• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

KHÔNG CÓ MÙA XUÂN

Nữ diễn viên Chương Tử Di và thuốc lá.

Nữ diễn viên Chương Tử Di và thuốc lá.

Bánh xe tị nạn khấp khểnh và muộn màng đưa vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa Tháng 12 năm 1994. Tới Tháng 12 năm nay – năm 2016 – vợ chồng tôi đã sống ở Kỳ Hoa 22 năm.

Đã 22 mùa thu lá phong bay qua đời chúng tôi, 22 mùa Virginia tuyết trắng, hôm nay nhớ lại, tôi thấy việc vợ chồng tôi đến Mỹ như mới diễn ra hôm qua.

Những ngày như lá, tháng như mây. Thơ Thanh Nam. Ngày như những cánh lá rơi, tháng như những làn mây bay ngang cuộc đời.

Với tôi, lời thơ Thanh Nam diễn tả thời gian hay tuyệt.

Trong những ngày gần Tết một năm cách những ngày gần Tết hôm nay hai năm, vợ tôi ngã, nằm liệt. Còn may là lần này vợ tôi bị ngã trong nhà chúng tôi. Ngã mà nàng chỉ bị rạn xương, vết rạn không chênh nhau. Đây không phải là lần thứ nhất vợ tôi bị ngã. Nhưng lần này vơ tôi yếu sức, ngã rồi nằm liệt. Nhiều ông bà bạn đến nhà thăm. Có thể các ông bà nghi rằng vợ tôi sắp ra đi, các ông bà đến gập vợ tôi lần cuối.

o O o

Có những  ông bạn hỏi tôi:

– Anh không phải là sĩ quan, không phải là công chức, vì sao anh được sang đây với tư cách là người tị nạn chính trị?

CTHĐ: Câu hỏi thường ngắn thôi, nhưng câu trả lời nhiều khi dài.

Chương Trình ODP của chính phủ Hoa Kỳ chỉ đưa sang Mỹ những sĩ quan Quân Đội Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, những công chức – từ cấp Trưởng Ty  – bị Cộng Sản Bắc Việt bắt đi tù. Thời hạn tù từ ba năm trở lên. Tôi – CTHĐ – không phải là sĩ quan, không phải là công chức, tôi được sang Mỹ vì:

Theo sắp xếp của ông Alan Carter, ông Giám Đốc USIS Saigon, tôi và một số ông Việt nhân viên USIS phải lo giúp những nhân viên USIS sang Mỹ. Ông Alan Carter bay đi khỏi Sài Gòn, từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, trong ngày 29 Tháng Tư, 1975. Nhân viên Việt USIS mới được đưa đi sang Mỹ từ ngày 25 Tháng Tư, 1975. Số nhân viên USIS đi thoát khoàng 1/3.

Anh Ung Văn Luông, chức vụ Trưởng Ban Nhân Viên USIS, cũng bị kẹt lại. Anh và gia đình anh đi thoát bằng thuyền trong Ngày 30 Tháng Tư 1975. Sang Mỹ, anh vào làm việc trong USIA – United States Information Agency – Không quên anh em, anh Luông nhắc những ông Mỹ trong USIA về trường hợp nhân viên USIS bị kẹt. Những ông Mỹ USIA nhờ những ông dân biểu Mỹ, những ông thượng nghị sĩ Mỹ, đưa tình trạng nhân viên Việt USIS Saigon ra thảo luận ở Quốc Hội. Cứu xét để cho sang Mỹ sống. Quốc Hội Hoa Kỳ làm những điều luật cho nhân viên USIS Saigon được chính phủ Mỹ cho sang Mỹ nhưng không được hưởng trợ cấp như những ông sĩ quan Việt đi HO. Nhân Viên USIS Saigon sang Mỹ như những người di dân thường, không phải với tư cách “tỵ nạn chính trị.”

Trong 20 năm tôi sống ở Sài Gòn, 2 lần tù tội, tôi không một lần mơ chuyện tôi sang Mỹ. Năm 1990, sau lần đi tù lần thứ hai – 6 năm – trở về, tôi được những ông bạn USIS chạy thoát sang Mỹ, trong số có anh Ung Văn Luông, liên lạc về cho biết tôi và vợ con tôi được USIA xin với Quốc Hội Hoa Kỳ cho sang sống ở Mỹ. Năm 1992 tôi bắt đầu làm hồ sơ xin đi. Cuộc Ra Đi của gia đình tôi không chật vật hay vất vả, khó khăn gì nhiều. Tháng 12 năm 1994 vợ chồng tôi đượa con chim sắt United Airlines đưa qua biển Thái Bình.

Khi ngồi trong phi cảng San Francisco đèn sáng trưng, không còn biết chắc đó là đêm hay ngày, tôi nhớ những đọan truyện tiểu thuyết Mỹ tôi phóng tác, trong số có những trang tả cảnh trong phi trường nước Mỹ, tôi nhớ một lời tôi đọc trong Kinh Thánh.

Lời Kinh tôi viết ở đây theo trí nhớ nên không đúng từng tiếng:

“Lúc này anh tưởng tượng ra cảnh Thiên Đường, cảnh đó mờ ảo thôi. Cho đến khi anh ở trong Thiên  Đường, anh mới thực biết cảnh Thiên Đường.”

Tôi từng đọc về cảnh sắc nước Mỹ, tôi từng thấy cảnh những phi cảng Mỹ trên màn ảnh xi-nê. Những lúc đó tôi là người đứng ngoài nhìn vào nước Mỹ, nay tôi đang ở trong nước Mỹ.

o O o

virginia

Chuyện cũ đã xưa đến 40 mùa lá rụng, tôi đã kể nhiều lần, quí vị đã đọc nhiều lần. Xin ngừng, tôi viết về cuộc sống của tôi hôm nay.

Tôi viết về tôi, nhưng cũng là viết về một số người Việt Nam sang nước Mỹ như tôi.

Khoảng 5 giờ chiều trong Văn Phòng ODP Sài Gòn, vợ chồng tôi và ba con chúng tôi nghe phán quyết của một ông nhân viên ODP. Ông này tất nhiên là một ông người ngoại quốc. Hồ sơ của gia đình tôi mở trên bàn trước mặt ông. Ông nói:

– Hai ông bà này sẽ sang Hoa Kỳ – Ông đọc tên vợ chồng tôi – Ông bà sẽ được hưởng quy chế tị nạn chính trị. Những người kia không được xét đến.

Như lời tuyên án, nói xong ông nhân viên ODP gập ngay hồ sơ, đi ngay ra khỏi phòng.

Như vậy là chỉ có vợ chồng tôi được sang Mỹ, ba con tôi không được đi theo chúng tôi.

Vợ tôi thở ra một hơi thở nhẹ.

Ba mươi năm qua đi, hôm nay viết lại chuyện xưa, tôi lại nghe thấy tiếng thở dài của vợ tôi buổi trưa đầu năm 1994.

Ông bà Anh Ngọc, sang Mỹ năm 1993, bà là nhân viên Đài VOA, gửi thư về cho chúng tôi. Trong thư có tấm ảnh ông bà ngồi trên thảm cỏ xanh trong một công viên ở Virginia.. Thảm cỏ xanh đầy những lá vàng. Lúc đó chúng tôi đang làm hồ sơ để sang Mỹ, chúng tôi chưa biết nên đến nơi nào ở Mỹ.

Vợ chồng tôi trầm trồ:

– Lá vàng đẹp quá. Chúng mình đến Virginia.

Và chúng tôi đến Virginia is for Lovers – Virginia của những Người Yêu – Người làm sponsor cho chúng tôi đến Virginia là bà Khúc Minh Thơ, năm đó bà là Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị – vợ chồng tôi và các con tôi được bà giúp rất nhiều.

o O o

Đến Mỹ, vợ chồng tôi hưởng ngay tiền SSI. Khoản tiền chúng tôi có một tháng là 1200 Mỹ Kim. Tiền nhà chúng tôi phải trả một tháng là 320 Mỹ Kim: một phần ba tiền SSI của chúng tôi. Căn phòng chúng tôi được cấp giá thuê khoảng 1.000 MK. Vì là Người Già Thu Nhập Thấp – Old Seniors Low Income – chúng tôi chỉ phải trả 320 đô, số sai biệt Sở Xã Hội Quận Fairfax trả. Chúng tôi được cấp Thẻ Medicaid, Medicare. Đau bệnh, chúng tôi được điều trị trong những bệnh viện Mỹ, mọi khoản chi về y tế của chúng tôi đều do Sở Xã Hội trả.

Kể qua vậy thôi. Những con số trong bài viết này không được chính xác lắm. Chuyện tôi muốn kể hôm nay là chuyện: Một ngày trong đời một lão niên người Việt sống ở Kỳ Hoa.

o O o

Giấy bạc này dự định phát hành Tết Ất Mùi, nhưng được hoãn ngày phát hành đến Tết Nguyên Đán 2017.

Giấy bạc này dự định phát hành Tết Ất Mùi, nhưng được hoãn ngày phát hành đến Tết Nguyên Đán 2017.

Hai mươi năm Sống và Viết ở Sài Gòn, tôi muốn được ngồi Viết trước một khung cửa sổ nhìn ra một khoảng trời xanh, một hàng cây có lá xanh mùa xuân, lá vàng mùa thu. Ước mơ ấy của tôi ít khi được toại.

Nay phòng tôi có cửa sổ lớn mở ra hướng đông nam. Đêm, trăng soi vào trước giường tôi, sáng nắng vàng vào đến tận bếp. Người già thường ngủ sớm, dậy sớm. Tôi ngủ khoảng 11 giờ đêm, dậy lúc 5 giờ sáng. Tôi vẫn có thói quen đọc sách. Tuổi Tám Mươi đến, đêm tôi không còn đọc sách được lâu nữa. Đọc hai, ba trang là tôi mỏi mắt. Tôi ngủ thiếp đi, Có những sáng tôi thức giấc lúc 4 giờ. Ngồi trước TiVi, tôi nhâm nhi ly cà phê. Tôi ắn sáng bằng 1 quả chuối tiêu, hai miếng phô mai, 1 hũ yaourt. Sáng nào cũng như thế. Vợ tôi thường dậy muộn hơn tôi. Tôi sọan sẵn  cà phê cho vợ tôi, chờ nàng dậy là tôi pha nước sôi.

Sang Mỹ năm 1975, nhờ bà Khúc Minh Thơ, năm 2003 vợ chồng tôi mang được hai con chúng tôi sang Mỹ. Các con tôi vì job – công việc làm – ở xa chúng tôi. Nên nhiều ngày  tôi cảm thấy  chúng tôi cô đơn.

Vợ chồng tôi gập nhau ở Vũng Tầu Mùa Thu 1954. Chúng tôi yêu nhau Ngày Đất Nước chúng tôi bị chia đôi – Tháng Bẩy 1954 –  Mới đây tôi nói:

– Chúng mình yêu nhau đã sáu mươi năm.

Vợ tôi sửa:

– Sáu mươi hai năm.

Hình ảnh Nàng năm nàng hai mươi hai tuổi thường trở lại với tôi, trở lại thấp thoáng khi tôi nhìn nàng là bà già tám mươi tuổi. Tôi thương nàng. Thời gian tàn phá nhan sắc con người. Tôi kinh sợ có ngày tôi đứng bên giường nàng, chờ nàng trở dậy…

Mười năm đầu khi chúng tôi là vợ chồng, chúng tôi ngủ chung giường. Khi chúng tôi có con, chúng tôi bắt đầu xa nhau. Rồi tôi nghiện thuốc lá. Tôi nghiện nặng, mỗi ngày tôi hút 50 điếu thuốc lá. Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, mỗi ngày tôi hút 50 điếu. Tôi hút thuốc Lá Mỹ: Lucky Strike, Pall Mall, Philip Morris. Toàn thuốc loại King Size: điếu thuốc dài hơn loại điếu thường. Tôi bắt đầu hút thuốc lá Mỹ khoảng năm 1960.

Những năm 1960 một bao thuốc Mỹ giá 30 đồng Việt Nam. Những năm 1970 cũng bao thuốc lá Mỹ ấy giá 400 đồng. Tiền thuốc lá của tôi nhiều hơn tiền gạo của vợ chồng tôi và ba con chúng tôi.

Sau Tháng Tư 1975, tôi hút thuốc lá Vĩnh Hảo, rồi hút thuốc Gò Vấp. Thuốc lá Việt Nam ít chất nicotine, chỉ có khói và chất keo nhựa đen. Những ngày trong tù gần như từ 6 giờ sáng đến 10 giờ tối, không lúc nào không có điếu thuốc lá trên môi tôi. Tôi hít quá nhiều khói vào phổi, cổ hòng tôi bị khói làm khô queo. Tôi ho. Những cơn ho kéo dài làm cho những người bạn tù của tôi mất ngủ khi tôi ở trong tù, làm người nhà bên cạnh trong cư xá tôi khó chịu khi tôi sống ở cư xá Tự Do, cư xá ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền. Nhà tôi là một nhà nhò trong dẫy nhà liền mái. Vì nhà liền mái, tiếng người nói trong nhà này, chỉ cần hơi lớn, là người nhà bên bị nghe tiếng.

Năm 1993 tôi than với Mục sư Đinh Thiên Tứ:

– Tôi muốn bỏ hút thuốc lá mà tôi không bỏ được.

Mục sư bảo tôi:

– Ông xin Chúa cho ông bỏ hút là ông bỏ được.

Một buổi sáng năm 1993, ngồi hút điếu thuốc thứ nhất trong ngày trước ly cà phê, tôi xin:

Xin Chúa cho con bỏ thuốc lá.

Tôi buông điếu thuốc xuống…

Và tôi bỏ được thuốc lá ngay lức đó.

Với tôi việc tôi bỏ hút thuốc lá khó hơn là việc Liên Xô tan rã. Vợ tôi không một lần ngỏ ý mong tôi bỏ thuốc lá, nàng chỉ muốn tôi hút ít đi.

Trước ngày tôi bị bắt lần thứ hai năm 1984, vợ tôi lo vàng cho tôi vượt biên. Nàng thủ thỉ:

– Em biết anh không thể sống thiếu người đàn bà. Sang được bên ấy, anh thương ai, anh thấy ai thương anh, anh cứ lấy người ta. Em chỉ mong anh chịu khó làm việc, để dành tiền, gửi về cho em nuôi con.

Tôi chưa kịp đi thì bọn Công An Thành Hồ nửa đêm đến nhà tôi, còng tay tôi đưa tôi đi, cho tôi nằm phơi rốn trong tù 6 niên.

Thì đi vượt biên, đi tù hay đi sang Mỹ cũng là Đi.

Trong 40 năm, từ năm 1954 đến năm 1994 – vợ chồng tôi cùng ở Sài Gòn mà phải xa nhau 8 năm.

Tôi bị tù hai lần. Lần tù thứ nhất 2 năm, lần tứ thứ hai 6 năm.

o O o

Mỗi năm khi Tết Nguyên Đán đến tôi viết một, hai bài gọi là bài Xuân, bài Tết để đăng báo Xuân, báo Tết.

Sang Mỹ tôi vẫn giữ cái lệ ấy.

Nhưng năm nay, năm 2017 đến – trong những ngày Tết Nguyên Đán đang tới, tôi không viết được bài Xuân nào.

Tôi đi vào cảnh được gọi là “ Lão lai Tài tận.” Tài đây là tài năng, mà cũng là tài tiền.

Tết năm 1976 tôi làm bài Thơ thứ nhất sau 20 năm tôi không làmhơ.

Căn Nhà Không Có Mùa Xuân

Ngày xưa tôi đọc Thơ người lạ
Bài Thơ sầu muộn một Tình buồn.
Tôi nhớ ý Thơ, không nhớ cả
Bài Thơ tôi đọc một mùa xuân.

Mùa xuân xưa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương biết nợ nần.
Đời chỉ có Hoa và Mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Tôi đã buồn vương, đã cảm thương
Bài Thơ sầu mộng ý như sương.
Người yêu một tối rời nhân thế,
Thi sĩ đau mê chuyện đá vàng.

Đóng cửa nhà xưa, che gió nắng,
Đàn xưa để mặc nhện tơ dăng.
Năm mòn, tháng mỏi, thời gian vắng
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Ở giữa căn nhà u tịch ấy
Đời sống buồn trôi với tối tăm.
Cho đến một chiều nghe pháo nổ
Người sống bừng cơn mộng cuối năm.

Tay gầy vén bức màn cô quạnh
Nhìn ra thiên hạ đón xuân sang.
Chơt biết từ đêm Tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân.

Cửa đóng, màn che vội mở tung
Bình hoa cắm vội một đôi bông.
Rồi rượu mừng Xuân, rồi pháo đỏ
Sắp sẵn lòng vui để đợi mong.

Nhưng chờ đợi mãi Xuân không đến
Nhà vẫn buồn tênh, vẫn tối tăm.
Mới biết từ khi Tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa Xuân.

Từ đấy hoa tàn và khói lạnh,
Bóng tối trùm lên lưới nhận dăng.
Vĩnh viễn mùa Xuân không trở lại
Trong căn nhà không có mùa Xuân.

Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần.
Một tối rùng mình tôi cũng thấy:
Sao nhà mình không có mùa Xuân?

Sao nhà tôi không có mùa Xuân?
Bạn ơi, người bạn mới qua đường.
Xin dừng chân lại cho tôi hỏi:
– Sao nhà tôi không có mùa Xuân?

Tài và Tuổi

Tòa báo Saigonmoi bị đốt phá sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bắn chết.

Tòa báo Saigonmoi bị đốt phá sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bắn chết.

Những ngày như lá, tháng như mây..” Thơ Thanh Nam. Mới đó mà thời gian đã 40 mùa thu lá bay  qua cuộc đời tôi.

Mới đó là buổi sáng, hay buổi chiều, tôi không nhớ rõ, ngồi bên tủ thuốc lá của Lê Xuyên, tôi nghe Lê Xuyên nói:

“Bây giờ tôi biết thế nào là thiên mệnh.”

Tôi không hỏi, Lê Xuyên không nói thêm. Thời gian qua dễ đến 40 năm, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn thắc mắc không biết Lê Xuyên muốn nói gì với tiếng “thiên mệnh.” Không lẽ cái “thiên mệnh” anh nói đó là việc Quốc Gia Việt Nam Công Hòa bị tiêu vong, là việc cờ máu và ảnh Lão Hồ Chí Minh vào thành phố Sài Gòn, hay đó là việc anh phải ngừng viết tiểu thuyết, ngừng viết mãi mãi, ngừng viết suốt những năm tháng anh còn sống kể từ 12 giờ trưa Ngày 30 Tháng Tư 1975, hay anh muốn nói “thiên mệnh” là việc anh ngồi bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè từ năm, sáu giờ sáng  đến tám, chín giờ tối.

Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, có thể nói “tất cả” giới văn nghệ sĩ Sài Gòn sống lơ bơ, lờ phờ. Không một người nào có việc làm, không người nào kiếm ra được một đồng bạc. Trong những ngày tháng chúng tôi sống dở, chết dở ấy, tôi biết có ba người bắt tay ngay vào việc kiếm sống. Đó là các anh Tường Tuấn, Trần Phong Giao và Lê Xuyên. Tường Tuấn bán cà phê ngay trước cửa nhà anh. Vì quá thừa thì giờ, anh bán cà phê cho đỡ buồn, không phải để kiếm sống. Có thể nói tiệm cà phê Tường Tuấn là tiệm cà phe nghèo nhất thế giới. Tôi phải viết rõ: vì quá buồn, vì không có việc gì để làm, vì ngày quá dài, đêm quá sâu, nhiều người Sài Gòn ra vỉa hè bầy bán thứ gì đó cho qua ngày, không phải để kiếm sống.

Rạp xi-nê Ciro’s ở Hà Nội, ảnh năm 1960.

Rạp xi-nê Ciro’s ở Hà Nội, ảnh năm 1960.

Vào khoảng năm 1980 Sài Gòn có rất nhiều quán cà phê vỉa hè. Toàn là quán lộ thiên. Hai, ba cái bàn, vài cái ghế đóng bằng loại gỗ thùng. Cà phe Tường Tuấn ở đường Trương Minh Ký, khoảng trước Nhà Thờ Ba Chuông. Sáng sáng có một bà mang cà phe đi giao cho những tiệm cà phe vỉa hè trên con đường này. Bà giao cho mỗi tiệm một bao nylon một lạng cà phe. Giao hàng mà không lấy tiền ngay. Bà đi suốt sáng từ đầu đường đến cuối đường, rồi đi trở lại. Bà đi qua hỏi xem có tiệm nào cần lấy thêm cà phe; và bà thu tiền. Năm 1980 một ly cà phê đen vỉa hè Sài Gòn giá 1 đồng.

Tường Tuấn là ký giả nhật báo Xây Dựng, chủ nhiệm Linh Mục Nguyễn Quang Lãm. Trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, anh không ngồi quán cà phe đấu hót cả buổi, không sống bừa bãi như nhiều ký giả thời ấy.

Có nhiều tháng Trần Phong Giao, nhà ở Tân Định, gần mấy vựa củi, sáng chở ba, bốn bó củi trên xe đạp, mỗi bó một đồng, đi giao cho những chỗ bán chuối nướng trên đường Phạm Ngũ Lão, khoảng trước tòa soạn báo Văn. Bó củi một đồng mà những chị bán chuối nướng vỉa hè cũng không có tiền trả ngay, gần trưa Trần Phong Giao phải trở lại lấy tiền.

Lê Xuyên là văn nghệ sĩ xuống đường kiếm sống trước nhất. Những tháng đầu sau 30 Tháng Tư 1975, từ 4 giờ sáng anh đến lò bánh lấy bánh đem giao cho những xe bánh ở Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Tư Bẩy Hiến. Buổi chiều anh đạp xe đi thu tiền. Nhà tôi ở vùng này. Gập anh trên đường, tôi mời anh chiều hôm sau đến nhà tôi, ăn cơm với vợ chồng tôi.

Lê Xuyên đến. Xe anh có cái cần xế đựng bánh. Tôi thấy trong cần xế có cái bơm xe đẹp, loại bơm cỡ lớn thường thấy ở những góc sửa xe đạp lề đường. Lê Xuyên nói ruột xe của anh bị mọt, sì hơi, đi khoảng một tiếng là lốp xep, phải bơm lại. Anh không thể mượn bơm của những người sửa xe vệ đường. Mượn bơm phải trả chủ bơm 1 đồng. Giao bánh mỗi ngày anh kiếm được khoảng 10 đồng. Một ruột bánh xe máy  năm đó giá 100 đồng, Anh không có tiền mua ruột bánh xe mới.

Rồi Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ ờ vỉa hè. Anh ngồi với tủ thuốc lá dưới mái tôn một tiệm hủ tiếu. Anh nói:

— Phụ nữ không thể ngồi bán thuốc lá như tôi. Ông coi.. Trời nắng, hơi nóng từ mái tôn dội xuống, từ mặt đường bốc lên. Tàn phai nhan sắc kinh khủng lắm.

Lê Xuyên bán thuốc lá vỉa hè mãi đến khi anh không ngồi được nữa. Bị bại liệt, anh nằm nhà và anh im lặng qua đời.

Hôm nay 40 năm sau ngày nghe Lê Xuyên nói anh “tri thiên mệnh,” tôi kể chuyên anh để nói trong đời tôi, tôi đã không “tri thiên mệnh.” Cho đến những ngày cuối đời tôi, tôi không biết thế nào là “thiên mệnh.”

o O o

Năm nay – 2016 – tôi 84 tuổi. Những ngày sống của tôi không còn bao lâu. Đã hơn một lần, trong những bài Viết ở Rừng Phong, tôi gửi lời chào vĩnh biêt bạn đọc. Tối nay, tôi chào vĩnh biệt quí vị lần nữa; tôi cám ơn quí vị đã đọc những gì tôi viết từ bao năm nay.

Tôi là người viết nhiều về tôi, về vợ con tôi, về những mối tình của tôi. Ngạn ngữ Pháp có câu “Le Moi est haisable.” Cái Tôi là cái đáng ghét. Theo câu nói này “người nào nói nhiều về minh là người đáng ghét.” Tôi viết nhiều về Tôi nhưng tôi thấy tôi không bị người đọc ghét. Không có người đọc nào chê trách tôi đã viết nhiều về Tôi. Trong hai mươi năm sống và viết ở Kỳ Hoa, – vợ chồng tôi đến Mỹ đầu năm 1995 –  nhiều ông bạn già đọc những bài Viết ở Rừng Phong của tôi. Có những ông nói với tôi:

— Cám ơn ông. Ông đã nói lên những gì chúng tôi muốn nói.

— Đọc anh để nhớ, để thương Sài Gòn.

— Đọc anh để biết về cuộc sống dưới ách cộng sản của những văn nghệ sĩ.

Văn Quang, hiện sống ở Sài Gòn, gửi I-Meo – Email – cho tôi:

– Mày đã viết thay cho những cặp vợ chồng yêu thương nhau từ trẻ đến già.

o O o

Những năm 1940, 1941 , khi tôi mới mười một, mười hai tuổi, sống ở thành phố Hà Ðông xứ Bắc Kỳ, tỉnh nhỏ nằm ngay sát nách và dưới nách Thủ đô Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường, tôi đã say mê đọc tiểu thuyết. Nhiều năm về sau một bà bạn của mẹ tôi những năm xưa ấy thường đến chơi với mẹ tôi, nói với tôi:

— Ngày ấy tôi đã biết về sau thể nào anh cũng trở thành văn sĩ. Lần nào tôi đến nhà anh cũng thấy anh cầm một trong ba thứ: quyển truyện, cái kèn harmonica, cây súng cao su…

Ngày ấy, nói ngày ấy thì nhẹ thôi, nhưng ngày ấy là năm mươi mùa ổi chín trước kia, hoặc ngày ấy là nưả thế kỷ về trước, nửa thế kỷ trần ai, khoai sùng đã trôi vào cái gọi văn huê là dĩ vãng, ngày ấy không những tôi chỉ mê đọc truyện mà thôi — nhiều chú nhóc bằng tuổi tôi cũng say mê đọc truyện như tôi nếu không muốn nói là say mê hơn tôi nhiều — tôi mê đọc truyện và tôi còn mơ đến việc mai sau tôi cũng sẽ viết tiểu thuyết như các ông Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng.

Ngay từ ngày đó không biết vì sao tôi đã không thích viết theo lối văn chương sạch, đẹp, nhưng không có thật, những truyện không có những sự kiện phũ phàng, không có những đối thoại trần tục của người thường, tôi không thích tạo dựng những nhân vật lý tưởng, lúc nào cũng cư xử đường hoàng, đứng đắn, không “ăn tục, nói phét” như những truyện và những nhân vật của các ông Khái Hưng, Nhất Linh.

Tôi ngẩn ngơ trước thế giới thời ấy, thế giới tôi thấy là thần kỳ, tuyệt vời được Nhà Văn Lê Văn Trương diễn tả trong tiểu thuyết Trường Ðời. Ðọc Trường Ðời tôi thán phục Trọng Khang, tôi mê Marie Khánh Ngọc, tôi khinh bỉ Francois Giáp — ba nhân vật chính của tiểu thuyết Trường Ðời.

