• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

NGƯỜI ĐỌC, NGƯỜI VIẾT

Tôi nhận được thư của người bạn đọc DT Dũng. Thư gửi từ Ottawa, Canada.

BRUNO SAMMARTINO, Đô Vật Wrestler nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ những năm từ 1950 đến 1970. Bruno chỉ đánh những trận đô vật ở Madison Square Garden, New York. Khán giả Việt mê xem Wrestling Mỹ không một lần được thấy Bruno Sammartino biểu diễn trên TiVi Quân Đội Mỹ.

BRUNO SAMMARTINO, Đô Vật Wrestler nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ những năm từ 1950 đến 1970. Bruno chỉ đánh những trận đô vật ở Madison Square Garden, New York. Khán giả Việt mê xem Wrestling Mỹ không một lần được thấy Bruno Sammartino biểu diễn trên TiVi Quân Đội Mỹ.

Thưa Chú Thủy,

Con nhỏ tuổi hơn chị Kiều Giang, có lẽ tuổi con xấp xỉ bằng tuổi Anh Hoài Nguyên, con trai của Chú.

Con chăm đọc những bài Chú viết trên internet.  Con rất mừng thấy Chú còn giữ được một số sách Chú viết trước năm 1975.  Con muốn biết Chú có vui lòng nhường lại những quyển sách này cho ai không?

Con sanh trưởng trong một gia đình rất quí trọng sách báo.  Con biết là Chú quí những sách báo mà Chú đã tưng tiu, gìn giữ như những kỷ niệm thân yêu.   Con hết sức cám ơn Chú nếu Chú đồng ý trao tủ sách của chú cho con giữ.  Xin Chú cho biết giá tiền và danh sách.  Nếu Chú muốn tiếp tục giữ những quyển sách của chú, xin chú cứ giữ, đến một ngày nào Chú thấy chú đã lớn tuổi, chú muốn nhường lại những cuốn sách này cho một người khác tiếp tục gìn giữ, xin Chú nghĩ tới con!

Con hết sức say mê sách báo. Con muốn được cái hân hạnh tiếp tục gìn giữ  Tủ sách của Chú Hoàng Hải Thủy.

Con xin phép gởi Chú đôi lời mộc mạc, nhắc vài chuyện cũ con nhớ về Chú.  Mong gợi lại vài kỷ niệm đẹp trong lòng con và trong tâm Chú.  Những chuyện con viết đây hoàn tòan dựa vô trí nhớ, nếu có điều chi không đúng, xin Chú rộng lượng không trách.

Con là người Nam.  Xin Chú cho phép con trò chuyện cùng Chú bằng ngôn ngữ miền Nam cho tự nhiên và thân mật.  Con rất thương ngôn ngữ miền Nam nên muốn luôn luôn và mãi mãi xử dụng tiếng và giọng nói miền Nam.

Con là một độc giả rất ít tuổi của Chú.  Thời Chú  viết văn ở Sài Gòn,  con còn nhỏ nên chưa đủ trình độ để thưởng thức văn tài Chú.  Nhưng con có biết Chú.  Ba con và Anh con rất mê sách báo, con có nghe Ba con và Anh con nhiều lần nhắc tên tác giả Hoàng Hải Thủy. Ba con và Anh con mua rất nhiều sách báo.  Trong tủ sách gia đình con có đầy đủ các sách của Bình Nguyên Lộc, Chu Tử, Lê Xuyên, Nhã Ca, Mai Thảo, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long và Hoàng Hải Thủy v.v  và rất nhiều sách chưởng.

Trên kệ sách nhà con, con thấy nhiều sách Chú phóng tác như Kiều Giang, Môi thắm nửa đời, Nổ như tạc đạn, Ngoài cửa thiên đường, vv và vv.

Hồi đó con còn nhỏ, chưa tới tuổi đọc tiểu thuyết tình nên nhà con có sách của Chú mà con không đọc.

Con đọc bài Chú viết lần đầu về trò Đô Vật – Wrestling – trên báo Quyết Sống.  Lúc đó con đương học lớp Tư tiểu học.  Con thích coi đô vật trên đài truyền hình băng tần 11 – Channel 11 – của Quân đội Hoa Kỳ nên con say mê theo dõi Trang Đô Vật trên báo do Chú phụ trách với bút hiệu là Thương Hoài Nguyên.  Anh con nói Thương Hoài Nguyên chính là Hoàng Hải Thủy.  Con nghe Anh con nói thì con biết vậy!  Chớ khi đó con đâu có biết gì về Hoàng Hải Thủy! Ngoại trừ chuyện ổng là một văn sĩ.

Chú viết mục đô vật rất ngộ và có duyên.  Chú chia đô vật ra làm hai phe, “đánh bẩn” và “đánh sạch.”  Phe đánh sạch là những đô vật tôn trọng luật đô vật, không ăn gian, không đánh lén, không chọc mắt, không chẹt cổ đối thủ.  Phe đánh bẩn là những kẻ xài những đòn độc, đòn bị cấm dùng, như đấm nắm tay vào mặt, móc miệng, chọc mắt…, những mánh khoé ăn gian để hạ đich thủ.  Phe đánh sạch có những đô vật như Mil Mascaras – Người Muôn Mặt, – có lực sĩ Rocky Johnson, đô vật da đen đánh sạch với ngọn song phi thần tốc, Peter Martin, chàng đô vật một thời đeo đai vô địch. Phe đánh bẩn gồm những đô vật như Kojika –  Kå-dzí-cà, đô vật Nhựt hay quì lạy đối thủ rồi thình lình đánh lén, Freddie Blassie đô vật già, tóc trắng, đánh dữ, hay cắn địch thủ.. v..v..

Nhờ chú giải thích, con và nhiều người mê coi Wrestling được biết những luật lệ của Wrestling như bị đối thủ đè nằm ngửa trên sàn, đè hai vai sát xuống sàn, trọng tài đập tay xuống sàn, đếm đến 3 mà không nhắc được một bên vai lên khỏi mặt sàn là thua – đòn này tiếng Mỹ là « đè pin ,» –  như luật đánh đôi : võ sĩ bị đánh đau, hay mệt, muốn đồng bạn vào ring đánh thay mình, phải bắt được bàn tay đồng bạn.

 Anh chàng đô vật đánh bẩn Kojika ngoài trò quì lạy còn có một ngón đòn “bẩn” khác là quăng bột muối vô mắt địch thủ.  Cũng vì chuyện nầy mà con nhớ có một chuyện tức cười trong mục trả lời độc giả do Chú phụ trách.  Có một  độc giả gởi thơ cho Chú để “giải thích” cho Chú hiểu về trò quăng muối nầy.  Theo vị độc giả này thì có một vị giáo sư quen anh ta cho biết là Kojika không có quăng muối vô mắt địch thủ.  Sự thực là Kojika luyện karate tới trình độ cao thâm.  Anh ta có khả năng búng chỉ phong vô mắt địch thủ.  Những lúc mà Chú tưởng là Kojika quăng muối chính là những lúc anh tung chỉ phong làm mờ mắt địch thủ.  Con nhớ Chú trả lời anh độc giả này là:

MIL MASCARAS, Người Muôn Mặt.

MIL MASCARAS, Người Muôn Mặt.

“Anh không dám “kiêu ngạo” vị giáo sư khả kính của em đâu!  Nhưng rõ ràng là ông ta giải thích theo truyện kiếm hiệp.  Nếu quả thật Kojika có tài đề khí, phi thân, tung chỉ phong thì anh ta chỉ cần thổi nhẹ một cái cũng đủ hạ địch thủ rồi. »

Con thấy tức cười quá!  Sau con thấy Chú có trả lời một độc giả, Chú xác nhận Hoàng Hải Thủy, Thương Hoài Nguyên và Gã Thâm là một người.  Chừng đó con mới biết chắc Thương Hoài Nguyên chính là Hoàng Hải Thủy.  Sau Chú ra tuần báo Đô Vật chuyên về đô vật.  Con có đọc các số báo Đô Vật nầy.  Thời gian sau, đài truyền hình Mỹ ngưng phát hình chương trình Wrestling.  Tuần báo Đô Vật đình bản.  Và con cũng không còn đọc tuần báo Quyết Sống.  Do đó, Con cũng ít có dịp đọc bài của Hoàng Hải Thủy. Thỉnh thoảng con có đọc vài bài Chú viết về truyện chưởng hay tuồng chưởng.

Ba con rất thích đọc truyện chưởng Kim Dung, ba con cũng có đọc những bài Chú viết về truyện Kim Dung.  Con nhớ Ba con nói :

“Thằng cha Hoàng Hải Thủy khoái truyện Cô Gái Đồ Long lắm!  Thằng chả hay viết thương nhau như Trương Thúy Sơn và Hân Tố Tố thương nhau”.  Có lẽ Chú viết là “yêu nhau” nhưng Ba con là người Nam nên nói là “thương nhau.” Con lúc đó đã thích đọc truyện chưởng nên nhớ câu nói ấy của Ba con.  Ba con lớn hơn Chú khoảng chừng 20 tuổi.  Đây là lời nói của Ba con về Chú.  Con thành thât kể lại với Chú.

Và cũng vì mê chuyện chưởng nên con có dịp đọc bài của Chú viết.  Đây là bài Chú kể lần đầu Chú nghe nói về Kim Dung  Con nhớ bài nầy đăng trong một trong một tạp chí số đặc biệt về Kim Dung.  Tạp chí đó có đăng một số chuyện chưởng như Đại Cái Bang, Cuồng Kiếm Ca vv. Chú kể là khi Chú gặp mấy nhà văn như Mai Thảo và một số vị khác, thường nghe họ bàn tán sôi nổi về chuyện Cô Gái Đồ Long, đăng trên các nhựt báo Sài Gòn hồi đó. Chú thắc mắc khi nghe những tên “lạ hoắc” như Trương Vô Kỵ, Trương Thúy Sơn, Hân Tố Tố.  Rồi Chú nghe có ngưới hỏi diễn tiến vụ sáu đại môn phái bao vây Quang Minh Đỉnh kết cục ra sao?  Chú hỏi nhà văn Mai Thảo về Kim Dung.  Mai Thảo chỉ giản dị nói với Chú là tiểu thuyết Kim Dung đặc biệt lắm, đọc thử rồi biết.  Chú viết là bộ chưởng đầu tiên Chú đọc của Kim Dung là bộ Cô Gái Đồ Long do Tiền Phong Từ Khánh Phụng dịch.  Chú nói Chú bắt đầu say mê câu chuyện khi Dư Đại Nham, và thanh đao Dồ Long, xuất hiện.  Chú tỏ ra khâm phục Kim Dung sáng tạo ra nhơn vật Tạ Tốn rất sống động.  Chú kết luận bài viết về Kim Dung bằng cách lập lại lời nhà văn Mai Thảo :

“Tiểu thuyết Kim Dung đặc biệt lắm!  Đọc rồi mới biết cái hay”.

Con có đọc vài bài khác Chú viết về các tài tử phim Chưởng.  Chú so sánh các tài tử phim Chưởng Hong Kong như Vương Vũ, Khương Đại Vệ, Địch Long, Lý Tiểu Long.  Chú viết Khương Đại Vệ và Vương Vũ đều ốm yếu, không nở nang, không có vẻ có võ nghệ như Lý Tiểu Long và Địch Long. Nhưng theo Chú thì Khương Đại Vệ thích hợp với tuồng chưởng hơn Vương Vũ. Chú chê tài tử Vương Vũ không hợp với các vai anh hùng, đại hiệp.  Theo Chú thấy, mặt Vương Vũ con nhà giàu, công tử, chỉ nên đóng các vai trong tuồng xã hội, tình cảm. Chú viết  Chú thấy mặt Khương Đại Vệ giống mặt nhà văn Mai Thảo.  Rồi Chú diễu :

“Chừng nào Thái Thanh đóng phim kiếm hiệp, chúng ta sẽ thấy mặt Mai Thảo. Còn bây giờ, ai muốn biết mặt Mai Thảo ra sao cứ nhìn Khương Đại Vệ sẽ biết!”.

Con nhớ con có đọc một truyện ngắn Chú viết trong tap chí Thứ Tư hay Chọn Lọc.  Mấy chục năm rồi, con không nhớ rõ tên tờ báo.  Con nhớ Chú viết về “Con ve và con kiến” phỏng theo tựa bài ngụ ngôn của La Fontaine.  Nhưng khác với La Fontaine, Chú nói là Chú ghét con kiến, Chú thương con ve.  Chú viết “con kiến bần tiện, ích kỷ, chỉ biết lo cho thân mình; con ve là một nghệ sĩ  ca hát làm vui cho cả mùa hè mà không đòi hỏi được trả công.”.  Chú kể câu chuyện “con ve và con kiến” thứ thiệt mà Chú đã chứng kiến ngoài đời.  Có hai anh em Chú biết từ hồi học chung ở tiểu học.  Người anh tánh giống con kiến, siêng năng, chăm chỉ nhưng ích kỷ, không bao giờ giúp đỡ bạn hữu.  Người em trai tánh tình cởi mở, dễ chơi.  Sau nhiều năm, khi đã trưỏng thành, Chú gặp lại hai anh em này thì biết người Em – con ve –  thành công trong cuộc sống, có cuộc sống sung túc.  Ngược lại, người Anh – con kiến – gặp hết thất bại này tới thất bại khác, vất vả, nghèo khổ.  Người anh lại tỏ ra bất mãn vì cái hạnh phúc của em mình.  Con nhớ Chú viết:

“À thì ra, bây giờ con kiến lại ganh tị với con ve.’

Con nhớ bài này vì con đồng ý với Chú là con ve dễ thương hơn con kiến, khác với điều các sách luân lý dạy  con kiến là tấm gương ta nên theo.

Ngoài ra con còn đọc vài cuốn tiểu thuyết gián điệp 007 do Chú phóng tác.

Con có đọc cuốn “Bỏ súng bên trời” Chú phóng tác. Điệp viên Hoàng Giang cùng cận vệ Đặng Dao hộ tống nhà tỉ phú Dương bạch Long, cô thơ ký và luật sư Trần Thịnh chống lại âm mưu ám sát.  Con nhớ hai đoạn trong cuốn này, có lẽ vì Chú viết trúng ý con.  Đoạn một, Hoàng Giang nghĩ thầm «  có bao nhiêu người chết vì lý tưởng cao đẹp thì cũng có bao nhiêu người  chết vì lý tưởng sai lầm. »

Hoàng Giang tham gia Thế Chiến Thứ Hai, chàng có cái sung sướng chiến đấu cho một lý tưởng mà chàng tin là cao đẹp.  Nhiều năm sau, chàng lại có thêm cái sung sướng là thấy cái lý tưởng mình theo đuổi đúng và đẹp.  Đoạn hai, nhà tỉ phú Dương Bạch Long kể câu chuyện về Hồ ly tinh.  Có một Hồ ly tinh thắc mắc vì sao loài người lại sợ các Hồ ly tinh?  Theo như Hồ ly tinh này thì “chỉ có đồng loại mới có thể hại được đồng loại. Kẻ thù đáng ngại nhứt của con người là con người.  Và địch thủ đáng ngại nhứt của hồ ly tinh là một hồ ly tinh khác.’  Khi đọc sách này, con còn nhỏ tuổi nên thấy những điều này rất  ‘ngộ, ‘  và con nhớ luôn từ đó tới bây giờ!

Sau con thấy Anh con có mua cuốn tryện Hồn ma đa tình do Hoàng Hải Thủy phóng tác.  Con có mượn cuốn này đọc và nhớ vài chuyện như Đầu người Bô Rô, trong đó có một người da trắng bị ám ảnh vì cái đầu một thổ dân bộ lạc Bô Rô.  Người Bô Rô này bị anh da trắng mướn kẻ giết người giết và cắt đầu. Cái đầu người Bô Rô được anh da trắng cho ướp khô, treo trong phòng riêng của anh.  Ít lâu sau, anh da trắng này bị ám ảnh thấy cái gì cũng là cái đầu đẫm máu của anh thổ dân Bô Rô.  Sau cùng anh ta dùng dao cạo cắt cổ anh khi anh nhìn vô kiếng để cạo râu vì thấy mặt mình là đầu người Bô Rô.  Hồn ma đa tình – chuyện một phụ nữ trẻ thích cầu cơ với một hồn ma mà Chú kêu là “phụ đồng chén. » Hồn ma đa tình này yêu người phụ nữ, y giết chồng người phụ nữ này và cô ta hóa điên.  Con nhớ truyện ma này và thích lắm.  Như Chú biết ở đâu có, Chú cho con biết.

Tóm lại, tới 1975, khi tụi Việt Cộng Bắc Kỳ chiếm miền Nam của mình, con chỉ biết chút đỉnh về Chú: – những bài viết về đô vật, sách chưởng, tuồng chưởng, hai ba cuốn tiểu thuyết chuyện ma, hoặc gián điệp.  Còn những sách nổi tiếng do Chú viết con chưa biết.

Chừng con qua đươc Canada, con được tin Ba con còn ở bên Việt Nam  cho biết, bao nhiêu sách, báo của gia đình con đều bị đốt sạch!!!  Con tiếc quá!  Nhưng biết sao đây?  Dân miền Nam lúc đó chỉ còn là những con cá nằm trên thớt mặc sức cho tụi Việt Cộng Bắc Kỳ muốn làm gì thì làm! Họ đem cho dân miền Nam hai đai họa : Cộng sản hóa và Bắc kỳ hóa!!!

Những năm đầu ở Canada, con ở với Anh con.  Anh con tiếp tục thú chơi sách.  Tuy tủ sách Anh con ở Canada không nhiều như tủ sách gia đình hồi còn bên Việt Nam nhưng cũng có khá nhiều sách.  Con khi đó còn đương đi học nên chưa có tiền mua sách.  Nhưng nhờ ở với Anh con, nên con có dịp đọc các sách Chú phóng tác như Đen hơn bóng tối, Đỉnh gió hú, Kiều Giang, Ngoài cửa thiên đường, Tìm em nơi thiên đường.  Chừng đó, con mới thưởng thức trọn vẹn tài viết văn của Chú.  Con đọc lại mấy cuốn tiểu thuyết gián điệp Hoàng Giang.  Trong cuốn “Thầy Nô”, có đoạn này Chú phóng tác rất ngộ.  Chú cho điệp viên Hoàng Giang nghĩ thầm về nàng Mật :

“Anh cứ tưởng là nhà văn Kim Dung bịa đặt ra A Tử, không ngờ rằng em là một A Tử thật ở cõi đời này!  Có điều em còn hơn cả A Tử.  A Tử phải cần tới Bích ngọc vương đỉnh mới luyện được Hóa Công đại pháp còn em thì chỉ cần anh nhìn em là cũng đủ làm công lực anh tiêu tan. »

Chú viết tức cười quá!  Trong cuốn Đen hơn bóng tối, Chú viết một câu làm con rất thích, con nhớ Chú có nhận xét về tiếng “ngộ” của người Nam.  Chú viết là tiếng ‘ngộ’  hay hơn tiếng ‘hay” nhiều và gợi cảm hơn nữa. Chú cũng có nhắc tới tiếng “thương” của người Nam, trong một cuốn tiểu thuyết khác, Chú viết “ngoài Bắc, thì thương là thương hại, thương xót nhưng trong Nam thi thương là yêu.’   Con đọc mấy nhận xét nầy của Chú mà thấy vui như mở cờ trong bụng.  Con rất thích các nhận xét này của Chú vì thấy Chú tuy là người Bắc nhưng biết thương, biết tôn trọng những đặc thù của người Nam. Khác hẳn với với một số đông người Bắc như tụi Việt Cộng Bắc Kỳ.  Tụi nham nhở này luôn kiếm cách đồng hóa người Nam!

