris Vàng, quẹt máy Dupont Trắng dắt ở túi đựng bật lửa nơi lưng quần. Chàng phóng viên mới ba mươi tuổi mà tóc đã “không bạc, tóc chàng là tóc argenté.”

Tôi già đi nhưng chàng phóng viên ấy cứ ba mươi tuổi mãi.

Cảm khái cách gì!

MÙA XUÂN MƯỜI TÁM

Phụ nữ Gia Lâm qua cầu sông Hồng sang Hà Nội.

Phụ nữ Gia Lâm qua cầu sông Hồng sang Hà Nội.

Tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Hà Nội, tôi theo thầy mẹ tôi về làng quê tôi – làng Linh Quy, tổng Kim Sơn, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh – trước đó gia đình tôi đã về làng quê mẹ tôi – làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, tỉnh Hà Đông.

Khi rời tỉnh Hà Đông, thầy mẹ tôi – như nhiều người Việt thời ấy – tưởng chúng tôi sẽ chỉ phải đi khỏi tỉnh Hà Đông chừng vài tháng là lại trở về. Nhưng sau khi gia đình tôi sống tạm ở Hòa Xá chừng hai tháng, thầy mẹ tôi thấy gia đình tôi phải về quê nội tôi mới có thể sống được lâu ngày.. Thầy tôi có nhà, có vài mẫu ruộng ở làng quê Linh Quy; về đấy ít nhất chúng tôi cũng có gạo ăn, không đến nỗi khổ vì đói cơm.

Từ Hòa Xá gia đình tôi trở lại căn nhà của chúng tôi trong thị xã Hà Đông. Từ Hà Đông muốn về làng quê tôi, ở Gia Lâm, Bắc Ninh, chúng tôi phải đi qua thành phố Hà Nội, qua cầu Doumer. Nhưng khi đó chiến tranh đã xẩy ra ở Hà Nội, chúng tôi phải đi sang Văn Điển, rồi rẽ trái, đi đò qua sông Hồng, đi bộ qua hai cánh đồng, qua đường Số 5, về làng tôi.

Bảng ghi ngày tháng xây cầu: Khởi công : Năm 1899, hoàn thành năm 1902, hãng thầu DAYDE & PILLE. Paris

Bảng ghi ngày tháng xây cầu: Khởi công : Năm 1899, hoàn thành năm 1902, hãng thầu DAYDE & PILLE. Paris

Những ngày như lá, tháng như mây…

Năm ấy tôi mười ba tuổi. Năm nay – Tháng Giêng năm 2017, tôi Tám Bó tuổi đời – không cần nhắm mắt hồi tưởng, tôi thấy ẩn hiện trong ký ức tôi cảnh mẹ con tôi đi ngang cánh đồng, nhìn thấy những chiếc phi cơ Spitfire của quân Pháp bay lượn, nổ súng xuống những vùng quanh phi trường Gia Lâm.

Làng tôi có một tổ gọi là Tình Báo. Mấy anh tình báo này ở trong nhà bác tôi. Bốn anh. Tôi đến và thân với các anh ngay. Các anh đều dùng bí danh. Anh Trưởng Ban là anh Tường Lan, trạc 30 tuổi. Anh để bộ râu như râu ông Hồ Chí Minh. Ba anh kia là các anh Quốc Bảo, Quốc Khánh và Trần Trung Thành. Anh Thành thường được gọi là anh Ba Tê.  Anh nào cũng dễ thương.

Tôi mến anh Tường Lan, anh mến tôi. Anh cho tôi đi theo anh trong những chuyến anh đi công tác. Cho đến một ngày anh nói với tôi:

– Anh đổi công tác. Anh đi nơi khác. Em có muốn đi theo anh không?

Tôi làm cuộc ra đi ngày ấy gọi là “thoát ly gia đình,” tôi lặng im ra đi. Tất nhiên tôi không thể thưa với thầy mẹ tôi chuyện tôi bỏ nhà ra đi làm cuộc gọi là “đi kháng chiến.” Thầy tôi có thể để tôi ra đi nhưng mẹ tôi thì không thể.

Tôi được nhận vào làm nhân viên Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm. Tôi có lương tháng: 120 đồng tiền Việt Minh một tháng. Những anh có vợ con lương 180 đồng một tháng. Tôi ăn cơm trong cơ quan mỗi tháng 50 đồng.

Đêm, tôi theo anh Tường Lan qua sông Đuống. Anh đưa tôi đến trụ sở của Ban Tình Báo Gia Lâm ở một làng huyện Yên Phong, Bắc Ninh. Tôi quên tên làng.

Anh Tường Lan sống ở đây chừng hai tháng, anh lại ra đi. Mấy năm sau tôi nghe tin anh hoạt động ở Lạng Sơn, anh qua đời vì bệnh lao phổi.

Năm 1948 tôi được đưa về sống ở làng Hương Canh. Làng này ở bên đê sông Hồng, nhìn sang bãi Phúc Xá và bờ sông Hồng bên kia là Chèm Vẽ.

Đội Tình Báo có một ống viễn vọng kính: loại ống nhòm to tổ bố tên tiếng Pháp là longuevue. Ở Hương Canh công việc của tôi là ngày ngày ôm cái ống nhòm vào một ụ súng ở ven đê, đặt ống nhòm nhìn về cầu sông Cái, nhìn xem số quân xa đi qua cầu, ghi vào sổ để làm báo cáo.

Ngay từ những năm ấy, những năm tôi mười bốn, nười lăm tuổi, gần như chưa có qua một kinh nghiệm nào về đời sống, tôi đã thấy việc ngồi suốt ngày trong ụ súng, ghi số xe chạy qua cầu sông Hồng là chuyện cà chớn. Tôi thường dùng ống nhòm tìm cảnh những cô gái bãi Phúc Xá ra tắm sông hơn là nhìn và ghi số quân xa chạy qua cầu.

cau2Lâu lâu tôi ghi đại vào sổ những chuyện như:

– 10 giờ. 2 Jeep, 2 GMC từ Hà Nội sang Hải Phòng.

– 12 giờ 2 GMC từ Hải Phòng sang Hà Nội.

Khoảng 5 giờ chiều về nhà, tôi nộp sổ ghi này cho anh Trưởng Ban. Anh có căn cứ trên những con số tôi ghi để làm báo cáo hay không tôi không biết.

Năm 1949, tôi được Ban Tình Báo tổ chức đưa vào Hà Nội. Khi ấy gia đình tôi đã từ làng quê Linh Quy về Hà Nội được một năm. Tôi được đưa về làng Gia Quất. Làng này có một ông làm công chức sở Hỏa Xa, ông đi làm bằng xe đạp, sáng đi chiều về. Tôi có số nhà thầy mẹ tôi ở Hà Nội. Tôi viết thư nhờ ông mang đến nhà cho thầy mẹ tôi. Sáng hôm sau…

Tết ra được ít ngày. Buổi sáng khoảng 8 giờ tôi còn ngủ, thầy tôi từ Hà Nội sang đón tôi. Thầy tôi sang bằng xe xích lô.  Ông mang cho tôi cái áo sơ-mi, cái áo sợi vì trời còn lạnh, cái quần tây, đôi giép săng-đan, tôi bỏ lại bộ quần áo nâu, theo thầy tôi lên xe xích-lô vào thị trấn Gia Lâm.

Những năm ấy người muốn vào Hà Nội phải có giấy gọi là Laissez-passer, giấy do Pháp cấp. Thầy tôi đưa tôi vào sở công an làm đơn xin giấy Laissez-passer.

Đơn xin nộp buổi sáng, giấy Laissez-passer được phát vào lúc 4 giờ chiều. Mọi người đều được giấy phép, nhưng giấy của tôi – giấy của anh Dương Trọng Hải không thấy có – Thầy tôi hỏi, người ta chỉ cho ông vào văn phòng của ông Trung Úy Pháp.

Nhiều năm về sau khi đọc hồi ký của ông Vương Hồng Sển, tôi thấy ông kể chuyện có thời ông làm thông ngôn cho ông Xếp Tây Chủ Tỉnh, ông được gọi vào văn phòng ông Xếp Tây và ông ‘ đứng bàn thông dịch.”

Chuyện nhỏ thôi nhưng tôi nhớ khi thầy tôi, viên thư ký được gọi vào làm phiên dịch, đều đứng trước bàn viên Trung Úy. Không ai được ngồi. Thời Pháp viên chức thông ngôn không được ngồi trong văn phòng Xếp Tây.

Có lúc người thông ngôn – một thư ký trạc 30 tuổi – thông dịch một câu gì không đúng, thấy tôi sửa, bằng tiếng Pháp. Người thư ký có vẻ giận, ông nói với thầy tôi:

– Ông nói được, sao ông không nói? Nhờ tôi làm gì?

Thầy tôi nói:

– Xin lỗi ông. Tôi nói kém lắm. Nhờ ông giúp cho.

Ông Trung úy Pháp hỏi tôi sao tôi không cùng về Hà Nội với gia đình tôi, tôi nhanh trí nói tôi sang bên kia sông Đuống, huyện Tiên Du, để theo trường học.

Chắc vì thấy tôi mới 13, 14 tuổi, mặt non choẹt, không thể là cán bộ Việt Minh, sau cùng ông Trung Úy ký Laissez-Passer cho tôi đi vào Hà Nội.

Khi ấy cầu sông Hồng đã cấm xe qua lại, nhưng người đi bộ vẫn còn được đi qua. Bố con tôi lên cầu lúc 5 giờ chiều. Khi đi đến một doạn cầu tôi nhìn về bên phải, thấy mờ xa con đê và xóm làng với những lũy tre xanh, tôi tưởng như tôi nhìn thấy làng Hương Canh, và ụ súng ven đê

Đến lúc ấy tôi mới hỏi thầy tôi:

– Sao thầy không nói tiếng Pháp?

Thầy tôi trả lời:

– Thầy sợ thầy nói tiếng Pháp con không biết thầy nói gì.

Nhiều năm sau tôi kể chuyện đó với anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh nói:

– Chỉ có người làm cha thương con mới nghĩ được và nói được như thế.

Bố con tôi đi bộ qua cầu. Sang Hà Nội thầy tôi đưa tôi vào tiệm tạp hóa Tầu, mua cho tôi khăn mặt, bàn chải đánh răng, tuýp kem đánh răng Gibbs.

Như vậy là tôi đi xa thành phố đến 4 năm. Tôi trở lại với đèn điện, nước máy, xe điện, xe đạp, phở, kem, trường học và những rạp xi-nê. Sau bốn năm tôi thấy đời sống  Hà Nội không thay đổi gì nhiều. Có hai cái mới là những chiếc áo đi mưa bằng nylon, và loại bút bi được gọi là bút nguyên tử, bút Bic.

Năm 1976 tôi bị bắt đi tù 2 năm. Trở về mái nhà xưa, tôi thấy Sài Gòn không có gì mới đáng kể.

Tôi bị bắt đi tù lần thứ hai – 6 năm, từ năm 1984 đến năm 1989 – từ nhà tù trở vế lần này tôi thấy Sài Gòn có cái mới là đầu máy video. Những năm xưa ấy đường phố nào của Sài Gòn cũng có nhà cho mướn đầu máy và phim video.

Kể từ năm 1956 năm năm đến những ngày gần Tết tôi đều viết một, hai bài,  gọi là bài Tết, bài Xuân. Năm nay Tết đến, tôi không viết bài Xuân nào cả.

Xuân Gà đến, không sẵn Truyện Xuân Gà, tôi mời quí bạn đọc bài Xuân Chuột:

o O o

HỒNG LÂU MỘNG, tác phẩm tiểu thuyết của Tào Tuyết Cần, viết vào những năm 1750. Truyện Tình, gia đình quí tộc đời Thanh. Hai nhân vật chính của Hồng Lâu Mộng là Giả Bảo Ngọc và Lâm Ðai Ngọc.

Khi chuyện Hồng Lâu Mộng bắt đầu, Bảo Ngọc và Ðại Ngọc ở vào số tuổi 14, 15. Họ là anh em con cô, con cậu, bà mẹ của Ðại Ngọc là em ruột Giả Chính, ông thân của Bảo Ngọc. Phong tục Trung Hoa cho phép những người là anh em con cô, con cậu được kết hôn với nhau.

Cha mẹ Ðại Ngọc qua đời sớm, Ðại Ngọc mồ côi, về Nam Kinh sống trong Phủ Ninh với Bà Ngoại nàng. Ðại Ngọc là người y dược học Trung Hoa gọi là “tiên thiên bất túc”, ngay khi được sinh ra đời đã không đủ sức khỏe. Bản chất yếu đuối, thêm cảnh ngộ mồ côi phải sống nhờ họ hàng bên ngoại, Lâm Ðại Ngọc buồn phiền nên đau yếu kinh niên. Nàng được Tào Tuyết Cần tả là “người vừa sinh ra đã uống thuốc”, và “yếu như không mang nổi áo.”

Giả Bảo Ngọc yêu Lâm Ðại Ngọc. Hai người có thể thành vợ chồng không có gì khó nhưng Ðại Ngọc đau ốm, nàng bị lao phổi, bệnh không thể chữa, người bị bệnh lao sẽ phải chết trẻ. Gia đình Bảo Ngọc không thể để cho Bảo Ngọc lấy người vợ đau bệnh nan y, thêm bệnh trầm cảm, dễ khóc, dễ tủi thân, như Ðại Ngọc, dù mọi người trong họ Giả đều thương Ðại Ngọc.

Cùng thời gian đó trong Phủ Ninh Quốc Công có nàng Tiết Bảo Thoa. Nàng này là con bà chị ruột của bà mẹ Bảo Ngọc. Như vậy Tiết Bảo Thoa là con dì, con già với Giả Bảo Ngọc. Bảo Thoa, Bảo Ngọc là chị em họ nhưng vẫn có thể thành vợ chồng.

Tiết Bảo Thoa mạnh khỏe, đẹp, công dung, ngôn, hạnh đều có. Chỉ có điều là Giả Bảo Ngọc yêu Lâm Ðại Ngọc, không yêu Tiết Bảo Thoa. Thảm kịch đến khi họ Giả làm đám cưới cho Bảo Ngọc, nói dối cô dâu là Ðại Ngọc, nhưng cô dâu lại là Bảo Thoa. Cả ba người Bảo Ngọc, Ðại Ngọc, Bảo Thoa đều đau khổ.

Năm 2005, ờ Rừng Phong, Xứ Tinh Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, tôi viết lại Hồng Lâu Mộng đăng báo cùng lời bàn luận của tôi. Khi đăng Hồng Lâu Mộng, tôi bỏ qua những đoạn các nhân vật ăn tiệc, uống rượu, xem hát, làm thơ trong Hồng Lâu Mộng, những đoạn này quá dài.

Mời quí vị đọc một đoạn trong Hồng Lâu Mộng.

Giả Nguyên Xuân, người chị ruột của Giả Bảo Ngọc, được tuyển vào cung làm Quí Phi. Nhân dịp Giả Nguyên Phi được vua ban ơn cho về nhà thăm cha mẹ, Phủ Ninh làm cả một khu vườn hoa lệ để đón nàng về thăm nha trong một ngày. Ðó là Vườn Ðại Quan. Nhiều căn nhà đẹp được làm trong Vườn. Ðón Giả Phi xong, anh em Bảo Ngọc được vào mỗi người ở riêng một nhà trong Vườn Ðại Quan. Bảo Ngọc ở Di Hồng Viện. Ðại Ngọc ở Tiêu Tường Quán. Ðây là đoạn tả buổi trưa, trời mùa thu, Bảo Ngọc đến Tiêu Tương Quán thăm Ðại Ngọc.

HỒNG LÂU MỘNG. Trích:

Ðại Ngọc đang nằm ngủ trưa. Bọn a hoàn đi chơi cả, trong nhà im lặng như tờ. Bảo Ngọc vén rèm thêu bên giường, cúi xuống, lay nhẹ vai Ðại Ngọc:

– Em vừa ăn cơm trưa xong đã ngủ à?

Ðại Ngọc mở mắt:

– Anh đi chơi đi, lát nữa trở lại. Cho tôi ngủ. Ðêm qua tôi mất ngủù.

– Không được đâu. Vừa ăn xong ngủ ngay, không bệnh cũng thành bệnh. Tôi sẽ làm em vui, để em quên đau và quên buồn ngủ.

– Tôi không ngủ, chỉ nằm nghỉ một lúc thôi. Anh đi đi.

– Tôi đi đâu bây giờ?

Ðại Ngọc bật cười:

– Không đi thì ngồi đấy, nghiêm chỉnh, muốn nói gì thì nói.

– Nhưng thấy em nằm, tôi cũng muốn ngả lưng.

– Anh muốn nằm thì đi tìm cái gối vào đây mà nằm.

Bảo Ngọc lại ngẩn ngơ:

– Tôi biết đi tìm gối ở đâu bây giờ?

– Nhà ngoài có gối đấy.

Bảo Ngọc đi ra nhưng trở vào ngay:

– Gối của mấy bà già canh nhà, hôi quá, làm sao tôi gối được?

– Anh đúng là Sao Thiên Ma trong số tử vi của tôi. Ðây. Gối đây. Mời ông nằm.

Ðại Ngọc đưa cái gối nàng đang gối sang bên giường, lấy gối khác để gối. Bảo Ngọc nằm vào giường, đối diện nhau. Ðại Ngọc thấy trên má Bảo Ngọc có cái vết đỏ bằng khuy áo, nàng lấy ngón tay sờ và hỏi:

– Bị móng tay ai cấu thế này?

Bảo Ngọc cười:

– Làm gì có ai cấu. Hồi sáng đun sáp để lọc, bị sáp nóng bắn lên một giọt.

Ðại Ngọc lấy khăn lụa của nàng lau má cho Bảo Ngọc:

– Thật là quái gở. Công tử nào lại đi làm cái việc nấu sáp để lọc cho bọn a hoàn dùng bao giờ. Anh có thích làm những việc đó thì cũng đành đi, nhưng đừng có làm lộ liễu quá, người làm họ thấy, họ nói anh không ra gì đâu. Chuyện anh nấu sáp mà đến tai cậu thì anh lại khổ thôi.

