• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

NGỤY CÔNG TỬ

nguy

Sau năm 1975 khi viết những bài diễn tả cuộc sống của nhân dân ta dưới ách Cộng sản, từ Sài Gòn gửi sang các bạn tôi ở Anh, Pháp, Úc, Mỹ,  tôi ký nhiều tên; trong số có bút danh Ngụy Công Tử.

Thời tôi ba mươi tuổi, tôi thích đọc Tam Quốc Chí. Đến năm tôi sáu mươi, tôi thích đọc Đông Chu Liệt Quốc. Sang Mỹ năm 1995, tới nay đã 21 năm,  Đông Chu Liệt Quốc,  tác phẩm của Phùng Mộng Long, là quyển sách tôi đọc nhiều nhất.  Đông Chu Liệt Quốc là “sách gối đầu giường” của tôi. Tôi đọc đi đọc lại những đoạn truyện trong Đông Chu Liệt Quốc – ĐCLQ – Đọc nhiều lần vẫn thấy chuyện hấp dẫn, vẫn nhận ra nhiều sự kiện mới, nhiều ý nghĩa của chuyện, nhiều bài học về Tình Đời, Tình Người  mà những lần đọc trước tôi không thấy.

Tôi đọc đi, đọc lại những đoạn truyện về cuộc sống của những ông Công Tử Đông Chu. Thời Đông Chu nước Tầu chia ra làm nhiều nước nhỏ, những ông Vua Tầu thời Đông Chu có nhiều vợ. Một ông con được coi là Thế Tử – Thế Tử sẽ nối nghiệp làm Vua – những ông con vua khác được gọi là Công Tử.

Một bút hiệu của tôi là Ngụy Công Tử. Tôi có cảm tình nhất với ông Ngụy Công Tử Đông Chu Liệt Quốc.

nguy2

Mời quí vị đọc tiểu sử của Ngụy Công Tử ĐCLQ  trên Internet.

Công tử nước Ngụy, tên Vô Kỵ là con út của Ngụy Chiêu Vương, và là em cùng cha khác mẹ với An Ly Vương nước Ngụy. Chiêu Vương chết, An Ly Vương lên ngôi phong công tử làm Tín Lăng Quân. Công tử là người nhân hậu, khiêm tốn đôi với kẻ sĩ. Kẻ sĩ không kể người hiền hay người dở, công tử đều khiêm tốn, lấy lễ đối đãi, không cậy mình giàu sang mà kiêu ngạo. Vì vậy kẻ sĩ trong vòng mấy ngàn dặm đều tranh nhau theo Công Tử. Khách trong nhà nhiều đến ba nghìn người.

Năm thứ hai mươi, đời vua An Ly Vương nước Ngụy (năm 237 trước Công nguyên), Tần Chiêu Vương sau khi phá quân Triệu ở Trường Đình, tiến binh vây Hàm Đan, kinh đô nước . Chị của công tử là vợ Bình Nguyên Quân, em trai vua Huệ Văn Vương nước Triệu. Bình Nguyên Quân đã mấy lẩn đưa thư cho Ngụy Vương và Ngụy công tử xin nước Ngụy cứu viện. Vua Ngụy sai tướng quân Tấn Bỉ cầm mười vạn quân đi cứu Triệu. Vua Tẩn sai sứ giả nói với vua Ngụy:

– Ta đánh Triệu, sớm chiều thể náo cũng phá Triệu, chư hầu ai dám cứu Triệu thì sau khi phá Triệu, ta sẽ đem binh đến đánh.

Vua Ngụy ra lệnh cho Tấn Bỉ, đóng quân ở đất Nghiệp, tiếng là cứu Triệu, nhưng  thực ra là đi nước đôi để chờ xem tình thế. Sứ giả của Bình Nguyên Quân liên tiếp sang Ngụy, đem lời Bình Nguyên Quân trách Ngụy Công tử:

– Thắng sở dĩ tự phụ về chỗ kết nghĩa hôn nhân là vì cho rằng Công tử là ngườì có nghĩa khí cao, có thể giải cứu người ta lúc nguy khốn. Nay Hàm Đan sớm chiều sẽ  phải đầu hàng nước Tần mà cứu binh của Ngụy không đến, thế thì Công tử cứu nguy khốn cho người khác ở chỗ nào? Nếu Công tử khinh Thắng này,  Thắng phải đầu hàng nước Tần, thế thì Công tử không thương bà chị của Công tử sao?

Ngụy Công tử  mấy lần xin Ngụy Vương đánh Tần, và giục các tân khách, biện sĩ tìm đủ mọi cách nói với Ngụy Vương. Nhưng Ngụy Vương sợ Tần,  không nghe lời Công tử. Công tử nghĩ mình không nên sống một mình để nước Triệu mất, nên tụ tập các tân khách, quân kỵ và hơn một trăm cỗ xe, định qua đánh quân Tần, rồi cùng chết với nước Triệu.

Công tử đi qua cửa Di Môn ghé thăm Hầu Sinh và từ biệt ra đi. Hầu Sinh nói:

–  Tôi già yếu rồi, không thể đi theo Công tử được.

Công tử đi được mấy dặm, không vui, nghĩ:

–  Nay ta sắp chết, thế mà Hầu Sinh không có nửa lời tiễn ta, phải chăng ta có điều gì không phải?

Bèn quay xe về, hỏi Hầu Sinh. Hầu Sinh cười, nói:

– Tôi biết thế nào Công tử cũng quay lại..

Lại nói:

– Công tử yêu kẻ sĩ nổi tiếng khắp thiên hạ, nay gặp nạn  lớn có thể chết mà không có ai giúp phương kế nào khác, lại muốn lao vào quân Tần, thế cũng như là ném thịt cho hổ đói chứ có ích gì đâu! Như thế thì dùng tân khách làm cái gì? Nhưng công tử đối đãi với tôi rất hậu, công tử ra đi mà tôi không tiễn, vì tôi biết công tử sẽ trở lại.

Công tử lạy hai lạy. Hầu Sinh nói riêng:

– Doanh này nghe nói “Binh phù” của nhà vua  để trong phòng ngủ của nhà vua mà nàng Như Cơ được nhà vua rất yêu; nàng ra vào phòng ngủ của nhà vua, có thể lấy trộm được binh phù. Doanh nghe nói cha của Như Cơ bị người ta giết. Như Cơ chứa giận ba năm, muốn tìm người báo thù cho cha, nhưng từ nhà vua trở xuống, không có một người nào giúp. Như Cơ khóc với công tử. Công tử sai người khách chém đầu kẻ giết cha  Như Cơ. Như Cơ muốn báo ơn công tử, chết cũng không từ chối, nhưng  chưa có dịp đấy thôi. Nay nếu công tử nói với Như Cơ một lời thì thế nào Như Cơ cũng làm theo. Một khi đã có được “hổ phù”, Công tử giành lấy quyền chỉ huy quân đội của Tấn Bỉ, đem quân về phía Bắc, cứu nước Triệu, đuổi nước Tần về phía Tây, đó là công lao của Ngũ bá đời xưa.
Công tử nghe theo kế của Hầu Sinh. Như Cơ lấy  trộm được binh phù, dưa cho công tử.

Công tử ra đi, Hầu Sinh nói:

– Tướng quân ở trên mặt trận  có những lúc không nghe theo lệnh của nhà vua. Công tử đến, nếu như Tấn Bỉ không trao quân cho công tử mà lại muốn hỏi lại nhà vua thì công việc hỏng mất. Người bạn tôi là anh hàng thịt Chu Hợi có thể cùng đi với Công tử, anh ta là một lực sĩ. Nếu như Tấn Bỉ nghe theo thì tốt. Nếu không thì Chu Hợi sẽ đánh Tấn Bỉ chết.

Công tử  khóc. Hầu Sinh hỏi:

– Công tử sợ chết hay sao?

– Tôi không sợ chết.

– Tại sao lại khóc?

Công tử nói:

– Tấn Bỉ là một vị lão tướng yêu nước. Tôi đến cướp quyền, sợ ông ta không nghe, phải giết ông cho nên tôi khóc.

Đến đất Nghiệp Công tử giả lệnh của vua Ngụy thay Tấn Bỉ, Tấn Bỉ ghép binh phù lấy làm ngờ, nói:

– Nay tôi cầm binh mười vạn, đóng nơi biên giới. Ông đi một chiếc xe đến đây thay tôi, là nghĩa thế nào?

Tấn Bỉ có ý không chịu trao quyền. Chu Hợi dúng cái chùy sắt bốn mươi cân, đánh Tấn Bỉ vỡ sọ chết, Công tử bèn chỉ huy quân của Tấn Bỉ, chỉnh đốn đội ngũ, ra quân lệnh:

– Nếu cả cha và con đều ở trong quân, cho cha trở về; nếu cả anh và em ở trong quân cho anh trở về; nếu là con một không có anh em thì cho trở về mà nuôi cha mẹ.

Chọn được tám vạn quân, tiến đánh quân Tần. Quân Tần rút lui, công tử cứu được nước Triệu.

Trên đây là đoạn truyện về Ngụy Công Tử trên Internet. Dưới đây là đoạn truyện về Ngụy Công Tử trong truyện Đông Chu Liệt Quốc: Tôi – CTHĐ – cảm động khi đọc đoạn truyện này.

Trích ĐCLQ: Có con chim cưu bị con chim rao đuổi bắt, bay vào thư phòng của Ngụy Công Tử để trốn. Tưởng con chim rao đã bay đi, công tử thả con chim cưu ra, không ngờ con chim rao nấp đâu đó, bắt và ăn thịt con chim cưu. Công tử tự trách đã làm chết con chim cưu nên buồn và ân hận. Người dân trong vùng bắt được mấy chục con chim rao, nhốt trong lống, dâng để Công tử trị tội. Công tử nghĩ chỉ một con chim rao phạm tội mà giết cả mấy chục con thì không được, bèn cầm thanh gươm, gõ gươm vào từng lồng chim, nói với con chim trong lồng:

– Mày không giết con chim cưu thì kêu lên ba tiếng, ta tha cho.

Những con chim rao trong lồng, nghe hỏi, đều kêu lên. Có một con nghe hỏi, không kêu mà gục đầu xuống.

Đây là đoạn chuyện thứ hai tôi cảm khái: chuyện nàng Như Cơ và chiếc binh phù của Vua Ngụy:

ĐCLQ Trích: Ba ngày sau Vua Ngụy mới biết binh phù bị lấy trộm, tra hỏi cung nhân, không ra thủ phạm. Vua nhớ Ngụy Công Từ – tức Tín Lăng Quân – nhiều lần xin mình ra lệnh cho Tướng Tấn Bỉ tấn công quân Tần, bèn cho gọi Ngụy Công Từ đến hỏi. Khi ấy Vua mới biết Công Tử cùng gia khách đã đi khỏi kinh đô. Vua Ngụy giận quá, sai Tướng Vệ Khánh dẫn quân đuổi bắt Ngụy Công Tử.

Ngụy Công Tử giữ Vệ Khánh lại, không cho về kinh đô. Vua Ngụy giận, định ra lệnh bắt giam vợ con Ngụy Công Tử.

Như Cơ khóc, quỳ lậy khai tội lấy trộm binh phù:

– Thân phụ của thiếp bị người giết thảm, đại vương không thể báo thù cho thiếp, nhưng Ngụy Công Tử đã trả thù cho thiếp. Thiếp lấy trộm binh phù, xin Vua trị tội thiếp.

Vua hỏi:

– Đứa nào mang binh phù đi trao?

Nhan Ân bị khai ra. Vua muốn giết Nhan Ân. Nhan Ân kêu:

– Kẻ nô tỳ này có biết binh phù là cái gì đâu?

Như Cơ nói:

– Hôm trước ta sai ngươi mang lẵng hoa đi biếu Tín Lăng Quân phu nhân. Ta dấu binh phù trong đó.

Nhan Ân òa khóc:

– Phu nhân giết tôi. Tôi chết oan.

Nhu Cơ khóc:

– Thiếp có tội. Xin Vua giết thiếp.

Vua bỏ tù Nhan Ân, cho Như Cơ vào lãnh cung. Hai tháng sau khi đánh lui quân Tần, Ngụy Công Tử cho Vệ Khánh dẫn quân về nước, dâng nộp binh phù và biểu tạ tội.

Vệ Khánh về triều, tâu với Vua Ngụy:

– Tín Lăng Quân đại thắng quân Tần, biết có tội nên không dám về nước, xin ở lại nước Triệu, gửi lời về tâu: Ngày khác sẽ xin về nước chịu tội.

Công Tử ở lại nước Triệu, là thượng khách của vua Triệu và của anh rể là Bình Nguyên Quân.

Vua Ngụy cho Nhan Ân ra khỏi ngục, cho Như Cơ ra khỏi lãnh cung, cho vợ con Ngụy Công Tử được hưởng những bổng lộc, đất phong của Ngụy Công Tử, nhưng không cho đón Ngụy Công Tử về nước.

Ngày tháng qua đi…

Ngụy Công Tử ở lại nước Triệu..

Vua Tần cho quân đánh Ngụy, nước của Ngụy Công Tử. Quân Tần bao vây thành Đại Lương, kinh đô nước Ngụy. Vua Ngụy sai sứ giả sang Triệu mời Ngụy Công Tử về nước. Nhưng Ngụy Công Tử không chịu tiếp Sứ Giả. Sứ Giả nước Ngụy bèn nhờ Mao Công  và Tiết Công, hai người hiền của nước Triệu. Ngụy Công Tử rất trọng Mao Công và Tiết Công.

Mao Công, Tiết Công đến gập Ngụy Công Tử, cùng nói:

– Được tin Công Tử sắp về nước Ngụy, chúng tôi đến tiễn ngài.

Ngụy Công Tử:

– Tôi có tính về nước đâu.

– Quân Tần đánh nước Ngụy của ngài, đang vây hãm thành Đại Lương. Ngài không hay biết gì sao?

– Tôi có nghe nói, nhưng tôi từ bỏ nước Ngụy đã 10 năm, nay tôi là người nước Triệu, tôi không còn lưu luyến gì nước Ngụy.

Mao Công, Tiết Công:

– Sao Công Tử lại nói thế? Công Tử được trọng đãi ở Triệu, tiếng khen vang khắp các nước, là nhờ có nước Ngụy, nhờ ngài là ngưới nước Ngụy. Nay quân Tần đánh Ngụy mà Công Tử không thương nước, thương dân, nếu quân Tần vào được thành Đại Lương, phá hủy tôn miếu của tiên vương, Công Tử còn mặt mũi nào mà cứ sống nhờ ở Triệu!

Ngụy Công Tử toát mồ hôi, đứng lên vái lậy tạ ơn chỉ bảo.

Bèn lập tức ra lệnh cho tùy tùng, tân khách, sửa soạn về Ngụy. Công Tử vào triều từ biệt Vua Triệu.

Vua Triệu không muốn cho Ngụy Công Tử về nước, cầm tay Ngụy Công Tử, khóc, nói:

– Quả nhân từ khi mất Bình Nguyên Quân, may có Công Tử, mới giữ được nước. Nay Công Tử bỏ đi, quả nhân như mất cả hai tay.

Ngụy Công Tử:

– Vô Kỵ này không thể để quân Tần phá hủy tôn miếu, thế tất phải về cứu nước. Nếu nhờ hồng phúc của Đại Vương, nước Ngụy không mất. Đại Vương và thần sẽ có ngày gặp lại nhau.

Vua Triệu:

– Công Tử khi trước dùng quân Ngụy cứu được nước Triệu. Nay quả nhân xin giúp quân lương để ngài về cứu nước.

Vua ba nước Yên, Hàn, Sở cho quân hợp với quân Triệu – do Ngụy Công Tử thống lĩnh – về Ngụy đánh quân Tần. Quân Tần phải rút về nước.

Phá Tần, Ngụy Công Tử về nước. Vua Ngụy ra đón ngoài thành. Anh em vương giả xa cách 10 năm, nay gặp lại nhau, xiết bao mừng thương, ngồi chung xe về triều.

Vua Tần dùng kế giao hảo với nước Ngụy, sai Sứ Giả sang mời Ngụy Công Tử qua chơi nước Tần. Ngụy Công Tử không sang Tần. Tần dùng kế ly gián, phao tin Ngụy Công Tử mưu toan lên làm Vua. Biết Vua Ngụy nghi mình cướp ngôi, Ngụy Công Tử xin từ nhiệm. Từ đó Công Tử sống vui với rượu và đàn bà đẹp, cho đến ngày từ giã cõi đời.

o O o

Chu Hợi là dũng sĩ  đi theo Ngụy Công Tử và dùng cây dùi sắt đánh chết Tướng Tấn Bỉ, Mấy năm sau vua Ngụy cho Chu Hợi làm sứ giả, mang ngọc bích sang tặng vua Tần. Vua Tần giữ Chu Hơi lại, muốn cho Chu Hợi làm Tướng ở Tần. Chu Hợi nhất định không chịu. Vua Tần cả giận,  sai quân đẩy Chu Hợi vào chuồng cọp cho cọp ăn thịt.

