• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

ĐI TÂY

Cô đầm nằm hút trong một tiệm hút ở Sài Gòn năm 1950. Cô để chân trái lên cái gối sứ, loại gối đặc biệt của những tiệm hút chủ nhân Tầu.Loại gối này lâu rồi không còn nữa ở Việt Nam.

Cô đầm nằm hút trong một tiệm hút ở Sài Gòn năm 1950. Cô để chân trái lên cái gối sứ, loại gối đặc biệt của những tiệm hút chủ nhân Tầu.Loại gối này lâu rồi không còn nữa ở Việt Nam.

– Bẩm cụ… Vậy là lần này cụ nhất định đi ạ?

– Phải đi chứ chú. Không đi không được. Các cháu chúng nó giục quá. Chúng nó muốn tôi qua chơi bên ấy từ đầu năm, tôi lần chần mãi. Không đi thì phụ lòng các cháu.

– Dạ.. Cụ đi chơi là phải. Các ông, các bà ấy đã có lòng…

vanTrong gian phòng êm vắng như tờ, không có cả tiếng quạt máy chạy rì rì. Phòng không có quạt máy là bởi vì nơi đặt bàn thờ Cô Ba Phù Dung, nói trắng ra là bàn đèn thuốc phiện – đôi khi còn được gọi là “pờ-la-ti” hay “bàn đọi” — là nơi rất kỵ gió. Tối kỵ nữa là đằng khác. Dù trời có nóng đến chẩy mỡ, chẩy dầu, dù nhà có cả chục cây quạt máy, nơi đặt bàn đèn cũng không dùng quạt. Quạt là có gió, mà có gió thì ngọn đèn dầu thế nào cũng bị ảnh hưởng, hút không được. Vì vậy, buổi tối trong gian phòng nhỏ này, chỉ có ngọn đàn dầu lạc là sáng. Ông chủ nhà và cũng là chủ bàn đèn, người được gọi là cụ, không thích đèn sáng. Bàn đèn không cần đèn điện; bàn đèn chỉ cần có ngọn đèn dầu lạc, và ngọn đèn dầu lạc cứ thắp sáng là đủ rồi. Mọi thứ đèn khác đều là thừa.

Cụ nằm một bên khay đèn, chú nằm bên kia. Chú tiêm thuốc, cụ hút. Cụ và chú đang nói chuyện về một chuyến đi. Chuyến đi thật xa. Xa đến tận bên trời Tây, tức là qua nửa bên kia của trái đất. Cụ đi sang Pháp quốc nói chung, Paris nói riêng. Cụ có hai ông con sống bên Pháp. Ông là kỹ sư, ông là bác sĩ. Cả hai ông đều có vợ đầm. Các ông không về nước thăm bố mẹ được. Để hiển dương lòng hiếu và phụ tử tình thâm, hai ông mời hai cụ sang Pháp chơi.

Việc đi sang Pháp chơi được coi là giấc mộng vàng của nhiều người Việt Nam, những người Việt từng thán phục nền văn minh của nước Đại Pháp, cái nước có công khai sáng nước An Nam. Cả những anh nghèo rớt mồng tơi, nghèo lõ đít, kiết xác, kiết xơ cũng thầm ao ước: “Mình mà được đi sang Pháp chơi thì đã quá.”

Nhưng đó là chuyện của người thường. Trường hợp của cụ thì lại khác hẳn. Tất cả mọi người đều có thể đi sang Tây nếu có điều kiện, riêng cụ thì không thể. Vì cụ nghiện thuốc phiện. Và những người nghiện, những đệ tử của Nàng Tiên Nâu, đều kỵ phải đi xa, nhất là đi sang Tây, nơi thuốc phiện bị cấm ngặt, nơi thuốc phiên hiếm và đắt hơn vàng.

Cụ là một công chức hồi hưu. Thời tại chức, nhờ bổng lộc nhiều, lại có quyền thế nên cụ cho được hai ông con sang Tây học. Khi thành tai, hai ông không về nước. Chuyện sang Tây du học, thành tài, trở về nước phục vụ, đồng bào với mấy ông này là chuyện khôi hài nhạt. Về nước làm cái quái gì? Nước nhà chưa có những nhà máy lớn, những phòng thí ngiệm xứng đáng được dùng khả năng của các ông. Về nước để ngồi bàn giấy, làm những việc lẩm cẩm, phí tài học của các ông. Ở Pháp, các ông có việc làm tốt, có nhà, có vợ đầm, con các ông Tây lai Việt nhưng nói toàn tiếng Tây. Dù có bị người Tây cho là người Tầu, người Nhật cũng chẳng sao. Tự ái mẹ gì. Những bà vợ đầm của các ông da trắng, mắt xanh, tóc vàng sợi nhỏ  không hào hứng theo chồng về Đông Dương. Nếu các quan Đại Pháp còn cai trị mấy nước Đông Dương như cách đây năm mươi năm thì may ra các bà đầm có thể chịu về chơi quê chồng. Về chơi, không ở luôn.

Nhưng, như đã nói, việc sang Tây chơi là giấc mơ của nhiều người Việt nhưng lại lá ác mộng của những ông người Việt đệ tử của Phù Dung Tiên Nữ. Ông cụ từng khất đi, khất lại mấy lần. Có lần sổ thông hành đã có, vé máy bay đã mua, tiền đã đổi, hành lý đã gửi, cụ chỉ còn việc lên Air France, cụ lăn đùng ngã ngửa ra, cụ đau, cụ không đi đái được, cụ đái không ra. Cụ phải vào Grall nằm, và tất nhiên là chuyến đi Tây của cụ phải hoãn lại.

Nhưng hoãn gì thì hoãn cũng đến lần hoãn cuối cùng. Ông con năn nỉ quá, cụ không thể không đi. Trừ phi cụ từ chối hẳn:

“Thầy già rồi, thầy không đi xa được nữa. Con nhớ thầy thì về thăm thầy.”

Chú đến làm thuốc cho cụ cũng nghiện – tất nhiên – chú nghiện đói, nghiện rách. Chú thường đến hầu thuốc cụ để cụ cho hút, cho sái. Phong trào chích choác giờ đây lên cao như hỏa tiễn, thuốc phiện đắt hơn vàng, sái thuốc phiện đắt như vàng. Người ta tìm được thuốc phiện dễ hơn là tìm được sái. Những ông có bàn đèn ở nhà thường tích sái lại để bán, để đổi lấy thuốc. Cụ ông đây dư giả nên cụ có thể cho chú chứ không bán. Bàn đèn này của ông cụ là nguồn cung cấp sái rất vững của chú.

Cụ trạc 65 tuổi, chú trạc 40. Cả hai cùng hút đã lâu nên cùng già trước tuổi. Cả hai cùng gầy đét, cùng xanh như hai tầu lá chuối non. Từ ngày rước bàn thờ Cô Ba về nhà, cụ ông đã dậy cụ bà tiêm thuốc, nhưng cụ bà không thích nằm bên bàn đèn, và đàn bà tiêm thuốc phiện thường không điệu nghệ như đàn ông. Lại còn những lúc đèn hư, bấc rối, bấc không ăn dầu, nhĩ tụt, dọc tắc. Sự có mặt của chú bên bàn đèn của cụ đôi khi thật là cần thiết. Do đó cụ tiếp chú bằng sự nồng hậu làm chú thấy ấm lòng.

Biết mình là kẻ đến tiêm thuốc cho chủ nhà để được hút, được cho sai, chú rất cẩn thận trong lời ăn, tiếng nói. Với chuyến đi Tây của chủ nhân chú không góp ý kiến gì ngoài việc tán thành những quyết định của ông cụ.

– Tôi phải đi, chú ạ. Người ta muốn đi  mà không được đi, mình có dịp đi mà không đi là uổng.

– Dạ. Cụ đi chơi là phải. Người ta có bạc triệu chưa chắc đã đi được.

– Các cháu chúng nó xa tôi, chúng nó nhớ tôi. Chúng nó về thì không tiện, nước nhà đang có chiến tranh.

– Dạ. Các ông ấy về đâu có tiện. Thời buổi này người ta muốn đi không được; dại gì mà về. Lỡ ra có chuyện như Tết Mậu Thân.

Giọng nói của cụ có âm thanh lo âu:

– Sang bên đó thì đầy đủ mọi thứ. Các con tôi có nhà, có xe. Chỉ lo có mỗi một chuyện là sang bên đó là phải nghỉ hút. Bên đó cái trò này hiếm lắm.

Chú nín im, chờ đợi cụ cho biết cụ giải quyết việc hút ra sao, chỉ có hai bàn tay chú là hoạt động.

– Nhưng tôi cũng chẳng lo gì lắm. Nhân dịp, tôi nghỉ ít tháng cho khỏe người. Tôi đem đi vài lạng bỏ vào chai rượu thuốc. Lúc nào cần thì uống cho ấm. Cai ít tháng, có chết ai.

– Dạ, thưa cụ. Mình thích thì mình chơi, mình nghỉ ít ngày đâu có sao. Cụ đi nhiều lắm là vài tháng, về lại chơi. Bên ấy lạnh, mát. Sang bển có khi cụ không cần rựơu thuốc lắm ạ.

– Có khi không cần đâu nhưng mình cứ phải đề phòng.

– Dạ. Hai cụ đi chơi chuyến này chắc là ăn Tết ở bển?

– Không. Chúng tôi về chứ. Bên Tây làm gì có Tết. Từ giờ đến Tất còn những bốn tháng. Chúng tôi ở bển nhiều lắm là hai tháng. Hai tháng chơi với các cháu là đủ rồi.

– Dạ. Hai tháng là đủ lắm rồi. như vậy là vào khoảng Tháng Chạp ta hai cụ về?

– Cuối tháng Một hay đầu tháng Chạp.

– Thế nào mà các ông, các bà ấy chẳng giữ hai cụ ở lại.

– Giữ cũng chẳng được. Tết nhất chúng tôi phải về chứ. Phải cúng giỗ tổ tiên, ông bà. Ba ngày Tết bỏ đâu có được. Tôi lại là con trưởng.

Chú tính nhẩm: vậy là nguồn cúng cấp sái của chú sẽ bị ngừng trong vài tháng giáp Tết. Tạm ngừng thôi nhưng ngừng tạm cũng là ngừng. Chú hy vọng trước khi đi cụ sẽ cho chú một bịch sái lớn gấp đôi, gấp ba những bịch sái hàng tháng trước đó.  Gần Tết chú mới trở lại thăm cụ. Đi Tây về lần này chắc chắn cụ sẽ có món tiền lớn do các ông con chung góp. Còn chú, chú sẽ đi kiếm ăn nơi khác. Trời sinh, trời dưỡng. Lo gì. Vả lại cụ cũng không phải là người cung cấp duy nhất của chú. Vài ba ngày chú mới tới cụ một lần.

Bữa ấy được coi là bữa hút chia tay. Hai người, một già một chưa già nhưng cũng không còn trẻ, hút một bữa thật say. Sau đây, chú sẽ lau chùi bàn đèn, cụ sẽ cất bàn đèn vào tủ. Trưa mai cụ lên phi cơ, sáng mai cụ dùng rượu thuốc, để đi máy bay cho đỡ mệt. Cụ quyết định như thế, chú tán đồng hoàn toàn; đi máy bay đã mệt rồi, lại say thuốc nữa thì khó chịu lắm.

o O o

Anh nghiện á phiện nạo sái. Tranh vẽ trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư.

Anh nghiện á phiện nạo sái. Tranh vẽ trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư.

Đã hai lần cụ định đi rồi hoãn, rồi không đi. Lần này cụ đi thật. Chú được cụ cho một lạng thuốc, hai lạng sái trước khi chia tay. Số sái chú bán được 2 ngàn đồng, chú hút đủ trong một tháng, theo lối hút tần tiện của chú. Vợ chú bán bánh cuốn ở đầu ngõ. Chú đóng góp công sức vào công việc của vợ bằng cách mỗi sáng chú dậy từ 4 giờ để xay bột cho vợ chú tráng bánh. Số tiền bán sái chú dùng hết, không chia cho vợ đồng nào.

Chừng nửa tháng sau ngày cụ đi tình cớ chú gặp ông bạn chú. Ông bạn này cũng nghiện như chú. Trước đây ông bạn cũng đói rách như chú nhưng bây giờ thì ông khá rồi. Nhờ quân đội Mỹ vào Việt Nam đánh cộng sản, họ sống và làm giầu cho một số người Việt. Ông bạn chú theo bà vợ đi thầu đổ rác cho căn cứ Mỹ. Đổ rác Mỹ là việc làm ra tiền không ai ngờ. Bốc hốtdập gẫy  trong vòng mấy năm, ông bạn trở thành triệu phú. Trước đây ông bạn chú cũng đi hút lang thang, lưu động như chú trong những tiệm hút, nay ông đặt bàn đèn ở nhà, thuốc mua từng ký, vừa rẻ vừa ngon, an ninh tối đa. Các ông nghiện có cái tật thích có bạn hút, cần có bạn hút hợp tính, đấu hót. Đó là cái lý do làm cho nhiều ông nghiện có bàn đèn ở nhà vẫn mò đến tiệm hút gặp anh em. Các ông đã hút đủ ở nhà, các ông đến tiệm hút thêm để được gặp anh em. L1y do thứ hai là các ông thích nằm hút thoải mài do người khác tiêm thuốc.

Chú được ông bạn đưa về nhà, cho hút và đề nghị:

– Toa đến đây hút với moa. Đi tiệm vất vả. Bị vồ thì khổ.

Hai người đi đến thỏa ước: mỗi ngày chú được cung cấp 5 phân thuốc, mỗi tháng chú được cấp 500 đồng, chú phải đến đúng giờ tiêm thuố cho ông bạn bót. Ông bạn có khách đến chơi, chú phải tiêm thuốc cho những ông này. Nói tóm lại chú bà bồi tiêm của ông bạn. Chú d0ãn nhận công việc ấy một cách hoan hỉ. Chú chẳng mong đợi gì hơn là có một nơi nằm hút yên tĩnh, an ninh, có một số thuốc đều mỗi ngày mà không phải chi. Thời buổi khó khăn này, người hút ít như chú không mấy tiệm muốn tiếp. Đến tiệm, hút xong chú phải bốc đi ngay, không được nằm phi bên bàn đèn, hút đủ đô nằm phi bên bàn đèn là một lạc thú của giới tiên ông.

Nay chú không còn có ý kiến riêng nữa. Ý kiến bây giờ của chú là ý kiến của người có thuốc cho chú hút. Chú đồng ý về mọi vấn đề theo ý của ông bạn chủ bàn đèn. Cuộc giao hảo giữa chú và ông bạn diễn ra tốt đẹp. Chú thấy lời các cụ nói thật đúng: “Ở hiền gập lành.” Chú vì hiền lành nên được ông bạn thương, đem về cưu mang. Chú nằm đây thật an ninh. Bàn đèn riêng lại kín như thế này, muôn năm “Sẹc bài trừ “cũng không biết. Mà có biết cũng không sao, nhân viên bài trừ ma túy ít khi để ý đến những bàn đèn tư gia, họ chỉ thích vồ những tiệm lớn, đông khách.

Nhưng cuộc đời không đẹp, không êm như chú tưởng. Tai bay, vạ gió thường đến những lúc nạn nhân không ngờ nhất. Vào một buổi trưa khi chú đàng nằm múa tiêm, ông bạn chủ nhân đang nằm hút, thời gian hòa lẫn với không gian đang êm ả bỗng rộn lên những tiếng chân giầy lên thang lầu. Chú vừa kịp ngóc đầu lên nhìn đã thấy khuôn mặt người lạ nhưng lại rất quen của nhân viên cảnh sát bài trừ ma túy. Người đi đầu rút ngay cặp còng ra còng cổ tay khẳng khiu của chú vào cổ tay chân gà của ông bạn chú. Việc làm thứ hai của viên cảnh sát bận thường phục này llu7po75m vái dọc tẩu lên tay trong khi chủ nhân bàn đèn ú ớ nói không ra tiếng.

Cuộc lục xoát sau đó kéo dài lê thê nhưng nhân viên bài trừ không tìm thấy gì. Một bộ bàn đèn đang hút, chừng một lạng thuốc. Vậy là hết. Tang vật chỉ có thế. Chủ nhà có cả ký thuốc nhưng nhân viên cảnh sát không tìm thấy. Nhưng chỉ cần bộ bàn đèn đã đủ để chủ nhà và ông khách bị bắt, đưa về nhà giam quận cảnh sát, chờ ra biện lý; họ sẽ bị tống giam vào Nhà Tù Chí Hòa chờ ngày ra tòa.

Bàn đèn riêng không tiếp khách, không bán chác gì hết, tại sao lại bị lộ? Tai vạ, những tai bay, vạ gió, thường đến bất ngờ như tất cả những cái gọi là tai bay, vạ gió ở cõi đời này. Nguyên nhân tại vạ được tóm tắt như sau:

Một ông bạn của chủ nhân là thương gia giầu tiền, ông này xuất ngoại. Vì nghiện, ông mang theo một số thuốc phiện trong hành lý. Nhân viên khiểm xoát ở phi trường tìm thấy số ma túy này. Trong hộp đựng mau túy có danh thiếp của mấy ông bạn ông thương gia. Trong số có danh thiếp của ông chủ bàn đèn. Ngay trong ngày nhân viên quan thuế  phối hợp vớ cảnh sát đến khám xét mấy địa chỉ trên những danh thiếp. Tất cả những địa chỉ này đền có dính líu đến ma túy.

Tù một thương gia đi ngoại quốc đến chú bồi tiêm tài tử không có liên hệ gì với nhau; nếu có liên hệ thì đó chỉ là sự liên hệ giữa hai kẻ cùng hội, cùng thuyền. giữa hai người cùng nghiện. Ông thương gia xuất ngoại, chú nghiện không hay biết, nhưng khi ông thương gia bị vồ, chú nghiện bị vồ luôn.

Ông bạn chủ bàn đèn vì có tiền nên đỡ khổ hơn chú. Chú nhận bàn đèn là của chú  để chịu tội thay ông bạn. Bù lại, ông bạn chú gửi thuốc, gửi tiền vài tù chó chú, ông chạy tiền cho chú được nhẹ tội. Ra tòa chú bị tòa phạt hai tháng tù ở.