Bảo Ngọc nghe nhưng chẳng biết Ðại Ngọc nói gì, mùi thơm trong ống tay áo của Ðại Ngọc làm chàng ngây ngất, chàng kéo tay áo nàng lại, ngửi rồi nhìn vào xem nàng mang trong đó thứ hương gì. Ðại Ngọc cười:

–  Ở trong nhà ai đeo hương làm gì.

– Không đeo hương sao thơm quá thế?

– Không biết. Hay là mùi hương của áo.

– Không phải. Mùi hương này của em lạ lắm, không giống mùi hương xông y phục đâu.

– Chắc anh ngửi mùi hương của ai, hương còn trong mũi anh, đến đây anh tưởng là mùi hương của tôi.

– Tôi nói chuyện tử tế, em cứ nói rỡn, phải phạt em mới được.

Chàng dùng ngón tay cù vào sườn nàng. Ðại Ngọc cười ré lên, co rúm người lại:

– Ối.. ối.. Em lậy anh, em không dám thế nữa.

– Không dám thế là làm cái gì?

– Em không dám nói rỡn nữa.

– Ðược. Tha cho em lần này.

Hai người nằm im bên nhau. Rồi Bảo Ngọc nói:

– Tôi kể chuyện ngày xưa cho em nghe nhé? Nhưng em nghe mà không được ngủ ạ.

Chàng kể:

– Nguyên trước đây ở Ðộng Lâm Tử, núi Hương Ngọc, có một đàn chuột tu thành tinh. Tháng ấy, gần đến Tết Nguyên Ðán, bầy chuột hội họp trong động bàn định kế hoạch kiếm thức ăn để vui Tết, đón xuân.

Lão Chuột Ðộng Chủ ngồi trên ngai bằng đá trên cao, truyền phán những việc phải làm:

– Ngày mai là ngày Hai Mươi Ba Tháng Chạp, người ta làm lễ tiễn Táo Quân về trời. Lễ tiễn Ông Táo, rồi Tết Nguyên Ðán năm nay nhờ được mùa, cả nước thanh bình, nên sẽ lớn lắm. Quân do thám của ta cho biết năm nay trong kho phủ đường có nhiều thực phẩm, có năm thứ: gạo, đậu, hạt dẻ, đậu phụng, khoai thơm. Ðộng ta đang cần năm thứ đó.

Lão Chuột giơ lên một lệnh tiễn:

–  Ðứa nào tình nguyện vào kho trộm gạo?

Một Chuột Tinh bước ra xin đi, nhận lệnh tiễn, đi luôn. Một Chuột Tinh khác nhận lệnh tiễn đi trộm đậu, rồi hai Chuột Tinh nhận đi lấy trộm hạt dẻ, đậu phụng. Khi Lão Chuột Tinh hỏi ai đi lấy trộm khoai thơm, có một Chuột Con Gái bước ra xin đi.

Lão Chuột Tinh thấy nó là gái, ít tuổi, lại yếu đuối, sợ nó không làm được việc, nên ngần ngại không muốn trao lệnh tiễn cho nó.

Chuột Gái nói:

–  Xin Ðộng Chủ tin tôi, xin cho tôi đi, tôi quyết làm tròn nhiệm vụ. Tôi tuy nhỏ tuổi nhưng có pháp thuật không thua ai, tôi lại khéo ăn nói, có cơ mưu. Ði chuyến này không thành công, tôi xin chịu tội.

Lão Chuột Tinh nói:

– Ngươi nói nghe hay lắm, nhưng ta muốn biết lọt được vào kho, ngươi sẽ làm cách gì để lấy trộm khoai đem về đây?

Chuột Gái nói:

– Có gì khó. Vào kho thì dễ thôi. Vào trong kho rồi tôi thi triển pháp thuật, xoay mình một cái, biến thành củ khoai thơm, tôi lẩn vào trong đám khoai. Bọn lính canh không thể nhìn ra tôi. Mùi thơm của tôi thơm hơn mùi thơm của bọn khoai. Ngửi mùi thơm của tôi, chúng sẽ mê tít. Cứ thế tôi rủ lũ khoai ra khỏi kho, theo tôi về động ta. Chúng sẽ mê mẩn đi theo tôi. Chẳng phải là hay ư?

Cả đàn chuột tinh nhao nhao lên tỏ ý tán thành việc biến thành khoai để lấy trộm khoai của Chuột Gái. Lão Chuột Tinh lại nói:

– Mưu của ngươi nghe được đấy. Nhưng ta vẫn muốn biết pháp thuật của ngươi ra sao. Ngươi thử biến hóa vài đường cho chúng ta coi.

Chuột Gái nói:

– Dễ thôi. Tôi biến thành củ khoai thơm cho các vị xem. Coi nè.

Chuột Gái xoay mình, biến thành một thiếu nữ thật đẹp, mắt phượng, mày ngài, tóc mây, y phục thướt tha, trông như tiên nữ.

Ðàn chuột cười ầm lên, chúng tranh nhau nói:

– Ê.. Tầm bậy.

– Nói biến thành củ khoai thơm mà lại biến ra cô gái?

– Thế là thế nào? Rỡn hả?

Chuột Gái lại xoay mình, từ thiếu nữ trở lại là chuột, nói:

– Các người kém lắm. Các ngươi không biết tôi vừa biến thành Tiểu thư Lâm Ðại Ngọc, Lâm Tiểu thư  là Thần Nữ Khoai Thơm. Da thịt cô có mùi khoai thơm. Nay cô vào kho chứa khoai thơm, bọn khoai ngửi thấy mùi khoai thơm của cô, biết cô là Nữ Chúa của chúng, cô bảo chúng đi theo cô, là chúng đi theo hết. Cơ mưu của tôi chẳng phải là thần diệu ư?

Ðại Ngọc vừa cười vừa đưa tay cù Bảo Ngọc:

– A.. Anh bảo tôi là Chuột hả?

Ngưng trích.

Ðoạn truyện thật vui. Tôi trích để quí vị đọc cho vui trong những ngày Xuân trên Ðất Khách.

KHÔNG CÓ MÙA XUÂN

Nữ diễn viên Chương Tử Di và thuốc lá.

Nữ diễn viên Chương Tử Di và thuốc lá.

Bánh xe tị nạn khấp khểnh và muộn màng đưa vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa Tháng 12 năm 1994. Tới Tháng 12 năm nay – năm 2016 – vợ chồng tôi đã sống ở Kỳ Hoa 22 năm.

Đã 22 mùa thu lá phong bay qua đời chúng tôi, 22 mùa Virginia tuyết trắng, hôm nay nhớ lại, tôi thấy việc vợ chồng tôi đến Mỹ như mới diễn ra hôm qua.

Những ngày như lá, tháng như mây. Thơ Thanh Nam. Ngày như những cánh lá rơi, tháng như những làn mây bay ngang cuộc đời.

Với tôi, lời thơ Thanh Nam diễn tả thời gian hay tuyệt.

Trong những ngày gần Tết một năm cách những ngày gần Tết hôm nay hai năm, vợ tôi ngã, nằm liệt. Còn may là lần này vợ tôi bị ngã trong nhà chúng tôi. Ngã mà nàng chỉ bị rạn xương, vết rạn không chênh nhau. Đây không phải là lần thứ nhất vợ tôi bị ngã. Nhưng lần này vơ tôi yếu sức, ngã rồi nằm liệt. Nhiều ông bà bạn đến nhà thăm. Có thể các ông bà nghi rằng vợ tôi sắp ra đi, các ông bà đến gập vợ tôi lần cuối.

o O o

Có những  ông bạn hỏi tôi:

– Anh không phải là sĩ quan, không phải là công chức, vì sao anh được sang đây với tư cách là người tị nạn chính trị?

CTHĐ: Câu hỏi thường ngắn thôi, nhưng câu trả lời nhiều khi dài.

Chương Trình ODP của chính phủ Hoa Kỳ chỉ đưa sang Mỹ những sĩ quan Quân Đội Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, những công chức – từ cấp Trưởng Ty  – bị Cộng Sản Bắc Việt bắt đi tù. Thời hạn tù từ ba năm trở lên. Tôi – CTHĐ – không phải là sĩ quan, không phải là công chức, tôi được sang Mỹ vì:

Theo sắp xếp của ông Alan Carter, ông Giám Đốc USIS Saigon, tôi và một số ông Việt nhân viên USIS phải lo giúp những nhân viên USIS sang Mỹ. Ông Alan Carter bay đi khỏi Sài Gòn, từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, trong ngày 29 Tháng Tư, 1975. Nhân viên Việt USIS mới được đưa đi sang Mỹ từ ngày 25 Tháng Tư, 1975. Số nhân viên USIS đi thoát khoàng 1/3.

Anh Ung Văn Luông, chức vụ Trưởng Ban Nhân Viên USIS, cũng bị kẹt lại. Anh và gia đình anh đi thoát bằng thuyền trong Ngày 30 Tháng Tư 1975. Sang Mỹ, anh vào làm việc trong USIA – United States Information Agency – Không quên anh em, anh Luông nhắc những ông Mỹ trong USIA về trường hợp nhân viên USIS bị kẹt. Những ông Mỹ USIA nhờ những ông dân biểu Mỹ, những ông thượng nghị sĩ Mỹ, đưa tình trạng nhân viên Việt USIS Saigon ra thảo luận ở Quốc Hội. Cứu xét để cho sang Mỹ sống. Quốc Hội Hoa Kỳ làm những điều luật cho nhân viên USIS Saigon được chính phủ Mỹ cho sang Mỹ nhưng không được hưởng trợ cấp như những ông sĩ quan Việt đi HO. Nhân Viên USIS Saigon sang Mỹ như những người di dân thường, không phải với tư cách “tỵ nạn chính trị.”

Trong 20 năm tôi sống ở Sài Gòn, 2 lần tù tội, tôi không một lần mơ chuyện tôi sang Mỹ. Năm 1990, sau lần đi tù lần thứ hai – 6 năm – trở về, tôi được những ông bạn USIS chạy thoát sang Mỹ, trong số có anh Ung Văn Luông, liên lạc về cho biết tôi và vợ con tôi được USIA xin với Quốc Hội Hoa Kỳ cho sang sống ở Mỹ. Năm 1992 tôi bắt đầu làm hồ sơ xin đi. Cuộc Ra Đi của gia đình tôi không chật vật hay vất vả, khó khăn gì nhiều. Tháng 12 năm 1994 vợ chồng tôi đượa con chim sắt United Airlines đưa qua biển Thái Bình.

Khi ngồi trong phi cảng San Francisco đèn sáng trưng, không còn biết chắc đó là đêm hay ngày, tôi nhớ những đọan truyện tiểu thuyết Mỹ tôi phóng tác, trong số có những trang tả cảnh trong phi trường nước Mỹ, tôi nhớ một lời tôi đọc trong Kinh Thánh.

Lời Kinh tôi viết ở đây theo trí nhớ nên không đúng từng tiếng:

“Lúc này anh tưởng tượng ra cảnh Thiên Đường, cảnh đó mờ ảo thôi. Cho đến khi anh ở trong Thiên  Đường, anh mới thực biết cảnh Thiên Đường.”

Tôi từng đọc về cảnh sắc nước Mỹ, tôi từng thấy cảnh những phi cảng Mỹ trên màn ảnh xi-nê. Những lúc đó tôi là người đứng ngoài nhìn vào nước Mỹ, nay tôi đang ở trong nước Mỹ.

o O o

virginia

Chuyện cũ đã xưa đến 40 mùa lá rụng, tôi đã kể nhiều lần, quí vị đã đọc nhiều lần. Xin ngừng, tôi viết về cuộc sống của tôi hôm nay.

Tôi viết về tôi, nhưng cũng là viết về một số người Việt Nam sang nước Mỹ như tôi.

Khoảng 5 giờ chiều trong Văn Phòng ODP Sài Gòn, vợ chồng tôi và ba con chúng tôi nghe phán quyết của một ông nhân viên ODP. Ông này tất nhiên là một ông người ngoại quốc. Hồ sơ của gia đình tôi mở trên bàn trước mặt ông. Ông nói:

– Hai ông bà này sẽ sang Hoa Kỳ – Ông đọc tên vợ chồng tôi – Ông bà sẽ được hưởng quy chế tị nạn chính trị. Những người kia không được xét đến.

Như lời tuyên án, nói xong ông nhân viên ODP gập ngay hồ sơ, đi ngay ra khỏi phòng.

Như vậy là chỉ có vợ chồng tôi được sang Mỹ, ba con tôi không được đi theo chúng tôi.

Vợ tôi thở ra một hơi thở nhẹ.

Ba mươi năm qua đi, hôm nay viết lại chuyện xưa, tôi lại nghe thấy tiếng thở dài của vợ tôi buổi trưa đầu năm 1994.

Ông bà Anh Ngọc, sang Mỹ năm 1993, bà là nhân viên Đài VOA, gửi thư về cho chúng tôi. Trong thư có tấm ảnh ông bà ngồi trên thảm cỏ xanh trong một công viên ở Virginia.. Thảm cỏ xanh đầy những lá vàng. Lúc đó chúng tôi đang làm hồ sơ để sang Mỹ, chúng tôi chưa biết nên đến nơi nào ở Mỹ.

Vợ chồng tôi trầm trồ:

– Lá vàng đẹp quá. Chúng mình đến Virginia.

Và chúng tôi đến Virginia is for Lovers – Virginia của những Người Yêu – Người làm sponsor cho chúng tôi đến Virginia là bà Khúc Minh Thơ, năm đó bà là Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị – vợ chồng tôi và các con tôi được bà giúp rất nhiều.

o O o

Đến Mỹ, vợ chồng tôi hưởng ngay tiền SSI. Khoản tiền chúng tôi có một tháng là 1200 Mỹ Kim. Tiền nhà chúng tôi phải trả một tháng là 320 Mỹ Kim: một phần ba tiền SSI của chúng tôi. Căn phòng chúng tôi được cấp giá thuê khoảng 1.000 MK. Vì là Người Già Thu Nhập Thấp – Old Seniors Low Income – chúng tôi chỉ phải trả 320 đô, số sai biệt Sở Xã Hội Quận Fairfax trả. Chúng tôi được cấp Thẻ Medicaid, Medicare. Đau bệnh, chúng tôi được điều trị trong những bệnh viện Mỹ, mọi khoản chi về y tế của chúng tôi đều do Sở Xã Hội trả.

Kể qua vậy thôi. Những con số trong bài viết này không được chính xác lắm. Chuyện tôi muốn kể hôm nay là chuyện: Một ngày trong đời một lão niên người Việt sống ở Kỳ Hoa.

o O o

Giấy bạc này dự định phát hành Tết Ất Mùi, nhưng được hoãn ngày phát hành đến Tết Nguyên Đán 2017.

Giấy bạc này dự định phát hành Tết Ất Mùi, nhưng được hoãn ngày phát hành đến Tết Nguyên Đán 2017.

Hai mươi năm Sống và Viết ở Sài Gòn, tôi muốn được ngồi Viết trước một khung cửa sổ nhìn ra một khoảng trời xanh, một hàng cây có lá xanh mùa xuân, lá vàng mùa thu. Ước mơ ấy của tôi ít khi được toại.

Nay phòng tôi có cửa sổ lớn mở ra hướng đông nam. Đêm, trăng soi vào trước giường tôi, sáng nắng vàng vào đến tận bếp. Người già thường ngủ sớm, dậy sớm. Tôi ngủ khoảng 11 giờ đêm, dậy lúc 5 giờ sáng. Tôi vẫn có thói quen đọc sách. Tuổi Tám Mươi đến, đêm tôi không còn đọc sách được lâu nữa. Đọc hai, ba trang là tôi mỏi mắt. Tôi ngủ thiếp đi, Có những sáng tôi thức giấc lúc 4 giờ. Ngồi trước TiVi, tôi nhâm nhi ly cà phê. Tôi ắn sáng bằng 1 quả chuối tiêu, hai miếng phô mai, 1 hũ yaourt. Sáng nào cũng như thế. Vợ tôi thường dậy muộn hơn tôi. Tôi sọan sẵn  cà phê cho vợ tôi, chờ nàng dậy là tôi pha nước sôi.

Sang Mỹ năm 1975, nhờ bà Khúc Minh Thơ, năm 2003 vợ chồng tôi mang được hai con chúng tôi sang Mỹ. Các con tôi vì job – công việc làm – ở xa chúng tôi. Nên nhiều ngày  tôi cảm thấy  chúng tôi cô đơn.

Vợ chồng tôi gập nhau ở Vũng Tầu Mùa Thu 1954. Chúng tôi yêu nhau Ngày Đất Nước chúng tôi bị chia đôi – Tháng Bẩy 1954 –  Mới đây tôi nói:

– Chúng mình yêu nhau đã sáu mươi năm.

Vợ tôi sửa:

– Sáu mươi hai năm.

Hình ảnh Nàng năm nàng hai mươi hai tuổi thường trở lại với tôi, trở lại thấp thoáng khi tôi nhìn nàng là bà già tám mươi tuổi. Tôi thương nàng. Thời gian tàn phá nhan sắc con người. Tôi kinh sợ có ngày tôi đứng bên giường nàng, chờ nàng trở dậy…

Mười năm đầu khi chúng tôi là vợ chồng, chúng tôi ngủ chung giường. Khi chúng tôi có con, chúng tôi bắt đầu xa nhau. Rồi tôi nghiện thuốc lá. Tôi nghiện nặng, mỗi ngày tôi hút 50 điếu thuốc lá. Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, mỗi ngày tôi hút 50 điếu. Tôi hút thuốc Lá Mỹ: Lucky Strike, Pall Mall, Philip Morris. Toàn thuốc loại King Size: điếu thuốc dài hơn loại điếu thường. Tôi bắt đầu hút thuốc lá Mỹ khoảng năm 1960.

Những năm 1960 một bao thuốc Mỹ giá 30 đồng Việt Nam. Những năm 1970 cũng bao thuốc lá Mỹ ấy giá 400 đồng. Tiền thuốc lá của tôi nhiều hơn tiền gạo của vợ chồng tôi và ba con chúng tôi.