Con hổ đốm, đói, nhẩy đến vồ. Chu Hợi quát lên một tiếng. Hai mắt Chu Hợi đỏ ngầu. Hổ sợ, nằm phục xuống.

Bị giam trong ngục đá, Chu Hợi đập đầu vào cột đá. Cột bị mẻ,  Chu Hợi vẫn không chết. Sau cùng Chu Hợi tự tử bắng cách cấu cổ, móc cuống họng.

o O o

Tài liệu trong bài Ngụy Công Tử được trích trong sách ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC của Phùng Mộng Long, văn sĩ Trung Hoa đời Minh, bản Việt Văn của Nguyễn Đỗ Mục.

o O o

Thân kinh gửi quý bạn:

Từ Tết đến hôm nay, vợ tôi đau – Bệnh Già. Nàng 84 tuổi – mấy lần tôi tưởng Nàng ra đi lần cuối. Tôi đau, tôi sợ mất Nàng.

Hôm nay, ngày 2 Tháng Ba 2016, Tết ra đã được 25 ngày, sức khỏe vợ tôi tạm ổn, tôi gắng viết bài này.

Đây là bái Viết ở Rừng Phong Đầu Năm Nhâm Thân của tôi.

Cô Đầu, Cô Đuôi

hht1

Tôi không gọi đây là tập khảo luận văn học, tôi gọi bài viết này là tập tài liệu văn học. Tôi viết bài này trong khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1984. Tôi bị Công An Thành Hồ bắt lần thứ nhất năm I977, tù 24 tháng, tôi trở về mái nhà xưa năm 1979. Trên căn gác nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ Sàigòn, từ 1981 đến 1984 tôi viết nhiều bài gửi ra nước ngoài. Tháng Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai. Bài viết này của tôi chưa kịp gửi đi. Sau sáu năm tù, năm 1990  lần thứ hai tôi từ ngục tù cộng sản trở về mái nhà xưa ở Cư Xá Tự Do. Tôi tìm được bài viết này lạc trong số sách vở của tôi. Trong đêm đến bắt tôi, bọn Công An Thành Hồ không tìm thấy nó.

Bài viết của tôi sẽ đi ngược dòng thời gian, bắt đầu từ Thi sĩ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, nửa đầu Thế Kỷ 20, đi ngược về những nhà thơ đời Lý, Thế Kỷ 11. Ðây chỉ là công trình biên khảo về một chủ đề, giúp các bạn yêu văn học đỡ mất công tìm kiếm. Tôi mong tập tài liệu này sẽ được in thành một quyển.

Trong thơ của người xưa chúng ta gập một số hình ảnh đàn bà Việt Nam mà ngày nay, và mãi mãi về sau, xã hội Việt Nam không còn họ nữa: những người đàn bà làm nghề cô đầu, một nghề phục vụ đàn ông đã có trong xã hội ta kể từ những năm giữa Thế kỷ 19 – khi nền đô hộ của người Pháp đã được đặt vững vàng trên đất nước ta, thời gian dân ta được hưởng một thời gian thanh bình, xã hội không có những xáo trộn lớn – và suy tàn đi vào những năm 1940 – khi Việt Nam đi vào chu kỳ loạn và thay đổi.

Dù có tinh thần bài Trung Hoa nặng đến đâu chăng nữa, tôi nghĩ ta cũng phải nhận rằng người Việt Nam, từ mấy ngàn năm, đã học tập rất nhiều thứ của người Trung Quốc, trong số có nghề chơi là một. Hát ả đào, hay hát cô đầu ở nước ta, là một biến thể của nghề ca kỹ ở Trung Quốc. Hình ảnh đậm nét nhất, gây ấn tượng nhất của những nàng ca kỹ Trung Hoa là hình ảnh và tâm sự người thiếu phụ bến Tầm Dương, do Bạch Cư Dị vẽ lên và để lại, sống mãi trong thơ văn từ hơn ngàn năm trước đến nay.

Hai ông Ðỗ Bằng Ðoàn, Ðỗ Trọng Huề, trong quyển Việt Nam Ca Trù Biên Khảo, viết:

“Lối hát ả đào có từ thời nhà Lý. Năm Thuận Thiên thứ 16 – 1025 – Vua Lý Thái Tổ đặt chức quản giáp cho giới con hát. Trong đời nhà Lý, có Tống Ðạo sĩ là người nước Tầu sang ngụ nước ta, dậy con gái nước ta múa hát.

“Cuối đời nhà Hồ – 1400-1407 – có người con hát họ Ðào, quê ở làng Dào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết, dân làng nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng là thôn Ả Ðào, Từ đấy, những cô gái đi hát được gọi là Ả đào, hoặc Ðào nương.”

Nghệ thuật múa hát ông cha ta học được của người Tầu đó truyền đến Thế kỷ 19 thì chia thành hai ngành chuyên biệt và chuyên nghiệp, nhiều người làm hai ngành này đã có thể sống được với nghề: trình diễn ca múa trên sân khấu: chèo, tuồng, và hát trong phòng: hát ả đào.

Hát ả đào, hay hát cô đầu, có nhiều cách, thể, điệu: Hát nói, Hát ru, Gửi thư, Kể chuyện, Bồng mạc, Sa mạc vv..Không có ý chuyên khảo về đề tài Hát Ả Ðào nên tôi chỉ viết thoáng qua phần này. Lời của các điệu hát giống nhau, thường là thơ lục bát, lời ca Hát nói là một thể riêng. Hát nói cũng là điệu ca phổ biến nhất trong những điệu ca ả đào. Các thi sĩ xưa sáng tác khá nhiều bài Hát nói. Như thểâ thơ Lục bát, Hát nói là thể thơ hoàn toàn Việt Nam; trong Hát nói ta thấy rất ít ảnh hưởng của thơ Ðường luật.

Tản Ðà, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn công Trứ, Cao bá Quát đều sáng tác Hát nói, nhiều bài được làm ra với dụng ý rõ ràng là để cho cô đào hát. Một số vị quan lại thời ấy, tuy không phải là thi sĩ theo nghĩa chúng ta hiểu hiện nay, đã sáng tác Hát nói, đặc biệt là sáng tác của những ông quan lại họ Dương chỉ toàn là những bài Hát nói. Ngoài những bài Hát nói ấy ra ta không thấy các ông làm qua một thể thơ nào khác. Nhũng nhân vật nổi nhất trong  lớp người sáng tác Hát nói ấy là những ông họ Dương: Dương Khuê, Dương Lâm, Dương tự Nhu. Nghề cô đầu ở nước ta thịnh vươnïg nhất cùng với thời hiển đạt của những ông  Aùn sát, Tuần phủ, Tổng đốc nhà Nguyễn.

hht2

Thi sĩ Tú Xương công khai tuyên dương thú hát cô đầu của ông trong bốn câu:

Có phải rằng ta chẳng học đâu,

Mỗi năm ta học một vài câu.

Ví dù Vua mở khoa thi Trống,

Lạc nhạn, xuyên tâm, đủ ngón chầu.

Lời thơ vừa ngông, vừa hài hước, nhưng cũng có nhiều thực tế. Nếu như Vua mở khoa thi đánh trống cô đầu thật, biết đâu ông Tú Xương đã chẳng đỗ ông Nghè – Nghè Trống cũng là Nghè – đường công danh của ông đã không lận đận như với khoa thi chữ. Chúng ta hãy nghe ông diễn tả nhân sinh quan của ông qua bài

Hát Cô Ðầu

Nhân sinh quí thích chí

Chẳng gì hơn hú hí với cô đầu.

Khi vui chơi năm ba ả ngồi hầu,

Chén rượu cúc, đánh chầu năm ba tiếng.

Tửu hậu khán hoa nhàn bất yếm,

Hoa tiền chước tửu hứng vô nhai.

Hỡi ai ơi..Chơi lấy kẻo hoài,

Chơi cũng thế mà không chơi cũng thế.

Của trời đất xiết chi mà kể,

Nợ công danh thôi thế cũng xong.

Chơi cho thủng trống tầm bông.

Nhân sinh quí thích chí: người ta ở đời cốt thỏa thích ý mình. Uống rượu, xem hoa mãi chẳng chán, trước hoa, uống rượu thú không biết ngần nào. Trống tầm bông: trống hai mặt, thắt lại ở giữa, đánh lên tiếng kêu nhẹ là tầm, tiếng kêu nặng là bông.

Thi sĩ nói: Chơi là lãi. Chơi cũng thế mà không chơi cũng thế! Người trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm sống, nếu nghe theo lời khuyên này, có thể mang hại. Có làm thì mới có thể có chơi. Chúng ta phải làm rồi mới chơi được. Dù cho ta có điều kiên đi nữa nếu ta chỉ sống để chơi, để hưởng thụ không mà thôi, cuộc sống của ta cũng bị lệch. Theo tôi, điều kiện để chơi là phải làm việc. Nhưng chỉ hùng hục làm thôi mà không chơi, không biết chơi, không biết hưởng lạc thú ở đời, cũng là hỏng.

Về một mặt, nói một chiều, tính ra quả “chơi là lãi” thật. Trong thời gian nằm trong tù tôi đã có dịp suy nghĩ – lơ mơ thôi – về đề tài ấy. Nằm cùng với tôi trong nhà tù cộng sản có những anh nhà buôn, nhà bán, cả đời ăn mắm, mút ròi, tính lợi cho mình, hại cho người, buôn gian, bán lận, một vốn, bốn lãi, chất chứa, ký cóp, bòn mót của cải để làm giầu. Cộng sản vào Sàigòn, các anh này mất hết, không những chỉ bị mất hết của cải, nhà cửa, các anh còn bị cộng sản cho vào tù vì cái tội giầu tiền. Sống trong cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa – quái thai của quái quỉ Cộng sản – thì anh ăn chơi cũng tù mà anh không ăn chơi cũng tù. Chỉ có điều khác là những anh giầu tiền đã bị tù rồi còn phải khai báo, phải nộp của, đã mất trắng những của nổi nhà cửa, kho hàng, tiền vàng, các anh còn bị bóp cho lè những của chìm ra,  những anh đã ăn chơi đã đời rồi thì nằm phây phây, các anh này không còn gì để bọn cộng sản có thể lột. Trong trường hợp ấy – đúng như lời ông Tú Xương nói – quả thật sống ở đời “chơi là lãi” đấy.

Nói đến hát cô đầu, nhiều người Việt – những người chưa từng bao giờ biết cái thú hát cô đầu – cũng ít nhiều biết bài Hát nói, như bài này :

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết

Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông

Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì.

Bây giờ Tuyết đã đến thì

Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già.

 

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết

Mới ngày nào chửa biết cái chi chi,

Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì

Ngoảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu.

Ngã lãng du thời quân thượng thiếu,

Quân kim hứa giá ngã thành ông.

Cười cười, nói nói thẹn thùng

Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.

Riêng một thú thanh sơn đi lại

Khéo ngây ngây, dại dại vì tình.

Ðàn ai một tiếng Dương tranh!

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết – nghe nói. Nghe nói thôi, người viết gần như mù tịt về chuyện này – là bài hát được hát nhiều nhất trong những chầu hát cô đầu. Vì lời hay đủ khổ, dễ hát, bài HHTT còn được dùng làm bài mẫu cho các em cô đầu tập hát – Cô đầu có hai loại: cô đầu hát và cô đầu rượu, cô đầu rượu không biết hát, chỉ để hầu khách – Tác giả HHTT là Dương Khuê, người được Nhà thơ Yên Ðổ khóc trong thơ:

Bác Dương.. Thôi đã thôi rồi..

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…

Vân Trì Dương Khuê, sinh năm 1836, mất năm 1898, quê làng Vân Ðình, Hà Ðông, đỗ tiến sĩ năm Tự Ðức 21 – 1868 – từng làm Tổng Ðốc Nam Ðịnh và Ninh Bình.

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết diễn tả tâm trạng của những tay chơi hào hoa khi đã có tuổi. Vào những năm 1960 tâm trạng này được diễn tả bằng câu :”Ðừng gọi anh bằng chú..” Cô bé mười tuổi chưa biết cái gì cả năm ta bốn mươi tuổi, số tuổi sung mãn nhất của người đàn ông, trở thành cô gái hai mươi tươi mởn khi ta năm mươi tuổi, thể xác ta đã suy nhược nhưng lòng ta vẫn còn đầy những tham lam chưa thỏa. Ta thấy hạnh phúc đã ở ngoài tầm tay với của ta. Khi ta đang ăn chơi, em còn nhỏ. Nay em đến tuổi lấy chồng, ta già rồi. Xưng chú, xưng anh đều ngượng miệng, xưng ta thì nhạt nhẽo và phách lối. Gọi nàng là em thì kỳ kỳ mà gọi nàng là cháu thì vô luân. Tình trạng ngành phè, vô duyên, ngôn không chính mà danh chẳng thuận một ly ông cụ nào.

Sau Tháng Tư 1975 vợ chồng tôi trôi dạt về căn nhà nhỏ trong cư xá nghèo này. Lúc chúng tôi mới về đây cô bé nhà trước cửa mới mười tuổi, còn chơi trò nhẩy dây, đánh cầu ngoài đường. Những mùa mưa, mùa nắng Sàigòn qua đi, tôi võ vàng, gầy ốm, méo mó, răn reo, ngồi bó gối sau khung cửa sổ, nhìn ra con đường nhỏ buồn phiền. Tôi xách cái túi rách lên xe bông đi tù..Những mùa mưa, mùa nắng Sàigòn qua đi, tôi xách cái túi rách trở về mái nhà xưa. Tôi lại ngồi bó gối sau khung cửa sổ nhìn ra còn đường buồn phiền. Tôi già hơn, mệt mỏi hơn, võ vàng, gầy ốm hơn, méo mó hơn. Cư xá nghèo hơn, đổ nát hơn, rêu phong hơn, u ám hơn. Một sáng tôi sững sờ nhìn cô gái mười bẩy, mười tám tuổi nhà trước cửa. Chưa bao giờ tôi thấy thời gian qua rõ ràng đến như thế..Bẩy, tám năm trời qua mau ơi là mau..

Dương Vân Trì có mấy bài Hát nói diễn tả tâm tình tiếc ngày xưa, thương người cũ, ngậm ngùi vì thời gian qua mau: “Ðêm khuya chợt nhớ chuyện thời trẻ. Trong mắt người ta đã già rồi…” thật cảm động:

Tặng Cô Ðầu Phẩm

Dạ thâm hốt ức thiếu niên sự

Giận hồng quân ghen ghét kẻ hồng quần.

Trải nắng mưa gầy biết mấy phần xuân,

Mà son phấn cũng phong trần thế nhỉ?

Nhãn trung chi nhân ngô lão hĩ!

Lệ Giang Châu chan chứa bởi vì ai!

Tân tri, cựu hận bời bời,

Tình duyên ấy lôi thôi bao kể xiết.

Ướm hỏi khách biết chăng, chẳng biết ?

Thương cho tình mà lại tiếc cho tài.

Hay là nhớ chốn Chương Ðài,

Xạ lan mùi cũ, hán hài lối xưa?

Hay là nhớ chốn mây mưa.

Gập Cô Ðầu Cũ

Hốt ức lục, thất niên tiền sự

Nợ phong lưu chưa trả hương nguyền.

Ðến bây giờ lại gập người quen,

Nỗi lưu lc, ghét ghen là thế thế.

Thiếp tự thân khinh, lang vị khí.

Thần tuy tội trọng, đế do liên.

Can chi mà tủi phận, hờn duyên,

Ðể son phấn đàn em sau khúc khích.

Ý trung nhân chỉ khả tình tương bạch.

Thôi bút nghiên, sênh phách cũng đều ai.

Trông nhau nói nói, cười cười.

Giải nghĩa mấy câu chữ Hán: Chợt nhớ chuyện sáu, bẩy năm về trước. Thiếp tự thân khinh: Em biết cái thân em không ra gì nhưng chàng chưa nỡ bỏ em. Thần tuy có tội nặng nhưng vua vẫn còn thương. Ý trung nhân: người có tình với nhau chỉ nên nói thật nỗi lòng với người tình…

Trong một tỉnh nhỏ nào đó ở miền Bắc Việt nam trong một đêm cách đêm nay một trăm ba mươi, một trăm bốn mươi năm, người lãng du Dương Vân Trì đi hát cô đầu. Cô đào aht có chồng là kép đàn, theo đúng quy luật đã thành văn:

Cô đầu, cô đách

Lấy quan, quan cách,

Lấy khách, khách về Tầu,

Lấy nhà giầu, nhà giầu phải tội tiêu xưng,

Trở về lấy chú tửng tưng

Tốt bền cố hỉ.

