• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

SÀI GÒN VÀNG HOA

saigon1

Xin đọc bài ÁO VÀNG HOA 2007

Năm 1975, năm 1976, 1977, rồi những năm 2000, 2010… — Vèo…, như những cánh lá thu  bay trong Thơ Tản Ðà, ba mươi mùa thu vàng đã qua trên những lối mòn mờ dấu chân xưa…

Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi !

Thi sĩ Tản Ðà có mộng công danh, mộng của ông không thành nên ông than: “Công danh phù thế có ngần ấy thôi..” Tôi không có mộng công danh — công danh đây nói theo nghĩa đen, không những chỉ đen thường mà là đen sì, đen sịt, công danh theo nghĩa hẹp, không những chỉ hẹp vừa mà là hẹp khít; mộng công danh đen và hẹp này là mộng thi đỗ, trước 1945 ra làm quan, làm tri huyện, tri phủ, tổng đốc, thượng thư; sau 1945 làm tỉnh trưởng, bộ trưởng, đại sứ, tổng thống vv — Tôi không có mộng công danh ngay từ khi tôi oe.. oe mấy tiếng vào đời. Những năm tôi 10 tuổi, tôi rất khó chịu khi có ai gọi đuà tôi là “Ông Huyện Hải.” Tôi không có mộng công danh trong kiếp này, kiếp trước, kiếp sau. Trong ba kiếp của tôi tôi chỉ muốn làm người viết tiểu thuyết, thứ tiểu thuyết Tình giải trí cho những người đàn bà đa tình, chung tình và đẹp. Vì vậy khi cảm khái vì thời gian qua mau, tôi than:

Vèo trông lá rụng đầy sân
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi !

Khi người khác già đi, người khác nuối tiếc hoa niên, người khác sầu buồn, não nùng, than thở, tôi cho là chuyện tự nhiên chẳng có gì đáng théc méc. Sống lâu thì phải già đi, muốn trẻ mãi sao, sầu buồn, than thở vì già đi là vô lý. Nhưng khi chính tôi già đi, tôi mất xuân thì, tôi buồn, tôi khổ đau ghê gớm. Tôi thấy việc tôi già đi là thậm vô lý, là không thể chấp nhận được. Ai cũng có thể già đi nhưng tôi thì không thể nào già đi được, hoặc ít nhất tôi cũng không thể nào già đi nhanh đến như thế. Mới buổi sáng nào đây tôi mười tuổi, tôi ngồi xe tay Omic nhà đến trường Tự Ðức trong thị xã Hà Ðông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà, có đường xe điện dài nhất Ðông Dương nối liền thị xã Hà Ðông với thành phố Hà Nội; mới những buổi chiều nào đây tôi đi học ở trường Phan Chu Trinh, Hà Nội, sáng tôi đi, chiều tôi về Hà Ðông bằng xe điện, đoạn đường xe đẹp nhất là đoan từ trạm Thanh Xuân vào thị trấn. Tôi nhớ bên đường có làng Phùng Khoang với tòa nhà thờ cổ và đẹp. Ðó là chuyện xẩy ra năm 1946 mà tôi tưởng như mới xẩy ra tháng trước. Rồi buổi sáng mùa thu trời trong vắt chú thiếu niên đi kháng chiến là tôi lòng mở hội đi trên đường Thái Nguyên vào Việt Bắc; qua cầu treo Ðại Từ, lên đến Rừng Khế, Tuyên Quang, mới buổi chiều cuối năm lành lạnh nào đây tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tôi đứng bên sạp báo trước Nhà Hàng Kim Hoa đường Bonard chờ người thiếu nữ tôi yêu ra mua báo.

saigon2

Nàng là người yêu thứ nhất của tôi, thành phố Sài Gòn ngày ấy, năm ấy mới có xe taxi. Tôi đón nàng ở cửa Tây Chợ Bến Thành, tôi đưa nàng đi chơi bằng xe taxi, đưa nàng vào chơi Sở Thú. Buổi chiều nắng vàng nàng ngồi trên thảm cỏ chụp hình. Mới ngày nào đây tôi ba mươi tuổi, tôi làm trong tòa soạn Nhật báo Sàigònmới, tôi viết tiểu thuyết phóng tác trên báo Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, Kịch Ảnh, Ðiện Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai, tôi sống, tôi viết truyện, tôi yêu, tôi được yêu, tôi ăn chơi vi vút giữa lòng thành phố Sài Gòn…Mới những đêm trăng nào đây tôi phóng xe Hillman mui trần chở người yêu lên xa lộ…

- Có phải Em là mùa thu Hà Nội
Tuổi hoa niên anh lót lá Em nằm..?

Lời một bài ca Tình tôi nghe được ở Sài Gòn những năm 1981, 1982, những người Sài Gòn hát cho nhau nghe. Tác giả bài ca tả cảnh ông  yêu ở Hà Nội, ông lót lá thu vàng cho người yêu của ông nằm ở thảm cỏ bên Hồ Tây, trên bờ đê Yên Phụ hay ở Rặng Ổi sau Nhà Bảo Tàng Louis Finot. Tôi yêu ở Sài Gòn. Tôi trải cái áo mưa xanh Không Quân Mỹ cho người yêu tôi nằm dưới rặng dừa ven xa lộ.

Những ngày hồng, những đêm xanh ấy tưởng như mới là những ngày hôm qua, những đêm hôm kia…

Có phải Em trăng mùa thu xa lộ
Tuổi hoa niên Anh lót áo Em nằm..?

Dấu Móng Chim Hồng

rungphong

Những năm 1960 tôi gặp trên trang sách bốn câu Thơ của ông Tầu Văn Thiên Tường:

Nhân sinh đáo xứ ưng hà tự?

Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê.

Nê thượng vô tình lưu trảo tích.

Hồng phi na kế hướng đông tê! – Tê: Tây.

Người ta ở đời nên sống như thế nào?

Nên như chim Hồng đi trên tuyết.

Chim vô tình để lại trên mặt tuyết dấu chân.

Hồng bay đi bất kể về đông hay tây..

Trong bốn câu thơ Hán Việt trên đây có thể có một, hai tiếng sai. Vì tôi nhớ không đúng. Có sai xin bỏ qua. Bốn câu thơ ấy đến với tôi năm tôi tuổi đời Ba Bó. Năm ấy – năm 1960 – tôi thấy ý thơ hay nhưng thơ không làm tôi xúc động gì nhiều. Đời tôi những năm ấy đang phơI phới lên hương. Chưa có một tai họa nào đáng gọi là tai họa đến với tôi. Hai mươi năm sau trong những đêm buồn nằm phơi rốn mốc trong Nhà Tù Chí Hòa, chuyện Chim Hồng bay, Chim Hồng bị giam tù, Chim Hồng để lại dấu chân…trở lại với tôi. Ý thơ Chim Hồng bay đi để lại dấn chân chim trên tuyết làm tôi nghĩ;

“Mình không phải là chim Hồng nhưng mình cũng để lại những hình ảnh, những việc làm, những thái độ trong tù của mình trong ký ức các bạn tù. Không mong được các bạn khen, mình chỉ cần khi mình ra khỏi tù, có ai hỏi mình sống trong tù ra sao, các bạn tù của mình trả lời;

“Tên đó tạm được. Không đến nỗi hèn.”

Buổi sáng tháng tận, năm cùng nơi xứ người, cuộc sống của vợ chồng tôi leo lét như ngọn đèn cạn dầu, tình cờ tôi tìm thấy trên Internet, và trên blog “hoanghaithuy.com” của tôi, một số bài viết về Duyên Anh. Tôi cảm khái khi thấy những bài viết này có hình ảnh dấu chân Chim Hồng trên tuyết. Mời quí vị đọc:

Trích “hoanghaithuy.com.”

Duyên Anh, ảnh ghi khi tay phải Duyên Anh đã bị liệt.

Duyên Anh, ảnh ghi khi tay phải Duyên Anh đã bị liệt.

Phương Lê,. September 13, 2011:

Ông bố tôi là nhân viên Sở Tâm Lý Chiến, Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Thuở ấy tôi mê đọc tiểu thuyết của Duyên Anh. Đầu óc tôi đầy hình ảnh những tay  giang hồ du đãng là những nhân vật trong những truyện ăn khách đương thời của Nhà Văn Duyên Anh như “Điệu ru nước mắt”, “Vết thù trên lưng ngựa hoang”, “Luật hè phố” v..v… Chị tôi mê đọc những tiểu thuyết của Lệ Hằng.

Thấy chị em tôi đọc những tiểu thuyết ấy, Bố tôi thở dài, ông nói : “Người ta bảo: con trai không nên cho đọc Thủy Hử, con gái không nên cho đọc Thúy Kiều; đó là chuyện người xưa, nay tao thấy: con trai không nên cho đọc Duyên Anh, con gái không nên cho đọc Lệ Hằng!”.

Khi nghe tôi hỏi ông về Duyên Anh, ông đáp ngay:

“Thằng đó già họng, già hàm lắm!”.

Tây Độc, September 13, 2011:

Hình như “Luật Hè Phố” sau này đổi thành “Giấc mơ một loài cỏ” phải không quý vị?
Tôi thấy cái tựa “Giấc mơ một loài cỏ” hay hơn “Luật Hè Phố” nhiều.
Nhận xét Duyên Anh là người kiêu ngạo rất chính xác. Đọc “Nhìn lại những bến bờ…” và quyển hồi ký ông viết về những năm ông bị tù cải tạo thì thấy rõ điều đó.
Có lẽ vì hăng chửi người khác và tự coi mình quá quan trọng nên ông bị người ta đánh chăng?
Tuy nhiên, ai mà chẳng có tật xấu. Dù gì thì Duyên Anh cũng là người chống Cộng nhiệt thành và là nhà văn có tài, có nhiều độc giả.

Nguyễn Việt Hùng, September 16, 2011

Nhân vô thập toàn, Duyên Anh cũng thế. Con người của Duyên Anh chắc cũng đầy những tính tốt và tính xấu. Như mọi người thôi. Nhưng xuyên qua tất cả những tác phẩm của ông, theo tôi Duyên Anh là nhà văn tài năng và đầy sức sáng tạo. Duyên Anh còn là người chống Cộng mãnh liệt và có lòng yêu nước nồng nàn. Cho dù những tác phẩm viết về giới du đãng của ông đầy những tư tường bi phẩn và nổi loạn, nhưng cũng mang đầy tính nhân văn. Ông là một trong số ít ỏi những nhà văn VN có  những tác phẩm được dịch ra ngoại ngữ. Là kẻ hậu sinh, khi Duyên Anh là nhà văn nổi tiếng, tôi chỉ là cậu học sinh tiểu học, nhưng tôi thấy dù yêu hay ghét Duyên Anh, người ta cũng phải công nhận ông đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học Việt Nam. Duyên Anh đã mất, “nghĩa tử là nghĩa tận”, những phán xét về ông nên thật công bình.

TTLan-Paris, September 20, 2011

Đọc những chuyện ‘Làng Văn, Làng Báo’ trước 75, làm cháu nhớ quê hương quá, những năm tháng mới lớn và bắt đầu mê đọc tiểu thuyết…Báo Con Ong, Báo Đời, báo Sống, báo Xây Dựng, báo VNTP… gợi lại trong hồn cháu bao kỷ niệm của Sài Gòn mến yêu. Bác CTHĐ nhắc đến chú Duyên Anh, nhà văn mà cháu đọc ngấu nghiến tất cả những văn phẩm của ông viết cho tuổi thơ. Quyển cháu thích nhất là “Dzũng Đakao.” Chẳng hiểu tại sao, có những từ ngữ chú DA chế ra như “cho ăn bát cơm nguội”, ‘lang bang sì-cun (school)’ đã mãi mãi ở lại trong đầu cháu. Ai nói gì hay phê bình sao về DA thì nói, đối với riêng cháu, chú DA là một người mà cháu khâm phục, là người mà cháu tôn làm Thầy trên cả thầy. Theo cháu,  kể tật chú DA là ‘kiêu ngạo’ không hẳn đúng, “khó tính” hay “già mồm” cũng vậy. Theo cháu,  DA “ngông”, ngông như Cao Bá Quát, chẳng sợ ai, chẳng cần ai, vì ngông mà gây nên nhiều ác cảm. Nhưng nếu gần  và quen biết DA rõ hơn thì mới thấy là cái tài nó quá to so với cái tật. Từ năm mới lên 8 khi cháu vào nhóm Tuổi Thơ của báo Xây Dựng do chú DA phụ trách đến những năm cuối cùng tại Paris, cháu thấy chú DA trước sau vẫn vậy, lúc nào cũng có vẻ như có chuyện gì bực mình, bất mãn, khó chịu… nhưng khi hỏi ra thì là vì trong đầu ông lúc nào cũng có dăm ba quyển sách đang đua chen nhau, hay đang vùng vẫy muốn ra đời…Cháu sẽ mãi mãi nhớ chú DA với mày trau và nạng chống, với việc viết đến chết, viết tay phải không được thì chuyển sang viết bằng tay trái.  Vì không viết thì cái đầu ông nó sẽ nổ tung, trái tim ông sẽ ngưng đập, vì ông phải viết lên hết những tội ác của Cộng Sản!

Cám ơn chú Duyên Anh, cháu mong chú an nghỉ mãi mãi, không còn gì làm cho chú bực mình nữa hết!

H.Uyen, September 22, 2011

Rất đồng ý với Nguyễn Việt Hùng và TTLan-Paris.
Đã có 1 thời,tuổi thơ VN thiếu “món ăn tinh thần”. Sách dành cho thiếu nhi thời xưa ấy quá ít .Cho nên với “Con sáo của em tôi”,”Con Thúy”,”Thằng Côn”,“Chương Còm”..v.v.. Duyên Anh đã nổi tiếng.Và sau 1975,ông vẫn còn nghĩ đến tuổi trẻ với tác phẩm “Đồi Fanta”.  Nguyễn Anh Thăng, September 25, 2011

Trích trong “Paris Mùa Xuân” Tác giả Nguyên Vũ:

Năm 1982, khi qua Paris du khảo lần đầu để chuẩn bị luận án viết tại Đại học Wisconsin-Madison, tôi được đọc tập “Bút Không “của Phan Nhật Nam, cùng nhiều thư riêng của Dê Húc Càn, tức Lão Húc Dương Hùng Cường – ông nhà báo, nhà văn gốc Không Quân một thời nếm mùi rệp rận của trại giam An Ninh Quân Đội tròn bốn tháng chỉ vì trót rủ Vương Sơn Thông, gã dân biểu gia nô gốc thợ chụp hình tỉnh Quảng Đức tới ngồi chung bàn với anh em Nhảy Dù chúng tội. Tôi cũng biết Đạo Cù Trần Tam Tiệp có “hộp thư” làm việc ngay tại Ty Bưu Điện Sai Gòn, nhờ vậy việc chuyển quà, tiền, và tài liệu giữa TT Tiệp, Paris, và một số văn nghệ sĩ Sài Gòn được giữ bí mật khá lâu

Nhưng sau đó vài tên ăng-ten ở Paris, kể cả “nhà văn của tuổi trẻ” và “tuổi ô mai” kiêm ký giả Thương Sinh – chuyên viên chửi thuê, nịnh mướn lừng danh ở Sài Gòn – đã mật báo với VC về đường dây liên lạc của ông TT Tiêp. Vì thế một số văn nghệ sĩ bị  VC  bắt giam như Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy, Doãn Quốc Sỹ …

Ngưng trích.

Đoạn văn trên trích từ trang 149 tập tâm bút mang tên “Paris, Mùa Xuân”, tác giả Nguyên Vũ, nhà xuất bản Văn Hoá, Houston, USA, 1988

Trích “hoanghaithuy.com”

Mai Đừc Độ, September 27, 2011

Nếu quả thật đoạn văn trên trích từ cuốn sách của ông Nguyên Vũ, thì thử hỏi sự kiện những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, bị cộng sản bắt tù vì bị nhà văn Duyên Anh “mật báo về đường dây liên lạc với ông TT Tiệp” có thể tin nổi không? CS phải cần đến DA mới phát hiện ra đường dây của ông Tiệp!? Thiệt là bullshit. Người chết thì đã.. chết rồi, tranh cãi thì cũng chằng làm gì. Nhưng thối quá, không lên tiếng không được.

TTLan-Paris, September 28, 2011

Gửi: @Nguyễn Anh Thăng,
Anh bới những chuyện có lợi cho CS, để nói xấu DA, một người từng đem phô bày tội ác CS qua bao nhiêu sách báo! Thế thì rõ là anh là người thế nào…
Đồng ý hoàn toàn với anh Mai Đức Độ : “Thối quá, không lên tiếng không được”. Ngay cả CTHĐ HHT, cũng đã viết về DA như sau:

“Những năm 1987, 1988 Duyên Anh bị đánh ở Cali, liệt nửa người. Oan nghiệt dễ sợ.”

Chắc NAT không đọc hay không biết đọc sao?
Mai Đừc Độ, September 29, 2011

Gửi bạn @Nguyen Anh Thang: Tôi và DA chẳng hề quen biết nhau. Giữa DA và tôi có cả một thế hệ đệm. Tại sao tôi lại phải “bênh vực” DA? Tôi đã đọc qua tất cả những lời cáo buộc DA làm “ăng ten cho CSVN” của Tạ Tỵ, Mai Thảo, Trần Tam Tiệp, hay của ông Tiến Sỉ Vũ Ngự Chiêu. Tất cả những người cáo buộc DA đều không từng có một ngày nào ở tù với ông ta. Họ đều chỉ dựa vào những tin đồn không căn cứ, chỉ dựa vào những chuyện “nghe người ta nói” rất mơ hồ.

Có một nhân chứng rất quan trọng là họa sĩ Đằng Giao (con rể của Nhà văn Chu Tử) là người cùng ở tù một trại, một phòng giam với DA là có thể cáo buộc hay minh oan cho DA, nhưng Đằng Giao lại chọn thái độ im lặng. Trong một lần Đằng Giao qua Mỹ để bán tranh, khi được hỏi về những lời cáo buộc DA, Đằng Giao đã nói đại ý :

“DA chẳng liên quan gì đến cái chết của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn ở Xuyên Mộc. Trong tù CS, chẳng có  người tù nào có thể làm “ăng ten” để hại cho người tù khác chết cả.”

Có thể vì Đằng Giao còn kẹt lại trong nước, nên rất khó cho anh ta có thể viết bài minh oan cho một người bị CS ghét cay ghét đắng. Ở xứ tự do, ngay cả khi bạn bị cảnh sát bắt tại trận vì một lý do gì đó, truớc khi bị xét xử, bạn vẫn được cho là vô tội. Vậy mà bạn chỉ dựa vào vài trang báo, vài lời cáo buộc vu vơ, mà bạn đã nói chắc như đinh đóng cột rằng DA là “ăng ten cho CS”!!! Tôi chỉ muốn nhắc bạn 1 điều là khi chưa có bằng cớ xác đáng thì đừng nên kết tội người khác. Trên đời này có quả báo đó bạn. Chúc bạn luôn vui.

Nguyen Anh Thang, September 29, 2011

Bạn Mai Đức Độ viết:

“Ở xứ tự do, ngay cả khi bạn bị cảnh sát bắt tại trận vì một lý do gì đó, truớc khi bị xét xử, bạn vẫn được cho là vô tộị Vậy mà bạn chỉ dựa vào vài trang báo, vài lời cáo buộc vu vơ, mà bạn đã chắc như đinh đóng cột rằng DA là “ăng ten cho CS”!!! Võ Đại Tôn, người dám về nước kháng chiến và chịu tù tội cũng một thời bị “chửi là Võ Đại Bịp”. Tôi chỉ muốn nhắc nhở bạn 1 điều là khi chưa có bằng cớ xác đáng thì đừng nên kết tội người khác. Trên đời này có quả báo đó bạn. Chúc bạn luôn vui”.