Sau Tháng Tư 1975, tôi hút thuốc lá Vĩnh Hảo, rồi hút thuốc Gò Vấp. Thuốc lá Việt Nam ít chất nicotine, chỉ có khói và chất keo nhựa đen. Những ngày trong tù gần như từ 6 giờ sáng đến 10 giờ tối, không lúc nào không có điếu thuốc lá trên môi tôi. Tôi hít quá nhiều khói vào phổi, cổ hòng tôi bị khói làm khô queo. Tôi ho. Những cơn ho kéo dài làm cho những người bạn tù của tôi mất ngủ khi tôi ở trong tù, làm người nhà bên cạnh trong cư xá tôi khó chịu khi tôi sống ở cư xá Tự Do, cư xá ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền. Nhà tôi là một nhà nhò trong dẫy nhà liền mái. Vì nhà liền mái, tiếng người nói trong nhà này, chỉ cần hơi lớn, là người nhà bên bị nghe tiếng.

Năm 1993 tôi than với Mục sư Đinh Thiên Tứ:

– Tôi muốn bỏ hút thuốc lá mà tôi không bỏ được.

Mục sư bảo tôi:

– Ông xin Chúa cho ông bỏ hút là ông bỏ được.

Một buổi sáng năm 1993, ngồi hút điếu thuốc thứ nhất trong ngày trước ly cà phê, tôi xin:

Xin Chúa cho con bỏ thuốc lá.

Tôi buông điếu thuốc xuống…

Và tôi bỏ được thuốc lá ngay lức đó.

Với tôi việc tôi bỏ hút thuốc lá khó hơn là việc Liên Xô tan rã. Vợ tôi không một lần ngỏ ý mong tôi bỏ thuốc lá, nàng chỉ muốn tôi hút ít đi.

Trước ngày tôi bị bắt lần thứ hai năm 1984, vợ tôi lo vàng cho tôi vượt biên. Nàng thủ thỉ:

– Em biết anh không thể sống thiếu người đàn bà. Sang được bên ấy, anh thương ai, anh thấy ai thương anh, anh cứ lấy người ta. Em chỉ mong anh chịu khó làm việc, để dành tiền, gửi về cho em nuôi con.

Tôi chưa kịp đi thì bọn Công An Thành Hồ nửa đêm đến nhà tôi, còng tay tôi đưa tôi đi, cho tôi nằm phơi rốn trong tù 6 niên.

Thì đi vượt biên, đi tù hay đi sang Mỹ cũng là Đi.

Trong 40 năm, từ năm 1954 đến năm 1994 – vợ chồng tôi cùng ở Sài Gòn mà phải xa nhau 8 năm.

Tôi bị tù hai lần. Lần tù thứ nhất 2 năm, lần tứ thứ hai 6 năm.

o O o

Mỗi năm khi Tết Nguyên Đán đến tôi viết một, hai bài gọi là bài Xuân, bài Tết để đăng báo Xuân, báo Tết.

Sang Mỹ tôi vẫn giữ cái lệ ấy.

Nhưng năm nay, năm 2017 đến – trong những ngày Tết Nguyên Đán đang tới, tôi không viết được bài Xuân nào.

Tôi đi vào cảnh được gọi là “ Lão lai Tài tận.” Tài đây là tài năng, mà cũng là tài tiền.

Tết năm 1976 tôi làm bài Thơ thứ nhất sau 20 năm tôi không làmhơ.

Căn Nhà Không Có Mùa Xuân

Ngày xưa tôi đọc Thơ người lạ
Bài Thơ sầu muộn một Tình buồn.
Tôi nhớ ý Thơ, không nhớ cả
Bài Thơ tôi đọc một mùa xuân.

Mùa xuân xưa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương biết nợ nần.
Đời chỉ có Hoa và Mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Tôi đã buồn vương, đã cảm thương
Bài Thơ sầu mộng ý như sương.
Người yêu một tối rời nhân thế,
Thi sĩ đau mê chuyện đá vàng.

Đóng cửa nhà xưa, che gió nắng,
Đàn xưa để mặc nhện tơ dăng.
Năm mòn, tháng mỏi, thời gian vắng
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Ở giữa căn nhà u tịch ấy
Đời sống buồn trôi với tối tăm.
Cho đến một chiều nghe pháo nổ
Người sống bừng cơn mộng cuối năm.

Tay gầy vén bức màn cô quạnh
Nhìn ra thiên hạ đón xuân sang.
Chơt biết từ đêm Tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân.

Cửa đóng, màn che vội mở tung
Bình hoa cắm vội một đôi bông.
Rồi rượu mừng Xuân, rồi pháo đỏ
Sắp sẵn lòng vui để đợi mong.

Nhưng chờ đợi mãi Xuân không đến
Nhà vẫn buồn tênh, vẫn tối tăm.
Mới biết từ khi Tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa Xuân.

Từ đấy hoa tàn và khói lạnh,
Bóng tối trùm lên lưới nhận dăng.
Vĩnh viễn mùa Xuân không trở lại
Trong căn nhà không có mùa Xuân.

Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần.
Một tối rùng mình tôi cũng thấy:
Sao nhà mình không có mùa Xuân?

Sao nhà tôi không có mùa Xuân?
Bạn ơi, người bạn mới qua đường.
Xin dừng chân lại cho tôi hỏi:
– Sao nhà tôi không có mùa Xuân?

Tài và Tuổi

Tòa báo Saigonmoi bị đốt phá sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bắn chết.

Tòa báo Saigonmoi bị đốt phá sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bắn chết.

Những ngày như lá, tháng như mây..” Thơ Thanh Nam. Mới đó mà thời gian đã 40 mùa thu lá bay  qua cuộc đời tôi.

Mới đó là buổi sáng, hay buổi chiều, tôi không nhớ rõ, ngồi bên tủ thuốc lá của Lê Xuyên, tôi nghe Lê Xuyên nói:

“Bây giờ tôi biết thế nào là thiên mệnh.”

Tôi không hỏi, Lê Xuyên không nói thêm. Thời gian qua dễ đến 40 năm, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn thắc mắc không biết Lê Xuyên muốn nói gì với tiếng “thiên mệnh.” Không lẽ cái “thiên mệnh” anh nói đó là việc Quốc Gia Việt Nam Công Hòa bị tiêu vong, là việc cờ máu và ảnh Lão Hồ Chí Minh vào thành phố Sài Gòn, hay đó là việc anh phải ngừng viết tiểu thuyết, ngừng viết mãi mãi, ngừng viết suốt những năm tháng anh còn sống kể từ 12 giờ trưa Ngày 30 Tháng Tư 1975, hay anh muốn nói “thiên mệnh” là việc anh ngồi bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè từ năm, sáu giờ sáng  đến tám, chín giờ tối.

Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, có thể nói “tất cả” giới văn nghệ sĩ Sài Gòn sống lơ bơ, lờ phờ. Không một người nào có việc làm, không người nào kiếm ra được một đồng bạc. Trong những ngày tháng chúng tôi sống dở, chết dở ấy, tôi biết có ba người bắt tay ngay vào việc kiếm sống. Đó là các anh Tường Tuấn, Trần Phong Giao và Lê Xuyên. Tường Tuấn bán cà phê ngay trước cửa nhà anh. Vì quá thừa thì giờ, anh bán cà phê cho đỡ buồn, không phải để kiếm sống. Có thể nói tiệm cà phê Tường Tuấn là tiệm cà phe nghèo nhất thế giới. Tôi phải viết rõ: vì quá buồn, vì không có việc gì để làm, vì ngày quá dài, đêm quá sâu, nhiều người Sài Gòn ra vỉa hè bầy bán thứ gì đó cho qua ngày, không phải để kiếm sống.

Rạp xi-nê Ciro’s ở Hà Nội, ảnh năm 1960.

Rạp xi-nê Ciro’s ở Hà Nội, ảnh năm 1960.

Vào khoảng năm 1980 Sài Gòn có rất nhiều quán cà phê vỉa hè. Toàn là quán lộ thiên. Hai, ba cái bàn, vài cái ghế đóng bằng loại gỗ thùng. Cà phe Tường Tuấn ở đường Trương Minh Ký, khoảng trước Nhà Thờ Ba Chuông. Sáng sáng có một bà mang cà phe đi giao cho những tiệm cà phe vỉa hè trên con đường này. Bà giao cho mỗi tiệm một bao nylon một lạng cà phe. Giao hàng mà không lấy tiền ngay. Bà đi suốt sáng từ đầu đường đến cuối đường, rồi đi trở lại. Bà đi qua hỏi xem có tiệm nào cần lấy thêm cà phe; và bà thu tiền. Năm 1980 một ly cà phê đen vỉa hè Sài Gòn giá 1 đồng.

Tường Tuấn là ký giả nhật báo Xây Dựng, chủ nhiệm Linh Mục Nguyễn Quang Lãm. Trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, anh không ngồi quán cà phe đấu hót cả buổi, không sống bừa bãi như nhiều ký giả thời ấy.

Có nhiều tháng Trần Phong Giao, nhà ở Tân Định, gần mấy vựa củi, sáng chở ba, bốn bó củi trên xe đạp, mỗi bó một đồng, đi giao cho những chỗ bán chuối nướng trên đường Phạm Ngũ Lão, khoảng trước tòa soạn báo Văn. Bó củi một đồng mà những chị bán chuối nướng vỉa hè cũng không có tiền trả ngay, gần trưa Trần Phong Giao phải trở lại lấy tiền.

Lê Xuyên là văn nghệ sĩ xuống đường kiếm sống trước nhất. Những tháng đầu sau 30 Tháng Tư 1975, từ 4 giờ sáng anh đến lò bánh lấy bánh đem giao cho những xe bánh ở Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Tư Bẩy Hiến. Buổi chiều anh đạp xe đi thu tiền. Nhà tôi ở vùng này. Gập anh trên đường, tôi mời anh chiều hôm sau đến nhà tôi, ăn cơm với vợ chồng tôi.

Lê Xuyên đến. Xe anh có cái cần xế đựng bánh. Tôi thấy trong cần xế có cái bơm xe đẹp, loại bơm cỡ lớn thường thấy ở những góc sửa xe đạp lề đường. Lê Xuyên nói ruột xe của anh bị mọt, sì hơi, đi khoảng một tiếng là lốp xep, phải bơm lại. Anh không thể mượn bơm của những người sửa xe vệ đường. Mượn bơm phải trả chủ bơm 1 đồng. Giao bánh mỗi ngày anh kiếm được khoảng 10 đồng. Một ruột bánh xe máy  năm đó giá 100 đồng, Anh không có tiền mua ruột bánh xe mới.

Rồi Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ ờ vỉa hè. Anh ngồi với tủ thuốc lá dưới mái tôn một tiệm hủ tiếu. Anh nói:

— Phụ nữ không thể ngồi bán thuốc lá như tôi. Ông coi.. Trời nắng, hơi nóng từ mái tôn dội xuống, từ mặt đường bốc lên. Tàn phai nhan sắc kinh khủng lắm.

Lê Xuyên bán thuốc lá vỉa hè mãi đến khi anh không ngồi được nữa. Bị bại liệt, anh nằm nhà và anh im lặng qua đời.

Hôm nay 40 năm sau ngày nghe Lê Xuyên nói anh “tri thiên mệnh,” tôi kể chuyên anh để nói trong đời tôi, tôi đã không “tri thiên mệnh.” Cho đến những ngày cuối đời tôi, tôi không biết thế nào là “thiên mệnh.”

o O o

Năm nay – 2016 – tôi 84 tuổi. Những ngày sống của tôi không còn bao lâu. Đã hơn một lần, trong những bài Viết ở Rừng Phong, tôi gửi lời chào vĩnh biêt bạn đọc. Tối nay, tôi chào vĩnh biệt quí vị lần nữa; tôi cám ơn quí vị đã đọc những gì tôi viết từ bao năm nay.

Tôi là người viết nhiều về tôi, về vợ con tôi, về những mối tình của tôi. Ngạn ngữ Pháp có câu “Le Moi est haisable.” Cái Tôi là cái đáng ghét. Theo câu nói này “người nào nói nhiều về minh là người đáng ghét.” Tôi viết nhiều về Tôi nhưng tôi thấy tôi không bị người đọc ghét. Không có người đọc nào chê trách tôi đã viết nhiều về Tôi. Trong hai mươi năm sống và viết ở Kỳ Hoa, – vợ chồng tôi đến Mỹ đầu năm 1995 –  nhiều ông bạn già đọc những bài Viết ở Rừng Phong của tôi. Có những ông nói với tôi:

— Cám ơn ông. Ông đã nói lên những gì chúng tôi muốn nói.

— Đọc anh để nhớ, để thương Sài Gòn.

— Đọc anh để biết về cuộc sống dưới ách cộng sản của những văn nghệ sĩ.

Văn Quang, hiện sống ở Sài Gòn, gửi I-Meo – Email – cho tôi:

– Mày đã viết thay cho những cặp vợ chồng yêu thương nhau từ trẻ đến già.

o O o

Những năm 1940, 1941 , khi tôi mới mười một, mười hai tuổi, sống ở thành phố Hà Ðông xứ Bắc Kỳ, tỉnh nhỏ nằm ngay sát nách và dưới nách Thủ đô Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường, tôi đã say mê đọc tiểu thuyết. Nhiều năm về sau một bà bạn của mẹ tôi những năm xưa ấy thường đến chơi với mẹ tôi, nói với tôi:

— Ngày ấy tôi đã biết về sau thể nào anh cũng trở thành văn sĩ. Lần nào tôi đến nhà anh cũng thấy anh cầm một trong ba thứ: quyển truyện, cái kèn harmonica, cây súng cao su…

Ngày ấy, nói ngày ấy thì nhẹ thôi, nhưng ngày ấy là năm mươi mùa ổi chín trước kia, hoặc ngày ấy là nưả thế kỷ về trước, nửa thế kỷ trần ai, khoai sùng đã trôi vào cái gọi văn huê là dĩ vãng, ngày ấy không những tôi chỉ mê đọc truyện mà thôi — nhiều chú nhóc bằng tuổi tôi cũng say mê đọc truyện như tôi nếu không muốn nói là say mê hơn tôi nhiều — tôi mê đọc truyện và tôi còn mơ đến việc mai sau tôi cũng sẽ viết tiểu thuyết như các ông Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng.

Ngay từ ngày đó không biết vì sao tôi đã không thích viết theo lối văn chương sạch, đẹp, nhưng không có thật, những truyện không có những sự kiện phũ phàng, không có những đối thoại trần tục của người thường, tôi không thích tạo dựng những nhân vật lý tưởng, lúc nào cũng cư xử đường hoàng, đứng đắn, không “ăn tục, nói phét” như những truyện và những nhân vật của các ông Khái Hưng, Nhất Linh.

Tôi ngẩn ngơ trước thế giới thời ấy, thế giới tôi thấy là thần kỳ, tuyệt vời được Nhà Văn Lê Văn Trương diễn tả trong tiểu thuyết Trường Ðời. Ðọc Trường Ðời tôi thán phục Trọng Khang, tôi mê Marie Khánh Ngọc, tôi khinh bỉ Francois Giáp — ba nhân vật chính của tiểu thuyết Trường Ðời.

Ngây ngất trên những trang Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, tôi thấy mơ màng ẩn hiện hình ảnh Vạn Tóc Mai nằm đấu hót bên bàn đèn thuốc phiện, cảnh Ông già Hải Vân xuất ngoại đi làm cách mạng chia tay với anh con Tú Anh trên bãi biển đêm mưa tầm tã, cảnh Tuyết nằm trên nệm bông, trong ánh đèn mờ ảo trên những trang tiểu thuyết Giông Tố. Tuyết nằm khỏa thân, làn “âm mao” mơn mởn…

Kể từ ngày ta có chữ Quốc ngữ đến nay tôi thấy mới chỉ có một mình Văn sĩ Vũ Trọng Phụng tả người thiếu nữ nằm trần truồng chờ đợi tình yêu và tả làn “âm mao” của nàng. Dường như từ khởi thủy Việt Nam ta có tiểu thuyết đến nay ông Vũ Trọng Phụng là người viết tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất đưa hai tiếng “âm mao” vào tiểu thuyết. Ông ngang nhiên viết “âm mao” lên giấy trắng, mực đen, in thành tiểu thuyết cho đồng bào ông đọc.

Cứ rộng rãi cho là cả trăm năm sau ngày ông Vũ Trọng Phụng hạ ngọn bút thần kỳ diễn tả nữ nhân vật Tuyết Giông Tố, những người viết sau ông, tức những ông dzăng sĩ, tiểu thuyết gia kiêm tiểu thuyết dzô lớn nhỏ, kể cả những ông viết hung hãn, liều mạng, ba đá, hăng tiết vịt nhất.. cũng chưa có ông nào dám diễn tả cái gọi là “âm mao” như ông trong những cái gọi là tác phẩm tiểu thuyết.

Hơn một nửa thế kỷ đã qua, tôi và những người từng đọc Vũ Trọng Phụng vẫn nhớ, và vẫn đôi khi nhớ, nói, những câu trong Giông Tố và Số Ðỏ như:

— Nàng không yêu ta, ta phải hiếp nàng..

— Ông lại hiếp cho một cái nữa bây giờ…

— Táo Tầu Nghị Hách…

— Thế này thì còn làm ăn cái mẹ gì được nữa..

— Mịch đã nằm nghiêng cho Long hưởng thụ ái tình.

— Biết rồi… Khổ lắm… Nói mãi…

Ngày xưa ấy tuổi đời mới Một Bó lẻ mấy que nào tôi đã biết gì về những “lý thuyết dzăng nghệ, dzăng gừng”. Nhưng tôi đã lờ mờ thấy việc viết tiểu thuyết là một việc làm hết sức hấp dẫn, người viết tiểu thuyết là một Ðấng Tạo Hoá Toàn Năng trong tác phẩm của mình, người viết sáng tạo ra một thế giới riêng của mình trên những trang truyện. Trong thế giới riêng ấy người viết tạo ra những nhân vật riêng, cho họ là người có nhân cách, được yêu thương hay là người hèn mạt, đểu giả, bị khinh bỉ. Tất cả đều do ý muốn của người viết. Người viết cũng cho, cũng bắt nhân vật sống, chết, yêu thương, thù ghét, sung sướng, đau khổ theo ý mình.

