• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

ĐEN HƠN BÓNG TỐI

Hình bià ÐEN HƠN BÓNG TỐI, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972.

Hình bià ÐEN HƠN BÓNG TỐI, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972.

Tôi viết ÐEN HƠN BÓNG TỐI ở Sài Gòn năm 1970, đăng từng ngày trên nhật báo – tôi không nhớ tên tờ báo — truyện được xuất bản năm 1972, hình bìa như quí vị thấy.

ÐEN HƠN BÓNG TỐI được phóng tác từ tiểu thuyết PIÈGE POUR CENDRILLON của tác giả Sébastien Japrisot. Tôi bắt đầu đọc truyện vào lúc 10 giờ một buổi tối. Những năm từ 1965 đến 1975 tôi có thói quen đọc sách từ lúc 10 giờ tôi đếm một, hai giờ sáng. Năm 1970 tôi đang hút thuốc lá dữ dội, mỗi ngày tôi hút khoảng 50 điếu Lucky hay Philip Morris, Pall Mall. Khi vào mùng nằm đọc sách buổi tối tôi hút khoảng năm, sáu điếu thuốc mới buông sách để ngủ. Vì vậy tôi và Alice nằm ngủ riêng mỗi người một chỗ, mỗi người một mùng. Nàng không thể nằm chung giường, chung mùng với chồng nàng để ngủ mà có cây đèn để ngay trong mùng, trên đầu và anh chồng nàng hút thuốc lá liên miên. Tôi cũng không đọc được sách thoải mái khi có nàng nằm bên cạnh. Vợ chồng tôi ngủ chung giường với nhau khoảng ba, bốn năm đầu. Khi chúng tôi có con, Alice ngủ riêng với con. Mười năm sau, con chúng tôi lớn, vì tôi đọc sách, hút thuốc lá trong màn ban đêm, chúng tôi làm một cuộc Tây Ðầm gọi là séparation de corps.

Tôi bắt đầu đọc Piège pour Cendrillon lúc 10 giờ đêm, khoảng 12 giờ đêm, tôi gọi sang chỗ Alice nằm:

– Em ngủ chưa? Anh đang đoc truyện này hấp dẫn quá. Anh kể em nghe…. Anh mới đọc đến đây..chuyện như vầy… như vầy.. Em bảo người thiếu nữ này là ai..? Là Minh Châu hay Bích Ngọc..?

Qua những sự kiện được kể, chúng tôi bàn tán rồi cùng cho người thiếu nữ sống sót trong truyện là Minh Châu – Hai nữ nhân vật là hai chị em qua một trận cháy nhà ban đêm, một cô chết cháy, một cô sống sót nhưng bị phỏng nặng và bị mất trí nhớ… — Thế rồi Alice lại ngủ, tôi đọc truyện tiếp. Khoảng một giờ sau tôi gọi nàng dậy:

– Em ơi.. Không phải Minh Châu.. Có những chuyện này mới xẩy ra.. Như thế này thì người sống phải là Bích Ngọc, không phải là Minh Châu..

Tôi đọc truyện tiếp, 30 phút sau có những sự kiện mới đến trong truyện lại cho tôi thấy người thiếu nữ sống trong truyện là Minh Châu, không phải là Bích Ngọc.

Năm 1990 các con tôi tìm được trong tiệm bán sách cũ quyển Ðen Hơn Bóng Tối. Tôi đem được truyện sang Kỳ Hoa. Năm 2000 tôi viết lại truyện, sửa, thêm, bớt một số chi tiết cho truyện hợp lý hơn, mới hơn, văn huê là hiện đại hơn, và hay hơn. Ðen Hơn Bóng Tối là một truyện tôi rất thích. Vì hai thiếu nữ trong truyện giống nhau như hai giọt nước nên tôi đặt lại tên truyện là NHƯ HAI GIỌT NƯỚC.

Có người bạn nói Ðen Hơn Bóng Tối gợi cảm hơn. Alice cũng nói Ðen Hơn Bóng Tối hay hơn, hợp với truyện hơn. Nên hôm nay, truyện Phơi-ơ-tông quí bạn đang đọc đây có tên là ÐEN HƠN BÓNG TỐI.

o O o

Quảng cáo phim Piège pour Cendrillon. Ðạo diễn André Cayatte thực hiện phim Piège pour Cendrillon năm 1965 theo tiểu thuyết cùng tên của tác giả Sebastien Japrisot, với các diễn viên Danny Carrel – diễn hai vai – Madeleine Robinson và Jean Gavin.

Quảng cáo phim Piège pour Cendrillon. Ðạo diễn André Cayatte thực hiện phim Piège pour Cendrillon năm 1965 theo tiểu thuyết cùng tên của tác giả Sebastien Japrisot, với các diễn viên Danny Carrel – diễn hai vai – Madeleine Robinson và Jean Gavin.

ÐEN HƠN BÓNG TỐI (Hoàng Hải Thủy)

Ngày xưa trong thành phố Hà Nội có ba cô con gái là ba chị em, người trong gia đình gọi ba cô là Tam  Minh Công Chúa. Cô  thứ nhất tên là Minh Châu, cô thứ hai tên Minh Ngọc, cô thứ ba tên Minh Ngà. Minh Châu, Minh Ngọc là hai vai chính trong truyện này.  Minh Châu là con ông anh cả, Minh Ngọc là con ông thứ hai, Minh Ngà là con ông thứ ba. Ba cô cùng có một bà mẹ đỡ đầu, một bà Godmother theo ngôn từ hiện đại. Ba cô gọi bà bằng cái tên Má Tư, bà là người con thứ tư trong gia đình, hay Cô Út. Gia đình họ Vũ có ba ông con trai, chỉ có một mình cô Út Thanh là con gái, cô Vũ Minh Thanh; nhà họ Vũ có lệ đặït tên đệm là Minh cho con gái.

Cô Út Thanh, hoặc Cô Út thân thương, Má Tư, Má Châu , yêu thương ba cô cháu, cô cháu nào cũng xinh, cũng dễ thương. Cô yêu thương Minh Châu nhất, Minh Châu là cô bé xinh nhất, dễ thương nhất, thông minh nhất trong ba cô. Minh Ngà vắn số nhất;  Ðệ Tam Công Chúa Vũ Minh Ngà từ bỏ cõi đời năm cô mười tuổi.

Ðám tang Minh Ngà là một sự kiện lớn xẩy ra trong những ngày thơ ấu của chị em Minh Châu, Minh Ngọc. Ðám tang ấy cũng mở đầu cho một chuỗi những đám tang khác trong gia đình họ Vũ. Minh Ngà mất vào một chiều cuối thu. Trời Hà Nội mầu xám, gió heo may lành lạnh, những cây nến trắng rỏ những giọt nước mắt trắng xuống nắp áo quan. Mặt đất nghĩa trang mềm và sốp. Ông Trưởng Ðội Ðạo Tì bận áo veste đen có hàng khuy đồng vàng chóe, đội mũ cát-két đen, cầâm cây gậy đen hai đầu bịt đồng, đứng chỉ huy đàn em hạ quan tài xuống huyệt. Những tảng đất mềm rơi lộp bộp trên nắp áo quan. Khi ấy cô Út  đi lấy chồng xa, cô về đưa đám ma cháu. Ôm Minh Châu cô khóc, cô nghẹn ngào:

–  Con đừng bỏ Má. Ðừng có làm như nó. Má yêu thương con. Sống đi, con sẽ sung sướng.

Cô cũng ôm, cũng hôn Minh Ngọc, cô nói:

– Khéo.. Ðừng  làm bẩn áo cô.

Sau đó, trong nhiều năm, chỉ có hai chị em Minh Châu, Minh Ngọc sống ở Hà Nội. Má Châu, tức Cô Út, ở xa. Trong những năm ấy những người trong họ ít nói đến Cô Út, những khi bắt buộc phải nói đến cô họ hạ giọng nói nhỏ, như khi họ nói đến chuyện gì không hay, không tốt cho dòng họ. Cô Út ở mãi trong xứ Sài Gòn xa sôi, dường như cô đã bỏ chồng và dường như cô sống không được đàng hoàng lắm ở cái nước Nam Kỳ xa tít mù ấy. Có người loan tin cô lấy Tây, ông chồng cô là một ông Tây chủ đồn điền cà-phê-cao-su rất giầu; có người lại loan tin cô là gái giang hồ, cô sống bê bối, sa đọa không ra làm sao cả.

Minh Châu, Minh Ngọc không được biết gì về đời sống của cô Út, hai chị em chỉ biết cô ở xa. Trong mấy năm trời xa cách cô Út vẫn viết thư về cho Minh Châu. Chừng hai, ba tháng một lá thư. Những phong bì thư mang dấu bưu điện Sài Gòn, có thư mang dấu bưu điện Ðàlạt, Kontum, Pleiku..vv.

Minh Châu hỏi người lớn những tỉnh thành ấy ở đâu, không ai biết rõ, ai cũng chỉ biết lờ mờ những tỉnh lỵ, thành phố ấy ở Nam Kỳ. Có lần Minh Châu, Minh Ngọc mở bản đồ Việt Nam ra tìm những tỉnh có những cái tên Kontum, Pleiku, hai cô tưởng tượng về những thành phố lạ nơi bà mẹ đỡ đầu, bà cô ruột của hai cô đang sống.

Cô Út không viết một thư nào cho Minh Ngọc, trong những thư cô viết cho Minh Châu đôi khi cô có nhắc đến Minh Ngọc.

Minh Châu, Minh Ngọc ra đời cùng năm, gần như cùng tháng. Hai cô giống nhau, thật giống nhau, giống nhau  như chị em sinh đôi. Người đầu tiên nói một câu thât đúng về hai cô là bà nội của hai cô, bà nói khi nhìn hai cô bé mới sinh được ba tháng nằm bên nhau:

– Hai chị em nó giống nhau như hai giọt nước.

Hai cô chỉ khác nhau đôi chút về tính nết, Minh Châu thông minh, sắc xảo, Minh Ngọc hiền hậu; Minh Châu kiêu hãnh, Minh Châu được nuông chiều nên hay đòi hỏi, dễ hờn giận. Trong gia đình Minh Châu là công chúa. Minh Ngọc khiêm tốn, an phận. Hai chị em khác nhau nhiều nhất ở việc Minh Châu được cô Út yêu thương, với Minh Ngọc cô Út không ghét cũng không  yêu thương.

Năm Minh Châu, Minh Ngọc 12 tuổi, ông nội của hai cô qua đời. Cô Út từ Sài Gòn bay về Hà Nội đưa đám ông cụ. Người trong họ tiếp đón cô long trọng. Cô Út giầu lắm, ai nói cô nghèo, cô khổ là nói láo. Nhưng chuyện cô lấy chồng người Pháp là chuyện thật. Ông chồng cô là chủ đồn điền, người nói đồn điền cà-phê, người nói đồn điền cao-su, kiêm chủ nhân xưởng đóng giầy giép lớn nhất Ðông Dương: xưởng giầy Vina. Bà Vina đi máy bay bốn động cơ Constellation mới nhất của hãng Hàng Không Pháp Air France từ Sài Gòn về Hà Nội, bà ở Hotel Metropole, đi xe hơi Hoa Kỳ có tài xế lái, bà không đeo nữ trang bằng vàng, nữ trang của bà là bạc tráng, kim cương, bà đem nhiều quà về cho Minh Châu, nhiều bộ áo đầm thật đẹp.

Ðám tang ông nội vào mùa đông. Trờøi Hà Nội không xám mà như mầu chì lỏng. Những ánh nến lung linh trong Nhà Thờ Hàm Long, tiếng cầu kinh trầm trầm. Áo quan ông bằng gỗ mầu vàng sậm, đặt trên xe tứ mã đi chầm chậm trên đường phố buồn tênh ra nghĩa trang vắng tanh. Những rặng thông rì rào trong gió. Ông Trưởng Ban Ðạo Tì bận áo đen có những hàng khuy đồng vàng chóe, những chú đạo tì đàn em cũng bận áo đen nhưng khuy bằng nhựa đen. Mặt đất lạnh, những tảng đất khô rơi rào rào trên nắp áo quan.

Năm sau, một đám tang nữa, đám tang bà mẹ của Minh  Châu. Mùa xuân, chiến tranh Việt-Pháp đang diễn ra dữ dội, đám tang buồn, vắng người. Cô Út chỉ gửi thư về chia buồn. Minh Châu bận áo sô, chít khăn sô. Minh Ngọc quấn khăn trắng. Hai cô giống nhau quá, nhiều người trong họ không nhận ra cô nào là Minh Châu, cô nào là Minh Ngọc.

Họ nói với nhau:

–  Hai chị em giống nhau như hai giọt nước!

Buổi sáng cuối thu trời bắt đầu trở lạnh, gió may, mưa bụi dăng màn trắng trên phi trường Gia Lâm, ba của Minh Châu đưa cô sang phi trường Gia Lâm, cho cô lên phi cơ vào Sài Gòn.

– Cô Út đón con ở phi trường. Con xuống phi cơ là có cô.

Ông  dặn dò con gái, mắt ông hoe đỏ, cô con ông nghẹn ngào nói không ra tiếng:

– Vào Sài Gòn với cô con phải ngoan nghe con. Vâng lời cô. Chịu khó học. Viết thư về cho ba luôn.

Minh Châu bay đi, Minh Ngọc ở lại Hà Nội. Những tháng đầu Minh Châu viết thư về thật nhiều, gần như mỗi tuần một thư. Sài Gòn rộng lớn, Sài Gòn đông người, Sài Gòn nắng nóng quanh năm, mùa mưa ngày nào Sài Gòn cũng mưa, mưa ào ào đổ xuống rồi lại tạnh, lại nắng ngay. Minh Châu nhớ Hà Nội, nhớ Minh Ngọc, rồi thời gian qua, những lá thư từ Sài Gòn về Hà Nội thưa dần. Sau cùng chỉ còn thư của Minh Ngọc viết cho Minh Châu và cô Út, những lá thư không có hồi âm.

Năm tháng lại qua, bây giờ chỉ có Minh Ngọc ở Hà Nội nhớ Minh Châu và nhớ cô Út ở Sàigòn. Có người ở Sài Gòn ra nói chuyện về bà Vina, tức cô Út,  ông chồng bà đã qua đời, nay bà là chủ xưởng giày Vina, bà không còn là triệu phú nữa, nay bà là tỷ phú. Bà không có con, bà chỉ có Minh Châu, bà cưng Minh Châu lắm, Minh Châu học trường đầm, Minh Châu có xe ô tô riêng, Minh Châu sang Pháp học…

Năm 1954, chiến tranh Việt Pháp đi vào giai đoạn dữ dội nhất để rồi tàn lụi. Người Việt nghe nói đến cái tên Ðiện Biên Phủ lạ hoắc, như tên một nơi nào đó ở bên Tầu, rồi nghe nói đến thành phố Genève ở tận bên Thụy Sĩ.

Ba của Minh Ngọc, một ông công chức Phủ Thủ Hiến Bắc Việt, từ trần. Ông mất trong lúc người Hà Nội đang lo âu trước tình trạng  đất nước bị chia đôi, Việt Minh chiếm một nửa nước, người Hà Nội bối rối trước việc ở lại hay di cư vào Nam. Tháng Bẩy cô hồn, đám ma lèo tèo chừng hai chục người, những chú đạo tì làm việc vội vàng cho xong để mọi người ra về, trời mưa, nghĩa trang lạnh ngắt.

Năm 1954 có chừng tám trăm ngàn người miền Bắc di cư vào miền Nam, trong số có khoảng hai trăm ngàn người Hà Nội. Trong số người Hà Nội ra đi có mẹ con Minh Ngọc. Hai mẹ con rời Hà Nội  chẳng vương vấn gì vì họ chẳng có gì, họ chẳng còn gì ở Hà Nội để mà tiếc. Hai mẹ con cùng cả chục ngàn người xuống tầu Marine Serpent ở Hải Phòng. Lần thứ nhất và cũng là lần cuối cùng, lần duy nhất Minh Ngọc nhìn thấy cảnh Vịnh Hạ Long.

Ông bố của Minh Châu là công chức, theo sở vào làm việc ở Huế, ông có vợ kế, theo tiếng Hán Việt là ông tục huyền: dây đàn của ông đứt, ông thay sợi dây đàn khác. Và ông có nhiều con với bà vợ kế.

Bà mẹ của Minh Ngọc bất hòa với cô Út. Vụ này có từ ngày Minh Ngọc chưa ra đời, từ ngày ba Minh Ngọc mới thành hôn với mẹ Minh Ngọc. Mối bất hòa càng ngày càng nặng theo thời gian. Nói đúng hơn  cô Út không ưa bà mẹ của Minh Ngọc. Bà mẹ Minh Ngọc cũng không ưa cô Út; vào Sài Gòn bà không bằng lòng cho Minh Ngọc đi tìm cô Út, bà cũng không cho con gái viết thư cho cô Út hay cho Minh Châu, báo tin hai mẹ con vào Nam. Tuy vậy Minh Ngọc vẫn mong có ngày cô Út đi xe hơi đến trại định cư đón mẹ con cô về ở trong một góc vi-la của cô, ở trong nhà bồi, nhà bếp của cô cũng được, cũng sướng hơn là ở trong trại định cư chung chạ như thế này.

Bây giờ Minh Ngọc mười chín tuổi, sáu năm rồi nàng không được gập Cô Út, không được gập Minh Châu. Từ ngày vào Sài Gòn bà mẹ nàng yếu đi nhiều, bà già yếu đi quá mau, dường như bà bắt đầu lẫn. Minh Ngọc được ông cậu đưa đi làm thư ký trong ngân hàng Ăng-lê The Chartered Bank. Hai mẹ con sống trong căn nhà vách ván, mái tôn ở khu Ngã Ba Ông Tạ. Ðủ ăn, đủ mặc, hai mẹ con không đòi hỏi gì hơn. Tiền lương nữ thư ký của Minh Ngọc cộng với khoản tiền tử tuất do ông bố của Minh Ngọc để lại, bà mẹ của Minh Ngọc được lãnh cho đến khi bà chết, tuy không nhiều cũng đủ cho hai mẹ con sống cuộc sống của những người không nghèo lắm ở Sài Gòn. Ngân hàng có máy lạnh mát mẻ. Minh Ngọc đi làm thật chăm, nàng giữ việc vào sổ những chi phiếu, ở nơi làm việc nàng dễ chịu, thoải mái hơn ở nhà nhiều. Mỗi sáng đi làm nàng mang phần cơm theo, trưa nàng ăn trưa trong sở, chiều tan sở nàng về nhà bằng xe buýt.

o O o

Biệt thự của cô Út ở đường Tú Xương, mỗi ngày đi về trên xe buýt Minh Ngọc nhìn thấy bảng tên đường Tú Xương nhưng nàng không đến  đó tìm cô. Không cho bà mẹ biết, làm như không biết đường, nàng viết thư gửi về vi-la cho cô, cho Minh Châu, ghi rõ số nhà mẹ con nàng ở. Không ai đến tìm mà cũng chẳng có thư trả lời. Rồi nàng viết cho Minh Châu báo tin nàng làm ở Ngân hàng Chartered Bank.

Một hôm nàng đến nhà cô Út.

Với nàng, vi-la quá lớn, quá rộng, quá vắng người, nàng đứng trước cánh cổng sắt cả ba, bốn phút mới quyết định nhấn nút chuông điện. Cặp chó béc-giê lớn như hai con bê xổ ra, nàng tưởng như chúng dư sức nhẩy vọt qua cánh cổng sắt nếu chúng thấy cần. Chị đàn bà có vẻ là gia nhân đi ra. Chị nói tiếng Nam. Minh Ngọc không nghe rõ chị nói gì, chị người làm cũng không nghe rõ tiếng nói lí nhí của cô gái Bắc kỳ di cư mới dzô Sè Goòng. Sau mấy câu hỏi qua, hỏi lại, cuối cùng Minh Ngọc được biết bà Vina hiện ở bên Pháp, cô Châu đi học trên Ðàlạt.