  1. “Bạn đã chắc như đinh đóng cột rằng DA là “ăng ten cho CS”” Bạn tìm ở đâu ra câu nói trên của tôi? Xin trích ra giùm
  2. “Tôi chỉ muốn nhắc nhở bạn 1 điều là khi chưa có bằng cớ xác đáng thì đừng nên kết tội người khác” Tôi trả lại câu này cho bạn, tuỳ nghi xử dung. Chắc bạn còn nhớ tựa đề một tiểu thuyết của Nhà văn Tuý Hồng có thể ứng dụng vào trường hợp này: “Tôi nhìn tôi trên vách”.

Tại sao nhà văn HHT bị tù CSVN hai lần mà không bị ai “tố điêu” là ăng- ten của CSVN, mà nhà văn Duyên Anh lại bị? Đây là câu hỏi chứ không phải là khẳng định của tôi.  Đừng vội bảo tôi là người nói “chắc như đinh đóng cột rằng DA làm “ăng ten cho CS” ”

Mượn lời Thánh Kinh, xin chúc “Bình An cùng bạn” Thời gian sẽ trả lời vấn nạn “DA có làm ăng ten cho CSVN” không. Đối thoại nên bình tĩnh khi người khác nói những gì trái với điều mình tin Thế mới đáng công mình bỏ xứ ra đi tìm tự do, phải không bạn ? Tôi sẽ không post ý kiến ý cò gì về chuyện này nữa . Post chuyện khác vui hơn, không có “căng.”

Duyên Anh trên Internet:

Duyên Anh (1935-1997) là nhà văn, nhà báo, nhà thơ hoạt động ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và ở hải ngoại sau năm 1981.

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác của ông là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông học tiểu học và trung học ở Thái Bình và Hà Nội.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi-ta, dạy sáo.

Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt tác phẩm tiểu thuyết Thằng CônThằng VũCon Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt, giọng văn tha thiết, nhẹ nhàng và tình cảm.

Sau đó ông trở thành ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây DựngSống,Chính LuậnCông LuậnCon OngTuổi Ngọc

Có một dạo, Duyên Anh viết về giới giang hồ, bụi đời trong xã hội trước năm 1975. Trong một số tác phẩm  Duyên Anh ca ngợi lối sống phóng khoáng, bất cần đời của giới trẻ bị bế tắc trong xã hội. Tuy nhiên những tác phẩm ấy vẫn thấm đậm một tính cách nghĩa khí và các nhân vật của Duyên Anh đều sẵn sàng chết vì tình nghĩa và chữ tín của mình. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, cùng với Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh bị VC gọi là một trong 10 nghệ sĩ nêu danh là “Những Tên Biệt Kích của Chủ Nghĩa Thực Dân Mới Trên Mặt Trận Văn Hóa - Tư Tưởng.” Tất cả những tác phẩm của Duyên Anh đều bị cấm lưu hành.

Ngày 8 tháng 4 năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam (tháng 4, 1976). Ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ông vượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông  có làm thơ và soạn nhạc.

Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này.

Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

Gần như có hai con người đối lập trong ông. Một Duyên Anh nhà văn có lối viết nhẹ nhàng, trong sáng, mơ mộng, đầy ấp tình người. Và một Duyên Anh nhà báo ngổ ngáo, tai tiếng, lắm kẻ thù với những bài viết sống sượng và cay độc. Ông được đánh giá là một nhà văn, nhà báo có chỗ đứng cao trong văn học nghệ thuật Việt Nam, sức sáng tạo dồi dào: ông có 34 năm cầm bút với 101 tác phẩm được viết và xuất bản.

Duyên Anh viết trong Lời Tựa Hồi Ký Nhà Tù

Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Con người sinh ra là để chịu đựng mọi hệ lụy. Từ đầu đường oan nghiệt, tôi khởi sự khóc và tôi sẽ gục ngã ở cuối đường oan nghiệt. Từ đấy, theo tôi, là những cái mộ u cao hơn, nhiều chông gai hơn những cái mộ u khác dốc dài sau đó. Vượt qua hay chẳng vượt qua thì rồi cũng chết. Có những cái chết thật vô tích sự và mục rã như có cây tàn tạ. Có những cái chết được phục sinh. Chinh ý nghĩa của sự sống đã phục sinh sự chết. Ý nghĩa ấy nảy mầm trong lòng những cái mộ u cao nhất của sầu đạo và mầm ấy chổi lên mặt đất, chổi lên mãi thành cây nhân sinh xum xuê lá cành xanh mướt, trĩu nặng trái chín vàng mộ bằng sự phấn đấu can đảm của con người vượt qua mộ u. Nhà tù nào cũng chỉ là một xã hội thu hẹp. Nó nhỏ bé nên nó sinh động vô cùng. Nó gần gũi nên nó lột trần muôn mặt. Nó đầy rẫy ti tiện bẩn thỉu. Nó cao thượng và nó thấp hèn. Nó phản phúc đáy tim và nó sắt son đầu lưỡi. Nó đố kỵ ban đêm và nó hòa hoãn ban ngày. Nó anh hùng trong bóng tối và nó khiếp nhược ngoài ánh sáng. Nó tạo dựng ngộ nhận, vu khống, chup mũ và hành hạ lẫn nhau, bởi quan điểm cũ kỹ, bởi lập trường sắt máu, bởi sự ngu xuẩn, bởi máu lãnh tụ và bởi cả một điếu thuốc lào, một cục đường hay một miếng thịt chia chẳng đồng đều! Nhà tù không dạy con người một bài học cao quý nào cả. Con người đã tự học ở sự tủi nhục, ở nơi cay đắng trong nhà tù. Để biết chịu đựng. Để biết coi thường tất cả. Để biết thương xót.

Không ai thích vào tù, dù chết trong tù sẽ thành liệt sĩ hoặc ra khỏi tù sẽ thành dũng sĩ. Sát nhân cũng sợ tù. Vĩ nhân cũng sợ tù. Đại đức cũng sợ tù. Linh mục cũng sợ tù. Các nhà cách mạng càng sợ tù hơn. Bởi thế, nguc tù không bao giờ là thành tích vĩ đại để khi thoát khỏi nó, người ta vỗ ngực khoe khoang, người ta quảng cáo nó như một món hàng thương mại, người ta xử dụng nó như một phương tiện bước vào chính trường. Như những người thật thà với chính mình, tôi rất sợ tù đầy. Tôi ở lại Việt Nam vì vụng về trong mưu toan chạy trốn. Tôi không bao giờ có ý ở lại để làm chứng nhận lịch sử. Công việc phi thường nầy dành cho người khác. Tôi ở lại và tôi bị bắt bỏ tù. Tôi thành người tù. Khi được thả về, nghĩa là khi biết mình chưa chết, tôi mới dám nghĩ tới những năm tù đầy bất hạnh của tôi là hạnh phúc cho riêng tôi, cho những cuốn tiểu thuyết tôi sẽ viết mai nầy.

Tôi xin nhắc lại: Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Nhưng tại sao tôi lại viết?

Tháng 10 năm 1983, tôi đến Paris như một thuyền nhân buồn.. Nhiều bạn tôi, những người đã cứu tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản, hay tin tôi có mặt tại Pháp, tới thăm tôi, chia nỗi vui mừng với tôi. Tất cả các bạn đều hỏi tôi về đề lao Gia Đình, về Sở Công An, về khám Chí Hòa, về các trại tập trung và những hình phạt mà những tù nhân phải chịu đựng năm nầy qua năm khác, và suốt một kiếp người. Họ hỏi tôi về những người trí thức Việt Nam vì đấu tranh cho nhân quyền mà bị tù, lưu đầy, phát vãng. Họ hỏi tôi về những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, những tù nhân tư tưởng của thời đại khốn kiếp của chúng ta. Tôi bỗng thấy tôi có bốn phận viết hồi ký. Hồi ký của tôi sẽ không phải chỉ là bản báo cáo những nỗi khổ lê thê và riêng tư trong số phận văn nghệ sĩ, trí thức Quốc Gia VNCH. Cũng không phải là những trang ngục sử ca ngợi các vị anh hùng không bao giờ có trong những nhà tù cộng sản. Tôi có tham vọng, trong hồi ký của tôi, diễn tả cái thủ thuật gian ác và hèn mọn của chủ nghĩa cộng sản là triệt để khai thác sự yếu đuối của con người, đe dọa, khủng bố để con người khiếp nhược, đánh vào dạ dày con người bằng roi gạo để con người thành đê tiện và tạo mâu thuẫn để con người thù hằn con người. Những tù nhân Việt Nam, đã chết, sắp chết hay sẽ chết vẫn tồn tại với định nghĩa làm người rực rỡ. Trong thống khổ và cô đơn.

Hồi ký của tôi gồm 2 cuốn. Cuốn thứ nhất mang tên NHÀ TÙ. Cuốn thứ hai mang tênTRẠI TẬP TRUNG. Như đã trình bày, nhà tù là một xã hội thu hẹp, nó gần gũi nên nó tự lột trần muôn mặt. Tôi có gắng ghi chép thật trung thực cái muôn mặt đỏ của Nhà Tù.

Montreuil, Tháng Giêng, 1984.

Duyên Anh

Yêu thương tặng Nguyễn Ngọc Phương, nhà tôi, người đã tốn nhiều nước mắt nuôi chồng tù

Duyên Anh

CTHĐ: Xin quí vị bạn đọc có ý kiến về Duyên Anh qua những dấu chân chim Duyên Anh để lại trên đây. Tôi viết thêm:

Tổ chức phản gián của Cộng Sản Hà Nội tìm ra mối liên lạc giữa ông Trần Tam Tiệp ở Paris và một số văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Duyên Anh không dính líu gì vào vụ này. Duyên Anh đi chui thoát khỏi Sài Gòn năm 1983. Nếu DA đi không thoát, anh đã bị bắt Tháng 4-1984 cùng với Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sĩ. Ra tòa anh có thể bị tụi CS phang án tù 10 năm khổ sai. Và nếu năm 1984 anh bị án tù 10 năm khổ sai, tai họa anh bị đánh đến liệt nửa người ở Cali năm 1988 đã không xẩy ra.

Duyên Anh không có tội gì trong cái chết trong tù của anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh Côn chết ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc vì anh đòi được trả tự do, anh tuyệt thực, bọn Cai Tù giam anh riêng một nơi, chúng không cho anh uống nước.

Duyên Anh là văn nghệ sĩ Việt Nam duy nhất bị người Việt Nam đánh đến bại liệt nửa người. Tai họa đến với Duyên Anh trên đất Hoa Kỳ. Không biết, không tìm ra ai đánh Duyên Anh trên đường phố Cali.

o O o

Nguyễn Du làm thơ vịnh Văn Thiên Tường, tác giả “Phi hồng đạp tuyết nê.”

Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng

Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên,

Thừa Tướng cô trung vạn cổ truyền.

Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ.

Trùng lai Giang Tả hựu hà niên?

Ai trung xúc xứ minh kim thạch.

Oán huyết qui thời hóa đỗ quyên.

Nam Bắc chí kim vô dị tục,

Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền.

Dịch nghĩa:

Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng

Quang cảnh núi sông vẫn như xưa.

Lòng cô trung của Thừa Tướng truyền la6i vạn năm.

Qua sông Hoài là không còn đất nước cũ.

Biết bao giờ trở về Giang Tả?

Nỗi thương cảm thốt ra thành thơ như tiếng vàng đá.

Máu oan lúc trở về hóa thành chim đỗ quyên.

Ngày nay phong tục Nam Bắc không còn khác nhau nữa.

Dưới bóng chiều tà, thuyền ngược xuôi tấp nập trên sông.

Hoàng Hải Thủy phóng tác:

Nhớ Văn Thừa Tướng

Núi sông, trời đất vẫn xanh ngời.

Thừa Tướng lòng trung sáng vạn đời.

Giang Tả đi rồi, hồn trở lại.

Sông Hoài qua đó, đất  xa khơi.

Ngậm máu bay về, chim gọi nước.

Thơ vàng thương cảm tiếng vang trời.

Nam Bắc bây giờ không khác nữa,

Bóng chiều rơi xuống mũi thuyền người.

Văn Thiên Tường – 1236-1263 – Thừa Tướng triều Tống. Quân Nguyên vào chiếm miền Bắc Trung Hoa, triều đình Tống chạy xuống miền Nam Trung Hoa. Văn Thiên Tường cầm quân chống cự. Ông thua trận, bị quân Nguyên bắt sống. Vua Kim muốn ông đầu hàng, muốn dùng ông, ông không chịu hàng. Bị giam bốn năm ông vẫn không chịu hàng. Ông bị giết năm ông bốn mươi bẩy tuổi.

o O o

Ở đời ta nên sống như thế nào?

Nên như chim Hồng đi trên tuyết.

Chim để dấu chân chim trên tuyết.

Chim bay đi không cần biết sang đông hay về tây.

Chiều cuối năm Ta, đầu năm Tây, người viết thấy lạnh và cô đơn. Lạnh trong không gian, lạnh trong lòng. Cô đơn trong không gian, cô đơn trong hồn.

Chuyện xưa quá là xưa. Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Trần Tam Tiệp, Dương Hùng Cường như những cánh chim đã bay đi, chỉ còn những nét chữ của họ để lại trên mặt giấy.

Thơ Văn Thiên Tường;

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?

Lưu thử đan tâm chiếu hãn thanh.”

Xưa nay có ai là người không chết?

Hãy để lại tấm lòng son trong sử xanh.

Ta không phải là chim Hồng, ta là chim Sẻ, ta  để lại những chữ viết của ta trên trang giấy này.

Cảm khái cách gì!

THÁNG TẬN, NĂM CÙNG

Minh Đăng Khánh chết sau 5 năm bị bại liệt.Ảnh trong Tiệm Kem Mai Hương, Sài Gòn năm 1957.

Minh Đăng Khánh chết sau 5 năm bị bại liệt.Ảnh trong Tiệm Kem Mai Hương, Sài Gòn năm 1957.

Chiều nằm ngủ trên thành cửa sổ,
Người ngồi ôm chăn mỏng nhớ đời…

Thơ Thanh Tâm Tuyền.

Chiều nằm ngủ trên thành cửa sổ phòng bệnh Nhà Thương Lao Phổi Hồng Bàng, Sài Gòn.

Người ngồi ôm chăn mỏng nhớ đời là Thi sĩ Quách Thoại.

Buổi sáng năm cùng, tháng tận ở quê người, trước khung hình computer,  tôi buồn vời vợi. Buồn và tuyệt vọng. Cuộc sống không còn có gì cho tôi vui. Mùa đông Virginia, tuyết làm duyên, vườn đất Virginia mùa đông cũng có tuyết, nhưng tuyết làm cảnh, tuyết thoáng qua, như  không lẽ Virginia Mùa Đông lại không có tuyết. Christmas 2014 Virginia không có một cánh hoa tuyết.

Trong phòng ấm, ly cà phê nóng, màn ảnh TiVi trình diễn những khuôn mặt phụ nữ Mỹ trẻ, duyên, hấp dẫn, những chuyên viên xướng ngôn TiVi tiếng Mỹ được gọi là những anchor; người đàn bà sống với tôi trong 60 năm ngồi với ly cà phê bên tôi.

Buổi sáng lúc 5 giờ, trong căn phòng Housing for Seniors Low Income  – tôi trở dậy. Tôi pha ly cà phê cho tôi, tôi làm sẵn ly cà phê đợi vợ tôi dậy là pha nước sôi. Chúng tôi bắt đầu một ngày sống bên nhau. Có nàng sống chung,  tim tôi vẫn nặng. Tim tôi nặng vì tôi biết tôi không còn được sống với nàng bao lâu nữa. Chúng tôi có thể vĩnh biệt nhau bất cứ lúc nào. Một sáng nào đó trong căn phòng người lưu vong đầy ắp kỷ niệm, nàng không dậy nữa.

Thế là xong. Tôi biết cảnh đó sẽ đến, sắp đến, nhưng tôi không thể tưởng khi nàng không trở dậy, đứng bên giường nàng tôi sẽ nghĩ gì, tôi sẽ làm gì. Tôi sợ tôi phải sống không có nàng. Tôi không thể sống không có nàng.

Tôi nhớ lại những buổi sáng năm xưa tôi trở dậy trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi rừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng, ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách –  ca nước rô-bi-nê để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá.., tù không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng sà-lim ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng cuối năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.

Buổi sáng năm cùng, tháng tận hôm nay, tôi vào kho Ký Ức, tìm lại hình ảnh những người bạn tôi đã từ bỏ cõi đời này kể từ Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tháng tận, năm cùng, Tết sắp đến. Viết về những Người Bạn Đã Chết – theo tôi – là đúng Sách Vở. Tôi núp sau câu “Sinh Dữ, Tử Lành.” Ông cha tôi nói theo kinh nghiệm:

“Nói chuyện Sinh Đẻ là không nên, nói chuyện Chết là tốt..”

Tại sao ông cha tôi lại quả quyết như thế? Tôi không biết.

Người bạn nào của tôi ra đi trước nhất sau Tháng Tư 1975? Tôi nhớ có thể không đúng. Đành nhớ ai viết về người ấy, đành nhớ chuyện gì viết về chuyện ấy.

“Tuổi phong sương anh vẫn gắng quay về..”

Anh Già Tám Bó vất vả gượng nhớ, gượng kể những chuyện xẩy ra từ 40 năm xưa, làm sao anh kề đúng chăm phần chăm? Nếu có kể sai, xin bỏ qua. Cám ơn.

Ảnh nhỏ: Văn Quang năm 2005.

Ảnh nhỏ: Văn Quang năm 2005.

Trước năm 1975 tôi đưa tiễn hai người đến nơi an nghỉ cuối cùng: anh Nguyễn Đức Quỳnh, anh Từ Chung. Nhà Văn Nguyễn Đức Quỳnh là đàn anh tôi. Tôi không được thân với anh. Nên khi đưa anh đi đến nơi anh an nghỉ ngàn đời, tôi không có gì đáng gọi là xúc động. Những năm 1968, 1969 – Tết Mậu Thân – tôi sống trong căn nhà nhỏ cạnh nhà Duy Sinh – Nhà  Số 19 hay nhà Số 21 đường Hồ Biểu Chánh – có lần anh Quỳnh đến ở chơi nhà Duy Sinh, con anh. Duy Sinh thường gọi tôi sang ăn cơm với anh. Một lần anh Quỳnh bảo tôi:

“Tôi nghe tiếng máy đánh chữ của anh vọng sang; biết anh đang viết, tôi rất thích.”

Tôi bằng tuổi Duy Sinh, tôi mày tao với Duy Sinh. Lẽ ra tôi phải gọi anh Quỳnh là bác, nhưng anh vẫn  cho tôi gọi anh là anh. Ngôn ngữ trong giới văn nghệ là như thế. Mày tao với anh con, anh tôi với ông bố bạn.

Duy Sinh kẹt lại ở Sài Gòn, anh và gia đình vượt biên sang Mỹ khoảng năm 1978. Nghe nói những năm đầu Duy Sinh nổi tiếng với danh vị chủ báo. Năm 1995 tôi đến Cali, gặp lại nhiều anh em, nhưng tôi không gặp lại Duy Sinh. Từ mấy năm nay tôi nghe nói Duy Sinh yếu, lãng trí, hay mặc áo thun, quần cụt đi ra đường.

Qua Duy Sinh tôi được quen với Lê Trọng Nguyễn. Từ năm 1980 đến năm 1984 là năm Lê Trọng Nguyễn và vợ con anh sang Mỹ. Nguyễn và tôi rất thân nhau. Gần như chiều nào chúng tôi cũng gặp nhau. Chúng tôi thường trên hai xe đạp, đến ngồi uống rượu ở quán rượu nghèo ven đường xe lửa Cổng Số 6. Quán rượu này có thể được gọi là quán rượu nghèo nhất thế giới.  Rựơu đế 1 đồng một ly, nhâm nhi với lạc rang 1 đồng một gói. Mỗi chiếu-tối ngồi quán nghèo như thế chúng tôi chi khoảng 10 đồng: 4 ly rượu, 4 gói lạc rang.