Thời ấy, năm mươi mùa lá rụng trước đây, những buổi chiều mùa đông trời đất sám sịt, nằm một mình trên căn gác vắng trong căn nhà của gia đình tôi trong tỉnh lỵ Hà Ðông, tôi thường rờn rợn sợ vì nhà vắng quá, vì chưa tối mà nhà đã lờ mờ tranh tối, tranh sáng. Những chiều xưa ấy tôi đã mơ màng mai sau tôi cũng sẽ viết tiểu thuyết như các ông Lê văn Trương, Vũ Trọng Phụng. Tôi mơ ước tôi sẽ sáng tạo được những thế giới của riêng tôi, trong thế giới đó tôi cho những nhân vật của riêng tôi sống chết, yêu thương, thù ghét như ý tôi muốn.

Như vậy là, xin nhắc lại, tôi mơ được viết tiểu thuyết từ những ngày xưa tôi còn bé. Tôi không bao giờ mơ, hay muốn, thích, làm bác sĩ, kỹ sư. Tôi lại càng không ưa làm tri phủ, tri huyện — những ông Phủ, ông Huyện tôi thấy ở Hà Ðông năm xưa ấy đều là những mẫu người chẳng hào hoa, phong nhã chút nào. Cũng cần phải nói thêm tôi vốn dốt nát, lười biếng, ham chơi hơn học, lơ đãng, tôi có muốn làm kỹ sư, bác sĩ cũng chẳng có được. Nhưng quả thực là ngay từ khi mới nứt mắt, tôi đã ước mơ mai sau trưởng thành tôi viết tiểu thuyết.

Một chiều thứ bẩy ông bố tôi không phải đi làm. Ngủ trưa trở dậy ông uống trà Tầu, hút vài điếu thuốc lào, nói vài ba câu với mẹ tôi rồi dắt tôi đi ra cánh đồng gần nhà. Thời ấy thị trấn liền với cánh đồng. Chiều xuân, cảnh sắc cánh đồng của bố con tôi không hẳn như cảnh xuân được tả trong Kiều: “Cỏ non xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” nhưng cũng rất đẹp. Cánh đồng trồng toàn các thứ rau xanh mơn mởn. Ông bố tôi có bà vợ chết chôn ở cánh đồng này. Chiều ấy ông đi thăm mộ.

Trên đường đi, bố tôi hỏi tôi mai sau tôi muốn làm gì? Câu hỏi bất ngờ, tôi không chờ đợi và cũng chưa bao giờ ngờ có ngày tôi sẽ bị hỏi một câu như thế, câu trả lời đã nằm sẵn trong tiềm thức của tôi. Không nghĩ ngợi cũng không chút đắn đo, tôi trả lời ngay boong:

— Mai sau con muốn làm văn sĩ.

Ðang nắm tay tôi bước đi, câu trả lời xanh rờn của tôi làm ông bố tôi phải đứng lại. Ông nhìn tôi rồi ông nói:

— Viết văn, làm thơ không phải là một nghề nuôi nổi mình. Con phải đi học, đi làm như thầy, con phải kiếm được tiền nuôi thân con và vợ con con. Lúc đó con có thể làm thơ, viết văn, nhưng chỉ làm để chơi thôi.

Ông bố tôi nói câu trên vào năm 1940. Năm ấy ông nói đúng. Khi khuyên anh con như thế ông nghĩ đến những ông nhà thơ như Trần Tế Xương, Tản Ðà. Báo chí A-nam trước 1945 chưa thành một kỹ nghệ. Mười năm sau ở Sàigòn — 1950 — tình hình đổi khác.

o O o

Phim Pháp. Chiếu trên màn ảnh rạp Ciro’s, Hà Nội, năm 1950.

Phim Pháp. Chiếu trên màn ảnh rạp Ciro’s, Hà Nội, năm 1950.

Sau bốn năm đi kháng chiến chống Pháp ở vùng Gia Lâm, Thuận Thành, Lang Tài, Từ Sơn, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, tôi trở về Hà Nội.

Tôi đi xem xi-nê ở tất cả những rạp xi-nê mới cũ của Hà Nội: Rạp Majestic mới xây cất lại sau chiến tranh Việt Pháp, rạp mới toanh, hiện đại nhất Ðông Dương, Studio Majestic nằm ngay cạnh rạp chính, Rạp Eden cổ kính với những thân cột đá trang nghiêm giống như những đền thánh Ba Tư trong những phim thần thoại Ngàn Lẻ Một Ðêm, Rạp Studio Eden cũng nhỏ như Studio Majestic — hai rạp Studio này chuyên chiếu những phim Pháp thuộc loại sân khấu chuyển thể thành phim phục vụ Tây Ðầm — Hà Nội có thêm rạp xi-nê Ciro’s mới toanh, rạp Porte d’Or trong Cao Lâu Ðông Hưng Viên cũng mới toanh, rạp Philharmonique ở Bờ Hồ, rạp Trung Quốc Hàng Bạc. Rạp Moderne Hàng Ðàn, Xi-nê Olympia Chợ Hàng Da bị tàn phá vì chiến tranh vừa mới được sửa lại.

Tôi ăn thịt bò khô chú Tầu Bờ Hồ, uống nước chanh đá Quán Mụ Béo, ăn phở Hàm Long. đi bơi Hồ Tây, Rặng Oi, cắp sách trở lại Trường Văn Lang đường Phạm phú Thứ . Và tôi bắt đầu viết truyện.

Không những tôi chỉ viết truyện ngắn mà thôi, tôi còn viết cả truyện dài. Năm ấy — 1950 — tôi chưa được hân hạnh quen biết, cũng chưa có dịp nào mon men đến gần một ông dzăng sĩ, báo sĩ nào của làng văn, làng báo Hà Nội, kể cả những ông dzăng sĩ, báo sĩ hạng bét. Năm ấy tôi chưa dủ sức viết nổi một truyện ngắn. Việc tôi viết truyện dài là chuyện hoang tưởng.

Nhưng tôi cứ cặm cụi viết. Tác phẩm đầu tay của tôi nằm trong hai tập vở học trò, mỗi tập 100 trang, trừ đi 4 trang bià còn 96 trang. Viết một mặt giấy nên cả cái gọi là truyện dài của tôi chưa được đủ 100 trang chữ viết tay.

Tôi đem tác phẩm đầu tay đến nhà xuất bản. ông chủ nhà xuất bản nói:

— Anh để tác phẩm lại đây chúng tôi xem. Sẽ trả lời anh sau…

— Thưa… bao giờ tôi trở lại được?

— Tuần sau.

Một tuần chờ đợi đầy những hy vọng. Biết đâu tác phẩm của tôi lại chẳng được ông chủ nhà xuất bản cho là có thể xuất bản được? Biết đâu đấy! Khi ta chờ đợi, ta thấy thì giờ qua thật lâu. Ðúng một tuần sau tôi trở lại nhà xuất bản. Vẫn cái nhà đó, vẫn ông chủ nhà tôi gập và trao tác phẩm ngày này tuần trước, chỉ có một chuyện cần nói là ông ta không nhớ ông đã gập tôi. Ông nhìn tôi như nhìn một kẻ hoàn toàn xa lạ với ông:

— Thưa ông.. tôi đến xin ông cho biết về quyển truyện của tôi…

Ông théc méc:

— Quyển truyện nào nhỉ?

— Thưa quyển truyện tôi đưa ông tuần trước. Ông nói để ông đọc, ông hẹn tôi hôm nay trở lại.

— À… à..

Ông tìm trong ngăn kéo. Tôi thấy rõ tác phẩm của tôi được ông bỏ vô đấy và ông quên đi.

Ông lấy “tác phẩm” của tôi ra, hai quyển vở, đưa trả lại tôi. Tôi để mất cái gọi là “tác phẩm đầu tay” năm xưa ấy của tôi. Nếu còn, tôi đã đăng lên đây để quí vị độc giả của tôi đọc.

Năm 1951, lần thứ hai tôi đem tiểu thuyết của tôi đi dạm bán. Lần này xẩy ra ở Sài Gòn. Ông thân tôi là công chức. năm 1950  ông được chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn làm việc. Mẹ tôi và anh em tôi vào Sài Gòn theo ông.

Tôi viết cái gọi là “tác phẩm đầu tay” thứ hai của tôi ở Hòa Hưng, Sài Gòn. Cũng vẫn 2 quyển vở học trò. Lần này tôi mang “tác phẩm” tới tòa soạn nhật báo Saigonmoi. Người tiếp tôi là ông chủ bút Nguyễn Dân.

Bổn cũ soạn lại:

— Xin ông xem.. Nếu được, xin đăng báo.

—  Để chúng tôi đọc. Tuần sau anh trở lại.

Ông chủ bút Nguyễn Dân báo Saigonmoi coi bộ còn quên nhiều hơn ông chủ nhà xuất bản ở Hà Nội. Ông ngơ ngác:

— Quyển truyện nào?

Tôi nhắc ông. Ông mở ngăn kéo lấy “tác phẩm” của tôi ra đưa trả tôi:

— Truyện này không hợp với nhà báo chúng tôi.

Ba năm sau – năm 1954 – một hôm Nguyễn Ngọc Tú – tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả The Godfather: Bố Già – bảo tôi:

— Tao gập bà Bút Trà báo Saigonmoi ở Bộ Thông Tin. Bà ấy nói Saigonmoi cần một ri-pọt-te. Mày đến xem.

Lần thứ hai tôi đến tòa soạn nhật báo Saigonmoi. Ông chủ bút Nguyễn Dân đã qua đời. Đây là lần thứ nhất tôi gặp Bà Bút Trà. Tôi tự giới thiệu tôi từng làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng. Bà nhận tôi vào làm trong tòa báo ngay. Hai, ba năm sau, khi đã là nhân viên thân tín của nhà báo, tôi hỏi bà Bút Trà:

— Khi tôi đến xin việc, tại sao bà nhận tôi vào làm ngay mà không cần hỏi gì về khả năng của tôi.

Bà trả lời:

— Khi ấy có mấy anh tới. Tôi có biết tài năng các anh ra sao đâu. Tôi chọn anh là vì tôi thấy anh ăn bận đàng hoàng.

Thì ra tôi được nhận vào làm nhân viên nhật báo Saigonmoi, tờ nhật báo có một thời nhiều người đọc nhất Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa là vì tôi trang phục đàng hoàng, áo sơ-mi dài tay, khuy manchette, đi giầy tây, đầu tóc gọn ghẽ, nói năng lễ độ.

Việc tôi làm nhân viên nhật báo Saigonmoi trong 7 năm liền – từ năm 1957 đến năm 1964 – là một sự kiện quan trọng trong đời tôi. Thời gian 7 năm, từ 1957 đến 1964, là thời gian đẹp nhất trong đời tôi.

o O o

Mùa Thu 2016 đi qua Rừng Phong, những chiếc lá phong cuối cùng rơi rụng. Tôi nghe nói nhiều đền “thiên mệnh,” tôi đọc nhiều về “thiên mệnh,” nhưng tôi không biết gì đáng kể về việc “tri thiên mệnh.”

Dường như Khổng Tử là người tóm tắt thời gian đời người trong câu:

— Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận…

Tôi hiểu: Người ta ba mươi tuổi biết mình làm gì, bốn mươi tuổi không còn nghi ngờ, năm mươi tuổi biết mệnh trời, sáu mươi tuổi nghe chuyện gì cũng được…

Có thể tôi hiểu không đúng ý nghĩa những câu tiếng Hán trên đây.

Vào cuộc đời này Tháng Ba Năm 1933, cầm tinh Con Gà – Quý Dậu – năm nay tôi 84 tuổi. Tôi đã Viết dài dài, đều đều trong 60 năm. Lẽ ra nay  tôi phải ngừng Viết. Tôi thích Viết Truyện từ năm tôi 10 tuổi, tôi Viết năm tôi 18 tuổi, tôi làm ký giả nhà báo năm 1952, tôi thành ký giả nhà nghề năm tôi 30 tuổi. Cùng năm tôi thành người viết truyện phơi-ơ-tông – feuilleton – cho các báo Sài Gòn. Tôi sống được với cái nghề tôi yêu – nghề viết tiểu thuyết – trong suốt cuộc đời tôi. Tôi sống được với nghề, tôi nuôi được vợ con tôi bằng nghề Viết của tôi.

Chuyện 70 năm xưa: một buổi chiều thứ bẩy năm 1941, hay năm 1942, ông bố tôi đi thăm mộ người thân của ông trong cánh đồng cuối tỉnh Hà Đông. Ông thân tôi có cái số gọi là “trung niên táng thê,” ông có hai bà vợ qua đời trước khi ông “rổ rá cạp lại” với bà mẹ tôi. Ông mua một sào ruộng ở cánh đồng làng Đơ để chôn hai bà vợ. Tôi theo ông đi thăm mộ. Đường đến mộ gần thôi, bố con tôi đi bộ. Buổi chiều ấy cuối mùa thu. Cánh đồng khô, trồng toàn rau, trời nắng nhạt, trong và mát. Đang đi, bố tôi hỏi tôi:

— Mai sau con lớn, con muốn làm gì?

Nếu lúc đó tôi trả lời “Con muốn làm kỹ sư…, con muốn làm bác sĩ..,” chắc ông bố tôi vui lắm. Nhưng tôi trả lời  ông:

— Con muốn làm văn sĩ.

Câu trả lời của tôi làm ông bố tôi ngạc nhiên. Bố con tôi nắm tay nhau. Ông đứng lại nhìn tôi, như để xem tôi nói thật đến là chừng nào. Khi thấy tôi nói thật, ông bố tôi bảo tôi:

— Viết văn, làm thơ không phải là một nghề có thể nuôi thân. Con phải học, con phải có một công việc như thầy, con mới có thể nuôi thân con và nuôi vợ con con. Viết văn, làm thơ không phải là một nghề nuôi được người.

Ông bố tôi nói đúng. Những năm 1940, 1941 việc viết văn, làm thơ trong xã hội ta không phải là một nghề nuôi được người làm văn, làm thơ. Hai mươi năm sau, những năm 1960, xã hội ta có nhiều báo, nhiều sách truyện được in ra, tôi làm nhân viên tòa báo Sài Gòn Mới, tôi viết tiểu thuyết phơi ơ tông cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tuần báo Màn Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai …v..v.. Tôi kiếm được nhiều tiền. Ông bố tôi nói:

— Con làm nghề ký giả mà lại hay đấy. Làm báo, viết văn, ngoài việc có tiền nuôi vợ con con, con còn giúp được thầy mẹ, giúp được các em con.

Hai lần ông bố tôi nói đều đúng. Hai lần ấy cách nhau 20 năm.

o O o

Năm tôi Tám Bó tuổi đời, tôi gặp câu “Lão lai tài tận.Già đến, tài hết.”

Tôi thấm câu nói: “Già đến, tài hết.” Tài đây là tài năng, và tài tiền.

Ngày vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ — Tháng 12 năm 1994 – các bạn tôi, những người đến Hoa Kỳ trước chúng tôi, gửi tiền cho chúng tôi thật nhiều. Không phải chỉ khi đến được nước Mỹ tôi mới nhận được tiền của các bạn tôi. Khi đi tù lấn thứ hai – 6 năm – trở về mái nhà xưa, tôi đã nhận được tiền của nhiều bạn tôi ở nước ngoài gửi về giúp. Trong 6 tháng đầu vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa, chúng tôi được nhiều bạn chúng tôi gửi tiền giúp. Nhiều vị không quen, không ở trong giới văn nghệ, đã sốt sắng gửi tiền giúp chúng tôi. Xin cám ơn quí vị.

Trong 2 năm 1996-1997 nhật báo Người Việt gửi cho tôi mỗi tháng 500 đô. Năm 1997 Người Việt đăng truyện Dữ Hơn Rắn Độc của tôi theo kiểu tiểu thuyết Phơi-ơ-tông. Truyện này của tôi năm ấy được nhiều người tìm đọc.

Trong 10 năm – từ năm 1995 đến năm 2005 – tôi kiếm được nhiều tiền với những bài Viết ở Rừng Phong. Nhiều báo Việt đăng bài viết của tôi, đăng và trả tiền, mỗi bài là 50 Mỹ kim. Có báo Việt ở Canada, ở Úc. Nhiều báo Việt ở Mỹ đăng truyện Kiều Giang của tôi khi tôi chưa đến Mỹ. Có ông bà chủ báo viết thư cho tôi:

– Trong lúc không liên lạc được với ông, báo tôi đăng truyện Kiều Giang của ông mà không xin phép ông. Nay ông bà sang, chúng tôi xin gửi ông bà tiền nhuận bút.

Thời gian qua, tôi rơi vào tình trạng “lão lai tài tận.” Những tờ tuần báo Việt Nam trên đất Kỳ Hoa cứ chết dần. Đến nay – Tháng Mười Hai 2016 – chỉ còn tuần báo SAIGONNHO, tờ báo đang ở trên tay bạn, còn đăng bài Công Tử Hà Đông Viết ở Rừng Phong.

Lão lai tài tận… Tuổi già đến, người ta hết tài, hết tiền.

Tuổi già đến với tôi, tôi hết tài, hết tiền. Như mọi người. Không có gì khác lạ.

Tôi cho ảnh phim Le Destin Execrable de Guillemette Babin vào bài VoRP này để tặng những ông 60 năm xưa đã xem phim ấy ở rạp xi-nê Ciro’s Hà Nội. Năm xưa ấy các ông trẻ nhất cũng phải 17, 18 tuổi. Năm nay – 2016 – các ông phải ở số tuổi Tám Bó.