Ngây ngất trên những trang Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, tôi thấy mơ màng ẩn hiện hình ảnh Vạn Tóc Mai nằm đấu hót bên bàn đèn thuốc phiện, cảnh Ông già Hải Vân xuất ngoại đi làm cách mạng chia tay với anh con Tú Anh trên bãi biển đêm mưa tầm tã, cảnh Tuyết nằm trên nệm bông, trong ánh đèn mờ ảo trên những trang tiểu thuyết Giông Tố. Tuyết nằm khỏa thân, làn “âm mao” mơn mởn…

Kể từ ngày ta có chữ Quốc ngữ đến nay tôi thấy mới chỉ có một mình Văn sĩ Vũ Trọng Phụng tả người thiếu nữ nằm trần truồng chờ đợi tình yêu và tả làn “âm mao” của nàng. Dường như từ khởi thủy Việt Nam ta có tiểu thuyết đến nay ông Vũ Trọng Phụng là người viết tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất đưa hai tiếng “âm mao” vào tiểu thuyết. Ông ngang nhiên viết “âm mao” lên giấy trắng, mực đen, in thành tiểu thuyết cho đồng bào ông đọc.

Cứ rộng rãi cho là cả trăm năm sau ngày ông Vũ Trọng Phụng hạ ngọn bút thần kỳ diễn tả nữ nhân vật Tuyết Giông Tố, những người viết sau ông, tức những ông dzăng sĩ, tiểu thuyết gia kiêm tiểu thuyết dzô lớn nhỏ, kể cả những ông viết hung hãn, liều mạng, ba đá, hăng tiết vịt nhất.. cũng chưa có ông nào dám diễn tả cái gọi là “âm mao” như ông trong những cái gọi là tác phẩm tiểu thuyết.

Hơn một nửa thế kỷ đã qua, tôi và những người từng đọc Vũ Trọng Phụng vẫn nhớ, và vẫn đôi khi nhớ, nói, những câu trong Giông Tố và Số Ðỏ như:

— Nàng không yêu ta, ta phải hiếp nàng..

— Ông lại hiếp cho một cái nữa bây giờ…

— Táo Tầu Nghị Hách…

— Thế này thì còn làm ăn cái mẹ gì được nữa..

— Mịch đã nằm nghiêng cho Long hưởng thụ ái tình.

— Biết rồi… Khổ lắm… Nói mãi…

Ngày xưa ấy tuổi đời mới Một Bó lẻ mấy que nào tôi đã biết gì về những “lý thuyết dzăng nghệ, dzăng gừng”. Nhưng tôi đã lờ mờ thấy việc viết tiểu thuyết là một việc làm hết sức hấp dẫn, người viết tiểu thuyết là một Ðấng Tạo Hoá Toàn Năng trong tác phẩm của mình, người viết sáng tạo ra một thế giới riêng của mình trên những trang truyện. Trong thế giới riêng ấy người viết tạo ra những nhân vật riêng, cho họ là người có nhân cách, được yêu thương hay là người hèn mạt, đểu giả, bị khinh bỉ. Tất cả đều do ý muốn của người viết. Người viết cũng cho, cũng bắt nhân vật sống, chết, yêu thương, thù ghét, sung sướng, đau khổ theo ý mình.

Thời ấy, năm mươi mùa lá rụng trước đây, những buổi chiều mùa đông trời đất sám sịt, nằm một mình trên căn gác vắng trong căn nhà của gia đình tôi trong tỉnh lỵ Hà Ðông, tôi thường rờn rợn sợ vì nhà vắng quá, vì chưa tối mà nhà đã lờ mờ tranh tối, tranh sáng. Những chiều xưa ấy tôi đã mơ màng mai sau tôi cũng sẽ viết tiểu thuyết như các ông Lê văn Trương, Vũ Trọng Phụng. Tôi mơ ước tôi sẽ sáng tạo được những thế giới của riêng tôi, trong thế giới đó tôi cho những nhân vật của riêng tôi sống chết, yêu thương, thù ghét như ý tôi muốn.

Như vậy là, xin nhắc lại, tôi mơ được viết tiểu thuyết từ những ngày xưa tôi còn bé. Tôi không bao giờ mơ, hay muốn, thích, làm bác sĩ, kỹ sư. Tôi lại càng không ưa làm tri phủ, tri huyện — những ông Phủ, ông Huyện tôi thấy ở Hà Ðông năm xưa ấy đều là những mẫu người chẳng hào hoa, phong nhã chút nào. Cũng cần phải nói thêm tôi vốn dốt nát, lười biếng, ham chơi hơn học, lơ đãng, tôi có muốn làm kỹ sư, bác sĩ cũng chẳng có được. Nhưng quả thực là ngay từ khi mới nứt mắt, tôi đã ước mơ mai sau trưởng thành tôi viết tiểu thuyết.

Một chiều thứ bẩy ông bố tôi không phải đi làm. Ngủ trưa trở dậy ông uống trà Tầu, hút vài điếu thuốc lào, nói vài ba câu với mẹ tôi rồi dắt tôi đi ra cánh đồng gần nhà. Thời ấy thị trấn liền với cánh đồng. Chiều xuân, cảnh sắc cánh đồng của bố con tôi không hẳn như cảnh xuân được tả trong Kiều: “Cỏ non xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” nhưng cũng rất đẹp. Cánh đồng trồng toàn các thứ rau xanh mơn mởn. Ông bố tôi có bà vợ chết chôn ở cánh đồng này. Chiều ấy ông đi thăm mộ.

Trên đường đi, bố tôi hỏi tôi mai sau tôi muốn làm gì? Câu hỏi bất ngờ, tôi không chờ đợi và cũng chưa bao giờ ngờ có ngày tôi sẽ bị hỏi một câu như thế, câu trả lời đã nằm sẵn trong tiềm thức của tôi. Không nghĩ ngợi cũng không chút đắn đo, tôi trả lời ngay boong:

— Mai sau con muốn làm văn sĩ.

Ðang nắm tay tôi bước đi, câu trả lời xanh rờn của tôi làm ông bố tôi phải đứng lại. Ông nhìn tôi rồi ông nói:

— Viết văn, làm thơ không phải là một nghề nuôi nổi mình. Con phải đi học, đi làm như thầy, con phải kiếm được tiền nuôi thân con và vợ con con. Lúc đó con có thể làm thơ, viết văn, nhưng chỉ làm để chơi thôi.

Ông bố tôi nói câu trên vào năm 1940. Năm ấy ông nói đúng. Khi khuyên anh con như thế ông nghĩ đến những ông nhà thơ như Trần Tế Xương, Tản Ðà. Báo chí A-nam trước 1945 chưa thành một kỹ nghệ. Mười năm sau ở Sàigòn — 1950 — tình hình đổi khác.

o O o

Phim Pháp. Chiếu trên màn ảnh rạp Ciro’s, Hà Nội, năm 1950.

Phim Pháp. Chiếu trên màn ảnh rạp Ciro’s, Hà Nội, năm 1950.

Sau bốn năm đi kháng chiến chống Pháp ở vùng Gia Lâm, Thuận Thành, Lang Tài, Từ Sơn, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, tôi trở về Hà Nội.

Tôi đi xem xi-nê ở tất cả những rạp xi-nê mới cũ của Hà Nội: Rạp Majestic mới xây cất lại sau chiến tranh Việt Pháp, rạp mới toanh, hiện đại nhất Ðông Dương, Studio Majestic nằm ngay cạnh rạp chính, Rạp Eden cổ kính với những thân cột đá trang nghiêm giống như những đền thánh Ba Tư trong những phim thần thoại Ngàn Lẻ Một Ðêm, Rạp Studio Eden cũng nhỏ như Studio Majestic — hai rạp Studio này chuyên chiếu những phim Pháp thuộc loại sân khấu chuyển thể thành phim phục vụ Tây Ðầm — Hà Nội có thêm rạp xi-nê Ciro’s mới toanh, rạp Porte d’Or trong Cao Lâu Ðông Hưng Viên cũng mới toanh, rạp Philharmonique ở Bờ Hồ, rạp Trung Quốc Hàng Bạc. Rạp Moderne Hàng Ðàn, Xi-nê Olympia Chợ Hàng Da bị tàn phá vì chiến tranh vừa mới được sửa lại.

Tôi ăn thịt bò khô chú Tầu Bờ Hồ, uống nước chanh đá Quán Mụ Béo, ăn phở Hàm Long. đi bơi Hồ Tây, Rặng Oi, cắp sách trở lại Trường Văn Lang đường Phạm phú Thứ . Và tôi bắt đầu viết truyện.

Không những tôi chỉ viết truyện ngắn mà thôi, tôi còn viết cả truyện dài. Năm ấy — 1950 — tôi chưa được hân hạnh quen biết, cũng chưa có dịp nào mon men đến gần một ông dzăng sĩ, báo sĩ nào của làng văn, làng báo Hà Nội, kể cả những ông dzăng sĩ, báo sĩ hạng bét. Năm ấy tôi chưa dủ sức viết nổi một truyện ngắn. Việc tôi viết truyện dài là chuyện hoang tưởng.

Nhưng tôi cứ cặm cụi viết. Tác phẩm đầu tay của tôi nằm trong hai tập vở học trò, mỗi tập 100 trang, trừ đi 4 trang bià còn 96 trang. Viết một mặt giấy nên cả cái gọi là truyện dài của tôi chưa được đủ 100 trang chữ viết tay.

Tôi đem tác phẩm đầu tay đến nhà xuất bản. ông chủ nhà xuất bản nói:

— Anh để tác phẩm lại đây chúng tôi xem. Sẽ trả lời anh sau…

— Thưa… bao giờ tôi trở lại được?

— Tuần sau.

Một tuần chờ đợi đầy những hy vọng. Biết đâu tác phẩm của tôi lại chẳng được ông chủ nhà xuất bản cho là có thể xuất bản được? Biết đâu đấy! Khi ta chờ đợi, ta thấy thì giờ qua thật lâu. Ðúng một tuần sau tôi trở lại nhà xuất bản. Vẫn cái nhà đó, vẫn ông chủ nhà tôi gập và trao tác phẩm ngày này tuần trước, chỉ có một chuyện cần nói là ông ta không nhớ ông đã gập tôi. Ông nhìn tôi như nhìn một kẻ hoàn toàn xa lạ với ông:

— Thưa ông.. tôi đến xin ông cho biết về quyển truyện của tôi…

Ông théc méc:

— Quyển truyện nào nhỉ?

— Thưa quyển truyện tôi đưa ông tuần trước. Ông nói để ông đọc, ông hẹn tôi hôm nay trở lại.

— À… à..

Ông tìm trong ngăn kéo. Tôi thấy rõ tác phẩm của tôi được ông bỏ vô đấy và ông quên đi.

Ông lấy “tác phẩm” của tôi ra, hai quyển vở, đưa trả lại tôi. Tôi để mất cái gọi là “tác phẩm đầu tay” năm xưa ấy của tôi. Nếu còn, tôi đã đăng lên đây để quí vị độc giả của tôi đọc.

Năm 1951, lần thứ hai tôi đem tiểu thuyết của tôi đi dạm bán. Lần này xẩy ra ở Sài Gòn. Ông thân tôi là công chức. năm 1950  ông được chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn làm việc. Mẹ tôi và anh em tôi vào Sài Gòn theo ông.

Tôi viết cái gọi là “tác phẩm đầu tay” thứ hai của tôi ở Hòa Hưng, Sài Gòn. Cũng vẫn 2 quyển vở học trò. Lần này tôi mang “tác phẩm” tới tòa soạn nhật báo Saigonmoi. Người tiếp tôi là ông chủ bút Nguyễn Dân.

Bổn cũ soạn lại:

— Xin ông xem.. Nếu được, xin đăng báo.

—  Để chúng tôi đọc. Tuần sau anh trở lại.

Ông chủ bút Nguyễn Dân báo Saigonmoi coi bộ còn quên nhiều hơn ông chủ nhà xuất bản ở Hà Nội. Ông ngơ ngác:

— Quyển truyện nào?

Tôi nhắc ông. Ông mở ngăn kéo lấy “tác phẩm” của tôi ra đưa trả tôi:

— Truyện này không hợp với nhà báo chúng tôi.

Ba năm sau – năm 1954 – một hôm Nguyễn Ngọc Tú – tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả The Godfather: Bố Già – bảo tôi:

— Tao gập bà Bút Trà báo Saigonmoi ở Bộ Thông Tin. Bà ấy nói Saigonmoi cần một ri-pọt-te. Mày đến xem.

Lần thứ hai tôi đến tòa soạn nhật báo Saigonmoi. Ông chủ bút Nguyễn Dân đã qua đời. Đây là lần thứ nhất tôi gặp Bà Bút Trà. Tôi tự giới thiệu tôi từng làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng. Bà nhận tôi vào làm trong tòa báo ngay. Hai, ba năm sau, khi đã là nhân viên thân tín của nhà báo, tôi hỏi bà Bút Trà:

— Khi tôi đến xin việc, tại sao bà nhận tôi vào làm ngay mà không cần hỏi gì về khả năng của tôi.

Bà trả lời:

— Khi ấy có mấy anh tới. Tôi có biết tài năng các anh ra sao đâu. Tôi chọn anh là vì tôi thấy anh ăn bận đàng hoàng.

Thì ra tôi được nhận vào làm nhân viên nhật báo Saigonmoi, tờ nhật báo có một thời nhiều người đọc nhất Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa là vì tôi trang phục đàng hoàng, áo sơ-mi dài tay, khuy manchette, đi giầy tây, đầu tóc gọn ghẽ, nói năng lễ độ.

Việc tôi làm nhân viên nhật báo Saigonmoi trong 7 năm liền – từ năm 1957 đến năm 1964 – là một sự kiện quan trọng trong đời tôi. Thời gian 7 năm, từ 1957 đến 1964, là thời gian đẹp nhất trong đời tôi.

o O o

Mùa Thu 2016 đi qua Rừng Phong, những chiếc lá phong cuối cùng rơi rụng. Tôi nghe nói nhiều đền “thiên mệnh,” tôi đọc nhiều về “thiên mệnh,” nhưng tôi không biết gì đáng kể về việc “tri thiên mệnh.”

Dường như Khổng Tử là người tóm tắt thời gian đời người trong câu:

— Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận…

Tôi hiểu: Người ta ba mươi tuổi biết mình làm gì, bốn mươi tuổi không còn nghi ngờ, năm mươi tuổi biết mệnh trời, sáu mươi tuổi nghe chuyện gì cũng được…

Có thể tôi hiểu không đúng ý nghĩa những câu tiếng Hán trên đây.

Vào cuộc đời này Tháng Ba Năm 1933, cầm tinh Con Gà – Quý Dậu – năm nay tôi 84 tuổi. Tôi đã Viết dài dài, đều đều trong 60 năm. Lẽ ra nay  tôi phải ngừng Viết. Tôi thích Viết Truyện từ năm tôi 10 tuổi, tôi Viết năm tôi 18 tuổi, tôi làm ký giả nhà báo năm 1952, tôi thành ký giả nhà nghề năm tôi 30 tuổi. Cùng năm tôi thành người viết truyện phơi-ơ-tông – feuilleton – cho các báo Sài Gòn. Tôi sống được với cái nghề tôi yêu – nghề viết tiểu thuyết – trong suốt cuộc đời tôi. Tôi sống được với nghề, tôi nuôi được vợ con tôi bằng nghề Viết của tôi.

Chuyện 70 năm xưa: một buổi chiều thứ bẩy năm 1941, hay năm 1942, ông bố tôi đi thăm mộ người thân của ông trong cánh đồng cuối tỉnh Hà Đông. Ông thân tôi có cái số gọi là “trung niên táng thê,” ông có hai bà vợ qua đời trước khi ông “rổ rá cạp lại” với bà mẹ tôi. Ông mua một sào ruộng ở cánh đồng làng Đơ để chôn hai bà vợ. Tôi theo ông đi thăm mộ. Đường đến mộ gần thôi, bố con tôi đi bộ. Buổi chiều ấy cuối mùa thu. Cánh đồng khô, trồng toàn rau, trời nắng nhạt, trong và mát. Đang đi, bố tôi hỏi tôi:

— Mai sau con lớn, con muốn làm gì?

Nếu lúc đó tôi trả lời “Con muốn làm kỹ sư…, con muốn làm bác sĩ..,” chắc ông bố tôi vui lắm. Nhưng tôi trả lời  ông:

— Con muốn làm văn sĩ.

Câu trả lời của tôi làm ông bố tôi ngạc nhiên. Bố con tôi nắm tay nhau. Ông đứng lại nhìn tôi, như để xem tôi nói thật đến là chừng nào. Khi thấy tôi nói thật, ông bố tôi bảo tôi:

— Viết văn, làm thơ không phải là một nghề có thể nuôi thân. Con phải học, con phải có một công việc như thầy, con mới có thể nuôi thân con và nuôi vợ con con. Viết văn, làm thơ không phải là một nghề nuôi được người.

Ông bố tôi nói đúng. Những năm 1940, 1941 việc viết văn, làm thơ trong xã hội ta không phải là một nghề nuôi được người làm văn, làm thơ. Hai mươi năm sau, những năm 1960, xã hội ta có nhiều báo, nhiều sách truyện được in ra, tôi làm nhân viên tòa báo Sài Gòn Mới, tôi viết tiểu thuyết phơi ơ tông cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tuần báo Màn Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai …v..v.. Tôi kiếm được nhiều tiền. Ông bố tôi nói:

— Con làm nghề ký giả mà lại hay đấy. Làm báo, viết văn, ngoài việc có tiền nuôi vợ con con, con còn giúp được thầy mẹ, giúp được các em con.

Hai lần ông bố tôi nói đều đúng. Hai lần ấy cách nhau 20 năm.

o O o

Năm tôi Tám Bó tuổi đời, tôi gặp câu “Lão lai tài tận.Già đến, tài hết.”

Tôi thấm câu nói: “Già đến, tài hết.” Tài đây là tài năng, và tài tiền.

Ngày vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ — Tháng 12 năm 1994 – các bạn tôi, những người đến Hoa Kỳ trước chúng tôi, gửi tiền cho chúng tôi thật nhiều. Không phải chỉ khi đến được nước Mỹ tôi mới nhận được tiền của các bạn tôi. Khi đi tù lấn thứ hai – 6 năm – trở về mái nhà xưa, tôi đã nhận được tiền của nhiều bạn tôi ở nước ngoài gửi về giúp. Trong 6 tháng đầu vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa, chúng tôi được nhiều bạn chúng tôi gửi tiền giúp. Nhiều vị không quen, không ở trong giới văn nghệ, đã sốt sắng gửi tiền giúp chúng tôi. Xin cám ơn quí vị.

Trong 2 năm 1996-1997 nhật báo Người Việt gửi cho tôi mỗi tháng 500 đô. Năm 1997 Người Việt đăng truyện Dữ Hơn Rắn Độc của tôi theo kiểu tiểu thuyết Phơi-ơ-tông. Truyện này của tôi năm ấy được nhiều người tìm đọc.

Trong 10 năm – từ năm 1995 đến năm 2005 – tôi kiếm được nhiều tiền với những bài Viết ở Rừng Phong. Nhiều báo Việt đăng bài viết của tôi, đăng và trả tiền, mỗi bài là 50 Mỹ kim. Có báo Việt ở Canada, ở Úc. Nhiều báo Việt ở Mỹ đăng truyện Kiều Giang của tôi khi tôi chưa đến Mỹ. Có ông bà chủ báo viết thư cho tôi:

– Trong lúc không liên lạc được với ông, báo tôi đăng truyện Kiều Giang của ông mà không xin phép ông. Nay ông bà sang, chúng tôi xin gửi ông bà tiền nhuận bút.

Thời gian qua, tôi rơi vào tình trạng “lão lai tài tận.” Những tờ tuần báo Việt Nam trên đất Kỳ Hoa cứ chết dần. Đến nay – Tháng Mười Hai 2016 – chỉ còn tuần báo SAIGONNHO, tờ báo đang ở trên tay bạn, còn đăng bài Công Tử Hà Đông Viết ở Rừng Phong.

Lão lai tài tận… Tuổi già đến, người ta hết tài, hết tiền.

Tuổi già đến với tôi, tôi hết tài, hết tiền. Như mọi người. Không có gì khác lạ.

Tôi cho ảnh phim Le Destin Execrable de Guillemette Babin vào bài VoRP này để tặng những ông 60 năm xưa đã xem phim ấy ở rạp xi-nê Ciro’s Hà Nội. Năm xưa ấy các ông trẻ nhất cũng phải 17, 18 tuổi. Năm nay – 2016 – các ông phải ở số tuổi Tám Bó.

 

Nguyễn Đình Toàn

nguyendinhtoan2

Sáng vào Thu, mưa nhẹ trên Rừng Phong, những cành cây trụi lá. Người lưu vong già ngồi nhìn trời qua cửa sổ. Những con sóc theo nhau chuyền cành. Loài sóc không di chuyển dưới đất, sóc bao giờ cũng đi đôi. Và đi trên cây.

Việt Nam có sóc hay không? Tôi không biết. Khi đến Hoa Kỳ  tôi mới thấy sóc.

Một buổi sáng 20 năm xưa, anh Nguyễn Sơn, nhân viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ – VOA. Voice of America – đưa tôi đến trụ sở Đài trong Washington DC. Xe của anh phải đậu trong một chỗ đậu xe xa trụ sở đài. Tôi theo anh đi bộ đến đài. Trên đường đi tôi nhín thấy những con sóc chuyền cành, chạy qua đường. Đấy là những con sóc đầu tiên tôi nhìn thấy trong đời tôi. Trong 20 năm tôi thắc mắc: loài sóc sống bằng trái cây. Những cây xanh trong thành phố không cây nào có trái, loài sóc trong thành phố sống bằng gì?

Ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng, 6 giờ sáng tôi ngồi uống cà phê, xem TiVi, nhìn trời qua khung cửa sổ. Trong 40 năm tôi sống và viết ở Sài Gòn nhiều năm tôi muốn được ngồi viết trước khung cửa sổ nhìn ra trời xanh. Ước muốn ấy của tôi ít khi được toại. Nay căn phòng của vợ chồng tôi có cửa sổ mở ra hướng đông nam, buổi sáng nắng vàng chan hòa trong phòng. Đêm trăng Mỹ qua cửa sổ vào nằm giữa phòng tôi. Có những nửa khuya tỉnh giấc, nhìn khung trăng vàng nằm trên sàn phòng, tôi nhớ Thơ Lý Bạch;

Sàng tiền khán nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.

Trước giường nhìn ánh trăng
Tưởng như sương trên đất
Ngửng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

o O o

nguyendinhtoan

Bẩy giờ sáng, mở computer, thấy thư của Nguyễn Đình Toàn:

Gửi HHT

Tụi mình đứa nào cũng ngoài Tám Bó, nhưng còn sống thì cứ sống thôi. Bà vợ tao nay gần như hoàn toàn không biết gì, phải được trông nom như một đứa trẻ. Nay tao lấy cái Buồn làm Vui.

Tao vẫn đọc mày những khi tao có báo đăng bài mày.

Thỉnh thoảng Văn Quang gọi phone cho tao, chuyện trò lan man, sức khỏe, thuốc, cấp cứu, bệnh viện. Nay chàng lên cầu thang không nổi, nên bỏ cả chuyện ra phố uống cà phê với các ông bạn ở nước ngoài về.

Mày với tao chắc khó lòng còn có ngày gặp lại Văn Quang. Hai thằng mình sống ngay trên đất Mỹ mà còn khó gặp nhau, nói gì đến chuyện gặp VQ ở Sài Gòn.

Nhớ Meo luôn cho tao nhé.

Nguyễn Đình Toàn

o O o

Nguyễn Đình Toàn, Hoa Kỳ, năm 2000.

Nguyễn Đình Toàn, Hoa Kỳ, năm 2000.

Nguyễn Đình Toàn trên Internet

Nguyễn Đình Toàn sinh 6 Tháng 9, 1936.  Ông có bút hiệu là Tô Hà Vân khi viết văn và Hồng Ngọc khi viết nhạc.

Ông sinh tại huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh, di cư vào Nam năm 1954.

Ông đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới nhiều dạng: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, bút ký. Tác phẩm Áo mơ phai của ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam Cộng Hòa năm 1973.

Nguyễn Đình Toàn viết nhiều truyện dài đăng thành nhiều kỳ trên các báo chí Miền Nam như tạp chí Văn, Văn Học và các nhật báo như Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, và Tiền Tuyến.

Ông có công trong việc phát triển tân nhạc Miền Nam qua chương trình phát thanh Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh quốc gia VTVN mỗi tối Thứ Năm.

Sau năm 1975, ông bị chính quyền Cộng sản bắt và giam học tập cải tạo. Năm 1998 ông cùng vợ được xuất cảnh sang Mỹ và định cư ở California nơi ông tiếp tục viết.

Một số bản nhạc của ông được nhiều người biết là “Sài gòn niềm nhớ không tên” (Đúng ra tên là “Nước mắt cho Sài Gòn”)[ và “Tình khúc thứ nhất” do Vũ Thành An phổ nhạc. Ca sĩ Khánh Ly đã thâu âm và phát hành 2 đĩa nhạc với những sáng tác của ông.

o O o

Nữ Ca sĩ Quỳnh Giao viết về Văn sĩ Nguyễn Đình Toàn:

Ngày còn bé, Nguyễn Ðình Toàn không biết đánh đáo.

toan2Ông đánh mạt chược thuộc loại đáo để và ăn nói còn đáo để hơn trên bàn mạt chược, nhưng Quỳnh Giao nghi là ông không biết đánh đáo. Hoặc có lẽ không thèm đánh đáo. Ở tuổi ấu thơ, Nguyễn Ðình Toàn ham mê chuyện khác, để ý đến chuyện khác, chuyện thi ca chẳng hạn, thơ và nhạc.

Người ta có thể kết luận như trên khi đọc tập bút ký của ông viết về 190 tác giả, có tựa đề là “Bông Hồng Tạ Ơn” vừa được ra mắt tại báo quán Người Việt chiều 28 Tháng Mười vừa qua. Quỳnh Giao không viết về ông trước ngày đó như để giới thiệu sinh hoạt này.

Nguyễn Ðình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu.

Nguyễn Ðình Toàn có lẽ không đánh đáo với chúng bạn đồng tuổi vì ông mải nhìn mây, nghe nhạc, đọc văn và tìm hiểu về thơ. Không vậy, ông đã chẳng có một ký ức đầy ắp về những nghệ sĩ đã nổi danh từ thập niên 1950. Ông biết về họ rất tường tận, trước khi chính mình bước vào thế giới đó.

Giới yêu văn học thì biết Nguyễn Ðình Toàn qua các tác phẩm văn chương. Ông là một nhà văn nổi tiếng, có độc giả và từng được Giải Thưởng Văn Chương với Áo Mơ Phai, tác phẩm làm ông bị khổ sở không ít sau năm 1975.

Ông còn khổ sở hơn vì không chịu cúi đầu, vẫn cứ ngang ngạnh khi gặp cảnh tù đày.

Sau khi được thả ra, ông còn ngang ngạnh (dùng chữ hiên ngang tất sẽ làm ông khó chịu!) và khi chế độ trong nước thay đổi, xin tái bản lại Áo Mơ Phai, ông vẫn ngang ngạnh: “Các anh muốn làm gì chẳng được, nhưng đã hỏi tôi khi muốn tái bản thì tôi chỉ xin các anh ghi vào lời tựa lý do vì sao đã kết án tác phẩm và bỏ tù tác giả!” Ðược tái bản sách, nhiều người rất thích và đành nhịn. Nguyễn Ðình Toàn lại có cách từ chối đáo để như vậy thì… ai mà nhịn được!

Giới yêu thơ cũng từng mê thơ Nguyễn Ðình Toàn, đã được đọc lại còn được nghe.

Quỳnh Giao xin nói về chuyện nghe thơ này.

Thời ấy, vào thập niên 1960 trở về sau, các ban tân nhạc trên đài phát thanh đều có xướng ngôn viên của đài hoặc chính các ca sĩ tự giới thiệu lấy trước khi trình bày.