Chú ra khỏi khám vào một ngày cuối năm. Thành phố đang náo nhiệt sửa soạn ăn Tết. Năm nào Tết đến người ta cũng than vật giá lên cao nhưng người ta vẫn mua sắm mo1ib thứ để đón Tết. Dường như ai cũng có món tiền, lớn nhỏ, để chi cho Tết, riêng nhân vật trong truyện này là không có lấy năm chục bạc. Chú buồn sầu đi lang thang trong đường phố đông người. Khi ngồi nghỉ trên ghế xi-măng trong công viên trước chợ Bến Thành, chú bỗng nhớ tới cụ.

– Chắc ông cụ ở bên Tây về rồi. Mình còn đợi gì mà không đến thăm cụ?

Hy vọng được có bữa hút cuối năm làm chú thấy mạnh và hăng hái đi đến nhà ông cụ.Chú chi 10 đồng cuối cùng vào cuốc xe lam từ chợ Bến Thành đến chợ Tân Định. Xuống xe chú đi phăng phăng đến nhà cụ, hai chân chú như mọc cánh.

Căn nhà quen thuốc đây rồi. Sau khung cửa này là bộ bàn đèn sáng choang, là cuộc sống với chất khói thơm thấm vào lục phủ ngũ tạng, đáng thức dậy cái tiềm lực đang nằm rũ trong đó. Cọc.. cọc.. Chú gõ lên cánh cửa gỗ như mọi lần đến chú vẫn gõ như thế.

Khuôn mặt người đàn bà chứng bốn mưi – bà vợ kế của cụ — hiện ra giữa khung cửa mở:

– Lậy cụ ạ – Chú chào vui như chưa bao giờ vui thế – Hai cụ đi Pháp về đã lâu chưa ạ? Hôm nay chác mới đến thăm được hai cụ.

Chú theo cụ vào nhà, hai bàn tay xương sẩu xoa vào nhau, chú nói líu tìu tìu:

– Bẩm cụ.. Hai cụ đi Pháp chơi vui chứ ạ? Cụ ông cháu chắc khỏe hơn. Dạ bẩm.. Cháu xin cụ tha lỗi chứ cháu trông cụ trẻ hẳn ra đấy.

Sự thực là chú không khen tặng láo, cụ bà có vẻ trẻ hơn; điều chắc chắn và thấy rõ là cụ bà mập hơn, hồng hào phây phây hơn. Nhưng chú sững sờ khi thấy cụ bà rầu rầu vẻ mặt, như người muốn khóc. Lạ chưa kìa! Chú có nói gì thất thố đâu.Bu74s thuốc hôm nay phèo hay sao đây?

– Buồn quá chú ơi..

Chú choáng váng khi nge cụ bà nghẹn ngào:

– Ông nhà tôi mất rồi còn đâu.

Chú ú ớ:

– Bẩm..cụ ông…mất ?

– Dạ phải. Ông nhà tôi mất ở bên Pháp. Ông nhà tôi qua bển được một tháng thì đau, các cháu đưa vào nhà thương lớn nhất, đắt tiền nhấ ở Paris..Ông nhà tôi…

“Ông nhà tôi… Ông nhà tôi..”  Hai tai chú ù ù, cơn mệt mỏi trở lại với chú dũ dội hơn trước, hai đầu gối chú mềm nhũn, chú ngồi như ngã xuống ghế. Cụ đã chết; mà lại chết ở tận bên Tây. Thế là hết. Bữa hút hôm nay phèo. Phèo…!

Chú ngồi đờ người, nước mắt, nước mũi chú ứa ra. Chú khóc mà không biết mình khóc. Nhưng cụ bà biết chú khóc. Vẻ đau thương của chú làm cụ bà cảm động, cụ tưởng chú khóc vì thương cụ ông, chú thật có tình.

Cụ bà kể lể một hồi. Chú nghe tiếng được, tiếng mất, tiếng đực, tiếng cái; âm thanh như hơi gió từ trong hai lỗ tai chú phào ra..Chú choàng sống lại khi cụ bà đặt cái hộp Guigoz lên bàn:

– Có cái này biếu chú.. — Cụ bà sụt sịt – Ông nhà tôi trước khi đi có để sẵn cái hộp này, dặn tôi đến Tết biếu chú.

Hộp sái. Hai con mắt ướt lèm nhèm của chú sáng lên. Nếu sái trong hộp Guigoz này mà lèn chặt, sái phải có tới bốn, năm lạng. Mỗi lạng sái, thuốc tinh tốt như thuốc cụ ông hút, giá rẻ bây giờ cũng là 1500 đồng. Chú có thể có 10.000 đồng nhờ hộp sái này. Sức lực trở lại với chú, tay chú tự đông đưa lên quẹt mũi. Chú dùng tay áo chấm nước mắt.

– Xin cụ cho cháu được dâng cụ ông nén nhang..

Bàn thờ cụ ông đặt trong căn phòng trên gác, căn phòng từng đặt bàn đèn. Bức hình cụ  giữa bàn thờ chiếu đôi mắt hiền từ nhìn chú. Chú thành kính thắp nén nhang, đưa lên trán lẩm nhẩm khấn rồi vái cụ.

Ôm hộp sái trước ngực, chú đi phăng phăng trong phố, Buổi tối cuối năm trời hơi lạnh. Con đường trước chợ Tân Đinh sáng choang ánh đèn, người ta chen chân nhau đi. A..Tết đến đít rồi. Mình cũng phải mua sắm chút gì cho tụi nhỏ. Tội nghiệp..Ông cụ đi Tây chắc là thiếu thóc. Nên đi tầu suốt. Đúng là đi Tây. Mẹ kiếp. Đã nghiện oặt lại già cấc, đi Tây làm gì cho nó khổ. Cứ ở nhà hít đều chưa chắc đã tịch. Cụ bà còn phây phây, còn lấy chồng được, không chừng còn đẻ được năm, bẩy tí nhau ấy chứ lại

Đến lúc này chú mới chợt nhớ là trong lúc vội vã, bối rối  chú quên hỏi cụ bà có đem được cụ ông về nước không, hay là cụ ông nằm luôn ở bển.

Hoàng Hải Thủy.

o O o

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Một ngày gần Tết Nhâm Thân, 2016.

“Đi Tây”  đăng trong VĂN GIAI PHẨM XUÂN  NHÂM TÝ, phát hành ở Sài Gòn ngày 1 – 2- 1972. 

“Đi Tây” Truyện ngắn tôi – Hoàng Hải Thủy — viết trong một ngày gần Tết Nguyên Đán năm Nhâm Tý – 1972 — Năm 2015, sống những ngày cuối đời tôi ở Kỳ Hoa Đất Trích, một sáng tôi được điện thư của một bạn đọc:

“Anh có nhớ truyện Đi Tây anh viết năm xưa không?”

Tôi không nhớ gì hết về truyện Đi Tây.

Người bạn gửi cho tôi số báo VĂN XUÂN NHÂM TÝ. Tôi buồn vui khi VĂN XUÂN NHÂM TÝ đến Rừng Phong. Người bạn đã mang tập VĂN này theo khi bạn đi khỏi nước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Bạn đã giữ tập VĂN này trong gần 50 năm. Sau nửa thế kỷ, tôi cảm khái đọc những dòng chữ tôi viết khi tôi còn trẻ. 

Tôi chép lại truyện Đi Tây, không sửa một chữ. Tôi gửi Đi Tây đến các bạn.

Tôi cám ơn bạn HV, người đã mang tập VĂN XUÂN NHÂM TÝ sang Kỳ Hoa, người đã giữ tập VĂN trong 50 năm.

Cảm khái cách gì!

Đại Úy HHT

tientuyen
Ngày xưa ấy là những năm 1966, 1967, tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến.  Nhật báo Tiền Tuyến do Cục Tâm Lý Chiến xuất bản, phát hành như nhật báo tư nhân, nhân viên 50% là quân nhân, 50% là ký giả thường dân. Thời gian đầu tòa soạn Tiền Tuyến ở nhà in Hợp Châu, đường Cống Quỳnh; rồi vào trong khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến, đường Hồng Thập Tự.

Tòa soạn Tiền Tuyến những năm ấy có: Phan Lạc Phúc (Ký giả Lô Răng), Huy Vân, Dương Ngọc Hoán, Viêm Hồng, anh Vũ Uẩn  (cựu võ sĩ quyền Anh Làng Bốc-sơ Bắc Kỳ những năm 1935-1940), họa sĩ Hĩm (Đinh Hiển).

Khi tòa soạn ở nhà in Hợp Châu, nhật báo Tiền Tuyến có Hoàng Anh Tuấn; khi tòa soạn vào Cục Tâm Lý Chiến; Hoàng Anh Tuấn lên Đalat làm quản đốc đài Phát thanh Đalat.

Những năm ấy, tôi hút một ngày khoảng 50 điếu thuốc lá.  Ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng; vợ tôi dậy từ 4 giờ, đun nước, pha cho tôi ly cà phê đen — để đó — nàng vào giường ngủ tiếp với các con; tôi rửa mặt, bận y phục, hút khoảng 3 điếu thuốc đầu tiên trong ngày, uống ly cà phê đen vợ tôi pha, ra khỏi nhà; đến tòa báo lúc 6 giờ sáng.

Những sáng cuối năm trời lạnh, trời Sài Gòn, lúc 5 giờ sáng có khi còn trăng sao.  Từ 6 giờ đến 9 giờ; ngồi làm việc trong tòa sọan, tôi hút khoảng 5, đến 6 điếu thuốc. Thuốc Mỹ: Lucky, Pall Mall, Philip Morris Vàng. Đến 9 giờ sáng; bụng tôi cồn cào, dạ dày tôi chỉ có chất cà- phê đen, trong phổi tôi chỉ có khói thuốc và ni-cô-tin — tôi phải ăn sáng để hoá giải chất khói và cà phê trong tôi.

Nữ diễn viên Điện Ảnh Như Loan và Nhà Văn Văn Quang.

Nữ diễn viên Điện Ảnh Như Loan và Nhà Văn Văn Quang.

Cục Tâm Lý Chiến những năm ấy chưa có căng-tin.  Cục cho phép chị vợ một hạ sĩ quan mở một quán cà-phê, nước ngọt, hủ tíu, cơm; cho binh sĩ có nơi ăn uống, mà không phải ra ngoài trại.  Quán ăn ở góc trại, mái tôn, vách tôn, có chừng 4, 5 cái bàn nhỏ.  Gần như sáng nào trong tuần, vào khoảng 9 giờ; tôi cũng vào quán này ăn sáng; để khỏi phải đi xa; và, ăn xong, còn phải trở vào tòa soạn làm việc tiếp.

Tôi chỉ ăn sáng một trong 2 món: bánh mì ốp-la, hay bánh mì  ra-gu.  Mỗi sáng, chị chủ quán thường bảo con trai chị, trạc 11, 12 tuổi:

phamhuan“Ra hỏi Đại úy, sáng nay ăn gì?”

Ăn xong, tôi uống ly cà-phê đen; và, chỉ uống cà-phê đen; nên thấy tôi ăn sáng xong, không cần hỏi tôi uống gì, chị bảo con:

“Bưng cà- phê, Đại úy”.

Năm 1952, khi tôi làm lính Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền, đơn vị thuộc Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Trần Tử Oai là Trưởng Phòng 5; tôi mang lon Trung sĩ (Sergent)

15 năm sau tôi trở lại Cục Tâm lý chiến; và, được chị chủ quán gọi là Đại úy.  Ấy là, dù tôi chỉ mặc đồ ‘si-dzin’ (civil) thường dân; nhưng vì tôi hay ngồi ăn sáng trong quán với ông Đại úy Nguyễn Quang Tuyến – nhà văn Văn Quang — và ông Đại úy Phạm Huấn, 2 ông Đại úy, vào năm 1966- 67 làm việc trong tòa soạn Chiến sĩ Cộng hòa, tòa báo này ở ngay cạnh tòa soạn báo Tiền Tuyến — nên, gần như ngày nào tôi cũng được gặp, hay nhìn thấy 2 ông.

Hai ông cũng hay ăn sáng, cà-phê ở quán trong Cục.  Chị chủ quán biết tôi làm trong tòa báo Tiền Tuyến, chị không thấy tôi mặc quân phục, mang lon Đại úy; có thể chị không biết tên tôi; song, chị thấy tôi thuờng ngồi ăn sáng với 2 ông Đại úy quân phục, lon lá đàng hoàng; là Đại úy Văn Quang, Đại úy Phạm Huấn, chị thấy tôi trạc tuổi hai ông; tôi có thái độ ngang hàng với hai ông; và, hai ông cũng có thái độ ngang hàng với tôi, hai ông mày tao với tôi, tôi mày tao với hai ông —  chị nghĩ tôi cũng là Đại úy, chị gọi tôi là Đại úy.

Cho đến một sáng, tôi ngồi ăn một mình.  Ăn xong, tôi nghe chị chủ quán bảo con:

“Bưng cà- phê, Thiếu tá ”

Tôi hơi lấy làm lạ.  Chị chủ thường ngày gọi tôi là Đại úy; sao hôm nay chị lại gọi tôi là Thiếu tá. Tôi ‘théc méc’ tí chút, rồi quên ngay — đang là Đại úy, có bị người ta gọi là Trung úy mới ‘théc méc’, là Đại úy được gọi là Thiếu tá, ‘théc méc’ cái gì?

Về tòa soạn làm việc tiếp; tôi thấy 3, 4 ông sĩ quan vào phòng, chúc mừng Đại úy Phan Lạc Phúc vừa lên Thiếu tá.  Và tôi biết tại sao hôm nay chị chủ quán lại gọi tôi là Thiếu tá; chị được biết trong Cục,  có mấy ông Đại úy vừa được lên Thiếu tá, trong đó có ông Đại úy báo Tiền Tuyến; nên chị nghĩ cấp bậc mới của tôi là Thiếu tá; chị gọi tôi là Thiếu tá.

Trong số sĩ quan đến chúc mừng Thiếu tá Phan Lạc Phúc sáng hôm ấy, có Đại úy Nguyễn đình Phúc, ông Đại úy này còn có tên là ‘Phúc Khàn’; và, ông cũng vừa lên Thiếu tá hôm qua.  Thấy 2 ông Thiếu tá Phúc trong phòng; tôi tức cảnh làm câu đối:

Phúc Lạt, Phúc Khàn, hai Phúc thiếu
Quang Văn, Quang Vũ, một Quang thừa

Hai ông sĩ quan tên Đình Phúc, Lạc Phúc cùng là Thiếu tá. (Lạc, nói theo giọng Nam, đôi khi nghe như Lạt.)

Năm ấy Cục trưởng Cục Tâm Lý Chiến là Đại tá Vũ Quang; Cục lại có ông Đại úy Văn Quang (Nguyễn quang Tuyến.)

Quân tử Tàu nói: “… Quốc gia, triều đại mà có ‘vũ quang’, tức ‘vũ sáng’; hay, có ‘văn quang’ là ‘văn sáng’– là nước được trị.” Cục Tâm Lý Chiến những năm 1966, 67; có cả  hai Vũ: ‘vũ quang, văn quang.”

Năm 1988, đi tù CS về; ông Văn Quang trên răng, dưới dép’; căn nhà trong Cư xá Chu Mạnh Trinh của ông bị bọn Bắc Cộng chiếm, ông không có nhà ở; cả 4 bà vợ ông đều đã ‘sang sông’, nôm na và huỵch tẹt là đã vượt biên, vượt biển sang Huê Kỳ.  Viết các bà “sang sông” là không đúng; đúng ra phải viết là các bà “qua biển.”

Sống độc thân giữa thành phố Sài Gòn cờ đỏ; ông Văn Quang viết tiểu thuyết tình vô thưởng vô phạt, ký tên ‘tác giả dzởm’  bán cho nhà xuất bản.

Những năm ấy các ông lái sách Sài Gòn đặt mua tiểu thuyết mới của các ông văn sĩ Sài Gòn cũ, yêu cầu tác giả để bút hiệu khác.

* Thập niên 80, (thế kỷ trước ) có điều luật không thành văn là ‘Không cho nhà văn Sài Gòn trước 1975 được tái bản sách xuất bản trước 1975, và không được viết truyện mới.’ Những tiểu thuyết các ông nhà văn Sài Gòn viết sau năm 1980 không được để tên đúng của tác giả.

Văn Quang là nhà văn thứ nhất — có thể là nhà văn Sài Gòn duy nhất — đi học ‘khoá sử dzụng computer’ ở nhà trường hẳn hoi; học có bài bản, bí kíp đàng hoàng; ông cũng là người ‘sử dzụng computer’ thứ nhất, nhuần nhuyễn nhất, trong số những ông nhà văn Sài Gòn cũ nay còn viết lách ở Sài Gòn cờ đỏ.

Vì những lý do riêng, không phải vì ghét Mỹ; nhà văn Văn Quang, Trung tá Nguyễn Quang Tuyến (1933- ) không đi H.O sang Huê Kỳ. Từ năm 2000, ông viết loạt bài ‘Thiên hạ sự’ gửi qua Internet, sang các nước Âu Mỹ — loạt bài thời sự viết về Sài Gòn,  được người Việt hải ngoại theo dõi, tìm đọc.

Khoảng tháng 2/ 2009, Công an Tp.HCM đến nhà riêng của Văn Quang; lấy đi tất cả dàn máy computer; nhà văn bị gọi đến cơ quan để khai báo, về những bài ông viết gửi ra nước ngoài.

Khi ấy ông nhắn những ông bạn viết của ông ở hải ngoại ‘đừng làm ồn ào vụ ông’ vì ông được đối xử hòa nhã, lịch sự  v.v … — ông cũng muốn tỏ ra hòa nhã đối xử lại…’

Đã 5, 6 tháng qua, ‘Lẩm cẩm Sài gòn thiên hạ sự’ hết còn xuất hiện trên một số báo Việt ở hải ngoại; và, 300 bài ‘Lẩm cẩm…’ trữ trong máy, mất luôn —  đôi khi tôi thấy tôi – CTHĐ — không viết gì về Văn Quang cũng kỳ, bạn đọc người Việt ở hải ngoại có thể, nghĩ:

” … Những người khác bị CACS cấm viết; thì, ông chửi ‘loạn cào cào’; đến khi bạn của ông bị nó sờ đít; ông im thin thít, như gái ngồi phải cọc.”

