• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

DÂN ĐỘC LẬP, VUA NÔ LỆ

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh đưa Quốc Trưởng Bảo Đại đi duyệt binh ở Hà Nội năm 1950. QT Bảo Đại; y phục trắng, kính đen to bản, giầy 2 mầu, thường gọi là giầy đơ cu-lơ, đóng ở Pháp.

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh đưa Quốc Trưởng Bảo Đại đi duyệt binh ở Hà Nội năm 1950. QT Bảo Đại; y phục trắng, kính đen to bản, giầy 2 mầu, thường gọi là giầy đơ cu-lơ, đóng ở Pháp.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Tháng Tám 2015…

Mò trên Net, tôi thấy bản tin kể chuyện Phó Tổng Thống Mỹ Biden gặp Đầu Xỏ VC Nguyễn Phú Trọng ở Mỹ. Với tư cách là Đầu Xỏ Đảng Cộng, không phải là Tổng Thống do dân Việt bầu cử, Nguyễn Phú Trọng không được Tổng Thống Obama đãi quốc yến ở Nhà Trắng. Tổng Thống Hoa Kỳ tiếp Tổng Bí Thư Đảng Cộng ở Nhà Trắng như nguyên thủ quốc gia đã là việc làm không đúng. Tổng Thống Hoa Kỳ không thể đãi quốc yến Tổng bí Thư Đảng Cộng Việt Nam. Do đó Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden đãi tiệc TBT Nguyễn Phú Trọng ở một tiệm ăn dân thường.

Bản tin cho biết trong lời chào mừng. PTT Biden lẩy Kiều:

Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.”

baodai2Tôi không biết có thật là PTT Biden “lẩy Kiều” hai câu đó không. Hay người viết bản tin ấy bịa ra. Cứ cho là chuyện có thật, tôi théc méc:

Ông Mỹ Biden không đọc Truyện Kiều. Đúng hơn tôi phải viết  ông Biden không đọc được Truyện Kiều. Tôi viết chắc: PTT Biden không biết gì về Truyện Kiều.  Ông Biden không thể tự ông biết, hay tự ông tìm ra,  hai câu Kiều đó. Một ông Việt Nam đã mớm cho ông Biden hai câu Kiều đó. Tôi phục ông người Việt vô danh, tôi bốc ông:

“Lẩy Kiều như ông là nhất.”

Thưa ông Việt Lẩy Kiều: Xin ông cho chúng tôi được biết quý danh, và trong trường hợp nào ông chỉ cho Phó TT Mỹ dùng hai câu Kiều đó. Tuyệt hay, thưa ông.

Theo tôi, lẽ ra Tổng Bí Nguyễn Phú Trọng phải là người “lẩy câu Kiều” đó.

Lan man tôi nhớ đến Lời Vua Bảo Đại trong Chiếu Văn Thoái Vị;

“Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

Một câu nói tôi cho là hay tuyệt. Một câu nói để đời.

Tôi nghi Vua Bảo Đại không tự nghĩ ra lời nói trên đây. Có một ông Việt Nam nào năm đó mớm cho vua Bảo Đại nói lời đó.

Tháng Tám năm 1945 có một ông Việt Nam ở Huế viết Chiếu Văn Thoái Vị cho Vua Bảo Đại. Vua chỉ ký vào Chiếu Văn viết sẵn.

Vua Bảo Đại là ông Vua Việt gần như suốt đời không viết gì cả. Hồi Ký của vua là do một ông Pháp viết.

Việc chuyên viên viết diễn văn cho Tổng Thống, Thủ Tướng là chuyện thường. Tên Mỹ của những chuyên viên Mỹ ấy là “ghostwriter.”

Tôi théc méc: Ông người Việt viết Chiếu Văn Thoái Vị cho vua Bảo Đại là ai?

Tìm trên Net tôi thấy ảnh ghi cảnh vua Bảo Đại duyệt binh ở Hà Nội năm 1950. Trong ảnh người hướng dẫn Vua Bảo Đại duyệt binh là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hình, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập.

Năm 1950 tôi – CTHĐ – có mặt trong đám dân Hà Nội đến Bờ Hồ Hoàn Kiếm xem Vua Bảo Đại duyệt binh. Dân bị chặn đứng ở xa nhìn tới. Năm 2000, ở Kỳ Hoa Đất Trích, tôi thấy tấm ảnh Vua Bảo Đại đi duyệt binh ở Hà Nội 65 năm xưa, năm tôi 17 tuổi.

Trên ảnh xưa có hàng chữ:

“Toàn thể các sĩ quan Quân Đội Quốc Gia triệt để – trung thành, hay tuân lệnh, chữ quá nhỏ, đọc không rõ – vi lãnh đạo tối cao của dân tộc.”

Năm 1961, Nhật báo Sàigònmới bị cái hố khi nhóm sĩ quan tạo phản đã bỏ nước ra đi, khi cuộc binh biến đã thất bại, báo đăng bản Tuyên Cáo của một số nhân sĩ ủng hộ cuộc đảo chính. Sợ bị chính quyền trù dập, Saigonmoi ra sức ca tụng, đề cao Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Một buổi trưa anh Năm Thành, anh con thứ năm của ông bà Bút Trà, giữ tôi ngồi cả giờ đồng hồ để tìm lời ghi dưới tấm ảnh TT Ngô Đình Diệm được báo đăng trong ngày hôm đó.

Sau khi tìm ra câu:

“Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vị lãnh đạo tối cao của dân tộc.”

Đọc lại, Năm Thành nói:

Vị lãnh đạo tối cao của dân tộc..” Chưa được toa ạ, Toa nghĩ có danh từ nào ghi vào cho hay hơn không?”

Mười lăm phút sau chúng tôi tìm ra lời đề dưới ảnh:

“Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vị lãnh đạo tối cao và duy nhất của dân tộc.”

Đến câu này – “vị lãnh đạo  tối cao và duy nhất ” – Năm Thành mới bằng lòng.

1961 Sài Gòn – 2015 Kỳ Hoa. Sáu mươi mùa thu lá bay qua đời tôi, tôi gặp lại danh từ “Lãnh đạo tối cao.”

Tờ Chiếu của Vua Bảo Đại sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Tháng Tám 1945.

Ba ngày sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và hai ngày trước khi Việt Minh giành được chính quyền ở Hà Nội, Vua Bảo Đại tuyên cáo với quốc dân, xác định tư cách độc lập của Việt Nam, nhưng tiên liệu việc Pháp có thể theo chân Đồng Minh về tái chiếm Đông Dương. Ông kêu gọi tất cả mọi người yêu nước giúp ông lập chính phủ mới để “đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc.” (Khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim vừa từ chức.) Trước tình hình chính trị sôi động ở trong nước, Vua Bảo Đại có một lời nói lịch sử:

 “Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU

Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu. Lịch sử nước Việt Nam hiện tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.

Đối với dân tộc Nhật Bản, Trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: Dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà. Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau mau có nội các mới.

Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc. Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hi sinh về tất cả các phương diện.

Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như Trẫm.

Trong sự chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ một nước Việt Nam độc lập mới có thể cộng tác một cách có hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc ở hoàn cầu.

Khâm thử,

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại Thuận Hoá ngày 10 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (Dương lịch ngày 17 tháng 8 năm 1945)

Số 181 CT Ngự tiền Văn phòng cung lục Thuận Hoá ngày 11 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (Dương lịch ngày 18 tháng 8 năm 1945)

Quan Tổng Lý

Ký tên: Phạm Khắc Hòe

Chiếu Thoái Vị của Vua Bảo Đại

Ngày 25 tháng Tám, 1945, Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị để trao quyền cho chính phủ Hồ Chí Minh vừa được thành lập trước đó một ngày. Ông  nhấn mạnh rằng “sự hi sinh của trẫm phải có bổ ích cho tổ quốc.” Ông đưa ra ba điều mong ước cho chính phủ  mới, đối với tông miếu và tăng tẩm nhà Nguyễn, đối với các đảng phái quốc gia, và đối với quốc dân, tất cả đều hướng về chủ đề “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết ” 

VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU

  • Hạnh phúc của dân Việt Nam
  • Độc lập của nước Việt Nam

Muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã tuyên bố: Trẫm sẵn sàng hi sinh hết cả mọi phương diện, và cũng vì phương diện ấy nên Trẫm muốn sự hi sinh của Trẫm phải có bổ ích cho Tổ quốc.

Xét thấy điều có ích cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng: trong giờ nghiêm trọng này đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.

Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam, Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người lợi dụng.

Cho nên, mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ đến công lao liệt thánh, vào sinh ra tử trong gần 400 năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận-hoá tới Hà-tiên.

Mặc dầu trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong 20 năm, mới gần gũi quốc dân được mấy tháng, chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một chính phủ dân chủ cộng hòa.

Trong khi trao quyền cho chính phủ mới, Trẫm chỉ mong ước có ba điều này:

  1. Đối với Tông Miếu và Lăng Tẩm của Liệt Thánh, chính phủ mới nên xử trí thế nào cho có sự thể.
  2. Đối với các đảng phái đã từng tranh đấu cho nền độc lập quốc gia nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân.
  3. Đối với quốc dân, Trẫm khuyên hết cả các giai cấp, các đảng phái, cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để chính phủ dân chủ, giữ vững nền độc lập của nước, chứ đừng vì lòng quyến luyến Trẫm và Hoàng gia mà sinh ra chia rẽ.
  4. Còn về phần Trẫm, sau 20 năm ngai vàng bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập, chứ Trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của Hoàng gia để lung lạc quốc dân nữa.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Dân chủ cộng hòa muôn năm!

Khâm thử

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại lầu Kiến Trung ngày 18 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20  (25 tháng 8 năm 1945)

Số hiệu 1871 GT

Ngự Tiền văn phòng cung lục

Dấu Ngự Tiền văn phòng

o O o

Tôi cảm khái vì Lời Văn Chiếu Thoái Vị. Tôi nhắc lại:

namphuong“Ông người Việt nào ở Huế năm 1945 viết Lời Chiếu Thoái Vị của Vua Bảo Đại.”

Vua Bảo Đại là lãnh tụ thứ nhất dùng thành ngữ: “đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.”

Vua Bảo Đại là ông Vua Việt Nam hai lần bị truất phế. Tháng Tám năm 1945 Vưa tự ý thoái vị. Nếu năm ấy Vua không thoái vị, có thể Vua bị Việt Minh giết chết. Tôi coi cuộc thoái vị đó cũng là cuộc truất phế. Vua bị truất phế lần thứ hai năm 1956.

Năm 1983 trong một số dân Sài Gòn truyền tai nhau chuyện Quốc Trưởng Bảo Đại sắp trở về nước chấp chính – tức nắm quyền. Nhiều người tin đây là chuyện thật. Người ta nói bọn Bắc Cộng sau khi chiếm miền Nam, đi vào ngõ cụt: “Tiến lên là Chết, lùi lại là Chết, đứng tại chỗ cũng Chết..” Tất cả các quốc gia trên thế giới có ác cảm với bọn Bắc Cộng, không quốc gia nào chịu giúp bọn Bắc Cộng, bọn Bắc Cộng bị bắt buộc phải mời Quốc Trưởng Bảo Đại về nước cầm quyền.

Năm 1964 ở Sài Gòn nhiều ông được cấp giấy phép ra nhật báo. Trong số những ông này có ông Ngô Đức Mão, được giấy phép ra nhật báo Tranh Đấu. Ông Chu Tử có lần mướn manchette tờ Tranh Đấu, nhưng Tranh Đấu do ông Chu Tử làm chỉ ra được khoảng một, hai tháng là bị đóng cửa. Năm đó tôi được gặp ông Ngô Đức Mão vài lần.

Ít người biết là dân Việt Nam có Hội Bảo Hoàng – Hội những người dân yêu vua, muốn nước có Vua – Hội Bảo Hoàng Việt Nam do ông Ngô Đức Mão làm Hội Trưởng. Ông Hội Trưởng Hội Bảo Hoàng Ngô Đức Mão từng được Hội Đồng Hoàng Tộc – theo lệnh bà Từ Cung – thường được gọi là Đức Từ – mời ra Huế để cám ơn.

Năm 1984 tôi bị bắt vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Qua cửa gió sà lim tôi nhìn thấy ông Ngô Đức Mão ở phòng Tập Thể Số 2 trước mặt. Ông và tôi trao đổi với nhau vài câu. Khi sang phòng tập thể, tôi được biết ông Ngô Đức Mão, bị bắt với khoảng bốn, năm ông bạn. Nhóm ông này “phấn khởi, hồ hởi” loan tin Quốc Trưởng Bảo Đại sắp về nước chấp chính. Các ông tụ họp ăn mừng tưng bừng. Tin này được gọi là tin “Ngài Ngự hồi loan.” Nghe nói bốn, năm ông này bị án tù khổ sai từ 3 năm đến 5 năm.

Vua Bảo Đại là ông Vua Việt Nam cuối cùng chết ở nước người. Trước ông, dân Việt có bốn ông Vua chết ở nước ngoài : Vua Hồ Quí Ly, Vua Lê Chiêu Thống, Vua Duy Tân, Vua Thành Thái.

Tôi théc méc: Khi Vua Bảo Đại ra đời, Hoàng tộc chắc phải lấy Số Tử Vi của ông. Số Tử vi của Vua Bảo Đại chắc phải ghi người có số này sẽ nửa đời mất nghiệp, phải bỏ nước đi và chết ở nước ngoài. Một người có số mệnh xấu như thế không thể làm Vua. Hay Số Tử vi của Vua Bảo Đại không có ghi những sự kiện ấy?

Tôi không thấy người Việt nào théc méc về cái tên Bảo Đại. Bảo Đại tức Bại Đảo. Đã Bại còn Đảo, làm sao khá được. Chuyện được ghi trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí: Thời Vua Lê, Chúa Trịnh, có ông Án Đô Vương. Người đương thời bảo nhau: “Án Đô là Đố An. Ông Chúa này không khá được.” Quả nhiên Án Đô Vương chỉ ở ngôi được ít tháng là bị hạ bệ.

Bà Nam Phương là bà hoàng hậu cuối cùng của dân tộc Việt. Tôi – kẻ viết bài này – ca tụng bà là bà hoàng hậu đoan chính. Suốt một đời hoàng hậu không làm qua một việc gì, không nói một lời gì để người đời chê trách.

..Hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng, nuốt cay..”

Cảm khái cách gì!

THƯƠNG TIẾC CAI TÙ

chihoa

Đinh Quang Anh Thái – Ý kiến: ‘Tiếc thương Đại úy Trại Chí Hòa’

BBC giới thiệu: Nhà báo Đinh Quang Anh Thái bị tù từ 1977 đến 1984 vì tham gia Mặt trận Dân tộc Tiến bộ do Bác sỹ Nguyễn Đan Quế sáng lập và ông phụ trách in tờ báo bí mật Toàn dân Vùng dậy. Ra tù tháng 2/1984 ông vượt biên tới Hoa Kỳ năm 1985. Hiện ông làm việc cho báo Người Việt ở Orange County, California. Cảm xúc này của ông đã được chia sẻ trên trang Facebook cá nhân.

—–

Nhà Báo Đinh Quang Anh Thái, Cựu Tù Nhân Nhà Tù Chí Hòa

Nhà Báo Đinh Quang Anh Thái, Cựu Tù Nhân Nhà Tù Chí Hòa

Bài viết của Ký Giả Đinh Quang Anh Thái. NET Ngày 5 Tháng 8, 2015.

Tiếc thương Đại úy Trại Chí Hòa.

Buổi chiều cuối tháng 7 ở California, nhận được tin nhắn của người bạn ở Sài Gòn: Ông Ba Thùy, người “cấm anh không được thất bại” đã chết, tiếc quá!

Ba Thùy, vỏn vẹn tên gọi hai chữ, tên thật là gì tôi không biết, chỉ biết ông mang quân hàm Đại úy và là Trưởng khu BC Trại giam T30 Chí Hòa giai đoạn 1982. Tôi đoán ông trên tôi khoảng trên dưới 10 tuổi.

Ba Thùy nổi tiếng khe khắt với tù nhân và sẵn sàng kỷ luật không nương tay với “những tù nhân phản động không chịu cải tạo” trong trại.

Tết Ta 1983, lần thứ ba, Ba Thùy đưa tôi ra khỏi phòng lớn để cùm trong biệt giam. Sáng 30 Tết, tù nhân Phòng 10 Khu BC vui sướng vì tin do trại giam cho biết người tù sẽ được thăm nuôi đặc biệt trong ngày nhờ “chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước.”

Tôi hồi hộp chờ đợi giỏ thăm nuôi của gia đình. Gần trưa, đích thân Ba Thùy gọi tên tôi ra khỏi phòng để đi biệt giam. Uất ức và ngỡ ngàng, tôi hỏi, tôi tội gì mà bị đi biệt giam, Ba Thùy nói: phạm kỷ luật trại giam.

Thì ra, tội cũ ba năm trước đánh ăngten trong trại. Tôi mặc vội hai quần xả lỏn và hai áo may ô trùm lên nhau và xách ca nhựa ra khỏi phòng. Ba Thùy ra lệnh cởi đồ và tước đi một quần, một áo.

Nằm trong biệt giam ở lầu ba trại T30, hai chân bị cùm, lưng dựa vách tường, đêm lạnh cóng vì đói ăn thiếu mặc, tôi xé đũng quần xà lỏn kéo lên  che ngực. Giấc ngủ chập chờn, người đổ vào chậu đựng phân, cứt và nước tiểu vương vãi khắp phòng, dính cả vào ca nhựa đựng cơm.

Sáng Mùng Một Tết, Ba Thùy mở cửa phòng giam, tôi nói, Tết là truyền thống của dân tộc, cán bộ cho tôi thùng nước rửa phòng giam và ca đựng cơm. Ba Thùy nói, không truyền thống gì với anh và ra lệnh cho người tù phát cơm đổ vào thau nhựa của tôi chén bobo và vài cộng rau muống.

Căm thù. Uất hận. Lòng chỉ muốn cầm dao đâm chết Ba Thùy. Thậm chí giết cả nhà Ba Thùy.

