• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

KHẨU SÚNG, GÓI THUỐC

Truyện viết ở Sài Gòn Giáng Sinh 1970

bayeyNăm tôi lên sáu, lên bảy – 1940 – trận Ðại Chiến Thế Giới Thứ Hai chưa nổ, đường giao thông từ Á sang Âu vẫn còn, hàng hóa từ Pháp vẫn còn được đưa sang Ðông Dương và nhà Gô Ða ở Hà Nội vẫn mở cửa. Những năm đó, đôi lần được thầy mẹ tôi dắt tay cho vào đi chơi trong nhà Gô Ða, tôi chỉ để ý đến mấy cô đầm bán hàng, tóc hung, mắt xanh và nói tiếng Pháp líu lo. Không khác những anh bé con khác cùng tuổi, khu vực đẹp nhất trái đất này của tôi ngày ấy là khu bán đồ chơi trẻ con trong nhà Gô Ða. Nơi có những chiếc xe tăng chạy bằng dây cót biết leo phăng phăng lên những chồng nhật báo xếp lên nhau giả làm đường núi, những khẩu súng Eureuka co tên đầu gắn cao su bắn bằng lò xo. Phập… Mũi tên dính chặt vào mặt gỗ phẳng mỗi lần rút ra phát ra tiếng bục.

Lên năm, lên sáu tuổi, tôi đã được chơi súng nhưng đến năm tôi mười một, mười hai tuổi – 1942. 1943 – khi tôi thật sự biết chơi súng, thích chơi súng, bắt đầu biết tưởng tượng tôi lại không còn có súng để mà chơi, để tưởng tượng và thích thú. Vì cuộc Thế Chiến Thứ Hai nổ ra vào năm tôi mười tuổi. Ðường giao thông giữa hai lục địa Âu và Á bị cắt đứt, hàng hóa của Pháp không sang được Ðông Dương, nhà Gô Ða phải đóng cửa. Ðồ chơi trẻ con bằng sắt có máy như xe tăng, xe hơi, súng hơi… hết hẳn ở Hà Nội.

Tôi được biết nhà Gô Ða đã đóng cửa vào một buổi sáng mùa đông. Chủ nhật, thầy tôi từ Hà Ðông ra Hà Nội có việc. Ông định cho tôi đi theo nhưng đến phút sau cùng, có lẽ vì sợ phải chạy bom – Hà Nội đang bị oanh tạc – ông lại không cho tôi đi theo. Tôi tần ngần đứng ở cửa khi thầy tôi sắp ra đi. Ông cho tôi tờ giấy một hào để tôi ở nhà ăn quà. Tôi đưa lại ông tờ giấy bạc và nói:

– Con muốn có một cái súng như cái súng thầy mua cho con hồi trước. Thầy ra Hà Nội nhớ mua súng cho con…

Tôi thấy nét mặt của thầy tôi khác đi. Bây giờ hồi tưởng, tôi nghĩ rằng giây phút đó thầy tôi buồn. Buồn vì không chiều được tôi. Ông không cầm tờ giấy bạc:

– Con cứ cầm tiền ăn quà. Ðể thầy xem, có thầy mua cho, nhưng chắc bây giờ không còn đồ chơi đâu.

Tôi nghĩ đến gian bán đồ chơi sáng trưng trong nhà Gô Ða:

– Trong nhà Gô Ða con thấy bán nhiều lắm…

– Nhà Gô Ða đóng cửa từ lâu rồi, con…

Chuyến đi Hà Nội hôm ấy, thầy tôi không mua được súng cho tôi. Buổi tối khi ông về, tôi chờ đón và thấy ông về tay không, tôi cảm thấy buồn rầu như tôi vừa mất một quyền lợi gì. Khi tôi biết chơi súng, tôi không có súng để mà chơi. Từ đó cho tới năm tôi chơi được súng thực, tôi không được cầm lại một khẩu Eureuka bắn tên nào nữa…

o O o

Trong bẩy năm, chánh phủ cấm nhập cảng mọi thứ súng lục giả nhưng giống súng thực dành cho trẻ con chơi. Trẻ con Việt Nam trong thời này được chơi đủ thứ xe tăng, phi cơ, dĩa bay, người máy nhưng thiếu súng lục. Từ năm 1963, súng lục trẻ con giống súng thực bắt đầu lác đác có ở Sài Gòn. Loại súng giả này được mang lậu vào Sài Gòn từ Cao Miên, Thái Lan.

Ðến Noel năm nay thì hè phố Lê Lợi, khoảng chung quanh nhà Tax, có bày quá nhiều súng lục trẻ con, những khẩu súng lục giống súng thực và đẹp đến nỗi người lớn trông cũng phải thích. Kể cả những anh người lớn đã từng được cầm súng thực bắn chết người thực.

Tôi đứng ngắm mãi – khi không có tiền để có thể mua, khi biết chắc mình không thể mua được món đồ gì dù món đồ đó có đẹp, hấp dẫn đến đâu tôi cũng ít khi cầm xem, nhưng lần này vì khẩu súng đẹp quá, tôi phải miễn cưỡng phá lệ – tôi cầm khẩu súng lên. Ðó là một khẩu Parabellum, loại súng mà tôi vẫn thích. Nó lại có ống hãm thanh, trông y như súng của điệp viên James Bond 007. Không phải là đồ Nhật. Hàng chữ Made in West Germany hiện rõ trên cán súng. Không nặng bằng Parabellum thật nhưng cũng không hẫng như súng nhựa. Mầu súng cũng xanh xanh như màu thép già.

phillipQuanh tôi, người coi trầm trồ:

– Mẹ… Giống súng thực quá…!

– Mua khẩu này đi ăn cướp được đó mậy…

– Mua cái bao da bỏ vào… Không ai có thể biết là súng giả.

– Ðêm tối đưa ra… Sợ bằng thích…

Họ nói đúng. Phải cầm lên tay mới biết khẩu này là súng giả của trẻ con. Tôi hỏi người bán:

– Bao nhiêu khẩu này?

Hắn đáp với ba ngón tay ngạo mạn:

– Ba ngàn đồng…

Như hắn đoán biết tôi chỉ coi chứ không đủ tư cách mua, mà hắn đoán trúng. Lương mười hai ngàn đồng với một vợ, một con, tiền ăn, tiền nhà cả tháng. Hiện trong túi tôi chỉ có bốn trăm đồng với vài đồng bạc cắc. Tôi muốn mua một món đồ chơi cho con. Nó đã sáu tuổi. Nó đã bằng tuổi tôi ngày xưa ở Hà Ðông. Bằng tuổi tôi đã được chơi súng.

Tôi đi lẫn trong đám người đi mua đồ Noel. Mình được bố mẹ yêu thương chừng nào, mình cũng yêu thương con mình y như thế, nếu không yêu hơn. Ngày mình còn nhỏ, bố mẹ mua cho mình những món đồ chơi gì, bây giờ mình có con, mình cũng có bổn phận phải mua cho con mình những món tương xứng. Nếu không, chỉ là anh bố tồi… Tuấn mà được cái súng có gắn ống hãm thanh y như súng điệp viên, chắc cu cậu khoái lắm. Nó không khoái chơi xe. Trẻ con hai ba tuổi mới khoái chơi xe. Nó đã sáu tuổi, nó cần được chơi súng… Ba ngàn đồng… Made in West Germany…

– Ê… ông! Ði đâu mà ngất ngư thế ông?

Trước cửa nhà Pole Nord, nó vỗ vai tôi, miệng cười nhăn nhở… năm bẩy năm trước, chúng tôi gọi nó là thằng Ðăng Xê Xê vì răng nó vàng và đầy bựa. Có khi chúng tôi còn gọi nó là thằng AntiHynos vì nó chê bàn chải với thuốc đánh răng. Bây giờ ăn nên, làm ra, có địa vị trong xã hội rồi, chắc nó vẫn giữ nguyên cái tật chê đánh răng như cũ vì hàm răng nó nhe ra giữa cặp môi dầy có mầu vàng đậm hơn và cải mả, dơ dáy hơn trước:

– Lâu quá mới lại được gặp ông. Mời ông vào đây cho tôi được quyền chi ông ly nước…

Nó kéo tôi vào Pole Nord. Veston nâu, cravate đỏ, giầy nâu, tay cầm tờ Newsweek, mái tóc dài bóng nhoáng brillantine, trông nó long trọng rõ ra một kẻ có chức việc phải có mặt trong những buổi lễ lạc. Cảm thấy cái nhìn của tôi đánh giá bộ quần áo trên con người nó, nó nhún vai:

– Phái đoàn nghị sĩ Hoa Kỳ vừa đến thăm trụ sở… Phải đến tiếp mấy ổng… Vừa mới trốn được tiệc trà chạy vội ra đây định mua cái gì về làm quà Nô En cho mấy ông ôn ở nhà…

– Mày đi ngoại quốc luôn mà còn phải mua quà ở đây sao?

– Ði ngoại quốc mua quà về là một chuyện, Nô En lại phải có quà Nô En… Ngày tao đi Nhật về có mấy cái bật lửa , tao định cho mày nhưng cóc thấy mặt mũi mày đâu cả, chúng nó tới vồ hết…

– Mày có quà phải đem đến tao chứ! Tao rình mày đi chơi về để đến xin quà màysao?

Nó nhăn nhó như người khổ sở thực tình:

– Mày sáo lắm. Anh em mày đến chơi thăm tao không được ư? Như thế là mày có mặc cảm… Việc gì cứ phải tao đi tìm mày mới được? Tao hơn chó gì mày?

– Sao lại không hơn? Bây giờ mỗi tháng lương mày bốn chục sắp, tao có hơn mười ngàn. Mày có quyền bất khả xâm phạm… Tao mà léng phéng là bị phú lít bắt bỏ bóp ngay tức khắc…!

– Chuyện đó thì có ăn nhậu gì đến tình bạn giữa tao và mày? Tao và mày vẫn là bạn.

Tôi bỗng cảm thấy tôi cay đắng với nó. Tôi cay cú vì tôi không được bằng nó. Việc gì tôi lại phải tỏ ra ghen với nó nhỉ? Nó bị các báo chửi nát người ra, chỉ còn thiếu nước bị lôi ra chợ nhét của dơ vào miệng. Còn tôi, tôi đâu có bị ai nói nặng một câu!

Chuyện gẫu. Hỏi thăm thằng nọ, thằng kia. Nó ăn kem. Tôi uống 33. Nó móc túi trả tiền, lấy ra một gói thuốc lá Phillip bao vàng:

– Này… cái thuốc này mày với thằng Trí vẫn thích này? Phải không? Lâu lắm không thấy bán. Hồi sang Hồng Kông tao thấy bên ấy có nhiều lắm. Có phải đúng thứ thuốc hồi trước mày thích không?

Nó nhớ đúng. Tôi cách đây năm bẩy năm thích hút Phillip vàng. Ít năm gần đây, Philip đổi thành bao giấy trắng, chữ đỏ, chất thuốc kém hẳn nên tôi bỏ Phillip.

– Tao lấy gói này trong phủ Tổng Thống… Mày lấy mà hút…

Ra khỏi nhà hàng, trời bắt đầu tối và có mưa lâm râm, nó ngửa mặt lên nền trời xám:

– Nô En mà mưa là nhất rồi. Ðêm nay đi ăn đi chơi tha hồ mà mát. Khỏe…

Nó nhìn xuống:

– Sài Gòn nhiều hàng ngoại quốc quá. Chẳng thiếu món gì. Chỉ thiếu có tiền… À, mày đã mua gì cho thằng con mày chưa? Năm nay nó lên mấy rồi nhỉ? Nhân dịp mày cho phép tao mua cái gì cho thằng nhỏ.

Nó định mua cho con tôi cái xe hơi tám trăm. Tôi lắc đầu:

– Con tao nó có xe rồi. Nếu mày không tiếc tiền, mày mua cho tao khẩu súng. Ðằng kia có bán mấy khẩu súng đẹp lắm. Tao không đủ tiền mua.

– Thì mua súng… Ðâu súng đâu? Mẹ kiếp… Bố chuyên bắn súng Ca-nông sao không khuân về nhà cho con một khẩu cho nó chơi mà lại phải ra đây mua súng giả cho nó?

Số bạc ba ngàn làm nó đau, nhưng lỡ rồi, nó anh dũng móc sấp giấy năm trăm ra mua khẩu Parabelum đưa cho tôi. Tôi tha thứ hết mọi lỗi lầm của nó.

o O o

Tôi vẫn thèm cây súng của thằng An ở đầu hẻm. Bố nó có xe hơi nhưng nó vẫn ít đồ chơi hơn tôi. Mới đây, chú nó là sĩ quan đi học bên Hoa Kỳ về – tôi nghe nó khoe như thế – mua cho nó một khẩu súng giống như khẩu súng của cao bồi. Từ ngày có súng, nó lên mặt với tôi. Nó đem súng đi chơi với bọn ở hẻm bên. Bên đó, bọn trẻ con đã lớn, thằng nào cũng có súng, toàn là súng làm bằng gỗ. Thằng An có súng thật nên được bọn chúng chịu cho chơi chung. Mẹ tôi có mua cho tôi mấy khẩu súng nhưng toàn là súng giả làm bằng nhựa bán ở tiệm chú Tầu. Súng nhựa mà bắn ai! Tôi đòi mẹ tôi mua cho tôi khẩu súng thật như súng của thằng An, mẹ tôi nói mẹ không biết chỗ nào bán, chờ bố về bảo bố mua cho.

Bố tôi làm sĩ quan ở xa, cả tháng bố mới về nhà một lần. Bố có nhiều súng nhưng toàn là súng người lớn, nặng lắm, tôi không thể chơi được. Lần này ngày lễ, tôi được nghỉ học, bố tôi về nhà. Nghe mẹ tôi kể chuyện tôi thích cái súng của thằng An, bố tôi không nói gì, bố tôi lên Sài Gòn một lúc mang về cho tôi cái súng này.

Súng của tôi còn đẹp hơn súng của thằng An. Súng của tôi đen nhánh, súng của nó trắng. Súng mà trắng là thua rồi. Bố tôi bảo đi đánh nhau ban đêm, súng phải đen chứ nếu súng trắng, quân thù nó trông thấy nó bắn mình chết. Lúc đó bọn chúng nó đang chơi bắn chau, tôi mang súng ra, cả bọn xúm lại coi. Thằng nào cũng thích. Chúng nó thích súng của tôi hơn súng thằng An. Thằng nào cũng bồ với tôi hết. Thằng An khoe súng của nó là súng của cao bồi. Trong bọn có thằng bồ với tôi, bênh súng của tôi, nó nói súng của tôi là súng điệp viên và điệp viên đánh nhau cừ hơn cao bồi.

Bố tôi còn có một bao thuốc lá mầu vàng. Tôi nói với bố tôi bao giờ bố hút hết thuốc lá thì cho tôi cái bao thuốc. Bố tôi hỏi lấy bao thuốc làm gì? Bố tôi biết là ở trường, ở cả trong xóm tôi, bọn trẻ con chúng tôi vẫn dùng bao thuốc lá làm tiền. Những bao thuốc giấy xanh, giấy đỏ có nhiều nên rẻ lắm, chỉ gọi được là năm mươi đồng với một trăm đồng thôi. Bao thuốc giấy vàng như bao thuốc bố tôi đang hút được cho là năm trăm đồng. Ít thằng nào có bao thuốc vàng đó lắm.

– Bao giờ bố có bao thuốc này nữa, bố nhớ để dành cho con, bố nhá…

Còn mấy điếu ở trong bao, bố tôi bỏ hết ngoài để đưa cho tôi cái bao. Chỉ cần có một bao thuốc này, tôi cũng có nhiều tiền hơn chúng nó. Tôi có thể đổi một bao này lấy mười bao của bọn nó. Chúng nó tranh nhau mà đổi cho tôi.

Chiều hôm qua, tôi đi học về, thấy chú Quýnh đến nhà. Chú Quýnh cũng đi sĩ quan với bố tôi. Lần này chỉ có chú về mà không có bố tôi về. Chú ngồi nói nhỏ cái gì với mẹ tôi, tôi thấy mẹ tôi khóc, mắt đỏ hoe. Tôi hỏi tại sao mẹ khóc, mẹ bảo bố tôi bị đau phải đi nằm nhà thương, mẹ ôm tôi vào lòng, hôn lên tóc tôi. Chú Quýnh cũng ôm hôn tôi. Chú nói sáng mai chú đem xe díp lại đón mẹ tôi với tôi đi lên nhà thương thăm bố tôi. Tôi đem súng ra khoe chú. Chú nói súng tôi đẹp hơn cả súng của chú. Chú nói nếu có khẩu súng này chú đem ra dọa Việt Cộng, chắc Việt Cộng phải sợ.

Tôi đưa bao thuốc lá vàng bố tôi cho hôm nọ ra – nhiều thằng gạ đổi lắm nhưng tôi không chịu – hỏi chú Quýnh chú có bao thuốc này đem về cho tôi. Chú Quýnh cũng không biết bao thuốc vàng này trị giá bao nhiêu. Khi tôi nói cho chú biết, chú hứa sẽ đi kiếm cho tôi ít nhất là mười cái. Chú không hút thuốc này nhưng chú biết trên Sài Gòn có chỗ bán, chú sẽ đi mua về lấy thuốc hút còn bao cho tôi.

Buổi sáng, mẹ tôi đánh thức tôi dậy sớm. Tôi được nghỉ học để đi thăm bố. Tôi được bận quần áo đẹp. Chú Quýnh đúng hẹn, chú đem xe díp đến. Chú ngồi cầm lái, tôi ngồi cùng ghế với mẹ tôi.

Chú lái xe đưa mẹ con tôi đi xa lắm, đi qua những nơi tôi chưa từng đi qua bao giờ. Xe chạy ra khỏi thành phố. Tôi trông thấy bên đường có một bãi cỏ lớn lắm, lớn như sân đá banh mà không phải là sân đá banh. Trong bãi cỏ những tốp người Mỹ đi bộ, chú Quýnh bảo tôi đó là sân gôn của người Mỹ. Tôi không biết người Mỹ đánh gôn ra sao, chú Quýnh cũng không biết.

Nhà thương có lính gác, chú Quýnh phải xuống xe trình giấy người ta mới cho xe vào. Chúng tôi tới một tòa nhà có thềm cao. Có nhiều người bận quần áo mầu xanh ngồi chơi ở đó. Tôi thấy nhiều người cụt chân, có người cụt tay, có người tay chân còn buộc băng trắng toát. Người nào trông cũng gầy yếu. Trên cái ghế gỗ, có mấy bà nữa đã ngồi chờ trước khi mẹ con tôi đến. Bà nào cũng khóc, khăn tay cứ đưa lên chấm mắt luôn. Một lúc sau mẹ tôi cũng khóc. Mẹ tôi khóc khác mấy bà kia. Mấy bà ấy trong lúc khóc trông xấu hơn lúc không, còn tôi thấy mẹ tôi lúc khóc vẫn đẹp. Mẹ tôi đẹp hơn mấy bà ngồi bên nhiều.

Chú Quỳnh để mẹ con tôi ngồi đấy, chú đi đâu rất lâu. Ở đây chẳng có gì chơi, chẳng có gì coi, cũng không có hàng quà. Tôi ngồi buồn nhưng tôi biết rằng bố tôi đang đau, tôi không nên chạy chơi. Những ông ở đây chắc đều là bạn của bố tôi. Các bác, các chú cũng đau, tôi chẳng nên đùa nghịch làm phiền các bác, các chú.

Ðến gần trưa, khi tôi bắt đầu thấy đói bụng, chú Quýnh mới trở lại. Chú đưa mẹ con tôi qua nhà khác. Chỗ nào tôi cũng thấy có người đau ngồi, nằm. Tới một cửa phòng mẹ tôi vào trước, tôi đứng với chú Quýnh ở ngoài. Tôi đứng chờ một lúc thì thấy mẹ tôi đẩy hé cánh cửa, vẫy tôi vào.