 

nguyendinhtoan2

Sáng vào Thu, mưa nhẹ trên Rừng Phong, những cành cây trụi lá. Người lưu vong già ngồi nhìn trời qua cửa sổ. Những con sóc theo nhau chuyền cành. Loài sóc không di chuyển dưới đất, sóc bao giờ cũng đi đôi. Và đi trên cây.

Việt Nam có sóc hay không? Tôi không biết. Khi đến Hoa Kỳ  tôi mới thấy sóc.

Một buổi sáng 20 năm xưa, anh Nguyễn Sơn, nhân viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ – VOA. Voice of America – đưa tôi đến trụ sở Đài trong Washington DC. Xe của anh phải đậu trong một chỗ đậu xe xa trụ sở đài. Tôi theo anh đi bộ đến đài. Trên đường đi tôi nhín thấy những con sóc chuyền cành, chạy qua đường. Đấy là những con sóc đầu tiên tôi nhìn thấy trong đời tôi. Trong 20 năm tôi thắc mắc: loài sóc sống bằng trái cây. Những cây xanh trong thành phố không cây nào có trái, loài sóc trong thành phố sống bằng gì?

Ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng, 6 giờ sáng tôi ngồi uống cà phê, xem TiVi, nhìn trời qua khung cửa sổ. Trong 40 năm tôi sống và viết ở Sài Gòn nhiều năm tôi muốn được ngồi viết trước khung cửa sổ nhìn ra trời xanh. Ước muốn ấy của tôi ít khi được toại. Nay căn phòng của vợ chồng tôi có cửa sổ mở ra hướng đông nam, buổi sáng nắng vàng chan hòa trong phòng. Đêm trăng Mỹ qua cửa sổ vào nằm giữa phòng tôi. Có những nửa khuya tỉnh giấc, nhìn khung trăng vàng nằm trên sàn phòng, tôi nhớ Thơ Lý Bạch;

Sàng tiền khán nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.

Trước giường nhìn ánh trăng
Tưởng như sương trên đất
Ngửng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

o O o

nguyendinhtoan

Bẩy giờ sáng, mở computer, thấy thư của Nguyễn Đình Toàn:

Gửi HHT

Tụi mình đứa nào cũng ngoài Tám Bó, nhưng còn sống thì cứ sống thôi. Bà vợ tao nay gần như hoàn toàn không biết gì, phải được trông nom như một đứa trẻ. Nay tao lấy cái Buồn làm Vui.

Tao vẫn đọc mày những khi tao có báo đăng bài mày.

Thỉnh thoảng Văn Quang gọi phone cho tao, chuyện trò lan man, sức khỏe, thuốc, cấp cứu, bệnh viện. Nay chàng lên cầu thang không nổi, nên bỏ cả chuyện ra phố uống cà phê với các ông bạn ở nước ngoài về.

Mày với tao chắc khó lòng còn có ngày gặp lại Văn Quang. Hai thằng mình sống ngay trên đất Mỹ mà còn khó gặp nhau, nói gì đến chuyện gặp VQ ở Sài Gòn.

Nhớ Meo luôn cho tao nhé.

Nguyễn Đình Toàn

o O o

Nguyễn Đình Toàn, Hoa Kỳ, năm 2000.

Nguyễn Đình Toàn, Hoa Kỳ, năm 2000.

Nguyễn Đình Toàn trên Internet

Nguyễn Đình Toàn sinh 6 Tháng 9, 1936.  Ông có bút hiệu là Tô Hà Vân khi viết văn và Hồng Ngọc khi viết nhạc.

Ông sinh tại huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh, di cư vào Nam năm 1954.

Ông đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới nhiều dạng: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, bút ký. Tác phẩm Áo mơ phai của ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam Cộng Hòa năm 1973.

Nguyễn Đình Toàn viết nhiều truyện dài đăng thành nhiều kỳ trên các báo chí Miền Nam như tạp chí Văn, Văn Học và các nhật báo như Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, và Tiền Tuyến.

Ông có công trong việc phát triển tân nhạc Miền Nam qua chương trình phát thanh Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh quốc gia VTVN mỗi tối Thứ Năm.

Sau năm 1975, ông bị chính quyền Cộng sản bắt và giam học tập cải tạo. Năm 1998 ông cùng vợ được xuất cảnh sang Mỹ và định cư ở California nơi ông tiếp tục viết.

Một số bản nhạc của ông được nhiều người biết là “Sài gòn niềm nhớ không tên” (Đúng ra tên là “Nước mắt cho Sài Gòn”)[ và “Tình khúc thứ nhất” do Vũ Thành An phổ nhạc. Ca sĩ Khánh Ly đã thâu âm và phát hành 2 đĩa nhạc với những sáng tác của ông.

o O o

Nữ Ca sĩ Quỳnh Giao viết về Văn sĩ Nguyễn Đình Toàn:

Ngày còn bé, Nguyễn Ðình Toàn không biết đánh đáo.

toan2Ông đánh mạt chược thuộc loại đáo để và ăn nói còn đáo để hơn trên bàn mạt chược, nhưng Quỳnh Giao nghi là ông không biết đánh đáo. Hoặc có lẽ không thèm đánh đáo. Ở tuổi ấu thơ, Nguyễn Ðình Toàn ham mê chuyện khác, để ý đến chuyện khác, chuyện thi ca chẳng hạn, thơ và nhạc.

Người ta có thể kết luận như trên khi đọc tập bút ký của ông viết về 190 tác giả, có tựa đề là “Bông Hồng Tạ Ơn” vừa được ra mắt tại báo quán Người Việt chiều 28 Tháng Mười vừa qua. Quỳnh Giao không viết về ông trước ngày đó như để giới thiệu sinh hoạt này.

Nguyễn Ðình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu.

Nguyễn Ðình Toàn có lẽ không đánh đáo với chúng bạn đồng tuổi vì ông mải nhìn mây, nghe nhạc, đọc văn và tìm hiểu về thơ. Không vậy, ông đã chẳng có một ký ức đầy ắp về những nghệ sĩ đã nổi danh từ thập niên 1950. Ông biết về họ rất tường tận, trước khi chính mình bước vào thế giới đó.

Giới yêu văn học thì biết Nguyễn Ðình Toàn qua các tác phẩm văn chương. Ông là một nhà văn nổi tiếng, có độc giả và từng được Giải Thưởng Văn Chương với Áo Mơ Phai, tác phẩm làm ông bị khổ sở không ít sau năm 1975.

Ông còn khổ sở hơn vì không chịu cúi đầu, vẫn cứ ngang ngạnh khi gặp cảnh tù đày.

Sau khi được thả ra, ông còn ngang ngạnh (dùng chữ hiên ngang tất sẽ làm ông khó chịu!) và khi chế độ trong nước thay đổi, xin tái bản lại Áo Mơ Phai, ông vẫn ngang ngạnh: “Các anh muốn làm gì chẳng được, nhưng đã hỏi tôi khi muốn tái bản thì tôi chỉ xin các anh ghi vào lời tựa lý do vì sao đã kết án tác phẩm và bỏ tù tác giả!” Ðược tái bản sách, nhiều người rất thích và đành nhịn. Nguyễn Ðình Toàn lại có cách từ chối đáo để như vậy thì… ai mà nhịn được!

Giới yêu thơ cũng từng mê thơ Nguyễn Ðình Toàn, đã được đọc lại còn được nghe.

Quỳnh Giao xin nói về chuyện nghe thơ này.

Thời ấy, vào thập niên 1960 trở về sau, các ban tân nhạc trên đài phát thanh đều có xướng ngôn viên của đài hoặc chính các ca sĩ tự giới thiệu lấy trước khi trình bày.

Và người ta không có lời giới thiệu (tiền thân của giới EmXi MC thời nay) để cho tác phẩm một cái mũ, một cái “châpeau” dẫn vào tác phẩm và nghệ sĩ trình bày. Ngoại lệ có tính chất tiên phong là chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” của Anh Ngọc, do Mai Thảo viết châpeau dẫn thính giả vào nhạc. Ông có cách hành văn rất tây, với lối dùng chữ mới lạ, dễ “bắt tai” thính giả. Hàng tuần, thính giả chờ đón để được nghe các ca khúc nghệ thuật mà người hát, hòa âm, và cả lời giới thiệu đều trau chuốt bóng bảy. Người đọc những dòng giới thiệu thường là Anh Ngọc, Mai Thảo, đôi khi Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương và cả Quỳnh Giao.

Người không đội mũ nhưng gắn hoa và thổi mây lên từng ca khúc nghệ thuật là Nguyễn Ðình Toàn, với chương trình gọi là “Nhạc chủ đề”.

Ông viết lời giới thiệu như người ta làm thơ. Văn phong của ông cổ điển hơn, khác với lối viết của Mai Thảo hay lời nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng là một loại thơ dẫn vào nhạc.

Chương trình ăn khách và thực sự tạo ra một trào lưu chính là nhờ giọng nói truyền cảm, như lời thủ thỉ, của Nguyễn Ðình Toàn. Ông dẫn thính giả vào nhạc bằng câu “Hỡi em yêu dấu” như chỉ nói với một người. Qua làn sóng điện người nghe thấy ông thầm thì với riêng mình về những cảm xúc do ca Ðáng lẽ, chương trình ấy phải được gọi là “Dẫn em vào nhạc” mới phải, nhưng thời ấy chúng ta chưa dám táo bạo như thế! Qua cách nói… “hỡi em yêu dấu”, rõ là Nguyễn Ðình Toàn chỉ nói với phái đẹp. Vào quãng thời gian ấy, ông còn quá trẻ để gọi thính giả nam phái là “em”!

Mà ông không cao ngạo như Ðinh Hùng khi xưng là “ta” với người đẹp, ông mộc mạc nhũn nhặn xưng là “tôi”.

Thế mới chết… chị Thu Hồng!

Nhớ lại thì nếu Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc gồm những giọng hát thượng thặng của thời đó trình bày, được chính ông chọn lọc và bầy bán giới hạn tại cửa hàng Au Printemps gần thương xá Tax, đã dẫn tới một ngành sinh hoạt mới là các trung tâm thực hiện băng nhạc, thì chương trình Nhạc Chủ Ðề của Nguyễn Ðình Toàn đã là nơi báo hiệu hào quang lên những ca sĩ sau này là tên tuổi lẫy lừng, như Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu…

Phải nói rằng nhiều ca sĩ thường xuyên cộng tác với đài phát thanh hoặc xuất thân từ các gia đình nghệ sĩ thì đã được… “lăng xê” từ trước và họ thực sự là những người chuyên nghiệp vì sự đòi hỏi của các đài phát thanh. Chương trình của Nguyễn Ðình Toàn lại khác.

Ông mời những giọng hát tài tử trong tinh thần “hát cho vui”, hát vì nghệ thuật.

Luật gia Khuất Duy Trác thuộc thành phần ấy và đóng góp rất nhiều cho chương trình này. Một thí dụ khác là kỹ sư địa chất Võ Anh Tuấn – người tham dự việc tìm ra mỏ dầu đầu tiên – được mời hát Dạ Khúc của Nguyễn Mỹ Ca với giọng Nam như Trần Văn Trạch. Theo Quỳnh Giao, bài thành công nhất của Võ Anh Tuấn là Giọt Mưa Thu của Ðặng Thế Phong. Miền Nam không có mưa Thu Hà Nội, Nguyễn Ðình Toàn khơi dậy Mùa Thu ấy trong tâm cảnh của chúng ta ở miền Nam qua cách trình bày của Võ Anh Tuấn.

Không có cái tai thẩm âm, ai lại dám làm điều ngược ngạo ấy vì thời đó và sau này, hát theo giọng Bắc mới được coi là hay! Cũng qua chương trình Nguyễn Ðình Toàn, mà Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác hay Sĩ Phú, v.v… đã là những tiếng hát vượt không gian. Ra khỏi các sân khấu thành phố mà vang vọng khắp bốn vùng chiến thuật và tạo ra một làn sóng ngưỡng mộ từ đó không nguôi. Ngay cả những ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn cũng đã như cánh vạc bay, và bay mãi, là từ chương trình Nhạc Chủ Ðề, qua tiếng hát Khánh Ly và lời thủ thỉ của Nguyễn Ðình Toàn.

“Những bản tình ca không có hạnh phúc” qua tiếng hát của “nàng góa phụ của cuộc chiến này” là cách Nguyễn Ðình Toàn giới thiệu ca khúc Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Có MC nào của đời nay làm chúng ta xúc động như vậy không?

Nguyễn Ðình Toàn là nhà văn, là thi sĩ và ông giới thiệu nhạc bằng cảm nhận của nhà thơ.

Ông cũng là nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều trong những năm về sau nhưng tác phẩm bị trùm lấp trong biến cố 1975. Khi ông ra đến ngoài này, sự thẩm âm của thiên hạ đã thay đổi. Người ta “hát giọng răng” (nói theo lối ví von của Phạm Duy, vì cô ca sĩ có hàm răng khấp khểnh) và giới thiệu ca khúc bằng vũ khúc…

Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Ðình Toàn chưa cho ra mắt một tác phẩm đáng lẽ phải có tên là “Dẫn em vào nhạc Nguyễn Ðình Toàn”, mà lại viết về những người nghệ sĩ ông sợ là chúng ta sẽ quên. Ông gửi tới họ những bông hồng tạ ơn qua tài năng cố hữu của ông, là dùng thơ dẫn người đọc vào ngôi vườn hoa của người khác.

Khi viết bài này, trong dư âm của một chương trình nhạc chủ đề của Nguyễn Ðình Toàn, (chủ đề cuốn băng là “tình ca”) Quỳnh Giao bồi hồi nghĩ là “áo mơ chưa hề phai” trong tâm khảm ông.
Nguyễn Ðình Toàn chỉ sợ những kỷ niệm cần trân quý của chúng ta bị phai lạt dần…  Ông tạo ra một không khí tình cảm dịu dàng điệu nghệ để người nghe chuẩn bị đón nhận…

Lời thủ thỉ ấy đẹp như thơ làm thính giả phái nữ thấy lòng mình chùng xuống.

QUỲNH GIAO

o O o

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
BÔNG HỒNG TẠ ƠN

Liên lạc mua Sách: toandinh@yahoo.com

THEO GIÓ BAY ĐI

Gina Lollobrida, Ðào Ý, và Gérard Phillipe, Kép Pháp, đôi diễn viên trong phim FANFAN LA TULIPE, phim đen trắng, đến màn ảnh Sài Gòn khoảng năm 1960. Trong một thời ngôn ngữ giới văn nghệ sĩ Sài Gòn có câu: “..Phăng phăng la tuy líp..”; thuật ngữ của những Chú Coón, cô Lìn: những chuyên gia uốn tóc của Sài Gòn – Chợ Lớn thập niên 1960, có câu dùng để quảng cáo trên báo: “Uốn theo kiểu Lollo Úp Ra, Lollo Úp Vô..” Thế nào là “Lô-lô úp dza, Lô-lô úp dzô?” Mời đọc trong bài.

Gina Lollobrida, Ðào Ý, và Gérard Phillipe, Kép Pháp, đôi diễn viên trong phim FANFAN LA TULIPE, phim đen trắng, đến màn ảnh Sài Gòn khoảng năm 1960. Trong một thời ngôn ngữ giới văn nghệ sĩ Sài Gòn có câu: “..Phăng phăng la tuy líp..”; thuật ngữ của những Chú Coón, cô Lìn: những chuyên gia uốn tóc của Sài Gòn – Chợ Lớn thập niên 1960, có câu dùng để quảng cáo trên báo: “Uốn theo kiểu Lollo Úp Ra, Lollo Úp Vô..” Thế nào là “Lô-lô úp dza, Lô-lô úp dzô?” Mời đọc trong bài.

Tôi thù ghét nhiều cái của bọn Nga Cộng, trong số có Phim Xi-nê Nga Cộng. Phim Xi-nê là nghệ thuật tôi yêu mê từ những năm tôi mới 10 tuổi. Những năm tôi mười, mười một tuổi, tôi từng mơ lớn lên tôi sẽ làm tài tử xi-la-ma. Vậy mà sau Tháng Tư Ðen Hơn Mõm Chó 1975, sau khi coi 3, 4 bộ phim xi-nê truyện của bọn Nga Cộng chiếu ở Sài Gòn, tôi thề:

– Còn sống ở Sài Gòn, ta sẽ không bao giờ đi xem xi-nê. Ta chỉ đến rạp xi-nê xem phim khi nào ta đến được Ðất Tự Do.

Lời thề của tôi có nghĩa là tôi sẽ đến chết, không bao giờ đến rạp xem phim xi-nê của bọn Cộng sản, Nga Cộng hay Cộng nào cũng vậy thôi. Tôi chỉ đi xem phim xi-nê Âu Mỹ Tự Do. Và muốn xem phim xi-nê Âu Mỹ, tôi phải đến những thành phố các nước Tự Do, những năm 1976, 1977, 1978… ở Sài Gòn cờ đỏ máu người Việt, tôi, như nhiều người Sài Gòn, nghĩ rằng không bao giờ bọn cộng sản chịu cho những phim xi-nê Mỹ, Pháp vào chiếu trong nước.

Gone With The Wind tiếng Pháp là Autant En Emporte Le Vent. Những năm đầu thập niên 1950 khi phim đến Hà Nội, khán giả xi-nê Hà Nội dịch là Cầm Bằng Theo Gió Bay Đi. Ở Sài Gòn tên phim là Cuốn Theo Chiều Gió.

Gone With The Wind tiếng Pháp là Autant En Emporte Le Vent. Những năm đầu thập niên 1950 khi phim đến Hà Nội, khán giả xi-nê Hà Nội dịch là Cầm Bằng Theo Gió Bay Đi. Ở Sài Gòn tên phim là Cuốn Theo Chiều Gió.

Hai mươi năm sống mòn, sống mỏi, sống dzật, sống dzờ – hay sống vật, sống vờ cũng rứa – trong lòng thành phố thủ đô thương đau, không một lần tôi đi vượt biên. Nhưng dzậy mà trong những đêm buồn thiệt là buồn, buồn tả buồn tơi, buồn rơi lá lốt, buồn tuột giải rút, buồn tụt dây lưng, nằm phơi rốn thao thức trên sàn xi-mo Lầu Bát Giác Chí Hòa, nôm na và hụych tọet là Nhà Tù Chí Hòa, cũng có đêm tôi mơ tôi vượt biên đến được Pulan Bidong, Pulan hay Pulau cũng rứa, hay đến được đất Mã Lai, Nam Dương.