Năm 1956 Minh Ngọc hai mươi tuổi, đã sống ở Sài Gòn được một năm  nàng vẫn chưa được gặp cô Út và Minh Châu. Có một thay đổi trong đời nàng, bà mẹ nàng rời khu Ngã Ba Ông Tạ nóng bức, ồn ào, chật chội để về sống với gia đình ông em ở Hố Nai, Gia Kiệm, khu có nhiều người Bắc di cư đến định cư lập nghiệp. Nhà ông em rộng, có vườn đất, bà mẹ của Minh Ngọc sống thoải mái hơn, bà lại có việc làm vừa đỡ buồn vừa có tiền: nuôi gà vịt, nuôi heo. Minh Ngọc cũng rời căn nhà vách ván giống như cái chái hơn là cái nhà ở gần chợ 6ng Tạ để về sống chung với một cô bạn gái cùng sở làm trong căn phòng một toà nhà cho thuê ở đường Pham Ngũ Lão. Loại phòng bin-đinh này được làm cho một người ở, nhưng hai người ở cũng vẫn được, một cô ngủ trên đi-văng, một cô trải nệm ngủ dưới sàn. Những đêm cuối năm trời lạnh, hai cô có thể ngủ chung trên đi-văng. Chật một chút nhưng không sao. Sống được. Phòng bin-đinh có tiện nghi, bồn rửa mặt, cầu tiêu ở ngay trong phòng,  phòng tắm  ở cuối hành lang. Bà vợ ông quản gia nấu cơm tháng cho những người ngụ trong bin-đinh, toàn là khách độc thân, cơm nóng, canh ngọt được bưng lên tận phòng cho hai cô.

Minh Ngọc không biết qua một chuyện gì về cô Út và Minh Châu, nàng  không biết Cô Út đau nặng – Bà Vina bị ung thư, bà sắp ra khỏi những bệnh viên hiện đại nhất, đắt tiền nhất ở Pháp để về chết ở quê hương – Minh Châu sắp trở thành nữ tỷ phú trẻ tuổi nhất, đẹp nhất của Việt Nam. Cho đến một chiều…

Cô bạn thư ký đồng nghiệp đến nói nhỏ bên tai nữ thư ký Minh Ngọc:

 – Nè Ngọc.. Có cô nào trông giống Ngọc quá. Trong bi-rô ông Phó.

Nữ thư ký The Chartered Bank Minh Ngọc nhìn qua khung kính vào văn phòng ông Phó Giám Ðốc, nàng thấy Minh Châu. Minh Châu  như những cô đầm người mẫu mà người Sài Gòn chỉ nhìn thấy trên những tạp chí thời trang của Pháp như Marie-Claire, Elle, hay trong những phim thời sự tường thuật về thời trang Paris: Minh Châu áo pull sợi trắng hở cánh tay, hở ngực, quần soóc nâu như làn da thứ hai ôm đôi mông tròn, cặp đùi nàng thon, dài, nàng đi giép săng-đan trắng, mái tóc nàng sõa trên vai, môi nàng hồng, đôi mắt nàng sáng như sao.

Dường như tất cả nhân viên ngân hàng đều ngừng làm việc để nhìn người thiếu nữ đẹp.

Minh Ngọc cũng nhìn ngây người thiếu nữ ấy như mọi người, chỉ khác là tim nàng đập mạnh hơn. Nàng muốn nói với cô bạn: – Chị tôi đấy..Tên chị ấy là Minh Châu.

Nhưng nàng không nói. Bên nàng, cô bạn trầm trồ:

– Sao đẹp quá, sang nữa. Mà sao lại giống Ngọc quá dzậy cà?

 Cô nhìn ngây vào mặt Minh Ngọc:

 – Giống nhau như hai giọt nước.

Nhiều nhân viên khác cũng nhìn Minh Ngọc rồi nhìn cô khách sang, đẹp trong buy-rô ông Phó.

Người thiếu nữ đẹp, sang ấy là Minh Châu. Nàng đến ngân hàng mở trương mục, ông Phó Giám Ðốc Ngân Hàng long trọng tiếp nữ thân chủ giầu tiền. Hai chị em gặp lại nhau khi họ không ngờ nhất. Năm nay họ hai mươi tuổi và họ vẫn giống nhau như hai chị em sinh đôi. Họ chỉ khác nhau ở điểm Minh Châu nổi bật như viên kim cương lấp lánh, Minh Ngọc tầm thường như một thứ đồ vật người ta vẫn thấy mỗi ngày. Có một cái gì đó làm Minh Châu nổi bật lên, làm cho Minh Ngọc mờ nhạt đi. Cái đó có thể là việc Minh Châu là con nhà tỷ phú, là người thừa hưởng một tài sản nhiều trăm triệu, Minh Ngọc là cô thư ký nhà băng lương chỉ vừa đủ sống.

Và bà tỷ phú Vina sắp qua đời…

Và câu chuyện kỳ ảo bi thảm này bắt đầu…

        Ngưng trích

*Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, K Hoa Đất Trích. Ngày 8 Tháng 9. 2016.

ĐEN HƠN BÓNG TỐI là một truyện phóng tác thành công của tôi. Truyện hấp dẫn, có nhiều người đọc. Hôm nay – 50 năm sau ngày tôi phóng tác truyện ở Sài Gòn – khi viết lại truyện ở xứ người, tôi thấy thấp thóang ẩn hiện hình ảnh người đàn ông 40 tuổi là tôi năm xưa.

Cảm khái cách gì. CTHĐ

Mấy Đời Nước Máy

Trước của rạp xi-nê Olympia, Hàng Da Hà Nội, khi phim Bến Cũ trình chiếu, năm 1952.

Trước của rạp xi-nê Olympia, Hàng Da Hà Nội, khi phim Bến Cũ trình chiếu, năm 1952.

Tôi có bốn ông bạn được cha mẹ cho sang Tây du học, tất nhiên cả bốn ông đều là con nhà giầu. Những năm 1948, 1949 của thế kỷ 20, tức thế kỷ trước, trong lúc tôi ngày ngày đi bộ cả hai,  ba chục cây số ở chiến khu Việt Bắc — nói là chiến khu Việt Bắc cho oai, cho ra vẻ vai áo hào hoa bạc mầu kháng chiến — thực ra những ngày xưa hồng thắm đó tôi làm liên lạc viên, tức tên đi chân đưa thư tay ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang– văn huê kiểu kháng chiến là Bắc Bắc – tôi là liên lạc viên của Cục Tình Báo, tôi không phải là người đưa thư thường – năm 1949 tôi lên đến Ðại Từ, Thái Nguyên, đi đến Ðèo Khế mới trở về xuôi, những năm tôi sống như thế thì bốn chàng trai nước Việt tôi được quen sống thơ thới hân hoan ở Nice, ở Paris bên Pháp.

Bốn chàng trai đất Việt ấy là ông Hoàng Anh Tuấn, đạo diễn điện ảnh tác giả phim Hai Chuyến Xe Huê, ông Tuấn Ghẻ — ông này thì khỏi cần kể họ hay tiểu sử — ông Trịnh Viết Thành và ông Trần Bích Lan, tức Nhà Thơ Nguyên Sa Áo Lụa Hà Ðông.

Trong bốn ông được sang Tây ăn học đó chỉ có ông Trần Bích Lan là có bằng cấp đem về, còn ba ông kia dường như sang Tây chỉ để ăn chơi. Ba ông Tây du nhưng không Tây du học mà là Tây du hý. Sau 1954, khi hết chiến tranh, đất nước đã bị cưa đôi, bốn ông về nước. Ba ông — hai ông Tuấn, một ông Thành —  sang Tây học năm, bẩy năm mà không ông nào có qua một mảnh bằng gì cả, cả cái bằng lái xe ô tô ba ông cũng không có; về tiếng Tây, tiếng U, các ông bông xua, bông xoa, com xì com xà không khá hơn tôi bao nhiêu.

Thụy Vũ và Văn Quang: Sài Gòn 2016

Thụy Vũ và Văn Quang: Sài Gòn 2016

Nhưng thôi, việc học, việc chơi ngày xưa còn trẻ là việc riêng của mấy ông. Mấy ông có học, có bằng cấp, mấy ông là nhà khoa bảng thì vợ con các ông nhờ, đất nước, dân tộc có được hưởng gì của các ông đâu. Năm mươi năm sau ngày các ông về nước — trong bốn ông hai ông nay đã không còn ở cõi đời này — hôm nay tôi viết về các ông với tình thương mến, tôi hồi tưởng hình ảnh các ông thời các ông trẻ trung mà bùi ngùi như tôi hồi tưởng tuổi trẻ của tôi.

Tôi gặp Trịnh Viết Thành lần đầu năm 1955 ở buy-rô của Thanh Nam trong Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Trung sĩ Thanh Nam Trần Ðại Việt có bàn giấy ngồi viết đàng hoàng. Thành mới từ Pháp về, Thanh Nam giới thiệu chúng tôi với nhau. Sau đó tôi được biết Thành được anh em gọi là Trịnh Viết Thùng và Thành Nham Nhở — như Phan Nghị được gọi là Phan Nghệt, tên gọi yêu thương không có ý gì khinh miệt. Phải dùng tiếng cynique của Pháp để dùng cho Thành. Không phải thô tucï hay thô bỉ, Thành rất thực tế, nói trúng vấn đề, không che đậy, không nghĩ sai. Tôi không tìm được tiếng Việt nào dịch đúng tiếng cynique của người Pháp.

Thành không viết văn, anh chỉ làm báo. Thành lấy em gái  Nguyên Sa Trần Bích Lan từ thời hai người ở Pháp, nói cách khác Thành là em rể Nguyên Sa. Thành từng nói với chúng tôi:

— Nhà chúng mày chỉ mới có hai đời ăn nước máy, thắp đèn điện, nhà tao ba đời rồi.

Câu này có nghĩa ông nội tôi sống ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến ông bố tôi ra tỉnh học mới ăn nước máy, thắp đèn điện, đến đời tôi ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện mới là hai đời; ông nội của Thành đã ở thành phố, đã ăn nước máy, thắp đèn điện, qua ông bố anh là hai đời, đến anh là ba đời.

Theo tiêu chuẩn ấy thì tôi ăn nước máy, thắp đèn điện được hai đời, đời ông bố tôi, đời tôi, Văn Quang Chân Trời Tím ăn nước máy, thắp đèn điện được một đời: đời Văn Quang. Căn cứ theo lời Văn Quang kể ngày xưa còn trẻ  ở làng quê – chắc là vào những năm 1942, 1943 – anh từng cưỡi ngựa đi đòi nợ cho ông bố anh; tối xuống, trên đường về anh ngủ gà, ngủ gật trên yên ngựa, con ngựa biết đường cứ nhẩn nha lọc cọc, lịch kịch đưa anh về đến cổng nhà. Chuyện đó tôi nghe do chính Văn Quang kể. Như vậy chắc ông thân anh là Lý trưởng hay Chánh tổng, nhà nhiều ruộng, ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến đời Văn Quang mới ra ở thành phố, mới ăn nước máy, thắp đèn điện.

Cũng theo tiêu chuẩn ấy thì Duyên Anh cũng chỉ mới một đời ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện: ông thân Duyên Anh là lang thuốc ở vùng quê Thái Bình. Một trong những chuyện rất ít người biết là Duyên Anh Vũ Mộng Long, nhà văn lớn, đã có vợ ở làng quê trước năm 1954, có vợ nhà quê và có một chị con gái. Năm 1954 chàng trẻ tuổi Thái Bình lên Hà Nội học hay làm chi đó, đất nước chia đôi chàng xuống tầu Marine Serpent từ bến Sáu Kho Hải Phòng đi theo chiều dài của đất nước, đổ bộ lên bến Nhà Rồng Sài Gòn. Năm ấy, năm chàng có vợ, những năm 1952, 1953, nhà văn lớn mới có mười bẩy, mười tám tuổi. Ở số tuổi này chỉ có những anh con trai làng quê mới có vợ, do tục tảo hôn còn rơi rớt ở vùng quê Bắc kỳ.

Năm 1967 vợ chồng tôi xa nhau một thời gian, tôi sống một mình trong căn phòng nhỏ ở căn nhà số 21 đường Hồ Biểu Chánh, Sài Gòn, cạnh nhà Duy Sinh số 19. Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều ở căn phòng này trước tôi, Nguyễn ra Ðà Nẵng làm việc ở hãng Sealand, tôi đến ở phòng này. Một chiều Trịnh Viết Thành ghé qua, dúi cho tôi mấy ngàn đi ăn hút cho bớt sầu đời, Thành nói:

— Ðừng quá buồn. Ðó là qui luật. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình sống với nhau năm, bẩy năm, có khi mười năm, thế nào cũng bị một lần khủng hoảng đến có thể bỏ nhau. Vợ chồng mày cũng vậy. Nếu vượt qua được vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.

Ðúng quá Thành ơi! Những lời Thành nói một chiều ở đường Hồ Biểu Chánh năm 1967 vang vọng bên tai tôi dù thời gian đã qua ba mươi mấy mùa lá rụng. Hai năm 1974, 1975 Thành làm Thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường, tờ báo của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thời Tổng Giám đốc Nguyễn Khắc Bình. Như yếu nhân, ký giả Trịnh Viết Thành nhật báo Quật Cường có nhân viên cảnh sát bảo vệ mặc thường phục, có súng ngắn, chạy Honda theo sau xe hơi của Thành để bảo vệ Thành. Theo tôi, ký giả nhà báo Trịnh Viết Thành là ký giả duy nhất có công an bận thường phục đi theo bảo vệ.

Nón cối, giép râu, tóc bím, súng Aka ngơ ngáo vào Sài Gòn, cùng nhiều văn nghệ sĩ, ký giả khác Thành bị VC bắt Tháng Ba 1976. Sau chừng một năm quanh quẩn trong những phòng tù Số 4 Phan đăng Lưu, Chí Hòa, một số anh em được tha, một số bị đưa đi các trại lao động cải tạo. Trong số văn nghệ sĩ lên Trại Cải Tạo Gia Trung-Gia Lai ở Pleiku có Trịnh Viết Thành.

Năm 1977 tôi bị bắt, 1980 tôi được thả về Ngã Ba Ông Tạ. Tháng Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai, các bạn tôi Trịnh Viết Thành, Thái Thủy, Lý Ðại Nguyên, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Chóe Nguyễn Hải Chí, Thanh Thương Hoàng vẫn tù mút chỉ ở trại Gia Trung-Gia Lai.

Năm 1990 lần thứ hai tôi từ ngục tù cộng sản trở về. Ðã mười lăm năm kể từ 1975. Tất cả những văn nghệ sĩ si-dzin cũng như mi-li-te, trừ những người đã chết trong tù và những người mới bị bắt hay lại bị bắt, đều đã trở về Sàigòn với những đường phố cũ, vỉa hè xưa. Tôi được tin Thành đã về, anh đau yếu nặng. Khoảng hai giờ trưa một ngày mùa mưa ở Sai Gon đất trời u ám, vừa ở tù về được ít ngày tôi bỗng thấy nhớ Thành. Nhà Thành trước ở trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, nhưng nay Thành sống môt mình trong căn nhà của ông bà thân sinh anh ở đường Nguyễn An Ninh bên chợ Sài Gòn. Tầng dưới của nhà này trước 1975 là nhà in Nam Sơn, nhà in của gia đình Thành. Một người em trai của Thành điều khiển nhà in này. Nhà in trong nhiều năm in tạp chí Văn Học của chủ nhiệm Phan Kim Thịnh. Khi tôi đến tầng dưới bị chiếm làm cửa hàng lương thực của phường. Mấy căn phòng trên lầu đều bị chiếm cho cán bộ ở.

Tôi theo cầu thang lên tầng lầu trên cùng. Tầng này trước 75 là nơi bà mẹ Thành ở. Trên sân thượng có điện thờ Phật, một khoảng vườn nhỏ  trồng hoa, cây mai, cây trúc, bồn nước, hòn non bộ. Mười lăm mùa lá rụng chúng tôi mới gặp lại nhau. Tôi đến tìm Thành, thấy Thành tôi nhận ra Thành ngay. Vì bất ngờ không biết tôi đến có thể Thành không nhìn ra tôi.

— Nhận ra tao là ai không? Tôi hỏi.

Thành gọi ngay tên tôi:

— HHT. Mày chứ còn ai nữa.

Thành nói anh bị lao xương, con anh bảo lãnh anh sang Pháp, nhưng anh yếu quá chưa đi khám sức khỏe được. Trông Thành tiều tụy thê thảm quá, nhưng tôi cũng không ngờ anh lại ra đi nhanh thế.

Một chiều gần Tết tôi trở lại nhà in Nam Sơn xưa thăm Thành. Lên hết thang lầu tôi ngẩn ngơ trước cửa phòng Thành, cửa đóng kín, có cái khóa ngoài toòng teng. Trở xuống tôi hỏi thăm, người ta trả lời tôi:

— Bác Thành mất rồi.

Ở Paris những năm 1949, 1950 Thành lấy vợ là con gái ông Trần Văn  Chi, có con, khoảng năm 1957, 1958 ở Sàigòn Thành bỏ vợ để lấy chị vợ sau. Ly di. Vợ cũ của Thành, tôi nghe nói, sang Pháp, để con lại Sài Gòn dưới quyền giám hộ của ông anh Nguyên Sa. Một tối Thành kéo tôi đi ăn chơi, con Thành học nội trú trong trường Taberd, ông giám hộ Trần Bích Lan không cho phép Thành được gặp con. Thành kể chuyện rồi nói với tôi:

— Nguyên Sa nó trọng dư luận các bạn văn nghệ sĩ lắm, mày nói với nó dùm tao, cho tao gặp con tao, sao lại cấm không cho bố con tao gặp nhau.

Tôi gặp Nguyên Sa.

– Thành nó đến tìm tao. Nó nhờ tao nói với mày cho nó được gặp con nó.

Tôi noi thêm:

– Cho nó gặp con nó. Cấm bố con nó gặp nhau làm gì.

Nguyên Sa nói:

— Tao ghét nó nhà quê. Là văn nghệ sĩ…chẳng thà nó nghiện thuốc phiện đi, đằng này nó lại chơi trò nhà quê có vợ bé.

Nguyên Sa là dân Hà Ðông nhưng anh sống ở Hà Nội nhiều hơn ở Hà Ðông. Tôi nhớ tên ở Hà Ðông trước 1945 của anh là Phúc, khi gặp lại nhau ở Sài Gòn tôi thấy tên anh là Trần Bích Lan.

Năm 1955 tôi gặp lại Nguyên Sa trên vỉa hè Lê Lợi. Từ Pháp trở về Nguyên Sa ăn mặc thật giản dị, sơ-mi trắng ngắn tay bỏ ngoài quần, quần kaki, đi giày rất thường, tay không đồng hồ, thời gian đầu anh còn đội cái nón cối cũng mang ở Pháp về. Ra cái điều ta đã sống ở Paris, nơi con người trang phục sang, đẹp nhất thế giới, ta cóc cần chú ý đến chuyện phải ăn mặc bảnh bao như mấy anh Sài Gòn quê kệch. Anh kể chuyện văn nghệ văn gừng ở Pháp:

— Bọn thiên tả chúng nó có cái trò họp nhau phê bình thơ của nhau, với chúng nó bài thơ nào cũng phải có ý nghĩa, phải nói lên một cái gì. Bọn tao đến họp là chúng nó bực lắm. Có lần tao nói bài thơ này nó nói lên được cái là nó không nói lên cái gì cả.

Anh nói:

— Tao làm văn nghệ, thấy không khá, nhớ lời dậy của ông bố tao: phải làm thương mãi mới khá được, muốn khá phải làm thương mại.

Nguyên Sa không dậy học muớn, không làm hiệu trưởng mướn, anh làm chủ trường, anh có nhà in riêng trong trường Văn Học của anh. Thời tôi viết phóng sự Tây Ðực, Tây Cái — sau đổi là Ông Tây, Bà Ðầm — những năm 1955, 1956 trên nhật báo Ngôn Luận, Nguyên Sa kể:

— Tao vào lớp, thấy cứ mỗi lần tao hỏi đến một thằng học trò là mấy thằng bạn nó lại sì sào.. Cuốc Tô.. Cuốc Tô.. Tao không biết Cuốc Tô là cái gì. Tao hỏi mới biết Cuốc Tô là tên nhân vật trong phóng sự của mày. Lần sau vào lớp, tao hỏi đúng thằng học trò ấy: Sao.. Ký giả Cuốc Tô.. Mấy hôm nay ký giả có gặp bà Dzô- dzan không? Cả lớp chúng nó cười ồ lên. Dậy học thầy phải như thế học trò nó mới chịu.