Bố tôi nằm trên cái giường sắt. Một chân bố bị treo lên, quấn đầy băng, ngực và đầu bố cũng có băng quấn. Nhưng bố tôi vẫn cười với tôi. Bấy giờ mới biết là bố tôi đi đánh giặc bị thương chứ không phải bố tôi đau bịnh. Tôi hỏi bố có đau không? Bố đưa bàn tay không bị buộc băng ra cho tôi nắm, bố tôi nói có đau lúc mới bị nhưng bây giờ thì hết rồi…

Bố tôi hỏi cái súng tôi có còn bắn được không hay tôi đã làm hư rồi, tôi ghé má vào cho bố hôn. Tôi cũng hôn lại bố tôi. Bố tôi lấy dưới gối lên một cái bao giấy đưa cho tôi. Tôi mở coi, bên trong có bao thuốc lá vàng, thứ bao thuốc giá năm trăm đồng mà tôi thích.

Bố vuốt tóc tôi, bố dặn tôi về đi học, mẹ có cho ăn gì mới được ăn chớ không được đòi, tuần sau tôi lại được vào thăm bố. Chú Quýnh dắt tôi ra xe trước để cho mẹ tôi ở lại nói chuyện với bố tôi một lúc nữa. Ra ngoài sáng, tôi lại mở gói giấy ra coi. Có bao thuốc bị dính vết gì đỏ. Tôi hỏi chú Quýnh đây là vết gì, chú bảo có lẽ là vết máu.

TÙ NGỤC XƯA NAY

Tướng Việt Cộng Ðặng Kim Giang, người bị bọn Lê Duẩn, Lê đức Thọ giam tù nhiều năm.

Tướng Việt Cộng Ðặng Kim Giang, người bị bọn Lê Duẩn, Lê đức Thọ giam tù nhiều năm.

Ra Tết đã 15 ngày, mời quí vị đọc một số chuyện về Tù Ngục Xưa Nay ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghiã.

Nhiều đoạn trong bài này được trích trong Hồi Ký Ðêm Gữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên.

Tôi – HHT – muốn qua những lời kể của Vũ Thư Hiên, một đảng viên CS ở Hà Nội, trình bày bộ mặt thật tàn ác tận cùng của bọn CS Hà Nội – Bọn CS Hà Nội nói chung, nói riêng là bạn Lê Ðức Thọ – Lê Duẩn – Trường Chinh – Tố Hữu.

Bọn CS Hà Nội không chỉ tàn ác với những người công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoa, chúng đối xử tàn ác cả với những tên CS đồng Ðảng với chúng.

Vũ Thư Hiên, tác giả Ðêm Giữa Ban Ngày, là con trai đảng viên Vũ Ðình Huỳnh. Những năm từ 1945 đến 1954, ông Vũ Ðình Huỳnh là Bí thư của ông Hồ Chí Minh. Năm 1967 bọn Lê Duẩn bắt giam ông Vũ Ðình Huỳnh, rồi bắt giam Vũ Thư Hiên, hai cha con họ Vũ cùng bị giam một thời gian ở Nhà Tù Hỏa Lò Hà Nội.

Khi xem những trang sử Tù Ngục để viết loạt bài này, tôi thấy trong Lịch Sử Tù Ngục Việt Nam có ba cha con bị giam tù cùng một lúc:

  1. Ông Dương Bá Trác và ông thân của ông cùng bị giam ở Côn Ðảo những năm 1910.
  2. Ông Vũ Ðình Huỳnh và con trai là Vũ Thư Hiên cùng bị giam ở Nhà Tù Hoả Lò, Hà Nội những năm 1967, 1968.
  3. Ông Phan Huy Quát, Cựu Thủ Tường Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà và người con trai bị CS giam trong Nhà Tù Chí Hoà năm 1976, 1977. Ông Phan Huy Quát chết trong Nhà Tù Chí Hoà.

Trong bài này Vũ Thư Hiên kể chuyên bọn Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ giam tù Cựu Bí Thư Vũ Ðình Huỳnh và viên Tướng CS Ðặng Kim Giang.

Trích ÐÊM GIỮA BAN NGÀY, Tự Bạch của Vũ Thư  Hiên:

Tôi tặng cuốn sách này cho:

Những người con của nước Việt  đã cống hiến đời mình cho một nước Việt Nam độc lập, tự do và dân chủ.

Hương hồn cha tôi, và những người cộng sản đã chết bởi tay các đồng chí của họ.

Mẹ tôi, người dạy tôi sống không cúi đầu.

Vợ tôi, người cùng tôi chia sẻ vô vàn khốn khó trong những năm tháng đen tối của đời tôi.

Các bạn tù của tôi, cộng sản cũng như không cộng sản.

Các thế hệ sau tôi, hi vọng họ sẽ không bao giờ phải sống như tôi đã sống, dưới bất cứ gông cùm chuyên chế nào.

*****

teCuốn sách này không phải là lời lên án một xã hội nay mai sẽ trôi vào quá khứ.

Tôi không dám đặt cho mình mục đích buộc tội. Chỉ vì lịch sử thường có sự lặp lại, cho nên tôi muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo.

Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội được bởi trong xã hội mà tôi sống tôi không đơn thuần là nạn nhân. Về mặt nào đó, trong chừng mực nào đó, tôi còn là thủ phạm.

Tôi viết vì tôi không thể không nói lên tiếng nói của mình. Tôi quan niệm kẻ không dám nói “Không”trước Tội Ác là kẻ đồng lõa với Tội Ác.

Và sau hết, theo cách biểu đạt của Nhà văn Nga Prishvine, tôi chỉ là “một cái lá trong hàng triệu cái lá của cây đời, và nói về một cái lá thì cũng là nói về những cái lá khác”. Số phận tôi được nói đến trong cuốn sách này cũng là số phận của nhiều người cùng thế hệ với tôi.

Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo lời trăn trối của Người.

Cuốn sách còn là một vòng hoa muộn, một nén hương thêm đặt lên mồ những nạn nhân xấu số của một thời kỳ đen tối, những con người bất hạnh đã không chờ được đến ngày cuộc đời lập lại lẽ công bằng cho họ.

*****

Thế hệ chúng tôi bất hạnh: chúng tôi ra đời trong thân phận nô lệ, lớn lên trong khói lửa chiến tranh và trưởng thành trong nỗi sợ hãi các đồng chí.

Tôi chạnh nghĩ đến cha tôi. Giờ này ông ở đâu ? Theo lời đồn thì ông bị giam trong một biệt thự đầy đủ tiện nghi tại Hà Nội. Tôi không tin. Lời đồn không thể kiểm chứng nọ chắc hẳn do một trung tâm có chỉ đạo tung ra. Cũng như trong những việc đồi bại khác, các nhà lãnh đạo vẫn thích chưng ra bộ mặt tử tế – các đồng chí tuy có sai lầm khuyết điểm thật, nhưng đều là người có công với cách mạng, cho nên cách đối xử với các đồng chí phải khác.

Tôi lo cha tôi đêm nay lại bị cơn đau gan dày vò. Bệnh gan là hậu quả những cơn sốt rét rừng mà ông kiếm được từ trại giam Sơn La của Pháp. Nhưng ông còn đau đớn hơn bởi sự đối xử tàn nhẫn của những đồng chí ngày hôm qua của ông.

*****

Vũ Thư Hiên kể chuyện gặp Tướng VC Ðặng Kim Giang trong Nhà Tù Hỏa Lò, năm 1967:

Lần này viên quản giáo không đưa tôi tới phòng hỏi cung lần trước mà đi xa hơn, tới gần cổng Hỏa Lò, nơi có một lối đi hẹp dẫn vào những ngôi nhà dài thuộc cánh phải. Anh ta bảo tôi đứng đợi trong lối hẹp đó.

Lê Ðức Thọ, tục danh Sáu Buá, tên Lãnh Ðạo Cùng Hung Cực Ác của bọn  Cộng sản Bắc Kỳ.  Hí họa của Hoạ sĩ Choé, vẽ năm 1972.

Lê Ðức Thọ, tục danh Sáu Buá, tên Lãnh Ðạo Cùng Hung Cực Ác của bọn Cộng sản Bắc Kỳ. Hí họa của Hoạ sĩ Choé, vẽ năm 1972.

Bỗng tôi giật mình: cách tôi chừng mươi mét, một người tù già tóc bạc phơ, dáng đi nặng nhọc, hai tay bưng tô cơm, một con cá khô cắm đầu xuống giương chẽ đuôi cứng đơ lên trời. Người tù ngẩng mặt lên và tôi nhận ra ông là Tướng Ðặng Kim Giang. Bác Giang của tôi gày xọm, râu mọc dài, cũng bạc như cước. Chao ôi, chúng nó đã làm gì bác mà mới có hơn hai tháng tù bác thay đổi nhiều đến thế ? Nhưng phong thái ông xem ra vẫn không thay đổi, vẫn đàng hoàng lắm. Nhìn thấy tôi ông mỉm cười. “Ðừng sợ, cháu ! Phải cứng rắn lên !”, cái nhìn của ông nói. Một giây sau ông đi khuất vào một khúc quanh, theo sau là một quản giáo bận bộ áo màu hoàng thổ. Có phải với cái nhìn ấy, nụ cười ấy ông muốn nhắn tôi phải kiên định, không nhận gì hết. Nhưng tôi thì kiên định cái quái gì chứ ! Tôi có gì để mà nhận ? Hay ông lo tôi bị dụ dỗ, bị lung lạc, do quá sợ hãi mà bị bọn chấp pháp ép cung, khai bậy bạ cho người khác ?

Tướng Ðặng Kim Giang hoạt động cách mạng cùng với cha tôi từ những năm 30, từng ở tù cùng cha tôi tại ngục Sơn La. Trước khi trở thành đảng viên cộng sản ông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Quốc Dân Ðảng. Trong kháng chiến chống Pháp ông làm Tổng cục phó Tổng cục Hậu cần, là Chủ nhiệm Hậu cần mặt trận Ðiện Biên Phủ. Hòa bình lập lại, ông phụ trách khối bộ đội chuyển sang làm nông nghiệp, với chức vụ thứ trưởng Bộ Nông trường. Nhanh nhẹn trong chiếc áo choàng bằng dạ kaki cấp tướng, ông xăng xái lúc ở chỗ này lúc ở chỗ khác trên địa bàn rộng lớn miền Bắc. Chúng tôi, những đứa cháu con bạn ông, rất yêu ông. Trong ông chẳng có gì của vị Tướng trong cái hình dung thông thường của mọi người. Ông giản dị, xuề xòa và hồn hậu. Cũng giống như chúng tôi, những người lính nông dân vừa rời tay súng về cầm cày không coi ông là Tướng, mà là người cha, người chú trong gia đình.

Khi nổ ra cuộc xung đột ý thức hệ Trung-Xô, ông không do dự đứng ngay về phía Liên Xô. Là đảng viên cộng sản lão thành, nhưng ông không rành lý thuyết cộng sản bao nhiêu. Ông, theo chỗ tôi biết, là một nho sĩ với phương châm xử thế bất biến lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu. Với tinh thần nho sĩ ông gay gắt lên án Stalin giết hại đồng chí để củng cố quyền lực, ông chống Mao, mà ông gọi là “tên đồ tể”cũng mạnh mẽ không kém.

– Stalin ngập trong máu, bác biết lắm chứ, nhưng đó không phải là chủ nghĩa xã hội. — ông nói với tôi — Cái nhà không xấu chỉ vì chủ nhà là một thằng khốn nạn. Bác nghĩ thế. Hôn quân có thể làm sập một vương triều, nhưng không làm mất nổi một đạo. Cháu thấy không, các triều vua thay nhau đổ trong khi Nho giáo, Khổng giáo vẫn cứ trường tồn. Chủ nghĩa Mác với tư tưởng giải phóng nhân loại còn mãi. Chủ nghĩa Mác không muốn thấy một nhân loại như bây giờ. Nhân loại phải được sống hạnh phúc. Con người phải được sống như con người. Khrusov lên án sùng bái cá nhân là phải lắm, người có luân thường tất không thể làm khác. Mao mới là tên ăn cháo đá bát. Lợi dụng chống Khrusov chống luôn Liên Xô. Thử hỏi không có Liên Xô làm sao Trung Quốc có ngày nay ? Công nghiệp gang thép ai dựng cho ? Rồi công nghiệp máy cái, tàu bay, tàu biển, ô tô ? Trước kia Trung Quốc có gì ? Ngày nay có gì ? Ừ thì lãnh đạo Liên Xô cư xử không nên không phải khi nổ ra bất đồng, nhưng ai là người đổ mồ hôi sôi nước mắt giúp Trung Quốc vững vàng được như bây giờ ? Là nhân dân Liên Xô chứ, là người lao động Liên Xô chứ. Xét cho cùng, cũng chẳng lấy gì làm lạ — mộng vương bá là cố tật của người Trung Hoa. Cứ xem sử Trung Quốc thì thấy, mỗi vùng mỗi vua, anh nào cũng lăm le bá chủ thiên hạ, chưa bá chủ được chưa yên. Nước ta rồi còn khổ với mấy cái anh bá này !

Trong thời gian làm thứ trưởng Bộ Nông trường ông đã đề xuất những chủ trương táo bạo như khuyến khích sản xuất bằng lợi ích vật chất, chia ruộng phần trăm cho nông trường viên, hợp tác đầu tư với các nước xã hội chủ nghĩa, cho các nông trường liên doanh với các nông trường nước bạn. Tất cả những chủ trương cách tân đó đều bị Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ coi là “xét lại”, “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”.

Tướng Giang đi khuất rồi, tôi còn phải đứng đợi một lúc nữa mới thấy viên quản giáo xuất hiện.

*****

Còn nhớ ngày ông Ðặng Kim Giang hấp hối trong căn nhà lá ọp ẹp nằm trong khuôn viên chùa Liên Phái.

– Bác đừng chết bây giờ ! — tôi ghé sát vào tai ông, thì thầm kêu lên — Cố lên bác, chết bây giờ là thua keo nữa đấy, bác. Bác đừng cho thằng Duẩn, thằng Thọ sướng. Bác chết đi, chúng nó sướng lắm đấy. Cố mà sống, bác ơi !

– Bác đang cố đây !

Ông gượng cười với tôi. Giọng ông đã yếu lắm, nghe không còn rõ, nhưng nụ cười của ông vẫn là nụ cười trước kia, chất phác và hồn nhiên làm sao !

Tôi ngồi bên ông, nắm chặt tay ông, tôi muốn truyền sức sống của tôi cho ông.

– Cháu ơi ! — lát sau ông thều thào gọi tôi.

– Dạ !

– Sinh hữu hạn, tử bất kỳ, cháu ạ ! — ông kéo tay tôi lên ngực ông, dưới bàn tay tôi trái tim người lính của ông đập chậm chạp và mỏi mệt trong lồng ngực trơ xương — Con người không chống nổi mệnh trời. Bác sẽ cố, nhưng nếu không cố được…

Tôi cúi xuống sát mặt ông để nghe cho rõ. Có thể đó là những lời cuối cùng ông nói với tôi :

-… đến lượt các cháu… phải gắng sức… vì đất nước…

Tôi hiểu ông muốn nói gì.

– Vâng, thưa bác. Cháu xin hứa với bác.

Tôi hôn lên trán ông, để rơi xuống đó một giọt nước mắt xúc động.

Ông mất ít ngày sau, khi tôi đã trở lại Sài Gòn.

Ông là người được nhân dân yêu mến. Ðồng bào các vùng ông hoạt động thời bí mật vẫn nhớ ông. Hồi ông mới được thả có người dân Ðình Bảng lén lút đạp xe về Hà Nội thăm ông.

“Dân chúng cháu nhớ bác, sai cháu mang về biếu bác mấy con vịt để bác bồi dưỡng”.

Bước vào nhà anh ta vui vẻ khoe với ông. Nói rồi te tái chạy ra ngoài tháo cái bọc trên yên đèo hàng xuống. Vừa mở cái bọc ra, anh ta bưng mặt khóc òa :

“Vịt chết hết cả rồi, bác ơi ! Cháu phải mang giấu cho bác, mới bỏ chúng nó vào bao tải cho người ta khỏi thấy, khốn trời nóng quá chúng nó chết ngộp hết rồi !”.

Tướng Giang cũng nước mắt dòng dòng.

o O o

Ông Ðặng Kim Giang thọ 73 tuổi, bị tù thời Pháp thuộc 12 năm, thời xã hội chủ nghĩa 7 năm, tổng cộng tất cả những năm tù và quản thúc trong cả hai chế độ là 25 năm. Ông qua đời trong căn nhà dột nát rộng 14 mét vuông ở khu chùa Liên Phái, nơi trú ngụ của lớp cùng dân của xã hội — những bà đồng nát, những người phu quét rác không hộ khẩu và những đứa trẻ làm nghề móc túi…. Khi ông hấp hối vẫn có hai công an viên ngồi kèm bên giường. Bà Giang phải bảo họ đi ra ngoài cho ông được nhắm mắt.

Sao Y Bản chính: Đêm giữa ban Ngày

SẦU TRƯỜNG THÁNG TƯ 2015

75

Hai mươi năm sống ở Kỳ Hoa, tôi đã viết khoảng bốn, năm bài về Ngày 30 Tháng Tư 1975. Năm nay – 2015 – nếu tôi viết về Ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi sẽ chỉ viết lại những gì tôi đã viết. Viết lại với nỗi cảm khái đã nhạt, viết lại với những lời đã nhão, những ý đã mòn.

Đêm tha hương – 12 giờ đêm, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, – phòng vắng, đèn vàng, yên tĩnh năm chăm phần chăm, tôi mở computer đọc những bài viết của tôi về Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tôi trích một bài làm tôi cảm động khi tôi đọc đêm nay để gửi đến Bạn.

19-5

Ôi Người Bạn Đọc ở xa Tôi ngàn dậm, ở phần bên kia Trái Đất.  Người bạn Đọc ở Chín Phương Trời, Mười Phưng Đất; Người Bạn Đoc ở Quê Nhà, Người Bạn Đọc Sống Lưu Vong như tôi ở nơi chân trời, góc biển, nơi cuối bãi, đầu ghềnh hải ngoại thương ca….

Tôi gửi đến Bạn bài này.

Thơ tôi làm Tháng Tư năm 2010 ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Ngày Oan Trái

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Mất  nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương…

Một đời ba, bốn phen dâu bể
Mười điều trông thấy chín đau thương
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Nước mất, quân tan, thân chiến bại
Sống nhờ cơm áo ở tha phương
Vèo trông lá rụng đầy đường
Kỳ Hoa Ðất Trích đoạn trường thế thôi.

Huống chi ta đã không còn trẻ
Tự thưở tan hàng ở cố hương.
Tháng Tư..! Ta lặng nhìn sông núi
Sông núi người dưng trắng khói sương.
Quê ta xa mãi bên kia biển
Chỉ thấy tơi bời mây trắng vương.
Ta đau người lính vừa thua trận
Nát gió mưa nằm giữa sa trường
Vẫn nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu Thiên Ðường.

Ðất đá tim ta nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ Em khóc thương?

o O o

Tôi không viết bạn cũng thấy trong Thơ Tôi – Thơ Công Tử Hà Đông trên trang này – có Thơ Thanh Nam, Thơ Quang Dũng, Thơ Nguyễn Bá Trác, Thơ Nguyễn Bính.

o O o

Bài Thơ thứ hai tôi làm ở Kỳ Hoa, Tháng Tư 2010.

Sầu Trường..

Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tha hương

Cúi đầu mà khóc
Nghẹn lời mà gọi
Kỳ Hoa mang mang… ơi người mất nước..
Rừng Phong cùng ta cạn mấy sầu trường.