Những đêm xanh xưa ấy trong những phòng giam ba bức tường, một hàng song sắt vây quanh, tôi mơ: Như mọi người Việt được người thế giới gọi là Thuyền Nhân: Boat People, vượt qua được biển Ðông trong chuyến đi mười phần chết chín, tôi dzô trại tị nạn chờ ngày lên máy bay sang Hoa Kỳ. Vượt biển sang được đến xứ người, dù chỉ mới là xứ người Mã, người Nam Dương, kể như là xong dzồi, thành công, thắng dzồi. Cuộc sống trên đảo chờ ngày đi sang Mỹ dù có khổ cũng vẫn sướng gấp triệu lần cuộc sống ở quê nhà trong kìm kẹp của bọn Bắc Cộng ác ôn côn đồ. Trước sau, sớm muộn gì ta cũng vĩnh biệt hải đảo xứ người này. Vội sang Mỹ làm chi. Hãy sống trên đảo xa trọn vẹn những ngày, những đêm Ðịnh Mệnh an bài cho ta sống, như ta đã sống trong những ngục tù cộng sản ở quê nhà. Cuộc đời có hạnh phước, có họan nạn, có tuyệt vọng, có hy vọng, có ngọt bùi, có đắng cay, có bỏ nước chạy lấy người không kịp, có gà què kẹt giỏ, có tù đầy, có vượt biên, có ở đảo.. mới là đầy đủ.

predetorTrong những đêm mơ màng ấy trên sàn xi-mo Nhà Tù Chí Hòa tôi mơ lên được đảo, tôi sẽ lập tức víết thư, gửi điện tín, và nếu có thể, phone đến tất cả những người bạn thân, sơ tôi biết địa chỉ ở Mỹ, Pháp, Anh, Úc, Congo, Dzimbabuê..vv.. ở hằm bà lằng síu oắt khắp mọi nơi trên trái đất, với lời kêu gọi bi thiết: “Trăm cay, ngàn đắng, một sống, chín chết đến được đảo. Gửi ngay cho ít tiền.” Có tiền cứu trợ, tôi sẽ hút Lucky Strike Ba Hàng Chữ For Export Only–Singapore Duty Not Paid, Pall Mall King Size, Philip Morris Vàng. Hút thả dàn, hút tối ngày, sáng đêm, hút trả thù những ngày cơ cực ở quê nhà phải hút thuốc lá Vĩnh Hảo, thuốc Rê nóng cháy môi mà không đủ dose vì thuốc có quá ít nicotine. Tôi sẽ kín đáo tìm trong trại tị nạn một em Nữ Thuyền Nhân không quá trẻ – những năm 1980 tôi trên dưới 45 tuổi – tôi sẽ tìm một em trạc 30-35-40, không cần em đẹp hay sexy chi lắm, chỉ cần em có vẻ hiền hậu, lương thiện, và em vượt biển đến đảo một mình, tôi sẽ nói với Nàng, tức với Em:

– Em muốn đi chơi thành phố không? Anh có tiền các bạn anh gửi cho, anh mời em đi chơi với anh.

Tôi xin phép ban quản đốc trại, tôi đưa nàng ra đường chờ xe bus đi về thành phố. Chúng tôi nắm tay nhau đi dạo phố người, như ngày nào tươi nắng chúng tôi đi bên nhau trên đường Lê Lợi, Tự Do, dzô Thương Xá Tax, tiệm Giải Khát Pole Nord, tiệm Kem Mai Hương, Nhà Sách Khai Trí, Nhà Sách Xuân Thu, Phở Minh, tiệm Hủ tíu Paté-chaud Phạm Thị Trước..vv.. Ở xứ người, ở chợ người, bằng đô-la của bạn cho, tôi mua tặng nàng vài món quà nhỏ: khăn bông, bàn chải đánh răng, sà-bông thơm, gương lược..vv.. rồi tôi nói với Nàng:

– Anh có lời thề anh không bao giờ vào rạp xi-nê ở Sài Gòn xem phim của bọn Cộng. Không những chỉ thề suông, anh thề độc: sống ở Sài Gòn mà vào rạp xi-nê xem phim cộng sản, anh hộc máu chết ngay tại cửa rạp. Anh thề anh chỉ đi xem xi-nê ngày nào anh đến được Ðất Tự Do. Hôm nay anh ở trên đất Tự Do, hôm nay là lần thứ nhất sau Ngày 30 Tháng Tư Ðen Hơn Mõm Chó anh trở lại rạp xi-nê, em đi coi xi-nê với anh nhé?â

Tôi xin lỗi đã làm quí vị sốt ruột vì tôi kể lể dài dòng, tôi phải kể để nói lên việc tôi đã giữ được lời thề “Không đi xem phim cộng sản..” Trong hai mươi mùa lá rụng sống ở Sài Gòn sau năm 1975 tôi đã không một lần đi xem xi-nê. Có thể có những vị Cựu Thuyền Nhân từng sống ở những trại tị nạn đọc chuyện tôi kể như thế này, cười rằng: “Anh này viết nhảm. Thuyền nhân sống ở đảo khổ bỏ cha đi, làm gì có chuyện anh ả dắt nhau ra tỉnh xem phim xi-nê..!” Tôi xin lỗi, Tôi đã viết đây là chuyện tôi tưởng tượng. Mười chuyện tưởng tượng thì có đủ mười chuyện không có thật.

Nhưng mà tôi kể chuyện tôi tưởng tượng thôi. Tôi không vượt biên nên tôi không là Thuyền Nhân, tôi không sống ngày nào trên đảo, nhưng dù có vượt biên, có là Thuyền Nhân, có đến đảo, thì vừa bước chân lên đảo chắc như bắp rang là tôi sẽ lập tức buồn nhớ quê hương, tôi sẽ thương vợ, nhớ con, tôi ở đảo yên thân tôi rồi nhưng vợï con tôi sống khổ ở Sài Gòn, đồng bào tôi đang rên siết trong gông cùm cộng sản, biết ngày nào tôi mới được gặp lại vợ con tôi, những năm 1980 có ai ngờ chỉ 10 năm sau người Việt từ Mỹ về Sài Gòn đông như kiến, người Việt ởi Mỹ về Sài Gòn như đi chợ, nhưng khi đến được hải đảo vừa bị mất quê hương, mất vợ con, tôi lòng dạ nào mà tuyển lựa một em Nữ Thuyền Nhân Nửa Chừng Xuân Thắm, cùng em dắt tay nhau phơi phới ra thành phố người, đưa nhau vào rạp xi-nê xem phim như thế. Tôi là người, tim phổi tôi đâu phải bằng gỗ đá.

Tháng Tư năm 1984 khi bọn Công An Thành Hồ cho xe ô tô đến nhà đón tôi đi tù lần thứ hai, Sài Gòn rách hơn cái sơ mướp, nát hơn cái mền Sakymen, một xóm cả hai, ba trăm nhà may ra chỉ có một, hai nhà còn cái TiVi Ðen Trắng. Ðầu năm 1990, 6 năm sau, tôi từ nhà tù trở về mái nhà xưa, Sài Gòn đầy những máy TiVi Mầu, Ðầu Máy Video, phim Video Cho Muớn Ðủ Lọai: Tây, Tầu, Mỹ, Nhật. Trên những đường phố Sài Gòn cứ một, hai trăm thước lại có một nhà cho mướn đầu máy, phim video. Con tôi nói:

– Con mướn đầu máy với phim Vi-đê-ô về nhà cho Bố xem.

whitneyTrong những bộ phim Video đầu tiên tôi coi năm 1990 ở Sài Gòn có phim Predator, Arnold – Lực Sĩ Ðẹp Arnold, người bi giờ là Thống Ðốc Cali, trong Predator đóng vai Chiến Sĩ Biệt Kích Mỹ đánh nhau với Quái Nhân-Bò Cạp Hành Tinh lạc cõi trần ai. Predator làm tôi mê mẩn.

Tôi mê mẩn cũng phải thôi. Mười lăm năm rồi tôi không được xem phim Mỹ. Tôi không nhớ phim xi-nê cuối cùng tôi xem trứơc ngày Sài Gòn Ðứt Phim 30 Tháng Tư 1975 là phim gì. Phim Action như Predator là nhất, Number One. Phim không cần đối thọai, không cần có đàn bà, không cần cốt truyện, người xem vẫn bị hấp dẫn, vẫn biết có chuyện gì xẩy ra; Predator có những cảnh bắn nhau chí chạt, tả tơi, tơi bời, tanh banh rừng núi.

Bố con tôi biết Arnold từ những năm 1970 nhờ chung tôi xem những tạp chí BodyBuilding của Mỹ – những năm từ 1965 đến 1973 quân nhân Mỹ ở Sài Gòn đọc sách báo Mỹ xong vứt đi, người Việt lao công trong những bin-đinh Mỹ lấy đem ra bán cho những sạp sách báo vỉa hè – bố con tôi thấy ảnh Arnold trên các tạp chí ấy. Những năm 1970 Lực Sĩ Thẩm Mỹ Ðẹp Nhất-To Nhất Mỹ là Dave Draper, Arnold mới là Mầm Non. Hai mươi năm sau, 1990, Arnold trở thành Lực Sĩ Thẩm Mỹ Số Một Thế Giới.

Trong một phim video tôi được xem một đọan quảng cáo phim The Bodyguard. Kép Kevin Kostner đóng vai chàng vệ sĩ bảo vệ Nữ ca sĩ Whitney Houston. Lần thứ nhất tôi nhìn thấy Whitney Houston, lần thứ nhất tôi nghe Whitney Houston hát. Tôi mê Whitney Houston liền một khi. Tôi đi khắp các tiệm cho mướn phim Video ở Sài Gòn, tìm mướn cho bằng được phim The Bodyguard.

Ở Sài Gòn, tôi xem đi, xem lại The Bodyguard ba, bốn lần. Trong phim Whitney Houston hát một bài hay tuyệt trần đời. Chỉ cần bài hát ấy, tiếng hát ấy của Nàng thôi là đủ làm cho tim tôi vỡ ra làm 412.567.834 mảnh. Phim The Bodyguard ở Sài Gòn là phim Video sang đi, sang lại, hai, ba lần sang, nhiều đọan bị mờ, âm thanh bị rạn. Sang Mỹ, vừa có chỗ an cư, tôi đến ngay Nhà Blockbuster mướn phim The Bodyguard về xem. Ðầu máy tốt, phim tốt, hình ảnh rõ, âm thanh tuyệt hảo, tôi tận hưởng Whitney Houston trong The Bodyguard.

Nhưng về phim xi-nê tôi thấy Whitney Houston chỉ có mỗi một phim The Bodyguard là hấp dẫn, hai phim sau của nàng, Waiting to ExhaleThe Preacher’s Wife, làm tôi thất vọng.

Thế rồi trên những tờ báo chợ của Mỹ – báo chợ của Mỹ khác với báo chợ Việt ở Mỹ là báo chợ Mỹ bán ở những chợ thực phẩm Mỹ, báo chợ Việt ở Mỹ để cho người Việt lấy không ở những tiệm thực phẩm Việt – tôi thấy đăng dài dài những chuyện bê bối trong đời sống của Whitney Houston: nàng có anh chồng chẳng ra gì, không phải một mà nhiều lần chồng nàng đánh nàng tả tơi, nàng bị cảnh sát bắt vì say rượu lái xe, nàng chơi ma túy, nàng phải vào Viện Giải Ðộc Ma Túy..

Cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Người Nữ Ca Sĩ tôi ái mộ đến đây là xuống dzốc không phanh ư ? Thật tiếc cho Whitney Houston, tôi thương Nàng quá là thương!

Những tháng đầu năm 1995 bánh xe lãng tử mới đưa tôi đến Hoa Kỳ, tôi được anh em tôi mời đến chơi ở những thành phố họ ở. Một ngày Tháng Năm 1995 tôi đến Houston, Texas. Trong buổi gặp lại nhau ở xứ người. nói chuyện với anh em và bạn đọc ở Nhà Hàng Fukim, Houston, một ông độc giả nhắc lại một số những câu gần như thành ngữ những năm 1960 ông đọc được trong những phóng sự của tôi. Ðó là những tiếng, những câu tả oán, cầm nhầm, đi khách, ăn khách, đớp hít, đấu láo, ăn đong, đong thóoc, hít tô phe, sơ-mi gỗ, bà ba gỗ, ca ve, ca va, phú lỉnh, lên xe bông, bề hội đồng, phây phây, phom phom, đi một đường tiếu ngạo, đi tầu suốt..

Không phải tôi là người sáng chế ra, tức đặt ra những tiếng ấy. Ðó là những tiếng trong ngôn ngữ của giới giang hồ, đa số là những tiếng tôi nghe được của những anh em trong Ðoàn Cải Lương Kim Chung Tiếng Chuông Vàng Thủ đô. Tôi chỉ có công đưa những tiếng ấy vào phóng sự tiểu thuyết, và phổ biến những tiếng ấy trên báo.

Và ông bạn Houston nhắc đến câu “Tóc uốn kiểu Lô-lô Úp Dza, Lô-lô Úp Dzô..”, lời ông nói làm tôi bùi ngùi nhớ lại thời hoa niên của tôi. Những năm 1960 tôi ba mươi tuổi, tôi sống thơ thới hân hoan phơi phới trong thành phố Sài Gòn thân thương của tôi, tôi làm nhân viên tòa báo Sàugònmới, nhật báo có số báo bán cao nhất nên là nhà báo giầu nhất thời ấy, tôi viết tiểu thuyết quanh năm cho Nhật báo Ngôn Luận, cho các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai, Kịch Ảnh, Màn Ảnh.. Những năm ấy tôi trẻ, tôi có việc làm vững chắc, gia đình tôi yên ấm, tôi kiếm được tiền, tôi sống, tôi yêu, tôi làm, tôi viết, tôi chơi vi vút., vung vít..

Trong những cái gọi là phóng sự tiểu thuyết tôi viết năm xưa ấy tôi có dùng thành ngữ “Tóc nàng kiểu Lô-lô Úp Dza, tóc nàng kiểu Lô-lô Úp Dzô..” Ðó là một trong những lời quảng cáo đăng báo của những tiệm uốn tóc ở Sài Gòn – Chợ Lớn, những tiệm uốn tóc mà chủ nhân là những Cô Lìn, Chú Cóon.

Sài Gòn 1960..! Houston 1995… Washington DC 2006… Ôi.. thấp thoáng đấy mà 46 năm… Thời gian qua như thế thì.. Công Tử Hà Ðông làm sao còn có vóc dzáng James Dean những năm 1960 xanh thắm ngày xưa. Làm gì mà Chàng chẳng tàn phai nhan sắc!

Phải chăng từ độ ấy quan san
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
Riêng có mình ta phai áo lục
Còn Em sau trước vẫn hồng nhan?

Mèn ơi.. Ðó là Thơ Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, hổng phải Thơ Tui. Kiếp này tôi không là Thi sĩ bởi vì đời đã có những Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, tôi không làm Thơ vì đời đã có Thơ Ðinh Hùng, Thơ Vũ Hoàng Chương. Mỗi lần trái tim tôi thổn thức, hồn tôi nức nở, nôm na là mỗi lần tôi xúc động, tôi muốn làm Thơ, tôi đã có sẵn Thơ của hai Thi sĩ. Thơ của hai ông diễn tả trạng thái tâm hồn tôi một cách tuyệt vời, tôi còn phải ì ạch mần Thơ làm chi nữa, nhất là khi Thơ tôi lại dở ẹt, nhạt hơn nước ốc.

Ðây là Thơ Tôi:

Vèo trông lá rụng Rừng Phong
Ái ân phù thế lòng vòng thế thôi.

Cảm khái vì chuyện Whitney Houston, đây là bài Thơ tôi làm hôm nay, một ngày Tháng Năm 2006 tôi sống ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðât Trích:

Vèo trông lá rụng Rừng Phong..
Ðẹp trai mấy cũng già thòng thế thôi.
Soi gương, nhìn ảnh bồi hồi..
Nhớ xưa ta vẫn cười người bụng to
Ngờ đâu ta bụng bi giờ..
Xiết dây belt cũng thoớc-ty six in-chờ…! Hỡi ơi..!

Vòng bụng 36 inches!

Cảm khái cách gì.

Buồn sao buồn não, buồn nùng, buồn đến không còn viết được nữa. Xin tạm ngừng Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum Hải Ngọai ở đây.

 

ƯỚC MƠ và HIỆN THỰC

Tội đồ Lenin chết đã 70 năm vẫn bị người Nga căm hận, trừng phạt.

Tội đồ Lenin chết đã 70 năm vẫn bị người Nga căm hận, trừng phạt.

Không biết loài vật có ước mơ như loài người không? Tôi chắc loài vật cũng có những ước mơ, những mộng mơ như loài người. Như con hổ bị bắt nằm trong chuồng sắt ước mơ được trở lại rừng thẳm, như con chim bị nhốt trong lồng tre ước mơ được tung cánh tự do bay ngoài trời rộng. Tôi nghĩ ước mơ không phải là một khả năng riêng của loài người.

Con người khi đau khổ ước mơ được sung sướng, khi thiếu thốn ước mơ được có những gì mình cần có. Riêng tôi, tôi thấy tôi thường có những ước mơ thật tầm thường. Như trong lúc 5 giờ một buổi chiều mùa nắng năm 1977 trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân Sài Gòn của bọn Công An Việt Cộng Chuyên Bắt Nhân Dân, khi bọn cai tù đi điểm số tù nhân xong, chúng đóng tất cả những ô cửa gió trên những cửa sắt sà-lim, tôi đứng áp má vào cửa sắt ghé mắt nhìn qua khe cửa gió ra ngoài trời.