Con nhớ là đọc trong cuốn Bây giờ tháng mấy, mượn của Anh con, tên thiệt của Chú là Dương Trọng Hải.  Hai người con của Chú là Kiều Giang và Hoài Nguyên.  Chú cho biết là tên người gia đình Chú viết chữ Hán đều có “chấm thủy”.  Té ra Chú biết chữ Hán nữa!

Trong những năm 80, theo dõi tin tức bên Việt Nam, con  biết là Chú đương bị ở tù Việt Cộng.  Ba con lúc đó đã qua Canada khi nghe tin Chú bị tù “trại cải tạo” của Việt Cộng thì ngậm ngùi nói :

“Như vậy là Hoàng Hải Thủy phải chết thôi!”

Con có nghe nhiều tin xấu về các văn nghệ sĩ của miền Nam tự do.  Các tin đồn nầy có tin đúng nhưng cũng có tin sai.  Như con có nghe là các nhà văn Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường… đều chết trong trại tù Việt Cộng.  Khi nghe là Chú bị tù Việt Cộng, con chắc là Chú Hoàng hải Thủy rồi đây cũng  chịu cùng chung số phận.  Giai đoạn đó, tai họa xảy ra dồn dập cho mọi người dân Việt.  Nào là nạn cướp biển!  Nào là tàu tị nạn bị xua đuổi! Nào  là thoát chết tới trại tị nạn rồi cũng chưa chắc được yên thân,! Không có nước nào chịu chứa!  Nào là thân nhơn còn có người kẹt bên Việt Nam!  Nào là có người vượt biển rồi mất tích luôn!  Do đó, tin xấu về các văn nghệ sĩ bị chìm đắm trong các tin khác và ít gây chú ý cho dư luận người Việt ở ngoại quốc.

Trong khoảng thời gian nay, con dọn qua một thành phố khác ở Canada để tiếp tục đi học.  Vì bận rộn chuyện học hành, thi cử lại không còn ở chung với anh con, vả lại con còn đi học, nghèo chưa có tiền mua sách truyện nên con không còn dịp đọc sách báo Việt trong một thời gian nhiều năm.

Bẳng đi một thời gian khá lâu, trong lúc con không còn để ý tới sách báo Việt, con tình cờ đọc một bài Chu viết trên một tạp chí nào không nhớ rõ.  Con mới biết là Chú đã thoát khỏi “thiên đường”  Việt Cộng. Sau đó, con có đọc thêm những bài Chú viết đăng rải rác trong các báo.  Chú  kể chuyện vụ các văn nghệ sĩ Sài Gòn bị kêu đi họp vơi các công an văn nghệ Việt Cộng.   Chú kêu mấy văn nghệ sĩ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản như Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu là  tụi « phi cầm, phi thú ».  Chú kể vụ Chú viết phiếm luận “Đen hơn mõm chó” chửi  “thiên đàng cộng sản”, bị tui công an văn nghệ Việt Cộng biết được rồi bắt Chú bỏ tù. Chú kể là chú ở tù chung phòng với Ông Lê mạnh Thát, Chú kể chuyện “Cô gái đồ long”.  Ông Lê mạnh Thát cho Chú biết “Hân Tố Tố” thiệt ra là “Ân Tố Tố.”  Sau Chú kiểm lại thì thấy quả thiệt là Ân Tố Tố.

Con nhớ Chú có viết là Chú đồng ý với nhận xét là giới văn sĩ Sài Gòn cũ có một lỗi nhỏ và đông thời họ cũng có một công nhỏ.  Lỗi nhỏ đó là trong cuộc chiến đấu sanh tử với Cộng sản, các văn sĩ Sài Gòn có thái độ thờ ơ, thụ động.  Coi như cuộc chiến sanh tử chống Cộng để bảo vệ tự do không liên quan gì tới mình.  Còn cái công nhỏ là họ đã không về hùa với Việt Cộng sau khi tụi nó chiếm được miền Nam tự do.  Cái “lỗi nhỏ” đó, theo con nghĩ, không riêng gì giới văn sĩ Sài Gòn có mà có lẽ  ngoại trừ các chiến sĩ trong Quân đội ngày đêm hy sanh xương máu để bảo vệ miền Nam, còn đại đa số người dân miền Nam tự do đều mắc phải.  Sống trong sự tự do của miền Nam, có người ra vẻ “ta đây” đứng ngoài và đứng trên cuộc chiến.  Tời chừng Việt Cộng chiếm miền Nam, những kẻ “đứng ngoài, và đứng trên” đó cũng chịu chung số phận với những chiến sĩ tự do chống cộng.  “Lưng chừng” và “phản động”  đều bị khổ nhục như nhau dưới chế độ Việt Cộng!   Trong cuốn hồi ký cải tạo “Đáy địa ngục”, Ông Tạ Tỵ có cho biết một anh quản giáo nói với ổng là :

“Các anh chỉ lo tranh giành quyền lợi riêng của các anh.  Nhưng không anh nào nghĩ tới chuyện giữ cái miếng đất, cái chế độ đã đem các quyền lợi đó cho các anh! »

Ông Tạ Tỵ viết là ổng  nghĩ anh quản giáo nầy có lý!    Còn về cái “công nhỏ”, con  nhớ  Chú có  kể vụ tụi công an văn nghệ Việt cộng xúi Chú viết bài nói xấu các chánh khách trong chế độ cũ.  Chú giả đò ừ, ào cho qua chuyện rồi không viết gì hết.

Sau này, gặp Anh con, Anh con cho biết là “Hoàng hải Thủy có viết lại rồi!”. Anh con có mua đầy đủ các sách Chú viết bên Mỹ. Anh con cho con biết là chú có một số tiểu thuyết phóng tác mới.

Con có đọc bài “Thiên long bát bộ luận anh hùng” Chú viết, không nhớ trong báo nào. Trong bài nầy, con thấy Chú viết trật hai chỗ!  Thứ nhứt, Chú viết Đoàn Dự khi nhảy xuống một thung  lũng, vì không có thức ăn chàng ăn hai con Mãng cổ chu cáp và do đó chàng có “Chu cáp thần công”.  Sự thực không phải vậy!  Hai con Mãng cổ chu cáp là của Chung Linh – hồi đâù chuyện còn là con gái Chung Vạn Cừu – cho Đoàn Dự để chế ngự mấy con rắn Kim Linh và Thanh Linh. Chung Linh vì thương Đoàn Dự nên cho Đoàn Dự mượn hai con rắn và cái hộp đựng Mãng cổ chu cáp.  Đoàn Dự bỏ cái hộp có hai con Mãng cổ chu cáp vô túi thì không có rắn nào làm hại được.  Khi Đoàn Dự và Mộc Uyển Thanh bị Đoàn Diên Khánh – Ác quán mãn doanh bắt – hai người lúc đó còn tưởng là hai anh em cùng bố là Đoàn Chính Thuần – bị ăn nhằm thuốc Âm dương hòa hợp tán là thuốc khích dâm.  Đoàn Dự vì sợ làm hại em gái mình nên lấy hai con Mãng cổ chu cáp ra ăn để tự tử.  Không phải như Chú nhớ trật!

Thứ hai, Chú viết nhà văn Kim Dung đặt ra nhơn vật Lý Diên Tông cứu Đoàn Dự và Vương Ngọc Yến nhưng không có giải thích Lý Diên Tông là ai!  Điều nầy Chú nhớ trật và nói oan cho Kim Dung.  Thiệt ra Kim Dung có cho biết Lý Diên Tông là ai nhưng tới gần hết chuyện mới cho biết.  Chú nhớ lúc Mộ Dung Phuc quăng Đoàn Dự xuống giếng để qua Tây Hạ cầu hôn với công chúa.  Anh ta có cho Đoàn Dự và Vương Ngọc Yến biết là chính anh ta đã hóa trang thành Lý Diên Tông. Con đọc bài Chú viết này nhiều năm rồi, bữa nay con mới có dịp cải chánh với Chú và minh oan cho Kim Dung..

Vài năm gần đây con thấy mấy bài Chú viết trên Internet.  Con mừng là Chú còn tiếp tục viết.  Đọc các bài Chú viết, con còn thấy được hình ảnh thân yêu của Sài Gòn cũ.  Con thấy Chú có vẻ buồn khi viết về cuốn “Hồi ký một thằng hèn” của Tô Hải.  Chú nghĩ là độc giả cũ của Chú có lẽ đã quên Chú!  Thưa Chú, Con nghĩ là Chú đừng lo! Chắc chắn có những độc giả thầm lặng còn nhớ, còn thương các văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ.  Như con đây là môt thí dụ!

Kể lể lẩm cẩm các chuyện xưa bây nhiêu chắc Chú đọc cũng mệt rồi!

Bây giờ, con đã ra trường và đi làm nhiều năm.  Con muốn mua lại tất cả các sách của Chú.  Nhưng  thị trường sách báo của Sài Gòn cũ ngày càng khan hiếm.  Độc giả không còn bao nhiêu! Hết nhà sách này tới nhà sách kia đóng cửa.  Con chỉ còn biết vét chợ chiều.  Còn bao nhiêu sách thì mua bấy nhiêu.

Con xin nhắc lại câu hỏi mà con viết ở phần đầu lá thơ này :

Chú Hoàng Hải Thủy có muốn bán lại cho con tất cả số sách chú viết và chú có hiên nay không?  Nếu bây giờ Chú còn muốn tiếp tục giữ những quyển sách đó, xin Chú cứ giữ, Con xin được gửi tiền mua tủ sách của chú.Nhưng đến một lúc nào đó con nghĩ Chú cũng nên giao số sách của chú cho một người khác tiếp tục giữ gìn, thương yêu các sách đó.  Con xin Chú nhớ tới con khi nào Chú thấy Chú đã lớn tuổi và muốn nhường lại các sách của Chú.

Mong tin Chú và chúc Chú luôn sáng suốt, mạnh giỏi.  Được đọc bài Chú viết là tiếp tục thấy lại thành phố Sài Gòn thân yêu của mình và được sống lại cái tuổi thơ hồn nhiên mấy chục năm trước.

Con

CTHĐ: Tháng Ba 2015 tôi nhận được thư của bạn DT Dũng ở Ottawa, Canada gửi đến. Tôi viết hỏi bạn Dũng tại sao bạn biết địa chỉ nhà tôi mà gửi thư cho tôi? Bạn Dũng trả lời trên e-mail cho tôi biết bạn đã liên lạc qua e-mail với tôi từ hai, ba năm trước. Trên đây là nguyên văn thư bạn Dũng đã gửi cho tôi khoảng năm 2008.

FRED BLASSIE, Đô Vật Tóc Bạc, không “Đánh Bẩn” nhưng “Đánh Dữ.”

FRED BLASSIE, Đô Vật Tóc Bạc, không “Đánh Bẩn” nhưng “Đánh Dữ.”

Cám ơn bạn DT Dũng, bạn vẫn nhớ tôi trong khi tôi thấy rất nhiều bạn đọc đã bỏ tôi, đã quên tôi. Thư của bạn DT Dũng làm tim tôi ấm lại.

Xin trã lời: Hoài Nguyên là anh của Kiều Giang. Hoài Nguyên sinh năm 1956, Kiều Giang sinh năm 1957.

Từ lấu lắm rồi không còn ở đâu có bán những quyển tiểu thuyết của tôi xuất bản trước năm 1975. Nếu tôi biết ở đâu có quyển Hồn Ma Đa Tình tôi đã tìm mua trước bạn.

Tủ Sách của tôi hiện nay ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, không có giá trị gì cả. Toàn những sách rất thường. Khi tôi đi khỏi cõi đời này, ba con tôi sẽ mỗi đứa giữ một số.

Thư bạn Dũng gơi tôi nhớ thời gian tôi làm những tập Đô Vật Wrestling ở Sài Gòn. Những năm 1970 một số người Sài Gòn thích xem những trận Wrestling trên Đài TiVi của Quân Đội Mỹ. Xem nhờ. Mỗi tuần TiVi Quân Đội Mỹ chỉ trình chiếu có 30 phút Wrestling, phim chiếu lúc 5 giờ chiều ngày Thứ Năm. Wrestling Mỹ là những cuộc trình diễn: hai võ sĩ đã đấu dượt với nhau trước khi lên đài. Nhưng trên đài họ đánh nhau như đánh thật. Người xem tưởng là họ đánh nhau, quật nhau thật. Ngày ấy tôi nhờ anh bạn làm Sở Mỹ gửi mua cho tôi từ Mỹ một số sách báo Wrestling. Tôi lấy tài liệu, ảnh trong những báo đó làm những tập Đô Vật của tôi. Hai tuần tôi làm một số báo Đô Vật. Anh bạn nhận in và phát hành trả tôi mỗi số báo Đô Vật là 10.000 đồng. Khi TiVi Quân Đội Mỹ ngừng chiếu phim Wrestling, tập báo Đô Vật do anh Thương Hoài Nguyên biên tập chết không kèn, không trống, không quan tài, không cả bó chiếu.

Những chuyên viên bình luận Wrestling trên TiVi Mỹ chia các đô vật ra làm hai loại: Clean Wrestlers, Dirty Wrestlers, tôi dịch là “Đánh sạch, Đánh bẩn.”

Em Mật được ví với Em A Tử Kim Dung là em Honey, nữ nhân vật trong một truyên James Bond 007.

Khi tôi viết truyện Môi Thắm Nửa Đời, các bạn tôi riễu tôi:

“Truyện của mày là truyện Môi Thắm Nửa Đùi.”

Khi tôi viết truyện Bỏ Súng Bên Trời, các bạn tôi gọi đó là truyện “Bỏ Súng Bên Giường.”

Mùa xuân về trên xứ người. Hoa anh đào hồng trắng nở bên dòng sông Potomac. Tôi thấy tôi cô đơn, tôi buồn quá đỗi.

HAY CHỮ LỎNG

Buổi sáng Tháng Ba, trận tuyết cuối cùng trong năm đến Rừng Phong. Trong phòng ấm, đèn vàng, yên tĩnh, nhìn trên màn kính computer tôi thấy chuyện Em Hoa Hậu Nguyễn Cao Kỳ Duyên đến chúc Tết nhân vật Vũ Khiêu ở Hà Nội.

Thoạt đầu tôi tưởng Em Nguyễn Cao Kỳ Duyên này là Em Nguyễn Cao Kỳ Duyên EmXi Chem Chép Paris by Night. Nhưng không phải. Hai người trùng tên nhau.

Mời quí vị đọc Wikipedia:

de1Vũ Khiêu, tên thật là Đặng Vũ Khiêu, là một học giả Việt Nam, Viện Trưởng đầu tiên của Viện Xã Hội Học Việt Nam, nguyên Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội, nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

Vũ Khiêu sinh ngày 19 tháng 9 năm 1916 tại làng Hành Thiện xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định.

Ông tốt nghiệp tú tài trường Bonnal, Hải Phòng, năm 1935. Ông làm Giám đốc Sở Văn hóa Khu 10 tại Việt Bắc, 1947 – 1954, Về Hà Nội, ông sang Bắc Kinh học trường Đảng cao cấp ,1954 – 1956, trở về nước, ông giữ chức Phó Tổng Giám đốc Thông Tấn Xã Việt Nam. Tới 1959, ông tổ chức cơ sở Mỹ học đầu tiên ở VN rồi sang Hungary học, về nước ông dậy học ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Sau năm 1954, ông chuyển sang công tác nghiên cứu. Ông cũng tham gia giảng dạy triết học và lý luận khoa học xã hội cho các trường Đảng và các trường đại học. Năm 1959, ông làm Thư ký khoa học xã hội của Ủy ban Khoa học Việt Nam, sau đó được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệmỦy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học.

Từ năm 1958, ông đã viết gần 30 cuốn sách và tham gia biên soạn với tập thể chừng 30 cuốn nữa ở nhiều lĩnh vực: triết học, đạo đức học, văn học, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, nghiên cứu, giới thiệu thơ văn và cuộc đời của một số thi hào… Nhiều tác phẩm của ông ca ngợi tư tưởng Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các tác phẩm của ông về văn hóa gồm: Đẹp (1963), Anh hùng và nghệ sĩ (1972), Cách mạng và nghệ thuật (1979). Tác phẩm lớn nhất là bộ sách ba tập, dày gần 1.500 trang, cuốn Bàn về Văn hiến Việt Nam. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có “Cao Bá Quát” (1970), “Ngô Thì Nhậm” (1976), “Nguyễn Trãi” (1980), “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của người trí thức Việt Nam” (1980), “Bàn về văn hiến Việt Nam” (3 tập, năm 2000).

Giáo sư Vũ Khiêu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ  năm 1996 cho các công trình Anh hùng và nghệ sỹ (1972), Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng và văn hoá (1987), Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử[.

Năm 2000, giáo sư được phong danh hiệu Anh hùng Lao động .

Ngày 12 tháng 9 năm 2006, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thay mặt Hội đồng Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất cho Giáo sư Anh hùng Lao động Vũ Khiêu.

Trong Đại hội Thi đua Thủ đô Hà Nội, Gs Vũ Khiêu được trao tặng danh hiệu “Công dân Ưu tú Thủ đô.”

Ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng câu đối:

 “Triết gia trong cách mạng – Nghệ sĩ giữa Anh hùng”.

Và:

Sơn hà linh khí tại
Kim cổ nhất hiền nhân.

Trên đây là  tiểu sử  Nhà Văn Hóa Hà Nội VC Vũ Khiêu trên Wipikeada. Tiếp đây là những lời người Hà Nội năm 2015 viết về nhân vật Vũ Khiêu:

deBài phóng sự “Sự thật quả ấn đền Trần ở Thái Bình” đăng trên phiên bản điện tử của báo Tiền Phong ngày 11/06/2010 viết về lễ khai ấn tại đền Trần Hưng Hà ngày 13 tháng Giêng năm 2010, cho biết: trong dịp khai ấn này, đã có hàng vạn bản ấn được đóng lên giấy, phát, bán cho nhân dân.

Quả ấn được đóng trong lễ này là một quả ấn “nhái,”  – ấn giả, làm theo hình dạng quả ấn thật – ấn giả bị khắc chữ Hán ngược; ấn có 4 chữ “Thượng Nguyên Chu Thị” nhưng lại được coi là ấn cổ, ấn quý, là ” Ấn vua Trần.” Giám đốc Nhà Bảo Tàng tỉnh Thái Bình đã nhờ GS Vũ Khiêu đọc giúp bốn chữ Hán trên quả ấn.  GS Vũ Khiêu đọc và trả lời rằng đó là bốn chữ:

“Quốc vương thiên nhân.”

Một câu đối của Vũ Khiêu dâng nhà thờ tổ họ Vũ giống câu đối ở đình làng An Trì, Hải Phòng, ngôi đình thờ Ngô Quyền được xây dựng từ đầu thế kỷ 19.