Ðầu năm 1995 bánh xe lãng tử đưa tôi sang Cali, tôi gặp lại Nguyên Sa. Anh đã bị giải phẫu ở cổ, anh đi lại, lái xe, ăn uống bình thường, chỉ có hơi yếu. Anh có tờ tuần báo Ðại Chúng, anh đến nhà Hồng Dương đón tôi đưa tôi đến tòa soạn nhật báo Người Việt, tòa soạn Việt Báo. Anh bảo tôi:

– Mày phải ở Cali. Ðồng bào mày nó chia rẽ, nó nhỏ nhen, nó lắm chuyện, nó không ra làm sao cả, đồng ý, nhưng nó là đồng bào mày. Mày viết, mày phải sống gần đồng bào mày mày mới viết được.

Tôi nhờ tìm cho tôi một cái tên chung cho những bài tôi viết, như kiểu Nguyên Sa có mục “Bông hồng cho văn nghệ” trên nhật báo Sống ngày xưa, Nguyên Sa nói:

— Mày lấy Viết ở Rừng Phong hay quá rồi, còn phải tìm tên nào nữa.

o O o

Hoàng Vĩnh Lộc là một trong rất ít những người Việt Nam thực sự yêu mê nghệ thuật điện ảnh tôi được gặp, được biết. Tôi được biết Hoàng Vĩnh Lộc từ năm 1952 ở Sàigòn.

Tôi viết “tôi biết” Hoàng Vĩnh Lộc năm 1952 vì năm ấy tôi chỉ biết anh mà không quen anh, tôi chưa có điều kiện để quen anh, để giao thiệp với anh như người cùng giới văn nghệ sĩ. Năm 1952 tôi chưa là người viết tiểu thuyết trong khi Hoàng Vĩnh Lộc đã là diễn viên điện ảnh.

Năm 1952 là thời gian, có thể vì tôi không phải là dân ăn chơi có hạng nên tôi chỉ thấy Sài Gòn có mấy người đàn bà nổi tiếng, được nhiều người biết mặt, biết tên, như nữ ca sĩ Ngọc Hà chuyên đi xe Vespa — thời ấy có lẽ cả Sàigòn chỉ có một phụ nữ đi xe Vespa là nữ ca sĩ Ngọc Hà — như Thu Trang, người ngày ngày mặc áo dài trắng, quần trắng, đi xe đạp dura trắng đến làm việc ở Phòng Thông Tin Hoa Kỳ đường Gia Long-Hai Bà Trưng, Thu Trang vài năm sau trở thành diễn viên điện ảnh, Nguyệt Hồ, người có ảnh được lên bìa tuần báo Ðời Mới của ông Trần văn Ân. Những năm 1951, 1952 việc phụ nữ có ảnh đăng bìa tuần báo quan trọng như việc các nàng đóng phim những năm 1960, Nguyệt Hồ về sau – những năm 1964, 1965 – hành nghề bói bài tây ở nhà riêng đường Ðinh Công Tráng, Tân Ðịnh.

Năm 1952 là năm Việt Nam lại bắt đầu làm phim xi-nê, Hà Nội có phim Kiếp Hoa với những diễn viên Kim Chung, Kim Xuân, Anh Tứ, Sài Gòn có Thái Thúc Nha Alpha Film làm phim Bến Cũ. Kíếp Hoa phim đen trắng, Bến Cũ phim mầu Technicolor. Hoàng Vĩnh Lộc và Bích Ngà đóng hai vai chính trong phim mầu Bến Cũ, phim còn một nữ diễn viên nữa là Liên Hương. Tôi có vai lần được gặp nữ diễn viên Bích Ngà.

Bến Cũ chưa được trình chiếu Hoàng Vĩnh Lộc đã nghiễm nhiên trở thành nam diễn viên số một của điện ảnh Việt Nam, một jeune premier đúng nghĩa. Anh hơn tôi chừng mười tuổi. Năm đóng phim Bến Cũ anh mới chỉ khoảng ba mươi, ba mươi hai. Có những buổi sáng, buổi chiều tôi thấy anh trên đường Catinat, Bonard, anh bận toàn y phucï trắng, giầy trắng, lái chiếc xe Peugeot 203 hai chỗ ngồi, mui vải, cũng mầu trắng. Anh hơi cao, nhưng cân đối, khỏe mạnh, trông rất thể thao. Và anh đẹp trai. Với tôi anh là diễn viên điện ảnh phong độ nhất, đẹp trai nhất kể từ năm 1952 đến những năm 1965.

Thời gian qua… Năm 1960 Hoàng Anh Tuấn làm phim Hai Chuyến Xe Hoa, tôi được Tuấn mời đóng một vai phụ. Những năm 1960, 1961..tôi đang ở đỉnh cao phong độ nhất của đời tôi: tôi đang ba mươi tuổi, đang nổi tiếng, đang viết nhiều, đang kiếm được nhiều tiền. Ðó là những năm nhật báo Sàigònmới của ông bà Bút Trà đang bán chạy nhất và tôi là nhân viên của nhật báo đó. Ngoài việc làm thường trực trong tòa soạn nhật báo Sàigonmới tôi  viết tiểu thuyết thường xuyên, tức là viết quanh năm, năm này sang năm khác, cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh, tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong, tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai của Sáu Khiết, con bà Bút Trà.

Trong tác phẩm “Nhìn Lại Những Bến Bờ”, xuất bản ở Mỹ năm 1988, viết về tôi trong thời gian những năm 1960 Duyên Anh gọi tôi là “ông vua không ngai” của nhật báo Ngôn Luận. Trên báo Ngôn Luận những năm ấy tôi viết tiểu thuyết ở trang trong, phóng sự tếu ở trang nhất. Làng báo Sàigòn từ 1954 đến 1975 không có mấy người viết nhiều trên một tờ báo như tôi.

Buổi sáng tôi tình cờ lái cái xe Jeep qua khu bờ sông Sài Gòn quãng gần nhà Ngân Hàng Việt Nam. Một ê-kíp làm phim người Pháp đang thực hiện một đoạn phim ngoại cảnh ở khu này. Phim Mort en Fraude, đào Dominique Wilms trong vai chính. Nhìn thấy Hoàng Vĩnh Lộc và Lê Quỳnh đứng bên đường xem quay phim, tôi ngừng xe, đến nói chuyện với hai anh.

Lê Quỳnh hòa nhã, vui nhưng không nói nhiều, Hoàng Vĩnh Lộc cởi mở, nói nhiều với tôi. Chúng tôi nói đến chuyện Hoàng Anh Tuấn sắp làm phim Hai Chuyến Xe Hoa và tôi được mời đóng một vai. Tuy tôi không hỏi tôi có nên đóng phim hay không, Hoàng Vĩnh Lộc tự ý và sốt sắng nói ra ý kiến của anh:

— Tôi thấy anh không nên đóng phim. Anh đã có cái danh văn sĩ rồi, anh cứ giữ lấy cái danh ấy, đừng dại mà bước sang địa hạt đóng phim. Làm diễn viên điện ảnh không dễ đâu. Phải hy sinh, bị mất mát nhiều lắm, nhất là trong những bước đầu.

Hoàng Vĩnh Lộc khuyên tôi đừng dại mà tập tễnh bươcù vào nghề diễn viên điện ảnh, tôi đã không làm theo lời anh khuyên, nhưng từ ngày ấy đến nay đã hơn bốn mươi năm qua, tôi vẫn nhớ hình ảnh anh đứng với tôi  hôm xưa trên vỉa hè Sài Gòn gần bờ sông, nhớ từng tiếng anh nói. Anh đã tỏ ra chân thành, sốt sắng với tôi. Và anh nói đúng về việc tôi không nên đóng phim..

Từ năm 1950 đến khi anh ra khỏi cõi đời này Hoàng Vĩnh Lộc không làm công việc gì khác ngoài việc đóng phim, làm phim. Dường như anh chỉ có một thời vui vẻ trong nghề, đó là thời anh làm phim Người Tình Không Chân Dung mà chúng tôi gọi đùa là  Người Tình Không Chân Tay, với Kiều Chinh, Tâm Phan, Minh Ðăng Khánh. Phim  được thực hiện ngoại cảnh ở thị xã Cam Ranh thời ông Quang Dù làm thị trưởng, phim mầu cinemascope, có mặt một số thân hữu như Hùng Sùi, Chương Ma-rin, Vũ Văn Ước, Dương Hùng Cường, tức Dê Húc Càn, người đã chết trong ngục tù xã hội chủ nghĩa.

Sau Người Tình Không Chân Dung, Hoàng Vĩnh Lộc làm một phim của riêng anh: Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương. Huy Cường là một diễn viên trong phim này. Huy Cường chết khoảng năm 1976 hay 1977, nghe nói đêm khuya, Huy Cường rượu say, ngồi sau xe Honda về cư xá Thanh Ða, xe đụng, Cường té ngửa, đập đầu xuống đường.

Tháng Ba 1976 Hoàng Vĩnh Lộc bị bắt trong đợt Công An Thành Hồ khủng bố văn nghệ sĩ. Giới điện ảnh có bốn người bị bắt trong đợt này: Hoàng Vĩnh Lộc, Hoàng Anh Tuấn, Minh Ðăng Khánh, Thân Trọng Kỳ. Muời tháng sau cả bốn anh đều được thả. HV Lộc bị suyễn nặng. Tôi từng  thấy anh thời anh trẻ trung, khỏe mạnh, đầy sức sống, tinh anh, rồi tôi lại thấy anh tiều tụy trong buổi xế chiều của đời anh. Rồi một ngày tôi được tin anh qua đời.

Năm 1982 hay 1983? Chiều mưa. Tôi đạp xe đến nhà anh ở trong hẻm đường Chi Lăng. Trước nhà anh là một bãi đất hẹp có vài cây chuối vàng võ, còm cõi. Một cái bàn, vài cái ghế được đặt dưới tấm nylon căng che trên miếng đất ấy. Khách đến viếng ngồi ở đó. Tôi ngồi đó trong bóng chiều vào tối xanh sám, nghe tiếng mưa rơi lộp bộp trên tấm nylon, nhìn quan tài anh đặt trong căn nhà hẹp, vài ngọn nến gầy leo lét, lung lay. Ðạo diễn điện ảnh Hoàng Vĩnh Lộc có chiều cao hơi quá khổ, người nhà anh phải vất vả mới tìm được cỗ quan tài vừa người anh.

o O o

Sau Huy Cường, Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Ðăng Khánh là người làm điện ảnh thứ ba chết ở Sàigòn sau ngày 30 Tháng Tư 1975.

Tôi quen Minh Ðăng Khánh từ ngày thành phố Sàigòn mới có Bin-đinh Cửu Long. Khánh ở Cửu Long thời anh chưa lập gia đình. Gần như tất cả những người sống ở Bin-đinh Cửu Long đường Hai Bà Trưng thời ấy đều độc thân. Vài người nổi tiếng: Hiếu Ve, anh có cái ve ở tai nên gọi là Hiếu Ve, nghe nói anh là em ông Trần văn Chương, chú bà Trần Lệ Xuân. Sau 30 tháng Tư Hiếu Ve nói anh buồn, anh muốn tự tử. Những ngày ấy Sàigòn có rất nhiều người buồn muốn chết và nói ra miệng là sẽ tự tử, Hiếu Ve nói và làm thật, một đêm anh lên sân thượng bin-đinh Cửu Long nhẩy xuống đất. Thanh Nam, Hoàng Thư, Thái Thủy, Trần Lâm ABC..từng ở Bin-đinh Cửu Long.

Minh Ðăng Khánh nguyên là giáo viên, tên thật của  anh dường như là Trần Ðăng Lộc. Năm 1954 từ Bắc vào Sài Gòn anh bỏ nghề dậy học để làm văn nghệ sĩ. Anh vẽ rất khá, từng là thầy dậy hội họa của nữ ca sĩ Tâm Vấn.

Minh Ðăng Khánh bị bắt Tháng Ba 1976. Cũng như Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Hoàng Anh Tuấn, mười tháng sau anh được thả. Trong số văn nghệ sĩ không phải đi trại cải tạo năm ấy có Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Hồng Dương, Nguyễn Hưũ Hiệu, Sao Biển, Xuyên Sơn, Minh Vồ, Trần Việt Sơn, Lê Xuyên vv…

Nhà Khánh ở đường Nguyễn văn Học, nay là đường Nơ Trang Long, cạnh bệnh viện Nguyễn văn Học. Cuối năm 1979 ở tù về, tôi được tin Khánh bị bại liệt.

Khánh rất khỏe, thời trẻ anh chơi thể dục, trước 1975 có lần anh bảo Hoài Nguyên, con trai tôi khi anh thấy con tôi mê thể dục, thể thao:

— Muốn chơi thể dục, thể thao ta phải có chiều cao, cháu ạ. Bác thấy mày cũng không có chiều cao như bác. Tập người nở ra vuông như cái bánh chưng, khó coi lắm.

Khánh sống rất lành mạnh, không chơi bời, không hút xách, không rượu, không cờ bịch, anh chỉ hút pipe. Anh người vạm vỡ, nước da nâu, tóc bạc, chúng tôi vẫn nói anh khỏe như trâu. Không thấy Khánh có tật xấu nào, vậy mà đi tù về tự nhiên anh bị bại liệt nửa người. Nghe nói anh gặp nhiều chuyện buồn phiền trong gia đình, sau một trận cãi cọ to tiếng anh hút điếu thuốc lào, ngã ra, và bị bại liệt nửa người.

Tôi tìm Khánh, chúng tôi nối lại cuộc giao du bị đứt đoạn vì tai họa, tù đày. Khánh nói ngọng, anh vẫn đi lại được dù đi chậm, lê lết, khó khăn, không ngồi vững được. Mỗi lần Khánh từ Nguyễn Văn Học, Bà Chiểu ra nhà tôi ở Ngã Ba Ông Tạ là cả một hành trình cần phải thu xếp. Phải có một anh em còn khỏe — thường là Sao Biển — chở anh trên xe đạp, để anh ngồi trên poóc-ba-ga, tay trái anh vòng ra ôm người chở — Khánh bị liệt nửa người bên phải — đạp xe chầm chậm. Khánh ngã xuống là không tự mình đứng lên được. Ở nhà một mình mỗi lần té anh phải nằm đấy chờ cho đến lúc con anh về đỡ dậy.

Khánh thường bận bộ bà ba nâu, ngoài bận cái áo judo cho đỡ lạnh trong những ngày cuối năm, đeo cái túi vải nát trong đựng các thứ đồ lẩm cẩm: khăn mặt, tiền, giấy tờ, cái pipe, bịch thuốc hút.

Khánh kể có lần anh lết lết đi vào tiệm phở :

– Người ta tưởng tao ăn xin, cho tao tiền, tao nói cám ơn tôi không phải là ăn mày.

Những năm 1981, 1982, căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ là nơi gặp gỡ của các bạn tôi. Các bạn góp tiền đưa cho vợ tôi đi chợ, mua chút gì đó về làm một món nhậu, nấu cho nồi cháo, vừa nhiều, vừa ngon, chúng tôi có thể ngồi ăn uống, nói chuyện thoải mái từ năm, sáu giờ chiều đến chín, muời giờ tối. Tất nhiên trong những buổi ăn như thế chúng tôi cũng cố xoay được chút ruợu cho ấm lòng chiến sĩ.

Nhà tôi có căn gác lửng. Mỗi lần đến Khánh thường lết lên đó nằm nói chuyện với tôi cả hai, ba tiếng đồng hồ. Thang gác nhỏ síu, Khánh lên thang bằng cách ngồi xoay lưng, nhấn chân nhổm đít lên từng bậc, lúc xuống cũng vậy. Vì Khánh lên xuống thang khó khăn như thế nên tôi giải quyết vấn đề tiểu tiện cho Khánh bằng cách lấy cái bô lên gác, tôi bưng bô cho Khánh đứng đái.

Một sáng con trai Khánh đến báo tin Khánh chết. Khánh đã thoát nợ, Khánh đã hết khổ. Tôi đến một trong những cái gọi là Xưởng Phim của Thành Phố Hồ Chí Minh, ở đường Ðiện Biên Phủ, báo tin Khánh mất với Lê Hoàng Hoa. Có khá đông anh em đến tiễn đưa Khánh sáng hôm ấy.

Dòng thời gian dài một ánh bay…

Hôm nay, một trong những ngày cuối đời liêu lạc ở quê người, nhớ lại, viết về những người bạn của tôi đã sống, đã chết, tôi thấy ẩn hiện hình ảnh Hoàng Vĩnh Lộc trên chiếc Peugeot decapotape trắng đậu trước nhà hàng Kim Hoa đường Bonard một buổi chiều Sàigòn nắng vàng năm 1952, nhớ anh một chiều mưa năm 1967 anh đến tòa soạn nhật báo Dân Tiến hẹn tôi đến Trung Tâm Quốc Gia Ðiện Ảnh xem chiếu phim Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương vừa mới hoàn thành, tôi nhớ hình ảnh Minh Ðăng Khánh một tối năm 1955, Khánh đến nhà tôi gọi vợ chồng tôi đi ăn phở gà Hiền Vương, nhớ một tối gần Tết Khánh chở tôi trên xe Lambretta của anh lên Hội Chợ Quang Trung dự cuộc thi Hoa Hậu Ðông Phương. Ðây là cuộc thi hoa hậu thứ nhất của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, cuộc thi do hãng phim Ðông Phương của anh Ðỗ Bá Thế tổ chức — Ðông Phương Films làm phim Ánh Sáng Miền Nam — tôi bùi ngùi nhớ những lần tôi bưng bô cho Khánh đái..

Từ ngày sang Mỹ tôi đã viết một số bài về các bạn tôi, hôm nay tôi soạn, sửa những bài viết ấy để làm thành quyển SỐNG và CHẾT ở SÀIGÒN. Bài bạn vừa đọc là một bài trong tuyển tập ấy.

Trích Sống và Chết ở Sài Gòn.

CHẸC và NGƯỜI

Nhà Tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Ảnh năm 1980

Nhà Tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Ảnh năm 1980

“Người” trong bài Viết ở Rừng Phong này là “Người Tù.”

Từ năm 1980 một số người viết của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia bị diệt năm 1975, thoát ra được nước ngoài – Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Anh, Ðức – đã viết và ấn hành nhiều tác phẩm Hồi Ký tố cáo chính sách đàn áp, bỏ tù nhân dân tàn bạo của những người cộng sản Việt Nam; những hồi ký tù đày viết bằng máu và nước mắt từng làm xúc động người đọc, liên tiếp ra đời trong mười năm – 1980-1990 – Nhà Tù, Trại Tập Trung của Duyên Anh, Ðại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Ðáy Ðịa Ngục của Tạ Tỵ.. Thật nhiều, tôi không được đọc hết, không thể kể hết. Những hồi ký tù đày của những người viết Quốc Gia VNCH chỉ viết về những người tù VNCH.

Đặng Kim Giang, Tướng Bắc Cộng, người bị bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, cho vào nằm phơi rốn trong Nhà Tù Hỏa Lò.

Đặng Kim Giang, Tướng Bắc Cộng, người bị bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, cho vào nằm phơi rốn trong Nhà Tù Hỏa Lò.

Ngày tháng trôi đi, cuộc sống tiếp tục… Từ năm 1990 những người viết miền bắc Xã Hội Chủ Nghĩa thế chân những người viết VNCH viết chuyện ngục tù cộng sản, tố cáo tội ác cộng sản. Ðây là những tội ác bọn cộng sản làm với những người dân miền Bắc XHCN: 1992 Bùi Tín, sau khi ra khỏi nước, viết Hoa Xuyên Tuyết, Mặt Thật, 1998 Vũ Thư Hiên xuất hiện ở hải ngoại với Ðêm Giữa Ban Ngày, 2000 Bùi Ngọc Tấn từ Hà Nội gửi ra hải ngoại Chuyện Tình năm 2000, năm 2001 Nguyễn Chí Thiện đến Hoa Kỳ năm 1995, cho ấn hành tập truyện Hỏa Lò.