Sầu trường..Sầu trường đau thương.
Ta biết thương  về đâu?
Ðông phương ngàn dậm thẳm
Mây nước một mầu sương
Tây phương trời đẹp lắm
Có người mất nước như điên, như cuồng…

Hỡi ơi… bạn tác ngoài trôi dạt
Chẳng đọc Thơ Ta cũng đoạn trường!

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Xa nửa địa cầu thương nhớ mãi
Xương có tàn xin hãy nở hương.

o O o

Hơn ba mươi Ngày 30 Tháng Tư đã đến, đã qua đời ta kể từ ngày ta mất nước, ta không thể sống như loài ếch nhái nằm trong góc ao đêm mưa ì ộp gọi nhau, ta thương khóc dù ta biết ta có thương khóc bao nhiêu cũng chỉ là vô ích; nhưng sẽ chẳng còn lâu nữa  những Tháng Tư sẽ đến với những người Việt không biết gì về Tháng Tư; ngày Quên sẽ tới khi trên cõi đời này không còn người Việt nào đau nhói trái tim khi Tháng Tư trở lại. Khi trên cõi đời này không còn người Việt Nam nào ba mươi tuổi trong Ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Vì năm tháng sẽ qua, vì người sẽ quên, vì đời sẽ lãng, nên khi chúng ta còn sống, năm năm cứ đến Ngày Oan Trái, ta cứ thắp hương lòng để nhớ thương. Ai không nhớ mặc ai, còn ta, ta cứ một mình rơi nước mắt vào những sầu trường tha hương, thất quốc.. Bạn ơi.. Giờ này, Ngày 25 Tháng Tư, 1975…, quân ta đang chặn đánh quân Bắc Việt Cộng ở mặt trận Long Khánh, Xuân Lộc, anh em ta, đồng bào ta đang chết để cho chúng ta sống…

Ơi các bạn của tôi – quen biết hay không quen biết – ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, trong đau thương, trong tủi cực, trong cô đơn, tuyệt vọng, tôi gửi những lời Thơ này đến các bạn:

Gửi thân lữ thứ trăm miền
Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn. THANH NAM

Sài Gòn ơi.. Ta đã mất Em trong cuộc đời…NAM LỘC
Sài Gòn Ðẹp Lắm, Sài Gòn ơi..! Y VÂN

Chín mười giờ một đêm năm 1978, 1979..Sài Gòn mưa rơi, thành phố tắt điện, tối đen, tôi – kẻ viết những dòng chữ này – trên xe đạp đi qua trước Chợ Ông Tạ. Trong bóng tối, giữa hai dẫy nhà đen, hai dòng người trên xe đạp, một dòng đi về Đông, một dòng đi về Tây; như những bóng ma lầm lũi đi trên đường Địa Ngục.

Trên xe đạp, tôi làm bài thơ:

Sắc Cỏ

Ở đấy mộ người đều cỏ trắng
Riêng mộ người yêu cỏ sắc xanh.
Đêm mưa, đèn tắt, thành xưa vắng
Thương nhớ Tình Ta chỉ một Anh.
Em đi mùa ấy mưa hay nắng?
Đời vắng Khanh Đời chỉ nhớ Khanh.
Lầu vàng, lều cỏ rồi yên lặng
Phố chợ, rừng hoang cũng vắng tanh.
Người yêu, người ghét cùng quên lãng
Chẳng còn Em cũng chẳng có Anh.
Mồ Em cỏ ấy vàng hay trắng?
Anh biết Mồ Anh cỏ sắc xanh.

Chuyện Tầu: Chiêu Quân sang đất Hồ, chết ở đất Hồ. Đất Hồ trời lạnh quanh năm, cỏ trên những nấm mồ mầu trắng, riêng cỏ trên mộ Chiêu Quân mầu xanh.

Tháng Tư mùa soài. Lúc 10 giờ một buổi sáng Tháng Tư năm 1976, hay 1977, tôi đứng trên đường Hai Bà Trưng, đoạn đường trước chợ Tân Định, bên cột ngừng Xe Buýt, nhìn sang chợ bên kia đường. Trời nắng vàng. Những trái soái vàng óng dưới nắng.

Thơ đến với tôi:

Mình Anh ăn miếng soài này
Năm năm soài chín nhớ ngày Em đi.
Phải cùng chăng, tiếc làm chi.
Năm năm soài chín, chợ thì vắng Em.
Tưởng Em xa nước Em thèm

Còn Anh soài đỏ, soài đen, quản gì.
Chúng ta vùi một cơn mê
Có bao giờ tỉnh? Còn gì là ta?
Hướng Dương Em có như hoa
Hồn Anh nắng đã chiều tà, Em ơi.

Mỗi nhà một lá cờ vàng. Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa có bao nhiêu lá cờ? Tôi không biết, tôi chắc không ai biết. Chỉ biết sau Ngày 30 Tháng Tư tất cả những lá cờ ấy – Quốc Kỳ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – biến mất. Những đêm dài thao thức, tôi không là thi sĩ, Thơ đến với tôi:

Mất nhau trong cuộc biển dâu
Hồn Anh hoa muộn, lá sầu hoang sơ.
Tim Anh quằn quại bóng cờ
Tai Anh mán hú, mọi hờ quanh năm.
Trời bỏ ta, khóc đi Em.
Hoa tàn,  hương lạnh trên thềm tang thương.
Ô Giang vó ngựa ngập ngừng.
Cùng đường Hạng Vũ, đoan trường Ngu Cơ

*

Mưa Sài Gòn

Trời lại mưa, Anh lại nhớ thương.
Thương, thương gần, Nhớ, nhớ tha phương.
Thương gần, mái tóc thơm hương cũ
Nửa đoạn trường xanh, nửa trắng thương.
Nhớ xa, đôi mắt nâu không ngủ
Đêm lại đêm dài, lạnh viễn phương.
Em gần hãy mộng trang hồng sử
Chờ sớm mai trời rạng ánh dương.
Em xa hãy trọn sầu ly xứ
Còn nhớ thương, Em cứ nhớ thương.

Ngày mưa, tháng gió nên tâm sư
Người nhớ, người thương để vấn vương.
Năm năm cứ đến Mùa Ngâu rũ
Trời lại mưa, Anh lại nhó thương.

*

Anh bước ra
Không thấy phố
Không thấy nhà
Không thầy mưa sa
Trên mầu cờ  đỏ.
Chỉ thấy hồn tan
Dù không thấy gió.
Thầy mẹ già trong cửa héo hon
Anh thấy Em môi nhạt mầu son
Gốc cây Đói, Đời buồn đứng đợi.
Thấy chúng ta giữa lòng ngục tối
Còn vu vơ kêu gọi Thiên Đường.
Thấy cuộc đời những Khóc cùng Thương
Thấy con ta đầu đường, xó chợ.
Anh bước ra.. Không thấy cười, không thấy thở
Chỉ thấy người người nghẹn ngào, nức nở
Vợ thương chồng, con nhớ mong cha.

Muối nào bào dạ xót sa
Dao nào cắt trái tim ta đêm ngày!
Khóc trong giấc ngủ nào hay
Tỉnh ra mới biết gối này ẩm sương.
Anh nghe ở cuối đêm trường
Tiếng Em khóc ở mười phương vọng về.
Còn Em, trong mộng, trong mê
Có nghe má lạnh tái tê giọt sầu
Có nghe trên tóc phai mầu
Lệ Anh ướt nửa mái đầu không Em?

Theo đúng thông lệ: bọn Cộng vào thành phố nào, lập tức thành phố ấy có Chợ Trời – một tên khác là Chợ Vỉa Hè – dân thành phố bị Cộng chiếm đem đồ dùng trong nhà: bàn ủi, quạt máy, nồi cơm điện, bát đĩa, quần áo v..v… ra bầy bán ở vỉa hè. Trong Tháng Năm 1975 Sài Gòn thành một Chợ Trời lớn nhất thế kỷ. Ngàn xưa Sài Gòn không có, ngàn sau Sài Gòn cũng không có một Chợ Trời lớn như Chợ Trời Sài Gòn 1975.

CTHĐ bèn có Thơ:

Trời chiều đi dạo Chợ Trời
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui.
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra:
Lạc loài áo gấm, quần hoa..
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa.
Bán đồ toàn những người ta
Mua đồ thì rặt những ma cùng mường.
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường?
Đầu Âm Phủ, cuối Thiên Đường là đây.

o O o

pacman

Tháng Năm 2015 Hoa Kỳ có trận đánh Box lớn. Nhờ có TiVi người ta ở khắp thế giới được xem trận đấu ngay lúc trận đấu đang diễn ra ở Mỹ. Lần thứ nhất một võ sĩ người Á Châu – người Phi-luật-tân – so găng ngang ngửa với võ sĩ Mỹ. Chuyện người ta đánh nhau cho người khác xem, người ta đánh nhau vì Tiền, làm tôi nhớ bài viết của ông Phan Khôi về chuyện Đá Gà và Đá Người.

Đá Gà với Đấu Võ

PHAN KHÔI viết Ngày 7 Tháng 8, năm 1928 tại Sài Gòn. Bài đăng trên Đông Pháp Thời Báo. Tác giả ký bút hiệu dưới những bài phiếm này là Tân Việt.

rooster* Đã lâu nay ở Sài Gòn đây chính phủ ra lịnh cấm đá gà. Cấm là phải. Vì trong cuộc đá gà, hay sinh sự rầy rà, huống chi cho hai con gà nó đá nhau, rập đầu, chẩy máu rồi người ta vỗ tay mừng rỡ và nhờ đó mà được tiền thì thật là xấu quá, cho nên cấm là phải.

Song le mấy người ưa đá gà mà bị cấm đi thì họ buồn lắm.

Tôi nói với mấy người đó rằng nếu buồn thì sao bữa mới rồi không đi coi đấu võ? Dẫu đấu võ là người ta đá người ta, song cũng chẳng khác đá gà là mấy. Coi đấu võ cũng như coi đá gà.

Bắt đầu hai võ sĩ ra trận hươu tay trước mặt vừa xây vòng vừa giữ miếng nhau, ngó hệt như hai con gà vô hồ nạp và soi nhau. Đánh nhau một chập, người giám thị gõ chuông cái “keng” ra dấu mãn một hiệp, ấy là như đá gà mà mãn hồ.

Đá gà mãn một hồ thì đem gà ra bồng nước: bên “đá người” cũng vậy. Mỗi một võ sĩ có hai “tay nước” chờ sẵn, võ sĩ ra thì ngồi sải tay chơn trên ghế, rồi họ vuốt ngực và bóp tay bóp chân cho. Nực cười họ lấy khăn ướt vắt nước vào miệng võ sĩ như người ta vắt nước vào họng gà vậy.

Bồng nước xong rồi thì thả vô lại. Nếu võ sĩ này đánh võ sĩ kia được một cái mạnh, thì bao nhiêu người ngồi coi vỗ tay cười reo lên, tỏ ra ý khoái lạc vô cùng. Nếu cái đánh mạnh đến nỗi võ sĩ trúng đòn bị sặc máu, hay hộc cơm thì người ta càng vỗ tay reo cười hơn nữa, tỏ vẻ khoái lạc cao độ, như là mừng cho một người đồng loại với mình bị hộc cơm hay sặc máu.

Bên đá gà có ăn thua về tiền bạc thì bên “đá người” cũng vậy. Song luôn luôn là những người tổ chức được ăn còn những người coi là thua.

Những người tổ chức nhờ sự sặc máu, hộc cơm của đồng bào mình mà được tiền, những người đi coi chịu bỏ tiền ra để thấy đồng loại mình bị đánh sặc máu, hộc cơm mà lấy làm khoái, cái tâm lý của loài người lạ thay. Vậy thì cho đá gà còn hơn.

Có người bảo:

“Nói làm vậy là nhà quê quá. Đồ gà nó ngu, nó chỉ biết đá nhau chí tử mà thôi; còn người ta khôn hơn: hai võ sĩ đánh nhau hộc máu, sặc cơm xong rồi thường ôm nhau, bắt tay nhau để tỏ tình thân ái, “ Nhân vi vạn vật chi linh” là ở đó.”

Ừ phải. Hèn chi chính phủ cấm đá gà mà không cấm “đá người.” Hèn chi chính phủ cho mở những trận đấu võ luôn luôn.

Tân Việt

Sao Y Bản Chính

CÒN CHÚT CỦA TIN

Vú Em nếu có là đồi Thì Anh lên đó Anh ngồi làm thơ. MAI TRUNG TĨNH

Vú Em nếu có là đồi
Thì Anh lên đó Anh ngồi làm thơ.
MAI TRUNG TĨNH

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích

Ngày 22 Tháng Tư 2015.

Gửi những người BẠN 60 năm của tôi. Bạn còn, bạn mất, bạn xa, bạn gần… Mong các bạn cảm thông niềm Nhớ của tôi.

Hoàng Hải Thủy

o O o

Gửi Văn Quang.

Không nhớ tao đã gửi cho mày truyện này chưa? Ðây là truyện cuối cùng cuả tao. Hết xí quách rồi, không viết gì được nũa. Truyện này không dài mà cũng không ngắn, chỉ dở dở ương ương thôi. Tiện thể gửi  cho CTHÐ xem chơi.

Khói.

Tạ Quang Khôi

Tạ Quang Khôi

Trên đây là đoạn thư  ngắn ông Nhà Văn Tạ Quang Khôi, hiện sống và viết ở Virginia, Kỳ Hoa, gửi qua I-Meo Internet cho bạn ông là ông Nhà Văn Văn Quang hiện sống ở Sài Gòn, Việt Nam. Nhân tiện ông TQ Khôi gửi bản “Truyện Cuối Cùng” của ông cho CTHÐ – tức là gửi cho Tui – nên tui mới được đọc truyện cuối cùng của ông Tạ, và sáng nay tôi viết bài này.

Ông TQ Khôi gọi ông Văn Quang là Vê Cu – VQ – như năm xưa – những năm trước năm 1975 – các ông văn nghệ sĩ Sài Gòn thường gọi ông Nhà Văn Vũ Khắc Khoan là VêCaCa – VKK – tiếng gọi thân thương. Ông TQ Khôi vì nước da của ông trắng như cục than Tầu nên được các ông văn nghệ sĩ gọi là Tạ Ống Khói. Ông TQK còn có cái tên thứ ba là TêCuKa. TQK. Ông ký tên là “Khói” dưới đoạn thư  ông gửi ông VQ như quí vị thấy trên đây.

Năm 1956 khi tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong – Chủ nhiệm Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng – Số 1 ra đời ở Sài Gòn, ông Tạ Quang khôi – thanh niên Hà Nội dzô Sài Gòn năm 1954 – viết truyện dài Mưa Gió Miền Nam trên VNTP. Cùng khi ấy ông Mai Thảo giữ Trang Thơ VNTP. Ông không ký tên Mai Thảo, ông ký tên gì tôi không nhớ, và ông chỉ giữ Trang Thơ VNTP chừng hai, ba tháng là ngừng để lo việc biên tập Tạp Chí Sáng Tạo. Cùng khi ấy tôi viết phóng sự Vũ Nữ Sài Gòn trên VNTP.

Tôi gặp ông TêCuKa lần đầu trong tòa soạn Văn Nghệ Tiền Phong. Ngoài việc viết tiểu thuyết, ông là nhà giáo. Có lẽ vì nặng chất mô phạm nên ông TQK là người viết truyện có đời sống ngang bằng, sổ ngay – tức đàng hoàng — nhất trong giới viết truyện có nhiều người sống bê tha, bê bối.

Ngày vui, ngày buồn, tháng hồng, tháng sám, năm sớm, năm muộn rồi cũng qua mau. Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh trong cuộc biển dâu quốc nạn, rồi tôi và vợ con tôi cũng sang được Kỳ Hoa. Tháng 10 năm 1994 khi tôi đến Virginia được khoảng 10 ngày, nhiều lúc tôi còn tưởng như tôi đang sống ở Sài Gòn, ông TQK – tức ông Tạ Quang Khôi, ông đến Kỳ Hoa trước tôi mười lăm năm – đến đón tôi, đưa tôi đi xem phong cảnh Washington DC. Nhà Trắng..Tường Đen..v..v..Sau 1975 bà vợ ông qua đời ở Sài Gòn, năm 1980 ông dắt các con ông vượt biên sang Mỹ. Ở Virginia, ông từng làm việc biên tập vài năm trong tòa soạn bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong. Nay ông đã retire, nghỉ chơi, lương hưu. Trên xe đi, ông nói:

“Tao đưa mày đi chơi Đ Xi rồi đi mua quần áo. Ngày tao đến Mỹ, các bạn cho bố con tao quần áo cũ. Tao tủi thân lắm. Nay có bạn đến, tao đưa đi mua quần áo mới. Một bộ thôi, nhưng là đồ mới. Mày chọn cho mày một bộ, chọn cho vợ mày một bộ.”

Văn Quang, Uyên Thao và tôi ra đời năm 1933; Tạ Quang Khôi cao tuổi nhất trong bốn chúng tôi. Tôi nghi ông vào cõi đời này năm 1930, có thể là năm 1928. Từ 10 năm nay ông sống một mình trong một apartment Bộ Xã Hội Mỹ dành cho những người già có tiền thu nhập thấp: Old Senior Low Income. Ông sống rất thư thái với hai dàn máy computer, một dàn để viết, một dàn để sơ-cua. Sống một mình nhưng ông không buồn một ly ông cụ nào. Mấy năm nay vì tuổi già, ông mắt mờ, tai điếc, tâm trí ông vẫn minh mẫn. Nay thấy ông cho biết ông ngưng viết vì tuổi cao, tôi bùi ngùi vừa thương ông vừa thương thân. Tôi cũng sắp không còn viết được nữa như ông. Thay vì viết tiếc thương ông khi ông không còn ở đời này, tôi viết về ông ngay khi ông còn sống, khi ông đọc được những dòng chữ này.

o O o

Vương Đức Lệ

Vương Đức Lệ

Tháng Giêng 1990, sau sáu năm tù lần thứ hai, tôi từ Trại Cải Tạo – Trại Tù Khổ Sai, Cải Tạo cái Khỉ Mốc – Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, trở về Sài Gòn. Vài ngày sau tôi gặp lại một số các bạn tôi ở nhà Vương Ðức Lệ. VÐ Lệ cũng “oa-dzi-tô đờ luých: oasiteau de luxe” như anh em chúng tôi: không công ăn, việc làm, quanh năm không kiếm được một xu teng, ngày tháng phất phơ toàn chủ nhật; tình trạng này kéo dài từ ngày 30 Tháng Tư 1975, nhưng VÐ Lệ có hai cô em ở Hoa Kỳ, hai cô em thương ông anh ra rít nên VĐ Lệ được chi viện đều đều và dài dài. Lệ và vợ con sống đỡ khổ hơn anh em chúng tôi. Có tiền và được vợ chiều, chỉ có một cháu gái còn nhỏ, Lệ có điều kiện tổ chức những buổi anh em gặp mặt chuyện trò có ăn nhậu tại gia. Gần như tuần nào anh em chúng tôi, đa số là những anh Con Trai Bà Cả Ðọi chính cống, cũng gặp nhau ở nhà Lệ.