Câu đối của Vũ Khiêu dâng vào Miếu Thần tổ Vũ Hồn ở Mộ Trạch, Hải Dương:

“Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo.
Cửu tiêu nhật nguyệt phúc trùng quang”

Câu đối ở đình làng An Trì tại Hải Phòng:

“Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo.
Cửu vân nhật nguyệt ánh trùng quang”

o O o

Đầu năm Ất Mùi 2015, Hoa hậu Việt Nam 2014 Nguyễn Cao Kỳ Duyên  tới thăm và chúc Tết ông Vũ Khiêu tại nhà riêng của ông, Hoa hậu chúc mừng giáo sư bước sang tuổi 100, đồng thời bày tỏ sự ngưỡng mộ và cảm phục trước tấm gương học tập và nghiên cứu không ngừng nghỉ của ông.

Trong dịp này, Giáo sư Vũ Khiêu tặng Hoa hậu Kỳ Duyên câu đối:

“Trí như bạch tuyết, tâm như ngọc
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung”

Trong chuyến thăm nói trên, bức ảnh chụp GS Vũ Khiêu ôm và hôn lên má Hoa hậu Việt Nam 2014 gây nên nhiều tranh cãi trong dư luận và cộng đồng mạng.

Thật là xui cho cô hoa hậu miệt vườn, đầu năm đến thăm “Anh hùng” không những bị “Anh hùng” hôn gỡ gạc, còn  bị “Anh hùng” tặng thơ, trong thơ cô bị chê là “não rỗng!” Coi bộ năm Dê chẳng phải là năm hên của cô hoa hậu chạy tiền này!

Hai câu đối về vần điệu đã sai, mà cũng chẳng ra là câu đối. Câu đầu thì dùng chữ Hán Việt, câu sau lại dùng rặt chữ Hán, ý tứ 2 câu  chẳng có chút nào liên quan với nhau.

Câu thứ 2 “Vân tường y thường hoa tường dung” là câu ông học giả họ Vũ  “đạo” của Lý Bạch. Đây là câu thơ trong bài Thanh Bình Điệu, tả vẻ đẹp gợi dục của Dương Quý Phi sau 1 đêm ân ái với Đường Minh Hoàng!

Vân tường y thường, hoa tưởng dung” có nghĩa là “nhìn mây ngỡ xiêm y của nàng, nhìn hoa ngỡ dung nhan của nàng”! Ai đời 1 cụ già trăm tuổi lại đi tặng 1 cô gái đáng tuổi cháu chắt mình 1 câu thơ tình đắm đuối như vậy!”

o O o

hoaNhạc sĩ Tô Hải, tác giả Hồi ký “Thằng Hèn,” viết về nhân vật Vũ Khiêu:

Tôi bảo đảm rằng lão già này –  Vũ Khiêu  – là đồ đại bịp, lão được chúng nó “phóng” lên thành một “trí thức cộng sản anh hùng… bịp!” Lão không thể có bằng tú tài ở trường Bonnal Hải Phòng vì trường này thời thuộc Pháp không có cycle secondaire, trường không có quyền tổ chức thi tú tài. Tất cả những ai ở Hải Phòng muốn học trên primaire superieur  đều phải về Hà Nội học những trường ở Hà Nội, trong số người Hải Phòng về Hà Nội học đó có tôi. Hơn thế nữa, những năm 60 thế kỷ 20, chính lão Vũ Khiêu này đi học… tiếng Pháp buổi tối cùng lớp với bà xã (cũ) của tôi, những năm ấy lão hay đến nhà tôi tán tỉnh bà vợ diễn viên của tôi, nên tôi biết tỏng lão là cái loại người gì. Nói chung lão chỉ là 1 trong hàng vạn thằng giáo sư-tiến sỹ-anh hùng dỏm hiện đang phá hoại đất nước Việt này! Vạch mặt chúng có đến… hết Thế kỷ xxx cũng không hết!

Vũ Khiêu có một hành động rất ghê tởm mà chưa thấy bị tố cáo: Sau ngày 30 Tháng Tư 75 lão vào Sai Gòn, đến Thu Viện Quốc Gia nhân danh “quan chức Đảng,” đã “lấy cắp” một số sách cổ, quý của thư viện mang ra nhà lão ở Hà Nội làm của riêng. Đề nghị khám xét nhà Vũ Khiêu để thu hồi những quyển sách cổ quý là tài sản quốc gia này.

Nhà phê bình văn học Trần Mạnh Hảo trao đổi với BBC về bài viết trên mạng hôm 27/2/2015 trong đó ông lý giải hiện tượng Giáo sư Vũ Khiêu ‘bị ném đá’ trên truyền thông mạng Việt Nam đầu xuân Ất Mùi (2015).

Trong bài này, ông Hảo viết:

“Có thể vì chế độ nâng GS. Vũ Khiêu, một người không phải trí thức lên thành biểu tượng của trí thức, biểu tượng của văn hóa Việt Nam mà nhân dịp cụ ôm hôn gái trẻ kiểu trai lực điền và tặng cô gái một câu đối đểu nên đã bị dân mạng ném đá cho bõ tức vì họ bị lừa hết vụ này sang vụ khác chăng?

Tôi đã đọc hầu hết các cuốn sách của GS. Vũ Khiêu, tôi thấy trình độ của GS chưa thể gọi là trí thức.

Vũ Khiêu quả tình không thể gọi là nhà trí thức khi ông muốn lấy hoa mào gà làm quốc hoa. Ơ hay, bệnh mào gà là bệnh gì GS. chưa biết hay sao?”

GS.Vũ Khiêu đã lấy nguyên một câu thơ của  thi hào Lý Bạch trong bài thơ “Thanh Bình điệu”: “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” làm câu đối tặng gái. Đạo văn như thế sao có thể là nhà trí thức?”

Khi được hỏi liệu có hợp với đạo lý của người Việt Nam hay không, khi người trẻ tuổi hơn ‘phê phán, chỉ trích’ người lớn tuổi hơn, đặc biệt một vị cao niên đã một trăm tuổi như thế, nhà phê bình văn học nói:

“Vẫn phải tôn trọng? Ông gần một trăm tuổi mà ông ôm một cô gái đáng tuổi chắt của ông, mà ông ôm hôn cô ta theo kiểu lực điền như vậy thì ai chịu được?”.

Ông TM Hảo nói với phóng viên Đài BBC hôm 1 tháng 3, 2015:

“Một loạt các Giáo sư, hàng loạt các nhà trí thức thực sự và có đóng góp lớn cho đất nước, cho dân tộc thì đều bị thất sủng, còn các Giáo sư bần cố nông mà ít học thì lại được tôn vinh là nhà trí thức.”

Quý vị vừa đọc một số chuyện Ruồi Bu về nhân vật Vũ Khiêu, người được coi là “đại trí thức, đại văn hóa-văn học” của bọn Cộng Hà Nội. Hôm nay, một ngày Tháng Ba 2015, trận bão tuyết cuối cùng của năm 2015 đến trên Rừng Phong,  những cánh hoa anh đào đã nở bên sông Potomac, tôi viết bài này về Ruồi Bu Vũ Khiêu để nhắc đến Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather.

Tháng Sáu 1976 Tú và tôi đi dự cái khóa học mà bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng gọi là “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị ” cho bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn Việt Nam Cộng Hòa, bọn đầu hàng lơ láo và ngơ ngáo. Khóa học diễn ra trong 21 ngày. Tôi đã viết nhiều về “Khóa Bồi Dưỡng” này. Ngày bế mạc Khóa được tổ chức ở Nhà Hát Lớn Sài Gòn. Trong số những nhân vật được Ban Tổ Chức mời đến nói chuyện với các học viên có Huy Cận, Chế Lan Viên, Hoàng Trinh và Vũ Khiêu.

Vũ Khiêu nói chuyện từ 8 giờ sáng đến khoảng 10 giờ thì nghỉ 20 phút. Tú bảo tôi:

Thằng cha này hay chữ lỏng.”

Tôi thấy Tú hay quá. Tú bằng tuổi tôi, Tú học lem nhem như tôi, Tú từ Hà Nội vào Sài Gòn trước tôi. Tú nhanh trí, Tú sắc xảo nước đời hơn tôi. Chỉ nghe anh Vũ Khiêu nói  trong 30 phút, Tú thấy ngay anh này là học giả dzởm – anh là học giẻ – vốn học thức của anh nông cạn, hiểu biết của anh đựng không đầy cái lá mít; anh nói lang bang không đâu vào đâu. Anh đề cao tình nghĩa  và tính đoàn kết của người Việt. Anh kể chuyện:

“Một gia đình năm đời sống chung với nhau, sống êm, sồng đẹp, sống thân ái. Vua ban khen nhà này. Muốn thử xem những người trong nhà này chia nhau ra sao quà thưởng của Vua, Vua cho nhà này một trái lê.

Một trái lê Vua ban mà phải chia cho cả trăm người. Làm sao chia? Làm sao cho cả trăm người cùng được hưởng ơn Vua? Ông Trưởng Tộc nghĩ ra cách cho trái lê Vua ban vào nồi đồng ba mươi, nấu nước, cho mỗi người uống một chén. Vậy là cả trăm người được hưởng cái gọi là Ơn Vua.

Chuyện Trái Lê Vua Ban Nấu Nước Chia Nhau là chuyện của người Tầu, không cần biết là chuyện đời Tầu nào, đời Đường hay đời Mật, đời Tống hay đời Táng, học giẻ Ruồi Bu Vũ Khiêu kể đó là chuyện người Việt đời Trần.

Đã một lần tôi viết:

Nếu diễn giả Vũ Khiêu không biết chuyện Trái Lê Vua Ban là chuyện Tầu thì ông quá dzốt.

Nếu ông biết đó là chuyện Tầu mà ông cho rằng ông có nói đó là chuyện người Việt bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn đầu hàng ngơ ngáo không tên nào biết thì ông quá ngu.

Dòng thời gian dài một ánh bay,

Những ngày như lá, tháng như mây.

Sài Gòn Tháng Sáu năm 1976, Kỳ Hoa Tháng Ba năm 2015…129. 807.593.224.682 lít nước chẩy dưới cầu đoạn trường.

Tú ơi.. Nguyễn Ngọc Tú-Ngọc Thứ  Lang-Tú Lé; hôm nay tao nghe vẳng tiếng mày nói buổi sáng gần trưa năm xưa trong Nhà Hát Lớn:

Thằng cha này hay chữ lỏng.”

Mày hay quá là hay. Sao mày nhớ ra thành ngữ Bắc Kỳ “Hay Chữ Lỏng “– tiếng để gọi những anh dzốt hay nói chữ, hay tỏ ra mình là kẻ có học – để gọi học giẻ VC Vũ Khiêu đúng đến như thế!!!

NHẬT BÁO ÁNH SÁNG

Nhà Văn, Nhà Báo LƯ KHÊ, Chủ nhiệm Nhật báo Ánh Sáng. Nhà báo Việt Nam thứ nhất bị bắn chết ở Sài Gòn.

Nhà Văn, Nhà Báo LƯ KHÊ, Chủ nhiệm Nhật báo Ánh Sáng. Nhà báo Việt Nam thứ nhất bị bắn chết ở Sài Gòn.

Nhiều lần, trong những bài Viết ở Rừng Phong, tôi viết về ông Lư Khê:

“Buổi sáng, ba ông nhà báo Lư Khê, Nam Quốc Cang, Đinh Xuân Tiếu, ngồi cùng bàn uống cà phê trong một tiệm cà phê vỉa hè đường Frère Louis, bị kẻ vô danh cầm súng đến bắn. Ba ông chết tại chỗ.”

Tôi viết vụ ám sát ba ông nhà báo Sài Gòn xẩy ra khoảng năm 1948, 1949. Vụ ám sát bị cho chìm suồng: không tìm ra thủ phạm. Tôi viết:

“Tên sát nhân đến để bắn ông Nam Quốc Cang. Hai ông Lư Khê, Đinh Xuân Tiếu chết oan. Ông Nam Quốc Cang viết nhiều bài báo chống thực dân Pháp tái chiếm Việt Nam nên ông bị Surete Pháp bắn chết.”

Tôi đã viết sai về cái chết của ông Lư Khê.

Đầu năm 1952 Lê Minh Hoàng Thái Sơn bảo tôi:

“Tao mới gặp Thanh Sanh. Lúy nói báo Ánh Sáng cần một rì-pọt-tơ – ( Reporter: phóng viên ) – Mày đến thử xem. Nói tao giới thiệu.”

Anh Thanh Sanh năm ấy là Chủ Bút nhật báo Ánh Sáng.

Tôi đến, tôi được anh Thanh Sanh – xét  khả năng của tôi, anh đưa tôi dịch một bản tin chữ Pháp ra chữ Việt –  nhận ngay vào làm nhân viên tòa soạn. Những bước đầu trong đời phóng viên nhà báo của tôi được khởi đi từ tòa soạn nhật báo Ánh Sáng. Những năm 1950 nhật báo Ánh Sáng không phải là tờ báo có nhiều độc giả, nhưng  số báo bán được đủ cho tờ báo sống đàng hoàng. Tòa soạn nhật báo Ánh Sáng những năm 1950 ở đường Bonard – sau năm 1956 là đường Lê Lợi – từ chợ Bến Thành đi lên Nhà Hát Lớn, tòa soạn Ánh Sáng nằm ở bên trái, bên cạnh là một nhà in của chủ nhân Pháp, qua tiệm chụp ảnh Tân Mỹ là Restaurant Kim Hoa rồi rạp chiếu bóng Casino de Saigon. 60 năm sau ngày đó hôm nay nhớ lại, tôi thấy tôi đã gặp nhiều may mắn trong đời. Muốn và có mộng viết truyện, làm phóng viên nhà báo từ năm 10 tuổi. Năm 20 tuổi, tôi được viết truyện, được làm phóng viên nhật báo.

Tôi biết ông chủ nhiệm sáng lập nhật báo Ánh Sáng là ông Lư Khê, ông bị bắn chết trước năm 1950, nhưng tôi chỉ biết có thế về ông Lư Khê. Đầu năm 2015 khi tôi viết về Nhật báo Ánh Sáng, tôi tìm thấy những tài liệu về ông Lư Khê trên Wipikeda; Tôi trích:

Lư Khê (1916 – 1950), tên thật là Trương Văn Em (còn được gọi là Đệ), tên chữ là Tuấn Cảnh, bút hiệu là Bá Âm, Lư Khê; là nhà thơ, nhà báo Việt Nam thời tiền chiến.

Ông sinh ngày 20 tháng 1 năm 1916 tại làng Rạch Vược, xã Thuận Yên, tỉnh Hà Tiên, trong một gia đình lao động. Thân sinh là ông Trương Văn Huynh (ngư dân) và bà Trần Thị Chín.

Thuở nhỏ, Trương Văn Em học tiểu học ở Hà Tiên, học trung học ở Cần Thơ (Collège de Cần Thơ), đậu bằng Thành Chung năm1928 rồi lên Sài Gòn lập nghiệp.

Ở Sài Gòn, ông dạy học tại trường Huỳnh Khương Ninh, Đồng Nai…và cộng tác với các báo: Thế giới tân văn, Nữ lưu tuần báo, Văn nghệ, Tự do, Nay, Đông Tây, Gió mùa

Năm 1935, ông cùng với Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà (4 người  được mệnh danh là “Hà Tiên tứ tuyệt”), xuất bản tờ báo Sống, địa chỉ tòa soạn báo ở Hà Tiên, nhưng báo in và phát hành ở Sài Gòn.

Ông yêu nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh, hai người thành hôn ngày 11 tháng 11 năm 1937.

Sau năm 1945, ông làm Chủ bút báo Tân Việt. Từ năm 1947 đến năm 1950, ông làm Giám đốc kiêm Chủ nhiệm nhật báo Sự Thật và chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng. Lúc này, ông là người  “chủ trương thống nhất quốc gia, độc lập dân tộc, đồng thời đấu tranh chống thực dân Pháp.”

Ngày 3 tháng 7 năm 1950, ông bị một số kẻ lạ mặt; dư luận cho là những người thuộc nhóm chủ trương phân ly – Nam Kỳ Quốc – sát hại tại nhà riêng, cùng một ngày với nhà báo Nam Quốc Cang. Khi ấy, ông Lư Khê mới 34 tuổi.

Những văn phẩm của Lư Khê.

  • Douleur secrète(tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Luk, 1939),
  • Phút thoát trần(tập truyện ngắn và tùy bút, Nhà xuất bản Luk 1942)
  • Nhạc đêm(tập Thơ)
  • La Littérature Chinoise et ses ressources artistiques(tiểu luận)
  • Khảo về văn chương nước Nhật
  • L’ amour dans la poésie annamite(tiểu luận)
  • Jour perdu(tiểu thuyết)
  • Au fil de l’heure(thơ)

Và rất nhiều bài phóng sự, nghị luận chính trị, khảo luận văn thơ.

Theo Trương Minh Đạt, Lư Khê là học sinh Hà Tiên đầu tiên đậu bằng Thành Chung.

Nhà nghiên cứu văn học Trương Minh Đạt (em trai ông Lư Khê, gọi nữ sĩ Manh Manh là chị dâu), kể:

“…Chị (Manh Manh) cư xử với nhà chồng rất tốt, được bên nhà chồng yêu quí. Chị là thứ nữ của ông Huyện Trị, anh Lư Khê là con nhà nghèo ở Rạch Vược (Hà Tiên)…Song, chị không hợm mình, lúc nào chị cũng quí trọng chồng và gia đình chồng, chị quí trọng người nghèo rất thật tình, không phân biệt giai cấp. Chị thường viết báo, diễn thuyết bênh vực dân nghèo…Khi sinh bé Mi Nu, chị Kiêm bị mất khả năng sinh sản. Chị không còn sinh đẻ được nữa. Năm sau, bé Mi Nu (bị liệt từ lúc mới sinh) qua đời…, chị Kiêm buồn sầu. Để anh Lư Khê có con, chị tự ý  cho anh có vợ khác…Đầu năm 1945, trước ngày Nhật đảo chính Pháp, anh Lư Khê có người vợ thứ hai…Khoảng đầu năm 1950, chị Manh Manh sang sống bên Pháp. Sau nhiều năm sống cô đơn ở xứ người, chị Manh Manh qua đời trong một nhà dưỡng lão ở Paris vào ngày 26 tháng 1 năm 2005, thọ 91 tuổi.

Theo Trương Minh Đạt nhà báo Lư Khê là người “chủ trương quốc gia thống nhất – một nước Việt Nam gồm ba miền Nam Trung Bắc – Ông là tác giả loạt bài nổi tiếng ‘Đả đảo Bazin,’ và nhiều bài “lên án thực dân Pháp.”

Bazin là nhân viên Sureté Pháp nổi tiếng tàn ác với những người Việt Nam chống Pháp bị bắt giam những năm đó ở Bót Catinat.

o O o

Bà vợ ông Lư Khê.

Bà vợ ông Lư Khê.