Năm 1979 Nguyễn Chí Thiện, sau nhiều năm tù đầy ở miền Bắc XHCN, đã làm một hành động trước anh, sau anh, không một văn nghệ sĩ nào sống trong chế độ cộng sản — trên toàn thế giới, không phải chỉ riêng ở nước CS Việt Bắc Kỳ — dám làm hay nghĩ đến chuyện làm: “chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc trao tập thơ, nhờ họ đưa ra nước ngoài.” Ðó là tập thơ Tù Cộng Sản giá trị nhất, tập thơ được ấn hành ở Hoa Kỳ có hai tên “Bản Chúc Thư của Một Người Việt Nam”Tiếng Vọng từ đáy vực.” Theo tôi, đây là những “Tiếng Kêu từ đáy vực,” không phải “tiếng vọng.”

Những năm 76, 77, ở Sài Gòn, có lần tôi đọc một bài viết sau 1975 của Nguyễn Tuân. Nói đến cái đèn dầu của nông dân Nam Bộ, bầu đựng dầu có hình thù giống cái trứng vịt nên nhân dân gọi là đèn hột vịt, Nguyễn Tuân tấm tắc khen: “Sao nhân dân ta giỏi đặt tên đồ vật đến như thế..v..v..” Nguyễn Tuân cũng như đa số những người viết miền Bắc XHCN thường ca tụng nhân dân, nông dân hết lời, họ luôn luôn nhận vơ, danh từ của họ là “vơ vào”, nhân dân là của họ, nhân dân đứng về phe họ. Tôi nghĩ: “Dân thành thị đặt tên đồ vật còn hay hơn: đồng hồ quả quít, mũ nồi, mũ chào mào, mũ lưỡi trai, áo đuôi tôm, nhà Hỏa Lò..vv..”

Những năm mới mười tuổi đời tôi đã nghe tiếng Nhà Hỏa Lò, rất ít người nói Nhà Tù, Nhà Pha Hà Nội, người ta chỉ nói Nhà Hỏa Lò. Và nói Nhà Hỏa Lò là nhiều người biết đó là nhà tù ở Hà Nội, những góc tường của nhà tù có những vọng gác nhô lên, trông như cái hỏa lò, nhân dân gọi là Nhà Hỏa Lò, tất cả mọi người đều nhận cái tên đặt ấy. Nguyễn Chí Thiện đã sống trong nhà Hỏa Lò sáu năm trong lần bị bắt thứ hai của anh, ngay sau khi anh từ Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội trở ra, sự việc xẩy ra năm 1979. Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh, mười mấy năm sau ngày sống sót ra khỏi Hỏa Lò, ở Hoa Kỳ Nguyễn Chí Thiện nhớ lại và viết về cuộc sống cùng tâm trạng của một số tù nhân Hỏa Lò.

Tôi không viết bài này như một bài phê bình hay giới thiệu sách, vì Nguyễn Chí Thiện sống sáu năm trong Nhà Tù Hỏa Lò, tôi sống năm năm trong Nhà Tù Chí Hòa, nhân đọc Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện, tôi so sánh Nhà Tù Hỏa Lò Hà Nội với Nhà Tù Chí Hòa Sài Gòn – so sánh từ hình thể đến những luật lệ áp dụng cho tù nhân trong hai nhà tù nổi tiếng nhất của đất nước, đối chiếu đời sống của tù nhân trong hai nhà tù.

Những chuyện rất thường trong nhà tù, quá thường với những người không bị tù, những người chưa từng sống ngày nào trong ngục tù cộng sản, nhưng lại rất quan trọng với người tù Việt Nam trong những nhà tù cộng sản, chẳng hạn như tù nhân Hỏa Lò bị cấm không được hút thuốc lào, thuốc lá, bị bắt có thuốc lào, thuốc lá là bị phạt nằm xà-lim, cùm chân, tù nhân Chí Hòa hút thuốc tự do, đồ căng-tin do cán bộ cai tù Chí Hòa bán cho tù để kiếm lời có thuốc lào, thuốc rê. Tù có tiền nhà gửi vào là tha hồ mua thuốc hút. Ðây là một đoạn tác giả Hỏa Lò Nguyễn Chí Thiện tả về chuyện thuốc lào ở trong Nhà Tù Hỏa Lò:

Hỏa Lò, trg 49 – Trích:

Lão già đứng nhìn, lắc đầu. Tên quản giáo vẫn ngồi uống trà, phì phèo điếu thuốc trên miệng, chưa buồn ngó tới lão. Lão vứt cái bị cói xuống thềm, uể oải ngồi xuống. Mấy tên tự giác đứng canh bọn tù ngồi ăn, đợi lệnh. Lão già chẳng bao giờ để ý tới bọn quản giáo. Nhiều năm ở tù rồi, lão thấy bọn chúng: dù trẻ, dù trung niên, dù già, dù gầy, dù béo, dù cao, dù thấp, dù da trắng, da ngăm ngăm, dù mắt lồi, mắt sâu, mắt sếch, mắt lươn, mắt lé… đa số đều có một điểm chung là nhìn bọn tù lừ lừ, khinh miệt, thù hận, mê muội..

— Thằng nào vừa gặp gia đình?

Tiếng tên quản giáo, hỗng hách, đầy quyền uy.

— Thưa ông, cháu.

Một tên tù đương ăn vội vã đứng lên, lụng bụng đáp lại. Tên quản giáo hất hàm cho mấy tên tự giác:

— Khám.

Hai tên tự giác xăm xăm tới.

— Cởi áo ra!

Hai bàn tay gã tù lở loét, bê bết xôi, nhầy nhụa mỡ thịt, loay hoay cởi khuy. Một tên tự giác sờ nắn, rũ rũ cái áo. tên tự giác khác bắt tên tù dơ hai tay lên cao, quay trước, quay sau.

— Cởi quần ra!

Gã tù trút bỏ chiếc quần ni-lông ra. Lại sờ nắn, rũ rũ.

— Báo cáo ông, không có gì.

Tên quản giáo nhăn mặt, nhíu mũi khi nhìn thân hình ghẻ lở, loang lổ máu. Thấy dáng điệu gã tù có vẻ hồi hộp, hắn quát:

— Cởi quần đùi ra!

Gã tù lom khom cởi nốt cái quần đùi, mặt tái nhợt, hai tay úp che hạ bộ.

— Bắt nó chổng mông lên! Nhìn lỗ đít nó xem có cái gì không?

Hai tên tự giác ấn gã tù chổng mông. Rồi một tên ngồi xuống, lấy hai tay vạch hậu môn, nhìn vào. Phát hiện thấy có vật gì trong đó, hắn quát:

— Rặn mạnh ra!

Loay hoay một lúc, hắn lôi ra một cucï ni-lông tròn, dài.

— Báo cáo ông.. thuốc lào.

Tên quản giáo đắc ý:

— Mày qua mắt ông nội mày thế nào được! Con muỗi bay qua, ông cũng phân biệt được con đưc, con cái. Nhìn cái điệu của mày, ông đã biết thế nào cũng có vấn đề. Mày ở ngoài là nhà báo, mày không đọc được nội quy sao?

— Thưa ông, giải quyết thằng này thế nào?

Một tên tự giác khúm núm hỏi.

— Tịch thu toàn bộ quà. Bắt nó nuốt chỗ thuốc lào ấy! Mày nhét vào lỗ đít, tưởng qua mắt nổi ông. Bây giờ ông nhét vào lỗ mồm mày.

CTHĐ: Chuyện kể tự nó nói lên những gì nó cần nói, những gì nó mang trong nó, tôi sẽ không phụ đề Việt ngữ gì nhiều về những chuyện Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện. Như chuyện trên đây, không cần tôi viết gì thêm đọc chuyện bạn cũng thấy tính cách ác độc khủng khiếp, ác độc đến không thể ngờ được, của bọn Cai Tù CS đối với đồng bào của chúngï – đồng bào ruột thịt..! – Nếu bạn may mắn chưa từng nếm mùi tù đầy cộng sản, tôi nghĩ đọc những hồi ký tù đày do chúng tôi viết bạn sẽ thông cảm và bạn sẽ biết vì sao những cựu tù nhân chính trị nạn nhân cộng sản chúng tôi không sao có thể nguôi được lòng căm thù chế độ cộng sản ở quê nhà, chúng tôi không sao có thể thỏa hiệp, dù là giai đoạn, với những người cộng sản. Chúng tôi đã bị hành hạ tàn nhẫn, chúng tôi thoát chết nhưng nhiều anh em chúng tôi chết thê thảm, chúng tôi đau, chúng tôi thương, chúng tôi không thể quên được.

Năm 1981, ba người chúng tôi cùng ở tù về gặp lại nhau: Dương Hùng Cường, Vương Quốc Cường và tôi. Cường Vương là thẩm phán, từng làm chánh án Quảng Ngãi năm 1974-1975, đi tù ở ngoài Bắc, Cường Dương và tôi chỉ tù ở trong Nam, tôi nghe Cường Vương kể:

— Bọn tù ngoài ấy phải gọi bọn cai tù là ông, bà, xưng con. Tôi thấy cảnh mấy con mụ cai tù nó trói các em tù vào cột, nó đánh bằng roi mây, các em lậy van thảm thiết: “Con lậy bà.. Con xin chừa.. Bà tha cho con..”

Hai bạn tôi, Dương Hùng Cường, Vương Quốc Cường, đều đã qua đời, Dương Hùng Cường, bị bắt lần thứ hai năm 1984, chết thảm năm 1987 trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, Vương Quốc Cường mất tích trong một chuyến đi vượt biên; anh là người đi không đến đích, một ra đi là không đến nơi, và khơng trở về, tôi chắc anh đã chết trên biển. Cũng rất có thể anh bị bọn lưu manh đưa anh đi chui đã giết anh trong đêm ở bãi biển vắng nào đĩ để lấy vàng, lấy đô-la của anh. Chúng giết anh rồi vùi xác anh đâu đó. Trong những năm 1980 có nhiều người miền Nam đi chui bị giết như thế. Có vụ do chính bọn công an quận, xã chủ mưu.

Tù chính trị VNCH chúng tôi chỉ phải gọi cai tù là cán bộ, xưng tôi. Lên trại tù khổ sai Z 30 A tôi nghe thêm tiếng: “Thưa ban..” lạ tai, “ban” đây là “ban lãnh đạo”, nếu nói cả câu là “Thưa cán bộ ban lãnh đạo..”, vắn tắt là: “Thưa ban..”, tiếng “ban” dùng để gọi mấy anh Trại Phó, Trại Trưởng, để phân biệt mấy anh với bọn cai tù tầm thường. Tiếng “..Thưa ban..” từ những ngục tù miền Bắc đi vào những ngục tù VNCH.

Năm 1973 khi dịch The First Circle của Alexandre Solzhenytsin – Tầng Ðầu Ðịa Ngục — tôi đã thấy Solzhenytsin viết: “Tù cộng sản ghê sợ nhất là cái đói..” Tác giả kể có lần bọn tù khổ sai ở Sibéria đào được xác một con khủng long chết đã 5000 năm nhưng nằm sâu trong tuyết nên thịt vẫn còn tươi. Chỉ một thoáng sau đám tù đói đã ăn hết thịt con khủng long, khoa học mất một dịp hiếm có để tìm hiểu về đời sống trên trái đất thời tiền sử.

Ðó là chuyện CS Nga bỏ đói tù nhân Nga ở tận cuối trời xa, đây là chuyện CSVN bỏ đói tù nhân ở trong cái gọi là bệnh xá Nhà Hỏa Lò, thủ đô nước Việt Nam Cộng Sản:

Hỏa Lò. Nguyễn Chí Thiên, Trang 42. Trích:

— Cháu tới giường thằng đau tim. Ðịnh khuyên nó viết thư về nhờ bố mẹ bán cái xe đạp của nó đi, tiếp tế cho nó. Nó có cái đồng hồ, cái bút máy, lúc nhập trại phải gửi quản giáo. Coi như mất. Có ai lúc vội vã đi trại, đòi lại được những vật gửi. Nó nằm chùm chăn kín đầu. Cháu mở chăn ra. Nó đã chết. Mắt trợn trừng, trắng dã. Mồm méo sệch. Cháu toan gọi báo. Thằng bạn ho lao đã dậy, ngăn lại, thì thầm:

— Báo bây giờ, nhà bếp cắt cơm nó. Ðể chia cơm xong, hãy báo.

Cháu tán thành ý kiến của nó. Bọn kiết lỵ, tháo tỏng vẫn ngồi chùm chăn, ôm nhau, chưa biết gì. Như vậy, ba thằng ho lao chúng cháu sẽ được ăn bốn suất cơm…

…Ba thằng ho lao chúng cháu ngồi quây lấy xác chết. Bốn suất cơm để trước mặt. Cháu vốn tin con người có linh hồn, nên lâm râm khấn mời tên chết về dùng cơm, và tha tội cho chúng cháu. Suất cơm gian lận được chia đều. Ấm bụng hơn một chút. Ông chú chưa bị đói triền miên bao giờ, nên không thể hiểu nổi tầm quan trọng của thìa cơm trong cảnh tù tội. Phạng nhau vỡ sọ cũng vì nó. Ðến trưa, cháu muốn gọi báo gã đau tim chết. Thằng bạn ho lao tham lam, muốn tối mới báo. Làm thêm một suất cơm chiều nữa. Cháu cương quyết không nghe. Cháu sợ nhỡ bị phát hiện, quản giáo mang cùm vào, cùm chân lại. Ở bệnh xá, mọi vi phạm nội quy, như hút thuốc lào chẳng hạn, đều bị cùm hàng tuần, kể cả đang ốm nặng. Có thằng đã chết trong cùm.

Nhà Tù Chí Hòa không cấm tù nhân hút thuốc nhưng chỉ cho hút trong giờ làm việc, tức từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều. Vào giờ này có tù ra làm lao động – ra hành lang quét dọn, hầu bọn Cai Tù trà nước, phát cơm cho tù — những anh tù này được gọi là ra làm lao động, các anh cho lửa cho tù trong phòng giam hút thuốc. Sự cho phép và cấm đoán ấy hết sức vô lý và ngớ ngẩn với những người nghiện thuốc. Trên luật thì như thế nhưng thực tế tù trong các phòng tù Chí Hòa vẫn tự chế lấy lửa hút thuốc. Cai Tù Chí Hòa cấm tù nhân giữ diêm, chế lửa, viện cớ ở những phòng tù hình sự thường xẩy ra chuyện những chú tù lép vế bị bọn đại bàng – ở Hỏa Lò là bọn đầu gấu — áp chế, bóc lột, đánh đập, mấy chú tù bị áp chế này lén bỏ những miếng ni-lông vào lon sữa bò, dùng ni-lông cuốn lại châm lửa đốt, nấu cho ni-lông trong lon chẩy ra thành nươc – gọi là hỏa tốc — cầm cả lon hắt vào mặt đại bàng. Nhiều vụ trả thù như thế đã xẩy ra, thường là bọn đại bàng đang nằm phây phây ngủ, không đề phòng, bị tạt hỏa tốc vào mặt, la rú khủng khiếp. Cả Chí Hòa nghe tiếng la rú rợn người. Mặt người bị tạt hỏa tốc như mặt quỉ, đỏ loét, bị phỏng mất mũi, trơ xương má, mù mắt.. vv. Vì cái nạn tạt hỏa tốc Cai Tù Chí Hòa ra luật cấm tù nhân không được giữ diêm, cấm tù tự chế lửa, ai tự chế lửa hay giữ diêm, giữ lon sữa bò, bị bắt, bị nằm xà-lim, cùm chân bẩy ngày. Tù chính trị Chí Hòa ở riêng một khu, không bao giờ giết nhau, chỉ dùng hỏa tốc để nấu chút nước sôi pha trà, ăn mì, cũng bị cấm không được giữ diêm, tự chế lửa.

Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Tù của Sở Công An Thành phố Hồ chí Minh, cho người tù hút thuốc, giữ diêm thoải mái.

Tù Chí Hòa, tù Hỏa Lò cùng có cách tự chế lửa như nhau mà không cần diêm, không cần bật lửa. Năm 1985 tôi vào Nhà Tù Chí Hòa, thấy anh em dùng cái “chẹc” chế lửa, tôi thán phục quá xáù. Ai là người nghĩ ra cách chế lửa tài tình như thế? Người dùng “chec” thấy đơn giản thôi, nhưng phải có người nghĩ ra. Tôi chắc người nghĩ ra cái chẹc để chế lửa trong nhà tù phải nhớ chuyện ông cha ta ngày xưa dùng hai cục đá đập mạnh vào nhau mà cũng chế được ra lửa. Ở ngoài đời, tức ở ngoài nhà tù. thông thường khi bật lửa hết xăng, người có cái bật lửa đó chịu không sao có lửa. Trong tù, tù nhân tự chế ra lửa bằng cách lấy cái cán bàn chải đánh răng cắt ngang, dùi một lỗ, nhét viên đá lửa vào đó, để sẵn miếng giấy kẹp dúm bông gòn ở đầu, dùng mảnh thủy tinh, xiết lên cái chẹc, lưỡi thủy tinh sắc xiết trên cục đá lửa, làm bắn ra đốm lửa, đốm lửa bắn vaò bông gòn, dúm bông gòn bùng cháy, lửa bắt vào miếng giấy kẹp bông. Và thế là phòng tù có lửa hút thuốc lào. Hút thuốc lá dễ có lửa hơn, vì có thể truyền lửa từ điếu thuốc đang hút cho nhau, hút thuốc lào phải có lửa cháy. Không dùng chẹc người tù hút thuốc lào cũng dễ có lửa bằng cách vò nát tờ giấy, vo tròn, châm lửa thuốc lá, thổi vào chỗ bị cháy cho lửa bùng lên. Người tù khó dấu diêm, bật lửa nhưng dễ dấu những viên đá lửa. Khi bị xét phòng chỉ cần vứt cái chẹc, mảnh thủy tinh đi là xong, thiệt hại không bao nhiêu. Xét phòng xong chỉ năm phút sau là có cái chẹc khác. Chỉ cần 10 viên đá lửa là cả phòng có lửa thoải mái trong cả mấy tháng. Những mảnh thủy tinh lấy từ những lọ chao. Bông gòn có thể do người nhà gửi vào, hay giặt thật sạch những miếng mền len, xé tơi, dùng làm bông. Bông tự chế phải thật sạch, thật khô, thật tơi mới dễ bắt lửa.

Hỏa Lò. Nguyễn Chí Thiện. Trg 56 – Trong phòng, vào giờ hành chính, mấy trăm tù ngồi bó gối, xếp hàng đầy cả hai bên sàn nằm.

Tù Hỏa Lò phải mặc quần áo chỉnh tề, ngồi ngay ngắn trong giờ hành chính, tức tù Hỏa Lò phải ngồi trên sàn phòng tù 8 tiếng một ngày. Tù Chí Hòa, Tù Số 4 Phan đăng Lưu, suốt ngày đêm ở trần, quần sà lỏn, nằm ngồi thoải mái, đánh đô-mi-nô, cờ tướng thả dàn. Cai tù đến cửa gọi anh nào đi làm việc, tức đi lấy khẩu cung, đi chịu thẩm vấn, anh ấy bận quần áo ra khỏi phòng, tù toàn phòng tỉnh bơ. Mức độ tàn ác của Cai Tù Việt Cộng giảm đi nhiều khi họ vào đến Nhà Tù Chí Hòa ở thủ đô Quốc gia VNCH.

Ðây là hình ảnh một Nàng Kiều XHCN trong Hỏa Lò Hà Nội:

Hỏa Lò. Nguyễn Chí Thiện, trg 56 – Trích:

Ðột nhiên, “bóng hồng nhác thấy nẻo xa”. Những thằng tù no tiếp tế gia đình, ngừng ăn, trố mắt. Một cô gái tuổi chừng đôi mươi, đương đi tới. Theo sau cô mươi thước là một mụ quản giáo, dáng dấp như một tên du côn. Cô gái trông mảnh mai, nét mặt trái soan, xanh nhợt, ủ ê, nhưng khá đẹp. Một tên tự giác đứng cạnh đám tù ngồi ăn, khi cô gái đi tới gần, gã nhe răng, nhăn nhở:

— Em làm nghề “lấy lỗ làm lãi,” phải không?