Vậy mà, nỗi thù hận tan vào hương khói, chỉ vì, chiều Mùng Một, nghe giọng Ba Thùy vọng lên từ khu nhà dành cho cán bộ quản lý trại giam:

thichtrihai“Em để con gà cho anh uống rượu với bạn.”

Giọng người đàn bà chắc chắn là vợ Ba Thùy:

“Cả nhà có con gà, anh ăn nhậu với bạn thì các con lấy gì ăn.”

Hóa ra họ khổ hơn cả tù nhân. Vì dù sao, người tù miền Nam, dù gì thì khi được thăm nuôi ngày Tết cũng được bữa cơm no với giỏ thức ăn do gia đình chắt chiu gửi vào.

Ba tuần biệt giam, tôi được thả về phòng giam chung, thân thể tàn tạ. Tri Hai tâm sự với ông Như Phong Lê Văn Tiến, “Nhà báo của các nhà báo miền Nam” bị giam cùng phòng, tôi nói, cháu sẽ thử tay Ba Thùy này và chấp nhận hậu quả.

Một tuần sau, tôi xin gặp Ba Thùy để xin “làm việc”, nghĩa là có vấn đề khai báo. Được gọi lên văn phòng, tôi nói với Ba Thùy:

“Cán bộ mắng nhiếc tôi là “tay sai Mỹ-Ngụy,” với tôi, cán bộ cũng chẳng qua là “tay sai” Liên Xô-Trung Quốc.””

Ba Thùy rút cái coòng tay và đánh vào trán tôi phọt cả máu. Vết thương ba mươi năm sau đến bây giờ vẫn còn dấu.

Thật ngạc nhiên, giải tôi tôi về phòng giam, Ba Thùy mở cửa và nói với toàn phòng, “Anh này nếu cải tạo tốt sẽ trở thành người tốt,”và không phạt gì tôi.

Vài tuần sau, Ba Thùy đột nhiên gọi tôi ra “làm việc”. Sau khi rảo một vòng quanh khu BC để cam chắc không có ai chung quanh, Ba Thùy quay về bàn làm và bắt đầu câu chuyện với giọng trọ trẹ vùng Quảng Bình:

“Tôi nói một lần và chỉ một lần với anh: đất nước này đang bị những tay quan liêu cách mạng cai trị. Tôi và một thằng bạn rời làng quê Quảng Bình đi chống Mỹ cứu nước. Ngày ra đi, bạn tôi khóc vì không nỡ rời lũy tre làng. Vậy mà bây giờ nó đã vượt biên và sống ở nước ngoài. Vì sao hả? Vì chúng tôi đi xuống miền Nam thấy ruộng đồng bát ngát, cá lội dưới sông, vậy mà dân vẫn đói. Chỉ vì chính sách ngăn sông cách chợ. Và chính tại trại giam này đã từng giam những người không sai phạm luật pháp. Cho nên, quan liêu cách mạng còn kinh hơn quan liêu phong kiến”.

Từ buổi nói chuyện hôm đó, Ba Thùy bớt gay gắt với tù nhân, và với riêng tôi, thi thoảng ông còn cho thuốc lá hút.

Một buổi chiều tháng Hai năm 1984, tôi bị gọi ra khỏi phòng. Ngồi bệt dưới đất nghe Ba Thùy hỏi:

“Anh có biết anh bị gọi làm gì không?”

Tôi nói, đời tù chuyển bao nhiêu phòng rồi, nên không biết rồi sẽ đi về đâu. Ba Thùy nói, anh được tạm tha.

Lúc ký giấy xuất trại, tôi nói với Ba Thùy, hồ sơ trại có địa chỉ nhà tôi, tôi mời cán bộ hôm nào đến tôi uống chung rượu.

Chừng một tháng sau, Ba Thùy xuất hiện trước cửa, bố mẹ anh chị em tôi hốt hoảng vì thấy công an áo vàng mang quân hàm đại úy đến hỏi.

Tôi mời ông ra đầu ngõ. Một đĩa tiết canh vịt, một đĩa lòng, hai xị đế. Ba Thùy hỏi, anh toan tính gì cho tương lai?

Tôi nói, bây giờ không còn là tù nhân nữa, xin phép gọi bằng anh và trải lòng, không công ăn việc làm, đêm nào cũng phải trình diện công an phường, tôi chẳng còn cách nào khác ngoài con đường vượt biên.

Ba Thùy đột nhiên đứng phắt dậy, nói gần như quát:

“Cấm anh không được thất bại. Tôi không muốn nhìn thấy anh trở lại trại giam.”

Tôi muốn khóc. Chợt thương Ba Thùy, chợt thương những phận người cả đời dấn thân cho lý tưởng để rồi bẽ bàng khi nhìn ra sự thật.

Buổi chiều sống xa quê nhà, chợt nhớ câu nói một người thuộc thế hệ cha ông:

“Trong cuộc chiến Quốc-Cộng, người Quốc Gia làm nhiều điều không chuẩn nhưng may mắn là làm trên Con Đường Đúng là mưu tìm No Ấm-Tự Do-Dân Chủ cho người dân. Còn người Cộng Sản làm nhiều điều thành công nhưng bất hạnh cho dân tộc vì họ chọn Con Đường Sai.”

Nghe tin ông Ba Thùy qua đời, thương ông, nhớ ông, một người Cộng Sản đã lỡ lầm hy sinh cống hiến cho Con Đường Sai. Dù không tin tôn giáo nào, tôi vẫn lắng lòng cầu nguyện cho ông tìm được an bình nơi cõi khác.

Đinh Quang Anh Thái

Nhà báo, sống tại California, Hoa Kỳ

CTHĐ Sao Y Bản Chính.

o O o

Là một Cựu Tù Nhân Nhà Tù Chí Hòa, tôi cảm khái khi tôi đọc những chuyện kể về Nhà Tù Chí Hòa. Tôi đã viết tôi thương, tôi mến Nhà Tù Chí Hòa. Nhà Tù đó là của tôi, tôi hèn, tôi đụt, tôi không giữ được nó; tôi để cho bọn Bắc Cộng chiếm nó, làm chủ nó. Tôi bị bọn Bắc Cộng cho tôi vào nằm phơi rốn trong Nhà Tù của tôi. Đáng kiếp tôi. Tôi không chết không nhắm được mắt, răng nhe, mồm há hốc, trong Nhà Tù Chí Hòa là may. Xác người tù Chí Hòa chết bị đưa xuống Nhà Xác, nằm đó chờ bọn gọi là pháp y đến mổ xẻ. Chúng không mổ xẻ để tìm tại sao người tù chết, chúng dùng xác người tù để học giải phẫu cơ thể. Nhiều người tù Chí Hòa đã chết thảm như thế. Trong số có ông đàn anh tôi là ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, bạn tôi là anh Dương Hùng Cường.

Nhà Tù Chí Hòa của tôi đã không giết tôi, tôi đã không chết lạnh, thân xác cứng ngắc trong Nhà Tù đó là phúc bẩy mươi đời tôi, tôi còn ọ ẹ nỗi gì.

Trong những bài Viết ở Rừng Phong, đôi khi tôi gọi Nhà Tù Chí Hòa bằng những cái tên Thánh Thất Chí Hòa, Trường Cao Đẳng Chí Hòa, Lầu Bát Giác Chí Hòa…Những cái tên thân thương.

Nhà Báo Đinh Quang Anh Thái kể ông vào Nhà Tù Chí Hòa năm 1982. Tôi vào Nhà Tù Chí Hòa năm 1985. Như vậy ông là Tù Nhân Đàn Anh tôi. Tôi nhiều tuổi hơn ông nhưng về thành tích Tù Chí Hòa, ông là đàn anh tôi, tôi là đàn em ông. Lão ô bách tuế bất như phượng hoàng sơ sinh. Nhân đọc bài viết về Nhà Tù Chí Hòa của ông, tôi bắt chước ông viết vài chuyện của tôi có liên can đến Nhà Tù Chí Hòa.

Năm 1977 tôi nằm sà-lim ở Khu C Một Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu. Muốn tôi thành thật khai báo, tên Công An thẩm vấn tôi là Huỳnh Bá Thành cho đàn em đến nhà tôi lấy đồ tiếp tế mang vào tù cho tôi. Bọn Công An Việt Cộng gọi việc gia đình người tù gửi thức ăn vào tù cho người tù là thăm nuôi. Tù nằm sà-lim đang chịu thẩm vấn chỉ được thăm nuôi do bọn CA thẩm vấn đem vào cho. Quà của tôi được CA cho tù đưa qua cửa gió vào sà-lim cho tôi. Anh bạn nằm sà-lim cạnh sà-lim tôi ghé mắt vào khe cửa gió nhìn thấy tôi có mấy trái chanh. Lúc vắng cai tù, anh nói qua cửa gió sang tôi:

“Anh cho tôi xin một, hai trái chanh. Tôi bị cao áp huyết, tôi cần chanh để uống.”

Mỗi ngày bọn Cai Tù đi điểm danh, điểm số lúc 6 giờ sáng và 6 giờ chiều. Tôi đợi khi tên Cai Tù đến cửa sà-lim tôi, tôi nói:

“Xin cho tôi gửi cho anh phòng bên mấy trái chanh.”

Tên Cai Tù hỏi:

“Sao anh biết anh ấy cần chanh?”

“Anh ấy bị cao áp huyết, anh ấy cần chanh để uống.”

Không oong đơ gì cả, tên Cai Tù đóng ập cánh cửa gió sà-lim của tôi lại. Y dùng phấn viết lên cửa sắt “Không mở.” Khi Cai Tù khác mở cửa gió xem tôi có trong sà-lim không, tôi xin mở cửa gió, Cai Tù trả lời:

“Anh phạm kỷ luật, anh bị phạt. Anh phải xin cán bộ phạt anh bỏ phạt, xóa hàng chữ “không mở” đi mới được. Tôi không có quyền mở cho anh.”

Trong Luật Cấm của Nhà Tù, điều thứ nhất là “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ.” Và “Tù biệt giam không được nói chuyện, trao đổi tin tức với tù nhân khác.”

Sà-lim chỉ có ô cửa gió bằng quyển sách mở ra ngoài trời; cửa gió bị đóng, trong sà-lim tối thui. Năm ấy tôi hút thuốc lá dũ dội. Sà-lim tôi đầy khói. Khó chịu quá đi mất.

Tên VC Nằm Vùng Huỳnh Bá Thành giam tôi 12 tháng 2 ngày trong sà-lim. Rồi nó gọi tôi ra gặp nó, nó nói:

“Hôm nay chúng tôi cho anh sang phòng tập thể, anh nghĩ sao?”

Tôi nói:

“Ngày tôi mới bị bắt, tôi xin anh cho tôi sang phòng tập thể, anh không cho. Đến nay tôi đã nằm sà-lim một năm, tôi quen rồi.”

Hai năm sau tôi xách cái sắc du hành Pan American – Made in Cholon – trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền. Buổi tối tôi với con tôi đi ăn phở. Đang ăn, tôi thấy thằng công an áo vàng, nón cối vào tiệm. Nó vào tiệm để ăn phở như tôi. Tôi đứng dậy chào nó. Nó chẳng thèm nhòm ngó gì đến tôi. Chỉ khi ngồi xuống ghế, tôi mới thấy tôi sợ những thằng công an Việt Cộng đến như thế nào.

Tôi nói với con trai tôi:

“Bố sợ chúng nó quá.”

Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai. Nằm Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu một năm, năm 1985 tôi sang Nhà Tù Chí Hòa. Buổi trưa, đứng trong sân nhìn lên tôi thấy những tầng lầu, những hàng song sắt đen sì, tôi nghĩ:

“Đây là Nhà Tù Chí Hòa. Mình đang ở trong Nhà Tù Chí Hòa. Ngày nào mình ra khỏi đây, mình sẽ kiêu hãnh vì mình đã sống trong Nhà Tù Chí Hòa.”

Năm 1985 Khu BC Nhà Tù Chí Hòa là Khu Giam Tù Hình Sư – trộm cướp, giết người – tù chính trị năm 1985 bị giam ở khu ED. Không có Khu Gia Cư của Cai Tù Chí Hòa ở cùng sân với những phòng giam tù. Tôi théc méc khi đọc:

Đinh Quang Anh Thái:

Vậy mà, nỗi thù hận tan vào hương khói, chỉ vì, chiều Mùng Một, nghe giọng Ba Thùy vọng lên từ khu nhà dành cho cán bộ quản lý trại giam:

“Em để con gà cho anh uống rượu với bạn.”

Giọng người đàn bà chắc chắn là vợ Ba Thùy:

“Cả nhà có con gà, anh ăn nhậu với bạn thì các con lấy gì ăn.”

CTHĐ: Vợ chồng thằng Cai Tù nói với nhau trong nhà nó, tôi có đứng ngay cửa nhà nó tôi cũng không nghe được lời chúng nó nói với nhau. Ông Tù ĐQAT nằm phơi rốn trên phòng giam Lầu Ba Khu BC nghe được tiếng vợ chồng thằng Cai Tù nói với nhau ở Khu Gia Cư Cai Tù – khu này theo cái biết của tôi, nằm ngoài vòng thành bao quanh  Lầu Bát Giác – tôi phục ông quá. Ông có đôi tai Thiên Lý Nhĩ. Ông thật xứng đáng là đàn anh tôi.

Nhà Tù Chí Hòa là nơi giam tù, không phải là nơi thẩm vấn tù. Nhà Tù Chí Hòa cũng có sà-lim, những sà-lim này dùng để nhốt những người tù Chí Hòa phá rối, không tuân lệnh. Thang lầu Nhà Tù xoáy trôn ốc, ở mỗi tầng thang lầu có một sà-lim. Người tù Chí Hòa khi bị tống vào những sà-lim này chỉ được mặc có cái sà lỏn.

Không có chuyện “cải tạo “trong những nhà tù Bắc Cộng. Người bị tù trong những Nhà Tù CS chỉ có việc ngồi rù gãi háng, nằm phơi rốn.

Cái tên “Tri Hai “trong bài viết của ông nhà báo ĐQAT làm tôi nhớ Sư Bà Trí Hải. Những năm trước sau năm 1985, thời gian Sư Bà bị bọn Công An Việt Cộng giam trong Nhà Tù Chí Hòa, Sư Bà còn trẻ. Trong những năm ấy Sư Bà là Sư Cô. Sư Cô Trí Hải bị bắt Tháng Ba năm 1984, cùng một ngày với các ông Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương.

Sau một năm chịu thẩm vấn ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Sư Cô bị đưa sang Nhà Tù Chí Hòa. Bốn năm sau ngày bị bắt, Ni cô bị đưa ra tòa. Tòa CS xử Cô 4 năm tù. Đã tù 4 năm, Ni Cô được về chùa ngay.

o O o

ĐQ Anh Thái:

Ba tuần biệt giam, tôi được thả về phòng giam chung, thân thể tàn tạ. Tri Hai tâm sự với ông Như Phong Lê Văn Tiến, “Nhà báo của các nhà báo miền Nam” bị giam cùng phòng, tôi nói, cháu sẽ thử tay Ba Thùy này và chấp nhận hậu quả.

CTHĐ: Tôi không hiểu ông ĐQAT viết chuyện gì trong đoạn ông kể trên đây. “Tri Hai tâm sự với ông Như Phong Lê Văn Tiến.. bị giam cùng phóng..”

“Tri Hai” đây làm tôi nhớ đến Ni Sư Trí Hải, người bị bắt trong Vụ Già Lam, cúng với các ông Thích Đức Nhuện, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương. Như lời ông ĐQAT kể trên đây thì ông nằm tù chung phòng giam Nhà Tù Chí Hòa với ông Như Phong Lê Văn Tiến?? Năm 1985, 1986 tôi thấy ông Như Phong Lê Văn Tiến nằm trong Phòng 1 Nhà Tù Chí Hòa. Phòng 1 ở dưới đất, gần ngay bể nước, nơi tù các phòng giam khu ED được một tuần ra tắm một lần. Ông Như Phong trong Phòng 1 có vài lần gọi tôi hỏi vài câu khi tôi được ra tắm. Ông bị bắt ngay những tháng cuối năm 1975. Ông bị giam dài dài từ đó. Năm 1988 ông được thả. Đầu năm 1991 tôi được thả. Tôi gặp lại ông Như Phong ở Sài Gòn trong tiệc cưới con trai Thanh Thương Hoàng. Ông sang Kỳ Hoa trước tôi. Năm 1995 tôi gặp lại ông ở Cali. Rồi ông sang sống ở Virginia. Tôi được gặp ông vài lần ở Virginia. Ông không có vợ con, sang Kỳ Hoa ông sống với một người cháu. Ông dặn cháu ông không cho ai biết tin ông khi ông nằm chờ chết.

Tầng dưới đất của Khu ED có 4 phòng giam tập thể. 2 phòng giam Tù Đàn Ông, hai phòng giam tù đàn bà. Sáng chủ nhật người  tù trong hai phòng giam này được ra sân chứng 30 phút. Phòng 1 được mkë cửa cho người tù ra sân, 30 phút sau người tù Phoàng 1 trở vào phóng giam, cửa Phòng 1 đóng lại, đến lượ người tù Phòng 2 được ra sân.  Suốt 4 năm nằm phơi rốn trong Phòng 10, khu Ed, Nhà tù Chí Hòa, tôi không thấy sáng chủ nhật nào Ni Cô Trí Hải ra sân.

Năm 1989 tôi ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Một hôm vợ tôi lên Trại thăm tôi. Khi đang ở Nhà Khách, tôi được biết Ni Cô Trí Hải lên Trại gặp các ông Tù Thích Đức Nhuận, Trí Siêu, Tuệ Sĩ, tôi đến chào Cô:

“Thưa Cô, tôi là Hoàng Hải Thủy. Xin chào cô.”

Xin ngừng. Kể chuyện Tù Đầy mãi – kể trong 20 năm, kể từ Ngày Sang Kỳ Hoa Đất Trích – tôi cũng chán, nói chi người nghe kể, người đọc chuyện.

Tôi sang chuyện khác.

o O o

Từ 10 năm nay sống cô liêu trong một nhà dành cho Người Cao Tuổi Thu Nhập Thấp – Old Seniors Low Income – mỗi ngày tôi mở computer ba lần.