MANH MANH

Nguyễn Thị Manh Manh (1914-2005) là một nữ sĩ Việt Nam thời tiền chiến.  Bà là người phụ nữ miền Nam đầu tiên làm thơ – Thơ Mới – đăng thơ trên báo, viết bài đề cao Thơ Mới,  diễn thuyết cổ vũ phong trào Thơ Mới tại Việt Nam[.

Nữ sĩ tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, sinh ngày 3 tháng 1 năm 1914 tại Sài Gòn, quê quán của bà ở Gò Công. Bà là con gái thứ của ông Tri huyện Nguyễn Đình Trị, tục danh Huyện Trị, ông Trị cũng là một cây bút trong làng báo lúc bấy giờ.

Bà học ở Trường Áo Tím, Gia Long (Sài Gòn). Sau khi tốt nghiệp bằng Thành Chung, bà gia nhập làng báo Sài Gòn. Với bút hiệu Nguyễn Thị Manh Manh, có khi ký tắt là Manh Manh, bà thường xuyên cộng tác với tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, và  viết cho nhiều tờ báo khác như: Công luận, Nữ lưu, Việt Nam.

Đầu năm 1932, nhà văn Phan Khôi đề xướng Phong trào Thơ Mới . Hưởng ứng, nữ sĩ Manh Manh  gửi những bài thơ mới của bà để đăng trên tờ Phụ nữ tân văn. Sau đó, nữ sĩ còn nhiều lần diễn thuyết cổ vũ cho phong trào này. GS.Phan Cự Đệ kể:

“Cuộc tấn công của “TMới” vào “TCũ” ngày càng quyết liệt. Tối ngày 26 tháng 7 năm 1933, Nguyễn Thị Kiêm (tức nữ sĩ Manh Manh, khi ấy mới 19 tuổi) diễn thuyết tại Hội Khuyến Học Sài Gòn về “Lối thơ mới”. Hội này thành lập đã 25 năm nay mới có một phụ nữ lên diễn đàn, đây cũng là buổi diễn thuyết có đông thính giả nhất. Hơn hai năm sau (tháng 11 năm1935), Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết một lần nữa tại Hội Khuyến học Sài Gòn. Lần này, bà và ông Nguyễn Văn Hạnh cùng diễn thuyết tranh luận về TMới.

Không chỉ đề cao và bảo vệ Thơ Mới, nữ sĩ Manh Manh còn là một chiến sĩ đòi giải phóng phụ nữ, đòi phụ nữ bình quyền với nam giới. TS. Phan Văn Hoàng viết:

“Chị đả kích các tập tục hủ bại như trọng nam khinh nữ, tảo hôn, đa thê…, bênh vực những quyền lợi chính đáng của nữ giới. Trong năm 1934, chị đã đi tới 4 thành phố (Huế, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng) để diễn thuyết với các đề tài: “Dư luận nam giới đối với phụ nữ tiên tiến”, “Một ngày của một người đàn bà tiên tiến”, “Có nên tự do kết hôn chăng?” “Nên bỏ chế độ đa thê hay không”? Ý tưởng của chị trong các buổi diễn thuyết đó đã tạo ra trong xã hội hai luồng dư luận trái chiều (tán thành và phản đối) phản ảnh qua báo chí trong Nam ngoài Bắc.

Năm 1936, nữ sĩ Manh Manh tích cực tham gia phong trào Đông Dương đại hội. Tuy mới 22 tuổi,  nữ sĩ là một trong hai phụ nữ được cử vào Ủy ban lâm thời tổ chức Đông Dương đại hội tại Sài Gòn, bên cạnh các nhân vật nổi tiếng thời đó như Nguyễn An Ninh, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm…

Ngày mồng 1 tháng Mười năm Bính Tý (tức 11 tháng 11 năm 1937), nữ sĩ thành hôn với ông Trương Văn Em, người Hà Tiên, một nhà giáo dạy Việt văn ở trường Trung học Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn, đồng thời là một nhà báo với bút hiệu Lư Khê.

Nữ sĩ Manh Manh qua đời trong một nhà dưỡng lão ở Paris vào ngày 26 tháng 1 năm 2005, bà  thọ 91 tuổi.

Nữ sĩ Manh Manh làm thơ rất ít, và không xuất bản tập thơ nào.

Sự cổ vũ nồng nhiệt của nữ sĩ Manh Manh về “Thơ Mới”, được Hoài Thanh-Hoài Chân ghi lại trong văn phẩm  Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1941), như sau:

“Từ hai tháng trước, hôm 26 juillet (tháng 7) 1933, một nữ sĩ có tài và có can đảm, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn Hội Khuyến Học Sài Gòn diễn thuyết về Thơ Mới. Hội Khuyến Học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm. Đây là lần thứ nhất một vị nữ lưu lên diễn đàn của Hội đây cũng là lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người đến nghe.”

Ghi nhận công lao của nữ sĩ Manh Manh, trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển thượng) có đoạn:

“Trong hồi dậy men của nền thơ mới, nữ sĩ Manh Manh là người đàn bà đầu tiên đáp ứng tiếng gọi đàn của nhà tiên phong Phan Khôi…Chúng ta ngày nay nhìn lại việc qua, giữa cái cũ kỹ từ nghìn đời sừng sững như tòa cổ thành kiên cố; thế mà, bỗng chốc, một Phan Khôi táo bạo nổ phát súng cách mạng thi ca; người nữ chiến sĩ tiền phong anh dũng và hăng say hoạt động để bảo vệ và củng cố nền tảng TMới bén rễ và sống mạnh, ta phải kể Nguyễn Thị Manh Manh, một người  đã đóng góp công lao không nhỏ cho nền văn học đất nước.

CTHĐ: Tôi xúc động khi đọc những dòng tiểu sử ông Lư Khê. Tôi vào làng báo Việt Nam bằng cửa nhật báo Ánh Sáng, tờ báo do ông sáng lập, mà trong bao nhiêu năm tôi không biết ông Lư Khê là một nhà văn viết nhiều tác phẩm biên khảo văn thơ bằng văn Pháp, một việc mà tôi thấy dường như chưa có ông chủ báo Sài Gòn nào làm được. Năm 1952 khi tôi được anh chủ bút Thanh Sanh nhận vào làm phóng viên, tôi được biết ông chủ nhiệm Lư Khê bị sát hại, chính quyền Sài Gòn thời ấy cho bà vợ ông Lư Khê thay ông làm chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng, tờ báo tiếp tục xuất bản. Bà vợ ông Lư Khê mời anh Thanh Sanh làm chủ bút nhật báo Ánh Sáng.

Năm 1952 phòng ngoài tòa soạn Ánh Sáng một bên là Ty Trị Sự-Quản Lý, một bên là bàn làm việc của nhân viên, ký giả, phóng viên. Phòng trong có bàn làm việc của anh Thanh Sanh, bàn làm việc của anh Hải Âu. Giữa phòng kê bàn giấy của bà Chủ nhiệm. Mỗi tháng bà chủ nhiệm đến tòa soạn hai, ba lần, bà đến xem sổ sách của Ty Quản Lý, ký giấy tờ. Năm 1952 tôi thấy bà trạc 40, 45 tuổi, trang phục lịch sự, bà khá đẹp. Bà tên là Nguyễn Ngọc Diêu. Những năm 1965 tôi nghe tin bà kết hôn với ông Hoàng Hồ, một nhân vật chính trị ở Pháp về.

Như vậy, theo tôi biết, bà vợ góa của ông Lư Khê, người kế tiếp ông làm chủ nhật báo Ánh Sáng,  không phải là bà thi sĩ Manh Manh.

Nhật báo Ánh Sáng do anh Thanh Sanh làm chủ bút sống đến ngày chính phủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành Luật:

– Nhật báo phải đóng tiền ký quỹ 20 triệu đồng.

– Tuần báo phải đóng tiền ký quỹ 10 triệu đồng.

Nhật báo Ánh Sáng chết vì báo không có 20 triệu đồng.

Nhà báo Nam Quốc Cang là ký giả thứ hai bị bắn chết ở Sài Gòn.

Wipikedia ghi về Nhà Báo Nam Quốc Cang:

Nam Quốc Cang (1917-1950) tên thật Nguyễn Văn Sinh, là nhà báo Việt Nam. Ông lấy tên ba ông nhà báo nổi tiếng là các ông Nguyễn Kỳ Nam, Trần Tấn Quốc, Lê Trung Cang làm thành bút hiệu Nam Quốc Cang.

Ông quê ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vào Sài Gòn năm 1940. Năm 1945, ông viết bài cho nhật báo Tin điển. Ông chủ trương chống thực dân Pháp, đặc biệt phụ trách mục Trớ trêu và được độc giả yêu thích. Dưới bút danh Nguyễn Thạch Sơn, trong bài Sài Gòn hoạt cảnh, ông chế giễu những hoạt động của Thủ Tướng Nam Kỳ Quốc Nguyễn Văn Thinh. Sau báo Tin điển, ông giữ chức chủ bút những báo  Thời cuộcCông chúngChống xâm lăng rồi cuối cùng làm quản lý cho tờ Dân Quý.

Ngày 6 tháng 5 năm 1950, nhà báo Nam Quốc Cang cùng với nhà báo Đinh Xuân Tiếu bị ?ám sát trước tòa soạn báo Dân Quý ở góc đường D’Arras-Frère Louis (nay là đường Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi). Ông mất khi mới 33 tuổi. Cái chết của hai nhà báo đã gây chấn động giới báo chí và công chúng Sài Gòn. Đám tang của ông được tổ chức vào ngày 9 tháng 5, 1950, hàng vạn dân chúng Sài Gòn đến đưa tiễn ông.

Trong buổi nói chuyện về Thơ Mới ở Hội Khuyến Học Sài Gòn ngày 26 tháng 7, năm 1933, Thi sĩ Manh Manh đọc bài Thơ Mới của bà:

Canh tàn

Em ơi, em lắng nghe
Gió đêm thoảng ngoài cửa
Lụn tàn một góc lửa
Lạnh ngắt chốn buồng the.

Gió đêm thoáng qua cửa
Não dạ dế tỉ tê
Lạnh ngắt chốn buồng the
Em ơi, khêu chút lửa

Não dạ dế tỉ tê
Gió ru tha thiết chi nữa
Em ơi, khêu chút lửa
Rồi lại ngồi đây nghe

Gió ru tha thiết chi nữa
Sụt sùi mấy cành tre
Em ngồi đây có nghe
Tơ lòng chị đứt nửa.  

SÀI GÒN VÀNG HOA

saigon1

Xin đọc bài ÁO VÀNG HOA 2007

Năm 1975, năm 1976, 1977, rồi những năm 2000, 2010… — Vèo…, như những cánh lá thu  bay trong Thơ Tản Ðà, ba mươi mùa thu vàng đã qua trên những lối mòn mờ dấu chân xưa…

Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi !

Thi sĩ Tản Ðà có mộng công danh, mộng của ông không thành nên ông than: “Công danh phù thế có ngần ấy thôi..” Tôi không có mộng công danh — công danh đây nói theo nghĩa đen, không những chỉ đen thường mà là đen sì, đen sịt, công danh theo nghĩa hẹp, không những chỉ hẹp vừa mà là hẹp khít; mộng công danh đen và hẹp này là mộng thi đỗ, trước 1945 ra làm quan, làm tri huyện, tri phủ, tổng đốc, thượng thư; sau 1945 làm tỉnh trưởng, bộ trưởng, đại sứ, tổng thống vv — Tôi không có mộng công danh ngay từ khi tôi oe.. oe mấy tiếng vào đời. Những năm tôi 10 tuổi, tôi rất khó chịu khi có ai gọi đuà tôi là “Ông Huyện Hải.” Tôi không có mộng công danh trong kiếp này, kiếp trước, kiếp sau. Trong ba kiếp của tôi tôi chỉ muốn làm người viết tiểu thuyết, thứ tiểu thuyết Tình giải trí cho những người đàn bà đa tình, chung tình và đẹp. Vì vậy khi cảm khái vì thời gian qua mau, tôi than:

Vèo trông lá rụng đầy sân
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi !

Khi người khác già đi, người khác nuối tiếc hoa niên, người khác sầu buồn, não nùng, than thở, tôi cho là chuyện tự nhiên chẳng có gì đáng théc méc. Sống lâu thì phải già đi, muốn trẻ mãi sao, sầu buồn, than thở vì già đi là vô lý. Nhưng khi chính tôi già đi, tôi mất xuân thì, tôi buồn, tôi khổ đau ghê gớm. Tôi thấy việc tôi già đi là thậm vô lý, là không thể chấp nhận được. Ai cũng có thể già đi nhưng tôi thì không thể nào già đi được, hoặc ít nhất tôi cũng không thể nào già đi nhanh đến như thế. Mới buổi sáng nào đây tôi mười tuổi, tôi ngồi xe tay Omic nhà đến trường Tự Ðức trong thị xã Hà Ðông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà, có đường xe điện dài nhất Ðông Dương nối liền thị xã Hà Ðông với thành phố Hà Nội; mới những buổi chiều nào đây tôi đi học ở trường Phan Chu Trinh, Hà Nội, sáng tôi đi, chiều tôi về Hà Ðông bằng xe điện, đoạn đường xe đẹp nhất là đoan từ trạm Thanh Xuân vào thị trấn. Tôi nhớ bên đường có làng Phùng Khoang với tòa nhà thờ cổ và đẹp. Ðó là chuyện xẩy ra năm 1946 mà tôi tưởng như mới xẩy ra tháng trước. Rồi buổi sáng mùa thu trời trong vắt chú thiếu niên đi kháng chiến là tôi lòng mở hội đi trên đường Thái Nguyên vào Việt Bắc; qua cầu treo Ðại Từ, lên đến Rừng Khế, Tuyên Quang, mới buổi chiều cuối năm lành lạnh nào đây tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tôi đứng bên sạp báo trước Nhà Hàng Kim Hoa đường Bonard chờ người thiếu nữ tôi yêu ra mua báo.

saigon2

Nàng là người yêu thứ nhất của tôi, thành phố Sài Gòn ngày ấy, năm ấy mới có xe taxi. Tôi đón nàng ở cửa Tây Chợ Bến Thành, tôi đưa nàng đi chơi bằng xe taxi, đưa nàng vào chơi Sở Thú. Buổi chiều nắng vàng nàng ngồi trên thảm cỏ chụp hình. Mới ngày nào đây tôi ba mươi tuổi, tôi làm trong tòa soạn Nhật báo Sàigònmới, tôi viết tiểu thuyết phóng tác trên báo Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, Kịch Ảnh, Ðiện Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai, tôi sống, tôi viết truyện, tôi yêu, tôi được yêu, tôi ăn chơi vi vút giữa lòng thành phố Sài Gòn…Mới những đêm trăng nào đây tôi phóng xe Hillman mui trần chở người yêu lên xa lộ…

- Có phải Em là mùa thu Hà Nội
Tuổi hoa niên anh lót lá Em nằm..?

Lời một bài ca Tình tôi nghe được ở Sài Gòn những năm 1981, 1982, những người Sài Gòn hát cho nhau nghe. Tác giả bài ca tả cảnh ông  yêu ở Hà Nội, ông lót lá thu vàng cho người yêu của ông nằm ở thảm cỏ bên Hồ Tây, trên bờ đê Yên Phụ hay ở Rặng Ổi sau Nhà Bảo Tàng Louis Finot. Tôi yêu ở Sài Gòn. Tôi trải cái áo mưa xanh Không Quân Mỹ cho người yêu tôi nằm dưới rặng dừa ven xa lộ.

Những ngày hồng, những đêm xanh ấy tưởng như mới là những ngày hôm qua, những đêm hôm kia…

Có phải Em trăng mùa thu xa lộ
Tuổi hoa niên Anh lót áo Em nằm..?

Dấu Móng Chim Hồng

rungphong

Những năm 1960 tôi gặp trên trang sách bốn câu Thơ của ông Tầu Văn Thiên Tường:

Nhân sinh đáo xứ ưng hà tự?

Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê.

Nê thượng vô tình lưu trảo tích.

Hồng phi na kế hướng đông tê! – Tê: Tây.

Người ta ở đời nên sống như thế nào?

Nên như chim Hồng đi trên tuyết.

Chim vô tình để lại trên mặt tuyết dấu chân.

Hồng bay đi bất kể về đông hay tây..

Trong bốn câu thơ Hán Việt trên đây có thể có một, hai tiếng sai. Vì tôi nhớ không đúng. Có sai xin bỏ qua. Bốn câu thơ ấy đến với tôi năm tôi tuổi đời Ba Bó. Năm ấy – năm 1960 – tôi thấy ý thơ hay nhưng thơ không làm tôi xúc động gì nhiều. Đời tôi những năm ấy đang phơI phới lên hương. Chưa có một tai họa nào đáng gọi là tai họa đến với tôi. Hai mươi năm sau trong những đêm buồn nằm phơi rốn mốc trong Nhà Tù Chí Hòa, chuyện Chim Hồng bay, Chim Hồng bị giam tù, Chim Hồng để lại dấu chân…trở lại với tôi. Ý thơ Chim Hồng bay đi để lại dấn chân chim trên tuyết làm tôi nghĩ;

“Mình không phải là chim Hồng nhưng mình cũng để lại những hình ảnh, những việc làm, những thái độ trong tù của mình trong ký ức các bạn tù. Không mong được các bạn khen, mình chỉ cần khi mình ra khỏi tù, có ai hỏi mình sống trong tù ra sao, các bạn tù của mình trả lời;

“Tên đó tạm được. Không đến nỗi hèn.”

Buổi sáng tháng tận, năm cùng nơi xứ người, cuộc sống của vợ chồng tôi leo lét như ngọn đèn cạn dầu, tình cờ tôi tìm thấy trên Internet, và trên blog “hoanghaithuy.com” của tôi, một số bài viết về Duyên Anh. Tôi cảm khái khi thấy những bài viết này có hình ảnh dấu chân Chim Hồng trên tuyết. Mời quí vị đọc:

Trích “hoanghaithuy.com.”

Duyên Anh, ảnh ghi khi tay phải Duyên Anh đã bị liệt.

Duyên Anh, ảnh ghi khi tay phải Duyên Anh đã bị liệt.

Phương Lê,. September 13, 2011:

Ông bố tôi là nhân viên Sở Tâm Lý Chiến, Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Thuở ấy tôi mê đọc tiểu thuyết của Duyên Anh. Đầu óc tôi đầy hình ảnh những tay  giang hồ du đãng là những nhân vật trong những truyện ăn khách đương thời của Nhà Văn Duyên Anh như “Điệu ru nước mắt”, “Vết thù trên lưng ngựa hoang”, “Luật hè phố” v..v… Chị tôi mê đọc những tiểu thuyết của Lệ Hằng.

Thấy chị em tôi đọc những tiểu thuyết ấy, Bố tôi thở dài, ông nói : “Người ta bảo: con trai không nên cho đọc Thủy Hử, con gái không nên cho đọc Thúy Kiều; đó là chuyện người xưa, nay tao thấy: con trai không nên cho đọc Duyên Anh, con gái không nên cho đọc Lệ Hằng!”.

Khi nghe tôi hỏi ông về Duyên Anh, ông đáp ngay:

“Thằng đó già họng, già hàm lắm!”.