Một tên tù khác, mắt hấp háy, toe toét:

— Trông thơm quá. Cho anh yêu một cái đi!

Cô gái đi ngang qua chỗ lão già ngồi ăn, làm lão ọe một cái, nôn ra một ít bánh mì. Một mùi tanh tưởi, tệ hơn mùi chuột chết, từ đũng quần cô gái, ập vào mũi lão.

Tên tù trực phòng cười hềnh hệch:

— Loại “phò” này mà sốc nách, nhấc bổng lên, lắc mạnh mấy cái, là rơi xuống đầy một sọt “gậy gộc”!

Cô gái lẳng lặng đi. Thoáng thấy mấy lá bánh chưng còn dính vài cục bánh con con, cô nhào tới rãnh nước, nhặt lên, đưa vào mồm, liếm lấy, liếm để.

Mụ quản giáo the thé:

— Con nhà thổ. Bà sẽ cùm mày lại!

Mụ chạy xốc tới, nắm mớ tóc bù xù của cô gái, giật mạnh, tát tới tấp. Cô gái lí nhí kêu lậy.

Hỏa Lò. Nguyễn Chí Thiện. Trg 66.

Trưởng phòng lau mồ hôi nhễ nhại, nhìn chiếc quạt trần cao chót vót lừ đừ quay, như hết hơi.

— Treo cái quạt này làm đéo gì. Ð…mẹ chúng nó, chơi khăm thật! Cùng ở Hỏa Lò cả, mà quạt ở các buồng quản giáo thì vù vù như vũ bão.

Phòng tù tập thể Nhà Tù Hỏa Lò có gắn quạt trần? Không biết những quạt trần này được gắn ở đấy từ thời nào? Phòng tù Chí Hòa thoáng mát vì chỉ có ba bức tường, một mặt là song sắt nhìn ra hành lang, rồi một hàng song sắt nữa là tới trời. So với Hỏa Lò, kiến trúc Nhà Tù Chí Hòa văn minh, hiện đại hơn rất nhiều. Không biết đích xác Hỏøa Lò được xây xong tháng nào, năm nào, cứ cho là Hỏa Lò có mặt ở Hà Nội năm 1900, Nhà Tù Chí Hòa ra đời sau Hỏa Lò năm mươi năm.

Theo hiểu biết không được chính xác của tôi Nhà Tù Chí Hòa được Pháp khởi xây vào khoảng năm 1942, 1943, được hoàn thành khoảng năm 1946, bắt đầu tiếp khách năm 1947. Từ 1985 đến 1989 tôi sống trong Nhà Tù Chí Hòa, nhiều lần tôi có ý định khi được ra khỏi Chí Hòa tôi sẽ viết về Nhà Tù Chí Hòa, tôi sẽ tìm tài liệu đích xác ai là kiến trúc sư vẽ kiểu Nhà Tù Chí Hòa, xây năm nào, năm nào hoàn thành, tốn phí bao nhiêu..?? Năm 1990 ra khỏi tù, tôi quên ý định viết về Nhà Tù Chí Hòa. Ra ngoài tôi nghĩ những người từng ngồi tù Chí Hòa chẳng ai muốn đọc chuyện viết về Nhà Tù Chí Hòa, nhiều người tù Chí Hòa còn biết về Nhà Tù Chí Hòa nhiều hơn tôi, những người chưa từng ở tù Chí Hòa chẳng ai đọc chuyện nhà tù Chí Hòa làm quái gì, chẳng có ai théc méc chuyện nhà tù Chí Hòa do kiến trúc sư nào vẽ kiểu, được xây năm nào…vv

Tháng 5, 1975 tôi thấy anh Huỳnh tấn Phát trên màn ảnh TiVi. Lúc ấy anh là Thủ Tướng cái gọi là Chính phủ Lâm Thời Miền Nam VN. Anh được phỏng vấn. Rõ ràng là anh quá sướng, sướng vì không ngờ anh vào được Dinh Ðộc Lập. Mặt mũi anh phớn phở, anh không biết nói gì cả. Chưa đầy một năm sau, Lê Duẩn phóng tay dẹp Mặt Trận GPMN và chính phủ miền Nam. Huỳnh tấn Phát biến mất từ đó. Hai mươi mấy mùa lá rụng sau tôi gặp lại họ Huỳnh trong Hỏa Lò.

Hỏa Lò. Nguyễn Chí Thiện. Trg 127 – Trích

Gã thanh niên cười:

— Mai em về rồi, cần gì quà.

— Mừng cho mày. Nhưng sao biết trước. Ðược báo à?

— Nói thật với ông anh. Ông anh biết nhà thơ Nguyễn xuân Sanh không?

— Ông ta, trước năm 45, ở trong nhóm Xuân Thu, cùng với Ðoàn phú Tứ. Tao có đọc thơ ông ta, biết tiếng ông ta thôi, chưa gặp mặt bao giờ. Xem nào, tao còn nhớ câu thơ: “Ðáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”. Thơ ông ta đấy.

— Em là con ông ấùy đấy.

— A, thế mày là con ông ấy à? Tiêu chuẩn mày là được đi Nga, đi Tiệp học. Sao lại vào nằm đây?

— Học hành quái gì! Máu em thích ăn chơi sả lán. Cách đây hai tháng, em “đánh quả” ở nột sứ quán, bị chộp.

Gã giáo viên, vẻ nghi ngại:

— Tội này ít ra cũng mười năm tù. Mày có chắc mày về không?

— Chắc như đinh đóng cột. Ông cụ đã cứu em nhiều lần. Ông cụ bảo lần này là lần chót.

Gã thanh niên hạ giọng, nói nhỏ:

— Ông cụ làm việc cho công an đấy.

— À, tao hiểu. nhưng tao khuyên mày dừng lại ở đây. Ông cụ không xin mãi cho mày được đâu. Gia đình mày có túng thiếu gì mà phải…

— Ông anh không biết. Chúng em đập phá mạnh lắm. Gia đình nào cung cấp xuể. Ngay thằng con ông Huỳnh tấn Phát cũng phải xách súng đi ăn cướp. Bố nó xin cho nó nhiều lần rồi. Nó có chừa được đâu. Nó ở phòng 12…

Ðây là một cảnh tù đói ở ngoài Nhà Hỏa Lò:

Hỏa Lò. Nguyễn Chí Thiện, Trg 182. Trích:

Lão không nói gì, đứng dậy quay nhìn về phía bên kia sân. Lão kinh hoàng trố mắt. Cách lão chùng ba nươi thước thôi, một cảnh tượng suốt đời không thể phái mờ đối với lão. Trong nắng chiều vàng ủng như nghệ, hàng trăm tên tù trần truồng, sám xịt, lủng củng xương da, đứa nằm, đứa ngồi, đang bốc cơm ăn. Có những tên không còn cầm nổi cái bát, cơm rơi đổ cả xuống đất, lẩy bẩy bò xuống, vốc nhặt đưa lên miệng. Tất cả diễn ra im lìm, như một màn kịch câm. Như những bóng ma. Hai bóng ma, đầu trọc lốc, mắt sâu hoắm, đờ đẫn, ngồi đối diện nhau. Bốn bàn tay bám vào bát men đựng cơm, giơ lên, run run, từ từ đưa đi, đưa lại. Phải nhìn một lúc, lão mới hiểu là hai đứa đương giành nhau bát cơm của một tên nằm gục bên cạnh, không ăn nổi. Chúng không còn sức để nói, để chửi, để giằng mạnh. Một chiếc xe bò lọc cọc đi vào. Hai tên tù tự giác vào phòng, lần lượt khiêng năm xác chết trần truồng, đặt lên xe, kéo đi. Những tên tù ăn xong, đứng lên, máu mủ từ hậu môn rỏ xuống

Nhạc Trịnh Công Sơn được nhắc đến trong Hỏa Lò,Trg 243.Trích:

— Rận rệp là bạn đồng hành của tù. Không cách nào trừ nổi. Viết xong thư cho em chưa?

— Xong rồi. Yêu đương trong này chỉ để tiêu sầu thôi. Rồi ra, mỗi người một ngả.

Gã đầu gấu hát ong ỏng:

— Ngày chủ nhật buồn, còn ai, còn ai. Môi em nồng nàn..

Phó Nhòm chửi:

— Ð…mẹ chúng nó. Ðương lúc chiến tranh, chết chóc như thế mà lúc nào cũng môi em với vai em. Ðúng là nhạc phản chiến. Không hiểu chúng nó là cái giống gì?

Hỏa Lò, trg 249. Trích:

Lão tới các buồng nữ, cảm ơn những người cho lão quà mừng sinh nhâät. Lão cho cô ca sĩ, cô diễn viên kịch nói, gã đầu gấu mỗi người một bao thuốc lá. Tới buồng bà Sàigòn, lão đưa cho bà một bao:

— Chị không nghiện. nhưng mỗi ngày, sau bữa cơm, hút một điếu cho thơm. Không hại gì đâu.

Có lần tôi nghe Nguyễn chí Thiện nói:

— Trong truyện Anh phải sống, Khái Hưng cho chị vợ anh lái đò nói với chồng trước khi buông tay trôi theo giòng nước, để anh chồng có thể cứu được đứa con của anh chị: “Anh phải sống..” Ðấy là lời Khái Hưng nói chứ không phải lời chị lái đò. Chị lái đò không thể nói câu “Anh phải sống” đó..

Theo tôi câu nói của lão tù trong Khu xà lim Hỏa Lò Hà Nội: “Không nghiện.. Sau bữa cơm, hút một điếu cho thơm.. Không hại gì..” là lời Nguyễn chí Thiện. Anh hút thuốc lá khá nặng. Tôi từng hút mỗi ngày 60 điếu Lucky, Philip, Pall Mall ròng rã trong ba mươi năm, tôi bỏ hút đã được 10 năm; tôi thấy người hút Nguyễn chí Thiện đã rất chủ quan khi nói như thế về thuốc lá. Những người không nghiện thuốc không thú vị gì với khói thuốc lá. Với những người không nghiên thuốc lá, khói thuốc chỉ làm họ khó chịu, nhức đầu, khản cổ, ho, hôi miệng. Ngày nào Nguyễn chí Thiện bỏ thuốc lá, có thể anh sẽ ngửi thấy mùi khói thiu thiu, tanh tanh, trong lỗ mũi của người đàn bà nào đó nghiện thuốc lá. Khi bỏ thuốc rồi, tôi mới biết trong ba mươi năm tôi đã can tội hành hạ vài ba người đàn bà bằng mùi khói thuốc thiu thiu, tanh tanh trong hai lỗ mũi tôi.

Viết Đến Bao Giờ 2016

H2T, viết bằng máy chữ, Sài Gòn 1992.

H2T, viết bằng máy chữ, Sài Gòn 1992.

Bài viết được đăng báo thứ nhất của tôi là một bức thư tôi gửi các anh Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là năm 1946 tôi 15 tuổi, tôi sống bình yên trong thị xã Hà Đông vắng lặng, nơi có dòng Nhuệ Giang chẩy qua. Trong thư nhân danh một thiếu niên Việt Nam, tôi mong các anh Việt Minh, Việt Nam Quốc Dân Đảng đoàn kết để chống ngoại xâm. Tôi gửi thư đó đến tòa báo Cứu Quốc ở Hà Nội. Thư ngắn, được đăng trên trang nhất báo Cứu Quốc. Tôi để tên thật dưới thư. Chú thiếu niên viết thư là Dương Trọng Hải.

Từ những năm 1941, 1942, mới 10 tuổi, tôi đã mê đọc tiểu thuyết. Hai tác giả tôi mê nhất ngày đó là Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng. Tôi thấy, không rõ lắm, những người viết tiểu thuyết là Chúa Tể trong tác phẩm của mấy ông. Các ông cho ai sống là người đó được sống, bắt ai chết là người đó phải chết, cho ai yêu ai là hai người đó yêu nhau. Năm 10 tuổi, tôi đã nuôi mộng mai sau tôi sẽ làm văn sĩ.

Tôi được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn Nhật Báo Tiếng Dội năm 1952. Năm 1956 tôi viết phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, năm 1957 tôi khởi sự viết tiểu thuyết phóng tác. Tác phẩm tiểu thuyết phóng tác thứ nhất của tôi là quyển Chiếc Hôn Tử Biệt, phóng tác A Kiss before Dying của Ira Levin. Truyện này đoạt Giải Nhất Truyện Detective năm 1956 của Mỹ.

Xin xem thêm trọn bài ở đây: Viết Đến Bao Giờ?

o O o

Rừng Phong, Ngày 27, Tháng 8, năm 2016.

Năm nay tôi 84 tuổi, tôi còn Viết.

Năm nay, 84 tuổi, tôi còn sáng trí hơn nhiều anh em tôi, tôi có bị Quên – tôi quên tên bạn, tên người – tôi đi chưa phải chống gậy. Mỗi chiều tôi đi bộ 60 phút ngoài trời. Những con đường quanh nhà tôi vắng, ít xe, sạch, nhiều hàng cây xanh, đi bộ thoải mái. Tôi thường ngồi nghỉ trên hàng ghế trước cửa nhà Safeway. Ngồi đấy tôi nhìn thấy những hàng quốc kỳ bay trên lầu nhà bán cờ quốc tế Alamo. Có 35 lá cờ được kéo lên suốt ngày đêm trên nóc nhà Alamo. Trong số cờ ấy có Cờ Vàng Quốc Gia VNCH. Kỳ diệu: Quốc Gia bị diệt, bị mất đã 40 năm, cờ của Quốc Gia đó vẫn tung bay trên lãnh thổ Hoa Kỳ, vẫn có người mua những lá cờ ấy, vẫn có người xúc động khi nhìn những lá cờ ấy.

Tòa nhà gọi là Nhà Già – Nhà dành cho những ông bà già có tiền thu nhập thấp – Housing for Low Incone Seniors – có một Exercise Room – Phòng Tập Thể Dục ngay trong nhà. Chiều nào không đi bộ ngoài trời, tôi vào Exercise Room, đi bộ trên dàn treadmill 30 phút, tôi dành 30 phút kéo tạ, tôi không muốn thấy tay tôi run khi tôi già. Năm 1960 đến nhà anh bạn, tôi thấy ông già anh ngồi, chờ cô cháu đưa từng muỗng cơm lên miệng ông. Tay ông run, ông không ăn cơm được một mình. Nhìn cảnh ấy, tôi nghĩ;

– Mình muốn ngày mình già, mình không phải ăn như ông này.

Năm nay tôi 84 tuổi, tay tôi chưa bị run.

Văn Quang, sống ở Sài Gòn, viết cho tôi:

– Mày là thằng có nhiều may mắn hơn anh em.

Gửi ông bạn HO, người muốn tôi Viết đến năm tôi 80 tuổi:

– Thưa ông, năm nay tôi 84 tuổi, tôi còn Viết.

Nhà báo Sài Gòn Mới bị đốt phá trong cuộc chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ.

Nhà báo Sài Gòn Mới bị đốt phá trong cuộc chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ.

VIỆC TỪNG NGÀY

linh

Một cuộc biểu tình ở Sài Gòn. Ảnh năm 1970.

Bánh xe tị nạn khấp khểnh, muộn màng đưa vợ chồng tôi đến Xứ Kỳ Hoa sau 20 năm chúng tôi sống dzở, chết dzở ở Sài Gòn. Đến Kỳ Hoa đầu năm 1995, tôi viết ngay những bài Viết ở Rừng Phong. Tôi mang theo cái máy đánh chữ sang Mỹ nên trong năm 1995, năm thứ nhất tôi sống ở Kỳ Hoa, tôi viết những bài Viết ở Rừng Phong bằng máy đánh chữ.

Từ năm 1990 máy đánh chữ đã hết thời. Người thế giới đã cho những chiếc máy đánh chữ vào kho phế thải, kho sắt vụn. Sài Gòn đã có computer. Trong số những người bạn văn nghệ của tôi Văn Quang là anh bạn thứ nhất dùng computer. Văn Quang có phone, có computer sớm nhất trong giới văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở Sài Gòn.

Ai bảo anh đàn ông có nhiều vợ, nhiều con là khổ?

hht2

Hoàng Hải Thủy, phóng viên báo Sài Gòn Mới, trong đoàn tháp tùng Đức Hồng Y Agagianan đi thăm Huế và Nhà Thờ La Vang. Ảnh ghi ở phi trường Qui Nhơn. Năm 1956.

Anh đàn ông có nhiều vợ, nhiều con tôi biết là ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, bút hiệu Văn Quang, ông là người nhiều vợ, nhiều con nhưng ông không bị khổ một ly ông cụ nào. VQ có phone, có computer là nhờ ông có 4 bà vợ, 8 người con ở Kỳ Hoa. Đi tù cải tạo hơn 10 mùa sầu riêng trổ gai, VQ trên răng, dưới giép trở về Sài Gòn, nhà ông  người khác ở, vợ con ông đi hết, VQ sống cu ky trong một căn phòng nhỏ đường Sư Vạn Hạnh. Chủ nhà là một ông Thiếu Tá Quân Đội VNCH. Ông Thiếu Tá xây nhà lầu này để những cô em lấy Mỹ thuê. Phòng toàn là phòng nhỏ, cầu tiêu, nhà tắm chung ở cuối dẫy mỗi tầng. Năm 1972 người Mỹ đi khỏi Sài Gòn, những cô em lấy Mỹ chuyển sang nghề khác. Năm 1980 một số ông sĩ quan Quân Đội VNCH đi tù khổ sai trở về Sài Gòn, nhiều ông bị mất nhà, nhiều ông có bà vợ dắt con đi vượt biên sang Mỹ, nên nhiều ông – như ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến – đến sống trong tòa nhà đường Sư Vạn Hạnh. Từ căn nhà đường Sư Vạn Hạnh, ông chuyển về một căn phòng trên lầu nhất chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Hiện nay – Tháng 8/ 2016, ông vẫn sống trong căn phòng này.

Ông Văn Quang kể bốn bà vợ ông ở Kỳ Hoa mỗi lần về Sài Gòn đều đến thăm ông. Có lần hai bà cùng đến nhà ông thăm ông – tình cờ, không hẹn – hai bà cùng đứng niệm hương khấn vái trước bàn thờ bà mẹ ông. Ông kể: hai bà cùng rưng rưng nước mắt.

Tôi – CTHĐ –  từ Trại Tù Khổ Sai Z 30 A trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền – nôm na là trở về Ngã Ba Ông Tạ – vào đầu năm 1990. Buổi sáng Thái Thủy đến nhà tôi, hai chúng tôi ra đi trên hai xe đạp. Chúng tôi ăn sáng bánh cuốn vỉa hè rồi Thái Thủy đưa tôi đến  gập Văn Quang.

Ông hay Anh cũng là Văn Quang. Đến đây tôi gọi Văn Quang là Anh. Anh ở trong một tòa nhà cao lênh khênh đường Sư Vạn Hạnh. Đi tù, Văn Quang hút thuốc lào. Năm 1990 về Sài Gòn anh vẫn hút thuốc lào. Có cái điếu bát để trên chiếc ghế đẩu bên cái giường sắt một người nằm của anh.  Chừng hai năm sau anh mới bỏ thuốc lào, Văn Quang không uống được rượu, dù là bia.

Văn Quang là văn nghệ sĩ Sài Gòn thứ nhất dùng computer để viết. Anh đi hoc một khóa dậy Cách Dùng Computer. Anh biết cách layout. Bọn chúng tôi đa số dùng computer sau VQ đều nhẩy đại vào computer mà không học cách dùng, chúng tôi đánh máy mổ cò bằng hai ngón tay trỏ. Chúng tôi viết bài bằng computer, gửi bài đến tòa báo. Bài được báo đăng. Vậy là chúng tôi hài lòng.

Những năm 1995, 1996, khi viết bằng computer, người Việt đã có chữ Việt – VNI – với những dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và những chữ ư,ơ, â, ă …Tôi không biết ông người Việt nào đã sáng chế ra font Chữ VNI để viết trên computer. Tôi không biết tên ông, không biết ong sống ở Kỳ Hoa hay sống ở Việt Nam. Tôi vinh danh ông, tôi cám ơn ông.