Lần Một: 9 giờ sáng đến 11.30 trưa. Tắt máy. Ăn cơm. Nằm đọc tờ The Washington Post. Ngủ hoặc nằm lơ mơ đến 2.30.

Lần Hai: 3 giờ trưa đến 5 giờ chiều. Tắt máy. Đi bộ một giờ trong Rừng Phong, hay vào Exercise Room ngay trong nhà, đi trên treadmill 30 phút, tập tay với cặp tạ 5 ký. Về phòng – 6 giờ – tắm, ăn cơm.

Lần Ba: mở computer lúc 9 giờ tối, mầy mò, moi móc đến 11.00. Tắt máy. Nằm đọc sách. Ngủ.

Chẳng phải một mình tội nghiện computer. Nhiều người già ở Kỳ Hoa, Việt Nam, nghiện computer như tôi. Tôi Tám Bó Tuổi Đời, 10 năm nay không uống rượu, dù là Vang, Laze; 10 năm không xỏ tay vào áo veston, không thắt ca-vát, đi giầy không đi bí-tất,  quanh quẩn vanh-cát suya vanh-cát – 24/24 – trong nhà. Không có computer, tôi làm gì cho hết ngày. Cũng may cho tôi, tôi có computer. Và tôi thích Viết. Tôi thích Viết Truyện từ năm tôi mười tuổi. Nhiều lần tôi viết:

“Với tôi, Viết là Hạnh Phúc.

“Tôi Sống để Viết. Tôi Viết để Sống.”

Thợ Viết được Viết bằng computer là một Sướng Khoái Tuyệt Vời. Cái Sướng Khoái ông Tầu Kim Thánh Thán không được hưởng. Viết bằng computer người viết tha hồ sửa bài. Computer giúp tôi viết bài, gửi bài đi, giữ bài, tìm tài liệu, học, giải trí…

Viết bài xong, đọc lại, dò lỗi chính tả, sửa lỗi. Xong. Nhấn Send. Trong một nháy mắt, một satna, bài viết tới trước mắt người nhận, dù người nhận ở bên kia trái đất.

Cũng may cho tôi là tôi có Người Đàn Bà cùng sống với tôi nơi Đất Trích. Nàng đã sống với tôi 60 mùa thu vàng ấm. Từ Tháng Bẩy 1954.

Không khác gì những cặp vợ chồng già, nàng và tôi đôi khi ủng oẳng với nhau. Từ hai năm nay, tai tôi lãng. Chưa Điếc, chỉ Lãng. Nhiều khi tôi nghe tiếng Nàng nói mà không nghe rõ Nàng nói gì. Tôi hỏi lại:

“Em nói gì?

Nàng bực;

“Nói không chịu nghe. Cứ bắt người ta nhắc lại.”

Khi nghe tôi than vợ chồng tôi ủng oẳng, Thái Thủy nói:

“Sẽ có ngày mày muốn ủng oẳng với bà ấy mà mày không còn bà ấy ở đó cho mày ủng oẳng.”

Thái Thủy ở Cali. Hai năm cuối đời, anh bại liệt. Mỗi chiều Thứ Bẩy, Chủ Nhật – phone Mỹ gọi không mất tiền – Thái Thủy thường phone cho các bạn anh, trong số có tôi. Vợ anh nhấn số điện thoại cho anh, để phone trên ngực anh, anh chỉ việc nói, nghe.

Hoàng Song Liêm nói:

“Vợ chồng già nào mà chẳng thế.”

Nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hòa 4 năm, tôi không biết một vụ Tù Chí Hòa nổi loạn, tù nhân chiếm Nhà Tù trong 40 ngày. Đây là vụ Tù Chí Hòa nổi loạn, chiếm Nhà Tù duy nhất từ ngày Nhà Tù Chí Hòa mở cửa đón khách.

Vụ Nổi Loạn ấy được ghi trong tác phẩm:

Hai Mươi Năm Qua. Việc Từng Ngày. 1945-1964. Tác giả Đoàn Thêm.

Ngày 24 Tháng Tư, 1956.

2.000 tù nhân tại Khám Chí Hòa nổi loạn, dùng mảnh chai, sắt nhọn, v..v..chống lại các giám thị và binh sĩ canh gác. Quân đội phải dùng lựu đạn cay mắt.

Ngày 30 Tháng 5, 1956.

Tù ở Khám Chí Hòa nổi loạn từ 24-4-1956 và bạo động bằng vỏ chai, thanh sắt nhọn, mảnh bát đĩa ..v..v..Lại cấm người được tha ra về, ngăn không cho đưa người tù ra tòa. Hôm nay đã dẹp yên sau 40 ngày rối ren.

Nhà Bếp Nhà Tù Chí Hòa ở trong Khu FG. Kho chứa gạo nằm trong Khu Nhà Bếp. kho gạo của Nhà Tù không thể chứa số gạo cho 2.000 người tù ăn lâu hơn 40 ngày.

NGÀY VỀ QUÊ

thieu

Cái Làng này có hai tên: Làng Báo Chí và Làng Ký Giả. Trên thế giới không quốc gia nào có cái Làng riêng của những người làm báo. Làng Ký Giả có được là nhờ công của Ký giả Thanh Thương Hoàng, Nguyên Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam. Nhân danh Chủ Tịch Nghiệp Đoàn, TT Hoàng vay tiền Nhà Nước. Số tiền vay 300 triệu đồng, mua đất, làm nhà bán cho ký giả.

Ngày 3 Tháng 2, 1971 Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêu đặt viên gạch đầu tiên xây dựng Làng. Người bận veston đi cạnh Phu Nhân Tổng Thống là ông Chủ Tịch Thanh Thương Hòang. Ông TT Hoàng hiên sống ở thành phố San Jose, Kỳ Hoa.

———-

Từ 10 năm nay sống cô liêu trong một nhà dành cho Người Cao Tuổi Thu Nhập Thấp – Old Seniors Low Income – mỗi ngày tôi mở computer ba lần.

Lần Một: 9 giờ sáng đến 11.30 trưa. Tắt máy. Ăn cơm. Nằm đọc tờ The Washington Post. Ngủ trưa hay nằm lơ mơ đến 2.30.

Lần Hai: 3 giờ trưa đến 5 giờ chiều. Tắt máy. Đi bộ một giờ trong Rừng Phong, hay vào Exercise Room ngay trong nhà, đi  trên treadmill 30 phút, tập tay với cặp tạ 5 ký, với máy kéo tay hiện đại. Về phòng – 6 giờ – tắm, 7 giờ ăn cơm.

Lần Ba: mở computer lúc 9 giờ tối, mầy mò, moi móc đến 11.00. Tắt máy. Nằm đọc sách. Ngủ.

Chẳng phải một mình tội nghiện computer. Ngày 3 cữ. Nhiều người già ở Kỳ Hoa, ở Việt Nam, nghiện computer như tôi. Tôi Tám Bó Tuổi Đời, 10 năm nay không uống rượu, dù là Vang, Laze, quanh quẩn vanh-cát suya vanh-cát – 24/24 – trong nhà. 10 năm nay tôi không xỏ tay vào áo veston, không thắt cravate, chuyên đi giầy không bí-tất, không đi gặp anh em, không đi ăn nhậu, đấu hót. Tôi có lý do là tôi ở nhà săn sóc vợ tôi.

Năm năm trước vợ tôi bị té, may chỉ bị rập xương, không nứt xương. Trong thời gian nàng nằm liệt, tôi ngày đêm xin:

“Xin Mẹ cho vợ con sống với con năm năm nữa.”

Đến hôm nay Đức Mẹ Maria đã cho tôi được sống với vợ tôi năm năm.

Vợ tôi đi lại được nhưng đi khó, rất yếu, rất dễ té ngã.

Nhắc lại: Từ năm năm nay tôi quanh quẩn trong nhà suốt ngày đêm. Tôi bỏ anh em nên anh em tôi bỏ tôi. Biết tôi không đi, không đến, anh em tôi không mời gọi tôi nữa.

Không có computer, tôi làm gì cho hết ngày. Cũng may cho tôi, tôi có computer. Và tôi thích Viết. Tôi thích Viết Truyện từ năm tôi mười tuổi.

Nhiều lần tôi viết:

“Với tôi, Viết là Hạnh Phúc.
“Tôi Sống để Viết. Tôi Viết để Sống.”

Thợ Viết được Viết bằng computer là một Sướng Khoái Tuyệt Đỉnh. Cái Sướng Khoái ông Tầu Kim Thánh Thán không được hưởng. Viết bằng computer người viết tha hồ sửa bài. Bài viết được sửa, xóa, viết thêm mà không lem nhem, không vết sủa. Computer giúp tôi viết bài, gửi bài đi, giữ bài, tìm tài liệu, tìm ảnh, làm photoshop, tức ghép ảnh, làm ảnh dzởm, học, giải trí…

Tôi thích làm photoshop. Có khi mê mải làm một ảnh trong cả giờ đồng hồ. Làm để chơi, làm vì thích làm, làm ảnh ghép mà không dùng đăng theo bài viết.

Bài viết xong nhấn Sent là trong một nháy mắt, trong nửa sát-na, bài tới tòa báo.  Người bạn chủ báo chỉ cần lấy bài – download – và đăng lên báo. I-Meo gửi bạn cũng thế. Ngồi ở Kỳ Hoa, viết I-Meo, nhấn Sent, là ngay khi đó thư về đến Sài Gòn.

Gọn, nhanh, sạch. Bài viết không nhem nhếch, không rập xóa, không có lỗi sai chữ – xưa gọi là phốt ti-pô, lỗi của anh em sắp chữ nhà in. Viết bằng computer nếu bài có lỗi chính tả, đó là lỗi của người viết.

Chơi I-Meo còn vui nữa. Như tôi hiện nay ngày nào cũng I-Meo qua lại với Văn Quang ở Sài Gòn, với ông Nhà Văn Tạ Quang Khôi, ông này tuổi đời còn Bốn Que là đầy Chín Bó. Ông vượt biên sang Kỳ Hoa từ năm 1980. Bà vợ ông qua đời đã lâu. Hiện ông sống cu ky trong cùng một  Nhà Già với tôi. Phòng ông ở Lầu 3, phong tôi ở Lầu 2. Tuy ở cùng nhà chúng tôi ít gặp nhau, nhưng ngày nào chúng tôi cũng I-Meo cho nhau hai, ba lần. Toàn chuyện rỡn chơi, chọc ghẹo nhau cho đỡ buồn, cho có việc làm.

Và ai nghiện computer cũng vậy, buổi sáng mở computer, việc đầu tiên là check mail, xem trong đêm qua mình có những điện thư nào gửi đến. Đêm, trước khi tắt computer, check mail lần cuối.

Cũng may cho tôi là tôi có Người Đàn Bà cùng sống với tôi nơi Đất Trích. Nàng đã sống với tôi 60 mùa thu vàng ấm. Từ Tháng Bẩy 1954. Năm chúng tôi hai mươi, chúng tôi gặp nhau. Chúng tôi đã sống với nhau 40 năm trong thành phố thương yêu Sài Gòn, 20 năm ở Kỳ Hoa Đất Trích.

Không khác gì những cặp vợ chồng già, nàng và tôi đôi khi ủng oẳng với nhau. Từ hai năm nay, tai tôi lãng. Chưa Điếc, chỉ Lãng Tai. Tên gọi khác là Nặng Tai. Ai già cũng thế thôi. Nhiều khi tôi nghe tiếng Nàng nói mà không nghe rõ Nàng nói gì.

Tôi hỏi lại:

“Em nói gì?”

Nàng bực;

“Nói không chịu nghe. Cứ bắt người ta nhắc lại.”

Khi nghe tôi than vợ chồng tôi thường ủng oẳng, như lúc 10, 11 giờ đêm, căn phòng trong Nhà Già tối thui, chỉ có đèn sáng trên bàn viết của tôi, vợ tôi trong phòng ngủ đi ra, nàng bóc gói bánh. Không lẽ không hỏi gì vợ, tôi hỏi nàng:

“Em mở gói bánh mới đấy à? Gói cũ hết rồi ư?”

Thay vì chỉ thốt lên tiếng “Ừ.” Nàng nói:

“Thấy người ta mở đây. Còn hỏi.”

Tôi kể chuyện đó qua phone với Thái Thủy – Thái Thủy ở Cali – Thái Thủy nói:

“Sẽ có ngày mày muốn ủng oẳng với bà ấy mà mày không còn bà ấy ở đó cho mày ủng oẳng.”

Hoàng Song Liêm nói:

“Vợ chồng già nào mà chẳng thế.”

Thái Thủy, Hoàng Anh Tuấn, Vương Đức Lệ, Mai Trung Tĩnh, Hồ Văn Đồng, Như Phong Lê Văn Tiến, Thanh Tâm Tuyền …, những văn nghệ sĩ sau những năm tù đầy ở quê hương, đã đến Kỳ Hoa và đã chết ở Kỳ Hoa.

o O o

Nguyễn Đình Toàn. Tạ Tỵ vẽ.

Nguyễn Đình Toàn. Tạ Tỵ vẽ.

Tìm quên trên Net, tôi thấy Lời Nhạc Tình Khúc Thứ Nhất của Nguyễn Đình Toàn.

Những năm 1970 ngôn ngữ người Sài Gòn có tiếng “Về quê” gọi thay cho tiếng Chết. “Ông ấy về quê dzồi.” Nghe nhẹ hơn, đỡ buồn hơn “Ông ấy chết dzồi.”

Tiếng “Về quê” ở trong Lời Nhạc Tình Khúc Thứ Nhất.

Tiếng “Về quê” từ trong lời bản Nhạc Tình Khúc Thứ Nhất đến trong ngôn ngữ người Sài Gòn.

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say
Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời
Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền
Dù Trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường
Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm Tình Yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế.

*
Ngày về quê xa lắc lê thê….

Tôi không nhớ tôi gặp Nguyễn Đình Toàn lần thứ nhất ở đâu, bao giờ. Chỉ nhớ là tôi biết Toàn khoảng năm 1960. Biết nhau là mày tao ngay.

Vào những ngày cuối năm 1975, đầu năm 1976, Sài Gòn có phong trào nuôi thỏ. Vì không có việc gì làm, người ta bầy ra trò nuôi thỏ cho qua thì giờ. Một hôm – cũng không có việc gì làm – buồn quá tôi đạp xe sang Làng Báo Chí.

Nguyễn Đình Toàn bận bộ quần áo nâu, đội nón lá, cắt cỏ trong bãi cỏ đầu làng. Toàn cắt cỏ đem về nuôi thỏ.

Ghé xe gặp bạn ngay bên đường, Toàn nói:

“Mày xem. Cả năm nay tao không được ăn miếng thịt bò, mà tao cắt cỏ bị liềm xén vào tay, mất cả nửa lít máu. Còn gì là tao nữa.”

Phong trào Nuôi Thỏ ở Sài Gòn sống bệu nhệch được năm, sáu tháng là chết ngỏm.

Tháng Bẩy 1976 Toàn và tôi đi dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn, khóa học do bọn ở cái gọi là Hội Văn Nghệ Sĩ Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức.

Nhà Toàn ở Làng Báo Chí. Buổi trưa Toàn không thể đạp xe về nhà ăn cơm, ăn xong lại đạp xe đến lớp, tôi rủ Toàn:

“Trưa về nhà mẹ tao ăn cơm với tao.”

Nhà tôi ở trong Cư Xá Tự Do, giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền. Nhà mẹ tôi ở đường Trần Quốc Toản, từ nơi học ở trong vi-la nơi Ngã Tư Trương Minh Giảng – Tú Xương tôi về nhà mẹ tôi gần hơn.

Có buổi trưa ngồi chờ giờ trở lại lớp, Toàn cầm cây đàn của con tôi, nhẹ tay đàn, hát nhẹ đôi câu, mẹ tôi nói;

“Nhạc của ông buồn quá.”

Toàn nói với tôi:

“Tao là thằng nhạc sĩ lỡ.”

Cùng dự Khóa Bồi Dưỡng với chúng tôi có Cao Nguyên Lang. Cao ký giả cũng có nhà trong Làng Báo Chí.

Toàn bảo tôi:

“Mày gọi nó là Cao Khoai Lang.. Cái tên hay đấy..”

Toàn kể chuyện:

Trong Làng Báo Chí có phòng họp. Trên tường phòng họp này có trưng ảnh Bác Hồ. Bọn nhóc trong làng bôi cứt lên miệng Bác Hồ. Cả tháng sau dân làng mới thấy. Cứt trên mồm Bác Hồ đã khô nhưng vẫn còn đấy. Tất nhiên là dân làng vội hạ ảnh Bác xuống.

May mà thằng công an khu vực chưa kịp biết.

Cùng thời gian ấy, khoảng năm 1977, 1978, vì đói, một số em trai trong Làng lén gỡ tôn trên mái những căn nhà không người ở trong làng, gỡ đem đi bán. Trong số những em này có con của Cao Nguyên Lang.

Bị dân làng dọa:

“Ông không ngăn con ông gỡ trộm tôn, chúng tôi sẽ cho công an khu vực biết.”

Cao Nguyên Lang nói:

“Mấy ông, mấy bà cứ cho công an biết con tôi gỡ trộm tôn đi, tôi sẽ cho công an biết con mấy ông, mấy bà bôi cứt lên mồm Bác Hồ.”

Đấy là chuyện Nguyễn Đình Toàn kể, tôi nghe.

o O o

Đời có câu: “Văn mình, Vợ người.”

Tôi nghĩ người ta không quí thơ văn của mình vì cho là Thơ Văn mình Hay mà quý là vì người ta khổ tâm khi làm những Thơ Văn ấy.