Tôi có mấy câu thơ tặng Nguyễn:

“Xót mày dạ trúc, lòng tơ
Họa cung đàn mọi bây giờ hẳn đau.
Tóc chia hai thứ trên đầu.
Thương thì đã muộn mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo. “

Vợ Nguyễn được gia đình bảo lãnh sang Mỹ, Nguyễn đi theo vợ con. Năm 1995 khi vợ chồng tôi đến Cali, Nguyễn chỉ phone nói chuyện với tôi, tôi không được gặp lại Nguyễn ở Mỹ.

Từ Chung từng là bạn mày tao với tôi thời nhật báo Ngôn Luận. Từ ngày Nhật báo Chính Luận ra đời, Từ Chung và tôi xa nhau. Đời anh lên hương, lên dốc, đời tôi xuống dốc không phanh. Trong đám người đưa tiễn Từ Chung, tôi thấy tôi là người xa lạ, người bị bỏ quên.

Chính Luận là tờ báo duy nhất kể từ ngày Việt Nam có nhật báo cung cấp dịch vụ y tế cho nhân viên. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm được mời làm y sĩ cho nhân viên báo Chính Luận. Nhân viên Chính Luận đau ốm được đến phòng mạch của BS Phiếm, khám chữa bệnh miễn phí. Nhà báo đài thọ chi phí thuốc men cho nhân viên. Nhà báo vẫn tháng tháng trả lương Cố Thư Ký Tòa Soạn Từ Chung cho bà vợ của Từ Chung. Trả lương đều cho đến ngày bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn. Trong lịch sủ nhật báo Việt Nam chỉ có nhật báo Chính Luận trả lương đều cho vị Thư Ký Sáng Lập đã chết.

Cảm giác bị đời bỏ quên năm xưa ấy trở lại với tôi trong buổi ký giả Phạm Trần tổ chức buổi gặp lại anh Huyền Vũ. Trước ngày Nhật báo Sàigonmới bị bóp cổ chết – Tháng Tư 1964 – ký giả Huyền Vũ là biên tập viên mục Thể Thao Sàigònmới. Mỗi tuần ít nhất là hai, ba buổi sáng tôi được gặp anh ở tòa soạn báo. Anh đến tòa báo viết tin. Anh đi khỏi Sài Gòn trước Ngày 30 Tháng Tư 1974. Sang Mỹ anh sống ở Ocean City, một thị trấn ven biển cách Washington DC khoảng ba giờ chạy xe. Ngày tôi mới đến anh có gọi điện thoại hỏi thăm tôi. Ngày tháng qua mau. Trong buổi gặp lại anh, tôi tưởng trong số người được ban tổ chức mời kể vài kỷ niệm xưa với anh Huyền Vũ thể nào cũng có tôi. Tôi là người duy nhất trong số người đến gập anh lần cuối ấy từng làm việc với anh trong một tòa báo. Nhưng tôi đã bị bỏ quên. Người ta mời nhiều người kể kỷ niệm với anh Huyền Vũ, người ta không mời tôi. Hôm ấy tôi đến gần anh Huyền Vũ, cúi xuống bên anh, nói nhỏ:

“Anh Huyền Vũ, tôi là Hoàng Hải Thủy. Anh nhớ tôi không?”

Anh nói bốn tiếng:

“Làm sao quên được.”

Anh ra đi vài tháng sau đó.

Chú Tư Cầu Lê Xuyên và Ký giả Hồng Dương; ảnh chụp năm 2005. Nhà Văn Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè, Ký giả Hồng Dương từ Cali về thăm Sài Gòn. Nay Nhà Văn Lê Xuyên đã ra người thiên cổ, Ký giả Hồng Dương bị stroke.

Chú Tư Cầu Lê Xuyên và Ký giả Hồng Dương; ảnh chụp năm 2005. Nhà Văn Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè, Ký giả Hồng Dương từ Cali về thăm Sài Gòn. Nay Nhà Văn Lê Xuyên đã ra người thiên cổ, Ký giả Hồng Dương bị stroke.

Một trong những người bạn đồng nghiệp của tôi ra đi sớm nhất sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 là Trọng Nguyên. Anh cùng làm với tôi nhiều năm trong tòa soạn Sàigònmới. Chúng tôi trạc tuổi nhau. Khoảng năm 1977 gặp lại nhau, Trọng Nguyên cho tôi biết anh bị ung thư phổi. Tôi đến Bệnh Viện Hồng Bàng thăm anh. Rồi tôi đến Bệnh Viện Bình Dân thăm anh khi anh bị đưa đến đấy chờ giải phẫu. Lần thứ nhất tôi vào Khu Ung Thư Bệnh Viện Bình Dân thăm Trọng Nguyên. Khi ấy tôi đã sống 24 tháng trong phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Tôi thấy Khu Ung Thư ở trên lầu Bệnh Viện Bình Dân không khí ghê rợn hơn ở những phòng giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Ở phòng giam có mùi hơi người, mùi lông tóc, mùi mồ hôi, mùi cống, ở phòng Ung Thư Bệnh Viện có đủ những thứ mùi vừa kể, thêm mùi máu, mùi mủ, những người bệnh đàn ông ở trần, khoác cái khăn trước bụng.

Buổi tối, tôi đến Tang Nghi Quán Quảng Đông chào vĩnh biệt Trọng Nguyên. Linh cữu Trong Nguyên quàn ở đấy. Chị Trọng Nguyên kể:

“Buổi sáng nhà tôi bảo tôi mở tủ, lấy ra cái máy chữ và mấy quyển tiểu thuyết của anh, anh ngồi yên nhìn ngắm. Anh đi lúc bẩy giờ tối.”

Năm 1980 ở tù hai năm trở về, tôi được tin Minh Đăng Khánh bị liệt. Nghe kể anh hút điếu thuốc lào, bị sốc, ngã xuống, tỉnh lại, bị liệt nửa người bên trái. Anh ngã xuống là không tự đứng lên được, nhưng anh vẫn lết chân trái đi lại được, nhưng đi rất chậm và vất vả. Anh vẫn dậy vẽ ở nhà. Anh nói ngọng nhưng còn nói được:

Lý Thụy Ý, nữ ký giả VNCH bị bọn Bắc Cộng giam tù 6 năm vì hai câu Thơ: “Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?” Và: “Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.” Lý Thụy Ý hiện sống ở Sài Gòn.

Lý Thụy Ý, nữ ký giả VNCH bị bọn Bắc Cộng giam tù 6 năm vì hai câu Thơ:
“Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?”
Và: “Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.”
Lý Thụy Ý hiện sống ở Sài Gòn.

“Tao vào tiệm phở, người ta cho tiền tao. Tao nói: “Cám ơn.. Tôi không phải là ăn mày.”

Đưa đám Minh Đăng Khánh, tôi đứng bên anh Thiếu Lang. Anh hỏi tôi:

“Cậu có biết Hoàng Hải Thủy bây giờ ra sao không?”

Biết anh tưởng lầm, tôi hỏi lại anh:

“Anh thấy tôi là ai?”

Anh trả lời:

“Cậu là Hoàng Anh Tuấn chứ ai!”

Mạc Tử, kém Trọng Nguyên và tôi hai, ba tuổi,  làm phóng viên báo Sàigònmới cùng thời với chúng tôi. Tháng Tư 1964 Sàigònmới bị Nguyễn Khánh, Đỗ Mậu đóng cửa. Anh em chúng tôi tản lạc. Mạc Tử bị bắt đi quân dịch. Tôi nghe kể trong một cuộc hành quân, người lính Mạc Tử bị tên VC bắn sẻ bắn trúng tim. Mạc Tử chết ngay.

Anh bạn bị bại liệt thứ hai của tôi là Văn Minh, chủ nhiệm Tuần Báo Con Ong. Xước danh của anh là Minh Vồ, dù cả đời anh chẳng vồ cái gì của ai. Minh bị nằm liệt khoảng ba năm trước khi hết nợ đời.

Chú Tư Cầu Lê Xuyên bị bại liệt khoảng năm 2000. Chú là người viết tiểu thuyết duy nhất kiếm được tiền đủ sống cho riêng chú trong kìm kẹp cộng sản. Sau 30 Tháng Tư 1975 chú bị bắt tù cùng một số ký giả Sài Gòn. Được thả ra khoảng một năm sau, chú bắt tay ngày vào việc đi xe đạp sáng sớm lấy bánh tiêu, bánh bò trong Chợ Lớn, đạp xe đem đi giao khắp thành phố, buổi chiếu chú đạp xe đi thu tiền. Rồi chú làm chủ tủ bán thuốc lá lẻ vỉa hè. Chú ngồi sau tủ thuốc từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Chú kiếm tiền tuy không nuôi được vợ con chú nhưng nuôi được thân chú.

Khoảng năm 1981, hay 1982, vợ tôi không ăn được cơm. Khoảng 8 giờ tối, tôi thường xách cái gà-men ra xe hủ tíu ở vỉa hè Ngã Ba Ông Tạ mua cho vợ tôi 10 đồng hủ tíu. Một tối trời mưa lất phất, đang đứng chờ lấy hủ tíu, tôi nghe tiếng người:

“Có tiền cho tôi..”

Tôi nhận ra ngay người xin tiền tôi là Bình Đô. Anh là một trong những người sống bằng việc viết truyện ngắn bán cho tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai trong những năm tuần báo này bán chạy nhất. Bình Đô trạc tuổi tôi. Kể từ ngày nhật báo SGM bị đóng cửa Tháng Tư năm 1964 đến tối nay tôi mới gặp lại Bình Đô. Tôi hỏi anh:

“Ở đâu?”

Anh trả lời:

“Ở vỉa.”

“Ở vỉa” là đêm ngủ trên vỉa hè.

Phụ Nữ Ngày Mai là tuần báo của anh Sáu Khiết, anh con thứ sáu của bà Bút Trà. Sáu Khiết có cái tốt – tôi thấy  anh là người chủ báo tốt nhất trong đời viết, bán truyện tiểu thuyết của tôi: anh mua truyện ngắn, ký bông trả tiền ngay nhưng không đăng ngay, mua để dành. Truyện ngắn mua xong anh đưa cho Dương Hà giữ. Nhiều lần anh bảo tôi:

“Anh đưa truyện cho Dương Hà dùm tôi.”

Tôi giữ truyện, đổi tên truyện, khoảng hai tuầu sau tôi lại đem truyện ấy, với tên truyện mới, bán cho Sáu Khiết, anh dễ dàng ký bông trả tiền. Dương Hà giữ truyện của chúng tôi nhiều đến nỗi nhiều lần anh bảo:

“Truyện của chúng mày tao giữ nhiều quá. Chúng mày đến tao, tao đưa lại cho.”

Dương Hà sống nhiều năm trong một phòng cho mướn trên lầu một tòa nhà nhiều phòng ở đầu đường Hàm Nghi. Từ nhà này anh chỉ đi trăm bước là tới tòa báo SàiGònMới. Dương Hà sống với vợ ở nhà ấy trong nhiều năm. Rồi chắc nhờ công thu vén của vợ anh là Kim Lệ, vợ chồng anh có căn nhà mặt tiền đường Cao Thắng, trước cửa rạp xi-nê Đại Đồng. Khoảng năm 1980 Kim Lệ sang sống bên Pháp. Dương Hà và các con sống trong căn nhà Cao Thắng này. Tôi nghe nói khoảng năm 2000 Dương Hà bán căn nhà này, chia tiền cho các con, anh gửi số tiền của anh vào ngân hàng, tháng tháng lấy tiền lời để sống. Anh sống yên bình ở vùng Thủ Đức, sáng, trưa, chiều, tối anh ngồi quán, quanh năm anh uống bia, ăn hột vịt lộn, tôm chiên, không ăn cơm.

Dương Hà thành công, nổi tiếng ngay với tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm, tiểu thuyết phơi-ơ-tông đầu tay của anh. Bên Dòng Sông Trẹm đăng khoảng năm 1950 trên báo Sàigònmới. Từ đó anh viết truyện đều cho SGM đến khi báo bị đóng cửa.

Tôi gặp, quen Văn Quang khoảng năm 1955, 1956, khi anh là Trung Úy. Ngày chúng tôi mất nước, Văn Quang là Trung Tá. Anh – có thể – là vị sĩ quan Quân Đội VNCH duy nhất không đi Hát Ô sang Mỹ. Ở lại Sài Gòn, vào khoảng năm 2000 Văn Quang viết loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” gửi sang đăng ở những tờ báo Việt ngữ hải ngoại. Nhờ Internet, anh dễ dàng gửi bài viết ra nước ngoài. Văn Quang là văn sĩ Sài Gòn trước 1975 thứ nhất viết ra nước ngoài. Văn Quang sống được với công việc ấy. Anh là nhà văn Việt Nam Cộng Hòa kiếm được nhiều đô-la Mỹ nhất với việc Viết ở Sài Gòn Cờ Đỏ.

Tạ Quang Khôi cùng viết với tôi trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Số 1, tuần báo ra đời năm 1956. Trên Văn Nghệ Tiền Phong Tạ Quang Khôi viết tiểu thuyết “Mưa Gió Miền Nam,” tôi viết “Vũ Nữ sài Gòn.”

Nửa thế kỷ trôi qua, nay Tạ Quang Khôi tuổi đời Tám Bó Lẻ Bốn Que. Dòng đời đưa đẩy, Khôi và tôi cùng sống trong một nhà dành cho người già thu nhập thấp. Anh ở Lầu Ba, tôi ở Lầu Hai. Một mình trong phòng vắng, từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, Tạ Quang Khôi ngồi trước computer, moi móc tìm, rị mọ viết. Nghe tôi nói tôi sợ tôi không sống được nếu cuộc đời này không còn vơ tôi, TQ Khôi nói:

“Mày tưởng chỉ có mình mày yêu vợ đến muốn chết theo vợ ư? Sau ngày mất nước, vợ tao chết, tao quyết định chết theo. Đêm khuya tao sắp uống thuốc để sáng mai không dậy nữa, tao nghe tiếng con tao:

“Bố ơi… Con khát nước..”

Tiếng thằng con út của tao Năm đó nó mới bẩy, tám tuổi. Tỉnh lại, tao vứt thuốc. Sáu tháng sau tao đưa các con tao vượt biên đi thoát.”

Đây là bài Thơ Cuối Đời của Tạ Quang Khôi:

Bui ti vào giường ch ước mong
Sáng mai không dy na là xong.
Cuc đi lm ni bun tê tái,
Tha thiết chi cho nát cõi lòng.

Bao gi tôi chết, xin đng khóc
Đ níu chân tôi vướng cõi trn.
Xin hãy cười vui gi vĩnh bit,
Mng tôi đã thoát n gian truân.

Cảm khái cách gì.

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Năm Cùng, Tháng Tận 2010.

Những ngày như lá, tháng như mây…! Sài Gòn 1960, Sài Gòn Ðẹp Lắm Sài Gòn ơi.., Virginia is for American Lovers, Xứ Tình Nhân Mỹ, Kỳ Hoa Ðất Trích năm 2010.. Chiều cuối năm, 4 giờ trời đã tối… Thấm thoắt dzậy mà đã 50 muà lá rụng đi qua đời tôi kể từ ngày tôi bước chân ra khỏi tòa soạn Nhật báo Sàigònmới lần cuối cùng trong đời tôi.

Chiều nay, trong 234 sát-na tôi trở về đứng trên hành lang trên lầu toà soạn nhật báo Sàigònmới, nhìn trời Sài Gòn chiều chuyển mưa xanh sám trên chợ Bến Thành, tôi nghĩ:

- Trong một chiều trời đất buồn như thế này, Từ Hải dừng bước giang hồ để trở về với Kiều!

Tôi trở lại là tôi năm tôi ba mươi tuổi.

Năm nay tuổi đời qua giới hạn Thất Thập – nôm na là Bẩy Bó Lẻ Mấy Que – ở xứ người, một xứ cách nước tôi hai biển lớn, trong vài sát-na, tôi trở lại là tôi năm tuổi đời tôi Ba Bó.

Trong trí nhớ của tôi nay vẫn còn nguyên hình ảnh chàng phóng viên lãng tử nhật báo Sàigònmới năm xưa – năm 1960 – chàng phóng viên ăn dziện đúng mode Italie: sơ-mi hai túi ngực, hai cây bút Bi Parker cắm ở hai túi áo, một bút mực đen, một bút mực đỏ, đồng hồ tay Internamatic mua ở Bangkok, quần sanspli, giầy mocassin Trinh’s Shoes Tự Do 500 đồng một đôi – 500 đồng năm ấy là giá tiền một chỉ vàng –  trong túi áo ngực có bao thuốc điếu Lucky Strike, hay bao Philip Morris Vàng, quẹt máy Dupont Trắng dắt ở túi đựng bật lửa nơi lưng quần. Chàng phóng viên mới ba mươi tuổi mà tóc đã “không bạc, tóc chàng là tóc argenté.”

Tôi già đi nhưng chàng phóng viên ấy cứ ba mươi tuổi mãi.

Cảm khái cách gì!

CHARLIE HEBDO – SINH NGHỀ, TỬ NGHIỆP

Người Hồi Giáo- Trung Đông -  biểu tình ngày 14 January 2015 phản đối Tuần Báo Charlie Hebdo số ra sau cuộc thảm sát vẫn vẽ hình nhạo Giáo Chủ Mohammed trên bìa báo.

Người Hồi Giáo- Trung Đông – biểu tình ngày 14 January 2015 phản đối Tuần Báo Charlie Hebdo số ra sau cuộc thảm sát vẫn vẽ hình nhạo Giáo Chủ Mohammed trên bìa báo.

Sáng ngày 7 January 2015, như mọi sáng, tôi trở dậy lúc 5 giờ. Nhin qua khung kính cửa sổ ra ngoài trời, tôi thấy tuyết trắng trên Rừng Phong. Lễ Christmas năm nay Virginia is for Lovers không có tuyết. Tuyết đến Virginia chậm mất 10 ngày.

Sáu giờ sáng, bên ly cà-phê, tôi ngồi trước máy TiVi. Tất cả các Đài TiVi Mỹ cùng loan tin chính trong ngày: bọn khủng bố – 3 tên – ập vào tòa soạn tuần báo Charlie Hebdo ở Paris, chúng dùng súng bắn chết 12 nhân viên, ký giả trong tòa soạn. chúng bắn 5  người bị thương nặng. Máy thu hình tự động gắn trên mái nhà tòa báo cho thấy cảnh bọn khủng bố bận y phục đen, bịt mặt, đi trên 2 xe ô tô, xe đậu ngay trước cửa tòa soạn. Chúng vào, nổ súng giết người, rút đi. Êm ru. Thấy có cảnh người trong tòa soạn chạy ra,  bị thương, ngã trên đường, bị tên khủng bố đuổi theo, dí súng vào đầu, bắn chết.

Vụ giết người trong tòa báo Charlie Hebdo làm người thế giới chấn động. Trong nhiều năm qua ký giả, phóng viên nhà báo trên thế giới có nhiều  người bị giết chết, nhưng đó đều là những vụ giết người đơn lẻ. Vụ thảm sát trong tòa soạn tuần báo Charlie Hebdo là vụ tàn sát ký gỉả lớn nhất, tàn bạo nhất trên thế giới kể từ ngày loài người có nhật báo, tuần báo.

Tuần báo Charlie Hebdo là báo châm biếm. Báo có nhiều bài, nhiều tranh vẽ đả kích những người Hồi Giáo cực đoan, và nhạo báng Giáo Chủ Mohammed của Hồi Giáo. Trong mấy năm qua tờ báo nhận được nhiều lời đe dọa tòa báo sẽ bị phá, nhân viên bị giết. Ngày Thứ Tư 7 Janvier 2015 vụ bắn giết xẩy ra.

Tôi nhớ lại những vụ ký giả Việt Nam bị bắn chết vì nghiệp vụ của họ. Đây là vụ đáng kể nhất:

Ký giả Từ Chung bị bắn (Bài của Thụy Giao)

Trưa ngày 31-12-1965, lái xe về đậu trước cửa nhà (số 59 đường Nguyễn Lâm), vừa bước xuống xe vòng ra sau để mở cốp xe lấy tờ báo và cây viết, Từ Chung, Tổng Thư Ký nhật báo Chính Luận, bị hai cán bộ khủng bố nội thành cộng sản, chở nhau trên một xe gắn máy, rút súng bắn năm phát liền vào lưng. Từ Chung gục chết trong tay chỉ có tờ báo và cây viết ngay trước mắt đứa con trai đầu lòng 12 tuổi.