Tôi gặp lại Thái Thủy ở nhà Lệ sau mười lăm năm trời xa cách. Thái Thủy bị bắt tháng Ba 1976, tù mút chỉ cà tha đến những năm 1986, 1987 mới trở về phố cũ Nguyễn huỳnh Ðức. Khi Thái Thủy trở về tôi đang ngồi rù nhìn thời gian đi qua hai lần song sắt trong Lầu Bát Giác Chí Hòa. Chúng tôi gặp lại nhau ở nhà VÐ Lệ vào buổi trưa, người tù mới trở về là tôi được chiêu đãi bia lon thoải mái. Tất cả anh em đều uống bia lon – dân Ngụy Thành Hồ năm 1990 mà uống bia lon ngoại quốc hách hơn Việt kiều ở Mỹ uống XO —  tôi được quyền “iêu tin” uống nhiều hơn anh em. Lúc ba, bốn giờ chiều, tôi sỉn sỉn, sương sương xuống đường ra về. Trời Sài Gòn u ám, lất phất mưa xuân, Lệ và Thủy đưa tôi ra tận vỉa hè. Lệ gọi xích lô, dặn:

— Ðưa ông bạn tôi về Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Nhiêu? Tiền đây. Ðưa ông ấy về đàng hoàng dùm…

Trên vỉa hè Bà Hạt, tôi nói với Thái Thủy:

— Tao có chuyện này muốn nói với mày đã lâu.. Tao có nợ mày một món..

Thái Thủy ngạc nhiên:

— Mày có nợ gì tao đâu?

— Mày quên. Hồi mày đi Sanh-ga-po về tao có lấy của mày cái đổng Seiko. Tao không trả tiền mày.

Vương đức Lệ hỏi chuyện gì thế? Tôi kể lại chuyện cái đổng Seiko Singapore, Thái Thủy nói:

— Mày nhớ làm gì. Quên chuyện đó đi.

Vương đức Lệ nói:

— Bây giờ chúng mình phải sống như thế này: cái gì trước kia lớn nay mình làm cho nó nhỏ lại, cái gì nhỏ mình cho đi luôn..

Năm tháng sau Thái Thủy, Vương Ðức Lệ và Mai Trung Tĩnh bị bắt, tội phản động, ông tù 5 năm, ông tù 4 năm. Khoảng năm 2000 ba ông sang Mỹ. Ba ông đã “trăm năm hồng lệ” ở Kỳ Hoa Đất Trích.

Thơ Bùi Giáng:

“Sương sáng sớm, nắng chiều tà
Trăm năm hồng lệ…, có là bao nhiêu.”

Thi sĩ Mai Trung Tĩnh là sĩ quan – tác giả bài Thơ “Lâu Đài Tình Ái” CTHĐ tôi gặp lại ông ở nhà Vương Đức Lệ. Tôi thấy ông ít nói, hiền hòa. Ông đi HO sang Mỹ khoảng hai năm thì ngã bệnh. Ông Cai Tôi Lê Văn Phúc – tác giả “Tôi làm tôi mất nước,” ông thường xưng là Cai Tôi trong những bài ông viết– đưa Uyên Thao, và tôi, vào Nursing Home thăm ông. Ông bị giải phẫu ở đầu. Ông nằm sạch, gọn. Cai Tôi chỉ tôi, hỏi ông:

“Nhớ ai đây không?”

Ông nhớ, ông gọi đúng tên tôi.

Khi gặp Thi sĩ Mai Trung Tĩnh lần cuối ấy, Cai Tôi đọc hai câu Thơ của ông:

“Vú Em nếu có là đồi
Thì Anh lên đó Anh ngồi làm Thơ “

Ông qua đời ít tháng sau đó. Tàn tro thân xác ông được bà vợ ông trải xuống biển.

o O o

Hai mươi năm đã qua kể từ buổi chiều ra giêng trời mưa lất phất ở vỉa hè Bà Hạt, Sài Gòn, sáng nay khi nhớ và viết về các bạn tôi, tôi vẫn nhớ vẻ mặt và cái chặt tay vào không khí của Vương Đức Lệ khi anh nói:

“…Cái gì nhỏ.. mình cho đi luôn..!”

Thái Thủy

Thái Thủy

Tôi kể rõ về chuyện cái đổng Seiko: Năm 1965, hay 1966, Thái Thủy, Trịnh Viết Thành, được chính phủ cho đi sang Singapore du nhai, nôm na là đi thăm nước bạn. Trong số quà cáp Thái Thủy đem về còn dư cái đồng hồ Seiko dame. Loại đồng hồ đàn bà có bẩy cái dây đeo bằng nhung khác mầu nhau để thay đổi năm xưa ấy – 50 năm trước —  được kể là hiện đại. Thái Thủy đưa cho ai đem đi bán không đưa lại đưa ngay cho Hoàng Anh Tuấn. Năm ấy Tuấn và tôi làm trong tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Tuấn mang đồng hồ đến tòa soạn và Tuấn đưa cho ai không đưa lại đưa ngay cho tôi. Tôi nhận liền, Tuấn nói:

— Mày trả tiền cho Thái Thủy.

Tôi đem Seiko về tặng vợ tôi, nói tôi mua của Thái Thủy vừa đi Singapore về, và tôi quên luôn việc trả tiền.

Thái Thủy, Vương Ðức Lệ và tôi gặp lại nhau ở Kỳ Hoa. Rồi Thái Thủy ra đi lần cuối ở Cali, Vương Ðức Lệ lần cuối ra đi ở Virginia.

Bốn anh em chúng tôi: Tạ Quang Khôi, Uyên Thao, Vương Ðức Lệ và tôi tiễn đưa ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng đến nơi an nghỉ ngàn đời của ông. Trên xe trở về thành phố, tôi hỏi:

“Bốn thằng mình đây, thằng nào đi trước?”

TQ Khôi nói ngay:

“Tao đi trước.”

VÐ Lệ nói:

“Chưa chắc.”

Và sau đó Vương Ðức Lệ là người đi trước trong bốn anh em chúng tôi.

Tôi làm bài thơ:

ÐI TRƯỚC, ÐI SAU

Chưa biết thằng nào trước thằng nào,
Thằng nào đi trước, thằng nào sau.
Ði sau, đi trước cùng đi cả,
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Không thằng nào nói: Tao đi trước!
Không thằng nào nói: Tao đi sau!
Thằng đi trước đi lên tầu trước,
Thằng đi sau đi lên tầu sau.
Thằng đi sau lậy thằng đi trước,
Thằng đi trước kệ thằng đi sau.
Ði sau, đi trước rồi đi cả,
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Ðã không tránh được đi sau trước,
Théc méc làm chi chuyện trước sau!

Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi đi thăm lần cuối và đi đưa đám ma mấy ông bạn tôi là Trọng Nguyên, Minh Đăng Khánh, Minh Vồ, Hồ Văn Đồng, hai ông đàn anh tôi là ông Trần Việt Sơn, ông Cao Hữu Đính,.Cả sáu lần tôi không xúc động gì nhiều. Khi Minh Vồ ra đi, chị Minh bảo tôi viết điếu văn. Cả đời tôi, tôi chỉ viết có một điếu văn cho Minh Vồ. Lời cuối của bản điếu văn 20 năm xưa: Minh Vồ ra khỏi cõi đời khoảng năm 1993:

“Minh ơi… Người ta khi đi khỏi cõi đời này, người ta đi lên, hay người ta đi xuống. Chúng ta là văn nghệ sĩ, khi chúng ta ra khỏi cõi đời này, chúng ta đi ngang. Minh sang bên ấy trước, chúng tôi sang sau.”

Tôi vỗ lên quan tài Minh ba vỗ, rồi đốt bản điếu văn ngắn trước quan tài Minh.

Trong đám ma Hồ Văn Đồng, tôi thấy hai ông bạn của Đồng khi nói lời cuối cùng với Đồng, hai ông khóc, tôi nghĩ:

“Làm ký gì mà phải khóc. Đàn ông phải tự chế ngự đu”

Thế rồi khi tôi nói lời cuối cùng với Vương Đức Lệ, cơn xúc động đến làm tôi nghẹn lời, tôi khóc.

Có lần tôi nói với Vương Đức Lệ:

“Moa là thằng chuyên văng tục, thoải mái sài tiếng ĐM. Có hai thằng con, không thằng nào biết văng tục, không thằng nào sài tiếng ĐM.”

Vương Đức Lệ nói:

“Có bao nhiêu tiếng, bố chúng nó sài hết rồi. Còn đâu đến lượt chúng nó.”.

o O o

Ðây là chuyện trao đổi – qua I-Meo Internet – giữa Nhà Văn Văn Quang và tôi:

CTHРgửi VQ:

Tôi gửi chú thư này để nếu tôi đi trước chú, chú có sẵn chuyện, ảnh về tôi để viết điếu văn tôi. Nếu chú đi trước tôi chắc tôi không viết điếu văn chú đâu, có chuyện gì đáng viết về chú tôi viết hết cả dzồi.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích

Ngày 3 Tháng Giêng Tây 2006.

Văn Quang  trả lời:

Văn Quang

Văn Quang

Tặng tất cả các vị bô lão lắm tài, nhiều tật

ÐIẾU VĂN gửi CTHÐ

Nếu mày đi trước
Tao viết điếu văn
Nếu tao đi trước
Mày nói “Không viết.”
Ðồ đểu!

Khi viết điếu văn
Cần tí bốc thơm
Thêm tí bốc phét
Hạng bét!
Tao viết điếu văn
Kể toàn chuyện thật
Vợ mày mà biết
Mày chết!

VQ, Sài Gòn Ngày  04 Tháng Giêng Tây, 2006

CTHÐ:

Tao  chít queo dzồi.
Kể tội tao, tao cóc sợ.

o O o

ÐẸP TRAI, HỌC GIỎI, CON NHÀ GIẦU

Văn Quang viết từ Sài Gòn Ngày 28 Tháng 8, 2013, bài “Cờ Bịch Ngày Xưa.” Trích:

Những ông văn nghệ sĩ không chơi Cờ Bịch:

Có những ông văn nghệ sĩ không bao giờ bén mảng đến bàn cờ bịch và sàn dancing. Ông Hoàng Hải Thủy, tức Công Tử Hà Ðông, viết “phóng sự ăn chơi rất ác liệt,” nhiều độc giả cứ tưởng ông “ăn chơi kinh lắm” nhưng ông là người không chơi bất kỳ môn nào. Ông là một ông chồng mẫu mực.

Ông Nhà văn Tạ Quang Khôi cũng vậy, ông tự nhận là Giáo Gian nhưng thật ra ông rất hiền, tốt tính, chỉ hay giận vặt, cũng giận bạn nhưng qua loa rồi quên ngay; ông không nhẩy đầm, không cờ bịch dù suốt đời ông chơi với anh em văn nghệ, ông từng có thời làm “nhớn” ở Phòng Văn Nghệ Ðài Phát Thanh Sài Gòn. Ông Uyên Thao cũng là nhà văn “chân chỉ,” cuộc sống của ông này là “cày” và “cày.” Ông làm việc nhiều đến nỗi anh em phát ghét. Ông Chú Tư Cầu Lê Xuyên hiền lành hơn, ông không cờ bịch, không rượu chè, thậm chí không bao giờ ghé vào phòng trà nghe nhạc.

CTHĐ: Kính gửi ông Nhà Văn VQ: ông viết tôi – CTHĐ – là “người không chơi bất cứ môn nào, là ông chồng mẫu mực..” Oan tôi quá. Em Thị Mầu bị nghi là còn trinh oan như thế nào, tôi oan như thế.”

o O o

Thi sĩ Băng Ðình, Wychita, Kansas, làm bài Thơ Một Vần về Hoàng Hải Thủy:

Bẩy Bó Gân Gà.

Bẩy Bó Gân Gà Hoàng Hải Thủy
Nhóc tì Sông Nhuệ, lớn sông Nhĩ
Thành danh Vàm Cỏ sông Sài Gòn
Lính tráng leo tới cấp Trung sĩ
Võ Trang Tuyên Truyền thưở bán khai
Tiền thân ngành Chiến Tranh Chính Trị
Thầy Ðội khó nuốt cơm nhà banh
Tháo lon tự  khoác nghiệp văn sĩ
Hóa thân bướm lượn cõi hoa hương
Làm văn chương ma, thi phú quỉ
Mà khiến người mê, khiến thần sầu
Chữ nghĩa vung vít thật phỉ chí
Sáng tác, tối tác, phóng tác luôn
Ngòi bút chẳng bao giờ tắc tị
Dẫu “Lời quê góp nhặt dông dài..”
Miễn góp tiếng cười vui một tí
Giặc vào.. ”Sắc đỏ rũa mầu xanh..”
Hoa tàn khám lạnh tưởng mút chỉ
Tại Ngục Vịnh Kiều thêm Phóng Dao
Chiếu phim bạn tù nghe mệt nghỉ
Mơ màng khói lửa hít tô phe
Tiên ông ép rệp bất đắc dĩ

Mấy bó cũng về một bó xương
Duy thưở trần ai có tri kỷ
Trẻ trung vay mượn lắm ân tình
Già lão nợ nần gậy với bị
Bánh xe lãng tử đến Rừng Phong
Hát Ô.. Hát Ô Vàng Mít Mỹ

Chữ nghĩa lại vào Hội Gió Mưa
Ðộc giả năm châu vẫn khoái tỉ
Xuân thu nhị kỳ gọi thăm nhau
Bạn rầu mần thơ sao vận bí
Này này ai có khác chi ai
Ta chán thi văn, nản hồi ký
Ta chán người, chán luôn cả ta
Cẩm như đồng bào chán đồng chí
Ta cũng nhiều phen bẻ bút thơ
Suy đi, xét lại song thầm nghĩ
Thân tàn, đời mạt kiếp lưu vong
Giấy rách khiến bao người hóa khỉ
Chỉ còn Nàng Thơ quấn quít ta
Chẳng rượu mà say đến túy lúy
Nhớ nhau gửi chút tình cho nhau
Bớ Hoàng Hải Thủy, chớ tịch hĩ !

BĂNG ÐÌNH. 30-3-2001

Nhà Thơ Băng Ðình làm bài thơ trên năm 2001. Qua 15 năm bài thơ còn nguyên, không già đi một ly ông cụ nào. Năm ấy H2T Bẩy Bó. Năm nay 2015, H2T Tám Bó Hai Que.

Cảm khái cách gì!

ĐÁ BÁT 30 THÁNG TƯ

Chân dung nhạc sỹ Trịnh Công Sơn do Đinh Cường vẽ

Chân dung nhạc sỹ Trịnh Công Sơn do Đinh Cường vẽ

40 năm sau ngày 30 Tháng Tư 1975, 14 năm sau ngày Người làm bài hát Triịnh Công Sơn qua đời, nhiều người Việt ở Kỳ Hoa lại nói, viết, ca tụng Trịnh Công Sơn. Mời quí vị đọc Bài thơ nhớ Trịnh Công Sơn của Đinh Cường phóng trên WEB ngày 1 tháng 4, 2015:

tcs2Bạn về bên phố xưa mười bốn năm rồi sao Sơn. chiều nay tôi đi trên phố xưa Georgetown mà nhớ bạn

Tôi biết bạn không thể nào quên

những người bạn của thời chưa đầy

hai mươi tuổi. thời của Ướt mi, Thương

một người với Hà Thanh con chim sơn ca

Thanh Hải guitare, Đặng Nho clarinette

thời của những tiếng hát tiếng đàn

sao mà say đắm quyến rũ trên

đài phát thanh Huế. thời cứ chiều

chiều đi lên đi xuống hai con đường

chính Ngã Giữa – Trần Hưng Đạo

có lúc cùng nhau qua ngồi cà phê Lạc Sơn,

bên kia đường. nhớ lửa mồi là sợi giây

dừa cháy thường trực, thò đầu ra khỏi

miệng lon dùng cho khách mồi thuốc…

tôi biết bạn không thể nào quên

về trên phố cao nguyên ngồi

tiếng gà trưa gáy khan bên đồi

ôi những trưa B’lao vắng vẻ, nơi căn nhà

có phòng bạn trọ, chim vào làm tổ

vỏ bao thuốc chất đống  đêm về ra chơi

billard ngoài con đuờng lộ. tiệm có ngọn đèn

manchon chao, hay những đêm Dran âm u

hai người bạn nằm trên hai chiếc

giường gỗ ván thông, ngọn nến trắng

thức khuya viết thư miên man

gởi Hướng Dương, tên hồn nhiên

bạn gọi Dao Ánh, thời của Còn tuổi nào

cho em: tuổi nào lang thang thành phố

tóc mây cài  thời của Tuổi đá buồn …

và thời của Sài Gòn. đêm khuya bạn hay gọi

Lữ Quỳnh, Sâm Thương đến dù giữa khuya.

ba bốn giờ sáng bạn đi băng qua con hẻm

nhỏ Hiền Vương. đập cửa cái studio nhỏ bé

của tôi trong xóm, ngồi chơi và chờ người

thiếu nữ xinh đẹp ra bán hàng ngoài phố sớm

thời bạn vẽ bao nhiêu là chân dung đẹp

nay những nụ môi hồng, ánh mắt ấy bay về đâu…

thời của chiều chiều ra khách sạn Bông Sen

do anh Muộn làm giám đốc. có để riêng cho

Nguyễn Quang Sáng và bạn một phòng ngồi uống rượu

trên lầu cao. nhìn những mái ngói nâu. trời chiều

Sài Gòn. nhìn đàn chim én lượn vòng này qua vòng khác

thời của: Chiều trên quê hương tôi.

Nắng phơi trên màu ngói non tươi. Gió mang tin một mùa sẽ tới.

Sẽ mưa lâu hoặc cơn nắng dài. 

cơn nắng dài từ những ngày thay đổi ấy

và làm sao quên một mùa tuyết phủ

chúng ta cùng lang thang trên những góc phố  Montréal

những ngày bạn qua thăm gia đình các em

đêm vào nghe blues jazz. nhớ mãi tiếng đại hồ cầm

chiều nay đọc tin sẽ ra cuốn sách viết về Mẹ

trong dịp tưởng niệm mười bốn năm ngày bạn mất

tôi lại nhớ đến cái tượng nhỏ Mẹ Con bằng đất nung

của Trương Đình Quế đổi tôi lấy bức tranh nhỏ

khi đi không mang theo vì nặng. tôi để lại tặng bạn

bạn đã cho gắn trên bục cao để ở mộ bác gái thật đúng và đẹp

bạn quá hạnh phúc khi nằm cạnh mộ mẹ ở Gò Dưa

mười bốn năm rồi sao Sơn. làm sao kể hết những kỷ niệm

tôi vẫn luôn giữ tận cùng trong lòng tôi một tình bạn

từ thời hai mươi tuổi. nhớ bạn đi đâu về cũng hỏi người làm

bà có nhà không. bạn thương yêu mẹ hết mực.

thương yêu các em hết mực. như vậy là bạn đã yên tâm nằm xuống.

và tôi vẫn biết. chúng ta cùng thích phố phường. những tháng cuối cùng

tôi về thăm bạn. mùa hè. chiều cùng nhau ra ngồi Givral

khi trở lại Virgina. mùa xuân bạn mất. đúng mùa hoa anh đào nở

năm nay trời băng giá nhiều. mùa hoa anh đào nở chậm Sơn ơi …

Để nhớ 14 năm ngày TCS mất (1 tháng 4. 2001 – 1 tháng 4. 2015)

Virginia, March  27, 2015

Đinh Cường

o O o

CTHĐ: Các anh chết xương tan, thịt nát.. Chúng nó trốn lính, chúng nó hỗn láo. Đau biết chừng nào.

o O o

Mời quí vị đọc bài “Trịnh Đá Bát.” CTHĐ viết ngày 2 Tháng 11, 2008; đăng trên Tuần báo SaiGon Nhỏ và trên Blog “hoanghaithuy.com.”

Lúc 4 giờ chiều ngày 30/4/1975, Trịnh Công Sơn nhanh chân chạy tới Đài Phát Thanh VNCH tại Sài Gòn, cùng vài tên Cách Mạng Ba Mươi hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” chào đón bọn Lính Bắc Cộng cùng với xe tăng đang tiến vào Dinh Độc Lập!