Nhân viết về Thơ Nguyễn Đình Toàn, mời quí vị đọc vài bài Thơ của tôi:

Quân lịch Kỳ Hoa, quân bất cải.
Ngã du Mỹ Quốc, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Giai nhân, cùng sĩ đối sầu miên.
*
Kỳ Hoa Em vẫn là Em,
Anh sang Mỹ Quốc, đêm đêm Anh buồn.
Một đi hoàng hạc đi luôn,
Giai nhân, cùng sĩ, đối buồn nằm mơ!
*
Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
Thủy đáo nhân gian định bất hồi.
Hoa chờ, nước chẳng về trời,
Ngàn năm mây trắng ngời ngời áo bay.
Còn nhau chẳng giữ cho hay,
Mất nhau lại tiếc những ngày có nhau.
Mắt Em ngưng ánh lệ sầu,
Về nhà chồng hỏi — Qua cầu gió cay.
*
Câu Tiễn ngồi trên ngai vàng,
Có bao giờ nhớ đến Nàng, Tây Thi.
Sang Ngô mờ vết xe đi,
Cô Tô Đài có còn gì nữa đâu.
Đêm tha hương, giấc ngủ sầu.
Trong mơ xanh biếc một mầu Tây Thi!
*
Trên ghế cà phê vỉa hè, nghe tiếng hát Lệ Thu từ casset:
Em buồn Em bỏ đi đâu
Sao Em để tiếng Em sầu ở đây!
Thu vàng, hạc lánh về Tây
Lệ rơi từng tiếng Thu này, Em ơi.
Từ Em góc biển, chân trời
Em cón Tiếng Hát Yêu Người không Em?
*
Kiếp nay đã giở giang nhau,
Thì xin kiếp khác, duyên sau lại lành.
Kiếp này đã chẳng Em Anh,
Làm sao kiếp khác chúng mình thành đôi.
Kiếp này biết kiếp này thôi.
Hẹn làm chi để bồi hồi kiếp sau!
Kiếp nay đã chẳng cùng nhau,
Hẹn làm chi để kiếp sau bồi hồi.
*
Cuộc sống, dòng đời trôi chẩy mãi,
Ba mươi năm lẻ, một lòng đau.
Mất nhau từ cuộc thương tang ấy,
Anh vẫn buồn, anh vẫn nhớ nhau.

Độc tại Kỳ Hoa vi nạn khách,
Mỗi phùng Nguyên Đán bội thương sầu.

Anh ở Kỳ Hoa, làm khách nạn,
Mỗi năm Tết đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Đông Công Tử bạc đầu Rừng Phong.

CTHĐ, Rừng Phong. Ngày 8 Tháng 8, 2015.

Ngày về quê xa lắc lê thê..

Thi sĩ ơi… Ông viết câu Thơ trên năm 1970. Năm ấy, năm 1970,  ông Bốn Mươi tuổi, ông thấy ngày ông Về Quê xa lắc xa lơ. Đúng thôi.

Năm nay 2015 – 45 mùa thu vàng ấm đã qua đời ông, đời tôi,  tôi chắc ông thấy rõ hơn ai hết là:

Ngày Về Quê..” của ông, của tôi, không còn xa lắc nữa…

Chỉ có chuyện chúng ta chưa biết là ông sẽ về quê trước tôi, hay tôi sẽ về quê trước ông.

“Về quê” và “đi tầu suốt” đồng nghĩa.

Tôi có Thơ:

Đi trước, đi sau

Chưa biết thằng náo trước thằng nào.
Thằng nào đi trước, thằng nào sau.
Không thằng nào nói: “Tao đi trước.”
Không thằng nào nói: “Tao đi sau.”
Đi sau, đi trước cùng đi cả
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Thằng đi sau lậy thằng đi trước.
Thằng đi trước kệ thằng đi sau.
Đi sau, đi trước cùng đi cả
Théc méc  làm chi chuyện trước sau.

 

GIÓ ÐÔNG, GIÓ TÂY

Nữ diễn viên Luise Rainer và Kép Paul Muni trong phim The Good Earth. Phim Hollywood, làm theo tiểu thuyết The Good Earth của Nữ sĩ Pearl Buck.

Nữ diễn viên Luise Rainer và Kép Paul Muni trong phim The Good Earth. Phim Hollywood, làm theo tiểu thuyết The Good Earth của Nữ sĩ Pearl Buck.

Ngày xửa, ngày xưa ở tỉnh Hà Ðông, Xứ Bắc Kỳ…

Mùa hè ăn nhót, ổi, nhãn, vải, đá bóng, tắm sông, bắn chim, câu cá, thấy ngày thật dài nhưng thời gian qua thật nhanh. Ðặc biệt là không thấy đói mấy. Nói rõ hơn mùa hè cũng thấy đói nhưng không đói bằng những buổi trưa cuối thu, đầu đông.

Mười hai giờ trưa Ông Phán từ Dinh Tổng Ðốc về nhà bằng xe tay Omic, tức xe nhà. Xe tay Omic cũng do sức người kéo nhưng khác với xe tay công cộng ở những điểm thùng xe sơn then, gọng xe bằng đồng. Dinh Tổng Ðốc cách nhà ông Phán chưa đầy năm trăm thước nhưng ngày ngày ông vẫn đi làm, về làm bằng xe tay nhà. Anh con ông năm ấy tuổi đời Một Bó Lẻ Một Hai Que – năm 1941, 1942 – chú nhóc mười mấy mùa Thị Mịch nằm nghiêng sau tự nhận một cách khiêm tốn là Công Tử Hà Ðông — đón ông bố về để, hổng phải là để mừng ông về nhà ăn cơm trưa mà là vồ tờ nhật báo Việt Cường ông đem về mở đọc trước tiên, chú nhóc trải tờ báo trên sập, đọc lướt qua hai tiểu thuyết đăng trong tờ báo rồi mới ngồi vào ăn cơm.

Những năm 1941, 1942, Ðại Chiến Thế Giới Thứ Hai đã nổ được mấy niên, Quân Ðội Nhật Bản — thời ấy được gọi một cách huênh hoang và kính cẩn là Quân Ðội Thiên Hoàng, — đã chiếm một nửa đất nước của những Chú Con Trời, đã vào Ðông Dương nhưng cuộc sống của nhân dân Bắc Kỳ nói chung, nhân dân tỉnh lỵ Hà Ðông có dòng Nhuệ Giang hiền hòa, có Chùa Hương để ngày xuân những nàng trinh nữ theo bố mẹ đi chùa dâng hương cúng Phật và liếc mắt đưa tình, mơ chuyện vợ chồng yêu nhau ra rít với những chàng thư sinh cũng đi viếng cảnh chùa chiền để tìm những nàng trinh nữ đa tình, cuộc sống của nhân dân tỉnh lỵ Hà Ðông chưa bị tổn hại, bị thay đổi, bị nghèo đói thê thảm nhiều vì chiến tranh, nhật báo Việt Cường xuất bản ở Hà Nội đăng nơi trang trong hai tiểu thuyết làm chú nhóc theo dõi đọc say mê là:

  1. Tống Nhạc Phi. Truyện Tầu.
  2. Người Yêu Nước. The Patriot, Nữ tác giả Pearl Buck. Truyện dịch.

Nhạc Phi, ông Tướng Tầu đời Mạt Tống. Khứa Mít Năm, Sáu Bó trở lên từng đọc truyện Tầu đều biết ít nhiều về sự tích Tống Nhạc Phi. Ông Tướng này sống, cầm quân, đánh ngoại xâm và chết thảm ở đời Mạt Tống nhưng ông không phải là Mạt Tướng. Lịch sử Thượng Quốc Ba Tầu ghi rằng vào thời ấy, thời Mạt Tống — đã mạt thì còn khá làm sao được — nhà Tống suy vong. Nước Kim ở phía Bắc Trung Quốc mạnh lên, đem quân đánh xuống trung nguyên.

chinadoll

Ðến đây xin mở ngoặc viết ké nhận xét lịch sử vài giòng ngoài lề: Thượng Quốc kiêm Thiên Quốc Ba Tầu trong năm bẩy ngàn mùa táo tầu Ðát Kỷ vẫn trường kỳ tỏ ra hết sức hung hăng con bọ xít mưu đồ xâm lăng, thôn tính, đàn áp, đồng hóa và nếu có thể tiêu diệt nhẵn thín những dân tộc anh em miền nam như những nước Giao Chỉ, Thổ Phồn, Ðại Lý, Chiêm Thành, Lão Qua, nhưng lại tỏ ra nhũn hơn con chi chi với những dân tộc cũng anh em ở miền bắc. Bằng chứng là ngay từ đời nhà Hán cách nay hai ngàn mùa lệ chi Dương Quí Phi, Vua Hán đã phải cúng dường em Cung Phi Chiêu Quân cho Chúa Thuyền Vu Rợ Hồ để đổi lấy việc Chúa Thuyền Vu ở nhà vui với vợ mới trẻ đẹp, nghỉ không cho quân vượt biên sang cướp phá nước Trung Hoa. Ðến đời Nhạc Phi, nhà Tống đã mất một nửa giang sơn. Rồi Nhà Nguyên với Thành Cát Tư Hãn nổi lên ở Mông Cổ đánh xuống miền nam chiếm trọn Thiên Quốc Ba Tầu, đuổi Vua Tôi, Vợ Chồng Con Cháu Vua Tống ra chết ở ngoài biển.

Chưa hết. Ðến đời Mạt Minh, quân Mãn Thanh tái diễn cuộc xâm lăng nhà Nguyên đã làm mấy thế kỷ trước, chiếm trọn Thiên Quốc Ba Tầu, đặt nền đô hộ Thanh Cung Mười Ba Triều dài đến ba trăm mùa lá rụng. Năm 1940 quân đội Nhật Bổn đem cờ mặt trời vào cắm ở Bắc Kinh, chiếm Thượng Hải, Tô Châu, Hàng Châu, Ðộng Ðình Hồ, Hoàng Hạc Lâu hằm bà lằng síu oắt.

Bộ lịch sử tiều thuyết Tống Nhạc Phi kể chuyện ông Tướng Nhạc Phi cầm quân đánh giặc Kim xâm lăng vô cùng hào hùng, oanh liệt. Quân Ðội Tống dưới quyền chỉ huy của Ðại Nguyên Soái họ Nhạc đang đánh cho quân Kim những trận đại bại tả tơi hoa lá. Người đọc thấy chắc hơn cua gạch, chắc hơn gỗ lim là quân Kim bị quân Tống đánh cho rách tả tơi không còn manh giáp, chỉ còn có nước bỏ cung tên, giáo mác mà chạy lấy người. Nhưng căm hận thay đang lúc quân Tống đánh lớn thắng lớn, đánh nhỏ thắng nhỏ thì ở nơi triều đình Mạt Tống tên Thừa Tướng Tần Cối Tống Gian âm mưu bán nước cho nhà Kim, làm cuộc điều đình hòa bình cắt đất. Tần Cối lũng đoạn triều ca Mạt Tống, lấy lệnh của Vua Tống bắt Ðại Tướng Nhạc Phi phải ngừng chiến, rút quân vô điều kiện. Một ngày Tần Cối từ Phủ Tể Tướng phát đi những mười cái gọi là Kim Bài – bài vàng, lệnh thượng khẩn của Vua Tống — ra lệnh cho Nhạc Phi phải về ngay kinh đô trình diện.

Những năm 1960 bình yên, thơ mộng ở Sàigòn, Thủ đô Việt Nam Cộng Hòa con đường Duy Tân, cây dài bóng mát, Saigòn đẹp lắm Sàigòn ơi…, uống ly chanh đường, uống môi em ngọt, Việt Cộng còn núp kín trong rừng tràm Thạnh Phú, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày — Gái Mỏ Cày tóc dày hai tấc – khán giả xi-nê được thưởng thức bộ phim Shaw Brothers “Thập đạo Kim Bài” diễn lại chiến dịch Tần Cối cho người mang kim bài đi gọi Nhạc Phi về triều. Thời ấy nhà Tống chưa có vô tuyến điện nên lệnh Vua phải do người mang đi trên lưng ngựa. Nhóm võ sĩ yêu nước, gồm những anh chị võ công cùng mình không lên mặt trận đánh quân ngoại xâm mà phải ở nhà giữ nhà, chống lại lệnh đình chiến, chặn đánh đám võ sĩ triều đình mang kim bài lên mặt trận. Ðám võ sĩ triều đình tất nhiên cũng là những tay cao thủ võ lâm, thủ đoạn giết người không thua gì đám cao thủ thường dân. đôi bên đánh nhau chí chạt trên màn ảnh trong hơn một tiếng đồng hồ, coi thật đã con mắt.

Nhưng các chú Con Trời Ba Tầu sô-vanh bá quyền nước lớn yêu nước Tầu đến mấy thì yêu, Tống Tầu vẫn cứ mất nước như thường. Kim bài vẫn đến tay Nhạc Phi. Cuộc kháng Kim tan rã.

Nhạc Phi về triều để rồi bị Tần Cối hãm hại, vu tội phản loạn, đem ra chém đầu. Nghe nói người Tầu đời sau căm hận Tần Cối, làm tượng vợ chồng Tần Cối bưng ống nhổ, thau rửa mặt quì hầu hai bên mộ Tướng Nhạc Phi. Người đến viếng mộ Nhạc Phi cầm dùi gõ lên đầu vợ chồng Tần Cối với những lời chửi rủa. Chưa đã nư các chú Con Trời nhiều đời bị làm nô lệ cho ngoại nhân còn trừng phạt vợ chồng Tần Cối bằng cách chế ra loại bánh Chà Cháo Quẩy, bánh là hai khúc bột tượng trưng vợ chồng Tần Cối bị bỏ vào vạc dầu sôi.

Ðấy là truyện Tống Nhạc Phi, tiểu thuyết phơi-ơ-tông của nhật báo Việt Cường những năm 1941, 1942, bộ tiểu thuyết thứ hai của báo này là Người Yêu Nước, nguyên bản The Patriot của Nữ văn sĩ Pearl Buck.

Mới đây một Lão Bà Bẩy Bó Gập, cũng an cư lạc Ét Ét Ai – SSI — ở Rừng Phong, nói với Công Tử Hà đông:

– Ông có đọc Gió Ðông, Gió Tây truyện của bà Pơl Bách không? Tôi thấy truyện bà Pơl Bách viết hay qua. Tôi đọc Gió Ðông, Gió Tây từ năm tôi Hai Ba Bó đến bi giờ tôi vẫn thấy hay ơi là hay. Bả là người Mỹ mà sao bả viết về dân Tầu, xã hội Tầu đúng và hay như dzậy chứ! Ðâu có đàn bà Tầu làm dzăng sĩ nào viết về đời sống, phong tục dân Tầu hay bằng bà Pơl Bách. Ông có đọc Gió Ðông, Gió Tây hông? Tên tiếng Mỹ là East Wind, West Wind. Coi bản mặt ông ngẩn ngơ như dzầy tôi biết ông hổng có đọc Gió Ðông, Gió Tây dzồi, để tôi kể lại cho nghe. Chuyện xẩy ra trong một gia đình phú nông Tầu những năm đầu thế kỷ này. Ông Bà phú nông cưới dzợ cho cậu con trai năm cậu này mười lăm, mười sáu tuổi. Cô dâu con nhà lành và cũng là con nhà địa chủ phú nông mười hai, mười ba tuổi. Cưới vợ nhưng cậu con chưa làm ăn gì cả. Cậu lên Thượng Hải học rồi cậu đáp tầu Trung Hoa Thương Tín vượt biển hợp pháp sang du học ở bên Xứ Anh Cát Lợi.

Mười mùa Táo Tầu Giang Thanh theo nhau qua, Xí Muội, cô trinh nữ thôn nữ Tầu yên phận sống đời làm dâu, hầu hạ bà mẹ chồng, chờ đợi ngày chồng du học thành tài trở về. Thế rồi… Trời nào nỡ phụ người lương thiện, chồng nàng đậu bằng Ðoóc To, tức bằng Bác sĩ. Ông từ nước ngoài trở về đem bằng cấp và tài năng phục vụ dân tộc. Cả làng quê tưng bừng, chào đón Quan Đốc về làng. Người vợ còn nguyên trinh của ông mừng nhất. Lấy chồng năm tuổi đời mới Một Bó Lẻ Mấy Que, nay nàng Hai Bó Lẻ Bẩy Tám Que. Nhưng công lao làm dâu, làm vợ còn trinh bền lòng chờ đợi của nàng không uổng. Nàng được đền đáp cả vốn lẫn lời. Chồng nàng nay là quan Ðốc To được mọi người kính trọng, việc làm cứu nhân độ thế vừa có phúc lại có nhiều tiền. Má nàng ửng hồng, tim nàng đập mạnh như trống làng có cướp khi nàng tưởng tượng đến đêm vợ chồng đoàn tụ.

Bác sĩ về quê. Chàng trí thức nhưng khiêm tốn, không lai căn, mất gốc nhâng nháo như những anh Anh Con, Tây Con, Mẽo Con bị ô nhiễm vị bơ thừa, sữa cặn xứ người. Không một tí ti sư cụ lên mặt mình là bác sĩ khinh bỉ đám dân làng ngu si, ở dơ, không biết khoa học vệ sinh là gì, chàng ân cần kính cẩn chào hỏi, nói chuyện với bà con cô bác trong họ, ngoài làng, thân mật với những người đến thăm hỏi, những thân hữu đến thăm, mừng và đớp cầy tơ, uống rượu đế, hút thuốc phiện, đánh xóc đĩa ăn khao Quan Ðốc về làng vinh qui bái tổ. Chàng đặc biệt ân cần với người vợ thời thơ ấu, thời niên thiếu, chàng cảm ơn nàng trong từng ấy năm trời đã thay chàng hầu hạ, phụng dưỡng, chịu đựng ông già, bà già chàng. Ðêm thứ nhất trở về nhà chàng nằm ngủ riêng. Chuyện này đúng thôi. Hổng có gì để người đời nay và người muôn đời sau phải théc méc.

Nói đến đây Lão Bà dừng lại, đưa tay lên sửa lại cặp kính trắng:

– Ði xa về đêm đầu tiên không được nằm ngay với vợ là đúng — Lão Bà trang trọng nói tiếp — đề phòng cẩn thận như vậy là khôn ngoan. Ði đường xa, tầu xe, nắng gió, mệt mỏi, vừa về đến nhà không chịu nghỉ ngơi cho lại sức, a-la-xô ngay vào giường mần chuyện “tân thú bất như dziễn qui” mí vợ. Tham lam ngu muội như thế chỉ có nước từ chết sớm đến bị thương nặng. Người đời nay tuy biết những cấm đoán của ông cha là hay, là đúng nhưng nhắm mắt, bịt tai săng phú. Dzì dzậy cho nên đàn ông đời nay nhiều trự bị sì-tơ-rốc oong boong via-guyn chính vì cái tật tham ấy. Nhưng thôi.. để tôi kể tiếp cho nghe chuyện Gió Ðông, Gió Tây Pơl Bách.