 Trong tập sách có tựa đề là “Trui Rèn Trong Lửa Ðỏ”, Đảng Cộng Sản đã kể lại thành tích dùng bạo lực giết hại những người dân vô tội của Miền Nam mà trong đó Từ Chung là một trường hợp. Thế nhưng Từ Chung là ai mà Việt Cộng phải ra tay giết hại như vậy?

Từ Chung tên thật là Vũ Nhất Huy (tên khai sinh của ông là Vũ Mạnh Sơn Nhất Huy, sau này có lẽ thấy cái tên dài lê thê quá, ông đã ra tòa xin rút ngắn lại là Vũ Nhất Huy), bị ám sát vào ngày 30-12-1965 lúc ông 41 tuổi, như vậy là nếu còn sống, năm nay ông 73 tuổi, sinh quán ở Sơn Tây, Bắc Việt Nam. Từ Chung là anh cả trong một gia đình gồm bảy anh em trai, thế nhưng chỉ có hai người anh lớn trong nhà là Vũ Mạnh Sơn Nhất Huy và Vũ Mạnh Sơn Nhị Hoàng vào được miền Nam, năm người em phải ở lại miền Bắc với cộng sản sau năm 1954. Từ Chung mất đi để lại một vợ trẻ và bốn con thơ, cháu lớn nhất mới 12 tuổi.

Sau này em Vũ Trọng Hiệp, con trai lớn nhất của Từ Chung, sau khi tốt nghiệp sĩ quan Thủ Ðức đã không chịu ở lại tiểu khu, mà xin đi chiến đấu. Vũ Trọng Hiệp đã bỏ mình tại Ban Mê Thuật năm 1975, khi vừa đúng 22 tuổi.

Từ Chung đỗ tú tài tại Hà Nội, vào Nam, ông được học bổng du học tại Thụy Sĩ năm năm và đậu bằng Tiến Sĩ Kinh Tế tại Fribourg năm 1961. Về nước, ông được Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Ðại Học Huế mời giảng dạy tại trường Luật, và sau đó được mời làm ủy viên trong Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế nhưng ông từ chối vì yêu nghề viết báo.

Từ Chung viết rất nhiều thể loại, từ điểm sách, văn chương, văn hóa đến chính trị, kinh tế v.v… nhưng nổi tiếng nhất là các bài xã luận về kinh tế. Từ Chung là người Việt Nam đầu tiên đã giản dị hóa môn học khô khan khó hiểu là kinh tế học, đưa môn học này về gần với quần chúng bình dân. Những bài xã luận của Từ Chung về kinh tế được độc giả thuộc mọi trình độ khác nhau, từ các ông giáo sư đại học, các chuyên viên kinh tế thượng thặng đến các cậu sinh viên, các bà nội trợ đều thấu hiểu tường tận những biến chuyển kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến mình. Những bài viết xã luận về kinh tế của ông thường được một số trí thức gọi đùa là “mục kinh tế chợ” đã có ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp giai cấp và thế hệ độc giả khác nhau. Về dịch thuật, Từ Chung có dịch cuốn “Bí Danh” (Secret Name) của Lâm Ngữ Ðường.

Theo tường thuật của nhật báo Chính Luận, số ra ngày 1-1-1966, một ngày sau khi Từ Chung bị ám sát, thì vào khoảng 12:20 ngày 30-12-1965, Từ Chung từ tòa soạn báo Chính Luận số 15 đường Võ Tánh trở về nhà ở số 59 đường Nguyễn Lâm thì bị hai tên khủng bổ dùng súng lục hạ sát. Từ Chung đi trên chiếc xe hơi cũ kỹ. Khu phố nhà ông lúc ấy vắng người qua lại.

Ðau xót và thảm thương nhất là em Vũ Trọng Hiệp, 12 tuổi, học sinh đệ thất, người con trai đầu lòng của Từ Chung, khi thấy xe bố về liền chạy ra cửa đón bố. Nhưng em không ra được khỏi nhà vì cửa khóa, em Hiệp nhìn thấy từ đầu đến cuối cái chết của bố em .

Em Hiệp nức nở kể lại trong tiếng khóc:

“Cháu nghe thấy tiếng còi ô tô của bố cháu. Cháu chạy ra đứng phía trong cửa để chờ bố, cháu thấy bố cháu xuống xe rồi mở thùng xe đằng sau để lấy cái gì đó. Thế rồi có hai người đi gắn máy dừng lại, cháu nhìn rõ xe hiệu Goebel sơn màu xanh. Một người xuống xe tay cầm cặp da, mặc quần mầu xanh, áo xanh lạt có sọc, trạc độ 26 tuổi. Người ấy mở cặp da lấy ra một khẩu súng và tiến lại gần bố nhắm bắn luôn mấy phát liền. Bố cháu gục xuống.

Hiệp sau này lớn lên nhập ngũ Trường Sĩ Quan Thủ Ðức, em đã hy sinh vì nước tại mặt trận Ban Mê Thuột hồi năm 1975.

Thụy Giao

o O o

CTHĐ: Những năm cực thịnh của Nhật báo Ngôn Luận – 1960-1963 – Từ Chung và tôi thân nhau. Chúng tôi mày tao. Những năm xưa ấy tôi đến tòa soạn nhật báo Sàigònmới lúc 6 giờ sáng, Từ Chung đến tòa soạn nhật bào Ngôn Luận lúc 6 giờ sáng. Làm việc đến 9 giờ sáng tôi thường ra khỏi tòa soạn lúc 9 giờ để đi ăn sáng. Có sáng vào lúc 9 giờ tôi mang mấy trang tiểu thuyết sang tòa soạn Ngôn Luận. những sáng như thế tôi thường đi ăn sáng với Từ Chung. Thường là chúng tôi ăn phở 79, rồi ra Brodard uống cà phê. Chúng tôi trở lại tòa soạn lúc 11 giờ. Buổi chiều Từ Chung và tôi lại gập nhau ở Trụ Sở Quốc Hội. Khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận cùng bị đóng cửa, Từ Chung làm tờ Chính Luận, đời tôi rơi vào mấy năm đen hơn mõm chó, Từ Chung và tôi xa nhau.

Sáu giờ sáng ngày Thứ Tư 15 Janvier 2015 người Paris xếp hàng trên vỉa hè băng giá chờ mua  báo Charlie Hebdo. Ba triệu số Charlie Hebdo bán hết trên nước Pháp trong 2 giờ. Trong ảnh: Bìa báo Charlie Hebdo số ra ngày Thứ Tư 14 Janvier 2015.

Sáu giờ sáng ngày Thứ Tư 15 Janvier 2015 người Paris xếp hàng trên vỉa hè băng giá chờ mua báo Charlie Hebdo. Ba triệu số Charlie Hebdo bán hết trên nước Pháp trong 2 giờ. Trong ảnh: Bìa báo Charlie Hebdo số ra ngày Thứ Tư 14 Janvier 2015.

Hôm nay, nhân vụ những ký giả Charlie Hebdo bị giết, tôi mời quí vị đọc chuyện những ký giả Việt Nam bị bắn chết vì nghề nghiệp của họ.

Tôi viết về những người sống bằng nghề ký giả ở Sài Gòn – một tên khác của nghề là phóng viên báo chí – và chết vì nghề ký giả ở Sài Gòn. “Chết” trong bài này là “Chết vì việc làm báo, chết vì việc viết báo của mình, chết vì bị  giết, không phải chết vì tuổi già hay chết vì bệnh.”

Nghề ký giả là nghề có nhiều người làm nghề bị giết chết nhất trong tất cả những nghề tự do. Bài này chỉ viết về những ký giả dân sự, không viết đến những phóng viên chiến trường – đa số là quân nhân – chết vì nghề trên chiến trường.

Ký giả Việt Nam thứ nhất bị bắn chết ở Sài Gòn là ông Nam Quốc Cang. Ðây là bản tin về Nhà Báo Nam Quốc Cang trên Internet:

Nhà báo Nam Quốc Cang (1917-1950) tên thật Nguyễn Văn Sinh. Ông quê ở huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, ông vào Sài Gòn  năm 1940. Sau năm 1945, ông viết bài cho báo Tin Ðiển với chủ trương chống thực dân Pháp, đặc biệt phụ trách mục “Trớ Trêu.” Mục này là loạt bài phiếm luận chính trị đầu tiên của làng báo Sài Gòn sau năm 1945. ông chế giễu những hoạt động của Thủ tướng Nam Kỳ Quốc Nguyễn Văn Thinh một cách sâu cay.

Ông lấy tên ba nhà báo Sài Gòn nổi tiếng thời ấy là các ông Nam Ðình Nguyễn Thành Phương, Trần Tấn Quốc, Lê Trung Cang làm bút hiệu của ông: Nam Quốc Cang.

Ngày 6 tháng 5 năm 1950, nhà báo Nam Quốc Cang cùng với nhà báo Ðinh Xuân Tiếu bị bắn chết trước tòa soạn báo Dân Quý ở  đường Frère Louis, sau năm 1956 là đường Nguyễn Trãi. Ông mất năm ông 33 tuổi.

CTHÐ: Năm 1952 khi tôi vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tôi được nghe các ông ký giả đàn anh kể cho biết:

Trong những năm sau năm 1963 tình hình chính trị Sài Gòn náo loạn. một số người đến đốt chỗ đậu xe hai bánh trước tòa soạn nhật báo Sống, đường Gia Long.

Trong những năm sau năm 1963 tình hình chính trị Sài Gòn náo loạn. một số người đến đốt chỗ đậu xe hai bánh trước tòa soạn nhật báo Sống, đường Gia Long.

Cùng bị bắn chết với ông Nam Quốc Cang là ông Ðinh Xuân Tiếu và ông Lư Khê. Ông Lư Khê là chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng. Ông Lư Khê chết, chính quyền cho bà vợ ông Lư Khê làm chủ nhiệm nhật báo Ánh Sáng. Bà tên là Nguyễn Ngọc Diêu. 60 năm qua tôi vẫn nhớ tên bà. Năm 1952 anh Thanh Sanh là chủ bút báo Ánh Sáng, anh Hải Âu phụ tá.. Bà chủ nhiệm mỗi tháng chỉ ghé qua toà báo một, hai lần.

Tôi nghe các ông nhà báo nói kẻ đến bắn ông Nam Quốc Cang là Cò Ðình, nhân viên Ban PJM: Police Judiciaire Mobile. PJM tên Việt là ban Hình Cảnh Lưu Ðộng, một ban đặc biệt của Sureté Pháp. Ban PJM có nhiều quyền hạn thời ấy. Nhân viên Ban này có quyền đi bắt những kẻ phạm tội trên khắp xứ Nam Kỳ.

Khi bắt được một vụ cướp lớn, hay một vụ giết người, Ban PJM thường mở cuộc hội báo để loan báo thành tích. Người chủ tọa những cuộc hội báo PJM này là Cò Nuttini, một ông Tây Lai gốc Ý. Trong một cuộc hội báo PJM ông ký giả đàn anh ngồi cạnh tôi chỉ cho tôi thấy một người đàn ông trạc 40 tuổi, cao lớn, ông ký giả rỉ tai tôi:

“Cò Ðình, người bắn Nam Quốc Cang đấy.”

Sau năm 1946 an ninh trở lại Sài Gòn. Trong làng báo, làng văn Sài Gòn có tình trạng nhiều báo, nhiều nhà viết tiểu thuyết gần như công khai ca tụng những người Việt kháng chiến chống Pháp. Ký giả Nam Quốc Cang viết nhiều bài đả kích Thực Dân Pháp và việc trở lại làm chủ Sài Gòn của Thực Dân Pháp. Surete Pháp bắt giam ông Nam Quốc Cang nhưng những năm 1950 có nhiều người Pháp trong chính giới phản đối việc quân viễn chinh Pháp tái chiếm Ðông Dương. Ký giả Nam Quốc Cang được những ông Tây phản chiến ủng hộ, Sureté Pháp phải trả tự do cho ký giả Nam Quốc Cang. Họ cho nhân viên của họ là Cò Ðình đi ám sát ký giả Nam Quốc Cang.

Ba ông nhà báo Nam Quốc Cang, Ðinh Xuân Tiếu, Lư Khê sáng hôm ấy đang ngồi uống cà phê ở một quán cóc trên đường Frère Louis, Cò Ðình tới bắn chết cả ba ông. Hai ông Ðinh Xuân Tiếu, Lư Khê bị chết oan.

Ký giả sinh nghề, tử nghiệp thứ hai bị giết ở giữa thành phố Sài Gòn là ký giả người Pháp: ông De Lachevrotiere. Ông này là một ông Tây Thực Dân – Francais Coloniale – chính cống Bà Lang Trọc. Ông làm ký giả ở Sài Gòn từ năm 1920. Tiểu sử của ông ghi chuyện ông từng bút chiến với ông André Malraux Khoảng năm 1925, ông André Malraux, 21 tuổi mới cưới vợ. Ông bà đi du lịch đến Ðông Dương. Khi đi thăm Angkor Vat trở về Sài Gòn, ông bà bị nhà cầm quyền Pháp khám xét hành lý, tịch thu một số tượng đá Angkor Vat. Ông Malraux không bị án lấy trộm cổ vật, ông chỉ bị phạt tiền.  Luật cấm du khách không được lấy, kể cả mua,  những cổ vật Angkor Vat.

Buổi trưa ngày Janvier 1951 ký giả De Lachevrotiere ngồi trên một xe hơi bỏ mui, có tài xế lái, chạy trên đường Richaud – sau năm 1956 là đường Phan Ðình Puùng –Tin AFP tường thuật:

Một xe Zeep mang bảng số vàng ngoại giao đoàn trờ tới. Một người trên xe Jeep ném hai tạc đạn vào xe ông De Lachevrotiere. Ông ký giả cầm một tạc đạn định ném lại, tạc đạn nổ. Ông chết trong xe, người tài xế bị thương nặng nhưng thoát chết.

Những ngày như  lá, tháng như mây, Làng báo Sài Gòn yên tĩnh trong 15 năm. Ngày 16 Tháng 4, 1966 trong một buổi sáng 2 ký giả bị bắn trong thành phố. Lúc 8 giờ sáng, ông Chu Tử Chu Văn Bình vào xe hơi của ông trước cửa nhà riêng, đường Trương Tấu Bửu, Phú Nhuận, để đến tòa báo, Kẻ sát nhân  rình sẵn ở cửa nhà, bắn ông 4 phát đạn, một viên trúng gáy ông, đạn trổ ra miệng, như ông không chết.

Tài liệu về Nhà báo Chu Tử trên Wipekeda:

Chu Tử là bút hiệu của Chu Văn Bình (1917-1975), một nhà văn, nhà báo người Việt. Ông được biết đến là chủ nhiệm nhật báo Sống và là tác giả những cuốn tiểu thuyết Yêu , Ghen.

Ông một thời dạy học ở Trường tư thục Phùng Hưng ở Hải Phòng trước năm 1954, sau làm hiệu trưởng Trường trung tiểu học Lê Văn Trung ở Tây Ninh.

Sang thập niên 1960 ông mở nhật báo Sống ở Sài Gòn. Mục “Ao Thả Vịt”, “Thơ Ðen”, và trang Nhạc Trẻ báo Sống  được độc giả hâm mộ. Những cây viết cộng tác có Tú Kếu, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Mạnh Côn, Bùi Giáng. Vì chính kiến, tòa báo bị Lực lượng Tranh thủ Cách mạng của phe Phật giáo cực đoan đốt phá năm 1966. Cũng vào thời điểm đó ông bị mưu sát gần nhà, bị trúng đạn nhưng thoát chết. Cuộc ám sát ông do Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam thực hiện. Cuối thập niên 1960 báo Sống bị thu hồi giấy phép vì chỉ trích việc chính phủ cho Quân đội Hoa Kỳ toàn quyền sử dụng căn cứ Cam Ranh. Vào thập niên 1970 ông đứng chủ biên báo Sóng Thần nhưng sau rút lui.

Vào ngày 30 Tháng Tư, 1975 trên đường thoát khỏi Việt Nam trên con tàu Việt Nam Thương Tín, tàu trúng  đạn súng B-40  VC khi qua cửa Cần Giờ. Ông Chu Tử trúng đạn chết, ông được thủy táng ngay cửa biển.

o O o

Cùng ngày 16 Tháng 4, 1966, lúc 12 giờ trưa. Ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy, Tổng Thư Ký Nhật báo Chính Luận, từ toà soạn về nhà riêng của ông trong Cư Xá Nguyễn Trị Phương. Ông vừa ra khỏi xe trước nhà thì bị kẻ sát nhân bắn ông. Ông trúng đạn vào lưng, ngã xuống, chết ngay bên xe hơi.

Wipikeda trên Net không có trang nào về Ký Giả Từ Chung Vũ Nhất Huy. Internet cũng không có cái ảnh nào của Ký giả Từ Chung.

Khoảng ba, bốn ngày sau Khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị hạ sát, ba ông Ký Giả Chu Tử – Hiếu Chân – Từ Chung đồng ký một bản gọi là “ Hiệu Triệu” như sau:

HIỆU TRIỆU

Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ và giải phóng con người, vậy mà trong thời gian qua, vì cơm áo, vì khiếp nhược đớn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội Sự Thật, phản bội Dân Tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô. Dù chúng ta có viện bất cứ lý do nào để bào chữa, chúng ta không thể chối cãi tội lỗi của chúng ta đối với đồng bào, với lịch sử.

Quân Ðội đã đứng lên, làm nhiệm vụ của mình. Cơ hội duy nhất để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút, “phi cầm, phi thú’, cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm người, đã tới…. Nếu sự tự thiêu của bảy tu sĩ — một hy sinh bi hùng nhất trong lịch sử tôn giáo và nhân loại – chưa làm chúng ta giác ngộ, thì quả chúng ta đã hết là người, không còn xứng đáng gặp gỡ vận hội của chúng ta nữa.

Cuộc cách mạng chỉ mới bắt đầu. Xương máu của quân đội, của đồng bào không thể bị bọn đầu cơ chính trị lợi dụng một lần nữa.

Hơn lúc nào hết, chúng ta phải “gạn đục, khơi trong”, đem hết tâm hồn, năng lực ra phụng sự cho chính nghĩa.

Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các bạn nghệ sĩ, bằng máu, nước mắt, mồ hôi, đem ngòi bút viết lại thiên lịch sử của dân tộc, mà trong chín năm qua, bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố.”

Ðại diện cho các nhà văn, nhà báo chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ.

CHU TỬ – HIẾU CHÂN – TỪ CHUNG

(Ðăng trên Tạp chí Bách Khoa, số 165 ngày 15-11-1963)

CTHÐ: Bản “Hiệu Triệu” được đăng trên nhật báo Ngôn Luận. Vài ngày sau ông Hiếu Chân có lời “cải chính” trên nhiều nhật báo: ông không ký tên trong bản “Hiệu Triệu” ấy. Từ Chung nói với tôi:

“Tao đọc bản ấy cho Hiếu Chân nghe qua tê-lê-phôn. Ông ấy bằng lòng ký tên.”

Từ đó ông Chu Tử đoạn giao với ông Hiếu Chân.

Riêng tôi – CTHÐ – tôi được biết bốn tiếng “phi cầm, phi thú” từ bản Hiệu Triệu vội vàng và rộn ràng rổn rảng những lời đao to, búa lớn ấy. Tôi nghĩ tác giả “Hiệu Triệu Phi Cầm Phi Thú ” là ông Chu Tử.

Ba ông ký giả “Hiệu Triệu” đều bị chết vì Cộng Sản. Ông Hiếu Chân chết trong Nhà Tù Chí Hòa năm 1987. Ông Nhà Văn Dương Hùng Cường, bút danh Dê Húc Càn, cùng bị bắt với ông Hiếu Chân, chết cùng trong năm 1987 trong một sà-lim ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Hai ông chết vì những bài báo hai ông viết, gửi ra nước ngoài.