Tây Độc, September 13, 2011:

Hình như “Luật Hè Phố” sau này đổi thành “Giấc mơ một loài cỏ” phải không quý vị?
Tôi thấy cái tựa “Giấc mơ một loài cỏ” hay hơn “Luật Hè Phố” nhiều.
Nhận xét Duyên Anh là người kiêu ngạo rất chính xác. Đọc “Nhìn lại những bến bờ…” và quyển hồi ký ông viết về những năm ông bị tù cải tạo thì thấy rõ điều đó.
Có lẽ vì hăng chửi người khác và tự coi mình quá quan trọng nên ông bị người ta đánh chăng?
Tuy nhiên, ai mà chẳng có tật xấu. Dù gì thì Duyên Anh cũng là người chống Cộng nhiệt thành và là nhà văn có tài, có nhiều độc giả.

Nguyễn Việt Hùng, September 16, 2011

Nhân vô thập toàn, Duyên Anh cũng thế. Con người của Duyên Anh chắc cũng đầy những tính tốt và tính xấu. Như mọi người thôi. Nhưng xuyên qua tất cả những tác phẩm của ông, theo tôi Duyên Anh là nhà văn tài năng và đầy sức sáng tạo. Duyên Anh còn là người chống Cộng mãnh liệt và có lòng yêu nước nồng nàn. Cho dù những tác phẩm viết về giới du đãng của ông đầy những tư tường bi phẩn và nổi loạn, nhưng cũng mang đầy tính nhân văn. Ông là một trong số ít ỏi những nhà văn VN có  những tác phẩm được dịch ra ngoại ngữ. Là kẻ hậu sinh, khi Duyên Anh là nhà văn nổi tiếng, tôi chỉ là cậu học sinh tiểu học, nhưng tôi thấy dù yêu hay ghét Duyên Anh, người ta cũng phải công nhận ông đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học Việt Nam. Duyên Anh đã mất, “nghĩa tử là nghĩa tận”, những phán xét về ông nên thật công bình.

TTLan-Paris, September 20, 2011

Đọc những chuyện ‘Làng Văn, Làng Báo’ trước 75, làm cháu nhớ quê hương quá, những năm tháng mới lớn và bắt đầu mê đọc tiểu thuyết…Báo Con Ong, Báo Đời, báo Sống, báo Xây Dựng, báo VNTP… gợi lại trong hồn cháu bao kỷ niệm của Sài Gòn mến yêu. Bác CTHĐ nhắc đến chú Duyên Anh, nhà văn mà cháu đọc ngấu nghiến tất cả những văn phẩm của ông viết cho tuổi thơ. Quyển cháu thích nhất là “Dzũng Đakao.” Chẳng hiểu tại sao, có những từ ngữ chú DA chế ra như “cho ăn bát cơm nguội”, ‘lang bang sì-cun (school)’ đã mãi mãi ở lại trong đầu cháu. Ai nói gì hay phê bình sao về DA thì nói, đối với riêng cháu, chú DA là một người mà cháu khâm phục, là người mà cháu tôn làm Thầy trên cả thầy. Theo cháu,  kể tật chú DA là ‘kiêu ngạo’ không hẳn đúng, “khó tính” hay “già mồm” cũng vậy. Theo cháu,  DA “ngông”, ngông như Cao Bá Quát, chẳng sợ ai, chẳng cần ai, vì ngông mà gây nên nhiều ác cảm. Nhưng nếu gần  và quen biết DA rõ hơn thì mới thấy là cái tài nó quá to so với cái tật. Từ năm mới lên 8 khi cháu vào nhóm Tuổi Thơ của báo Xây Dựng do chú DA phụ trách đến những năm cuối cùng tại Paris, cháu thấy chú DA trước sau vẫn vậy, lúc nào cũng có vẻ như có chuyện gì bực mình, bất mãn, khó chịu… nhưng khi hỏi ra thì là vì trong đầu ông lúc nào cũng có dăm ba quyển sách đang đua chen nhau, hay đang vùng vẫy muốn ra đời…Cháu sẽ mãi mãi nhớ chú DA với mày trau và nạng chống, với việc viết đến chết, viết tay phải không được thì chuyển sang viết bằng tay trái.  Vì không viết thì cái đầu ông nó sẽ nổ tung, trái tim ông sẽ ngưng đập, vì ông phải viết lên hết những tội ác của Cộng Sản!

Cám ơn chú Duyên Anh, cháu mong chú an nghỉ mãi mãi, không còn gì làm cho chú bực mình nữa hết!

H.Uyen, September 22, 2011

Rất đồng ý với Nguyễn Việt Hùng và TTLan-Paris.
Đã có 1 thời,tuổi thơ VN thiếu “món ăn tinh thần”. Sách dành cho thiếu nhi thời xưa ấy quá ít .Cho nên với “Con sáo của em tôi”,”Con Thúy”,”Thằng Côn”,“Chương Còm”..v.v.. Duyên Anh đã nổi tiếng.Và sau 1975,ông vẫn còn nghĩ đến tuổi trẻ với tác phẩm “Đồi Fanta”.  Nguyễn Anh Thăng, September 25, 2011

Trích trong “Paris Mùa Xuân” Tác giả Nguyên Vũ:

Năm 1982, khi qua Paris du khảo lần đầu để chuẩn bị luận án viết tại Đại học Wisconsin-Madison, tôi được đọc tập “Bút Không “của Phan Nhật Nam, cùng nhiều thư riêng của Dê Húc Càn, tức Lão Húc Dương Hùng Cường – ông nhà báo, nhà văn gốc Không Quân một thời nếm mùi rệp rận của trại giam An Ninh Quân Đội tròn bốn tháng chỉ vì trót rủ Vương Sơn Thông, gã dân biểu gia nô gốc thợ chụp hình tỉnh Quảng Đức tới ngồi chung bàn với anh em Nhảy Dù chúng tội. Tôi cũng biết Đạo Cù Trần Tam Tiệp có “hộp thư” làm việc ngay tại Ty Bưu Điện Sai Gòn, nhờ vậy việc chuyển quà, tiền, và tài liệu giữa TT Tiệp, Paris, và một số văn nghệ sĩ Sài Gòn được giữ bí mật khá lâu

Nhưng sau đó vài tên ăng-ten ở Paris, kể cả “nhà văn của tuổi trẻ” và “tuổi ô mai” kiêm ký giả Thương Sinh – chuyên viên chửi thuê, nịnh mướn lừng danh ở Sài Gòn – đã mật báo với VC về đường dây liên lạc của ông TT Tiêp. Vì thế một số văn nghệ sĩ bị  VC  bắt giam như Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy, Doãn Quốc Sỹ …

Ngưng trích.

Đoạn văn trên trích từ trang 149 tập tâm bút mang tên “Paris, Mùa Xuân”, tác giả Nguyên Vũ, nhà xuất bản Văn Hoá, Houston, USA, 1988

Trích “hoanghaithuy.com”

Mai Đừc Độ, September 27, 2011

Nếu quả thật đoạn văn trên trích từ cuốn sách của ông Nguyên Vũ, thì thử hỏi sự kiện những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, bị cộng sản bắt tù vì bị nhà văn Duyên Anh “mật báo về đường dây liên lạc với ông TT Tiệp” có thể tin nổi không? CS phải cần đến DA mới phát hiện ra đường dây của ông Tiệp!? Thiệt là bullshit. Người chết thì đã.. chết rồi, tranh cãi thì cũng chằng làm gì. Nhưng thối quá, không lên tiếng không được.

TTLan-Paris, September 28, 2011

Gửi: @Nguyễn Anh Thăng,
Anh bới những chuyện có lợi cho CS, để nói xấu DA, một người từng đem phô bày tội ác CS qua bao nhiêu sách báo! Thế thì rõ là anh là người thế nào…
Đồng ý hoàn toàn với anh Mai Đức Độ : “Thối quá, không lên tiếng không được”. Ngay cả CTHĐ HHT, cũng đã viết về DA như sau:

“Những năm 1987, 1988 Duyên Anh bị đánh ở Cali, liệt nửa người. Oan nghiệt dễ sợ.”

Chắc NAT không đọc hay không biết đọc sao?
Mai Đừc Độ, September 29, 2011

Gửi bạn @Nguyen Anh Thang: Tôi và DA chẳng hề quen biết nhau. Giữa DA và tôi có cả một thế hệ đệm. Tại sao tôi lại phải “bênh vực” DA? Tôi đã đọc qua tất cả những lời cáo buộc DA làm “ăng ten cho CSVN” của Tạ Tỵ, Mai Thảo, Trần Tam Tiệp, hay của ông Tiến Sỉ Vũ Ngự Chiêu. Tất cả những người cáo buộc DA đều không từng có một ngày nào ở tù với ông ta. Họ đều chỉ dựa vào những tin đồn không căn cứ, chỉ dựa vào những chuyện “nghe người ta nói” rất mơ hồ.

Có một nhân chứng rất quan trọng là họa sĩ Đằng Giao (con rể của Nhà văn Chu Tử) là người cùng ở tù một trại, một phòng giam với DA là có thể cáo buộc hay minh oan cho DA, nhưng Đằng Giao lại chọn thái độ im lặng. Trong một lần Đằng Giao qua Mỹ để bán tranh, khi được hỏi về những lời cáo buộc DA, Đằng Giao đã nói đại ý :

“DA chẳng liên quan gì đến cái chết của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn ở Xuyên Mộc. Trong tù CS, chẳng có  người tù nào có thể làm “ăng ten” để hại cho người tù khác chết cả.”

Có thể vì Đằng Giao còn kẹt lại trong nước, nên rất khó cho anh ta có thể viết bài minh oan cho một người bị CS ghét cay ghét đắng. Ở xứ tự do, ngay cả khi bạn bị cảnh sát bắt tại trận vì một lý do gì đó, truớc khi bị xét xử, bạn vẫn được cho là vô tội. Vậy mà bạn chỉ dựa vào vài trang báo, vài lời cáo buộc vu vơ, mà bạn đã nói chắc như đinh đóng cột rằng DA là “ăng ten cho CS”!!! Tôi chỉ muốn nhắc bạn 1 điều là khi chưa có bằng cớ xác đáng thì đừng nên kết tội người khác. Trên đời này có quả báo đó bạn. Chúc bạn luôn vui.

Nguyen Anh Thang, September 29, 2011

Bạn Mai Đức Độ viết:

“Ở xứ tự do, ngay cả khi bạn bị cảnh sát bắt tại trận vì một lý do gì đó, truớc khi bị xét xử, bạn vẫn được cho là vô tộị Vậy mà bạn chỉ dựa vào vài trang báo, vài lời cáo buộc vu vơ, mà bạn đã chắc như đinh đóng cột rằng DA là “ăng ten cho CS”!!! Võ Đại Tôn, người dám về nước kháng chiến và chịu tù tội cũng một thời bị “chửi là Võ Đại Bịp”. Tôi chỉ muốn nhắc nhở bạn 1 điều là khi chưa có bằng cớ xác đáng thì đừng nên kết tội người khác. Trên đời này có quả báo đó bạn. Chúc bạn luôn vui”.

  1. “Bạn đã chắc như đinh đóng cột rằng DA là “ăng ten cho CS”” Bạn tìm ở đâu ra câu nói trên của tôi? Xin trích ra giùm
  2. “Tôi chỉ muốn nhắc nhở bạn 1 điều là khi chưa có bằng cớ xác đáng thì đừng nên kết tội người khác” Tôi trả lại câu này cho bạn, tuỳ nghi xử dung. Chắc bạn còn nhớ tựa đề một tiểu thuyết của Nhà văn Tuý Hồng có thể ứng dụng vào trường hợp này: “Tôi nhìn tôi trên vách”.

Tại sao nhà văn HHT bị tù CSVN hai lần mà không bị ai “tố điêu” là ăng- ten của CSVN, mà nhà văn Duyên Anh lại bị? Đây là câu hỏi chứ không phải là khẳng định của tôi.  Đừng vội bảo tôi là người nói “chắc như đinh đóng cột rằng DA làm “ăng ten cho CS” ”

Mượn lời Thánh Kinh, xin chúc “Bình An cùng bạn” Thời gian sẽ trả lời vấn nạn “DA có làm ăng ten cho CSVN” không. Đối thoại nên bình tĩnh khi người khác nói những gì trái với điều mình tin Thế mới đáng công mình bỏ xứ ra đi tìm tự do, phải không bạn ? Tôi sẽ không post ý kiến ý cò gì về chuyện này nữa . Post chuyện khác vui hơn, không có “căng.”

Duyên Anh trên Internet:

Duyên Anh (1935-1997) là nhà văn, nhà báo, nhà thơ hoạt động ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và ở hải ngoại sau năm 1981.

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác của ông là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông học tiểu học và trung học ở Thái Bình và Hà Nội.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi-ta, dạy sáo.

Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt tác phẩm tiểu thuyết Thằng CônThằng VũCon Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt, giọng văn tha thiết, nhẹ nhàng và tình cảm.

Sau đó ông trở thành ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây DựngSống,Chính LuậnCông LuậnCon OngTuổi Ngọc

Có một dạo, Duyên Anh viết về giới giang hồ, bụi đời trong xã hội trước năm 1975. Trong một số tác phẩm  Duyên Anh ca ngợi lối sống phóng khoáng, bất cần đời của giới trẻ bị bế tắc trong xã hội. Tuy nhiên những tác phẩm ấy vẫn thấm đậm một tính cách nghĩa khí và các nhân vật của Duyên Anh đều sẵn sàng chết vì tình nghĩa và chữ tín của mình. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, cùng với Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh bị VC gọi là một trong 10 nghệ sĩ nêu danh là “Những Tên Biệt Kích của Chủ Nghĩa Thực Dân Mới Trên Mặt Trận Văn Hóa - Tư Tưởng.” Tất cả những tác phẩm của Duyên Anh đều bị cấm lưu hành.

Ngày 8 tháng 4 năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam (tháng 4, 1976). Ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ông vượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông  có làm thơ và soạn nhạc.

Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này.

Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

Gần như có hai con người đối lập trong ông. Một Duyên Anh nhà văn có lối viết nhẹ nhàng, trong sáng, mơ mộng, đầy ấp tình người. Và một Duyên Anh nhà báo ngổ ngáo, tai tiếng, lắm kẻ thù với những bài viết sống sượng và cay độc. Ông được đánh giá là một nhà văn, nhà báo có chỗ đứng cao trong văn học nghệ thuật Việt Nam, sức sáng tạo dồi dào: ông có 34 năm cầm bút với 101 tác phẩm được viết và xuất bản.

Duyên Anh viết trong Lời Tựa Hồi Ký Nhà Tù

Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Con người sinh ra là để chịu đựng mọi hệ lụy. Từ đầu đường oan nghiệt, tôi khởi sự khóc và tôi sẽ gục ngã ở cuối đường oan nghiệt. Từ đấy, theo tôi, là những cái mộ u cao hơn, nhiều chông gai hơn những cái mộ u khác dốc dài sau đó. Vượt qua hay chẳng vượt qua thì rồi cũng chết. Có những cái chết thật vô tích sự và mục rã như có cây tàn tạ. Có những cái chết được phục sinh. Chinh ý nghĩa của sự sống đã phục sinh sự chết. Ý nghĩa ấy nảy mầm trong lòng những cái mộ u cao nhất của sầu đạo và mầm ấy chổi lên mặt đất, chổi lên mãi thành cây nhân sinh xum xuê lá cành xanh mướt, trĩu nặng trái chín vàng mộ bằng sự phấn đấu can đảm của con người vượt qua mộ u. Nhà tù nào cũng chỉ là một xã hội thu hẹp. Nó nhỏ bé nên nó sinh động vô cùng. Nó gần gũi nên nó lột trần muôn mặt. Nó đầy rẫy ti tiện bẩn thỉu. Nó cao thượng và nó thấp hèn. Nó phản phúc đáy tim và nó sắt son đầu lưỡi. Nó đố kỵ ban đêm và nó hòa hoãn ban ngày. Nó anh hùng trong bóng tối và nó khiếp nhược ngoài ánh sáng. Nó tạo dựng ngộ nhận, vu khống, chup mũ và hành hạ lẫn nhau, bởi quan điểm cũ kỹ, bởi lập trường sắt máu, bởi sự ngu xuẩn, bởi máu lãnh tụ và bởi cả một điếu thuốc lào, một cục đường hay một miếng thịt chia chẳng đồng đều! Nhà tù không dạy con người một bài học cao quý nào cả. Con người đã tự học ở sự tủi nhục, ở nơi cay đắng trong nhà tù. Để biết chịu đựng. Để biết coi thường tất cả. Để biết thương xót.

Không ai thích vào tù, dù chết trong tù sẽ thành liệt sĩ hoặc ra khỏi tù sẽ thành dũng sĩ. Sát nhân cũng sợ tù. Vĩ nhân cũng sợ tù. Đại đức cũng sợ tù. Linh mục cũng sợ tù. Các nhà cách mạng càng sợ tù hơn. Bởi thế, nguc tù không bao giờ là thành tích vĩ đại để khi thoát khỏi nó, người ta vỗ ngực khoe khoang, người ta quảng cáo nó như một món hàng thương mại, người ta xử dụng nó như một phương tiện bước vào chính trường. Như những người thật thà với chính mình, tôi rất sợ tù đầy. Tôi ở lại Việt Nam vì vụng về trong mưu toan chạy trốn. Tôi không bao giờ có ý ở lại để làm chứng nhận lịch sử. Công việc phi thường nầy dành cho người khác. Tôi ở lại và tôi bị bắt bỏ tù. Tôi thành người tù. Khi được thả về, nghĩa là khi biết mình chưa chết, tôi mới dám nghĩ tới những năm tù đầy bất hạnh của tôi là hạnh phúc cho riêng tôi, cho những cuốn tiểu thuyết tôi sẽ viết mai nầy.

Tôi xin nhắc lại: Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Nhưng tại sao tôi lại viết?

Tháng 10 năm 1983, tôi đến Paris như một thuyền nhân buồn.. Nhiều bạn tôi, những người đã cứu tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản, hay tin tôi có mặt tại Pháp, tới thăm tôi, chia nỗi vui mừng với tôi. Tất cả các bạn đều hỏi tôi về đề lao Gia Đình, về Sở Công An, về khám Chí Hòa, về các trại tập trung và những hình phạt mà những tù nhân phải chịu đựng năm nầy qua năm khác, và suốt một kiếp người. Họ hỏi tôi về những người trí thức Việt Nam vì đấu tranh cho nhân quyền mà bị tù, lưu đầy, phát vãng. Họ hỏi tôi về những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, những tù nhân tư tưởng của thời đại khốn kiếp của chúng ta. Tôi bỗng thấy tôi có bốn phận viết hồi ký. Hồi ký của tôi sẽ không phải chỉ là bản báo cáo những nỗi khổ lê thê và riêng tư trong số phận văn nghệ sĩ, trí thức Quốc Gia VNCH. Cũng không phải là những trang ngục sử ca ngợi các vị anh hùng không bao giờ có trong những nhà tù cộng sản. Tôi có tham vọng, trong hồi ký của tôi, diễn tả cái thủ thuật gian ác và hèn mọn của chủ nghĩa cộng sản là triệt để khai thác sự yếu đuối của con người, đe dọa, khủng bố để con người khiếp nhược, đánh vào dạ dày con người bằng roi gạo để con người thành đê tiện và tạo mâu thuẫn để con người thù hằn con người. Những tù nhân Việt Nam, đã chết, sắp chết hay sẽ chết vẫn tồn tại với định nghĩa làm người rực rỡ. Trong thống khổ và cô đơn.

