NHƯ CÁI BÁT ÚP 2014

Nhà Tranh Đấu Trần Khải Thanh Thủy bị đưa ra toà ở Hà Nội.

Nhà Tranh Đấu Trần Khải Thanh Thủy bị đưa ra toà ở Hà Nội.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, Tháng Bẩy 2014. Bài này viết về ba người đàn bà Việt Nam sống trong nước mà “chửi” bọn Cộng Vẹm dũ dội nhất. Hai bà ở Hà Nội: Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thủy, một bà ở Sài Gòn: Tạ Phong Tần.

Trích Internet:

Trần Khải Thanh Thủy là một cựu giáo viên, nhà báo, nhà văn, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, hội viên danh dự Hội Văn Bút Quốc Tế Anh (Honorary Member of PEN UK 2007.) Bà là người bất đồng chính kiến với chính phủ Việt Nam.

Trần Khải Thanh Thủy sinh ngày 26 tháng 11 năm 1960 tại Hà Nội. Bà tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1982; từ năm 1986 đến 1993 bà là giáo viên tại tỉnh Hà Tây.

Năm 1993 bà bỏ nghề dạy học về Hà Nội viết báo (báo Cựu chiến binh) và nhiều báo khác (Người cao tuổi, Văn hóa văn nghệ công an, Lao động thủ đô,…).

Năm 1999 bà bị buộc thôi việc, bắt đầu viết tự do.

Ngày 2 tháng 9 năm 2006 công an đã bắt bà khi đang chuyển tài liệu ra nước ngoài và khám xét nhà bà sau đó.

Tháng 2 năm 2007 Tổ chức Human Rights Watch tặng Giải Hellmann/Hammett cho bà (và nhiều người Việt khác: Đỗ Nam Hải, Lê Chí Quang, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Khắc Toàn,Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Quế Dương.)

Ngày 21 tháng 4 năm 2007 Trần Khải Thanh Thủy bị Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội bắt khẩn cấp vì tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Ngày 5/2/2010 bà bị xử 3 năm rưỡi tù vì tội cố ý gây thương tích. Có ý kiến cho rằng đây là một vụ việc được cơ quan an ninh Việt Nam dàn dựng. Những hình ảnh và chứng cứ đưa ra để bắt bà được cho là giả mạo.

Hiện nay Trần Khải Thanh Thủy đã được tha bổng sau 21 tháng tù, và được đưa sang định cư ở Mỹ, sau khi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gây sức ép đòi trả tự do cho bà. Người phát ngôn Beau Miller của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hoan nghênh việc trả tự do cho bà Thủy, và Dân biểu Loretta Sanchez tuyên bố:

“Chào đón Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy về với tự do”.

Trích Phỏng vấn của Ðài VOA ngày 28, tháng 6, 2011.

VOA: Kế hoạch sắp tới của nhà văn bất đồng chính kiến Trần Khải Thanh Thủy?

Nhà văn vừa tị nạn chính trị ở Hoa Kỳ đã nói với Ðài VOA về kế hoạch sắp tới của bà.

Trần Khải Thanh Thủy:

“Tôi chọn cách đi tị nạn như thế này để được tiếp tục cầm bút… Tôi vẫn tiếp tục giữ ngọn lửa tranh đấu, niềm đam mê viết, và tôi sẽ viết như khi còn ở trong nước.

“Mục tiêu của tôi là được sống thật với mình và sống tự do, được cầm bút trở lại. Tôi sẽ viết cuốn ‘Hỏa Lò: Cửa Sinh Cửa Tử của những Kiếp Buồn’. Tập thứ hai tôi sẽ viết về chính bản thân tôi là ‘Ðời Tù’ và một cuốn nữa mang tính chính luận cao, phần hai của ‘Ðêm giữa ban ngày ở Việt Nam,’ nói lên mặt trái của xã hội Việt Nam khi cả nước có 372 trường học, nhưng có tới gần 900 nhà tù…

Chắc chắn chúng sẽ như những tiếng bom nổ giữa thời bình.

Ðam mê của tôi từ bé là cầm bút. Nhà văn muốn được tỏa sáng phải sống hết mình, phải mài mòn mình ra mà viết. Tôi hy vọng những tháng ngày ở Mỹ, cùng với lòng biết ơn đối với nước Mỹ không những đã cứu thoát tôi ra khỏi tù mà còn cưu mang hai mẹ con tôi nữa, tôi sẽ có sự cộng hưởng sức mạnh tinh thần để thể hiện tác phẩm đầy đặn hơn…”

Ngưng trích.

CTHÐ: Kể từ ngày cõi đời này có những người Việt Nam chống Cộng ở trong nước, bị bọn Cộng Việt giam tù, hành hạ, bị đe doạ nguy hiểm đến mạng sống, bà Trần Khải Thanh Thủy là người Tù Việt được người Mỹ đón đi long trọng nhất.

Nhà Văn Nữ Dương Thu Hương nói chuyện ở New York.

Nhà Văn Nữ Dương Thu Hương nói chuyện ở New York.

Cho đến hôm nay, một ngày trong năm 2014, Người Tù Trần Khải Thanh Thủy là người Tù Việt duy nhất – thứ nhất – được nhân viên Ðại Sứ Quán Hoa Kỳ đến thăm trong tù, được đưa thẳng từ Trại Tù Khổ Sai ra phi trường, lên phi cơ bay thẳng sang Hoa Kỳ, được nhân viên Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ đưa đi trên phi cơ trên đường bay qua biển đến phi trường San Francisco.

Ngày 28 Tháng Sáu 2011 bà TK Thanh Thủy nói với phóng viên Đài VOA bà sẽ viết ở Mỹ 3 tác phẩm, bà cho biết trước “những tác phẩm này sẽ như những tiếng bom nổ giữa thời bình.”

Từ Tháng Sáu 2011 đến nay đã 3 năm qua – Tháng Sáu 2014 –  chưa thấy bà TK Thanh Thủy có tác phẩm mới nào đáng kể. Phải chăng trường hợp bị “cháy” của bà cũng chẳng có gì mới lạ: Nhà Đấu Tranh cho Dân Chủ nào bỏ nước mình sang sống ở Hoa Kỳ cũng mất giá trị, cũng trở thành người lưu vong như cả triệu người lưu vong khác.

Đọc những bài viết của bà TK Thanh Thủy trên Internet tôi “tâm đắc” một câu bà chửi bọn công an cứ lẵng nhẵng đi theo cái đồ mà bà gọi là “Nhu Cái Bát Úp” của bà. Tôi dùng “Như Cái Bát Úp” làm tên bài VoRP này.

Trong 10 năm qua, tôi thấy có Ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh được người Mỹ đưa đi khỏi nước Tầu Cộng giống như trường hợp Bà Tù Việt Trần Khải Thanh Thủy. Ông Tầu Ngụy bị Tầu Cộng trục xuất tháng 11, 1998, ông được người Mỹ đón sang Hoa Kỳ trong tháng.

Ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh được nhân viên chính phủ Mỹ can thiệp, lãnh đưa đi từ trại tù khổ sai, có nhân viên chính quyền Mỹ đến đón ông ở Trại Tù, nhân viên này cùng đi sang Mỹ với ông trên phi cơ. Ông đến phi trường New York. Người Mỹ gốc Hoa ở Mỹ chào đón ông tưng bừng. Báo Mỹ đăng tin ông Ngụy nghiện hút một hiêu thuốc điếu của Tầu Cộng. Người ta – người Mỹ — lục tung các cửa tiệm người Tầu ở Phố Tầu New York tìm mua cho ông thứ thuốc điếu đó. Chính phủ Hoa Kỳ không chính thức mời ông đến Nhà Trắng. Một ông Tham Vụ Nhà Trắng mời ông đến Nhà Trắng. Trong khi Ông Tù Tầu ngồi trong văn phòng của ông Tham Vụ này, Tổng Thống Clinton ghé vào, bắt tay, nói chuyện một lúc.

Ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh được chào đón khắp nơi trong khoảng 12 tháng. Rồi theo đúng qui luật và thông lệ, ông bị người ta quên. “Ngườii ta” đây là người Tầu ở Mỹ, và người Mỹ. Ở trong nước Tầu Cộng, ông là Nhà Tranh Ðấu cho Nhân Quyền. Sang Mỹ, sống ở Mỹ, ông là một ông Tầu như cả triệu ông Tầu khác sống ở Mỹ. Lâu rồi chẳng còn người Tầu nào ở Mỹ nhắc đến ông.

Theo dõi những việc làm của ông Tầu Ngụy Kinh Sinh khi ông mới đến nước Mỹ, tôi thấy đoạn tin đăng báo khi Chủ Tịch Tầu Cộng Giang Trạch Dân đến London, Thủ đô Anh Quốc. Bà Hoàng Elizabeth tiếp họ Giang, mời họ Giang ngồi chung xe song mã với bà đi một vòng trong thủ đô. Ông Tầu Ngụy Kinh Sinh cùng một số người Tầu tụ họp bên đường xe đi để la hét, dăng biểu ngữ đả đảo Giang Trạch Dân. Cảnh sát Anh đến mời hết đám ông Ngụy Kinh Sinh đi chỗ khác chơi. Họ nói quốc khách của nước họ không phải là người để cho đám người Tầu làm xấu. Cảnh sát Anh chỉ mời nhóm ông bà Tầu biểu tình, trong có ông Ngụy Kinh Sinh, lên xe đưa đến mời ngồi chơi uống nước trà Tầu ở một nơi nào đó, chiều đến là mời các ông bà thơ thới ra về. Từ đó tôi mất tông tích ông Ngụy Kinh Sinh. Lâu rồi tôi không biết ông sống ở đâu, ông sống bằng gì, ông làm nghề gì để sống.

Chưa kể đến tình trạng đáng buồn là sống lưu vong ở những quốc gia dân chủ Âu Mỹ, nhiều ông Cựu Tù Chống Cộng bị “cháy,” bị “đốt.” Không chỉ bị cháy, bị đốt thường, nhiều ông bị cháy, bị đốt đến nơi đến chốn. Ða số các ông bị coi thường, có ông bị mạ lỵ. Không chỉ mạ lỵ suông mà là mạ lỵ tàn tệ. Tình cảnh các ông thê thảm trăm đường, đáng thương quá đỗi. Có ông Cựu Tù bị đốt, bị đánh rách đến không còn cái sà-lỏn lành lặn mà mặc.

Ngay từ những ngày đầu sang Mỹ- thấm thoắt dzậy mà đã tròn 20 mùa tuyết rơi trên sông Potomac – tôi đã viết ra ý kiến của tôi trước tình trạng bọn Cộng Sản – đầu têu là Nga Cộng, Tầu Cộng bắt chước  – cứ thẳng tay bắt tù những người đòi Nhân Quyền, những người phản đối sự cai trị tàn bạo của chúng. Những người Dân chủ Âu Mỹ xin thả, xin lãnh mang những người tù ấy đi. Bọn CS thả, cho đi. Và thế là những người Âu Mỹ hoan hỉ cho là họ thắng, bọn CS phải nhượng bộ. Tôi gọi trò ma giáo “Bắt, Chờ Xin, Thả cho Ði ” của bọn Cộng Sản là trò “Chính Trị Con Tin.” Gần như tất cả những người chống Cộng bị CS bỏ tù trên thế giới đều được người Mỹ đón đến sống ở Hoa Kỳ, cứ như là Hoa Kỳ cần có những chuyên viên chống Cộng.

Người Mỹ lãnh mang những người chống đối đi,sang Mỹ, bọn Cộng cầm quyền mừng húm. Mang những người chống Cộng đi ra nước ngoài, người Mỹ nhổ những cái gai nhọn ghim ngay bên mắt bọn Cộng Sản. Trò Bịp Ma Bùn Ma Tịt  “Chính Trị Con Tin” bọn Việt Cộng bắt chước bọn Nga Cộng, Tầu Cộng, đến nay – năm 2014, Thế Kỷ 21, vẫn được bọn Cộng xử dzụng có lợi cho chúng.

Tôi viết bài này trong ngày có tin ông Tù Cù Huy Hà Vũ và bà vợ đến phi trường Dulles, Washington DC. Tôi ngậm ngùi nhớ những Văn Nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hoà bị bọn Bắc Cộng bắt tù, chết thảm trong tù.

Đây là người phụ nữ Hà Nội thứ hai “chửi” bọn Cộng Hà Nội tàn canh gió lốc: Nhà Văn Nữ Dương Thu Hương.

Trích nhật báo Người Việt 17-4-12:

Dương Thu Hương: “Ngày 30 Tháng Tư 75, nền văn minh đã thua chế độ man rợ”

Phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái

Dương Thu Hương nổi tiếng không những về những tác phẩm như Thiên Ðường Mù, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Khải Hồn Môn, Chốn Vắng… mà còn do thái độ can đảm và thẳng thắn phê bình giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Bà từng bị chế độ giam giữ gần một năm và bị công an đe dọa “nghiền nát như tương.” Hiện nay, Dương Thu Hương tỵ nạn tại thủ đô Paris của nước Pháp. Dù xa quê nhà, bà vẫn luôn thao thức về tình hình tại Việt Nam. Tháng Tư năm 2000, nhà văn Dương Thu Hương đã trả lời cuộc phỏng vấn sau đây do Đinh Quang Anh Thái (ĐQAT) thực hiện và phát thanh trên làn sóng của đài Little Saigon Radio ở California.

ĐQAT: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” – tâm tư của bà lúc đó như thế nào?

Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.

ĐQAT: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?

DTH: (cười khẩy) Ðó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như tại Việt Nam (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình.

ĐQAT: Bà có thể nói rõ hơn?

DTH: Tôi chả coi Đảng Cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Ðối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Ðội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ vào Đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý Luận Nghiệp Vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường. Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước Việt, của dân tộc Việt Nam chứ không vì Đảng cộng sản.

CTHĐ: Đọc những lời nói của bà Dương Thu Hương, CTHĐ tôi “tâm đắc” câu bà nói:

Nhà tranh đấu Tạ Phong Tần khi là Công An CS.

Nhà tranh đấu Tạ Phong Tần khi là Công An CS.

“Tôi ở lại Pháp làm gì? Tôi phải về Hà Nội để ỉa lên mặt bọn cầm quyền.”

Bà Dương Thu Hương công khai chửi ở Hà Nội: “Những tên trong Hội Nhà Văn là những con chó đi hai chân.”

Bà ví mặt anh Tướng Cộng Dương Thông “như bộ phận sinh dục của con ngựa cái.”

Lý lịch của Tướng CAVC Dương Thông trên Internet:

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động chủ yếu ở chiến trường Hà – Nam – Ninh. Sau giải phóng miền Bắc, ông công tác tại Hà Nội thuộc Cục 72 (sau chuyển thành Cục 78). Sau này Cục 78 tách ra, ông được cử sang công tác Bảo vệ An ninh nội bộ các cơ quan văn hóa — tư tưởng — gọi tắt là “Cục Bảo vệ Cơ quan và Văn hóa” (Cục A25 ngày nay). Giữa thập niên 70, ông giữ chức vụ Cục trưởng Cục Bảo vệ Cơ quan và Văn hóa. Đầu thập niên 80 được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục An ninh.

Ông là lãnh đạo Cục Bảo vệ cơ quan và văn hóa (mật danh là KE3), sau này là Cục 72, Cục 78, A25 ông đã có đóng góp lớn trong công tác bảo vệ an ninh nội bộ các cơ quan khối văn hóa, văn học nghệ thuật, thông tin, thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình và ngành bưu điện. Chống địch hoạt động phá hoại tư tưởng, diễn biến hòa bình, kích động vượt biên, di tản nhằm tập hợp lực lượng thực hiện âm mưu chống phá Việt Nam lâu dài.

Năm 1995, ông lâm bệnh mất ngày 26 tháng 3 âm lịch.

Nhận xét về Tướng Dương Thông, Nhà thơ Cù Huy Cận viết:

“Dương Thông, Quang Phòng, những người bạn thân thiết của văn nghệ sĩ”

Nhà văn Dương Thu Hương:

“Sau rốt, tôi biết ông cũng chỉ là một con đĩ, một kẻ bán mình. Nhưng trên đời có nhiều loại đĩ, thảm hại cho ông, ông là loại đĩ đứng vỉa hè, loại ngả thân dưới hàng rào công viên hoặc ven cống. Bán mình cho Bùi Duy Tâm, chứng tỏ ông thuộc loại điếm năm xu”

Hai bà TK Thanh Thủy, Dương Thu Hương là gái Hà Nội, bà Tạ Phong Tần, người phụ nữ thứ ba trong bài VoRP này là gái Sài Gòn.

Trích Internet:

Tạ Phong Tần (sinh năm 1968 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, là một blogger bất đồng chính kiến ​​với Chính phủ Việt Nam. Từng là một nữ cảnh sát trước đây, cô đã bị bắt vào tháng 9 năm 2011 về tội tuyên truyền chống Nhà nước trong các bài viết blog của cô với những cáo buộc chính quyền tham nhũng. Ngày 30 tháng 7, bà Đặng Thị Kim Liêng, bà mẹ của cô Tạ Phong Tần đã tự thiêu ở trước của cơ quan chính phủ tỉnh Bạc Liêu để phản đối các cáo buộc đối với con gái của bà. Vào ngày 4 tháng Mười năm 2012, Tạ Phong Tần  bị tuyên án mười năm tù giam.

Tạ Phong Tần bắt đầu viết blog, khi cô còn là đảng viên Đảng Cộng sản và làm việc trong ngành công an. Năm 2004, cô trở thành một nhà báo tự do. Hai năm sau đó, cô bắt đầu làm một blog có tiêu đề “Công lý và Sự thật”, được phổ biến với các báo cáo về các vụ tham nhũng của công an. Vì các bài trên mạng phê phán chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, bà bị đuổi khỏi Đảng và mất việc vào năm 2006.

Báo Công An Nhân Dân – CAND – kết tội Blog “Công lý-Sự thật” của Tạ Phong Tần là nơi chứa đựng những quan điểm sai trái, những luận điệu vu khống, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và hơn hết, là nơi để Tạ Phong Tần kiếm “đô la” từ những thế lực cực đoan, phản động ở nước ngoài.

Cô bị bắt vào tháng 9 năm 2011 cùng với các blogger bất đồng chính kiến khác gồm ​​Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải, tất cả những người trong số họ đã đăng bài dưới tên blog “Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam”. Ba người bị buộc tội “tuyên truyền chống nhà nước” trong các bài viết  “làm méo mó tình hìng quốc nội và chống đối Chính phủ Việt Nam.” Bản án có thể dẫn đến mức án tối đa là hai mươi năm tù giam. Tờ The Economist mô tả các vụ bắt giữ là “mới nhất trong một loạt các nỗ lực của nhà cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm kiềm chế số lượng người dùng Internet đang phát triển rầm rộ ở nước này.”

Văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc chỉ trích các vụ bắt giữ, nêu rõ mối quan tâm đối với sự hạn chế về quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam. Trong chuyến thăm tháng Bảy năm 2012 đến Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton thể hiện quan tâm của bà đến việc tạm giữ ba thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo Việt Nam Tự do. Tổ chức Ân xá Quốc tế mô tả ba blogger này như những tù nhân lương tâm, “bị bắt giữ chỉ vì việc họ đã đấu tranh ôn hòa cho quyền tự do ngôn luận thông qua các bài viết trực tuyến của họ”, và kêu gọi cho việc thả tự do các blogger này. Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và Tổ chức Thế giới chống Tra tấn phát hành một tuyên bố chung kêu gọi chính phủ Việt Nam thả tự do cho ba blogger vô điều kiện.

Buổi sáng ngày 30 tháng Bảy 2012, bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của cô Tạ Phong Tân, đã tự thiêu bên ngoài trụ sở Uỷ ban Nhân dân Tỉnh Bạc Liêu để phản đối việc bắt giữ con gái bà, cuộc tự thiêu xẩy ra một tuần trước khi cô Tạ Phong Tần bị đưa ra tòa.. Bà Liêng chết vì các vết bỏng trên đường đến bệnh viện. Cái chết này là vụ tự thiêu đầu tiên tại Việt Nam kể từ những năm 1975.

Tướng Công An VC Dương Thông, người có bộ mặt bị ví  "như cái đồ của con ngựa cái."

Tướng Công An VC Dương Thông, người có bộ mặt bị ví “như cái đồ của con ngựa cái.”

Phương tiện truyền thông Nhà nước Việt Nam không thừa nhận cái chết của bà Đặng Thị Kiem Liêng là vì nguyên nhân phản đối chính quyền,  họ nói rằng cần điều tra thêm.

Nhân viên Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cho biết họ “rất quan tâm và đau buồn” trước thông tin trên, và kêu gọi việc thả tự do cho các blogger. Ủy ban Bảo vệ Nhà báo ở Mỹ gọi cái chết của bà Liêng là “một lời cảnh tỉnh đau buồn khi chiến dịch của chính phủ Việt Nam đàn áp các blogger và nhà báo  đã gây nên những tổn thất vô cùng đáng tiếc cho các cá nhân liên quan.” Tồ chức Human Rights Watch kêu gọi cộng đồng quốc tế giải quyết cơ bản tình trạng nhân quyền, nêu rõ:

“Đây không phải chỉ là một bi kịch đối với một gia đình. Đây là một bi kịch đối với cả một đất nước.”

Một dòng dài người đưa tang đi đến nhà của bà Liêng để bày tỏ sự thương tiếc trong tuần sau cái chết của bà, mặc dù nhiều báo cáo cho biết họ đã bị chặn trên đường bởi các lực lượng an ninh nhà nước. Chính phủ cũng đặt lễ đưa tiễn tang lễ của bà Liêng dưới sự giám sát bởi các sĩ quan cảnh sát mặc thường phục.