Ký giả người Pháp thứ hai chết vì nghề ở Việt Nam là Francois Sully. Năm 1945 khi mới 17 tuổi, Francois Sully cầm súng đi diệt quân Ðức để giải phóng Paris. 1946 Sully gia nhập Quân Viễn Chinh Pháp sang chiếm lại Ðông Dương. Từ 1946 khi giải ngũ và trở thành phóng viên nhà báo, Francois Sully sống ở Sài Gòn. Ông nói thạo 4 thứ tiếng Pháp, Anh. Việt và Lào.  Theo tôi – CTHÐ – Francois Sully là ký giả ngoại quốc sáng giá nhất ở Việt Nam. Năm 1962 vì những bài báo viết về bà Ngô Ðình Nhu, ký giả Francois Sully bị chính phủ VNCH trục xuất. Ông sang Mỹ học một năm ở Ðại Học Harvard. Trở về Sài Gòn năm 1964 ông làm Trưởng Phòng Newsweek Saigon cho đến ngày ông tử nạn.

Tháng Hai 1971 ký giả Francois Sully đi theo Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí trên phi cơ trực thăng. Giữa trời Tây Ninh, trực thăng bốc cháy. Ông cùng chết với Tướng Ðỗ Cao Trí. Wipekeda ghi ông được an táng trong Nghiã Trang Mạc Ðĩnh Chi. Người ký giả chết vì nghề, chết với nghề ấy không vợ con. Khoản tiền bảo hiểm nhân mạng của ông – khoảng 15 triệu đồng VN – được tặng cho những hội từ thiện Việt Nam.

Francois Sully là người sáng chế ra kiểu áo kaki ba túi bỏ ngoài quần, bộ đồ này về sau được các ông thợ may Sài Gòn gọi là “Áo Ký Giả.”

Người ký giả Việt chết vì nghề ở Sài Gòn cuối cùng – trước năm 1975 – là anh Vân Sơn Phan Mỹ Trúc.

Năm 1960 Vân Sơn Phan Mỹ Trúc phụ trách tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai. Chủ nhiệm tuần báo này là anh Nguyễn Ðức Khiết, người con trai thứ sáu của bà Bút Trà. Vân Sơn Phan Mỹ Trúc là ký giả duy nhất của Sàigònmới-Phụ Nữ Ngày Mai sau ngày cơ sở tan hàng, trở thành chủ nhiện nhật báo. Khoảng năm 1970 Vân Sơn làm chủ nhiệm nhật báo Ðông Phương. Báo bán chạy. Tôi không rõ vì nguyên nhân nào – chỉ biết Vân Sơn bị giết vì những bài đăng trên tờ báo của anh – vào năm 1972, hay 1973, tòa soạn báo Ðông Phương đặt trong nhà in Nguyễn Bá Tòng. Buổi trưa chủ nhiệm Vân Sơn cùng hai ông bạn ký giả Hoài Khâm, Cung Mạnh Ðạt sang tiệm cơm Tầu trước nhà in ăn cơm. Anh Hoài Khâm, anh Cung Mạnh Ðạt là hai ký giả báo Sàigònmới bạn của anh Vân Sơn. Hai ký giả này là nhân viên tòa soạn nhật báo Ðông Phương. Nghe kể: ba ký giả đang ngồi ăn, tên sát nhân đến tận bàn, ghé nòng súng một khẩu súng lục chuyên dùng để ám sát, viên đạn nhỏ như đầu chiếc đũa, vào mang tai ký giả Vân Sơn, nổ một phát. Viên đạn ghim vào óc Vân Sơn, anh ngã chết tại chỗ. Tên sát nhân chạy mất. Vụ giết người bị cho chìm suồng.

Tất cả những vụ ký giả nhà báo bị bắn chết trong thủ đô Sài Gòn – từ ký giả Nam Quốc Cang, qua 2 ký giả Pháp De Lachevrotière, Framcois Sully, đến ông Chủ Nhiệm Báo Sống Chu Tử, ông Tổng Thư Ký Tòa Soạn Nhật Báo Chính Luận Từ Chung, ông Chủ Nhiện Nhật Báo Đông Phương Vân Sơn Phan Mỹ Trúc đều bị cho chìm suồng: không tìm ra thủ phạm. Theo tôi không chắc bọn Việt Cộng đã bắn hai ông Chu Tử, Từ Chung. Khoảng năm 1970 tôi hỏi ông Chu Tử:

“Cho đến bây giờ anh có biết ai là người bắn anh không?”

Ông Chu Tử trả lời:

“Cho đến nay tôi vẫn chưa biết ai bắn tôi.”

Tôi hỏi ông Chu Tử câu hỏi trên vì những năm 1970 có tin đồn CIA thực hiện những vụ ám sát người Việt Quốc Gia để đổ lỗi cho Việt Cộng. Có một ông Đại Tá Quân Mỹ giải ngũ những năm 1970 kiện chính phủ Mỹ về việc chính phủ Mỹ đã cho phép nhân viên CIA dùng các ông vào việc giết người Việt dân sự để đổ tội cho Việt Cộng. Việc kiện cáo này sau đó được cho chìm suồng.

Dòng thời gian dài một ánh bay,
Những ngày như lá, tháng như mây.

Tất cả những người được kể trong bài này đều là ký giả đã chết. Tất cả chết vì nghề ký giả của họ. Tất cả đều chết trong nước.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, Ngày 11 Tháng Bẩy, 2013.

Viết thêm Ngày 15 January 2015.

MUÔN  CHUNG, NGHÌN TỨ

melia

Nhà Văn An Khê  Nguyễn Bính Thinh là một trong số những người viết tiểu thuyết đăng nhật báo – tên Pháp là truyện feuilleton: phơi-ơ-tông – nổi tiếng của giới nhật báo Sài Gòn những năm từ 1960 đến 1975. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của anh là truyện “Người vợ hai lần cưới.” Truyện này, khoảng năm 1960, được làm thành phim với cái tên “Hai Chuyến Xe Hoa.”

Làng báo Sài Gòn có hai người vì chống Pháp mà phải ở tù Côn Đảo: ông Trần Tấn Quốc, tù Côn Đảo 5 năm, những năm tù ấy ông 20 tuổi, mãn án trở về quê ông sống yên ổn. Là phạm nhân chính trị từ Côn Đảo về nhưng ông không bị quan Tây, quan Ta làm khó dễ gì cả. Ông lên sống ở Sài Gòn và trở thành chủ nhiệm nhật báo Tiếng Dội từ năm 1950.

Người viết báo thứ hai bị tù Côn Đảo là anh Nguyễn Bính Thinh. Anh tù Côn Đảo những năm từ 1943 tới 1945. Tháng Tư 1945 anh  được chính phủ quốc gia Trần Trọng Kim hủy án, cho trở về Sài Gòn, anh gia nhập quân đội năm 1950,  năm 1956, anh giải ngũ và trở thành Nhà Văn An Khê. Anh lấy bút hiệu An Khê vì khoảng năm 1952, 1953 anh là sĩ quan trong một Tiểu Đoàn Khinh Quân đánh trận An Khê, anh bị thương trong trận này. Đạn bắn vào cánh tay trái của anh, đạn không làm anh gẫy tay nhưng để lại một vết sẹo dài.

Năm 2000, ở Mỹ, tôi đọc Hồi Ký “Từ Khám Lớn đến Côn Đảo” của Nhà Văn An Khê. Anh viết Hồi Ký này năm 1983 khi anh sống ở Pháp. Tháng Tư 1975 anh An Khê sống ở Sài Gòn, năm 1980 anh và gia đình anh sang Pháp.

Mời quí vị đọc vài đoạn trích:

Hồi Ký An Khê

Từ Khám Lớn đến Côn Đảo.

..Mẹ tôi từ Kiên Giang lên Sài Gòn, bà được đặc cách vào Khám Lớn thăm tôi. Vào lúc 1 giờ trưa, văn phòng Xếp Khám có lệnh đòi làm tôi kinh sợ không biết có chuyện gì xẩy đến cho tôi. Khi bước chân vào văn phòng Xếp Chánh, một việc ít có, tôi bất ngờ trông thấy mẹ tôi. Tôi tưởng như tôi thấy mẹ tôi trong chiêm bao. Mẹ tôi nhìn tôi, nước mắt tuôn ròng. Lòng bà mẹ nào không xót sa đau đớn khi trông thấy đứa con mình thương yêu đang ở trong tình trạng thê thảm. Đầu trọc lốc, người ốm nhách, chỉ mặc chiếc si-líp vải xanh may vá víu, chân đi xịch sụi. Mẹ con gặp nhau hôm nay không biết còn có lần nào gặp lại nữa không!

Ông Xếp Chánh nói vài lời trấn an mẹ tôi là tôi bị bịnh tê nhức, chỉ nằm nhà thương ít lâu khắc khỏi bịnh. Y bước ra ngoài để cho mẹ con tôi tự do nói chuyện với nhau trong khoảng 10 phút. Tại văn phòng Xếp Chánh hôm ấy chính mắt tôi trông thấy trên tường sau bàn giấy của y ta có treo hai cây đại đao gác chéo lên nhau. Tuy là vật cổ ngoạn thưở xưa để lại song ánh thép hai cây đao bén sáng lung linh người nhìn có cản giác như đao có tanh tanh mùi máu người. Về sau tôi đọc quyển “Sài Gòn năm xưa “của nhà sưu tầm và khảo cổ Vương Hồng Sển, mới biết xưa kia trước khi có máy chém, tả đao chặt thủ cấp tử tôi bằng hai cây đao ấy.

Mẹ tôi đem cho tôi mấy bịch cốm kẹo và hai gáo dừa bự đựng thịt heo và thịt bò ram mặn. Ôi..không biết mẹ tôi hỏi ai mà biết được mấy món thức ăn rất cần có của người tù. Mẹ tôi bảo tôi:

“Má biết con không hút thuốc nên không mua thuốc đem vô.”

Bà có dè đâu thuốc lá là món rất cần cho người  tù, thiếu gì cũng được, thiếu thuốc lá là khổ nhất. Tội nghiệp mấy người bạn tù của tôi đang chờ tôi về phòng để có điếu thuốc hút. Viên Xếp Khám khi biết chuyện không vui ấy liền kéo ngăn bàn viết lấy ra một gói thuốc điếu Mélia Vàng đưa cho tôi. Ông khuyên mẹ tôi nên gửi lại cho tôi ít tiền để tôi có tiền mua bánh kẹo,  thuốc điếu.

Gói Mélia Vàng đem về phòng giam là nỗi vui của anh em tù cùng phòng. Tôi không biết hút thuốc nên đưa cả gói cho anh Tư Có để anh chia cho anh em. Tôi lấy cốm kẹo ra bầy tiệc liên hoan anh em cùng ăn. Sau đó anh Tư Có và vài bạn tù có chút thịt kho để ăn cơm. Anh Tư Có mau lành mấy vết thương vì bị tra tấn, ban đêm anh không còn rên rỉ vì đau nhức nữa.

Anh thường ngâm Kiều cho chúng tôi nghe. Khi đến đoạn Từ Hải nói với Thúy Kiều:

“Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau.”

Anh đắc ý, nắm tay tôi, ngâm lại câu đó như một lời hứa hẹn. Tôi nghe và mỉm cười, ghi nhận lời hứa của anh cho vui lòng anh. Tôi nào nghĩ đến ngày nào đó tôi được anh trả nghĩa.

Người chung cảnh khổ thương nhau là chuyện thường. Tôi chia sẻ chút ít phần ăn của tôi cho các bạn tù có gì đáng kể. Tôi không dè một năm sau khi bị đưa ra tù ở Côn Đảo, tôi đã dùng hai câu Kiều ấy để nhắc anh Tư Có nhớ đến tôi. Đây là thời gian anh Tư Có – anh ra Côn Đảo trước tôi – đang cực khổ thê thảm ở Sở Đốn Củi Chuồng Bò thì may mắn được trung đội lính Nhật gọi ra làm thông ngôn. Anh biết tiếng Nhật. Anh trở thành người tù đỡ khổ nhất Côn Đảo thời ấy.

Một hôm có hai chiến hạm Nhật vào vịnh biển, cho lên đảo một đội lính Nhật  khoảng 30 người. Một chuẩn úy Nhật, được gọi là Tài-chồ, chỉ huy đội lính này. Tài-chồ cho biết lính Nhật lên đảo để kiểm xoát trạm thông tin của Pháp đặt trên Núi Chúa. Trong đội lính Nhật có người biết tiếng Pháp, Tài-chồ cần có người Việt biết tiếng Nhật làm thông ngôn. Anh Tư Có biết tiếng Nhật. Anh được gọi ra làm thông ngôn. Do đó anh trở thành một nhân vật quan trọng trên đảo.

Lúc ấy tôi vừa thoát ra khỏi khu biệt giam Chuồng Cọp, tôi bị đưa về Khám 2 nhà thương, ở phòng tù bệnh liệt. Ở đây tôi gặp anh Giáo Thố, anh làm cặp-rằn Sở Đốn Củi. Anh kể là anh Tư Có đến thăm anh. Tôi nhờ anh Giáo Thố khi gặp anh Tư Có, ngâm dùm tôi câu Kiều:

Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau.

Tôi chỉ nhờ anh Giáo Thố nói vậy thôi. Qua ngày sau anh Giáo Thố tìm gặp tôi, kể anh Tư Có nghe câu Kiều ấy, hỏi ngay:

“Phải anh T. nhắn không?”

Và nói:

“Được rồi. Tôi có cách kéo ảnh về ở chung với tôi.”

Tôi được biết khi ấy quân đội Nhật muốn tìm và dùng một số người Tù Việt Quốc Gia. Viên đội hai sao Sato phụ trách về chính trị bảo anh Tư Có chọn một số tù chính trị ra làm việc. Anh Tư Có biên tên tôi trong số người này.

Thế là một buổi sáng cánh cửa sắt Khám 2 mở rộng cho viên đội Nhật Sato đi với viên Xếp Khám Tây vào tìm tôi. Đấy là do anh Tư Có cẩn thận dặn Sato phải vào tận khám tìm tôi, đừng nhờ bureau effectif gọi tôi, e tôi sẽ không bao giờ được ra khỏi khám.

Tôi được đưa về Dinh Giám Đốc khám đường khi ấy đã trở thành Tổng Hành Dinh Quân Nhật. Đội Sato gọi anh Tư Có đến văn phòng gặp tôi. Y kể hôm qua y để tôi chờ y ở bệnh viện, y đi có chuyện gấp và y quên tôi. Suốt đêm y thao thức vì chuyện tôi. Sáng sớm y vào khám đón tôi vừa kịp lúc tôi sắp bị đưa đi mất tích. Tại phòng làm việc của Sato tôi được mời hút thuốc điếu Esquire, uống trà Tầu, được ngồi thoải mái. Tôi ở bên anh Tư Có cho đến ngày Tù trên đảo tổ chức lễ Mừng Việt Nam Độc Lập. Lễ này có ông Ủy Viên Công Cán của chính phủ Trần Trọng Kim là bác sĩ Trần Tấn Phát từ Sài Gòn ra đảo ban hành Lệnh Trả Tự Do cho 123 chánh trị phạm bị Pháp giam tù.

Được trả tự do nhưng chúng tôi chưa được về đất liền ngay, chúng tôi phải chờ tầu đến rước. Trong khi chờ đợi chúng tôi trở thành thường dân, được lãnh gạo, rau, thịt cá theo tiêu chuẩn “thầy chú” tức nhân viên công chức làm việc ở đảo.

Đến ngày 25 tháng 8, 1945 có chiếc tầu Nhật đi ngang Côn Đảo. Chánh phủ Trần Trọng Kim nhờ tầu đưa 123 người chúng tôi về Sài Gòn. Chúng tôi về đến bến Sài Gòn đúng ngày Việt Minh cướp chính quyền. Không ai chờ đón chúng tôi ở bến. Chúng tôi bùi ngùi từ biệt nhau, ai về quê nấy. Anh Đào Duy Phiên về Bắc trên chuyến tầu hỏa Xuyên Việt cuối cùng. Không biết ở đất Bắc anh có bị bọn Cộng  sản ám hại như ở Côn Đảo anh đã từng bị người em ruột của anh là cộng sản ám hại hay không. Ông tù Võ Oanh, tú tài Hán học, dường như là người Nghệ An, không trở về Bắc vì khi ông đi tù Côn Đảo gia đình ông đã tan nát. Về sau ở Sài Gòn ông vừa trốn lánh Tây vừa lén lút viết báo kiếm ăn. Có dạo quân Pháp lùng sục tìm bắt những người tù Côn Đảo đưoc chính phủ Trần Trọng Kim cho về đất liền. Chính quyền thực dân Pháp coi những người tù này là tù vượt ngục. Họ bắt người tù trở lại Côn Đảo. Khi bị bắt người tù bỏ chạy bị họ bắn chết tại chỗ. Trong những năm ấy những người cựu tù chính trị Côn Đảo gặp cảnh khốn đốn vô cùng. Vô bưng thì bị bọn Cộng sản ám hại, sống trong thành thì bị Pháp bắt, bị bao bố nhận mặt.

Miền Nam sau năm 1946 có nhiều chánh phủ quốc gia nối tiếp nhau cầm quyền. Bi thảm thay, không một chánh phủ quốc gia nào nghĩ đến việc bảo vệ những chiến sĩ quốc gia, nhứt là những người tù Côn Đảo trở về, khiến người tù Bùi Ái Quốc bị Pháp bắn chết ở Bà Rịa, người tù Võ Oanh và người tù Trịnh Lương bị Pháp bắt lại, đưa ra Côn Đảo lần thứ hai.

Khám Lớn Sài Gòn, đường Gia Long. Năm 1953 khám đường này bị đập bỏ.

Khám Lớn Sài Gòn, đường Gia Long. Năm 1953 khám đường này bị đập bỏ.

CTHĐ: Ông Xếp Khám Lớn Sài Gòn những năm 1942, 1943 là người Pháp. Nhà Văn An Khê không viết rõ về ông này. Nhưng cứ theo sự hiểu bết thông  thường, Xếp Khám – Quản Đốc Nhà Tù Sài Gòn thời Pháp làm chủ Sài Gòn phải là người Pháp. Không biết vì nguyên nhân nào Xếp Tây cho bà mẹ anh An Khê gặp anh trong văn phòng của y. Một việc mà người tù An Khê viết là ít có. Xếp còn lịch sự ra khỏi văn phòng trong ít phút để hai mẹ con người tù nói chuyện với nhau. Xếp còn tự ý đưa cho người tù một bao thuốc điếu Melia để người tù mang về phòng đãi các bạn tù. Với tư cách là một người tù 8 năm trong ngục tù cộng sản, tôi – Công Tử Hà Đông –  cảm khái vì lòng tốt của ông Quản Đốc Khám Lớn Sài Gòn người Pháp trong Hồi Ký của nhà văn An Khê.

Trong Hồi Ký anh An Khê kể người tù trong Khám Lớn Sài Gòn trong những năm 1940 đều trần truồng trong phòng tù. Quần áo của họ bị cất giữ, họ chỉ được phát một cái khố. Khi đi ra gặp thân nhân, người tù cũng ở trần, chỉ mặc có cái khố.

Hồi Ký: Trong những năm ấy những người cựu tù chính trị Côn Đảo gặp cảnh khốn đốn vô cùng. Vô bưng thì bị bọn Cộng sản ám hại, sống trong thành thì bị Pháp bắt, bị bao bố nhận mặt.

“.. bị bao bố nhận mặt..” Một thủ đoạn bắt người của Surete Pháp, cách bắt người này chỉ được làm ở Sài Gòn những năm 1946, 1947. Lính Pháp bao gọn một khu phố – thường là khu lao động, nhà vách ván – bắt hết đàn ông, thanh niên ra ngồi một chỗ. Một người Việt bị bắt bị đưa đến, bị chụp cái bao bố lên đầu, bao bố có hai lỗ thủng để người bị bắt nhìn ra. Đàn ông, thanh niên trong xóm lần lượt đi từng người đến đứng trước “Bao Bố.” “Bao Bố” gật ai là người đó bị bắt. Việc “Báo Bố” bắt người này chỉ xẩy ra ở Sài Gòn những năm 1946 đến 1948. Mật thám Tây dùng bao bố để bảo vệ người bị bắt chịu chỉ cho chúng bắt người khác.