Và người ta không có lời giới thiệu (tiền thân của giới EmXi MC thời nay) để cho tác phẩm một cái mũ, một cái “châpeau” dẫn vào tác phẩm và nghệ sĩ trình bày. Ngoại lệ có tính chất tiên phong là chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” của Anh Ngọc, do Mai Thảo viết châpeau dẫn thính giả vào nhạc. Ông có cách hành văn rất tây, với lối dùng chữ mới lạ, dễ “bắt tai” thính giả. Hàng tuần, thính giả chờ đón để được nghe các ca khúc nghệ thuật mà người hát, hòa âm, và cả lời giới thiệu đều trau chuốt bóng bảy. Người đọc những dòng giới thiệu thường là Anh Ngọc, Mai Thảo, đôi khi Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương và cả Quỳnh Giao.

Người không đội mũ nhưng gắn hoa và thổi mây lên từng ca khúc nghệ thuật là Nguyễn Ðình Toàn, với chương trình gọi là “Nhạc chủ đề”.

Ông viết lời giới thiệu như người ta làm thơ. Văn phong của ông cổ điển hơn, khác với lối viết của Mai Thảo hay lời nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng là một loại thơ dẫn vào nhạc.

Chương trình ăn khách và thực sự tạo ra một trào lưu chính là nhờ giọng nói truyền cảm, như lời thủ thỉ, của Nguyễn Ðình Toàn. Ông dẫn thính giả vào nhạc bằng câu “Hỡi em yêu dấu” như chỉ nói với một người. Qua làn sóng điện người nghe thấy ông thầm thì với riêng mình về những cảm xúc do ca Ðáng lẽ, chương trình ấy phải được gọi là “Dẫn em vào nhạc” mới phải, nhưng thời ấy chúng ta chưa dám táo bạo như thế! Qua cách nói… “hỡi em yêu dấu”, rõ là Nguyễn Ðình Toàn chỉ nói với phái đẹp. Vào quãng thời gian ấy, ông còn quá trẻ để gọi thính giả nam phái là “em”!

Mà ông không cao ngạo như Ðinh Hùng khi xưng là “ta” với người đẹp, ông mộc mạc nhũn nhặn xưng là “tôi”.

Thế mới chết… chị Thu Hồng!

Nhớ lại thì nếu Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc gồm những giọng hát thượng thặng của thời đó trình bày, được chính ông chọn lọc và bầy bán giới hạn tại cửa hàng Au Printemps gần thương xá Tax, đã dẫn tới một ngành sinh hoạt mới là các trung tâm thực hiện băng nhạc, thì chương trình Nhạc Chủ Ðề của Nguyễn Ðình Toàn đã là nơi báo hiệu hào quang lên những ca sĩ sau này là tên tuổi lẫy lừng, như Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu…

Phải nói rằng nhiều ca sĩ thường xuyên cộng tác với đài phát thanh hoặc xuất thân từ các gia đình nghệ sĩ thì đã được… “lăng xê” từ trước và họ thực sự là những người chuyên nghiệp vì sự đòi hỏi của các đài phát thanh. Chương trình của Nguyễn Ðình Toàn lại khác.

Ông mời những giọng hát tài tử trong tinh thần “hát cho vui”, hát vì nghệ thuật.

Luật gia Khuất Duy Trác thuộc thành phần ấy và đóng góp rất nhiều cho chương trình này. Một thí dụ khác là kỹ sư địa chất Võ Anh Tuấn – người tham dự việc tìm ra mỏ dầu đầu tiên – được mời hát Dạ Khúc của Nguyễn Mỹ Ca với giọng Nam như Trần Văn Trạch. Theo Quỳnh Giao, bài thành công nhất của Võ Anh Tuấn là Giọt Mưa Thu của Ðặng Thế Phong. Miền Nam không có mưa Thu Hà Nội, Nguyễn Ðình Toàn khơi dậy Mùa Thu ấy trong tâm cảnh của chúng ta ở miền Nam qua cách trình bày của Võ Anh Tuấn.

Không có cái tai thẩm âm, ai lại dám làm điều ngược ngạo ấy vì thời đó và sau này, hát theo giọng Bắc mới được coi là hay! Cũng qua chương trình Nguyễn Ðình Toàn, mà Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác hay Sĩ Phú, v.v… đã là những tiếng hát vượt không gian. Ra khỏi các sân khấu thành phố mà vang vọng khắp bốn vùng chiến thuật và tạo ra một làn sóng ngưỡng mộ từ đó không nguôi. Ngay cả những ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn cũng đã như cánh vạc bay, và bay mãi, là từ chương trình Nhạc Chủ Ðề, qua tiếng hát Khánh Ly và lời thủ thỉ của Nguyễn Ðình Toàn.

“Những bản tình ca không có hạnh phúc” qua tiếng hát của “nàng góa phụ của cuộc chiến này” là cách Nguyễn Ðình Toàn giới thiệu ca khúc Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Có MC nào của đời nay làm chúng ta xúc động như vậy không?

Nguyễn Ðình Toàn là nhà văn, là thi sĩ và ông giới thiệu nhạc bằng cảm nhận của nhà thơ.

Ông cũng là nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều trong những năm về sau nhưng tác phẩm bị trùm lấp trong biến cố 1975. Khi ông ra đến ngoài này, sự thẩm âm của thiên hạ đã thay đổi. Người ta “hát giọng răng” (nói theo lối ví von của Phạm Duy, vì cô ca sĩ có hàm răng khấp khểnh) và giới thiệu ca khúc bằng vũ khúc…

Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Ðình Toàn chưa cho ra mắt một tác phẩm đáng lẽ phải có tên là “Dẫn em vào nhạc Nguyễn Ðình Toàn”, mà lại viết về những người nghệ sĩ ông sợ là chúng ta sẽ quên. Ông gửi tới họ những bông hồng tạ ơn qua tài năng cố hữu của ông, là dùng thơ dẫn người đọc vào ngôi vườn hoa của người khác.

Khi viết bài này, trong dư âm của một chương trình nhạc chủ đề của Nguyễn Ðình Toàn, (chủ đề cuốn băng là “tình ca”) Quỳnh Giao bồi hồi nghĩ là “áo mơ chưa hề phai” trong tâm khảm ông.
Nguyễn Ðình Toàn chỉ sợ những kỷ niệm cần trân quý của chúng ta bị phai lạt dần…  Ông tạo ra một không khí tình cảm dịu dàng điệu nghệ để người nghe chuẩn bị đón nhận…

Lời thủ thỉ ấy đẹp như thơ làm thính giả phái nữ thấy lòng mình chùng xuống.

QUỲNH GIAO

o O o

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
BÔNG HỒNG TẠ ƠN

Liên lạc mua Sách: toandinh@yahoo.com

THEO GIÓ BAY ĐI

Gina Lollobrida, Ðào Ý, và Gérard Phillipe, Kép Pháp, đôi diễn viên trong phim FANFAN LA TULIPE, phim đen trắng, đến màn ảnh Sài Gòn khoảng năm 1960. Trong một thời ngôn ngữ giới văn nghệ sĩ Sài Gòn có câu: “..Phăng phăng la tuy líp..”; thuật ngữ của những Chú Coón, cô Lìn: những chuyên gia uốn tóc của Sài Gòn – Chợ Lớn thập niên 1960, có câu dùng để quảng cáo trên báo: “Uốn theo kiểu Lollo Úp Ra, Lollo Úp Vô..” Thế nào là “Lô-lô úp dza, Lô-lô úp dzô?” Mời đọc trong bài.

Gina Lollobrida, Ðào Ý, và Gérard Phillipe, Kép Pháp, đôi diễn viên trong phim FANFAN LA TULIPE, phim đen trắng, đến màn ảnh Sài Gòn khoảng năm 1960. Trong một thời ngôn ngữ giới văn nghệ sĩ Sài Gòn có câu: “..Phăng phăng la tuy líp..”; thuật ngữ của những Chú Coón, cô Lìn: những chuyên gia uốn tóc của Sài Gòn – Chợ Lớn thập niên 1960, có câu dùng để quảng cáo trên báo: “Uốn theo kiểu Lollo Úp Ra, Lollo Úp Vô..” Thế nào là “Lô-lô úp dza, Lô-lô úp dzô?” Mời đọc trong bài.

Tôi thù ghét nhiều cái của bọn Nga Cộng, trong số có Phim Xi-nê Nga Cộng. Phim Xi-nê là nghệ thuật tôi yêu mê từ những năm tôi mới 10 tuổi. Những năm tôi mười, mười một tuổi, tôi từng mơ lớn lên tôi sẽ làm tài tử xi-la-ma. Vậy mà sau Tháng Tư Ðen Hơn Mõm Chó 1975, sau khi coi 3, 4 bộ phim xi-nê truyện của bọn Nga Cộng chiếu ở Sài Gòn, tôi thề:

– Còn sống ở Sài Gòn, ta sẽ không bao giờ đi xem xi-nê. Ta chỉ đến rạp xi-nê xem phim khi nào ta đến được Ðất Tự Do.

Lời thề của tôi có nghĩa là tôi sẽ đến chết, không bao giờ đến rạp xem phim xi-nê của bọn Cộng sản, Nga Cộng hay Cộng nào cũng vậy thôi. Tôi chỉ đi xem phim xi-nê Âu Mỹ Tự Do. Và muốn xem phim xi-nê Âu Mỹ, tôi phải đến những thành phố các nước Tự Do, những năm 1976, 1977, 1978… ở Sài Gòn cờ đỏ máu người Việt, tôi, như nhiều người Sài Gòn, nghĩ rằng không bao giờ bọn cộng sản chịu cho những phim xi-nê Mỹ, Pháp vào chiếu trong nước.

Gone With The Wind tiếng Pháp là Autant En Emporte Le Vent. Những năm đầu thập niên 1950 khi phim đến Hà Nội, khán giả xi-nê Hà Nội dịch là Cầm Bằng Theo Gió Bay Đi. Ở Sài Gòn tên phim là Cuốn Theo Chiều Gió.

Gone With The Wind tiếng Pháp là Autant En Emporte Le Vent. Những năm đầu thập niên 1950 khi phim đến Hà Nội, khán giả xi-nê Hà Nội dịch là Cầm Bằng Theo Gió Bay Đi. Ở Sài Gòn tên phim là Cuốn Theo Chiều Gió.

Hai mươi năm sống mòn, sống mỏi, sống dzật, sống dzờ – hay sống vật, sống vờ cũng rứa – trong lòng thành phố thủ đô thương đau, không một lần tôi đi vượt biên. Nhưng dzậy mà trong những đêm buồn thiệt là buồn, buồn tả buồn tơi, buồn rơi lá lốt, buồn tuột giải rút, buồn tụt dây lưng, nằm phơi rốn thao thức trên sàn xi-mo Lầu Bát Giác Chí Hòa, nôm na và hụych tọet là Nhà Tù Chí Hòa, cũng có đêm tôi mơ tôi vượt biên đến được Pulan Bidong, Pulan hay Pulau cũng rứa, hay đến được đất Mã Lai, Nam Dương.

Những đêm xanh xưa ấy trong những phòng giam ba bức tường, một hàng song sắt vây quanh, tôi mơ: Như mọi người Việt được người thế giới gọi là Thuyền Nhân: Boat People, vượt qua được biển Ðông trong chuyến đi mười phần chết chín, tôi dzô trại tị nạn chờ ngày lên máy bay sang Hoa Kỳ. Vượt biển sang được đến xứ người, dù chỉ mới là xứ người Mã, người Nam Dương, kể như là xong dzồi, thành công, thắng dzồi. Cuộc sống trên đảo chờ ngày đi sang Mỹ dù có khổ cũng vẫn sướng gấp triệu lần cuộc sống ở quê nhà trong kìm kẹp của bọn Bắc Cộng ác ôn côn đồ. Trước sau, sớm muộn gì ta cũng vĩnh biệt hải đảo xứ người này. Vội sang Mỹ làm chi. Hãy sống trên đảo xa trọn vẹn những ngày, những đêm Ðịnh Mệnh an bài cho ta sống, như ta đã sống trong những ngục tù cộng sản ở quê nhà. Cuộc đời có hạnh phước, có họan nạn, có tuyệt vọng, có hy vọng, có ngọt bùi, có đắng cay, có bỏ nước chạy lấy người không kịp, có gà què kẹt giỏ, có tù đầy, có vượt biên, có ở đảo.. mới là đầy đủ.

predetorTrong những đêm mơ màng ấy trên sàn xi-mo Nhà Tù Chí Hòa tôi mơ lên được đảo, tôi sẽ lập tức víết thư, gửi điện tín, và nếu có thể, phone đến tất cả những người bạn thân, sơ tôi biết địa chỉ ở Mỹ, Pháp, Anh, Úc, Congo, Dzimbabuê..vv.. ở hằm bà lằng síu oắt khắp mọi nơi trên trái đất, với lời kêu gọi bi thiết: “Trăm cay, ngàn đắng, một sống, chín chết đến được đảo. Gửi ngay cho ít tiền.” Có tiền cứu trợ, tôi sẽ hút Lucky Strike Ba Hàng Chữ For Export Only–Singapore Duty Not Paid, Pall Mall King Size, Philip Morris Vàng. Hút thả dàn, hút tối ngày, sáng đêm, hút trả thù những ngày cơ cực ở quê nhà phải hút thuốc lá Vĩnh Hảo, thuốc Rê nóng cháy môi mà không đủ dose vì thuốc có quá ít nicotine. Tôi sẽ kín đáo tìm trong trại tị nạn một em Nữ Thuyền Nhân không quá trẻ – những năm 1980 tôi trên dưới 45 tuổi – tôi sẽ tìm một em trạc 30-35-40, không cần em đẹp hay sexy chi lắm, chỉ cần em có vẻ hiền hậu, lương thiện, và em vượt biển đến đảo một mình, tôi sẽ nói với Nàng, tức với Em:

– Em muốn đi chơi thành phố không? Anh có tiền các bạn anh gửi cho, anh mời em đi chơi với anh.

Tôi xin phép ban quản đốc trại, tôi đưa nàng ra đường chờ xe bus đi về thành phố. Chúng tôi nắm tay nhau đi dạo phố người, như ngày nào tươi nắng chúng tôi đi bên nhau trên đường Lê Lợi, Tự Do, dzô Thương Xá Tax, tiệm Giải Khát Pole Nord, tiệm Kem Mai Hương, Nhà Sách Khai Trí, Nhà Sách Xuân Thu, Phở Minh, tiệm Hủ tíu Paté-chaud Phạm Thị Trước..vv.. Ở xứ người, ở chợ người, bằng đô-la của bạn cho, tôi mua tặng nàng vài món quà nhỏ: khăn bông, bàn chải đánh răng, sà-bông thơm, gương lược..vv.. rồi tôi nói với Nàng:

– Anh có lời thề anh không bao giờ vào rạp xi-nê ở Sài Gòn xem phim của bọn Cộng. Không những chỉ thề suông, anh thề độc: sống ở Sài Gòn mà vào rạp xi-nê xem phim cộng sản, anh hộc máu chết ngay tại cửa rạp. Anh thề anh chỉ đi xem xi-nê ngày nào anh đến được Ðất Tự Do. Hôm nay anh ở trên đất Tự Do, hôm nay là lần thứ nhất sau Ngày 30 Tháng Tư Ðen Hơn Mõm Chó anh trở lại rạp xi-nê, em đi coi xi-nê với anh nhé?â

Tôi xin lỗi đã làm quí vị sốt ruột vì tôi kể lể dài dòng, tôi phải kể để nói lên việc tôi đã giữ được lời thề “Không đi xem phim cộng sản..” Trong hai mươi mùa lá rụng sống ở Sài Gòn sau năm 1975 tôi đã không một lần đi xem xi-nê. Có thể có những vị Cựu Thuyền Nhân từng sống ở những trại tị nạn đọc chuyện tôi kể như thế này, cười rằng: “Anh này viết nhảm. Thuyền nhân sống ở đảo khổ bỏ cha đi, làm gì có chuyện anh ả dắt nhau ra tỉnh xem phim xi-nê..!” Tôi xin lỗi, Tôi đã viết đây là chuyện tôi tưởng tượng. Mười chuyện tưởng tượng thì có đủ mười chuyện không có thật.

Nhưng mà tôi kể chuyện tôi tưởng tượng thôi. Tôi không vượt biên nên tôi không là Thuyền Nhân, tôi không sống ngày nào trên đảo, nhưng dù có vượt biên, có là Thuyền Nhân, có đến đảo, thì vừa bước chân lên đảo chắc như bắp rang là tôi sẽ lập tức buồn nhớ quê hương, tôi sẽ thương vợ, nhớ con, tôi ở đảo yên thân tôi rồi nhưng vợï con tôi sống khổ ở Sài Gòn, đồng bào tôi đang rên siết trong gông cùm cộng sản, biết ngày nào tôi mới được gặp lại vợ con tôi, những năm 1980 có ai ngờ chỉ 10 năm sau người Việt từ Mỹ về Sài Gòn đông như kiến, người Việt ởi Mỹ về Sài Gòn như đi chợ, nhưng khi đến được hải đảo vừa bị mất quê hương, mất vợ con, tôi lòng dạ nào mà tuyển lựa một em Nữ Thuyền Nhân Nửa Chừng Xuân Thắm, cùng em dắt tay nhau phơi phới ra thành phố người, đưa nhau vào rạp xi-nê xem phim như thế. Tôi là người, tim phổi tôi đâu phải bằng gỗ đá.

Tháng Tư năm 1984 khi bọn Công An Thành Hồ cho xe ô tô đến nhà đón tôi đi tù lần thứ hai, Sài Gòn rách hơn cái sơ mướp, nát hơn cái mền Sakymen, một xóm cả hai, ba trăm nhà may ra chỉ có một, hai nhà còn cái TiVi Ðen Trắng. Ðầu năm 1990, 6 năm sau, tôi từ nhà tù trở về mái nhà xưa, Sài Gòn đầy những máy TiVi Mầu, Ðầu Máy Video, phim Video Cho Muớn Ðủ Lọai: Tây, Tầu, Mỹ, Nhật. Trên những đường phố Sài Gòn cứ một, hai trăm thước lại có một nhà cho mướn đầu máy, phim video. Con tôi nói:

– Con mướn đầu máy với phim Vi-đê-ô về nhà cho Bố xem.

whitneyTrong những bộ phim Video đầu tiên tôi coi năm 1990 ở Sài Gòn có phim Predator, Arnold – Lực Sĩ Ðẹp Arnold, người bi giờ là Thống Ðốc Cali, trong Predator đóng vai Chiến Sĩ Biệt Kích Mỹ đánh nhau với Quái Nhân-Bò Cạp Hành Tinh lạc cõi trần ai. Predator làm tôi mê mẩn.

Tôi mê mẩn cũng phải thôi. Mười lăm năm rồi tôi không được xem phim Mỹ. Tôi không nhớ phim xi-nê cuối cùng tôi xem trứơc ngày Sài Gòn Ðứt Phim 30 Tháng Tư 1975 là phim gì. Phim Action như Predator là nhất, Number One. Phim không cần đối thọai, không cần có đàn bà, không cần cốt truyện, người xem vẫn bị hấp dẫn, vẫn biết có chuyện gì xẩy ra; Predator có những cảnh bắn nhau chí chạt, tả tơi, tơi bời, tanh banh rừng núi.

Bố con tôi biết Arnold từ những năm 1970 nhờ chung tôi xem những tạp chí BodyBuilding của Mỹ – những năm từ 1965 đến 1973 quân nhân Mỹ ở Sài Gòn đọc sách báo Mỹ xong vứt đi, người Việt lao công trong những bin-đinh Mỹ lấy đem ra bán cho những sạp sách báo vỉa hè – bố con tôi thấy ảnh Arnold trên các tạp chí ấy. Những năm 1970 Lực Sĩ Thẩm Mỹ Ðẹp Nhất-To Nhất Mỹ là Dave Draper, Arnold mới là Mầm Non. Hai mươi năm sau, 1990, Arnold trở thành Lực Sĩ Thẩm Mỹ Số Một Thế Giới.

Trong một phim video tôi được xem một đọan quảng cáo phim The Bodyguard. Kép Kevin Kostner đóng vai chàng vệ sĩ bảo vệ Nữ ca sĩ Whitney Houston. Lần thứ nhất tôi nhìn thấy Whitney Houston, lần thứ nhất tôi nghe Whitney Houston hát. Tôi mê Whitney Houston liền một khi. Tôi đi khắp các tiệm cho mướn phim Video ở Sài Gòn, tìm mướn cho bằng được phim The Bodyguard.

Ở Sài Gòn, tôi xem đi, xem lại The Bodyguard ba, bốn lần. Trong phim Whitney Houston hát một bài hay tuyệt trần đời. Chỉ cần bài hát ấy, tiếng hát ấy của Nàng thôi là đủ làm cho tim tôi vỡ ra làm 412.567.834 mảnh. Phim The Bodyguard ở Sài Gòn là phim Video sang đi, sang lại, hai, ba lần sang, nhiều đọan bị mờ, âm thanh bị rạn. Sang Mỹ, vừa có chỗ an cư, tôi đến ngay Nhà Blockbuster mướn phim The Bodyguard về xem. Ðầu máy tốt, phim tốt, hình ảnh rõ, âm thanh tuyệt hảo, tôi tận hưởng Whitney Houston trong The Bodyguard.

Nhưng về phim xi-nê tôi thấy Whitney Houston chỉ có mỗi một phim The Bodyguard là hấp dẫn, hai phim sau của nàng, Waiting to ExhaleThe Preacher’s Wife, làm tôi thất vọng.

Thế rồi trên những tờ báo chợ của Mỹ – báo chợ của Mỹ khác với báo chợ Việt ở Mỹ là báo chợ Mỹ bán ở những chợ thực phẩm Mỹ, báo chợ Việt ở Mỹ để cho người Việt lấy không ở những tiệm thực phẩm Việt – tôi thấy đăng dài dài những chuyện bê bối trong đời sống của Whitney Houston: nàng có anh chồng chẳng ra gì, không phải một mà nhiều lần chồng nàng đánh nàng tả tơi, nàng bị cảnh sát bắt vì say rượu lái xe, nàng chơi ma túy, nàng phải vào Viện Giải Ðộc Ma Túy..

Cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Người Nữ Ca Sĩ tôi ái mộ đến đây là xuống dzốc không phanh ư ? Thật tiếc cho Whitney Houston, tôi thương Nàng quá là thương!

Những tháng đầu năm 1995 bánh xe lãng tử mới đưa tôi đến Hoa Kỳ, tôi được anh em tôi mời đến chơi ở những thành phố họ ở. Một ngày Tháng Năm 1995 tôi đến Houston, Texas. Trong buổi gặp lại nhau ở xứ người. nói chuyện với anh em và bạn đọc ở Nhà Hàng Fukim, Houston, một ông độc giả nhắc lại một số những câu gần như thành ngữ những năm 1960 ông đọc được trong những phóng sự của tôi. Ðó là những tiếng, những câu tả oán, cầm nhầm, đi khách, ăn khách, đớp hít, đấu láo, ăn đong, đong thóoc, hít tô phe, sơ-mi gỗ, bà ba gỗ, ca ve, ca va, phú lỉnh, lên xe bông, bề hội đồng, phây phây, phom phom, đi một đường tiếu ngạo, đi tầu suốt..

Không phải tôi là người sáng chế ra, tức đặt ra những tiếng ấy. Ðó là những tiếng trong ngôn ngữ của giới giang hồ, đa số là những tiếng tôi nghe được của những anh em trong Ðoàn Cải Lương Kim Chung Tiếng Chuông Vàng Thủ đô. Tôi chỉ có công đưa những tiếng ấy vào phóng sự tiểu thuyết, và phổ biến những tiếng ấy trên báo.

Và ông bạn Houston nhắc đến câu “Tóc uốn kiểu Lô-lô Úp Dza, Lô-lô Úp Dzô..”, lời ông nói làm tôi bùi ngùi nhớ lại thời hoa niên của tôi. Những năm 1960 tôi ba mươi tuổi, tôi sống thơ thới hân hoan phơi phới trong thành phố Sài Gòn thân thương của tôi, tôi làm nhân viên tòa báo Sàugònmới, nhật báo có số báo bán cao nhất nên là nhà báo giầu nhất thời ấy, tôi viết tiểu thuyết quanh năm cho Nhật báo Ngôn Luận, cho các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai, Kịch Ảnh, Màn Ảnh.. Những năm ấy tôi trẻ, tôi có việc làm vững chắc, gia đình tôi yên ấm, tôi kiếm được tiền, tôi sống, tôi yêu, tôi làm, tôi viết, tôi chơi vi vút., vung vít..

Trong những cái gọi là phóng sự tiểu thuyết tôi viết năm xưa ấy tôi có dùng thành ngữ “Tóc nàng kiểu Lô-lô Úp Dza, tóc nàng kiểu Lô-lô Úp Dzô..” Ðó là một trong những lời quảng cáo đăng báo của những tiệm uốn tóc ở Sài Gòn – Chợ Lớn, những tiệm uốn tóc mà chủ nhân là những Cô Lìn, Chú Cóon.

Sài Gòn 1960..! Houston 1995… Washington DC 2006… Ôi.. thấp thoáng đấy mà 46 năm… Thời gian qua như thế thì.. Công Tử Hà Ðông làm sao còn có vóc dzáng James Dean những năm 1960 xanh thắm ngày xưa. Làm gì mà Chàng chẳng tàn phai nhan sắc!

Phải chăng từ độ ấy quan san
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
Riêng có mình ta phai áo lục
Còn Em sau trước vẫn hồng nhan?

Mèn ơi.. Ðó là Thơ Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, hổng phải Thơ Tui. Kiếp này tôi không là Thi sĩ bởi vì đời đã có những Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, tôi không làm Thơ vì đời đã có Thơ Ðinh Hùng, Thơ Vũ Hoàng Chương. Mỗi lần trái tim tôi thổn thức, hồn tôi nức nở, nôm na là mỗi lần tôi xúc động, tôi muốn làm Thơ, tôi đã có sẵn Thơ của hai Thi sĩ. Thơ của hai ông diễn tả trạng thái tâm hồn tôi một cách tuyệt vời, tôi còn phải ì ạch mần Thơ làm chi nữa, nhất là khi Thơ tôi lại dở ẹt, nhạt hơn nước ốc.

Ðây là Thơ Tôi:

Vèo trông lá rụng Rừng Phong
Ái ân phù thế lòng vòng thế thôi.

Cảm khái vì chuyện Whitney Houston, đây là bài Thơ tôi làm hôm nay, một ngày Tháng Năm 2006 tôi sống ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðât Trích:

Vèo trông lá rụng Rừng Phong..
Ðẹp trai mấy cũng già thòng thế thôi.
Soi gương, nhìn ảnh bồi hồi..
Nhớ xưa ta vẫn cười người bụng to
Ngờ đâu ta bụng bi giờ..
Xiết dây belt cũng thoớc-ty six in-chờ…! Hỡi ơi..!

Vòng bụng 36 inches!

Cảm khái cách gì.

Buồn sao buồn não, buồn nùng, buồn đến không còn viết được nữa. Xin tạm ngừng Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum Hải Ngọai ở đây.

 

ƯỚC MƠ và HIỆN THỰC

Tội đồ Lenin chết đã 70 năm vẫn bị người Nga căm hận, trừng phạt.

Tội đồ Lenin chết đã 70 năm vẫn bị người Nga căm hận, trừng phạt.

Không biết loài vật có ước mơ như loài người không? Tôi chắc loài vật cũng có những ước mơ, những mộng mơ như loài người. Như con hổ bị bắt nằm trong chuồng sắt ước mơ được trở lại rừng thẳm, như con chim bị nhốt trong lồng tre ước mơ được tung cánh tự do bay ngoài trời rộng. Tôi nghĩ ước mơ không phải là một khả năng riêng của loài người.