Những năm 1991, 92 có lần tôi nói với Văn Quang: “Tao chỉ được ‘mày, tao’ với mấy thằng mày, toàn là Trung tá. Nếu không có gì thay đổi, Quốc gia mình, Quân đội mình còn đến hôm nay thì mày thấy: những thằng nào trong số bọn mày có thể lên được ‘Tướng’ để,tao được ‘mày, tao với ‘Tướng’?”

Văn Quang trả lời ” …Nhiều thằng lắm chứ.”

oOo

Rừng Phong, Virginia, January 2016

Tôi viết bài trên khoảng năm 2000. Hôm nay, Ngày Một Tháng Giêng 2016, tôi viết thêm:

Đại Tá Vũ Quang những năm 2000 sống ở Minnesota, Kỳ Hoa. Tôi không biết năm nay – 2016 – ông ra sao.

Trung Tá Phan Lạc Phúc hiện sống ở Sydney, Úc.

Hoàng Anh Tuấn, Phạm Huấn qua đời ở Cali, Kỳ Hoa.

Anh Vũ Công Uẩn qua đời ở Sài Gòn.

Văn Quang hiện sống ở Sài Gòn. Hĩm Đinh Hiển ở Cali.

Đại Úy Phạm Huấn là sĩ quan Quân Lực Quốc Gia VNCH duy nhất bận quân phục đúng chụp ảnh giữa thành phố Hà Nội. Năm 1973 ông ở trong Ban Kiểm Xoát Đình Chiến Quốc Tế nên ông có dịp về Hà Nội.

Hôm nay – Ngày Một January 2016 – tôi biết trọn đời tôi, tôi không được mày tao với một ông Tướng nào.

o O o

Thơ Xuân Đất Khách (Thanh Nam)

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .

Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .

Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .

Seattle, mùa xuân 1977 .

Từng Hẹn Mùa Xưa…

Những thiếu niên - nhi đồng trong Trung Đoàn Thủ Đô, Hà Nội năm 1947.

Những thiếu niên – nhi đồng trong Trung Đoàn Thủ Đô, Hà Nội năm 1947.

Tháng 12, 2015, tôi gửi bài Viết ở Rừng Phong này đến những vị quí bạn đọc năm nay tuổi đời Tám Bó. Tôi nghĩ quí vị phải là những thiếu niên 14, 15 tuổi năm 1946, sống ở miền Bắc, quí vị mới cảm khái khi đọc những dòng chữ này.

Tôi ghi lại trong bài này những bài hát tôi từng hát năm 1946, năm tôi 14 tuổi. Nếu ông bạn ở Kỳ Hoa năm nay Tám Bó, nếu ông bạn 14, 15 tuổi năm 1946, ông bạn sống ở Bắc Kỳ, tôi chắc ông bạn biết và ông bạn còn nhớ những lời ca này.

Chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Sài Gòn rất sớm, chiến tranh lan ra thật nhanh trong miền Nam Việt Nam. Thời ấy miền Nam gọi theo ngôn ngữ Việt Minh là Nam Bộ. Chỉ vài ngày sau ngày Quân Đội Pháp, theo chân Quân Đội Anh vào miền Nam tiếp nhận cuộc đầu hàng của Quân Đội Nhật, người Pháp đã gây chiến ở Sài Gòn. Viết “Quân Đội Pháp theo chân Quân Đội Anh vào miền Nam…” là không đúng. Những ngày cuối Tháng Tám 1945 có khoảng 5000 người Pháp – là lính Pháp, và công chức Pháp, thường dân Pháp, sống ở Việt Nam. Những người Pháp này bị Quân Đội Nhật bắt giam trong những trại tập trung. Quân Anh vào miền Nam giải thoát họ, cấp võ khí cho họ, và số người Pháp này dưới sự bảo vệ của quân Anh, đánh chiếm những công sở ở Sài Gòn.

Một số Tin trích trong tác phẩm “Hai Mươi Năm Qua. 1945-1954.” HMNQ. Tác giả Đoàn Thêm:

Ngày 3 Tháng 10, 1945. Một đoàn quân Pháp do Tướng Leclerc chỉ huy, đến Việt Nam. Ngày 5/ 10/ 1945 Tướng Leclerc đến Sài Gòn, tuyên bố “Sẽ bình định Nam Bộ.

CTHĐ viết thêm: Đây là đơn vị lính Pháp thứ nhất từ Pháp Quốc đến Việt Nam sau ngày kết thúc Thế Chiến Thứ Hai. Số lính này đến Sài Gòn bằng tầu biển, họ lên bộ ở Vũng Tầu. Trong số lính này có nhiều binh sĩ người da đen được Pháp tuyển ở những quốc gia châu Phi thuộc Pháp. Có ông lính về sau nổi tiếng là Tổng Thống Bokassa. Khi đến Việt Nam, Trung sĩ Bokassa trú đóng ở Gò Vấp. Ông lấy vợ Việt, có cô con gái Martine Bokassa. Mãn thời hạn đăng lính, Sergent Bokassa về nước. Ông bỏ bà vợ và cô con gái ông ở lại Gò Vấp. Năm 1970 Sergent Bokassa thành Tổng Thống. Ông tìm bà vợ Việt của ông và cô Martine Bokassa. Bà vợ Việt của ông đã có chồng khác, cô Martine được ông bố nay là Tổng Thống đón sang sống với ông.

Chú liên lạc viên đi công tác mùa mưa ở Bắc Việt năm 1948. Chiếc áo tơi này, hình như, chỉ có ở đồng quê miền Bắc.

Chú liên lạc viên đi công tác mùa mưa ở Bắc Việt năm 1948. Chiếc áo tơi này, hình như, chỉ có ở đồng quê miền Bắc.

Tiến trình Quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ.

9/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh.

20/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Mỹ Tho.

28/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Gò Công.

29/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Vĩnh Long.

30/10/1945. Quân Pháp chiếm đóng Cần Thơ.

19/11/ 1945. Quân Pháp chiếm đóng Nha Trang.

1/12/1945. Quân Pháp từ Nha Trang tiến lên chiếm đóng nhiều vùng ở cao nguyên.

20/1/ 1946. Quân Pháp chiếm đóng Rạch Giá.

4/2/1946. Quân Pháp chiếm đóng Cà Mâu.

7/4/1946. Quân Pháp đến Nam Định.

21/6/1946. Quân Pháp chiếm đóng Pleiku và Kontum.

8/7/1946. Quân Pháp chiếm đóng Lạng Sơn.

17/7/1946. Quân Pháp chiếm đóng Đồng Đăng.

18/12/1946. Tự Vệ Hà Nội và Lính Nhẩy Dù Pháp bắn nhau ở Chợ Đồng Xuân.

19/12/1946. 8 giờ tối, Nhà Máy Điện Hà Nội bị phá, thành phố tối đen. Súng nổ. Cuộc Chiến Việt Pháp nổ ra trên khắp nước Việt Nam.

o O o

Đầu Tháng 12, 1946, gia đình tôi tản cư về làng quê mẹ tôi – làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Sống ở quê ngoại tôi ít ngày, thầy mẹ tôi biết không thể sống lâu đến mấy năm ở đây. Thầy mẹ tôi đưa anh em tôi trở về căn nhà ở tỉnh lỵ Hà Đông. Khi ấy chiến tranh đã nổ ra ở Hà Nội. Gia đình tôi không thể từ Hà Đông đi ra Hà Nội, qua Cấu Sông Cái để về quê nội tôi ở Gia Lâm, một làng quê ven bờ sông Đuống. Chúng tôi phải đi lên vùng gần Văn Điển, đi đò qua sông Hồng, sang phủ Văn Lâm ở bên kia sông, đi bộ về làng quê tôi ở phủ Gia Lâm. Ngày ấy đi trên cánh đồng, anh em tôi trông thấy những chiếc phi cơ Spitfire bắn phá những vùng quanh phi trường Gia Lâm. Nhìn lại, tôi thấy những vùng khói bốc lên ở Hà Nội.

Năm 1947, tôi ở trong Ban Kịch Thiếu Nhi Gia Lâm. Anh Dũng, người là Ủy Viên Thanh Niên Gia Lâm, tổ chức Ban Kịch này. Ban Kịch chỉ có 5 chú thiếu niên bằng tuổi tôi. Tôi mang theo được khoảng 10 số báo Thắng Tiến của Hội Hướng Đạo. Trong số có những vở kịch Ngắn Hướng Đạo. Ban Kịch chúng tôi diễn những vở kịch này ở những đình làng trong phủ. Diễn kịch ở làng nào, người làng ấy nuôi cơm chúng tôi. Khán giả toàn những người trẻ, dễ tính,không đòi hỏi gì nhiều.

Vài tháng sau, lính Pháp hành quân qua vùng làng tôi. Ban Kịch tan hàng.

Một chiều anh em chúng tôi được anh Dũng đưa đến gặp anh Đại Đội Trưởng Vệ Quốc Quân. Anh em tôi ngồi quanh anh nghe anh nói chuyện. Trong những lời anh nói có câu:

“Các anh chiến đấu dành đôc lập cho các em sống hạnh phúc.”

Bẩy mươi năm qua, hôm nay tôi nghe văng vẳng lời nói ấy.

Năm 1949 tôi được lên Việt Bắc dự Khóa Huấn Luyện Tình Báo. Tôi sống ít ngày ở Trạm Giao Liên chờ anh em từ miền suôi lên, cùng đi đến trường. Một chiều anh em tôi ra đồi đào sắn. Tối ấy sáng trăng, anh em tôi ngồi ngoài sân quanh rổ sắn luộc. Tôi là chú nhỏ trong anh em. Một anh lớn chỉ tôi:

“Bọn anh đi kháng chiến. Đó là bổn phận của các anh. Chỉ thương những em như em. Ở tuổi em giờ này em phải được sống trong tình yêu thương của cha mẹ em, em được đi học. Vậy mà em cũng đi chiến đấu như các anh.”

Khi Ban Kịch Thiếu Niên tan hàng, có một tổ tình báo đến ở nhà ông bác tôi. Tổ này có các anh Tường Lan, Quốc Bảo, Quốc Ấn, Trần Trung Thành. Toàn là bí danh. Anh Trần Trung Thành là anh họ tôi, anh được gọi là anh Ba Tê. Tôi có cảm tình với anh Tường Lan. Anh trạc 30, 35 tuổi, anh để râu như ông Hồ Chí Minh. Anh thường cho tôi đi theo anh trong những chuyến anh đi công tác trong vùng. Một hôm anh nói với tôi:

“Anh đổi công tác. Anh sẽ hoạt động ở nơi khác. Em có muốn đi theo anh không?”

Tất nhiên là tôi muốn, anh nói:

“Đi theo anh là em phải thoát ly gia đình. Em phải xin phép mẹ em.”

Tôi đi theo anh Tường Lan mà không nói gì với mẹ tôi. Tôi biết nếu tôi nói, mẹ tôi sẽ không cho tôi đi. Một đêm tôi theo anh Tường Lan đi qua sống Đuống. Khi ấy quân Pháp đã chiếm đóng vùng quê tôi, đã đóng đồn trên đê sông Đuống, bên kia sông là miền Việt Minh. Chỉ ban đêm mới có thuyền chở người qua sông Đuống. Tôi theo anh Tường Lan qua sông ban đêm. Qua sông, chúng tôi ngủ trong một quán trọ ven đường. Sáng dậy tôi nhìn thấy vầng mặt trời lên ở phương Đông. Buổi sáng nắng vàng tuyệt đẹp.

Trên đò đêm sang sông tôi thấy một thiếu nữ trạc tuổi tôi. Hình ảnh người thiếu nữ ấy làm tôi năm 1950 viết truyện ngắn “Người con gái áo xanh.” Truyện đoạt Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn năm 1950 của Nhật báo Tiếng Dội. Tiền của Truyện Giải Nhất là 3.000 đồng.

Anh Tường Lan để tôi ở lại cơ sở Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm ở Yên Phong, Bắc Ninh. Anh không gọi tôi đi theo anh. Vài năm sau tôi được tin anh qua đời ở Lạng Sơn.

Đây là những bài ca tôi hát năm tôi 14 tuổi. Những bài hát của Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi…

Bài hát thứ nhất “Thu trên Đảo Kinh Châu.” Năm nay – 2015 – tôi tìm bài hát trên Internet. Tác giả bài hát này là Nhạc sĩ Lê Thương.

Thu trên đảo Kinh Châu

Đàn chim bay thiết tha, trên núi cao miền xa 
Mang theo những nỗi buồn mộng mơ
Nguồn thảm sầu đã qua.
Khi ta đi liễu đang còn xanh lá
Trong đám cây oanh hót vài lời ca để chòng đám hoa

Ngày nay cúc đẫm thâu, hoa héo khô vì đâu.
Chim oanh nhắc tiếng một vài câu để thương đời cúc thâu
Sông Kinh Châu có con buồm trắng
Gió thu mang người biệt ly vào cảnh sầu đó chăng 

Tôi hát nhiều nhất những bài ca của Văn Cao.

Suối mơ
Bên rừng thu vắng,
giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng.
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương.

Suối ơi!
Ôi nguồn yêu mến,
còn ghi khi bóng ai tìm đến.
Đàn ai nắn buông lưu luyến.
Suối hát theo đôi chim quyên.

Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối .
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi .

Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người.
Trong chiều nào giữa chốn đây,
Hồn cầm lắng tiếng đời.

Suối ơi!
Nghe rừng heo hút.
Giòng êm đưa lá khô già trút.
Còn như lưu hương yêu dấu .
Với suối xưa trôi nơi đâu .

Ơi… Ông Bạn Tám Bó của tôi, tôi chắc ông – như tôi, – không nhớ toàn bài nhưng còn nhớ một số lời những bản nhạc này:

Thiên Thai.

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kìa đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
Theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi
Chắc không đường về Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên.

Với tôi, Thiên Thai là bài ca Tuyệt Nhất của Văn Cao.

Bẩy mươi mùa lá rụng trôi qua đời tôi, tôi còn nhớ lời bản Bắc Sơn của ĐỖ NHUẬN

Bắc Sơn

Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gió
Ðau lòng bao năm sống lầm than đây đó
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừng
Còn vang khe núi tiếng quân oai hùng
Lớp lớp chiến đấu Lạng Sơn tung bay cờ
Rồi vùng đồi núi nhớ bao nhiêu hận thù
Dân quân du kích. Cách mạng bùng mùa thu
Sao vương bóng cờ bay trên chiến khu

Bắc Sơn! Ðây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn
Giặc Pháp tàn ác giày xéo
Từng xác ngập đất máu xương
Nhà đốt, cầm giáo cầm súng
Dân quân vùng ra sa trường
Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa
Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!
Bắc Sơn! Ðây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn
Giặc Pháp tàn ác giày xéo
Từng xác ngập đất máu xương
Nhà đốt, cầm giáo cầm súng
Dân quân vùng ra sa trường
Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa
Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!

Và bài NHỚ CHIẾN KHU

Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều.
Bên đèo lắng suối reo ngàn thông réo.
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo đạn bay vèo.
Hôm nay đây vai vác súng trông mây, trăng gió buồn đứng.
Chiều vàng nhớ núi rừng.
Chiều nay xa chiến khu trên đường về.
Sương chiều lác đác rơi trời dần tối.
Rừng sâu xa, núi cao cao mờ.
Tiếng quân hò lời chưa dứt dưới bóng cờ.
Thôi chia ly vai vác súng trông mây trăng gió buồn đứng
Chiều vàng nhớ núi rừng.

 Đỗ Nhuận 

Một trong những bài được giới thiếu niên chúng tôi hát nhiều năm xưa ấy là bài DIỆT PHÁT XÍT củ Nguyễn Đình Thi:

Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than 
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Loài phát xít cướp thóc lúa cướp đời sống dân mình
Đồng bào tuốt gươm vùng lên
Diệt phát xít giết bầy chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ cộng hòa
Mau mau mau, vai kề vai, không phân già trẻ trai hay gái.

Ta đi lên, ta tiến lên, ta diệt quân thù 

Việt Nam,Việt Nam,Việt Nam
Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm
Việt Nam,Việt Nam muôn năm

o O o

Tuổi Đời Tám Bó, sống ở quê người, tôi nhớ những bài ca tôi từng hát năm tôi 14 tuổi ở quê hương.

Cảm khái cách gì.

Ơi.. Những ông năm nay Tám Bó Tuổi Đời…. Những ông năm 1946, 1947 ..là những thiếu niên 15, 16, 17 tuổi.. Đọc bài viết này các ông có xúc động chút nào không?

CTHĐ

Đừng bao giờ ngừng Hy Vọng

Bưu thiếp của Amnesty International gửi gia đình Hoàng Hải Thủy, Tháng 12 năm 1985.

Bưu thiếp của Amnesty International gửi gia đình Hoàng Hải Thủy, Tháng 12 năm 1985.

Tôi nhìn thấy “Nó” vào một buổi sáng đầu năm 1986 trong phòng người tù gập mặt thân nhân trong Nhà Tù Chí Hòa.

“Nó” đây là tấm bưu thiếp của Amnesty International – thường được gọi tắt là Amnesty Intern – tên Việt Nam là Ân Xá Quốc Tế. Những người Việt thường nói đến Amnesty Intern là những người Việt Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bị bọn Bắc Cộng giam tù, và vợ con họ.

Tôi bị bắt Tháng Tư năm 1984. Sau một năm ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của bọn Công An Thành Hồ, bọn Công An VC đưa tôi sang nằm phơi rốn chờ ra tòa trong Nhà Tù Chí Hòa.

Theo thủ tục giam giữ tù nhân của bọn Bắc Cộng, người tù chưa ra tòa, chưa có án, không được gặp mặt vợ con. Nhưng vợ con người tù biết chạy mánh: “có tiền, tìm gặp cán bộ, biếu xén quà cáp..v..v..” vẫn có thể xin được giấy phép vào Nhà Tù Chí Hòa gập người tù. Giấy phép này do bọn cán bộ ở Tòa Án Sài Gòn cấp. Một nhân viên Tòa Án giữ hồ sơ của một số tù nhân Chí Hòa. Nhân viên này có quyền phát giấy cho phép thân nhân người tù Nhà Tù Chí Hòa gập mặt người tù, dù người tù chưa có án.