Những người đàn bà chơi bời thường không lấy được chồng tử tế, dù có nhiều thiện chí muốn trở về cuộc sống lương thiện, có nhiều cố gắng đến mấy đi nữa, thường họ cũng không gập được hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng. Có lẽ vì một phân họ đã quen với nếp sống ăn chơi sa đọa, chỉ quen hưởng thụ, phần vì thành kiến của xã hội không tin tưởng họ, vì chẳng có mấy người đàn ông dại dột làm cuộc thử nghiệm vợ chồng với họ. Nhưng trong đời ta cũng thấy có nhiều em chơi bời thực sự trở thành vợ hiền khi có người yêu thương họ. Và một khi đã hiền, các em hiền, tốt hơn nhiều những em con nhà lành đổ đốn khi có chồng.

Người đào hát trong bài Hát nói dưới đây có chồng là kép đàn, ông kép đàn mới chết. Nhà hát có khách, nàng hát vài bài rồi xin phép ngừng, vì đang có tang chồng, không tiện ngồi lâu. Ta có thể cười chê việc nàng làm là trò giả dối: đã là cô đầu tiếp khách thì dù hát vài bài hay hát suốt đêm cũng là tiếp khách, còn bầy đặt làm gì. Nhưng đôi khi chúng ta cũng quá dễ dãi trong việc khen chê. Cuộc sống còn có đạo đức là do những giữ dìn nho nhỏ ấy. Và giữ dìn lễ nghĩa nho nhỏ như vậy cũng là tốt rồi, ta không nên đòi hỏi gì hơn. Chỉ khi nào chúng ta không còn giữ dìn gì cả, không còn biết ngượng ngùng chi hết, dù là giả vờ, lúc dó chúng ta và cuộc sống mới thật là khốn nạn.

Cô đào xin phép ngừng hát vì chồng nàng mới chết, ông khách lãng su sáng chng có biết chồng nàng, từng nhiều lần được nghe vợ chồng nàng đàn hát, tức cảnh làm bài hát nói:

Tặng Cô Ðầu Hai

Lấy ai là kẻ đồng tâm

Lấy ai là kẻ tri âm với nàng.

Ðêm khuya luống những bàng hoàng

Người đi đâu vắng mà đàn còn đây?

Nghe đàn nhớ lão Trung kỳ

Vợ mi ở đó, mi đi mô chừ?

Sớm khuya xe tẩu phụng thờ

Hóa chồng cũng thể như chưa có chồng.

Nhân vong cầm tại

Nhớ chàng Hai mà gặp lại cô Hai

Tiện đây hỏi một đôi lời

Ðàn bản ấy cùng ai so phím cũ?

Hồng phần kỷ nhân vi quả phụ?

Bạch đầu nam lão Trác văn Quân!

Thế thì khi gió gác, lúc trăng sân

Chừng Bạch Tuyết, Dương Xuân còn tưởng nhớ.

Hãy ngồi lại hát chơi khúc nữa

Có trách chi tang trở xóm Bình Khang.

Xưa nay nghề nghiệp thế thường.

Ngắn thôi nhưng đủ ý, bài hát nói vừa trữ tình, vừa hiện thực, vừa cảm thương, đường hoàng, vừa hóm hỉnh và khéo nói. Hiện thực ở câu:” Sớm khuya xe tẩu phụng thờ..” Một câu thôi mà nói lên được một số sự kiện: đi hát cô đầu là có đàn bà, rượu và thuốc phiện. Tửu, sắc, yên, đổ, bốn món ta quen gọi là Tứ Ðổ Tường, ba món đã tập hợp trong nhà cô đầu, chỉ thiếu có cờ bạc. Ðổ: cờ bạc, thường đi một mình. Ðã cờ bạc là không có đàn bà, không có rượu, thuốc phiện. Những ông kép đàn cho cô đầu hát thường nghiện thuốc phiện, nhiều cô đầu biết tiêm thuốc phiện. Qua bài hát nói ta thấy anh kép đàn nghiện hút đã chết, vợ anh bầy bộ bàn đèn của chồng lên bàn thờ để thờ. Chi tiết này rất hiện thực. Nó ghi lại hình ảnh một thời kỳ đã qua trong xã hội ta, khi việc dùng á phiện được nhà cầm quyền coi là hợp pháp, khi Nhà Nước Bảo Hộ tổ chức việc nhập cảng á phiện và bán á phiện cho dân. Người kép đàn là người miền Trung. Dương Vân Trì đã khéo léo dùng tiếng Trung Kỳ để gợi lại việc Bá Nha Chung Tử Kỳ cảm nhau qua tiếng đàn. “Mi” trong câu “Vợ mi ở đó mi đi mô chừ..?” không mang ý khinh thường mà la tiếng gọi nhau thân mật của người miền Trung. “Nhân vong, cầm tại: người mất, đàn còn” lấy ở điển Bá Nha-Tử Ky, diễn tả thật đúùng cảnh người kép đàn không còn nhưng cây đàn của anh vẫn còn đó. Phải tài hoa và tài tình lắm mới tức cảnh làm ngay dược bài thơ nhiều ý hay như Dương vân Trì làm bài này. Ðó chưa kể kinh nghiệm sống: đàn bà đẹp khó có thể ở góa lâu được; các nàng có muốn ở góa bọn đàn ông cũng không chịu, những anh yêu nàng, muốn các nàng, thường làm đủ mọi cách để ép buộc các nàng phải bước đi bước nữa. Ða tình như nàng Trác Văn Quân làm sao có thể ở góa cho dến lúc bạc đầu cho được? Ðó chỉ là qua kinh nghiệm thôi, và kinh nghiệm đó đúng.

Ta có câu: “Chẳng ai giầu ba họ, chẳng ai khó ba đời..” Tôi thấy kinh nghiệm trên chỉ đúng trong thời loạn, khi xã hội có những biến động lớn, có sự thay đổi lớp người cầm quyền, nhưng trong những thời xã hội yên bình, một số gia đình nào đó nắm quyền thống trị xã hội trong vài trăm năm, ta thấy có những nhà quyền quí cha truyền, con nối không phải chỉ ba đời mà là cả chục đời. Vì vậy ta có câu ca dao:

Con vua thì lại làm vua

Con lão sãi chùa lại quét lá đa.

Nhưng một dòng họ không thể nắm quyền thống trị xã hội được mãi mãi. Tranh dành và chiếm giữ quyền làm chủ xã hội là việc mà loài người đã làm dài dài từ ngày họ sống thành xã hội. Sau năm 1954 ở miền Bắc, ta thấy tình trạng:

Con anh mõ làng lên làm chủ tịch,

Con nhà chánh tổng ra ở chuồng vịt ngoài đồng.

Những năm 1930 trong số những người sống ở bến sông Nhị, Ha nội, có câu:

Con ơi đừng khóc, mẹ sầu,

Cha con đốt lửa dưới tầu Long Môn.

Bao giờ con lớn, con khôn

Thì con lại xuống Long Môn con làm…

Từ năm 1975 câu hát trên có thay đổi chút ít để hợp với hiện cảnh:

… Bây giờ con lớn, con khôn

Con làm chủ tịch để con thằng tư sản

 nó xuống Long Môn nó làm…

Ta vừa đi lạc chút síu ra ngoài đề tài: “Tình Yêu và Hình Ảnh Ðàn bà trong Thơ Xưa”, nay ta trở lại:

Gập Cô Ðầu Khanh

Cầm tay nhớ những bao giờ

Mười lăm năm lại tình cờ gặp nhau.

Cuộc vui chớ gợi tiếng sầu

Tri âm ta lại bắt đầu tri âm.

Thế thượng tri âm tối nan đắc

Ðộc khanh tri ngã, ngã tri khanh.

Ðem má hồng ánh với mắt xanh,

Ấy ai ấy với mình duyên ngộ nhỉ!

Ngã thính khanh ca tần quán nhĩ,

Khanh tri ngã túy thả vong tình.

Thôi thời thôi, ta hãy mần thinh,

Chẳng túc trái cũng tiền sinh chi đấy tá.

Liên khanh đáo để hoàn liên ngã,

Hữu tình ta dám há vô tình.

Ái khanh thị dĩ khanh khanh!

Dương Tự Nhu

Sao y bản chính

TẾT và TUYẾT

Hoàng Hải Thủy trong Rừng Phong Tuyết Trắng. Ảnh Photoshop, do HHT làm, TẾT 2016. Ảnh HHT ghi ở Pleiku năm 1972.

Hoàng Hải Thủy trong Rừng Phong Tuyết Trắng. Ảnh Photoshop, do HHT làm, TẾT 2016. Ảnh HHT ghi ở Pleiku năm 1972.

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không?

Từ năm 1995 khi bánh xe tị nạn khấp khểnh, muộn màng đưa tôi đến Kỳ Hoa Đất Trích, năm nào Tết đến tôi cũng có một bài gọi là Bài Xuân, bài Tết. Những ngày như lá, tháng như mây – Thơ Thanh Nam – đến Tết Bính Thân 2016, tôi đã sống 20 năm ở Kỳ Hoa.

Vẫn biết Thời Gian qua nhanh, không ngờ Thời Gian qua nhanh đến thế. Hôm nay một sáng mùa Xuân nắng vàng trên Rừng Phong, tưởng như mới trưa hôm qua vợ chồng tôi líu ríu dắt nhau vào phi trường Washington DC. Nhưng – dòng thời gian dài một ánh bay – thấp thoáng vậy mà đã qua 20 năm, 20 cái Tết. Tết năm nay – 2016 – tôi không có bài viết nào về Xuân, về Tết. Đây là bài Viết ở Rừng Phong đầu năm Bính Thân, February 2016, của tôi.

Tháng 10 năm 1994 khi tôi mới đến Kỳ Hoa được mấy ngày, anh bạn tôi, Tạ Quang Khôi đưa tôi sang thăm thủ đô Washington DC. Anh nói:

“Người Mỹ chọn Virginia làm nơi đặt thủ đô vì Virginia không có những thiên tai động đất, cháy rừng, lũ lụt, bão lốc, bão tuyết. Virginia khí hậu thuận hòa, không nóng quá, không lạnh quá. Mùa đông Virginia có tuyết, không lẽ Virginia mùa đông không có tuyết. Nhưng tuyết Virginia là tuyết làm cảnh, tuyết làm duyên.”

Khôi nói về Virginia như thế trên đường xe trở về thị trấn Falls Church, nơi có nhà anh, nhà tôi. Khoảng 3 giờ chiều. Đúng lúc đó có những sợi tơ trắng rơi trên kính xe, anh nói:

“Tuyết đấy.”

Cơn mưa tuyết thứ nhất đến với tôi khoảng năm, sáu ngày sau khi vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa. Đúng như lời Khôi nói, Tuyết Virginia là Tuyết làm duyên. Trong 20 năm Virginia cũng có hai, ba trận bão tuyết, tuyết lên đến đầu gối, nhưng so với tuyết ở New York, Boston thì không đi đến đâu.

Những ngày gần Tết năm nay thành phố tôi sống có tuyết. Chuyện đáng kể là năm nay vì tuyết, khu tòa nhà nhiều tầng, nhiều phòng dành cho những Người Già có Thu Nhập Thấp, trong có vợ chồng tôi, có ông Nhà Văn Già Cô Đơn Tạ Quang Khôi – bị cô lập trong ba ngày, ba đêm. Vì tuyết ngập đường, xe ủi tuyết của thành phố dọn đường không kịp, xe ngoài thành phố không vào được parking nhà chúng tôi, xe trong nhà chúng tôi không ra khỏi được parking, tôi có thì giờ mở những tập tài liệu linh tinh ra xem lại.

Trong số sách báo tàng trữ trong tủ sách tôi gọi là Phong Lâm Tàng Kinh Các, tôi tìm được thi phẩm “Les Vingt Huits Etoiles” của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi phẩm xuất bản năm 1961 ở Sài Gòn. Con tôi tìm được trong những tiệm sách báo cũ, gửi sang Mỹ cho tôi trong Tháng 5, 2001.

Thi phẩm của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, chữ Việt dịch sang chữ Pháp, Sài Gòn 1961.Bản tiểu sử của thi phẩm ghi “LES VINGT HUIT ETOILES. Poemes. Traduit du Vietnamien par Simone Kuhnen de la Coeuillery.”

Thi phẩm của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, chữ Việt dịch sang chữ Pháp, Sài Gòn 1961.Bản tiểu sử của thi phẩm ghi “LES VINGT HUIT ETOILES. Poemes. Traduit du Vietnamien par Simone Kuhnen de la Coeuillery.”

Thi phẩm có 20 bài Thơ. Đây là bài Thơ Số 1:

Cảm hứng đêm khuya

Bẩy bước Thơ vừa gieo hạt châu
Ngang trời sao đã mọc thành câu
Đông Tây mây sóng tâm tình loạn
Phút chốc vồng lên bẩy sắc cầu

INSPIRATIOB DANS LA NUIT (1)

Après le septième pas, la Poésie sème sa septième perle, (2)

Alors s’étend au firmanent la Constellation aux Sept Etoiles (3) qui s’alligne en un vers heftasyllabe.

De l’Est à l’Ouest, les vagues et les nuages bouleversent les sept sentiments. (4)

Et tout de suite, le pont aux sept couleurs unit les deux horizons. (5)

( 1 ) Le poème fait allusion au vers de 7 syllabes: 7 perles, 7 étoiles, 7 sentiments, 7 couleurs.

( 2 ) D’après une anecdote chinoise, le poète TAO THUC achève un poème après avoir fait 7 pas.

( 3 ) La Grande Ourse.

( 4 ) Selon la psychologie de la Chine antique, il existe 7 sentiments: jpie, tristesse, amour, haine, désir, désesespoir, regret.

( 5 ) L’Arc-en-ciel.

Bài Thơ Số 2 — Viễn tượng kinh hoàng

Một thời nguyên tử đã đi qua
Khiến mặt trăng đầy nốt rỗ hoa
Bóng vẫn còn in cây nấm độc
Ai rằng cây quế với cây đa

Bài Thơ Số 3 — Sao mãi chưa đành

Nếm càng ghê vị nuốt càng tanh
Lại máu xương nào nữa Chiến Tranh
Họng súng lưỡi gươm còn biết ngán
Mà sao nhân loại mãi chưa đành

Bài Thơ Số 4 — Bí mật cung thiềm

Từ mấy ngàn thu đối mật trăng
Thi nhân ngắm đã chán Cô Hằng
Sao cô chẳng chịu quay lưng lại
Thua vẻ thon mềm gái Sở chăng

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có bài Thơ trong có câu về Tuyết:

Tuyết xuống phương nào, lạnh lắm không?
Mà đây lòng trắng một mùa đông.

o O o

Mời đọc bài văn Chúc Tết Vua và Toàn Quyền của Ông Nguyễn Tiến Lãng. Ông NT Lãng từng là Thư Ký Riêng của Hoàng Hậu Nam Phương. Ông giỏi tiếng Pháp. Ông từ trần ở bên Pháp.

NAM PHONG SỐ TẾT — NGUYỄN TIẾN LÃNG

Chúc TẾT VUA TA, QUAN TÂY

Kính chúc Hoàng Thượng và Quan Toàn Quyền.

Nghĩa vua tôi là nghĩa cổ, tình thầy trò là tình sâu. Tình sâu, nghĩa cổ, đã mấy khi mà được giải tỏ tấm lòng son.

Nay gập Tết Nguyên Đán, đông qua, xuân lại, khí giời mát mẻ, muôn vật hanh thông, bản báo xin thay mặt cả quốc dân mà dâng lên mấy nhời kính chúc hai đứng chúa tể trong nước là Đức Kim Hoàng ta và Quan Toàn Quyền Xa-lộ.

Chúc Hoàng Thương sống lâu muôn tuổi, trị vì mãi mãi cõi Việt Nam này để mỗi ngày trông lũ dân hèn bước lên đường tiến bộ, tô điểm thêm cho vẻ vang giang sơn cũ.

Chúc Quan Toàn Quyền phúc lành đầy đủ, Mẫu quốc tín nhiệm, cầm quyền chính trị cõi Đông Dương, dầy tháng, lâu năm, cho dân thuộc quốc được hưởng nhờ công gây dựng, ơn khai hóa bấy lâu nay.

Dân Nam Việt gập được đứng quân chủ như Đức Kim Hoàng ta, gập được đứng “quốc sư “như Quan Toàn Quyền “Xa – lộ ,”thực là một cái hạnh phúc vô cùng, từ nay trong lịch sử nước nhà mở ra một thời kỳ mới, tiền đồ sau này sẽ vẻ vang mà rực rỡ biết chừng nào.