Trước ngày có VNI, những bài viết chữ Việt đều không có dấu. Bài viết phải in ra giấy, đánh dấu hỏi, ngã bằng bút, cắt dán thành trang báo Việt, gửi đến nhà in. Đinh Hiển – một tên khác là Họa sĩ Hĩm – nói về việc cắt dán này:

– Những trang bài đựợc dùng để cắt dán lộn xộn một đống như cái rổ rác. Việc cắt dán nản lắm.

Sang Kỳ Hoa, tôi vẫn viết bằng máy đánh chữ. Tôi trung thành với máy đánh chữ. Tôi thích viết bằng máy đánh chữ vì vừa viết vừa được nghe những tiếng máy gõ lách tách, tiếng guồng máy chạy rẹt rẹt – guồng máy đánh chữ tiếng Pháp là rouleau –  tiếng chuông máy gõ keng. Bộ phận quan trọng của máy đánh chữ là cái ruban. Cái dây vải thấm mực. Tôi không tìm được cái tên nào bằng tiếng Việt để gọi cái ruban của máy đánh chữ. Khoảng 10 năm nay máy đánh chữ bị dẹp, những nhà Staple, Office Depot không còn bán ruban. Tôi, hay bất cứ ai, muồn dùng máy chữ cũng không còn dùng được. Những máy chữ còn tốt bị bỏ quên trong góc tủ.

Máy đánh chữ khi chạy phát ra tiếng động nghe vui tai…Rẹt..rẹt…Keng..! Máy computer êm ru khi viết, không một tiếng động.

Năm 1968 tôi sống trong căn phòng bên cạnh nhà Duy Sinh, nhà số 19 hay số 21 đường Hồ Biểu Chánh. Tiếng máy đánh chữ trong phòng tôi vang sang nhà Duy Sinh. Anh Nguyễn Đức Quỳnh đến chơi nhà Duy Sinh, anh bảo tôi:

– Tôi nghe tiếng máy chữ của anh, tôi biết anh đang viết, tôi rất thích,

Năm 1995, ở Kỳ Hoa Đất Trích,  tôi đọc trên nhật báo The Washington Post bản tin có một số ông văn sĩ Mỹ, ký giả Mỹ, lập Hội Những Người Yêu Máy Chữ. Tất nhiên những ông này không chịu dùng computer.  Các ông tuyên bố các ông cứ dùng máy đánh chữ. Tôi tự gia nhập Hội của những ông này, tôi cứ viết những bài Viết ở Rừng Phong bằng máy đánh chữ.

Nhưng việc viết bài bắt buộc tôi không được làm theo ý tôi. Bài viết trên máy đánh chữ làm nhà báo phải viết lại trên computer, mất thì giờ. Nhiều báo phải mướn người đánh máy bài, phải trả tiền.

Năm 1995 Nguyên Sa có tờ báo tuần Dân Chúng, anh bảo tôi gửi bài cho anh. Được vài tuần anh bảo tôi ngừng gửi bài. Anh không nói lý do báo anh không đăng bài tôi nữa, nhưng tôi biết: anh phải gửi bài viết bằng máy chữ của tôi cho người viết lại bằng com puter, bài báo của tôi trở thành quá đắt tiền: anh trả tôi 50 đô một bài, tiền đánh máy bài thêm 30 hay 50 đô, tiền bài thành ra 100 đô. Quá đắt.

Trong những bài viết thứ nhất của tôi ở Kỳ Hoa – dưới bút hiệu Công Tử Hà Đông, bút hiêu tôi dùng để ký những bài tôi viết trên tuần báo Con Ong, Sài Gòn những năm 1970 – tôi nói ngay: tôi sẽ viết về những chuyện hay, lạ, tôi đọc được trong các sách – tôi làm theo ông Lê Quý Đôn khi ông viết những tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ, Kiến Văn Tiểu Lục – Như chuyện này:

Chuyện đăng trong: “1965. Việc Từng Ngày. Tác giả Đoàn Thêm.”

Ngày 23 Tháng 1, 1965.

Thủ Tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân, kêu gọi mọi người lãnh trách nhiệm đối với tình thế, tránh nhữngvụ xách động, ông lên án “ lũ lưu manh  trọc đầu, mặc y phục tăng ni, làm những trò khỉ..”

Hơn một trăm thanh niên nam nữ kéo tới Viện Hóa Đạo. Họ bi binh sĩ Nhẩy Dù ngăn chặn. Một giáo sư thấy cô con gái ông trong đám biểu tình, ông yêu cầu vị Đại Tá chỉ huy toán bình sĩ, bắt cô con gái ông lại, đánh cho ba roi. Binh sĩ nhân dịp bắt 60 cô nữ sinh biểu tình, đánh cho mỗi cô ba roi, đuổi về.

CTHĐ bàn loạn: Trong hai năm 1964, 1965, những cuộc biểu tình, những cuộc không phải là đảo chính mà là những cuộc hạ bệ thủ tướng, xẩy ra liên tiếp trong thành phố Sài Gòn. Chiều nay, một buổi chiều Tháng Tám năm 2016, viết chuyện xưa tôi thấy lại thấp thoáng hình ảnh những đoàn người lúc 6, 7 giờ tối lũ lượt đi  trên những con đường dẫn tới Viện Hóa Đạo. Những người này không đi biểu tình, họ tới Viện Hóa Đạo để nghe các ông Sư Viện Hóa Đạo nói chuyện. Những vị sư này không thuyết pháp, tức không nói với người ta về đạo giáo, về cách tu thân, mà nói về tình hình chính trị. Các ông Sư Hóa Đạo chống chính phủ. Phật tử biểu tình, tín hữu Thiên Chúa Giáo biểu tình. Cả hai phe Phật Giáo – Thiên Chúa Giáo – cùng chống chính phủ, đúng hơn là chống ông Thủ Tướng. Hai ông Thủ Tướng bị chống đồi những năm ấy là ông Trần Văn Hương, ông Phan Huy Quát.

Trên đây quí vị vừa đọc một đoạn tin viết về cuộc biểu tình ngày 23 Tháng 1, 1965. Tôi trích đoạn tin này trong tác phẩm “ 1965. Việc Từng Ngày” do ông Đoàn Thêm sưu tập. Tôi thấy chuyện có những sự kiện vô lý, những chuyện không có thật và không thể xẩy ra.  Như khi một số người tập hợp để làm cuộc biểu tình, lực lượng cảnh sát đến ngăn chặn, giải tán họ. Quân Đội Quốc Gia không  bị dùng vào việc ngăn chặn biểu tình. Chuyện gì cũng có thể xẩy ra nhưng chuyện “ 60 cô nữ snh đi biểu tình, bị binh sĩ bắt, đánh cho mỗi cô ba roi, đuổi về..” là chuyện tôi biết chắc không thể xẩy ra được. Theo tôi, chuyện ấy: chuyện “ 60 cô nữ sinh bị binh sĩ bắt chổng mông ngay giữa đường phố, quất cho mỗi cô ba roi quắn đít,” là chuyện do một anh phóng viên nhật báo nào đó bịa ra đăng trên báo. Chuyện đó đến các em nhỏ lên ba Sài Gòn cũng không tin. Nhưng soạn giả Đoàn Thêm đã tin, đã cho vào tác phẩm “ 1965. Việc Từng Ngày.” Tôi không hiểu tại sao ông Đoàn Thêm lại tin chuyện ấy là chuyện thật.

Nhưng trong một đoạn hồi ký, Đại Úy Phan Nhật Nam  kể có một lần đơn vị Nhẩy Dù trong có ông bị điều động đi đóng chốt ngăn không cho một đoàn biểu tình kéo đến Viện Hóa Đạo, hay Dinh Gia Long. Tôi chắc có nhiều vị cũng đọc đoạn chuyện này do ông Đại Úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam kể.  Tuy vậy việc “ binh sĩ bắt 60 nữ snh đi biểu tình, đánh mỗi cô ba roi..” là chuyện bịa. Bịa 1000/100.

Thủ Tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân, kêu gọi mọi người lãnh trách nhiệm đối với tình thế, tránh những vụ xách động, ông lên án “ lũ lưu manh  trọc đầu, mặc y phục tăng ni, làm những trò khỉ..”

Đoạn tin trên trích trong tác phẩm “ Việc từng ngày,” tác giả Đoàn Thêm.

Ông Thủ Tướng Trần Văn Hương – dường như – bị cả hai phe Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo có ác cảm, hai phe cùng đòi cho ông ngồi chơi sơi nước, tức không chịu để ông làm Thủ Tướng. Lời kêu gọi dân chúng ngừng những cuộc ông gọi là “ xách động, “ rõ hơn là xuống đường, biểu tình chống chính phủ ..v..v..trong có câu: “ lũ lưu manh trọc đầu, mặc y phục tăng ni, làm những trò khỉ..” là việc làm đổ dầu xăng vào lửa. Lời kêu gọi này chỉ làm cho những người chống ông thấy họ đúng khi họ chống ông’ làm cho họ hung hãn hơn.

Năm 1965 trong các báo Sài Gòn,  trong ngôn ngữ người Sài Gòn, có thành ngữ “ xuống đường.” Vài năm sau tiếng “ xuống đường” tự động mất đi. “ Xuống đường” là tiếng gọi việc người Sài Gòn ra đường biểu tình trong thành phố.

Đất Bắc Việt.

Trích trong “Hai Mươi Năm Qua. Tác giả Đoàn Thêm.”

Ngày 18 Tháng 5, 1955

Một hộp đựng đất Bắc Việt do ông Đại Biểu Chính Phủ Lê Quang Luật đưa vào Nam trên tầu “ Ville de Haiphong,” được tiếp đón long trọng,  được phủ quốc kỳ, đặt tại Tòa Đô Chính cho dân chúng chiêm ngưỡng. Trong thời gian này, Tòa Đại Biểu Chính Phủ Nam Phần được đặt tại Tòa Đô Chánh. Sau đó, hũ đất Bắc Việt được trưng bầy trong Trụ Sở Quốc Hội.

Ngày 25 Tháng 2, 1965. 12 giờ trưa nay Đại Tướng Nguyễn Khánh đi khỏi Việt Nam, khi lên phi cơ tay ông cầm một hôp đựng đất Việt Nam. Ông hẹn sẽ trở về.

CTHĐ: Ngày 18 Tháng 5, 1955, ông Lê Quang Luật, Đại Biểu Chính Phủ Bắc Phần, đưa một hũ đất Bắc Việt vào Sài Gòn. Tôi – kẻ viết chuyện này – không biết sau thời gian được trưng bầy, hũ đất này đi về đâu? Hũ đất này nay ở đâu?

Tôi nghĩ hũ đất này nếu nay còn, chắc bị nằm trong một góc tủ hay một xó nhà nào đó ở Kỳ Hoa. Không biết Nhà Bảo Tồn của ông Giao Chỉ ở San José có hũ đất này không? Nếu bị bỏ trong xó nhà nào đó, chắc Hũ Đất Quê Hương buồn lắm, có thể Hũ Đất nghĩ:

– Chúng mày quên tao. Chúng mày không khá được.

Ngày 25 Tháng 2, 1965, một hộp đất Sài Gòn được Đại Tướng Nguyễn Khánh mang sang Hoa Kỳ. Khi đi ông hẹn ông sẽ trở về nước. Lời hẹn theo gió Tân Sơn Nhứt bay đi. Ông Nguyễn Khánh chết già ở Hoa Kỳ. Tôi không biết hộp đất Tổ Quốc ông Nguyễn Khánh mang sang Mỹ nay ở đâu. Nếu ông Nguyễn Khanh hôm nay còn sống, tôi sẽ hỏi ông về chuyện hũ Đất Quê Hương năm xưa ông mang sang Mỹ.

Việc từng Ngày. Trích: Cuộc hạ bệ Quốc Trưởng Bảo Đại.

Ngày 15 Tháng 5, 1955. Biểu tình hàng vạn người trước Phú Văn Lâu, Huế, đòi truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại, ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Ngày 31 Tháng 5, 1955, Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng bắt mở rộng cửa Ngọ Môn, Huế, những người trong Hội Đồng này đi qua Ngọ Môn, vào Nội Cung tịch thu ấn tín và nhiều đồ vật trong văn phòng của Quốc Trưởng Bảo Đại.

CTHĐ: Vua Bảo Đại hai lần bị hạ bệ. Lần thứ nhất ông mất ngôi vua khi ông thoái vị trong Tháng Tám năm 1945. Lần thứ hai ông bị phế năm 1956. Nôm na là ông bị đuổi, một số người Việt hạ bệ ông, dù ông đã tự ý bỏ ngôi vua và tự nhận là Quốc Trưởng, một số người Việt vẫn không cho ông làm Quốc Trưởng, họ không cho ông về nước,

Tôi từng théc méc về việc ông Vĩnh Thụy được đưa lên làm vua. Tôi thấy cái tên Bảo Đại của ông báo trước việc ông mất ngôi vua: Bảo Đại là Bại Đảo. Vua mà Bại Đảo thì không thể không mất ngôi. Nhưng – dường như – trong mấy chục triệu người Việt thời tôi chỉ có tôi là người théc méc về cái tên Bảo Đại – Bại Đảo.

Như trong lịch sử thời vua Lê, Chúa Trịnh, có ông Chúa Trịnh vương hiệu là Án Đô Vương. Án Đô là Đố An. Trong đời ông Chúa Án Đô, kiêu binh làm loạn ở kinh thành Thăng Long. Tình trạng Bắc Việt loạn lạc rối tinh rối mù mãi cho đến ngày Vua Gia Long dẹp Lê, dẹp Trịnh, dựng lên vương triều Nguyễn.

Một số sự kiên được tr1ch trong ” Việc Từng Ngày”, tác giả Đoàn Thêm:

20 – 1 – 1945. Những tác phẩm được Giải Văn Chương 1944.

Giải Gia Long: Nhà Nho của Chu Thiên, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân, Bịnh Ho Lao của Lê Văn Ngôn, Lều Chõng của Ngô Tất Tố, Đời Sống Tinh Thần của Thiếu Sơn, Cư Kỉnh của Hồ Biểu Chánh.

Giải Alexandre de Rhodes: Thơ Pháp Nam của Phan Văn Chi, Petain  Cách Ngôn. Á Đông Triết Lý của Đặng Thúc Liêng và Hồ Đắc Trung, được Giải Khuyến Khích 200 đồng.

7 – 2 – 1945. Nam Vang bị phi cơ Mỹ oanh tạc: 100 người chết, 350 người bị thương. Sài Gòn – Chợ Lớn bị phi cơ Mỹ ném bom dữ dội: 151 người chết, trong số có 31 người Â, 54 người bị thương, trong số có 6 người Âu.

Quân Mỹ tiến vào Manila, kịch chiến với quân Nhật trong thành phố.

10 – 2 – 1945. Tạp Chí Tân Á Số Tết, phát hành ở Sài Gòn, đăng bài Thơ Xuân; trong bài có câu:

Một khi Tân Á dựng nên tòa

Mỹ Anh kình bóng, nhà nhà hoan hô.

1 – 3 – 1945. Nhiều người chết đói. Ở nhiều nơi dân chết đói cả vạn người. Nhiều nơi chết đói cả nhà, cả làng. Dân quê bị đói kéo về các thành phố, mong

kiếm được cái ăn. Dân đói chết thảm ngoài đường, nhiều nhất là ở Hà Nội.

10 – 3 – 1945. Bài đăng trong Tạp Chí Tân Á Số 53.

Lời tuyên bố của ông Hồ Nhật Tân. Đảng trưởng Đảng Việt Nam Ái Quốc.

Trong vùng Đại Đông Á mênh mông bát ngát, dưới ánh sáng lãnh đạo rực rỡ, chói lọi của nước đại Nippon, dân tộc Việt Nam gồm có năng lực đầy đủ hy vọng sẽ kiến thiết một quốc gia đúng theo nguyên tắc công bằng và tự do.”

19 – 8 – 1945. Đê Đông Lao, Hà Đông, bị vỡ, nước tràn vào nhiều vùng.

22 – 8 – 1945. Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị.

23 – 8 – 1945. Chính phủ Hồ Chí Minh ra đời.

9 – 9 – 1945. Quân đội Trung Hoa sang Bắc Việt để giải giới quân Nhật. Tổng số quân Trung Hoa trên đất Bắc là 180.000 người.

Ngày 25 Tháng 2, 1965.

Đại Tướng Nguyễn Khánh, được tặng Đệ Nhất Hạng Kim Khánh, trưa nay rời khỏi Việt Nam, tay cầm nắm đất, hứa sẽ trở vể.

Ngày 11 Tháng 10, 1965. Một bức tượng Đức Bà Maria, đưa từ Bồ Đào Nha sang Việt Nam, được rước đi các giáo khu.

Ngày 30 Tháng10 – 1965. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cảnh cáo: Người Mỹ nào giúp đỡ bất cứ bằng cách gì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam sẽ có thể bị truy tố tội phản quốc.

Ngày 30 Tháng 12, 1965. Trưa nay, ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy bị đặc công Việt Cộng sát hại bằng 4 phát súng lục trước nhà riêng ở đường Bà Hạt, Sài Gòn.

Ngày 10 Tháng 7, 1965. Lễ Ra mắt tại Chợ Lớn của 500 đoàn viên thuộc Tổng Đoàn Thanh Niên Trừ Gian.

Ngày 22 Tháng 7, 1965. Cao Mên tiếp nhận nhiều võ khí do Trung Cộng viện trợ. Sihanouk tuyên bố: “ Trung Cộng là bạn thân nhất của Cao Mên.”

Ngày 23 Tháng 7, 1965. Jack Ryan, người Mỹ, chuyên viên an ninh của Cơ Quan Viện Trợ Mỹ, bị ám sát tại đường Hiền Vương, Sài Gòn, cùng một phụ nữ Việt Nam tên là Nguyễn Thị Hải.

Ngày 24 Tháng 7, 1965. Jack Kimball, nhân viên Sở Viện Trợ Mỹ, bị bắt vì đã hạ sát Jack Ryan và Nguyễn Thị Hải.

Những Lời Nói đáng nhớ:

Quốc Trưởng Bảo Đại: Làm dân một nước độp lập hơn làm vua một nước nô lệ.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu; Đừng nghe những gì bọn cộng sản nói, hãy xem những gì bọn cộng sản làm.

Quốc Gia còn, tất cả còn.

Quốc Gia mất, tất cả mất.

Tổng Bí Thư Lê Duẩn: Trung Quốc là kẻ thù trước mắt và muôn đời của dân tộc Việt Nam.

Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa.

Toàn dân, toàn quân phấn khởi hồ hởi tiến lên xã hội chủ nghĩa.

Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nếu mỗi người lính Cộng Hòa mỗi người bắn chúng ta một phát súng, chúng ta không vào được Sài Gòn.

Nếu mỗi người Sài Gòn ném chúng ta một cục đá, chúng ta không vào được Sài Gòn.

Tôi hơn Bác Hồ chứ. Bác Hồ đâu dám đánh Tầu, tôi dám đánh Tầu.

o O o

Thơ Hoàng Hải Thủy

Vườn Quên Lãng, làm ở Sài Gòn năm 1976.

Người đi bỏ lại Vườn Quên Lãng.

Tôi ở Vườn Quên chẳng lãng quên.

Xuân hồng hoa nở tôi cay đắng.

Đông sám hồn tôi vẫn ngủ yên.

Hạ trắng tôi không nhìn thấy nắng.

Thu vàng tôi chẳng gập ai quen.

Người đi có nhớ Vườn Quên Lãng.

Đà lãng quên hay vẫn đỗ quên.

*

Tiếng Hát Thanh

Tiếng mẹ ru từ thưở nằm nôi.

Mẹ thôi, Mẹ không hát nữa

Khi Anh chân bước vào đời.

Tiếng Hát Mẹ nằm trong ký ức

Tung cánh bay khi Em hát cho Người.

 

Ngày xưa xa lắm ở bên trời

Có ngươi xưa hát lúc đi rồi

Mười hôm tiếng hát còn vương vấn

Trên mái nhà xưa âm chửa rơi.

Tiếng Hát Em tim Anh nức nở

Hai chục năm trời Thanh chửa thôi.

 

Em hát khi Anh vừa bỏ học

Em hát khi Anh sắp bỏ đời.

Em hát khi Anh chưa biết khóc

Em hát khi Anh biết mỉm cười.

Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc

Em hát khi Anh giấc ngủ vùi.

Em hát tan vàng, ca nát đá.