Ngày 4 tháng mười năm 2012, Tạ Phong Tần bị kết án 10 năm tù giam trong một phiên tòa xét xử 3 blogger là Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và cô, diển ra trong 1 ngày. TờThe Economist  miêu tả sự việc này ” rất giống kiểu các vụ xét xử mà Liên Xô  trước đây đã thực hiện”. Các công tố viên cáo buộc cả ba blogger đã “bóp méo sự thật về Đảng và Nhà Nước, tạo ra sự bất an trong quần chúng nhân dân và tiến hành các âm mưu nhằm lật đổ chính phủ.” Phan Thanh Hải, người đã nhận tội, bị kết án bốn năm tù giam,  Nguyễn Văn Hải bị án đến mười hai năm tù khổ sai..

Một thông cáo ngày 4 tháng Ba 2013, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói tân Ngoại trưởng John Kerry cùng Đệ nhất Phu nhân Mỹ Michelle Obama sẽ trao giải cho 10 phụ nữ vào ngày 8/3, đánh dấu Ngày Phụ nữ Quốc tế. Được thành lập từ năm 2007, giải này được Bộ Ngoại Giao Mỹ tặng cho những phụ nữ trên thế giới “chứng tỏ sự dũng cảm đặc biệt và khả năng lãnh đạo để vận động cho quyền và sức mạnh phụ nữ, bất chấp rủi ro cá nhân”. Trong số những phụ nữ được giải thưởng này năm nay có cô Tạ Phong Tần. Theo Đài VOA, Tạ Phong Tần có trang blog mang tên “Công lý và Sự Thật”, với hàng trăm bài viết phản ánh những bất công xã hội, các vụ tịch thu đất đai, và tệ nạn tham nhũng trong các cơ quan chính quyền Việt Nam. Ngày 9 tháng 3 năm 2013, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối việc trao giải này vì việc trao giải này “được trao cho một người phạm tội”, và cho rằng: “Đây là việc làm sai trái, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, không có lợi cho sự phát triển quan hệ hai nước”

Blogger Tạ Phong Tần cũng được đề cử Giải thưởng Báo chí 2013 của Index on Censorship, tổ chức quốc tế chuyên bảo vệ quyền tự do bày tỏ quan điểm và quyền tự do báo chí có trụ sở tại London, Anh Quốc. Đây là giải thưởng hằng năm nhằm vinh danh những nhà văn, nhà báo, blogger trên thế giới bị đàn áp vì dám phơi bày thực trạng xã hội và đấu tranh cho công lý, nhân quyền, và dân chủ. Blogger Tạ Phong Tần ở trong danh sách 4 ứng cử viên chung cuộc và Giải thưởng sẽ chính thức được trao vào ngày 21/3 năm nay

Ngưng trích Internet.

CTHĐ: Bà Tạ Phong Tần là người tù chính trị đang ở trong tù khi  bà mẹ bà tự thiêu chết thảm. Bà là người chửi bọn công an cá lòng tong những câu như:

“Đừng hỗn với tao. Tao đáng tuổi mẹ mày. Tao đẻ ra được mày.”

TT Obama từng nói: “Trong dịp này chúng ta hãy nhớ đến người tù Điếu Cầy.”

Bất chấp lời ông Tổng Thống Hoa Kỳ, bất chấp những lời can thiệp, những chỉ trích của những Tổ Chức Nhân Quyền, Dân Chủ trên thế giới, bọn Cộng Hà Nội mặt trơ, trán bóng cứ bình chân như vại và cứ tỉnh queo giam tù những nguời Việt đòi dân chủ, nhân quyền mút mùa Lệ Thủy.

Tôi chấm dứt bài này với nỗi ngậm ngùi và buồn nản.

 

DANH CHỈ BẢN

Tháng Bẩy 1954 ở Hà Nội.. Người Hà Nội bỏ Hà Nội để vào Sài Gòn.

Tháng Bẩy 1954 ở Hà Nội.. Người Hà Nội bỏ Hà Nội để vào Sài Gòn.

Khi vào Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu lần thứ nhất, năm 1977, tôi nằm xà-lim Khu B. Khoảng 20 ngày sau ngày bị đưa vào xà-lim tôi đã quen quen với cuộc sống trong xà-lim,  một buổi sáng khoảng 10 giờ đang nằm lơ tơ mơ trên bệ xi-măng tôi nghe tiếng chùm chìa khoá đập loảng xoảng vào cánh cửa sắt xà-lim, tiếng mở khoá lách cách, tiếng then cửa, tiếng cai tù ra lệnh:

- Ði làm danh chỉ bản!

Ðây là lần đầu tiên trong đời tôi nghe tiếng “danh chỉ bản.” Chẳng biết “đi làm danh chỉ bản” là đi làm cái gì nhưng bụng tù bảo dạ tù “Cần gì biết. Lát nữa sẽ biết.” Tôi bận quần dài, bận áo – trong xà-lim tù nhân ở trần, quần sà-lỏn – tôi đi ra ngoài trời. Mèn ơi..! Trời nắng vàng đẹp biết chừng bao! Với người tù nằm cả tháng trong xà-lim không ánh sáng, không gió nắng, việc được đi ngoài trời, trong nắng, trong gió, trong buổi sáng nắng vàng là một hạnh phúc. Trời buổi sáng đang đi vào trưa vừa mát lại vừa ấm. Cai tù dẫn tôi đến chỗ làm danh chỉ bản. Thì ra “danh chỉ bản” là tiếng bọn ViXi học của bọn công an Tầu, nó là bản ghi tên tuổi, ảnh và dấu chỉ tay người tù. Những ông đàn anh của tôi chống Pháp đi tù thời Tây bị Tây bắt làm những tờ fiche, tức phiếu lý lịch, đời tôi chống bọn Bắc Cộng, tôi vào tù bị làm cái gọi là danh chỉ bản, tên khác nhưng fiche và danh chỉ bản giống hệt nhau, nó là bản ghi tên tuổi, ảnh, dấu chỉ 10 ngón tay của người tù.

Một hay hai cái bàn được kê giữa lối đi ngoài trời, gần ngay đấy là mấy phòng tù nữ. Mấy anh chị tù đứng xớ rớ, ngồi dưạ tường chờ đến lượt mình. Bọn công an Sở đến làm danh chỉ bản mặc đồng phục mầu vàng đất chết. Có một em nữ công an trạc 22, 23 tuổi, mặt em đen sì, đầy mụn trứng cá. Em này là con cháu bọn Việt Cộng nên được vào làm công an; trước ngày 30 Tháng Tư 1975 em mưu sinh lương thiện bằng cách hành nghề bán chuối chiên, vịt lộn ở những chợ Ông Tạ, chợ Gò Dầu, hay em  đi vớt bèo tấm bán cho những người nuôi cá kiểng, em đi bắt cào cào, châu chấu bán cho những người chơi chim trong thành phố. Nay “cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công”, em trở thành nhân viên công an nhăn dăn, viết năm chữ “Hồ chí Meo muôn nem..” em mướt mồ hôi nách, viết: “Không có gì quí hơn độc lập, tự do..” em dấp mồ hôi bẹn.

Sáng hôm ấy tôi nghe em nói với tên công an đang ngồi ở bàn. Tên công an đực này chỉ cần trông bản mặt đêu đểu cũng biết là công an Bắc kỳ nham nhở. Em nói:

- Sao nhiều người bị bắt quá? Mới tháng trước mình dzô làm giấy cho bao nhiêu người, hôm nay lại bao nhiêu người!

Tên Công An VC Bắc kỳ nói một câu xanh rờn:

- Bị bắt thì mới từng này người, chưa bị bắt thì còn mấy triệu người!

Chợ Trời Hà Nội Tháng Bẩy 1954. Người Hà Nội ra đi mang đủ thứ đồ vật ra bầy bán ở vỉa hè.

Chợ Trời Hà Nội Tháng Bẩy 1954. Người Hà Nội ra đi mang đủ thứ đồ vật ra bầy bán ở vỉa hè.

Buổi chiều đầu xuân ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích – Trời không còn lạnh nữa, Tần Phi… — tôi bâng khuâng nhớ lại chuyện Tình Xưa, tôi bồi hồi viết, tôi cảm khái gửi bài Thơ Vườn Kim Cốc và Truyện Tình Lục Châu đến những người đàn bà Việt Nam đẹp, đa tình, chung tình, chung thủy trên cõi đời này, những người đàn bà Việt Nam thơm ngát, thơm phức, nồng hương đã, đang và sẽ yêu nồng nàn, yêu sôi nổi, yêu say đắm, yêu ra rít, yêu bất chấp mọi trở ngại, yêu săng-phú tú lơ mo, yêu đến có thể chết và yêu đến chết, yêu đến kiếp sau, những người đàn bà Việt Nam sẵn sàng hy sinh  tất cả cho Tình Yêu! Tất cả là kể cả mạng sống!

Nàng… ơi, ơi… Nàng…! Nếu tôi gọi “Các Nàng ơi..” thì hơi kỳ, nên tôi chỉ gọi “Nàng” thôi. “Nàng”… là Nàng đấy! Tôi muốn viết cho Nàng, tôi muốn viết về Nàng thật nhiều, ông Nhà Văn Mai Thảo từng viết ông thấy sau khi ông qua đời Lịch Sử Thế Giới, Lịch Sử Nhân Loại sẽ viết về đời ông một ngàn trang “Ðời ta lịch sử viết ngàn trang..!” Tôi, khi tôi qua đời, chắc không có lịch sử nào viết một trang nào về đời tôi, nhưng khi tôi sống, tôi muốn viết về Nàng, về Tình Yêu của Nàng, một trăm ngàn trang. Không, viết về Nàng và Tình Yêu của Nàng mà chỉ một trăm ngàn trang là quá ít, là không đủ, là chưa nói được gì, là chưa đâu vào đâu cả, tôi muốn viết về Nàng và Tình Yêu của Nàng, một triệu ngàn trang!

Nhưng xin Nàng thông cảm. Bài này tôi viết về tác phẩm Chữ Nho & Ðời Sống Mới, tôi không thể ngừng ngang xương để viết sang chuyện Nàng, cả một số báo Sàigòn Nhỏ không thể chỉ đăng có một bài tôi viết về Nàng. Ta nên biết điều. Ta phải tự chế! Vậy thì ta tạm biệt nhau ở đây. Còn nhiều tình ái chan chan, còn nhiều trang báo ngàn ngàn mai sau. Vội gì!

Chữ Nho & Ðời Sống Mới. Trang 331.

nhất tự nhất lệ

(nhất mộttự chữ, lệ: nước mắt)

Một chữ là một giọt nước mắt – tức là văn chương quá dở, đọc lên muốn phát khóc. Each character is a cause for weeping, i.e. pathetic writings. Ngưng trích.

Lời giải thích của tác giả làm tôi théc méc. Tôi nghĩ khi đọc phải thứ “văn chương quá dở”, tức bài viết cà chớn, như cái gọi là Tập Phỏng Vấn Chồn Lăn Chồn Lộn Nếu Ði Hết Bẹn,  người ta không đọc tiếp, người ta vứt nó đi, không ai đọc văn dở để khóc cả. Hai nữa bài viết quá dở không thể gọi là “văn chương”. Bài văn làm người đọc cảm động đến ứa lệ là bài văn tuyệt diệu hảo từ. Trong cả một đời đọc sách của tôi, chỉ có hai lần hai bài văn tôi đọc làm tôi khóc. Phải nói ngay những khi đó tôi mới hai mươi tuổi, tôi còn trinh tiết, nên tôi dễ xúc động. Lần thứ nhất tôi cảm động ưá lệ là vào năm 1950 tôi đọc Kinh Thánh, Sách Thánh John, Tân Ước. Lời Thiên Chuá Jesus nói với các môn đồ khi Chuá sắp thụ hình làm mắt tôi ưá lệ. Lần thứ hai cũng vào khoảng những năm 1950 khi tôi đọc La Dame aux Camelias, tiểu thuyết Tình Paris có gì lạ không Em của Alexandre Dumas Fils, tình yêu của Marguerite, khi Marguerite nói với Armand:

- Em đây! Yêu em đi! Em là đồ chơi của anh. Lúc nào anh cần em đến với anh. Nhưng xin anh đừng lấy em làm vợ..!

Lời nói của Marguerite và Tình Yêu của nàng làm tôi cảm động, tim tôi thổn thức, hồn tôi nghẹn ngào, tôi khóc.

Kính thưa chư quí vị độc giả, và chư quí vị nữ độc giả thân mến của bổn báo: tôi sẽ viết về La Dame aux Camelias để trình với quí vị tại sao Marguerite La Dame aux Camélias làm tôi khóc.

Thời gian sau này, khi cuộc sống tuy không làm cho tim tôi chai đá nhưng tuổi tác không còn làm tôi dễ bị xúc động, đôi khi đọc những trang văn hay, tôi vẫn ngừng đọc, ấp quyển sách lên ngực, nhắm mắt, nghĩ: “ Sao lại có người viết hay đến thế này? Mình được đọc bao nhiêu là đoạn văn tuyệt diệu mà mình vẫn không viết được câu nào cho ra hồn! Mình chỉ hưởng thôi, mình không đền đáp. Mình tồi quá, mình bét quá! Thật xấu hổ!”

Câu tiếng Anh “Each character is a cause for weeping, i.e pathetic writings”, vốn liếng tiếng Ăng-lê của tôi, tôi học bộ English for To Night, nhưng tôi học không trọn bộ, cho tôi thấy ý của câu không giống như ý câu tiếng Việt, “pathetic writings” – hình như – không phải là “vaên dở.”

Trang 529, tác giả viết:

tứ đổ tường: bốn tệ đoan lớn của thanh niên đời xưa, gồm tửu (rượu chè), sắc (trai gái), tài (cờ bạc), và khí (nghiện thuốc phiện.) Ngưng trích.

Tôi kính hỏi tác giả: ông có chắc chắn ông giải thích đúng chữ “khí” trong “tửu, sắc, tài, khí” là “nghiện thuốc phiện” không ông? Ðã có nhiều người giải bốn tiếng ấy, tôi không thấy ai giảng tiếng “khí” là “nghiện thuốc phiện”. Tiếng “khí” thường được giảng là “sự tức khí, sự tức giận” của con người, người ta khi giận lên có thể làm những việc dại dột đến có thể bị tiêu tan sự nghiệp, thân bại, danh liệt. Cùng với việc nghiệân rượu, mê chơi gái, đánh bạc, việc thả lỏng tình ý mình theo cơn tức giận làm cho người ta bị tan nát cửa nhà.

Theo sự hiểu biết có thể sai mà cũng có thể đúng của tôi thì bốn tiếng “tửu, sắc, tài, khí” đã có trong ngôn ngữ người Ba Tầu nhiều trăm năm trước khi thuốc phiện được đưa vào nước Tầu, trước khi có nhiều người Tầu hút thuốc phiện. Về trò hít tô phê, tức hút thuốc phiện, người Việt Nam tuy bắt chước người Tầu nhưng tiến bộ không kém gì người Tầu. Trong tác phẩm Số Ðỏ, nhà văn Vũ Trọng Phụng, năm 1937, viết: “Cụ Cố Hồng, vì là một người Việt Nam hoàn toàn, nên cụ nghiện thuốc phiện.”

Tôi thấy “tửu, sắc, tài, khí” không phải chỉ là “bốn tệ đoan lớn của thanh niên đời xưa.” Ðó là những thói xấu tai hại của loài người. Ngày nào trái đất này còn con người ấy, ngày ấy tửu, sắc, tài, khí vẫn làm hại người ta. Thanh niên thời nay còn chơi, còn khổ, còn chết vì tửu, sắc, tài, khí dữ dội hơn, thê thảm hơn thanh niên đời xưa.

Nhân chuyện rượu chè, trai gái…, xin kể một chuyện vui để gọi là – bắt chước Nữ ca sĩ Lệ Thu hát phòng trà ngày xưa, khi thấy khán giả ngủ gật, thường nói: Ðể thay đổi không khí! Chuyện này nhiều vị đã nghe, đã biết nhưng kể lại chắc cũng không hại gì:

Anh con chơi bời bị ông bố mắng:

- Mày là thằng hư hỏng. Mày rượu chè, trai gái, cờ bạc, thuốc sái..! Không có cái tật nào là không có mày.

Anh con, anh này thuộc loại con có hiếu, anh bị ông bố chửi nhưng anh không nổi quạu, không hầm hầm xô ghế đứng lên, không vùng vằng bỏ đi, không ngồi đó nhưng sị mặt ra, anh nhỏ nhẹ chạy tội bằng lời phân trần:

- Thưa bố…Xin bố nghĩ lại cho. Con đâu đến nỗi quá tệ: con uống rượu con không uống chè, con chơi gái con không chơi trai, con đánh bạc con không đánh cờ, con hút thuốc con không hút sái!

Phải chăng vì câu tiếng Việt “rượu chè, trai gái, cờ bạc, thuốc sái” mà nhà biên khảo văn học Việt Nam ở thành phố Melbourne, Úc quốc, tiện tay giảng nghĩa chữ “khí” là “hút thuốc phiện?”

Trang 611:

yểu thọ bất nhị

(yểu chết non, thọ sống lâu, bất không, nhị hai)

Chết non hay sống lâu cũng không làm cho ta sinh ra hai lòng. Ngưng trích.

Theo ý ngu của tôi thì hình như “yểu thọ bất nhị” có nghĩa  con người “chết non hay sống lâu cũng như nhau, không có gì khác.”

o O o

Trang 249.

lục thập nhi nhĩ thuận

(lục sáu, thập mười, nhi thì, nh ĩtai, thuận thuận)

Sáu mươi tuổi thì tai nghe (sự thật mới) thấy thuận – một câu nói của Khổng Khưu, là đến tuổi đó thì sự thật mới không cón chối tai. Ngưng trích.

Ðến năm tuổi đời Sáu Bó tai ta mới chịu nghe sự thật sao ta? Những năm ta Ba Bó, Bốn Bó, Năm Bó, tai ta không chịu nghe sự thật? Có lý nào như thế? Theo ý ngu của tôi thì con người đến tuổi sáu mươi mới có đủ khả năng, qua kinh nghiệm sống, nhìn nhận mọi chuyện đều có thể xẩy ra, đều có thể là chuyện thật. Sáu mươi tuổi ta không còn thấy chối tai, thấy khó chịu khi phải nghe những chuyện ta cho là vô lý, không thật. Như những năm 1970, 1971, khi nghe ai nói uýnh nhau loạng quạng như vầy là có ngày Việt Cộng nó vào Sài Gòn, ta hổng chịu, ta quả quyết nó vào Sài Gòn thế chó nào được; ta hiu hiu kể Tết Mậu Thân mình đang ngủ, nó dzô đến đầu giường, nó kề dao vào cổ mình mới biết, dzậy mà mình vẫn bợp tai, đá đít nó, mình vẫn đuổi nó ra khỏi nhà mình, nay thì còn lâu, sức mấy! Có là sức voi nó cũng không vào được Sài Gòn!

Trang 278.

nam nữ thụ thụ bất thân

(nam trai, nữ gái, thụ trao tay, thụ nhận, bất không, thân thân)

Ðàn ông đàn bà, khi trao và nhận đồ đạc, không được đụng tay nhau (lỡ đụng chạm có thể sinh tà-ý) – một lời răn quái đản của Khổng-giáo. Ngưng trích.

Thưa tác giả: ông phê lời răn “Nam nữ thụ thụ bất thân” là “quái đản,” tôi thấy nó không quái đản một ly ông cụ nào, ngược lại tôi thấy nó tinh vi, nó ly kỳ ra gì, ông ạ. Thưa ông, đám con cháu Rồng Tiên nay văn minh, tiến bộ, không phải nam nữ chỉ cầm tay nhau mà ôm nhau nhẩy đầm, nhẩy đìa như điên; nhưng việc cầm tay nhau, việc ôm nhau nhẩy đầm khác mà việc hai anh chị đưa cho nhau vật gì đó để chạm tay nhau là chuyện khác, không phải chỉ khác sơ sơ mà là khác hẳn. Tôi thì tôi chẳng có dịp nào làm cái việc cố tình chạm tay ấy nhưng tôi nghe nói nhiều anh đàn ông yêu, hay muốn, chị đàn bà nào đó, nhưng không biết nàng có bằng lòng cho không, nên mấy ảnh thử nàng bằng cách đưa cho nàng vật gì đó, để cầm tay nàng, hay chạm tay nàng hơi lâu, lâu quá thời gian cần thiết, nếu nàng không rụt tay về ngay sau khi nàng cầm món đồ, nếu nàng cứ để cho anh cầm tay, anh chạm tay, rồi thì nàng cũng rụt tay về, nàng không thể để anh cầm tay nàng mãi, nhưng nàng để cho anh cầm tay nàng lâu quá thời gian cần thiết và hợp lý, hợp pháp, là anh đã có tín hiệu cho biết nàng bằng lòng.

Trang 323.

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh

(nhất một, nghệ: nghề, tinh giỏi, thân thân thể, vinh tươi tốt)

Chỉ làm một nghề thì tay nghề ắt giỏi và sống độc thân thì sướng cái thân – một lời khuyên người mới lớn đến nay còn chứng tỏ là rất đúng. Ngưng trích.

A…! Ðọc đến thành ngữ này thì tôi hiểu tại sao tác giả lại để tên sách là Chữ Nho & Ðời Sống Mới. Tuy “chỉ làm một nghề thôi thì chưa chắc tay nghề đã giỏi” nhưng lời giảng “nhất thân vinh” thì quả là mới toanh, thì rất Ðời Sống Mới, lại một lời giảng nữa tôi chưa từng thấy ai giảng. Từ bao giờ tôi vẫn tưởng “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” có nghĩa đơn giản là “làm giỏi một nghề, người có một nghề mà làm khéo, làm hay cái nghề đó thì một đời sung túc, có danh tiếng, được trọng vọng..” Ông Phó Chũi, tức Thợ May, ông Phó Nháy, tức Thợ Chụp Ảnh, ông Phó Koáp, tức Thợ Hớt Tóc, ông Phó Phở, tức Ông Thợ Phở..mà may đẹp, chụp ảnh đẹp, cắt tóc đẹp, nấu phở ngon… là nổi tiếng, có thể giầu một đời.