Nay gập Hội Tân Xuân xin tung hô:

Đại Nam Khải Định Hoàng Đế vạn tuế.

Toàn Quyền Xa – lộ Đại Nhân vạn tuế.

Đại Nam cố quốc vạn vạn tuế.

Đại Pháp ân quốc vạn vạn tuế.

o O o

Nguyễn Tiến Lãng: Xe tối tân, nhưng cứ phải cúi đầu chui vào.. Khách: Ông nên cúi đầu cho quen.

Nguyễn Tiến Lãng: Xe tối tân, nhưng cứ phải cúi đầu chui vào..
Khách: Ông nên cúi đầu cho quen.

Bài Hành Phương Nam (Nguyễn Bính)

Hai ta lưu lạc phương Nam này 
Đã mấy mùa qua én nhạn bay 
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở 
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay ! 
Lòng đắng xá chi muôn hớp rượu 
Mà không uống cạn mà không say ! 
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã 
Mà áo khinh cừu chưa ai may ! 
Ngươi giam chi khí vòng cơm áo 
Ta trói thân vào lụy nước mây 
Ai biết thương nhau từ buổi trước 
Bây giờ gặp nhau trong phút giây 
Nợ thế, trả chưa tròn một món 
Sòng đời, thua đến trắng hai tay 
Quê nhà xa lắc xa lơ đó 
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay 

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc 
Ly tán vì cơn gió bụi này 
Người ơi ! Buồn lắm mà không khóc 
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy 
Vẫn dám ăn tiêu cho đến hết 
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay 
Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ? 
Cốt nhất cười vui trọn tối nay 
Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn 
Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay . 

Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt 
Giữa chợ ai người khóc nhận thây ? 
Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén 
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay ? 
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự 
Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây 

Ta đi nhưng biết về đâu chứ? 
Đã dấy phong yên khắp bốn trời 
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ 
Uống say mà gọi thế nhân ơi ! 

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ 
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười 
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại 
Hát rằng phương Nam ta với ngươi 
Ngươi ơi ! Ngươi ơi ! Hề ngươi ơi ! 
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh 
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi ! 

Đa Kao 1943 
Gửi Văn Viễn

oOo

Tư Mã Tương Như đời Hán, đàn giỏi, gảy khúc Tư Mã phượng cầu, Trác Văn Quân là người đẹp, nghe đàn, sau hai người lấy nhau .

Kinh Kha qua sông vào đất giặc. Bài thơ viết về Kinh Kha có câu: Tráng sĩ một đi không trở về.

Phùng Hoan, thực khách của Mạnh Thường Quân lãnh nhiệm vụ đi đòi nợ, khi đến ấp Tiết gọi các con nợ lại và tuyên bố đốt hết văn tự nợ. Sau về nói với Mạnh Thường Quân là tiền nợ ấy đã lấy mua “Đức” hết rồi.

Sau Mạnh Thường Quân bị vua Tề phế, khi qua ấp Tiết thì toàn dân ra đón linh đình, nhờ thế vua Tề thu dụng lại.

Cảm Tác

Thơ suông, rượu nhạt, quán cơm nghèo,
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều.
Chín hẹn đã sai mười: bạn quý.
Nghìn voi không được một: người yêu.
Bá Nha thưở trước còn Chung Tử.
Kim Trọng đời nay hết Thuý Kiều.
Võng tía, tàn vàng đi nượp nượp,
Giũ tà áo vải bụi bay theo.
1941

Đêm Cuối Cùng

Hội làng mở giữa mùa thu,
Trời cao gió cả trăng như ban ngày.

Hội làng còn một đêm nay,
Gặp em còn một lần nầy nữa thôi.
Phường chèo đóng Nhị độ Mai,
Sao em lại đứng với người đi xem ?
Mấy lần tôi muốn gọi em,
Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ.

Tình tôi mở giữa mùa thu,
Tình em lẳng lặng kín như buồng tằm.
1936

Gái Xuân

Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến, xuân đi, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân

Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Mưa Xuân

Em là con gái trong khung cửi 
Dệt lụa quanh năm với mẹ già 
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng 
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay 
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy 
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ 
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”. 

Lòng thấy giăng tơ một mối tình 
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh 
Hình như hai má em bừng đỏ 
Có lẽ là em nghĩ đến anh. 

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn 
Em ngửa bàn tay trước mái hiên 
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh 
Thế nào anh ấy chả sang xem! 

Em xin phép mẹ, vội vàng đi 
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe.
Mưa bụi nên em không ướt áo 
Thôn Đoài cách có một thôi đê.

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm 
Em mải tìm anh chả thiết xem 
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh 
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em. 

Chờ mãi anh sang anh chẳng sang 
Thế mà hôm nọ hát bên làng 
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn 
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng! 

Mình em lầm lũi trên đường về 
Có ngắn gì đâu một dải đê! 
áo mỏng che đầu mưa nặng hạt 
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya 

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay 
Hoa xoan đã nát dưới chân giày 
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ 
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”. 

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày 
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ 
Để mẹ em rằng hát tối nay?
1936

Mùa Xuân Xanh

Mùa xuân là cả một mùa xanh,
Trời ở trên cao, lá ở cành.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh,
Tôi đợi người yêu đến tự tình.
Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là chiếc thắt lưng xanh.

Thơ Thanh Nam.

Xuân Đất Khách

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .

Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .

Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .

Seattle, mùa xuân 1977 .

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Xuân Bính Thân. 2016.

ĐI TÂY

Cô đầm nằm hút trong một tiệm hút ở Sài Gòn năm 1950. Cô để chân trái lên cái gối sứ, loại gối đặc biệt của những tiệm hút chủ nhân Tầu.Loại gối này lâu rồi không còn nữa ở Việt Nam.

Cô đầm nằm hút trong một tiệm hút ở Sài Gòn năm 1950. Cô để chân trái lên cái gối sứ, loại gối đặc biệt của những tiệm hút chủ nhân Tầu.Loại gối này lâu rồi không còn nữa ở Việt Nam.

– Bẩm cụ… Vậy là lần này cụ nhất định đi ạ?

– Phải đi chứ chú. Không đi không được. Các cháu chúng nó giục quá. Chúng nó muốn tôi qua chơi bên ấy từ đầu năm, tôi lần chần mãi. Không đi thì phụ lòng các cháu.

– Dạ.. Cụ đi chơi là phải. Các ông, các bà ấy đã có lòng…

vanTrong gian phòng êm vắng như tờ, không có cả tiếng quạt máy chạy rì rì. Phòng không có quạt máy là bởi vì nơi đặt bàn thờ Cô Ba Phù Dung, nói trắng ra là bàn đèn thuốc phiện – đôi khi còn được gọi là “pờ-la-ti” hay “bàn đọi” — là nơi rất kỵ gió. Tối kỵ nữa là đằng khác. Dù trời có nóng đến chẩy mỡ, chẩy dầu, dù nhà có cả chục cây quạt máy, nơi đặt bàn đèn cũng không dùng quạt. Quạt là có gió, mà có gió thì ngọn đèn dầu thế nào cũng bị ảnh hưởng, hút không được. Vì vậy, buổi tối trong gian phòng nhỏ này, chỉ có ngọn đàn dầu lạc là sáng. Ông chủ nhà và cũng là chủ bàn đèn, người được gọi là cụ, không thích đèn sáng. Bàn đèn không cần đèn điện; bàn đèn chỉ cần có ngọn đèn dầu lạc, và ngọn đèn dầu lạc cứ thắp sáng là đủ rồi. Mọi thứ đèn khác đều là thừa.

Cụ nằm một bên khay đèn, chú nằm bên kia. Chú tiêm thuốc, cụ hút. Cụ và chú đang nói chuyện về một chuyến đi. Chuyến đi thật xa. Xa đến tận bên trời Tây, tức là qua nửa bên kia của trái đất. Cụ đi sang Pháp quốc nói chung, Paris nói riêng. Cụ có hai ông con sống bên Pháp. Ông là kỹ sư, ông là bác sĩ. Cả hai ông đều có vợ đầm. Các ông không về nước thăm bố mẹ được. Để hiển dương lòng hiếu và phụ tử tình thâm, hai ông mời hai cụ sang Pháp chơi.

Việc đi sang Pháp chơi được coi là giấc mộng vàng của nhiều người Việt Nam, những người Việt từng thán phục nền văn minh của nước Đại Pháp, cái nước có công khai sáng nước An Nam. Cả những anh nghèo rớt mồng tơi, nghèo lõ đít, kiết xác, kiết xơ cũng thầm ao ước: “Mình mà được đi sang Pháp chơi thì đã quá.”

Nhưng đó là chuyện của người thường. Trường hợp của cụ thì lại khác hẳn. Tất cả mọi người đều có thể đi sang Tây nếu có điều kiện, riêng cụ thì không thể. Vì cụ nghiện thuốc phiện. Và những người nghiện, những đệ tử của Nàng Tiên Nâu, đều kỵ phải đi xa, nhất là đi sang Tây, nơi thuốc phiện bị cấm ngặt, nơi thuốc phiên hiếm và đắt hơn vàng.

Cụ là một công chức hồi hưu. Thời tại chức, nhờ bổng lộc nhiều, lại có quyền thế nên cụ cho được hai ông con sang Tây học. Khi thành tai, hai ông không về nước. Chuyện sang Tây du học, thành tài, trở về nước phục vụ, đồng bào với mấy ông này là chuyện khôi hài nhạt. Về nước làm cái quái gì? Nước nhà chưa có những nhà máy lớn, những phòng thí ngiệm xứng đáng được dùng khả năng của các ông. Về nước để ngồi bàn giấy, làm những việc lẩm cẩm, phí tài học của các ông. Ở Pháp, các ông có việc làm tốt, có nhà, có vợ đầm, con các ông Tây lai Việt nhưng nói toàn tiếng Tây. Dù có bị người Tây cho là người Tầu, người Nhật cũng chẳng sao. Tự ái mẹ gì. Những bà vợ đầm của các ông da trắng, mắt xanh, tóc vàng sợi nhỏ  không hào hứng theo chồng về Đông Dương. Nếu các quan Đại Pháp còn cai trị mấy nước Đông Dương như cách đây năm mươi năm thì may ra các bà đầm có thể chịu về chơi quê chồng. Về chơi, không ở luôn.

Nhưng, như đã nói, việc sang Tây chơi là giấc mơ của nhiều người Việt nhưng lại lá ác mộng của những ông người Việt đệ tử của Phù Dung Tiên Nữ. Ông cụ từng khất đi, khất lại mấy lần. Có lần sổ thông hành đã có, vé máy bay đã mua, tiền đã đổi, hành lý đã gửi, cụ chỉ còn việc lên Air France, cụ lăn đùng ngã ngửa ra, cụ đau, cụ không đi đái được, cụ đái không ra. Cụ phải vào Grall nằm, và tất nhiên là chuyến đi Tây của cụ phải hoãn lại.

Nhưng hoãn gì thì hoãn cũng đến lần hoãn cuối cùng. Ông con năn nỉ quá, cụ không thể không đi. Trừ phi cụ từ chối hẳn:

“Thầy già rồi, thầy không đi xa được nữa. Con nhớ thầy thì về thăm thầy.”

Chú đến làm thuốc cho cụ cũng nghiện – tất nhiên – chú nghiện đói, nghiện rách. Chú thường đến hầu thuốc cụ để cụ cho hút, cho sái. Phong trào chích choác giờ đây lên cao như hỏa tiễn, thuốc phiện đắt hơn vàng, sái thuốc phiện đắt như vàng. Người ta tìm được thuốc phiện dễ hơn là tìm được sái. Những ông có bàn đèn ở nhà thường tích sái lại để bán, để đổi lấy thuốc. Cụ ông đây dư giả nên cụ có thể cho chú chứ không bán. Bàn đèn này của ông cụ là nguồn cung cấp sái rất vững của chú.

Cụ trạc 65 tuổi, chú trạc 40. Cả hai cùng hút đã lâu nên cùng già trước tuổi. Cả hai cùng gầy đét, cùng xanh như hai tầu lá chuối non. Từ ngày rước bàn thờ Cô Ba về nhà, cụ ông đã dậy cụ bà tiêm thuốc, nhưng cụ bà không thích nằm bên bàn đèn, và đàn bà tiêm thuốc phiện thường không điệu nghệ như đàn ông. Lại còn những lúc đèn hư, bấc rối, bấc không ăn dầu, nhĩ tụt, dọc tắc. Sự có mặt của chú bên bàn đèn của cụ đôi khi thật là cần thiết. Do đó cụ tiếp chú bằng sự nồng hậu làm chú thấy ấm lòng.

Biết mình là kẻ đến tiêm thuốc cho chủ nhà để được hút, được cho sai, chú rất cẩn thận trong lời ăn, tiếng nói. Với chuyến đi Tây của chủ nhân chú không góp ý kiến gì ngoài việc tán thành những quyết định của ông cụ.

– Tôi phải đi, chú ạ. Người ta muốn đi  mà không được đi, mình có dịp đi mà không đi là uổng.

– Dạ. Cụ đi chơi là phải. Người ta có bạc triệu chưa chắc đã đi được.

– Các cháu chúng nó xa tôi, chúng nó nhớ tôi. Chúng nó về thì không tiện, nước nhà đang có chiến tranh.

– Dạ. Các ông ấy về đâu có tiện. Thời buổi này người ta muốn đi không được; dại gì mà về. Lỡ ra có chuyện như Tết Mậu Thân.

Giọng nói của cụ có âm thanh lo âu:

– Sang bên đó thì đầy đủ mọi thứ. Các con tôi có nhà, có xe. Chỉ lo có mỗi một chuyện là sang bên đó là phải nghỉ hút. Bên đó cái trò này hiếm lắm.

Chú nín im, chờ đợi cụ cho biết cụ giải quyết việc hút ra sao, chỉ có hai bàn tay chú là hoạt động.

– Nhưng tôi cũng chẳng lo gì lắm. Nhân dịp, tôi nghỉ ít tháng cho khỏe người. Tôi đem đi vài lạng bỏ vào chai rượu thuốc. Lúc nào cần thì uống cho ấm. Cai ít tháng, có chết ai.

– Dạ, thưa cụ. Mình thích thì mình chơi, mình nghỉ ít ngày đâu có sao. Cụ đi nhiều lắm là vài tháng, về lại chơi. Bên ấy lạnh, mát. Sang bển có khi cụ không cần rựơu thuốc lắm ạ.

– Có khi không cần đâu nhưng mình cứ phải đề phòng.

– Dạ. Hai cụ đi chơi chuyến này chắc là ăn Tết ở bển?

– Không. Chúng tôi về chứ. Bên Tây làm gì có Tết. Từ giờ đến Tất còn những bốn tháng. Chúng tôi ở bển nhiều lắm là hai tháng. Hai tháng chơi với các cháu là đủ rồi.

– Dạ. Hai tháng là đủ lắm rồi. như vậy là vào khoảng Tháng Chạp ta hai cụ về?

– Cuối tháng Một hay đầu tháng Chạp.

– Thế nào mà các ông, các bà ấy chẳng giữ hai cụ ở lại.

– Giữ cũng chẳng được. Tết nhất chúng tôi phải về chứ. Phải cúng giỗ tổ tiên, ông bà. Ba ngày Tết bỏ đâu có được. Tôi lại là con trưởng.

Chú tính nhẩm: vậy là nguồn cúng cấp sái của chú sẽ bị ngừng trong vài tháng giáp Tết. Tạm ngừng thôi nhưng ngừng tạm cũng là ngừng. Chú hy vọng trước khi đi cụ sẽ cho chú một bịch sái lớn gấp đôi, gấp ba những bịch sái hàng tháng trước đó.  Gần Tết chú mới trở lại thăm cụ. Đi Tây về lần này chắc chắn cụ sẽ có món tiền lớn do các ông con chung góp. Còn chú, chú sẽ đi kiếm ăn nơi khác. Trời sinh, trời dưỡng. Lo gì. Vả lại cụ cũng không phải là người cung cấp duy nhất của chú. Vài ba ngày chú mới tới cụ một lần.

Bữa ấy được coi là bữa hút chia tay. Hai người, một già một chưa già nhưng cũng không còn trẻ, hút một bữa thật say. Sau đây, chú sẽ lau chùi bàn đèn, cụ sẽ cất bàn đèn vào tủ. Trưa mai cụ lên phi cơ, sáng mai cụ dùng rượu thuốc, để đi máy bay cho đỡ mệt. Cụ quyết định như thế, chú tán đồng hoàn toàn; đi máy bay đã mệt rồi, lại say thuốc nữa thì khó chịu lắm.

o O o

Anh nghiện á phiện nạo sái. Tranh vẽ trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư.