Mấy tháng cuối năm 1985 mấy ông bị bắt cùng với tôi: Doãn Quốc Sĩ, Duy Trác, Trần Ngọc Tự.. đều được ra gặp mặt vợ con nhân Ngày Thăm Nuôi. Tôi nóng lòng muốn phát điên vì tôi muốn, tôi thèm gặp vợ con tôi mà tôi không được gập.

anxa4Gần đến ngày tôi phải ra tòa, tôi nhắn vợ tôi:

“Bằng mọi giá, cho anh được gặp mặt em.”

Năm 1990, mãn án tù 6 năm, trở về mái nhà xưa, vợ tôi kể:

“Em hỏi các bà ấy bằng cách nào xin được giấy phép gặp mặt, xin ở đâu. Không bà nào chịu nói. Sau Giang nó hỏi dò được biết giấy phép gặp mặt tù phải xin ở tòa án. Giang tìm được chị cán bộ giữ hồ sơ của anh. Nó làm quen với chị này, biếu quà..”

Nhờ con gái tôi, một buổi sáng đầu năm 1986 tôi nhìn thấy “Nó” trong Nhà Tù Chí Hòa. “Nó “đây là tấm bưu thiếp của Amnesty Intern – Ân Xá Quốc Tế – Vơ tôi – đứng bên kia lưới sắt – nhìn quanh thấy tên cai tù giải tù ra gặp mặt vợ con không để ý, nàng để tấm bưu thiếp lên tấm gỗ lưới sắt. Qua lưới sắt chia cách, tôi nhìn tấm thiếp mầu xanh, và – năm ấy mắt tôi còn sáng – tôi đọc được hàng chữ:

Never give up Hope, because we never will.”

Vợ tôi cất tấm thiếp đi ngay. Nếu tên cai tù trông thấy, nó sẽ tịch thu tấm thiếp. Tôi sẽ bị nó xét hỏi. Vợ tôi có thể bị cấm gửi thức ăn cho tôi vì “tội liên lạc với  tổ chức phản động  nước ngoài.”

Tôi được gặp vợ tôi trước ngày tôi bị đưa ra tòa. Qua lưới sắt, vợ tôi cho tôi thấy tấm thiệp Amnsety Intern. nàng nói với tôi:

“Anh nhớ nhé. Ra tòa dù chúng nó có tuyên án anh bao nhiêu năm tù, dù em có khóc, có ngất đi, anh cũng đừng xin chúng nó khoan hồng. Chúng nó sẽ đưa lời xin của anh lên báo.”

Anh Sáu Khôi, một bạn tù cùng phòng với tôi, đứng cạnh tôi, anh nghe được lời vợ tôi nói. Trưa ấy, trong lúc anh em tù ăn cơm, anh Sáu Khôi nói cho cả phòng cùng nghe:

“Làm vợ người làm chính trị phải như bà vợ ông Thủy. Bà ấy dặn ông chồng không được xin khoan hồng khi ra tòa. Vợ mấy ông khi gặp chồng thì khóc, trách làm chi để vợ con khổ, được cái gì..”

Những ngày như lá, tháng như mây..Buổi sáng năm xưa, năm1986 trong Nhà Tù Chí Hòa. Nay, khi tôi viết những dòng chữ này là 11 giờ đêm Tháng Mười năm 2015, tôi viết trong một tòa nhà dành cho người già thu nhập thấp ở Virginia, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi vừa ghi tấm thiếp vào computer của tôi. Tôi còn cái computer này, tôi còn “Nó”: Tấm thiếp Amnesty Intern.

December 1985 To the family of Hoang Hai Thuy. From Cristine Goyma, a member of Group 17 ( Geelong ) Australian Section of Amnesty International. Never give up Hope, because we never will!

December 1985
To the family of Hoang Hai Thuy.
From Cristine Goyma, a member of Group 17 ( Geelong ) Australian Section of Amnesty International.
Never give up Hope, because we never will!

1986 – 1996 – 2006 – 2015 ….Ba mươi năm.. Tấm thiếp Amnesty Intreen gửi đi từ thành phố Melbourn, Australia, đến nhà tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, vào Nhà Tù Chí Hòa gặp tôi, nay đến với tôi ở Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Kiều Giang gửi thư cho tôi:

“Con mới tìm lại được tấm thiếp này trong số giấy tờ của con. Còn đã tưởng mất nó.”

Cùng với tấm thiếp là bức thư của cô Christine Goyma gửi cho tôi năm 1996 khi mãn tù tôi trở về mái nhà xưa. Cô Goyma cho tôi biết chi hội của cô được Tổng Đàn Ân Xá Quốc Tế chỉ định giúp đỡ người tù Hoàng Hải Thủy. Chi hội giúp tôi về tinh thần và cả tiền bạc. Biết vợ con tôi không có điều kiện gửi thực phẩm tiếp tế cho tôi, các vị trong chi hội góp tiền, tháng tháng gửi cho vợ tôi. Cô Goyma được các vị trong chi hội ủy quyền đại diện liên lạc với vợ con Hoàng Hải Thủy. Năm 1998, tôi được các bạn tôi bên Úc giúp phương tiện cho sang Sydney, Melbourn. Người bạn tôi ở Melboun đưa tôi đến trụ sở Amnesty Intern.

Năm 1986 những vị trong Amnesty Intern Melbourn đều làm việc tự nguyện, không có tiền lương. Nhân viên Amnesty Intern. trên khắp thế giới năm ấy chắc đều làm việc không lương như thế. Năm 1998, nhân viên Amnesty Intern — ở Úc — có lương tháng. Rất tiếc cô Goyma không còn ở Melbourn. Những vị trong chi hội năm xưa — chừng 10 vị — ký tên trong thư gửi tôi, đều đã chuyển đi làm việc và sống ở những nơi khác.

Amnesty International được thành lập ở Anh quốc năm 1961.

Người thành lập Amnesty Intrern là ông Peter Benenson, một luật gia người Anh. Lúc đầu hội chỉ lo việc xin khoan hồng, xin ân xá cho những người tù vì lương tâm, vì tranh đấu cho nhân quyền trong nước Anh. Năm 1963 hội phát triển trên khắp thế giới. Hiện có tới 1000 chi hội Amnesty Intern. hoạt động trên toàn cầu.

Ông Peter Benenson được gọi là:

“The man who fought for the forgotten.”

Người tranh đấu cho những người bị bỏ quên.

Ông Peter Benenson nói về biểu tượng của Amnesty Intern: Ngọn nến cháy trong vòng dây thép gai:

The candle burns not for us, but for all those whom we failed to rescue from prison, who were shot on the way to prison, who were tortured, who were kinapped, who “disappaered.” That what the candle is for.

Once the concentration camps and the hell-hole of world were in darkness. Now they are lit by the light of The Amnesty Candle, the candle in barbed wires.

When I first lit the Amnesty candle, I had in mind the old Chinese proverb:

“Better light a candle than curse in the darkness.”

Phỏng dịch:

Cây nến không cháy cho chúng ta, nó cháy cho những người mà chúng ta đã không cứu ra được từ những nhà tù, những người bị bắn trên đường đến nhà tù, những người bị hành hạ, những người bị bắt cóc, những người “biến mất.” Ngọn nến cháy cho những người đó.

Có thời những trại tập trung và những nơi là địa ngục của thế giới chìm trong bóng tối. Nay những nơi đó được soi sáng bởi ánh sáng của cây nến Ân Xá Quốc Tế, cây nến trong những vòng dây thép gai.

Khi tôi lần đầu thắp sáng ngọn nến Ân Xá, tôi nhớ câu cách ngôn Trung Hoa:

“Nên thắp sáng một cây nến hơn là nguyền rủa trong bóng tối.”

Peter Benenson.

Thư của Writers in Prison Committee – International PEN, gửi gia đình Hoàng Hải Thủy.

Thư của Writers in Prison Committee – International PEN, gửi gia đình Hoàng Hải Thủy.

Tháng Giêng  năm 1990 mãn hạn tù 6 năm, trở về mái nhà xưa, tôi được thư của cô Christine Goyma;

5 March 1990.

Dear Mr Thuy

How overjoyed I was to receive your letter written from freedom !..!. I was overwhelmed with happiness for you and your family. On behalf of the other friends you have here in Geelong we send our love and very best wishes to you and your family. Words can not adequately express our elation and joy upon your news.

I shall write to the other fiends you have to inform them of your home – coming, and will wait eagerly to receive more news from you.

I must ask, did your dear wife receive two amounts of money ( cash ) we sent her via Vietnam Diffusion? We are hesitate about sending more in case the other has not arrived safely.

What are your plans now? I have been making inquiries on your family’s behalf concerning the US, ODP. Is it your wish to seek a legal departure, or you wish to remain in your home? I hope it is safe to ask such questions in this letter.

How is your health? How is your wife’s health? I had so many questions to ask. Maybe one day we can meet in person and exchange stories about what have passed.

I remain your friend  always.

Christine Goyma.

Phỏng dịch:

Ngày 5 March 1990

Ông Thủy thân.

Tôi mừng quá khi tôi nhận được bức thư ông viết trong tự do. Tôi quá vui  cho ông và gia đình ông. Nhân danh những người bạn ông ở Geelong tôi gửi tình yêu thương và những lời chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi đến ông và gia đình ông. Lời nói không đủ để diễn tả nỗi mừng vui của chúng tôi khi nhận được tin ông.

Tôi sẽ viết thư ngay cho những người bạn của ông để báo cho họ biết ông đã về nhà, chúng tôi mong nhận được nhiều tin khác của ông.

Tôi phải hỏi, bà vợ ông có nhận được hai khoản tiền ( tiền mặt ) chúng tôi gửi bà qua Vietnam Diffusion? Chúng tôi do dự trong việc gửi thêm vì ngại số đã gửi không đến nơi an toàn.

Nay ông có những dự định gì? Tôi đã hỏi, nhân danh gia đình ông, Hoa Kỳ và ODP. Ông muốn ra đi hợp pháp hay ông muốn sống trong nhà ông? Tôi mong không có gì phiền nhiều cho ông khi tôi hỏi ông những câu trong thư này.

Sức khỏe của ông ra sao? Sức khỏe của bà vợ ông ra sao? Tôi có nhiều câu để hỏi ông. Mong có ngày chúng ta gập nhau và nói cho nhau nghe những gì đã xẩy ra.

Tôi mãi mãi là bạn của ông.  

Christine Goyma.

Như đã viết: 8 năm sau ngày tôi nhận được lá thư của cô Chritine Goyma, tôi đến Melbourn, nhưng tôi không được gặp cô. Tôi rất tiếc.

Đây là thư của PEN Intern.

INTERNATIONAL P-E-N
Writers in Prison Committee
38 King Steet, London, England.

Mme Hoang Hai Thuy

259/29 A Cach Mang Thang Tam. Quan Tan Binh, Ho Chi Minh City.

Dear Madam,

The Writers in Prison Committee is anxious for news of your husband, anh hope that there is some way in which you can tell us how he is and how often you are able to visit him? We know that he is not at all well even in 1984, and we would like to know if there are any medecines which you need and which we could send you?

With best wishes to you and your family.

Yous sincerely.

K.V. Simson

Thưa bà,

Tiểu ban Văn Sĩ bị Tù lo âu muốn biết tin về ông chồng bà, chúng tôi mong bằng cách nào đó bà cho chúng tôi biết nay ông ấy ra sao, và bao nhiêu lâu bà được thăm gập ông ấy? Chúng tôi bết ông ấy không được khỏe lắm từ năm 1984, chúng tôi muốn biết những thứ thuốc bà cần mà chúng tôi có thể gửi đến bà?

Chúc bà và gia đình bà những lời chúc tốt đẹp nhất.

K.V. Simson

Là người tù Việt Nam được các vị trong Hội Amnesty Intern, Hội PEN Intern, thương và cứu giúp, tôi cám ơn các vị.

CTHĐ

Le Parisien: Hoang Hai Thuy a refusé de se taire

Dưới đây là bản dịch bài báo viết về “Biệt kích dzăng bút Hoàng Hải Thủy” đăng trên nhật báo Le Parisien, Tháng Tư năm 1988. Người viết là Nữ ký giả Catherine Monfazon:

Đáp ứng lời kêu gọi của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới – L’Association Reporters sans frontières – 38 cơ sở truyền thông Pháp quốc đã nhận bảo lãnh mỗi cơ sở một ký giả bị tù vì làm tròn công việc của mình. “Le Parisien” tự chọn tranh đấu cho sự tự do của Hoàng Hải Thủy, ký giả Việt Nam, hiện đang bị bỏ quên trong một trại lao động cải tạo.

Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp quốc không những chỉ vận động để đưa ông Thủy ra khỏi nhà tù mà còn, theo sự đòi hỏi của gia đình ông ta, đưa ông ta ra khỏi quốc gia của ông ta…

Hoàng Hải Thủy không chịu câm miệng

Đừng nói đến cái tên Hoàng Hải Thủy ở Việt Nam, nói đến cái tên đó trong điện thoại, đường dây sẽ bị cắt, trong đường phố những đôi mắt sẽ nhìn xuống đất. Được nhờ đến, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, được coi như là một động lực của công cuộc đổi mới của Việt Nam, sẽ bực bội gạt bạn sang Bộ Tư pháp, một cách từ chối, không tiếp khéo léo.

Hoàng Hải Thủy năm mươi chín tuổi, đêm đêm nằm ngủ trên tấm ván rộng năm mươi phân giữa ba ngươi người bạn tù chung phòng giam trong trại cải tạo Xuân Lộc, một nơi cách thành phố HCM (Sàigòn) một trăm hai mươi cây số. Những lời buộc tội thật mơ hồ “Lên tiếng chống chủ nghĩa cộng sản” Người ta trách ông ta đã gửi ra nước ngoài những bài thơ, bài viết không sao có thể đăng được trong những tờ báo Việt Nam bị rọ mõm.

Hoàng Hải Thủy biết rất rõ những người cộng sản. Bên cạnh họ ông đã tham gia kháng chiến năm 1945. Nhưng kề từ đó ông chỉ đi theo một con đường: nhân bản. Thi sĩ, văn sĩ, ký giả, dịch giả: ông được nhiều người biết vì tính tình hay nói thẳng, vì niềm hăng say tố cáo những sự bất công. Ông tự ý làm những việc ấy. Trước năm 1975 ông công khai chỉ trích chế độ cũ trên những tờ báo châm biếm như tờ Con Ong (nghĩa đen là con ong chuyên châm chích). Ông cũng là viên chức của Trung tâm Thông Tin Hoa Kỳ, USIS.

Năm 1974, ông dịch “Trăm năm cô đơn” của Garcia Marquez. Bản dịch truyện này bị cấm xuất bản. Bản dịch “Quần đảo ngục tù” (Archipel du Goulag) cũng bị cấm. Lần này là đảng cấm. Sau năm 1975 Hoàng Hải Thủy phải sống nhịn nhục. Nhưng ông từ chối không chịu im tiếng. “Ông ấy không thể im lặng trước những đau khổ của đồng bào ông. Ông ấy tức giận khi thấy bọn cán bộ kêu gọi người khác hy sinh nhưng chính chúng lại sống như vương giả”. Đấy là lời một người bạn của Hoàng Hải Thủy nói về ông.

Năm 1977 ông ta đã bị bắt lần thứ nhất, bị giam hai mươi ba tháng trong nhà tù Chí Hòa. Vừa ra khỏi tù, ông lại cầm bút. Ông bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, ông bị xử ở tòa án. Người bạn của ông nói tiếp về ông:

“Trong phiên xử, ông ấy có nói ông không viết vì thù hận chính quyền mà viết để chống lại tất cả những kẻ dối trá từ trong trái tim…”

Bị tuyên án sáu năm tù Hoàng Hải Thủy chỉ được trả tự do vào tháng Năm năm 1990. Ông còn phải chịu đựng nhiều tháng sống trong trại cải tạo vì thái độ tự do tư tưởng của ông, một thái độ mà cái chính phủ vẫn tự nhận là đã mở nắp nồi và đổi mới vẫn không thể chấp nhận được.

Nữ ký giả Catherine Monfazon
Nhật báo Le Parisien

Quý vị vừa đọc bản dịch bài báo của nữ ký giả Catherine Monfazon, Nhật báo Le Parisien, ấn hành ở Paris. Năm 1988, nữ phóng viên Monfazon đi Bắc Kinh, Trung Quốc, rồi đến Hà Nội và thành phố HCM. Vì nhật báo Le Parisien nhận bảo trợ và đòi trả tự do cho người viết Hoàng Hải Thủy, cô Monfazon tìm đường đến gặp vợ con Hoàng Hải Thủy. Khi cô thất vọng hoàn toàn và sắp lên phi cơ về Paris tình cờ cô gặp một người bạn của Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy cô đến được căn nhà nhỏ của vợ chồng Công Tử Hà Đông trong Cư xá Tự Do giữa Ngã ba Ông Tạ và Ngã tư Bảy Hiền.

Đây là bài báo Nữ ký giả Monfazon viết về vợ con Hoàng Hải Thủy đăng cùng trên trang báo Le Parisien với bài báo trên.

Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu ông ấy

Hoàng Hải Thủy và cả gia đình ông phải trả giá đắt vì niềm khao khát tự do của họ. Nhưng họ vẫn sát cánh với nhau và họ hy vọng.

Đêm đen như mực ở thành phố HCM. Cô con gái của Hoàng Hải Thủy, Giang, ba mươi hai tuổi, di chuyển vòng vèo giữa rừng xe đạp và xe xích lô trên chiếc xe gắn máy mua trả góp. Cô dừng xe trong một xóm đông dân cư. Con đường trở nên sình lầy. Im lặng. Giang dựng xe trước cửa vào nhà, cạnh mấy chuồng gà. Anh con và bà vợ Thủy chờ đón chúng tôi. Vài cái ghế, hai cái giường không nệm, một tủ lạnh rỉ sét, sân nhà lát gạch bông đỏ trắng rất sạch: tất cả toát lên một sự nghèo túng được che dấu cẩn thận.

Mái tóc bạc được chải tươm tất, xanh xao, rất gầy, rất đường hoàng, bà vợ của Thủy nói tiếng Pháp lần thứ nhất từ hơn hai mươi năm nay.