Hồi ký của tôi gồm 2 cuốn. Cuốn thứ nhất mang tên NHÀ TÙ. Cuốn thứ hai mang tênTRẠI TẬP TRUNG. Như đã trình bày, nhà tù là một xã hội thu hẹp, nó gần gũi nên nó tự lột trần muôn mặt. Tôi có gắng ghi chép thật trung thực cái muôn mặt đỏ của Nhà Tù.

Montreuil, Tháng Giêng, 1984.

Duyên Anh

Yêu thương tặng Nguyễn Ngọc Phương, nhà tôi, người đã tốn nhiều nước mắt nuôi chồng tù

Duyên Anh

CTHĐ: Xin quí vị bạn đọc có ý kiến về Duyên Anh qua những dấu chân chim Duyên Anh để lại trên đây. Tôi viết thêm:

Tổ chức phản gián của Cộng Sản Hà Nội tìm ra mối liên lạc giữa ông Trần Tam Tiệp ở Paris và một số văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Duyên Anh không dính líu gì vào vụ này. Duyên Anh đi chui thoát khỏi Sài Gòn năm 1983. Nếu DA đi không thoát, anh đã bị bắt Tháng 4-1984 cùng với Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sĩ. Ra tòa anh có thể bị tụi CS phang án tù 10 năm khổ sai. Và nếu năm 1984 anh bị án tù 10 năm khổ sai, tai họa anh bị đánh đến liệt nửa người ở Cali năm 1988 đã không xẩy ra.

Duyên Anh không có tội gì trong cái chết trong tù của anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh Côn chết ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc vì anh đòi được trả tự do, anh tuyệt thực, bọn Cai Tù giam anh riêng một nơi, chúng không cho anh uống nước.

Duyên Anh là văn nghệ sĩ Việt Nam duy nhất bị người Việt Nam đánh đến bại liệt nửa người. Tai họa đến với Duyên Anh trên đất Hoa Kỳ. Không biết, không tìm ra ai đánh Duyên Anh trên đường phố Cali.

o O o

Nguyễn Du làm thơ vịnh Văn Thiên Tường, tác giả “Phi hồng đạp tuyết nê.”

Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng

Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên,

Thừa Tướng cô trung vạn cổ truyền.

Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ.

Trùng lai Giang Tả hựu hà niên?

Ai trung xúc xứ minh kim thạch.

Oán huyết qui thời hóa đỗ quyên.

Nam Bắc chí kim vô dị tục,

Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền.

Dịch nghĩa:

Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng

Quang cảnh núi sông vẫn như xưa.

Lòng cô trung của Thừa Tướng truyền la6i vạn năm.

Qua sông Hoài là không còn đất nước cũ.

Biết bao giờ trở về Giang Tả?

Nỗi thương cảm thốt ra thành thơ như tiếng vàng đá.

Máu oan lúc trở về hóa thành chim đỗ quyên.

Ngày nay phong tục Nam Bắc không còn khác nhau nữa.

Dưới bóng chiều tà, thuyền ngược xuôi tấp nập trên sông.

Hoàng Hải Thủy phóng tác:

Nhớ Văn Thừa Tướng

Núi sông, trời đất vẫn xanh ngời.

Thừa Tướng lòng trung sáng vạn đời.

Giang Tả đi rồi, hồn trở lại.

Sông Hoài qua đó, đất  xa khơi.

Ngậm máu bay về, chim gọi nước.

Thơ vàng thương cảm tiếng vang trời.

Nam Bắc bây giờ không khác nữa,

Bóng chiều rơi xuống mũi thuyền người.

Văn Thiên Tường – 1236-1263 – Thừa Tướng triều Tống. Quân Nguyên vào chiếm miền Bắc Trung Hoa, triều đình Tống chạy xuống miền Nam Trung Hoa. Văn Thiên Tường cầm quân chống cự. Ông thua trận, bị quân Nguyên bắt sống. Vua Kim muốn ông đầu hàng, muốn dùng ông, ông không chịu hàng. Bị giam bốn năm ông vẫn không chịu hàng. Ông bị giết năm ông bốn mươi bẩy tuổi.

o O o

Ở đời ta nên sống như thế nào?

Nên như chim Hồng đi trên tuyết.

Chim để dấu chân chim trên tuyết.

Chim bay đi không cần biết sang đông hay về tây.

Chiều cuối năm Ta, đầu năm Tây, người viết thấy lạnh và cô đơn. Lạnh trong không gian, lạnh trong lòng. Cô đơn trong không gian, cô đơn trong hồn.

Chuyện xưa quá là xưa. Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Trần Tam Tiệp, Dương Hùng Cường như những cánh chim đã bay đi, chỉ còn những nét chữ của họ để lại trên mặt giấy.

Thơ Văn Thiên Tường;

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?

Lưu thử đan tâm chiếu hãn thanh.”

Xưa nay có ai là người không chết?

Hãy để lại tấm lòng son trong sử xanh.

Ta không phải là chim Hồng, ta là chim Sẻ, ta  để lại những chữ viết của ta trên trang giấy này.

Cảm khái cách gì!

THÁNG TẬN, NĂM CÙNG

Minh Đăng Khánh chết sau 5 năm bị bại liệt.Ảnh trong Tiệm Kem Mai Hương, Sài Gòn năm 1957.

Minh Đăng Khánh chết sau 5 năm bị bại liệt.Ảnh trong Tiệm Kem Mai Hương, Sài Gòn năm 1957.

Chiều nằm ngủ trên thành cửa sổ,
Người ngồi ôm chăn mỏng nhớ đời…

Thơ Thanh Tâm Tuyền.

Chiều nằm ngủ trên thành cửa sổ phòng bệnh Nhà Thương Lao Phổi Hồng Bàng, Sài Gòn.

Người ngồi ôm chăn mỏng nhớ đời là Thi sĩ Quách Thoại.

Buổi sáng năm cùng, tháng tận ở quê người, trước khung hình computer,  tôi buồn vời vợi. Buồn và tuyệt vọng. Cuộc sống không còn có gì cho tôi vui. Mùa đông Virginia, tuyết làm duyên, vườn đất Virginia mùa đông cũng có tuyết, nhưng tuyết làm cảnh, tuyết thoáng qua, như  không lẽ Virginia Mùa Đông lại không có tuyết. Christmas 2014 Virginia không có một cánh hoa tuyết.

Trong phòng ấm, ly cà phê nóng, màn ảnh TiVi trình diễn những khuôn mặt phụ nữ Mỹ trẻ, duyên, hấp dẫn, những chuyên viên xướng ngôn TiVi tiếng Mỹ được gọi là những anchor; người đàn bà sống với tôi trong 60 năm ngồi với ly cà phê bên tôi.

Buổi sáng lúc 5 giờ, trong căn phòng Housing for Seniors Low Income  – tôi trở dậy. Tôi pha ly cà phê cho tôi, tôi làm sẵn ly cà phê đợi vợ tôi dậy là pha nước sôi. Chúng tôi bắt đầu một ngày sống bên nhau. Có nàng sống chung,  tim tôi vẫn nặng. Tim tôi nặng vì tôi biết tôi không còn được sống với nàng bao lâu nữa. Chúng tôi có thể vĩnh biệt nhau bất cứ lúc nào. Một sáng nào đó trong căn phòng người lưu vong đầy ắp kỷ niệm, nàng không dậy nữa.

Thế là xong. Tôi biết cảnh đó sẽ đến, sắp đến, nhưng tôi không thể tưởng khi nàng không trở dậy, đứng bên giường nàng tôi sẽ nghĩ gì, tôi sẽ làm gì. Tôi sợ tôi phải sống không có nàng. Tôi không thể sống không có nàng.

Tôi nhớ lại những buổi sáng năm xưa tôi trở dậy trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi rừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng, ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách –  ca nước rô-bi-nê để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá.., tù không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng sà-lim ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng cuối năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.

Buổi sáng năm cùng, tháng tận hôm nay, tôi vào kho Ký Ức, tìm lại hình ảnh những người bạn tôi đã từ bỏ cõi đời này kể từ Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tháng tận, năm cùng, Tết sắp đến. Viết về những Người Bạn Đã Chết – theo tôi – là đúng Sách Vở. Tôi núp sau câu “Sinh Dữ, Tử Lành.” Ông cha tôi nói theo kinh nghiệm:

“Nói chuyện Sinh Đẻ là không nên, nói chuyện Chết là tốt..”

Tại sao ông cha tôi lại quả quyết như thế? Tôi không biết.

Người bạn nào của tôi ra đi trước nhất sau Tháng Tư 1975? Tôi nhớ có thể không đúng. Đành nhớ ai viết về người ấy, đành nhớ chuyện gì viết về chuyện ấy.

“Tuổi phong sương anh vẫn gắng quay về..”

Anh Già Tám Bó vất vả gượng nhớ, gượng kể những chuyện xẩy ra từ 40 năm xưa, làm sao anh kề đúng chăm phần chăm? Nếu có kể sai, xin bỏ qua. Cám ơn.

Ảnh nhỏ: Văn Quang năm 2005.

Ảnh nhỏ: Văn Quang năm 2005.

Trước năm 1975 tôi đưa tiễn hai người đến nơi an nghỉ cuối cùng: anh Nguyễn Đức Quỳnh, anh Từ Chung. Nhà Văn Nguyễn Đức Quỳnh là đàn anh tôi. Tôi không được thân với anh. Nên khi đưa anh đi đến nơi anh an nghỉ ngàn đời, tôi không có gì đáng gọi là xúc động. Những năm 1968, 1969 – Tết Mậu Thân – tôi sống trong căn nhà nhỏ cạnh nhà Duy Sinh – Nhà  Số 19 hay nhà Số 21 đường Hồ Biểu Chánh – có lần anh Quỳnh đến ở chơi nhà Duy Sinh, con anh. Duy Sinh thường gọi tôi sang ăn cơm với anh. Một lần anh Quỳnh bảo tôi:

“Tôi nghe tiếng máy đánh chữ của anh vọng sang; biết anh đang viết, tôi rất thích.”

Tôi bằng tuổi Duy Sinh, tôi mày tao với Duy Sinh. Lẽ ra tôi phải gọi anh Quỳnh là bác, nhưng anh vẫn  cho tôi gọi anh là anh. Ngôn ngữ trong giới văn nghệ là như thế. Mày tao với anh con, anh tôi với ông bố bạn.

Duy Sinh kẹt lại ở Sài Gòn, anh và gia đình vượt biên sang Mỹ khoảng năm 1978. Nghe nói những năm đầu Duy Sinh nổi tiếng với danh vị chủ báo. Năm 1995 tôi đến Cali, gặp lại nhiều anh em, nhưng tôi không gặp lại Duy Sinh. Từ mấy năm nay tôi nghe nói Duy Sinh yếu, lãng trí, hay mặc áo thun, quần cụt đi ra đường.

Qua Duy Sinh tôi được quen với Lê Trọng Nguyễn. Từ năm 1980 đến năm 1984 là năm Lê Trọng Nguyễn và vợ con anh sang Mỹ. Nguyễn và tôi rất thân nhau. Gần như chiều nào chúng tôi cũng gặp nhau. Chúng tôi thường trên hai xe đạp, đến ngồi uống rượu ở quán rượu nghèo ven đường xe lửa Cổng Số 6. Quán rượu này có thể được gọi là quán rượu nghèo nhất thế giới.  Rựơu đế 1 đồng một ly, nhâm nhi với lạc rang 1 đồng một gói. Mỗi chiếu-tối ngồi quán nghèo như thế chúng tôi chi khoảng 10 đồng: 4 ly rượu, 4 gói lạc rang.

Tôi có mấy câu thơ tặng Nguyễn:

“Xót mày dạ trúc, lòng tơ
Họa cung đàn mọi bây giờ hẳn đau.
Tóc chia hai thứ trên đầu.
Thương thì đã muộn mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo. “

Vợ Nguyễn được gia đình bảo lãnh sang Mỹ, Nguyễn đi theo vợ con. Năm 1995 khi vợ chồng tôi đến Cali, Nguyễn chỉ phone nói chuyện với tôi, tôi không được gặp lại Nguyễn ở Mỹ.

Từ Chung từng là bạn mày tao với tôi thời nhật báo Ngôn Luận. Từ ngày Nhật báo Chính Luận ra đời, Từ Chung và tôi xa nhau. Đời anh lên hương, lên dốc, đời tôi xuống dốc không phanh. Trong đám người đưa tiễn Từ Chung, tôi thấy tôi là người xa lạ, người bị bỏ quên.

Chính Luận là tờ báo duy nhất kể từ ngày Việt Nam có nhật báo cung cấp dịch vụ y tế cho nhân viên. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm được mời làm y sĩ cho nhân viên báo Chính Luận. Nhân viên Chính Luận đau ốm được đến phòng mạch của BS Phiếm, khám chữa bệnh miễn phí. Nhà báo đài thọ chi phí thuốc men cho nhân viên. Nhà báo vẫn tháng tháng trả lương Cố Thư Ký Tòa Soạn Từ Chung cho bà vợ của Từ Chung. Trả lương đều cho đến ngày bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn. Trong lịch sủ nhật báo Việt Nam chỉ có nhật báo Chính Luận trả lương đều cho vị Thư Ký Sáng Lập đã chết.

Cảm giác bị đời bỏ quên năm xưa ấy trở lại với tôi trong buổi ký giả Phạm Trần tổ chức buổi gặp lại anh Huyền Vũ. Trước ngày Nhật báo Sàigonmới bị bóp cổ chết – Tháng Tư 1964 – ký giả Huyền Vũ là biên tập viên mục Thể Thao Sàigònmới. Mỗi tuần ít nhất là hai, ba buổi sáng tôi được gặp anh ở tòa soạn báo. Anh đến tòa báo viết tin. Anh đi khỏi Sài Gòn trước Ngày 30 Tháng Tư 1974. Sang Mỹ anh sống ở Ocean City, một thị trấn ven biển cách Washington DC khoảng ba giờ chạy xe. Ngày tôi mới đến anh có gọi điện thoại hỏi thăm tôi. Ngày tháng qua mau. Trong buổi gặp lại anh, tôi tưởng trong số người được ban tổ chức mời kể vài kỷ niệm xưa với anh Huyền Vũ thể nào cũng có tôi. Tôi là người duy nhất trong số người đến gập anh lần cuối ấy từng làm việc với anh trong một tòa báo. Nhưng tôi đã bị bỏ quên. Người ta mời nhiều người kể kỷ niệm với anh Huyền Vũ, người ta không mời tôi. Hôm ấy tôi đến gần anh Huyền Vũ, cúi xuống bên anh, nói nhỏ:

“Anh Huyền Vũ, tôi là Hoàng Hải Thủy. Anh nhớ tôi không?”

Anh nói bốn tiếng:

“Làm sao quên được.”

Anh ra đi vài tháng sau đó.

Chú Tư Cầu Lê Xuyên và Ký giả Hồng Dương; ảnh chụp năm 2005. Nhà Văn Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè, Ký giả Hồng Dương từ Cali về thăm Sài Gòn. Nay Nhà Văn Lê Xuyên đã ra người thiên cổ, Ký giả Hồng Dương bị stroke.

Chú Tư Cầu Lê Xuyên và Ký giả Hồng Dương; ảnh chụp năm 2005. Nhà Văn Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè, Ký giả Hồng Dương từ Cali về thăm Sài Gòn. Nay Nhà Văn Lê Xuyên đã ra người thiên cổ, Ký giả Hồng Dương bị stroke.

Một trong những người bạn đồng nghiệp của tôi ra đi sớm nhất sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 là Trọng Nguyên. Anh cùng làm với tôi nhiều năm trong tòa soạn Sàigònmới. Chúng tôi trạc tuổi nhau. Khoảng năm 1977 gặp lại nhau, Trọng Nguyên cho tôi biết anh bị ung thư phổi. Tôi đến Bệnh Viện Hồng Bàng thăm anh. Rồi tôi đến Bệnh Viện Bình Dân thăm anh khi anh bị đưa đến đấy chờ giải phẫu. Lần thứ nhất tôi vào Khu Ung Thư Bệnh Viện Bình Dân thăm Trọng Nguyên. Khi ấy tôi đã sống 24 tháng trong phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Tôi thấy Khu Ung Thư ở trên lầu Bệnh Viện Bình Dân không khí ghê rợn hơn ở những phòng giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Ở phòng giam có mùi hơi người, mùi lông tóc, mùi mồ hôi, mùi cống, ở phòng Ung Thư Bệnh Viện có đủ những thứ mùi vừa kể, thêm mùi máu, mùi mủ, những người bệnh đàn ông ở trần, khoác cái khăn trước bụng.

Buổi tối, tôi đến Tang Nghi Quán Quảng Đông chào vĩnh biệt Trọng Nguyên. Linh cữu Trong Nguyên quàn ở đấy. Chị Trọng Nguyên kể:

“Buổi sáng nhà tôi bảo tôi mở tủ, lấy ra cái máy chữ và mấy quyển tiểu thuyết của anh, anh ngồi yên nhìn ngắm. Anh đi lúc bẩy giờ tối.”

Năm 1980 ở tù hai năm trở về, tôi được tin Minh Đăng Khánh bị liệt. Nghe kể anh hút điếu thuốc lào, bị sốc, ngã xuống, tỉnh lại, bị liệt nửa người bên trái. Anh ngã xuống là không tự đứng lên được, nhưng anh vẫn lết chân trái đi lại được, nhưng đi rất chậm và vất vả. Anh vẫn dậy vẽ ở nhà. Anh nói ngọng nhưng còn nói được:

Lý Thụy Ý, nữ ký giả VNCH bị bọn Bắc Cộng giam tù 6 năm vì hai câu Thơ: “Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?” Và: “Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.” Lý Thụy Ý hiện sống ở Sài Gòn.

Lý Thụy Ý, nữ ký giả VNCH bị bọn Bắc Cộng giam tù 6 năm vì hai câu Thơ:
“Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?”
Và: “Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.”
Lý Thụy Ý hiện sống ở Sài Gòn.

“Tao vào tiệm phở, người ta cho tiền tao. Tao nói: “Cám ơn.. Tôi không phải là ăn mày.”

Đưa đám Minh Đăng Khánh, tôi đứng bên anh Thiếu Lang. Anh hỏi tôi:

“Cậu có biết Hoàng Hải Thủy bây giờ ra sao không?”

Biết anh tưởng lầm, tôi hỏi lại anh:

“Anh thấy tôi là ai?”

Anh trả lời:

“Cậu là Hoàng Anh Tuấn chứ ai!”

Mạc Tử, kém Trọng Nguyên và tôi hai, ba tuổi,  làm phóng viên báo Sàigònmới cùng thời với chúng tôi. Tháng Tư 1964 Sàigònmới bị Nguyễn Khánh, Đỗ Mậu đóng cửa. Anh em chúng tôi tản lạc. Mạc Tử bị bắt đi quân dịch. Tôi nghe kể trong một cuộc hành quân, người lính Mạc Tử bị tên VC bắn sẻ bắn trúng tim. Mạc Tử chết ngay.