Anh nghiện á phiện nạo sái. Tranh vẽ trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư.

Đã hai lần cụ định đi rồi hoãn, rồi không đi. Lần này cụ đi thật. Chú được cụ cho một lạng thuốc, hai lạng sái trước khi chia tay. Số sái chú bán được 2 ngàn đồng, chú hút đủ trong một tháng, theo lối hút tần tiện của chú. Vợ chú bán bánh cuốn ở đầu ngõ. Chú đóng góp công sức vào công việc của vợ bằng cách mỗi sáng chú dậy từ 4 giờ để xay bột cho vợ chú tráng bánh. Số tiền bán sái chú dùng hết, không chia cho vợ đồng nào.

Chừng nửa tháng sau ngày cụ đi tình cớ chú gặp ông bạn chú. Ông bạn này cũng nghiện như chú. Trước đây ông bạn cũng đói rách như chú nhưng bây giờ thì ông khá rồi. Nhờ quân đội Mỹ vào Việt Nam đánh cộng sản, họ sống và làm giầu cho một số người Việt. Ông bạn chú theo bà vợ đi thầu đổ rác cho căn cứ Mỹ. Đổ rác Mỹ là việc làm ra tiền không ai ngờ. Bốc hốtdập gẫy  trong vòng mấy năm, ông bạn trở thành triệu phú. Trước đây ông bạn chú cũng đi hút lang thang, lưu động như chú trong những tiệm hút, nay ông đặt bàn đèn ở nhà, thuốc mua từng ký, vừa rẻ vừa ngon, an ninh tối đa. Các ông nghiện có cái tật thích có bạn hút, cần có bạn hút hợp tính, đấu hót. Đó là cái lý do làm cho nhiều ông nghiện có bàn đèn ở nhà vẫn mò đến tiệm hút gặp anh em. Các ông đã hút đủ ở nhà, các ông đến tiệm hút thêm để được gặp anh em. L1y do thứ hai là các ông thích nằm hút thoải mài do người khác tiêm thuốc.

Chú được ông bạn đưa về nhà, cho hút và đề nghị:

– Toa đến đây hút với moa. Đi tiệm vất vả. Bị vồ thì khổ.

Hai người đi đến thỏa ước: mỗi ngày chú được cung cấp 5 phân thuốc, mỗi tháng chú được cấp 500 đồng, chú phải đến đúng giờ tiêm thuố cho ông bạn bót. Ông bạn có khách đến chơi, chú phải tiêm thuốc cho những ông này. Nói tóm lại chú bà bồi tiêm của ông bạn. Chú d0ãn nhận công việc ấy một cách hoan hỉ. Chú chẳng mong đợi gì hơn là có một nơi nằm hút yên tĩnh, an ninh, có một số thuốc đều mỗi ngày mà không phải chi. Thời buổi khó khăn này, người hút ít như chú không mấy tiệm muốn tiếp. Đến tiệm, hút xong chú phải bốc đi ngay, không được nằm phi bên bàn đèn, hút đủ đô nằm phi bên bàn đèn là một lạc thú của giới tiên ông.

Nay chú không còn có ý kiến riêng nữa. Ý kiến bây giờ của chú là ý kiến của người có thuốc cho chú hút. Chú đồng ý về mọi vấn đề theo ý của ông bạn chủ bàn đèn. Cuộc giao hảo giữa chú và ông bạn diễn ra tốt đẹp. Chú thấy lời các cụ nói thật đúng: “Ở hiền gập lành.” Chú vì hiền lành nên được ông bạn thương, đem về cưu mang. Chú nằm đây thật an ninh. Bàn đèn riêng lại kín như thế này, muôn năm “Sẹc bài trừ “cũng không biết. Mà có biết cũng không sao, nhân viên bài trừ ma túy ít khi để ý đến những bàn đèn tư gia, họ chỉ thích vồ những tiệm lớn, đông khách.

Nhưng cuộc đời không đẹp, không êm như chú tưởng. Tai bay, vạ gió thường đến những lúc nạn nhân không ngờ nhất. Vào một buổi trưa khi chú đàng nằm múa tiêm, ông bạn chủ nhân đang nằm hút, thời gian hòa lẫn với không gian đang êm ả bỗng rộn lên những tiếng chân giầy lên thang lầu. Chú vừa kịp ngóc đầu lên nhìn đã thấy khuôn mặt người lạ nhưng lại rất quen của nhân viên cảnh sát bài trừ ma túy. Người đi đầu rút ngay cặp còng ra còng cổ tay khẳng khiu của chú vào cổ tay chân gà của ông bạn chú. Việc làm thứ hai của viên cảnh sát bận thường phục này llu7po75m vái dọc tẩu lên tay trong khi chủ nhân bàn đèn ú ớ nói không ra tiếng.

Cuộc lục xoát sau đó kéo dài lê thê nhưng nhân viên bài trừ không tìm thấy gì. Một bộ bàn đèn đang hút, chừng một lạng thuốc. Vậy là hết. Tang vật chỉ có thế. Chủ nhà có cả ký thuốc nhưng nhân viên cảnh sát không tìm thấy. Nhưng chỉ cần bộ bàn đèn đã đủ để chủ nhà và ông khách bị bắt, đưa về nhà giam quận cảnh sát, chờ ra biện lý; họ sẽ bị tống giam vào Nhà Tù Chí Hòa chờ ngày ra tòa.

Bàn đèn riêng không tiếp khách, không bán chác gì hết, tại sao lại bị lộ? Tai vạ, những tai bay, vạ gió, thường đến bất ngờ như tất cả những cái gọi là tai bay, vạ gió ở cõi đời này. Nguyên nhân tại vạ được tóm tắt như sau:

Một ông bạn của chủ nhân là thương gia giầu tiền, ông này xuất ngoại. Vì nghiện, ông mang theo một số thuốc phiện trong hành lý. Nhân viên khiểm xoát ở phi trường tìm thấy số ma túy này. Trong hộp đựng mau túy có danh thiếp của mấy ông bạn ông thương gia. Trong số có danh thiếp của ông chủ bàn đèn. Ngay trong ngày nhân viên quan thuế  phối hợp vớ cảnh sát đến khám xét mấy địa chỉ trên những danh thiếp. Tất cả những địa chỉ này đền có dính líu đến ma túy.

Tù một thương gia đi ngoại quốc đến chú bồi tiêm tài tử không có liên hệ gì với nhau; nếu có liên hệ thì đó chỉ là sự liên hệ giữa hai kẻ cùng hội, cùng thuyền. giữa hai người cùng nghiện. Ông thương gia xuất ngoại, chú nghiện không hay biết, nhưng khi ông thương gia bị vồ, chú nghiện bị vồ luôn.

Ông bạn chủ bàn đèn vì có tiền nên đỡ khổ hơn chú. Chú nhận bàn đèn là của chú  để chịu tội thay ông bạn. Bù lại, ông bạn chú gửi thuốc, gửi tiền vài tù chó chú, ông chạy tiền cho chú được nhẹ tội. Ra tòa chú bị tòa phạt hai tháng tù ở.

Chú ra khỏi khám vào một ngày cuối năm. Thành phố đang náo nhiệt sửa soạn ăn Tết. Năm nào Tết đến người ta cũng than vật giá lên cao nhưng người ta vẫn mua sắm mo1ib thứ để đón Tết. Dường như ai cũng có món tiền, lớn nhỏ, để chi cho Tết, riêng nhân vật trong truyện này là không có lấy năm chục bạc. Chú buồn sầu đi lang thang trong đường phố đông người. Khi ngồi nghỉ trên ghế xi-măng trong công viên trước chợ Bến Thành, chú bỗng nhớ tới cụ.

– Chắc ông cụ ở bên Tây về rồi. Mình còn đợi gì mà không đến thăm cụ?

Hy vọng được có bữa hút cuối năm làm chú thấy mạnh và hăng hái đi đến nhà ông cụ.Chú chi 10 đồng cuối cùng vào cuốc xe lam từ chợ Bến Thành đến chợ Tân Định. Xuống xe chú đi phăng phăng đến nhà cụ, hai chân chú như mọc cánh.

Căn nhà quen thuốc đây rồi. Sau khung cửa này là bộ bàn đèn sáng choang, là cuộc sống với chất khói thơm thấm vào lục phủ ngũ tạng, đáng thức dậy cái tiềm lực đang nằm rũ trong đó. Cọc.. cọc.. Chú gõ lên cánh cửa gỗ như mọi lần đến chú vẫn gõ như thế.

Khuôn mặt người đàn bà chứng bốn mưi – bà vợ kế của cụ — hiện ra giữa khung cửa mở:

– Lậy cụ ạ – Chú chào vui như chưa bao giờ vui thế – Hai cụ đi Pháp về đã lâu chưa ạ? Hôm nay chác mới đến thăm được hai cụ.

Chú theo cụ vào nhà, hai bàn tay xương sẩu xoa vào nhau, chú nói líu tìu tìu:

– Bẩm cụ.. Hai cụ đi Pháp chơi vui chứ ạ? Cụ ông cháu chắc khỏe hơn. Dạ bẩm.. Cháu xin cụ tha lỗi chứ cháu trông cụ trẻ hẳn ra đấy.

Sự thực là chú không khen tặng láo, cụ bà có vẻ trẻ hơn; điều chắc chắn và thấy rõ là cụ bà mập hơn, hồng hào phây phây hơn. Nhưng chú sững sờ khi thấy cụ bà rầu rầu vẻ mặt, như người muốn khóc. Lạ chưa kìa! Chú có nói gì thất thố đâu.Bu74s thuốc hôm nay phèo hay sao đây?

– Buồn quá chú ơi..

Chú choáng váng khi nge cụ bà nghẹn ngào:

– Ông nhà tôi mất rồi còn đâu.

Chú ú ớ:

– Bẩm..cụ ông…mất ?

– Dạ phải. Ông nhà tôi mất ở bên Pháp. Ông nhà tôi qua bển được một tháng thì đau, các cháu đưa vào nhà thương lớn nhất, đắt tiền nhấ ở Paris..Ông nhà tôi…

“Ông nhà tôi… Ông nhà tôi..”  Hai tai chú ù ù, cơn mệt mỏi trở lại với chú dũ dội hơn trước, hai đầu gối chú mềm nhũn, chú ngồi như ngã xuống ghế. Cụ đã chết; mà lại chết ở tận bên Tây. Thế là hết. Bữa hút hôm nay phèo. Phèo…!

Chú ngồi đờ người, nước mắt, nước mũi chú ứa ra. Chú khóc mà không biết mình khóc. Nhưng cụ bà biết chú khóc. Vẻ đau thương của chú làm cụ bà cảm động, cụ tưởng chú khóc vì thương cụ ông, chú thật có tình.

Cụ bà kể lể một hồi. Chú nghe tiếng được, tiếng mất, tiếng đực, tiếng cái; âm thanh như hơi gió từ trong hai lỗ tai chú phào ra..Chú choàng sống lại khi cụ bà đặt cái hộp Guigoz lên bàn:

– Có cái này biếu chú.. — Cụ bà sụt sịt – Ông nhà tôi trước khi đi có để sẵn cái hộp này, dặn tôi đến Tết biếu chú.

Hộp sái. Hai con mắt ướt lèm nhèm của chú sáng lên. Nếu sái trong hộp Guigoz này mà lèn chặt, sái phải có tới bốn, năm lạng. Mỗi lạng sái, thuốc tinh tốt như thuốc cụ ông hút, giá rẻ bây giờ cũng là 1500 đồng. Chú có thể có 10.000 đồng nhờ hộp sái này. Sức lực trở lại với chú, tay chú tự đông đưa lên quẹt mũi. Chú dùng tay áo chấm nước mắt.

– Xin cụ cho cháu được dâng cụ ông nén nhang..

Bàn thờ cụ ông đặt trong căn phòng trên gác, căn phòng từng đặt bàn đèn. Bức hình cụ  giữa bàn thờ chiếu đôi mắt hiền từ nhìn chú. Chú thành kính thắp nén nhang, đưa lên trán lẩm nhẩm khấn rồi vái cụ.

Ôm hộp sái trước ngực, chú đi phăng phăng trong phố, Buổi tối cuối năm trời hơi lạnh. Con đường trước chợ Tân Đinh sáng choang ánh đèn, người ta chen chân nhau đi. A..Tết đến đít rồi. Mình cũng phải mua sắm chút gì cho tụi nhỏ. Tội nghiệp..Ông cụ đi Tây chắc là thiếu thóc. Nên đi tầu suốt. Đúng là đi Tây. Mẹ kiếp. Đã nghiện oặt lại già cấc, đi Tây làm gì cho nó khổ. Cứ ở nhà hít đều chưa chắc đã tịch. Cụ bà còn phây phây, còn lấy chồng được, không chừng còn đẻ được năm, bẩy tí nhau ấy chứ lại

Đến lúc này chú mới chợt nhớ là trong lúc vội vã, bối rối  chú quên hỏi cụ bà có đem được cụ ông về nước không, hay là cụ ông nằm luôn ở bển.

Hoàng Hải Thủy.

o O o

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Một ngày gần Tết Nhâm Thân, 2016.

“Đi Tây”  đăng trong VĂN GIAI PHẨM XUÂN  NHÂM TÝ, phát hành ở Sài Gòn ngày 1 – 2- 1972. 

“Đi Tây” Truyện ngắn tôi – Hoàng Hải Thủy — viết trong một ngày gần Tết Nguyên Đán năm Nhâm Tý – 1972 — Năm 2015, sống những ngày cuối đời tôi ở Kỳ Hoa Đất Trích, một sáng tôi được điện thư của một bạn đọc:

“Anh có nhớ truyện Đi Tây anh viết năm xưa không?”

Tôi không nhớ gì hết về truyện Đi Tây.

Người bạn gửi cho tôi số báo VĂN XUÂN NHÂM TÝ. Tôi buồn vui khi VĂN XUÂN NHÂM TÝ đến Rừng Phong. Người bạn đã mang tập VĂN này theo khi bạn đi khỏi nước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Bạn đã giữ tập VĂN này trong gần 50 năm. Sau nửa thế kỷ, tôi cảm khái đọc những dòng chữ tôi viết khi tôi còn trẻ. 

Tôi chép lại truyện Đi Tây, không sửa một chữ. Tôi gửi Đi Tây đến các bạn.

Tôi cám ơn bạn HV, người đã mang tập VĂN XUÂN NHÂM TÝ sang Kỳ Hoa, người đã giữ tập VĂN trong 50 năm.

Cảm khái cách gì!

Đại Úy HHT

tientuyen
Ngày xưa ấy là những năm 1966, 1967, tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến.  Nhật báo Tiền Tuyến do Cục Tâm Lý Chiến xuất bản, phát hành như nhật báo tư nhân, nhân viên 50% là quân nhân, 50% là ký giả thường dân. Thời gian đầu tòa soạn Tiền Tuyến ở nhà in Hợp Châu, đường Cống Quỳnh; rồi vào trong khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến, đường Hồng Thập Tự.

Tòa soạn Tiền Tuyến những năm ấy có: Phan Lạc Phúc (Ký giả Lô Răng), Huy Vân, Dương Ngọc Hoán, Viêm Hồng, anh Vũ Uẩn  (cựu võ sĩ quyền Anh Làng Bốc-sơ Bắc Kỳ những năm 1935-1940), họa sĩ Hĩm (Đinh Hiển).

Khi tòa soạn ở nhà in Hợp Châu, nhật báo Tiền Tuyến có Hoàng Anh Tuấn; khi tòa soạn vào Cục Tâm Lý Chiến; Hoàng Anh Tuấn lên Đalat làm quản đốc đài Phát thanh Đalat.

Những năm ấy, tôi hút một ngày khoảng 50 điếu thuốc lá.  Ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng; vợ tôi dậy từ 4 giờ, đun nước, pha cho tôi ly cà phê đen — để đó — nàng vào giường ngủ tiếp với các con; tôi rửa mặt, bận y phục, hút khoảng 3 điếu thuốc đầu tiên trong ngày, uống ly cà phê đen vợ tôi pha, ra khỏi nhà; đến tòa báo lúc 6 giờ sáng.

Những sáng cuối năm trời lạnh, trời Sài Gòn, lúc 5 giờ sáng có khi còn trăng sao.  Từ 6 giờ đến 9 giờ; ngồi làm việc trong tòa sọan, tôi hút khoảng 5, đến 6 điếu thuốc. Thuốc Mỹ: Lucky, Pall Mall, Philip Morris Vàng. Đến 9 giờ sáng; bụng tôi cồn cào, dạ dày tôi chỉ có chất cà- phê đen, trong phổi tôi chỉ có khói thuốc và ni-cô-tin — tôi phải ăn sáng để hoá giải chất khói và cà phê trong tôi.