Một bức ảnh rất đẹp của ông chồng trang hoàng bức tường lở vôi, bên cạnh hai tờ thông cáo tuyên truyền của cộng sản mà nhà nào cũng phải dán. Đỗ Thị Thủy không được gặp mặt chồng từ hai tháng nay. “Ông bố tôi mạnh khỏe, bà mẹ tôi mới chịu không nổi. Bà mất mười ký lô,” anh con trai hai mươi tám tuổi nói nhỏ.

Họ nói đến ông bố và ông chồng của họ với niềm kiêu hãnh, họ nhắc đến những bài ông đã viết, những bài này đều bị công an tịch thu, những gì ghi lại nỗi tuyệt vọng, sự đau khổ và cái đói của nhân dân. “Ông ấy nói ít, viết nhiều”. Bà Đỗ nói. Tôi hỏi:

 “Có bao giờ bà yêu cầu ông ấy đừng viết để cả nhà được an ninh không?”

“Không bao giờ…” bà trả lời ngay, gần như bà giận dữ vì câu hỏi ấy. Bỗng bà mỉm cười dịu dàng, xúc động:

“Chúng tôi đói, chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi chấp nhận tất cả những cái đó. Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu thương ông ấy, chúng tôi kiêu hãnh vì sự can đảm của ông ấy.”

Cái giá của sự tự do tư tưởng của Thủy là một giá đắt. Để có thể sống, họ phải bán hết. Nữ trang, đồ đạc, quần áo. Đến cả ba ngàn quyển sách của Thủy, từ tủ sách lớn ấy, họ còn giữ được khoảng trăm quyển cất kỹ trong một ngăn tủ nhỏ. Camus, Nabokov, Nietzche, Zola, Sacha Guitry… Những sách này đều được những người con của Thủy đọc đi, đọc lại. Từ nhiều năm nay các con của Thủy bán bánh ngoài đường. Tất cả việc học của họ đều bị cấm. Hiện nay họ đang muốn tin vào việc Thủy sắp được trả tự do. Rồi sau sẽ ra sao? Họ lo âu.

“Ông ấy lại sẽ bị kiểm soát, bị theo dõi khắp nơi. Lại có sợ hãi. Ông ấy có thể lại bị bắt. Chính phủ phải để cho chúng tôi ra đi. Không có tờ báo nào ở đây nhận cho ông ấy làm việc. Với cái tên ấy, ông ấy sẽ bị từ chối ở khắp nơi. Chúng tôi chỉ có thể có tự do ở một miền đất khác. Cô có thể làm gì được không? Ở đây người ta chỉ cho phép chúng tôi im lặng…”

Xin viết cho rõ: Người dịch The Gulag Archipelago của Alexandre Sozhenytsin ra bản Việt ngữ “Quần đảo Ngục tù” là Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú. Anh đã từ trần trong trại cải tạo Phú Khánh khoảng năm 1980. Tôi – HHT – dịch The First Circle của A. Sozhenytsin, “Tầng đầu Địa ngục,”” ấn hành ở Sài Gòn năm 1973.

Năm 1977 đến năm 1979, thời gian là hai mươi ba tháng tôi bị bắt lần thứ nhất ở trại giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Bị bắt lần thứ hai năm 1984 tôi sống bốn mùa lá rụng ngoài song sắt trong Thánh thất Chí Hòa. Nữ ký giả Monfazon viết nguyên văn trong bài “…la presse muselée vietnamienne…” tạm dịch: “… nền báo chí Việt Nam bị rọ mõm…

Năm 1994 nữ phóng viên Catherine Monfazon lại đến Sài Gòn, lần này tôi được gặp cô, được ăn với cô một bữa tối trong nhà hàng Mini của bà Nguyễn Phước Đại đường Nguyễn Du.

Từ năm 1990 tình hình kinh tế tài chánh của những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ ở Sài Gòn có vẻ khá hơn, tôi vẫn dùng xế đạp đi lại loanh quanh khu Ông Tạ, nhưng tôi đã có cái Honda 91. Tôi dùng Honda đến khách sạn đón cô Monfazon, chở cô trở lại căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, nơi cô đã đến năm năm trước. Cô kém Kiều Giang con gái tôi hai tuổi, cô nói thông thạo tiếng Anh. Catherine Monfazon là một trong những người đã đối xử ân cần và giúp đỡ vợ chồng tôi trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi vẫn nhớ ơn cô.

Chúng tôi như những người sắp chết đuối vớ được cái phao – chúng tôi được ấm lòng và có thêm hy vọng để không chết nhờ rất nhiều người, những người bạn ở nước ngoài. Trong khi bọn Việt Cộng thù hận chúng tôi, chúng chỉ muốn chúng tôi khóc mếu, khổ sở, sợ hãi, hèn mạt, chúng cố tình đầy ải cho chúng tôi phải chết hoặc dở sống, dở chết, phải quỳ gối lậy van chúng, những người bạn không quen biết từ xa ngoài vạn dặm đã gửi tình thương cho chúng tôi.

Xin cảm ơn tất cả.

TRONG VEO CẶP MẮT..

Tôi đã viết một số bài về Mai Thảo. Những gì tôi viết về Mai Thảo trong bài Viết ở Rừng Phong hôm nay – Ngày 15 Tháng 10. 2015 – là những chuyện tôi viết lại.

Đêm. Mò trên NET, tôi thấy tấm ảnh của Mai Thảo. Ảnh quá đẹp. Tôi chắc tấm ảnh này được ghi ở Sài Gòn những năm 1955-1960. Năm ấy Mai Thảo trẻ tuổi. Nhìn ảnh Mai Thảo trẻ, tôi nhớ Thơ Thanh Nam:

Trong veo cặp mắt chưa vương bụi
Chăn chiếu còn thơm ngát mộng trai.

 maithaoẢnh Mai Thảo gợi hứng cho tôi viết bài này. Cùng trong đêm qua, tôi tìm thấy bài Mai Thảo viết về:

Những ngày tháng cuối cùng của Vũ Hoàng Chương.”

Bài viết dài, tôi trích vài đoạn đăng ở đây.

Tháng 12 năm 1994 khi những bước chân lưu vong thứ nhất của tôi – như mơ, như thực – đặt trên những thảm lá vàng Virginia. Nôm na là những ngày đầu tôi đến Mỹ. Kiều Chinh, Mai Thảo đang ở Virginia. Kiều Chinh đến đọc diễn văn ở Bức Tường Đen, Mai Thảo từ Cali sang chơi. Anh chị Lê Văn mời tôi đến nhà. Tôi gặp lại Kiều Chinh, Mai Thảo ở nhà anh chị Lê Văn.

Kiều Chinh bảo tôi ngồi bên. Đưa máy ảnh cho Lê Văn, Kiều Chinh nói:

“Chụp cho anh em mình cái ảnh.”

Mai Thảo đưa bàn tay anh ra:

“Bàn tay này của tao đã đẩy ba thằng bạn tao vào lò thiêu. Tao còn thiết gì nữa.”

Ba người bạn Mai Thảo nói đó là Thanh Nam, Vũ Khắc Khoan, Hoài Bắc Phạm Đình Chương.

Mai Thảo, WEB

Mai Thảo (1927-1998), tên thật: Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng; là một nhà văn hiện đại Việt Nam.

thanggiengMai Thảo sinh ngày 8 tháng 6 năm 1927 tại chợ Cồn, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong gia đình giàu có nhờ buôn bán và làm ruộng. Tuy nhiên, nguyên quán của ông là làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm (xưa thuộc tỉnh Bắc Ninh), nay là phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Mai Thảo học tiểu học ở trường làng, học trung học ở Nam Định rồi lên Hà Nội học ở trường Đỗ Hữu Vị; trường này sau đổi tên là trường Chu Văn An.

Năm 1945, ông theo nhà trường sơ tán sang Hưng Yên. Khi chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ năm 1946, ông theo gia đình từ Hà Nội tản cư về quê là chợ Cồn (Nam Định). Sau đó, ông rời nhà vào Thanh Hóa tham gia kháng chiến. Ông viết báo, rồi theo các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên khu III, Liên khu IV đến chiến khu Việt Bắc. Thời kỳ này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn chương ông.

Năm 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến về thành. Năm 1954, ông di cư vào Nam, gia nhập làng báo. Ông viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt… Trước kia, Mai Thảo làm nhiều bài thơ (có cả kịch thơ) từ năm 16, 17 tuổi, khi vào đây ông chuyên viết văn, không còn làm thơ nữa.

Năm 1956, ông chủ trương tạp chí Sáng Tạo, gây được tiếng vang. Năm 1966, ông chủ trương báo Nghệ Thuật, và từ 1974, ông trông nom tạp chí Văn. Ngoài ra, ông còn tham gia chương trình văn học nghệ thuật của Đài Phát Thanh Sài Gòn từ 1960 đến 1975.

Ngày 4 tháng 12 năm 1977, Mai Thảo vượt biển. Sau nhiều ngày đêm trên biển, thuyền đưa nhà văn tới Pulau Besar, Mã Lai.

Đầu năm 1978, ông được người em bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Ít lâu sau, ông cộng tác ở tờ báo Đất Mới với Thanh Nam, ở Seatle, và một số báo khác tại hải ngoại.

Tháng 7 năm 1982, ông tái bản tạp chí Văn, làm Chủ biên Văn đến 1996, vì tình trạng sức khỏe ông trao Văn cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Mai Thảo mất tại Santa Ana, California (Hoa Kỳ) ngày 10 tháng 1 năm 1998.

Thơ Mai Thảo. Tìm được trên NET.

hình tượng

Từ trong cửa tối nhìn ra
Thấy gần: bóng lá, thấy xa: biển trời
Lá lay, bóng cách ngăn đời
Biển im, hình tượng cõi người không ta.

thủy tinh

Trở mình chăn chiếu mênh mông
Giấc mơ chật hẹp vẫn trong cuộc đời
Mộng ta không xóa nổi người
Ðáy đêm còn đọng tiếng cười thủy tinh.

kim

Miếng da bịt mắt thành đêm
Cây kim khâu miệng thành im lặng mồ
Tay chân, dây trói bao giờ
Da, kim, dây ấy bây giờ là ta.

MAI THẢO. Những ngày cuối cùng với Vũ Hoàng Chương.

Trích:

Địa chỉ mới của Vũ Hoàng Chương nguyên là chỗ ở của gia đình thi sĩ Đinh Hùng, em vợ ông. Chỗ ở này sinh thời, Đinh Hùng, tự xưng là Đinh Công Tử, nghịch ngợm đặt tên là động Hoa Lư, trong cái ý nhà vua xưa Đinh Bộ Lĩnh dấy nghiệp ở động Hoa Lư thì Đinh Hùng đời sau cũng có một động Hoa Lư ở phường Cây Bàng, Khánh Hội, Sài Gòn. Đinh Hùng mất, vợ con ông vẫn ở, đây tên Hoa Lư vẫn còn. Nhưng từ khi Vũ Hoàng Chương dọn về ở chung, Hoa Lư còn có thêm một tên mới.

Đó là Gác Bút.

Hỏi tại sao không dùng lại tên Gác Mây của căn lầu trên vùng Phú Nhuận vừa rời bỏ, thi sĩ cười, hóm hỉnh:

“Đổi đời, giờ là Gác Bút mới đúng. Vì Hà Nội nó bắt ta gác hết bút lên rồi, đâu còn cho viết nữa.”

Thời gian này, sức khỏe của Vũ Hoàng Chương đã hết sức suy nhược và gia cảnh thì đã rớt xuống tới đáy cùng của túng thiếu cùng quẫn. Những tháng sau cùng ở Gác Mây, Phú Nhuận, ông đã đau yếu rất nhiều. Trong lồng ngực mỏng, con tim đã yếu. Trên cái vóc hạc, xế chiều đã tới. Vũ Hoàng Chương gần như không ra khỏi nhà nữa. Lên xuống mấy bậc thang lầu, cũng phải đứng lại nhiều lần để thở. Có việc phải đi đâu, bao giờ cũng phải có chị Đinh Kiều Oanh cùng đi. Ở Gác Mây anh em văn nghệ bảo nhau tới thăm ông đau yếu, đem thuốc thang tới nữa.

Về Gác Bút, tình trạng sức khỏe của thi sĩ càng mong manh. Những thiếu thốn vật chất, mặc dầu thi sĩ chẳng còn nhu cầu gì – ông đã bỏ thuốc phiện- càng làm trầm trọng mau chóng sự mong manh ấy. Ở Gác Bút, ông gầy teo, gần như không đi xuống tầng dưới nữa. Nhiều buổi chiều tôi tới, ông đắp một tấm chăn mỏng, nằm mỏi mệt thiêm thiếp trên mặt sàn trống trải, hình ảnh thi sĩ cuối đời hợp nhập với hình ảnh hoàng hôn thẫm mầu đang hắt hiu buông xuống ở chung quanh.

Điều này cũng là một lý do nữa để hàng ngày tôi lặn lội đạp xe sang thăm người Gác Bút. Thần trí ông vẫn minh mẫn, lấp lánh. Thần thái ông vẫn nhẹ nhàng ung dung. Nhưng thịt xương không phải là thần trí và thần thái. Thi sĩ đã hơn sáu mươi tuổi. Và không phải là linh cảm nữa mà là tôi đã nhìn thấy tài thơ cự phách, chẳng còn chịu ở hơn nhiều lắm nữa với đời. Những ngày tháng còn lại của Vũ Hoàng Chương ở Gác Bút là số ngày tháng cuối cùng.

Vậy mà, ngược nghịch, lạ lùng những ngày tháng cuối cùng này lại là thời kỳ sung sướng nhất của thi sĩ.

Một đêm tôi ở lại với ông thật khuya, tới sát giờ giới nghiêm cộng sản. Xã hội thê lương nằm phục bốn chung quanh vách Gác Bút. Ông đưa tôi xem một lá thư của  Trần Dần.

Bị trừng phạt nặng nề, bị treo bút vĩnh viễn, nhà thơ Trần Dần, tài thơ trác tuyệt nhất của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, không được vào Sài Gòn, đã gửi cho ông một lá thư đầy những lời lẽ kính trọng, như ông vẫn nguyên vẹn là thi bá của cả một thế hệ thi sĩ đã hai miền chia cách suốt 30 năm chiến tranh.

 Lá thư, tôi chỉ còn nhớ được câu này:

 “Thơ anh, thơ anh Hùng, sng muôn đi vi thi ca Vit Nam.”

Đêm đó, cầm nỗi kính phục của Trần Dần đối với ngôi sao Bắc Đẩu miền Nam trên tay, tôi nhìn bạn ngồi thư thái êm đềm trước mặt, đã chia xẻ được với thi ca một niềm sung sướng thống khoái vô tả. Kính phục của Trần Dần chắc còn lớn lao gấp bội. Nếu nhà thơ miền Bắc nhìn thấy được cõi thơ cuối đời và cái hiện tượng thăng hoa của tâm thức phóng thoát, ở thi sĩ!

Ông đưa tôi coi tiếp những thư từ bạn ông ngày trước viết vào từ Hà Nội. Thư Lưu Trọng Lư. Thư Hoàng Lập Ngôn. Thư Hoàng Cầm. Lá thư ngắn nhất của Nguyễn Tuân.

Vỏn vẹn:

 “My li hi thăm c nhân. Thư bt tn ngôn.”

 Ông cười:

– Thằng Tuân ngày xưa với tao thân lắm. Khâm Thiên, bàn đèn, tao đâu nó đó, mà nó sợ. Chỉ dám dùng bốn chữ “thư bất tận ngôn.”

– Mày trả lời bọn họ không?

– Có. Thằng nào viết thư thăm, tao cũng viết lại cho phải lễ. Bằng một vài đoạn thơ.

Ông cười thành tiếng, ánh mắt tinh nghịch vui thú:

– Thằng Địch vào, nói bọn chúng nhận được thơ tao thích lắm, vác đi khoe cùng nhưng chỉ dám khoe với bạn thân. Tao trêu chúng mà. Với thằng Hoàng Lập Ngôn, tao hỏi mấy chục năm cộng sản, cái xe mê ly đãng tử có còn lăn bánh? Và bánh thực hay bánh vẽ. Thằng Tuân, tao gửi cho nó một bài thơ chữ Hán, lấy điển người xưa mừng nó vẫn là nó không bao giờ thay đổi. Nó đọc, nó hiểu, chắc  no buồn lắm. Đã đi theo Đảng, Nguyễn Tuân bây giờ còn là Nguyễn Tuân ngày trước thế nào được nữa

Có thêm rượu, tôi ở lại, hưởng thêm một lần nữa, cái thú ngất ngưởng ngồi xếp chân vòng tròn, đối diện với bạn, lây được cái phong cách coi đời như không của bạn, an nhiên trước mọi chuyện và thây kệ ngày mai. Kéo dài câu chuyện những lời thơ tiên tri như “Xiết bao ng vc kiếp người đó ư?”

 Tôi kể cho ông nghe về một Hoàng Hải Thủy mới. Từ sau ngày 30 tháng 4, Thủy đóng cửa nằm nhà và tìm được một nguồn vui mới: làm thơ. Thủy dịch thơ Mỹ thành thơ Việt, dịch thơ Thủy sang Anh ngữ, chép thành một tập nắn nót, mỗi lần tôi đến mang ra đọc, cười cười như có ý nói: với thơ, tao là một thằng ngoại đạo nhưng tao thích và thơ tao đây này, hay dở bất cần. Mỗi bài thơ, Thủy đề tặng một người bạn. Thơ Thủy, tinh thần và khí thơ Nguyễn Bính, rất minh bạch. Làm thơ về nhạc Hoài Bắc, tặng Hoài Bắc, về tiếng hát Thái Thanh, tặng Thái Thanh, về những ngày nắng chiều giữa trưa của Lê Trọng Nguyễn, tặng Lê Trọng Nguyễn. Vui lắm. Coi như mỗi bài thơ là một bức chân dung, vẽ xong tặng ngay cho người mẫu.

Ngưng trích.

Thơ HHT.

TIẾNG HÁT THANH

Tiếng Mẹ ru từ thưở nằm nôi
Mẹ thôi, Mẹ không hát nữa.
Tiếng Hát Mẹ nằm trong ký ức
Tung cánh bay khi Em hát cho đời.