Giờ đó, tôi, Công Tử Hà Đông, nghe bản nhạc đó, tôi chỉ thấy một người trong bọn tự giới thiệu anh ta là Huỳnh văn Tòng, không thấy nói gì đến Trịnh công Sơn. Những năm 2000, ở Kỳ Hoa Đất Trích, tôi đọc một tài liệu do một trong số mấy người chiều hôm đó đến Đài Phát Thanh hát bài Nối Vòng Tay Lớn kể bọn anh còn muốn hát thêm vài bài nữa thì bị một sĩ quan quân Bắc Cộng vào Đài, hầm hầm quát:

– Không có hát hò gì cả. Cút đi chỗ khác.

Bị đuổi, bọn Huỳnh văn Tòng cúp đuôi lỉnh mất. Rất có thể chuyện vừa kể là chuyện thật, người sĩ quan quân Bắc Cộng được lệnh đến “chiếm Đài, không cho bất cứ thằng nào nói gì hết.” Anh ta bực mình khi thấy bọn Ba Mươi lăng xăng đòi hát để “chào mừng Quân Giải Phóng dzô Sài Gòn”. Anh đuổi chúng đi là đúng.

Nguyễn Đắc Xuân, một người bạn của Trịnh Công Sơn, người bị công luận cho là một tay đao phủ của Thành phố Huế trong Biến cố Tết Mậu Thân 1968, — tên đao phủ ác ôn nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường, cũng là bạn rất thân của Trịnh Công Sơn, Trịnh Cung và Đinh Cường, HP Ngọc Tường viết về Trịnh công Sơn như sau:

Từ sau ngày Trịnh Công Sơn qua đời, nhiều dư luận trong và ngoài nước có khuynh hướng “lôi anh về phía bên này” hoặc “đẩy anh về phía bên kia”. Với Trịnh Công Sơn ai lôi anh thì cứ lôi, ai đẩy anh thì cứ đẩy, “kệ”. Trịnh Công Sơn là Trịnh Công Sơn, ai muốn hiểu sao cứ hiểu. Tuy nhiên cuộc đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã thuộc về lịch sử, mà đã là lịch sử thì ” bên này” hay ” bên kia” phải được chứng minh bằng tư liệu, tư liệu thành văn và tư liệu sống, nói có sách mách có chứng. Không thể phát ngôn về Trịnh Công Sơn theo cảm tính hay theo một định kiến nào….”

Trích từ “Trịnh Công Sơn, có một thời như thế” — Nguyễn Đắc Xuân — Nhà Xuất bản Văn Học.

Theo những “tư liệu thành văn và tư liệu sống”, Nguyễn Đắc Xuân trích lại những chuyện sau đây do chính Trịnh Công Sơn viết xuống trong quyển sách vừa dẫn:

Trịnh công Sơn kể về: Thời kỳ trốn lính

Tôi có được hai năm sống thong dong hợp pháp như tất cả mọi người đàng hoàng đứng đắn trên mặt đất. Muốn được thế, tôi đã phải đánh đổi bằng gần sáu mươi ngày nhịn đói tuyệt đối trong hai năm, mỗi năm 30 ngày nhịn đói liên tiếp trước khi trình diện khám sức khỏe để nhập ngũ, để đạt được cái mức độ không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để làm một người lính. Nhưng muốn xuống kí-lô nhanh còn phải không ngủ và uống thêm thuốc Diamox, một thứ thuốc rút nước trong các tế bào ra. Qua năm thứ ba tôi không ra trình diện nữa vì thấy không đủ sức khoẻ để nhịn đói nữa. Trốn lính gần như là một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên miền Nam lúc bấy giờ. Thái độ phản kháng ấy, dù được nhìn dưới một góc độ nào đó còn mang tính thụ động, vẫn phải được nhắc đến như một nốt nhạc trong trẻo đã ngân lên trong một giai đoạn u ám, nhiễm độc, giữa những đô thị miền Nam.

Tôi đã sống lang thang như một kẻ vô gia cư, vô định trú thứ thiệt. Thời gian không lâu, chỉ kéo dài khoảng ba năm, đó là lúc tôi sống cùng một số sinh viên trốn lính khác trong những căn nhà tiền chế tồi tàn bỏ trống ở khu đất sau Trường Đại học Văn khoa. Ở đây có một lợi thế là rất hiếm bị cảnh sát khám xét. Vào thời điểm ấy, trên khoảng đất trống lại mọc thêm cái trụ sở Hội Hoạ Sĩ trẻ bằng gỗ. Đêm ngủ của tôi cứ thay đổi từ trên cái ghế bố trong túp lều này qua cái mặt nền xi măng của trụ sở hội nọ. Việc ăn uống đã có hàng quán dọc đường. Rửa mặt, đánh răng thì mỗi sáng vào phòng vệ sinh của những quán cà phê quen, chỉ có việc mang theo khăn, kem và bàn chải đánh răng.

Thế đấy, nhưng chính những năm này là những năm sôi động nhất của đời tôi. Sống trong tình trạng bấp bênh như thế tôi vẫn phải làm việc không ngừng để sống. Tôi vẫn viết đều tay và vẫn tiếp tục đi hát. Những ca khúc của tôi được in ra từng tờ rời và từng tuyển tập. Công việc in ấn và phát hành do người em ruột của tôi, cũng trốn lính, chăm lo. Việc in ấn càng lúc càng khó khăn, nhất là sau khi có lệnh tịch thu của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của tôi. Cảnh sát lúc bấy giờ vào tận các nhà in để truy lùng. Thế là phải đổi kế hoạch. Thay vì in trong một nhà in, nay phải rải ra trong ba bốn nhà in khác nhau. Tịch thu nơi này còn nơi khác, và dĩ nhiên, chuyện đi đứng không phải dễ dàng. Đi từ một nhà in ở vùng Sài Gòn đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi.

Sau lệnh tịch thu, tất cả báo chí trong và ngoài nước đều đưa tin . Các hãng thông tấn và truyền hình truyền thanh nước ngoài ào ạt đổ xô về những nơi ăn chốn ở rất là ” híp-pi” đó của tôi càng lúc càng đông. Mỗi ngày trung bình ít lắm cũng phải ba lần phỏng vấn, thu hình, thu mặt. Tôi bỗng trở nên người nổi tiếng bất đắc dĩ. Ban đầu sự kiện này cũng mang đến cho tôi chút niềm vui nhưng càng về sau càng trở thành một tai nạn. Ký giả, chuyên viên TiVi ngoại quốc săn đuổi tôi đến những chỗ tôi lánh mặt xa nhất. Từ Sài Gòn tôi ra Huế, chỉ vài hôm sau đã thấy có mấy mạng người đủ các màu da, xứ sở khác nhau xuất hiện ở cửa nhà tôi ở. Đời sống bỗng chốc mất đi cái tự do được quyền không nói năng, được quyền ngồi yên tĩnh một mình mà suy ngẫm cho đến nơi đến chốn bao nhiêu điều mình chưa biết trong cõi đời rộng lớn này. Tôi phải sống những khoảnh khắc phù phiếm trên báo chí và trước ống kính ấy cho đến mười ngày trước ngày thành phố được hoàn toàn giải phóng. Giờ đây sau hai mươi năm thành phố đã mang tên Bác, thỉnh thoảng vẫn còn những cuộc phỏng vấn của người nước ngoài, nhưng việc đó không còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng nữa.

Nhẩm tính lại, tôi đã hùn hạp tất cả vốn liếng của mình vào cái đại gia đình trốn lính vừa tròn chẵn mười ba năm.

Đã qua hẳn rồi cái thời của “bèo giạt mây trôi”, của những giấc ngủ bị săn đuổi. ( sđd tr. 179-183 )

Nguyễn quang Sáng viết về: Anh Sáu Dân và Trịnh Công Sơn

Hơn hai mươi năm trước, đồng chí Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt “rủ” Trịnh Công Sơn và tôi đi khảo sát đất Trị An. Từ chuyến đi ấy Trịnh Công Sơn và tôi cũng như một số bạn bè gọi đồng chí Bí thư là anh Sáu — anh Sáu Dân — rất thân mật.

Buổi chiều trên đường từ Trị An về mưa gió mịt mù. Sơn và tôi ngồi trên xe jeep. Về đến nhà anh Sáu, áo của Sơn đổi màu mưa bụi. Còn tôi, nhờ có chiếc áo gió, áo trong của tôi còn sạch. Anh Sáu bảo chúng tôi đi tắm, rồi anh Sáu lấy một chiếc áo của anh cho Sơn mặc. Chiếc áo ấy Sơn vẫn để trong tủ áo của mình, ít ai biết.

Với tôi, anh Sáu là một nghệ sĩ, nghệ sĩ với con người chiến sĩ của anh. Không có khoảng cách về tuổi tác, cương vị xã hội, hai người nghệ sĩ ấy gặp nhau, trở thành đôi bạn chia sẻ nhiều nỗi niềm. Trong những năm khó khăn, cơm độn bo bo, có lần anh Sáu gởi gạo đến cho gia đình Trịnh Công Sơn. Anh Sáu tâm sự với Sơn “Anh em trí thức ở thành phố mình bỏ đi nhiều quá. Chúng ta làm sao giữ anh em lại, cùng xây dựng đất nước.” Sau đó Trịnh Công Sơn viết ca khúc “Em còn nhớ hay em đã quên“. Lần thứ hai, anh Sáu nói với Sơn “Trong lúc khó khăn này, làm sao mọi người đều có niềm tin, niềm vui, vượt lên khó khăn để xây dựng Thành phố…” Thế là Trịnh Công Sơn cho ra bài “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui“.

Anh Sáu về Trung Ương, làm Thủ Tướng, Cố Vấn BCH Trung Ương Đảng, mỗi lần về SàiGòn, anh hay gặp lại bạn bè. Trong những cuộc gặp gỡ ấy, thường có Trịnh Công Sơn. Bao giờ Sơn cũng ngồi gần sát anh Sáu, như không thể cách xa nhau. Anh Sáu kể về những chuyến anh đi thăm dân. Rồi ai có sáng tác nào mới, hát cho anh nghe. Trần Long Ẩn chuyên hát lời hai, lời ba. Nguyễn Duy đọc thơ, Trịnh Công Sơn chưa có bài mới thì tùy hứng hát bài cũ. Chị Sáu, vợ anh Sáu, nói “Sao mà tôi thích cái câu — sỏi đá cũng cần có nhau — sâu xa quá!“. Thế là Trịnh Công Sơn cầm đàn hát “Diễm xưa“. Thật khó có người nào hát những bài hát của Sơn hay bằng Sơn.

Anh Sáu nói anh vừa nghe Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ lúc 5giờ30 sáng, bình luận về ba nhạc sĩ lớn của Việt Nam: Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Đài Hoa Kỳ nói “Ca từ của Trịnh Công Sơn là lời của phù thủy“. Anh Sáu nói “Họ không hiểu nổi ý nghĩa nhiều tầng, nhiều góc ca từ của Trịnh Công Sơn, nên họ đành phải nói đó là lời của phù thủy”. Trịnh Công Sơn không ngạc nhiên về lời bình của Đài Hoa Kỳ mà ngạc nhiên: “Anh Sáu theo dõi kỹ vậy à? Thế mà anh em mình không ai biết“.

Một tối, anh Sáu rủ Sơn và tôi đến nhà. Anh lấy chai rượu Mao Đài đãi hai chúng tôi. Sơn uống và xỉn. Thế là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bắt đầu dạy Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm chánh trị.

– Anh đi Nhật mà không cho em cùng đi là yếu về chính trị. Người Nhật họ quý em lắm. Anh đi nước ngoài anh phải.., phải.., phải..

Anh Sáu và tôi cứ cười, Sơn thì cứ nói thao thao.

Một ngày cuối tháng Ba năm nay, tôi báo với anh Sáu là Sơn bịnh nhiều, Sơn đang nằm cấp cứu trong bịnh viện. Anh Sáu nói:

– Mai mình đi Hà Nội, sau Đại Hội Đảng mình về, mình sẽ đến thăm Sơn. Xem nước ngoài nào chữa được bệnh cho Sơn, mình tạo điều kiện để Sơn đi chữa bệnh

Nhưng không kịp nữa, chiều ngày 1/4/2001 tôi gọi điện thoại cho anh “Anh Sáu ơi! Sơn mất rồi…” Anh hỏi, anh nói nhưng tôi không nhớ gì, chỉ nhớ anh nói: “Đau lòng quá!” và chị Sáu kêu lên ” …. Buồn quá…”

Hoàng Nguyên Nhuận viết ngày 22 tháng 3, 2008: Nguyễn Du của Thế Kỷ 20

Trịnh công Sơn chết, anh chị em chúng tôi âm thầm chia buồn với nhau, lẳng lặng vỗ về nhau bằng những lời điếu tụng qua điện thoại, điện thư. Chúng tôi nói với chúng tôi hơn là nói với Trịnh công Sơn, bởi kẻ mất mát và đáng được an ủi là chúng tôi chứ không phải Trịnh công Sơn. Một trong những điện thư đầu tiên chúng tôi chia nhau đọc là: Yêu Bánh Nậm ơi,

Chắc YBN cũng đã nhận được cái @ của Nguyễn đắc Xuân về Trịnh công Sơn? @ nầy có một câu thật dễ thương. Nguyễn đắc Xuân bảo Trịnh công Sơn là “niềm tự hào của thế hệ chúng ta”. Niềm tự hào đó đã ra đi thật rồi, phải không? Xin mượn lại mấy câu nó viết cho Lưu Kim Cương ngày xưa để điếu tụng nó:

Anh nằm xuống sau một lần đã viễn du
Đã vui chơi trong cuộc đời này.

Ta buồn cho nó hay ta vui cho nó đều vô ích, phải không? Nó đến, nó đi, tụi mình rồi cũng rứa. Nhưng có lẽ nó hơn mình ở chỗ là nó đã thật sự viễn du, thật sự rong chơi… Chơi đẹp, đẹp tận láng cho đến phút cuối cùng

Quán đời rũ mộng tà huy
Gửi buồn vui lại, ra về tay không.

Đừng hỏi tôi ai viết câu đó. Tôi thật vong ân bội nghĩa, chỉ nhớ câu thơ mà không nhớ người viết. Cầu mong năm, ba trăm năm nữa, người Việt sẽ không có thái độ vong ân đó mỗi lần rung động vì âm thanh của ngót năm trăm bản nhạc nó để lại cho đời, như cô rung động vì Nhìn Những Mùa Thu Đi dạo nào, hay vẫn còn nói được như tôi sáu năm trước đây…

Trong bài Xếp Bút Nghiên Xuống Đường Giải Nghiệp viết nhân ngày kỵ Thầy Thiện Minh Tháng 10.1995, tôi viết: Hoàng tôi không khỏi ngậm ngùi nghĩ đến Trịnh công Sơn khi xem cuốn video Xin Trả Nợ Đời và đọc mấy quyển sách về Huế như Huế Giữa Chúng Ta của Lê văn Hảo, Ngàn Năm Xứ Huế của Nguyễn Châu và Đoàn văn Thông và Tuyển Tập Nhớ Huế … Tất cả đều không có một lời về Trịnh công Sơn! Nếu Huế là thánh địa của Phật giáo và nếu bản nhạc Phật Giáo Việt Nam của Lê cao Phan là nhịp đạo hành của thanh niên Phật tử cho đến khi phong trào Phật giáo bùng nổ năm 1963 — và từ đó biến thành một phong trào rộng lớn nhân danh dân tộc mà đòi xét lại lịch sử, thì Trịnh công Sơn chính là nhịp đập con tim của phong trào thanh niên trên đường vận động hòa bình, độc lập và an lạc cho đồng bào đồng loại. Năm 1963 trong lúc anh chị em chúng tôi lận đận trong tù sau chiến dịch Nước Lũ thì Trịnh công Sơn vẫn còn mơ màng Nhìn Những Mùa Thu Đi. Đến năm 1964, sau khi ‘nhập’ Tuyệt Tình Cốc thì Trịnh công Sơn hầu như đã trở thành một người mới. Tài năng và tiếng tăm của Trịnh công Sơn từ lâu đã vượt khỏi những biên giới hạn hẹp của quốc gia và ý thức hệ. Thế nhưng chẳng có người Việt nào trong các phe đối kháng tả khuynh cũng như hữu khuynh muốn ‘chính thức’ biết Trịnh công Sơn là ai cả! Cho đến hôm nay Trịnh công Sơn vẫn còn là kẻ lưu đày trên quê nhà, một kẻ xa lạ giữa những đồng bào đã trầy da tróc vảy vì đánh đấm ý thức hệ nhưng vẫn chưa muốn chữa lành vết thương.

Nhìn Những Mùa Thu Đi … Mùa thu 1963 … YBN còn nhớ không, tụi mình kẹt trong Nha Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần, nhờ HPNT mà YBN có bản nhạc đó để ê a âm ư mơ màng. Sướng hí?

Trịnh công Sơn, Vĩnh Kha, Phan đình Bính, Trần triệu Luật, Trần quang Long, Ngô Kha … Bây giờ thì tụi nó gặp lại nhau rồi đó phải không? Tha hồ mà hàn huyên, rong chơi. Khoái quá hí?

Chuyến nầy về nhà, YBN nhớ thay mặt anh chị em đến thăm mộ thắp cho Trịnh công Sơn nén hương và bảo nó rằng tụi mình cám ơn nó là cả đời nó, cả công trình âm nhạc của nó đã giúp cho anh em mình tin rằng có bầm dập te tua đến mấy thì dân tộc mình vẫn dư sức sản xuất những thiên tài. Xin YBN nói cho nó biết rằng Trịnh công Sơn không chỉ là nhịp đập con tim của phong trào thanh niên trên đường vận động hòa bình, độc lập và an lạc cho đồng bào đồng loại phát khởi từ những năm 1960 mà thôi. Trịnh công Sơn là Nguyễn Du của thế kỷ 20. Nhớ nói với Trịnh công Sơn vậy, nghe YBN.

* Nhiều @ thầm lặng trao qua gửi về giữa anh chị em chúng tôi. YBN hứa viết, Cao huy Thuần bảo đang viết, Nguyễn văn Hóa hứa viết. Nhưng Nguyễn xuân Thu là người viết đầu tiên, những lời chân chất quân tử Tàu ngất ngơ của người anh em thân thiết này:

@ Nguyễn Xuân Thu:

Từ hôm qua nghe tin Trịnh công Sơn đã không còn nữa mình buồn rũ rượi. Bạn bè dần dần kẻ trước người sau rồi sẽ đi hết. Mình thường nghĩ, nếu trước lúc nằm xuống mà có vài giờ suy nghĩ, thì mình sẽ nghe nhạc Trịnh công Sơn và nghe một số bài kinh. Mình rất thích nghe giọng tụng kinh của Thầy Thích Đôn Hậu. Trịnh công Sơn là một thiên tài, một người vượt lên trên tất cả. Mình không bao giờ quên tâm sự của anh qua bài Viết Trên Dòng Sông Loire cách đây trên mười năm khi Trịnh công Sơn đi Pháp lần đầu tiên sau năm 1975. Trái tim của Trịnh công Sơn lớn quá, vĩ đại quá. Anh nằm xuống là một mất mát lớn cho Việt Nam. Mình chưa bao giờ được may mắn là bạn của Trịnh công Sơn. Đêm nay mình sẽ nghe lại nhạc của anh.

Thăm Lệ Hằng. Mong gặp lại một ngày rất gần đây. Thân. NXT.3.4.2001.

@ của NVH viết:

Anh G. Ơi. Tối nay Chủ Nhật, ngày mồng Một Tháng Tư Tây lịch, cứ thao thức hoài không ngủ được. Tin Trịnh công Sơn vô nằm nhà thương trong cơn hấp hối trước đó hai hôm tôi đã đọc trên Internet, nên không thảng thốt lắm khi nghe tin anh ra đi. Nghe bệnh tình của anh thì cứ nhớ hoài lời của CHT trong cuốn băng chủ đề Trịnh Công Sơn do Thanh Hải hát ở Paris mấy năm trước cứ vang vọng trong người: “Sơn ơi, mày uống rượu nhiều quá, mày quên tau mất rồi.” Và như thế, cái thân xác phù du của kiếp người đến lúc nào đó cũng sẽ tan loãng với đất trời.