Nữ diễn viên Điện Ảnh Như Loan và Nhà Văn Văn Quang.

Nữ diễn viên Điện Ảnh Như Loan và Nhà Văn Văn Quang.

Cục Tâm Lý Chiến những năm ấy chưa có căng-tin.  Cục cho phép chị vợ một hạ sĩ quan mở một quán cà-phê, nước ngọt, hủ tíu, cơm; cho binh sĩ có nơi ăn uống, mà không phải ra ngoài trại.  Quán ăn ở góc trại, mái tôn, vách tôn, có chừng 4, 5 cái bàn nhỏ.  Gần như sáng nào trong tuần, vào khoảng 9 giờ; tôi cũng vào quán này ăn sáng; để khỏi phải đi xa; và, ăn xong, còn phải trở vào tòa soạn làm việc tiếp.

Tôi chỉ ăn sáng một trong 2 món: bánh mì ốp-la, hay bánh mì  ra-gu.  Mỗi sáng, chị chủ quán thường bảo con trai chị, trạc 11, 12 tuổi:

phamhuan“Ra hỏi Đại úy, sáng nay ăn gì?”

Ăn xong, tôi uống ly cà-phê đen; và, chỉ uống cà-phê đen; nên thấy tôi ăn sáng xong, không cần hỏi tôi uống gì, chị bảo con:

“Bưng cà- phê, Đại úy”.

Năm 1952, khi tôi làm lính Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền, đơn vị thuộc Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Trần Tử Oai là Trưởng Phòng 5; tôi mang lon Trung sĩ (Sergent)

15 năm sau tôi trở lại Cục Tâm lý chiến; và, được chị chủ quán gọi là Đại úy.  Ấy là, dù tôi chỉ mặc đồ ‘si-dzin’ (civil) thường dân; nhưng vì tôi hay ngồi ăn sáng trong quán với ông Đại úy Nguyễn Quang Tuyến – nhà văn Văn Quang — và ông Đại úy Phạm Huấn, 2 ông Đại úy, vào năm 1966- 67 làm việc trong tòa soạn Chiến sĩ Cộng hòa, tòa báo này ở ngay cạnh tòa soạn báo Tiền Tuyến — nên, gần như ngày nào tôi cũng được gặp, hay nhìn thấy 2 ông.

Hai ông cũng hay ăn sáng, cà-phê ở quán trong Cục.  Chị chủ quán biết tôi làm trong tòa báo Tiền Tuyến, chị không thấy tôi mặc quân phục, mang lon Đại úy; có thể chị không biết tên tôi; song, chị thấy tôi thuờng ngồi ăn sáng với 2 ông Đại úy quân phục, lon lá đàng hoàng; là Đại úy Văn Quang, Đại úy Phạm Huấn, chị thấy tôi trạc tuổi hai ông; tôi có thái độ ngang hàng với hai ông; và, hai ông cũng có thái độ ngang hàng với tôi, hai ông mày tao với tôi, tôi mày tao với hai ông —  chị nghĩ tôi cũng là Đại úy, chị gọi tôi là Đại úy.

Cho đến một sáng, tôi ngồi ăn một mình.  Ăn xong, tôi nghe chị chủ quán bảo con:

“Bưng cà- phê, Thiếu tá ”

Tôi hơi lấy làm lạ.  Chị chủ thường ngày gọi tôi là Đại úy; sao hôm nay chị lại gọi tôi là Thiếu tá. Tôi ‘théc méc’ tí chút, rồi quên ngay — đang là Đại úy, có bị người ta gọi là Trung úy mới ‘théc méc’, là Đại úy được gọi là Thiếu tá, ‘théc méc’ cái gì?

Về tòa soạn làm việc tiếp; tôi thấy 3, 4 ông sĩ quan vào phòng, chúc mừng Đại úy Phan Lạc Phúc vừa lên Thiếu tá.  Và tôi biết tại sao hôm nay chị chủ quán lại gọi tôi là Thiếu tá; chị được biết trong Cục,  có mấy ông Đại úy vừa được lên Thiếu tá, trong đó có ông Đại úy báo Tiền Tuyến; nên chị nghĩ cấp bậc mới của tôi là Thiếu tá; chị gọi tôi là Thiếu tá.

Trong số sĩ quan đến chúc mừng Thiếu tá Phan Lạc Phúc sáng hôm ấy, có Đại úy Nguyễn đình Phúc, ông Đại úy này còn có tên là ‘Phúc Khàn’; và, ông cũng vừa lên Thiếu tá hôm qua.  Thấy 2 ông Thiếu tá Phúc trong phòng; tôi tức cảnh làm câu đối:

Phúc Lạt, Phúc Khàn, hai Phúc thiếu
Quang Văn, Quang Vũ, một Quang thừa

Hai ông sĩ quan tên Đình Phúc, Lạc Phúc cùng là Thiếu tá. (Lạc, nói theo giọng Nam, đôi khi nghe như Lạt.)

Năm ấy Cục trưởng Cục Tâm Lý Chiến là Đại tá Vũ Quang; Cục lại có ông Đại úy Văn Quang (Nguyễn quang Tuyến.)

Quân tử Tàu nói: “… Quốc gia, triều đại mà có ‘vũ quang’, tức ‘vũ sáng’; hay, có ‘văn quang’ là ‘văn sáng’– là nước được trị.” Cục Tâm Lý Chiến những năm 1966, 67; có cả  hai Vũ: ‘vũ quang, văn quang.”

Năm 1988, đi tù CS về; ông Văn Quang trên răng, dưới dép’; căn nhà trong Cư xá Chu Mạnh Trinh của ông bị bọn Bắc Cộng chiếm, ông không có nhà ở; cả 4 bà vợ ông đều đã ‘sang sông’, nôm na và huỵch tẹt là đã vượt biên, vượt biển sang Huê Kỳ.  Viết các bà “sang sông” là không đúng; đúng ra phải viết là các bà “qua biển.”

Sống độc thân giữa thành phố Sài Gòn cờ đỏ; ông Văn Quang viết tiểu thuyết tình vô thưởng vô phạt, ký tên ‘tác giả dzởm’  bán cho nhà xuất bản.

Những năm ấy các ông lái sách Sài Gòn đặt mua tiểu thuyết mới của các ông văn sĩ Sài Gòn cũ, yêu cầu tác giả để bút hiệu khác.

* Thập niên 80, (thế kỷ trước ) có điều luật không thành văn là ‘Không cho nhà văn Sài Gòn trước 1975 được tái bản sách xuất bản trước 1975, và không được viết truyện mới.’ Những tiểu thuyết các ông nhà văn Sài Gòn viết sau năm 1980 không được để tên đúng của tác giả.

Văn Quang là nhà văn thứ nhất — có thể là nhà văn Sài Gòn duy nhất — đi học ‘khoá sử dzụng computer’ ở nhà trường hẳn hoi; học có bài bản, bí kíp đàng hoàng; ông cũng là người ‘sử dzụng computer’ thứ nhất, nhuần nhuyễn nhất, trong số những ông nhà văn Sài Gòn cũ nay còn viết lách ở Sài Gòn cờ đỏ.

Vì những lý do riêng, không phải vì ghét Mỹ; nhà văn Văn Quang, Trung tá Nguyễn Quang Tuyến (1933- ) không đi H.O sang Huê Kỳ. Từ năm 2000, ông viết loạt bài ‘Thiên hạ sự’ gửi qua Internet, sang các nước Âu Mỹ — loạt bài thời sự viết về Sài Gòn,  được người Việt hải ngoại theo dõi, tìm đọc.

Khoảng tháng 2/ 2009, Công an Tp.HCM đến nhà riêng của Văn Quang; lấy đi tất cả dàn máy computer; nhà văn bị gọi đến cơ quan để khai báo, về những bài ông viết gửi ra nước ngoài.

Khi ấy ông nhắn những ông bạn viết của ông ở hải ngoại ‘đừng làm ồn ào vụ ông’ vì ông được đối xử hòa nhã, lịch sự  v.v … — ông cũng muốn tỏ ra hòa nhã đối xử lại…’

Đã 5, 6 tháng qua, ‘Lẩm cẩm Sài gòn thiên hạ sự’ hết còn xuất hiện trên một số báo Việt ở hải ngoại; và, 300 bài ‘Lẩm cẩm…’ trữ trong máy, mất luôn —  đôi khi tôi thấy tôi – CTHĐ — không viết gì về Văn Quang cũng kỳ, bạn đọc người Việt ở hải ngoại có thể, nghĩ:

” … Những người khác bị CACS cấm viết; thì, ông chửi ‘loạn cào cào’; đến khi bạn của ông bị nó sờ đít; ông im thin thít, như gái ngồi phải cọc.”

Những năm 1991, 92 có lần tôi nói với Văn Quang: “Tao chỉ được ‘mày, tao’ với mấy thằng mày, toàn là Trung tá. Nếu không có gì thay đổi, Quốc gia mình, Quân đội mình còn đến hôm nay thì mày thấy: những thằng nào trong số bọn mày có thể lên được ‘Tướng’ để,tao được ‘mày, tao với ‘Tướng’?”

Văn Quang trả lời ” …Nhiều thằng lắm chứ.”

oOo

Rừng Phong, Virginia, January 2016

Tôi viết bài trên khoảng năm 2000. Hôm nay, Ngày Một Tháng Giêng 2016, tôi viết thêm:

Đại Tá Vũ Quang những năm 2000 sống ở Minnesota, Kỳ Hoa. Tôi không biết năm nay – 2016 – ông ra sao.

Trung Tá Phan Lạc Phúc hiện sống ở Sydney, Úc.

Hoàng Anh Tuấn, Phạm Huấn qua đời ở Cali, Kỳ Hoa.

Anh Vũ Công Uẩn qua đời ở Sài Gòn.

Văn Quang hiện sống ở Sài Gòn. Hĩm Đinh Hiển ở Cali.

Đại Úy Phạm Huấn là sĩ quan Quân Lực Quốc Gia VNCH duy nhất bận quân phục đúng chụp ảnh giữa thành phố Hà Nội. Năm 1973 ông ở trong Ban Kiểm Xoát Đình Chiến Quốc Tế nên ông có dịp về Hà Nội.

Hôm nay – Ngày Một January 2016 – tôi biết trọn đời tôi, tôi không được mày tao với một ông Tướng nào.

o O o

Thơ Xuân Đất Khách (Thanh Nam)

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .

Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .

Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .

Seattle, mùa xuân 1977 .

Từng Hẹn Mùa Xưa…

Những thiếu niên - nhi đồng trong Trung Đoàn Thủ Đô, Hà Nội năm 1947.

Những thiếu niên – nhi đồng trong Trung Đoàn Thủ Đô, Hà Nội năm 1947.

Tháng 12, 2015, tôi gửi bài Viết ở Rừng Phong này đến những vị quí bạn đọc năm nay tuổi đời Tám Bó. Tôi nghĩ quí vị phải là những thiếu niên 14, 15 tuổi năm 1946, sống ở miền Bắc, quí vị mới cảm khái khi đọc những dòng chữ này.

Tôi ghi lại trong bài này những bài hát tôi từng hát năm 1946, năm tôi 14 tuổi. Nếu ông bạn ở Kỳ Hoa năm nay Tám Bó, nếu ông bạn 14, 15 tuổi năm 1946, ông bạn sống ở Bắc Kỳ, tôi chắc ông bạn biết và ông bạn còn nhớ những lời ca này.

Chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Sài Gòn rất sớm, chiến tranh lan ra thật nhanh trong miền Nam Việt Nam. Thời ấy miền Nam gọi theo ngôn ngữ Việt Minh là Nam Bộ. Chỉ vài ngày sau ngày Quân Đội Pháp, theo chân Quân Đội Anh vào miền Nam tiếp nhận cuộc đầu hàng của Quân Đội Nhật, người Pháp đã gây chiến ở Sài Gòn. Viết “Quân Đội Pháp theo chân Quân Đội Anh vào miền Nam…” là không đúng. Những ngày cuối Tháng Tám 1945 có khoảng 5000 người Pháp – là lính Pháp, và công chức Pháp, thường dân Pháp, sống ở Việt Nam. Những người Pháp này bị Quân Đội Nhật bắt giam trong những trại tập trung. Quân Anh vào miền Nam giải thoát họ, cấp võ khí cho họ, và số người Pháp này dưới sự bảo vệ của quân Anh, đánh chiếm những công sở ở Sài Gòn.

Một số Tin trích trong tác phẩm “Hai Mươi Năm Qua. 1945-1954.” HMNQ. Tác giả Đoàn Thêm:

Ngày 3 Tháng 10, 1945. Một đoàn quân Pháp do Tướng Leclerc chỉ huy, đến Việt Nam. Ngày 5/ 10/ 1945 Tướng Leclerc đến Sài Gòn, tuyên bố “Sẽ bình định Nam Bộ.

CTHĐ viết thêm: Đây là đơn vị lính Pháp thứ nhất từ Pháp Quốc đến Việt Nam sau ngày kết thúc Thế Chiến Thứ Hai. Số lính này đến Sài Gòn bằng tầu biển, họ lên bộ ở Vũng Tầu. Trong số lính này có nhiều binh sĩ người da đen được Pháp tuyển ở những quốc gia châu Phi thuộc Pháp. Có ông lính về sau nổi tiếng là Tổng Thống Bokassa. Khi đến Việt Nam, Trung sĩ Bokassa trú đóng ở Gò Vấp. Ông lấy vợ Việt, có cô con gái Martine Bokassa. Mãn thời hạn đăng lính, Sergent Bokassa về nước. Ông bỏ bà vợ và cô con gái ông ở lại Gò Vấp. Năm 1970 Sergent Bokassa thành Tổng Thống. Ông tìm bà vợ Việt của ông và cô Martine Bokassa. Bà vợ Việt của ông đã có chồng khác, cô Martine được ông bố nay là Tổng Thống đón sang sống với ông.

Chú liên lạc viên đi công tác mùa mưa ở Bắc Việt năm 1948. Chiếc áo tơi này, hình như, chỉ có ở đồng quê miền Bắc.

Chú liên lạc viên đi công tác mùa mưa ở Bắc Việt năm 1948. Chiếc áo tơi này, hình như, chỉ có ở đồng quê miền Bắc.

Tiến trình Quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ.

9/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh.

20/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Mỹ Tho.

28/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Gò Công.

29/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Vĩnh Long.

30/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Cần Thơ.

19/11/ 1945. Quân Pháp chiếm đóng Nha Trang.

1/12/1945. Quân Pháp từ Nha Trang tiến lên chiếm đóng nhiều vùng ở cao nguyên.

20/1/ 1946. Quân Pháp chiếm đóng Rạch Giá.

4/2/1946. Quân Pháp chiếm đóng Cà Mâu.

7/4/1946. Quân Pháp đến Nam Định.

21/6/1946. Quân Pháp chiếm đóng Pleiku và Kontum.

8/7/1946. Quân Pháp chiếm đóng Lạng Sơn.

17/7/1946. Quân Pháp chiếm đóng Đồng Đăng.

18/12/1946. Tự Vệ Hà Nội và Lính Nhẩy Dù Pháp bắn nhau ở Chợ Đồng Xuân.

19/12/1946. 8 giờ tối, Nhà Máy Điện Hà Nội bị phá, thành phố tối đen. Súng nổ. Cuộc Chiến Việt Pháp nổ ra trên khắp nước Việt Nam.

o O o

Đầu Tháng 12, 1946, gia đình tôi tản cư về làng quê mẹ tôi – làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Sống ở quê ngoại tôi ít ngày, thầy mẹ tôi biết không thể sống lâu đến mấy năm ở đây. Thầy mẹ tôi đưa anh em tôi trở về căn nhà ở tỉnh lỵ Hà Đông. Khi ấy chiến tranh đã nổ ra ở Hà Nội. Gia đình tôi không thể từ Hà Đông đi ra Hà Nội, qua Cấu Sông Cái để về quê nội tôi ở Gia Lâm, một làng quê ven bờ sông Đuống. Chúng tôi phải đi lên vùng gần Văn Điển, đi đò qua sông Hồng, sang phủ Văn Lâm ở bên kia sông, đi bộ về làng quê tôi ở phủ Gia Lâm. Ngày ấy đi trên cánh đồng, anh em tôi trông thấy những chiếc phi cơ Spitfire bắn phá những vùng quanh phi trường Gia Lâm. Nhìn lại, tôi thấy những vùng khói bốc lên ở Hà Nội.