Ngày xưa xa lắm ở bên trời
Có người xưa hát lúc đi rồi
Ba hôm tiếng hát còng vương vấn
Trên mái nhà xưa, âm chửa rơi.
Tiếng Em hát tim Anh nức nở
Hai chục năm trời Thanh chửa thôi.

Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc.
Em hát khi Anh giấc ngủ vùi.
Em hát khi Anh chưa biết khóc.
Em hát khi Anh biết mỉm cười.
Em hát tan vàng, ca nát đá.
Em hát cho Anh thấy ngậm ngùi…

NẮNG CHIỀU

Xót mày dạ trúc, lòng tơ.
Họa cung đàn mọi, bây giờ hẳn đau.
Tóc chia hai thứ trên đầu.
Thương thì đã muộn, mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiếu mà gặp trời mưa thì phèo.

Khi được tin anh Vũ Hoàng chương tạ thế, tôi làm bài Thơ về Anh:

Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay.
Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
Anh vẫn Hoàng Chương, Vàng với Ngọc.
Trần ai nào lấm được trời Mây.
Người về ngôi cũ, Thơ trầm Nhạc.
Tàn lửa hồng hoang, khói Mái Tây.
Chín ngục A Tỳ, ma sửa áo.
Chín tầng Địa ngục, quỉ cung tay.
Cười vang một tiếng tan tinh đẩu.
Sáu cửa luân hồi nhẹ cánh bay.

Mai Thảo là người bọn Công An Thành Hồ muốn bắt mà không bắt được.

Tên Công An Huỳnh Bá Thành rất cay cú vì bọn nó bắt hụt Mai Thảo.

THĂM DÂN CHO BIẾT SỰ TÌNH

uphill

Tháng 10, 2015, Uyên Thao, người chủ trương Nhà Xuất Bản Tiếng Quê Hương, phát hành tác phẩm “VIỆT NAM Cuộc Chiến Leo Thang;” nguyên tác “Uphill Battle ” của Frank Scotton; bản tiếng Việt của Phan Lê Dũng.

Tôi không viết bài “điểm sách Uphill Battle,” tôi viết vì, và về những người Việt Nam được nhắc đến trong Uphill Battle.

Tôi được quen biết các ông Đỗ Minh Nhật, Ung Văn Luông, Hà Thúc Cần, Nguyễn Chánh Thi. Bốn ông trên được nhắc đến nhiều trong Uphill Battle.

Những năm 1960 ông Đỗ Minh Nhật, ông Frank Scotton là nhân viên USIS – United States Information Service – Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Ông Đỗ Minh Nhật đi khỏi Sài Gòn trước ngày 30 Tháng Tư 1975. Năm 1995 tôi gập ông ĐM Nhật ở Virginia. Những sáng Thứ Bẩy, Chủ Nhật, ông thường ngồi ở Phở Xe Lửa, Trung tâm Eden. Ông có vẻ người phong nhã, trang phục sang đẹp đúng số tuổi của ông. Tôi thấy ngườ đàn ông đẹp mã những năm ba mươi, bốn mươi tuổi không có gì lạ. Đàn ông ở vào số tuổi ba mươi, bốn mươi, nhiều người trông đẹp. Ông già bẩy mươi người không nhầu nát mới đáng kể. Ông Đỗ Minh Nhật là người phong nhã trong tuổi già.

Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn võ trang, giao tiếp với đồng bào.

Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn võ trang, giao tiếp với đồng bào.

Có lệnh Cấm Hút Thuốc trong những tiệm ăn ở Trung Tâm Eden,  hút thuốc lá trong tiệm ăn bị phạt rất nặng, nghe nói tiền phạt có thể lên tới ngàn đồng, nhưng tôi thấy ông Đỗ Minh Nhật hút thuốc lá đàng hoàng, không che dấu, hút liên tiếp; ông để gói thuốc bên cái bật lửa Dupont ngay trên bàn. Ông Nguyễn Thế Toàn, chủ tiệm Phở Xe Lửa, cứ để ông Nhật hút thuốc lá công khai trong tiệm. Ông Nhật từ trần khoảng năm 2000.

Trong Uphill Battle, tác giả Frank Scotton kể ông Đỗ Minh Nhật từng cùng với ông đi trong đêm trong vùng rừng núi miền Trung, đi để tìm dấu những toán quân Việt Cộng. Những chuyến đi của ông Scotton giống như những chuyến đi thăm dân cho biết sự tình. Tôi viết “giống như “vì tôi thấy ông Scotton thường mạo hiểm một mình, một súng carbin, đi qua rừng đêm mà không gặp dân, không hỏi chuyện người dân địa phương. Đi như ông Scotten không phải là đi thăm dân.

Những năm 1960 nhật báo Tự Do có mục “Thăm dân cho biết sự tình.” Mục này do ký giả Vũ Bình phụ trách. Anh là người đặt tên mục “Thăm dân cho biết sự tình.” Anh là người miền Nam. Tôi được gặp anh vài lần ở nhà anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Năm xưa ấy anh trạc 35 tuổi. Mỗi chuyến anh đi chừng hai, ba tháng. Không ai ở tòa báo biết anh đi đâu, bao giờ anh về. Đến khi anh đi và không thấy anh trở về tòa báo. Anh mất tích. Không ai trong tòa báo biết anh mất tích ở đâu. Người ta chỉ thấy anh đi mà không thấy anh trở về. Tôi nghĩ anh bị bọn Việt Cộng bắt, anh chết trong tù ngục của bọn Việt Cộng.

Người Việt Nam nhân viên USIS được Frank Scotton nhắc đến nhiều là ông Ung Văn Luông.

Uphill Battle. Ưng Văn Lương. Phụ tá cho ông Bumgardner, có tinh thần trách nhiệm và giỏi điều hành công việc văn phòng. Nhiều năm sau năm 1975, ông UV Lương vẫn tiếp tục làm việc để giúp những cựu nhân viên USIS bị kẹt ở Việt Nam được sang định cư Mỹ.

CTHĐ: Tên đúng của ông Ưng Văn Lương là Ung Văn Luông. Người Nam tránh tên Long nên gọi trạnh Long là Luông, như Vàm Luông. Ông UV Luông phụ trách Phòng Nhân Viên USIS. Vì phải lo cho đồng nghiệp sang Mỹ bằng máy bay Mỹ, ông  và gia đình ông phải đi bằng tầu biển trong đêm 29 Tháng Tư 1975. Sang Hoa Kỳ, ông làm nhân viên USIA ở Washington DC. Ông nhắc, ông yêu cầu những ông Mỹ USIA nhớ và cứu những nhân viên USIS bị kẹt lại ở Việt Nam. Trước Ngày 30 Tháng Tư 1975 chỉ có khoảng 1/3 nhân viên USIS được đưa sang Mỹ bằng máy bay.

Chương trình HO chỉ nhận đưa sang Mỹ những nhân viên chính phủ VNCH, từ cấp Trưởng Ty, bị tù khổ sai trên 3 năm, và những sĩ quan bị tù khổ sai trên 3 năm. Những người Việt bị tù vì chống đối bạo quyền Việt Cộng, vì đòi nhân quyền, dù có bị tù khổ sai đến 10 năm cũng không ở trong số người Việt được đi HO sang Mỹ. Nhân viên Việt Sở Mỹ không là nhân viên chính phủ VNCH nên không được đi HO. Nhờ ông UV Luông, nhiều cựu nhân viên USIS được chính phủ Mỹ nhận cho sang Mỹ, dù họ  không bị tù ngày nào.

Tôi – Hoàng Hải Thủy – và vợ con tôi được sang Mỹ như các ông HO nhờ công của ông Ung Văn Luông. Đã nhiều lần tôi viết cám ơn ông UV Luông, hôm nay, một ngày Tháng 10, 2015 tôi cám ơn ông lần nữa.

Nhiều ông Mỹ ở Sài Gòn có liên hệ tình cảm với phụ nữ Việt. Đây là một cuộc Tình Tay Ba Mỹ Việt xẩy ra ở Sài Gòn.

Việc từng ngày. Tác giả Đoàn Thêm.

Ngày 23 Tháng 7, 1965. Jack Ryan, chuyên viên an ninh thuộc Cơ Quan Viện Trợ Mỹ – USAID – bị bắn chết cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Nguyễn Thị Hải. Hai người bị bắn chết trong một xe ô tô ở đường Hiền Vương.

Ngày 24 Tháng 7, 1965. Jack Kimball, nhân viên USAID, bị bắt vì tội dùng súng bắn chết Jack Ryan và Nguyễn Thị Hải.

CTHĐ: Hai ông Mỹ cùng yêu một người phụ nữ Việt. Cô Nguyễn Thị Hải là cô gái Việt thứ nhất, có thể là duy nhất, chết thảm vì tình yêu của hai ông Mỹ.

Đoạn tin ngắn không cho biết ông Mỹ Jack Kimball, kẻ bắn chết cô Hải và ông Mỹ Jack Ryan, phải đền tội ra sao. Tôi không biết Jack Kimball bị ra tòa ở Việt Nam hay được nhà chức trách Việt Nam giao cho Tòa Đại Sứ Mỹ.

Frank Scotton kể trong Uphill Battle:

Về Tướng Nguyễn Chánh Thi:

Tôi gặp Nguyễn Chánh Thi ở Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 1, thoạt nhìn ông quả có vẻ là người “dữ dằn.” Vẻ dữ dằn đó bớt đi nhiều vì nụ cười thường xuyên của ông. ( .. .. .. ) Ông Thi tiếc nuối rất nhiều về cái chết của ông Ngô Đình Diệm. Ông nói  khi ông cầm đầu Lính Dù chống chính quyền năm 1960 thì ý định của ông chỉ là cải cách, và ông sẽ không bao giờ giết Tổng Thống Diệm.

Về Tướng Phạm Quốc Thuần;

Phạm Quốc Thuần: Sĩ quan VNCH, có nhận xét sâu sắc về ý định của địch, sẵn sàng trao đổi quan niệm với các sĩ quan Hoa Kỳ  và có khả năng tác chiến hữu hiệu trước khi ông được thay thế. Đến lúc này tôi vẫn chưa thể hiểu lý do thay thế ông Phạm Quốc Thuần.

Ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 tôi gặp vị Tham mưu trưởng Phạm Quốc Thuần, ông khoảng 35 tuổi, và theo giọng nói là người Bắc. Ông bảo ông là người Công Giáo, ghét Cộng sản, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt năm 1952.

Về Hà Thúc Cần:

Cựu bộ đội Việt Minh và nhiếp ảnh viên CBS với kiến thức tự học, hiểu biết rộng về đồ sứ, điêu khắc, đồ đồng cổ và về tranh. Tác giả hai cuốn sách về trống đồng Việt Nam và hội họa hiện đại.

Hà Thúc Cần xuất thân từ một gia đình có tiếng ở Huế và từng là Việt Minh. Ông có bạn ở cả hai miền Nam Bắc. Ông dậy tôi về đồ sứ Việt Nam và điêu khắc Chàm. Qua ông, tôi gặp Vương Hồng Sển, cựu giám đốc Bảo Tàng Viện Quốc Gia; Trịnh Công Sơn, Nguyễn Văn Minh, một nghệ nhân sơn mài và nhiều ca sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ, sinh viên..nhiều khó kể hết. Họ giới thiệu tôi với Cải Lương, Hát Bội và kiên nhẫn trả lời những câu hỏi của tôi.

CTHĐ: Tôi muốn trích nhiều hơn những chuyện trong Uphill Battle, nhưng tôi không trích được. Tôi già rồi – Tám Bó Lẻ Ba Que  khả năng đọc, tìm, nhớ, trích, kể, viết lại  của tôi nay xuống thấp. Tôi vất vả khi tôi viết bài này. Một lần nữa tôi nói với quý vị đọc những dòng chữ này: VIỆT NAM Cuộc Chiến Leo Thang là tác phẩm quý vị nên đọc. Dù trong nó tác giả so sánh và kết luận: phẩm chất người Lính Bắc Việt Cộng cao hơn phẩm chất người lính Quốc Gia VNCH.

Nữ ca sĩ Kim Vui là người phụ nữ Việt được viết đến nhiều nhất trong Uphill Battle. Cô được viết đến trong 12 trang. Tôi trích vài đoạn:

kimvuiTrên WEB. Nguyễn Thị Kim Vui. Nữ ca sĩ và tài tử điện ảnh nổi tiếng ở Sài Gòn vào cuối những năm 1960 và những năm trước năm 1975. Lúc nào cũng là người thanh nhã, hiện giờ bà chăm sóc một vườn cam ở California và đang viết hồi ký mô tả thời bà mới lớn trong thời gian hậu Đệ Nhị Thế Chiến, và những năm từ Thực dân Pháp sụp đổ qua Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam.

Frank Scotton viết về Kim Vui:

Trang 159: Lúc này nếu phải xa Đà Lạt một thời gian dài là việc khó khăn với tôi, vì tôi bắt đầu có quan hệ tình cảm với cô Nguyễn Thị Kim Vui.

Trang 286. Tôi ở lại Sài Gòn để giữ liên lạc với JUSPAO và ở lại thêm một đêm với cô Kim Vui.

Trang 306. Nhớ lại những lần tắm vòi hoa sen nước lạnh ở biệt thự của cô, tôi rán lục lọi đánh đổi vài vũ khí tịch thu được  và một lá cờ Mặt Trận Giải Phóng để lấy một máy làm nước nóng ở sân bay quân đội ở Qui Nhơn. Ông Huddleston giúp tôi lên một phi cơ  Caribou để về Đà Lạt. Nếu cô Kim Vui bằng lóng nhận tôi, máy bay đó sẽ đưa cô và tôi đi Sài Gòn để gập ông Ev và gặp luật sư để làm thủ tục hôn nhân. Tôi đã gửi cái máy làm nước nóng đến nhà cô trước như món quà tặng mở đầu cho cuộc hôn nhân. Sự thể đau buồn cho tôi  thấy rằng tôi đến quá trễ. Tôi trở về Cam Ly, căm giận chính mình.

Trang 362. Cô thiếu nữ Việt Nam có đến thăm tôi và gia đình tôi ở Massachsetts. Chúng tôi dành thì giờ với nhau vài ngày ở Hoa Thịnh Đốn, rồi kết luận, mỗi người theo phương hướng lý luận riêng, rằng những tình cảm phát xuất từ những ngày ở Sài Gòn đang tàn lụi. Tôi cố miệt mài theo đuổi các môn học Hoa ngữ để có thể trở thành một người tương đối biết đọc, biết viết tiếng Tầu. Trong hai năm sau đó, thỉnh thoảng tôi cũng có gặp những thiếu nữ khác, nhưng không ai có thể so sánh được với cô Kim Vui. Việt Nam và Kim Vui lúc nào cũng ở trong tâm trí tôi.

Hồ Trường An viết về Kim Vui.

Kim Vui có thân hình tuyt đp 

Nhà văn kiêm nhà phê bình Hồ Trường An diễn tả vẻ đẹp của Kim Vui trong bài “Theo Chân Nhng Tiếng Hát” trên một ấn phẩm của  Tổ Hợp Miền Đông Hoa Kỳ, xb 1998:

“Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc bợ ngực bó eo người mặc. Cái eo của chị thon, lưng chị dài, đùi chị cũng dài, ngực và mông chị đều cao và lồng lộng nét tròn mê hoặc. Chị mặc áo đầm hở vai, và mang găng tay kéo lên khuỷu tay, áo và găng đều bằng nhung đỏ hay nhung đen thì quá choáng lộn, quá bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda. Kim Vui cuốn tóc từng lọn boucles anglaises thì đẹp và sang như bà hoàng. Rất tiếc, khán thích giả thích xem nhan sắc của chị lúc chị hát chứ không kể số gì tới giọng hát có căn bản của chị.

Về phim ảnh, Kim Vui đóng ba phim: Chân Trời Tím, Thương Hận, và Cúi Mặt. Chính nhờ vai Liên trong Chân Trời Tím, chị đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc. Trong phim nầy, chị có dịp mặc áo tắm và có dịp khỏa thân trước giá vẽ của nhân vật họa sĩ để phô bày đường cong, nét lượn tuyệt mỹ trên thân thể chị. Hùng Cường, bạn đồng diễn của chị trong phim Chân Trời Tím có lần tuyên bố với báo chí rằng về điện ảnh, Kim Vui là bạn đồng diễn lý tưởng nhất của anh.

Ngoài tài năng nghệ thuật trình diễn đa diện, Kim Vui còn có tài vẽ tranh sơn dầu.”

Ký giả Trọng Minh, Cali, viết về Nữ Ca Sĩ Kim Vui.

Có lẽ hầu hết bạn đọc trưởng thành tại miền Nam Việt Nam trước tháng Tư năm 1975, đặc biệt là giới yêu chuộng nghệ thuật điện ảnh và ca vũ nhạc, không còn ai là không nghe danh, biết tiếng Nữ nghệ sĩ Kim Vui. Sở dĩ chúng tôi dùng danh xưng nghệ sĩ với Kim Vui mà không đặt cô vào vị thế nữ tài tử, ca sĩ hay vũ công v.v… vì cô là một người nghệ sĩ đa dạng, hơn thế nữa ở lãnh vực nào cô cũng được xem là sáng giá, tuy nhiên bộ môn nghệ thuật mà Kim Vui gây được ấn tượng sâu đậm nhất với khán giả phải kể là điện ảnh, chỉ với một phim “Chân Trời Tím” đồng diễn với Hùng Cường, Bảo Ân, Ngọc Đức, và do đạo diễn Lê Hoàng Hoa thực hiện theo văn phẩm cùng tựa của nhà văn Văn Quang, vậy mà hình ảnh “đẹp” của cô vẫn còn trong trí nhớ của nhiều người cho đến ngày hôm nay. Sự kiện này được minh chứng một cách cụ thể qua sự việc, ở Cali, trong một dịp tình cờ, Kim Vui đi qua một khu phố có đông người Việt, một số các bà trông thấy Kim Vui, đã lao xao:

– Kim Vui đó, tôi coi cô ấy diễn trong phim Chân Trời Tím, cách nay mấy chục năm rồi, không hiểu cô ấy làm cách nào mà không thấy thay đổi gì hết, vẫn trẻ đẹp như thủa nào, giống hệt Sophia Loren hồi trẻ.

– Tuyệt phẩm nghệ thuật của trời mà. Tác phẩm nghệ thuật đắc ý của người còn được bảo vệ kỹ càng nữa là tác phẩm của trời.