Con người khi đau khổ ước mơ được sung sướng, khi thiếu thốn ước mơ được có những gì mình cần có. Riêng tôi, tôi thấy tôi thường có những ước mơ thật tầm thường. Như trong lúc 5 giờ một buổi chiều mùa nắng năm 1977 trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân Sài Gòn của bọn Công An Việt Cộng Chuyên Bắt Nhân Dân, khi bọn cai tù đi điểm số tù nhân xong, chúng đóng tất cả những ô cửa gió trên những cửa sắt sà-lim, tôi đứng áp má vào cửa sắt ghé mắt nhìn qua khe cửa gió ra ngoài trời.

Lúc ấy trời Sài Gòn  vàng ánh nắng chiều, qua khe cửa gió tôi nhìn thấy những ngọn cây sao vệ đường Chi Lăng lả ngọn trong gió chiều. Tim tôi bỗng chan hòa thương nhớ.

Lenin bị dân Nga cưa đầu, bỏ trong xe rác.

Lúc ấy tôi bồi hồi nhớ thời gian vợ chồng tôi sống túng thiếu năm 1964. Ðó là những tháng sau khi nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận – hai sở làm chính của tôi – bị đóng cửa, tôi về làm nhật báo Ngày Nay, chủ nhiệm Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, chủ bút Vũ Khắc Khoan, được vài tháng thì báo Ngày Nay chết vì không bán được, vì báo hết vốn. Vợ chồng tôi phiêu dạt vể sống trong một căn nhà nhỏ ở Hẻm Chuồng Bò.

Bẩy, tám, chín, mười mươi năm xưa, chắc cũng như Bến Tắm Ngựa đường Yên Ðổ, như Khu Chuồng Chó ở Ngã Ba Chuồng Chó, nơi này trước kia có một hay nhiều chuồng bò nên có tên là Khu Chuồng Bò. Có hai đường vào ra Khu Chuồng Bò, một ngả ra đường Hai Mươi, bên kia đường là rạp xi-nê Long Vân và trường Phan Sào Nam, một ngả ra đường Petrus Ký, chỗ bến xe đò đi Ðàlạt.

Ðang làm được đến 20.000 đồng mỗi tháng, đến giai doạn đời tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó mực ấy, tôi kiếm được mỗi tháng khoảng3.000 đồng, làm gì mà vợ chồng tôi không vất vả, tiền nhà đã mất mỗi tháng 800 đồng. Ðói thì không đói nhưng vất vả, thiếu thốn thì quả là có. Có những buổi chiều có tiền, hai, ba trăm thôi, vợ chồng tôi đưa ba con chúng tôi ra đầu đường Pétrus Ký ăn cơm tấm. Gánh cơm tấm vỉa hè thật sạch, thật ngon, thật rẻ, khoảng 5 giờ chiều mới được gánh ra. Những buổi chiều mùa nắng xa xưa ấy ba con tôi còn nhỏ, đứa lớn 8 tuổi, đứa nhỏ nhất 5 tuổi. Các con tôi đã tắm, thay quần áo mới, trông chúng sạch, xinh, dễ thương làm sao. Gió chiều thổi có thể nói là lồng lộng trên Ngã Sáu Lý Thái Tổ.

Những buổi chiều xưa cùng vợ con ăn cơm tấm vỉa hè ấy tôi không biết là tôi sung sướng, tôi được ban ân phúc. Buổi chiều trong sà-lim Việt Cộng, đứng áp má vào cửa sắt nhìn qua khe cửa gió ra ngoài trời, nhớ những buổi chiều cùng vợ con ăn cơm tấm vỉa hè Ngã Sáu Petrus Ký vào giờ này năm xưa, tôi nghẹn ngào muốn khóc, đến lúc ấy tôi mới biết những buổi chiều xưa ấy đời tôi tràn đầy hạnh phúc.

Và lúc ấy, lúc áp má vào cửa sắt sà-lim, nhớ lại như thế, tôi nồng nàn ước muốn tôi được trở về với hè phố Sài Gòn thân yêu của tôi, tôi ước giờ này tôi được đi trên đường Lê Lợi đầy nắng vàng, hưởng làn gió mát từ sông thổi đến. Ði thế thôi. Chỉ được đi như thế tôi đã sung sướng. Mặïc mẹ ảnh anh Già Hồ cười toe trên những bức tường thành phố, kệ bố bọn cán Cộâng muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, tôi chỉ cần được đi trên vỉa hè đường Lê Lợi trong buổi chiều nắng vàng đẹp như chiều nay..

Biết rồi! Tù! Khổ! Kể rồi. Sốt ruột! Thưa vâng. Không kể chuyện tù đày nữa, xin chỉ nói đến những ước mơ. Ước mơ và hiện thực, tưcù sự thực, đời thực. Ước mơ thường không đi đôi với sự thực trong đời. Vì thế cho nên có những trường hợp con người tự làm cho những ước mơ của mình trở thành hiện thực.

Những người ấy là những công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa những năm 1976, 1977. Có thể nói tất cả nhân dân Việt Nam Cộng Hòa thù ghét bọn Việt Cộng – số người ưa bọn Việt Cộng ít đến không đáng kể – đến những năm 1976, 1977, ngoài nỗi thù ghét, những người dân VNCH còn khinh bỉ bọn Việt Cộng. Người ta thù ghét bọn cộng sản vì chúngï tàn ác, người ta khinh bỉ chúng vì chúng ngu dốt, vì chúng làm những trò bỉ ổi, bẩn thỉu quá đỗi. Người ta ước mơ “quân ta trở về..” Ước gì quân ta trở về! Ôi..Quân ta mà trở về thì ta sung sướng biết chứng bao! Người ta ước mơ như thế và người ta làm ước mơ ấy thành sự thực, người ta loan truyền nhau những tin hấp dẫn: quân ta ở trong rừng rất đông, quân ta mở cho chúng nó vào Sài Gòn để diệt gọn chúng nó, chúng nó sẽ không có đường chạy, lần này ta đuổi chúng nó về Bắc, lãnh thổ của ta sẽ ra đến Ðèo Cả, Thanh Hóa, rằn ri xuất hiện bên Cát Lái, phi cơ Mỹ thả dù đồ tiếp tế cho quân ta mỗi đêm, dân chúng ở Dốc Mơ, Ðàlạt bắt được nhiều hộp thực phẩm Mỹ thả dù từ phi cơ xuống, quân ta phục sẵn trong thành phố, sẽ ngoài đánh vào, trong đánh ra…

Trên ghế tiệm hớt tóc, tôi được anh chủ tiệm vừa lách tách cây kéo cắt tóc cho tôi vừa nói nhỏ:

_ Chúng nó chết cả đống đến nơi rồi…

Anh chủ là trung sĩ truyền tin, nhà anh mở tiệm hớt tóc, anh không bị đi tù cải tạo, anh nói:

_ Thằng Lê Duẩn phải ký cam kết rút hết quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa…

Tôi hỏi:

_ Ký ở đâu? Cam kết với ai?

_ Ký trong hội nghị mật. Cam kết với những nước Anh, Mỹ, Pháp. Lê Duẩn nó xin quốc tế giữ bí mật cho bọn chúng nó yên ổn rút về..

_ Sao anh biết?

Anh quan trọng trả lời:

_ Chúng tôi biết.

_ Sao không thấy Vê Ô A, Bê Bê Xê loan tin gì cả?

Vẫn rất đầy đủ thẩm quyền, anh đáp:

_ Hội nghị bí mật mà, bọn ký giả đâu có biết…

Chán ngấy, tôi muốn nói: “Thôi ông ơi. Chuyện vớ vẩn. Bọn ký giả Anh Mỹ chúng nó không biết mà ông biết..” Nhưng tôi không nói. Nói làm gì. Mình biết đó là chuyện vớ vẩn thì thôi, đừng làm cho người ta mất hứng, mất hy vọng. Làm cho người ta mất hy vọng là độc ác, là có tội. Người ta ước mơ chuyện đó xẩy ra, người ta làm như chuyện đó sắp xẩy ra thật. Thế rồi một tối Lê Trọng Nguyễn nói với tôi:

_ Mày tin không? Có người gặp Hùng Sùi đi bán bánh chưng, bánh giò..

Ðó là thời gian Sài Gòn có tin những người chống Cộng đã kết hợp được với nhau thành tổ chức ở ngay trong thành phố, đông lắm, súng đạn đủ cả, chỉ còn chờ ngày giờ nổi dậy. Tôi thán phục đàn anh nào đó trong phe ta bịa ra chuyện Hùng Sùi tối tối xách giỏ đi bán bánh chưng, bánh giò. Phải công nhận đàn anh có tài sáng tác tuyệt vời, đàn anh sành tâm lý nữa. Ðể làm cho người nghe chuyện ta có những tổ chức võ trang chống Cộng ở ngay trong thành phố là chuyện tin được, chuyện có thật, không gì bằng cho Trung Tá Hùng Sùi tối tối xách giỏ đi bán rong bánh giò, bánh chưng. Không cần phải phụ đề Việt ngữ từ em nhỏ lên ba đến cụ già chín bó khi nghe chuyện cũng thấy, cũng biết liền một khi như thế là Trung Tá Hùng Sùi của quân ta không đi học tập cải tạo, Trung Tá Hùng Sùi giả làm ông bán bánh chưng, bánh giò đi liên lạc, cho tin, trao lệnh cho những kháng chiến quân trong thành phố. Nếu Trung Tá Hùng Sùi mà đi bán bánh giò, bánh chưng thì đúng là ta có “quân ta” ở ngay trong thành phố rồi!

Năm 1977 không khí Sàìgòn sôi động lên vì cái gọi là “Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt”. Người ta nói Thông Cáo này được dán trên bảng Cáo Thị trước cửa cái gọi là – lâu quá quên mất tên gọi đúng – Sở Phụ Trách Ngoại Kiều ở đầu đường Nguyễn Du. Anh Việt Cộng tên là Năm Thạch là chủ nhiệm cái sở này. Mấy năm sau có tin anh bị mất chức rồi bị giết chết. Vụ giết anh bị cho chìm suồng. Thông Cáo được dán ở đó chừng nửa buổi thì bị nhân viên trong Sở ra bóc đi mất. Nhưng có người chép được cái Thông Cáo ngàn vàng ấy. Ðại ý nó như sau:

“Sẽ cho ra đi ồ ạt những nhân viên chính quyền cũ, các sĩ quan quân đội cũ và những người có liên hệ với chính phủ Hoa Kỳ. Thứ tự ưu tiên những thành phần được ra đi như sau:

_ Hồi chánh viên

_ Sĩ quan.

_ Công chức cao cấp

_ Dân biểu, thẩm phán

_ Nhân viên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ…”

Tôi được một ông bạn cho xem bản Thông Cáo ấy, bản đánh máy, ngôn từ đại khái như trên. Tôi nhớ bốn tiếng “Ra đi ồ ạt” và “Hồi chánh viên” đứng ưu tiên số một.

Khi nghe nói về cái Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt đó tôi không tin lắm nhưng tôi cũng không thể nói đó là chuyện bịa. Người ta mơ ước được Ra Ði Ồ Ạt, người ta bịa ra Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt. Tôi thán phục đàn anh nào trong cái năm u tối ghê gớm 1977 sáng tác ra bản Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt ấy.

“Ði được thì cái cột đèn nó cũng đi..” Nghe nói đó là lời Nghệ sĩ Trần Văn Trạch nói ở Paris. Toàn thể nhân dân Quốc Gia VNCH không muốn sống với bọn Việt Cộng, gần như tất cả nhân dân VNCH muốn được đi khỏi nước mình. Và không ai bảo ai người ta đã vượt biển ra đi, hàng hàng lớp lớp, liên miên không dứt, bất kể sống chết, nam như nũ, trẻ như già, giầu và nghèo rớt. Bất chấp những chuyện bị bọn Việt Cộng bắt, cho đi tù khổ sai, chuyện phụ nữ bị hải tặc hiếp, chuyện đàn ông, con trai bị hải tặc quăng xuống biển, chuyện thuyền chìm, thuyền vỡ, chuyện thuyền vượt biển lênh đênh  trên biển, đói khát, người phát điên nhẩy xuống biển, người ăn thịt người.., người dân VNCH cứ người sau, kẻ trước xuống những con thuyền ọp ẹp làm cuộc vượt đại dương. Họ làm cho người thế giới phải xúc động, phải kinh ngạc, họ cung cấp cho ngôn ngữ Anh Mỹ danh từ  Boat People. Ước mơ đi khỏi nước để không phải sống với bọn Việt Cộng sôi sục mãi trong trái tim những người dân VNCH.

Những năm 1982, 1983 Sài Gòn có tin “chính phủ Úc nhận dân Việt di cư sang Úc.”  Người ta hân hoan bảo nhau không cần vượt biên nữa, chỉ cần ghi tên di cư sang Úc là được sang Úc. Ði bằng tầu biển, mỗi chuyến tầu ngoại quốc đến tận nơi chở đi 5.000 người. Ði đàng hoàng, đi công khai. Việc ghi tên đơn giản và dễ dàng, chỉ cần làm danh sách ghi tên vợ chồng, con cháu, dâu rể – một gia đình bao nhiêu người cũng được – số nhà, kèm theo một bản in ảnh căn cước tất cả những người có tên trong danh sách, nộp cho người nào đó biết chỗ nộp đơn, không phải đóng qua một đồng lệ phí nào cả, cứ ở nhà chờ, sẽ có người trong tổ chức, được gọi là Tổ Trưởng, một Tổ trưởng phụ trách mấy chục gia đình, đến nhà cho tin, hẹn ngày xuống tầu.

Chuyện di dân sang Úc hấp dẫn vì người đi không phải đóng qua một đồng lệ phí nào, do đó người ta tin nó không phải là chuyện bịp. Tôi không tin cái chuyện di dân sang Úc ngon lành quá cỡ thợ mộc đó nhưng tôi cũng không có tư cách gì để nói đó là chuyện vớ vẩn. Không thể bảo đó là chuyện bịp vì những tổ chức nhận đơn không lấy tiền của ai. Người ta nộp danh sách, nộp ảnh, và người ta nuôi giấc mộng một ngày đẹp trời có người đến nhà bảo:

“Ði..! Ra bến Sài Gòn, ra Vũng Tầu, ra Nha Trang…lên tầu sang Úc..”

Chuyện thần tiên cứ sôi âm ỉ như thế cho đến năm 1983 bọn Công An Việt Cộng xuống tay càn quét những tổ chức nhận đơn di dân sang Úc.

Một trong những tổ chức nhận đơn nổi tiếng nhất là tổ chức của một nhân vật có tên là Năm Biểu, hay Năm Bửu. Tôi không gặp Năm Biểu lần nào, nhiều ông bạn tôi, trong số có các ông bác sĩ, kỹ sư, thẩm phán,  từng gặp Năm Biểu và rất mê tín Năm Biểu. Nhiều ông cho tôi biết:

“Ông Năm”, tức Năm Biểu,  từng lên máy bay sang Úc trao danh sách di dân, ký nhận đất với chính phủ Úc, được Thủ Tướng Úc chào đón, rồi lại bay về Sài Gòn để lo cho đồng bào đi.

Tôi théc méc tại sao chính phủ Úc không nhờ Công An Việt Cộng làm việc nhận đơn xin di dân mà lại giao việc cho một nhân vật tôi chưa từng nghe nói đến tên bao giờ là Năm Biểu, ông bạn tôi trả lời tại chính phủ Úc không tin bọn Công An Việt Cộng, sợ nhờ  bọn nó sẽ cho toàn những tên đảng viên và những tên thân Cộng đi, vì “Ông Năm” là nhân vật được Thủ Tướng Úc và nhiều nhân vật cao cấp trong chính phủ Úc, Quốc Hội Úc,  biết, tin cẩn..v…..v..

Ra toà, Chủ Chốt Năm Biểu bị Việt Cộng phạng 10 năm tù, hai ông phụ tá của Năm Biểu mỗi ông 6 quyển lịch Tam Toong Méo. Tôi quen một ông trong hai ông phụ tá ấy. Ông bị nó tó năm 1983, tháng Năm năm 1985 tôi vào Phòng 10 Khu ED Lầu Bát Giác Chí Hòa, thấy ông ở trần, quần sà-lỏn, trong Phòng 9 cùng khu. Năm tháng qua, tôi được biết bây giờ ông sống với vợ con ông ở Cali, sau cùng ông cũng ra đi Trong Vòng Trật Trầy Orderly Departure Program sang Mỹ như mọi người, ông không có sang Úc, sang Iếc chi cả.

Cũng nghe nói năm xưa ấy ông Nhạc sĩ Lê Thương là một trong những người nhận đơn di dân sang Úc, ông nhận đơn gần như công khai ở nhà ông, có Nữ ca sĩ Mộc Lan giúp ông làm việc ấy. Nghe nói ông chỉ bị bọn Công An Thành Hồ đến nhà tịch thu hết hồ sơ và bắt ông lên sở khai báo liền ba, bốn ngày, nhưng ông không bị bắt giam ngày nào.

Những ngày như lá, tháng như mây… Thời gian vỗ cánh bay như quạ… Năm 1990…, 13 năm sau năm 1977, năm Sài Gòn có bản Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt, Chương Trình Ra Ði Trật Tự ODP – Orderly Departure Program – được thực hiện. Ðúng như lời đã được báo trong Thông Cáo năm 1977: các sĩ quan, công chức cao cấp, các dân biểu, thẩm phán VNCH được ra đi, được chính phủ Mỹ cho mượn tiền mua vé máy bay, được chính phủ Mỹ cho người đón, giúp đỡ. Có thể nói là “ra đi ồ ạt” vì nhiều chuyến phi cơ bay từ Sai Gòn sang Mỹ có chuyến đông tới 200, 300 di dân tị nạn Việt Nam. Người đi những chuyến phi cơ đông đến như thế, trung tâm ODP ở Sàigòn ngày nào cũng có cả nghìn người đến làm thủ tục phỏng vấn để ra đi, chẳng “ra đi ồ ạt” thì còn là gì?

Tôi thán phục tác giả bản “Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt” năm 1977. Ðại ca ơi, xin Ðại ca nhận lời thán phục của đàn em! Ai bảo ước mơ không bao giờ trở thành hiện thực? Vẫn biết ở đời mười chuyện thì có đến bẩy, tám chuyện ta không được vừa ý. Nhưng ta đừng đòi hỏi nhiều hơn. Mười chuyện mà có đến hai, ba chuyện ta được hài lòng tôi thấy cũng là đã lắm rồi.

Những ngày như lá, tháng như mây.. Thời gian vỗ cánh bay như quạ.. Ba năm, rồi năm năm, rồi bẩy, tám năm qua đi trên thành phố Sài Gòn nặng những ưu phiền, những khổ nhục, những thù hận. Những mùa mưa đến theo những mùa nắng.. Những nàng trinh nữ hết còn là trinh nữ, những nhan sắc tàn phai, nhưng niềm ước mơ “quân ta trở về” vẫn không phai nhạt một ly ông cụ nào trong tim những người dân VNCH. Người ta thù ghét bọn Việt Cộng đến cái độ có người nói ra miệng”

“Ước gì Mỹ nó thả bom nguyên tử xuống cho chết mẹ chúng nó hết đi..”

Nếu có ai nói:

“Mỹ nó thả bom nguyên tử chúng nó chết mình cũng chết..”

Người đó sẽ được nghe tiếp câu nói xanh rờn:

“Mình chết cũng được, miễn là chúng nó chết..”

Những chuyện kháng chiến quân, phục quốc quân vẫn cháy âm ỉ trong lòng nhân dân, từ lâu rồi người ta ước mơ “quân ta” có tiếng nói, tức “quân ta” có đài phát thanh; bẩy, tám mùa lá rụng đã qua, bây giờ đến lúc người ta không còn ước mơ nữa, người ta đòi hỏi “quân ta” phải có tiếng nói, tức “quân ta” phải có đài phát thanh, “quân ta” ở đâu cũng được, “quân ta” chưa kéo về cũng được, nhưng “quân ta”, nếu thực sự có “quân ta”, và nếu “quân ta” mạnh đến cái độ có thể đuổi bọn cán binh Bắc Việt Cộng chạy về Bắc không kịp vác theo cái tượng anh Già Hồ trước Tòa Ðô Chính, thì quân ta phải có đài phát thanh, quân ta phải có tiếng nói để nói chuyện với nhân dân. Ðầu năm 1984 ước mơ và đòi hỏi ấy của nhân dân trở thành hiện thực.

Ðầu năm 1984, ra Tết được mấy ngày, có tin “ ta “ có đài phát thanh! Vài người ở Nha Trang tình cờ bắt được tiếng nói của quân ta, tin ấy truyền nhanh vào Sài Gòn. Tôi là một trong số những người Sài Gòn đầu tiên bắt được tiếng nói của quân ta trong radio. Ðó là Tiếng Nói Ðài Phát Thanh Hoàng Cơ Minh, phát thanh về nước từ biên giới Thái Lan hay ở đâu đó ngoài nước, một ngày 5 buổi phát thanh. một buổi một giờ đồng hồ. Buổi phát thanh cuối cùng trong ngày vào lúc 10 giờ khuya, giờ Sài Gòn. Vợ chồng tôi vỡ tim khi nghe Thái Thanh hát Quê Em;

_ Quê em miền trung du
Ðồng quê lúa xanh rờn
Giặc tràn lên đốt phá
Anh về quê cũ, đi diệt thù giữ quê
Giặc tan đón em về..

Năm 1984 Thái Thanh ở Sài Gòn. Không biết có lần nào cô nghe đài phát thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh không, không biết nếu cô nghe tiếng hát của cô từ nơi xa lắm vẳng đến tai cô, cô có cảm nghĩ gì, vợ chồng tôi đã nghe cô hát Quê Em nhiều lần, khi nghe tiếng cô hát Quê Em qua đài phát thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh vợ chồng tôi vỡ tim.

Tim chúng tôi vỡ thật sự, sau đó chúng tôi nhặt nhạnh, chắp nối, vá víu, dán hồ, dán băng keo những mảnh tim vỡ của chúng tôi lại, nhưng thật sự là khi nghe cô hát Quê Em những đêm xưa ở Sài Gòn, tim chúng tôi vỡ.

Và thời gian lại qua đi… qua đi..! Có những ước mơ thành sự thực, có những ước mơ mãi mãi chỉ là những ước mơ. Trong những ước mơ không bao giờ thành sự thực ấy có ước mơ “quân ta trở về”. Than ôi… Quân ta không bao giờ trở về cả! Một đi là quân ta đi luôn. Năm 1989 ở Trại Lao Ðộng Khổ Sai Z 30 A Xuân Lộc, Ðồng Nai, tôi được tin bọn Tầu Cộng đàn áp, bắn giết người Tầu biểu tình chống chúng ở Thiên An Môn, tin nhân dân Lỗ-ma-ni nổi dậy đập phá gông cùm cộng sản, lôi cổ vợ chồng tên Sô-sét-cu, Ðảng trưởng Ðảng Cộng Sản Lỗ ra, dí súng vào đầu bắn bỏ, tin nhân dân Ðức hai miền Tây, Ðông đập phá bức tường ô nhục Berlin!

Anh em tù chúng tôi “phấn khởi, hồ hởi.” Riêng tôi chưa bao giờ tôi ước mơ tôi được thấy chủ nghĩa cộng sản bị liệng vào thùng rác của nhân loại, như mọi người tôi chỉ mong bọn đảng viên cộng sản giảm bớt những hành động tàn ác của chúng, vậy mà trong đời tôi tôi đã thấy bọn đảng viên cộng sản, sau một thời hoành hành, bị nhân dân nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít đưổi đi, tượng đá, tượng đồng những tên đầu xỏ cộng sản bị nhân dân lôi cổ xuống, kéo ra nằm ở những bãi rác…

Cộng sản nó đổ ở nhiều nơi, cộng sản nó chưa đổ ở đất nước tôi, nhưng mà rồi thì cộng sản nó cũng phải đổ ở đất nước tôi thôi. Chuyện ấy chắc như bắp rang, chắc như gỗ lim, chắc như cua gạch, gốc nó đã thối, nó chỉ là cái cành èo uột, nó không sao có thể sống được. Chỉ có điều thế hệ chúng tôi có tuổi xuân thì bay bướm những năm 1960, năm nay đã là năm 2003, chúng tôi không còn có mặt bao lâu nữa ở cõi đời này, chúng tôi muốn được thấy cộng sản nó chết trước khi chúng tôi ra đi, nên chúng tôi sốt ruột…

Tôi tin chắc một điều
Một điều tất yếu
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu.
Tôi lại nghĩ một điều
Một điều sâu thẳm
Là đêm tàn Cộng sản tối tăm
Có thể kéo dài hàng mấy mươi năm
Và như thế sẽ buồn lắm lắm
Cho kiếp người sống chẳng bao lăm.

Năm 1969 sống trong ngục tù miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã biết, đã nói, chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch, bọn cộng sản sẽ bị nhân dân bợp tai, đá đít đuổi đi, Thi sĩ chỉ hơi lo về chuyện bọn cộng sản có thể kéo dài thời gian hấp hối của chúng đến vài chục năm rồi mới chịu ngã ra chết. Tôi cũng sốt ruột ghê lắm chứ, nhưng tôi nghĩ…

Bọn cộng sản không có thể nào sống lâu hơn được nữa, cho chúng nó sống, chúng nó cũng không sống được. Cộng sản đã rẫy chết từ năm 1969 khi nhà thơ tù ngục làm những dòng thơ trên về nó. Như thế cái gọi là “đêm tàn Cộng sản tối tăm” đã kéo dài, đã ngắc ngoải từ ấy đến nay, năm 2003, là hơn 30 năm. Hơn thế nữa, ngay từ lúc nó mới sinh ra đời, nó đã rẫy chết. Nó ra đời ở Nga năm 1920, nó rẫy chết tới nay là 83 năm rồi còn gì! Nó đã chết từ mười mấy năm nay ở Nga, ở Ðức, ở Ba Lan, Hung, Tiệp, nó đã chết ở Tầu, ở Cuba, ở CuBốn, ở Việt Nam, ở khắp mọi nơi. Chỉ còn cái xác nó nằm thoi thóp đấy thôi.

Một ước mơ lớn của chúng ta, của cả loài người, đã thành hiện thực: bọn Cộng sản đã chết! Ai bảo ước mơ không bao giờ trở thành hiện thực? Mấy thằngViệt Cộng ngắc ngoải sống cũng như đã chết.

o O o

Năm 1981 ở tù về tôi gặp Dương Hùng Cường. Bị bọn Bắc Việt Cộng bắt  tù vì tội là sĩ quan Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, Cường về trước tôi một năm. Cường bảo tôi:

_ Có Trần Tam Tiệp, trước làm thơ khôi hài đăng ở Con Ong, ký tên Ðạo Cù, hiện ở Paris, gửi thuốc về cứu trợ anh em. Tôi đã báo cho Tiệp biết ông về và cho Tiệp địa chỉ của ông. Kỳ quà tới sẽ có ông đấy.

Trần Tam Tiệp là Trung Tá, anh ở Không Quân, nhưng hình như anh không bay mà có thời giữ về an ninh phi trường. Tiệp ở Paris, năm ấy anh là Tổng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Văn Bút Quốc Tế giúp cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại một số tiền để cứu trợ những văn nghệ sĩ Việt Nam trong nước, Tiệp dùng số tiền ấy, và những khoản tiền anh quyên được, mua thuốc Tây gửi về cho chúng tôi. Trong mấy năm liền, một số anh em chúng tôi nhận được đồ cứu trợ do Tiệp gửi cho đều đều. Hai, ba tháng một lần chúng tôi được giấy gọi đến nhà phát đồ nước ngoài ở đường Cô Giang nhận những thùng thuốc Tây từ Paris gửi về. Những hộp giấy carton một ký, hai ký của Bưu Cục Pháp trông thật đẹp.