Năm 1947, tôi ở trong Ban Kịch Thiếu Nhi Gia Lâm. Anh Dũng, người là Ủy Viên Thanh Niên Gia Lâm, tổ chức Ban Kịch này. Ban Kịch chỉ có 5 chú thiếu niên bằng tuổi tôi. Tôi mang theo được khoảng 10 số báo Thắng Tiến của Hội Hướng Đạo. Trong số có những vở kịch Ngắn Hướng Đạo. Ban Kịch chúng tôi diễn những vở kịch này ở những đình làng trong phủ. Diễn kịch ở làng nào, người làng ấy nuôi cơm chúng tôi. Khán giả toàn những người trẻ, dễ tính,không đòi hỏi gì nhiều.

Vài tháng sau, lính Pháp hành quân qua vùng làng tôi. Ban Kịch tan hàng.

Một chiều anh em chúng tôi được anh Dũng đưa đến gặp anh Đại Đội Trưởng Vệ Quốc Quân. Anh em tôi ngồi quanh anh nghe anh nói chuyện. Trong những lời anh nói có câu:

“Các anh chiến đấu dành đôc lập cho các em sống hạnh phúc.”

Bẩy mươi năm qua, hôm nay tôi nghe văng vẳng lời nói ấy.

Năm 1949 tôi được lên Việt Bắc dự Khóa Huấn Luyện Tình Báo. Tôi sống ít ngày ở Trạm Giao Liên chờ anh em từ miền suôi lên, cùng đi đến trường. Một chiều anh em tôi ra đồi đào sắn. Tối ấy sáng trăng, anh em tôi ngồi ngoài sân quanh rổ sắn luộc. Tôi là chú nhỏ trong anh em. Một anh lớn chỉ tôi:

“Bọn anh đi kháng chiến. Đó là bổn phận của các anh. Chỉ thương những em như em. Ở tuổi em giờ này em phải được sống trong tình yêu thương của cha mẹ em, em được đi học. Vậy mà em cũng đi chiến đấu như các anh.”

Khi Ban Kịch Thiếu Niên tan hàng, có một tổ tình báo đến ở nhà ông bác tôi. Tổ này có các anh Tường Lan, Quốc Bảo, Quốc Ấn, Trần Trung Thành. Toàn là bí danh. Anh Trần Trung Thành là anh họ tôi, anh được gọi là anh Ba Tê. Tôi có cảm tình với anh Tường Lan. Anh trạc 30, 35 tuổi, anh để râu như ông Hồ Chí Minh. Anh thường cho tôi đi theo anh trong những chuyến anh đi công tác trong vùng. Một hôm anh nói với tôi:

“Anh đổi công tác. Anh sẽ hoạt động ở nơi khác. Em có muốn đi theo anh không?”

Tất nhiên là tôi muốn, anh nói:

“Đi theo anh là em phải thoát ly gia đình. Em phải xin phép mẹ em.”

Tôi đi theo anh Tường Lan mà không nói gì với mẹ tôi. Tôi biết nếu tôi nói, mẹ tôi sẽ không cho tôi đi. Một đêm tôi theo anh Tường Lan đi qua sống Đuống. Khi ấy quân Pháp đã chiếm đóng vùng quê tôi, đã đóng đồn trên đê sông Đuống, bên kia sông là miền Việt Minh. Chỉ ban đêm mới có thuyền chở người qua sông Đuống. Tôi theo anh Tường Lan qua sông ban đêm. Qua sông, chúng tôi ngủ trong một quán trọ ven đường. Sáng dậy tôi nhìn thấy vầng mặt trời lên ở phương Đông. Buổi sáng nắng vàng tuyệt đẹp.

Trên đò đêm sang sông tôi thấy một thiếu nữ trạc tuổi tôi. Hình ảnh người thiếu nữ ấy làm tôi năm 1950 viết truyện ngắn “Người con gái áo xanh.” Truyện đoạt Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn năm 1950 của Nhật báo Tiếng Dội. Tiền của Truyện Giải Nhất là 3.000 đồng.

Anh Tường Lan để tôi ở lại cơ sở Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm ở Yên Phong, Bắc Ninh. Anh không gọi tôi đi theo anh. Vài năm sau tôi được tin anh qua đời ở Lạng Sơn.

Đây là những bài ca tôi hát năm tôi 14 tuổi. Những bài hát của Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi…

Bài hát thứ nhất “Thu trên Đảo Kinh Châu.” Năm nay – 2015 – tôi tìm bài hát trên Internet. Tác giả bài hát này là Nhạc sĩ Lê Thương.

Thu trên đảo Kinh Châu

Đàn chim bay thiết tha, trên núi cao miền xa 
Mang theo những nỗi buồn mộng mơ
Nguồn thảm sầu đã qua.
Khi ta đi liễu đang còn xanh lá
Trong đám cây oanh hót vài lời ca để chòng đám hoa

Ngày nay cúc đẫm thâu, hoa héo khô vì đâu.
Chim oanh nhắc tiếng một vài câu để thương đời cúc thâu
Sông Kinh Châu có con buồm trắng
Gió thu mang người biệt ly vào cảnh sầu đó chăng 

Tôi hát nhiều nhất những bài ca của Văn Cao.

Suối mơ
Bên rừng thu vắng,
giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng.
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương.

Suối ơi!
Ôi nguồn yêu mến,
còn ghi khi bóng ai tìm đến.
Đàn ai nắn buông lưu luyến.
Suối hát theo đôi chim quyên.

Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối .
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi .

Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người.
Trong chiều nào giữa chốn đây,
Hồn cầm lắng tiếng đời.

Suối ơi!
Nghe rừng heo hút.
Giòng êm đưa lá khô già trút.
Còn như lưu hương yêu dấu .
Với suối xưa trôi nơi đâu .

Ơi… Ông Bạn Tám Bó của tôi, tôi chắc ông – như tôi, – không nhớ toàn bài nhưng còn nhớ một số lời những bản nhạc này:

Thiên Thai.

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kìa đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
Theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi
Chắc không đường về Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên.

Với tôi, Thiên Thai là bài ca Tuyệt Nhất của Văn Cao.

Bẩy mươi mùa lá rụng trôi qua đời tôi, tôi còn nhớ lời bản Bắc Sơn của ĐỖ NHUẬN

Bắc Sơn

Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gió
Ðau lòng bao năm sống lầm than đây đó
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừng
Còn vang khe núi tiếng quân oai hùng
Lớp lớp chiến đấu Lạng Sơn tung bay cờ
Rồi vùng đồi núi nhớ bao nhiêu hận thù
Dân quân du kích. Cách mạng bùng mùa thu
Sao vương bóng cờ bay trên chiến khu

Bắc Sơn! Ðây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn
Giặc Pháp tàn ác giày xéo
Từng xác ngập đất máu xương
Nhà đốt, cầm giáo cầm súng
Dân quân vùng ra sa trường
Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa
Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!
Bắc Sơn! Ðây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn
Giặc Pháp tàn ác giày xéo
Từng xác ngập đất máu xương
Nhà đốt, cầm giáo cầm súng
Dân quân vùng ra sa trường
Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa
Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!

Và bài NHỚ CHIẾN KHU

Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều.
Bên đèo lắng suối reo ngàn thông réo.
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo đạn bay vèo.
Hôm nay đây vai vác súng trông mây, trăng gió buồn đứng.
Chiều vàng nhớ núi rừng.
Chiều nay xa chiến khu trên đường về.
Sương chiều lác đác rơi trời dần tối.
Rừng sâu xa, núi cao cao mờ.
Tiếng quân hò lời chưa dứt dưới bóng cờ.
Thôi chia ly vai vác súng trông mây trăng gió buồn đứng
Chiều vàng nhớ núi rừng.

 Đỗ Nhuận 

Một trong những bài được giới thiếu niên chúng tôi hát nhiều năm xưa ấy là bài DIỆT PHÁT XÍT củ Nguyễn Đình Thi:

Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than 
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Loài phát xít cướp thóc lúa cướp đời sống dân mình
Đồng bào tuốt gươm vùng lên
Diệt phát xít giết bầy chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ cộng hòa
Mau mau mau, vai kề vai, không phân già trẻ trai hay gái.

Ta đi lên, ta tiến lên, ta diệt quân thù 

Việt Nam,Việt Nam,Việt Nam
Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm
Việt Nam,Việt Nam muôn năm

o O o

Tuổi Đời Tám Bó, sống ở quê người, tôi nhớ những bài ca tôi từng hát năm tôi 14 tuổi ở quê hương.

Cảm khái cách gì.

Ơi.. Những ông năm nay Tám Bó Tuổi Đời…. Những ông năm 1946, 1947 ..là những thiếu niên 15, 16, 17 tuổi.. Đọc bài viết này các ông có xúc động chút nào không?

CTHĐ

Đừng bao giờ ngừng Hy Vọng

Bưu thiếp của Amnesty International gửi gia đình Hoàng Hải Thủy, Tháng 12 năm 1985.

Bưu thiếp của Amnesty International gửi gia đình Hoàng Hải Thủy, Tháng 12 năm 1985.

Tôi nhìn thấy “Nó” vào một buổi sáng đầu năm 1986 trong phòng người tù gập mặt thân nhân trong Nhà Tù Chí Hòa.

“Nó” đây là tấm bưu thiếp của Amnesty International – thường được gọi tắt là Amnesty Intern – tên Việt Nam là Ân Xá Quốc Tế. Những người Việt thường nói đến Amnesty Intern là những người Việt Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bị bọn Bắc Cộng giam tù, và vợ con họ.

Tôi bị bắt Tháng Tư năm 1984. Sau một năm ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của bọn Công An Thành Hồ, bọn Công An VC đưa tôi sang nằm phơi rốn chờ ra tòa trong Nhà Tù Chí Hòa.

Theo thủ tục giam giữ tù nhân của bọn Bắc Cộng, người tù chưa ra tòa, chưa có án, không được gặp mặt vợ con. Nhưng vợ con người tù biết chạy mánh: “có tiền, tìm gặp cán bộ, biếu xén quà cáp..v..v..” vẫn có thể xin được giấy phép vào Nhà Tù Chí Hòa gập người tù. Giấy phép này do bọn cán bộ ở Tòa Án Sài Gòn cấp. Một nhân viên Tòa Án giữ hồ sơ của một số tù nhân Chí Hòa. Nhân viên này có quyền phát giấy cho phép thân nhân người tù Nhà Tù Chí Hòa gập mặt người tù, dù người tù chưa có án.

Mấy tháng cuối năm 1985 mấy ông bị bắt cùng với tôi: Doãn Quốc Sĩ, Duy Trác, Trần Ngọc Tự.. đều được ra gặp mặt vợ con nhân Ngày Thăm Nuôi. Tôi nóng lòng muốn phát điên vì tôi muốn, tôi thèm gặp vợ con tôi mà tôi không được gập.

anxa4Gần đến ngày tôi phải ra tòa, tôi nhắn vợ tôi:

“Bằng mọi giá, cho anh được gặp mặt em.”

Năm 1990, mãn án tù 6 năm, trở về mái nhà xưa, vợ tôi kể:

“Em hỏi các bà ấy bằng cách nào xin được giấy phép gặp mặt, xin ở đâu. Không bà nào chịu nói. Sau Giang nó hỏi dò được biết giấy phép gặp mặt tù phải xin ở tòa án. Giang tìm được chị cán bộ giữ hồ sơ của anh. Nó làm quen với chị này, biếu quà..”

Nhờ con gái tôi, một buổi sáng đầu năm 1986 tôi nhìn thấy “Nó” trong Nhà Tù Chí Hòa. “Nó “đây là tấm bưu thiếp của Amnesty Intern – Ân Xá Quốc Tế – Vơ tôi – đứng bên kia lưới sắt – nhìn quanh thấy tên cai tù giải tù ra gặp mặt vợ con không để ý, nàng để tấm bưu thiếp lên tấm gỗ lưới sắt. Qua lưới sắt chia cách, tôi nhìn tấm thiếp mầu xanh, và – năm ấy mắt tôi còn sáng – tôi đọc được hàng chữ:

Never give up Hope, because we never will.”

Vợ tôi cất tấm thiếp đi ngay. Nếu tên cai tù trông thấy, nó sẽ tịch thu tấm thiếp. Tôi sẽ bị nó xét hỏi. Vợ tôi có thể bị cấm gửi thức ăn cho tôi vì “tội liên lạc với  tổ chức phản động  nước ngoài.”

Tôi được gặp vợ tôi trước ngày tôi bị đưa ra tòa. Qua lưới sắt, vợ tôi cho tôi thấy tấm thiệp Amnsety Intern. nàng nói với tôi:

“Anh nhớ nhé. Ra tòa dù chúng nó có tuyên án anh bao nhiêu năm tù, dù em có khóc, có ngất đi, anh cũng đừng xin chúng nó khoan hồng. Chúng nó sẽ đưa lời xin của anh lên báo.”

Anh Sáu Khôi, một bạn tù cùng phòng với tôi, đứng cạnh tôi, anh nghe được lời vợ tôi nói. Trưa ấy, trong lúc anh em tù ăn cơm, anh Sáu Khôi nói cho cả phòng cùng nghe:

“Làm vợ người làm chính trị phải như bà vợ ông Thủy. Bà ấy dặn ông chồng không được xin khoan hồng khi ra tòa. Vợ mấy ông khi gặp chồng thì khóc, trách làm chi để vợ con khổ, được cái gì..”

Những ngày như lá, tháng như mây..Buổi sáng năm xưa, năm1986 trong Nhà Tù Chí Hòa. Nay, khi tôi viết những dòng chữ này là 11 giờ đêm Tháng Mười năm 2015, tôi viết trong một tòa nhà dành cho người già thu nhập thấp ở Virginia, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi vừa ghi tấm thiếp vào computer của tôi. Tôi còn cái computer này, tôi còn “Nó”: Tấm thiếp Amnesty Intern.

December 1985 To the family of Hoang Hai Thuy. From Cristine Goyma, a member of Group 17 ( Geelong ) Australian Section of Amnesty International. Never give up Hope, because we never will!

December 1985
To the family of Hoang Hai Thuy.
From Cristine Goyma, a member of Group 17 ( Geelong ) Australian Section of Amnesty International.
Never give up Hope, because we never will!

1986 – 1996 – 2006 – 2015 ….Ba mươi năm.. Tấm thiếp Amnesty Intreen gửi đi từ thành phố Melbourn, Australia, đến nhà tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, vào Nhà Tù Chí Hòa gặp tôi, nay đến với tôi ở Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Kiều Giang gửi thư cho tôi:

“Con mới tìm lại được tấm thiếp này trong số giấy tờ của con. Còn đã tưởng mất nó.”

Cùng với tấm thiếp là bức thư của cô Christine Goyma gửi cho tôi năm 1996 khi mãn tù tôi trở về mái nhà xưa. Cô Goyma cho tôi biết chi hội của cô được Tổng Đàn Ân Xá Quốc Tế chỉ định giúp đỡ người tù Hoàng Hải Thủy. Chi hội giúp tôi về tinh thần và cả tiền bạc. Biết vợ con tôi không có điều kiện gửi thực phẩm tiếp tế cho tôi, các vị trong chi hội góp tiền, tháng tháng gửi cho vợ tôi. Cô Goyma được các vị trong chi hội ủy quyền đại diện liên lạc với vợ con Hoàng Hải Thủy. Năm 1998, tôi được các bạn tôi bên Úc giúp phương tiện cho sang Sydney, Melbourn. Người bạn tôi ở Melboun đưa tôi đến trụ sở Amnesty Intern.

Năm 1986 những vị trong Amnesty Intern Melbourn đều làm việc tự nguyện, không có tiền lương. Nhân viên Amnesty Intern. trên khắp thế giới năm ấy chắc đều làm việc không lương như thế. Năm 1998, nhân viên Amnesty Intern — ở Úc — có lương tháng. Rất tiếc cô Goyma không còn ở Melbourn. Những vị trong chi hội năm xưa — chừng 10 vị — ký tên trong thư gửi tôi, đều đã chuyển đi làm việc và sống ở những nơi khác.

Amnesty International được thành lập ở Anh quốc năm 1961.

Người thành lập Amnesty Intrern là ông Peter Benenson, một luật gia người Anh. Lúc đầu hội chỉ lo việc xin khoan hồng, xin ân xá cho những người tù vì lương tâm, vì tranh đấu cho nhân quyền trong nước Anh. Năm 1963 hội phát triển trên khắp thế giới. Hiện có tới 1000 chi hội Amnesty Intern. hoạt động trên toàn cầu.

Ông Peter Benenson được gọi là:

“The man who fought for the forgotten.”

Người tranh đấu cho những người bị bỏ quên.

Ông Peter Benenson nói về biểu tượng của Amnesty Intern: Ngọn nến cháy trong vòng dây thép gai:

The candle burns not for us, but for all those whom we failed to rescue from prison, who were shot on the way to prison, who were tortured, who were kinapped, who “disappaered.” That what the candle is for.