Hơn hai mươi năm Trịnh công Sơn bầm dập, tơi tả với quê hương, hai mươi năm đưa hồn, đưa xác, đưa tâm ra mà chống đỡ những ‘đòn thù’ cho quê hương đã được đền bù trở lại bằng hơn hai mươi năm sau ‘khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình’. Mẹ già Việt Nam đã toại nguyện và mẹ đã ra đi trong nụ cười khô lệ để nhìn ‘trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường’. Các em cũng đã toại nguyện, bởi lần đầu trong một trăm năm các em đã được ngẩng cao với trời đất để ca vang bài ca thống nhất sơn hà. Anh Trịnh công Sơn đã ra đi và trở về như một Kinh Kha thời đại đã giữ được lời thề với non sông và với cái âm hùng tráng của mình. Cho nên: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt, trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về.” Và thế là anh đã đi và về cùng một chỗ: chỗ quê hương! Tôi xin mượn lại lời của Tuệ Sĩ, và cùng với các anh chị thắp một nén hương cho anh Trịnh công Sơn, một người tôi chưa từng gặp mặt:

Không phiền trược cầu mong chi giải thoát
Cứ vui chơi nơi cõi Niết Bàn.

Anh G. anh đã làm tôi giật mình nhưng không ngạc nhiên khi thấy anh ví Trịnh công Sơn như một Nguyễn Du thời đại. Phải rồi, đấy là ý tưởng đầu tiên và có thể là duy nhất đã đặt cho đứa con Việt Nam tài hoa, yêu quê hương tha thiết này một vị trí minh bạch nhất của một lời ca tụng. Thân chúc an lạc. NVH.

Có những người không chịu trao đổi gì, và chỉ tự nguyện yên lặng mang hoa cho thiên hạ phúng viếng Trịnh công Sơn. Trần Tiễn Tiến là một. Trần Tiễn Tiến trở thành trạm truyền tin, cần cù chuyển cho anh chị em hàng chục hàng trăm tin tức nóng hổi từ khắp nơi trên thế giới. Những tin tức cho thấy cái chết của Trịnh công Sơn đã trở thành một biến cố, cũng lớn lao như chính cuộc đời và tác phẩm của Sơn. Một trong những @ phúc đáp và cám ơn Trần Tiễn Tiến có ghi:

T. ơi, Đã nhận được các @ về Trịnh công Sơn T. ân cần gửi cho anh. Thế cũng đủ thấy T. thương tiếc Trịnh công Sơn như thế nào. Trong các @ đó, có bài đọc được, có bài không. Mấy bài của K. chẳng hạn. K chỉ mượn hoa cúng Phật, dùng Trịnh công Sơn như phấn son tô điểm cho mình mà thôi phải không T.? K. chỉ dám nhận Trịnh công Sơn như một người thân nhưng chưa bao giờ dám công khai nói đồng ý với những tư tưởng của Trịnh công Sơn về dân tộc, về chiến tranh, hoà bình phải không T.? T. có thì giờ đọc nhiều, liên lạc nhiều, anh mong T. để ý xem những ý kiến hay bài viết nào về Trịnh công Sơn đặt những vấn đề như:

  1. Vinh danh Trịnh công Sơn như một thiên tài yêu nước, vượt trên mọi xung khắc chính trị.
  2. Lập đài kỷ niệm Trịnh công Sơn ở nơi nào đó trên quê hương.
  3. Làm một công trình gì đó để tưởng nhớ Trịnh công Sơn.
  4. Vận động đặt tên đường Trịnh công Sơn ở Huế và TP Hồ Chí Minh 5. Thực hiện một tuyển tập tưởng niệm Trịnh công Sơn của những người bạn, những người chấp nhận tư tưởng và lòng yêu nước, yêu hòa bình của Trịnh công Sơn.

Có những ý kiến như vậy thì ghi nhận, phổ biến, tham khảo, trao đổi… anh nghĩ là hay hơn nữa đó, phải không T.? Nếu được T. hỏi những người quen xem họ nghĩ sao về những điểm đó. Thăm T. thường an lạc, tinh tấn. Anh. 5.4.2001.

Đó là những nén hương đầu tiên anh chị em chúng tôi âm nguyện cắm lên mộ Trịnh công Sơn. Chúng tôi xin phép Thầy Thích Phước Ân Giám Viện chùa Phước Huệ tổ chức Kỵ 49 ngày cho Trịnh công Sơn. Ông Thầy này nhìn xa thấy rộng mà cũng chịu chơi nữa mới cho chúng tôi phép đó. Bởi không ai cấm được những kẻ ở trong cũng như ngoài chùa chỉ nhìn thấy cái chót mũi của mình nên vẫn không ưa Trịnh công Sơn vì lý do này hay lý do khác. Cặp Vọng-Tuyền được giao cho công việc nặng nhọc này. Cái khó là tìm cho được những người tự nguyện hát cho Trịnh công Sơn chứ không phải cho chính mình hay cho khán giả. Vọng-Tuyền đã làm được chuyện khó khăn đó.

Buổi lễ đông đảo nhưng âm thầm, lần đầu tiên một số ca nhạc sĩ Sydney đã thực sự cất tiếng hát với lời thì thầm từ đáy lòng: ‘Anh Sơn ơi, tôi thương tiếc quý trọng anh vì lời ca tiếng nhạc này đây… ‘ Những tiếng hát chân thật, xuất thần dành cho Sơn nghe, như lời ru một người vừa nằm xuống vĩnh viễn, như lời an ủi vỗ về người sống đang xót xa vì mất Sơn.

Nói là khóc Sơn nhưng có lẽ là để khóc cho những người đang ở lại là chúng tôi nhiều hơn. Sơn nó đâu cần những giọt nước mắt này khi Sơn đã biết hai năm rõ mười sống chết chỉ là ‘hạt bụi hóa kiếp thành … cát bụi‘.

Trong khi kẻ chiến bại loay hoay gậm nhấm tiếc hận, kẻ chiến thắng say sưa độc quyền vinh quang thì Trịnh công Sơn đã đi qua cầu tuyệt vọng để tìm lại chính mình, để tìm lại yêu thương bình thường. Tiếng súng im, máu xương thôi đổ, Sơn mới tìm được từ tâm hỉ xả đó chứ khi đất nước đang còn chìm trong khói lửa thì hình như không. Từ tâm của Sơn dấy động, Sơn tìm được sức mạnh để tha thứ cho đời khi Sơn thực sự cheo leo bên bờ vực thẳm của tuyệt vọng. Đã hẳn là tuyệt vọng với đời. Thực ra thì những kẻ chiến đấu hăng say, kẻ chết ngoài mặt trận thực sự là kẻ yêu hòa bình và chia sẻ những tâm tư của Trịnh công Sơn, chia sẻ niềm tuyệt vọng đầy hi vọng của Trịnh công Sơn. Chiến tranh khủng khiếp, nhưng chưa phải là tuyệt vọng, bởi người ta vẫn còn hi vọng chiến tranh chấm dứt, vẫn còn mong hòa bình sẽ chấm dứt khổ đau. Nhưng hòa bình rồi mà còn những nỗi khổ đã gây ra chiến tranh thì đúng là hết thuốc chữa! Nỗi niềm tuyệt vọng của Sơn là tuyệt vọng hậu chiến, nỗi tuyệt vọng nẩy sinh từ chiến thắng như những chùm gai nhọn trái cựa. Nhưng đụng đáy rồi thì chỉ còn nước hoặc chìm lỉm hoặc trồi lên. Trịnh công Sơn đã trồi lên, với từ tâm bao la vô lượng: ‘những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau … ‘

‘Trịnh công Sơn là hiện thân thơ ca của phong trào đấu tranh của thanh niên sinh viên học sinh Huế bùng nổ từ Mùa Hạ 1963. Phong trào đó đã đẻ ra Trịnh công Sơn và Trịnh công Sơn đã nuôi dưỡng phong trào đó cho đến ngày anh nằm xuống.

Năm 1964, chiến tranh leo thang, phong trào phản chiến của thanh niên sinh viên học sinh thành thị cũng leo thang với biểu tình, bãi khóa, hội thảo, đêm không ngủ… Phong trào này đã sản xuất cả ngàn bài thơ, bài văn. Nhưng ca nhạc thì chỉ có một. Trịnh công Sơn!

Trịnh công Sơn đã lặp lại quyết tâm chân thật của Phùng Quán:

Yêu ai cứ bảo rằng yêu
Ghét ai cứ bảo rằng ghét

để trở thành người đầu tiên ghi lại mối hận chiến tranh và ước vọng hòa bình của người Việt qua bài Ca Dao Mẹ:

Mấy cụm từ ‘gia tài của mẹ, một ngàn năm nô lệ, một trăm năm đô hộ‘ đã được lặp đi lặp lại như những tiếng búa oán than nện vào đầu những người lầm lạc. Ý thức phản chiến của Trịnh công Sơn thật đơn sơ, đó là người Việt không thể làm theo ngoại nhân để chém giết người Việt. Hai bên đương chiến người Việt đều có phần lỗi trong khi dùng lý thuyết và súng đạn ngoại nhập để tìm hòa bình bằng chiến tranh, tìm chiến thắng bằng máu xương của đồng bào anh em. Sơn nặng lời gọi họ là ‘lai căng’‘bội tình’. Đây là lần đầu tiên — và có lẽ là lần duy nhất, Sơn nổi tam bành lục tặc trên dòng thơ nhạc.

Trịnh công Sơn là Nguyễn Du Thế kỷ 20. Nhưng khác với Nguyễn Du Sơn không băn khoăn chuyện 300 năm sau còn ai nhớ để nhỏ cho mình giọt lệ?

Cũng có thể Trịnh công Sơn không màng đến giọt lệ của người đời sau bởi vì nhạc của Trịnh công Sơn chỉ toàn là nước mắt. Mấy trăm bản nhạc của Trịnh công Sơn có bản nào vui đâu? Hình như là không. Những bản tưởng như vui nhất cũng thoáng những nét sầu. Như trong cõi đời này, không một loài hoa màu xanh nào mà không phả chút tím buồn man mác!

Nhớ lại lời mắng của Trịnh công Sơn:

Gia tài của mẹ một bọn lai căng
Gia tài của mẹ một lũ bội tình

rồi đọc mấy lời phúng điếu của những nhân viên Bộ Chính Trị như Nguyễn Minh Triết, Mai Chí Thọ, Hữu Thọ, Nguyễn Khoa Điềm xưng tụng Trịnh công Sơn là: ‘một nhạc sĩ, một nghệ sĩ lớn tài ba, độc đáo… nhà sư phạm về tình yêu bao la, rộng lớn đối với đất nước, đối với nhân loại, đối với vạn vật… để lại mãi mãi cho đời những cống hiến cho đất nước, cho đồng bào và bè bạn… Anh đã bỏ rơi chúng ta trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI … ‘ và so sánh những lời ca ngợi đó với những băn hăn cay đắng lầm bầm bùa chú của những người tự nhận là quốc gia chiến bại rằng Trịnh công Sơn phản chiến, thiên Cộng, là đâm sau lưng chiến sĩ, là cộng sản, là Việt cộng, là cách mạng 30… Hoàng tôi không khỏi than thầm rằng: Tội nghiệp những người anh em này thua những người anh em kia là phải!

Đối diện với những khổ đau mất mát phung phí của chiến tranh, có những người quá giận hờn mà quên hổ thẹn. Hoàng tôi là một. Trịnh công Sơn giận ít hơn thẹn, buồn nhiều hơn bực. Do đó mà Trịnh công Sơn khoan dung hơn Hoàng tôi mỗi khi nghĩ về cuộc chiến, hát về chuyện nhân gian chưa từng độ lượng. Sơn phải cao cả lắm mới nghĩ được rằng ‘Trên những trang giấy tinh khôi chúng tôi không bao giờ còn thấy bóng dáng của những đường kiếm mưu đồ, những vết dao khắc nghiệt… Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng để sống và hãy thả trôi đi những tị hiềm’.

Đất nước cần những người biết khoan dung và hổ thẹn như Trịnh công Sơn. Hoà bình dân tộc và nhân loại cần những người biết khoan dung và hổ thẹn như Trịnh công Sơn. Đó là bài học Trịnh công Sơn đã dạy cho Hoàng tôi.

Phong Trang Tháng 8.2001.

o O o

CTHĐ: Tin rằng quí vị đọc những lời trên quí vị dư thấy nhầy nhụa, ghê tởm, tôi chỉ viết thêm vài dòng:

Trịnh Đá Bát Phét Lác khoe: một ngày các chuyên viên Thông Tấn Mỹ, Pháp tìm đến phỏng vấn, thu hình Đá Bát đến hai, ba lần. Đá Bát trốn khỏi Sài Gòn, ẩn mình tỉnh xa, chỉ sáng hôm sau là thấy năm, bẩy người đủ các mầu da lố nhố ở cửa nhà, chầu chực để được phỏng vấn, thu hình Đá Bát. Dzóc.

Những người có trách nhiệm trong chính quyền Việt Nam Cộng Hoà coi thường mấy bản nhạc sướt mướt của Trịnh Đá Bát, vì coi thường Y nên không bắt Y. Nếu Trịnh Đá Bát bị cảnh sát bắt giữ dù chỉ nửa tháng, những năm 1985 Y, và bọn bạn Y, còn khoe khoang thành tích đến đâu.

Những bài ca của Trịnh Đá Bát có tính cách phản chiến không? Tôi thấy chúng không đáng được gọi là “Nhạc Phản Chiến.”

TRỜI ĐẤT VÀO XUÂN…

hht2

Bố Già Vất Vả

Bài viết của HHT January 25, 2009

Thấm thoắt dzậy mà đã mười mấy mùa lá rụng vợ chồng tôi sống ở Kỳ Hoa.

Sáng nay, buổi sáng cuối năm ở xứ người, khi viết những dòng chữ này, tôi tưởng như tôi thấy lại cảm giác lạ kỳ, khó tả của tôi trong buổi trưa 13 năm xưa bánh xe lãng tử – đúng ra là bánh xe tị nạn, bánh xe lưu vong – đưa vợ chồng tôi đến Phi trường National — nay là Phi Trường Reagan — ở Washington DC.

Thân hữu đến phi trường đón vợ chồng tôi buổi trưa ấy khoảng 20 vị, nay có đến 5 vị không còn ở cõi đời này.

Buồn, nhớ thương ..

Nghe dzồi, biết dzồi, khổ lắm, than mãi..!

Thưa vâng, tôi đã than nhiều, xin không than nữa, xin viết vào chuyện. Những ngày đầu Năm Tây 2009, cuối Năm Ta Chuột Nhâm Tý, tôi được một vị quí nhân gửi cho khoảng 10 tấm ảnh — của Phái viên Tạp Chí LIFE — ghi cảnh Bà Trần Lệ Xuân, Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hoà — tức Bà Ngô Đình Nhu — trả lời phỏng vấn của nhà báo ở phi trường Tân Sơn Nhất Tháng 10 năm 1963.

Tôi từng viết bài về cuộc tiễn đưa này, xin tóm luợc Như Con Chuồn Chuồn:

Bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân nói vì nhiều người Âu Mỹ hiểu sai về tình hình Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà nên, với tư cách dân biểu — bà sang Pháp, sang Mỹ làm “chuyến đi giải độc dư luận Âu Mỹ.”

Tại Phi trường Tân Sơn Nhất, truớc khi lên phi cơ, phóng viên truyền thông hỏi bà dự đinh sẽ ở Pháp bao lâu, ở Mỹ bao lâu. Bà Lệ Xuân trả lời bà chưa đinh, và bà mỉm cười, nói:

Tôi như con chuồn chuồn.
Khi vui thì đâu, khi buồn thì bay.

Kể Ca Dao đến như bà tôi cho là Khéo Nhất Thế Giới.

Hoàng Hải Thủy, năm 23 tuổi, trong căn nhà Số 78/5 đường Mayer, Sài Gòn. Năm 1956 đường đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sài Gòn.

Hoàng Hải Thủy, năm 23 tuổi, trong căn nhà Số 78/5 đường Mayer, Sài Gòn. Năm 1956 đường đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sài Gòn.

Không chỉ Khéo mà còn Có Duyêtn Nhất Thế Giới.

Lúc ấy tôi — Công Từ Hà Đông — phóng viên Nhật Báo Sàigònmới, đứng cạnh ghế bà Lệ Xuân, nhờ ánh đèn cực sáng chiếu vào bà đề người ta chụp ảnh, quay phim bà, tôi nhìn rõ những nét răn nơi đuôi mắt bà — những nét răn của đàn bà đẹp được ông cha tôi gọi văn huê là những “vết chân chim” — tôi nhìn rõ hàm răng còn gần như nguyên vẹn chăm phần chăm của bà.

Vị quí nhân gửi cho tôi những tấm hình của phóng viên Tạp Chí LIFE ghi dưới bức ảnh Bà Trần Lệ Xuân trả lời nhà báo, câu hỏi:

– Ông kể lúc ấy ông đứng bên ghế bà Trần Lệ Xuân, trong ảnh này ông ở đâu?

Tôi hồi hộp xem thật kỹ bức ảnh, xem đi, xem lại, nhưng ảnh không có tôi là — dù tôi có xem kỹ đến mấy — ảnh vẫn không có tôi.Trong ảnh có Phan Nghị, ông Trần Tấn Quốc.  Tôi nhớ là lúc đầu tôi không len lách vào gần bà Trần Lệ Xuân, chỉ khi cuộc họp báo đã gần xong, người ta tản ra, tôi mới chen vào đứng gần bà — tôi đến gần bà như tôi thầm nói tôi chào bà — vì vậy khi phóng viên Tạp Chí Life ghi ảnh không có tôi. Khi tôi đến đứng bên ghế bà ngồi, người ta không còn chụp ảnh bà nữa. Khi ấy bà sắp đứng lên để đi ra phi cơ. Tôi không thích chen lấn, tính tôi như vậy từ năm tôi 10 tuổi.

Tôi viết tôi tiếc ơi là tiếc, tôi đã bỏ lỡ — trăm năm một thưở — cơ hội không phải vàng y mà là kim cang — được chụp ảnh chung với bà Trần Lệ Xuân, được có ảnh đứng cạnh bà Trần Lệ Xuân.

Bài viết đăng lên Nhật Báo SàiGòn Nhỏ, rồi lên hoanghaithuy.comTake2Tango.com.

Ít ngày sau tôi được điện thư:

Phương Lê, January 19, 2009:

Bố già CTHĐ đừng buồn phiền chi nhiều vì hụt cơ hội chụp ảnh chung với Madame Ngô Đình Nhu. Tôi cũng mong ước được gặp mặt Bố Già và chụp chung với ông một tấm hình mà chắc chẳng bao giờ được, vì không có cơ hội, Bố tin không?

Công Tử Hà Đông: Cám ơn bạn Phương Lê, tôi cảm khái vì có người muốn chụp ảnh chung với tôi, lại gọi tôi là Bố Già. Cám ơn bạn lần nữa.

Để xin viết trước về tiếng “Bố Già.”

Nhiều người Việt thích đọc tiểu thuyết từng đọc truyện “Bố Già” do Ngọc Thứ Lang dịch từ tiểu thuyết The Godfather của Văn sĩ Mỹ Mario Puzo. Truyện Bố Già được dịch và xuất bản ở Sài Gòn khoảng năm 1970, truyện bán chạy, được bọn Việt Cộng Sài Gòn tái bản nhiều lần sau năm 1990.

Ngọc Thứ Lang tên thật Nguyễn Ngọc Tú chết ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh — Phú Yên Khánh Hòa — khoảng năm 1986, 1987.