Bác sĩ hồi hương, cử chỉ hành động rất hợp lễ giáo phương đông, nôm na là lễ giáo Tầu. Gần một trăm mùa lá rụng trước đây chuyện vợ chồng, được gọi là chuyện phòng the mặc dù nhiều vợ chồng ở nhà lá, vách phên tre nứa hổng có the lụa gì ráo trọi, chuyện vợ chồng được giữ kín chỉ có cặp vợ chồng đó biết. Việc bác sĩ mới đi xa từ nước ngoài về, ròng rã cả tháng trời biển nước mênh mông, bác sĩ cẩn thận ngủ riêng, đợi sức khỏe phục hồi, thân thể quen trở lại với giờ giấc quê hương, bác sĩ sẽ động phòng hoa chúc tưng bừng, đền đáp mối tình của người vợ hiền mấy năm trường đợi chờ, khao khát, là chuyện nếu có biết cũng chẳng ai lấy làm lạ.

Nhưng.. đêm đầu tiên, đêm thứ hai, đêm thứ ba lặng lẽ theo nhau qua,bác sĩ vẫn cứ ngủ riêng, năm bẩy đêm rồi chín mười đêm, bác sĩ vẫn cứ riêng ngủ. Bà vợ ông không hiểu sự tình ra sao nhưng nàng không dám hé môi. Thế rồi đến ngày bác sĩ nhà ta lên Shang Gai nhận việc. Cụ Bá Hộ đi theo ông con lên tỉnh, xem nơi ăn, chốn ở, sở làm của ông con ra sao. Vài ngày sau ông già về. Không biết hai cha con nói với nhau những chuyện gì mà coi bộ ông Bá Hộ buồn ra mặt. Bác sĩ phu nhân lấy chồng mười mấy mùa lá rụng vẫn còn nguyên trinh nhìn mặt ông bố chồng đoán biết ông già buồn phiền về chuyện gì đó có liên quan đến vợ chồng nàng. Tối hôm ấy nàng lén nghe ông bà già nói chuyện với nhau.

Ông bà già nói chuyện rỉ rả nho nhỏ thôi nhưng cũng đủ để người nghe lén nắm vững vấn đề.

– Rầu quá bà ơi — Ông già kể với bà già — Thằng Hai nó nói mí tôi là trong thời gian du học bên nước Ăng-gơ-lơ-te nó yêu thương một cô sinh viên đồng học. Nay nó muốn hủy chuyện vợ chồng với con vợ nó để trở lại tình trạng độc thân và kết hôn mí người nó yêu thương. Nó theo Tây học nên nó suy nghĩ, nó sống theo như người Tây, con mình nó không còn suy nghĩ, không còn sống như người Tầu mình nữa. Nó nói vợ chồng có yêu thương nhau mí là vợ chồng, không yêu thương nhau mà vợ chồng mí nhau là vô đạo đức. Nó nói nó chỉ có một cuộc đời để sống thôi, nó không thể sống cuộc đời duy nhất của nó với người đàn bà nó không yêu thương. Tội nghiệp con vợ nó. Lấy chồng từ thời mới lớn, làm dâu không một lỗi lầm. Tự dưng bị chồng bỏ. Tiền bạc bồi thường không thành vấn đề. Nhà nó cũng khá giả như nhà mình. Nó đâu cần tiền bồi thường. Mà làm sao có thể bồi thường cho thỏa đáng được. Cả một đời con gái của người ta. Nhưng con mình nó nhất quyết như dzậy rồi.

Ông bà già nhìn nhau than dài:

– Bi giờ ta phải làm sao đây??

….

Lão Bà Rừng Phong lại sửa gọng kính:

– Bà Pơl Bách hổng phải là đàn bà Tầu mà bà viết tiểu thuyết tả thân phận bi đát của đàn bà Tầu hết sức thương tâm. Ðông là Ðông, Tây là Tây. Gió Ðông, Gió Tây hổng bao giờ gặp nhau. Người đàn bà Tầu thua thiệt trăm đường. Khi còn con gái thì việc hôn nhân hoàn toàn do mẹ cha quyết định: cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Lấy chồng thì chỉ được cái quyền trông nhà, nấu ăn, nuôi heo, giặt ủi, làm cái máy đẻ con. Trong khi anh chồng chơi bời linh tinh , vợ bé, vợ bao chẳng ai nói gì, người vợ Tầu cả đời chỉ được biết một người đàn ông là chồng mình mà thôi. Chồng bỏ rơi lạnh lùng thì ráng chịu. Làm bất cứ việc gì là bị người đời chê bai.

Anh Con Trai Bà Cả Ðọi — tất nhiên anh này can tội chưa từng đọc qua một tiểu thuyết nào của bà Pơl Bách, Pơl Thiên, Pơl Vạn — chờ nghe đoạn kết sốt ruột quá phải lên tiếng:

– Biết rồi.. Khổ lắm.. Nói mãi.. Biết là đàn bà sống khổ rồi. Bi giờ đàn bà vùng lên đòi quyền sướng đấy, có ai phàn nàn gì đâu. Nhưng mà đêm có khuya, ngày có rạng, bà làm ơn kể nốt cho biết bà vợ Tầu vị bác sĩ du học Ăng-gơ-lơ-te dzìa đó hồi kết cục ra nàm thao?

Lão Bà kể chuyện một trăm năm trước thở dài:

– Nàng treo cổ tự tử chết chứ còn nàm thao nữa!

Bỗng dưng vài phút im lặng đến trên Rừng Phong. Kết cục bi thảm của người vợ Tầu trong Gió Ðông, Gió Tây làm cho người nghe, người kể đều bùi ngùi. Chuyện nào mà có chết chóc, có tang ma, sinh ly tử biệt, ngàn năm thương tiếc đều làm người ta buồn. Có lẽ vì người ta ai cũng phải chết nên người ta đa số không thích nghe nói đến cái Chết chăng? Sau một lúc trầm ngâm Anh Con Trai Bà Cả lên tiếng:

– Thảm kịch bà vừa kể đó sở dĩ có là do gió đông loạng quạng sang gặp gió tây. Tôi chủ trương đông là đông, tây là tây, đừng có bầy đặt pha trộn. Nếu ông bà phú hộ đừng cho cậu con sang nước Ăng-gơ-lơ-te bên trời Tây du học thì đâu có chuyện gì bê bối xẩy ra. Theo phong tục và pháp luật Tầu sáu ngàn năm văn hiến đàn ông Tầu có quyền năm thê, bẩy thiếp, cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con. Anh nào nhiều vợ, đông con được coi là có phúc. Cậu con nhà phú hộ lúc nhỏ tuổi lấy vợ, đó là vợ nhỏ của cậu. Khi cậu lớn tuổi, cậu lấy vợ, đó là vợ lớn của cậu. Không có đấu tranh mâu thuẫn xung đột sống còn chi ráo trọi trong việc cậu có hai, ba vợ. Người vợ Tầu gương mẫu là người vợ không ghen tuông — đàn bà ghen là một trong mấy mươi tội cho phép anh chồng có thể cho nàng đi chỗ khác chơi – Kinh điển Tầu ghi chép nhiều trang vàng son rực rỡ về những bà vợ hiền đoán trước được ý muốn của chồng, đi cưới vợ bé về cho chồng. Trước sau đàn bà Tầu chỉ có một chị ghen tuông thôi. Chị đó là Hoạn Thư. Và ta đã thấy ghi trong kinh điển Hoạn Thư bị trừng trị vì cái tội ghen của thị ghê rợn đến như thế nào. Theo tôi thấy thì ông bác sĩ Tầu trong tiểu thuyết của bà Pơl Bách phần nào đã đánh mất truyền thống cao đẹp của cha ông. Ở vào cái thời thảm kịch Gió Ðông, Gió Tây xã hội Tầu còn giữ được chế độ đa thê hài hòa. Nói rõ hơn vào những năm 1900 của Thế Kỷ Hai Mươi trần ai, củ khoai, đàn ông Tầu vẫn có quyền có năm thê, bẩy thiếp. Truyền thống này đã có tự ngàn xưa, hổng phải do người đời mới đây bầy đặt ra. Chẳng phải chỉ những vị công khanh, đại thần, vương tôn, trọc phú mới năm vợ, bẩy nàng hầu. Kể cả những đại văn gia thi phú cùng mình, hào hoa phong nhã vang danh văn học sử như những ông Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Tô đông Pha ông nào cũng từ năm thê đến bẩy thiếp. Ðừng nói gì ai xa xôi nói ngay ông cố, ông sơ tôi nè. Ông Cố tôi là con nhà quyền quí thuộc loại cậu cả con Bà Ba nhưng lớn lên gập thời Lê mạt, thơ hay, chữ tốt nhưng gặp thời loạn, nhà Lê mất ngôi, ông tôi không ra làm quan được, nhiều năm ông sống nhờ quê vợ, rồi về quê nhà ở Hồng Sơn ẩn mình, lấy tên hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ tiêu dao ngày tháng. Ông làm nhiều bài thơ tả cảnh nghèo sác, nghèo sơ: Nhà mười miệng ăn, người nào cũng đói xanh như tầu lá. Ông Cố tôi hàn sĩ chính cống bà Lang Trọc. Vậy mà bà có biết ổng mấy dzợ không? Ba bà! Nhiều lần đọc gia phả ghi cuộc đời ông Cố, tôi théc méc muốn nói mí ông:

“Ông nghèo rớt mồng tơi, ông ôm chi những ba bà lắm dzậy? Phải chi ông là hiển nho, ông làm quan to, Thượng Thư, Ngự Sử, Tổng Ðốc.. ông nhiều dzợ thì đúng thôi. Hoặc vì ông không có con trai nối dõi tông đường, sợ tội đại bất hiếu, ông phải lấy thêm bà hai, bà ba với mục đích để có con trai, chẳng ai nói chi. Ðằng này ông tuy là con quan nhưng mà quan mất chức rồi, ông hết còn là Cậu Aám, ông lại chưa kiếm được một đồng xu teng. Dzậy mà ông lấy làm chi những ba bà? Ba bà, mười mấy cô cậu, sức mấy mà vợ con ông không đói xanh như tầu lá chuối!”

Một lần nữa xin trở lại với Gió Ðông, Gió Tây. Nếu ông bác sĩ Tầu trong truyện chỉ học cái thuật chữa bệnh của người Ăng-lê thôi, nếu ông vẫn giữ được bản chất đàn ông Tầu của ông, thảm kịch đã không xẩy ra. Ông cứ giữ, cứ làm tròn bổn phận với bà vợ nhà quê cha mẹ ông cưới cho ông từ ngày ông tuổi đời Một Bó Lẻ Năm Sáu Que. Ông để bà này ở dưới quê cho bà thay ông làm đạo hiếu phụng dưỡng song thân ông. Ông cưới Bà Hai và để bà này sống với ông ở thành phố Shang Gai. Bà Hai lịch sự, văn minh, biết nói tiếng Ăng-lê, có thể biết nói cả tiếng Phú Lang Sa, biết trang điểm, biết nhẩy Tăng Gô, quay Val-sơ Lơ Bô Ða Nuýp Bơ-lơ. Như vậy là mọi chuyện êm đẹp. Vấn đề giải quyết dễ ợt. Làm chi căng thẳng đến cái độ để cho bà vợ nhà quê thuở bác sĩ còn bé phải chết thảm thê..! Không phải tự khoe chớ tôi mà ở vào trường hợp ông bác sĩ Tầu tôi ăn ở trọn tình, vẹn ngãi.”

Nhật báo The Washington Post mới đăng một bài viết về Nữ văn sĩ Pearl Buck. Bài báo làm tôi nhớ lại năm mươi mấy mùa ổi chín ngày xưa tôi là chú nhóc con đọc tiểu thuyết của bà đăng trên báo Việt Cường ở tỉnh lỵ Hà đông. Những năm 41, 42 cuộc đời tôi xanh thắm. Những tháng có Vòng Ðua Xe đạp Ðông Dương buổi trưa tôi đón báo để biết cuộc đua hôm qua cua-rơ nào thắng. Bắc Kỳ có Vũ Văn Thân, Nguyễn Văn Phương. Như đa số những chú nhóc Bắc Kỳ tôi chờ mong thấy Cua-rơ Bắc Kỳ về nhất, thấy Vũ Văn Thân mặc áo vàng. Nhưng Nam Kỳ có Phượng Hoàng Lê Thành Các năm nào cũng đoạt Áo Vàng, đội Cua Rơ Nam Kỳ năm nào cũng đoạt Giải Vô địch toàn đội.

Khi ngồi vào bàn tôi định viết một bài Dzăng Nghệ-Dzăng Gừng về Nữ văn sĩ Pearl Buck. Theo đúng thói quen viết linh tinh lang tang chuyện nọ dọ sang chuyện kia tôi viết thành bài này. Ðến đây tôi phải tạm chấm dứt chương trình của Ban Tùm Lum. Xin hẹn sẽ viết về Nữ sĩ Pearl Buck trong một bài khác.

NGƯỜI ĐÀN BÀ VIỆT NAM ĐẸP NHẤT KỲ HOA

Kiều Chinh, KIM CHI, Lê Hoàng Hoa.

Kiều Chinh, KIM CHI, Lê Hoàng Hoa.

Bắt đầu viết: 8.30 tối Thứ Sáu 31/7/2015.

Viết gửi Văn Quang.

Chuyện tréo cẳng ngỗng là một tên sống hai mươi mùa thu vàng ở Kỳ Hoa Đất Trích lại hỏi một tên sống mút mùa ở Sài Gòn về một người đẹp Việt Nam, người đàn bà đã sống 30 năm ở Kỳ Hoa. Mày sống ở Sài Gòn nhưng mày có nhiều bạn ở Kỳ Hoa, nhiều nhất là ở Cali. Bạn mày toàn những tên ăn chơi. Mày có thể hỏi các ông bạn mày ở Kỳ Hoa – hỏi dzùm tao – về người đàn bà đẹp tao muốn biết tin.

kim-chi-e1418186870711Nàng là Kim Chi, nữ ca sĩ nổi tiếng từ  năm 1955, 1956. Năm 1956 tao làm nhân viên USOM – tiền thân của USAID – tao ở Travel Section, chuyên đi lấy visa, mua vé máy bay cho nhân viên Mỹ của  Sở. USOM có riêng một phi cơ mướn của Air America. Mỗi tuần phi cơ này bay hai chuyến từ Sài Gòn lên Đàlạt, sang Nha Trang, Đà Nẵng và Huế rồi trở về Sài Gòn trong ngày. Tao phụ trách đưa khách, đón khách của phi cơ USOM. Một sáng tao gặp Kim Chi, tao đưa Kim Chi lên phi cơ USOM ở Tân Sơn Nhất. Nàng ở trong Ban Văn Nghệ lưu động do Lê Thương tổ chức và làm Trưởng Ban. USIS chi tiền cho ban này. Chứng hai tuần sau tao gặp Kim Chi lần thứ hai. Nàng và Ban Ca Kịch Lê Thương từ miền Trung về Sài Gòn bằng phi cơ USOM. Nàng bận toàn y phục trắng. Tao ngất ngư con tầu đi.

Những ngày như lá, tháng như mây… Năm 1960, hay 1961, Thái Thúc Nha Anpha Phim, nói Lúy muốn mời tao đóng phim. Lúy hẹn tao đến phim trường của Lúy làm cái việc thời ấy gọi là Thử Tét. 7 giờ tối tao đến cái gọi là phim trường của Lúy ở đường Hiền Vương.  Đến nơi tao mới biết người nữ cùng Thử Tét với tao tối ấy là Kim Chi. Tao sướng rên mé đìu hiu. Hai đứa tao diễn cảnh nàng và chàng yêu nhau, gập nhau. Diễn cương. TT Nha dặn HHT nói như vầy, như vầy, Kim Chi nói như vầy, như vầy. Nói láp nháp trong vòng 3,4 phút. Thái Thúc Nha thu hình. Caméra chạy lè sè. Tao quên tối Thử Tét ấy tao nói gì với Nàng, Nàng nói gì với tao.

Thử Tét xong, tao đưa Nàng đi hát trên cái Xe Jeep Nhà Binh phế thải mày giới thiệu tao mua của Thiếu Tá Trần Thanh. Nàng hát ở Arc En Ciel. Không chờ Nàng mời, tao lên Arc en Ciel theo Nàng. Trong ánh sáng lung linh của vũ trường, tao kể với Nàng lần thứ nhất tao thấy Nàng ở Tân Sơn Nhất. Nàng xinh quá, Nàng đẹp quá. Nàng là Người Yêu Lý Tưởng Chân Chính của tao, nhưng tao đã có vợ, tao nói:

“Nếu Anh chưa vợ …”

Nàng ngồi lặng nhìn tao. Nàng nói lời tao nhớ đến 346700 kiếp sau:

“Em rất tiếc..”

Rồi thôi. Không có duyên có nợ với nhau, mối tình thoảng qua như làn gió thu. Sau đó vài lần tình cờ tao gập Nàng trên phố, trong Brodard, Pagode, nhìn nhau mỉm cười, vẫy tay.

kim-chi-tren-bia-mong-uocNăm 1987 tao nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hòa. Tao nằm cạnh Duy Trác. Buổi tối hai thằng rủ rỉ kể chuyện xưa cho nhau nghe. Duy Trác kể năm Lúy – Trung úy – Luật sư biệt phái, làm việc trong Phủ Tổng Thống, Thời TT Thiệu. Lúy ở trong phái đoàn Việt được Mỹ mời sang thăm Kỳ Hoa. Khi phái đoàn đến Washington DC, Mỹ khoản đãi tiệc. Tiệc có mời một số người Việt nổi tiếng ở Mỹ đến dự. Duy Trác nói:

“Anh Mỹ tổ chức tiệc nói hôm nay chúng tôi mời “The Most Beautiful Vietnamese Woman in the US.”Hôm nay chúng tôi mời Người Đàn Bà Việt Nam đẹp nhất Hoa Kỳ đến dự tiệc với các ông.