Nay, tuổi đời Bẩy Bó, năm 2005, đọc sách Chữ Nho & Ðời Sống Mới, tôi mới biết – muộn màng, muộn mất năm mươi năm, tức muộn nửa thế kỷ –  thành ngữ “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” còn có nghĩa “sống độc thân thì sướng cái thân..”, tức không có vợ thì sống sung sướng!

Mèn ơi..! Biết khôn thì đã muộn dzồi!

Xin viết nghiêm chỉnh: thành ngữ “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” được người Việt nói đến rất thường, người không biết gì về chữ Hán cũng hiểu nghĩa. Tại sao tác giả Chữ Nho & Ðời Sống Mới lại giảng nghĩa “nhất thân vinh” là “xê-li-bạt-te thì sống sung sướng” kỳ cục quá đến như thế?

Rất tiếc tôi không được tác giả cho đọc  tác phẩm trước khi in, nếu được đọc chắc tôi đã có thể giúp tác giả tránh được mấy cái lỗi ngớ ngẩn tôi vừa kể.

Trang 409.

sát vô đạo dĩ tựu hữu đạo

(sát giết, vô không, đạo đạo, dĩ gia dĩ, tựu thành việc, hữu có)

Giết bọn hung ác để cứu người có đạo đức (nhưng tôi chỉ thắc mắc ai là kẻ vô đạo). Ngưng trích.

Tác giả giải nghĩa từng chữ Hán, rất đúng và gần đúng hết, chỉ có trong câu trên ông giảng nghĩa chữ “dĩ” bằng tiếng “gia dĩ”,. tôi thấy giảng như thế là ông không giảng gì hết, hoặc ông giảng một tiếng Hán bằng một tiếng Hán khó hiểu hơn. Không biết nếu giảng chữ “dĩ” là “để,” “ giết thằng dữ ác để cứu người hiền lành..” có được hay chăng? Tác giả théc méc “không biết ai là kẻ vô đạo.” Nhưng với bọn cộng sản và người quốc gia dân chủ thì chắc ông đã biết bọn vô đạo là bọn nào, và tại sao ta phải giết những thằng vô đạo ấy.

Pháp-Việt đề huề

(Pháp nước Pháp, Việt Việt-nam, đ cầm, huề dắt tay nhau)

Pháp Việt dắt tay nhau.

Pháp Việt Ðề Huề là lập trường của những chính-khách như Hoàng Trọng Phu và Phạm Quỳnh đã chủ trương hồi tiền bán Thế kỷ XX nhưng số phận của họ Phạm – ông bị Việt Minh giết hồi mùa Thu 1945 – rõ ràng chứng-tỏ là ngay từ hồi đó, Ðảng Cộng-sản Việt-nam (ÐCVN) đã chọn võ-trang đấu-tranh chứ không chịu đưa đất nước đến độc-lập tự-do bằng một giải-pháp hoà-bình, có sự tham-gia của toàn dân và sự hợp-tác, dù là miễn-cưỡng, của Ðế-quốc Pháp…như dân Ấn, dân Hồi, dân Miến và biết bao dân tộc khác đã tạo được trong Liên-hiệp Anh sau Thế-giới Ðại-chiến II.

Ðể viết lại lịch sử cho công bằng hơn là những cuốn xuất bản ở Hà-nội từ 60 năm nay, các sử-gia phải đánh giá lại vai trò của Pháp và ÐCV trong thời gian 1945-55. Như tôi nghĩ thì nếu Hồ Chí Minh không cướp chính-quyền trong kỳ Cách-mạng Muà Thu thì người Việt vẫn có thể lần lần dành lại được chủ-quyền quốc-gia mà không phải chấp-nhận cả chục triệu thương vong trong hơn 30 năm chiến tranh. Hơn nữa, nếu chiến-cuộc chỉ kéo dài một, hai năm – như ở Nam-dương và Miến-điện – thì Việt-nam ắt đã tránh được những núi máu xương và hận-thù đến bây giờ còn chia rẽ các phần-tử Cộng-sản và Quốc-gia, người Bắc người Nam, giới vô-thần và tín-đồ các đạo.

Hơn nưã, nếu các sử-gia cho là chính-sách của Ðế-quốc Pháp suốt ba phần tư thế-kỷ đô-hộ Việt-nam không hoàøn toàn tiêu-cực – kể cả những chuyện như không để cho Vua Ðồng-khánh làm gì ích quốc lợi dân – và sách lược sắt máu của ÐCV, đặc biệt là trong giai-đoạn 1975-87, đã làm đất nước tụt hậu, ngay so với các lân-bang như Thái-lan và Mã-lai , thì có lẽ họ phải phục-hồi danh-dự cho những nhân-vật như Phạm Quỳnh và xét lại vai trò của Hồ Chí Minh. Không chừng họ Phạm còn có công hơn họ Hồ! Ngưng trích.

Tôi đồng ý với những lời nghị luận của tác giả Nguyễn Ngọc Phách trong đoạn văn trên đây. Chỉ có điều cần nói là bây giờ em nhỏ Việt Nam lên ba cũng biết việc Việt Minh Cộng Sản cướp chính quyền năm 1945 là một tai hoạ, một thảm nạn của dân Việt. Nếu không có bọn Việt Cộng, nước Việt Nam ta đã độc lập, tự do, hạnh phúc từ khuya. Lịch sử phải phục hồi danh dự cho những nhân vật Quốc Gia như ông Phạm Quỳnh. Ðó là việc bắt buộc, không phải là việc có lẽ. Tội phạm Hồ chí Minh bị nhân dân lên án, định tội, treo cổ lâu rồi, không cần chờ đến mai sau.

Tôi thấy thực dân Pháp có làm, đãù làm được nhiều việc công ích cho nhân dân Việt Nam; nếu không có thực dân Pháp, nếu cứ tin, cứ chờ bọn vua quan Nhà Nguyễn, thì giờ đây, năm 2005, đi từ Hà Nội sang Gia Lâm, tôi phải mất 5 tiếng đồng hồ sang đò qua sông Hồng, đi từ Hà Nội vào Sài Gòn tôi phải mất ít nhất là 30 ngày.

Tác phẩm Chữ Nho & Ðời Sống Mới sẽ được nhiều thế hệ người Việt đến sau tôi đọc. Những người Việt mai sau ấy sẽ thấy tội ác của bọn đảng viên Ðảng Cộng Sản Việt Nam trên những trang sách văn học, trong những câu thành ngữ ông cha họ đã dùng, đã nói mà họ muốn biết, muốn học. Những người Việt ấy có thể không đọc những quyển sách dầy cộp chuyên viết về tội ác của bọn cộng sản Việt Nam, họ sẽ không tìm mà họ sẽ thấy những tội ác của bọn cộng sản Việt Nam trên những trang sách tác phẩm biên khảo văn học Chữ Nho & Ðời Sống Mới của Nguyễn Ngọc Phách.

Không có tập sách biên khảo Thành Ngữ Hán Việt nào có thể thu thập được tất cả những câu thành ngữ Hán Việt trên cõi đời này, xong tôi vẫn thấy tiêng tiếc vì kỳ thư Thành Ngữ Hán Việt Thông Dụng của Nguyễn Ngọc Phách không có một số câu thành ngữ rất được thông dụng ở Việt Nam như:

Hợp Phố châu hoàn: châu ngọc trở về Hợp Phốù, ngụ ý vật quí bị mất trở về với chủ của nó. Cậu Kim Trọng vớ được cái thoa cài tóc của cô Thúy Kiều, khi thấy cô đi tìm, phát ngôn lửng lơ con cá vàng:

Thoa này bắt được hư không.
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về! 

Lạc bất tư Thục: vui không nhớ Thục. Bệnh sống ở nước mới vui quá, quên nước cũ, một bệnh dường như phổ biến, tức có nhiều người mắc bệnh, ở Pháp, Mỹ.

Sơ bất gián thân: mình là người không thân với đương sự thì mình đừng tìm cách súi bẩy để chia rẽ đương sự với người thân của đương sự.

Ða thọ đa nhục: sống lâu, nhục nhiều.

Cái quan định luận: đóng nắp áo quan rồi mới luận xem người nằm trong áo quan là người hiền, ác ra sao. Nhiều khi nó đã cái quan từ khuya, nó đã nằm dưới hố từ lâu rồi, mình vẫn không kể tội được nó. Vì nó cái quan nhưng anh em, thủ hạ của nó còn cầm quyền, những thằng ấy có thể bỏ tù mình nếu mình nói thằng đàn anh chúng có tội.

Vân vân…và vân vân..! Còn nhiều câu nữa, không thể kể hết. Ðấy là chưa kể đến một lô những thành ngữ tôi nghe nói hoài mà tôi không hiểu nghĩa như câu “Âm hộ vô mao bần chí tử..!”

o O o

Giữa việc nằm với quyển sách hay, không nằm với đàn bà đẹp, và việc nằm với người đàn bà đẹp, không nằm với quyển sách hay, quí vị chọn việc nào?

Tôi nằm với đàn bà đẹp.

Khoan! Xin đừng ồn ào. Ðừng vội kết tội tôi đa dâm, tôi không trọng văn học, tôi là tên không ra gì, tôi coi bộ mông đàn bà quí hơn quyển kim cổ kỳ thư! Dù có bị kết những tội ấy tôi vẫn thản nhiên như ông Khổng Khâu khi ông bị vu cáo là can tội sờ nhằng, soạng bậy trên xe điện ngầm ở New York. Ông Khổng tỉnh bơ vì ông không bao giờ đến New York. Tôi tỉnh queo vì tôi không can những tội ấy.

Trước khi làm việc gì ta phải suy nghĩ. Ta suy nghĩ để làm gì? Ðể làm những việc phải. Tôi chọn việc nằm với đàn bà đẹp vì những lý do sau đây:

Sách hay như đàn bà đẹp. Sách là người tình chung tình, chung thủy của tôi. Dù tôi có phụ bạc Sách, dù tôi có bỏ quên Sách mười năm, hai mươi năm trong xó tủ, khi tôi sờ đến Sách, khi tôi mở Sách, Sách vẫn âu yếm tôi, vẫn vui vẻ, vẫn ngọt như mật ong, vẫn đậm như táo Tầu với tôi, Sách vẫn nói như ru vào tai tôi: “Em đây. Em vẫn chờ anh. Bao lâu rồi, từ đêm anh bỏ em không có bàn tay thằng nào sờ vào em cả. Em sung sướng quá, anh yêu ơi! Lâu lắm em mới lại được anh sờ, anh mó, anh mân mê! Ôi..! Lâu rồi em mới lại được anh yêu. Nhưng mà hổâng sao, em vẫn yêu anh, em yêu anh lắm lắm, em không bao giờ bỏ anh, em không bao giờ hờn giận anh,  chúng ta lại yêu nhau như năm xưa. Trái tim em đây, gan, ruột, phổi, phèo em đây, anh thưởng thức em đi. Em cho anh trọn vẹn. Em còn nguyên như ngày em mới về với anh..!”  Ðang nằm ôm Sách, đang nâng niu Sách, đàn bà đẹp thơm như múi mít đến bên giường, tôi quăng ngay Sách xuống sàn, tôi quẳng ngay Sách vào gậm giường! Ðêm sau, tôi buồn, tôi thất nghiệp, tôi không có việc gì làm hay hơn, tôi lom khom tìm Sách, tôi chổng mông lôi Sách từ trong gậm giường ra. Sách không giận hờn, Sách vẫn yêu thương tôi như không có chuyện gì xẩy ra cả, Sách nói dịu dàng: “Em đây. Ðêm qua với Nàng anh vui thú chứ? Nàng có chiều anh như anh muốn hông? Em không đòi hỏi gì. Ðược anh sờ đến là em sung sướng quá dzồi..!”

Sách như thế đấy! Nhưng, từ em nhỏ lên ba đến cụ già chín bó đều biết Giai nhân, tức Ðàn bà, lại tức Ðàn bà Ðẹp, thì không như thế. Với Ðàn bà Ðẹp tôi không thể nào đạp Nàng từ trên giường xuống sàn để tôi ôm Sách, đối xử với Ðàn bà Ðẹp như thế, tôi vỡ mặt liền một khi, với Ðàn bà Ðẹp tôi không thể nói, không chỉ tôi mà không anh đàn ông nào trên cõi đời này có thể nói: “ Ðêm nay anh thích đọc sách hơn, em cảm phiền chờ đến đêm mai.!”

Nhưng Sách thì tôi không cần nói gì cả. Tôi quăng Sách đi, tôi ôm Sách lại, Sách vẫn cho tôi muốn làm gì Sách thì làm. Ðàn bà Ðẹp thì còn lâu! Sức mấy! Con người hơn con vật ở việc biết suy nghĩ, biết tính chuyện lợi hại, biết việc gì nên làm. Tôi chọn việc nằm với đàn bà đẹp, hoãn lại việc nằm với quyển sách hay, vì lý do giản dị là nếu nằm với quyển sách hay mà từ chối đón tiếp, mà không nằm ngay với đàn bà đẹp, cuộc đời ái tình và sự nghiệp của tôi sẽ đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó, đen như cái lá đa ca dao, không những chỉ đen nó còn nát hơn cái mền Sakymen, xưởng máy chân cầu Bình Triệu. Trong khi đêm nay nằm với Ðàn bà đẹp, đêm mai tôi vẫn có thể nằm du dương với quyển Sách hay.

Chỉ có vậy thôi! Không có chuyện đa dâm, đa tình, đa sầu, đa cảm, đa bệnh, đa âm, đa hệ, đa ngôn, đa sự, đa đoan, đa tạ, đa thê, đa nguyên, đa đảng… chi cả trong việc tôi chọn Ðàn Bà Ðẹp!

MÍT CỘNG TẦU CỘNG

Chiến tranh Cộng Cộng năm 1979: Lính Mít Cộng bị lính Tẫu Cộng bắt làm tù binh.

Chiến tranh Cộng Cộng năm 1979: Lính Mít Cộng bị lính Tầu Cộng bắt làm tù binh.

Năm 1995 khi tôi bắt đầu viết lại ở Kỳ Hoa, tôi chọn cái tên “Viết ở Rừng Phong” cho loạt bài của tôi. Chủ ý của tôi là viết về Tình Yêu, về Tình Nghiã Vợ Chồng, về những chuyện Văn Nghệ, Văn Gừng, về những người Việt Xưa và về những người bạn văn cùng sống hay đã chết của tôi. Nhưng cuộc sống ở Kỳ Hoa kéo tôi sa đà vào những chuyện chính chị, chính em. Tôi yêu Văn Thơ, tôi mù tịt về chính trị. Nên tôi không hào hứng viết về những đề tài thời sự, chính trị. Hai nữa tôi thấy ở hải ngoại đã có nhiều người Việt viết về chính trị, thời sự. Mà viết hay, viết đúng.

Tháng Sáu 2014, tôi buồn đến không còn muốn viết gì nữa. Tôi buồn vì đất nước Việt Nam của tôi sắp mất. Nước Việt Nam của tôi sắp tiêu vong mà tôi không làm gì được, kể cả việc viết những lời tiếc thương đất nước.

Tôi tìm được bài dưới đây trên Internet. Bài được ghi tác giả là Lê Duẩn. Mời quí vị đọc và có những nhận xét, những suy luận của quí vị về những chuyện Lê Duẩn kể. CTHĐ tôi chỉ là người có thì giờ rị mọ tìm kiếm trên Internet những bài tôi thấy hay hay gửi đến quí vị. Những ý kiến, những xét đoán về những bài viết như bài này là của riêng quí vị.

Lê Duẩn

Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức Trung Quốc ban hành một Tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi nói, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe nữa.

 Đặng Tiểu Bình nói:

Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí.”.

 Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao  trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố:

 “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á.”

 Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm:

 “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

 Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh:

“Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi”. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến việc đánh chiếm Việt Nam!”

 Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

 Mao hỏi tôi:

“Lào có bao nhiêu cây số vuông đất?”

Tôi trả lời:

Khoảng 200.000 cây số vuông.”

 Mao hỏi:

Dân số của họ bao nhiêu?

Tôi trả lời:

Khoảng 3 triệu!”

 Mao nói:

Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!”

Mao hỏi:

Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?”

Tôi trả lời:

Khoảng 500.000 cây số vuông.”

Mao hỏi:

Có bao nhiêu người?”

Tôi trả lời:

Khoảng 40 triệu!”

Mao nói:

Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!”

  Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi:

Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?”

Tôi nói:

Đúng“.

Ông ta hỏi:

Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói:

Đúng.”

Ông ta nói:

Và quân Minh nữa, phải không?

Tôi nói:

Đúng, và cả các ông nữa. Các ông có biết điều đó không?

Tôi đã nói với Mao Trạch Đôn g như thế. Ông ta nói:

Có, có!”

Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.

Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.

Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.

Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi hợp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đến dự.

Liên Xô nói:

Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?

Tôi nói:

Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến dự hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn cho chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.

 Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng:

Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“.

Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).

 Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta:

Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?”

 Chu Ân Lai nói:

Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]“.

 Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm:

Quan điểm này cực kỳ chính xác!”

Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó. Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào.

Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi:

Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“.

Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta.

Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.

Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn, và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói:

Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”.

Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.

Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi:

Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?”

Tôi nói:

Sau này, các đồng chí sẽ hiểu“.

Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn.

Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.

Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng:  “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn.”

Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói:

Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam.”

Ông ta (Mao) nói:

Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm”. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam …

Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui”. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi… Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến]. Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 – 400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.

Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo những lời khuyên của Trung Quốc.

 Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích…

Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:

Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?”

“Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.”

“Chú đã thấy gì?”

Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.”

Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ (ý nói ở thế thủ). Mọi người dân chiến đấu.

Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta. Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước. Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta.

 Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến kéo dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này,] họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế này.

 … Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quảng Trị, ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ.

Sau đó tôi đi Trung Quốc gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi:

Điều đó (cuộc tấn công vào Quảng Trị) có lẽ là chưa từng có, có một không hai. Chỉ có một [cơ hội] trên đời này, không có cơ hội thứ hai. Không ai dám làm những điều các đồng chí đã làm“.

 … Chu Ân Lai là người đứng đầu Bộ Tham mưu. Ông ta dám nói, ông ta thẳng thắn hơn. Ông ta nói với tôi:

 “Nếu tôi biết trước cái cách mà các đồng chí sử dụng, chúng tôi không cần Vạn lý Trường chinh“.

Vạn lý Trường chinh là gì? Vào đầu cuộc hành quân có 300.000 quân, đến cuối Vạn lý Trường chinh chỉ còn 30.000 quân. 270.000 người đã chết. Thực sự ngu ngốc khi thực hiện cách này. Nói như vậy để các đồng chí biết chúng ta đang đi trước họ như thế nào. Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng … Tuy nhiên, sự thật là nếu một nước khác [không phải Việt Nam] chiến đấu chống lại Trung Quốc, không rõ họ có giành được chiến thắng như thế này không (như Việt Nam).

 … Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] xung đột với nhau, Mỹ được [Trung Quốc] thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ. Đừng sợ [sự trả đũa của Trung Quốc]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông đã nói với Mỹ:

Nếu các ông không tấn công tôi, thì tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông có thể đưa nhiều quân vào miền Nam Việt Nam mà các ông muốn. Tùy các ông“.

 … Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải chung vai gánh vác, vai trò lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ trốn tránh trách nhiệm lịch sử. Trước đây, Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ của mình, và lần này Việt Nam xác định không cho phép họ bành trướng. Việt Nam giữ độc lập riêng mình và làm như vậy cũng là để bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam kiên quyết không để Trung Quốc thực hiện âm mưu bành trướng. Trận đánh gần đây [với Trung Quốc] chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng …

Tiến hành chiến tranh không phải là đi bộ thong thả trong rừng. Gửi một triệu quân vào cuộc chiến chống lại một nước ở bên ngoài liên quan đến vô số khó khăn. Gần đây họ đưa 500.000 – 600.000 binh lính để đánh chúng ta, nhưng họ đã không có thiết bị vận tải đầy đủ để cung cấp lương thực cho quân đội của họ. Trung Quốc hiện đang chuẩn bị 3,5 triệu quân, nhưng họ phải để lại một nửa số quân đó ở biên giới [Trung-Xô] để ngăn chặn Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ đưa 1 hoặc 2 triệu quân vào để đánh chúng ta, chúng ta sẽ không sợ bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có 600.000 quân tham gia, và trong tương lai gần, nếu chúng ta phải đánh với 2 triệu quân, sẽ không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.

Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.

Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.

Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước ta phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.

 – Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.

 – Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên:

Không được đụng đến Việt Nam“!

Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.

Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

- Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.

Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?

Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên, nói:

Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…

 Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói:

Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“.

 Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.

 – Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.

 Chúng ta phải có một quân đội mạnh, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.

 – Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …

 – Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.

 … Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

 Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.

 Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

 Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979]….

Hết bài viết của Lê Duẩn.

CTHĐ: Sao Y Bản Chính.

Lính Tầu Cộng bị lính Mít Cộng bắt sống.

Lính Tầu Cộng bị lính Mít Cộng bắt sống.

Con tôi nói:

“Những năm 1978, 1979 Bố ở trong tù nên Bố không biết. Hai năm ấy con thấy ở Sài Gòn đầy những biểu ngữ : “Trung Quốc là kẻ thù trước mắt và muôn đời của dân tộc Việt Nam. Tổng Bí Thư Lê Duẩn.”

Lê Duẩn viết bài trên sau trận Tầu Cộng đánh sang Lạng Sơn năm 1979, tức viết vào những năm 1981, 1982. Trong bài tuyệt nhiên Lê Duẩn không viết gì đến việc Phạm Văn Đồng ký quốc thư công nhận chuyện Tầu Cộng tuyên bố chủ quyền của chúng trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, mặc nhiên công nhận hai đảo HoàngSa, Trường Sa là của Tầu Cộng.

Nhắc lại: Những suy luận, kết luận, những đánh giá về bài viết trên đây của Lê Duẩn là do quí vị, và của quí vị. Tôi mong quí vị góp ý kiến về bài này.