Lúc ấy trời Sài Gòn  vàng ánh nắng chiều, qua khe cửa gió tôi nhìn thấy những ngọn cây sao vệ đường Chi Lăng lả ngọn trong gió chiều. Tim tôi bỗng chan hòa thương nhớ.

Lenin bị dân Nga cưa đầu, bỏ trong xe rác.

Lúc ấy tôi bồi hồi nhớ thời gian vợ chồng tôi sống túng thiếu năm 1964. Ðó là những tháng sau khi nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận – hai sở làm chính của tôi – bị đóng cửa, tôi về làm nhật báo Ngày Nay, chủ nhiệm Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, chủ bút Vũ Khắc Khoan, được vài tháng thì báo Ngày Nay chết vì không bán được, vì báo hết vốn. Vợ chồng tôi phiêu dạt vể sống trong một căn nhà nhỏ ở Hẻm Chuồng Bò.

Bẩy, tám, chín, mười mươi năm xưa, chắc cũng như Bến Tắm Ngựa đường Yên Ðổ, như Khu Chuồng Chó ở Ngã Ba Chuồng Chó, nơi này trước kia có một hay nhiều chuồng bò nên có tên là Khu Chuồng Bò. Có hai đường vào ra Khu Chuồng Bò, một ngả ra đường Hai Mươi, bên kia đường là rạp xi-nê Long Vân và trường Phan Sào Nam, một ngả ra đường Petrus Ký, chỗ bến xe đò đi Ðàlạt.

Ðang làm được đến 20.000 đồng mỗi tháng, đến giai doạn đời tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó mực ấy, tôi kiếm được mỗi tháng khoảng3.000 đồng, làm gì mà vợ chồng tôi không vất vả, tiền nhà đã mất mỗi tháng 800 đồng. Ðói thì không đói nhưng vất vả, thiếu thốn thì quả là có. Có những buổi chiều có tiền, hai, ba trăm thôi, vợ chồng tôi đưa ba con chúng tôi ra đầu đường Pétrus Ký ăn cơm tấm. Gánh cơm tấm vỉa hè thật sạch, thật ngon, thật rẻ, khoảng 5 giờ chiều mới được gánh ra. Những buổi chiều mùa nắng xa xưa ấy ba con tôi còn nhỏ, đứa lớn 8 tuổi, đứa nhỏ nhất 5 tuổi. Các con tôi đã tắm, thay quần áo mới, trông chúng sạch, xinh, dễ thương làm sao. Gió chiều thổi có thể nói là lồng lộng trên Ngã Sáu Lý Thái Tổ.

Những buổi chiều xưa cùng vợ con ăn cơm tấm vỉa hè ấy tôi không biết là tôi sung sướng, tôi được ban ân phúc. Buổi chiều trong sà-lim Việt Cộng, đứng áp má vào cửa sắt nhìn qua khe cửa gió ra ngoài trời, nhớ những buổi chiều cùng vợ con ăn cơm tấm vỉa hè Ngã Sáu Petrus Ký vào giờ này năm xưa, tôi nghẹn ngào muốn khóc, đến lúc ấy tôi mới biết những buổi chiều xưa ấy đời tôi tràn đầy hạnh phúc.

Và lúc ấy, lúc áp má vào cửa sắt sà-lim, nhớ lại như thế, tôi nồng nàn ước muốn tôi được trở về với hè phố Sài Gòn thân yêu của tôi, tôi ước giờ này tôi được đi trên đường Lê Lợi đầy nắng vàng, hưởng làn gió mát từ sông thổi đến. Ði thế thôi. Chỉ được đi như thế tôi đã sung sướng. Mặïc mẹ ảnh anh Già Hồ cười toe trên những bức tường thành phố, kệ bố bọn cán Cộâng muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, tôi chỉ cần được đi trên vỉa hè đường Lê Lợi trong buổi chiều nắng vàng đẹp như chiều nay..

Biết rồi! Tù! Khổ! Kể rồi. Sốt ruột! Thưa vâng. Không kể chuyện tù đày nữa, xin chỉ nói đến những ước mơ. Ước mơ và hiện thực, tưcù sự thực, đời thực. Ước mơ thường không đi đôi với sự thực trong đời. Vì thế cho nên có những trường hợp con người tự làm cho những ước mơ của mình trở thành hiện thực.

Những người ấy là những công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa những năm 1976, 1977. Có thể nói tất cả nhân dân Việt Nam Cộng Hòa thù ghét bọn Việt Cộng – số người ưa bọn Việt Cộng ít đến không đáng kể – đến những năm 1976, 1977, ngoài nỗi thù ghét, những người dân VNCH còn khinh bỉ bọn Việt Cộng. Người ta thù ghét bọn cộng sản vì chúngï tàn ác, người ta khinh bỉ chúng vì chúng ngu dốt, vì chúng làm những trò bỉ ổi, bẩn thỉu quá đỗi. Người ta ước mơ “quân ta trở về..” Ước gì quân ta trở về! Ôi..Quân ta mà trở về thì ta sung sướng biết chứng bao! Người ta ước mơ như thế và người ta làm ước mơ ấy thành sự thực, người ta loan truyền nhau những tin hấp dẫn: quân ta ở trong rừng rất đông, quân ta mở cho chúng nó vào Sài Gòn để diệt gọn chúng nó, chúng nó sẽ không có đường chạy, lần này ta đuổi chúng nó về Bắc, lãnh thổ của ta sẽ ra đến Ðèo Cả, Thanh Hóa, rằn ri xuất hiện bên Cát Lái, phi cơ Mỹ thả dù đồ tiếp tế cho quân ta mỗi đêm, dân chúng ở Dốc Mơ, Ðàlạt bắt được nhiều hộp thực phẩm Mỹ thả dù từ phi cơ xuống, quân ta phục sẵn trong thành phố, sẽ ngoài đánh vào, trong đánh ra…

Trên ghế tiệm hớt tóc, tôi được anh chủ tiệm vừa lách tách cây kéo cắt tóc cho tôi vừa nói nhỏ:

_ Chúng nó chết cả đống đến nơi rồi…

Anh chủ là trung sĩ truyền tin, nhà anh mở tiệm hớt tóc, anh không bị đi tù cải tạo, anh nói:

_ Thằng Lê Duẩn phải ký cam kết rút hết quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa…

Tôi hỏi:

_ Ký ở đâu? Cam kết với ai?

_ Ký trong hội nghị mật. Cam kết với những nước Anh, Mỹ, Pháp. Lê Duẩn nó xin quốc tế giữ bí mật cho bọn chúng nó yên ổn rút về..

_ Sao anh biết?

Anh quan trọng trả lời:

_ Chúng tôi biết.

_ Sao không thấy Vê Ô A, Bê Bê Xê loan tin gì cả?

Vẫn rất đầy đủ thẩm quyền, anh đáp:

_ Hội nghị bí mật mà, bọn ký giả đâu có biết…

Chán ngấy, tôi muốn nói: “Thôi ông ơi. Chuyện vớ vẩn. Bọn ký giả Anh Mỹ chúng nó không biết mà ông biết..” Nhưng tôi không nói. Nói làm gì. Mình biết đó là chuyện vớ vẩn thì thôi, đừng làm cho người ta mất hứng, mất hy vọng. Làm cho người ta mất hy vọng là độc ác, là có tội. Người ta ước mơ chuyện đó xẩy ra, người ta làm như chuyện đó sắp xẩy ra thật. Thế rồi một tối Lê Trọng Nguyễn nói với tôi:

_ Mày tin không? Có người gặp Hùng Sùi đi bán bánh chưng, bánh giò..

Ðó là thời gian Sài Gòn có tin những người chống Cộng đã kết hợp được với nhau thành tổ chức ở ngay trong thành phố, đông lắm, súng đạn đủ cả, chỉ còn chờ ngày giờ nổi dậy. Tôi thán phục đàn anh nào đó trong phe ta bịa ra chuyện Hùng Sùi tối tối xách giỏ đi bán bánh chưng, bánh giò. Phải công nhận đàn anh có tài sáng tác tuyệt vời, đàn anh sành tâm lý nữa. Ðể làm cho người nghe chuyện ta có những tổ chức võ trang chống Cộng ở ngay trong thành phố là chuyện tin được, chuyện có thật, không gì bằng cho Trung Tá Hùng Sùi tối tối xách giỏ đi bán rong bánh giò, bánh chưng. Không cần phải phụ đề Việt ngữ từ em nhỏ lên ba đến cụ già chín bó khi nghe chuyện cũng thấy, cũng biết liền một khi như thế là Trung Tá Hùng Sùi của quân ta không đi học tập cải tạo, Trung Tá Hùng Sùi giả làm ông bán bánh chưng, bánh giò đi liên lạc, cho tin, trao lệnh cho những kháng chiến quân trong thành phố. Nếu Trung Tá Hùng Sùi mà đi bán bánh giò, bánh chưng thì đúng là ta có “quân ta” ở ngay trong thành phố rồi!

Năm 1977 không khí Sàìgòn sôi động lên vì cái gọi là “Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt”. Người ta nói Thông Cáo này được dán trên bảng Cáo Thị trước cửa cái gọi là – lâu quá quên mất tên gọi đúng – Sở Phụ Trách Ngoại Kiều ở đầu đường Nguyễn Du. Anh Việt Cộng tên là Năm Thạch là chủ nhiệm cái sở này. Mấy năm sau có tin anh bị mất chức rồi bị giết chết. Vụ giết anh bị cho chìm suồng. Thông Cáo được dán ở đó chừng nửa buổi thì bị nhân viên trong Sở ra bóc đi mất. Nhưng có người chép được cái Thông Cáo ngàn vàng ấy. Ðại ý nó như sau:

“Sẽ cho ra đi ồ ạt những nhân viên chính quyền cũ, các sĩ quan quân đội cũ và những người có liên hệ với chính phủ Hoa Kỳ. Thứ tự ưu tiên những thành phần được ra đi như sau:

_ Hồi chánh viên

_ Sĩ quan.

_ Công chức cao cấp

_ Dân biểu, thẩm phán

_ Nhân viên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ…”

Tôi được một ông bạn cho xem bản Thông Cáo ấy, bản đánh máy, ngôn từ đại khái như trên. Tôi nhớ bốn tiếng “Ra đi ồ ạt” và “Hồi chánh viên” đứng ưu tiên số một.

Khi nghe nói về cái Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt đó tôi không tin lắm nhưng tôi cũng không thể nói đó là chuyện bịa. Người ta mơ ước được Ra Ði Ồ Ạt, người ta bịa ra Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt. Tôi thán phục đàn anh nào trong cái năm u tối ghê gớm 1977 sáng tác ra bản Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt ấy.

“Ði được thì cái cột đèn nó cũng đi..” Nghe nói đó là lời Nghệ sĩ Trần Văn Trạch nói ở Paris. Toàn thể nhân dân Quốc Gia VNCH không muốn sống với bọn Việt Cộng, gần như tất cả nhân dân VNCH muốn được đi khỏi nước mình. Và không ai bảo ai người ta đã vượt biển ra đi, hàng hàng lớp lớp, liên miên không dứt, bất kể sống chết, nam như nũ, trẻ như già, giầu và nghèo rớt. Bất chấp những chuyện bị bọn Việt Cộng bắt, cho đi tù khổ sai, chuyện phụ nữ bị hải tặc hiếp, chuyện đàn ông, con trai bị hải tặc quăng xuống biển, chuyện thuyền chìm, thuyền vỡ, chuyện thuyền vượt biển lênh đênh  trên biển, đói khát, người phát điên nhẩy xuống biển, người ăn thịt người.., người dân VNCH cứ người sau, kẻ trước xuống những con thuyền ọp ẹp làm cuộc vượt đại dương. Họ làm cho người thế giới phải xúc động, phải kinh ngạc, họ cung cấp cho ngôn ngữ Anh Mỹ danh từ  Boat People. Ước mơ đi khỏi nước để không phải sống với bọn Việt Cộng sôi sục mãi trong trái tim những người dân VNCH.

Những năm 1982, 1983 Sài Gòn có tin “chính phủ Úc nhận dân Việt di cư sang Úc.”  Người ta hân hoan bảo nhau không cần vượt biên nữa, chỉ cần ghi tên di cư sang Úc là được sang Úc. Ði bằng tầu biển, mỗi chuyến tầu ngoại quốc đến tận nơi chở đi 5.000 người. Ði đàng hoàng, đi công khai. Việc ghi tên đơn giản và dễ dàng, chỉ cần làm danh sách ghi tên vợ chồng, con cháu, dâu rể – một gia đình bao nhiêu người cũng được – số nhà, kèm theo một bản in ảnh căn cước tất cả những người có tên trong danh sách, nộp cho người nào đó biết chỗ nộp đơn, không phải đóng qua một đồng lệ phí nào cả, cứ ở nhà chờ, sẽ có người trong tổ chức, được gọi là Tổ Trưởng, một Tổ trưởng phụ trách mấy chục gia đình, đến nhà cho tin, hẹn ngày xuống tầu.

Chuyện di dân sang Úc hấp dẫn vì người đi không phải đóng qua một đồng lệ phí nào, do đó người ta tin nó không phải là chuyện bịp. Tôi không tin cái chuyện di dân sang Úc ngon lành quá cỡ thợ mộc đó nhưng tôi cũng không có tư cách gì để nói đó là chuyện vớ vẩn. Không thể bảo đó là chuyện bịp vì những tổ chức nhận đơn không lấy tiền của ai. Người ta nộp danh sách, nộp ảnh, và người ta nuôi giấc mộng một ngày đẹp trời có người đến nhà bảo:

“Ði..! Ra bến Sài Gòn, ra Vũng Tầu, ra Nha Trang…lên tầu sang Úc..”

Chuyện thần tiên cứ sôi âm ỉ như thế cho đến năm 1983 bọn Công An Việt Cộng xuống tay càn quét những tổ chức nhận đơn di dân sang Úc.

Một trong những tổ chức nhận đơn nổi tiếng nhất là tổ chức của một nhân vật có tên là Năm Biểu, hay Năm Bửu. Tôi không gặp Năm Biểu lần nào, nhiều ông bạn tôi, trong số có các ông bác sĩ, kỹ sư, thẩm phán,  từng gặp Năm Biểu và rất mê tín Năm Biểu. Nhiều ông cho tôi biết:

“Ông Năm”, tức Năm Biểu,  từng lên máy bay sang Úc trao danh sách di dân, ký nhận đất với chính phủ Úc, được Thủ Tướng Úc chào đón, rồi lại bay về Sài Gòn để lo cho đồng bào đi.

Tôi théc méc tại sao chính phủ Úc không nhờ Công An Việt Cộng làm việc nhận đơn xin di dân mà lại giao việc cho một nhân vật tôi chưa từng nghe nói đến tên bao giờ là Năm Biểu, ông bạn tôi trả lời tại chính phủ Úc không tin bọn Công An Việt Cộng, sợ nhờ  bọn nó sẽ cho toàn những tên đảng viên và những tên thân Cộng đi, vì “Ông Năm” là nhân vật được Thủ Tướng Úc và nhiều nhân vật cao cấp trong chính phủ Úc, Quốc Hội Úc,  biết, tin cẩn..v…..v..

Ra toà, Chủ Chốt Năm Biểu bị Việt Cộng phạng 10 năm tù, hai ông phụ tá của Năm Biểu mỗi ông 6 quyển lịch Tam Toong Méo. Tôi quen một ông trong hai ông phụ tá ấy. Ông bị nó tó năm 1983, tháng Năm năm 1985 tôi vào Phòng 10 Khu ED Lầu Bát Giác Chí Hòa, thấy ông ở trần, quần sà-lỏn, trong Phòng 9 cùng khu. Năm tháng qua, tôi được biết bây giờ ông sống với vợ con ông ở Cali, sau cùng ông cũng ra đi Trong Vòng Trật Trầy Orderly Departure Program sang Mỹ như mọi người, ông không có sang Úc, sang Iếc chi cả.

Cũng nghe nói năm xưa ấy ông Nhạc sĩ Lê Thương là một trong những người nhận đơn di dân sang Úc, ông nhận đơn gần như công khai ở nhà ông, có Nữ ca sĩ Mộc Lan giúp ông làm việc ấy. Nghe nói ông chỉ bị bọn Công An Thành Hồ đến nhà tịch thu hết hồ sơ và bắt ông lên sở khai báo liền ba, bốn ngày, nhưng ông không bị bắt giam ngày nào.

Những ngày như lá, tháng như mây… Thời gian vỗ cánh bay như quạ… Năm 1990…, 13 năm sau năm 1977, năm Sài Gòn có bản Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt, Chương Trình Ra Ði Trật Tự ODP – Orderly Departure Program – được thực hiện. Ðúng như lời đã được báo trong Thông Cáo năm 1977: các sĩ quan, công chức cao cấp, các dân biểu, thẩm phán VNCH được ra đi, được chính phủ Mỹ cho mượn tiền mua vé máy bay, được chính phủ Mỹ cho người đón, giúp đỡ. Có thể nói là “ra đi ồ ạt” vì nhiều chuyến phi cơ bay từ Sai Gòn sang Mỹ có chuyến đông tới 200, 300 di dân tị nạn Việt Nam. Người đi những chuyến phi cơ đông đến như thế, trung tâm ODP ở Sàigòn ngày nào cũng có cả nghìn người đến làm thủ tục phỏng vấn để ra đi, chẳng “ra đi ồ ạt” thì còn là gì?

Tôi thán phục tác giả bản “Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt” năm 1977. Ðại ca ơi, xin Ðại ca nhận lời thán phục của đàn em! Ai bảo ước mơ không bao giờ trở thành hiện thực? Vẫn biết ở đời mười chuyện thì có đến bẩy, tám chuyện ta không được vừa ý. Nhưng ta đừng đòi hỏi nhiều hơn. Mười chuyện mà có đến hai, ba chuyện ta được hài lòng tôi thấy cũng là đã lắm rồi.