“Người Đàn Bà Việt Nam Đẹp Nhất Kỳ Hoa ấy là Kim Chi.”

Sang đây tao mấy lần hỏi thăm về Kim Chi, không ai biết cả.

Nàng đi khỏi Sài Gòn năm nào? Chồng Nàng là Việt hay Mỹ? Nay Nàng sống ở đâu? Nay Nàng còn ở cõi đời này hay Nàng đã về Bồng Lai?

Tao chắc Nàng đi khỏi Sài Gòn khoảng năm 1967, 1968. Trước Tết Mậu Thân, tao còn thấy Nàng ở Sài Gòn.

Time goes. We stay. You say?
Oh no. We go. Time stays.
Thời Gian đi? Chúng ta ở lại?
Em ơi.. Không phải.
Thời Gian ở lại. Chúng ta đi!

Cảm khái cách gì!

Viết xong 9.30 tối.

GIẦY CỎ, GƯƠM CÙN…

dinhhung

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén,
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?
Mơ gì Ấp Tiết thiêu văn tự!
Giầy cỏ, gươm cùn, ta đi đây!

Thi sĩ Nguyễn Bính làm bài Hành Phương Nam  những năm 1940 khi ông bánh xe lãng tử lưu lạc vào Sài Gòn-Chợ Lớn. Trong thơ Thi sĩ nhắc đến Kinh Kha. Chuyện Kinh Kha Tráng sĩ Tầu qua sông Dịch, một mình một dao vào đất Tần hành thích bạo chúa Tần Thủy Hoàng là chuyện nhiều người Việt đã biết. Vì sự liên tục của chuyện xin kể lại sơ lược:

nguycongtuHai ngàn năm trước: Nước Tần cường thịnh, Tần Vương – về sau là Tần Thủy Hoàng —  dùng quân lực tiêu diệt các nước chư hầu. Thái Tử Ðan nước Yên căm thù Tần Thủy Hoàng, dùng Kinh Kha làm thích khách, dùng kế cho Kinh Kha làm sứ giả đến Hàm Dương kinh đô Tần, dâng bản đồ nước Yên cho Vua Tần, lợi dụng lúc được đến gần sẽ dùng dao đâm chết Vua Tần. Tất nhiên làm việc này Kinh Kha phải chết trong điện Vua Tần.

Thái Tử Ðan trọng đãi Kinh Kha đến tận cùng. Chuyện kể hai người đi bên bờ hồ, Kinh Kha nhặt viên sỏi ném mấy con cá trong hồù. Lát sau có người bưng khay vàng đến dâng, Kinh Kha hỏi để làm gì, Thái Tử Ðan nói để Tráng sĩ ném cá. Trong dạ tiệc có múa hát, Kinh Kha khen hai bàn tay đẹp của một vũ nữ. Lát sau thị nữ bưng ra cái khay phủ khăn gấm, dâng cho Kinh Kha. Kinh Kha mở xem, thấy trong khay có hai bàn tay của người vũ nữ. Thái Tử Ðan ra lệnh chặt hai bàn tay của người vũ nữ để dâng Kinh Kha vì Kinh Kha khen hai bàn tay người đó đẹp. Hai chuyện đó được Thi sĩ Nguyễn Bính kể gọn trong bẩy chữ Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?

Ðây là chuyện Kinh Kha sang Tần theo Sử Ký Tư Mã Thiên:

Thái Tử Ðan và quan khách bận áo trắng, mũ trắng, tiễn đưa Kinh Kha ở bờ sông Dịch. Cao Tiệm Ly đánh trúc, Kinh Kha cất tiếng hát; giọng hát trầm trầm thảm thiết, mọi người rỏ lệ:

Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục phản,
Gió vi vút chừ sông Dịch lạnh tê,
Tráng sĩ một đi chừ không trở về!

Âm điệu khẳng khái, kích động, ai nấy trợn mắt, dựng tóc. Kinh Kha lên xe, không nhìn lại.

Ðến Tần, đem lễ vật đút lót cho Mông Gia, sủng thần của Vua Tần. Mông Gia tâu với Vua Tần:

— Vua Yên sợ oai Ðại vương, xin đem cả nước quy thuận. Nay cho sứ giả đưa bản đồ nước Yên và thủ cấp Phàn Ô Kỳ đến xin dâng.

Tần Vương tiếp kiến Sứ Yên ở Cung Hàm Dương. Kinh Kha bưng hộp đựng đầu Phan Ô Kỳ, Tần Vũ Dương bưng hộp đựng bản đồ. Tới trước bệ rồng, Tần Vũ Dương thất sắc, run rẩy. Kinh Kha nói:

— Người man di phương bắc quê mùa, chưa bao giờ được thấy Thiên tử nên sợ hãi. Xin Ðại Vương tha thứ.

Kinh Kha được cho lên điện, đến trước chỗ Tần Vương ngồi, dâng bản đồ, Tần Vương mở xem. Cuộn bản đồ mở gần hết thì lộ chuôi con dao chủy thủ dấu trong đó. Kinh Kha tay trái nắm tay áo Tần Vương, tay phải cầm dao đâm. Nhát đâm hụt. Tần Vương đứng phắt dậy, tay áo đứt rời, Tần Vương rút gươm, gươm dài vướng vỏ, luống cuống không rút ra được. Tần Vương chạy quanh cái cột, Kinh Kha đuổi theo. Rồi Tần Vương rút được gươm, chém Kinh Kha gẫy đùi bên trái. Bị thương, Kinh Kha ném chủy thủ, không trúng Tần Vương mà trúng cây cột. Tần Vương chém tiếp, Kinh Kha bị tám nhát gươm, ngồi xổm, dựa cột, cười mà nói:

— Việc không thành là vì ta muốn bắt sống nó, buộc nó phải hứa trả lại các đất nó đã chiếm của chư hầu. Rất tiếc ta không báo đáp được Thái Tử.

Hai ngàn năm sau, Thi sĩ Nguyễn Du trên đường đi sứ sang Bắc Kinh, đi ngang làng cũ của Kinh Kha, tưởng nhớ người xưa, làm thơ:

Kinh Kha Cố Lý

Bạch hồng quán nhật thiên man man,
Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn.
Ca thanh khảng khái, kim thanh liệt,
Kinh Kha tòng thử nhập Tần quan.
Nhập Tần quan hề trì chủy thủ,
Lục quốc thâm thù nhất dẫn thủ.
Ðiện thượng hốt nhiên nhất chấn kinh,
Tả hữu thủ bác, Vương hoàn trụ.
Giai hạ Vũ Dương như tử nhân,
Thần dũng nghĩ nhiên duy độc quân.
Túng nhiên bất sát Tần hoàng đế,
Dã toán cổ kim vô tỷ luận…

Mống trắng xuyên mặt trời, trời man mác, gió thổi vù vù, nước sông Dịch lạnh. Tiếng ca khảng khái, tiếng đồng vang lên. Kinh Kha từ đấy vào ải Tần. Vào ải Tần, cầm dao găm. Thù sâu của sáu nước ở cả trong bàn tay mình. Trên điện rung động, bọn tả hữu nhốn nháo, Vua chạy quanh cột. Dưới thềm Vũ Dương đứng đờ như người chết. Dũng khí hiên ngang chỉ một mình ông. Dẫu  không giết được hoàng đế Tần, tính ra xưa nay không có ai bằng được ông…

Bẩy trăm năm sau ngày Kinh Kha chết, Thi sĩ Ðỗ Mục đi qua sông Dịch, nhớ Kinh Kha, làm thơ:

Thử địa biệt Yên Ðan,
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thủy do hàn.

Thơ H2T phóng tác:

Ðất này xa Thái Tử,
Tóc tráng sĩ dựng mũ.
Người xưa đã mất rồi,
Hôm nay nước lạnh dữ.

Những năm 1960, ở Sài Gòn, Thi sĩ Vũ Hoàng Chương nhắc đến Kinh Kha:

Một nhát dao bay ngàn thưở đẹp.
Dù thành hay bại cũng là dư.

Không lấy thành bại mà luận anh hùng nhưng thành vẫn hơn, bại thì ta đau, ta tiếc  thương. Làm việc nước, quan hệ đến cả dân tộc, chí ít cũng đến nhiều người, phải tính sao cho thành công. Trong trường hợp Kinh Kha CTHĐ tôi thấy kế hoạch thất bại là vì Kinh Kha dở, kém về kiếm thuật. Kinh Kha can đảm, biết chết mà vẫn làm, nhưng quá kém về tài đánh kiếm. Không thể nói là  may hay không may trong trường hợp này: Kinh Kha có đủ những điều kiện tốt nhất để giết Tần Thủy Hoàng. Kinh Kha đã nắm được tay áo Tần Thủy Hoàng, tức là đứng sát người Tần Thủy Hoàng, người không có chút võ công nào cũng có thể đâm chết Tần Thủy Hoàng, nhưng Kinh Kha đâm không trúng. Tần Thủy Hoàng bị tấn công bất ngờ nhưng vẫn thoát chết, vẫn chém được Kinh Kha. Hai người có đấu đao kiếm với nhau, Kinh Kha thua. Vì không có tài Kinh Kha chết mà không giết được Tần Thủy Hoàng, làm chết uổng Ðiền Quang với Phan Ô Kỳ.

Ðiền Quang người nước Yên, được Thái Tử Ðan cho biết mưu định hành thích Tần Thủy Hoàng, Ðiền Quang nói:

— Tôi già rồi, không còn sức để làm việc này.

Bèn tiến cử Kinh Kha. Thái Tử Ðan căn dặn Ðiền Quang giữ kín âm mưu. Ðiền Quang tự tử để Thái Tử Ðan thấy mình không tiết lộ kế hoạch. Hành động Quân Tử Tầu. Không có gì đáng ca ngợi trong việc làm quá khích của Ðiền Quang. Mưu định dùng Kinh Kha vào việc giết Tần Vương không thể nào dấu được khi Thái Tử Ðan hậu đãi Kinh Kha cả năm trời, khi triều đình Yên Quốc tổ chức tiễn đưa Thích Khách linh đình trên bờ sông Dịch. Một chi tiết nhỏ trong cuộc tiễn đưa: Kinh Kha lên xe, không một lần nhìn lại. Tiễn đưa trên bờ sông thì Kinh Kha phải xuống thuyền sang sông, qua bờ sông bên kia là đất địch. Không lẽ Thái Tử Ðan và triều thần ngồi thuyền đưa tiễn Kinh Kha qua sông Dịch, và sang bờ sông bên kia rồi Kinh Kha mới lên xe đi.

Viết thêm: Nước Yên và nước Tần cùng ở một bên sơng. Thuyền Kinh Kha đi ngược dòng sông, không đi qua sông sang bờ bên kia.

Phan Ô Kỳ là tướng Tần, vì chống lại Tần Thủy Hoàng nên phải  sang sống nhờ nước Yên. Kinh Kha cho Phan Ô Kỳ biết âm mưu hành thích Tần Thủy Hoàng và đề nghị Ô Kỳ “ cho muợn cái đầu” làm lễ vật dâng Vua Tần cùng với bản đồ Yên Quốc. Chuyện kể Phan Ô Kỳ tự cắt đầu theo lời gợi ý của Kinh Kha.

Nguyễn Du ca tụng lòng can đảm và sự hy sinh của Kinh Kha nhưng Thi sĩ cũng tỏ ý thương tiếc những người chết uổng:

Quái để hành tung nguyên thị ẩn,
Tằng dữ Yên Ðan vô túc phận.
Sát thân chỉ vị thụ nhân tri,
Ðồ đắc Ðiền Quang khinh nhất vẫn.
Khả lân vô cô Phan Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy…

Chuyện  lạ là vốn sống ẩn ở chợ, ông không hề quen biết Thái Tử Ðan. Ông giết thân ông chỉ vì ông được người ta biết đến. Ðiền Quang tự vẫn chết uổng. Thương thay Phàn Ô Kỳ vô tội, cho mượn đầu không hẹn ngày trả lại. Một sáng mai giết uổng ba liệt sĩ, ngôi Thiên tử ở Hàm Dương vẫn cứ nguy nga..

Ngay thời Tư Mã Thiên nhiều người đã cho chuyện Kinh Kha là chuyện bịa đặt. Ở cuối chuyện Kinh Kha, Tư Mã Thiên viết:

Người đời mỗi khi nhắc chuyện Kinh Kha thường nói đến vận mệnh của Thái Tử Ðan, đến việc “trời mưa thóc, ngựa mọc sừng.” Thuyết đó quá đáng. Lại nói rằng việc Kinh Kha đâm Tần Thủy Hoàng cũng là chuyện bịa đặt. Nhưng Công Tôn Quí Công và Ðổng Sinh trước từng đi lại với Hạ Vô Thư, có biết rõ câu chuyện và đã kể cho tôi nghe việc xẩy ra như thế.

Trời mưa thóc, ngựa mọc sừng! Sách Yên Ðan Tử chép:

“Thái Tử Ðan làm con tin ở Tần, xin được về nước, Tần Vương nói: “Làm cho quạ bạc đầu, ngựa mọc sừng thì cho về.””

Ðan uất ức ngửa mặt lên trời hú dài, uất khí bay lên trời, đàn quạ đen bay ngang bỗng ở cổ có khoanh lông trắng – từ đó mới có loài quạ khoang — và có con ngựa mọc sừng. Tần Thủy Hoàng phải để cho Ðan về nước.

Kể cũng lạ. Theo sự tính toán có thể không đúng lắm của CTHĐ tôi thì từ thời Kinh Kha đến thời Tư Mã Thiên cách nhau khoảng hai trăm năm. Khi nhà viết sử Tư Mã Thiên đưa sự tích Kinh Kha vào sử ông không có văn liệu nào để căn cứ, ông chỉ được nghe chuyện do mấy người ông quen kể lại. Chuyện do những nhân vật Công Tôn Quí Công, Ðổng Sinh, Hạ Vô Thư kể có gì bảo đảm đó là chuyện thật? Chuyện xẩy ra từ mấy trăm năm trước, mấy ông này cũng chỉ nghe người đời kể lại và nghe sao mấy ông kể lại như thế. Ðiều đáng nói là ngay trong khi ấy người đương thời đã cho chuyện Kinh Kha là chuyện bịa nhưng Tư Mã Thiên cứ cho chuyện vào Sử và người đời sau, căn cứ trên Sử Ký của ông, cứ tin chắc chuyện Kinh Kha là chuyện có thật.

Một chi tiết làm tôi nghi chuyện Kinh Kha không có thật: Tần Vương có thể không cho Kinh Kha đến gần. Tần Vương sợ bị giết nên ngồi trên lầu cao, kể cả các quan Tần cũng không được lên tầng lầu ấy. Không có gì bắt buộc Tần Vương phải cho Sứ giả nước Yên đến sát tận chỗ mình ngồi, gần đến có thể nắm được áo mình. Sứ giả có thể được cho lên điện nhưng phải đứng xa Tần Vương, quan hầu của Tần Vương sẽ đưa những cống phẩm của Sứ giả đến trước ngai của Tần Vương. Cả kế hoạch hành thích dựa trên việc Sứ giả thích khách được đến gần Tần Vương, gần đến có thể đâm Tần Vương được bằng dao. Mà việc Sứ giả được đến gần Tần Vương thì không có gì bảo đảm là chắc chắn sẽ xẩy ra. Khi Tần Vũ Dương run rẩy đứng không vững, ai bưng cái hộp đựng đầu Phan Ô Kỳ lên điện? Không lẽ Kinh Kha bưng cả hai hộp: hộp đựng bản đồ và hộp đựng đầu Phan Ô Kỳ, cũng không có lý Kinh Kha bưng hộp bản đồ lên, để đó, rồi trở xuống lấy hộp đựng đầu Phàn Ô Kỳ từ tay Vũ Dương? Tần Vương có thể ra lệnh cho Sứ Yên đứng dưới điện, hay quì thật xa chỗ mình ngồi, nội thị của Tần Vương bưng hai cái hộp đến trước ngai Tần Vương.

o O o

Không phải tự dưng tôi kể lại chuyện Kinh Kha. Ðêm  thu  ở Rừng Phong

Trời không chớp bể với mưa nguồn,
Ðêm nảo, đêm nào tôi cũng buồn..

..nhân viết chuyện Vua Lê Chiêu Thống, tôi đọc lại lịch sử nước tôi, thấy tôi có ông Ðặng Dung đời nhà Trần anh dũng quá là anh dũng, can đảm ơi là can đảm, võ nghệ lại cao cường hơn ông Tầu Kinh Kha. Tráng sĩ Ðặng Dung của tôi không làm chết oan ai cả; hơn hẳn Kinh Kha, Tráng sĩ Ðặng Dung của tôi làm thơ thật cảm khái. Thế hệ người Việt lưu vong năm 2000 tuổi đời Sáu, Bẩy Bó nhiều người khơng học mà thuộc lòng bài thơ của ông Ðặng Dung…

Thế sự du du nại lão hà.
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu tâm phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma!

Chuyện đời rối bời, ta già rồi. Trời đất, cuộc sống thu vào chén rượu. Gặp thời, bọn bần tiện thành công dễ thôi. Lỡ vận người anh hùng càng thấy đau đớn. Lòng vẫn ôm chí hướng giúp vua nhưng tiếc thay ta không thành công. Thù nước chưa báo được đầu đã bạc. Lâu rồi ta vẫn mài kiếm Long Tuyền dưới trăng…

Ở Tân Ðịnh trong thủ đô Sài Gòn của tôi có đường Ðặng Tất, Ðặng Dung. Ông Ðặng Tất là ông bố, ông Ðặng Dung là ông con. Hai ông cùng chiến đấu chống quân Minh xâm lược nước tôi vào những năm 1410, hai ông cùng chết vì nước. Thế hệ chúng tôi biết ơn các ông, kiêu hãnh vì các ông, chúng tôi lấy tên các ông đặt tên đường phố của chúng tôi.

Năm 1410 Tướng Nhà Minh Trương Phụ đem binh sang đánh nước tôi lần thứ hai. Ðể đập tan tinh thần đề kháng của dân tộc tôi bọn quân Minh thi hành chiến lược khủng bố hết sức tàn bạo, chúng giết dân tôi chất xác chết lên thành gò, rút ruột người treo lên cây, nấu thịt người lấy dầu. Khi quân Minh đi hai đường thủy đạo vào đánh Vua Trần Quí Khoách ở Nghệ An, Trương Phụ ở trên soái thuyền đậu ở cửa biển.