Tôi được biết Trần Tam Tiệp từ đấy. Tôi gọi anh là Dượng Ba, Cường cũng quen gọi anh là Dượng Ba. Rồi Cường và tôi bị bọn Công An Phản Gián Cộng Sản bắt năm 1984. Cường chết trong tù. Năm 1990 tôi trở về mái nhà xưa, Tiệp không còn hoạt động trong Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Năm 1994 vợ chồng tôi đến Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Từ Paris Tiệp gọi điện thoại đến tôi một lần, hai lần, rồi im luôn. Sau đó tôi được tin Tiệp bị kích ngất, Tiệp bị liệt. Tôi biệt tin của Tiệp.

Tám năm qua thật mau. Mới đây nhờ ông bạn Mai Trung Ngoc, chủ Nhà Sách Nam Á ở Paris, tôi được nói chuyện qua phone với Trần Tam Tiệp. Sau đó tôi được thư của Tiệp.

Paris, 15 hay 16.4.2003 sắp sửa Paques Chúa sống lại

Anh chị Hoàng Hải Thủy ơi

Thật là cảm động khi được nói chuyện trực tiếp dù qua điện thoại với ông bà. Tám năm rồi, ngày 13.5.2003 là 8 năm đó, đầy đau thương nhưng tôi vẫn sống được, nhờ con và các cháu nó có lòng thương

Hôm nọ gặp Mai Trung Ngọc, chủ nhà xuất bản Nam Á, biết nhà tôi, lên lầu chơi, cho ngồi xe lăn đưa đi ăn phở rồi gọi điện thoại cho ông. Cám ơn ông nhiều, tôi cũng đã đọc lại cuốn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” do Việt Cộng viết năm 1992 và bây giờ do ông viết trả lời chúng. Sau đó tôi đọc cuốn “Sống và Chết ở Sàigòn”. Thật là kỳ thú. Cuốn “Sống và Chết ở Sàigòn” gợi nhớ lại dĩ vãng ít ỏi còn sót lại trong tôi. Tôi nhớ lại khi bị Tây bắt rồi đến 1950 được thả đi khóa 1 Nam Ðịnh nhưng bị sốt thương hàn nên được hoãn lại đi khóa sau tức là khóa II Thủ Ðức. Vào Sàigòn được gặp lại bạn volley ở sân Tòa Thị Chính Hà Nội trong những ngày đợi đi khóa II Thủ Ðức, có gặp được Phan Lạc Phúc, vào Thủ Ðức có gặp Phúc Khàn cùng trung đội, có cả Ðỗ Việt sau đó gặp lại trên tàu đi Tây học, chỉ có cái chưa gặp và quen ông thôi.

Bạn bè quen biết chết cũng nhiều, năm 1987 hay tin buồn, vợ chồng Dương Hùng Cường chết để lại 6 con gái, một con trai, tôi nghe nói chúng nó nay khá, cũng mừng cho các cháu.

Ðược tin ông bà hoài, vì ông viết cho nhiều nơi thỉnh thoảng lại được đọc, vẫn mong một ngày nào được diện kiến ông và nhất là bà Alice. Hôm nói chuyện với ông qua điện thoại chùa của Nam Á, bà Alice cho biết cháu Kiều Giang mới qua với ông bà được vài ngày. Thôi thế cũng mừng gia đình đoàn tụ. Tôi từ khi bị tai biến nói năng khó, mất trí nhớ bây giờ nhớ lung tung chả ra sao nhưng vẫn nhớ Trần Ðức Uyển, cháu Trần Ðức Uyển năm 92 có viết cho tôi là Trần Ðức Uyển mới về và cám ơn tôi đã gửi đồ cho cậu Uyển. Nhân đọc “Sống và Chết ở Sàigòn” tôi có đọc được đoạn ông viết về Trịnh Viết Thành làm tôi nhớ thằng con đầu của nó, cháu tên Kim, năm 1991 tôi sang Hoa Kỳ chơi, ở nhà Bồ Ðại Kỳ, em rể Nguyên Sa, cháu Kim có vẽ cho tôi một bức hình mà tôi còn giữ được đến bây giờ. Ðó là một kỷ niệm thật quí  đối với tôi. Cũng có nhiều kỷ niệm của Ðằng Giao gửi cho tôi kể cả một đại tự Phúc to tổ bố mà năm Hợi Ðằng Giao nhờ thày Tầu ở Chợ Lớn viết rồi gửi cho tôi.

Ông Thủy ơi, có chuyện muốn nhờ ông. Chúng ta mất nước năm 1975, phải chạy ra ngoại quốc. Việc Việt Cộng chiếm được miền Nam là do ý đồ của Hoa Kỳ nhưng có một cái tôi không thể nào chịu được là chúng nó mang tên một thằng mật thám cho Pháp sát hại người quốc gia mà đặt Sài Gòn thành Hồ Chí Minh, thật thối không thể ngửi được lại thần thánh hóa một cách rẻ tiền, vì thế tôi xin ông cùng những ai còn nghĩ đến Việt Nam, nghĩ đến Hòn Ngọc Viễn Ðông, tổ chức một chiến dịch đòi Việt Cộng phải trả cái tên Sài Gòn lại cho Sài Gòn của nhân dân. Xin các ông làm việc ấy để cho con cháu mình không phải gọi thành phố thân yêu bằng cái tên của một tên làm bồi cho Tây ngày xưa.

Muốn viết nhiều cho ông nhưng chữ viết chưa được rõ nét và cũng còn thiếu ý nữa Công Tử Hà Ðông gắng đọc.

Chúc ông bà và Kiều Giang được hưởng một Lễ Phục Sinh hoàn toàn.

Ông có liên lạc được với Ký Giả Lô Răng cho tôi hỏi thăm hắn.

Thân mến
Trần Tam Tiệp    

Ơi… Dượng Ba thân mến của chúng tôi. Dượng yên tâm. Lâu rồi tôi ít khi hứa nhăng, hứa cuội với ai, lâu rồi tôi cũng không còn quả quyết một chuyện gì là hoàn toàn đúng, là nhất định đúng, là nhất định sẽ xẩy ra hay nhất định sẽ không xẩy ra, nhưng chuyện cái tên anh già lưu manh Hồ Chí Minh sẽ bị nhân dân ta quăng vào thùng rác, cái tên nhảm nhí đó sẽ không còn được khoác lên thành phố Sài Gòn thương yêu của chúng ta tôi đoan chắc với Dượng là chuyện sẽ xẩy ra. Trăm phần trăm. Tôi vẫn viết “chăm phần chăm” nhưng hôm nay, với Dượng, tôi phải viết nghiêm chỉnh trăm phần trăm. Dượng còn nhớ chuyện bọn Bôn-sơ-vích Nga đặt tên Lenin cho thành phố  Thánh Peter ở Nga chứ? Trong nửa thế kỷ thành phố Peterbourg bị gọi là Leningrad. Ðể rồi đến những năm cuối thế kỷ tượng Lenin, Thánh Tổ Sư của bọn cộng sản, bị nhân dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo xuống, cho ra nằm ở bãi rác. Không kèn, không trống, một ngày đẹp trời thành phố Peterbourg trở lại là thành phố Peterbourg, thành phố Sài Gon thương yêu của chúng ta rồi cũng thế thôi.

Bọn đảng viên cộng sản Nga đã bị nhân dân Nga bợp tai, đá đít đuổi đi ở Nga, bọn đảng viên cộng sản Việt rồi cũng sẽ bị nhân dân Việt bợp tai, đá đít đuổi đi! Dượng yên tâm, Dượng Ba ơi… Những gì đã xẩy đến với bọn đảng viên cộng sản Nga sẽ – chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch – xẩy đến với bọn đảng viên cộng sản Việt, như trong câu vè tuyên truyền của chính bọn đảng viên cộng sản Việt tôi thấy ở Sài Gòn những năm 1991, 1992:

Liên Xô trước cũng như ta
Mai đây ta cũng như là Liên Xô!

Vợ chồng, bố con tôi vẫn nhớ ơn Dượng, chúng tôi vẫn nhớ, vẫn nhắc đến Dượng luôn. Chúng tôi cầu xin Ơn Trên ban cho Dượng ân phúc bình an. Riêng tôi, tôi mong đêm tàn của bọn cộng sản Việt Nam không kéo dài lâu hơn nữa, tôi mong Dượng và tôi sẽ thấy “Nó” chết trong một ngày gần đây, tôi mong chúng ta thấy “Nó” chết trước khi chúng ta đi khỏi cõi đời này.

Ký giả Lô Răng hiện ở thành phố Sydney, Úc-đại-lợi. Bài Viết ở Rừng Phong này của tôi được đăng ở nhiều báo, trong số có tờ Nhân Quyền ở Úc, tôi chắc “hắn” sẽ đọc bài này và “hắn” sẽ biết Dượng hỏi thăm “hắn”.

Ai Về Hoàng Hải..?

CHỢ TẾT ÔNG TẠ

CHỢ TẾT ÔNG TẠ

Độc tại Kỳ Hoa vi nạn khách
Mỗi phùng Nguyên Đán bội thương sầu.

Sống ở Kỳ Hoa làm khách nạn,
Năm năm Tết đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Đông Công Tử bạc đầu Rừng Phong!

Năm tàn, tháng muộn, đất khách, nhớ quê, tuổi già, mấy câu thơ tìm thấy trên trang sách cũ làm tôi cảm khái. Tôi lấy mấy điện-thư — I-Meo — của bạn đọc tám phương trời, mười phương đất viết cho tôi và tôi dành bài Viết ờ Rừng Phong này để viết về TÔI.

I-Meo của bạn Tien Phung, gửi ngày May 15, 2008:

Kính Bác Công Tử Hà Đông,

Tôi năm nay Sáu Bó tuổi đời, từng đọc hầu hết những tiểu thuyết, phóng sự, những bài viết ngắn của bác trước và sau 1975. Với tôi bác là “Numero Uno“. Có một bài thơ tôi đọc đâu đó, dường như trên báo Văn Nghệ Tiền Phong, không nhớ có phải là thơ của bác hay của ai. Tôi nhớ mấy câu. Bài thơ như sau:

Như Chuyện Thần Tiên đã hết rồi
Máu Đen Vàng Đỏ chảy không thôi
Đỉnh núi Kiều Giang nghe gió lộng
Bẫy Yêu xập xuống, Gã Thâm ngồi

Tôi quên phần giữa. Chỉ nhớ hai câu cuối:

Ai về Hoàng Hải tim vang sóng
Khi Thủy Triều lên có nhớ người?

Xin Bác cho biết về bài thơ này.

HHThủy trả lời:

Kính bác Tiên Phụng.

Cám ơn bác khen tặng. Bài thơ ấy của tôi, làm về những tiểu thuyết tôi đã in trên báo, xuất bản thành sách. Đây là toàn bài thơ, tôi cũng nhớ lại, có thể không đúng lắm với bài thơ bác đã đọc:

NHƯ CHUYỆN THẦN TIÊN

Như Chuyện Thần Tiên đã kết rồi,
Máu Đen, Vàng Đỏ chẩy không thôi.
Đỉnh núi Kiều Giang nghe Gió Hú,
Bẫy Yêu sập xuống, Gã Thâm ngồi.
Người Yêu em có Đi Tìm bóng,
Còn nét Môi em Thắm Nửa Đời.
Ngoài Cửa Thiên Đường sầu chất đống
Chiếc Hôn Tử Biệt lạnh vành môi.
Bây Giờ Tháng Mấy, đời ngưng đọng
Bóng Tối Đen Hơn một nửa trời!
Ai về Hoàng Hải tim vang sóng
Khi Thủy triều lên, có nhớ Người?

du-dangNhững tiểu thuyết tôi viết, đăng báo trong những năm từ 1956 đến 1975, được xuất bản thành sách: Như Chuyện Thần Tiên, phóng tác The Scorpion Reef của Charles William,Máu Đen, Vàng Đỏ, truyện James Bond 007 của Ian Fleming, Đỉnh Gió Hú, phóng tác The Wuthering Heights của Emily Bronte, Kiều Giang, phóng tác Jane Eyre của Charlotte Bronte, Bẫy Yêu, truyện James Bond 007, Gã Thâm, phóng tác The Deep của Mickey Spillane, Đi Tìm Người Yêu, nguyên bản The Citadel của A.J. Cronin, Môi Thắm Nửa Đời, tiểu thuyết sáng tác, Ngoài Cửa Thiên Đường, phóng tác Malentendu của Boileau-Narcezac, Chiếc Hôn Tử Biệt, tiểu thuyết phóng tác thứ nhất, nguyên bản A Kiss before Dying của Ira Levin, Bây Giờ Tháng Mấy, Hồi ký, Đen Hơn Bóng Tối, nguyên bản Piège pour Cendrillon, tác giả Jose Giovanni.

Những truyện không được kể trong bài thơ trên đây: Người Yêu, Người Giết, nguyên bảnLa Seconde Souffle của José Giovanni, Bóng Người Áo Trắng, phóng tác The Lady in White của William Collins, truyện này không được xuất bản thành sách, Trong Vòng Tay Du Đãng, phóng tác No Orchid for Miss Blandish của James Hadley Chase, Định Mệnh An Bài, truyện của James Hadley Chase, phóng tác theo bản tiếng Pháp Retour de manivelle,Thầy NôDoctro No, và Phục Vụ Nữ Hoàng,Điệp Vụ Hỏa CầuCông Tác Đại K, truyện Điệp Viên James Bond 007 của Ian Fleming,Tình Mộng, viết theo phim Vacance Romaine,Nửa Kiếp Giang Hồ, quên tên nguyên bản,Tiếng Cười Trong Đêm Tối, phóng tác Laughter in the dark của Vladimir Nabokov, Hồng Loan, Hồng Ngọc, nguyên bản The Pink Panther, quên tên tác giả, Dữ Hơn Rắn Độc, nguyên bản Deadlier than the male, quên tên tác giả, Vòng Tay Yêu Tinh, quên tên truyện Mỹ, quên tên tác giả, Yêu Mệt, phóng tác tiểu thuyết Le Repos du Guerrier của Christiane Rochefort, Người Vợ Mất Tích, quên tên nguyên bản, Yêu Nhau Bằng Mồm, sáng tác,Gái TrọVợ Chồng Son, hai truyện viết theo phim Hollywood.

Bản tổng kết này chưa có đủ tất cả những tên truyện của tôi.

o O o

Tien Phung, May 20th, 2008:

Nửa Kiếp Giang Hồ, nếu tôi nhớ không lầm, được làm thành phim xi-nê, tên phim tiếng Pháp là La Scoumoune, diễn viên Jean-Paul Belmondo trong vai chính, tiểu thuyết viết bằng tiếng Ý của Jose Giovanni.

Nguyễn V.N. May 26, 2008:

Cám ơn bác Hoàng Hải Thủy về những bài thơ văn phong Việt Nam chính hiệu. Cháu rất thích bài thơ “Căn nhà không có mùa xuân.”

Hoàng Hải Thủy. Jan 16, 2009.

Cám ơn bạn Nguyễn V.N. Xin tặng bạn bài “Căn nhà không có mùa xuân” tôi làm Tết 1977:

orchidCăn Nhà Không Có Mùa Xuân

Ngày xưa tôi đọc thơ người lạ
Bài thơ sầu muộn một tình buồn.
Tôi nhớ ý thơ, không nhớ cả
Bài thơ tôi đọc một mùa xuân.

Mùa xuân xưa lắm, tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Đời chỉ có hoa và mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Tôi đã buồn vương, đã cảm thương
Bài thơ sầu mộng ý như sương
Người yêu một tối rời nhân thế
Thi sĩ đau mê chuyện đá vàng.

Đóng cửa nhà xưa quên gió nắng
Đàn xưa để mặc nhện tơ dăng.
Năm mòn, tháng mỏi thời gian vắng,
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Ở giữa căn nhà u tịch ấy,
Đời sống buồn trôi với tối tăm.
Cho đến một chiều nghe pháo nổ,
Người sống bừng cơn mộng cuối năm.

Tay gầy vén bức màn cô quạnh.
Nhìn ra thiên hạ đón xuân sang.
Mới biết từ đêm tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân.

Từ đấy hoa tàn và khói lạnh,
Bóng tối trùm lên lưới nhện dăng.
Vĩnh viễn mùa xuân không trở lại
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần.
Một tối rùng mình tôi cũng thấy
Sao nhà mình không có mùa xuân.

Sao nhà tôi không có mùa xuân?
Bạn ơi… người bạn mới qua đường
Xin dừng chân lại cho tôi hỏi
– Sao nhà tôi không có mùa xuân ?

HHT

* Bắc Thần, August 25, 2008:

Em cũng chụp được một bài thơ khá hay từ trong một bài viết của Bác. Không biết tác giả là ai.

Tôi vẫn biết Em là người mộng
Em là tiên trên động Bồng Lai
Lỡ tay trong tiệc Dao Đài
Đánh rơi chén ngọc, đầu thai xuống trần.
Tôi vẫn biết tiền nhân, hậu quả
Tôi cùng Em nợ trả chưa xong
Tiên cung lòng tưởng nhớ lòng
Nhớ nhung Em xuống vợ chồng với tôi.
Tôi vẫn biết nghiệp trời có thế
Mười năm qua, trích lệ đã qua
Xe mây tung cánh hạc già
Bách thần mở tiệc hoàng hoa tẩy trần.
Vẫn biết đấy là xuân muôn thưở
Xuân ngàn năm rực rỡ không cùng
Nhưng nơi Nước Nhược, Non Bồng
Em còn tơ tưởng vợ chồng nhân gian ?

* HHThủy thân gửi Bắc Thần: Tôi đọc bài thơ trên trong tập Báo Xuân 1952. Báo Số Tết 1952 của nhật báo Tia Sáng ở Hà Nội. Tôi đọc bài thơ một lần, ở Sài Gòn, mà tôi  nhớ mãi, nhưng quên mất tên tác giả.

* Bạn Băng Đình, Wychita, Kansas, làm bài Thơ Một Vần Hoàng Hải Thủy:

Bẩy Bó Gân Gà.

Bẩy Bó Gân Gà Hoàng Hải Thủy
Nhóc tì Sông Nhuệ, lớn sông Nhĩ
Thành danh Vàm Cỏ sông Sàigòn
Lính tráng leo tới cấp Trung sĩ
Võ Trang Tuyên Truyền thưở bán khai
Tiền thân ngành Chiến Tranh Chính Trị
Thầy Đội khó nuốt cơm nhà banh
Tháo lon tự khoác nghiệp văn sĩ
Hóa thân bướm lượn cõi hoa hương
Làm văn chương ma, thi phú quỉ
Mà khiến người mê, khiến thần sầu
Chữ nghĩa vung vít thật phỉ chí
Sáng tác, tối tác, phóng tác luôn
Ngòi bút chẳng bao giờ tắc tị
Dẫu “Lời quê góp nhặt dông dài..”
Miễn góp tiếng cười vui một tí
Giặc vào..”Sắc đỏ rũa mầu xanh..”
Hoa tàn khám lạnh tưởng mút chỉ
Tại Ngục Vịnh Kiều thêm Phóng Dao
Chiếu phim bạn tù nghe mệt nghỉ
Mơ màng khói lửa hít tô phe
Tiên ông ép rệp bất đắc dĩ
Mấy bó cũng về một bó xương
Duy thưở trần ai có tri kỷ
Trẻ trung vay mượn lắm ân tình
Già lão nợ nần gậy với bị
Bánh xe lãng tử đến Rừng Phong
Hát Ô.. Hát Ô Vàng Mít Mỹ
Chữ nghĩa lại vào Hội Gió Mưa
Độc giả năm châu vẫn khoái tỉ
Xuân thu nhị kỳ gọi thăm nhau
Bạn rầu mần thơ sao vận bí
Này này ai có khác chi ai
Ta chán thi văn, nản hồi ký
Ta chán người, chán luôn cả ta
Cẩm như đồng bào chán đồng chí
Ta cũng nhiều phen bẻ bút thơ
Suy đi, xét lại song thầm nghĩ
Thân tàn, đời mạt kiếp lưu vong
Giấy rách khiến bao người hóa khỉ
Chỉ còn Nàng Thơ quấn quít ta
Chẳng rượu mà say đến túy lúy
Nhớ nhau gửi chút tình cho nhau
Bớ Hoàng Hải Thủy, chớ tịch hĩ !

BĂNG ĐÌNH. 30-3-2001

Tôi trở về với ý thơ đã gợi cho tôi viết bài “ Ai về Hoàng Hải “

Độc tại Kỳ Hoa vi nạn khách
Mỗi phùng Nguyên Đán bội thương sầu.

Sống ở Kỳ Hoa làm khách nạn,
Năm năm Tết đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Đông Công Tử bạc đầu Rừng Phong!

Đến đây xin đăng một số E-mail của quí bạn. Những điện thư này được gửi về “hoanghaithuy.com.”

Thư của ông Vincent Sou :

Năm 1978 tôi ở cùng với anh trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu. Tôi thấy anh từ phòng biệt giam ra sân cắt tóc. Anh như tầu lá chuối bị dội nước sôi. Năm ấy tôi tưởng anh không thể sống mà ra khỏi tù. Mừng anh sống sót.

Kỳ Hoa 12/11/2015. Thưa ông Vincent Sou. “Tầu lá chuối khô” bị dội nước sôi diễn tả thật đúng thân xác tôi trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu.

Thư của ông Bùi Xuân Cảnh:

Tôi yêu CTHĐ không biết bao nhiêu. Ông đã viết hộ, nói thay cho nhiều người tị nạn chúng tôi. Không có ông, bọn phản phúc, bọn ăn cháo đá bát sẽ một mình một chơ, sẽ bốc thơm nhau, chúng sẽ tưởng chúng là “những nhà văn sâu sắc, đáng kính.”

Viết đi, CTHĐ. Ông chỉ còn 10 năm nữa để viết. Tôi nguyện cầm roi theo sau ngựa của ông. Thương ông rất nhiều.

CTHĐ: Hôm nay, Ngày 12 Tháng 11, Năm 2015, tôi viết cám ơn ông Bùi Xuân Cảnh. Tôi được thư ông khoảng năm 1998. Hôm nay tôi mong ông vẫn còn đọc những bài Viết ở Rừng Phong.

* Phong Nhĩ, December 17, 2008.

Kính thưa qúy độc gỉả

Có phải qúy vị cũng đồng ý với bỉ nhân: Đọc những bài viết của Hoàng Công Tử, chúng ta được nhiều điều khoái không thể tả. Một trong những điều khoái đó là Hoàng Công Tử viết dùm ta những điều u uất ta muốn nói lên, muốn thét lên cho hả bao nhiêu điều chất chứa trong lòng. Trong cuộc đổi đời, tang thương dâu biển vừa qua, thật không kể xiết những đau thương tủi nhục, những khốn khó lọc lừa mà dân miền Nam ta phải gánh chịu. Trong vô số nỗi bất hạnh vì tan nhà, mất nước vào tay một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa đời đời, kiếp kiếp, ta có nỗi đau phải chịu đựng bọn “văn nhân vô hạnh, xướng ca vô loài” như Vương Hồng Sển, Á Nam Trần Tuấn Khải, Trịnh Công Sơn, Vũ Hạnh, Sơn Nam. Trong tuổi hoa niên, trước năm 1975, it nhiều chúng ta có yêu mến hoặc có cảm tình với những người ấy. Được chế độ Cộng Hòa ưu đãi, được chiến sĩ ta đổ xương máu cho họ bình an ngồi dũa văn, múa bút… nên họ có điều kiện tạo ra tên tuổi. Nếu họ chỉ có tri óc nhỏ như trí óc loài gà vịt, tất họ hiểu ngay rằng họ không thể có những văn phẩm, nhạc phẩm như họ đã có nếu họ sống ở cái gọi là miền Bắc Xã Hội Chủ Nghiã.

Bọn họ đã cố tình quên, hay vờ vịt không thấy cái sự thực hiên nhiên đó. Họ quay lưỡi liếm đit giặc, ngay cả khi giặc không muốn họ liếm. Họ trâng tráo, bịa đặt bỉ ổi để bôi xấu Quốc Gia VNCH., họ dùng “văn tài” ca ngợi cái xấu, cái ác. Nọc độc của bọn này có thể gây nguy hại cho những người trẻ tuổi, cho con cháu chúng ta, vì có thể hiểu lầm bọn họ là các nhà văn nhà báo nhớn., hay tưởng rằng tất cả những văn nhân Việt Nam Cộng Hoà sau 1975 đều tồi tàn như họ.

Hoàng Công Tử đã vĩnh viễn chôn vùi bọn chúng trong đống rác ô uế. Đó chẳng là điều làm cho chúng ta khoái trá hay sao. Cảm ơn Công Tử!

* Michael Han, April 1, 2009.

Kính thưa Ông Hoàng-Hải-Thủy Công-Tử-Hà-Đông tự Con-Trai-Bà-Cả-Đọi, từ lâu tôi rất kính phục ông, với một lập trường kiên định đối với bọn Việt Gian Cọng-sản. Mỗi lần tôi đọc báo Sài Gòn Nhỏ, trước hết là tôi đọc bài báo của Ông, rồi đến bài báo của Cô Đào Nương Hoàng-Dược-Thảo, thế là xong tờ SGN. Ông có giọng văn cực kỳ hấp dẫn, có những danh từ Ông dùng mang đậm tính chất Hoàng-Hải-Thủy, và chỉ có Hoàng-Hải-Thủy … mới viết được như thế.

Chúc Ông được thật nhiều sức khỏe, để viết những bài báo thật hay.

Thân mến – Michael Hàn.

* Công Từ Hà Đông kính thưa quí vị,

Tôi ấm lòng trước cảm tình của các vị. Như Quân Tử Tầu nói:

– Tình nhiều quá thì không còn Lời để nói.

Tôi chỉ có thể nói với các vị một Lời: Xin cám ơn.

Và tôi đền đáp cảm tình của các vị trong những bài viết của tôi.

Những năm tôi 17, 18 tuổi, tôi có làm vài bài thơ. Năm tôi 20 tuổi tôi không làm thơ nữa. Từ năm 1955 đến năm 1975 tôi không làm thơ. Trong 20 năm ấy tôi Sống, tôi Yêu, tôi Viết. Đời tôi không có chuyện gì để tôi làm thơ.

Những ngày như lá, tháng như mây… Một buổi sáng đầu năm 1976, Thơ trở lại với tôi. Bài Thơ Thứ Nhất tôi làm sau 20 năm tôi không làm thơ là bài:

CĂN NHÀ KHÔNG CÓ MÙA XUÂN

NGƯỜI ĐÀN BÀ TUỔI MÙI

tuoimui

Đăng trên Tuần Báo Tâm Tình Số 6, Ngày 8 Tháng 7, năm 1966.

Đăng lần hai trên Báo Thế Giới Nghệ Sĩ, Ngày 7 Tháng 10, năm 2016.

Hoàng Hải Thủy chép lại từ trang báo Thế Giới Nghệ Sĩ; Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích; Thu Vàng 2016.

Bắt đầu gõ máy lúc 8 giờ sáng Ngày 10 Tháng 10, 2016.