PHÁ HOẠI TƯ TƯỞNG

Image174

“Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án gián điệp hoạt động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh…”

Ðó là câu đầu tiên trong cái gọi là bản khởi tố Bọn Gián Ðiệp của Sở Công An Thành Phố mang tên bác Keo. Tôi đọc được mấy câu này trên tập hồ sơ khởi tố do chị nhân viên cái gọi là Viện Kiểm Sát Nhăn Dăn vào Nhà Tù Chí Hòa gọi tôi ra hỏi đôi câu ra cái điều Viện cũng chú ý đến người tù, dù là tù phản động. Bản khởi tố ấy đặt ngược với tôi, vì mắt yếu tôi chỉ đọc ké được mấy dòng đầu.

Ông Bà Nhà Văn Stefan Zweig

Ông Bà Nhà Văn Stefan Zweig

Cứ như những gì hai anh Cớm Cộng Nam Thi – Minh Kiên kể trong “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” thì anh em chúng tôi chỉ can tội viết và gửi một số bài viết ra nước ngoài. Nhưng năm 1986 khi định đưa chúng tôi ra tòa, bọn Công An Thành Hồ, hung hăng con bọ xít khép chúng tôi vào tội gián điệp. Chúng định giết một người, cho tù chung thân một người trong chúng tôi. Chúng muốn làm một vụ trừng phạt dữ dội cho người khác sợ, theo kiểu trừng phạt Quân Tử Tầu gọi là “Sát nhất nhân, vạn nhân cụ.” Giết một người, làm cả vạn người khác kinh sợ.

Nhưng vở kịch “Vụ án gián điệp Thành Hồ ” do bọn Công An Thành Hồ dàn dựng như quả bóng xì hơi, đầu voi đuôi chuột. Bọn chúng la lối với ý định giết người nhưng rồi chúng tẽn tò, chúng xụi lơ, chúng phải hoãn ngày xử.. v.v…Chúng định xử chúng tôi với tội danh “Gián điệp” năm 1986 nhưng chúng không xử được, chúng hoãn xử cho đến năm 1988 chúng mới đưa chúng tôi ra tòa xử với tội danh “Tuyên truyền phản cách mạng.”

Ðó là những chuyện đã xưa rồi. Nhưng vẫn cần kể lại.

Theo thủ tục những cái gọi là Truyện Vụ Án do bọn văn nô viết bao giờ cũng có vài chương đề cao cá nhân vài tên công an: “những chiến sĩ công an cương cường bắt, bỏ tù nhân dân không mệt mỏi”. Trong đoạn dưới đây trích trong NTBKCB ta thấy nói đến đồng chí Tư Tuân, người phụ trách đơn vị công an “Chống phá hoại tư tưởng”

Ban này có cái tên là “Ban Công tác chống Phá hoại tư tưởng”. Ðại khái “chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn tốt đẹp, chủ nghĩa cộng sản  đem lại hạnh phúc cho loài người”. Chuyện ấy chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch. Kẻ nào nói ngược lại, hay chỉ cần tỏ vẻ nghi ngờ thôi, kẻ ấy can tội “phá hoại tư tưởng”. Phải bắt giam kẻ ấy để bảo vệ tư tưởng chủ nghĩa cộng sản, vốn là đỉnh cao trí tuệ loài người.

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút:

Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.

- Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?

- Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng…

- Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng đó là khói của đốm lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là cần phải chú ý tới nó.

- Vâng, Tư Tuân vừa nói, vừa lắc đầu – Thú thật với anh, tôi chán ngấy mà vẫn phải đọc. Anh em Việt kiều về thăm quê hương cũng nói với tôi, họ chẳng bao giờ thèm để mắt tới món hàng ôi đó!

….

Tư Tuân đọc lướt mấy trang báo. Cũng những luận điệu vu cáo rẻ tiền. Cả cái lối hành văn, thuật ngữ đã quen thuộc đối với anh. Từ khi được giao phụ trách đơn vị này, anh đã chịu khó đọc hàng lô sách, tiểu thuyết của số “nhà văn” cũ và sách báo mới được bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài. Thật là chán đến buồn nôn…

Ngưng trích

Tác phẩm The World of Yesterday.

Tác phẩm The World of Yesterday.

Hai đoạn chữ in nghiêng trên đây được trích ở trang 79 của cái tôi gọi là  quái phẩm “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” do hai anh Ðại Tá Công An ký tên trên sách là Nam Thi – Minh Kiên viết về nhóm văn nghệ sĩ chúng tôi.  Anh công an  Tư Tuân nói anh đọc và thấy “buồn nôn” thì cũng đúng thôi. Anh đọc toàn là những gì viết về cái xấu, cái bẩn, cái tàn ác của Việt Cộng, anh không thấy buồn nôn làm sao được. Có điều anh nói đó toàn là “những luận điệu vu cáo rẻ tiền” thì chúng tôi không dám đâu. Tội của mấy ảnh nhiều quá rồi. Cần gì chúng tôi phải vu cáo mấy ảnh. Hai nữa, chúng tôi muốn bịa thêm ra tội để vu cáo mấy ảnh cũng hổng có được. Loài người ác độc nghĩ ra được bao nhiêu cách hành hạ nhau, làm nhau đau đớn, giết nhau… mấy ảnh mần ráo trọi. Mấy ảnh còn sáng chế ra nhiều tội ác mới nữa mà loài người hổng thể nào ngờ được có những tên cũng nhận là người mà làm nổi. Sức mấy mà chúng tôi vu cáo nổi mấy ảnh.

Bọn công an Thành Hồ vẫn theo dõi anh em chúng tôi từ những ngày đầu chúng chiếm được Sài Gòn. Tôi chắc đến năm 1982 chúng mới mở cuộc điều tra riêng về chúng tôi. Trong số “sách báo mới của bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài” được nói đến trong đoạn trên đây chắc chắn có tập “Tắm Mát Ngọn Sông Ðào“

Trích: “Tắm Mát Ngọn Sông Ðào.” Thơ, văn, nhạc sáng tác từ quốc nội

Nhà xuất bản Lá Bối in lần thứ nhất, Paris 1981.

Lời mở đầu

Những giai đoạn khó khăn của đất nước dù kéo dài đến mấy cũng không làm tiêu hao được niềm tin của chúng ta nơi khả năng của dân tộc, của cả một dân tộc. Ðành rằng chiến tranh, tình trạng áp bức và nghèo khổ có làm băng hoại đi nhiều giá trị tinh thần, nhưng không phải vì vậy mà những viên kim cương bất hoại không được tiếp tục phát triển giữa lòng dân tộc. Ngày mai khi đất nước lại đi vào giai đoạn sáng sủa mới ta lại thấy được khả năng và tiềm lực của giống nòi. Sống xa quê hương, ta không thấy và không cảm được một cách trực tiếp và thường xuyên nỗi đau, niềm thương của người trong nước, vì vậy ta vẫn phải thỉnh thoảng về tắm lại trong dòng sông dân tộc để tự tìm lấy mình, để tự mình đánh mất mình, và như thế cũng có thể đóng góp được phần mình vào sức sống đi lên của dân tộc. Văn nghệ sĩ sống trong nước chính là những người có thể giúp ta rung cảm cái rung cảm của dân tộc, bởi họ chính là một trong những thành phần dễ bị rung cảm nhất bởi cái rung cảm chung. Ðọc họ, nghe họ, ta có cảm tưởng được chia xẻ những nỗi đau, niềm thương của dân tộc, và như thế ta cũng có cảm tưởng được đất nước đưa hai cánh tay cứu chuộc ta về.

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh…

Nước mát ở ngọn sông đào và trái sim chín ở rừng xanh bao giờ cũng còn đó đợi ta. Ta có tắm mát và ta có ăn sim chín thì ta mới còn là người Việt Nam, dám nói, dám làm cho đất nước, cho dân tộc.

… Những tác phẩm Lá Bối trình bày trong tập này đều xuất phát từ quốc nội, trong đó nhiều bài đã được đưa ra từ chốn lao tù. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận ra sự kiện này. Một điều nữa mà ta nhận thấy khi đọc là các tác giả đã chứng tỏ một sức kiên nhẫn và chịu đựng lớn lao; nhiều người đã biết nhìn bằng con mắt từ bi hơn là con mắt căm thù. Chính ưu điểm là ở chỗ đó. Sức mạnh của dân tộc không nằm ở chỗ giận dữ hung hăng bên ngoài mà nằm ở khả năng bền bỉ chịu đựng và ý chí thắng vượt hoàn cảnh.

Mong rằng những giọt máu, những dòng lệ và những tiếng cười của họ có thể giúp chúng ta vượt thoát trạng thái vô tâm thụ động và quên lãng, đồng thời giúp ta phương tiện cứu chuộc lấy chính chúng ta.

Ngưng trích Tắm Mát Sông Ðào.

o O o

Nhiều ông, phải nói rất là nhiều ông, khi còn kẹt trong nước thì nín khe, một lá thư ngắn gửi ra nước ngoài cũng không viết, có ông khi được người đem tiền cứu trợ từ nước ngoài gửi về đến cho cũng sài lắc, không lãnh, dù đang đọi, sợ mang vạ. Các ông giữ thân: không dính dáng gì đến Việt Cộng để ÔÐiPi có cớ từ chối không cho ông và vợ con ông sang Mỹ, hai: không làm gì để cộng sản có cớ bắt lại, đi nằm ấp thêm vài niên, hỏng mất cơ hội ngàn năm một thuở đưa vợ con sang Xê Kỳ. Tám anh em chúng tôi chẳng có tài cán cũng chẳng can đảm hơn ai, những gì chúng tôi viết gửi ra ngoài cũng chẳng có gì đáng gọi là giá trị, nhưng ít nhất chúng tôi cũng đã viết, đã gửi tác phẩm ra phổ biến ở nước ngoài, gọi là nói lên một trong trăm ngàn nỗi đau thương, tuyệt vọng, căm hận của đồng bào ta sống trong kềm kẹp của cộng sản.

Năm 1980, tôi được người bạn cho mượn quyển tự truyện The World of Yesterday của Stefan Zweig. Ông Zweig viết quyển này vào khoảng năm 1940. Ông bà là người Ðức gốc Do Thái, sống nhiều đời ở Áo quốc – Austria, năm 1938 ông bà phải bỏ nước đi tị nạn, Hít Le Nazi muốn giết hết người Do Thái. Viết xong quyển tự truyện hồi ký này, hai ông bà cùng tự tử ở nước Brazil. Trang đầu quyển sách in bức thư nhà văn viết để lại cho người đời. Hai ông bà thấy chiến tranh quá ghê rợn, dân Do Thái bị tàn sát quá mức khủng khiếp. Ðây là câu cuối trong Thư Tuyệt Mệnh của Nhà Văn:

“Các bạn còn niềm tin ở ngày mai tươi sáng, các bạn ở lại. Chúng tôi tuyệt vọng, chúng tôi đi thôi. Vĩnh biệt các bạn…”

Tôi đọc bản dịch Việt ngữ truyện “Lá Thư Của Người Không Quen Biết,” do một ông văn sĩ Bắc Kỳ tôi không nhớ tên dịch từ trước 1945. Ðến năm 1954, tôi đọc bản tiếng Pháp “Lettre d’une Inconnue.”  Truyện tình cảm động ướt át thuộc loại truyện diễm tình những năm 1920. Một ông nhà văn nổi tiếng Áo quốc, quốc gia có dòng sông Ða Nuýp Bờ Lơ, tuổi đời chừng Bốn Bó, độc thân, một tối về nhà nhận được thư của một người phụ nữ không quen biết. Người phụ nữ viết thư cho ông kể cô ta là độc giả ái mộ ông, cô coi ông còn hơn cả thần tượng. Cô ở với bà mẹ gần nhà ông nhưng ông đâu có biết cô là ai. Còn cô, tất nhiên là cô biết ông. Không những cô chỉ biết ông mà thôi, cô còn mê ông nữa. Cô đọc văn ông và cô mê đến nỗi cô muốn được gần ông, được ông yêu, dù chỉ là được ông yêu một lần. Cơ hội đến với cô. Một tối khuya cô đứng tránh mưa trong cửa vào tòa nhà trên lầu có phòng của nhà văn lớn, cô gặp ông đi về. Cô chào ông và ông chào lại. Ðôi người bắt chuyện nhau. Cô độc giả ái mộ này con nhà lành, còn nguyên trinh, đẹp, có duyên, có học. Ông nhà văn mời cô lên phòng. Cô lên theo ông. Ông mời cô ăn tối, cô nói với ông về cảm nghĩ của cô đối với những tác phẩm của ông. Và rồi chuyện phải đến đã đến. Nam nữ gặp nhau, thi văn đàn địch gì thì rồi cũng phải sát lại làm một. Cuộc tình văn nghệ, văn gừng, văn sĩ, nữ độc giả ái mộ thơm hơn múi mít êm đềm diễn ra không phải trên bàn viết với cái máy đánh chữ – 1930 – hay máy computer – 2000 –  mà là trên giường với nệm bông, mền gối.

Thư người phụ nữ không quen biết viết tiếp:

“Sáng ra anh còn ngủ, em lặng lẽ ra đi. Ðược gần anh một đêm, nhà văn thần tượng của em, được anh yêu, em thỏa mãn rồi. Em không còn đòi hỏi gì hơn. Em sống suốt đời em với cảm giác hạnh phúc khi em được anh yêu…”.

Thế rồi cô viết tiếp: sau đêm yêu đương ấy cô không trở lại gặp nhà văn lần nào nữa, cô sợ hình ảnh đẹp của cô trong đêm yêu đương bị xấu đi khi cô trở lại tìm ông. Ðêm ân ái duy nhất ấy làm cô có thai. Nhưng cô không cho nhà văn biết cô có thai. Cô chửa rồi cô đẻ, cô đẻ và cô đi mần cô nuôi con cô. Cô thương đứa nhỏ ghê gớm. Nhưng con cô và con nhà văn lớn bị bệnh…

“… Khi em ngồi viết thư này cho anh con chúng ta sắp chết. Ðêm khuya. Trời lạnh quá. Anh yêu ơi… Con của chúng ta đã chết rồi…”

Thư đến đây là hết.

Ông nhà văn bàng hoàng. Người viết không đề tên, không cho ông biết địa chỉ, số phone. Ðúng là thư của người nữ không quen biết. Mà người nữ không quen biết ấy lại là một nữ độc giả ái mộ, người từng ân ái với ông, người mẹ đứa con của ông mà ông không hay biết. Ông vẫn nhớ cô gái đáng yêu đó, ông vẫn thấy lạ vì sau đêm đó cô không trở lại với ông.

Không thể biết mức độ xúc cảm của ông nhà văn khi ông đọc bức thư ấy cao thấp chừng nào, cũng có thể ông tỉnh queo coi thư như một truyện ngắn. Chỉ biết những năm tuổi đời vừa ngoài một bó đọc truyện “Thư của người không quen biết” tôi thấy cuộc đời tư của những ông nhà văn mê ly hất hủi quá. Mấy ông được đàn bà đẹp yêu mê còn hơn cả kép hát. Chính vì bị mê hoặc – “mê hoặc” không đúng, sửa lại  “mê đắm” –  bởi những truyện như “Thư của người không quen biết” nên ngay từ số tuổi chưa biết đàn bà với con gái giống nhau, khác nhau ra sao tôi đã mơ giấc mộng hoang tưởng cực kỳ là mai sau ta lớn ta mần văn sĩ, ta viết tiểu thuyết.

Năm 1980 tôi đọc trong The  World of  Yesterday thấy có đoạn Nhà Văn kể chuyện khoảng năm 1924, 1925 ông ở trong Ðoàn Nhà Văn Âu châu được Nga Cộng sản mời sang thăm nước Nga. Tất nhiên là những ông Nhà Văn được Nga Cộng mời đều có cảm tình với Nga Cộng. Ông kể đoàn đi tới đâu cũng được chào đón nồng hậu, người dân nào cũng phấn khởi hồ hởi, những công xuởng rầm rập hoạt động, những nam nữ công nhân mặt tuơi rói, miệng cười toe, những cửa hàng bách hoá đủ mặt hàng, những em thiếu nhi hồn nhiên ca hát chứng tỏ các em sung sướng trong xã hội xã hội chủ nghĩa..

Nhưng ông kể một hôm về phòng ngủ ông thấy một lá thư không biết ai lén bỏ vào túi áo ông. Thư chỉ có mấy hàng chữ:

“Ông đừng tin những gì chúng nó dàn cảnh cho ông thấy. Giả dối hết. Chúng tôi sống khổ lắm.”

Chuyện Nhà Văn kể làm trái tim tôi thổn thức. Nhiều lần, đứng bên đường nhìn những đoàn xe gọi là xe khách chạy qua, thấy những khuôn mặt người ngoài quốc trong xe nhìn ra, tôi muốn kêu lên với họ:

“Ðừng tin những gì bọn cộng sản nói.  Chúng ác độc với chúng tôi lắm. Chúng tôi khổ lắm.”

Tôi có kêu lên như thế với họ cũng vô ích, tiếng kêu của tôi chỉ nói lên cái ngu ngốc của tôi, đám khách ngoại quốc của bọn Bắc Cộng đến Sài Gòn những năm 1980 toàn là bọn đảng viên các nước Nga, Ðức, Hung, Tiệp. Ðời sống của đám đó còn rách hơn cái mền Sakymen – Sài Gòn Kỹ Nghệ Mền Len, Xưởng Máy ở chân cầu Bình Triệu – chúng choá mắt vì những cái gọi là tàn dzư Mỹ Ngụy ở Sài Gòn.

Viết những bài diễn tả cuộc sống khổ cực của nhân dân Việt Nam Cộng Hoà gửi ra nước ngoài, tôi thấy tôi như anh dân Sài Gòn bại trận, nhát sơ, phẫn hận mà không dám nói ra, co ro núp sau hàng rào thấy ông bà người ngoại quốc nào đi qua bên ngoài thì len lén vạch rào, rè rụt nói ra:

- Ông bà ơi.. Ðừng tin những gì bọn Cộng nói láo. Chúng tôi khổ lắm!

Năm 1980 những quyển sách tiếng Anh, bìa cứng, như quyển The World of Yesterday thuộc loại sách quí hiếm. Ðọc xong tôi phải trả sách lại ông bạn. Sang Kỳ Hoa, năm 2000, tôi ra nhà sách Mỹ hỏi mua quyển The World of Yesterday. Bià sách in theo bài viết này. Tôi mua sách để đọc lại những trang Nhà Văn Stefan Zweig viết gần 100 năm xưa khi ông đi thăm nuớc Nga Cộng, đọc để nhớ lại những cảm nghĩ cay đắng của tôi khi tôi đọc chuyện ấy ở Sài Gòn 40 năm xưa.

Tôi mua được quyển “Lettre d’une Inconnue” ở một sạp bán sách cũ bên bờ Sông Seine, năm 2005 khi tôi đến Paris.

VÀ TÔI CŨNG YÊU EM

H2T. Vườn Luxembourg, Paris 2005.

H2T. Vườn Luxembourg, Paris 2005.

Khi viết những chữ đầu bài Viết ở Rừng Phong này – Một sáng Tháng Sáu năm 2014 – tôi để tên bài là “Paris Có Gì Lạ Không Em?”

Rồi tôi nghĩ “Paris Có Gì Lạ Không Em?” hay, gợi cảm, tình tứ, nhưng đã được dùng quá nhiều. Như người đàn bà Đep đã được quá nhiều đàn ông ôm ấp, hun hít. Ta không nên um hun nữa. Tôi chọn tên bài “Và Tôi Cũng Yêu Em.”

Rừng Phong đêm khuya, mầy mò trên Internet, tôi thấy bài này:

Những cái Nhất của Paris.

Thiếu nữ và thiếu phụ Paris nhiều người có thân hình thon, đẹp như tượng. Lý do: cô nào đi làm, đi học, đi chợ cũng phải đi nhanh như chạy  để kịp chuyến xe điện ngầm! Không có người nào tà tà đi nhởn nhơ, phất phơ trên phố, do đó, Paris ít  có phụ nữ mập ú, núng na núng nính những khối bưởi, khối bầu.

Nguyên do thứ hai làm cho phụ nữ Pháp ít người mập bự là vì thức ăn ở Pháp mắc quá, nên ai cũng ăn ít. Một ổ bánh mì 7 Euro, tương đương US $11,50 một ổ! Một ly cà phê nhỏ xíu xìu xiu cũng 4, 5 Euro, tương đương US $ 8, 9.00! Môt tô phở 9 hay 10 Euro, gần US $15.00! Ai có đủ tiền ăn nhiều? Một tờ giấy “napkin” giá 1 Euro, nghĩa là US $1.60! (Không phải một lố đâu!) Serious! Nói chung, đồ gì ở Pháp cũng mắc.

    1. Đường sá dơ nhất. Gần như khắp Paris, chỗ nào cũng có phân chó! Tôi từng ở chung nhà với một bà trước làm Tổng Giám Đốc một cơ sở thương mại Pháp ở Mỹ, nay bà nghỉ hưu; bà có 3 con chó, sáng nào bà cũng dắt chúng đi dạo phố nhưng không bao giờ bà mang theo bao nylon để đựng phân chó! Paris Nhất về nhiều phân chó ngoài đường.
    2. Nước Pháp nhiều kẻ móc túi, nhiều như rươi. Đi ở mấy chỗ công cộng du khách thường được báo cho biết là coi chứng bọn móc túi. Dân Parisien móc túi nhanh như điện! Paris nhiều kẻ cắp nhất.
    3. Đường sá Paris đa số hẹp. Thang máy nhỏ xíu chỉ chứa được hai người là nhiều. Xe hơi toàn nhỏ xíu để tiện “parking” nửa xe trên vỉa hè, nửa xe dưới đường! Phòng khách sạn mini, hai người đứng đụng đít nhau. Phòng “toilet” chỉ vừa cho người ốm nhách. Bà nào to con, vào toilet phải đi nghiêng! Paris Nhất về Đường Hẹp.
    4. Paris thiếu nước tắm. Những appartment ở Paris không có toilet và phòng tắm cho từng phòng, phải xài chung toilet ở dưới nhà, nên đa số lười. Đi tiểu trong bô dấu dưới giường. Paris Nhất ở dơ. Paris Nhất lười tắm. Nghe nói mùa đông đi metro có thể bị rận từ người khác di cư sang quần áo của mình.