Once the concentration camps and the hell-hole of world were in darkness. Now they are lit by the light of The Amnesty Candle, the candle in barbed wires.

When I first lit the Amnesty candle, I had in mind the old Chinese proverb:

“Better light a candle than curse in the darkness.”

Phỏng dịch:

Cây nến không cháy cho chúng ta, nó cháy cho những người mà chúng ta đã không cứu ra được từ những nhà tù, những người bị bắn trên đường đến nhà tù, những người bị hành hạ, những người bị bắt cóc, những người “biến mất.” Ngọn nến cháy cho những người đó.

Có thời những trại tập trung và những nơi là địa ngục của thế giới chìm trong bóng tối. Nay những nơi đó được soi sáng bởi ánh sáng của cây nến Ân Xá Quốc Tế, cây nến trong những vòng dây thép gai.

Khi tôi lần đầu thắp sáng ngọn nến Ân Xá, tôi nhớ câu cách ngôn Trung Hoa:

“Nên thắp sáng một cây nến hơn là nguyền rủa trong bóng tối.”

Peter Benenson.

Thư của Writers in Prison Committee – International PEN, gửi gia đình Hoàng Hải Thủy.

Thư của Writers in Prison Committee – International PEN, gửi gia đình Hoàng Hải Thủy.

Tháng Giêng  năm 1990 mãn hạn tù 6 năm, trở về mái nhà xưa, tôi được thư của cô Christine Goyma;

5 March 1990.

Dear Mr Thuy

How overjoyed I was to receive your letter written from freedom !..!. I was overwhelmed with happiness for you and your family. On behalf of the other friends you have here in Geelong we send our love and very best wishes to you and your family. Words can not adequately express our elation and joy upon your news.

I shall write to the other fiends you have to inform them of your home – coming, and will wait eagerly to receive more news from you.

I must ask, did your dear wife receive two amounts of money ( cash ) we sent her via Vietnam Diffusion? We are hesitate about sending more in case the other has not arrived safely.

What are your plans now? I have been making inquiries on your family’s behalf concerning the US, ODP. Is it your wish to seek a legal departure, or you wish to remain in your home? I hope it is safe to ask such questions in this letter.

How is your health? How is your wife’s health? I had so many questions to ask. Maybe one day we can meet in person and exchange stories about what have passed.

I remain your friend  always.

Christine Goyma.

Phỏng dịch:

Ngày 5 March 1990

Ông Thủy thân.

Tôi mừng quá khi tôi nhận được bức thư ông viết trong tự do. Tôi quá vui  cho ông và gia đình ông. Nhân danh những người bạn ông ở Geelong tôi gửi tình yêu thương và những lời chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi đến ông và gia đình ông. Lời nói không đủ để diễn tả nỗi mừng vui của chúng tôi khi nhận được tin ông.

Tôi sẽ viết thư ngay cho những người bạn của ông để báo cho họ biết ông đã về nhà, chúng tôi mong nhận được nhiều tin khác của ông.

Tôi phải hỏi, bà vợ ông có nhận được hai khoản tiền ( tiền mặt ) chúng tôi gửi bà qua Vietnam Diffusion? Chúng tôi do dự trong việc gửi thêm vì ngại số đã gửi không đến nơi an toàn.

Nay ông có những dự định gì? Tôi đã hỏi, nhân danh gia đình ông, Hoa Kỳ và ODP. Ông muốn ra đi hợp pháp hay ông muốn sống trong nhà ông? Tôi mong không có gì phiền nhiều cho ông khi tôi hỏi ông những câu trong thư này.

Sức khỏe của ông ra sao? Sức khỏe của bà vợ ông ra sao? Tôi có nhiều câu để hỏi ông. Mong có ngày chúng ta gập nhau và nói cho nhau nghe những gì đã xẩy ra.

Tôi mãi mãi là bạn của ông.  

Christine Goyma.

Như đã viết: 8 năm sau ngày tôi nhận được lá thư của cô Chritine Goyma, tôi đến Melbourn, nhưng tôi không được gặp cô. Tôi rất tiếc.

Đây là thư của PEN Intern.

INTERNATIONAL P-E-N
Writers in Prison Committee
38 King Steet, London, England.

Mme Hoang Hai Thuy

259/29 A Cach Mang Thang Tam. Quan Tan Binh, Ho Chi Minh City.

Dear Madam,

The Writers in Prison Committee is anxious for news of your husband, anh hope that there is some way in which you can tell us how he is and how often you are able to visit him? We know that he is not at all well even in 1984, and we would like to know if there are any medecines which you need and which we could send you?

With best wishes to you and your family.

Yous sincerely.

K.V. Simson

Thưa bà,

Tiểu ban Văn Sĩ bị Tù lo âu muốn biết tin về ông chồng bà, chúng tôi mong bằng cách nào đó bà cho chúng tôi biết nay ông ấy ra sao, và bao nhiêu lâu bà được thăm gập ông ấy? Chúng tôi bết ông ấy không được khỏe lắm từ năm 1984, chúng tôi muốn biết những thứ thuốc bà cần mà chúng tôi có thể gửi đến bà?

Chúc bà và gia đình bà những lời chúc tốt đẹp nhất.

K.V. Simson

Là người tù Việt Nam được các vị trong Hội Amnesty Intern, Hội PEN Intern, thương và cứu giúp, tôi cám ơn các vị.

CTHĐ

Le Parisien: Hoang Hai Thuy a refusé de se taire

Dưới đây là bản dịch bài báo viết về “Biệt kích dzăng bút Hoàng Hải Thủy” đăng trên nhật báo Le Parisien, Tháng Tư năm 1988. Người viết là Nữ ký giả Catherine Monfazon:

Đáp ứng lời kêu gọi của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới – L’Association Reporters sans frontières – 38 cơ sở truyền thông Pháp quốc đã nhận bảo lãnh mỗi cơ sở một ký giả bị tù vì làm tròn công việc của mình. “Le Parisien” tự chọn tranh đấu cho sự tự do của Hoàng Hải Thủy, ký giả Việt Nam, hiện đang bị bỏ quên trong một trại lao động cải tạo.

Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp quốc không những chỉ vận động để đưa ông Thủy ra khỏi nhà tù mà còn, theo sự đòi hỏi của gia đình ông ta, đưa ông ta ra khỏi quốc gia của ông ta…

Hoàng Hải Thủy không chịu câm miệng

Đừng nói đến cái tên Hoàng Hải Thủy ở Việt Nam, nói đến cái tên đó trong điện thoại, đường dây sẽ bị cắt, trong đường phố những đôi mắt sẽ nhìn xuống đất. Được nhờ đến, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, được coi như là một động lực của công cuộc đổi mới của Việt Nam, sẽ bực bội gạt bạn sang Bộ Tư pháp, một cách từ chối, không tiếp khéo léo.

Hoàng Hải Thủy năm mươi chín tuổi, đêm đêm nằm ngủ trên tấm ván rộng năm mươi phân giữa ba ngươi người bạn tù chung phòng giam trong trại cải tạo Xuân Lộc, một nơi cách thành phố HCM (Sàigòn) một trăm hai mươi cây số. Những lời buộc tội thật mơ hồ “Lên tiếng chống chủ nghĩa cộng sản” Người ta trách ông ta đã gửi ra nước ngoài những bài thơ, bài viết không sao có thể đăng được trong những tờ báo Việt Nam bị rọ mõm.

Hoàng Hải Thủy biết rất rõ những người cộng sản. Bên cạnh họ ông đã tham gia kháng chiến năm 1945. Nhưng kề từ đó ông chỉ đi theo một con đường: nhân bản. Thi sĩ, văn sĩ, ký giả, dịch giả: ông được nhiều người biết vì tính tình hay nói thẳng, vì niềm hăng say tố cáo những sự bất công. Ông tự ý làm những việc ấy. Trước năm 1975 ông công khai chỉ trích chế độ cũ trên những tờ báo châm biếm như tờ Con Ong (nghĩa đen là con ong chuyên châm chích). Ông cũng là viên chức của Trung tâm Thông Tin Hoa Kỳ, USIS.

Năm 1974, ông dịch “Trăm năm cô đơn” của Garcia Marquez. Bản dịch truyện này bị cấm xuất bản. Bản dịch “Quần đảo ngục tù” (Archipel du Goulag) cũng bị cấm. Lần này là đảng cấm. Sau năm 1975 Hoàng Hải Thủy phải sống nhịn nhục. Nhưng ông từ chối không chịu im tiếng. “Ông ấy không thể im lặng trước những đau khổ của đồng bào ông. Ông ấy tức giận khi thấy bọn cán bộ kêu gọi người khác hy sinh nhưng chính chúng lại sống như vương giả”. Đấy là lời một người bạn của Hoàng Hải Thủy nói về ông.

Năm 1977 ông ta đã bị bắt lần thứ nhất, bị giam hai mươi ba tháng trong nhà tù Chí Hòa. Vừa ra khỏi tù, ông lại cầm bút. Ông bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, ông bị xử ở tòa án. Người bạn của ông nói tiếp về ông:

“Trong phiên xử, ông ấy có nói ông không viết vì thù hận chính quyền mà viết để chống lại tất cả những kẻ dối trá từ trong trái tim…”

Bị tuyên án sáu năm tù Hoàng Hải Thủy chỉ được trả tự do vào tháng Năm năm 1990. Ông còn phải chịu đựng nhiều tháng sống trong trại cải tạo vì thái độ tự do tư tưởng của ông, một thái độ mà cái chính phủ vẫn tự nhận là đã mở nắp nồi và đổi mới vẫn không thể chấp nhận được.

Nữ ký giả Catherine Monfazon
Nhật báo Le Parisien

Quý vị vừa đọc bản dịch bài báo của nữ ký giả Catherine Monfazon, Nhật báo Le Parisien, ấn hành ở Paris. Năm 1988, nữ phóng viên Monfazon đi Bắc Kinh, Trung Quốc, rồi đến Hà Nội và thành phố HCM. Vì nhật báo Le Parisien nhận bảo trợ và đòi trả tự do cho người viết Hoàng Hải Thủy, cô Monfazon tìm đường đến gặp vợ con Hoàng Hải Thủy. Khi cô thất vọng hoàn toàn và sắp lên phi cơ về Paris tình cờ cô gặp một người bạn của Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy cô đến được căn nhà nhỏ của vợ chồng Công Tử Hà Đông trong Cư xá Tự Do giữa Ngã ba Ông Tạ và Ngã tư Bảy Hiền.

Đây là bài báo Nữ ký giả Monfazon viết về vợ con Hoàng Hải Thủy đăng cùng trên trang báo Le Parisien với bài báo trên.

Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu ông ấy

Hoàng Hải Thủy và cả gia đình ông phải trả giá đắt vì niềm khao khát tự do của họ. Nhưng họ vẫn sát cánh với nhau và họ hy vọng.

Đêm đen như mực ở thành phố HCM. Cô con gái của Hoàng Hải Thủy, Giang, ba mươi hai tuổi, di chuyển vòng vèo giữa rừng xe đạp và xe xích lô trên chiếc xe gắn máy mua trả góp. Cô dừng xe trong một xóm đông dân cư. Con đường trở nên sình lầy. Im lặng. Giang dựng xe trước cửa vào nhà, cạnh mấy chuồng gà. Anh con và bà vợ Thủy chờ đón chúng tôi. Vài cái ghế, hai cái giường không nệm, một tủ lạnh rỉ sét, sân nhà lát gạch bông đỏ trắng rất sạch: tất cả toát lên một sự nghèo túng được che dấu cẩn thận.

Mái tóc bạc được chải tươm tất, xanh xao, rất gầy, rất đường hoàng, bà vợ của Thủy nói tiếng Pháp lần thứ nhất từ hơn hai mươi năm nay.

Một bức ảnh rất đẹp của ông chồng trang hoàng bức tường lở vôi, bên cạnh hai tờ thông cáo tuyên truyền của cộng sản mà nhà nào cũng phải dán. Đỗ Thị Thủy không được gặp mặt chồng từ hai tháng nay. “Ông bố tôi mạnh khỏe, bà mẹ tôi mới chịu không nổi. Bà mất mười ký lô,” anh con trai hai mươi tám tuổi nói nhỏ.

Họ nói đến ông bố và ông chồng của họ với niềm kiêu hãnh, họ nhắc đến những bài ông đã viết, những bài này đều bị công an tịch thu, những gì ghi lại nỗi tuyệt vọng, sự đau khổ và cái đói của nhân dân. “Ông ấy nói ít, viết nhiều”. Bà Đỗ nói. Tôi hỏi:

 “Có bao giờ bà yêu cầu ông ấy đừng viết để cả nhà được an ninh không?”

“Không bao giờ…” bà trả lời ngay, gần như bà giận dữ vì câu hỏi ấy. Bỗng bà mỉm cười dịu dàng, xúc động:

“Chúng tôi đói, chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi chấp nhận tất cả những cái đó. Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu thương ông ấy, chúng tôi kiêu hãnh vì sự can đảm của ông ấy.”

Cái giá của sự tự do tư tưởng của Thủy là một giá đắt. Để có thể sống, họ phải bán hết. Nữ trang, đồ đạc, quần áo. Đến cả ba ngàn quyển sách của Thủy, từ tủ sách lớn ấy, họ còn giữ được khoảng trăm quyển cất kỹ trong một ngăn tủ nhỏ. Camus, Nabokov, Nietzche, Zola, Sacha Guitry… Những sách này đều được những người con của Thủy đọc đi, đọc lại. Từ nhiều năm nay các con của Thủy bán bánh ngoài đường. Tất cả việc học của họ đều bị cấm. Hiện nay họ đang muốn tin vào việc Thủy sắp được trả tự do. Rồi sau sẽ ra sao? Họ lo âu.

“Ông ấy lại sẽ bị kiểm soát, bị theo dõi khắp nơi. Lại có sợ hãi. Ông ấy có thể lại bị bắt. Chính phủ phải để cho chúng tôi ra đi. Không có tờ báo nào ở đây nhận cho ông ấy làm việc. Với cái tên ấy, ông ấy sẽ bị từ chối ở khắp nơi. Chúng tôi chỉ có thể có tự do ở một miền đất khác. Cô có thể làm gì được không? Ở đây người ta chỉ cho phép chúng tôi im lặng…”

Xin viết cho rõ: Người dịch The Gulag Archipelago của Alexandre Sozhenytsin ra bản Việt ngữ “Quần đảo Ngục tù” là Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú. Anh đã từ trần trong trại cải tạo Phú Khánh khoảng năm 1980. Tôi – HHT – dịch The First Circle của A. Sozhenytsin, “Tầng đầu Địa ngục,”” ấn hành ở Sài Gòn năm 1973.

Năm 1977 đến năm 1979, thời gian là hai mươi ba tháng tôi bị bắt lần thứ nhất ở trại giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Bị bắt lần thứ hai năm 1984 tôi sống bốn mùa lá rụng ngoài song sắt trong Thánh thất Chí Hòa. Nữ ký giả Monfazon viết nguyên văn trong bài “…la presse muselée vietnamienne…” tạm dịch: “… nền báo chí Việt Nam bị rọ mõm…

Năm 1994 nữ phóng viên Catherine Monfazon lại đến Sài Gòn, lần này tôi được gặp cô, được ăn với cô một bữa tối trong nhà hàng Mini của bà Nguyễn Phước Đại đường Nguyễn Du.

Từ năm 1990 tình hình kinh tế tài chánh của những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ ở Sài Gòn có vẻ khá hơn, tôi vẫn dùng xế đạp đi lại loanh quanh khu Ông Tạ, nhưng tôi đã có cái Honda 91. Tôi dùng Honda đến khách sạn đón cô Monfazon, chở cô trở lại căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, nơi cô đã đến năm năm trước. Cô kém Kiều Giang con gái tôi hai tuổi, cô nói thông thạo tiếng Anh. Catherine Monfazon là một trong những người đã đối xử ân cần và giúp đỡ vợ chồng tôi trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi vẫn nhớ ơn cô.

Chúng tôi như những người sắp chết đuối vớ được cái phao – chúng tôi được ấm lòng và có thêm hy vọng để không chết nhờ rất nhiều người, những người bạn ở nước ngoài. Trong khi bọn Việt Cộng thù hận chúng tôi, chúng chỉ muốn chúng tôi khóc mếu, khổ sở, sợ hãi, hèn mạt, chúng cố tình đầy ải cho chúng tôi phải chết hoặc dở sống, dở chết, phải quỳ gối lậy van chúng, những người bạn không quen biết từ xa ngoài vạn dặm đã gửi tình thương cho chúng tôi.

Xin cảm ơn tất cả.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 203 other followers