Ðêm khuya hai tướng Ðặng Dung, Nguyễn Súy cùng đội cảm tử quân đi thuyền nhỏ đột kích thủy trại địch. Ông Ðặng Dung nhẩy được lên thuyền Trương Phụ, ông định bắt sống tên tướng giặc ác ôn  nhưng ông không biết mặt nó. Trương Phụ phải nhẩy xuống biển, lên thuyền con bỏ chạy. Các ông Ðặng Dung, Nguyễn Súy cùng các cảm tử quân chém giết bọn tướng Minh một trận rồi các ông lại thoát được lên bờ. Nếu Ðặng Dung của tôi biết mặt Trương Phụ, nắm được áo Trương Phụ sức mấy mà Trương Phụ thốt chết.

Ðêm về sáng, không gian im lặng, tôi ấp quyển sử lên ngực, nhắm mắt mơ màng, tưởng tượng cảnh đêm đông trên biển, những chiến sĩ Việt từ những thuyền nhỏ trên mặt biển nhẩy lên thuyền địch, tiếng hét, tiếng sắt thép chạm nhau, những ánh kiếm sáng lóe, bọn tướng Tầu kinh sợ … Nếu tôi làm phim, trong phim của tôi Chiến sĩ Ðặng Dung chém chết Tướng Minh Trương Phụ.

o O o

Mơ gì Ấp Tiết thiêu văn tự..

Chuyện Tầu Xưa trong Đông Chu Liệt Quốc :

Phùng Hoan về Ấp Tiết đòi nợ cho Mạnh Thường Quân, gọi những người có nợ đến tuyên bố Mạnh Thường Quân tha hết nợ, đốt hết các văn tự, tức giấy vay tiền, giấy nhận nợ. Trở về Phùng Hoan nói với Mạnh Thường Quân:

— Khi tôi đi Ngài nói thấy nhà Ngài thiếu thứ gì thì mua về thứ ấy. Tôi thấy nhà Ngài thiếu Đức nên tôi mua Đức về cho Ngài.

Có chút rượu vào bao tử, Thi sĩ Nguyễn Bính mơ làm Kinh Kha, Phùng Hoan, hai nhân vật Tầu đời xửa, đời xưa, Thi sĩ đe dọa :

“Giầy cỏ, gươm cùn ta đi đây..”

Giầy cỏ: giày làm bằng cỏ, không biết giày làm bằng cỏ đi được mấy dặm đường thì nát? Ðúng ra là hài thảo, nhưng các nhà thi sĩ cho hài thảo nghe không gợi cảm bằng hài xảo:

Mây vướng cồn xa, núi bạc đầu.
Nhà sàn nghiêng mái nhớ thương nhau.
Người đi bạt dấu chân hài xảo,
Vạt áo chàm xưa có nhạt mầu?

Dấu chân hài xảo..! Thơ Ðinh Hùng. Ta trở về với Thơ Nguyễn Bính: Thi sĩ đe dọa ra đi nhưng ngay sau đó Thi sĩ lại ngẩn ngơ:

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Ðã dấy phong yên lộng bốn trời.
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
Uống say mà gọi thế nhân ơi…

Ba nhà thơ Việt: Nguyễn Du, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính đều ca tụng người hùng Tầu Kinh Kha, không ông nào nhớ, nhắc đến Tráng sĩ Ðặng Dung của ta.

Rừng Phong Virginia. U.S.A, Mùa Thu 2000 tôi viết về Người Hùng Ðặng Dung, và tôi cảm khái phóng tác thơ ông:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai cộng sản thành công dị,
Vận khứ lưu vong ẩm hận đa.
Trí quốc hữu tâm phù địa trục,
Tẩu binh vô lộ, đáo U.S.A.
Dân thù vị báo đầu tiên bạch,
Mấy độ Rừng Phong khóc một ta!

RƯỢU MÁU, MẶT MO

Ông bạn Lee Le, tác giả ảnh Photoshop trên đây, là người có ý hay và khéo tay. CTHĐ bái phục ông.

Ông bạn Lee Le, tác giả ảnh Photoshop trên đây, là người có ý hay và khéo tay. CTHĐ bái phục ông.

Đêm buồn – một đêm buồn trong những năm 1981, 1982, những năm ấy đêm nào tôi cũng buồn, không phải một mình tôi buồn, những năm ấy 30 triệu anh đàn ông công dân nước Việt Nam Cộng Hòa bại trận đều buồn – nằm bên cái radio Sony cũ rích trong căn gác lửng vo ve tiếng muỗi – tôi nghe đài phát thanh BBC loan tin anh VC Phạm Văn Đồng đến một số quốc gia Âu châu. Tôi không nhớ rõ ở đâu, dường như ở Paris, một số người Việt đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng chào đón Phạm Văn Đồng. Những người Việt này đến để “kính dâng lòng thành kính tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.”

Bản tin có đoạn: “Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khuyên người Việt:

“Sống ở đâu phải theo pháp luật ở đấy, nhưng phải luôn luôn hướng lòng về đất nước.”

“Thời gian vỗ cánh bay như quạ. Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi.” Thơ ông Tchya, tức ông Tẩy Chìa Đái Đức Tuấn. Thấm thoắt dzậy mà đã mấy chục mùa thu lá bay qua cuộc đời. Năm nay – Tháng Bẩy 2015 – lại thấy anh Tổng Bí Thư Bắc Cộng Nguyễn Phú Trọng khuyên người Việt ở Mỹ:

Hãy nhớ mình là người Việt Nam.”

Những anh Tổng Bí Thư Cộng Đảng Tầu, Cộng Đảng Việt không phải là người đại diện nhân dân Tầu, nhân dân Việt. Hai anh chỉ là những tên Đầu Xỏ Đảng Cộng sản, nhưng chính quyền Mỹ vẫn chào đón hai anh với tư cách Quốc Trưởng. Chính phủ Mỹ có mời bọn Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng mới đến được Hoa Kỳ. Không những chỉ đến Hoa Kỳ suông, chúng còn là những thượng quốc khách của chính phủ Hoa Kỳ.

Tháng Sáu, Tháng Bẩy 2015, người Việt ở Mỹ bảo nhau:

“Đừng nghe những gì người Mỹ nói, hãy xem những gì người Mỹ làm.”

Đến Kỳ Hoa – 20 năm trước – tôi viết:

“Tôi muốn tôi sẽ không nhìn thấy lá Cờ Máu VC bay trên đất Mỹ. Tôi muốn tôi không phải thấy một bọn người Việt nào ở  Mỹ đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng, tự nhận là Phái Đoàn Người Việt, đến để “kính dâng lòng tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.””

20 năm trước, tôi viết:

“Tôi muốn Ngày 30 Tháng Tư đến, tôi đầu bù, tóc rối, râu không cạo, cổ choàng sợi xích sắt, bận bộ quần áo cũ rách, đi chân đất, đến ngồi một góc trong Trung Tâm Thương Mại Eden, để tạ cái tội tôi đã không giữ được Sài Gòn.”

Sống ở Mỹ đã 20 năm, đến hôm nay, Ngày 16 July 2015, tôi chưa nhìn thấy Cờ Máu Bắc Công bay ở bất cứ đâu trên đất Mỹ, tôi chưa thấy bọn người Việt nào đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng “kính dâng lòng tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.”

Nhưng “chưa có” không phải là “không bao giờ có.”

trong

Trên Internet, tôi nhìn thấy Cờ Máu trong đám người Việt đến phi trường đón VC Nguyễn Phú Trọng. Tôi nhắc lại: Tôi nhìn thấy Cờ Máu trên Internet. Và tôi sợ cứ cái đà viên chức chính phủ Mỹ kết thân với bọn Bắc Cộng như đang diễn ra, sẽ có ngày tôi nhìn thấy Cờ Máu bay trên đất Mỹ, có ngày tôi thấy những bọn người Việt đến Tòa Đại Sứ Bắc Cộng sì sụp quì lậy  ảnh Hồ Chí Minh, sì sụt nói lời  kính dâng lòng tri ân lên Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Theo nghi lễ Mỹ, khi vị Quốc Trưởng một quốc gia được chính phủ Mỹ mời đến Mỹ, Tổng Thống Mỹ mở một quốc yến – một bữa tiệc trong Nhà Trắng – để khoản đãi vị quốc khách. Nhưng bao nhiêu năm rồi Mỹ không có quốc yến đãi Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình, không có quốc yến đãi Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng. Không phải Nhà Trắng, không phải Tập Cận Bình, Nguyễn Phú Trọng không muốn có quốc yến. Không có quốc yến cho bọn Đầu Xỏ Tầu Cộng, Việt Cộng là vì Nhà Trắng không tổ chức được.

Quốc Yến đãi Tập Cận Bình ít nhất phải có 20 người Tầu sống ở Mỹ cùng dự, quốc yến đãi Nguyễn Phú Trọng phải có ít nhất 20 người Việt sống ở Mỹ đến dự. Bữa tiệc chỉ có chủ nhà với khách loe ngoe  ăn uống với nhau không thể và không phải là quốc yến.

Tôi vẩn vương nghĩ: nếu Tổng Mỹ đãi quốc yến Đầu Xỏ Bắc Cộng Nguyễn Phú Trọng, Phủ Tổng Thống Mỹ sẽ mời những người Việt nào ở Mỹ đến dự? Tôi  sống cách ly, cách biệt, cô đơn, cô độc, cô đủ thứ nên tôi chỉ biết có mấy ông bà người Việt có thể là khách mời, như bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, các ông Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hữu Liêm, Bùi Duy Tâm, Trương Vũ, Nguyễn Bá Long….

Quí vị biết nhiều hơn tôi xin giúp tôi một Danh Sách Khách Mời dự quốc yến Mỹ-Việt. Tôi cám ơn.

o O o

Tháng November 2006, Tổng Thống Bush đến Hà Nội. Trước ngày ông đi,  cộng đồng người Việt ở Mỹ yêu cầu ông Tổng Mỹ nói với bọn Bắc Cộng vài câu về tình trạng những người Việt tranh đấu cho Dân Chủ, Nhân Quyền bị bọn Bắc Cộng bắt, giam tù mút chỉ cà tha kiêm mút mùa Lệ Thủy. Nhiều người Việt ở Mỹ hy vọng được ông Tổng Thống Mỹ nói cho vài lời, bọn Bắc Cộng sẽ phải bớt hung hãn và nới tay đàn áp những người đòi Dân Chủ, Nhân Quyền trong nước.

Uống đi Triết, uống cho say Rượu này pha máu dân mày, dân tao. Uống đi Bi, uống cho hào Rượu này pha máu dân tao, dân mày.

Uống đi Triết, uống cho say
Rượu này pha máu dân mày, dân tao.
Uống đi Bi, uống cho hào
Rượu này pha máu dân tao, dân mày.

Một Thư Ngỏ – Open Letter – của Cộng Ðồng người Việt ở Mỹ gửi ông Tổng Thống Mỹ Bush được đăng nguyên một trang trên Nhật Báo The Washington Post. Tôi có thấy cái Thư Ngỏ ấy. Rất tiếc tôi đã không giữ tờ báo để hôm nay in Thư Ngỏ lên đây.

Nghe nói tiền chi trang báo The Washington Post lên đến 50.000 USD – U Ét Ðô-la – Tôi tiếc tiền hùi hụi – Ðô-la không phải của tôi, nhưng Ðô-la của các ông bà người Việt, tôi cũng là người Việt, tôi có quyền đau xót. Tôi đau xót , tôi đắng cay vì Thư Ngỏ Vô Ích – Vô Ích đến Năm Chăm Phần Chăm – Thư Xin ông Tổng Mỹ Bush khi đến Việt Nam làm ơn, làm phúc nói vài lời xa gần đến những người Việt tranh đấu cho Dân Chủ trong nước bị bọn Bắc Cộng giam tù; bức thư một trang báo phải chi đến 50.000 USD, nhưng thư này rõ ràng là không được ông Tổng Mỹ đọc. Ông đến Hà Nội, rồi ông bay vào Sài Gòn, ông ăn ở Sài Gòn vài bữa, ông đái ở Sài Gòn vài bãi, rồi ông lên phi cơ bay về Mỹ. Ông không nói một lời nào – một nửa lời ông cũng không nói – về những người Việt đòi Nhân Quyền bị bọn Cộng giam tù.

Về Mỹ được vài ngày, ông Tổng Bush đến Prague dự cuộc họp quốc tế của những người tranh đấu cho Nhân Quyền trên thế giới. Trên diễn đàn hội nghị này, ông Tổng Bush trâng tráo tự nhận:

“Tôi là Tổng Thống của những Người Bất Ðồng Chính Kiến.”

“I am the president of the dissidents.”

Không một ông Chính Trị nào, ở trong nước Việt và ở Mỹ, nói một lời phản đối thái độ Hờ Hững với vấn đề Nhân Quyền ở Việt Nam Cộng Sản của Tổng Thống Bush. Tất cả các ông Chính Chị, Chính Anh đều nín khe. Không ông nào nói dù chỉ một lời than:

“Tổng Thống Bush quá lạnh với chuyện Nhân Quyền ở Việt Nam.”

Tôi thấy Một Người Việt Nam chỉ trích thái độ của ông Tổng Bush.

Người Việt duy nhất đó là Hoà Thượng Quảng Ðộ. Hoà Thượng nói với một phóng viên truyền thông Tây Âu đến gặp ông ở Quang Minh Thiền Viện, đường Trương Tấn Bửu, Sài Gòn:

Ông Bush nói một đàng, làm một nẻo. Ông Bush đã phản bội chúng tôi.”

Trước khi TT. Bush đi Việt Nam, một số ông bà người Việt sống ở Virginia được mời đến Nhà Trắng, hay Bộ Ngoại Giao Mỹ. Nhóm người Việt được mời là những nhân vật nổi trội trong cộng đồng người Việt. Một viên chức Mỹ tiếp nhóm người Việt được mời này. Nghe nói viên chức Mỹ trấn an nhóm ông bà Việt. Có thể viên chức Mỹ nói TT Bush sẽ không làm gì, nói gì có hại cho người Việt trong nước, cộng đồng Việt cứ yên tâm. Viên chức Mỹ có thể hứa: TT. Bush sẽ bầy tỏ sự quan ngại về tình trạng đàn áp nhân quyền ở Việt Nam.

Bổn cũ soạn lại. TT Obama tiếp Nguyễn Phú Trọng, PTT Biden đãi

Ăn Nguyễn Phú Trọng, một số ông bà người Việt ở Virginia được viên chức Mỹ mời đến gặp. Tôi chắc là để an ủi. Tôi vẩn vương nghĩ nếu tôi ở trong số ông bà Việt được mời, tôi sẽ nói:

“Các ông kết thân với chúng nó, đó là quyền của các ông. Xin để chúng tôi được yên với nỗi buồn, nỗi nhục của chúng tôi. Đừng coi chúng tôi như bọn con nít cần được các ông xoa đầu, vỗ đít, khuyên đừng buồn, dúi cho kẹo bánh.”

Còn Tình đâu nữa.

Chưa là Thù. Nhưng Tình thì không còn.

Tôi nhớ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhạc sĩ Việt Khang, cô Tạ Phong Tần…và bao nhiêu người nữa, những em thực hành Pháp Luân Công..giờ này mòn mỏi trong tù ở quê nhà.

o O o

Viết ở Rừng Phong.

Năm cùng, tháng tận… Là một Cựu Tù Nạn Nhân Cộng Sản, người từng nằm phơi rốn 8 mùa lá rụng trong ngục tù cộng sản ở quê hương, người Cựu Tù nay được sống an nhiên ở Xứ Mỹ, tôi nhớ, tôi viết về những người Việt nay đang bị bọn Bắc Cộng giam tù.

Dường như ở Mỹ hôm nay chẳng còn người Việt nào nhớ đến cô Tạ Phong Tần, người đàn bà Sài Gòn từng lớn tiếng chửi bọn Công An VC ngay trong trụ sở của chúng:

“Công an chúng mày không biết Nhục. Chúng mày hung hăng với nhân dân, chúng mày quì mọp chúng mày lậy bọn Tàu Cộng..!”

“Thằng kia.. Tao đẻ ra mày được nhen. Mày đừng có hỗn láo với tao..”

“Chúng mày bám đít tao như bầy ruồi bám lỗ trôn trâu cái..”

Tôi nhớ Linh mục Nguyễn Văn Lý. Linh mục đòi Tự Do Tôn Giáo. Bọn Cộng bắt giam ông, chúng đưa ông ra toà. Giữa toà, ông hô lời đả đảo Ðảng Cộng Sản. Một tên công an dùng bàn tay bẩn của nó bịt miệng, bịt cả mũi ông, thằng công an vênh mặt nhìn vào máy ảnh; rồi chúng thả ông về Nhà Thờ, ông tiếp tục chống chúng, chúng bắt lại ông, ông lại bị chúng giam tù mút chỉ. Ngày này, tháng này Linh mục Nguyễn Văn Lý đang ở trong tù.

Ông Cựu Tù Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, người cùng ra tòa án Cs với cô Tạ Phong Tần, sang Mỹ ngồi ngang hàng với TT Obama trong Nhà Trắng, người tù Tạ Phong Tần bị hành hạ trong tù. Ai nhớ, ai thương người tù Tạ Phong Tần? Sống trong một trại tù khổ sai, sau ngày đi cuốc, mùa đông Thanh Hóa, trời rét, người nữ tù Tạ Phong Tần tắm ở bên giếng nước trong sân nhà tù.

Còn bao nhiều người nữa trong những ngày năm cùng, tháng tận này ngậm ngùi “Xuân này ta không về..” mà tôi không thể viết đến trong bài này. Tôi xin lỗi các vị.

Tôi nghĩ đến chuyện người vì yêu nước mà bị bọn Cộng giam tù sống trong tù như người dằng giật với kẻ thù con dao sắc: Người Tù cầm dao đằng lưỡi dao. Dằng co với bọn Cộng Ác, Người Tù chỉ có từ Chết đến Chết. Bọn Cai Tù VC nắm dao đằng chuôi, chúng không hề hấn chi cả.