Em hát cho Anh biết ngậm ngùi.

 

Nắng chia nửa bãi chiều rồi.

Đêm tàn Em hát, buồn ơi lá sầu.

Động Hoa Vàng có tên nhau,

Thương thì thương nhé mặc cầu gió bay.

Tiếng Em buồn cuối sông này.

M6y đầu sông thẫm bóng ngày khóc Em.

 

Nhạc Trầm

Đừng hát một mình

Bài ca sầu những uộc Tình ly tan.

Thôi buồn, hãy hát theo đàn.

Tình Yêu như ngọc, như vàng cho nhau.

 

Trong bóng đêm sâu

Những người yêu ngủ giấc sầu ngàn năm.

Trong lòng mộ tối Tình nằm

Bây giờ chắc mệt như tằm rũ tơ.

Trời lại mưa….

Trời lại mưa, Anh lại nhớ thương.

Thương, thương gần, nhớ, nhớ tha hương.

Thương gần mái tóc thơm hương cũ

Nửa đoạn trường xanh, nửa trắng thương.

Nhớ xa cặp mắt nâu không ngủ

Đêm lại đêm dài lạnh viễn phương.

 

Em gần hãy mộng trang hồng sử

Chờ sáng mai trời rạng ánh dương.

Em xa hãy trọn sầu ly xứ.

Còn nhớ thương Em cứ nhớ thương.

Ngày mưa, tháng gió nên tâm sự

Người nhớ, người thương để nhớ thương.

Năm năm cứ đến Mùa Ngâu Rũ

Trời lại mưa, Anh lại nhớ thương.

Đêm trong Sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu

Nằm trong khám tối âm u

Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa.

Bồi hồi tưởng mái nhà xưa

Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao.

Thương Em nhạt phấn, phai đào

Đêm đêm trở giấc chiêm bao một mình.

Ngủ đi Em, mộng bình minh

Mưa bao nhiêu giọt là Tình bấy nhiêu.

Thị Mịch 77

Lạc loài góc phố, vỉa hè xưa

Gặp Em nằm ép mái hiên mưa.

Nửa mái Tây hiên, tình tứ nhỉ.

Chín tầng Địa ngục, não nùng chưa.

Từ Thức về trần, cù chẳng nói.

Giáng Tiên xuống thế, gọi không thưa.

Nàng nghiêng Thị Mịch, chàng ôm gối.

Khói thuốc khơi dòng Thơ vẩn vơ.

LUẬT VÔ THƯỜNG

Nghĩa Trang Quân Đội VNCH, Biên Hòa

Nghĩa Trang Quân Đội VNCH, Biên Hòa

Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường — Trần Văn Khê

Từ Thứ ra đi, Lưu Bị đưa tiễn.

Vì luyến tiếc Từ Thứ, Lưu Bị đi theo đưa tiễn mãi.

Từ Thứ dừng ngựa, chắp tay, nói:

“Tiễn nhau ngàn dặm cũng đến chỗ phải chia tay. Xin Ngài dừng ở đây.”

Lưu Bị ngồi trên ngựa, nhìn theo Từ Thứ.

 Khi Từ Thứ đi khuất vào hàng cây bên đường, Lưu Bị đưa roi ngựa lên chỉ hàng cây:

“Ta muốn chặt hàng cây kia đi.”

Người đi theo hỏi tại sao.

Lưu Bị:

“Vì nó che mắt ta, không cho ta thấy Từ Thứ.”

Tôi – CTHĐ – vừa kể một đoạn trong truyện Tam Quốc Chí. Tôi kể để nói lên chuyện:

“Những người yêu thương nhau, chung sống với nhau bao nhiêu năm, cuối cùng cũng phải chia ly.”

Cái Chết chia ly những người yêu thương nhau trên cõi đời này.

Như vợ chồng tôi. Alice và tôi gập nhau Tháng Bẩy năm 1954, chúng tôi yêu nhau trong Tháng Bẩy năm 1954, ngay sau Ngày Đất Nước chúng tôi bị cắt làm hai.

Sống vợ chồng với nhau từ Tháng Bẩy 1954, đến nay, Tháng Tư năm 2016, chúng tôi đã yêu nhau, đã chung sống với nhau 60 năm. Tính đúng là 62 năm.

Yêu nhau, sống vợ chồng với nhau trăm năm, cũng đến ngày phải chia tay.

Đó là Luật Vô Thường.

Tháng này, năm nay – Tháng Tư 2016 – chúng tôi đứng trước ngã ba đường chia tay đó. Trên ngã ba có tấm bảng đề hàng chữ “Ngã Ba Vô Thường.”

Tôi đã viết: những năm 17, 18 tuổi, tôi có làm một số bài thơ. Vì mê thích viết Truyện, vì không phải là thi sĩ, sau năm 20 tuổi, tôi không làm Thơ. Nhưng khi gặp Alice và yêu nhau, tôi làm Thơ:

Mùa Thu mây  trắng xây thành.

Tình Em mầu ấy có xanh da trời?

Hoa lòng Em có về tươi?

Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú – dịch giả Bố Già The Godfather – chúng tôi biết nhau, quen nhau ở Sài Gòn năm 1952. Tú và tôi vào Sài Gòn sớm hơn nhiều người cùng tuổi với chúng tôi. Tú vào Sài Gòn trước tôi.

Tú làm câu thơ theo thơ tôi:

Hoa lòng Em có về tươi mãi?

Môi Em có thắm suốt đời không?

Tú kể:

– Tao nghe bà Thu ru con Mùa thu mây trắng xây thành.Tao hỏi :

Thơ thằng Hải. Sao chị biết?

Bà ấy nói:

– Ca dao. Thơ nào của Hoàng Hải Thủy?

Chị Thu là bà chị của Tú.

Những năm 1985, 1986, sống trong Nhà Tù Chí Hòa, tôi làm mấy câu:

Mùa thu mây trắng xây thành

Tình Em mầu ấy có xanh da trời?

Hoa lòng Em có về tươi?

Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

 

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh

Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.

Từ xanh đến bạc mái đầu,

Tình Ta nước biển một mầu như xưa.

Yêu bao giờ, đến bao giờ?

Thời Gian nào rộng cho vừa Tình Ta?

Hoa Lòng Em vẫn tươi hoa

Môi Em thắm đến Em già chưa phai.

Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai

Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em.

Mặt trời có lặn về đêm

Sớm mai Em dậy, bên thềm lại soi.

Cuộc Đời có khóc, có cười

Có cay đắng, có ngọt bùi, mới hay.

Thu về, trời lại xanh mây

Đầy trời ta thấy những ngày ta yêu.

Càng yêu, yêu lại càng nhiều

Nhớ Em, Anh nhắn một điều: Yêu Em.

Những năm 1985, 1986, khi tôi làm những lời Thơ trên đây, chúng tôi yêu nhau đã hai mươi năm lẻ. Tháng Tư 2016, khi tôi viết những chữ này, chúng tôi đã yêu nhau, đã chung sống với nhau 60 năm. Kể đúng là 62 năm.

Victoria Hospital Center

Victoria Hospital Center

Từ Tết Bính Thân đến hôm nay, Tháng Tư 2016, ba lần Alice phải đi Emergency vào Virginia Hospital. Bệnh viện gần tòa nhà chúng tôi ở nhất.

Cuộc xét nghiệm cả ba lần cho thấy Alice không có bệnh gì cả. Nàng yếu chân, đang đi xụm ngã, nằm liệt giường, nàng không ăn, sức khỏe cạn kiệt, thở thoi thóp.

Lần mới nhất đây xẩy ra lúc 9 giờ tối, anh bạn tôi – Đào Trường Phúc – ghé đến nhà thăm chúng tôi. Thấy vợ tôi nằm gần như mê man, anh nói:

– Gọi 911, đưa chị ấy đi cứu cấp. Còn chờ gì nữa?

Tôi:

– Nhà tôi không chịu đi.

– Không chịu đi anh phải đưa chị ấy đi. Nằm nhà đợi chết à?

Đ T Phúc gọi 911.

Nhân viên Medical Team đến ngay trong 5 phút, hai y tá, tiếng Mỹ là Nurse  – một nam, một nữ – đẩy một giường có bánh xe đến bên giường vợ tôi, chuyển nàng lên giường của họ, đẩy vào xe Ambulance đậu chờ trước cửa nhà.

Trong tuần ấy Kiều Giang về thăm chúng tôi. Kiều Giang đi theo mẹ vào bệnh viện. Tôi ở nhà chờ. Lúc ấy là 10 giờ đêm. Đến 4 giờ sáng Kiều Giang từ bệnh viện gọi về:

– Bố ơi. Cuộc xét nghiệm cho thấy Má con không có bệnh gì cả. Má con kiệt sức vì thiếu ăn, thiếu nước. Bác sĩ cho về, dặn phải đến bác sĩ gia đình điều trị ngay.

Kiều Giang cho tôi biết trong mấy giờ nằm chờ xét nghiệm, bệnh viện vào cho vợ tôi hai bịch nước biển.

Alice ra khỏi nhà lúc 10 giờ đêm, về nhà lúc 5 giờ sáng. Hai nurse đưa Nàng ra khỏi giường, hai nurse đưa Nàng trở về giường.

Bác sĩ gia đình của chúng tôi là Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân. Từ ngày chúng tôi đến thành phố Falls Church, đã 20 năm, bác sĩ Nguyễn Quốc Quân là bác sĩ của chúng tôi. Trong 20 năm đã ba lần ông cứu sống vợ tôi. Ngoài kinh nghiệm trị bệnh cho người già, tôi phục ông về tài chích thuốc của ông. Ông kém tôi chừng 7, 8 tuổi. Viết rõ là năm nay ông khoảng 73, 74. Mắt ông vẫn sáng, tay ông không run, khi chích veine ông không phải mang kính lão. Ông tự tay chích cho bệnh nhân. Tài chích veine của ông tôi đề cao là “bách phát bách trúng.” Tay người bệnh không nổi veine, mũi kim chích mỏng như sợi tóc, ông chích trúng veine ngay.

Lần đau mới đây, vợ tôi không đi được, không cả ngồi lên được. Ông bà bác sĩ đến nhà  thăm vơ tôi. Ông đem theo thuốc đến chích cho vợ tôi. Hôm sau vợ tôi ngồi lên được, đứng lên được. Ba ngày sau vợ tôi đi lại được trong nhà. Sau lần chích thứ hai, vợ tôi đi được hai giờ liền trong chợ thực phẩm Fortune.

Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân là một trong những ông bà vợ chồng tôi mang ơn ở Virginia.

Vợ chồng tôi mang ơn nhiều ông bà ở Virginia. Tôi xin lỗi tôi không kể được tên tất cả các vị. Người vợ chồng tôi mang ơn trước nhất là anh Ung Văn Luông. Anh nguyên là nhân viên USIS – Sở Thông Tin Hoa Kỳ. United States Information Service – Anh và gia đình anh đi thoát trong Ngày 30 Tháng Tư. Sang Mỹ, anh vào làm trong USIA – Cục Thông Tin Hoa Kỳ. United States Information Agency – Không quên những người bạn đồng sở bị kẹt lại ở Sài Gòn, anh nhắc những ông Mỹ trong USIA về tình trạng đáng thương của họ, những ông Mỹ USIA đề nghị Quốc Hội Hoa Kỳ làm luật cho nhân viên USIS được sang Hoa Kỳ định cư.

Chính phủ Hoa Kỳ chỉ cho sang Mỹ những nhân viên trong chính quyền Việt Nam – từ cấp Trưởng Ty, bị Cộng Sản Bắc Việt bắt đi tù khổ sai trên 3 năm, và các sĩ quan từ cấp Thiếu Úy, bị tù khổ sai trên 3 năm. Tôi không biết tình trạng sang Mỹ – không được sang Mỹ – của nhân viên người Việt các Sở Mỹ khác ở Sài Gòn ra sao. Nhân viên USIS được sang Mỹ nhưng không được coi như HO: không được hưởng trợ cấp, không có quyền lợi gì đặc biệt. Tôi và vợ con tôi sang Mỹ không phải vì tôi là “văn nghệ sĩ,” mà vì tôi là nhân viên Sở Mỹ bị Cộng Sản bắt đi tù hai lần, 8 năm. Khi xét hồ sơ tôi xin đi sang Mỹ, các vị ODP quyết định cho tôi được là “tỵ nạn chính trị: political refugee”. Tôi không đòi, tôi không xin. Tôi có đòi, có xin, cũng không được.

o O o

Những ngày tháng đầu năm Giáp Thân 2016, tôi xúc động khi đọc trên Internet lới thơ:

Tử sanh dẫu biết Luật Vô Thường

Nhưng khó ngăn dòng lệ tiếc thương 

Thơ ông Trần Văn Khê, ông làm bài thơ này khi bà vợ ông qua đời.

Đây là nguyên văn bài thơ:

Tử sanh dẫu biết Luật Vô Thường

Nhưng khó ngăn dòng lệ tiếc thương.

Những tưởng phượng loan về một tổ

Đâu ngờ cầm sắt rẽ đôi đường.

Điếu em chấp bút lau dòng lệ

Tiễn bạn ôm đàn đốt nén hương

Cầu nguyện Phật Trời mau tế độ

Hồn em siêu thoát tận Tây phương.

Tháng Tư 2016, vợ chồng tôi nắm tay nhau đứng trước Pháp Đình Vô Thường cùng nghe tuyên đọc Luật Vô Thường. Chúng tôi đã sống với nhau 60 năm, nhưng sống với nhau 60 năm không phải là sẽ được sống với nhau mãi mãi. Rồi cũng đến lúc chúng tôi phải chia tay.

Đêm khuya, trong bệnh viện Mỹ, phòng vắng, đèn mờ, im lặng, tôi ngồi sát gần giường để nghe tiếng vợ tôi:

– Đây là đâu? Em đang nằm ở đâu?

– Đây đâu phải là nhà ta?

– Em đang nằm trong bệnh viện ư? Sao không thấy có giường người bệnh nào khác?

Khi nàng mê sảng:

– Có ông bà nào đứng trước cửa. Anh ra tiếp ông bà ấy đi.

– Ai khóc? Nghe dễ sợ quá.

– Nguyên, Giang vừa vào thăm Em, Anh gặp các con không?

– Chúng mình có được sang Mỹ không anh?

Khi Alice mê, nàng hỏi Kiều Giang:

– Mày là ai?

– Tao có chồng đâu mà có con?

Khi Nàng tỉnh:

– Anh đưa Em về nhà mình. Em muốn được ra đi ở nhà mình, Em đã sống với anh ở đấy hai mươi năm. Ở nhà mình Em có chị, có em, có nhiều bà mến thương Em. Em được ấm lòng.

Nhà chúng tôi là một căn phòng trong tòa nhà dành cho Người Già thu nhập thấp – Seniors Low Income – Một ông Mỹ xây tòa nhà nhiều phòng cho Sở Xã Hội Mỹ mướn, giá mướn mỗi phòng, theo như tôi biết, là 750 Mỹ kim. Sở Xã Hội cho người già, nghèo, tiền thu nhập thấp chúng tôi mướn lại với giá khoảng 300 Mỹ kim, một phần ba số tiền SSI của chúng tôi. Tiền SSI – Social Security Income của người nghèo ở Virginia là 750 Mỹ kim một tháng.

Những con số tôi viết ở đây là “khoảng chừng,” không thật đúng.

Đêm khuya trong phòng bệnh viện, Tôi hỏi vợ tôi:

– Chúng ta có mấy đứa con?

– Các con chúng ta tên là gì?

– Chúng ta gặp nhau năm nào? Em nhớ không?

– Chúng ta sống với nhau bao nhiêu năm rồi?

Tôi hỏi để xem nàng có nhớ không, nàng nhớ. Nàng trả lời đúng, tôi biết là nàng tỉnh.

o O o

Mời bạn đọc mấy bài Thơ về Tình Vợ Chồng:

O.. That it were possible – Thi sĩ Lord Tennyson

O.. That ‘t were possible

After long grief and pain

To find the arms of my true love

Round me once again!

 

A shadow flits before me,

Not thou, but like to thee;

Ah… Christ ! that it were possible

For one short hour to see

The souls we loved, that they might tell us

What and where they be!

Những bài Thơ Việt ở đây do H2T phóng tác:

Ôi Hạnh phúc chừng nào

Qua bao nhiêu đớn đau

Được trong vòng tay ấm

Em về ôm chặt nhau!

Một bóng dáng thoáng qua

Không phải Em, giống Em.

Có thể nào chúng ta

Trong một phút êm đềm

Thấy linh hồn yêu dấu

Trở về và họ bảo:

Họ là gì, ở đâu!

Làm tại Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Ngày 16 Tháng 11, 1989.

o O o

Ernest Dowson (1867-1900)

Vitae Summa Brevis

Thay are not long, the weeping and the laughter

Love and Desire and Hate;

I think they have no portion on us after

We pass the Gate.

 

They are nót long, the days of wine and roses;

Out of a misty dream

Our path emerges for a while then closes

Within a Dream.

Từ giấc mơ mù sương

Không dài lâu tiếng khóc, tiếng cười

Tình Yêu, Ước Mong và Thù Hận

Tất cả chẳng cón gì, Em ơi

Khi ta qua cánh cửa Đời.

Không dài lâu Đất Rượu, Trời Hoa

Từ giấc mơ mù sương

Đường ta đi rồi sẽ chia xa

Trong giấc Mộng Vô Thường.

Z 30 A. 11 Tháng 11, 1989

o O o

Thomas Moore – At the Mid Hour of Night

At the mid-hour of night, when stars are weeping, I fly to the lone vale we loved, when life shone up in thy eyes;

An I think oft, if spirits can steal from the region of air

To revisit past scenes of delight , thou wilt come to me there,

And tell me our love is remembered even in the sky.

 

Then I sing the wild song it once was a rapture to hear

When our voice commingling breathed like one on the ear;

And as Echo far off through the vale my sad orion rolls

I think, O My Love, ’tis thy voice from The Kingdom of Souls

Faintly answering still the notes that once was so dear.

 o O o

Bài Hát Ngày Xưa

Anh bay, khi sao trời khóc lúc nửa đêm

Về thung lũng cô đơn đôi ta yêu khi Tình Yêu sáng trong mắt Em.

Nhiều khi Anh nghĩ nếu linh hồn có thể trở về từ Trời, để thăm lại những nơi yêu thương

Em sẽ về đó với Anh và nói Tình đôi ta được nhớ ngay cả trên Thiên Đường.

Khi ấy Anh sẽ hát khúc ca du dương ngày xưa

Khi tiếng đôi ta hòa một êm như mộng, mơ;

Và khi tiếng vang từ thung lũng xa vọng lại tiếng Anh cầu nguyện buồn,

Anh nghĩ, Em ơi, đó là tiếng Em từ Vương Quốc Linh Hồn

Êm dịu trả lời những âm thanh ta yêu ngày xưa, ngày xưa…

Z 30 A 12/11/ 1989.

o O o

Felicia Dorothea Hemans (1793 – 1835)

Dirge

Calm on the bosom of thy God,

Fair spirit, rest thee now!

E’en while with ours thy footsteps trod

His seal was on thy brow.

 

Dust, to its narrow house beneath!

Soul, to its place on high!

They that have seen thy look in death

No more may fear to die.

o O o

Tang Ca

Bình yên trong Chúa của Em,

Linh hồn đẹp, thôi Em yên nghỉ.

Khi bên Anh Em đi những bước chân êm,

Dấu Chúa đã in trên mày Em.

Cát bụi, trở về cát bụi!

Linh hồn, trở về trời cao!

Khi Anh đã thấy Em về tới,

Cái Chết nào Anh có sợ đâu.

Z 30 A. 10/1989

o O o

William Butler Yeast – When you are old

When you are old and gray and full of sleep

And nodding by the fire, take down this book,

Anh slowly read, and dream of the soft look

Your eyes had once, and of theirs shadows deep;

 

How many loved your moments of glad grace,

And loved your beauty with love false or true,

But one man loves the pilgrim’ soul in you

And loved the sorrows of your changing face.

 

Anh bending down beside the glowing bars

Murmur, a little sadly, how love fled

And pace upon the moutains overhead

And hid his face amid a crown of stars.