Anh bạn bị bại liệt thứ hai của tôi là Văn Minh, chủ nhiệm Tuần Báo Con Ong. Xước danh của anh là Minh Vồ, dù cả đời anh chẳng vồ cái gì của ai. Minh bị nằm liệt khoảng ba năm trước khi hết nợ đời.

Chú Tư Cầu Lê Xuyên bị bại liệt khoảng năm 2000. Chú là người viết tiểu thuyết duy nhất kiếm được tiền đủ sống cho riêng chú trong kìm kẹp cộng sản. Sau 30 Tháng Tư 1975 chú bị bắt tù cùng một số ký giả Sài Gòn. Được thả ra khoảng một năm sau, chú bắt tay ngày vào việc đi xe đạp sáng sớm lấy bánh tiêu, bánh bò trong Chợ Lớn, đạp xe đem đi giao khắp thành phố, buổi chiếu chú đạp xe đi thu tiền. Rồi chú làm chủ tủ bán thuốc lá lẻ vỉa hè. Chú ngồi sau tủ thuốc từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Chú kiếm tiền tuy không nuôi được vợ con chú nhưng nuôi được thân chú.

Khoảng năm 1981, hay 1982, vợ tôi không ăn được cơm. Khoảng 8 giờ tối, tôi thường xách cái gà-men ra xe hủ tíu ở vỉa hè Ngã Ba Ông Tạ mua cho vợ tôi 10 đồng hủ tíu. Một tối trời mưa lất phất, đang đứng chờ lấy hủ tíu, tôi nghe tiếng người:

“Có tiền cho tôi..”

Tôi nhận ra ngay người xin tiền tôi là Bình Đô. Anh là một trong những người sống bằng việc viết truyện ngắn bán cho tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai trong những năm tuần báo này bán chạy nhất. Bình Đô trạc tuổi tôi. Kể từ ngày nhật báo SGM bị đóng cửa Tháng Tư năm 1964 đến tối nay tôi mới gặp lại Bình Đô. Tôi hỏi anh:

“Ở đâu?”

Anh trả lời:

“Ở vỉa.”

“Ở vỉa” là đêm ngủ trên vỉa hè.

Phụ Nữ Ngày Mai là tuần báo của anh Sáu Khiết, anh con thứ sáu của bà Bút Trà. Sáu Khiết có cái tốt – tôi thấy  anh là người chủ báo tốt nhất trong đời viết, bán truyện tiểu thuyết của tôi: anh mua truyện ngắn, ký bông trả tiền ngay nhưng không đăng ngay, mua để dành. Truyện ngắn mua xong anh đưa cho Dương Hà giữ. Nhiều lần anh bảo tôi:

“Anh đưa truyện cho Dương Hà dùm tôi.”

Tôi giữ truyện, đổi tên truyện, khoảng hai tuầu sau tôi lại đem truyện ấy, với tên truyện mới, bán cho Sáu Khiết, anh dễ dàng ký bông trả tiền. Dương Hà giữ truyện của chúng tôi nhiều đến nỗi nhiều lần anh bảo:

“Truyện của chúng mày tao giữ nhiều quá. Chúng mày đến tao, tao đưa lại cho.”

Dương Hà sống nhiều năm trong một phòng cho mướn trên lầu một tòa nhà nhiều phòng ở đầu đường Hàm Nghi. Từ nhà này anh chỉ đi trăm bước là tới tòa báo SàiGònMới. Dương Hà sống với vợ ở nhà ấy trong nhiều năm. Rồi chắc nhờ công thu vén của vợ anh là Kim Lệ, vợ chồng anh có căn nhà mặt tiền đường Cao Thắng, trước cửa rạp xi-nê Đại Đồng. Khoảng năm 1980 Kim Lệ sang sống bên Pháp. Dương Hà và các con sống trong căn nhà Cao Thắng này. Tôi nghe nói khoảng năm 2000 Dương Hà bán căn nhà này, chia tiền cho các con, anh gửi số tiền của anh vào ngân hàng, tháng tháng lấy tiền lời để sống. Anh sống yên bình ở vùng Thủ Đức, sáng, trưa, chiều, tối anh ngồi quán, quanh năm anh uống bia, ăn hột vịt lộn, tôm chiên, không ăn cơm.

Dương Hà thành công, nổi tiếng ngay với tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm, tiểu thuyết phơi-ơ-tông đầu tay của anh. Bên Dòng Sông Trẹm đăng khoảng năm 1950 trên báo Sàigònmới. Từ đó anh viết truyện đều cho SGM đến khi báo bị đóng cửa.

Tôi gặp, quen Văn Quang khoảng năm 1955, 1956, khi anh là Trung Úy. Ngày chúng tôi mất nước, Văn Quang là Trung Tá. Anh – có thể – là vị sĩ quan Quân Đội VNCH duy nhất không đi Hát Ô sang Mỹ. Ở lại Sài Gòn, vào khoảng năm 2000 Văn Quang viết loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” gửi sang đăng ở những tờ báo Việt ngữ hải ngoại. Nhờ Internet, anh dễ dàng gửi bài viết ra nước ngoài. Văn Quang là văn sĩ Sài Gòn trước 1975 thứ nhất viết ra nước ngoài. Văn Quang sống được với công việc ấy. Anh là nhà văn Việt Nam Cộng Hòa kiếm được nhiều đô-la Mỹ nhất với việc Viết ở Sài Gòn Cờ Đỏ.

Tạ Quang Khôi cùng viết với tôi trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Số 1, tuần báo ra đời năm 1956. Trên Văn Nghệ Tiền Phong Tạ Quang Khôi viết tiểu thuyết “Mưa Gió Miền Nam,” tôi viết “Vũ Nữ sài Gòn.”

Nửa thế kỷ trôi qua, nay Tạ Quang Khôi tuổi đời Tám Bó Lẻ Bốn Que. Dòng đời đưa đẩy, Khôi và tôi cùng sống trong một nhà dành cho người già thu nhập thấp. Anh ở Lầu Ba, tôi ở Lầu Hai. Một mình trong phòng vắng, từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, Tạ Quang Khôi ngồi trước computer, moi móc tìm, rị mọ viết. Nghe tôi nói tôi sợ tôi không sống được nếu cuộc đời này không còn vơ tôi, TQ Khôi nói:

“Mày tưởng chỉ có mình mày yêu vợ đến muốn chết theo vợ ư? Sau ngày mất nước, vợ tao chết, tao quyết định chết theo. Đêm khuya tao sắp uống thuốc để sáng mai không dậy nữa, tao nghe tiếng con tao:

“Bố ơi… Con khát nước..”

Tiếng thằng con út của tao Năm đó nó mới bẩy, tám tuổi. Tỉnh lại, tao vứt thuốc. Sáu tháng sau tao đưa các con tao vượt biên đi thoát.”

Đây là bài Thơ Cuối Đời của Tạ Quang Khôi:

Bui ti vào giường ch ước mong
Sáng mai không dy na là xong.
Cuc đi lm ni bun tê tái,
Tha thiết chi cho nát cõi lòng.

Bao gi tôi chết, xin đng khóc
Đ níu chân tôi vướng cõi trn.
Xin hãy cười vui gi vĩnh bit,
Mng tôi đã thoát n gian truân.

Cảm khái cách gì.

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Năm Cùng, Tháng Tận 2010.

Những ngày như lá, tháng như mây…! Sài Gòn 1960, Sài Gòn Ðẹp Lắm Sài Gòn ơi.., Virginia is for American Lovers, Xứ Tình Nhân Mỹ, Kỳ Hoa Ðất Trích năm 2010.. Chiều cuối năm, 4 giờ trời đã tối… Thấm thoắt dzậy mà đã 50 muà lá rụng đi qua đời tôi kể từ ngày tôi bước chân ra khỏi tòa soạn Nhật báo Sàigònmới lần cuối cùng trong đời tôi.

Chiều nay, trong 234 sát-na tôi trở về đứng trên hành lang trên lầu toà soạn nhật báo Sàigònmới, nhìn trời Sài Gòn chiều chuyển mưa xanh sám trên chợ Bến Thành, tôi nghĩ:

- Trong một chiều trời đất buồn như thế này, Từ Hải dừng bước giang hồ để trở về với Kiều!

Tôi trở lại là tôi năm tôi ba mươi tuổi.

Năm nay tuổi đời qua giới hạn Thất Thập – nôm na là Bẩy Bó Lẻ Mấy Que – ở xứ người, một xứ cách nước tôi hai biển lớn, trong vài sát-na, tôi trở lại là tôi năm tuổi đời tôi Ba Bó.

Trong trí nhớ của tôi nay vẫn còn nguyên hình ảnh chàng phóng viên lãng tử nhật báo Sàigònmới năm xưa – năm 1960 – chàng phóng viên ăn dziện đúng mode Italie: sơ-mi hai túi ngực, hai cây bút Bi Parker cắm ở hai túi áo, một bút mực đen, một bút mực đỏ, đồng hồ tay Internamatic mua ở Bangkok, quần sanspli, giầy mocassin Trinh’s Shoes Tự Do 500 đồng một đôi – 500 đồng năm ấy là giá tiền một chỉ vàng –  trong túi áo ngực có bao thuốc điếu Lucky Strike, hay bao Philip Morris Vàng, quẹt máy Dupont Trắng dắt ở túi đựng bật lửa nơi lưng quần. Chàng phóng viên mới ba mươi tuổi mà tóc đã “không bạc, tóc chàng là tóc argenté.”

Tôi già đi nhưng chàng phóng viên ấy cứ ba mươi tuổi mãi.

Cảm khái cách gì!

CHARLIE HEBDO – SINH NGHỀ, TỬ NGHIỆP

Người Hồi Giáo- Trung Đông -  biểu tình ngày 14 January 2015 phản đối Tuần Báo Charlie Hebdo số ra sau cuộc thảm sát vẫn vẽ hình nhạo Giáo Chủ Mohammed trên bìa báo.

Người Hồi Giáo- Trung Đông – biểu tình ngày 14 January 2015 phản đối Tuần Báo Charlie Hebdo số ra sau cuộc thảm sát vẫn vẽ hình nhạo Giáo Chủ Mohammed trên bìa báo.

Sáng ngày 7 January 2015, như mọi sáng, tôi trở dậy lúc 5 giờ. Nhin qua khung kính cửa sổ ra ngoài trời, tôi thấy tuyết trắng trên Rừng Phong. Lễ Christmas năm nay Virginia is for Lovers không có tuyết. Tuyết đến Virginia chậm mất 10 ngày.

Sáu giờ sáng, bên ly cà-phê, tôi ngồi trước máy TiVi. Tất cả các Đài TiVi Mỹ cùng loan tin chính trong ngày: bọn khủng bố – 3 tên – ập vào tòa soạn tuần báo Charlie Hebdo ở Paris, chúng dùng súng bắn chết 12 nhân viên, ký giả trong tòa soạn. chúng bắn 5  người bị thương nặng. Máy thu hình tự động gắn trên mái nhà tòa báo cho thấy cảnh bọn khủng bố bận y phục đen, bịt mặt, đi trên 2 xe ô tô, xe đậu ngay trước cửa tòa soạn. Chúng vào, nổ súng giết người, rút đi. Êm ru. Thấy có cảnh người trong tòa soạn chạy ra,  bị thương, ngã trên đường, bị tên khủng bố đuổi theo, dí súng vào đầu, bắn chết.

Vụ giết người trong tòa báo Charlie Hebdo làm người thế giới chấn động. Trong nhiều năm qua ký giả, phóng viên nhà báo trên thế giới có nhiều  người bị giết chết, nhưng đó đều là những vụ giết người đơn lẻ. Vụ thảm sát trong tòa soạn tuần báo Charlie Hebdo là vụ tàn sát ký gỉả lớn nhất, tàn bạo nhất trên thế giới kể từ ngày loài người có nhật báo, tuần báo.

Tuần báo Charlie Hebdo là báo châm biếm. Báo có nhiều bài, nhiều tranh vẽ đả kích những người Hồi Giáo cực đoan, và nhạo báng Giáo Chủ Mohammed của Hồi Giáo. Trong mấy năm qua tờ báo nhận được nhiều lời đe dọa tòa báo sẽ bị phá, nhân viên bị giết. Ngày Thứ Tư 7 Janvier 2015 vụ bắn giết xẩy ra.

Tôi nhớ lại những vụ ký giả Việt Nam bị bắn chết vì nghiệp vụ của họ. Đây là vụ đáng kể nhất:

Ký giả Từ Chung bị bắn (Bài của Thụy Giao)

Trưa ngày 31-12-1965, lái xe về đậu trước cửa nhà (số 59 đường Nguyễn Lâm), vừa bước xuống xe vòng ra sau để mở cốp xe lấy tờ báo và cây viết, Từ Chung, Tổng Thư Ký nhật báo Chính Luận, bị hai cán bộ khủng bố nội thành cộng sản, chở nhau trên một xe gắn máy, rút súng bắn năm phát liền vào lưng. Từ Chung gục chết trong tay chỉ có tờ báo và cây viết ngay trước mắt đứa con trai đầu lòng 12 tuổi.

 Trong tập sách có tựa đề là “Trui Rèn Trong Lửa Ðỏ”, Đảng Cộng Sản đã kể lại thành tích dùng bạo lực giết hại những người dân vô tội của Miền Nam mà trong đó Từ Chung là một trường hợp. Thế nhưng Từ Chung là ai mà Việt Cộng phải ra tay giết hại như vậy?

Từ Chung tên thật là Vũ Nhất Huy (tên khai sinh của ông là Vũ Mạnh Sơn Nhất Huy, sau này có lẽ thấy cái tên dài lê thê quá, ông đã ra tòa xin rút ngắn lại là Vũ Nhất Huy), bị ám sát vào ngày 30-12-1965 lúc ông 41 tuổi, như vậy là nếu còn sống, năm nay ông 73 tuổi, sinh quán ở Sơn Tây, Bắc Việt Nam. Từ Chung là anh cả trong một gia đình gồm bảy anh em trai, thế nhưng chỉ có hai người anh lớn trong nhà là Vũ Mạnh Sơn Nhất Huy và Vũ Mạnh Sơn Nhị Hoàng vào được miền Nam, năm người em phải ở lại miền Bắc với cộng sản sau năm 1954. Từ Chung mất đi để lại một vợ trẻ và bốn con thơ, cháu lớn nhất mới 12 tuổi.

Sau này em Vũ Trọng Hiệp, con trai lớn nhất của Từ Chung, sau khi tốt nghiệp sĩ quan Thủ Ðức đã không chịu ở lại tiểu khu, mà xin đi chiến đấu. Vũ Trọng Hiệp đã bỏ mình tại Ban Mê Thuật năm 1975, khi vừa đúng 22 tuổi.

Từ Chung đỗ tú tài tại Hà Nội, vào Nam, ông được học bổng du học tại Thụy Sĩ năm năm và đậu bằng Tiến Sĩ Kinh Tế tại Fribourg năm 1961. Về nước, ông được Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Ðại Học Huế mời giảng dạy tại trường Luật, và sau đó được mời làm ủy viên trong Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế nhưng ông từ chối vì yêu nghề viết báo.

Từ Chung viết rất nhiều thể loại, từ điểm sách, văn chương, văn hóa đến chính trị, kinh tế v.v… nhưng nổi tiếng nhất là các bài xã luận về kinh tế. Từ Chung là người Việt Nam đầu tiên đã giản dị hóa môn học khô khan khó hiểu là kinh tế học, đưa môn học này về gần với quần chúng bình dân. Những bài xã luận của Từ Chung về kinh tế được độc giả thuộc mọi trình độ khác nhau, từ các ông giáo sư đại học, các chuyên viên kinh tế thượng thặng đến các cậu sinh viên, các bà nội trợ đều thấu hiểu tường tận những biến chuyển kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến mình. Những bài viết xã luận về kinh tế của ông thường được một số trí thức gọi đùa là “mục kinh tế chợ” đã có ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp giai cấp và thế hệ độc giả khác nhau. Về dịch thuật, Từ Chung có dịch cuốn “Bí Danh” (Secret Name) của Lâm Ngữ Ðường.

Theo tường thuật của nhật báo Chính Luận, số ra ngày 1-1-1966, một ngày sau khi Từ Chung bị ám sát, thì vào khoảng 12:20 ngày 30-12-1965, Từ Chung từ tòa soạn báo Chính Luận số 15 đường Võ Tánh trở về nhà ở số 59 đường Nguyễn Lâm thì bị hai tên khủng bổ dùng súng lục hạ sát. Từ Chung đi trên chiếc xe hơi cũ kỹ. Khu phố nhà ông lúc ấy vắng người qua lại.

Ðau xót và thảm thương nhất là em Vũ Trọng Hiệp, 12 tuổi, học sinh đệ thất, người con trai đầu lòng của Từ Chung, khi thấy xe bố về liền chạy ra cửa đón bố. Nhưng em không ra được khỏi nhà vì cửa khóa, em Hiệp nhìn thấy từ đầu đến cuối cái chết của bố em .

Em Hiệp nức nở kể lại trong tiếng khóc:

“Cháu nghe thấy tiếng còi ô tô của bố cháu. Cháu chạy ra đứng phía trong cửa để chờ bố, cháu thấy bố cháu xuống xe rồi mở thùng xe đằng sau để lấy cái gì đó. Thế rồi có hai người đi gắn máy dừng lại, cháu nhìn rõ xe hiệu Goebel sơn màu xanh. Một người xuống xe tay cầm cặp da, mặc quần mầu xanh, áo xanh lạt có sọc, trạc độ 26 tuổi. Người ấy mở cặp da lấy ra một khẩu súng và tiến lại gần bố nhắm bắn luôn mấy phát liền. Bố cháu gục xuống.

Hiệp sau này lớn lên nhập ngũ Trường Sĩ Quan Thủ Ðức, em đã hy sinh vì nước tại mặt trận Ban Mê Thuột hồi năm 1975.

Thụy Giao

o O o

CTHĐ: Những năm cực thịnh của Nhật báo Ngôn Luận – 1960-1963 – Từ Chung và tôi thân nhau. Chúng tôi mày tao. Những năm xưa ấy tôi đến tòa soạn nhật báo Sàigònmới lúc 6 giờ sáng, Từ Chung đến tòa soạn nhật bào Ngôn Luận lúc 6 giờ sáng. Làm việc đến 9 giờ sáng tôi thường ra khỏi tòa soạn lúc 9 giờ để đi ăn sáng. Có sáng vào lúc 9 giờ tôi mang mấy trang tiểu thuyết sang tòa soạn Ngôn Luận. những sáng như thế tôi thường đi ăn sáng với Từ Chung. Thường là chúng tôi ăn phở 79, rồi ra Brodard uống cà phê. Chúng tôi trở lại tòa soạn lúc 11 giờ. Buổi chiều Từ Chung và tôi lại gập nhau ở Trụ Sở Quốc Hội. Khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận cùng bị đóng cửa, Từ Chung làm tờ Chính Luận, đời tôi rơi vào mấy năm đen hơn mõm chó, Từ Chung và tôi xa nhau.