CTHĐ: Sao Y Bản Chính.

Joséphine Baker: “J’ai deux Amours, Mon pays et Paris.”

Joséphine Baker: “J’ai deux Amours, Mon pays et Paris.”

CTHĐ: Paris Nhất ở việc Paris được ca tụng Nhất. Không có thành phố nào trên thế giới được ca tụng nhiều như Paris. Ca tụng trên toàn thế giới. Do những người không phải là người Pháp ca tụng. Năm tôi 10 tuổi – năm 1943 – tôi đã nghe các ông chú, ông cậu, ông anh tôi hát:

“J’ai deux amours: Mon pays et Paris.”

Nũ ca sĩ Mỹ Đen Joséphine Baker – từng sống nhiều năm ở Paris – lăng-xê bài hát này ra thế giới. lời bài ca đến tận thị xã Hà Đông bên hông Hà Nội. Lời ca – câu thứ nhất “J’ai deux amours: Dzè đơ dzà-múa,” – theo chú nhỏ Hà Đông sang Hoa Kỳ hôm nay.

Đây là Lời Ca J’ai Deux Amours

On dit qu’au-delà des mers,
Là-bas sous le ciel clair,
Il existe une cité, au séjour enchanté..

J’ai deux amours
Mon pays et Paris.
Le voir un jour,
c’est mon rêve joli.

Ở đây tôi chỉ trích đăng vài câu tôi cho là hay nhất trong bài ca, tôi phỏng dịch:

Người ta nói ở bên kia biển
Dưới bầu trời trong
Có một thành phố nơi cuộc sống tuyệt diệu.

Tôi có hai Tình Yêu:
Nước tôi và Paris
Được thấy Paris
Là giấc mơ đẹp của tôi.

Người Mỹ – Peter Cole – ca tụng Paris: Hà Đông bên hông Hà Nội

I love Paris in the spring time
I love Paris in the fall
I love Paris in the winter when it drizzles
I love Paris in the summer when it sizzles

Tôi yêu Paris mùa Xuân
Tôi yêu Paris mùa Thu.
Tôi yêu Paris mùa Đông khi Paris thánh thót
Tôi yêu Paris mùa Hạ khi Paris cứa da.

Nhiều Thi sĩ Việt Nam, sống cùng thời với tôi, trạc tuổi tôi, làm Thơ Yêu Thương Paris rất Hay, Tuyệt cú mèo, như Thi sĩ Nguyên Sa:

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một giòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về mắt vẫn lánh đen
Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen

Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng tỏ Tình với Paris trong Thơ Tiễn Em:

Lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris. Suốt đời làm chia lỵ
Tiễn em về xứ Mẹ. Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn. Một trăm ngày xa cách
Tuyết rơi mỏng manh buồn. Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc. Nói chi cũng muộn màng.

Lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris. Suốt đời làm chia lỵ
Hôn nhau phút này. Chia tay tức thì.
Em ơi khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em
Sao rơi rớt rụng. Vai em ướt mềm
Em ơi khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em.

Lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris. Suốt đời làm chia lỵ
Hỡi em người xóm học. Sương thấm hè phố đêm
Trên con đường anh đi. Lệ em buồn vương vấn.
Tuyết rơi phủ con tầu. Trong toa em lạnh đầy
Làm sao em không rét. Cho ấm mộng đêm nay!
Nơi em có trăng soi. Anh một mình ở lại
Trời mùa Đông Paris. Suốt đời thèm trăng soi
Lên xe tiễn em đi .Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris. Suốt đời làm chia ly

CTHĐ: Paris trong Thơ Nguyên Sa, Paris trong Thơ Cung Trầm Tưởng: Đẹp ơi là đẹp. Tình ơi là Tình. Làm tôi ngất ngu con tầu đi. “Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm. Chả biết tay ai làm lá sen”: Tôi nhớ những năm tôi mười hai, mười ba tuổi ở Hà Đông, buổi sáng chủ nhật, chị bán Cốm Vòng gánh gánh Cốm đến cửa nhà tôi, cây đòn gánh một đầu cong vút; những gói Cốm được bọc trong lá sen. Lá sen tươi mới cắt giữ cho Cốm không bị khô, giữ mùi Cốm thơm. Cuối năm 1946 chú thiếu niên 20 năm sau lấy bút danh Công Tử Hà Đông một đi khỏi Hà Đông là không bao giờ trở lại Hà Đông, chú không bao giờ còn được ăn Cốm Vòng bọc trong lá sen.

Bateau- Mouche trên sông Seine.

Bateau- Mouche trên sông Seine.

Tuyết rơi mỏng manh buồn. Ga Lyon đèn vàng..” Phải sống – dù vài ngày, vài đêm – với Đêm Paris mùa Đông mới thấm cái Tuyệt của “Tuyết rơi mỏng manh buồn. ..” Cảm khái cách gì. Đêm ở Paris, tôi nói với ông bạn ĐV, ông bạn đưa tôi đi chơi trong thành phố Paris:

“Cho tôi đến Ga Lyon. Đi qua thôi. Không vào..”

Tôi đến Paris quá muộn. Lỗi tại tôi. Lẽ ra tôi phải đến Paris những năm 1960, 1961, những năm phong độ nhất đời tôi, những năm tôi 30 tuổi, thời gian tôi kiếm được tiền, thời gian tôi có điều kiện – tuổi trẻ, sức khoẻ và Tiền – để hưởng những Dật Lạc của Đời. Tôi có mộng giang hồ từ những năm tôi muời tuổi. Nhưng Tử Vi của tôi Thiên Mã bị thọt, lại thêm bị thiến. Nhiều bạn tôi, những anh cơm nhà, quà vợ hơn tôi, đi Tây, đi Mỹ lia chia, có anh không muốn đi mà cứ phải đi, tôi cứ quanh quẩn gà què kẹt giỏ ở Sài Gòn. Mãi đến năm 2005 tôi mới lọ mọ đến được Paris. Tôi từ Mỹ sang Paris. Đi Paris, về Washington DC trên Air France. Có thể tôi là một trong số những du khách nghèo tiền nhất từng đến Paris từ ngày nước Pháp có Paris. Tôi đến NewYork nhưng không được lên Tượng Nữ Thần Tự Do, tôi đến Paris mà chỉ được đứng dưới nhìn lên Tháp Eiffel. Không được lên Tượng, lên Tháp vì không có tiền, không phải vì không muốn lên.

Sĩ Trung kẹt lại Sài Gòn như tôi. Anh có con ở Pháp nên khoảng năm 1981, 1982 vợ chồng anh vượt biển, đến đảo, được con bảo lãnh sang Pháp. Anh gửi về Sài Gòn cho tôi tấm ảnh anh đứng ở Champ-Élyseés. Anh bận veston nhưng không có cravate. Tôi viết cho anh:

“Đến Champs-Élyseés, mày phải veston cravate.”

Ý tôi là “Đến Champs-Élyseés mà không có cravate là bất kính..” Khi tôi đến Champs-Élysées, tôi không cravate, không cả veston, tôi bận jaquette Mỹ.  Ảnh tôi ở Champs-Élyseés là ảnh ông Tầu Già Bẩy Bó Có Thùng Nước Lèo trước bụng. Mặt khó đăm đăm, cả người toát ra vẻ hãm tài. Không giống ai, không ai giống. Thảm não cách gì. Tôi đến Paris chậm 50 năm.

Hỡi ơi.. Tôi đến Paris chậm 50 năm!!!

Nhà Sách Khai Trí ở Paris.

Nhà Sách Khai Trí ở Paris.

Như những anh Mít đến Paris, tôi phải đến hai nơi: Nhà Thờ Notre Dame de Paris và Vườn Luxembourg. Cả hai nơi tôi đều thấy buồn, thất vọng. Từ năm 12 tuổi xem phim Le Bossu de Notre Dame trên màn ảnh rạp xi-ne Majestic Hadong, hình ảnh Nhà Thờ Notre Dame trong tôi là toà nhà cổ đá sám, những thân cột đá vòng tay người ôm không kín, những cầu thang với những bậc đá đen, u tối, huyền bí, tôi tưởng ngày nào tôi được đến đó tôi sẽ thấy thấp thoáng trong Nhà Thờ hình bóng Anh Bướu Quasimodo và vóc dáng Nàng Esmeralda đẹp não nùng. Nhà Thờ Notre Dame của Paris năm 2005 tôi đến là một toà nhà sáng trưng ánh đèn điện dù là giữa ban ngày. Lại găp Ngày Lễ, người ta quá đông. Khách chỉ có thể xếp hàng theo nhau đi một vòng qua hành lang nhà thờ. Nhà Thờ chỉ có một tầng gác thấp. Esmeralda không thể sống trên tầng gác thấp ấy cả mấy tháng trời theo như lời tả của Văn Sĩ Victor Hugo. Quasimodo có thể đem thức ăn, nước uống cho Esmeralda nhưng đâu phải  Esmeralda chỉ cần có ăn, có uống là sống được. Viết rõ ra là nàng phải tiểu tiện, đại tiện. Nàng không thể ra khỏi Nhà Thờ để làm hai việc ấy, nàng cũng không thể làm hai việc ấy trong Nhà Thờ. Khoảng sân trước Nhà Thờ không lớn mấy, chừng vài chục mét là đền sông Seine.

Le Bossu de Notre Dame” là “Anh Bướu,” không phải là “Anh Gù.”

Đến Vườn Luxembourg tôi thất vọng khi thấy Vườn không có, không còn một hình ảnh nào của Vườn Luxembourg trong Văn của Anatole France. Tôi đi một vòng trong Vườn, tôi tìm Toilet. Vào toilet ở Paris phải trả tiền. 50 cent một lần. Đi chơi trong thành phố Paris, việc tìm chỗ đi tiểu là một vấn đề. Tôi đến ngồi dưới chân tượng Mendès-France, một Thủ Tướng Chính Phủ Pháp, chụp tấm ảnh kỷ niệm.

Nghe nói du khách đến Paris có thể đi chơi  sông Seine trên những chiếc tầu gọi là bateau-mouche; chuyến đi rất thơ mộng. Tất nhiên vợ chồng tôi cũng xuống một bateau-mouche. Lại một thất vọng. Không biết tình trạng trên những bateau-mouche khàc ra sao, chiếc bateau-mouche chúng tôi lên sàn tầu hôi mùi xăng, tầu không có toilet, không người hướng dẫn. Mặc cho khách ngồi, tầu rời bến chạy một vòng rồi trở về bến. Thế là hết mục du ngoạn sông Seine trên bateau-mouche.

Tôi đến thăm Montparnasse. Ở đây có khoảng chừng 20 họa sĩ – nam và nữ – hành nghề ngoài đường. Họ là những họa sĩ đến Paris từ những nước Đông Âu. Họ đứng vẽ croquis. Khách đứng cho họ vẽ. Mỗi tấm họa là 20 Euro. Có lẽ không thủ đô nào trên thế giới có hoạ sĩ đứng đường như thủ đô Paris. Tôi trạnh thương mấy nữ họa sĩ. Tôi mời hai cô vẽ tôi.

Trong 20 năm, từ 1955 đến 1975 chắc có nhiều ký giả Việt Nam Cộng Hoà được từ Sài Gòn đến Paris. Tôi biết bốn người: Trịnh Viết Thành, Phan Nghị, Duy Sinh và Đạm Phong. Trong bốn người trên nay chỉ còn Duy Sinh ở Cali.

o O o

Để Quên Con Tim (Đức Huy)

Buổi chiều sông Seine có gió lạnh về lập đông
Buổi chiều Cali cô đơn từng cơn rã rời
Từ ngày xa em thao thức trằn trọc từng đêm
Ngày rời Paris anh đã để quên con tim.

Và Tôi Cũng Yêu Em trong Nhạc Lam Phương (?)

Tôi yêu xem một cuốn truyện hay, tiếng chim hót đầu ngày, và yêu biển vắng.
Tôi yêu ly cà phê buổi sáng, con đường ngập lá vàng.
Tôi yêu hương vị Tết ngày xưa, mái tranh dưới hàng dừa
… Và yêu trẻ thơ, bữa cơm canh cà và điếu thuốc, giấc ngủ không mộng mị.
Và Tôi Cũng Yêu Em. Và Tôi Cũng Yêu Em,
Yêu Em rộn ràng, yêu Em nồng nàn, yêu Em chứa chan.

o O o

Rất tiếc. Tôi đến Paris chậm mất 50 năm.

GI’s JUNE 1944

“GI’s June 1944” là chuyện về những người Lính Mỹ đến giải phóng nước Pháp năm 1944. GI’s nguyên chữ là Governement Issue: Nhà Nước cấp phát. Tất cả những gì của người lính Mỹ: quân phục, quân trang, vũ khí, từ cái mùi-soa, đôi vớ đến cái dây lưng quần, cây bàn chải răng ..vv..vv.. đều của Nhà Nước. Dzi Ai : GI là tên người Mỹ tự đặt cho người lính Mỹ.

soldier1Lính Mỹ đổ bộ vào bãi biển Normandy, Pháp, Ngày 6 Tháng 6 Năm 1944. Đã 68 mùa thu lá bay..những ngày như lá, tháng như mây…. Chuyện xưa nhưng tôi vẫn tìm xem trên Internet. Tôi gửi những chuyện xưa tôi tìm được đến những người đọc tôi ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca.

Năm 1944 tôi 11 tuổi. Lẽ tất nhiên chú nhi đồng tỉnh Hà Đông bên hông Hà Nội là tôi năm 1944 mù tịt về cuộc Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai. Những năm 1960 đọc những bài viết về Thế Chiến, tôi nhớ đến hôm nay – một chiều Tháng Sáu năm  2014 – khi tôi viết những dòng chữ này, tôi vẫn nhớ  những lời đề cao và vinh danh những  người Lính Mỹ vào giải phóng các nước Âu Châu, đặc biệt là Paris và nước Pháp.

“Trong lịch sử chiến tranh thế giới, lần thứ nhất người ta thấy một đạo quân đi chinh phục là những người lính trẻ, khoẻ mạnh, văn minh, lịch thiệp. Đạo quân ấy là Quân Mỹ. Những đoàn quân đi chinh phục trước họ gồm những chiến binh hung hãn, dơ bẩn, râu tóc bờm sờm, y phục rách rưới, người đầy tật bệnh, ghẻ lở, chấy rận. những đoàn quân này đi đến đâu là cướp thực phẩm của dân địa phương để ăn, cướp y phục của dân bị xâm chiếm để mặc. Quân Mỹ vào giải phóng các nước Âu Châu bị Đức Quốc Xã chiếm, đem theo thực phẩm, thuốc men, y phục cho dân địa phương. Họ là những cứu tinh, là những người hùng của dân Pháp.”

Nguyên bản chữ Anh của Des GI’S et des Femmes.

Nguyên bản chữ Anh của Des GI’S et des Femmes.

Từ bao nhiêu năm tôi vẫn nhớ những lời ca tụng ấy. Đến năm nay – 2014 – tôi vẫn cho những lời ca tụng ấy là đúng. Tôi vẫn nghĩ, vẫn tin Lính Mỹ, trong Thế Chiến Hai ai, những người Lính Mỹ vào giải phóng nước P là những người Lính tinh hoa của Thế Giới. Từ 70 năm nay tôi mê Lính Mỹ; tôi mê Lính Mỹ về nhiều chuyện. Xin kể một chuyện: tôi mê Lính Mỹ ở những bộ quân phục của họ. Với tôi, quân phục Lính Mỹ đẹp nhất thế giới. Kaki Mỹ, calot Mỹ là những tiếng tôi nghe các ông đàn anh tôi trầm trồ những năm 1945, 1946. Tôi mê những chiếc quân xa Jeep tôi thấy trên màn ảnh xi-nê. Năm 1946 chưa có quân xa Jeep đến Hà Nội. nhưng một số phim chiến tranh và phim truyện Hollywood Mỹ đã đến Hà Nội. Vài ba phim, nhưng có. Tôi nhớ trong một phim có cảnh những người Lính Mỹ nhẩy đầm trong một hội quán của họ. Một nữ quân nhân – tôi nghĩ là do cô đào Rita Hayworth diễn – nhẩy đẹp quá. Năm xưa ấy tôi chưa biết tên cô. Tôi nhớ mãi hình ảnh người nữ quân nhân Mỹ ấy.

Và tôi nhớ  tên phim là Only Angels have Wings, tên tiếng Pháp Seul les anges ont des ailes: Chỉ thiên thần có cánh. Cái tên thật hay, gợi cảm. Chuyện phim xi-nê về những phi công và phi cơ mà có tên như thế là tuyệt. Rồi ngày tháng lại qua..Cuộc biển dâu đưa tôi sang sống ở xứ người. Năm 2000, tôi có điều kiện tìm bộ phim xưa, phim Only Angels have Wings. Tìm để được nhìn lại trên phim những hình ảnh đẹp tôi đã được nhìn năm tôi mười một, mười hai tuổi. Nhưng Hollywood có phim Only Angels have Wings, xong phim này không phải là bộ phim tôi xem năm 1946 trên màn ảnh rạp Majestic ở Hà Nội. Phim có Rita Hayworth, Cary Grant nhưng không phải là phim về Thế Chiến Hai.

Tôi mê quân xa Jeep Mỹ từ năm 1946. Tôi nhìn thấy Quân Xa Jeep trên màn ảnh xi-nê. Năm 1946 chưa có chiếc quân xa Jeep nào trên đất Bắc Kỳ. Từ năm ấy tôi tự hẹn ngày nào đó mai sau mình sẽ làm chủ một quân xa Jeep. Năm 1961 giấc mơ quân xa Jeep của tôi thành tựu; tôi làm chủ một quân xa Jeep do quân đội phế thải. Đó là chiếc ô tô thứ nhất trong đời tôi. Rất tiếc tôi đã để mất mấy tấm ảnh tôi ngồi trên Xe Jeep của tôi những năm 1960.

Năm nay Tháng Năm trở lại, tôi tìm trên Internet tài liệu để viết về chuyện Tháng Năm năm 1945 quân Đức Quốc Xã bại trận, đầu hàng, nhiều cô đầm Pháp lấy chồng Đức bị đàn ông Pháp lôi ra cạo trọc đầu, làm nhục. Tôi bất nhẫn về việc làm đó của đàn ông Pháp. Tôi cho việc họ trả thù đàn bà là tàn nhẫn, không hào hiệp. Và hèn. Vài năm trước đây tôi đã có một bài Viết ở Rừng Phong về chuyện tôi vừa kể. Năm nay tôi tìm ra tài liệu về những người Lính Mỹ đào ngũ khi họ vào giải phóng Âu châu khỏi tai họa Đức Quốc Xã.

Một đoạn trích trong bài “Tháng Năm 1944” đã đăng tuần trước:

During the Second World War, the British lost 100.000 troops to desertion, and the Americans 50.000. Commonwealth from Canada, Australia, New Zealand, South Africa and Britain’s colonial empire also left the ranks in their thousands. But, surprisingly, only one WWII deserter was executed for his crime.

Trong Thế Chiến Thứ Hai, quân đội Anh Quốc mất 100.000 lính đào ngũ, quân đội Mỹ Quốc mất 50.000 lính. Quân Khối Thịnh Vượng Chung, gốm Canada, Australia, New Zealand, Nam Phi và các nước thuốc địa của Đế Quốc Anh mất nhiều ngàn lính, nhưng chuyện ngạc nhiên là chỉ có một binh sĩ Thế Chiến Thứ Hai đào ngũ bị tử hình.

Ngưng trích.

Hôm nay tôi tìm được quyển “Des GI’s et des Femmes” của Nữ tác giả Mary Louise Roberts. Bà Roberts là giáo sư Lịch sử Pháp ở Đại Học Wisconsin, Hoa Kỳ. Nguyên tác là “What Soldiers do.” Người Lính làm gì. Tác phẩm đươc xuất bản ở Hoa Kỳ từ những năm 2005 nhưng không được công luận Mỹ chú ý. Nguyên nhân có thể vì chuyện xẩy ra ở nước ngoài đã quá lâu, dù là những chuyện do Lính Mỹ làm. Và vì người Mỹ không thích đọc những chuyện bê bối Lính Mỹ làm ở ngoại quốc.

Tháng Tư 2014, “What Soldiers do” được dịch sang tiếng Pháp: “Des GI’s et des Femmes. Amours, viols et prostitution à la Liberation,” Lính Mỹ và Đàn bà. Tình dục, hiếp dâm và nghề mãi dâm trong thời Giải Phóng. Tác phẩm được nhiều người Pháp tìm đọc và làm cho nhiều người Mỹ năm nay phải nhớ đến những hành động không đẹp mà người Lính của họ đã làm ở Âu châu hơn 60 năm trước.

Và để hôm nay “Des GI’s et des Femmes” lên trang báo này.

Theo bà Roberts những tài liệu về Lính Mỹ gây tội ác ở Âu châu được giữ kín trong văn khố; năm 2000 số tài liệu này mới đuợc mở cho dân đọc. Bà Roberts đọc những tài liệu này, bà đến thành phố Le Havre, hải cảng nước Pháp, nơi những người lính Mỹ GI đưọc tập trung chờ tầu biển về Mỹ, bà đọc tài liệu trong Thư Viện Le Havre. Bà choáng váng khi thấy vết tích những tội ác của Lính Mỹ.  Bà viết:

“Cho đến nay nhiều người Mỹ vẫn tin chắc là những người Lính Mỹ của họ đi ra ngoại quốc đều là những chiến sĩ dũng cảm không chút tội lỗi.

Đây là một đoạn trong bài giới thiệu tác phẩm: “Des GI’s et des Femmes.”

L’invasion de la Normandie en Juin et une seconde invasion dans le sud en Août, ont mobilisé près de 3 millions de soldats qui débarquèrent en France en 1944.