Những năm 1943, 1944, khi nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng, Mật Thám Đức dùng “Bao Bố” để bắt những người Pháp chống Đức. Mật Thám Đức khai sinh ra trò “Bao Bố.” Khi trở lại Sài Gòn, bọn Mật Thám Pháp dùng “bao bố” để bắt những người Sài Gòn chống chúng. “Bao Bố” chỉ được Sureté Pháp dùng ở Sài Gòn.

Hồi ký An Khê viết: Từ năm 1946 chính quyền thực dân Pháp coi những người tù chính trị Côn Đảo được chính phủ Quốc gia Việt Nam của Thủ Tướng Trần Trọng Kim trả tự do, đưa về đất liên, là “tù vượt ngục.” Mật thám Tây lùng bắt những người tù này. Chính phủ Quốc Gia thời đó không bảo vệ người tù chính trị quốc gia mà còn làm theo lệnh quan Tây. Dưới đây là Lệnh Bắt Tù Côn Đảo Vượt Ngục:

Việc Từng Ngày 1945-1964. Tác giả Đoàn Thêm.

Ngày 10 – 9 – 1948. Nghị định của Tổng Trấn Nam phần Trần Văn Hữu: Ai bắt được tù khổ-sai vượt ngục Côn Luân được thưởng 200$.

Trong số người tù Côn Đảo về cùng chuyến tầu với Nhà Văn An Khê có các ông Tù Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền, và hai anh tù Việt Cộng Lê Duẩn, Phạm Hùng. Hai anh Việt Cộng đi ngay ra bưng, nhưng ít nhất là có bốn ông Tù Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền, Nguyễn Bính Thinh vẫn sống đàng hoàng ở Sài Gòn mà không bị bắt lại. Ông Tù Phan Khắc Sửu năm 1964 là Quốc Trưởng Quốc Gia VNCH. Ông là vị Quốc Trưởng duy nhất của Quốc gia Việt Nam từng ở tù hai lần ở Côn Đảo. Hai ông Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền trở thành hai nhà lãnh đạo Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam. Ông Tù Nguyễn Bính Thinh gia nhập quân đội Quốc gia VN. Năm 1952 ông là Thiếu Tá trong một TIểu Đoàn Khinh Quân dự trận đánh lớn ở đèo An Khê. Ông bị thươngở cánh tay trái  trong trận này. Khi viết tiểu thuyết ông lấy bút hiệu là An Khê.

Như vậy tôi thấy năm xưa ấy chính quyền Pháp và Việt ở Sài Gòn có sự phân biệt đối xử với những ông Tù Quốc gia được đưa từ Côn Đảo về. Một số ông được để sống yên bình, được ra làm việc công, một số ông bị bắt lại.

Khi viết bài này – Tháng Hai 2014 – tôi tìm tiểu sử ông Trần Tấn Phát và ảnh ông trên Internet, tôi tìm không thấy. Tôi nhớ ông là bác sĩ, tên ông được đặt cho một con đường ở Tân Định, Sài Gòn, tôi nghe nói ông bị bọn Việt Minh Trần Văn Giầu bắn chết trong năm 1946.

o O o

Hôm Mồng Ba Tết — tôi, — CTHà Đông — làm cuộc xuất hành đầu năm, tôi đến Trung Tâm Eden chào quốc kỳ, rồi vào một nhà gửi tiền gửi 100 đô về Sài Gòn lì sì cho cháu nội của tôi.

Thường thì tiền gửi ở Virginia — hay ở bất cứ nơi nào trên Xứ Mỹ – gửi ban ngày thì đêm hôm đó, tức ban ngày hôm sau ở Sài Gòn, tiền gửi được đưa đến nhà người được gửi. Như trường hợp của tôi thì con tôi nhận được tiền mang đến lúc ban ngày, buổi tối nó gửi I-Meo cho tôi, sáng hôm sau mở Internet, tôi thấy thư con tôi gửi sang:

Cám ơn Bố. Con nhận được tiền Bố cho hôm nay.

Thường thì như thế. Nói rõ hơn: gửi tiền về Sài Gòn hôm nay, sáng mai tôi được điện thư của con tôi gửi từ Sài Gòn cho biết nó đã nhận được tiền. Nhưng năm nay, gửi tiền hôm Mồng Ba Tết, sáng Mồng Bốn Tết, mở Internet, tôi không thấy thư con tôi báo nhận được tiền như mọi lần trước, qua sáng Mồng Năm rồi sáng Mồng Sáu Tết vẫn không thấy gì cả. Tôi có thể I-Meo hay phôn về Sài Gòn hỏi cháu tôi — dzễ thôi — nhưng tôi không làm thế, để con tôi bất ngờ nhận được tiền Lì Sì Tết, nó sướng hơn.

Đây là việc làm cái trò gọi là surprise mà ông cha tôi học được từ các quan Đại Pháp văn minh, truyền đến tôi là đời thứ hai. Tôi cũng có thể phôn hỏi nhà gửi tiền nhưng nhân có việc lại đến Trung Tâm Eden, tôi ghé vào hỏi cô chủ văn phòng gửi tiền, cô nói:

– Xin lỗi chú. Cháu quên không nói để chú biết trước là ngày Mồng 8 Tết, ở Sài Gòn người ta mới làm việc. Nên tiền chú gửi hôm rồi đến ngày Mồng 8 Tết, người ta mới phát ở Sài Gòn.

Một bà khách gửi tiền nói:

– Ở quê nhà Mồng Bẩy Tết mới hạ cây nêu, hạ nêu rồi mới hết Tết.

Sì ra sế. Sì ra người Việt ở Mỹ Ba Ngày Tết Nguyên Đán vẫn đi cày, chẳng có nghỉ ngơi, ăn chơi Tết nhất gì cả, trong khi ở Sài Gòn người Sài Gòn ăn Tết lu bù kèn.

Lại nhớ đến thời vàng son ngày xưa người Việt ăn Tết, vui Tết, chơi Tết đến những ba tháng:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, Tháng Ba hội hè.

Người Việt ở Mỹ, Tết Nguyên Đán đến, nghỉ chơi ba tháng, có mà ăn đất.

o O o

Trích Thơ Hoàng Cầm. Tết đến:

Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?

Tôi mười tuổi năm 1943 Thế Kỷ 20, tôi không được dự một hội hè đình đám nào ở quê tôi xứ Bắc Kỳ. Làng quê tôi ở Gia Lâm, bên bờ sông Đuống, từ làng tôi đến làng Phù Đổng, làng của Thánh Gióng, ở bên kia sông Đưống, đi bộ, đi đò qua sông, mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Gần thôi.

Gia Lâm không có núi đồi, nhưng qua sông Đuống là đồng đất huyện Tiên Du — Vùng này đồi núi cảnh đẹp đến nỗi các nàng Tiên trên Thượng giới phải rủ nhau xuống chơi, vì vậy có tên là Tiên Du.

Ngày xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ quên.

Chàng Từ Thức, Tri Huyện Tiên Du, gặp Tiên nữ Giáng Tiên ở núi Chè, Tiên Du.

Từ Gia Lâm, Tiên Du đi theo sông Đưống ra biển là phủ Thuận Thành, rồi đến huyện Lang Tài.

4 năm đi kháng chiến, từ 1947 đến 1950, tôi đã sống ở trong làng Phù Đổng, trong làng Phù Chẩn. Làng Cháy là tên tục của làng Phù Chẩn, làng này cách làng Phù Đổng một cánh đồng. Tục truyền khi Thánh Gióng vươn vai thành đại lực sĩ, bận giáp sắt, cầm cây thương sắt, nhẩy lên ngựa sắt, thúc ngựa phóng đi đánh giặc Ân, ngựa sắt chồm lên, hí vang, miệng ngựa phun lửa làm cháy làng Phù Chẩn, từ đó làng Phù Chẩn có tên là làng Cháy.

Như vậy sự việc Thánh Gióng và ngựa sắt là huyền sử, làng Phù Đổng và làng Phú Chẩn là những làng có thật.

Tôi đã đi qua Thuận Thành, đến huyện Lang Tài. Tôi chỉ được đến gần núi Thiên Thai mà không được lên núi, vì lúc tôi đến đấy quân Pháp đóng đồn trên núi.

Trai Cầu Vồng, Yên Thế
Gái Nội Duệ, Cầu Lim.

Trong 4 năm kháng chiến nhiều đêm tôi ngủ ở Yên Thế, Nội Duệ, nhưng tôi không có dịp được nghe một bài hát quan họ nào.

o O o

23 Tháng Chạp là ngày Ông Táo về chầu trời, báo cáo với Ngọc Hoàng về những chuyện xẩy ra trong nhà ông Táo có phận sự canh giữ. Tôi không biết chuyện Táo Quân Hai Ông Một Bà có phải là chuyện Tầu mà ông cha tôi lấy làm chuyện của dân mình hay không? Hay đó là chuyện ông cha tôi sáng tác?

Tôi théc méc khi hai Táo Ông về chầu Trời, Táo Bà có đi theo hai ông chồng không? Tôi lại théc méc Táo Quân khác với Thổ Công hay Táo Quân cũng là Thổ Công? Đã có Thổ Công giữ đất, giữ nhà, còn cần có Ông Vua Bếp làm báo cáo làm chi nữa?

Đầu năm, mời quí vị đọc chuyện vui về Thổ Công.

Thổ Công phải đòn.

– Người viết Tản Đà.

Trong một xứ, một khoa thi có hai chuyện.

Một nhà có con gái đã hưá gả cho một người học trò nghèo và trong nhiều năm nuôi người học trò này ăn học. Nhưng thi khoa ấy, anh học trò hỏng thi, bị nhà cô gái chê không gả con.

Cùng khoa thi ấy, anh con nhà kia đi thi, đỗ, về nhà anh bỏ vợ.

Cuối năm, sổ gia thư đệ lên Thiên Tào. Ngọc Hoàng xem sổ, giận lắm, cho đòi hai Thổ Công hai nhà ấy lên hầu, Ngọc Hoàng phán:

– Ta cho các người xuống làm Thổ công nhà người ta, ngày giỗ, ngày Tết, Mồng Một, Ngày Rằm, khi dựng nhà, lúc bán lợn, hai ngươi đều được cơm no, rượu say. Chức vụ hai ngươi phải giữ cho nhà người ta ăn ở có đạo đức. Sao lại để xẩy ra chuyện chỉ vì thi cử trúng, trượt mà con nọ bỏ chồng, thằng kia rẫy vợ? Như vậy các ngươi ở trong nhà đó làm chi?

Ngọc Hoàng truyền nọc cổ hai Thổ Công, đánh mỗi ông 30 roi, cách chức, rồi lại truyền lệnh cho Nam Tào:

– Việc thi cử ở trần gian chỉ làm hại cho đạo đức, luân lý. Từ nay cấm thi.

Vậy là từ đó trần gian không còn nạn thi cử nữa.

Hai Thổ Công bị đòn, bị cách chức, bỏ đi biệt tích.

Hai Táo Quân ở nhà chờ mãi không thấy Thổ Công về, đi tìm nên biết chuyện. Hai Táo Quân bảo nhau;

– May cho chúng ta, lúi húi trong bếp, ăn xó mó niêu, quanh năm chẳng rượu thịt gì nhưng được cái không bị ăn đòn.

Hai Táo Quân cảm khái làm bài thơ:

Trần gian đổi vợ với thay chồng
Ba chục roi đòn đít Thổ Công.
Nhắn bảo trần gian cho chúng biết:
Thi chi cho bận đến phường ông.

– Tản Đà

Tản Đà Tiên sinh viết chuyện chửi đời qua việc Thi Cử cũng phải thôi, vì ông thi truợt nên ông có ác cảm với việc thi cử. Ông đi thi mà cả cái bằng Tú tài như ông Tú Xương ông cũng không có. Thi cử ngày xưa đỗ Tú tài coi như không đỗ đạt gì cả. Nếu ông Tản Đà đỗ Tú tài người đời đã gọi ông là ông Tú Tản Đà hay ông Tú Hiếu. Môt ông làm thơ rất hay mà đi thi không đỗ Tú tài là ông Nhà Thơ Nguyễn Du. Ông Phan Khôi có đi thi chữ Nho, có đỗ Tú tài, nhưng ít khi cái tên Tú Khôi của ông được dùng.

Cứ theo chuyện Tản Đà Tiên sinh kể thì mỗi nhà có hai Ông Táo,một Bà Táo, một Ông Thổ, Nam kỳ gọi là Ông Địa. Những năm 1940 tôi 10 tuổi, Ngày 23 Tết đến, tôi thấy nhiều nhà cúng bộ y phục để hai ông Táo lên chầu trời. Y phục Ông Táo làm bằng giấy xanh đỏ, gọi là hàng mã, gồm mũ cánh chuồn, áo bào, đôi hia, nhưng không thấy có quần. Y phục Táo Ông không có quần chắc y phục Táo Bà cũng không có quần. Vì vậy — tôi nghe nói — thời xưa ấy, những năm trước năm 1940 — có ông làm thơ trào phúng, tức Thơ Riễu:

Vợ chồng Ông Táo dạo chơi xuân
Đội mão, đi hia, chẳng mặc quần.
Ngọc Hoàng phán hỏi: Sao lại thế?
Thưa rằng hạ giới chúng duy tân.

Lại nghe nói bài thơ tả Ông Táo đội mão, đi hia, chẳng mặc quần là do các ông báo Ngày Nay, Phong Hoá làm ra.

Nhắc lại théc méc: Không biết chuyện vợ chồng Táo Quân Hai Ông Một Bà là chuyện riêng của dân tộc An Nam hay chuyện của Tầu? Những năm 1960 ở Sài Gòn tôi biết — chính tôi biết, tôi thấy, không phải tôi nghe ai nói — có hai ông, một bà sống chung một nhà. Bộ ba này hơn tôi khoảng 10 tuổi, dân Bắc kỳ di cư. Họ sống chung với nhau êm ru bà rù. Năm 1980 gặp một ông bạn của họ, tôi hỏi thăm về họ, ông bạn nói:

– Lúc đầu ba đưá chúng nó sống với nhau một nhà, bọn moa đều khó chịu, thằng nào cũng bảo một vợ hai chồng là không được. Nhưng chúng nó sống với nhau êm đẹp đến nỗi bọn moa phải phục, bọn moa phải chapeau.

“Phải chapeau” tức phải ngả mũ, cúi đầu chào thán phục.

Virginia is for Lovers nghe nói có một bà có hai, ba ông chồng sống chung một nhà, ông chồng nào cũng ngoan — có ông nghe nói xưa là Tá, Tướng — các ông Táo đi cày về có check đều nộp cho bà vợ chung, không ông nào bày đặt ghen tuông, tranh dành chi cả. Tôi viết rõ: tôi nghe nói, không biết chuyện Vợ Chồng Ông Táo Hai Ông Một Bà Virginia có thật không? Hay là chuyện người ta đồn?

o O o

Tôi thấy Xuân và Thời Gian đi qua mỗi khi tôi đọc bài Thơ này.

Mời quí vị cùng đọc Thơ, không biết Thơ có làm quí vị cảm thấy như tôi không?

Vuờn Xưa

– Thơ Tế Hanh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc.
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thỉ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.

Mản vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ờ hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Sao y bản chánh Thơ Tế Hanh.

TỔNG MỸ

tt1

Trong bữa tiệc Bà Hoàng Elizabeth khoản đãi Tổng Thống Bush có Thủ Tướng Tony Blair dự. TT Bush hỏi Bà Hoàng Elizabeth cách thức tìm người tài trong nước để mời ra cầm quyền. Bà Hoàng nói:

“Ta phải chọn người thông minh. “

Tổng Bush hỏi:

“Làm sao ta biết người ta định chọn có thông minh hay không?”

Bà Hoàng:

“Tôi thường làm như vầy.”

Bà hỏi Thủ Tướng Tony Blair:

“Bà mẹ ông sinh ra người con trai. Người ấy không phải là anh ông, không phải là em ông, người ấy là ai?”

Thủ Tướng Blair:

“Người ấy là tôi, Tony Blair, chứ còn là ai nữa?”

Bà Hoàng:

“Tổng Thống thấy đấy. Chỉ một câu hỏi ta có thể biết ai là người thông minh.”

Tổng Thống Bush chíp lấy bí kíp tuyển nhân tài thông minh  ấy. Về Nhà Trắng, ông hỏi Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld:

“Bà mẹ ông sinh ra người con trai, người ấy không phải là anh ông, không phải là em ông, người ấy là ai?”

Bộ Trưởng Rumsfeld:

“Người ấy là tôi, Donald Rumsfeld, chứ còn là ai nữa?”

Tổng Thống Bush:

“Sai. Người ấy là Tony Blair.”

TT Bill Clinton và cô Như Loan, cô chủ Nhà Hàng Phố Xưa ở Sài Gòn. Ảnh năm 2000.

TT Bill Clinton và cô Như Loan, cô chủ Nhà Hàng Phố Xưa ở Sài Gòn. Ảnh năm 2000.

Quí vị vừa đọc một chuyện khôi hài – châm biếm –  người Mỹ kể về một ông Tổng Thống nước họ. Loại chuyện người Mỹ riễu những Tổng Thống Mỹ có nhiều, thật nhiều, nhưng đa số là chuyện thô tục, chuyện Sex – nhiều người Mỹ không kính trọng những ông Tổng Thống của họ. Với mặc cảm là người Việt sống nhờ, CTHĐ tôi vẫn tránh viết những lời chỉ trích người Mỹ. Hôm nay, Ngày Cuối Cùng của Năm 2014, tôi mời quí vị đọc vài chuyện người Mỹ kể, viết về những ông Tổng Thống của họ. Những chuyện nghe chơi rồi quên.

Tổng Thống Mỹ có Chánh Tổng và Phó Tổng. Thường thì Chánh Tổng Mỹ làm hết mọi chuyện, Phó Tổng Mỹ chỉ ngồi chơi sơi nước.Trong bài này tôi dùng những tiếng Chánh Tổng và Phó Tổng.

Trước hết tôi kể những cảm nghĩ của tôi về một vài ông Chánh Tổng, Phó Tổng Mỹ.

Tôi có cảm tình với ông Chánh Tổng Ronald Reagan. Năm 1981, ở Sài Gòn, tôi đọc trên báo Bắc Cộng, tôi nghe trên đài phát thanh Bắc Cộng, lời bọn Bắc Cộng khinh, chê:

Dân Mỹ hết người tài; nay phải bầu một anh kép xi-nê hạng bét chuyên đóng vai cao bồi làm Tổng Thống.”

Người Mỹ có truyền thống và thói quen dùng súng bắn những ông Tổng Thống của họ. Người Mỹ là giống dân có nhiều ông Tổng Thống bị bắn nhất. Họ dùng súng bắn chết ông Chánh Tổng Kennedy, rồi họ dùng súng bắn ông Chánh Tổng Reagan khi ông mới được bầu làm Tổng Thống chưa bao lâu. Ông  Reagan trúng đạn nhưng ông không chết. Dường như từ ngày Mỹ Quốc có Tổng Thống tới nay đã có 4 ông Chánh Tổng bị bắn chết. Ông Reagan là ông Tổng Thống Mỹ thứ nhất bị người Mỹ dùng súng bắn trúng mà không chết; ông không nể nang gì bọn cộng sản, ông công khai gọi bọn Liên Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn, Cuba là Đế Quốc Quỉ – Evil Empire – cái gọi là Đế Quốc Quỉ ấy bắt đầu rệu rã từ ngày ông Reagan làm Tổng Thống Mỹ.