Khi Em già

Khi Em già úa, Em sầu rũ

Ngồi bên đèn, đọc lại thư tình,

Em sẽ mơ về năm tháng cũ,

Ngày môi Em thắm, tóc Em xanh.

Biết bao nhiệu kẻ đã yêu Em

Những chiều Em đẹp, tối Em duyên;

Chỉ có một người trong tất cả

Yêu hồn Em nặng những ưu phiền.

Người ấy nghiêng mình bên ánh lửa

Yêu nét buồn trên mặt sầu miên.

Tình đi, nuối tiếc, người than thở

Rồi núi cao người nhẹ bước lên,

Đỉnh núi sương mù người lệ rỏ,

Trong chuỗi sao mờ dấu mặt tên.

Z 30 A – 1989

o O o

Christina Georgina Rosetti – Remember

Remember me when I am gone away

Gone far away into the silent land;

When you can no more hold me by the hand,

Nor  I half turn to go, yet turng stay,

Remember me when no more day by day

You tell me of our future that you plann’d.

Only remember me, you understand;

It will be late to counsel then or pray,

Yet if you should forget me for a while

And afterwards remember, do not grieve:

For if the darkness and corruption leave

A vestige of the thoughts that once I had,

  Better by far you should forget and smile

Than that you should remember and be sad.

Nhớ

Hãy nhớ Em khi Em đã đi xa

Đi xa lắm vào vùng u tịch,

Khi Anh không còn nắm được tay Em,

Em không còn nửa ngại ngần, nửa thích,

Khi không còn những chiều xanh ngọc bích

Anh kể Em nghe những chuyện êm đềm,

Những chuyện xưa sau, những chuyện thần tiên,

Khi đã muộn những lời ước nguyện .

Hãy nhớ Em , nhưng nếu Anh quên,

Rồi lại nhớ, đừng buồn thê thiết,

Nếu từ âm u, nếu từ hủy diệt

Em còn chút gì thấp thoáng, mong manh,

Em muốn Anh cười, Em muốn Anh quên

Hơn Anh khóc mà nhớ rằng Em chết.

Z 20 A. Ngày 12 – 11 – 1989.

Thơ làm ở Việt Nam, chép lại ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích Tháng Tư 2016.

NGỤY CÔNG TỬ

nguy

Sau năm 1975 khi viết những bài diễn tả cuộc sống của nhân dân ta dưới ách Cộng sản, từ Sài Gòn gửi sang các bạn tôi ở Anh, Pháp, Úc, Mỹ,  tôi ký nhiều tên; trong số có bút danh Ngụy Công Tử.

Thời tôi ba mươi tuổi, tôi thích đọc Tam Quốc Chí. Đến năm tôi sáu mươi, tôi thích đọc Đông Chu Liệt Quốc. Sang Mỹ năm 1995, tới nay đã 21 năm,  Đông Chu Liệt Quốc,  tác phẩm của Phùng Mộng Long, là quyển sách tôi đọc nhiều nhất.  Đông Chu Liệt Quốc là “sách gối đầu giường” của tôi. Tôi đọc đi đọc lại những đoạn truyện trong Đông Chu Liệt Quốc – ĐCLQ – Đọc nhiều lần vẫn thấy chuyện hấp dẫn, vẫn nhận ra nhiều sự kiện mới, nhiều ý nghĩa của chuyện, nhiều bài học về Tình Đời, Tình Người  mà những lần đọc trước tôi không thấy.

Tôi đọc đi, đọc lại những đoạn truyện về cuộc sống của những ông Công Tử Đông Chu. Thời Đông Chu nước Tầu chia ra làm nhiều nước nhỏ, những ông Vua Tầu thời Đông Chu có nhiều vợ. Một ông con được coi là Thế Tử – Thế Tử sẽ nối nghiệp làm Vua – những ông con vua khác được gọi là Công Tử.

Một bút hiệu của tôi là Ngụy Công Tử. Tôi có cảm tình nhất với ông Ngụy Công Tử Đông Chu Liệt Quốc.

nguy2

Mời quí vị đọc tiểu sử của Ngụy Công Tử ĐCLQ  trên Internet.

Công tử nước Ngụy, tên Vô Kỵ là con út của Ngụy Chiêu Vương, và là em cùng cha khác mẹ với An Ly Vương nước Ngụy. Chiêu Vương chết, An Ly Vương lên ngôi phong công tử làm Tín Lăng Quân. Công tử là người nhân hậu, khiêm tốn đôi với kẻ sĩ. Kẻ sĩ không kể người hiền hay người dở, công tử đều khiêm tốn, lấy lễ đối đãi, không cậy mình giàu sang mà kiêu ngạo. Vì vậy kẻ sĩ trong vòng mấy ngàn dặm đều tranh nhau theo Công Tử. Khách trong nhà nhiều đến ba nghìn người.

Năm thứ hai mươi, đời vua An Ly Vương nước Ngụy (năm 237 trước Công nguyên), Tần Chiêu Vương sau khi phá quân Triệu ở Trường Đình, tiến binh vây Hàm Đan, kinh đô nước . Chị của công tử là vợ Bình Nguyên Quân, em trai vua Huệ Văn Vương nước Triệu. Bình Nguyên Quân đã mấy lẩn đưa thư cho Ngụy Vương và Ngụy công tử xin nước Ngụy cứu viện. Vua Ngụy sai tướng quân Tấn Bỉ cầm mười vạn quân đi cứu Triệu. Vua Tẩn sai sứ giả nói với vua Ngụy:

– Ta đánh Triệu, sớm chiều thể náo cũng phá Triệu, chư hầu ai dám cứu Triệu thì sau khi phá Triệu, ta sẽ đem binh đến đánh.

Vua Ngụy ra lệnh cho Tấn Bỉ, đóng quân ở đất Nghiệp, tiếng là cứu Triệu, nhưng  thực ra là đi nước đôi để chờ xem tình thế. Sứ giả của Bình Nguyên Quân liên tiếp sang Ngụy, đem lời Bình Nguyên Quân trách Ngụy Công tử:

– Thắng sở dĩ tự phụ về chỗ kết nghĩa hôn nhân là vì cho rằng Công tử là ngườì có nghĩa khí cao, có thể giải cứu người ta lúc nguy khốn. Nay Hàm Đan sớm chiều sẽ  phải đầu hàng nước Tần mà cứu binh của Ngụy không đến, thế thì Công tử cứu nguy khốn cho người khác ở chỗ nào? Nếu Công tử khinh Thắng này,  Thắng phải đầu hàng nước Tần, thế thì Công tử không thương bà chị của Công tử sao?

Ngụy Công tử  mấy lần xin Ngụy Vương đánh Tần, và giục các tân khách, biện sĩ tìm đủ mọi cách nói với Ngụy Vương. Nhưng Ngụy Vương sợ Tần,  không nghe lời Công tử. Công tử nghĩ mình không nên sống một mình để nước Triệu mất, nên tụ tập các tân khách, quân kỵ và hơn một trăm cỗ xe, định qua đánh quân Tần, rồi cùng chết với nước Triệu.

Công tử đi qua cửa Di Môn ghé thăm Hầu Sinh và từ biệt ra đi. Hầu Sinh nói:

–  Tôi già yếu rồi, không thể đi theo Công tử được.

Công tử đi được mấy dặm, không vui, nghĩ:

–  Nay ta sắp chết, thế mà Hầu Sinh không có nửa lời tiễn ta, phải chăng ta có điều gì không phải?

Bèn quay xe về, hỏi Hầu Sinh. Hầu Sinh cười, nói:

– Tôi biết thế nào Công tử cũng quay lại..

Lại nói:

– Công tử yêu kẻ sĩ nổi tiếng khắp thiên hạ, nay gặp nạn  lớn có thể chết mà không có ai giúp phương kế nào khác, lại muốn lao vào quân Tần, thế cũng như là ném thịt cho hổ đói chứ có ích gì đâu! Như thế thì dùng tân khách làm cái gì? Nhưng công tử đối đãi với tôi rất hậu, công tử ra đi mà tôi không tiễn, vì tôi biết công tử sẽ trở lại.

Công tử lạy hai lạy. Hầu Sinh nói riêng:

– Doanh này nghe nói “Binh phù” của nhà vua  để trong phòng ngủ của nhà vua mà nàng Như Cơ được nhà vua rất yêu; nàng ra vào phòng ngủ của nhà vua, có thể lấy trộm được binh phù. Doanh nghe nói cha của Như Cơ bị người ta giết. Như Cơ chứa giận ba năm, muốn tìm người báo thù cho cha, nhưng từ nhà vua trở xuống, không có một người nào giúp. Như Cơ khóc với công tử. Công tử sai người khách chém đầu kẻ giết cha  Như Cơ. Như Cơ muốn báo ơn công tử, chết cũng không từ chối, nhưng  chưa có dịp đấy thôi. Nay nếu công tử nói với Như Cơ một lời thì thế nào Như Cơ cũng làm theo. Một khi đã có được “hổ phù”, Công tử giành lấy quyền chỉ huy quân đội của Tấn Bỉ, đem quân về phía Bắc, cứu nước Triệu, đuổi nước Tần về phía Tây, đó là công lao của Ngũ bá đời xưa.
Công tử nghe theo kế của Hầu Sinh. Như Cơ lấy  trộm được binh phù, dưa cho công tử.

Công tử ra đi, Hầu Sinh nói:

– Tướng quân ở trên mặt trận  có những lúc không nghe theo lệnh của nhà vua. Công tử đến, nếu như Tấn Bỉ không trao quân cho công tử mà lại muốn hỏi lại nhà vua thì công việc hỏng mất. Người bạn tôi là anh hàng thịt Chu Hợi có thể cùng đi với Công tử, anh ta là một lực sĩ. Nếu như Tấn Bỉ nghe theo thì tốt. Nếu không thì Chu Hợi sẽ đánh Tấn Bỉ chết.

Công tử  khóc. Hầu Sinh hỏi:

– Công tử sợ chết hay sao?

– Tôi không sợ chết.

– Tại sao lại khóc?

Công tử nói:

– Tấn Bỉ là một vị lão tướng yêu nước. Tôi đến cướp quyền, sợ ông ta không nghe, phải giết ông cho nên tôi khóc.

Đến đất Nghiệp Công tử giả lệnh của vua Ngụy thay Tấn Bỉ, Tấn Bỉ ghép binh phù lấy làm ngờ, nói:

– Nay tôi cầm binh mười vạn, đóng nơi biên giới. Ông đi một chiếc xe đến đây thay tôi, là nghĩa thế nào?

Tấn Bỉ có ý không chịu trao quyền. Chu Hợi dúng cái chùy sắt bốn mươi cân, đánh Tấn Bỉ vỡ sọ chết, Công tử bèn chỉ huy quân của Tấn Bỉ, chỉnh đốn đội ngũ, ra quân lệnh:

– Nếu cả cha và con đều ở trong quân, cho cha trở về; nếu cả anh và em ở trong quân cho anh trở về; nếu là con một không có anh em thì cho trở về mà nuôi cha mẹ.

Chọn được tám vạn quân, tiến đánh quân Tần. Quân Tần rút lui, công tử cứu được nước Triệu.

Trên đây là đoạn truyện về Ngụy Công Tử trên Internet. Dưới đây là đoạn truyện về Ngụy Công Tử trong truyện Đông Chu Liệt Quốc: Tôi – CTHĐ – cảm động khi đọc đoạn truyện này.

Trích ĐCLQ: Có con chim cưu bị con chim rao đuổi bắt, bay vào thư phòng của Ngụy Công Tử để trốn. Tưởng con chim rao đã bay đi, công tử thả con chim cưu ra, không ngờ con chim rao nấp đâu đó, bắt và ăn thịt con chim cưu. Công tử tự trách đã làm chết con chim cưu nên buồn và ân hận. Người dân trong vùng bắt được mấy chục con chim rao, nhốt trong lống, dâng để Công tử trị tội. Công tử nghĩ chỉ một con chim rao phạm tội mà giết cả mấy chục con thì không được, bèn cầm thanh gươm, gõ gươm vào từng lồng chim, nói với con chim trong lồng:

– Mày không giết con chim cưu thì kêu lên ba tiếng, ta tha cho.

Những con chim rao trong lồng, nghe hỏi, đều kêu lên. Có một con nghe hỏi, không kêu mà gục đầu xuống.

Đây là đoạn chuyện thứ hai tôi cảm khái: chuyện nàng Như Cơ và chiếc binh phù của Vua Ngụy:

ĐCLQ Trích: Ba ngày sau Vua Ngụy mới biết binh phù bị lấy trộm, tra hỏi cung nhân, không ra thủ phạm. Vua nhớ Ngụy Công Từ – tức Tín Lăng Quân – nhiều lần xin mình ra lệnh cho Tướng Tấn Bỉ tấn công quân Tần, bèn cho gọi Ngụy Công Từ đến hỏi. Khi ấy Vua mới biết Công Tử cùng gia khách đã đi khỏi kinh đô. Vua Ngụy giận quá, sai Tướng Vệ Khánh dẫn quân đuổi bắt Ngụy Công Tử.

Ngụy Công Tử giữ Vệ Khánh lại, không cho về kinh đô. Vua Ngụy giận, định ra lệnh bắt giam vợ con Ngụy Công Tử.

Như Cơ khóc, quỳ lậy khai tội lấy trộm binh phù:

– Thân phụ của thiếp bị người giết thảm, đại vương không thể báo thù cho thiếp, nhưng Ngụy Công Tử đã trả thù cho thiếp. Thiếp lấy trộm binh phù, xin Vua trị tội thiếp.

Vua hỏi:

– Đứa nào mang binh phù đi trao?

Nhan Ân bị khai ra. Vua muốn giết Nhan Ân. Nhan Ân kêu:

– Kẻ nô tỳ này có biết binh phù là cái gì đâu?

Như Cơ nói:

– Hôm trước ta sai ngươi mang lẵng hoa đi biếu Tín Lăng Quân phu nhân. Ta dấu binh phù trong đó.

Nhan Ân òa khóc:

– Phu nhân giết tôi. Tôi chết oan.

Nhu Cơ khóc:

– Thiếp có tội. Xin Vua giết thiếp.

Vua bỏ tù Nhan Ân, cho Như Cơ vào lãnh cung. Hai tháng sau khi đánh lui quân Tần, Ngụy Công Tử cho Vệ Khánh dẫn quân về nước, dâng nộp binh phù và biểu tạ tội.

Vệ Khánh về triều, tâu với Vua Ngụy:

– Tín Lăng Quân đại thắng quân Tần, biết có tội nên không dám về nước, xin ở lại nước Triệu, gửi lời về tâu: Ngày khác sẽ xin về nước chịu tội.

Công Tử ở lại nước Triệu, là thượng khách của vua Triệu và của anh rể là Bình Nguyên Quân.

Vua Ngụy cho Nhan Ân ra khỏi ngục, cho Như Cơ ra khỏi lãnh cung, cho vợ con Ngụy Công Tử được hưởng những bổng lộc, đất phong của Ngụy Công Tử, nhưng không cho đón Ngụy Công Tử về nước.

Ngày tháng qua đi…

Ngụy Công Tử ở lại nước Triệu..

Vua Tần cho quân đánh Ngụy, nước của Ngụy Công Tử. Quân Tần bao vây thành Đại Lương, kinh đô nước Ngụy. Vua Ngụy sai sứ giả sang Triệu mời Ngụy Công Tử về nước. Nhưng Ngụy Công Tử không chịu tiếp Sứ Giả. Sứ Giả nước Ngụy bèn nhờ Mao Công  và Tiết Công, hai người hiền của nước Triệu. Ngụy Công Tử rất trọng Mao Công và Tiết Công.

Mao Công, Tiết Công đến gập Ngụy Công Tử, cùng nói:

– Được tin Công Tử sắp về nước Ngụy, chúng tôi đến tiễn ngài.

Ngụy Công Tử:

– Tôi có tính về nước đâu.

– Quân Tần đánh nước Ngụy của ngài, đang vây hãm thành Đại Lương. Ngài không hay biết gì sao?

– Tôi có nghe nói, nhưng tôi từ bỏ nước Ngụy đã 10 năm, nay tôi là người nước Triệu, tôi không còn lưu luyến gì nước Ngụy.

Mao Công, Tiết Công:

– Sao Công Tử lại nói thế? Công Tử được trọng đãi ở Triệu, tiếng khen vang khắp các nước, là nhờ có nước Ngụy, nhờ ngài là ngưới nước Ngụy. Nay quân Tần đánh Ngụy mà Công Tử không thương nước, thương dân, nếu quân Tần vào được thành Đại Lương, phá hủy tôn miếu của tiên vương, Công Tử còn mặt mũi nào mà cứ sống nhờ ở Triệu!

Ngụy Công Tử toát mồ hôi, đứng lên vái lậy tạ ơn chỉ bảo.

Bèn lập tức ra lệnh cho tùy tùng, tân khách, sửa soạn về Ngụy. Công Tử vào triều từ biệt Vua Triệu.

Vua Triệu không muốn cho Ngụy Công Tử về nước, cầm tay Ngụy Công Tử, khóc, nói:

– Quả nhân từ khi mất Bình Nguyên Quân, may có Công Tử, mới giữ được nước. Nay Công Tử bỏ đi, quả nhân như mất cả hai tay.

Ngụy Công Tử:

– Vô Kỵ này không thể để quân Tần phá hủy tôn miếu, thế tất phải về cứu nước. Nếu nhờ hồng phúc của Đại Vương, nước Ngụy không mất. Đại Vương và thần sẽ có ngày gặp lại nhau.

Vua Triệu:

– Công Tử khi trước dùng quân Ngụy cứu được nước Triệu. Nay quả nhân xin giúp quân lương để ngài về cứu nước.

Vua ba nước Yên, Hàn, Sở cho quân hợp với quân Triệu – do Ngụy Công Tử thống lĩnh – về Ngụy đánh quân Tần. Quân Tần phải rút về nước.

Phá Tần, Ngụy Công Tử về nước. Vua Ngụy ra đón ngoài thành. Anh em vương giả xa cách 10 năm, nay gặp lại nhau, xiết bao mừng thương, ngồi chung xe về triều.

Vua Tần dùng kế giao hảo với nước Ngụy, sai Sứ Giả sang mời Ngụy Công Tử qua chơi nước Tần. Ngụy Công Tử không sang Tần. Tần dùng kế ly gián, phao tin Ngụy Công Tử mưu toan lên làm Vua. Biết Vua Ngụy nghi mình cướp ngôi, Ngụy Công Tử xin từ nhiệm. Từ đó Công Tử sống vui với rượu và đàn bà đẹp, cho đến ngày từ giã cõi đời.

o O o

Chu Hợi là dũng sĩ  đi theo Ngụy Công Tử và dùng cây dùi sắt đánh chết Tướng Tấn Bỉ, Mấy năm sau vua Ngụy cho Chu Hợi làm sứ giả, mang ngọc bích sang tặng vua Tần. Vua Tần giữ Chu Hơi lại, muốn cho Chu Hợi làm Tướng ở Tần. Chu Hợi nhất định không chịu. Vua Tần cả giận,  sai quân đẩy Chu Hợi vào chuồng cọp cho cọp ăn thịt.

Con hổ đốm, đói, nhẩy đến vồ. Chu Hợi quát lên một tiếng. Hai mắt Chu Hợi đỏ ngầu. Hổ sợ, nằm phục xuống.

Bị giam trong ngục đá, Chu Hợi đập đầu vào cột đá. Cột bị mẻ,  Chu Hợi vẫn không chết. Sau cùng Chu Hợi tự tử bắng cách cấu cổ, móc cuống họng.

o O o

Tài liệu trong bài Ngụy Công Tử được trích trong sách ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC của Phùng Mộng Long, văn sĩ Trung Hoa đời Minh, bản Việt Văn của Nguyễn Đỗ Mục.

o O o

Thân kinh gửi quý bạn:

Từ Tết đến hôm nay, vợ tôi đau – Bệnh Già. Nàng 84 tuổi – mấy lần tôi tưởng Nàng ra đi lần cuối. Tôi đau, tôi sợ mất Nàng.

Hôm nay, ngày 2 Tháng Ba 2016, Tết ra đã được 25 ngày, sức khỏe vợ tôi tạm ổn, tôi gắng viết bài này.

Đây là bái Viết ở Rừng Phong Đầu Năm Nhâm Thân của tôi.