Après la guerre, le rapatriement et la démobilisation des troupes ont pris du temps. Même en 1946, il y avait encore environ 1,5 million de troupes en Europe. Le logement et la gestion des milliers de soldats qui attendent l’embarquement pour rentrer chez eux ont eu des difficultés. De plus, selon le commandement américain, à l’automne 1944, près de 10 000 GI déserteurs répandent la terreur sur tout le territoire.

Le magazine Life présentait à l’époque la France comme « un gigantesque bordel dans lequel vivaient 40 millions d’hédonistes qui passent leur temps à manger, boire et faire l’amour »

En 1945, Le Havre était rempli de soldats américains en attente d’être rapatriés dans leurs pays. Certains habitants ont écrit au Maire que certaines femmes ont été « attaquées, volées, sur la rue et dans nos maisons » et « il s’agit d’un régime de terreur imposé par des bandits en uniforme ». Un propriétaire de café du Havre a témoigné « nous nous attendions à des amis qui ne nous ferait pas honte de notre défaite, au lieu de cela, il y eut seulement l’incompréhension, les mauvaises manières et l’arrogance des conquérants » Un tel comportement était aussi commun à Cherbourg. Un résident a déclaré que « Avec les Allemands, les hommes devaient se camoufler. Mais avec les Américains, nous avons dû cacher les femmes .”

Selon l’historien américain J Robert Lilly, il y aurait eu 3 500 viols commis par des soldats américains en France entre juin 1944 et la fin de la guerre5. Les troupes américaines engagées ont commis 208 viols et une trentaine de meurtres dans le département de la Manche. Pour le seul mois de juin 1944, en Normandie, 175 soldats américains seront accusés de viols.

Le commandement américain a jugé entre le 14 juin 1944 et le 19 juin 1945, 68 cas de viol concernant 75 victimes. Au total, 139 soldats se trouvaient présents sur les lieux des crimes – 117 (84 %) d’entre eux étaient noirs et 22 (16 %) étaient blancs.

Certains militaires coupables ont été exécutés, comme dans l’affaire Clarence Whitfield, condamné à mort par pendaison le 20 juin 1944 à Canisy par la cour martial. Cent trente des 153 troupes soupçonnés de viols étaient des Afro-Américains… Les tribunaux militaires ont condamné les soldats afro-américains à des peines plus sévères que les soldats américains blancs. L’ US forces a exécuté 29 soldats pour viol dont 25 Afro-Américains, et les autorités militaires américaines invitèrent les victimes à assister à la pendaison des coupables.

Phỏng dịch: Cuộc xâm chiếm Normandie Tháng Sáu và cuộc xâm chiếm thứ hai Tháng Tám vào miền Nam đã điều động đến gân 3 triệu binh sĩ đổ bộ lên đất Pháp năm 1944.

Sau chiến tranh, việc hồi hương và giải ngũ binh sĩ cần thời gian. Năm 1946 vẫn còn khhoảng 1 triệu 500.000 binh sĩ ( Đồng Minh ) ở Âu châu. Việc lo nơi cư ngụ và quản trị số binh sĩ chờ ngày lên tầu về nước có nhiều khó khăn. Thêm nữa, theo giới chỉ huy quân Mỹ, mùa thu 1944 gần 10.000 GI đào ngũ gieo rắc kinh hoàng trên khắp nước.

Tạp chí Life mô tả nước Pháp thời ấy như “một nhà điếm khổng lồ trong đó có 40 triệu đàn ông hưởng dục qua thời gian với những việc ăn, uống và làm tình.”

Năm 1945, hải cảng Le Havre đầy nhóc lính Mỹ chờ về nước. Một số cư dân viết cho ông Thị Trưởng báo rằng có một số phụ nữ đã “bị tấn công, bị cướp ở ngoài đường và ngay trong nhà họ và đây là chế độ khủng bố được áp đặt bởi những tên cướp bận quân phục.” Một chủ tiệm café trong thành phố nói chúng tôi chờ đợi những người bạn thân, những người không làm chúng tôi xấu hổ vì cuộc bại trận của chúng tôi; thay vào đó chỉ có sự không hiểu biết, những cách xử thế tồi tệ và vẻ hung hăng của kẻ chinh phục.” Cung cách hành xử như thế cũng xẩy ra ở Cherbourg. Một cư dân nói:

“Với người Đức, bọn đàn ông Pháp phải ngụy trang. Nhưng với người Mỹ chúng tôi phải cất dấu đàn bà.”

Theo sử gia Mỹ J Robert Lilly, lính Mỹ trên đất Pháp làm 3.500 vụ hiếp dâm trong khoảng từ tháng Sáu đến ngày hết chiến tranh. Trong quận hạt Manche lính Mỹ làm 208 vụ cưỡng hiếp và khoảng ba mươi vụ giết người. Riêng trong tháng Sáu 1944 ở Normandie có 175 lính Mỹ bị kết tội cưỡng hiếp.

Từ ngày 14 tháng Sáu 1944 đến ngày 19 tháng Sáu năm 1945. Bộ Tư Lệnh Mỹ đã xử 68 vụ hiếp dâm, 68 vụ này gây ra 78 nạn nhân. Tất cả có 130 người lính có mặt ở những nơi xẩy ra những cuộc cưỡng hiếp – 117 lính Mỹ Đen, 22 lính Mỹ Trắng bị kết tội.

Một số quân nhân phạm tôi bị xử tử, như trong vụ anh Clarence Whitfield, bị Toà Quân Sự xử treo cổ ngày 20 tháng Sáu 1944 ở Canisy. Một trăm ba mươi người trong số 153 lính bị nghi tội hiếp dâm là Mỹ Đen. Những toà án quân sự xử phạt những người lính Mỹ Đen những hình phạt nặng hơn lính Mỹ Trắng. Quân lực Mỹ đã xử tử 29  lính trong số có 25 Lính Mỹ Đen can tội hiếp dâm, nhà chức trách quân sự Mỹ mời những nạn nhân đến chứng kiến cuộc treo cổ những kẻ phạm tội.

CTHĐ: Tôi trích đăng vài đoạn tài liệu chữ Pháp để quí độc giả thấy tôi không bịa chuyện. Và để quý vị thấy những đoạn văn tôi dịch không đúng nguyên văn. Năm nay khả năng dịch văn của tôi không còn được minh mẫn như 60 năm xưa.

Nũ tác giả Roberts kể: Các báo quân đội Mỹ mô tả cuộc Giải Phóng như một truyện tình, đi kèm bài viết là những tấm ảnh Lính Mỹ ôm hôn những phụ nữ Pháp.

Tài liệu còn ghi chuyện: Lính Mỹ ở Pháp phạm tội bị treo cổ. Án thi hành ngay trên đất Pháp. Nhưng ở Pháp, người Pháp xử án tử hình bằng máy chém – guillotine – Bộ Tư Lệnh quân Mỹ phải điện về nước yêu cầu gửi một hangman – chuyên viên treo cổ – sang Pháp để làm việc thi hành án.

Theo tôi – CTHĐ – tình trạng Lính Mỹ làm bậy trên đất Pháp không hoàn toàn do lỗi của Lính Mỹ. Các cô đầm Pháp năm xưa ấy đã hân hoan chào đón Lính Mỹ chiến thắng một cách quá đáng. Qua những tấm ảnh ta thấy cảnh những cô đầm Pháp tươi như hoa, trèo lên quân xa Mỹ um hun lính Mỹ, các cô um hun thấm thít những chàng GI ở giữa đường, ở khắp nơi. Các cô thân mật với Lính Mỹ trước. Thân mật quá đáng. Các cô cũng không có lỗi. Dân Pháp sau bốn năm bị người Đức xâm lăng cai trị, bị thiếu đủ mọi thứ. Họ thiếu đường, thiếu cà phê, bơ, sưã, họ thèm từng muỗng đường, từng cục sà-bông, từng điếu thuốc lá, từng thếp sô-cô-la. Lính Mỹ có thừa những thứ đó. Việc trao đổi là tự nhiên. Những chàng GI cũng không có lỗi. Họ đã chiến đấu, họ đã chạm mặt cái Chết, họ đã nhìn thấy những người bạn đồng đội của họ gục ngã. Họ là đàn ông, họ cần đàn bà. Họ đã hưởng những lạc thú họ cho là họ có quyền hưởng.

Chuyện những người đàn bà đem thân phục vụ Lính Mỹ xẩy ra nặng hơn ở hai nước bại trận: Đức và Nhật. Đàn ông Nhật bại trận mà không chết được đứt ruột, nát gan khi thấy vợ, con gái họ buổi chiều đúng ở cổng những trại quân Mỹ, chờ những chàng GI ra chọn, dắt đi. Phụ nữ Nhật làm đĩ công khai, không che dấu. Ở nước Đức bại trận xẩy ra những vụ lính Nga Xô giết cưỡng hiếp tập thể phụ nữ Đức. Những vụ lính Mỹ hiếp dâm không thấy xẩy ra ở nước Nhật bại trận.

Người lính trong chiến tranh phải chạm mặt với cái Chết, họ xúc động thấy những người bạn đồng đội của họ chết thê thảm. Họ cần đàn bà. Nhưng – dường như – không quân đội nước nào được phép tổ chức những nhà chưá gái phục vụ việc giải quyết sinh lý cho lính. Có tài liệu ghi trong Thế Chiến Hai, khi Lính Mỹ vào đất Pháp, môt ông Sư Đoàn Trưởng Quân Đội Mỹ cho mở một nhà chưá gái phục vụ những chú Lính trong đơn vị ông – tất nhiên gái được tuyển là gái Pháp – nhưng nhà chưá này chỉ hoạt động được chưa đầy một tuần là có lệnh phải dẹp bỏ. Do đó những người lính GI phải làm bậy phụ nữ địa phương.

Tôi thấy bà Mary Louise Roberts viết không đúng sự thật: “Bộ Tư Lệnh Quân Mỹ khơi động tinh thần Lính Mỹ bằng cách kín hở cho họ biết phụ nữ Pháp ngon lành, vào đất Pháp họ sẽ được hưởng phụ nữ Pháp.” Tôi không nghĩ, tôi không tin những người Lính Mỹ vào giải phóng Âu châu chỉ vì muốn thoả mãn dâm dục. Nôm na là vì muốn chơi gái Pháp.

Tháng Tư 1945 có 160.000 lính Đồng Minh đổ bộ vào Pháp. Bộ binh đến bằng tầu biển từ Anh, Lính Dù  từ những phi cơ Mỹ cất cánh từ những phi trường Anh. Có 4.414 Lính Mỹ tử trận trong cuộc đổ bộ trên mặt trận dài 50 mile, có từ 4.000 đến 9.000 GI bị thương nặng nhẹ.

Lính Mỹ tử trận ở nước ngoài được chôn ngay tại nước ấy. Nghĩa Trang Lính Mỹ lớn nhất có lẽ là Nghiã Trang Normandy.

Mời đọc Thông Điệp gửi Binh Sĩ Đồng Minh của Tướng Dwight D. Eisenhower, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh trên chiến trưaờng Âu Châu. Thông Điệp truyền thanh trong đêm 5 Tháng 6, 1944.

Soldiers, Sailors and Airmen of the Allied Expeditionary Force! You are about to embark upon a great crusade, toward which we have striven these many months. The eyes of the world are upon you. The hopes and prayers of liberty loving people everywhere march with you. In company with our brave Allies and brothers in arms on other fronts, you will bring about the destruction of the German war machine, the elimination of Nazi tyranny over the oppressed peoples of Europe, and security for ourselves in a free world.

Your task will not be an easy one. Your enemy is well trained, well equipped and battle hardened, he will fight savagely.

But this is the year 1944! Much has happened since the Nazi triumphs of 1940-41. The United Nations have inflicted upon the Germans great defeats, in open battle, man to man. Our air offensive has seriously reduced their strength in the air and their capacity to wage war on the ground. Our home fronts have given us an overwhelming superiority in weapons and munitions of war, and placed at our disposal great reserves of trained fighting men. The tide has turned! The free men of the world are marching together to victory!

I have full confidence in your courage, devotion to duty and skill in battle. We will accept nothing less than full victory!

Good Luck! And let us all beseech the blessings of Almighty God upon this great and noble undertaking.

– Gen. Dwight D. Eisenhower

 Bộ Binh, Hải Quân và Không Quân Lực Lượng Đồng Minh. Các bạn sắp bước vào việc thực hiện một chiến dịch mà chúng ta đã gắng sức đi tới từ nhiều tháng nay. Thế giới để mắt vào các bạn. hy vọng và lời nguyện của những người yêu tự do ở khắp nơi đi cùng các bạn. Cùng với những bạn Đồng Minh can đảm và thân thiết của chúng ta trên những mặt trận khác, các bạn sẽ làm cuộc hủy diệt bộ máy chiến tranh của Đức Quốc, việc tiêu diệt ách Nazi tàn bạo trên những dân tộc bị áp bức ở Âu Châu, và cho nền an ninh của chúng ta trong thế giới tự do.

Nhiệm vụ của các bạn không phải là việc dễ làm. Kẻ thù của các bạn được huấn luyện kỹ, được trang bị đầy đủ và dầy dạn chiến tranh, họ sẽ chiến đấu tàn bạo.

Nhưng năm nay là năm 1944! Nhiều sự kiện đã xẩy ra từ những năm 1940-41 Nazi chiến thắng. Khối Quốc Gia LiênKết đã giáng cho người Đức nhiều trận thảm bại, trên chiến trường, người với người. Những trận tấn công bằng không lực đã làm suy giảm nặng lựclượng của họ trên không và khả năng chiến đấu của họ trên mặt đất. Hậu phương của chúng ta cung cấp cho chúng ta những lợi thế lớn về võ khí và quân dụng chiến tranh cùng việc đặt vào quyền sử dụng của chúng ta những lực lượng trừ bị gồm những chiến binh được rèn tập kỹ. Sóng đã đổi chiều. Những người tự do trên thế giới đang cùng đi tới chiến thắng.

Tôi hoàn toàn tin ở sự can đảm, sự tận tâm với nhiệm vụ và khả năng chiến đấu của các bạn. Chúng ta sẽ không chấp nhận gì ngoài chiến thắng hoàn toàn.

Chúc may mắn. Chúng ta cùng xin sự ban ân của Thiên Chúa Toàn Năng trong việc làm cao thượng này.

– Tướng Dwight D. Eisenhower.

Ngày 5 Tháng 6, 1944, Tướng Dwight D. Eisenhower, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh Chiến Trường Âu Châu, nói với vị chỉ huy Sư Đoàn Không Vận 101 – Airborne Division 101 – lởi ngắn:

“Full Victory. Nothing Else.” “Toàn thắng. Không gì khác.” 

Hết Thông Điệp.

Thế Chiến Thứ Hai kết thúc năm tôi 15 tuổi.

Tôi viết về Thế Chiến Thứ Hai năm tôi 80 tuổi.

Cảm khái cách gì!

MARIA SHARAPOVA VÔ ĐỊCH TENNIS FRENCH OPEN 2014!

Cảm khái cách gì! Fi-ní lô đia.

Cảm khái cách gì! Fi-ní lô đia.

Là Fan của Kiều Nữ Nga Trắng MARIA SHARAPOVA từ năm 2004, tôi – Lão Công Tử Hà Đông – những năm gần đây tránh không xem Maria Sharapova tranh tài trên TiVi. Lý do: Tôi chỉ muốn Nàng thắng, tôi buồn khi thấy Nàng thua, tôi bực bội khi thấy Nàng phạm lỗi giao banh. Thời tôi trẻ, tiếng giao banh theo người Pháp là servive, nay tiếng Mỹ là serve.  Thông lệ, những tay vô địch khi giao banh là phải thắng điểm, giao banh mà không thắng điểm là thua.

MARIA SHARAPOVA ôm Cúp Vô Địch French Open 2014

MARIA SHARAPOVA ôm Cúp Vô Địch French Open 2014

Vì vậy, tôi chờ cho match kết thúc, xem trên Internet để biết Maria Sharapova thắng hay thua. Nếu Nàng thắng, tôi đón xem trận đấu chiếu lại trên TiVi. Nếu Nàng thua, tôi quên luôn.

Tôi xem những trận tranh tài của Maria Sharapova trong Giải French Open với cảm giác bất an, không tin tưởng, không ăn chắc thường lệ. Mở TiVi xem set đầu, thấy Maria Sharapova thua, tôi tắt TiVi. Khoảng hai, ba giờ sau tôi xem kết quả trên Internet, thấy Nàng thắng hai set sau. Trong Giải French Open, Maria Sharapova thua set thứ nhất trong ba trận.

Thứ Bẩy ngày 7 tháng 6, 2014, lúc 3 giờ trưa Virginia, tôi mở google.com. Không cần tìm, bản tin “Maria Sharapova wins French Open 2014” hiện lên lung linh trên màn hình. Tôi viết ngay Tin này về Nàng.

Thua match là tại không may.
Thắng match là tại thiên tày Sharapova! 

Lucky Ba Hàng Chữ

smoke

Keep crying !
The Tobacco is dead !
Khóc đi Em !
Thuc lá đã chết !

Bác sĩ Suzuki, người từng nói ai có bệnh cứ ăn gạo lức muối mè trường kỳ là có thể trừ được mọi bệnh, kể cả những bệnh nan y như lao, ung thư vv.., ông còn nói :

“K thù nguy him nht ca loài người là cht đường trng..

Theo Bác sĩ Gạo Lức, Muối Mè Nhật Suzuki chất đường trắng mà ta vẫn tuyển lựa để uống cà phê là chất độc giết nhiều người nhất .

Lời cảnh cáo của Bác sĩ Suzuki được nói lên từ hơn nửa thế kỷ nay, đường trắng vẫn được loài người ưa dùng mỗi ngày một nhiều hơn. Thế rồi đến những năm cuối của thế kỷ 20 y học thế giới — mạnh nhất là Y Học Xê Kỳ — chĩa mũi dùi vào Thuốc Lá, cho Thuốc Lá là kẻ thù nguy hiểm nhất của loài người, khói thuốc lá trong có chất nicotine, nhựa đen, gây ra đủ chứng bệnh và làm chết nhiều người nhất.

Xê Kỳ là nước có kỹ nghệ sản xuất thuốc lá, thuốc điếu mạnh nhất thế giới và Xê Kỳ cũng là nước phát động phong trào bài thuốc điếu dữ dội nhất thế giới. Từ những năm 70 những bao thuốc điếu Mỹ đã bị pháp luật Mỹ bắt buộc phải ghi trên bao hàng chữ :

lucky“Warning: Cigarette smoking is hazardous to your health .”

Coi chừng : Việc hút thuốc có sự bất ngờ tới sức khoẻ của bạn. Cuộc chiến chống thuốc lá diễn ra dai dẳng, phe muốn tiêu diệt thuốc điếu, cho tới nay, không đạt được chiến thắng dễ dàng. Nhưng thời gian không ở về phe  những người hút thuốc lá. Trong cuộc chiến này sớm hay muộn thuốc lá cũng thua, cũng bị diệt. Ba mươi muàđồng đất Virginia xanh rờn những cây thuốc lá trúng mùa việc hút thuốc láở Mỹ đã bị cấm tiệt ở những nơi công cộng: thư viện, công sở, siêu thị, phi cảng, trên máy bay, bệnh viện, trong cả những tiệm ăn ..vv. Ai vi phạm lệnh cấm bị phạt vạ bằng tiền rất nặng. Cảnh những anh chị công chức Mỹ nghiện  hút thuốc lá đứng rúm ró hít lấy, hít để ở hai bên cửa ra vào những công tư sở trông đúng là một thảm cảnh xã hội. Việc hút thuốc điếu từng được coi là việc làm của giới thượng lưu thanh lịch nay trở thành một tật xấu tai hại cần bị loại trừ. Chính quyền một số thị trấn Mỹ còn đe  dọa phạt nặng cả những người hút thuốc ngoài đường, trong công viên.

Thomas Mann, văn sĩ Ðức, trong tiểu thuyết La Montagne Magique của ông diễn tả một nhân vật mê hút thuốc đến nỗi “chỉ ăn đ hút thuc cho ngon .. Từng là người nghiện thuốc lá trong nhiều năm tôi thấy Thomas Mann tả đúng. Sau những bữa ăn có thịt cá người ta hút thuốc để làm tiêu đi mùi cá thịt. Khói thuốc sau bữa ăn đậm hơn, ngọt hơn, thấm hơn.

– Người Tầu có câu: “Cn tin như anh nghin cn điếu thuc phin sau ba ăn …”

Ðó là lời anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt — năm 1984 ở Thành Hồ anh bị bắt giam cùng với bọn Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi, anh mất năm 1986 trong Nhà Tù Chí Hoà — nói với tôi trong một chiều những năm 60 xa xưa khi chúng tôi nằm bên pờ-la-ti. Nhận xét ấy thật đúng. Với người hút thuốc khói thuốc lúc nào cũng cần, nhưng sau khi ăn là cần nhất. Những người nghiện nặng còn phải được hút giữa bữa ăn mới có thể ăn ngon.  Trong phim Bonjour Tristesse đươc làm theo tiểu thuyết cùng tên của Francoise Sagan, khán giả cười ồ lên khi thấy kép Yves Montand làm tình nồng nhiệt với nhân tình — quên mất tên em nữ diễn viên đóng vai này, nghĩ mãi không ra. Hình như là em  Mylene Demongoet. Chỉ nhớ thêm là em cũng là đào nữ trong phim Sois belle et tais-toi — vừa buông em ra là Yves Montand với tay lấy gói thuốc bên bàn ngủ, đốt lưả hít liền một khi.

Theo thông lệ, một thứ luật bất thành văn, khi bọn Việt Cộng thi hành án hành quyết một tử tù ở Khám Lớn Chí Hoà, chúng đánh thức người tử tù lúc 4 giờ sáng, đọc án, cho ăn bữa cuối: tô mì hay cái bánh bao, uống ly nước ngot, hút hai điếu thuốc có cán rồi bịt mắt, nhét trái chanh hay trái cóc vào miệng, cho vào xe bít bùng đưa lên bãi bắn Thủ Ðức, cho đứng trước dẫy thùng phuy và bắn vào lúc 5 giờ sáng.