Năm 1984 tôi bị bắt tù lần thứ hai. Nằm phơi rốn 5 năm trong Nhà Tù Chí Hòa, tôi không được biết nhiều về những việc làm, những lời nói của ông Chánh Reagan, nhưng ở trong tù công sản tôi cũng biết Tổng Thống Reagan là người đến trước Bức Tường Ô Nhục ở Berlin, chỉ tay ra lệnh cho Tổng Bí Liên Xô Gorbachev:

“Ông Gorbachev.. Phá bức tường kia đi.”

tt3Sau lời ra lệnh của ông Tổng Mỹ, Bức Tường Ô Nhục Berlin bị phá, nước Đức thống nhất. bọn Đức Cộng bị diệt ở Đức, Tổng Bí Honnecker cúp đuôi chạy ra nước ngoài.

Từ đó tình trạng nhục nhã của bọn đảng viên cộng sản trên thế giới diễn ra dài  dài. Tượng Lenin, tượng Stalin bị nhân dân tròng xích sắt vào cổ, kéo ra bỏ nằm ở những miệng cống, những bãi rác. Chủ Nghĩa Cộng Sản bị vứt vào hố rác lịch sử.

Tôi có nỗi tiếc về cuộc đời tình ái của ông Chánh Tổng Reagan. Những năm 1950 ông kết hôn với nữ diễn viên điện ảnh Hollywood Jane Wyman. Bà Wyman không đẹp kiểu đào Vamp, tức không sexy, nhưng bà là nữ diễn viên có tài. Tôi có nhiều cảm tình với bà. Năm ông bà là vợ chồng, bà nổi tiếng hơn ông, bà có Giải Oscar Nữ Diễn Viên Xuất Sắc. Ông không có thành tích gì cả. Ông bà ly dị nhau. Nào có ai ngờ ba mươi năm sau ông là ông Tổng Thống Xuất Sắc của Hoa Kỳ. Năm ông mất, bà Wyman còn sống. Tôi muốn được thấy bà Jane Wyman là Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ, tôi muốn ông bà sống, yêu thương nhau đến mãn đời.

Ông Reagan là vị Tổng Thống duy nhât trên thế giới thời trẻ từng là diễn viên điện ảnh, nôm na là Kép Xi-nê-ma.

Năm 1989 dòng tù tội đưa tôi đến sống ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Đó là năm ông Bush Bố làm Chánh Tổng Mỹ. Ông Bush Bố từng làm Phó Tổng trong chính phủ Reagan. Thời ông Chánh Tổng Bush Bố có việc ông Lech Walesa nổi lên ở Ba-lan. Hôm ấy con tôi lên Trại Z 30 A thăm tôi, bố con tôi được ngồi nói chuyện với nhau ở Nhà Khách của Trại trong khoảng ba giờ đồng hồ. Con tôi kể chuyện Đài BBC tường thuật việc ông Walesa đến Nhà Trắng:

“Tổng Thống Bush tiếp ông Lech Waleasa ở Nhà Trắng. Hai ông cụng ly champagne, ông Tổng Bush nói:

“Thưa ông Walesa, ông thấy cái ghế đặc biệt  này. Từ ngày ông bị bắt giam, chúng tôi biết thể nào cũng có ngày ông đến đây thăm chúng tôi, nên chúng tôi làm sẵn cái ghế này chờ ông đến. Hôm nay ông đến, xin mời ông ngồi.”

Tối hôm đó trong Phòng Giam ở Z 3O A có những ông Tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Doãn Quốc Sĩ, Lê Công Minh, Ưng Sơ, Mã Thành Công.., tôi kể chuyện:

“Hôm nay tôi gặp con tôi, Nó kể tôi nghe  BBC tường thuật buổi ông Tổng Bush đón tiếp ông Walesa ở Nhà Trắng. Ông Bush mời ông Walesa ngồi vào cái ghế đặc biệt. Chụp ảnh, vỗ tay xong, ông Bush nói;

“Thưa ông Walesa, ông thấy ở đây chúng tôi có hai cái ghế giống nhau. Cái ghế này của ông, hôm nay ông đến, ông đã ngồi. Cái ghế này chúng tôi dành sẵn chờ ông Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Ngày nào ông Trí Siêu Lê Mạnh Thát đến đây, chúng tôi sẽ mời ông ấy ngồi cái ghế này.”

Doãn Quốc Sĩ nói:

“Chuyện được lắm.”

Mã Thành Công đứng lên ngả mũ chào Lê Mạnh Thát. Mã hói đầu, luôn đội cái mũ len, Ưng Sơ vỗ tay, Trí Siêu khoái chí cười toe.

Thời ông Tổng Bush Bố có vụ Saddam Hussein – Chánh Tổng Irak – hung hăng con bọ xít cho quân sang chiếm Xứ Dầu Hỏa Kuwait. Ông Tổng Bush Bố cho quân Mỹ sang đánh đuổi quân Irak ra khỏi lãnh thổ Kuwait.

Năm 1994 một ông bạn tôi sống ở Kỳ Hoa viết thư cho tôi:

“Tổng Thống Cờ Hoa mới nhiệm chức là một anh blanc bec.”

Anh Mỹ Blanc Bec ông bạn tôi nói đây là Tổng Thống Bill Clinton. Blanc Bec có nghĩa là anh trẻ tuổi khù khờ chưa có kinh nghiệm đời. Tổng Clinton bỏ cấm vận Việt Nam Cộng Sản. Năm 2000 ông – Tổng Clinton – đến Hà Nội. Ông được dân Hà Nội – đông nhất là giới trẻ – đón tiếp nồng nhiệt. Dân Hà Nội xếp hàng bên đường chờ được bắt tay ông Tổng Mỹ. Vài ngày sau ông Clinton vào Sài Gòn. Ông bà, và tiểu thư Chelsea, ngụ ở khách sạn mới xây trên vùng đất trước kia là Nhà Ga Xe Hỏa Sài Gòn.

Buổi sáng ông Tổng Clinton – một mình –  ra khỏi khách sạn, đi bộ đến Chợ Bến Thành. Ông vào Tiệm Phở 2000 trong chợ ăn phở. Nghe nói ông ăn liền hai tô đặc biệt. Sự kiện tôi kể và nhấn mạnh là dân Sài Gòn không ai đến chào đón ông Tổng Bill Clinton.

tt4

Tôi thán phục thái độ của dân Sài Gòn. Tổng Mỹ Bill Clinton đến với bọn Việt Cộng, ông thân thiết với bọn Việt Cộng, dân Sài Gòn không ai đến với ông là rất phải. Tôi đề cao thái độ rất tuyệt của dân Sài Gòn.

Bài VoRP này có cái ảnh ông Tổng Bill Clinton đến ăn cơm Việt Nam ở Nhà Hàng Phố Xưa. Cô chủ Phố Xua là cô Như Loan, một nữ diễn viên điện ảnh Sài Gòn. Cô Như Loan, vai nữ chính trong phim Đời Chưa Trang Điểm, phim làm theo tiểu thuyết cùng tên của Nhà Văn Văn Quang. Ngày 30 Tháng Tư 1975 cô bỏ Sài Gòn cô chạy sang Mỹ, năm 2000 cô trở về Sài Gòn, cô mở tiệm ăn.

Bà Hillary Clinton dự định ra tranh cử Tổng Thống Mỹ. Trước đây mấy năm khi bà là Ngoại Trưởng, bà nói:

“Từ nay mỗi khi gặp những nhà lãnh đạo các quốc gia XHCN tôi sẽ không đề cập đến những câu nói thường lệ về nhân quyến.”

Bà có ý nói việc bà, nhân danh Ngoại Trường Mỹ, chỉ trích giới lãnh đạo Tấu Cộng, Việt Cộng đàn áp nhân dân Tầu, Việt, là vô ích.

Tôi tìm được tấm ảnh ghi hình Phó Tổng Thống Richard Nixon khoảng năm 1952 đến Việt Nam. Trong ảnh, ông Phó Tổng Nixon hỏi chuyện một binh sĩ quân đội Quốc Gia Việt Nam trên mặt trận Bắc Việt. Tôi théc méc khi thấy cái lon Trung Sĩ Nhất trên ngực áo người lính Việt Nam. Theo tôi cái lon này bị đeo ngược, tay trái người lính cầm điếu thuốc lá hút giở.

Đến đây tôi mời quí vị đọc vài chuyện người Mỹ viết về những ông Tổng Thống của họ.

Tôi đăng bản chữ Mỹ:

When former U.S. Military commander in Afghanistan, General McChrystal, was called into the Oval Office by Barack Obama, he knew things weren’t going to go well when the President accused him of not supporting him in his political role as President.

“It’s not my job to support you as a politician, Mr. President, it’s my job to support you as Commander-in-Chief,” McChrystal replied, and he handed Obama his resignation. 

Not satisfied with accepting McChrystal’s resignation, the President made a cheap parting shot. “I bet when I die  you’ll be happy to pee on my grave.”

The General saluted and said, “Mr. President, I always told myself after leaving the Army I’d never stand in line again.”

Phỏng dịch: Khi Tướng McChrystal, Cựu Tư Lệnh Chiến Trường  Afganistan bị Tổng Thống Obama gọi đến Nhà Trắng, ông biết có chuyện không tốt khi ông Tổng Thống kết tội ông đã không ủng hộ Tổng Thống, ông Tướng nói:

“Công việc của tôi không phải là việc ủng hộ ông với tư cách ông là nhà chính trị. Công việc của tôi là ửng hộ vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội.”

Nói xong ông Tướng đệ trinh ông Tổng Thống đơn từ nhiệm.

Không hài lòng với việc nhân đơn từ chức của Tướng McChrystal, ông Tổng Thống nói lời từ biệt không đáng nói:

“Tôi chắc khi tôi chết, ông sẽ vui sướng đến đái lên mộ tôi.”

Ông Tướng dơ tay chào, nói:

“Thưa Tổng Thông, tôi vẫn tự nhủ sau khi ra khỏi quân ngũ, tôi sẽ không đứng xếp hàng nữa.”

CTHĐ: Ông Tướng muốn nói:

“Khi ấy sẽ có nhiều người đến đái lên mộ ông. Muốn đái lên mộ ông tôi phải xếp hàng chờ đến lượt, mà tôi thì ra khỏi quân ngũ, tôi sẽ không đứng xếp hàng nữa.”

Những chuyện bí mật trích từ quyển “Secrets of The Secret Service” của tác giả Ronald Kessler:

* Tổng Thống John F Kennedy và Tổng Thống Lyndon B Johnso cất dấu nhiều đàn bà trong Nhà Trắng. Hai ông cho đặt hệ thống báo động để biết khi bà vợ của các ông đến gần. Cả hai ông cùng rất dâm.

Tổng Thống Gerald Ford — Là vị Tổng Thống  đối xử với nhân viên Mật Vụ rất tốt. Ông nói chuyện khôi hài có duyên. Bà Betty Ford nghiện rượu, mấy lần phải đi cai rượu.

Tổng Thống Jimmy Carter — Là người giả dối, ông cho công chúng thấy ông tự xách va-ly nhưng những va-ly ấy đều rỗng, trong không có đồ. Ông muốn công chúng thấy ông là người ngoan đạo và không uống rượu, nhưng ông và bà vợ ông uống nhiều rượu. Ông tỏ ra khinh mạn nhân viên Mật Vụ. Ông không muốn các tướng lãnh gần ông. Nhiều khi ông làm như ông không biết có những nhân viên Mật Vụ ngày đêm bảo vê ông và gia đình ông.

Tổng Thống Ronald Reagan — Là người chân thành, đạo đức, có nhân phẩm, biết kính trọng người khác. Ông luôn nói cám ơn. Ông kết thân với mọi người. Thời gian đầu ông làm Tổng Thống, nhiều ngày ông có khẩu súng lục đeo bên hông. Nhân viên Mật Vụ hỏi ông:

“Thưa Tổng Thống, ông mang súng làm chi vậy?”

Ông trả lời:

“Để giúp các anh bảo về an ninh cho ông Tổng Thống.”

Người Mỹ kể khi gặp Gorbachev, ông Tổng Reagan có khẩu súng trong cặp da.

Tổng Thống George H Bush — Ông Tổng Bush Bố là người rất tốt, rất ân cần, lúc nào cũng kính trọng mọi người. Ông và bà cùng chú ý đến việc làm cho nhân viên phục vụ Nhà Trắng được thoải mái. Nhiều lần ông bà đích thân mang những hộp thức ăn nóng ra trao cho những nhân viên Mật Vụ gác đêm quanh Nhà Trắng, hay ở phi trường quanh phi cơ ông sắp đi. Có đêm đông trời rất lạnh, bà Bush đem mền ra cho nhân viên Mật Vụ gác bên ngoài Nhà Trắng. Nhân viên này cám ơn và từ chối khoác mền, ông Tổng Bush nói:

“Đừng cãi lệnh Đệ Nhất Phu Nhân.”

Tổng Thống Bill Clinton — Với ông Clinton, nghiệp vụ Tổng Thống là một cuộc chơi vui  dài dài – a party. Ông dễ tính với mọi người vì ông muốn ai cũng mến ông. Nhưng bà Hillary là một cây giả dối. Thái độ của bà thay đổi ngay khi có máy ảnh, máy TiVi chiếu vào bà. Khi chụp ảnh, khi TiVi thu hình, bà trình diễn bộ mặt vui, khiêm tốn. Bà thù ghét và công khai tỏ ra khinh thị giới quân nhân và nhân viên Mật Vụ. Bà luôn luôn cho rằng tất cả mọi người phải phục vụ bà.

Tổng Thống George W Bush — Đây là ông Tổng Bush Con. Nhân viên Mật Vụ mến ông và bà vợ ông. Ông là vị Tổng Thống chịu và chăm tập thể dục nhất. Ông bà muốn nhân viên chính phủ, nhân viên phục vụ Nhà Trắng phải kính trọng và biết sự cần thiết của nhân viên Mật Vụ. Bà là vị Đệ Nhất Phu Nhân dễ mến nhất. Không bao giờ bà nói nặng lời với ai.

Tổng Thống Obama — Giống như TT Clinton, Tổng Thống Obama thù ghét giới quân nhân, khinh thị nhân viên Mật Vụ. Ông ta ích kỷ, gian ngoan, sẵn sàng nổi giận, to tiếng. Bà vợ ông thù ghét tất cả những ai không phải là người Đen, bà thù giới quân nhân, bà coi nhân viên Mật Vụ như bọn đầy tớ.

CHUYỆN PHIẾM XƯA NAY

dau1

Làm nghề viết tiểu thuyết từ năm 1956, tôi chịu khó đọc sách. Tôi học qua sách. Nhưng mãi đến năm 2000, khi sống ở Kỳ Hoa, tôi mới biết ông Phan Khôi, ông Ngô Tất Tố, trong những năm từ 1935 đến 1940 từng viết trên nhật báo những bài viết ngắn; tiếng Pháp của loại bài này là Film du Jour.

Film du jour: Chuyện trong ngày khác với loại bài phiếm luận như những bài Viết ở Rừng Phong. Vì bài đăng trong nhật báo nên Chuyện Trong Ngày là những bài ngắn, gọn, những chuyện vui vui, dễ hiểu, không cần có văn chương. Với tôi, hai ông Phan Khôi, Ngô Tất Tố viết Chuyện Trong Ngày thật hay. Trong Tủ sách Rừng Phong hiện có ba tuyển tập Phan Khôi 1929, Phan Khôi 1930 và Ngô Tất Tố Tiểu Phẩm Báo Chí.

Ông Phan Khôi, ông Ngô Tất Tố, ông Tản Đà đều có thời gian sống mấy năm ở Sài Gòn. Ông Ngô Tất Tố theo ông Tản Đà vào Sài Gòn làm báo. Tôi viết “theo” vì ông Ngô Tất Tố không sáng giá bằng ông Tản Đà. Hai ông từng sống ở Xóm Gà, Phú Nhuận. Những năm ấy hai ông đưa cả vợ con vào sống ở Sài Gòn. Hai ông mướn hai căn nhà cạnh nhau. Người mời hai ông vào Sài Gòn làm báo là ông Diệp Văn Kỳ.

Trang nhất Nhật Báo Trắng Đen, số báo ra khoảng những năm 1970, 1971 ở Sài Gòn. Đây là tờ nhật báo chuyên đăng tin đồn, chuyện đời tư người ta. Làng báo Sài Gòn gọi loại báo này là “Báo Sì-căng-đan – Scandale.” Trang nhất tờ báo chạy tin vơ-đét 8 cột – Tin Vedette – “Vụ Án Tình ở Phan Thiết.” Chuyện đáng kể là nhật báo Trắng Đen những năm ấy bán rất chạy. Rõ hơn: có nhiều người mua Trắng Đan, đọc Trắng Đen.

Trang nhất Nhật Báo Trắng Đen, số báo ra khoảng những năm 1970, 1971 ở Sài Gòn. Đây là tờ nhật báo chuyên đăng tin đồn, chuyện đời tư người ta. Làng báo Sài Gòn gọi loại báo này là “Báo Sì-căng-đan – Scandale.” Trang nhất tờ báo chạy tin vơ-đét 8 cột – Tin Vedette – “Vụ Án Tình ở Phan Thiết.” Chuyện đáng kể là nhật báo Trắng Đen những năm ấy bán rất chạy. Rõ hơn: có nhiều người mua Trắng Đan, đọc Trắng Đen.

Mời quí bạn độc một bài chuyện phiếm của ông Ngô Tất Tố:

Làm sao mà hai nơi đô hội đồng thời cùng có tin đồn như nhau?

Chuyện này thật không đáng nói vì nó là chuyện nhảm nhí, chẳng quan hệ gì. Nhưng có một lẽ nên nói, vì rằng cái chuyện nhảm nhí đó mà lại làm xôn xao hai nơi đại đô hội.

Số là cách đây mấy hôm, ở Hà Nội về mặt Sinh Từ Hàng Lờ, những người thiếu kiến thức, nhất là mấy người đàn bà vô học họ kháo nhau rằng: ở chùa Linh Ứng, Khâm Thiên, mới xẩy ra một việc rất lạ: thánh phạt một đôi trai gái.

Hỏi thì họ nói: Có đôi trai gái nào đó vì quá mê nhau, mượn chùa Linh Ứng làm nơi dâu bộc. Tan cuộc, hai đứa không thể nào rời nhau ra được, cực chẳng đã, phải tri hô lên cầu cứu. Người ngoài hết sức kéo hai đứa rời nhau mà vẫn không được, nên phải cho xe đưa cả hai đứa đến nhà thương Phủ Doãn. Nhưng thầy thuốc cũng chịu, lại phải chở về.

Những người đồn cái chuyện ấy cắt nghĩa: đền Linh Ứng là nơi thiêng lắm , vì đôi trai gái đó làm việc vô lễ ở trước mặt nhà thánh, cho nên ngài phạt bằng cách cực hình như vậy.

Thấy cái tin đó, người hơi có kiến thức một chút thật không muốn để vào tai, người ta cho là chuyện bịa đặt của bọn đồng cốt Hà Nội.

Vậy mà ở Huế và ở Tourane cũng có tin đồn đúng như thế, thế mới lạ chớ!

Báo Công Luận gửi ra sáng nay có đăng tin rằng:

“Mấy hôm nay ở Huế và Tourane, bà con nô nức về một chuyện vô lý.

Họ đồn rằng có một cặp nhân tình đem nhau vào cái chùa nọ  đặng cùng nhau thỏa điều trăng gió, chẳng may bị chùa ấy thiêng quá, làm cho cặp trai gái cứ dính nhau mãi, người ta phải đưa họ tới nhà thương chữa.

Cái chùa thiêng ấy là chùa nào? Kẻ nói là chùa Bảo Ninh, kẻ nói là chùa Từ Niên, kẻ nói là chùa Diệu Đế.

Một điều rõ hơn cái tin ở Hà Nội, là, ở Huế người ta còn nói rành rọt cặp trai gái này là một cậu học sinh trường Q.H và một cô nữ sinh trường Đ.K.

Cái chuyện mê hoặc, vứt d8i không đáng kể, lạ một nỗi, lạ một nỗi làm sao ở hai nơi đô hội đồng thời cùng xẩy ra một tin đồn như nhau?

Ai là người đặt ra cái tin ấy?

Bọn đồng bóng chăng? Bọn phu xe chăng? Đều không phải cả, nếu là do những bọn đó đặt ra thì họ đặt được ở một chỗ là cùng, thế nào trong một lúc mà lại truyền khắp ở Huế và ở Hà Nội?