Sáu giờ sáng ngày Thứ Tư 15 Janvier 2015 người Paris xếp hàng trên vỉa hè băng giá chờ mua  báo Charlie Hebdo. Ba triệu số Charlie Hebdo bán hết trên nước Pháp trong 2 giờ. Trong ảnh: Bìa báo Charlie Hebdo số ra ngày Thứ Tư 14 Janvier 2015.

Sáu giờ sáng ngày Thứ Tư 15 Janvier 2015 người Paris xếp hàng trên vỉa hè băng giá chờ mua báo Charlie Hebdo. Ba triệu số Charlie Hebdo bán hết trên nước Pháp trong 2 giờ. Trong ảnh: Bìa báo Charlie Hebdo số ra ngày Thứ Tư 14 Janvier 2015.

Hôm nay, nhân vụ những ký giả Charlie Hebdo bị giết, tôi mời quí vị đọc chuyện những ký giả Việt Nam bị bắn chết vì nghề nghiệp của họ.

Tôi viết về những người sống bằng nghề ký giả ở Sài Gòn – một tên khác của nghề là phóng viên báo chí – và chết vì nghề ký giả ở Sài Gòn. “Chết” trong bài này là “Chết vì việc làm báo, chết vì việc viết báo của mình, chết vì bị  giết, không phải chết vì tuổi già hay chết vì bệnh.”

Nghề ký giả là nghề có nhiều người làm nghề bị giết chết nhất trong tất cả những nghề tự do. Bài này chỉ viết về những ký giả dân sự, không viết đến những phóng viên chiến trường – đa số là quân nhân – chết vì nghề trên chiến trường.

Ký giả Việt Nam thứ nhất bị bắn chết ở Sài Gòn là ông Nam Quốc Cang. Ðây là bản tin về Nhà Báo Nam Quốc Cang trên Internet:

Nhà báo Nam Quốc Cang (1917-1950) tên thật Nguyễn Văn Sinh. Ông quê ở huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, ông vào Sài Gòn  năm 1940. Sau năm 1945, ông viết bài cho báo Tin Ðiển với chủ trương chống thực dân Pháp, đặc biệt phụ trách mục “Trớ Trêu.” Mục này là loạt bài phiếm luận chính trị đầu tiên của làng báo Sài Gòn sau năm 1945. ông chế giễu những hoạt động của Thủ tướng Nam Kỳ Quốc Nguyễn Văn Thinh một cách sâu cay.

Ông lấy tên ba nhà báo Sài Gòn nổi tiếng thời ấy là các ông Nam Ðình Nguyễn Thành Phương, Trần Tấn Quốc, Lê Trung Cang làm bút hiệu của ông: Nam Quốc Cang.

Ngày 6 tháng 5 năm 1950, nhà báo Nam Quốc Cang cùng với nhà báo Ðinh Xuân Tiếu bị bắn chết trước tòa soạn báo Dân Quý ở  đường Frère Louis, sau năm 1956 là đường Nguyễn Trãi. Ông mất năm ông 33 tuổi.

CTHÐ: Năm 1952 khi tôi vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tôi được nghe các ông ký giả đàn anh kể cho biết:

Trong những năm sau năm 1963 tình hình chính trị Sài Gòn náo loạn. một số người đến đốt chỗ đậu xe hai bánh trước tòa soạn nhật báo Sống, đường Gia Long.

Trong những năm sau năm 1963 tình hình chính trị Sài Gòn náo loạn. một số người đến đốt chỗ đậu xe hai bánh trước tòa soạn nhật báo Sống, đường Gia Long.

Cùng bị bắn chết với ông Nam Quốc Cang là ông Ðinh Xuân Tiếu và ông Lư Khê. Ông Lư Khê là chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng. Ông Lư Khê chết, chính quyền cho bà vợ ông Lư Khê làm chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng. Bà tên là Nguyễn Ngọc Diêu. 60 năm qua tôi vẫn nhớ tên bà. Năm 1952 anh Thanh Sanh là chủ bút báo Ánh Sáng, anh Hải Âu phụ tá.. Bà chủ nhiệm mỗi tháng chỉ ghé qua toà báo một, hai lần.

Tôi nghe các ông nhà báo nói kẻ đến bắn ông Nam Quốc Cang là Cò Ðình, nhân viên Ban PJM: Police Judiciaire Mobile. PJM tên Việt là ban Hình Cảnh Lưu Ðộng, một ban đặc biệt của Sureté Pháp. Ban PJM có nhiều quyền hạn thời ấy. Nhân viên Ban này có quyền đi bắt những kẻ phạm tội trên khắp xứ Nam Kỳ.

Khi bắt được một vụ cướp lớn, hay một vụ giết người, Ban PJM thường mở cuộc hội báo để loan báo thành tích. Người chủ tọa những cuộc hội báo PJM này là Cò Nuttini, một ông Tây Lai gốc Ý. Trong một cuộc hội báo PJM ông ký giả đàn anh ngồi cạnh tôi chỉ cho tôi thấy một người đàn ông trạc 40 tuổi, cao lớn, ông ký giả rỉ tai tôi:

“Cò Ðình, người bắn Nam Quốc Cang đấy.”

Sau năm 1946 an ninh trở lại Sài Gòn. Trong làng báo, làng văn Sài Gòn có tình trạng nhiều báo, nhiều nhà viết tiểu thuyết gần như công khai ca tụng những người Việt kháng chiến chống Pháp. Ký giả Nam Quốc Cang viết nhiều bài đả kích Thực Dân Pháp và việc trở lại làm chủ Sài Gòn của Thực Dân Pháp. Surete Pháp bắt giam ông Nam Quốc Cang nhưng những năm 1950 có nhiều người Pháp trong chính giới phản đối việc quân viễn chinh Pháp tái chiếm Ðông Dương. Ký giả Nam Quốc Cang được những ông Tây phản chiến ủng hộ, Sureté Pháp phải trả tự do cho ký giả Nam Quốc Cang. Họ cho nhân viên của họ là Cò Ðình đi ám sát ký giả Nam Quốc Cang.

Ba ông nhà báo Nam Quốc Cang, Ðinh Xuân Tiếu, Lư Khê sáng hôm ấy đang ngồi uống cà phê ở một quán cóc trên đường Frère Louis, Cò Ðình tới bắn chết cả ba ông. Hai ông Ðinh Xuân Tiếu, Lư Khê bị chết oan.

Ký giả sinh nghề, tử nghiệp thứ hai bị giết ở giữa thành phố Sài Gòn là ký giả người Pháp: ông De Lachevrotiere. Ông này là một ông Tây Thực Dân – Francais Coloniale – chính cống Bà Lang Trọc. Ông làm ký giả ở Sài Gòn từ năm 1920. Tiểu sử của ông ghi chuyện ông từng bút chiến với ông André Malraux Khoảng năm 1925, ông André Malraux, 21 tuổi mới cưới vợ. Ông bà đi du lịch đến Ðông Dương. Khi đi thăm Angkor Vat trở về Sài Gòn, ông bà bị nhà cầm quyền Pháp khám xét hành lý, tịch thu một số tượng đá Angkor Vat. Ông Malraux không bị án lấy trộm cổ vật, ông chỉ bị phạt tiền.  Luật cấm du khách không được lấy, kể cả mua,  những cổ vật Angkor Vat.

Buổi trưa ngày Janvier 1951 ký giả De Lachevrotiere ngồi trên một xe hơi bỏ mui, có tài xế lái, chạy trên đường Richaud – sau năm 1956 là đường Phan Ðình Puùng –Tin AFP tường thuật:

Một xe Zeep mang bảng số vàng ngoại giao đoàn trờ tới. Một người trên xe Jeep ném hai tạc đạn vào xe ông De Lachevrotiere. Ông ký giả cầm một tạc đạn định ném lại, tạc đạn nổ. Ông chết trong xe, người tài xế bị thương nặng nhưng thoát chết.

Những ngày như  lá, tháng như mây, Làng báo Sài Gòn yên tĩnh trong 15 năm. Ngày 16 Tháng 4, 1966 trong một buổi sáng 2 ký giả bị bắn trong thành phố. Lúc 8 giờ sáng, ông Chu Tử Chu Văn Bình vào xe hơi của ông trước cửa nhà riêng, đường Trương Tấu Bửu, Phú Nhuận, để đến tòa báo, Kẻ sát nhân  rình sẵn ở cửa nhà, bắn ông 4 phát đạn, một viên trúng gáy ông, đạn trổ ra miệng, như ông không chết.

Tài liệu về Nhà báo Chu Tử trên Wipekeda:

Chu Tử là bút hiệu của Chu Văn Bình (1917-1975), một nhà văn, nhà báo người Việt. Ông được biết đến là chủ nhiệm nhật báo Sống và là tác giả những cuốn tiểu thuyết Yêu , Ghen.

Ông một thời dạy học ở Trường tư thục Phùng Hưng ở Hải Phòng trước năm 1954, sau làm hiệu trưởng Trường trung tiểu học Lê Văn Trung ở Tây Ninh.

Sang thập niên 1960 ông mở nhật báo Sống ở Sài Gòn. Mục “Ao Thả Vịt”, “Thơ Ðen”, và trang Nhạc Trẻ báo Sống  được độc giả hâm mộ. Những cây viết cộng tác có Tú Kếu, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Mạnh Côn, Bùi Giáng. Vì chính kiến, tòa báo bị Lực lượng Tranh thủ Cách mạng của phe Phật giáo cực đoan đốt phá năm 1966. Cũng vào thời điểm đó ông bị mưu sát gần nhà, bị trúng đạn nhưng thoát chết. Cuộc ám sát ông do Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam thực hiện. Cuối thập niên 1960 báo Sống bị thu hồi giấy phép vì chỉ trích việc chính phủ cho Quân đội Hoa Kỳ toàn quyền sử dụng căn cứ Cam Ranh. Vào thập niên 1970 ông đứng chủ biên báo Sóng Thần nhưng sau rút lui.

Vào ngày 30 Tháng Tư, 1975 trên đường thoát khỏi Việt Nam trên con tàu Việt Nam Thương Tín, tàu trúng  đạn súng B-40  VC khi qua cửa Cần Giờ. Ông Chu Tử trúng đạn chết, ông được thủy táng ngay cửa biển.

o O o

Cùng ngày 16 Tháng 4, 1966, lúc 12 giờ trưa. Ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy, Tổng Thư Ký Nhật báo Chính Luận, từ toà soạn về nhà riêng của ông trong Cư Xá Nguyễn Trị Phương. Ông vừa ra khỏi xe trước nhà thì bị kẻ sát nhân bắn ông. Ông trúng đạn vào lưng, ngã xuống, chết ngay bên xe hơi.

Wipikeda trên Net không có trang nào về Ký Giả Từ Chung Vũ Nhất Huy. Internet cũng không có cái ảnh nào của Ký giả Từ Chung.

Khoảng ba, bốn ngày sau Khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị hạ sát, ba ông Ký Giả Chu Tử – Hiếu Chân – Từ Chung đồng ký một bản gọi là “ Hiệu Triệu” như sau:

HIỆU TRIỆU

Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ và giải phóng con người, vậy mà trong thời gian qua, vì cơm áo, vì khiếp nhược đớn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội Sự Thật, phản bội Dân Tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô. Dù chúng ta có viện bất cứ lý do nào để bào chữa, chúng ta không thể chối cãi tội lỗi của chúng ta đối với đồng bào, với lịch sử.

Quân Ðội đã đứng lên, làm nhiệm vụ của mình. Cơ hội duy nhất để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút, “phi cầm, phi thú’, cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm người, đã tới…. Nếu sự tự thiêu của bảy tu sĩ — một hy sinh bi hùng nhất trong lịch sử tôn giáo và nhân loại – chưa làm chúng ta giác ngộ, thì quả chúng ta đã hết là người, không còn xứng đáng gặp gỡ vận hội của chúng ta nữa.

Cuộc cách mạng chỉ mới bắt đầu. Xương máu của quân đội, của đồng bào không thể bị bọn đầu cơ chính trị lợi dụng một lần nữa.

Hơn lúc nào hết, chúng ta phải “gạn đục, khơi trong”, đem hết tâm hồn, năng lực ra phụng sự cho chính nghĩa.

Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các bạn nghệ sĩ, bằng máu, nước mắt, mồ hôi, đem ngòi bút viết lại thiên lịch sử của dân tộc, mà trong chín năm qua, bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố.”

Ðại diện cho các nhà văn, nhà báo chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ.

CHU TỬ – HIẾU CHÂN – TỪ CHUNG

(Ðăng trên Tạp chí Bách Khoa, số 165 ngày 15-11-1963)

CTHÐ: Bản “Hiệu Triệu” được đăng trên nhật báo Ngôn Luận. Vài ngày sau ông Hiếu Chân có lời “cải chính” trên nhiều nhật báo: ông không ký tên trong bản “Hiệu Triệu” ấy. Từ Chung nói với tôi:

“Tao đọc bản ấy cho Hiếu Chân nghe qua tê-lê-phôn. Ông ấy bằng lòng ký tên.”

Từ đó ông Chu Tử đoạn giao với ông Hiếu Chân.

Riêng tôi – CTHÐ – tôi được biết bốn tiếng “phi cầm, phi thú” từ bản Hiệu Triệu vội vàng và rộn ràng rổn rảng những lời đao to, búa lớn ấy. Tôi nghĩ tác giả “Hiệu Triệu Phi Cầm Phi Thú ” là ông Chu Tử.

Ba ông ký giả “Hiệu Triệu” đều bị chết vì Cộng Sản. Ông Hiếu Chân chết trong Nhà Tù Chí Hòa năm 1987. Ông Nhà Văn Dương Hùng Cường, bút danh Dê Húc Càn, cùng bị bắt với ông Hiếu Chân, chết cùng trong năm 1987 trong một sà-lim ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Hai ông chết vì những bài báo hai ông viết, gửi ra nước ngoài.

Ký giả người Pháp thứ hai chết vì nghề ở Việt Nam là Francois Sully. Năm 1945 khi mới 17 tuổi, Francois Sully cầm súng đi diệt quân Ðức để giải phóng Paris. 1946 Sully gia nhập Quân Viễn Chinh Pháp sang chiếm lại Ðông Dương. Từ 1946 khi giải ngũ và trở thành phóng viên nhà báo, Francois Sully sống ở Sài Gòn. Ông nói thạo 4 thứ tiếng Pháp, Anh. Việt và Lào.  Theo tôi – CTHÐ – Francois Sully là ký giả ngoại quốc sáng giá nhất ở Việt Nam. Năm 1962 vì những bài báo viết về bà Ngô Ðình Nhu, ký giả Francois Sully bị chính phủ VNCH trục xuất. Ông sang Mỹ học một năm ở Ðại Học Harvard. Trở về Sài Gòn năm 1964 ông làm Trưởng Phòng Newsweek Saigon cho đến ngày ông tử nạn.

Tháng Hai 1971 ký giả Francois Sully đi theo Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí trên phi cơ trực thăng. Giữa trời Tây Ninh, trực thăng bốc cháy. Ông cùng chết với Tướng Ðỗ Cao Trí. Wipekeda ghi ông được an táng trong Nghiã Trang Mạc Ðĩnh Chi. Người ký giả chết vì nghề, chết với nghề ấy không vợ con. Khoản tiền bảo hiểm nhân mạng của ông – khoảng 15 triệu đồng VN – được tặng cho những hội từ thiện Việt Nam.

Francois Sully là người sáng chế ra kiểu áo kaki ba túi bỏ ngoài quần, bộ đồ này về sau được các ông thợ may Sài Gòn gọi là “Áo Ký Giả.”

Người ký giả Việt chết vì nghề ở Sài Gòn cuối cùng – trước năm 1975 – là anh Vân Sơn Phan Mỹ Trúc.

Năm 1960 Vân Sơn Phan Mỹ Trúc phụ trách tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai. Chủ nhiệm tuần báo này là anh Nguyễn Ðức Khiết, người con trai thứ sáu của bà Bút Trà. Vân Sơn Phan Mỹ Trúc là ký giả duy nhất của Sàigònmới-Phụ Nữ Ngày Mai sau ngày cơ sở tan hàng, trở thành chủ nhiện nhật báo. Khoảng năm 1970 Vân Sơn làm chủ nhiệm nhật báo Ðông Phương. Báo bán chạy. Tôi không rõ vì nguyên nhân nào – chỉ biết Vân Sơn bị giết vì những bài đăng trên tờ báo của anh – vào năm 1972, hay 1973, tòa soạn báo Ðông Phương đặt trong nhà in Nguyễn Bá Tòng. Buổi trưa chủ nhiệm Vân Sơn cùng hai ông bạn ký giả Hoài Khâm, Cung Mạnh Ðạt sang tiệm cơm Tầu trước nhà in ăn cơm. Anh Hoài Khâm, anh Cung Mạnh Ðạt là hai ký giả báo Sàigònmới bạn của anh Vân Sơn. Hai ký giả này là nhân viên tòa soạn nhật báo Ðông Phương. Nghe kể: ba ký giả đang ngồi ăn, tên sát nhân đến tận bàn, ghé nòng súng một khẩu súng lục chuyên dùng để ám sát, viên đạn nhỏ như đầu chiếc đũa, vào mang tai ký giả Vân Sơn, nổ một phát. Viên đạn ghim vào óc Vân Sơn, anh ngã chết tại chỗ. Tên sát nhân chạy mất. Vụ giết người bị cho chìm suồng.

Tất cả những vụ ký giả nhà báo bị bắn chết trong thủ đô Sài Gòn – từ ký giả Nam Quốc Cang, qua 2 ký giả Pháp De Lachevrotière, Framcois Sully, đến ông Chủ Nhiệm Báo Sống Chu Tử, ông Tổng Thư Ký Tòa Soạn Nhật Báo Chính Luận Từ Chung, ông Chủ Nhiện Nhật Báo Đông Phương Vân Sơn Phan Mỹ Trúc đều bị cho chìm suồng: không tìm ra thủ phạm. Theo tôi không chắc bọn Việt Cộng đã bắn hai ông Chu Tử, Từ Chung. Khoảng năm 1970 tôi hỏi ông Chu Tử:

“Cho đến bây giờ anh có biết ai là người bắn anh không?”

Ông Chu Tử trả lời:

“Cho đến nay tôi vẫn chưa biết ai bắn tôi.”

Tôi hỏi ông Chu Tử câu hỏi trên vì những năm 1970 có tin đồn CIA thực hiện những vụ ám sát người Việt Quốc Gia để đổ lỗi cho Việt Cộng. Có một ông Đại Tá Quân Mỹ giải ngũ những năm 1970 kiện chính phủ Mỹ về việc chính phủ Mỹ đã cho phép nhân viên CIA dùng các ông vào việc giết người Việt dân sự để đổ tội cho Việt Cộng. Việc kiện cáo này sau đó được cho chìm suồng.

Dòng thời gian dài một ánh bay,
Những ngày như lá, tháng như mây.

Tất cả những người được kể trong bài này đều là ký giả đã chết. Tất cả chết vì nghề ký giả của họ. Tất cả đều chết trong nước.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, Ngày 11 Tháng Bẩy, 2013.

Viết thêm Ngày 15 January 2015.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 156 other followers