Đã gọi là tác phẩm nghệ thuật thì dù là của nhân thế hay của Hóa công cũng có tác phẩm hài lòng và không hài lòng, có thể Kim Vui chính là tác phẩm đắc ý của Tạo hóa nên cô được chính Hóa công gìn giữ. Lập luận trên về nữ nghệ sĩ Kim Vui của người phụ nữ nọ quả là có lý.

Trường hợp mới đây, trong dịp đến tham dự một buổi ca nhạc tại San Jose, Kim Vui được một số khán giả mến mộ từ khi còn ở quê nhà nhận ra, tức thì họ rủ nhau đến thăm hỏi và khen tặng Kim Vui không tiếc lời,  có người còn nói:

“Từ khi còn ở Việt Nam, tôi đã ao ước được gặp cô một lần rồi chết cũng mãn nguyện, nay không những chỉ được gặp mà còn được chụp hình chung với cô, thực tình tôi hoàn toàn mãn nguyện, không còn ao ước gì nữa.”

Tuy được trời đãi ngộ, ban cho một nhan sắc đậm đà và một năng khiếu về nghệ thuật, nhưng Kim Vui không bao giờ tự mãn với những gì mình đã có, đã gặt hái được, cô luôn luôn nhìn xa, chuẩn bị cho những bước đường tương lai trước khi những bất trắc có thể xẩy đến. Chính đây là lý do cô đã sớm rời xa con đường nghệ thuật, hoặc chỉ coi nghệ thuật là bước đầu của con đường tiến thân, không thể coi đó là sinh kế, nhất là ở đất nước Việt Nam nhỏ bé và chiến tranh liên tục của chúng ta, để bước vào con đường kinh doanh. Từ trước năm 1975, cô đã thành lập một cửa hàng bán băng nhạc và một nhà in tọa lạc trên đường Nguyễn Cư Trinh góc đường Cống Quỳnh, phía bên hông rạp Hưng Đạo, quận Nhì, Sàigòn, không những thế, cô còn có những cuộc giao thương với nước ngoài, mở hãng xuất nhập cảng, đặt văn phòng tại đường Trịnh Minh Thế, quận Tư, Sàigòn.

Nhưng quyết định đúng nhất của cô phải kể là việc cô đưa toàn bộ gia đình cô qua Hoa Kỳ định cư trước biến cố 30 tháng 4-75 xẩy ra, mặc dù các dịch vụ thương mại của cô ở Sàigòn chưa được giải quyết ổn thỏa, nói rõ hơn, cô đã để lại cả một sự nghiệp lớn lao tại quê nhà khi ra đi, nhờ vậy mà cô đã có cơ hội giúp đỡ các thân hữu và một số đồng hương trên đường vượt biển tìm tự do, đến tạm trú tại đảo Guam. Ngoài việc giúp đỡ về vật chất cô còn thực hiện một chương trình phát thanh Việt ngữ trên đài phát thanh Guam (Kuam)  đây mới đích thực là chương trình phát thanh Việt ngữ đầu tiên của người Việt trên đài phát thanh Mỹ ở đảo Guam và kể cả toàn quốc Hoa Kỳ, những đồng hương tỵ nạn, đã từng ở trại tạm trú Guam, như gia đình ký giả Việt Định Phương, ký giả Ngọc Hoài Phương, ký giả Nguyễn Hoàng Đoan v.v… đều biết rõ sự kiện này  để an ủi đồng hương về phần tinh thần.

Trên đất Mỹ, Kim Vui được khá nhiều công ty điện ảnh, hãng video cũng như băng nhạc, kể cả Việt và ngoại quốc, mời hợp tác, nhưng cô đã dứt khóat từ giã con đường nghệ thuật để phát triển con đường kinh doanh, cô buôn bán lâm, hải sản, có cơ sở ở Anh quốc, Pháp quốc và châu Phi (Africa), gần đây người ta thấy cô thường xuyên xuất hiện tại miền Nam California, hỏi ra thì được biết cô đang tiến hành thêm một dịch vụ mới tại đây, đó là việc mua, bán bất động sản.

Mặc dù biết các cơ sở thương mại của cô ở hải ngoại (ngoài nước Mỹ) vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng sự hiện diện thường xuyên ở miền Nam California, ai cũng tưởng rằng “cánh chim giang hồ nay đã dừng lại ở đây”, nào ngờ, mới đây, người ta thấy cô tại miền Đông Hoa Kỳ, tiểu bang Virginia, hỏi ra thì được biết cô về đây để cắt băng khánh thành cơ sở thương mại Elany Image Inc (Salon & Day Spa) do người con trai lớn của cô làm chủ.

Kim Vui và phim Chân Trời Tím.

Nhân vật chính trong phim Chân Trời Tím là Hạ sĩ Phi, người lính  có biệt tài bắn súng, do bị thương nên Phi được đưa về lái xe cho Trung tá Trung đoàn trưởng. Hùng Cường trong vai Hạ sĩ Phi. Cô con gái xinh đẹp của ông Trung tá yêu Phi. Tên cô là Phượng. Thanh Lan trong vai Phượng. Nhưng Phi lại yêu Liên, một nữ ca sĩ. Kim Vui trong vai Nữ ca sĩ Liên. Sống giữa đô thành với người yêu, tức với Liên, Phi vẫn bất mãn với công việc anh làm, bất mãn với chính anh. Vết thương đã lành, anh xin trở lại mặt trận, đơn vị anh đóng tại tiền đồn hẻo lánh. Ở Sài Gòn, Liên, cô ca sĩ bị ép phải sống chung với một tay lái buôn giàu và hung hãn.

Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 xảy ra. Đơn vị của Phi được điều về tham gia cuộc trấn áp lực lượng đảo chính. Phi nghĩ rằng súng anh cầm chỉ nhả đạn vào quân thù, không thể bắn vào những người cùng hàng ngũ. Bị thương, Phi lết về nhà Liên. Gặp lại nhau sau cơn biến động, hai người quyết cùng nhau ra đi đến một chân trời mới, gây lại hạnh phúc. Nhưng tay buôn lậu xuất hiện, hắn biết Liên yêu Phi, nhân lúc Phi không ở bên Liên, trong cơn ghen tay buôn lậu giết Liên.

CTHĐ bàn loạn: Vài théc méc nhỏ: người lính bị thương mất khả năng chiến đấu trên mặt trận thường được cho về làm công việc văn phòng, gác kho, bán đồ Quân Tiếp Vụ. Thương binh phải làm tài xế quân xa là việc hình như ít có. Người lính bị thương khi chiến đấu, thường được đưa vào cứu cấp ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. Riêng ông Cai Phi có số đào huê dễ nể, là lính mà được những em thơm như múi mít yêu lăn, yêu lóc. Cai Phi bị thương nhưng không vào Tổng Y Viện Cộng Hòa mà mò về nhà người yêu. Không thấy nói ông di chuyển bằng taxi hay xích lô, hay lô ca chân. Cũng không thấy diễn tả vết thương – đạn bắn – của ông làm sao ngừng chẩy máu, làm sao nó lành.

Cô ca sĩ Múi Mit yêu thầy Cai đào huê. Cô bỏ hết, cô bỏ Dancing, bỏ Đài TiVi, bỏ phấn son, cô hân hoan đi với người cô yêu đến những nơi văn huê cải lương là “chân trời, góc biển – cuối bãi, đầu ghềnh – sơn cùng, thủy tận.” Mê ly ra rít. Chỉ không biết cái nơi gọi là cuối bãi, đầu ghềnh, sơn cùng, thủy tận ấy ở đâu? Ớ Đà Lạt, hay ở Nha Trang, ở Cà Mâu, Châu Đốc?

Nhưng thôi, théc méc như dzậy là lèm bèm, là làm hại đến tính lãng mạn của văn phẩm. Phim Chân Trời Tím – dường như: có bản nhạc Nửa Hồn Thương Đau. Trong bản nhạc này có Chân Trời Tím.  – Nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương – mời quí vị thưởng thức Lời Ca Chân Trời Tím:

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa
Cho tôi về đường cũ nên thơ.
Cho tôi gặp người xưa ước mơ.
Hay chỉ là giấc mơ thôi.
Nghe tình đang chết trong tôi.
Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.

Nhắm mắt ôi sao nửa hồn héo thương đau.
Ôi sao nghìn trùng cách chia nhau.
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào.
Anh ở đâu? Em ở đâu? Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu.

Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất, và tiếng hát, và nước mắt.
Đôi khi em muốn tin. Đôi khi em muốn tin.
Ôi những người, ôi những người! Khóc lẻ loi một mình…

ĐẠO DIỄN ĐIỆN ẢNH

hoanghoa

Trong bày này – Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa ĐấtTrích, Tháng 10, 2015, – hai nhà Đạo Diễn Điện Ảnh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa được nói đến là:

  1. Đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.
  2. Đạo diễn Lê Hoàng Hoa.

Hai nhà Đạo diễn Điện Ảnh cùng sống một thời, cùng làm phim xi-nê một thời, trong 20 năm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, nhưng có hai cuộc sống thăng trầm khác hẳn nhau.

Tôi – CTHĐ – viết: Đạo diễn Lê Hoàng Hoa là người đẻ bọc điều. Đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc là người đẻ bọc than.

Đẻ bọc điều là tiếng dân gian gọi những người được sung sướng suốt đời, đẻ bọc than là những người sống vất vả suốt đời.

Lê Hoàng Hoa sống suốt đời yên ổn, no đủ, sang Hoa Kỳ học trước nhất, sau năm 1975 làm phim với bọn Bắc Cộng, sang Hoa Kỳ sống vài năm rồi lại về Sài Gòn, từng sống ở Ba Lan.

Hoàng Vĩnh Lộc suốt đời theo việc làm phim, bị tù giam năm 1976, chết trong nghèo nàn.

Đây là những lời viết về cuộc đời và sự nghiệp của hai nhà Đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Hoàng Hoa trên Internet.

Dạ Chung – Hoàng Vĩnh Lộc

Bích Huyền. VOA

Trong sinh hoạt âm nhạc Việt Nam, về tác phẩm, chưa kể đến thơ phổ nhạc, có rất nhiều bài hát gồm hai tác giả, người viết nhạc và người viết lời. Trong chương trình Thơ Nhạc của đài VOA hôm nay, Bích Huyền nói về Dạ Chung, người viết ca từ đẹp như Thơ trong nhạc Lâm Tuyền.

Một ca khúc hay cần hai yếu tố: nhạc và lời. Chuyển tới thính giả ca khúc ấy là giọng hát và nghệ thuật hòa âm, chưa kể đến kỹ thuật âm thanh. Thế nhưng, thường khi giới thiệu một bài hát, hoặc có nhiều CD phát hành hình như người ta chỉ chú ý đến ca sĩ, nhạc sĩ mà quên đi người viết ca từ. Như vậy có thiếu sự công bằng không?

Chẳng hạn như Vĩnh Phúc, một cựu nữ sinh trường Trung học Trưng Vương Sài Gòn, những năm đầu thập niên 60, Vĩnh Phúc đã viết rất nhiều lời ca cho những bản nhạc nổi tiếng của Hoàng Trọng, như: Ngàn thu áo tím, Hai phương trời cách biệt, Một thuở yêu đàn… Trong câu chuyện hôm nay, Bích Huyền giới thiệu một vài nét về Dạ Chung, người viết lời trong hầu hết những bản nhạc của Lâm Tuyền.

Lâm Tuyền-Dạ Chung, tên tuổi hai người gắn liền với nhau như Đoàn Chuẩn-Từ Linh vậy.

Một trong những ca khúc được yêu mến nhất của hai người là “Hình ảnh một buổi chiều.”

“Hình ảnh một buổi chiều thơ mộng,”  in đậm trong trí nhớ nhiều người, lại càng đẹp hơn, thơ mộng hơn, đáng nhớ hơn nhờ câu văn đẹp như thơ của Dạ Chung:

“Anh không giữ trong tay một kho tàng hay một danh vọng nào cả. Anh chỉ giữ có hình ảnh một buổi chiều, khi nắng vàng nhuộm mái tóc em.”

Có một thời nhiều người trẻ đã chép trong tập sổ tay câu nói đẹp như thơ ấy.

Dạ Chung tức Hoàng Vĩnh Lộc, vừa là tài tử màn bạc vừa là đạo diễn phim nổi tiếng của miền Nam trước 1975. ( .. .. .. )

Thời ấy ngành Điện ảnh Việt Nam chưa thực sự gọi là trưởng thành, dù về diễn viên, chúng ta có những ngôi sao như Kiều Chinh, Đoàn Châu Mậu, Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Quỳnh… Các nhà sản xuất phim xi nê thời ấy thiếu tiền mua phim trắng, máy thu hình, thu âm, dàn đèn. Tuy vậy, chúng ta vẫn có những nghệ sĩ hy sinh cho điện ảnh như Lê Dân, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Vĩnh Lộc… để Điện Ảnh Miền Nam có mặt tại các Festivals lớn ở Đông Nam Á.

Những bộ phim tiêu biểu nhất của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc như Xin nhận nơi này làm quê hương, Người tình không chân dung, Người về từ đỉnh núi… gây nhiều tiếng vang trên trường quốc tế. Phim “Con búp bê nhồi bông” đoạt Giải Điện ảnh Đông Nam Á.

Có một hình ảnh để lại ấn tượng đậm nét trong thời chiến: muôn ngàn tinh tú lấp lánh trên vòm trời cao phản chiếu vào vũng nước mưa trong chiếc nón sắt của người chiến binh tử trận nằm bên bờ lau sậy:

Trong cái nón sắt của anh, Mặt trời vẫn còn đó ban ngày và ban đêm, mặt trăng hoặc muôn muôn triệu triệu vì sao vẫn còn đó… Con ễnh ương vẫn gọi tên anh trong mưa dầm. Tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ…

Với ca từ ấy của Dạ Chung Hoàng Vĩnh Lộc, với nhạc của Hoàng Trọng, “ Người tình không chân dung,” ca khúc chính trong cuốn phim cùng tên, đã làm khán giả rơi lệ.

Lâm Tuyền-Dạ Chung sáng tác không nhiều nhưng chỉ với Tơ Sầu, Trở về dĩ vãng, Hình ảnh một buổi chiều, Tiếng thời gian, Khúc nhạc ly hương… nghe một lần rồi nhớ mãi. Ca từ Dạ Chung đẹp như thơ, kết hợp với nhạc Lâm Tuyền, đã làm nên những bài thơ bằng âm nhạc. Thiên nhiên có mặt rất nhiều trong ca từ Lâm Tuyền-Dạ Chung. Tình yêu trong lời nhạc của Dạ Chung có một vẻ  kín đáo, nhẹ nhàng. Thiên nhiên thơ mộng huyền ảo “mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông…” như tô son điểm phấn cho Tình Yêu. Như một lời tỏ tình làm mềm lòng thiếu nữ. Trong bản Tơ sầu: Tơ dáng như mây chiều, tơ úa như lá vàng, tơ giống như trăng ngàn, nhiều khi tơ giống tóc người yêu… Hay trong bài Trở Về Dĩ Vãng: Anh thường khóc khi chiều xuống, Lòng nhớ nhung triền miên, Trăng xưa về khuya bẽ bàng, Dường như nhắn người yêu, Tình mây nước còn đâu…

Với những lời ca ấy của Dạ Chung, ai đang yêu cũng muốn được yêu như thế. Ai đang mong ước được yêu, đang mơ mộng thì cứ chép vào tập sổ tay của mình. Gửi cho nhau là đủ, không cần nói gì thêm nữa vì khó lòng có những lời tỏ tình đẹp hơn.Trong lời ca Dạ Chung, chỉ thấy một không gian thơ mộng, không gian của cái tuổi đẹp nhất đời người, cái tuổi thanh xuân vô cùng lãng mạn với bao ước mơ mộng tưởng tuyệt vời.

o O o

Trong biến cố 1975, nhiều văn nghệ sĩ miền Nam bị lùa vào trại tù Cộng sản. Đạo diễn điện ảnh bị bắt trong chiến dịch này là Hoàng Vĩnh Lộc, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Minh Đăng Khánh. Bà vợ của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc là bà Hoài Hương, một cựu nữ sinh Trưng Vương, một mình nuôi đàn con bé thơ, nuôi chồng trong tù.

Hoàng Vĩnh Lộc, người nồng nhiệt đóng góp những tinh hoa cho văn học nghệ thuật, nồng nàn yêu thương cuộc sống, khát khao với ánh sáng hạnh phúc mà lại bị tù đày. Tinh thần, sức khỏe của Hoàng Vĩnh Lộc bị suy nhược. Khi trở về nhà chẳng được bao lâu ông qua đời. Bà Hoài Hương đưa sáu đứa con thơ ra khỏi nước giữa thập niên 1980 và gây dựng cuộc sống mới tốt đẹp ngày nay với mười đứa cháu nội ngoại. Mỗi năm, đến ngày giỗ chồng, bà Hoài Hương âm thầm nhỏ lệ, như câu hát trong bài Tiếng Thời Gian:

“Mưa đêm nay khóc thầm, cuộc đời đầm ấm đã theo thời gian…” 
Biệt ly, tình đôi ta vời vợi
Thuở ấy hồn anh đắm chơi vơi ngoài khơi
Người em sầu mộng của muôn đời
Thề ước guồng tơ thắm không bao giờ phai

Tình em như tuyết giăng đầu núi
Tình anh như ánh trăng trầm suối
Tình ta như áng mây chiều trôi
Về tràn trên gối chăn mờ phai

Biệt ly, ôi biệt ly…
Ngậm ngùi đêm thâu, âm thầm đôi câu
Biệt ly, anh theo cánh gió chơi vơi
Phiêu du khắp bốn phương trời
Xa xôi tiếc nhớ khôn nguôi
Men say lấp kín môi cười
Biệt ly, sầu bi….

Chúng ta quý trọng Dạ Chung như một tài năng của đất nước, trong lúc ông lặng lẽ lìa đời ở một nơi chốn và hoàn cảnh mà chỉ được người ta xem như là kẻ vô danh. Đáng buồn thay!

Ngưng trích.

Phim Bến Cũ trình chiếu ở Hà Nội trước năm 1954. “Có thể” đây là rạp xi-nê Olympia, Phố Hàng Da.