Rút lại, cái tin đồn này sở dĩ đẻ ra, nó có một lẽ mầu nhiệm nào đó.

Có người nói rằng chỉ vì cái óc An Nam. Người An Nam độ này đã ít kẻ sợ quỉ, kinh thần, nên mới có tin đó. Ở Sài Gòn vì ít đình chùa, miếu mạo, chớ nếu nhiều như ở Huế và ở Hà Nội, thì tin đồn này cũng có thể xẩy ra.

Thôi! Cũng là chuyện khó hiểu.

Thục Điểu. Đông Phương Số 432. Ngày 15 tháng 5 năm 1931.

CTHĐ: Quí vị vừa đọc một bài phiếm Ký giả Ngô Tất Tố viết, bút hiệu Thục Điểu, đăng trên báo Đông Phương ra ngày 15 tháng 5 năm 1931 ở Hà Nội.  Bài phiếm viết về một vụ “Mắc Lẹo” được đồn là xẩy ra ở một ngôi chùa vùng Khâm Thiên, Hà Nội. Chuyện đáng nói là chỉ vài ngày sau chuyện đồn “Mắc Lẹo” cũng được loan truyền ở Huế. Chuyện phải có người đặt ra. Tôi nhắc lại câu hỏi của ông Ngô Tất Tố:

“Ai là người đặt ra cái chuyện ấy?”

Câu hỏi không có câu trả lời.

Bài phiếm của ông NT Tố có cái tên tôi không hiểu: “Hà Nội có phố Hàng Lờ.” Không hiểu và théc méc: “Hàng Lờ là phố chuyên bán thứ hàng gì ở Hà Nội năm ông NT Tố viết bài này?? Có thật Hà Nội Xưa có Phố Hàng Lờ hay không?”

Khoảng  năm 1976 Sài Gòn có tin đồn Việt Cộng sẽ cho một số người Việt được đi ra nước ngoài. Năm 1976 ở căn nhà đầu đường Nguyễn Du có một công sở của VC. Công sở này không có bảng tên, chỉ nghe nói là Sở Phụ Trách Người Nước Ngoài. Hay tên là Sở Công Tác Người Nước Ngoài. Cái tên mơ hồ. Người Sài Gòn bảo nhau ai muốn xuất ngoại phải nộp đơn ở sở này.

Trên vỉa hè bên kia đường có vài tiệm cà phê lộ thiên làm chỗ cho dân Sài Gòn ngồi, chờ xem và bàn tán, loan tin, gần như toàn là tin đồn. Trên vỉa hè trước cái gọi là Sở Công Tác Người Nước Ngoài có một tấm bảng để dán những thông cáo của Sở. Tin đồn đến với dân Sài Gòn từ tấm bảng này. Người ta nói một thông cáo được Sở dán trong bảng này công bố việc VC cho dân ra đi. Thông Cáo này được gọi là “Thông Cáo Ra Đi Ồ Ạt.” Lời thông cáo đại khái:

Ra Đi Ồ Ạt

Nhà nước sẽ cho những người sau đây được đi ra nước ngoài:

Hồi chánh viên.

Nhân viên Sở Mỹ

Nhân viên chính phủ cũ.

Sĩ quan Quân đội VNCH..v..v..

Người ta nói Thông Cáo Ra Đi Ồ Ạt được dán trên bảng nhưng bị nhân viên Sở  bóc đi ngay sau vài giờ đồng hồ. Trong thời gian ấy có người chép được Thông Cáo. Người ta truyền miệng tin ấy. Có ông đến nhà cẩn thận và trịnh trọng cho tôi xem bản tin Thông Cáo đàng hoàng. Bản Thông Cáo được đánh máy, một tờ pelure được chia làm bốn để ghi bốn bản Thông Cáo.

Một ông nào đó đã bịa ra Thông Cáo Ra Đi Ồ Ạt, một ông nào đó đã viết ra bản Thông Cáo ấy, một ông nào đó đã đánh máy Thông Cáo ra làm nhiều bản, phân phát cho các ông bạn.

Hôm nay – Ngày 22 Tháng 12, 2014 – tôi bầy tỏ sự cảm phục ông đàn anh nào năm 1976 đã sáng tác ra bản Thông Cáo Ra Đi Ồ Ạt.

Nghe nói Giám Đốc Sở Người Nước Ngoài ở đầu đường Nguyễn Du năm xưa ấy tên là Năm Thạch. Anh VC Năm Thạch này, theo chuyện đồn, sau đó bị bắt, vợ con anh bị đuổi ra khỏi nhà, bọn Công An Thành Hồ đến đào phá gần sập nhà anh để tim vàng. Cũng theo chuyện đồn, Năm Thạch bị ép phải tự tử.

Ngày 17 Tháng 11, 2014, trên Internet loan tin:

TIN RẤT QUAN TRỌNG DO CƠ QUAN NASA HOA KỲ THÔNG BÁO CHO TOÀN ĐỊA CẦU: QUẢ ĐẤT SẼ HOÀN TOÀN CHÌM TRONG BÓNG TỐI SUÔT 6 NGÀY ĐÊM TỪ 16-12-2014 ĐẾN 22-12-2014 VÌ BỊ BÃO MẶT TRỜI!

Xin xem Video theo Link kèm dưới đây để theo dõi Thông Báo Khẩn Cấp của Giám Đốc Charles Bolden của Cơ quan Hàng Không Vũ Trụ NASA Hoa Kỳ (National Aeronautics and Space Administration) vừa thông báo cuối tuần rồi rằng toàn bộ Trái Đất sẽ hoàn toàn chìm vào bóng tối trong 6 ngày đêm kể từ ngày 16 tháng 12 đến ngày 22 tháng 12 năm 2014 vì lý do Bão Mặt Trời lớn nhất trong 250 năm trở lại đây!

Video: NASA cảnh báo Trái Đất sẽ chìm trong bóng tối 6 ngày 6 đêm.

Ông Giám Đốc NASA khuyến khích mọi người nên bình tĩnh và chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho 6 ngày đêm tối tăm kia và đề phòng mọi bất trắc gì khác có thể tấn công vào các cộng đồng dân chúng.

Giám Đốc NASA Charles Bolden giải thích rằng cơn Bão Mặt Trời sẽ cuốn cát bụi và những mãnh vụn rác rưỡi không gian làm che khuất tới 90% Mặt Trời nên sẽ tối tăm toàn nhân loại!

NASA cảnh báo dân chúng Hoa Kỳ cần chuẩn bị chu đáo và thật bình tĩnh đề phòng mọi bất trắc xảy ra. Các bộ năng lượng, Điện Lực Hoa Kỳ được chỉ thị sẵn sàng cung cấp ánh sáng đầy đủ và liên tục. Các Bộ Quốc Phòng, Nội An đều sẵn sàng ứng phó và đề phòng các hoạt động khủng bố; trộm cướp.

Riêng dân chúng được khuyến khích chuẩn bị hộp quẹt, đèn, pin, đèn bấm, thực phẩm, gạo và nước đầy đủ cho 6 ngày đêm chìm trong bóng tối. Mỗi gia đình cũng nên có một Radio để nghe thông báo khẩn. Xin quý vị và các bạn xem ngay Video của NASA và chuyển tin nầy cho mọi người được biết!

Đây chỉ là tin tức do một số báo chí và các Diễn Đàn Internet công bố. Chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ lượm lặt và thông tin chứ không biết sự kiện sẽ ra sao. Không thấy NASA cải chính vì có tin nói rằng tin nầy là “xạo”. Dù sao để biết trước và đề phòng vẫn hơn.. Thế giới ngày nay xảy ra các thiên tai, sóng thần, động đất, dịch bệnh và khủng bố thảm sát là chuyện có thật và không ai biết sẽ xảy đến cho mình và gia đình mình vào lúc nào. Xin cầu nguyện, cầu chúc mọi người được bình an, sức khỏe, hạnh phúc và nhiều thăng hoa trong cuộc sống.

Hạnh Dương.

17-11-2014.

CTHĐ: Ông bạn già báo cho tôi biết tin trên đây. Tôi nói:

“Làm gì có chuyện đó. Tôi có đọc thấy chuyện đó trên Internet. Chuyện rỡn chơi.”

Ông nói:

“Chuyện rỡn chơi sao được. Có ảnh NASA họp báo loan tin đàng hoàng.”

Những ngày được báo trước Trái Đất Không Mặt Trời qua đi. Êm ru. Không chỉ êm ru mà còn bà rù. Trời cuối Thu Virginia có nắng hanh vàng. Chẳng ai nhớ lời báo trước ma tịt ấy. Ông bạn nào nghĩ ra cái Tin Vịt ấy? Người ký tên Hạnh Dương là đàn ông hay đàn bà?

Mời quí vị đọc hai bài phiếm Nhà Văn Ngô Tất Tố viết 80 năm xưa ở Hà Nội.

HỠI ÐỒNG BÀO VIỆT NAM,
CHÚNG TA NÊN VẼ MÌNH CHO CON CÁI CHÚNG TA

Dẫu rằng cuộc đời mỗi ngày một mới, mà ở xã hội “con rồng cháu tiên” thiếu chi người ưa những lối xưa. Cái phong trào “bảo tồn quốc túy” đã im đi một độ, độ này xem chừng lại thấy rục rịch nổi lên: tờ báo nọ hô hào bạn gái cứ giữ gìn cái sinh hoạt ở cửa buồng xó bếp, tờ báo kia cổ động dân quê nên duy trì những thói tục ở góc điếm, sân đình, lại một cuốn tạp chí nọ hàng tuần đem những cặn bã ở cửa Khổng, sân Trình mà nhồi mãi vào óc độc giả! Tuy rằng người ta chưa cho mình nghe những tiếng la “bảo tồn quốc túy,” nhưng kỳ thực cái không khí bảo tồn quốc túy vẫn tích tụ ở giải đất từ núi Ngôi đến bến Nhị mà lan tràn ra khắp nơi. Phải, bảo tồn là phải! Những món đó đều là những tinh hoa trong văn minh An Nam, chẳng bảo tồn, lỡ ra mà nó tiêu diệt đi thì dân tộc An nam sinh tồn sao được. Phải, bảo tồn là phải! Có khuyến khích được nhiều người bảo tồn những món đó mới xứng đáng là cơ quan độc nhất của phụ nữ, mới xứng đáng là hướng đạo cho quốc dân, mới xứng đáng là hướng tiền phong trong đội quân tiến thủ (!) Nhưng có điều đáng tiếc là những cái quốc túy mà mấy tờ báo chí đang hô hào bảo tồn đó mới là những cái, những món quốc túy về đời trung cổ mà thôi – tục ngôi thứ trong đình, mới đặt ra từ đđđđdời Trần Thủ Ðộ, món cặn bã của đạo Chu Khổng, cũng mới tải vào từ khi Sĩ Nhiếp làm thứ sử, còn cái lý thuyết nam ngoại, nữ nội tuy không biết xuất hiện từ đời nào, nhưng “cổ” lắm đi nữa chẳng qua cũng mới từ khi đời Sĩ Nhiếp là cùng, vì nó cũng là một thứ “hàng Tàu” nhập cảng

- Ðã bảo tồn thì bảo tồn hẳn những món quốc túy thượng cổ kia có được không? Tội gì mà bảo tồn những món quốc túy trung cổ ấy? Xét trong quốc sử, cái tục “vẽ mình” là cái văn minh rất cổ của dân tộc An Nam, vì nó xuất hiện từ đời vua Hùng kia. Ðời đó dân tộc ta còn sống về nghề mò tôm bắt cá, nhiều người xuống nước bị thuồng luồng ăn thịt, các cụ ta mới phát minh ra kiểu vẽ mình đó, nghĩa là đẻ con ra thì dùng chàm mà vẽ vào mình nó những con rồng, con rắn, con ba ba v.v… để cho nó lúc lớn lên khi nào xuống nước, các giống dưới nước sợ mà phải tránh. Tục đó còn truyền mãi đến đời vua Anh Tôn nhà Trần mới bỏ. Món quốc túy ấy cổ biết chừng nào! Có lẽ không cái gì là cổ hơn nữa. Nếu món ấy mà bảo tồn được thì dân tộc An Nam mới xứng đáng là dân tộc An Nam. Vậy tôi xin thay mặt các nhà bảo tồn quốc túy mà hô lớn lên rằng:

“Hỡi đồng bào Việt Nam! Chúng ta nên vẽ mình cho con cái chúng ta”.

Bài Phim Trong Ngày thứ hai của Ký giả Ngô Tất Tố.

KHÔNG NÊN QUÊN MỘT BỌN VĂN SĨ

Trong một tuần lễ trước đây, Hội Đồng Phòng Bệnh Hoa Liễu có họp một kỳ hội nghị bàn việc dự định thể lệ cho nghề mãi dâm. Những thể lệ ấy đã khởi thảo rồi, ở báo hàng ngày đã có đăng rõ, mục đích của nó không gì khác hơn là chỉnh đốn cho nghiêm cái nghề “bán dâm” để bài trừ những bệnh hoa liễu.

Một việc rất nên làm và rất hợp thời. Hiện nay bệnh hoa liễu mỗi ngày một bành trướng lạ thường, nếu không tìm được cách gì ngăn ngừa thì một ngày kia, không khéo khắp trong dân tộc An Nam sẽ khó mà kiếm một người không mắc cái bệnh khốn nạn ấy. Ðiều nên nói là trong bản thể lệ ấy, Hội Đồng Phòng Bệnh Hoa Liễu mới nhìn bệnh hoa liễu bằng cái nguyên nhân thứ hai, còn bỏ sót cái nguyên nhân thứ nhất của nó. Bệnh hoa liễu cũng như một vài bệnh khác, ngoài cái nguyên nhân thứ hai là nạn mãi dâm còn có nguyên nhân thứ nhất gây ra mầm bệnh mà không phải là loại vi trùng.

Nếu không trừ được nguyên nhân thứ nhất của bệnh, không thể cấm bệnh không được lan ra. Nguyên nhân thứ nhất là gì? Các ngài sẽ đổ cho sự gay go trong cuộc sinh hoạt. Cố nhiên, với sự bành trướng đáng ghê như bệnh hoa liễu, hiện tượng sinh hoạt vẫn phải chịu một phần trách nhiệm. Nhưng một phần thôi, còn một phần khác, là trách nhiệm của bọn văn sĩ. Tôi muốn nói mấy ông văn sĩ thiếu lương tâm, quen dùng văn chương khiêu dâm để quyến rũ bạn đọc phụ nữ.

 Nói cho phải, văn chương của ta hồi này cũng có tiến bộ hơn trước, nhất là nghề viết tiểu thuyết. Nhưng trong khi tiến bộ về phương diện nghệ thuật, đồng thời nó cũng tiến bộ luôn về phương diện khiêu dâm. Hãy giở những cuốn tiểu thuyết tình xuất bản gần đây mà coi, các ngài sẽ thấy lời nói ấy không sai sự thực. Tác giả những áng văn chương ấy vẫn là nhà văn có tài, cái tài cổ động chủ nghĩa khoái lạc về nhục dục mà người ta gọi tránh đi là “vui vẻ trẻ trung”.

 Họ phá hủy nền liêm sỉ của trai gái bằng những ngòi bút mạnh bạo. Họ mô tả trần truồng cái chân tướng ái tình bằng giọng văn hay hớm và lả lơi. Họ làm được cảnh tượng của dục tính ở mặt giấy cũng hoạt động như ở màn ảnh. Ðừng nói những hạng trai trẻ, giả sử các cụ sáu bảy mươi tuổi nghe văn của họ có khi cũng thấy dậm dựt trong mình. Nhờ vậy, họ đã đi được tới đích, hầu hết phụ nữ ở thành thị đều đua nhau làm độc giả của họ.

Trong vài năm nay, tâm hồn phụ nữ thành thị đã bị họ cám dỗ…; người ta đã nói bằng giọng của họ, người ta đã nghĩ bằng tư tưởng của họ, rồi người ta muốn làm như những nhân vật trong tiểu thuyết của họ.

Cái ảnh hưởng ấy, nó đưa chị em phụ nữ đến đâu? Bước thứ nhất là đến một cuộc đời lãng mạn. Trong vài năm nay, đối với phụ nữ -nhất là phụ nữ tân thời – liêm sỉ chỉ là tính hèn nhát, dư luận chỉ là lời hủ bại, biết bao nhiêu người đã ngang nhiên đem thân thể thờ thần nhục dục một cách tự do, không e lệ, cũng không hối hận. Tại các thành thị, tiệm nhảy và phòng ngủ mở ra mỗi ngày mỗi nhiều, đó là bằng chứng rất rõ về phong trào lãng mạn của phụ nữ.

Ai nấy chắc đều nhận rằng: từ lãng mạn đến mãi dâm không xa, và từ mãi dâm đến bệnh hoa liễu càng không xa nữa. Ði ngược trở lại, chúng ta có thể nói rằng: bao nhiêu nữ tướng trong việc truyền bệnh hoa liễu đều là tín đồ của chủ nghĩa lãng mạn; mà bao nhiêu nữ tín đồ của chủ nghĩa lãng mạn đều là độc giả của những văn sĩ kia. Vậy thì những người mắc bệnh hoa liễu đều là người đã phải bùa mê của bọn văn sĩ khiêu dâm, chính bọn văn sĩ khiêu dâm đã đưa người ta lên giường bệnh hoa liễu.

Nói vậy không phải quá đáng. Nếu vào nhà thương mà hỏi những chị em bệnh hoa liễu có đọc tiểu thuyết của bọn văn sĩ kia không, quyết rằng trong số trăm người đều trả lời rằng có. Ðối với pháp luật, văn chương khiêu dâm vẫn thuộc về tội đáng trừng phạt. Nhưng cái điều kiện của pháp luật về những khoản đó hình như không rõ ràng, cho nên bọn văn sĩ khiêu dâm vẫn có đường trốn. Họ trốn ra đường nghệ thuật. Họ viện vào thuyết “nghệ thuật” để bênh vực cho nghề nghiệp của họ. Nếu những tác phẩm của họ cứ được tự do đầu độc phụ nữ thì nghề mãi dâm còn thịnh hành và bệnh hoa liễu còn bành trướng.

CTHĐ: “Bọn văn sĩ “bị ông Ngô Tất Tố kết tôi viết tiểu thuyết khiêu dâm ở đây là những ông văn sĩ Tự Lực Văn Đoàn.

Theo tôi, ông Ngô Tất Tố kết tội những ông Văn sĩ Tự Lực Văn Đoàn trong bài trên đây không phải là “quá đáng” mà là “sai.” Những người Việt Nam bị bệnh phong tình, hay làm gái mãi dâm,  không phải vì đọc những tiểu thuyết tình Hồn Bướm Mơ Tiên, Nửa Chừng Xuân, Gánh Hàng Hoa. Không văn sĩ nào trong Tự Lực Văn Đoàn viết tiểu thuyết khiêu dâm.

Nhà Văn Vũ Bằng gọi ông Ngô Tất Tố là ông Đồ Tố. Ông Đồ Tố suốt đời bận áo ta, khăn xếp, đi guốc, cả đời không mặc sơ-mi, quần tây, cả đời không dùng khăn mùi-xoa. Vũ Bằng viết riễu:

“Nhà nước dựng những cột đèn điện bên đường để ông Đồ Tố hỉ mũi, lấy tay chùi mũi rồi chùi ngón tay vào thân cột đèn.”

Ông Vũ Bằng kể:

“Tôi dậy ông Đồ Tố tiếng Tây: “Lơ đinh đông – le dindon – là cái đỉnh đồng, Lơ rơ-sơ-vơ – Le receveur – là người sợ vợ – Băm-bu hít ra lô – Bambou hít ra l’eau là cây mía. Có người nói cho ông biết ông bị tôi lừa, ông chửi tôi:

“Đồ vô lại.”

Trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài kể vì sợ bị đưa ra đấu tố, ông Ngô Tất Tố khóc, mũi rãi sộc sệch. Tô Hoài kể ông NT Tố than:

“Làm người khó quá.”

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 152 other followers