Tôi — CTHĐ — vì mái tóc bạc sớm nên khi vào tù Cộng sản, được nhiều bạn tù trẻ gọi là Bố Già. Cũng vì mái tóc tôi bạc trắng, có những ông tù nhiều tuổi hơn tôi mà xưng Em với tôi.

Trong tù tôi thường nói với những anh Con Rởm của tôi:

– Bây giờ nếu chúng nó nói “Lôi thằng già nhất trong bọn tù này ra bắn,” chắc tao bị chúng lôi ra. Nếu chúng nó nói “Xem thằng nào già nhất trong bọn tù này, thả nó ra,” chắc là tao được thả.

Trong thời gian bố con tôi xa nhau, trong những thư tôi gửi cho Kiều Giang, tôi thường ký “Bố Già Vất Vả.”

Năm 1984 tôi bị bọn Công An Thành Hồ bắt vì tội “viết bài diễn tả cuộc sống cực khổ của nhân dân Sài Gòn gửi ra nước ngoài.” Bị bắt cùng một lúc với tôi, cũng vì tội như tội của tôi, là các ông Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Hoạt Hiếu Chân, Dương Hùng Cường Dê Húc Càn, Duy Trác, Trần Ngọc Tự và cô Lý Thụy Ý.

Các ông vừa kể, cô Lý Thụy Ý, và tôi, bị ghép chung vào một bọn, bị bắt trong một đêm, đưa ra Toà xử một lần. Rồi bị bọn Công An VC gọi là Bọn Biệt Kích Cấm Bút.

Cô Lý Thụy Ý là nữ ký giả, từng giữ Trang Kaki của Tuần Báo Văn Nghệ Tiền Phong trước năm 1975. Cô bị bắt vì ” tội làm bài Thơ” trong có hai câu:

– Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?

Và:

– Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.

Cô Lý Thụy Ý bị giam trong Phòng Giam Tù Nữ Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của Sở Công An Thành Hồ. Phòng Nữ có cửa kéo sắt nhìn ra con đường ra vô Khu Phòng Thẩm Vấn, nên các vị nữ tù ngồi trong phòng tù, sau cửa kéo, có thể nhìn thấy khá dễ và rõ những người tù ra vô Khu Thẩm Vấn.

Sau một năm bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Tháng 6 năm 1985 tôi được chuyển theo các ông Nhà Văn Biệt Kích Cầm Bút sang Nhà Tù Lớn Chí Hoà.

Trên xe chở tù anh em chúng tôi mừng tủi sau một năm không được gặp nhau, tuy ở cùng nhà tù chúng tôi mỗi người ở một phòng.

Trên xe tù, cô Lý Thụy Ý nói với tôi:

“Có mấy con nhỏ trong phòng em là độc giả của anh, chúng nó muốn trông thấy anh. Chúng nó nhờ em hôm nào thấy anh đi làm việc thì cho chúng nó biết. Sáng hôm ấy em nhìn thấy anh đi làm việc, em cho chúng nó biết, chúng nó chờ để nhìn anh khi anh đi làm việc về. Sau đó, chúng nó nói với em:”

– Chị đừng cho bọn em nhìn thấy ông ấy thì hơn, không thấy ông ấy chúng em vẫn có thể tưởng tượng ông ấy hào hoa phong nhã, nay thấy ông ấy, chúng em chán quá!”

Nghe Lý Thụy Ý nói thế, tôi buồn ơi là buồn, tôi chán ơi là chán. Tôi không nhìn tôi trong gương nhưng tôi biết dư những tháng nằm tù ở Số 4 Phan Đăng Lưu ấy hình dáng tôi  thiểu não ra sao: anh tù tóc bạc, gầy ốm, đen đủi, lưng khòm khòm v..v…

Trên xe tù Việt Cộng, nghe cô em văn nghệ nói về mình, về những nữ độc giả ái mộ mình nghĩ về con người xương thịt của mình, như thế — thưa bạn Phương Lê, thưa liệt quí vị độc giả — tôi còn có thể có nỗi buồn nào buồn hơn?

Ôi chao..! Nghe câu nói ấy từ một buổi trưa giữa năm 1985, đến nay đã hơn 20 muà sầu riêng nứt vỏ, nhớ lại, tôi lại thấy ruột tôi bị đứt ra 126756 đoạn.

Tôi có bức ảnh chụp tôi năm 1971 ở Pleiku, trong ảnh tôi bận áo paraverse, quấn khăn phu-la. Pleiku gần Tết lạnh như ở Đàlạt. Qua hai lần bị bọn Công An Thành Hồ khám xét tại nhà, tịch thu tài liệu làm tang vật – chúng lục xoát lấy hết thư, lấy hết ảnh – tôi vẫn giữ được bức ảnh Pleiku 1970. Ảnh theo vợ chồng tôi sang Kỳ Hoa.

Năm 2000, một nữ lang vưà là bạn vưà là em văn nghệ của vợ chồng tôi, đến căn phòng nhỏ của vợ chồng tôi ở Rừng Phong, thấy bức ảnh HHT Pleiku 1970 , nữ lang chỉ vào ảnh, nói:

– James Dean.

Nữ lang buông nhẹ hai tiếng “James Dean” rồi thôi, cô nói sang chuyện khác.

Nhưng hai tiếng “James Dean” cô nói làm tôi thấy năm 1970, tôi tuổi đời Bốn Bó, tôi giống James Dean quá đi mất. Tất nhiên là tôi không đẹp trai như James Dean, nhưng cũng khổ người, dáng người , y phục, kiểu đứng, vẻ mặt, ánh mắt.. Mèn ơi.. Sao tôi thấy tôi giống James Dean quá đi mất.. Giống quá chời, quá đất. Với tất cả sự khiêm tốn, tôi xin phép tự cho tôi là một James Dean Giao Chỉ.

Nhưng.. lại “Mèn ơi.. Không “Mèn ơi” không được..” Đó là chuyện năm 1970. Năm 2005 khi nhìn mấy tấm ảnh tôi mới chụp ở Kỳ Hoa Đất Trích, tôi tá hoả tam tinh. Mèn ơi.. là Mèn ơi..! Ông Tầu Già có Thùng Nước Lèo trước bụng này mà là Tôi ư? Là Tôi, Công Tử Hà Đông???

Mới năm 1970, 1971, 1972… tôi còn có dáng vẻ giống như James Dean? Mà nay tôi như vầy ư?

Tầu Già Thùng Nước Lèo?

Hết nước nói. Fi-ní Lô đia.

Tôi kể lể dzông dzài để bạn Phương Lê, và liệt quí vị độc giả, biết cho rằng bây giờ, năm nay — 2009 – quí vị không nên gặp tôi, gặp tôi có thể quí vị sẽ chán lắm.

Nhất là quí vị không nên đứng cùng tôi để chụp ảnh. Nhìn ảnh quí vị sẽ không có nỗi Chán nào chán hơn.

Thời gian..! Ôi.. Thời gian tàn phá tất cả!

Đời.. C’est la Vie.
Tình .. C’est l’Amour.
Tiền .. C’est l’Argent.
Tù.. C’est le Prison.
Thời gian.. C’est le Temps.

Với Con Người, không có gì độc hại như Thời gian.

So với Thời Gian thì Ma Túy, Sì Ke, Choác, Lắc, Rượu.. không đi đến đâu. Thời gian tàn nhẫn khủng khiếp! Thời gian ác độc như Cộng sản. Không thể kể được một phần nghìn tội ác của Cộng sản, cũng không thể kể được một phần nghìn Sự Tàn Nhẫn của Thời Gian.

Nhưng tất cả mọi người đều bị Thời Gian tàn phá, chẳng riêng mình tôi. Chỉ có điều người khác già đi, xấu đi, tôi cho là chuyện tự nhiên, nhưng tôi già đi, tôi xấu đi, tôi đau lòng, tôi buồn lắm lắm.

Thong thả, chiều vàng thong thả lại,
Rồi đi, đông sám tới dần dần.
Cứ thế mà đi cho đến hết
Những ngày, những tháng, những mùa xuân.

Trăm năm thấm thoắt..
Trong một chớp mắt, một hơi thở..

Tout passe, tout casse, tout lasse

You told me you loved me, when we were young, one day.

Xin hẹn quí vị qua năm, ngày rộng, tháng dzài, tôi sẽ viết hầu quí vị toàn chuyện Tình c’est l’Amour, những chuyện TÌNH YÊU viết Hoa¦ Bẩy chữ, Hoa luôn dấu Huyền, dấu Mũ, những bài tôi kết tội bọn Cộng sản cũng là những chuyện Tình: Tình Hận, Tình Người, Tình Nước.

Bài này là bài cuối cùng tôi viết trong năm Nhâm Tý.

Sáng mai trời đất vào Xuân
Thương thì thương nhé..

Xin quí vị làm tiếp cho 4 tiếng còn thiếu, để làm thành 2 câu Thơ 4 Món tròn trịa, ta cùng đón Xuân.

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục Nhâm Tý của Ban Tùm Lum!

Quý vị vừa đọc một bài tôi viết ở Rừng Phong năm 2009. Dưới đây là một số thư của những vị bạn đọc bài viết của tôi:

DuyVăn, January 25, 2009:

Kính Anh Năm mới chúc Anh sức khỏe dồi dào, tôi góp bốn chữ của câu thơ thứ hai.

Sáng mai trời đất vào xuân
Thương thi thương nhé “trầm luân quê người.”

Tien Phung, January 26, 2009

Nói đến Tình C’est l’Amour, tôi nhớ một truyện của bác đăng trên Nhật báo Ngôn Luận năm xưa tên là TÌNH. Nhân vật chính trong truyện tên là Tình — Vũ thị Tình, Marie Tình, một em “poule de luxe” — Truyện Tình được in lại ở Hoa Kỳ khoảng năm 1980. Tôi có 1 quyển nhưng khi dọn nhà từ Montreal đến Calgary, tôi đã làm mất. Bác có còn nhớ gì về truyện này không?

Tom Trinh, January 26, 2009
Đầu năm kính chúc Nhà Văn an khang. Xinh đính chính là Nhà Văn Ngọc Thứ Lang – tức chú Nguyễn Ngọc Tú – chết ở Trại Tù Khổ Sai Phú Văn, tỉnh Phước Long, năm 1978.

Bich Loan, January 27, 2009

Sáng mai trời đất vào xuân, 

Thương thì thương nhé,.. “xin đừng gặp nhau.”
Thương thì thương nhé… “xin đừng nhìn nhau.”
Thương thì thương nhé… “xin đừng dzòm nhau.”
Thương thì thương nhé… “xin đừng chụp (hình) chung.”
Thương thì thương nhé… “xin đừng chán nhau.”
Thương thì thương nhé… “xin đừng chán tui.”

Phương Lê, January 27, 2009

Kính Bố Già CTHĐ,

Dẫu dung nhan bố có tàn tạ đến đâu thì vẫn chưa thê thảm bằng ông bố (đẻ) tôi ngày ông đi cải tạo về!

Dẫu có giống anh “Tầu Già thùng nước lèo” đi nữa thì Bố vẫn sống khỏe và viết khoẻ. Vạn lần diễm phúc cho bản thân, gia đình và độc giả xa gần của bố. Diễm phúc hơn ông bố (đẻ) tôi vì ông mất đã lâu rồi.

Kính chúc Bố Già và toàn gia năm mới Kỷ Sửu được vạn sự bằng an và vui khỏe.

Kaily Ngo, January 28, 2009

Hôm nay là Ngày Mồng Hai Tết ở Xứ Orange
Kính chúc Nhà Văn và gia quyến bình an, tràn đầy hồng ân. Bất kể thế nào: 3 đời nhà tôi là độc giả của ông.

Nguyễn Dũng, January 28, 2009

Kính chúc Cộng Tử Hà Đông cùng quý quyến một năm mới an khang, thịnh vượng, hạnh phúc, may mắn, dồi dào sức khoẻ và có tất cả mọi điều tốt đẹp trên cõi đời này. Bố già ơi ! Tuy thời gian làm “Bố” thành anh “Tầu Già Thùng Nước Lèo” nhưng tôi thấy ông vẫn còn phong độ hơn cả triệu Lão Tàu Già Thùng Nước Lèo khác… Bố vẫn còn tâm trí sáng suốt, trí nhớ bền bỉ, đôi tay khỏe mạnh gõ bài đều đều để laị cho hậu thế… Văn phong của Bố vẫn vui,  trẻ  và “verrrry,verrry… Hoàng Hải Thủy”…Nổi buồn của Bố đâu phải của riêng Bố đâu… Ngay  tôi đây kém Bố  gần 2 bó tuổi đời mà cũng đã là “Gã Tàu Thùng Nước Lèo” rồi… Thế thì đừng buồn nữa nghe Bố… So với Hoa Hậu Brazil vừa mới bị cưa hết chân tay vẫn không thoát chết chúng ta còn nhiều hạnh phúc hơn, phaỉ không “Bố già Godfather”… Tương lai có ra sao mặc mẹ nó nghe bác… Cùng nhau chúng ta vui cái Tết này còn có nhau,chúng tôi vẫn còn “Bố Già” Công Tử Hà Đông Hoàng HảiThủy mạnh khoẻ minh mẩn, sống trong hạnh phúc, gia đình êm ấm, gõ bàì đều đều cho những… “Anh Con Rởm” cuả Bố đọc mệt… xỉu.

Sáng ngày 23 Tháng Tư, 2015, Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

CTHĐ: Cám ơn tất cả các bạn đã gửi tình cảm đến tôi trong 10 năm nay, kể từ ngày tôi được bạn Bắc Thần làm cho tôi Blog “hoanghaithuy.com.”

Bắc Thần là người bạn trẻ bạn đọc của tôi. Một buổi sáng Bắc Thần đến căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn. Em nói em là bạn đọc của tôi, em từ Mỹ về tìm tôi; em và mấy người bạn trẻ của em – các em đi khỏi nước từ những năm các em trên dưới 10 tuổi – ở Mỹ, để nhớ tiếng Việt, các em đọc những tiểu thuyết phóng tác của tôi so với những nguyên bản truyện chữ Mỹ – năm 1995 tôi gặp lại Bắc Thần ở Mỹ, năm 2007 em viết cho tôi:

“Bác gửi những bài Viết ở Rừng Phong cho em, em làm cho bác cái Blog.”

Từ đó Rừng Website có Blog “hoanghaithuy.com.” Nhờ Bắc Thần, tôi đến được dưới mắt những bạn đọc tôi ở khắp thế giới.

Bắc Thần là một trong hai bạn đọc đi xa nhất, đi từ nước ngoài về Sài Gòn để gặp tôi. Bắc Thần từ Mỹ về, một bạn đọc khác của tôi từ Pháp về.

Phương Lê, ở Pháp, là một trong những bạn đọc thân thiết, trung kiên nhất của tôi. Qua năm tháng, nhiều bạn đã bỏ tôi. Bắc Thần, Phương Lê không bỏ HHT. Phương Lê thường bênh tôi khi tôi bị chỉ trích.

Còn hay Bỏ, tôi cám ơn các bạn.

Ngày 15/4/2015 thư của một người đọc đến với tôi.

Ngày 5 Tháng 4, 2015.

Kính gởi ông Công Tử Hà Đông

Tôi có đọc bài “ Théc Méc Tháng Tư” của ông và theo thiển kiến của tôi thì có lẽ ít ai chịu hoang phí thì giờ để đọc một câu chuyện, mà tôi cho là hơi vô duyên một chút về một ông bà nào đó đã sống với nhau 60 năm, đã cùng nhau qua Cầu Đoạn Trường, hoặc câu chuyện về một ông nào đó là “ NGƯỜI VN YÊU VỢ NHẤT THẾ GIỚi (!)..v..v.. trừ phi ông ta là một người phi thường, xuất chúng như Mahattma Gandhi, hoặc Lý Quang Diệu, hoặc cụ bà người Nhật Bản thọ 117 tuổi vừa qua đời cách đây vài tuần lễ.

Tôi làm thơ (có lẽ nói là làm vè thì đúng hơn)

Người khiêm tốn thì ai cũng mến
Ông kiêu căng, kẻ ghét, người khinh.
Dẫu nằm “phơi rốn”, khoe hình
Người người ngoảnh mặt, thối rình, trời ơi.

Kính chào Ông.

Công Nương Hà Tây

Một độc giả của Sàigon Nhỏ. Viết ở Rừng Xim.

Sao Y Bản Chánh

EM HÁT TAN VÀNG, CA NÁT ĐÁ…

thaithanh

Khi được tin Thái Thanh bị bệnh Quên, Thái Thanh vào sống ở Nursing Home, tôi đăng bài viết này về Nàng. Phần đầu của bài này được tôi viết ở Sài Gòn khoảng năm 1970.

Hôm nay – ngày 15 Tháng Tư 2015, sống những ngày cuối đời ở Kỳ Hoa Đất Trích, tôi sửa lại bài này, tôi viết thêm một số đoạn vào bài này, để tưởng nhớ Thái Thanh, để thương tiếc Thái Thanh.

Tôi tưởng nhớ Thái Thanh, tôi thương tiếc Thái Thanh ngay khi Nàng sống trong cõi đời này như tôi.

Nay Thái Thanh đang sống những ngày cuối đời nàng.

Nay tôi đang sống những ngày cuối đời tôi.

Thái Thanh trên Trang Wikipedia:

Thái Thanh – Phạm Thị Băng Thanh – sinh ngày 5 tháng 8 năm 1934 tại Hà Nội – được mệnh danh “Tiếng hát vượt thời gian” – là một nữ ca sĩ nổi tiếng, được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam. Bà thành danh từ thập niên 1950. Bà thường được coi là “Đệ Nhất Danh Ca” của dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình miền Nam giai đoạn 1954-1975. Bà không theo học một lớp nhạc chuyên nghiệp nào, chỉ tự luyện giọng từ nhỏ theo các lối dân ca của đồng bằng Bắc Bộ và các sách nhạc tiếng Pháp. Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 bà ở lại Việt Nam cho đến năm 1985 thì chuyển sang định cư ở Hoa Kỳ. Tại đây bà tiếp tục trình diễn và thâu âm cho đến khi bà nói lời giải nghệ vào năm 2002.

Năm 1946, Băng Thanh tản cư cùng gia đình vào Chợ Đại, Thanh Hóa vùng kháng chiến, nơi bà bắt đầu hát lúc 14 tuổi với nghệ danh Thái Thanh. Cũng năm này bà chị của bà là bà Thái Hằng kết hôn với nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1950 gia đình Phạm Duy dinh tê về Hà Nội rồi chuyển vào Sài Gòn, Thái Thanh  theo vào Sài Gòn.

Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với diễn viên điện ảnh Lê Quỳnh tại Sài Gòn. Năm 1965 bà ly dị Lê Quỳnh sau khi đã có chung với nhau 3 con gái và 2 con trai. Sau biến cố 1975, bà ở lại Việt Nam cho đến năm 1985 thì sang Hoa Kỳ.

Từ đó, tôi – CTHĐ – thấy Thái Thanh không một lần trở lại Sài Gòn.

thanglong

Phạm Thị Băng Thanh bắt đầu sự nghiệp ca hát từ năm 13-14 tuổi..

Thời kỳ đầu, bà đi hát theo chị là ca sĩ Thái Hằng ở các chiến khu Việt Minh với các bài tân nhạc thời kỳ đầu, hay các bài dân ca mới của Phạm Duy. Đến năm 1951, bà chính thức lấy nghệ danh Thái Thanh cho giống người chị Thái Hằng.

Năm 1951, bà theo gia đình Phạm Duy vào Sài Gòn. Bà nổi tiếng trong thập niên 1950, được rất nhiều giới yêu thích từ giới trí thức cho tới bình dân. Bà được coi như một diva tầm cỡ nhất của Việt Nam thời đó. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh, truyền hình của Việt Nam Cộng Hòa. Trong giai đoạn đầu thập niên 1970, bà cùng với ban hợp ca Thăng Long thường xuyên biểu diễn tại vũ trường ăn khách Đêm Màu Hồng.