Khói thuốc lá vô cùng quan trọng với những người tù trong quần đảo ngục tù Cộng sản. Người tù bị nhốt giữa bốn bức tường không có việc gì để làm ngoài việc hút thuốc lá. Thuốc lào. Tôi từng nghe kể chuyện có những người tù Hoả Lò Hà Nội đổi cả một bộ quần áo lấy bao thuốc lá, những anh bạn sĩ quan cải tạo về kể chuyện khi sống ở những trại lao cải miền Bắc, tuy đói cơm, nhiều anh thèm khói thuốc lào quá chung nhau đổi cả một phần cơm để chỉ lấy có ba điếu thuốc lào. Mới đây có tin đàn ông Mít nay hút thuốc lá vô địch Á chau, số đàn ơng Việt nghiện hút thuốc lá cao hơn cả đàn ông Tầu .

Là người từng mê thuốc lá, mỗi ngày hút ít nhất là 50 điếu — 2 gói rưỡi — bánh xe tị nạn đưa tôi sang sống ở Virginia, đồng đất trồng cây thuốc lá nhiều nhất thế giới, tôi đã bỏ hút – từ năm 1990 — nhưng cảm khái khi thấy thuốc lá bị cấm đoán, bị tiêu diệt, tôi viết bài Ai Điếu Cigarettes này.

Trên đường v nhđy

Chiu chm ru chân ngày

Tiếng bun vang trong cây

Tiếng bun vang trong mây ..

Có phi su vn c

Cht trong hn chiu nay ?

Tôi là người l khách

Mu chiu khó làm khuây

Nh nhà châm điếu thuc

Khói huyn bay lên cây

Khói huyn bay lên mây ..

Thơ Hồ Dzếnh, Dương Thiệu Tước phổ nhạc. Trong thi ca Việt có bao nhiêu bài, bao nhiêu lời nói đến khói thuốc là? Tôi biết có hai bài. Bài Chiu vừa kể trên đây và bài Ðôi B của Quang Dũng:

Thương nh ..ơ h.. thương nh ai ?

Sông xa tng lp lp mưa dài

Mt kia em có su cô qunh

Khi chm heo v mt sm mai ?

Rét mướt mùa sau chng sp ng

Bên này em có nh bên kia ?

Dăng dăng mưa bi quanh phòng tuyến

Qunh vng chiu sông lnh bến T .

Khói thuc xanh dòng khơi li xưa

Ðêm đêm sông Ðáy lnh đôi b

Thoáng hin em v trong đáy cc

Nói cười như chuyn mt đêm mơ .

Xa quá ri em người mi ng

Bên này đt nước nh thương nhau .

Em đi áo mng buông hn ti

Dòng l thơ ngây có rt rào ?

Một chiều mùa mưa những năm 1981, hay năm 1982 tôi đạp xếđi lang thang trong những đường phố Sài Gòn thân thương, trái tim tơi buồn và nặng như đá tảng. Trời đổ mưa tôi ghé xe đạp vào tránh mưa trong mái hiên một nhà đường Trương Minh Giảng, gần Nhà Thờ Ba Chuông .

Trên manh chiếu rách trải trong một góc mái hiên ấy một thiếu phụ đang nằm. Ngôn từ Thành Hồ thời gian ấy gọi những người không nhà như nàng là dân Ở Vỉa: ăn ngủ ở vỉa hè. Nàng bụng chửa, nằm quay mặt vào trong. Tôi ngồi bó gối nhìn đường phố trắng xoá dưới cơn mưa lớn. Những điếu thuốc lá Vĩnh Hão vấn lấy cháy trên môi tôi. Chiều ấy tôi làm bài thơ nhắc đến điển Thị Mịch, nữ nhân vật trong tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, và mượn một câu trong Ðôi Bờ của Quang Dũng:

Lc loài góc ph, va hè xưa

Gp em nm ép mái hiên mưa .

Na mái Tây hiên tình t nh !

Chín tng đa ngc não nùng chưa !

T Thc v trn , cù chng nói .

Giáng Tiên xung thế , gi không thưa .

Nàng nghiêng Th Mch, chàng ôm gi.

Khói thuc xanh dòng khơi li xưa .

Tôi là người đưa cái tên “Lucky Ba Hàng Ch vào phóng sự nhưng tôi không phải là người đặt ra cái tên ấy .

Số là hiệu thuốc điếu Lucky Strike của Mỹ có ba loại. Thứ tồi nhất được làm để cung cấp cho Quân Tiếp Vụ Mỹ là thứ rẻ tiền nhất và cũng là thứ tồi nhất. Lucky Strike hai hàng chữ là thứ bán cho dân chúng, phẩm chất khá hơn, dưới đáy bao có in hàng chữ Lucky Strike. Lucky Strike Ba Hàng Chữ là thứ dành để xuất cảng, bán ra nước ngòai, cần cạnh tranh với những hiệu thuốc điếu các nước khác nên có phẩm chất cao nhất. Ngoài hai hàng chữ Lucky Strike in ở đáy bao thuốc, trên thân từng điếu còn có in hàng chữ nhỏ “For Export onlyChỉ dành cho xut cng. Ðiều này có nghĩa là chính dân Mỹ trong nước lại không được thưởng thức thứ thuốc Lucky xuất khẩu này. Từ những năm 1970 hàng chữ trên được đổi là “Singapore duty not paid.

Tôi bắt đầu hút Lucky khoảng năn 1960. Năm ấy giá một bao Lucky Hai Hàng Chữ 28 đồng bạc Việt Nam Cộng Hoà, giá một gói Lucky Ba Hàng Chữ 30 đồng. Như đã nói không phải những công tử Sài Gòn hút Lucky chia Lucky ra làm ba hạng và đặt ra cái tên Lucky Ba Hàng Chữ. Những chị bán thuốc lá vỉa hè Sài Gòn chỉ cho các công tử biết Lucky có ba hạng.

– Sao chị vẫn bán cho tôi Lucky có 28 đồng mà hôm nay chị lấy tôi những 30 đồng ?

– Thứ cậu vẫn mua là Lucky Hai Hàng Chữ. Thứ này Ba Hàng Chữ, ngon nhất đó cậu. Vì là Lucky Ba Hàng Chữ nên giá đắt hơn.

Những năm 1965 giá thuốc Mẽo ở Sài Gòn giống nhau: Philip Morris Vàng, Lucky Strike, Pall Mall, Marlboro, Winston vv.. 70 đồng một gói. Từ 1972 cho đến ngày tan hàng Tháng Tư 1975 giá 400 đồng một gói.

Sau Tháng Tư 1975, Lucky, Pall Mall, Philip Morris biến mất trên hè phố Sài Gòn bị cưỡng chiếm, bị đổi tên trong mười mấy mùa tang thương đen hơn mõm chó. Giờ nay – từ năm 1990 — những thứ thuốc Mẽo ấy lại có mặt ở Thành Hồ như không có chuyện gì xẩy ra cả. Nhưng số người hút thuốc lá Mỹ ở Sài Gòn nay giảm đi nhiều. Những người nghiện Lucky, Philip, Pall Mall năm xưa nay đã trở thành những khứa lão tuổi đời Sáu Bó, Bẩy Bó, nhiều vị đã qua những năm tháng tù đầy vất vả, cơ cực, nhiều vị chưa tịch nhưng không còn sống ở Sài Gòn nữa. Những người hút thuốc điếu trẻ quen với loại thuốc lá vàng 555, Jet, loại thuốc vẫn được gọi là“gu Ăng-lê” không thích thuốc Mỹ là loại thuốc lá nâu, nặng và đậm hơn.

Một buổi chiều vào những năm 1982, 1983 u ám tôi ghé xe đạp vào Công Trường trước chợ Bến Thành đứng nhìn lên toà soạn Nhật báo Sàigòn Mới bên kia đường Phạm Ngũ Lão. Tôi mường tượng hình ảnh tôi những năm 1960 tôi ba mươi tuổi, tôi là nhân viên báo Sàigòn Mới, những buổi chiều năm xưa tôi đứng trên hiên gác kia nhìn sang chợ Bến Thành. Tôi hút mấy điếu thuốc lá trước khi rời đi. Việt Cộng vào Sài Gòn đập phá ngay bức tượng Người Lính VNCH truớc nhà Quốc Hội, chúng giữ lại hầu hết tất cả những bức tượng Thánh Tổ Binh Chủng Quân Đội Quốc Gia VNCH. Tượng Quách thị Trang, người nữ sinh bị trúng đạn chết trong một cuộc biểu tình chống chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963 đặt ở Công Trường Chợ Bến Thành vẫn còn đó, tượng chứng kiến sự hờ hững và hối hả kiếm sống của người Sài Gòn. Cảnh cũ, nguời xưa, tâm trạng mới. Tôi nhớ những câu thơ hoài cổ :

To hoá gây chi cuc hí trường

Ðến nay thm thot my tinh sương .

Li xưa xe nga hn thu tho

Nn cũ lâu đài bóng tịch dương ..

Cảm khái tôi làm bài thơ:

Hỏi Quách thị Trang

Em vn chau mày cùng tuế nguyt

Anh còn trơ mt vi tang thương

Li x xe nga hn tê lit

Nn cũ công trường bóng tch dương .

Mt anh trng, mt em xanh biếc

Hai đa nhìn nhau, đá vi xương .

Ðá vi xương sao tình tha thiết

Ai bo rng âm cách vi dương ?

Tượng đá dãi du , người mi mt

Người cm thương hay tượng cm thương ?

Anh gi hn em từ đáy huyt :

– Quách th Trang …V gia công trường

Ðiếu thuc môi anh làn khói biếc

Cho la hương vn mái tóc hương .

Cho anh thy li mu hoa huyết

Trên áo em xưa trng ta sương .

Hai mươi năm trước ngày oan nghgit

Anh đng nhìn em ngã dưới đường .

Mái tóc xưa xanh nay trng hết

Ðường anh đi chưa hết đon trường .

Chợ đi chen chúc, người la lit

Ai nh em, ai tiếc, ai thương ?

Em nh thương gì , em có tiếc

Nhng vàng thôi đ, thm phai hường ?

Chuyn đi em biết, em không biết

Dim đã tiêu ri , Thiu cũng bương.

Cho anh hi mt câu cui hết

Mt li thôi ri cách âm dương :

– Người xưa hoá đá vì ly bit

Em đi ch ai, Quách th Trang ?

o O o

Những năm 1960 xanh thắm người nữ độc giả thơm như múi mít của tôi theo chồng về Mỹ, mấy năm sau khi trở lại Sài Gòn, nàng nói với tôi :

– Chồng em đưa em đi xem phong cảnh nước Mỹ từ bờ biển miền Tây sang bờ biển miền Ðông bằng xe hơi. Qua bang Virginia em thấy những cánh đồng trồng thuốc lá bát ngát. Bên đường có những tấm bảng đề hàng chữ: “Keep quiet. The Tobacco is sleeping ..” Anh thích hút thuốc lá Mỹ.. Ngày nào anh đến Mỹ khi đi qua những cánh đồng thuốc lá ở Virginia anh sẽ nhìn thấy tấm bảng ấy. Em chắc anh sẽ cảm động.

Năm mươi mùa lá rụng ngày xưa chẳng có bao giờ tôi mơ có ngày tôi đặt chân lên đất Mỹ. Nhưng rồi bánh xe đời dù khấp khểnh, dù muộn màng  cũng đưa vợ chồng tôi đến Mỹ trong một ngày thu muộn. Không những tôi chỉ sống nhờ trên đất Mỹ mà thôi, tôi còn sống ở ngay đồng đất Virginia , nơi có những cánh đồng trồng thuốc lá mênh mông. Nhưng đến nay, gần 20 mùa lá rụng, tuyết rơi, hoa anh đào nở bên dòng Potomac, không một lần nào tôi đi thăm những cánh đồng thuốc lá Virginia. Trong tưởng tượng tôi nhìn thấy cảnh tiêu điều, hoang tàn của những cánh đồng ấy khi thuốc lá bị coi là thứ thuốc độc hại người. Tôi đã nhìn thấy trước ở đó những tấm bảng đề hàng chữ :

 Keep crying !
The Tobacco is dead !
Khóc đi Em !
Thuc lá đã chết !

Nhưng bị triệt hạ, bị cấm đoán, Thuốc Lá, Thuốc Điếu Mỹ tuy đang chết nhưng vẫn chưa chết.

Tôi viết thêm:

Keep crying
The Tobacco is dying.
Khóc đi Em
Thuốc lá đang chết.

Theo tôi, trong thuốc điếu Mỹ: Lucky Strike, Pall Mall, Philip Morris, và thuốc pipe Mỹ: Seventy 9, Half and Half, có thuốc phiện.

Đến Virginia Mỹ đã hai mươi năm, tôi chưa một lần nhìn thấy một cánh đồng trồng thuốc lá nào.

Lý Quang Diệu và Hoa Kỳ

lyquangdieu

Tháng Sáu 2014, tìm trên Web tôi gặp bài viết về Hoa Kỳ của ông Lý Quang Diệu. Thấy bài hay tôi gửi bài đến quí vị

Lý Quang Diệu viết về Hoa Kỳ.

Biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh. Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Chỉ có kẻ ngu mới chống Hoa Kỳ (Lý Quang Diệu)

HOA KỲ: Nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí Số 1

Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin, Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này.

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam. (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam, là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam. Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.

Ông bà Lý Quang Diệu năm 2005.

Ông bà Lý Quang Diệu năm 2005.

Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore. Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.

Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.

Tại sao tôi lại tin vào thành công về dài hạn của Hoa Kỳ?

Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore. Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một Trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York. Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York, bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.

Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu làm lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, Hoa Kỳ là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí trong các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 5 năm 2014
danquyenvn.blogspot

Ngày 3 Tháng Sáu 2014.Rừng Phong, Xứ Tình Nhân. Kỳ Hoa Đất Trích.

CTHĐ Sao Y Bản Chính

GIANG HỒ SÀI GÒN

Đại Cathay và vợ. Sài Gòn 1960.

Đại Cathay và vợ. Sài Gòn 1960.

Chuyện “Du Đãng Sài Gòn,” theo trí nhớ của tôi, lên nhật báo và đến trong ngôn ngữ người Sài Gòn năm 1960. Năm này – 1960 – là năm tình hình Sài Gòn và toàn quốc Việt Nam Cộng Hoà lên đỉnh cao an ninh nhất.

Hai anh Lâm Thợ Điện và Hùng Mặt Mụn, được gọi là “du đãng,” là hai anh bạn khá thân nhau. Lâm Thợ Điện khoẻ hơn, thường bắt nạt và đánh Hùng Mặt Mụn. Hôm ấy Hùng Mặt Mụn bị Lâm Thợ Điện đánh, chạy vào một hẻm đường Nguyễn Thiện Thuật. Lâm Thợ Điện theo vào hẻm. Hẻm cụt, không còn đường chạy, Hùng Mặt Mụn cùng đường, rút dao đâm chết Lâm Thợ Điện. Hùng bị bắt. Kẻ viết những dòng chữ này không nhớ Hùng bị án tù bao nhiêu năm.

Là hội viên Hội Cơm Nhà Quà Vợ thuần thành, sống theo pháp luật, những năm 1960, 1965 tôi có nghe nói đến những tay du đãng Sơn Đảo, Đại Ca Thay, Huỳnh Tỳ vv..vv.. nhưng tôi mù tịt về những anh này. Những gì tôi biết về du đãng Sài Gòn chỉ là những chuyện tôi nghe nói. Những năm 1980, 1981 đọc trên báo Việt Cộng, tôi thấy vài tin về một số tay du đãng Sài Gòn chạy sang Mỹ bị cảnh sát Mỹ bắt, trong số có anh Tài Chém. Tôi được gặp Tài Chém ở Sài Gòn. Ký giả Hồng Dương giới thiệu tôi với Tài Chém ở Café Tự Do. Năm 1995 khi gặp lại Hồng Dương ở Cali, tôi hỏi thăm Tài Chém. Hồng Dương cho biết:

“Tôi có gặp nó. Nó sống yên lành rồi. Hồi mới sang cũng có phá phách quen như ở Sài Gòn nhưng nó nói bị cảnh sát Mỹ bắt tống vào phòng giam với Mỹ Đen, bị nó hiếp. Đau lắm. Sợ. Không dám làm bậy nữa.”

Những năm 2000, tôi đọc trên Internet một số bài viết trên Tuần Báo Công An của bọn Công An Thành Hồ, tuần báo Tuổi Trẻ, về một số tay du đãng của Sài Gòn trước năm 1975. Những bài gọi là phóng sự — hồi ký  này thường thổi phồng hành động, tác phong của bọn du đãng Sài Gòn Xưa và đánh hạ giá những sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Tôi đọc mà thấy khó chịu. Tháng Tư 2014 tôi thấy trên Internet bài viết về Du Đãng Đại Ca Thay. Tác giả là ông “Trúc Giang. Viết ở Minnasota Ngày 19 – 12, 2011.”

Ông Cựu Tù Trần Tử Thanh trong bộ đồ Tù Khổ Sai.

Ông Cựu Tù Trần Tử Thanh trong bộ đồ Tù Khổ Sai.

Tôi nghĩ:

“Ông này là anh em ta. Viết ở Mỹ. Chắc không có giọng đề cao, hạ thấp như những anh viết ở Sài Gòn. Đọc xem sao.”

Tôi đọc và đăng lại bài viết về Đại Cathay của ông Trúc Giang.

Trúc Giang: Với chức vụ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan quyết tâm bài trừ du đãng. Trung Tâm Bài Trừ Du Đãng đặt ở bên kia cầu Bình Triệu, Tướng Loan cho thành lập Biệt Đội Hình Cảnh và chỉ định Đại úy Trần Kim Chi chỉ huy.

Theo lịnh của Tướng Loan, Biệt Đội Hình Cảnh (BĐHC) được quyền bắn hạ tại chỗ bất cứ tên du đãng nào gây án trên đường phố và chống lại cảnh sát hành sự. Sau một thời gian hoạt động, BĐHC chỉ tóm được những tên du đãng tép riêu. Đối tượng mà cảnh sát nhắm tới là Đại Cathay thì vẫn nhởn nhơ, thách thức.

Trần Đại không cướp giật, không bị ai tố cáo nên không có đủ bằng chứng để hốt vào tù. Đóng tiền bảo kê là những người làm ăn phi pháp nên cũng không có ai thưa kiện gì cả. Giang hồ có luật lệ riêng của nó, những ai phản bội thì bị trừng phạt, từ việc lấy thẹo cảnh cáo đến thủ tiêu, cho nên không ai dám bán rẻ anh em, vì thế nhà chức trách rất khó làm việc.

Phụ tá Tướng Loan là Trung tá Mã Sanh Nhơn đưa thơ mời Trần Đại đến trình diện Tổng Nha Cảnh Sát QG. Đại đến. Tướng Nguyễn Ngọc Loan ra lịnh:

- Anh phải giải tán băng đảng. Không được lộng hành.

Trần Đại đồng ý với một điều kiện, là cho bọn đàn em được toàn quyền làm ăn hợp pháp trong việc khai thác các dịch vụ ở các kho, bến tàu bên Khánh Hội, khu vực Cầu Muối, hai bên bờ sông Tẻ, dưới hình thức một nghiệp đoàn bốc vác.

Một đề nghị thật là xấc láo, chơi gác chính quyền, là đòi hợp pháp hoá băng đảng dưới quyền điều khiển của tên trùm xã hội đen. Đúng là tuổi trẻ ngông cuồng không đọ sức mình cũng như châu chấu đá xe, đem trứng chọi đá vậy. Tướng Loan tức giận nói:

- Tôi ra lịnh cho anh phải giải tán hết. Anh không có quyền điều đình, mặc cả ở đây. Ngày nào tôi còn ngồi ở chiếc ghế nầy, thì ngày đó, cái đám giang hồ cắc ké của mấy anh không còn đất sống.

Trần Đại trả lời :

- Giang hồ không có vua, tôi làm sao có quyền ra lịnh cho các băng đảng được.

Cuộc đối thoại kết thúc. Kể như Đại Cathay tuyên chiến với cảnh sát. Trần Đại không nể mặt chính quyền, tiếng tăm lại nổi lên như cồn trong giới giang hồ, và Đại Cathay không biết được thái độ đó đã đẩy hắn đến gần ngày về chầu Diêm chúa.

Tướng Nguyễn Ngọc Loan chỉ huy Cảnh Sát Quốc Gia trên cả nước, kiêm Chỉ huy trưởng Cục An Ninh QĐ và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo. Đụng với Tướng Loan như vuốt râu hùm, không thể tránh bị cọp vồ, xé xác.

Một buổi tối, Đại và cả chục anh em y kéo đến vũ trường Olympia trên đường Lê Lợi cạnh bệnh viện Sài Gòn, gồm có Lâm 9 ngón, Lành Cầu Muối đến quậy vũ trường nầy. Trong lúc đang vui đùa thì Biệt Đội Hình Cảnh do Thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy đến bao vây, bắt cả bọn. Một trận đấu súng kinh hồn xảy ra, cả vũ trường kinh hoàng. Thiếu úy Trần Tử Thanh là tay thiện xạ, đã bắn què giò Đại Cathay. Nhờ quản lý vũ trường cúp điện, nên bọn đàn em đưa Đại chạy thoát.

Tiếp theo đó, Ban Bài Trừ Du Đãng hốt từng tên đàn em của Đại.

Bị nao núng, Đại tìm cách mua chuộc và hoãn binh. Một buổi tối, hắn bao nguyên nhà hàng Paramount, mở tiệc mời Đại úy Trần Kim Chi, Trưởng Ban Bài Trừ Du Đảng đến nhậu. Sau một tuần rượu, Đại lên tiếng :

- Nếu Đại úy chịu thả đàn em của tôi ra, thì tôi sẽ đền ơn xứng đáng.