Chuyện Mỹ Tư Bổn Tuyệt Tình làm tôi chán và buồn..

Ðây là một bài Phóng Dzao tôi làm ở Sài Gòn những năm 1981, 1982:

Cột đèn Em ngỡ cây cau.
Thấy thuyền Trung Cộng, tưởng Tầu Iu-Dza.
Còn duyên Mỹ dúi đôla.
Hết duyên mới biết Kỳ Hoa bạc tình.

o O o

VC Nguyễn Phú Trọng đến Sacramento, thành phố thủ đô Cali, làm cuộc thành phố Hồ Chí Minh kết nghĩa với thành phố Sacramento. Tin trên Internet cho thấy nhiều người Việt đến Sacramento biểu tình đả đảo tên độc tài Việt Cộng, và phản đối việc kết tình kết nghĩa nham nhở. Những bản tin không được rõ; tin này báo cuộc kết thân không thành, tin khác báo hai bên Mỹ Việt đã họp, ký kết tình ngãi ở một địa điểm mà người Việt không biết.

Đây là bản tin trên Blog KBCHN:

Thành phố Hồ Chí Minh và Sacramento hoàn tất thủ tục kết nghĩa và bang giao

Hình thức buổi lễ ký kết hiệp ước đầu tư và thương mại cũng như kết nghĩa chị em giữa thành phố Hồ Chí Minh và Sacramento đã diễn ra như bình thường, mặc dù có sự phản đối của của nhóm gần 100 người trong đó có những nhân vật quậy từ quận Cam.

Tin của KBCHN: phái đoàn do Bí thư thành Ủy Lê Thành Hải hướng dẫn đã được hội đồng thành phố đón tiếp lúc 16 giờ thứ Ba ngày 14/7/2015 địa phương tức 6 giờ sáng thứ Tư ngày 15/7/2015 tại Việt Nam. Theo chương trình buổi lễ sẽ được diễn ra công cộng, nhưng vì không muốn cuộc vui mất ý nghĩa vì một nhóm hoan hô đả đảo nên hội đồng thành phố quyết định chỉ tiến hành lễ giới thiệu và quan trọng là các ký kết thương mại và trao đổi đầu tư giữa 2 thành phố vẫn diễn tiến như bình thường.

Chương trình dự kiến tiếp xúc với Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn và đại diện cộng đồng người Việt đã bị hội đồng thành phố quyết định hủy bỏ vì thái độ hung hăng của nhóm biểu tình lúc 15.30.

Nhóm chống đối đã “vui vẻ” và ngây thơ ra về không biết chuyện gì đã xảy ra bên trong sau khi đọc thông báo hủy bỏ buổi họp. Hơn nữa dưới cơn nóng 91F (32.7 C) cũng làm đoàn biểu tềnh lăn kềnh ra về sớm.

Tuy nhiên sau đó, nghị viên Diệp Miên Trường và TNS Janet Nguyễn trao đổi trên Radio Bolsa lúc 18 giờ quận Cam (tức 8 giờ sáng Việt Nam) đều là màn lừa bịp lỗ tai của đồng bào nhẹ dạ: “Đoàn biểu tình đã chiến thắng hiệp đầu khi thành phố phải hủy bỏ chương trình.”

Chính trị ngây thơ hủy bỏ buổi lễ không có nghĩa là hủy bỏ việc ký kết. Lúc 4 giờ chiều phái đoàn Việt Nam dưới sự hướng dẫn của Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí MInh đã kết thúc buổi lễ ký kết văn bản kết nghĩa và hợp đồng thương mại giữa 2 thành phố.

o O o

Chuyện chính phủ Obama mời và chào đón tên VC Nguyễn Phú Trọng làm tôi hết còn “cảm khái cách gì;” Tôi buồn quá cỡ. Tôi buồn và tuyệt vọng.

Hôm nay tôi sợ có ngày tôi nhìn thấy Cờ Máu VC bay trên đất Mỹ, tôi sợ có ngày tôi thấy có nhóm người Việt ở Mỹ đến Tòa đại Sứ VC kính dâng lòng biết ơn Chủ Tich Hố Chí Minh.

Tôi sang chuyện khác.

Trước năm 1975, Khu Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, nơi Công Tử Hà Ðông sống mấy chục năm, mùa mưa đến thường bị ngập nước, khu nhà tôi sức mấy. Bây giờ Công Tử sống ở Virginia, Hoa Kỳ, nơi chàng vẫn gọi là Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, sức mấy mà mưa làm ngập lụt nơi chàng ở, còn tôi ở khu Nguyễn Thiện Thuật, Quận Ba, Sài Gòn, mùa mưa đến khu nhà tôi nước ngập quá xá..”

Ðấy là lời Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang, người sống bền với Sài Gòn từ năm 1954 và năm nay vẫn sống ở Sài Gòn, viết trong bức thư mới nhất của chàng. Ðúng thôi. Trước năm 1975, Thuyền Trưởng ngụ cùng nhà với ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, chức vụ cuối cùng của Trung Tá, tức đến 11 giờ trưa ngày 30 Tháng Tư năm 1975, là Quản Ðốc Ðài Phát Thanh Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến là anh em cùng vợ – đúng ra là “anh em cùng nhiều vợ” – với Thuyền Trưởng Hai Tầu kiêm văn sĩ tiểu thuyết phơi-ơ-toong diễm tình Văn Quang Chân Trời Tím, Tiếng Khóc Học Trò.

Nhà, phải gọi là tư gia, nâng bi là tư dinh, của Trung Tá ở trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, Sài Gòn, là nhà lầu, mới xây, đầy đủ tiện nghi, tô-lô-phôn, máy lạnh, phòng khách sa-lông Tây bọc da, phòng ăn bàn ghế gỗ cẩm lai, phòng ngủ kiểu Tây riêng biệt, có cửa đóng kín.  Năm mươi năm xưa Cư Xá Chu Mạnh Trinh là một trong những cư xá khang trang, thanh lịch nhất Sài Gòn, đặc biệt là cư xá ấy có nhiều văn nghệ sĩ cư ngụ nhất. Trước năm 1975 mỗi khi mùa mưa đến, Cư Xá Chu Mạnh Trinh chẳng bao giờ bị ngập nước. Nhưng đấy là chuyện trước năm 1975.

Trước năm 1975 Sài Gòn của tôi rất đẹp, chỉ sau năm 1975 bọn Bắc Việt Cộng nón cối, dép râu, lính cái đít bự hơn cái thúng, khiêng ảnh Lão Già Hồ vào Sài Gòn, Sài Gòn của tôi mới xấu đi, mới bẩn đi. Trước năm 1975 mỗi năm khi mùa mưa đến với những trận mưa lớn đầu mùa – đồng bào tôi gọi là những “cây mưa” – mưa lớn quá nước mưa chẩy ra sông không kịp, Sài Gòn của tôi cũng có vài con đường bị ngập nước, nhưng rất ít. Chẳng hạn như đường Lê Lai, nơi có tòa soạn nhật báo Ngôn Luận tôi thường đến hàng ngày, nhưng dù mưa có lớn đến đâu, dù có bị ngập nước mấy đi nữa chỉ hai giờ đồng hồ sau khi dứt mưa là đường Lê Lai lại khô ráo, sạch boong, nước đã rút hết. Thành phố Sài Gon yêu thương của tôi chỉ bị nạn nước mưa ngập không thuốc chữa từ sau ngày bọn Bắc Việt Cộng vào chiếm Sài Gòn.

Trước 1975 Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, Quản Ðốc Ðài Phát Thanh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, ở nhà lầu, nhà lầu của ông, không phải nhà mướn, đi xe tu-bin Toyota, hút thuốc điếu Winston, xài bật lửa gaz Dupont. Một tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975 ông xách túi, từ biệt bà vợ hiền — bà vợ hiền thứ tư của ông — ông theo lệnh của cái gọi là “Ủy Ban Quân Quản”, cái ủy ban mà người dân Sài Gòn gọi là Ủy Ban Quanh Quẩn, ông lên đường đi “học tập cải tạo.”

Ngày xa xưa ấy, một sáng Tháng Năm năm 1975, chắc ông, cũng như nhiều vị sĩ quan quân đội tôi, nghĩ rằng ông chỉ đi xa tòa nhà lầu của ông trong cư xá Chu Mạnh Trinh nhiều lắm là một, hai tháng rồi ông lại trở về trong vòng tay ấm của bà vợ hiền của ông, vì vậy ông đi tù cộng sản mà ông mang theo cái bật lửa gaz Dupont và hai tuýp gaz Dupont dzin để sạc bật lửa!

Như thị ngã văn. Chuyện sĩ quan ta mang hộp quẹt Dupont đi tù cải tạo là do chính ông Trung Tá kể cho tôi nghe. Nhưng sự đời thảm não tơ vương không có chuyện đi tù cộng sản rồi lại thơ thới trở về mái nhà xưa êm đẹp như ông Trung Tá quân ta tưởng. Bắc Việt Cộng nó cho ông đi tù mười mùa lá rụng. Khi ông trở về thành phố cũ, vỉa hè xưa, bà vợ hiền của ông đã đi một đường không sang sông mà là vượt biển tự bao giờ, tòa nhà lầu của ông đã bị bọn Bắc Việt Cộng chiếm mất, một thằng cán bộ Việt Cộng làm chủ ngang xương tòa nhà lầu của ông trong cư xá Chu Mạnh Trinh.

Vắn tắt, tóm lại, đại khái cuộc sống của ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến ở Sài Gòn những năm 1986, 1987, 1990 không có một ly ông cụ nào khác với cuộc sống của không biết bao nhiêu ông sĩ quan quân đội tôi kẹt giỏ bỏ súng, bỏ lính, bỏ nhiệm sở, bỏ nhân dân, bỏ nước, chạy lấy người không kịp, bị bọn Bắc Việt Cộng nó bắt đi tù. Cuộc sống ấy đã được một ông Tầu từ mấy ngàn năm xưa miêu tả đầy đủ trong mấy câu: “Nhà mình người ở, xế mình người đi, vợ mình người chí chạt, con mình người đưa sang Kampuchia lấy xác bón cây thốt nốt..” Cuộc sống của các ông đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái lá đa ca dao, rách, nát, bèo nhèo hơn cái mền Sakymen, xưởng máy bên Cầu Bình Triệu. Ông Trung Tá đi tù về trên răng dưới không có lựu đạn, quả đáng tội trên răng dưới ông cũng có đôi giép, không nhà, không vợ con – lại phải nói cho đúng ông có nhà, có vợ con, cái gì chứ vợ con thì ông có hơi nhiều, nhưng ông bị mất nhà, mất vợ con, ông về sống trong một nhà cho mướn ở đường Sư Vạn Hạnh. Căn nhà này có nhiều phòng nhỏ được làm để cho những em lấy Mỹ mướn những năm 1965, 1970. Năm xưa ấy khi chủ nhân căn nhà chia nhà ra làm nhiều phòng nhỏ chỉ là để cho các em lấy Mỹ mướn thôi, chủ nhà đâu có ngờ rằng chẳng mấy mùa cóc chín sau khi các em lấy Mỹ không còn khứa Mỹ nữa những căn phòng nhỏ đó lại có khách mướn. Lần này khách mướn không phải là Me Mỹ mà là các ông sĩ quan ta đi tù về. Hai ông Trung Tá ở chung một phòng, mỗi ông một cái giường sắt cá nhân, không ông nào có vợ con chi, bữa mô ông nào cần tiếp khác–  – thì ông kia phú lỉnh đi khỏi phòng chừng ba, bốn tiếng đồng hồ mới về. Rồi ông Trung Tá dạt về sống trong Cư Xá Nguyễn Thiện Thuật. Mỗi năm mùa mưa tới, những cây mưa lớn đổ xuống Sài Gòn, con đường Nguyễn Thiện Thuật nước ngập như sông, nước ngập cả ngày, cả đêm, 24 tiếng đồng hồ nước chưa rút đi hết, bọn trẻ nhỏ trong khu phố có dịp ở truồng chạy ra đường nghịch nước.

Sài Gòn hiện nay có đến 100 chỗ bị ngập nước trong mùa mưa. Một chỗ ngập nặng là đường Trần Quốc Toản của ta, nay bị bọn Việt Cộng gọi bằng cái tên không giống con giáp nào là đường 3 Tháng 2. Ðoạn đường này mỗi trận mưa lớn nước ngập lên cả thước. Nghe nói bọn Việt Cộng xây cái gọi là Nhà Hát Hòa Bình của chúng ngay trên cửa cống chính của đường Trần Quốc Toản, bít luôn ống cống nên đường này mới ngập nước nặng đến như thế. Năm nào trong mùa mưa cũng có cả chục người Sài Gòn chết thảm vì bị nước cuốn vào những miệng cống.

Liêu lạc bi tiền sự. Sống buồn ở nước Mỹ, quê người Mỹ, chuyện mưa Sài Gòn làm tôi nhớ Sai Gòn quá chời, quá đất. Bây giờ là Tháng Năm Tây, bây giờ là Tháng Ba Ta. Tháng Ba đầu mùa hạ, tiết trời thật oi ả. Năm nào Tháng Ba Ta Sài Gòn cũng oi mưa, nóng bức, khó chịu đến mười lăm, hai mươi ngày. Rồi trận mưa đầu mùa đến Sài Gòn, sấm vang, chớp giựt đùng đùng, loe lóe, đất trời Sài Gòn chuyển động, nháng lửa, gió lớn, cây lá vặn mình, những đường dây đdiện Sài Gòn đong đưa nhẩy tuýt, cả thành phố nín thở chờ đợi, bầu trời vỡ bung, nước đổ xuống sầm sập.

Mưa..! Mưa..! Không khí nhẹ đi. Mát rượi. Người Sài Gòn thở ra khoan khoái. Ôi.. phải được sống ở Sài Gòn người Việt Nam mới có cái thống khoái chờ, và thấy, và hưởng cái khoái lạc khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống…

Những cây mưa đầu mùa Sài Gòn…! Những năm 1960 tôi từng viết: “Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp mới tắm xong.…” Từ ấy đã bốn mươi mùa mưa đi qua cuộc đời, những nàng trinh nữ năm ấy nay đã thành những bà cụ già, nhiều nàng có thể còn đa tình, trái tim còn sống mạnh nhưng già thì các nàng vẫn già, hôm nay nhớ lại tôi lấy làm lạ tại sao một anh cả đẫn ngớ ngẩn như tôi lại viết được một câu gợi cảm đến như thế về thành phố Sài Gòn của tôi sau cơn mưa lớn:

“Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong!”

Mai sau nếu có chàng trai hào hoa, phong nhã nào ngửi da thịt người đàn bà chàng yêu thương vừa mới tắm xong, thơm phức, và nói: “Em sạch như thành phố Sài Gòn sau cơn mưa lớn…” thì một nửa câu nói tình tứ ấy là của tôi!

Ở đây thép rỉ, gang mòn… Xa quê hương, tôi nhớ những mùa mưa tôi nằm trong phòng tù Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu ở quê hương tôi.

Những phòng tù Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, bốn tường kín mít, mái tôn, không có trần, nhốt 20 người đã khó thở nhưng nhồi nhét đến 40 người tù. Những tháng mùa nắng phòng tù nóng như lò nướng bánh mì. Bọn tù chúng tôi rôm sẩy đầy mình, nải chuối sứ hãy còn xanh được treo trên tường phòng tù chỉ sau một đêm chịu hơi người sáng hôm sau đã chín vàng rọm. Trận mưa lớn đổ xuống, có tên cai tù tốt bụng mở cửa phòng tù cho tù chạy ra sân tắm mưa ở ống máng, chỉ hai phút tắm mưa bao nhiêu rôm xẩy lặn hết.

Tôi nhớ những trận mưa lớn ở Nhà Tù Chí Hòa.

Nhà Tù Chí Hòa có nhiều chuột cống. Bọn chuột cống biết bọn tù chúng tôi bị nhốt trong phòng, không động được đến cái chân lông của chúng nên tối xuống, khi cửa sắt hành lang đã đóng, đã khóa, bọn chúng đàng hoàng kéo nhau ra hành lang, đưổi nhau, đùa rỡn, nhẩy măm-bô, nhót tăng-gô, nựng nhau, cắn nhau; bọn tù chúng tôi đứng sau hàng song sắt suỵt suỵt dọa nạt chúng, chúng tỉnh queo, chúng coi như pha, chúng không thèm chấp. Chúng còn dương mắt nhìn chúng tôi khinh bỉ, chúng tôi nghe tiếng chúng nói:

“Chúng mày tù, chúng mày làm gì được chúng ông? Suỵt soạt ký gì?”

Nên khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống, nước thoát đi không kịp, các ống cống đầy nước, bọn chuột cống phải chạy lên sân nhà tù, chúng tôi thích thú khi thấy anh em tù nhân được ra làm những việc chia cơm, quét dọn, vây đuổi đập chết cả  chục con.

Và sau những trận mưa lớn đầu mùa, đêm xuống, nằm thao thức không ngủ được trên nền xi-măng phòng tù Chí Hòa, tôi ngạc nhiên nghe tiếng ếch nhái kêu vang suốt đêm. Tôi tự hỏi trong cả bẩy, tám tháng trời nắng nóng vừa qua, bọn nhái bén, chẫu chàng, chẫu chuộc trốn nấp ở đâu, làm sao chúng sống qua cả bẩy, tám tháng trời nắng nóng để đêm nay, trời vừa đổ cơn mưa lớn, chúng kéo nhau lên mặt đất đồng ca vang rân như thế?

Tôi nhớ mùa mưa thứ nhất tôi nằm trong sà-lim số 15 Khu B Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Mùa mưa năm 1977, đây là những tháng thứ nhất tôi bị tù trong đời tôi. Một đêm mưa lạnh, không ngủ được, tôi làm thơ:

Nằm trong khám tối âm u
Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa
Bồi hồi tưởng mái nhà xưa
Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao?
Thương Em nhạt phấn, phai đào
Ðêm đêm trở giấc chiêm bao một mình.
Ngủ đi Em, mộng bình minh
Mưa bao nhiêu giọt là Tình bấy nhiêu

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 180 other followers