Ghi lại xong lúc 5 giờ chiều Ngày 12 Tháng 10, 2016.

o O o

Con đò ghé vào cầu tầu Thủ Thiêm bên kia sông. Chàng không nhìn đồng hồ tay, chỉ ước lượng cuộc sang sông mất chừng 15 phút đồng hồ. Cặp tình nhân nhẩy lên cầu trước mọi người. Chàng nghĩ  họ là một cặp vợ chồng trẻ, họ nóng ruột muốn được về gần nhau trong một căn phòng kín , trên một chiếc giường. Chàng nghĩ đến Tình Yêu. Với chàng Tình Yêu lúc nào cũng viết Hoa, hoa hai chữ T và Y. Chàng thấy Tình Yêu thật là đáng quý, chỉ có Tình Yêu là chân thật và đáng để cho con người hy sinh. Giữa những ngày chiến tranh ác liệt này, sau những mùa bi thảm tang tóc kéo dài – và còn đe dọa kéo dài hơn nữa – Vào nhà thờ, vào nhà chùa, một nửa đàn đến lễ chít khăn tang trắng. Tình trạng nhiều khăn tang trắng ấy diễn ra ở ngay những đô thị. Trong cảnh chiến tranh tang tóc ấy Tình Yêu lại càng đáng quý.

Từ Sài Gòn sang Thủ Thiêm, năm 1960. Thiếu nữ ngồi giữa  đò che dù.

Từ Sài Gòn sang Thủ Thiêm, năm 1960. Thiếu nữ ngồi giữa đò che dù.

Nhưng thứ Tình Yêu mà chàng thường viết chỉ là thứ Tình Yêu nam nữ, trong đó có những chiếc hôn nồng cháy lửa tình. Đứng trên mũi đò, nhìn theo đôi người trẻ tuổi đi bên nhau, bước những bước dài, vội, tham lam, thèm muốn , hy vọng và đẹp, chàng nghĩ đến chuyện một ngày nào đó, khi cuộc khủng hoảng đang làm tim chàng tan nát, làm tâm trí chàng rã rơi, làm chàng đôi lúc như mê loạn, dịu đi,  khi chàng trở lại mức làm việc như cũ – nghĩa là mỗi buổi chiều, buổi tối, ngồi vào bàn viết một mạch lên giấy một truyện ngắn, và khi buông bút xuống bàn, chui vào mùng ngủ là xong Truyện. Là Quên. Sáng hôm sau không cần đọc lại, chỉ có  việc đem truyện đến tòa soạn, đưa bài, lấy tiền, và quên.

Chàng sẽ viết một truyện dài về Tình Yêu, trong truyện chỉ có hai nhân vật người nam và người nữ – Chàng và Nàng – vào truyện chàng và nàng là thanh niên, thiếu nữ, giữa truyện họ là đàn ông, đàn bà. Truyện dài ấy sẽ chỉ viết về những nỗi yêu đương sung sướng và khổ sở của hai người yêu nhau. Truyện sẽ có những đoạn tả thật dài, thật đẹp về những cuốc yêu đương, tả với một kỹ thuật tân kỳ, che dấu bởi những ngôn từ hoa lá muôn mầu, mơ hồ và đẹp. gợi cho người đọc tưởng tượng.  Một tác phẩm để đời.

Chàng đi lên cầu tầu. Chàng là người cuối cùng ra khỏi đó. Cầu sắt chím trong bóng tối. Gió bên sông này thổi lộng hơn gió bên thành phố.

Chợ Thủ Thiêm lấp loáng ánh đèn. Chàng nghĩ đến danh từ “để đời, tác phẩm để đời.” Mười năm trước đây, khi chàng mới nổi tên tuổi, mới viết và mới xuất bản tác phẩm Vũ Nữ Sài Gòn.

Vũ Nữ Sài Gòn được chàng trang trọng đem đến tặng một ông văn sĩ đàn anh; chàng được ông ban cho hai câu:

“Tôi đọc Vũ Nữ Sài Gòn, tôi nghĩ: Ông tác giả này cứ đem nước hoa rắc vào chuồng xí.”

Và:

virginia“Văn anh có sức sống. anh có tính đến việc viết tác phẩm để đời chưa?”

Chàng nhớ rõ những lời ông đàn anh văn nghệ nói năm xưa. Ông đàn anh văn nghệ nổi tiếng và có tiếng – đôi khi mang tiếng – là một nhà phù thủy văn nghệ, một người bị coi là muốn làm lãnh tụ văn nghệ và thường lèo lái những anh làm văn non tay, kém bản lãnh, viết theo ý ông, như những ông phù thủy sai khiến âm binh đi tác hại. Vì vậy, khi nghe ông đàn anh hỏi đến chuyện “viết để đời” chàng nghĩ: “Ông muốn sai tôi viết gì đây?” Chàng mỉm cười, đáp:

“Tôi chưa nghĩ đến chuyện viết để đời.”

Chàng muốn nói thêm:

“Tôi chưa cần nghĩ đến chuyện đó.”

Và:

“Tôi thích viết nên tôi viết. Tôi không có ảo vọng những gì tôi viết sẽ sống lâu ở đời.”

Xong chàng không nói. Chàng thấy ngay ông đàn anh văn nghệ hiểu thái độ bất phục tùng ông của chàng, ông ta nói sang chuyện khác. Chàng biết nếu chàng là một anh viết văn yếu kém, ngu non, khi nghe đàn anh hỏi như thế sẽ nói:

“Em cũng muốn viết để đời nhưng chưa biết phải viết ra sao.”

Ông đàn anh sẽ nói:

“Chú nên viết như vầy… như vầy …”

Ông sẽ dậy bảo đàn em như Khổng Minh bầy kế.

Nhưng đến bây giờ thì chàng thấy chàng cần viết “một cài gì để đời.” Đi trên cầu sắt, chàng ngước mặt nhìn lên trời đêm có sao lấp lánh, tưởng tượng ra khuôn mặt yêu đương, kiều diễm mà chàng thương yêu:

“Anh yêu em. Anh nhớ em.” – Chàng nói trong tim, tiếng nói không âm thanh như bay lên trời cao, như vang vang bên tai chàng – “Anh cần có em. Anh chỉ cần có em thôi. Có em sống bên anh, yêu anh, anh làm được tất cả mọi việc. Không có em bên anh, anh không làm được việc gì hết. Không có em, anh sẽ sa ngã, anh sẽ chết, con chúng ta sẽ khổ.”

Nhiều lần chàng cảm thấy trong những ngón tay bàn tay phải của chàng  có sức sống, một nguồn tình ý dồi dào chờ được tuôn ra thành chữ. Chàng thấy chắc chắn bàn tay chàng sẽ viết được nhiều, sẽ viết hay. Vào lúc đó bàn tay chàng chưa viết, song có một ngày nào đó bàn tay chàng sẽ viết hết.

Chàng nghĩ:

“Anh chỉ cần có Em.”

Chàng đi qua trước chợ Thủ Thiêm. Tám, chín giờ tối, trước chợ, tiệm mì, hủ tíu còn sáng đèn. Phố chợ còn tủ thuốc điếu, sạp khô bò, vịt lộn. Đôi tình nhân đứng mua bánh mì ở xe bánh mì trước chợ. Dưới ánh đèn xe bánh mì, chàng thấy người thiếu nữ cầm bó hoa nylon mầu. Chàng nhớ anh Văn Thuật. Thời anh còn sống, anh viết bài “Hoa Giấy Vô Duyên,” nay nếu anh Văn Thuật còn sống, có thể anh viết bài “Hoa Nylon bền.”

o O o

Con đường đi vào Xóm Đình tối om. Bên con đường nhỏ có nhiều vũng nước. Trời mới mưa hồi chiều. Đã quen với con đường này, chàng vẫn đi nhanh được vào xóm mặc dù bóng tối.

Căn nhà chàng đến có ánh đèn le lói. Chàng bước từ mảnh sân xi-măng lên thềm, cất tiếng hỏi vào nhà:

“Có ai còn thức không?”

Trong nhà có tiếng người đàn bà hỏi ra:

“Ai đó?”

“Tôi muốn gập bà Sáu Phùng.”

Qua hàng song cửa, chàng thấy người đàn bà nằm trên giường ngồi dậy, chàng nghe tiếng guốc:

“Tôi đây. Mời thầy vô.”

Người đàn bà mở cánh cửa gỗ.

“Tôi đang chờ thầy. Tôi về nghe nói thầy qua tìm tôi. Tội quá.”

“Tôi qua hai lần rồi. Tôi có chuyện cần hỏi bà.”

“Mời thầy vô.”

Chàng bước vào căn nhà nhỏ. Bà Sáu đi vào nhà trong, bưng ra cây đèn dầu tây cỡ lớn. Sau nhiều phút đi trong bóng tôi, chàng thấy anh đèn dầu tỏa sáng khắp phòng. Chàng nhìn rõ Bà Sáu Phùng, bà thầy bói mà chàng đã nghe Doãn Bình nói đến. Bà ta trạc 50 tuổi, tóc búi, mặt tròn, không có vẻ sắc xảo. Bà bận áo bà ba trắng, quần thâm.

Cây đèn dầu được đặt lên chiếc bàn giữa nhà, giữa bàn có chai nước lọc, mấy cái ly.

“Nhà hết nước trà. Thấy uống nước lọc vậy.”

Chàng lấy thuốc lá ra châm lửa hút.

“Bà để mặc tôi. Tôi không khát.”

Bà Sáu trở vào nhà trong lần nữa. Bà lấy ra bàn mấy quyển sách, một cỗ bài Tây. Đeo cặp kính lão lên, bà bắt đầu xem tướng tay cho ông khách trẻ.

Giọng bà rõ ràng, đầy thẩm quyền, như giọng thầy giáo giảng bài. Bà nói chàng như con ngựa hay nhưng chưa gặp thời, chỉ được người ta dùng, xong việc là ngừng:

“Thầy như con ngựa có công cứu nhà vua, nhưng bị người ta trarnh mất công.”

Bà nói từ hai năm trở lại đây công việc làm ăn của chàng càng ngày càng xuống, và cũng chỉ mới từ hai năm nay chàng mới tin có quỷ thần, mới tin chuyện cúng kiến, bói toán.

“Trước đây thầy không tin gì hết. Nghe ai nói chuyện quỷ thần, thầy không nhạo báng, nhưng thầy chỉ cười, bỏ qua. Hai năm nay thầy mới tin.”

Chàng gật đầu:

“Bà nói đúng.”

Chàng nói tiếp:

“Bà xem giùm tôi gia đình tôi có chuyện gì xáo trộn không?”

Bà Sáu khựng lại:

“Thầy để tôi coi từ từ. Tôi sẽ nói hết. Có nhiều chuyện nhưng thầy hỏi làm tôi quên.”

Chàng vội nói:

“Tôi xin lỗi. Vì tôi sốt ruột nên mới hỏi. Tôi không hỏi nữa đâu, xin bà cứ từ từ mà nói.”

Chàng nghĩ thầm: “Tôi không cần biết về chuyện làm ăn. Việc làm của tôi rất vững. Tôi chỉ làm công thôi nhưng tôi được chủ trọng nể. Tôi bị thất nghiệp nhưng mỗi tháng tôi vẫn kiếm được tiền bằng tiền lương người khác. Tôi chỉ làm thêm, làm chơi cũng  bằng tiền lương cả tháng của người khác.” Chàng dẹp sự nóng nẩy muốn biết chuyện sắp tới để ngồi nghe.

Những lời tiên đoán vô thưởng vô phạt của bà Sáu không làm chàng chú ý:

“Từ tháng bẩy, tháng tám tới đây, công việc của thầy khá lắm. Thầy có trốn ở đâu người ta cũng tìm đến mời thầy.”

Chàng chờ mãi cho dến lúc bà Sáu đặt bộ bài Tây lên bàn. Cháng biết qua về việc bói bài Tây. Đại khái: bài Tây rất linh, bói bài Tây có thể cho người ta biết được những chuyện xẩy ra trong thời gian gần, lâu nhất là trong một tháng; bài Tây không cho biết những việc xa.

Chàng nhìn vào những cây bài được bà Thầy xếp lên bàn thành bốn hàng. Chàng thấy trên quẻ bài cây bài tượng trưng cho chàng và cây bài là người đàn bà chàng yêu thương đứng xa nhau.

Bà Sáu nhìn, ngắm, điểm nhẹ ngón tay lên mấy cây bài, bà nói như nói một mình:

“Chà.. Cái bà tuổi Mùi này bả phá thầy dữ quá. Không còn việc nào mà bà tuổi Mùi này không làm để cho thầy phải khổ.”

Chàng thấy lạnh nơi xương sống khi nghe nói đến “người đàn bà tuổi Mùi.” Chang sợ chàng bị nghe nói;

“Bà tuổi Mùi này đi luôn rồi. Bả không trở về với thầy nữa đâu.”

Chàng nói:

“Bà cho tôi kể để bà coi cho tôi rõ hơn.”

“Dạ.”

“Người đàn bà tuổi Mùi là vợ tôi. Vợ chồng tôi giận nhau, vợ tôi bỏ đi. Đã một tháng nay. Vợ chồng tôi thương nhau. Tôi chắc vợ tôi chỉ buồn mà bỏ đi ít lâu. Bà coi giùm tôi bao giờ thì vợ tôi trở về với tôi?

Bà Sáu kiểm lại mấy quân bài:

“Có lẽ cô ấy đi xa rồi ..”

Bà ngập ngừng rồi nói tiếp:

“Kiếp này thầy và cố ấy không chung sống với nhau nữa đâu.”

Bà thu hết cổ bài lại, sóc bài rồi đặt lại lên bàn:

“Thầy cân đôi.”

Chàng chia cỗ bài làm hai.

Bà Sáu đẩy ra mười cây bài lập úp.

“Thầy lấy tay mặt một cây, tay trái một cây.”

Chàng làm theo lời bà.

Bà Sáu lật từng cây bài lên. Rồi bà xếp bài theo một kiểu khác. Sau một khoảng thời gian với chàng dài như thế kỷ, chàng nghe nói:

“Thầy yên tâm. Cô ấy không đi luôn đâu, hai người có duyên nợ vợ chồng với nhau mà. Làm sao bỏ nhau được.”

Những tiếng nói dịu ngọt  như làn nước trong, mát, chẩy vào, thấm vào mảnh đất tâm hồn khô nóng, chờ đợi của chàng. Chàng được biết là vợ chàng vẫn yêu thương chàng và nàng vẫn sống ở Sài Gòn, ở ngay môt nơi nào đó gần chàng, nàng vẫn biết tin chàng và các con, rất có thể nàng có về thăm nhà mà chàng không biết.

“Đến ngày 11 tháng này, thể nào cô ấy cũng về. Tôi nói ngày 11 là trung bình, có thể cô ấy về sớm hơn, có thể về muộn hơn, nhưng không quá ngày rằm tháng này. Thầy tin tôi đi. Nếu quá rằm cô ấy không về tôi không làm thầy nữa.”

Tim chàng đập mạnh. Chàng xúc động đến quên hỏi:” Sao bà vừa nói vợ tôi sẽ không về với tôi.” Đến khi ngồi trên con thuyền trở về Sài Gòn, chàng mới nhớ chàng đã không hỏi câu đó, Chàng chi nhớ bà thầy nói vợ chàng sắp trở về với chàng.

Đò ra giữa sông. Đêm, sông rộng mông mênh. Đêm về khuya, gió trên sông thổi mạnh. Sóng từng đợt liên tiếp đánh vào mạn đò. Những tòa nhà cao sáng ánh đèn : Majestic, Caravelle, IMEX. Chàng nhìn lên, nhận ra từng tòa nhà. Sài Gòn trôi dài trước mắt chàng như trên màn ảnh đại vĩ tuyến .

Lời nói của người đàn bà Thủ Thiêm văng vẳng bên tai chàng:

“Thầy chỉ cần cầm một nén hương nửa đêm ra đứng giữa trời khấn vái. Thầy chưa cầu xin thần linh bao giờ, nay thầy xin, chắc chắn sẽ linh lắm. “

Chàng  nhìn lại Thủ Thiêm. Trời đêm trên Thủ Thiêm những ngôi sao sáng hơn, chàng nhìn lên trời, khấn thầm:

“Xin cho tôi được gập lại nàng. Xin cho vợ tôi về với tôi.”

Lời cầu nguyện được chàng gửi tới tất cả những vị có quyền phép trong thế giới hữu hình và vô hình trong đó có nàng và chàng.

Hết Truyện Ngắn Người Đàn Bà Tuổi Mùi.

o O o

HHThủy:  Ngày 8 Tháng 10, 2016, tôi ra Trung Tâm EDEN hớt tóc. Ông Hoàng Thơ đã qua đời, Trung Tâm Eden, Falls Church, Fairfax, vẫn còn hai tiệm Barber Hoàng Thơ. Hai tiệm nay do các con của ông Hoàng Thơ thay ông làm chủ. Ông chủ tiệm Hoàng Thơ hiện nay cho tôi mấy số báo từ Cali gửi sang. Trong số có tờ Thế Giới Nghệ Sĩ.

Xem trong Thế Giới Nghệ Sĩ, tôi xúc động khi thấy trong báo có bài “Người Đàn Bà Tuổi Mùi,” một truyện ngắn của tôi, Hoàng Hải Thủy.

Dòng chữ cuối bài ghi:

Trích báo Tâm Tình Số 6, phát hành ngày 9 tháng 7 năm 1966.”

Viết thêm: “… Tâm Tình ra ngày 9 tháng 7 năm 1966 ở Sài Gòn” là thừa. Chuyện nên viết ở đây là truyện ngắn “Người Đàn Bà Tuổi Mùi ” đã được viết trước hôm nay 50 năm.

50 năm – văn huê là “Nửa Thế Kỷ..” – năm ấy cuộc đời chưa có Công Tử Hà Đông, chưa có Viết ở Rừng Phong.

Năm ấy cuộc đời chỉ có Người Đàn Bà Tuổi Mùi và người viết văn mới Viết Văn là Hoàng Hải Thủy.

Tôi – HHT – không cần viết ra quí vị độc giả của tôi, những vị thường đọc những bài tôi viết, khi đọc “Người Đàn Bà Tuổi Mùi “chắc thấy trong đó toàn là chuyện thật.

Tôi đã sống với Người Đàn Bà Tuổi Mùi của tôi 40 năm ở Sài Gòn, 20 năm ở Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Chiều vào Thu, Rừng Phong nắng thu vàng..

Mùa thu mây trắng xây thành

Tình Em mầu ấy có xanh da trời.

Hoa Lòng Em có về tươi?

Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

LẤY ANH HAY CHỮ…..

haychu

Chẳng tham ruộng cả, ao liền.
Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ.

 Đôi bên bác mẹ thì  già.
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông.

Tôi – CTHĐ – nghe hai tiếng “hay chữ” năm tôi mười tuổi. Người được gọi là “người hay chữ” những năm 1940 ở tỉnh lỵ Hà Đông là ông Phan Điện, thân phụ của hai ông Phan Anh, Phan Mỹ. Nhà ông Phan Điện và nhà tôi gần nhau. Những năm xưa ấy tôi thường thấy ông. Ông người thấp, mập, đầu trọc, ông chuyên mặc bộ áo cánh, quần nâu, đi đôi guốc gỗ, tay xách cây ba-toong. Không một lần tôi thấy ông mặc áo dài ta, đội khăn, Ông hay dọa trẻ con. Ông lấy việc bắt nạt trẻ con làm vui. Trẻ con, tuổi tôi, 10, 12 tuổi, gập ông trên phố, nếu đang đứng nghe ông hô: “Oong..” là phải ngồi xuống, ông hô: “Đơ..” mới được đứng lên.

Có lần tôi đang đánh bi với bạn tôi trên vỉa hè, nghe thiếng hô: “Ooong..” vang lên, ngoảnh nhìn tôi thấy ông Điện đứng ngay sau lưng, tay ông cầm cây ba-toong giơ lên, tôi líu ríu đứng dậy. Tôi sợ nhưng tên bạn tôi không sợ. Nó tỉnh queo nhìn ông, nó cưới hi hi rồi bỏ đi, ông chẳng làm gì được nó.

Người Hà Đông nói: “Ông ấy hay chữ..” Ý họ muốn nói ông Phan Điện học nhiều nhưng ông thi không đỗ; ông bất đắc chí nên ông điên dở.

Một mùa hè năm 1941 hay 1942, ông Phan Anh về Hà Đông sống ít ngày với ông bố. Khi ông trở ra Hà Nội, ông gọi xe kéo đến chở ông và cái rương hành lý của ông ra bến xe điện. Đợi cho ông con ngồi lên xe và xe bắt đầu chạy, ông Đồ Điện sắn quần, chạy theo đẩy xe, ông Phan Anh vội nhẩy xuống xe, chắp tay lậy ông bố, rồi ông đi bộ theo xe. Nhiều người hàng phố nhìn thấy cảnh này. Tôi không được chính mắt nhìn thấy. Tôi nghe chuyện do mẹ tôi kể.

Đây là đoạn văn ghi về ông Phan Điện trên Internet:

Phan Điện (1875-1945), thường được gọi là Cố Điện hay Đầu xứ Điện. Ông sinh năm Ất Hợi 1875, quê làng Tùng Ảnh, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, cư ngụ và sinh sống tại tỉnh Hà Đông.

Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảngi tại Nghệ Tĩnh. Ông là một nhà nho Xứ Nghệ vừa duy tân vừa thủ cựu, chống đối chế độ bảo hộ Pháp, căm ghét triều Nguyễn bất lực để mất nước.

Sau cuộc khủng bố nghĩa quân Phan Đình Phùng do Nguyễn Thân cầm đầu, Phan Điện ra Bắc ( Hà Đông) mưu sinh bằng nghề dạy học cho đến khi qua đời đầu năm Ất Dậu 1945.

Ông thường tỏ nỗi bất bình trước bọn xu phụ thực dân, bọn tay sai bán nước nên cuộc đời cũng như thơ văn của ông đều tượng trưng cho tinh thần của giới trí thức chống đối cường quyền đang lộng hành trong xã hội. Ông để lại nhiều vần thơ tự sự và trào phúng tỏ rõ khí tiết của mình, nay đã biên soạn thành tập thơ Phan Điện.

Hai con trai ông là Phan Anh và Phan Mỹ, đều là những trí thức tại Việt Nam giữa thế kỷ 20, hai ông từng giữ chức Bộ trưởng trong chính phủ Hồ chí Minh.

Hai bài thơ của ông Phan Điện.

VUA RA ĐỨC THỌ

Xiếc vùng Đức Thọ có vui không?
“Cóc nhái” hôm nay được thấy rồng!
Gái đạo phát tài cười mủn mỉn
Trai “lương”phải tội chạy long tong.
Mề đay xiết kể ơn Hoàng Thượng;
Tường đổ thương thay lũ tiểu đồng!
Đố biết vì ai nên nỗi thế?!
-Vì quan sở tại khéo tâng công!

Người dân Đức Thọ đứng bên đường xem xe vua đi qua, một bức tường đổ làm hai ba em nhỏ bị thương.

GỬI HỌC TRÒ LÀM LÝ TRƯỞNG

Anh làm Lý trưởng phải thương dân
Chớ có như ai chỉ vị thân.
Các cụ vào ra thường đỡ gậy
Đàn trai giàu có vẫn cầm cân.
Thuế sưu miễn đủ cho nhà nước
Xôi thịt đừng đua mượn tiếng thần
Thầy sợ đi qua nghe chúng chưởi;
Chưởi: “Tiên sư nó,chỉ hay ăn!”

o O o

Tháng Mười 2016, Thu trở về trên Rừng Phong. Đêm xứ người, phòng vắng, đèn vàng, yên lặng. Tôi ấp quyển sách lên ngực, nhắm mắt, lắng nghe cái yên lặng đêm Kỳ Hoa Đất Trích.

Tôi nhớ lời anh Văn Phụng:

“Tôi một mình lái xe vào sa mạc, nằm nghe cái yên lặng của sa mạc ban đêm.”

Đêm khuya, tôi đọc  Sử Ký Tư Mã Thiên, đoạn ông viết về việc ông bênh vực Tướng quân   Lý Lăng mà bị bọn Vua Quan nhà Hán ghép tội, ông bị “cung hình.”  Hình phạt cắt bộ phận sinh dục.

Đây là lời trần tình của ông: Tư Mã Thiên, Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê.

Tôi với Lý Lăng đều giữ chức Thị Trung từ trước chưa hề có chút giao tình, ai đi đường nấy, chưa tùng uống với nhau một chén rượu, ân cần tiếp đãi, hoan hỉ với nhau lấy một lần.

Nhưng tôi xét ông ấy là người biết tự giữ khí tiết lạ, thờ cha mẹ có hiếu, thủ tín với kẻ sĩ, về tiền bạc thì thanh liêm, trọng nghĩa, về sự phân biệt trên dưới thì có lễ nhượng; tánh cung kiệm, khiêm tốn, thưo72ng hăng hái, chẳng tiếc thân, hy sinh cho quốc gia lúc nguy cấp, xét hoài bão của ông ấy thì thấy có phong độ của một vị quốc sĩ. Bực nhân thần ra vào chỗ vạn tử mà chẳng đói hoài đến đời mình, ứng phó với cơn nguy của quốc gia như vậy, tôi cho đã là lạ rồi. Nay ông ấy hành động, cử sự có điều gì không thỏa đáng, mà bọn bề tôi chỉ lo bảo toàn thân mình để nuôi vợ con kia lại nhân đó mà xoi mói  gây tội cho ông ấy, lòng tôi riêng thật buồn thay!

Vả lại Lý Lăng dắt theo không đầy năm ngàn bộ binh, vào sâu chiến địa, giẫm lên vương đình của Hung Nô, như nhử mồi miệng cọp, khiêu động cường Hồ, tấn công hằng vạn, hằng ức địch, giao chiến với Thiền Vu trên mười ngày liền, số quân địch bị giết lớn hơn số quân của mình, đến nỗi chúng không kịp cứu những kẻ bị thương. Các Chúa bận áo nỉ và lông cừu đều hoảng sợ, phải vời cả hai viên tả hữu hiền vương, thống suất bọn đeo cung tên trong toàn quốc, tấn công mà vây ông. Lăng xông đánh xa đến ngàn dậm. Đường nghẽn, tên hết, cứu binh không tới, sĩ tốt tử thương thây chất thành đống. Vậy mà Lý Lăng hô lên một tiếng, ủy lạo quân sĩ thì không ai không phấn khởi, nước mắt dòng dòng, máu chẩy đầy mặt, nghẹn ngào nuốt lệ, lại dương cây cung hết tên để chống với lưỡi gươm trắng, hướng về phương Bắc, tranh nhau chết với quân địch.

Hồi Lý Lăng chưa bại trận, sai người về báo tiệp, các bậc công khanh vương hầu triều Hán đều dâng chén chúc thọ vua. Vài ngày sau, thư chiến bại truyền về, Chúa thượng ăn hết ngon, ra chầu hết vui, các vị đại thần lo lắng, không biết làm sao. Tôi trộm không tự liệu thân mình hèn mọn, thấy Chúa thượng thê thảm, bi thương, những muốn gắng tỏ tấm lòng ngu trung thực của mình, cho rằng Lý Lăng từ trước cùng với các bậc sĩ, đại phu đồng cam, cộng khổ, mới được người ta tận lực giúp đỡ, như vậy dù các danh tướng thời xưa cũng không hơn ông. Hiện nay thân ông tuy phải đầu hàng, nhưng xem ý chắc là muốn đợi cơ hội thuận tiện để chuộc tội với nhà Hán. Sự tình đã không biết làm sao, nhưng cái công trước kia đánh Hung Nô tàn bại, cũng đủ phơi ra tromg thiên hạ rồi.