Những ngày như lá, tháng như mây.. Thời gian vỗ cánh bay như quạ.. Ba năm, rồi năm năm, rồi bẩy, tám năm qua đi trên thành phố Sài Gòn nặng những ưu phiền, những khổ nhục, những thù hận. Những mùa mưa đến theo những mùa nắng.. Những nàng trinh nữ hết còn là trinh nữ, những nhan sắc tàn phai, nhưng niềm ước mơ “quân ta trở về” vẫn không phai nhạt một ly ông cụ nào trong tim những người dân VNCH. Người ta thù ghét bọn Việt Cộng đến cái độ có người nói ra miệng”

“Ước gì Mỹ nó thả bom nguyên tử xuống cho chết mẹ chúng nó hết đi..”

Nếu có ai nói:

“Mỹ nó thả bom nguyên tử chúng nó chết mình cũng chết..”

Người đó sẽ được nghe tiếp câu nói xanh rờn:

“Mình chết cũng được, miễn là chúng nó chết..”

Những chuyện kháng chiến quân, phục quốc quân vẫn cháy âm ỉ trong lòng nhân dân, từ lâu rồi người ta ước mơ “quân ta” có tiếng nói, tức “quân ta” có đài phát thanh; bẩy, tám mùa lá rụng đã qua, bây giờ đến lúc người ta không còn ước mơ nữa, người ta đòi hỏi “quân ta” phải có tiếng nói, tức “quân ta” phải có đài phát thanh, “quân ta” ở đâu cũng được, “quân ta” chưa kéo về cũng được, nhưng “quân ta”, nếu thực sự có “quân ta”, và nếu “quân ta” mạnh đến cái độ có thể đuổi bọn cán binh Bắc Việt Cộng chạy về Bắc không kịp vác theo cái tượng anh Già Hồ trước Tòa Ðô Chính, thì quân ta phải có đài phát thanh, quân ta phải có tiếng nói để nói chuyện với nhân dân. Ðầu năm 1984 ước mơ và đòi hỏi ấy của nhân dân trở thành hiện thực.

Ðầu năm 1984, ra Tết được mấy ngày, có tin “ ta “ có đài phát thanh! Vài người ở Nha Trang tình cờ bắt được tiếng nói của quân ta, tin ấy truyền nhanh vào Sài Gòn. Tôi là một trong số những người Sài Gòn đầu tiên bắt được tiếng nói của quân ta trong radio. Ðó là Tiếng Nói Ðài Phát Thanh Hoàng Cơ Minh, phát thanh về nước từ biên giới Thái Lan hay ở đâu đó ngoài nước, một ngày 5 buổi phát thanh. một buổi một giờ đồng hồ. Buổi phát thanh cuối cùng trong ngày vào lúc 10 giờ khuya, giờ Sài Gòn. Vợ chồng tôi vỡ tim khi nghe Thái Thanh hát Quê Em;

_ Quê em miền trung du
Ðồng quê lúa xanh rờn
Giặc tràn lên đốt phá
Anh về quê cũ, đi diệt thù giữ quê
Giặc tan đón em về..

Năm 1984 Thái Thanh ở Sài Gòn. Không biết có lần nào cô nghe đài phát thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh không, không biết nếu cô nghe tiếng hát của cô từ nơi xa lắm vẳng đến tai cô, cô có cảm nghĩ gì, vợ chồng tôi đã nghe cô hát Quê Em nhiều lần, khi nghe tiếng cô hát Quê Em qua đài phát thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh vợ chồng tôi vỡ tim.

Tim chúng tôi vỡ thật sự, sau đó chúng tôi nhặt nhạnh, chắp nối, vá víu, dán hồ, dán băng keo những mảnh tim vỡ của chúng tôi lại, nhưng thật sự là khi nghe cô hát Quê Em những đêm xưa ở Sài Gòn, tim chúng tôi vỡ.

Và thời gian lại qua đi… qua đi..! Có những ước mơ thành sự thực, có những ước mơ mãi mãi chỉ là những ước mơ. Trong những ước mơ không bao giờ thành sự thực ấy có ước mơ “quân ta trở về”. Than ôi… Quân ta không bao giờ trở về cả! Một đi là quân ta đi luôn. Năm 1989 ở Trại Lao Ðộng Khổ Sai Z 30 A Xuân Lộc, Ðồng Nai, tôi được tin bọn Tầu Cộng đàn áp, bắn giết người Tầu biểu tình chống chúng ở Thiên An Môn, tin nhân dân Lỗ-ma-ni nổi dậy đập phá gông cùm cộng sản, lôi cổ vợ chồng tên Sô-sét-cu, Ðảng trưởng Ðảng Cộng Sản Lỗ ra, dí súng vào đầu bắn bỏ, tin nhân dân Ðức hai miền Tây, Ðông đập phá bức tường ô nhục Berlin!

Anh em tù chúng tôi “phấn khởi, hồ hởi.” Riêng tôi chưa bao giờ tôi ước mơ tôi được thấy chủ nghĩa cộng sản bị liệng vào thùng rác của nhân loại, như mọi người tôi chỉ mong bọn đảng viên cộng sản giảm bớt những hành động tàn ác của chúng, vậy mà trong đời tôi tôi đã thấy bọn đảng viên cộng sản, sau một thời hoành hành, bị nhân dân nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít đưổi đi, tượng đá, tượng đồng những tên đầu xỏ cộng sản bị nhân dân lôi cổ xuống, kéo ra nằm ở những bãi rác…

Cộng sản nó đổ ở nhiều nơi, cộng sản nó chưa đổ ở đất nước tôi, nhưng mà rồi thì cộng sản nó cũng phải đổ ở đất nước tôi thôi. Chuyện ấy chắc như bắp rang, chắc như gỗ lim, chắc như cua gạch, gốc nó đã thối, nó chỉ là cái cành èo uột, nó không sao có thể sống được. Chỉ có điều thế hệ chúng tôi có tuổi xuân thì bay bướm những năm 1960, năm nay đã là năm 2003, chúng tôi không còn có mặt bao lâu nữa ở cõi đời này, chúng tôi muốn được thấy cộng sản nó chết trước khi chúng tôi ra đi, nên chúng tôi sốt ruột…

Tôi tin chắc một điều
Một điều tất yếu
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu.
Tôi lại nghĩ một điều
Một điều sâu thẳm
Là đêm tàn Cộng sản tối tăm
Có thể kéo dài hàng mấy mươi năm
Và như thế sẽ buồn lắm lắm
Cho kiếp người sống chẳng bao lăm.

Năm 1969 sống trong ngục tù miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã biết, đã nói, chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch, bọn cộng sản sẽ bị nhân dân bợp tai, đá đít đuổi đi, Thi sĩ chỉ hơi lo về chuyện bọn cộng sản có thể kéo dài thời gian hấp hối của chúng đến vài chục năm rồi mới chịu ngã ra chết. Tôi cũng sốt ruột ghê lắm chứ, nhưng tôi nghĩ…

Bọn cộng sản không có thể nào sống lâu hơn được nữa, cho chúng nó sống, chúng nó cũng không sống được. Cộng sản đã rẫy chết từ năm 1969 khi nhà thơ tù ngục làm những dòng thơ trên về nó. Như thế cái gọi là “đêm tàn Cộng sản tối tăm” đã kéo dài, đã ngắc ngoải từ ấy đến nay, năm 2003, là hơn 30 năm. Hơn thế nữa, ngay từ lúc nó mới sinh ra đời, nó đã rẫy chết. Nó ra đời ở Nga năm 1920, nó rẫy chết tới nay là 83 năm rồi còn gì! Nó đã chết từ mười mấy năm nay ở Nga, ở Ðức, ở Ba Lan, Hung, Tiệp, nó đã chết ở Tầu, ở Cuba, ở CuBốn, ở Việt Nam, ở khắp mọi nơi. Chỉ còn cái xác nó nằm thoi thóp đấy thôi.

Một ước mơ lớn của chúng ta, của cả loài người, đã thành hiện thực: bọn Cộng sản đã chết! Ai bảo ước mơ không bao giờ trở thành hiện thực? Mấy thằngViệt Cộng ngắc ngoải sống cũng như đã chết.

o O o

Năm 1981 ở tù về tôi gặp Dương Hùng Cường. Bị bọn Bắc Việt Cộng bắt  tù vì tội là sĩ quan Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, Cường về trước tôi một năm. Cường bảo tôi:

_ Có Trần Tam Tiệp, trước làm thơ khôi hài đăng ở Con Ong, ký tên Ðạo Cù, hiện ở Paris, gửi thuốc về cứu trợ anh em. Tôi đã báo cho Tiệp biết ông về và cho Tiệp địa chỉ của ông. Kỳ quà tới sẽ có ông đấy.

Trần Tam Tiệp là Trung Tá, anh ở Không Quân, nhưng hình như anh không bay mà có thời giữ về an ninh phi trường. Tiệp ở Paris, năm ấy anh là Tổng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Văn Bút Quốc Tế giúp cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại một số tiền để cứu trợ những văn nghệ sĩ Việt Nam trong nước, Tiệp dùng số tiền ấy, và những khoản tiền anh quyên được, mua thuốc Tây gửi về cho chúng tôi. Trong mấy năm liền, một số anh em chúng tôi nhận được đồ cứu trợ do Tiệp gửi cho đều đều. Hai, ba tháng một lần chúng tôi được giấy gọi đến nhà phát đồ nước ngoài ở đường Cô Giang nhận những thùng thuốc Tây từ Paris gửi về. Những hộp giấy carton một ký, hai ký của Bưu Cục Pháp trông thật đẹp.

Tôi được biết Trần Tam Tiệp từ đấy. Tôi gọi anh là Dượng Ba, Cường cũng quen gọi anh là Dượng Ba. Rồi Cường và tôi bị bọn Công An Phản Gián Cộng Sản bắt năm 1984. Cường chết trong tù. Năm 1990 tôi trở về mái nhà xưa, Tiệp không còn hoạt động trong Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Năm 1994 vợ chồng tôi đến Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Từ Paris Tiệp gọi điện thoại đến tôi một lần, hai lần, rồi im luôn. Sau đó tôi được tin Tiệp bị kích ngất, Tiệp bị liệt. Tôi biệt tin của Tiệp.

Tám năm qua thật mau. Mới đây nhờ ông bạn Mai Trung Ngoc, chủ Nhà Sách Nam Á ở Paris, tôi được nói chuyện qua phone với Trần Tam Tiệp. Sau đó tôi được thư của Tiệp.

Paris, 15 hay 16.4.2003 sắp sửa Paques Chúa sống lại

Anh chị Hoàng Hải Thủy ơi

Thật là cảm động khi được nói chuyện trực tiếp dù qua điện thoại với ông bà. Tám năm rồi, ngày 13.5.2003 là 8 năm đó, đầy đau thương nhưng tôi vẫn sống được, nhờ con và các cháu nó có lòng thương

Hôm nọ gặp Mai Trung Ngọc, chủ nhà xuất bản Nam Á, biết nhà tôi, lên lầu chơi, cho ngồi xe lăn đưa đi ăn phở rồi gọi điện thoại cho ông. Cám ơn ông nhiều, tôi cũng đã đọc lại cuốn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” do Việt Cộng viết năm 1992 và bây giờ do ông viết trả lời chúng. Sau đó tôi đọc cuốn “Sống và Chết ở Sàigòn”. Thật là kỳ thú. Cuốn “Sống và Chết ở Sàigòn” gợi nhớ lại dĩ vãng ít ỏi còn sót lại trong tôi. Tôi nhớ lại khi bị Tây bắt rồi đến 1950 được thả đi khóa 1 Nam Ðịnh nhưng bị sốt thương hàn nên được hoãn lại đi khóa sau tức là khóa II Thủ Ðức. Vào Sàigòn được gặp lại bạn volley ở sân Tòa Thị Chính Hà Nội trong những ngày đợi đi khóa II Thủ Ðức, có gặp được Phan Lạc Phúc, vào Thủ Ðức có gặp Phúc Khàn cùng trung đội, có cả Ðỗ Việt sau đó gặp lại trên tàu đi Tây học, chỉ có cái chưa gặp và quen ông thôi.

Bạn bè quen biết chết cũng nhiều, năm 1987 hay tin buồn, vợ chồng Dương Hùng Cường chết để lại 6 con gái, một con trai, tôi nghe nói chúng nó nay khá, cũng mừng cho các cháu.

Ðược tin ông bà hoài, vì ông viết cho nhiều nơi thỉnh thoảng lại được đọc, vẫn mong một ngày nào được diện kiến ông và nhất là bà Alice. Hôm nói chuyện với ông qua điện thoại chùa của Nam Á, bà Alice cho biết cháu Kiều Giang mới qua với ông bà được vài ngày. Thôi thế cũng mừng gia đình đoàn tụ. Tôi từ khi bị tai biến nói năng khó, mất trí nhớ bây giờ nhớ lung tung chả ra sao nhưng vẫn nhớ Trần Ðức Uyển, cháu Trần Ðức Uyển năm 92 có viết cho tôi là Trần Ðức Uyển mới về và cám ơn tôi đã gửi đồ cho cậu Uyển. Nhân đọc “Sống và Chết ở Sàigòn” tôi có đọc được đoạn ông viết về Trịnh Viết Thành làm tôi nhớ thằng con đầu của nó, cháu tên Kim, năm 1991 tôi sang Hoa Kỳ chơi, ở nhà Bồ Ðại Kỳ, em rể Nguyên Sa, cháu Kim có vẽ cho tôi một bức hình mà tôi còn giữ được đến bây giờ. Ðó là một kỷ niệm thật quí  đối với tôi. Cũng có nhiều kỷ niệm của Ðằng Giao gửi cho tôi kể cả một đại tự Phúc to tổ bố mà năm Hợi Ðằng Giao nhờ thày Tầu ở Chợ Lớn viết rồi gửi cho tôi.

Ông Thủy ơi, có chuyện muốn nhờ ông. Chúng ta mất nước năm 1975, phải chạy ra ngoại quốc. Việc Việt Cộng chiếm được miền Nam là do ý đồ của Hoa Kỳ nhưng có một cái tôi không thể nào chịu được là chúng nó mang tên một thằng mật thám cho Pháp sát hại người quốc gia mà đặt Sài Gòn thành Hồ Chí Minh, thật thối không thể ngửi được lại thần thánh hóa một cách rẻ tiền, vì thế tôi xin ông cùng những ai còn nghĩ đến Việt Nam, nghĩ đến Hòn Ngọc Viễn Ðông, tổ chức một chiến dịch đòi Việt Cộng phải trả cái tên Sài Gòn lại cho Sài Gòn của nhân dân. Xin các ông làm việc ấy để cho con cháu mình không phải gọi thành phố thân yêu bằng cái tên của một tên làm bồi cho Tây ngày xưa.

Muốn viết nhiều cho ông nhưng chữ viết chưa được rõ nét và cũng còn thiếu ý nữa Công Tử Hà Ðông gắng đọc.

Chúc ông bà và Kiều Giang được hưởng một Lễ Phục Sinh hoàn toàn.

Ông có liên lạc được với Ký Giả Lô Răng cho tôi hỏi thăm hắn.

Thân mến
Trần Tam Tiệp    

Ơi… Dượng Ba thân mến của chúng tôi. Dượng yên tâm. Lâu rồi tôi ít khi hứa nhăng, hứa cuội với ai, lâu rồi tôi cũng không còn quả quyết một chuyện gì là hoàn toàn đúng, là nhất định đúng, là nhất định sẽ xẩy ra hay nhất định sẽ không xẩy ra, nhưng chuyện cái tên anh già lưu manh Hồ Chí Minh sẽ bị nhân dân ta quăng vào thùng rác, cái tên nhảm nhí đó sẽ không còn được khoác lên thành phố Sài Gòn thương yêu của chúng ta tôi đoan chắc với Dượng là chuyện sẽ xẩy ra. Trăm phần trăm. Tôi vẫn viết “chăm phần chăm” nhưng hôm nay, với Dượng, tôi phải viết nghiêm chỉnh trăm phần trăm. Dượng còn nhớ chuyện bọn Bôn-sơ-vích Nga đặt tên Lenin cho thành phố  Thánh Peter ở Nga chứ? Trong nửa thế kỷ thành phố Peterbourg bị gọi là Leningrad. Ðể rồi đến những năm cuối thế kỷ tượng Lenin, Thánh Tổ Sư của bọn cộng sản, bị nhân dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo xuống, cho ra nằm ở bãi rác. Không kèn, không trống, một ngày đẹp trời thành phố Peterbourg trở lại là thành phố Peterbourg, thành phố Sài Gon thương yêu của chúng ta rồi cũng thế thôi.

Bọn đảng viên cộng sản Nga đã bị nhân dân Nga bợp tai, đá đít đuổi đi ở Nga, bọn đảng viên cộng sản Việt rồi cũng sẽ bị nhân dân Việt bợp tai, đá đít đuổi đi! Dượng yên tâm, Dượng Ba ơi… Những gì đã xẩy đến với bọn đảng viên cộng sản Nga sẽ – chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch – xẩy đến với bọn đảng viên cộng sản Việt, như trong câu vè tuyên truyền của chính bọn đảng viên cộng sản Việt tôi thấy ở Sài Gòn những năm 1991, 1992:

Liên Xô trước cũng như ta
Mai đây ta cũng như là Liên Xô!

Vợ chồng, bố con tôi vẫn nhớ ơn Dượng, chúng tôi vẫn nhớ, vẫn nhắc đến Dượng luôn. Chúng tôi cầu xin Ơn Trên ban cho Dượng ân phúc bình an. Riêng tôi, tôi mong đêm tàn của bọn cộng sản Việt Nam không kéo dài lâu hơn nữa, tôi mong Dượng và tôi sẽ thấy “Nó” chết trong một ngày gần đây, tôi mong chúng ta thấy “Nó” chết trước khi chúng ta đi khỏi cõi đời này.

Ký giả Lô Răng hiện ở thành phố Sydney, Úc-đại-lợi. Bài Viết ở Rừng Phong này của tôi được đăng ở nhiều báo, trong số có tờ Nhân Quyền ở Úc, tôi chắc “hắn” sẽ đọc bài này và “hắn” sẽ biết Dượng hỏi thăm “hắn”.