Phim Bến Cũ trình chiếu ở Hà Nội trước năm 1954. “Có thể” đây là rạp xi-nê Olympia, Phố Hàng Da.

CTHĐ: Khoảng 4 giờ một buổi chiều Sài Gòn nắng vàng năm 1952, tôi nhìn thấy anh Hoàng Vĩnh Lộc lần thứ nhất. Lần ấy tôi nhìn thấy anh mà không được nói chuyện với anh. Tôi mới là phóng viên Nhật báo Ánh Sáng, tòa báo ở trên đường Bonard. Tôi đứng bên sạp báo bên cửa Hàng Ăn Kim Hoa, cạnh rạp xi-nê Casino. Tôi thấy anh Hoàng Vĩnh Lộc đến trên chiếc xe Peugeot decapotable trắng sám. Anh đi vào Restaurant Kim Hoa. Anh bận y phục mầu trắng, đi giầy trắng. Khi ấy bộ phim Bến Cũ – Hãng Phim An Pha Thái Thúc Nha sản xuất, diễn viên Hoàng Vĩnh Lộc, nữ diễn viên Bích Ngà, đã được chiếu. Với tôi, anh Hoàng Vĩnh Lộc là một jeune premier của Xi-Nê Việt Nam. Tôi được gặp cô Bích Ngà vài lần nhưng không quen cô, không được nói chuyện với cô. Dường như cô kết hôn với một ông Pháp. Sau khi đóng vai nữ chính trong phim Bến Cũ, cô sang sống bên Pháp.

Khoảng 11 giờ một buổi trưa năm 1960, tôi chạy xe qua trước cửa rạp xi-nê Asam, nhìn thấy anh Hoàng Vĩnh Lộc, anh Lê Quỳnh đứng bên đường, tôi tốp xe vào đứng nói chuyện với hai anh. Hai anh đang xem nhóm chuyên viên Pháp thu một ngoại cảnh cho phim Mort en Fraude. Người Việt có mặt trong đoạn phim này là anh Canh Thân. Lúc ấy anh Canh Thân đang đứng trước máy quay phim trên vỉa hè bên kia đường. Anh Hoàng Vĩnh Lộc biết tôi sẽ giữ một vai phụ trong bộ phim Hai Chuyến Xe Hoa sắp được thu hình, anh nói với tôi:

“Anh nên giữ cái đại danh văn sĩ của anh, anh đừng dại mà dính vào việc đóng phim. Người làm điện ảnh Việt Nam phải hy sinh nhiều lắm.”

Anh dùng tiếng “đại danh văn sĩ.” Tôi không hỏi anh tôi có nên đóng phim không, anh tự  ý nói lời khuyên tôi. Anh thật lòng với tôi biết là chừng nào, dù tôi không được thân với anh.

Những ngày như lá, tháng như mây…Một chiều Sài Gòn mưa tôi đến nhà anh đưa tiễn anh lần cuối. Đây là lần đầu tôi đến nhà anh, lần đầu mà cũng là lần cuối. Nhà anh trong một con hẻm đường Chi Lăng. Tôi ngồi dưới tấm bạt căng trước cửa nhà anh, nghe tiếng mưa rơi lộp bộp trên tấm bạt, nhìn quan tài anh kê trong nhà, vài ngọn nến leo lét. Chiều mưa lạnh, gió lạnh chiều gần tối.

o O o

Tài liệu trên WEB.

Lê Hoàng Hoa (1933-2012) là một trong những đạo diễn nổi tiếng của điện ảnh miền Nam trước năm 1975.

Ông tên thật Đoàn Lê Hoa, sinh năm 1933 tại Nha Trang.Trong quá trình hoạt động nghệ thuật, ông còn có nghệ danh là Khôi Nguyên.

Một số phim nổi tiếng của ông trước 1975 : Gác chuông nhà thờ, Điệu ru nước mắt, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Con ma nhà họ Hứa… Và sau 1975 là: Ván bài lật ngửa, Đằng sau một số phận, Vĩnh biệt mùa hè, Tình nhỏ làm sao quên, Vĩnh biệt Cali, Lệnh truy nã, Tây Sơn hiệp khách…

Trong đó, Ván bài lật ngửa được xem là một trong những tác phẩm điện ảnh kinh điển của Việt Nam. Tên tuổi Lê Hoàng Hoa và diễn viên Nguyễn Chánh Tín gắn liền với bộ phim đã chinh phục nhiều thế hệ khán giả.

Kịch bản phim được đạo diễn Lê Hoàng Hoa chuyển thể từ bản thảo tiểu thuyết Giữa biển giáo rừng gươm của nhà văn Trần Bạch Đằng. Bộ phim thành công tới mức sau đó nhà văn Trần Bạch Đằng đã lấy nhan đề này đặt cho tiểu thuyết khi đăng báo và xuất bản thành sách. Ván bài lật ngửa từng đoạt giải đặc biệt LHP Việt Nam lần thứ sáu năm 1983, giải Bông sen bạc LHP Việt Nam lần thứ bảy năm 1985.

Ông qua đời rạng sáng 31 tháng 7 năm 2012 tại TP HCM, thọ 79 tuổi.

CTHĐ: Tôi quen biết Lê Hoàng Hoa năm 1956 khi anh vừa từ Hoa Kỳ trở về. Dường như ông thân của Lê Hoàng hoa là một nhân sĩ có thế lực ở miền Trung. Lê Hoàng Hoa sang Hoa Kỳ du học rất sớm. Lê Hoàng Hoa sang Hoa Kỳ không phải để học về kỹ thuật Đạo diễn Xi-nê mà học về radio. Trong một số báo Thế Giới Tự Do thời ấy có bài và ảnh của anh khi anh học về radio ở Hoa Kỳ. Tôi thấy trang báo đó.

Có thể khi ấy Lê Hoàng Hoa có được học về kỹ thuật nhiếp ảnh. Anh đem về Sài Gòn cái máy ảnh Lindholf to tổ bố. Thời ấy máy ảnh Lindholf là hiện đại nhất. Máy ảnh Lindholf không nhập vào Sài Gòn, chỉ những người đi Mỹ về mới có thể có nó.

Tháng Ba 1976, các đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Minh Đăng khánh, Hoàng Anh Tuấn bị bọn VC bắt tù, đạo diễn Lê Hoàng Hoa, đạo diễn Bùi Sơn Duân làm phim với bọn VC. Tôi chắc không một lần các anh Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Hoàng Anh Tuấn, Minh Đăng Khánh đến Trụ Sở Hội Điện Ảnh Thánh Phố Hồ chí Minh.

Đạo diễn Thân Trọng Kỳ trên WEB.

Ông Thân Trọng Kỳ, có thể được coi là một trong những đạo diễn đầu tiên của điện ảnh Việt Nam, tốt nghiệp khoa điện ảnh của University of Southern California.

Theo cáo phó gia đình cho biết, đạo diễn Thân Trọng Kỳ từng là hội viên Hội Kỹ Sư Ðiện Ảnh và Truyền Hình Mỹ (SMPTE), từng được giải thưởng đạo diễn xuất sắc phim “Chờ Sáng,” giải Ðại Hội Ðiện Ảnh Quốc Tế Berlin.

Ông cùng từng là giảng sư Viện Ðại Học Minh Ðức và trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn.

Ngoài phim “Chờ Sáng” (1967), ông  là đạo diễn phim “Cúi Mặt” (1970), phim được đưa đi dự Ðại Hội Ðiện Ảnh Quốc Tế Berlin.

Năm 1994, ông định cư tại Hoa Kỳ, và bắt đầu tham gia nghiên cứu các công trình văn hóa nghệ thuật Việt Nam như hát bội, hệ thống mặt nạ của kịch cổ truyền Việt Nam và nhã nhạc cung đình Huế, và xuất bản qua hình thức CD và video.

Trong những ngày cuối đời, ông bị ung thư tụy tạng.

Tang lễ cố đạo diễn Thân Trọng Kỳ  được cử hành tại Nhà Quàn National Funeral Home, 7482 Lee Highway, Falls Church, VA 22042. (Ð.D.)

Đạo diễn Hoàng Anh Tuấn trên WEB:

Hoàng Anh Tuấn (7 tháng 5, 1932 – 1 tháng 9, 2006) là một nhà đạo diễn và nhà văn người Việt.

Hoàng Anh Tuấn sinh ra tại Hà Nội. Năm 17 tuổi ông sang Pháp học, đến năm 1958 ông trở về  Việt Nam sau khi tốt nghiệp Trường Điện ảnh IDHEC (viết tắt tiếng Pháp: L’Institut des Hautes Études Cinématographiques) ở Paris.

Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo chí ở Sài Gòn. Năm 1965 ông được bổ nhiệm làm Quản đốc Đài Phát Thanh Đà Lạt. Tên tuổi của của ông gắn liền với ngành điện ảnh Việt Nam trong vai trò đạo diễn. Bốn cuốn phim do ông làm đạo diễn là

Ngàn năm mây bay(1963), theo tiểu thuyết của Văn Quang, hãng phim Thái Lai sản xuất với các diễn viên Lê Quỳnh, Bích Sơn, Bích Thủy, Phạm Huấn

Hai chuyến xe hoa(1961) theo tiểu thuyết Hai chuyến xe hoa của Nguyễn Bính Thinh và tuồng cải lương của Thái Thụy Phong; hai diễn viên chính trong phim là Thanh Nga và Thành Được

Nước mắt đêm xuânvới các diễn viên Mai Trường, Nguyễn Long, Lệ Quyên và Khánh Ly.

Xa lộ không đèn(1972) với các diễn viên Thanh Nga, Hoài Trung, Trang Thanh Lan, Năm Châu

Sau năm 1975 ông bị bắt đi tù cải tạo, đến năm 1979 ông  xuất cảnh sang Pháp. Năm 1981 ông sang định cư ở Hoa Kỳ rồi mất ở San Jose, California.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân

Đạo diễn Điện ảnh Bùi Sơn Duân vừa là tên nghề nghiệp vừa là tên thật. Ông sinh năm 1932 tại Phú Yên và mất vào tháng 2 năm 2001 tại Hoa Kỳ. Trước 30/4/1975, Đạo diễn Bùi Sơn Duân cộng tác với Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh; Trung Tâm chuyên thực hiện phim tài liệu, sau ông làm đạo diễn phim truyện, và năm 1969 ông lập hãng phim riêng lấy tên Việt Ảnh, đặt văn phòng ở góc Pasteur – Hiền Vương Q3.

Trong quá trình nghề nghiệp, từ năm 1969 khi còn làm đạo diễn cho Trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh, đạo diễn Bùi Sơn Duân đã làm một cuộc “cách mạng” bằng cách sắp đặt tất cả tài tử diễn viên là người của điện ảnh mới và cũ cùng diễn trong phim, đặc biệt vai chính ông thường chọn một nam hay nữ nghệ sĩ cải lương nổi tiếng thời đó như Thanh Tú hoặc Bạch Tuyết. Trong phim Ba Cô Gái Suối Châu do Thanh Tú thủ vai chính;  trong phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya ông chọn nữ nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết, cùng những khuôn mặt mới gồm Như Loan, Tony Hiếu, Trần Hoàng Ngữ…. Thấy đường lối trên được khán giả hoan nghênh, đạt kết quả tốt đẹp về tài chánh, nhiều hãng phim khác đã đi theo, và nhờ đó mà một số nghệ sĩ cải lương được dịp chuyển sang lãnh vực điện ảnh và trở nên nổi tiếng hơn, như Hùng Cường, Thành Được, Thanh Nga, Bạch Tuyết v.v…

Khi đạo diễn Bùi Sơn Duân thành lập hãng Việt Ảnh, nhiều diễn viên trở thành “khuôn mặt tủ ” của hãng như Trần Quang, Tâm Phan, Đoàn Châu Mậu, Lý Huỳnh, Bạch Tuyết, Như Loan, Trần Hoàng Ngữ, Tony Hiếu, chuyên viên quay phim Trần Đình Mưu cùng nhiều diễn viên trẻ khác kết hợp thành nhóm, làm phim thể loại xã hội đen, buôn lậu, như ba phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya, Hải Vụ 709.

Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng của hãng Việt Ảnh, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971, diễn xuất cùng Thẩm Thúy Hằng trong Như Hạt Mưa Sa là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… “Người đẹp Bình Dương” Thẩm Thúy Hằng đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị dịu hiền, nhiều nữ tính,  cô em  trẻ trung, hiện đại. Bộ phim khi công chiếu có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp Như Giọt Sương Khuya phần 2 bằng phim màu, in tráng phim tại Hồng Kông. Nhưng ở bộ phim Như Giọt Sương Khuya quay vào năm 1972, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết vào vai chính với nam diễn viên Trần Quang. Như Giọt Sương Khuya được chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của Nhà văn Nguyễn Đình Thiều.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân thực hiện bộ phim Hải Vụ 709  năm 1974, do hãng phim Việt Ảnh hợp tác với hãng phim Dan Thai của Thái Lan. Truyện phim và đạo diễn do Bùi Sơn Duân đảm trách. Các diễn viên trong phim phía Thái Lan có Apinya và Duang Jai. Về diễn viên Việt Nam có Đoàn Châu Mậu, Trần Quang, Tony Hiếu, Tâm Phan, Trần Hoàng Ngữ… Quay phim Trần Đình Mưu. Phim thu hình nhiều cảnh đẹp ở Thái Lan cũng như những phong tục cổ truyền của nước này. Các cảnh quay trong nước được thực hiện tại Sài Gòn, Vũng Tàu, Phú Quốc. Một bộ phim màu hoành tráng và công phu, thuộc thể loại xã hội đen, buôn lậu.  Phim Hải Vụ 709 hoàn thành trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp chiếu ra mắt công chúng Sài Gòn.

Năm 1973, Liên Hoan Điện Ảnh Châu Á được tổ chức tại Sài Gòn. Nam tài tử Trần Quang ở trong ban đón tiếp phái đoàn điện ảnh các nước. Nhờ vậy, Trần Quang gặp Juisue Horikoshi, nữ diễn viên của Nhật Bản. Năm ấy cô 23 tuổi. Một tuần trôi qua thật nhanh, Liên Hoan kết thúc cũng là khi mối tình nảy nở nhưng chưa ai nói với ai lời nào. Khi tiễn đoàn Nhật Bản ra phi trường, diễn viên sân khấu điện ảnh Mộng Tuyền (lúc còn hát cải lương có tên Kim Loan) đưa cho Trần Quang một chiếc bông tai :

“Có người gửi cho anh cái này, mong có ngày đôi bông tai sẽ được tái ngộ.”

Trần Quang chạy như tên bắn lên máy bay, ôm hôn cô Horiiskoshi như một lời hẹn ước. Mối tình kéo dài đến năm 1974.

Năm đó đạo diễn Bùi Sơn Duân tính chuyện hợp tác với một hãng phim của Nhật làm phim Đôi Bông Tai dựa theo  chuyện tình của Trần Quang – Korishkoshi, dự định hai diễn viên cũng chính là người thật: Trần Quang và Horikoshi. Trần Quang và cô Horikoshi dự tính đến tháng 7 năm 1975 sẽ làm đám cưới và thực hiện bộ phim nhưng sau đó – Ngày 30 Tháng Tư đến – mọi chuyện đổi khác. Mối tình lãng mạn – điện ảnh Việt Nhật kéo dài trong ba năm kết thúc với những lời hẹn ước dang dở.

Trần Quang tâm sự:

“Sau này, nhiều lần tôi muốn qua Nhật tìm cô ấy, nhưng có cái gì níu bước chân tôi. Tôi muốn giữ lại trong nhau những hình ảnh đẹp nhất. Có thể cô ấy đã có chồng, đã có một cuộc sống hạnh phúc, tôi cũng đã có một cuộc sống khác.”

Bùi Sơn Duân vốn là một đạo diễn tâm huyết và rất yêu nghề. Sau năm 1975, với tên mới là đạo diễn Lam Sơn (như Lê Hoàng Hoa lấy tên Khôi Nguyên), ông đã thực hiện các bộ phim như: Giữa Hai Làn Nước, Bản Nhạc Người Tù, Đám Cưới Chạy Tang, Đường Dây Côn Đảo, Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Con Gái Ông Thứ Trưởng, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác, Ba Biên Giới.

Năm 1977, trong vòng mấy tháng, đạo diễn Bùi Sơn Duân và nhà quay phim Nguyễn Đông Hồng cùng với đoàn làm phim của Xưởng phim Tổng hợp Thành phố đã làm xong phim Giữa Hai Làn Nước và cho ra mắt khán giả, bộ phim được đánh giá cao.

Năm 1989, đạo diễn Bùi Sơn Duân làm cố vấn chỉ đạo nghệ thuật cho bộ phim vidéo Ba Biên Giới do Trần Quang ( khi ấy đang còn ở lại VN) muốn thử sức với vai trò đạo diễn.

Năm 1990, đạo diễn Bùi Sơn Duân xuất cảnh đi Mỹ. Năm 1993, ông nhận lời làm đạo diễn phim Gia Đình Cô Tư, một bộ phim hài với nghệ sĩ sân khấu điện ảnh Túy Hồng, và đây cũng là cuốn phim cuối cùng của ông.

Sống tại Hoa Kỳ, Bùi Sơn Duân thành lập Hội Ðiện Ảnh Việt Nam Hải Ngoại, tổ chức hằng năm các Ngày Điện Ảnh Việt Nam, ông từng tổ chức cuộc thi viết truyện phim với hy vọng khôi phục nền điện ảnh Việt Nam tại hải ngoại, nhưng chưa làm được gì đáng kể thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào năm 2001 tại Pomona.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân và cố nhạc sĩ Y Vân rất tâm đầu ý hợp nên bất cứ phim nào do đạo diễn Bùi Sơn Duân thực hiện đều do nhạc sĩ Y Vân làm nhạc đệm cho phim  trước 1975 và sau 1975.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân còn là bác ruột của diễn viên điện ảnh Thương Tín, hầu như các phim do ông làm đạo diễn sau 1975 đều mời cháu ruột mình tham gia vai chính hoặc vai thứ ở các phim như Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác.

CTHĐ: Nhiều Ông Đạo Diễn Điện Ảnh Sài Gòn “cộng tác” với bọn “cướp nước.”

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 192 other followers