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Thái Thanh ở lại Việt Nam. Bà bị cấm hát suốt 10 năm, cho đến khi rời khỏi Việt Nam.

Năm 1985, Thái Thanh sang Hoa Kỳ định cư.  Năm 2000 bà bị tai biến mạch máu não phải vào bệnh viện. Sau đó tuy hồi phục nhưng năm 2002, bà chính thức tuyên bố giải nghệ.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn là tác giả của nhiều bài viết về Thái Thanh, phần lớn là những bài phát biểu cảm tưởng. Theo ông, trường hợp của Thái Thanh là một “trường hợp hãn hữu”, và “Máu lửa, chiến tranh, bom đạn, chia cắt, người sống, người chết, nước mắt, mồ hôi, thấm nhập vào âm nhạc của chúng ta như thế nào, đều được phản ánh qua tiếng hát Thái Thanh.” Giọng ca Thái Thanh  là đề tài ca ngợi của giới văn nghệ sĩ tại miền Nam trước 1975 và tại hải ngoại sau 1975. Nhạc sĩ Phạm Duy, người song hành với Thái Thanh trong phần lớn các ca khúc của mình, từng cho rằng không ai có thể thay thế được Thái Thanh trong sự diễn tả những sáng tác của ông.

Bên cạnh đó, nhiều nhà phê bình, văn nghệ sĩ cũng có những bài nhận định về Thái Thanh, những bài này thường mang tính ca ngợi, như Thái Thanh – tiếng hát trên trời của Thụy Khuê, Thái Thanh – tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi của Đỗ Việt Anh, Nụ tầm thanh của Hoàng Hải Thủy…Giọng hát Thái Thanh được nhà văn Mai Thảo tặng một biệt danh mà sau này thường được người ta nhắc đến, một cách trân trọng, bên nghệ danh của bà: Tiếng hát vượt thời gian.

o O o

Trích “Lời Tác Giả” Phóng Sự Tiểu Thuyết YÊU NHAU BẰNG MỒM:

CTHĐ: Năm 1970 tôi xuất bản quyển “Yêu Nhau Bằng Mồm.” Tôi tặng Thái Thanh quyển này.

Tôi viết “Yêu Nhau Bằng Mồm” để đăng báo tuần năm 1960. Ðến Tháng Bẩy năm 1970, mười năm sau ngày Kiều Ly – nhân vật chính trong Yêu Nhau Bằng Mồm – xuất hiện trên báo, tôi sửa lại bản thảo Yêu Nhau Bằng Mồm để đưa cho Nhà Chiêu Dương xuất bản.

Buổi sáng mùa thu,  một mình tôi trong căn phòng nhỏ, bên bàn viêt của tôi  là chiếc Akai xoay đều một băng nhạc do Phạm Mạnh Cương thực hiện. Tôi viết, tôi sửa bài, tôi lơ đãng nghe nhạc.

Ðến một phút nào đó tôi ngừng tay trên bản thảo vì tiếng hát của Thái Thanh. Nàng hát bài “Mùa Thu Trong Mắt Em” của Phạm Mạnh Cương. Tôi xúc động vì tiếng hát và tôi chợt nhớ từ lâu rồi, từ nhiều năm nay, tiếng hát Thái Thanh đã làm tôi nhiều lần xúc động; tôi yêu đời, yêu người nhiều hơn, đời tôi sung sướng hơn, đẹp hơn, một phần là nhờ sự  ca tụng Tình Yêu của Tiếng Hát Thái Thanh.

TÌNH YÊU viết Hoa Bẩy Chữ, Hoa luôn Dấu Huyền, Dấu Mũ.

Tôi nhớ một buổi sáng cách buổi sáng hôm nay, khi tôi viết những dòng chữ này, đã gần hai mươi năm. Ðó là một buổi sáng năm 1952. Buổi sáng đó tôi là một thanh niên vừa hai mươi tuổi, những bước chân tôi đang bỡ ngỡ bước vào đường đời; tôi vừa từ Hà Nội vào Sài Gòn, tôi đang đi tìm việc làm trong những toà báo ở Sài Gòn. Viết rõ hơn: năm 1952 tôi đã bỏ học, tôi chưa có việc làm để sống, tôi chưa biết tôi sẽ làm nghề gì, tôi chỉ biết tôi muốn làm báo, viết truyện. Với tôi năm ấy một chân phóng viên báo chí với số lương tháng hai ngàn đồng bạc là một cái gì thật là lý tưởng và quí báu nhất đời.

Buổi sáng ấy – một sáng Sài Gòn đầu mùa thu – tôi đứng trên con tầu điện từ Chợ Lớn chạy về Sài Gòn, tôi thấy Thái Thanh cùng đi trên con tầu điện ấy. Năm 1952, gần hai mươi năm trước đây, Thái Thanh và tôi cùng rất trẻ – Thái Thanh sinh năm 1934, kém tôi một năm – chúng tôi đang cùng bước vào con đường văn nghệ, nàng ca hát, tôi viết truyện, làm thơ. Năm ấy tôi chưa có chút danh tiếng nào, tôi còn chưa kiếm được tiền, dù chỉ là tiền đi xem xi nê, tiền mua mấy tở báo Cine Revue, Cinemonde được gửi đến Sài Gòn bằng tầu thủy – par bateau – Thái Thanh và Ban Thăng Long đã bắt đầu nổi tiếng. Và năm đó Sài Gòn còn có đường xe điện chạy từ Sài Gòn vào Chợ Lớn trên đường Galliéni, nay là đường Trần Hưng Ðạo.

Xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn năm xưa ấy chạy giữa đường. Khi xe ngừng ở trạm, khách xuống giữa đường nên đề đề phòng tai nạn, khoảng năm 1960 chính quyền Sài Gòn triệt bỏ đường xe điện này.

Và như thế là từ buổi sáng ấy cho đến sáng hôm nay, khi tôi ngồi sửa truyện và nghe Thái Thanh hát qua băng nhựa, thời gian đã hai mươi năm trôi qua đời tôi. Và đời Thái Thanh. Tôi thấy Nữ ca sĩ Thái Thanh, với tiếng hát không có dĩ vãng của nàng, đã làm cho đời tôi đẹp hơn, phong phú hơn là tôi với những truyện ngắn, truyện dài của tôi làm cho đời nàng thêm đẹp. Vậy để trả ơn nàng, tôi trang trọng đề tặng nàng tập truyện này. Bạn đọc thông minh chắc thừa hiểu nữ nhân vật Kiều Ly của phóng sự tiểu thuyết này không phải là hình ảnh của Thái Thanh; tôi chỉ cần nói thêm rằng những đoạn nào “tả chân” về Kiều Ly là tả Kiều Ly, còn những đoạn nào tả thơm, tả sạch về Kiều Ly thì Kiều Ly đó có phảng phất hình ảnh Thái Thanh.

o O o

Bài viết ở Sài Gòn ngày Một Tháng Chín 1970..

Thời gian vỗ cánh bay như quạ.. Thơ Ông Tchya Ðái Ðức Tuấn. Ðây là nguyên thơ bốn câu của ông tôi tìm được trong Hồi Ký “Nhớ Nơi Kỳ Ngộ” của ông Lãng Nhân:

Thì giờ vỗ cánh bay như quạ
Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi
Rượu đến, gà kêu, cô cuốn chiếu
Quay về, còn lại mảnh tình tôi…

Tôi chỉ đổi tiếng “thì giờ” thành “thời gian..” Ðúng là thời gian vỗ cánh bay như quạ. Năm 1970 tôi trong căn gác nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, nghe tiếng hát Thái Thanh, viết những giòng trên đây làm lời nói đầu tập phóng sự tiểu thuyết “Yêu Nhau Bằng Mồm” của tôi. Tôi đăng Yêu Nhau Bằng Mồm từng kỳ trên tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong. Truyện viết xong được Nhà Xuất Bản Chiêu Dương ấn hành thành sách. Năm 1970 tôi nhớ hình ảnh của Thái Thanh trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn hai mươi năm trước – năm 1952, năm ấy hai chúng tôi rất trẻ…

Năm ấy – năm 1952 – Thái Thanh hai mươi tuổi, tôi hai mươi tuổi.

Tôi tặng Thái Thanh tác phẩm Yêu Nhau Bằng Mồm.

o O o

Thế rồi… thời gian vỗ cánh bay như quạ.. năm nay, năm 2000, buổi sáng Tháng Mười, mùa thu về trên đồng đất Virginia của người Mỹ, tôi ở Rừng Phong, viết lại bài tôi đã viết năm 1970 – ba mươi năm trước – bài tôi viết về Thái Thanh, người nữ ca sĩ của vợ chồng tôi, tôi lại tưởng như tôi nhìn thấy tôi ba mươi năm trước ngồi viết về Tiếng Hát Thái Thanh trong căn gác nhỏ của vợ chồng tôi ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn; năm 1970 ấy tôi mới bốn mươi tuổi.

Tính ra thời gian đã qua năm mươi năm kể từ buổi sáng tôi nhìn thấy Thái Thanh – Nàng hai mươi tuổi bận toàn y phục trắng, trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn.

Nếu còn sống ở Sài Gòn tôi sẽ chẳng bao giờ được thấy lại, được đọc lại Yêu Nhau Bằng Mồm. Sau cuộc biến thiên 30 Tháng Tư 75 ở Sài Gòn tất cả những sách tiểu thuyết của chúng tôi đều bị tịch thu, cấm tàng trữ, tiêu hủy, chúng tôi mất hết tác phẩm. Ở Hoa Kỳ người Việt ta in lại nhiều sách truyện của những văn sĩ Sài Gòn, trong số sách được in lại ở Hoa Kỳ có quyển Yêu Nhau Bằng Mồm của tôi.

Bánh xe tị nạn khấp khểnh sang Hoa Kỳ tôi lại có quyển Yêu Nhau Bằng Mồm; nhờ vậy hôm nay tôi mới có điều kiện và cảm hứng để viết bài này. Alice và tôi có hai ca sĩ Thái Thanh và Anh Ngọc, với vợ chồng tôi Thái Thanh và Anh Ngọc là nhất. Có lần, cũng những năm 1970, tôi đã viết:

“Tôi quen mở máy nhạc khi ngồi viết, vừa viết vừa nghe nhạc. Nhưng khi tiếng hát Thái Thanh cất lên, tôi phải ngừng viết để nghe.”

Tôi vẫn nghĩ khi Thái Thanh hát mà tôi làm bất cứ việc gì là tôi có lỗi. 30 Tháng Tư 75 đến, số văn nghệ sĩ may mắn bỏ của chạy lấy người được lơ thơ như lá mùa thu, số văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở lại đông vô số kể, những ngày tháng đen tối, u sầu, lo âu kéo dài như vô tận.

Một đêm cuối năm 1976 tôi gặp lại Thái Thanh. Ðêm ấy có Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn. Vi-la số 203 đường Hiền Vương, gia chủ mời chúng tôi ăn bữa tối. Khoảng 11 giờ đêm Thái Thanh ngồi vào piano, nàng vừa đàn, vừa hát. Thấy tôi đến bên đàn, nàng mỉm cười nhìn tôi. Tôi hiểu nàng hỏi tôi:

“Muốn nghe bài gì?”

Tôi nói:

“Thôi thì thôi nhé…”

Nàng nhắc lại:

“Thôi thì thôi nhé..”

Và nàng hát cho tôi bài Ðộng Hoa Vàng, Thơ Phạm Thiên Thư, Nhạc Phạm Duy. Đứng bên nàng, tôi lặng người nghe nàng hát cho riêng tôi nghe.

Sau đó tôi làm bài thơ:

TIẾNG HÁT THANH

Tiếng mẹ ru từ thưở nằm nôi,
Mẹ thôi Mẹ không hát nữa,
Khi Anh chân bước vào đời.
Tiếng hát Mẹ nằm trong ký ức
Tung cánh bay khi Em hát cho người!

Ngày xưa xa lắm ở bên trời
Có người xưa hát lúc đi rồi
Mười hôm tiếng hát còn vương vấn
Trên mái nhà xưa âm chửa rơi.
Tiếng hát Em tim Anh nức nở
Hai chục năm rồi Thanh chửa thôi!

Em hát khi Anh vừa bỏ học,
Em hát khi Anh sắp bỏ đời.
Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc,
 Em hát khi Anh giấc ngủ vùi,
Em hát khi Anh chưa biết khóc,
Em hát khi Anh biết mỉm cười.
Em hát tan vàng, ca nát đá.
Em hát cho Anh biết ngậm ngùi.

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi.
Ðêm tàn Em hát, buồn ơi lá sầu.
Ðộng Hoa Vàng có tên nhau,
Thương thì thương nhé, qua cầu gió bay.
Tiếng Em buồn cuối sông này,
Mây đầu sông thẫm bóng ngày khóc nhau.

 o O o

Khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1984 người Sài Gòn báo cho nhau biết có người nghe được tiếng nói của đài phát thanh kháng chiến. Nghe nói những người ở Nha Trang đầu tiên vô tình mở radio bắt được đài này. Tháng Tư năm ấy tôi nghe được tiếng nói của Ðài Phát Thanh Hoàng Cơ Minh, đài phát thanh năm lần một ngày, mỗi lần lâu một giờ. Nhạc hiệu của đài là bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông, tiếp đó là Thái Thanh hát bài Quê Em:

“Quê Em miền trung du.
Ðồng quê lúa xanh rờn.
Giặc tràn lên cướp phá.
Anh về quê cũ.
Ði diệt thù giữ quê.
Giặc tan đón Em về..”

Ðêm khuya, khoảng 11 giờ, tiếng Thái Thanh hát Quê Em từ đâu xa lắm vọng về làm Alice và tôi ngây ngất. Nghe tiếng Thái Thanh từ radio phát ra tôi nghĩ:

“Thật lạ kỳ. Giả chân, chân giả. Ðây là tiếng hát Thái Thanh – không ai có thể nói đây không phải là tiếng Thái Thanh – nhưng cũng có thể nói không phải tiếng Thái Thanh vì lúc ấy Thái Thanh đâu có hát. Thái Thanh đang ở Sài Gòn. Nghe tiếng hát của mình từ góc trời nào vọng lại, không biết Thái Thanh có cảm nghĩ gì.”

Thế rồi sau khi  đã phải sống đến năm năm trong ba bức tường, một hàng song sắt của nhà tù lớn Chí Hòa, tôi cô đơn, tôi sầu buồn nên tôi làm thơ. Thơ vẩn, thơ vơ thôi.

Năm 2000, thế hệ lão liệt chúng tôi đã và đang dắt nhau đi vào quên lãng. Thời gian tới biết có ai còn xúc động vì tiếng hát Thái Thanh, vì nhạc Phạm Duy, Hoài Bắc, Ðoàn Chuẩn?

Tôi viết bài này để hoài niệm nhau lúc chúng tôi sống; tôi viết nhớ người mà cũng là nhớ những ngày hoa niên, những ngày trung niên của đời tôi:

NỤ TẦM THANH

Tóc mai sợi vắn, sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài tình nhân.
Tiếng Em trời đất vang ngân
Âm vàng, thanh ngọc bội phần xót sa.
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
Nhớ nhau gọi một chút này
Mất nhau ta tiếc những ngày có nhau.
Nửa hồn thương, nửa hồn đau,
Nửa hồn ta tím ngắt mầu thời gian.
Nghìn trùng xa cách quan san
Biết Em chớp biển, mưa ngàn ở đâu.
Hạc vàng bay mất từ lâu
Mà sao hoàng hạc trên lầu còn Thanh.
Lan huệ sầu ai.. Lan huệ sầu thành…
Quê Em tiếng hát em xanh đất trời.
Từ ly người đã xa người
Còn đây tiếng hát một đời xôn xao.

Ta đốt lên một cành hương dạ thảo
Em biết cho… Tình Ta vẫn nhớ Người.
Thăng Long từ độ Thanh hồng hảo.
Tình khúc, thương ca động đất trời.
Tà áo xanh ngời hương mộng ảo,
Hồ điệp, Trang Châu hát giữa đời.
Người đi mùa ấy thu giông bão,
Tà áo Văn Quân mấy khóc cười.
Mái nhà xưa nhớ trăng huyền thảo,
Viễn xứ thuyền đi, biển nhớ người
Người đi vắng một trời châu bảo,
Vượn hú, chim kêu, nước ngậm ngùi.
Lâu đài tình ái sương dăng ảo
Ðồi tím hoa sim gió ạ…ời…
À… ơi.. ơi.. à …ơi…
Ngày ấy có Thanh, Thanh nhẹ vào đời
Và Thanh ca đến với lời thơ nuối.
Ngày ấy có Tôi mê mải tìm lời..
Và Thanh… Thanh..suốt một đời… Tình ơi..!

Nhớ người mười tám, đôi mươi,
Cỏ hồng, chiều tím, xanh trời, Người đi.
Chúng mình ngày đó xuân thì,
Tiếc không khăn gấm, quạt quỳ trao tay.
Gìn vàng, giữ ngọc cho hay,
Lửa hương ta hẹn kiếp này, kiếp sau.
Áo bay thương lúc qua cầu
Trăng vàng, mây bạc mái đầu thướt tha.

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
Của tin gọi một chút này:
Tóc mai sợi trắng, sợi phai
Lấy nhau đặng cũng thương hoài ngàn năm!

Thơ làm tai Phòng Giam 20 FG Nhà Tù Chí Hòa Tháng 10, 1988, khi nghe tin Thái Thanh đã sang Mỹ.

o O o

Rừng Phong. Ngày 16 Tháng Tư, 2015.

Tôi viết bài này để ghi dấu : Thái Thanh bị Bệnh Già – Quên – đã bốn năm. Đã hơn 1000 ngày đêm Nàng sống trong một Nursing Home ở Cali. Nghe nói nay Nàng không nhớ, không biết – Nàng đã quên – những người thân quen của Nàng.

Tôi mong trong vài sát-na, Thái Thanh đọc và hiểu những giòng chữ này tôi  viết về Nàng.

Trên Wepekeida, trong bài viết về Thái Thanh, người viết kể câu thơ của tôi là:

“Em hát cho tan vàng, nát đá
Em hát cho Anh biết ngậm ngùi..”

Câu Thơ Thái Thanh của tôi là:

“Em hát tan vàng, ca nát đá
Em hát cho Anh biết ngậm ngùi…”

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Dzô Dzang.

Thư gửi đến Rừng Phong Ngày 5 Tháng 4, Năm 2015.

Kính gởi Ông Công Tử Hà Đông

Tôi có đọc bài “Théc Méc Tháng Tư” của ông và theo thiển kiến của tôi thì có lẽ ít ai chịu hoang phí thì giờ để đọc một câu chuyện mà tôi nghĩ là hơi vô duyên một chút về một ông bà nào đó đã sống với nhau 60 năm, đã cùng nhau qua Cầu Đoạn trường; hoặc ông nào đó là NGƯỜI VN YÊU VỢ NHẤT THẾ GIỚi (!) ..v..v..trừ phi ông ta là một người phi thường xuất chúng như Mahatma Gandhi hoặc Lý Quang Diệu, hoặc cụ bà Nhật Bản thọ 117 tuổi vừa qua đời cách đây vài tuần lễ.

Tôi làm thơ ( có lẽ nói là làm vè thì đúng hơn):

Người khiêm tốn thì ai cũng mến
Ông kiêu căng, kẻ ghét, người khinh
Dẫu nằm “phơi rốn”, khoe hình
Người người ngoảnh mặt, thối rình, trời ơi!!

Kính chào Ông.

Công Nương Hà Tây, một độc giả của Saigon Nhỏ viết ở Rừng Xim.

Sao Y Bản Chính

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 162 other followers