Tôi muốn trình bầy lý lẽ đó nhưng chưa có cơ hội thì vừa gập lúc Chúa công vời hỏi, tôi bèn tỏ công lao của Lăng như trên, để lòng Chúa thượng được mở  ra mà những lời hãm hại bị lấp đirộng, mà những lời hãm hại bị lấp đi. Nhưng tôi chưa kịp tỏ hết lẽ của mình, Chúa vội không hiểu, cho rằng tôi ngăn cản nhị sư tướng quân, thuyết hộ Lý Lăng, và giao tôi cho quan coi ngục. ( .. .. .. )

Nhà tôi nghèo, không có tiến để chuốc tội, bạn bè không ai cứu giúp, các quan không ai nói hộ cho một lời. Thân không phải là gỗ đá – ( làm sao không đau đớn ) – làm bạn với người coi ngục trong chốn thâm u, biết giãi bầy với ai?

Tôi tuy khiếp nhược, muốn được cẩu hoạt, nhưng cũng phân biệt được lẽ phải chăng, mà sao đến nỗi tự dìm vào cái nhục cùm trói như vậy? Bọn tôi tớ, tì thiếp còn biết giữ tiết, tự quyết được, huống hồ là tôi lại không hiểu cái lẽ có khi bất đắc dĩ phải chết sao? Tôi sở dĩ ẩn nhẫn cẩu hoạt , chịu sống tối tăm trong cảnh dơ dáy là vì hận rằng lòng riêng có chỗ chưa được bộc lộ hết, bỉ lậu mà chết đi thì văn chương không tỏ ra được với đời sau.

Đời xưa những kẻ giầu sang mà tên tuổi tiêu ma, có biết bao nhiêu mà kể, chỉ những người lỗi lạc, phi thường mới lưu danh thôi. Cho nên Vua Văn Vương bị giam rồi mới diễn bộ Chu Dịch, Trọng Ni khốn đốn rồi mới soạn bộ Xuân Thu; Khuất Nguyên bị đuổi về rồi mới viết thiên Li Tao, Tả Khâu mù rồi mới có bộ Quốc Ngữ; Tôn Tử bị chặt chân rồi mới trứ thuật bộ Binh Pháp; Bất Vi bị đầy ra đất Thục rồi mà bộ Lữ Giám mới truyền lại ở đời; Hàn Phi bị giam ở Tần rồi mới có những thiên Thuế Nan, Cô Phẫn; ba trăm thiên Kinh Thi, đại để do những vị hiền thánh phát phẫn mà trứ tác, . Những vị đó trong lòng đều có nỗi uất kết, không làm thông tỏ được đạo của mình, cho nên mới thuật lại chuyện cũ mà nghĩ đến đời sau. Như Tả Khâu mù rồi, Tôn Tử què rồi, suốt đời vô dụng mới lui về mà trứ thư, lập ngôn, để vơi lòng phẫn uất, lưu lại văn chương suông để phát biểu chí hướng của mình.

Tôi không tự lượng sức mình, tự ký thác chí hướng vào lời văn thô thiển, thu thập những việc cũ tản mác trong thiên hạ, khảo cứu qua loa về các sự tích, tung hợp đầu đuôi, ghi lại những mối thành bại, hưng vong, trên từ đời Hiên Viên, dưới tới ngày nay, viết thành mười thiên biểu, mười han thiên bản kỉ, tám chương thư, ba mươi thiên thế gia, bẩy mươi thiên liệt truyện, gồm cả thẩy một trăm ba mươi thiên, cũng là muốn nghiên cứu đạo lí trong thiên hạ, tìm những lẽ biến hóa xưa nay, lập thành học thuyết của một nhà. Sáng tác chưa xong thì gặp họa, tiếc công việc chưa thành nên chịu nhục hình mà không có sắc giận. Tôi như quả viết xong bộ đó, đem cất nó vào danh sơn, truyền nó cho đồng chí, quảng bá ra khắp đô ấp, thì cũng bù được cái nhục bị trách phạt, dù tôi có vạn lần bị giết tôi cũng chẳng hối tiếc. Nhưng điều đó chỉ có thể nói với bực trí giả mà khó nói với bọn tục nhân.

Trong đêm khuya, tôi đọc được trong sách chuyện Thức tự đa ưu hoạn.

Cả câu thơ là: Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn (Người biết chữ gập nhiều lo âu và tai họa.)

Câu Thơ trên trong bài Thơ Mạn hứng

Phác tán thuần ly thánh đạo nhân, 
Ngô nho sự nghiệp yểu vô văn. 
Phùng thời bất tác Thương Nham vũ, 
Thối lão tư canh Cốc Khẩu vân. 
Mỗi thán bách niên đồng quá khách, 
Hà tằng nhất phạn nhẫn vong quân. 
Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn, 
Pha lão tằng vân,  ngã diệc vân.

Nguyễn Trãi

Dịch nghĩa

Những gì gọi là thuần phác đều tan rã, đạo Thánh bị chìm mất.
Sự nghiệp của nhà nho ta lu mờ chẳng có tiếng tăm gì
Gặp thời chẳng tạo được mưa ở Thương Nham
Lúc già trở về cày mây ở Cốc Khẩu
Thường than trăm năm của cõi đời y như khách qua đường
Chưa từng lúc nào ăn một bữa cơm mà không nhớ đến vua
Con người sinh ra biết chữ nghĩa gặp nhiều nạn phải lo lắng
Ông già Tô (Tô Đông Pha) hằng nói thế, ta cũng nói thế.

Hai câu trong bài Thơ làm tôi xúc động:

Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn.
Pha lão tằng vân, ngã diệc vân.
Người biết chữ gập nhiều buồn lo và tai họa.
Lão Pha từng nói thế, ta cũng nói thế.

Một trong những “người thức tự” tôi được thấy sống, viết, bị tù và chết trong tù là Dương Hùng Cường.

o O o

Những bài Thơ Mùa thu tôi yêu:

EM CÒN NGHE TIẾNG (Quang Dũng)

Ðường về quê hương, về quê hương
Không thấy quê hương, chỉ thấy đường.
Em đã đi trên đường nhựa ấy
Hai mươi năm trước lá thu vàng.

Ðường về quê hương, về quê hương
Em mặc áo vàng hay áo tím
Mắt em lơ đãng nhìn chân mây
Anh vịn thành xe, tay trong tay.

Ðường về quê hương, về quê hương
Có một ngày sao mà bất tận
Hai mươi cây số tưởng vô vàn
Dài đến bây giờ vẫn chứa chan.

Ôi con chim đậu nhành giây điện
Lại giống ngày xưa chuyện nắng thu
Em đã xa rồi – chim gọi nắng
Em còn nghe tiếng nữa bao giờ.

VƯỜN XƯA (Tế Hanh, 1957)

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh 
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc 
Hai ta ở hai đầu công tác 
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa? 

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa 
Như mặt trăng mặt trời cách trở 
Như sao hôm sao mai không cùng ở 
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa? 

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu 
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn 
Em theo chim đi về tháng tám 
Anh theo chim cùng với tháng ba qua 

Một ngày xuân em trở lại nhà 
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi 
Em nhìn lên vòm cây gió thổi 
Lá như môi thầm thì gọi anh về 

Lần sau anh trở lại một ngày hè 
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt 
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt 
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh 

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh 
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc 
Hai ta ở hai đầu công tác 
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

o O o

Thơ Ðinh Hùng.

Tháng Bẩy vào thu, nhớ Sài Gòn mưa sa, chúng ta trở lại Sài Gòn với Thơ Ðinh Hùng:

Từng cơn mưa lạnh đến dần,
Ðời chưa trang điểm mà xuân đã về.
Hững hờ để nước trôi đi.
Giấc chiêm bao hết, lấy gì mà say.
Quê ai đầm ấm đâu đây,
Cho tôi về sống mấy ngày trẻ thơ.
Ước gì trăng gió đón đưa,
Mắt chờ gặp mặt, tay chờ cầm tay.
Cảm lòng, nhận chút hương bay,
Tình thương đất bạn, cỏ cây là người.
Quê nhà ai sẵn nụ cười,
Núi sông hồn hậu, Ðất Trời bao dung.
Cho tôi về hưởng xuân cùng,
Bao giờ hoa nở thì lòng cũng nguôi.
*****
Hãy dừng lại, hỡi muà hoa hồng phấn!
Mấy hoàng hôn, mái tóc đã sang thu.
Chĩu hàng mi, lá uá rụng tình cờ,
Tờ thư lạnh, gió sương bay dòng chữ.
Thương tâm sự, mưa sa vành nón cũ.
Anh ngờ Em mang cả núi non đi.
Hoa quay đầu, cánh bướm cũng vu qui.
Nhòa nắng cũ, nụ cười mây khói toả.
*****
Nhắc làm chi? Ôi! Nhắc làm chi nưã?
Em đi rồi, mưa gió suốt trang thơ.
Mây lià ngàn, e lệ cánh chim thu.
Con bướm ép, thoát hồn mơ giấc ngủ.
Anh trở gót, hương đưa về núi cũ.
Theo mây bay, tìm mãi hướng trăng thề.
Nhắc làm chi! Còn nhắc nữa làm chi!
*****
Em đến hôm nào, mưa trên vai,
Chiều thu sương đượm nét mi dài.
Nụ cười rung cánh hoa hờn giận,
Trong mắt Em còn bóng dáng ai?
*****
Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng,
Chợt xanh mầu áo nhớ thương xưa.
Bóng Em khoảnh khắc thành hư ảo,
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa.
******
Giữa đêm lòng bỗng hoang vu,
Gối chăn nghe cũng tình cờ quan san.
Bước thu chừng sớm lìa ngàn,
Nhớ giây nguyệt lạnh, cung đàn thương hoa.
Em về rũ tóc mưa sa,
Năm canh chuốt ngón tỳ bà khói sương.
Rời tay nhịp phách đoạn trường,
Hồn đêm nay thấm mùi hương năm nào?
Sầu che nửa mặt chiêm bao,
Dòng mưa thu lệ, chìm vào phấn son.
Nét mày cong vút núi non,
Mông mênh xiêm trắng, linh hồn vào thu.

Bài Hát Mùa Thu

Hôm nay có phải là thu ? 
Mây năm xưa đã phiêu du trở về . 
Cảm vì em bước chân đi, 
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn. 
Ai về xa mãi cô thôn, 
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà ? 
Ngày em mới bước chân ra, 
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu . 
Nắng trôi vàng chẩy về đâu ? 
Hôm nay mới thực bắt đầu vào thu . 
Chiều xanh trắng bóng mây xưa, 
Mây năm xưa đã phiêu du trở về . 
Rung lòng dưới bước em đi, 
Lá vàng lại gợi phân ly mất rồi! 
Trời hồng, chắc má em tươi, 
Nước trong, chắc miệng em cười thêm xinh. 
Em đi hoài cảm một mình. 
Hai lòng riêng để mối tình cô đơn. 
Hôm nay tưởng mắt em buồn: 
Đã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương. 
Lạnh lùng chăng, gió tha hương? 
Em về bên ấy, ai thương em cùng?

Kỳ Nữ

Ta thường có từng buổi sầu ghê gớm 
Ở bên Em — ôi biển sắc, rừng hương! 
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm, 
Em đến đây như đến tự thiên đường. 

Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc, 
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly, 
Ôi mắt xa khơi ! Ôi mắt dị kỳ ! 
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước. 
Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước, 
Cả con đường sao mọc lúc ta đi, 
Cả chiều sương mây phủ lối ta về, 
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ. 

Ta run sợ, cho yêu là mệnh số, 
Mặc tay em định hộ kiếp ngày sau. 
Vì người em có bao phép nhiệm mầu, 
Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc. 
Ta đặt em lên ngai thờ Nữ Sắc, 
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da. 
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa, 
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết. 
Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết, 
Gợn xuân tình lên bộ ngực thanh tân. 
Ta gần em, mê từng ngón bàn chân, 
Mắt nhắm lại, để lòng nguôi gió bão. 
Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo, 
Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm. 
Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm, 
Chưa tội lỗi, đã thấy tràn hối hận. 
Em đài các, lòng cũng thoa son phấn, 
Hai bàn chân kiêu ngạo dẫm lên thơ. 
Ôi vô lương ! Trong một phút không ngờ, 
Ta đã muốn trở nên người vô đạo. 
Tất cả em đều bắt ta khổ não, 
Và oán hờn căm giận tới đau thương. 
Và yêu say, mê mệt tới hung cuồng, 
Và khát vọng đến vô tình, vô giác. 
Hỡi Kỳ Nữ! Em có lòng tàn ác, 
Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma ! 
Lúc cuồng si, nguyền rủa cả đàn bà, 
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết. 
Ta sẽ chết ! Sẽ vì em mà chết ! 
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn, 
Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn.

ĐỒ EM VỪA NẶNG VỪA TO

Vỉa Hè… Này những Khóc, Cười bầy ra.

Vỉa Hè… Này những Khóc, Cười bầy ra.

Mùa Thu 2016 về trên Rừng Phong.

Tôi đã sống ở Kỳ Hoa hai mươi mùa Thu Vàng.

Năm năm Thu đến, người Viết ở Rừng Phong lại viết về Thu.

Chợ Trời Sài Gòn năm 1976. Bán đồ toàn những người ta. Mua đồ thì rặt những Ma cùng Mường.

Chợ Trời Sài Gòn năm 1976. Bán đồ toàn những người ta. Mua đồ thì rặt những Ma cùng Mường.

Tiếng Thu, tác giả Âu Dương Tu. Bản Việt Văn của Nguyễn Hiến Lê.

Âu Dương Tử đương đêm đọc sách, nghe thấy có một thứ tiếng từ tây nam lại, giợn mình, lắng tai, nói:

– Lạ thay! Mới đầu thì lào rào, hiu hắt, rồi bỗng vun vút, ầm ầm, như sóng réo ban đêm, gió mưa táp tới. Nó đụng vào vật, nghe xoảng xoảng vang vang như sắt, vàng cùng kêu, lại như tiếng quân lình tiến lên phía địch, ngậm tăm mà chạy mau, không nghe thấy hiệu lệnh, chỉ nghe tiếng đi của người và ngựa.

Tôi bảo đồng tử:

– Tiếng ấy là tiếng gì vậy? Con ra coi xem.

Đồng tử đáp:

– Trăng sao vằng vặc, sông Ngân Hà ở trên trời, bốn phía không có tiếng người, tiếng ở trong lùm cây phát ra.

Tôi nói:

– Ôi.. buồn thay. Tiếng đó là tiếng mùa thu đấy. Sao mà tới đây? Ôi hình trạng mùa thu, sắc thì ảm đạm, khói tỏa ra, mấy thu lại; vẻ mùa thu trong trẻo, vòm trời cao mà mặt trời sáng; khí mùa thu lạnh run, chích da nhói xương; ý mùa thu tiêu điều, núi sông tịch mịch. Cho nên tiếng mùa thu thê lương ghê rợn, hô hào phấn phát. Cỏ đương xanh um, tranh nhu tươi tốt, cây dương xum xuê khả ái; mà nó quất vào, chạm vào thì cỏ biến sắc, cây rụng lá. Sở dĩ cây cỏ tiêu điều linh lạc là do cái dư khí nghiêm khốc của mùa thu.

Thu là mùa dụng sự của hình quan, về thời tiết thi thu thu thuộc âm, nó lại tượng trưng cho việc binh, về ngũ hành thi thu là kim, vì vậy mà bảo nó là cái khí không lành của trời đất, thường lấy sự nghiêm khốc tàn sát làm chủ tâm. Trời đối với vật, mùa xuân thì nẩy nở, mùa thu thì thành quả. Cho nên về âm nhạc, tiếng “thương” là thanh âm của phương tây, mà “di tắc” là âm luật của tháng bảy. “Thương” có ý là bi thương, vật đã già rồi mà bi thương ; “di” có ý là chết, vật quá thịnh rồi thì phải suy bại mà chết.

Than ôi! Thảo mộc vô tình, có thời phải điêu linh, người là động vật, linh hơn hết cả; trăm nỗi lo làm xúc động trong lòng, vạn việc đời làm lao khổ thân hình; hễ xúc động ở trong lòng thì tinh thần tất dao động; huống hồ còn nghĩ đến những cái quá sức lực của mình, lo những việc quá trí lực của mình, thế thì dong mạo hồng hào mà biến thành cây khô, tóc râu đen mướt mà hóa ra bạc phơ, là đáng lắm. Không phải là chất của kim thạch, sao mà lại tranh tươi tốt với cỏ cây? Thử nghĩ ai làm hại thân mình, chứ giận chi cái tiếng thu.

Đồng tử không đáp, gục đầu mà ngủ. Chỉ nghe bốn phía vách có tiếng trùng ri rỉ như góp thêm tiếng than thở với tôi.

o O o

Tìm trong “hoanghaithuy.com” thấy mấy lá thư gợi nhớ một thời tôi sống ở Sài Gòn.

Đây là thư của một em từng mua số thuốc Tây của tôi năm xưa. Em tên là Phát, thư Em gửi cho tôi khi Em ở Pháp, tôi ở Mỹ.

Lộc Phát, March 7, 2010:

Không biết Bố có còn nhớ mấy tên Chợ Trời đón mua Thuốc Tây ở Bưu Ðiện Gia Ðịnh năm xưa không? Chúng con là Lộc, Phát. Nay chúng con ở Pháp. Bố và Maman có được khoẻ không? Chúng con từng đến nhà Bố mua số thuốc Tây của Bố. Hôm nay nhờ đọc Trang này của Bố, con viết thư thăm Bố. Mong Bố trả lời, chúng con mừng.

CTHàÐông. Kỳ Hoa September 2016: Vợ chồng tôi vẫn nhớ Lộc, Phát, hai em từng nhiều lần đến căn nhà nhỏ của chúng tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Ðó là những năm 1981, 1982, chúng ta sống nhờ những số Thuốc Tây do những người thân của chúng ta ở Pháp, ở Mỹ gửi về. Các em mua số Thuốc Tây ấy của chúng tôi.

Mèn ơi.. 1982, 1992, 2002, 2010.. Thấm thoắt dzậy mà đã 30 mùa lá thu vèo qua cuộc đời chúng ta. Tháng Năm 1984 tôi bị bắt, chắc các em có biết. Hiện nay các em ở thành phố nào bên Pháp? Nay chúng ta tình cờ gặp nhau, chắc các em không nhìn ra tôi mà tôi cũng không nhìn ra các em. Tôi khỏi cần gửi ảnh vợ tôi và tôi cho các em vì các em xem Trang này – “hoanghaithuy.com” – các em đã thấy ảnh chúng tôi.

Cám ơn Lộc, Phát, mười mấy năm rồi hai em còn nhớ chúng tôi mà hỏi thăm. Nay vợ chồng tôi già cốc đế đại vương rồi, nhưng với số tuổi của chúng tôi – Tám Bó – thì chúng tôi thuộc loại Tám Bó khoẻ mạnh.

Nhớ lại những ngày “phấn khởi, hồ hởi” cầm giấy gọi đi lãnh đồ, trên xe đạp phăng phăng đến Bưu Ðiện Bình Thạnh, chen chúc vào lãnh đồ. Ðược một hộp Thuốc Tây 1 ký-lô, vợ chồng tôi có thể sống được một tháng. Các em biết tôi là văn sĩ nên trọng nể vợ chồng tôi. Cám ơn các em.

Tôi gửi các em bài thơ Lãnh Ðồ tôi làm để ghi lại một thời chúng ta sống nhờ Ðồ ở Sài Gòn:

Muốn tắm mát thì lên ngọn sông Ðào,
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.
Ðôi tay anh vín đôi cành,
Quả chín anh hái, quả xanh anh vồ.
Năm, sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ,
Anh ra Bưu Ðiện lãnh đồ em cho.
Ðồ Em vừa nặng vừa to.
Anh đã con mắt, anh no cái mồm.

Cho tôi I-Meo của các em, tôi sẽ gửi Meo sang các em.

Tìm trong tập giấy cũ, tôi thấy lại mấy bài thơ tôi làm trong những năm 1981, 1982;

BÀI CA ÐỒ NGOẠI

* Chẳng phải đồ lô, vẫn của nhà
Ðồ zin em gửi tận Uy-Dza
Vải hoa, soie Pháp, vui lòng mẹ
Hộp quẹt, quần jeans, mát dạ cha
Camay, Colgate mồm thơm lại
Maalox,  Lyneo mắt sáng ra
Còn non, còn nước, còn đồ ngoại
Còn đồ em thơm cứ như hoa ..

* Một lọ thuốc, hai lọ thuốc, ba lọ thuốc …
Anh thấy những ngón tay em ngà ngọc, ve vuốt trên ánh thủy tinh
Em nói với anh bằng tiếng Becozim ngọt lịm, hiền hòa
Em hôn anh bằng những nụ hôn Alka –
 Seltzer
Anh hít mùi da thịt em thơm trong những mét soie
Anh uống từng giọt nước mắt, nếm từng giọt mồ hôi em
trong lòng những cây bút bic …
Cho anh khóc bằng mắt em … những mối tình
Campovit …
Cho anh mơ thấy em về trong mù mịt đêm nay …
Em ơi … Lyncocin … Terneurine … Eucalyptine …
Coramine …
Anh yêu em … Levi’s … Jeans … Em có hay ?

*****

Em ôm tình anh nặng một vòng tay
Phấn son cho má em hồng, Colgate cho răng em trắng.
Và những Camay
Cho da thịt em thơm như ngày em mới yêu lần thứ nhất.
Em biết anh hôn em vì em ngây ngất
Khi em mặc chật chiếc slip ôm tròn
Em quằn quại đêm nay vì trên ngực anh hôn
Khi em lịm hồn trong chiếc soutien lụa mịn
Anh ơi … Em yêu anh… Bufferin …
Em nhớ anh … Bevitine … Maalox … Neo Codeine …!

* Một cây mười mấy nghìn đồng
Ðược tin em mới lấy chồng ở bên
Cái áo nylon ai  khéo mặc thì bền
Lấy ai thì lấy đừng quên gửi đồ

* Nhớ ai ai có nhớ cùng
Ai  chi cho được một thùng thì hay
Có gửi thì gửi thuốc Tây
Ðừng gửi thuốc lá ở đây anh buồn!

Lấy lý do bảo vệ thuốc lá sản xuất trong nước, bọn Cộng tịch thu tất cả những thứ thuốc lá từ ngoại quốc gửi về. Việc này xẩy ra vào khoảng năm 1980. Cùng thời có kẻ chơi ác ở Hoa Kỳ lén bỏ những viên thuốc bậy vào những lọ thuốc Tylenol nên tất cả những lọ thuốc Tylenol ở Hoa Kỳ đều bị thu hồi. Khi ấy những hũ, những ve thuốc Âu Mỹ chưa có miếng giấy bạc che kín ở miệng lọ. Sau đó tất cả những lọ thuốc Tấy đều có dán miếng giấy bạc ở miệng lọ. Bọn Cộng Thành Hồ vẫn cứ tịch thu những lọ Tylenol từ Mỹ gửi về, chúng lấy Tylenol của dân để chúng vá vợ con chúng dùng, hay để bán cho những người bán thuốc Tây ở các chợ.

Ba tháng sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, theo đúng thông lệ quốc tế, bọn Cộng sản đi đến đâu, nơi đó lập tức bị tàn mạt. Khi bọn Tầu Cộng vào những thánh phố Tầu, nhiều người Tầu nhẩy lầu tự tử. Khi bọn Bắc Cộng đưa ảnh Lão Hồ vào đường Tự Do, Sài Gòn, Sài Gòn có nhiều người tự tử. Tin về những vự tự tử ấy bị bọn Bắc Cộng bịt đi nên ít người biết.

Tôi – CTHĐ – được biết Sài Gòn có ba người tự tử trong Tháng 5 – 1975.

1 – Ông Trần Chánh Thành, người từng giữ chức Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Chính phủ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

2 – Ông Ngô Duy Cầu, Hiệu Trưởng Tư Thục Văn Lang.

3 – Ông Trần Văn Hiếu. Vì ông có cái ve ở tai nên có tên là Hiếu Ve. Ông là em cùng cha, khác mẹ với ông Trần Văn Chương, ông là chú bà Trần Lệ Xuân. Ông Hiếu Ve ngụ trong Bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn. Ông quen thân với nhiều ký giả, văn nghệ sĩ. Ông sống với nghề “trinh dược viên,” tên tiếng Pháp là visiteur medical, chuyên viên đại diện  của một hay nhiều nhà bào chế Thuốc Tây, người đến những tiệm bán Thuốc Tây, và những phòng mạch bác sĩ, giới thiệu, cung cấp những thứ Thuốc Tây mới nhập vào Việt Nam. Ông sống độc thân.

Sau Tháng Tư 1975, ông Hiếu Ve nói với nhiều người ông không thể sống trong thành phố Sài Gòn đầy cờ đỏ và ảnh Già Hồ. Ông sẽ tự tử.

Sau Tháng Tư 1975, Sài Gòn có nhiều người nói sẽ tự tử, người Sài Gòn Hiếu Ve nói và làm. Một đêm ông lên sân thượng tòa nhà Cửu Long, ông nhẩy xuống.

Ba tháng sau Tháng Tư 1975, vợ chồng tôi về sống trong căn nhà nhỏ trong Cư Xá Tự Do, cư xá số 259 Đường Phạm Hồng Thái, Quận Tân Bình, Gia Định. Cách nhà tôi khoảng năm, sáu nhà là nhà một ông công chức đã về hưu. Ông chết trong đêm, ông chết êm, lặng. Ông ra đi cũng trong im lặng. Khoảng 10 giờ buổi sáng tôi đưa tiễn ông đến cổng cư xá. Quan tài ông để trong chiếc xe Lam Ba bánh. Bà vợ ông và cô con ông ngồi bên quan tài.

Vợ tôi nói:

– Ông ấy tự tử.

Người con trai và người con rể của ông công chức là sĩ quan, hai ông bị bắt đi tù khổ sai.

o O o

Chợ Trời

Trời chiếu đi dạo Chợ Trời.
Xem đồ ta, ngắm đồ người, cho vui.
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra.
Lạc loài áo gấm, quần hoa
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, chợ vầy mưa sa.
Bán đồ toàn những người ta,
Mua đồ thì rặt những Ma cùng Mường.
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường?
Đầu Âm Phủ, Cuối Thiên Đương là đây.

Khi đến nhà tôi bắt tôi đi tù lần thứ nhất – Tháng Bẩy năm 1976 – bọn Công An VC bắt được tập thơ của tôi. Trong tập có bài Chợ Trời. Anh Công An Huỳnh Bá Thành là người thẩm vấn tôi. Anh nói:

– Anh làm thơ gọi chúng tôi là bọn Ma, Mường. Nếu mấy chú đến bắt anh mỗi chú chỉ đấm anh một đấm thôi, giờ này anh nằm, anh không thể ngồi được.

Những năm tôi mười sáu, mười bẩy tôi, tôi có làm thơ. Hai mươi tuổi tôi không làm thơ nữa. Năm 1977 những ý tình uất kết trong tim tôi, tình ý kết tinh thành Thơ, đây là bài thơ thứ nhất tôi làm năm 1977:

Căn Nhà Không Có Mùa Xuân.

Ngày xưa xa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Đời chỉ có hoa và mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Tôi đã buồn vương, đã cảm thương
Lời thơ sầu muộn ý như sương.
Người yêu một tối rời nhân thế,
Thi sĩ đau mê chuyện đá vàng.

Đóng cửa nhà xưa, che gió nắng,
Đàn xưa để lặng, nhện tơ vương.
Năm mòn, tháng mỏi, thời gian vắng,
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Ở giữa căn nhà u tịch ấy
Đời sống buồn trôi với tối tăm.
Cho đến một chiều nghe pháo nổ,
Người sống bừng cơn mộng cuối năm.

Cử đóng, màn che vội mở tung.
Bình hoa cắm vội một đôi bông.
Rồi rượu mừng xuân, rối pháo đỏ.
Sắp sẵn lòng vui để đợi trông.

Nhưng chờ đợi mãi xuân không đến,
Đới vẫn buồn tênh, vẫn tối tăm
Mới biết một khi Tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân.

Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần.
Một sớm rùng minh, tôi bỗng thấy
Căn nhà tôi không có mùa xuân!

Sao nhà tôi không có mùa xuân?
Bạn ơi, người bạn mới qua đường.
Xin dừng chân lại cho tôi hỏi:
– Sao nhà tôi không có mùa Xuân?

o O o

Một số bài Phóng Dzao: Phóng tác Ca Dao.

* Ðèn Sàigòn ngọn xanh ngọn đỏ
Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn mờ
Công anh năm đợi bảy chờ
Thùng đồ em hứa bao giờ em cho ?

* Có con mà gả chồng gần
Nửa đêm đốt đuốc mang phần cho cha
Có con mà gả chồng xa
Tháng tháng nó gửi đô la kìn kìn.

* Ai về em gửi lá thơ
Hỏi người yêu cũ bây giờ ở mô ?
Người em yêu ở Thành Hồ
Còn thương thì liệu gửi đồ cho nhau

* Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bây giờ em đến Iu – Za
Gửi thùng cho nặng mới là đạo con

* Chợ Bến Thành dời đổi
Người sao khỏi hợp tan
Vợ chồng là nghĩa đá vàng
Gửi thùng cho lớn là chàng yêu em

* Rủ nhau xuống biển mò cua
Ðem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ðôi ta chua ngọt đã từng
Nay em sang Mỹ xin đừng quên nhau

* Chiều chiều ra đứng bên đường
Buồn tình hỏi đại: Ới.. nàng áo hoa,
Áo hoa Made in USA.
Ai gửi cho bậu, hay là bậu mua?

* Mẹ ơi… đừng đánh con đau
Ðể con ra biển đón tầu mẹ chui.

* Một cây mười mấy ngàn đồng.
Em tôi chắt bóp cho chồng Em chui.
Chồng Em sang Xứ Chồn Lùi,
Nó lấy vợ khác, Em tôi mất chồng.

* Bà già đi chợ Cầu Bông
Bói xem sang Mỹ lấy chồng, lợi chăng?
Ông thầy gieo quẻ, nói rằng:
– Lợi thì có lợi nhưng năng ở tù.

ĐEN HƠN BÓNG TỐI

Hình bià ÐEN HƠN BÓNG TỐI, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972.

Hình bià ÐEN HƠN BÓNG TỐI, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972.

Tôi viết ÐEN HƠN BÓNG TỐI ở Sài Gòn năm 1970, đăng từng ngày trên nhật báo – tôi không nhớ tên tờ báo — truyện được xuất bản năm 1972, hình bìa như quí vị thấy.

ÐEN HƠN BÓNG TỐI được phóng tác từ tiểu thuyết PIÈGE POUR CENDRILLON của tác giả Sébastien Japrisot. Tôi bắt đầu đọc truyện vào lúc 10 giờ một buổi tối. Những năm từ 1965 đến 1975 tôi có thói quen đọc sách từ lúc 10 giờ tôi đếm một, hai giờ sáng. Năm 1970 tôi đang hút thuốc lá dữ dội, mỗi ngày tôi hút khoảng 50 điếu Lucky hay Philip Morris, Pall Mall. Khi vào mùng nằm đọc sách buổi tối tôi hút khoảng năm, sáu điếu thuốc mới buông sách để ngủ. Vì vậy tôi và Alice nằm ngủ riêng mỗi người một chỗ, mỗi người một mùng. Nàng không thể nằm chung giường, chung mùng với chồng nàng để ngủ mà có cây đèn để ngay trong mùng, trên đầu và anh chồng nàng hút thuốc lá liên miên. Tôi cũng không đọc được sách thoải mái khi có nàng nằm bên cạnh. Vợ chồng tôi ngủ chung giường với nhau khoảng ba, bốn năm đầu. Khi chúng tôi có con, Alice ngủ riêng với con. Mười năm sau, con chúng tôi lớn, vì tôi đọc sách, hút thuốc lá trong màn ban đêm, chúng tôi làm một cuộc Tây Ðầm gọi là séparation de corps.

Tôi bắt đầu đọc Piège pour Cendrillon lúc 10 giờ đêm, khoảng 12 giờ đêm, tôi gọi sang chỗ Alice nằm:

– Em ngủ chưa? Anh đang đoc truyện này hấp dẫn quá. Anh kể em nghe…. Anh mới đọc đến đây..chuyện như vầy… như vầy.. Em bảo người thiếu nữ này là ai..? Là Minh Châu hay Bích Ngọc..?

Qua những sự kiện được kể, chúng tôi bàn tán rồi cùng cho người thiếu nữ sống sót trong truyện là Minh Châu – Hai nữ nhân vật là hai chị em qua một trận cháy nhà ban đêm, một cô chết cháy, một cô sống sót nhưng bị phỏng nặng và bị mất trí nhớ… — Thế rồi Alice lại ngủ, tôi đọc truyện tiếp. Khoảng một giờ sau tôi gọi nàng dậy:

– Em ơi.. Không phải Minh Châu.. Có những chuyện này mới xẩy ra.. Như thế này thì người sống phải là Bích Ngọc, không phải là Minh Châu..

Tôi đọc truyện tiếp, 30 phút sau có những sự kiện mới đến trong truyện lại cho tôi thấy người thiếu nữ sống trong truyện là Minh Châu, không phải là Bích Ngọc.

Năm 1990 các con tôi tìm được trong tiệm bán sách cũ quyển Ðen Hơn Bóng Tối. Tôi đem được truyện sang Kỳ Hoa. Năm 2000 tôi viết lại truyện, sửa, thêm, bớt một số chi tiết cho truyện hợp lý hơn, mới hơn, văn huê là hiện đại hơn, và hay hơn. Ðen Hơn Bóng Tối là một truyện tôi rất thích. Vì hai thiếu nữ trong truyện giống nhau như hai giọt nước nên tôi đặt lại tên truyện là NHƯ HAI GIỌT NƯỚC.

Có người bạn nói Ðen Hơn Bóng Tối gợi cảm hơn. Alice cũng nói Ðen Hơn Bóng Tối hay hơn, hợp với truyện hơn. Nên hôm nay, truyện Phơi-ơ-tông quí bạn đang đọc đây có tên là ÐEN HƠN BÓNG TỐI.

o O o

Quảng cáo phim Piège pour Cendrillon. Ðạo diễn André Cayatte thực hiện phim Piège pour Cendrillon năm 1965 theo tiểu thuyết cùng tên của tác giả Sebastien Japrisot, với các diễn viên Danny Carrel – diễn hai vai – Madeleine Robinson và Jean Gavin.

Quảng cáo phim Piège pour Cendrillon. Ðạo diễn André Cayatte thực hiện phim Piège pour Cendrillon năm 1965 theo tiểu thuyết cùng tên của tác giả Sebastien Japrisot, với các diễn viên Danny Carrel – diễn hai vai – Madeleine Robinson và Jean Gavin.

ÐEN HƠN BÓNG TỐI (Hoàng Hải Thủy)

Ngày xưa trong thành phố Hà Nội có ba cô con gái là ba chị em, người trong gia đình gọi ba cô là Tam  Minh Công Chúa. Cô  thứ nhất tên là Minh Châu, cô thứ hai tên Minh Ngọc, cô thứ ba tên Minh Ngà. Minh Châu, Minh Ngọc là hai vai chính trong truyện này.  Minh Châu là con ông anh cả, Minh Ngọc là con ông thứ hai, Minh Ngà là con ông thứ ba. Ba cô cùng có một bà mẹ đỡ đầu, một bà Godmother theo ngôn từ hiện đại. Ba cô gọi bà bằng cái tên Má Tư, bà là người con thứ tư trong gia đình, hay Cô Út. Gia đình họ Vũ có ba ông con trai, chỉ có một mình cô Út Thanh là con gái, cô Vũ Minh Thanh; nhà họ Vũ có lệ đặït tên đệm là Minh cho con gái.

Cô Út Thanh, hoặc Cô Út thân thương, Má Tư, Má Châu , yêu thương ba cô cháu, cô cháu nào cũng xinh, cũng dễ thương. Cô yêu thương Minh Châu nhất, Minh Châu là cô bé xinh nhất, dễ thương nhất, thông minh nhất trong ba cô. Minh Ngà vắn số nhất;  Ðệ Tam Công Chúa Vũ Minh Ngà từ bỏ cõi đời năm cô mười tuổi.

Ðám tang Minh Ngà là một sự kiện lớn xẩy ra trong những ngày thơ ấu của chị em Minh Châu, Minh Ngọc. Ðám tang ấy cũng mở đầu cho một chuỗi những đám tang khác trong gia đình họ Vũ. Minh Ngà mất vào một chiều cuối thu. Trời Hà Nội mầu xám, gió heo may lành lạnh, những cây nến trắng rỏ những giọt nước mắt trắng xuống nắp áo quan. Mặt đất nghĩa trang mềm và sốp. Ông Trưởng Ðội Ðạo Tì bận áo veste đen có hàng khuy đồng vàng chóe, đội mũ cát-két đen, cầâm cây gậy đen hai đầu bịt đồng, đứng chỉ huy đàn em hạ quan tài xuống huyệt. Những tảng đất mềm rơi lộp bộp trên nắp áo quan. Khi ấy cô Út  đi lấy chồng xa, cô về đưa đám ma cháu. Ôm Minh Châu cô khóc, cô nghẹn ngào:

–  Con đừng bỏ Má. Ðừng có làm như nó. Má yêu thương con. Sống đi, con sẽ sung sướng.

Cô cũng ôm, cũng hôn Minh Ngọc, cô nói:

– Khéo.. Ðừng  làm bẩn áo cô.

Sau đó, trong nhiều năm, chỉ có hai chị em Minh Châu, Minh Ngọc sống ở Hà Nội. Má Châu, tức Cô Út, ở xa. Trong những năm ấy những người trong họ ít nói đến Cô Út, những khi bắt buộc phải nói đến cô họ hạ giọng nói nhỏ, như khi họ nói đến chuyện gì không hay, không tốt cho dòng họ. Cô Út ở mãi trong xứ Sài Gòn xa sôi, dường như cô đã bỏ chồng và dường như cô sống không được đàng hoàng lắm ở cái nước Nam Kỳ xa tít mù ấy. Có người loan tin cô lấy Tây, ông chồng cô là một ông Tây chủ đồn điền cà-phê-cao-su rất giầu; có người lại loan tin cô là gái giang hồ, cô sống bê bối, sa đọa không ra làm sao cả.

Minh Châu, Minh Ngọc không được biết gì về đời sống của cô Út, hai chị em chỉ biết cô ở xa. Trong mấy năm trời xa cách cô Út vẫn viết thư về cho Minh Châu. Chừng hai, ba tháng một lá thư. Những phong bì thư mang dấu bưu điện Sài Gòn, có thư mang dấu bưu điện Ðàlạt, Kontum, Pleiku..vv.

Minh Châu hỏi người lớn những tỉnh thành ấy ở đâu, không ai biết rõ, ai cũng chỉ biết lờ mờ những tỉnh lỵ, thành phố ấy ở Nam Kỳ. Có lần Minh Châu, Minh Ngọc mở bản đồ Việt Nam ra tìm những tỉnh có những cái tên Kontum, Pleiku, hai cô tưởng tượng về những thành phố lạ nơi bà mẹ đỡ đầu, bà cô ruột của hai cô đang sống.

Cô Út không viết một thư nào cho Minh Ngọc, trong những thư cô viết cho Minh Châu đôi khi cô có nhắc đến Minh Ngọc.

Minh Châu, Minh Ngọc ra đời cùng năm, gần như cùng tháng. Hai cô giống nhau, thật giống nhau, giống nhau  như chị em sinh đôi. Người đầu tiên nói một câu thât đúng về hai cô là bà nội của hai cô, bà nói khi nhìn hai cô bé mới sinh được ba tháng nằm bên nhau:

– Hai chị em nó giống nhau như hai giọt nước.

Hai cô chỉ khác nhau đôi chút về tính nết, Minh Châu thông minh, sắc xảo, Minh Ngọc hiền hậu; Minh Châu kiêu hãnh, Minh Châu được nuông chiều nên hay đòi hỏi, dễ hờn giận. Trong gia đình Minh Châu là công chúa. Minh Ngọc khiêm tốn, an phận. Hai chị em khác nhau nhiều nhất ở việc Minh Châu được cô Út yêu thương, với Minh Ngọc cô Út không ghét cũng không  yêu thương.

Năm Minh Châu, Minh Ngọc 12 tuổi, ông nội của hai cô qua đời. Cô Út từ Sài Gòn bay về Hà Nội đưa đám ông cụ. Người trong họ tiếp đón cô long trọng. Cô Út giầu lắm, ai nói cô nghèo, cô khổ là nói láo. Nhưng chuyện cô lấy chồng người Pháp là chuyện thật. Ông chồng cô là chủ đồn điền, người nói đồn điền cà-phê, người nói đồn điền cao-su, kiêm chủ nhân xưởng đóng giầy giép lớn nhất Ðông Dương: xưởng giầy Vina. Bà Vina đi máy bay bốn động cơ Constellation mới nhất của hãng Hàng Không Pháp Air France từ Sài Gòn về Hà Nội, bà ở Hotel Metropole, đi xe hơi Hoa Kỳ có tài xế lái, bà không đeo nữ trang bằng vàng, nữ trang của bà là bạc tráng, kim cương, bà đem nhiều quà về cho Minh Châu, nhiều bộ áo đầm thật đẹp.

Ðám tang ông nội vào mùa đông. Trờøi Hà Nội không xám mà như mầu chì lỏng. Những ánh nến lung linh trong Nhà Thờ Hàm Long, tiếng cầu kinh trầm trầm. Áo quan ông bằng gỗ mầu vàng sậm, đặt trên xe tứ mã đi chầm chậm trên đường phố buồn tênh ra nghĩa trang vắng tanh. Những rặng thông rì rào trong gió. Ông Trưởng Ban Ðạo Tì bận áo đen có những hàng khuy đồng vàng chóe, những chú đạo tì đàn em cũng bận áo đen nhưng khuy bằng nhựa đen. Mặt đất lạnh, những tảng đất khô rơi rào rào trên nắp áo quan.

Năm sau, một đám tang nữa, đám tang bà mẹ của Minh  Châu. Mùa xuân, chiến tranh Việt-Pháp đang diễn ra dữ dội, đám tang buồn, vắng người. Cô Út chỉ gửi thư về chia buồn. Minh Châu bận áo sô, chít khăn sô. Minh Ngọc quấn khăn trắng. Hai cô giống nhau quá, nhiều người trong họ không nhận ra cô nào là Minh Châu, cô nào là Minh Ngọc.

Họ nói với nhau:

–  Hai chị em giống nhau như hai giọt nước!

Buổi sáng cuối thu trời bắt đầu trở lạnh, gió may, mưa bụi dăng màn trắng trên phi trường Gia Lâm, ba của Minh Châu đưa cô sang phi trường Gia Lâm, cho cô lên phi cơ vào Sài Gòn.

– Cô Út đón con ở phi trường. Con xuống phi cơ là có cô.

Ông  dặn dò con gái, mắt ông hoe đỏ, cô con ông nghẹn ngào nói không ra tiếng:

– Vào Sài Gòn với cô con phải ngoan nghe con. Vâng lời cô. Chịu khó học. Viết thư về cho ba luôn.

Minh Châu bay đi, Minh Ngọc ở lại Hà Nội. Những tháng đầu Minh Châu viết thư về thật nhiều, gần như mỗi tuần một thư. Sài Gòn rộng lớn, Sài Gòn đông người, Sài Gòn nắng nóng quanh năm, mùa mưa ngày nào Sài Gòn cũng mưa, mưa ào ào đổ xuống rồi lại tạnh, lại nắng ngay. Minh Châu nhớ Hà Nội, nhớ Minh Ngọc, rồi thời gian qua, những lá thư từ Sài Gòn về Hà Nội thưa dần. Sau cùng chỉ còn thư của Minh Ngọc viết cho Minh Châu và cô Út, những lá thư không có hồi âm.

Năm tháng lại qua, bây giờ chỉ có Minh Ngọc ở Hà Nội nhớ Minh Châu và nhớ cô Út ở Sàigòn. Có người ở Sài Gòn ra nói chuyện về bà Vina, tức cô Út,  ông chồng bà đã qua đời, nay bà là chủ xưởng giày Vina, bà không còn là triệu phú nữa, nay bà là tỷ phú. Bà không có con, bà chỉ có Minh Châu, bà cưng Minh Châu lắm, Minh Châu học trường đầm, Minh Châu có xe ô tô riêng, Minh Châu sang Pháp học…

Năm 1954, chiến tranh Việt Pháp đi vào giai đoạn dữ dội nhất để rồi tàn lụi. Người Việt nghe nói đến cái tên Ðiện Biên Phủ lạ hoắc, như tên một nơi nào đó ở bên Tầu, rồi nghe nói đến thành phố Genève ở tận bên Thụy Sĩ.

Ba của Minh Ngọc, một ông công chức Phủ Thủ Hiến Bắc Việt, từ trần. Ông mất trong lúc người Hà Nội đang lo âu trước tình trạng  đất nước bị chia đôi, Việt Minh chiếm một nửa nước, người Hà Nội bối rối trước việc ở lại hay di cư vào Nam. Tháng Bẩy cô hồn, đám ma lèo tèo chừng hai chục người, những chú đạo tì làm việc vội vàng cho xong để mọi người ra về, trời mưa, nghĩa trang lạnh ngắt.

Năm 1954 có chừng tám trăm ngàn người miền Bắc di cư vào miền Nam, trong số có khoảng hai trăm ngàn người Hà Nội. Trong số người Hà Nội ra đi có mẹ con Minh Ngọc. Hai mẹ con rời Hà Nội  chẳng vương vấn gì vì họ chẳng có gì, họ chẳng còn gì ở Hà Nội để mà tiếc. Hai mẹ con cùng cả chục ngàn người xuống tầu Marine Serpent ở Hải Phòng. Lần thứ nhất và cũng là lần cuối cùng, lần duy nhất Minh Ngọc nhìn thấy cảnh Vịnh Hạ Long.

Ông bố của Minh Châu là công chức, theo sở vào làm việc ở Huế, ông có vợ kế, theo tiếng Hán Việt là ông tục huyền: dây đàn của ông đứt, ông thay sợi dây đàn khác. Và ông có nhiều con với bà vợ kế.

Bà mẹ của Minh Ngọc bất hòa với cô Út. Vụ này có từ ngày Minh Ngọc chưa ra đời, từ ngày ba Minh Ngọc mới thành hôn với mẹ Minh Ngọc. Mối bất hòa càng ngày càng nặng theo thời gian. Nói đúng hơn  cô Út không ưa bà mẹ của Minh Ngọc. Bà mẹ Minh Ngọc cũng không ưa cô Út; vào Sài Gòn bà không bằng lòng cho Minh Ngọc đi tìm cô Út, bà cũng không cho con gái viết thư cho cô Út hay cho Minh Châu, báo tin hai mẹ con vào Nam. Tuy vậy Minh Ngọc vẫn mong có ngày cô Út đi xe hơi đến trại định cư đón mẹ con cô về ở trong một góc vi-la của cô, ở trong nhà bồi, nhà bếp của cô cũng được, cũng sướng hơn là ở trong trại định cư chung chạ như thế này.

Bây giờ Minh Ngọc mười chín tuổi, sáu năm rồi nàng không được gập Cô Út, không được gập Minh Châu. Từ ngày vào Sài Gòn bà mẹ nàng yếu đi nhiều, bà già yếu đi quá mau, dường như bà bắt đầu lẫn. Minh Ngọc được ông cậu đưa đi làm thư ký trong ngân hàng Ăng-lê The Chartered Bank. Hai mẹ con sống trong căn nhà vách ván, mái tôn ở khu Ngã Ba Ông Tạ. Ðủ ăn, đủ mặc, hai mẹ con không đòi hỏi gì hơn. Tiền lương nữ thư ký của Minh Ngọc cộng với khoản tiền tử tuất do ông bố của Minh Ngọc để lại, bà mẹ của Minh Ngọc được lãnh cho đến khi bà chết, tuy không nhiều cũng đủ cho hai mẹ con sống cuộc sống của những người không nghèo lắm ở Sài Gòn. Ngân hàng có máy lạnh mát mẻ. Minh Ngọc đi làm thật chăm, nàng giữ việc vào sổ những chi phiếu, ở nơi làm việc nàng dễ chịu, thoải mái hơn ở nhà nhiều. Mỗi sáng đi làm nàng mang phần cơm theo, trưa nàng ăn trưa trong sở, chiều tan sở nàng về nhà bằng xe buýt.

o O o

Biệt thự của cô Út ở đường Tú Xương, mỗi ngày đi về trên xe buýt Minh Ngọc nhìn thấy bảng tên đường Tú Xương nhưng nàng không đến  đó tìm cô. Không cho bà mẹ biết, làm như không biết đường, nàng viết thư gửi về vi-la cho cô, cho Minh Châu, ghi rõ số nhà mẹ con nàng ở. Không ai đến tìm mà cũng chẳng có thư trả lời. Rồi nàng viết cho Minh Châu báo tin nàng làm ở Ngân hàng Chartered Bank.

Một hôm nàng đến nhà cô Út.

Với nàng, vi-la quá lớn, quá rộng, quá vắng người, nàng đứng trước cánh cổng sắt cả ba, bốn phút mới quyết định nhấn nút chuông điện. Cặp chó béc-giê lớn như hai con bê xổ ra, nàng tưởng như chúng dư sức nhẩy vọt qua cánh cổng sắt nếu chúng thấy cần. Chị đàn bà có vẻ là gia nhân đi ra. Chị nói tiếng Nam. Minh Ngọc không nghe rõ chị nói gì, chị người làm cũng không nghe rõ tiếng nói lí nhí của cô gái Bắc kỳ di cư mới dzô Sè Goòng. Sau mấy câu hỏi qua, hỏi lại, cuối cùng Minh Ngọc được biết bà Vina hiện ở bên Pháp, cô Châu đi học trên Ðàlạt.

Năm 1956 Minh Ngọc hai mươi tuổi, đã sống ở Sài Gòn được một năm  nàng vẫn chưa được gặp cô Út và Minh Châu. Có một thay đổi trong đời nàng, bà mẹ nàng rời khu Ngã Ba Ông Tạ nóng bức, ồn ào, chật chội để về sống với gia đình ông em ở Hố Nai, Gia Kiệm, khu có nhiều người Bắc di cư đến định cư lập nghiệp. Nhà ông em rộng, có vườn đất, bà mẹ của Minh Ngọc sống thoải mái hơn, bà lại có việc làm vừa đỡ buồn vừa có tiền: nuôi gà vịt, nuôi heo. Minh Ngọc cũng rời căn nhà vách ván giống như cái chái hơn là cái nhà ở gần chợ 6ng Tạ để về sống chung với một cô bạn gái cùng sở làm trong căn phòng một toà nhà cho thuê ở đường Pham Ngũ Lão. Loại phòng bin-đinh này được làm cho một người ở, nhưng hai người ở cũng vẫn được, một cô ngủ trên đi-văng, một cô trải nệm ngủ dưới sàn. Những đêm cuối năm trời lạnh, hai cô có thể ngủ chung trên đi-văng. Chật một chút nhưng không sao. Sống được. Phòng bin-đinh có tiện nghi, bồn rửa mặt, cầu tiêu ở ngay trong phòng,  phòng tắm  ở cuối hành lang. Bà vợ ông quản gia nấu cơm tháng cho những người ngụ trong bin-đinh, toàn là khách độc thân, cơm nóng, canh ngọt được bưng lên tận phòng cho hai cô.

Minh Ngọc không biết qua một chuyện gì về cô Út và Minh Châu, nàng  không biết Cô Út đau nặng – Bà Vina bị ung thư, bà sắp ra khỏi những bệnh viên hiện đại nhất, đắt tiền nhất ở Pháp để về chết ở quê hương – Minh Châu sắp trở thành nữ tỷ phú trẻ tuổi nhất, đẹp nhất của Việt Nam. Cho đến một chiều…

Cô bạn thư ký đồng nghiệp đến nói nhỏ bên tai nữ thư ký Minh Ngọc:

 – Nè Ngọc.. Có cô nào trông giống Ngọc quá. Trong bi-rô ông Phó.

Nữ thư ký The Chartered Bank Minh Ngọc nhìn qua khung kính vào văn phòng ông Phó Giám Ðốc, nàng thấy Minh Châu. Minh Châu  như những cô đầm người mẫu mà người Sài Gòn chỉ nhìn thấy trên những tạp chí thời trang của Pháp như Marie-Claire, Elle, hay trong những phim thời sự tường thuật về thời trang Paris: Minh Châu áo pull sợi trắng hở cánh tay, hở ngực, quần soóc nâu như làn da thứ hai ôm đôi mông tròn, cặp đùi nàng thon, dài, nàng đi giép săng-đan trắng, mái tóc nàng sõa trên vai, môi nàng hồng, đôi mắt nàng sáng như sao.

Dường như tất cả nhân viên ngân hàng đều ngừng làm việc để nhìn người thiếu nữ đẹp.

Minh Ngọc cũng nhìn ngây người thiếu nữ ấy như mọi người, chỉ khác là tim nàng đập mạnh hơn. Nàng muốn nói với cô bạn: – Chị tôi đấy..Tên chị ấy là Minh Châu.

Nhưng nàng không nói. Bên nàng, cô bạn trầm trồ:

– Sao đẹp quá, sang nữa. Mà sao lại giống Ngọc quá dzậy cà?

 Cô nhìn ngây vào mặt Minh Ngọc:

 – Giống nhau như hai giọt nước.

Nhiều nhân viên khác cũng nhìn Minh Ngọc rồi nhìn cô khách sang, đẹp trong buy-rô ông Phó.

Người thiếu nữ đẹp, sang ấy là Minh Châu. Nàng đến ngân hàng mở trương mục, ông Phó Giám Ðốc Ngân Hàng long trọng tiếp nữ thân chủ giầu tiền. Hai chị em gặp lại nhau khi họ không ngờ nhất. Năm nay họ hai mươi tuổi và họ vẫn giống nhau như hai chị em sinh đôi. Họ chỉ khác nhau ở điểm Minh Châu nổi bật như viên kim cương lấp lánh, Minh Ngọc tầm thường như một thứ đồ vật người ta vẫn thấy mỗi ngày. Có một cái gì đó làm Minh Châu nổi bật lên, làm cho Minh Ngọc mờ nhạt đi. Cái đó có thể là việc Minh Châu là con nhà tỷ phú, là người thừa hưởng một tài sản nhiều trăm triệu, Minh Ngọc là cô thư ký nhà băng lương chỉ vừa đủ sống.

Và bà tỷ phú Vina sắp qua đời…

Và câu chuyện kỳ ảo bi thảm này bắt đầu…

        Ngưng trích

*Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, K Hoa Đất Trích. Ngày 8 Tháng 9. 2016.

ĐEN HƠN BÓNG TỐI là một truyện phóng tác thành công của tôi. Truyện hấp dẫn, có nhiều người đọc. Hôm nay – 50 năm sau ngày tôi phóng tác truyện ở Sài Gòn – khi viết lại truyện ở xứ người, tôi thấy thấp thóang ẩn hiện hình ảnh người đàn ông 40 tuổi là tôi năm xưa.

Cảm khái cách gì. CTHĐ