Viên Đội trưởng Biệt Đội Hình Cảnh thẳng thừng trả lời :

- Ăn nhậu là ăn nhậu. Bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây để mua chuộc, mặc cả, thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Trần Đại nhũn nhặn :

- Ồ, không không, nếu Đại úy không thuận thì thôi. Còn hôm nay tôi mời Đại úy đến đây là để cho anh em vui vẻ. Mời Đại úy tự nhiên.

Sau bữa tiệc chừng nửa tháng, một chiếc xe be chở 5,6 thân cây to lớn, nặng nề, không rõ xuất xứ, đã bò qua, cán dẹp lép chiếc xe con cóc Citroen 2 ngựa, làm cho tài xế và Đại úy Chi chết tại chỗ trên xa lộ. Chiếc xe be chạy mất, không nhìn được bảng số.

Giang hồ lại bàn tán, chính Đại Cathay là đạo diễn tấm thảm kịch đó. Dư luận đó không chỉ làm nổi danh Đại Cathay, mà còn đưa số phận của tên trùm du đảng, càng đến gần ngày xoá tên trong danh sách của Nam Tào Bắc Đẩu, để cho Ngọc Hoàng giũ sổ.

Tháng 8 năm 1966, Đại úy Nguyễn Văn Thọ được cử về chỉ huy Biệt Đội Hình Cảnh, thay chỗ của Đ/U Chi vừa qua đời. BĐHC được dời về Tổng Nha CSQG.

Đ/U Thọ xin Sự vụ lịnh hành quân, rồi đích thân mở chiến dịch lớn, đem xe cây đến tận hang ổ, xúc từng tên và quét sạch bọn đàn em, đồng thời cũng túm cổ Đại Cathay, bác sĩ Nghiệp, Lâm 9 ngón, Hạnh Sún.

20 ngày sau, bọn Đại bị tống lên phi cơ vận tải C-47 đưa ra giam ở Trung Tâm Hướng Nghiệp, đảo Phú Quốc. Ở đó, Đại Cathay đổi tên Trung Tâm Hướng Nghiệp thành Trại Cửu Sừng, bằng cách bốc đại một con mạt chược, trúng con nào thì lấy tên con đó. Cửu Sừng là điểm đến của những tên sa lưới pháp luật bởi những hành vi phạm pháp.

Vợ của Đại và người anh tên Cảnh Alain vung tiền ra cứu Đại. Khi biết được người vợ tìm cách chạy chọt, lo lót cho Đại vượt ngục, thì tương kế tựu kế, cảnh sát giương ra cái bẩy, cố ý cho bọn du đãng vượt trại để có cơ hội trừ khử.

Vợ của Đại Cathay là một trong nhóm người thăm nuôi đầu tiên được ra Phú Quốc để gặp thân nhân. Các vị chỉ huy trại được chỉ thị làm lơ cho bọn Trần Đại tổ chức cuộc trốn trại. Trong cái áo lạnh mà vợ Đại mang ra đảo, có 62 cây vàng để Đại lo lót cho vụ trốn trại.

Vợ Đại cho Đại biết :

- Đám lính gác sẽ làm ngơ cho bọn Đai thoát ra được ngoài trại.

- Một chiếc xuồng máy chờ sẵn ở bờ biển đưa bọn Đại  ra khơi.

- Một tàu hải quân được bố trí để đưa bọn Đại về đất liền.

12 giờ đêm ngày 7/1/1967, Đại cầm đầu bọn đàn em thoát ra ngoài trại tù. Theo kế hoạch, đám tù chia làm hai nhóm.

Nhóm 1. – 5 người đi trước làm nghi binh. Nhóm tù này chờ đợi bị bắt lại.

Nhóm 2. – Đại và Hải Sún chạy ra hướng biển.

Bất ngờ. Khi 2 nhóm vừa ra khỏi hàng rào thì còi báo động vang lên inh ỏi. Nhóm 1 có Xì Kíp và Hùng Mỏ Chuột bị tóm cổ ngay. Đại và Hải Sún bèn thay đổi kế hoạch, thay vì chạy ra biển, thì chạy ngược về phía Núi Tượng, nơi đó có Vi-Xi ẩn núp.

Đến đây, không ai tận mắt trông thấy Đại Cathay và Hải Sún mất tích như thế nào cả.

Sau đó, nguồn tin có thẩm quyền tiết lộ, khi biết Đại chạy vào Núi Tượng, thì một tiểu đội biệt kích do Thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được chở từ Sài Gòn ra Phú Quốc chờ sẵn để truy kích với lệnh là bắn hạ bọn tù vượt trại tại chỗ. Toán biệt kích ngụy trang trong những bộ bà ba, đội mủ tai bèo, mang dép râu, xử dụng AK-47.

Tiêu diệt xong, chôn, đắp mộ dựng bia đàng hoàng tử tế để dễ nhận dấu và làm bằng chứng dư luận. Thiếu úy Trần Tử Thanh sau đó xác nhận, chính đương sự đã nổ súng hạ gục Đại Cathay ở đảo Phú Quốc.

Trần Đại tuổi trẻ kiêu căng, ngạo mạn, khinh thường pháp luật, giởn mặt chính quyền lại còn cả gan vuốt râu hùm, là tự ký tên vào bản án tử hình của hắn. Tướng Nguyễn Ngọc Loan dẹp loạn miền Trung còn được, huống hồ gì cái đám cắc ké dao búa, đâm thuê chém mướn không biết trời cao đất rộng là gì, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.

Đại Cathay đã sống trọn một kiếp giang hồ và cũng đã chết bởi luật giang hồ. Sanh nghề tử nghiệp là thế đấy.

CTHĐ: Sao Y Bản Chính.

Tôi thấy tác giả Trúc Giang cũng viết những chuyện quá đáng, như chuyên “Trung Tá Mã Sanh Nhơn đưa thơ mời Đại Cathay đến Tổng Nha Cảnh Sát, Tướng Nguyễn Ngọc Loan tiếp Đại Cathay. .v..v.. Đội truy kích bọn Đại Cathay trốn trại ở đảo Phú Quốc giả làm bọn lính VC ..v..v..”

Đọc chuyện xưa tôi théc méc: Du đãng Sài Gòn những năm 1960, 1970 đa số trong tuổi quân dịch, đa số trốn lính, bọn du đãng hung hãn, hung hăng với nhau, đe dọa dân lành, trông thấy cảnh sát là lủi mất. Cảnh sát tóm những tên này có gì khó; không cần có án mới bị bắt, Luật cho phép cảnh sát bắt giam những kẻ bị coi là “thành tích bất hảo.”

Tôi chú ý đến bài viết của tác giả Trúc Giang không phải vì tò mò chuyện Đại Cathay mà vì bài báo viết đến nhân vật Trần Tử Thanh. Năm 1988 tôi năm phơi rốn cùng ông Tù Trần Tử Thanh trong Phòng 10 Khu ED Nhà Tù Chí Hoà. Năm 1995 tôi gặp lại ông Trần Tử Thanh ở Kỳ Hoa Đất Trích. Ông sống ở Virginia. Tôi đăng bài này để:

“Kính thưa ông Cựu Sĩ Quan kiêm Cựu Tù Chí Hoà Trần Tử Thanh. Có phải ông là ông Thiếu Úy Trần Tử Thanh, người bắn chết Du Đãng Đại Cathay ở đảo Phú Quốc năm xưa không?”

Tôi mời quí vị đọc một bài bọn Sài Gòn Cờ Máu viết về Sơn Đảo. Quí vị đọc chơi. Đọc qua rồi bỏ. Bài này là một trong những bài viết đề cao du đãng, bôi bác chính quyền VN. Một bài viết tầm bậy.

Sơn “Đảo” tên thật là Vũ Đình Khánh vốn là một du đãng từ Hà Nội di cư vào Sài Gòn từ trước những năm 1960. Ngay từ nhỏ hắn đã thể hiện sự ngang tàng của mình qua những vụ đánh lộn và cướp bóc. Sau khi Tướng “râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ lên nắm  chức vụ lãnh đạo Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, ông chủ trương “bài trừ du đãng” và lập ra đội quân “đặc quyền” chuyên hoạt động trong lĩnh vực này. Sơn bị bắt trong một lần quỵt tiền taxi tại Q1 và bị đưa ra tòa xét xử tuyên án 5 năm tù tại Côn Đảo.

Những tưởng bản án này “cải tạo” được Sơn nhưng không ngờ tại đây, hắn đã trở thành “đại bàng”, gây dựng thanh thế trong giới tội phạm. Và cũng giống như Đại Cathay, Sơn cũng được gắn tên vùng đất thành danh của mình là Sơn “Đảo” từ ngày đó. Sau khi về Sài Gòn, bằng những mánh khóe học được trong tù Sơn  len lỏi làm thân với một vài sĩ quan Sư đoàn Dù “quý tộc” của quân đôi. Hắn tập thể hình khiến cho cơ thể phần trên rất bệ vệ, ngực nở phồng to tướng khiến hai tay như không thể khép sát vào nách, tuy nhiên hai chân thì bé tí tẹo. Khi về Sài Gòn, hắn mở sòng bạc tại Tân Bình và nghiễm nhiên trở thành ông trùm trong giới đỏ đen. Sơn thường xuyên sử dụng xe hai bánh phân khối lớn và kè kè bên mình lúc nào cũng có Trung tá Đường của Sư đoàn Dù.

Thời điểm bấy giờ, họ hàng quan chức của các tướng lĩnh Sài Gòn ra sức cấu kết với các băng nhóm giang hồ để làm giàu. Chúng xây các tòa nhà cho các băng đảng giang hồ thuê để mở vũ trường, sàn nhảy thoát y, sòng bạc và kể cả việc buôn bán ma túy. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có một người em vợ được giới giang hồ gọi là “Cậu Mười”. Dựa hơi anh rể là tổng thống, chị gái là “đệ nhất phu nhân” của Việt Nam Cộng hòa, cậu Mười bất chấp pháp luật, cậu giao du với đám giang hồ. Các “đại ca” lúc bấy giờ được làm ăn với cậu cũng là vinh dự và an toàn bởi đã có cái “dù” rất lớn che chở. Khoảng cuối năm 1973, cậu Mười xây dựng một tòa nhà 5 tầng trên đường Trương Minh Ký để cho các đại ca giang hồ thuê mở sòng bạc, vũ trường.

Vào một buổi sáng, Y “cà lết” tức là Phạm Bá Y — một tay giang hồ bị thọt chân đi cà nhắc chuyên “thâm canh” ma túy tại khu vực sau Bệnh viện Từ Dũ, chở trên xe hơi một cô gái tên Trang — vũ nữ của vũ trường Barcaras (Trang là vợ tay giang hồ Lộc điên, lúc này Lộc đang thụ án tù vì buôn ma túy) đến gặp cậu Mười để hỏi thuê một tầng lầu làm điểm kinh doanh. Duy chỉ còn có lầu 3 còn trống nên cậu Mười đồng ý cho Y thuê tầng này. Khi Y và Trang chuẩn bị ra về thì một chiếc xe phân khối lớn lao đến, trên xe không ai khác đó là Sơn “đảo” và chở sau lưng là Thiếu tá Đường. Khi thấy Sơn, Trang liền vồ tới ôm Sơn, gọi liên tiếp anh Sơn (Trang cũng là bồ nhí của Sơn). Sơn vừa ôm Trang vừa gọi cậu Mười xuống hỏi thuê phòng làm điểm kinh doanh sòng bạc.

Vốn không ưa gì Sơn nên cậu Mười nói chỉ còn lầu 3 trống nhưng em nói muộn quá nên qua vừa cho thằng Y “cà lết” mướn rồi. Sơn đảo mắt xung quanh thì thấy Y đang ngồi trong xe hơi, Sơn hỏi Trang:

“Em đi với thằng đó à?”

Trang gật đầu. Sơn đến lôi Y ra khỏi xe, đánh Y hai tát vào mặt làm Y rơi kiếng xuống đất. Y ngước lên hỏi:

“Tại sao anh đánh tôi?”

Sơn hỏi lại:

“Mày biết tao là ai không?”,

Y trả lời “biết”. Sơn lại hỏi:

“Biết sao không xuống xe chào tao? Tao đánh mày vì tội mày biết tao mà không chào tao.”

Y gằn giọng:

“Chào hay không là quyền của tao, nhưng mày nên nhớ cái tát này.”

Nói dứt lời, Y gọi Trang rồi khoát tay chào mọi người, cả hai lên xe biến mất. Tưởng rằng sự việc bình thường nhưng Y đã rắp tâm trả thù. Sau vụ việc hôm đó, Y không thuê sòng bài nữa mà dẫn theo một số đàn em thân tín lên Đà Lạt. Hắn yêu cầu chủ khách sạn cho Y mướn phòng ba tháng. Dù không ở nhưng hắn vẫn trả tiền đủ và yêu cầu chủ khách sạn ghi tên lưu trú của hắn tại đây suốt ba tháng trời. Sau đó Y âm thầm quay lại Sài Gòn tìm cách giết Sơn trả thù.

Vào một ngày cuối tháng 1-1975, Y phát hiện Sơn cùng đám sĩ quan Dù đang ăn chơi nhảy múa tại vũ trường Crystal trên đường Lê Lợi. Y “cà lết” bố trí đàn em chở mình bằng xe máy với khẩu Colt 45 thủ trong người. Hậu thuẫn phía sau cho hắn là chiếc xe hơi chở bọn đàn em thiện chiến được trang bị hỏa lực mạnh, phòng xa nếu lính Dù ra tay can thiệp thì phải có sự yểm trợ khi rút lui. Sau khi nắm rõ tình hình, Y thuê một đứa trẻ đánh giày ngay trước cửa vũ trường với giá 10 đồng để xì hơi bánh xe của Sơn đang để trước cửa, sau đó hắn nép vào gốc cây bên đường nơi có điểm vá xe phục sẵn. Trong ánh đèn leo lét trên đường Lê Lợi lúc nửa đêm, Sơn “đảo” cùng thiếu tá Đường vãn cuộc rượu loạng choạng ra về nhưng phát hiện bánh bị hết hơi nên dắt sang điểm vá xe bên kia đường kiểm tra.

Đúng như kế hoạch của Y, khi Sơn cúi xuống nhìn bánh xe thì ngay lập tức từ phía sau hốc cây phát ra một tiếng quát:

“Sơn Đảo!”

Sơn ngước nhìn lên, bất ngờ một tiếng súng nổ. Mùi thuốc súng khét lẹt, viên đạn găm vào vai khiến Sơn ngã xuống. Y “cà lết” gằn giong:

“Mày có biết tại sao tao giết mày không, Sơn?”

Sơn bị thương rất nặng nhưng vẫn nhận ra người hỏi là Y “cà lết”. Sơn thều thào:

“Không lẽ vì chuyện nhỏ vậy mà mày bắn tao hả Y?

Y “cà lết” lạnh lùng:

“Tao nói trước với mày rồi, vì cái tát đó nên mày phải chết.”

Nói dứt lời, Y nã  hai phát đạn vào bụng Sơn rồi lên xe máy đàn em chờ sẵn rú ga chạy. Sự việc diễn ra quá bất ngờ khiến Thiếu tá Đường mặc dù có súng lăm lăm bên người nhưng không dám rút ra mà bỏ chạy mất. Sơn “đảo” được đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng  chết sau đó hai tiếng đồng hồ. Thời điểm bấy giờ có giả thiết cho rằng nguyên nhân vụ án mạng trên là do Sơn lấn lãnh địa vào Cây Da Xà của Bảy Diệm nên bị trùm giang hồ này giết. Về phần Y “cà lết” sau giải phóng đã bị kết án tử hình vì phạm tội cướp của giết người trong nhiều vụ án khác. Trước khi ra pháp trường, Phạm Bá Y đã thừa nhận Sơn “đảo” do chính y bắn chết để trả thù cho cái tát trước nhà cậu Mười trên đường Trương Minh Ký năm xưa.

CTHĐ: Sao Y Bản Chính.

Tôi nhắc lại: Quí vị đọc chơi rồi quên. Bài viết bậy bạ.

THÁNG NĂM 1945

Một trong những cô đầm Pháp can tội lấy Lính Đức bị cạo trọc đầu giữa  đường.

Một trong những cô đầm Pháp can tội lấy Lính Đức bị cạo trọc đầu giữa
đường.

Virginia Tháng Năm 2014. Trời mát. Với CTHĐ đây là những ngày dễ chịu nhất trong năm. Bốn, năm giờ chiều trời nắng vàng, tôi đi dạo một vòng qua Rừng Phong. Sáng nay nắng đã lên, 9 giờ sáng, tôi mở computer bắt đầu bài Viết ở Rừng Phong.

Tháng Năm 1945 Lính Mỹ vào Paris. Những cô đầm Paris chào mừng các chàng GI. Um hun thấm thít. Những chưa quá 12 tháng, Paris đã có những tấm biểu ngữ “USA GO HOME.”

Tháng Năm 1945 Lính Mỹ vào Paris. Những cô đầm Paris chào mừng các chàng GI. Um hun thấm thít. Những chưa quá 12 tháng, Paris đã có những tấm biểu ngữ “USA GO HOME.”

Sang Hoa Kỳ đã 20 năm, tôi đã hơn một lần viết về chuyện năm 1945 một số phụ nữ Pháp bị đàn ông Pháp hành hạ, làm nhục vì tội giao thiệp thân mât với những quân nhân Đức Quốc Xã. Tội chính của những người phụ nữ Pháp bị hành hạ này là tội lấy lính Đức, sống chung với lính Đức, đem thân xác phục vụ lính Đức; đổi thân xác lấy bơ thừa,sưã cặn của lính Đức.

Tháng Tư 1944 Đức Quốc Xã bại trận, lình Đức ở Pháp chạy về Đức, bỏ những cô đầm Pháp ở lại chịu trận. Những cô đầm này bị lôi ra cắt tóc, cạo trọc đầu ở giữa đường. Các cô, với những cái đầu trọc, bị bắt đi riễu phố. Có cô bị lột truồng. Nhiếu tấm ảnh ghi lại những cảnh tôi cho là đáng buồn cho đàn ông Pháp.

Chút tình “Quân tử Tầu” trong tim tôi làm tôi cảm thương những cô đầm Pháp đem thân xác phục vụ lính Đức đổi lấy thực phẩm, nôm na là miếng ăn. Các nàng là nạn nhân của việc đàn ông Pháp hèn yếu không giữ được nước. Tôi bất nhẫn khi thấy bọn đàn ông Pháp không hào hiệp chút nào – không “galant “– với những người phụ nữ của họ. Tài liệu ghi có đến 20.000 cô đầm bị cạo trọc trên toàn nước Pháp trong Tháng Năm 1945. Ở những nước Âu châu bị Quân Đội Hitler chiếm đóng, như Ý, Na Uy ..v..v..cũng có chuyện những phụ nữ lấy lính Đức bị hành hạ nhưng không nhiều, không tàn nhẫn như ở Pháp. Nhiều cô đầm Pháp bị cạo trọc sau đó đã tự tử.

Tìm trên Web những tài liệu mới về Paris Tháng Năm 1945, tôi thấy một chuyện mới, một chuyện tôi chưa từng nghe, đọc; đó là chuyện kể về tình trạng những người Lính Mỹ — những chàng GI’s – đào ngũ, trở thành đạo tặc khi vào đất Pháp, đất Đức.

Những năm 1960 tôi đọc những lời ca tụng lính Mỹ  vào nước Pháp: những quân nhân trẻ, khoẻ manh, văn minh, đem an ninh đến cho nhân dân Pháp. Những đoàn quân ngoại quốc xấm chiếm Âu châu trong lích sử là những đạo quân dã man, đi đến đâu là tàn phá, hiếp tróc, cướp thực phẩm. y phục của dân địa phương, gieo rắc dịch bệnh cho dân địa phương. Đoàn quân Mỹ vào Pháp năm 1944, 1945 là đoàn quân ngoại quốc thứ nhất đem thực phẩm, thuốc men vào cho dân địa phương. Họ sạch, khoẻ, không bệnh tật. Họ được ca tụng hết lời.

Nay tôi đọc được trên Web:

During the Second World War, the British lost 100.000 troops to desertion, and the Americans 50.000. Commonwealth from Canada, Australia, New Zealand, South Africa and Britain’s colonial empire also left the ranks in their thousands. But, surprisingly, only one WWII deserter was executed for his crime.

Trong Thế Chiến Thứ Hai, quân đội Anh Quốc mất 100.000 lính đào ngũ, quân đội Mỹ Quốc mất 50.000 lính. Quân Khối Thịnh Vượng Chung, gốm Canada, Australia, New Zealand, Nam Phi và các nước thuốc địa của Đế Quốc Anh mất nhiều ngàn lính, nhưng chuyện ngạc nhiên là chỉ có một binh sĩ Thế Chiến Thứ Hai đào ngũ bị tử hình.

Đây là bài viết về tác phẩm:

THE DESERTERS, A Hidden History of WORLD WAR II

Tác giả Charles Grass.

Những sự thật không được kể về những người Lính Mỹ đào ngũ trong Thế Chiến Thứ Hai mà Quân đội Mỹ muốn dấu.

soldier50.000 lính Mỹ đào ngũ. 49 người bị kết án tử hình nhưng chỉ có một người bị ra đứng trước đội hành quyết.

Quân đội Mỹ không cho người vợ của người lính bị xử bắn biết tội của chồng. Người vợ lính ở Hoa Kỳ nhận được giấy báo ông chồng tử trận.

Vài tuần lễ sau ngày quân Đức Quốc Xã đầu hàng, Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt ở Âu Châu, Paris rơi vào tình trạng hỗn loạn đầy những tội ác do những người Lính Mỹ đào ngũ gây ra.

Người Paris hân hoan chào đón những binh sĩ Đồng Minh đến giải phóng họ, nhưng chưa đầy một năm sau họ đã phải trưng những biểu ngữ “USA Go Home.”

Lính Mỹ đào ngũ vẫn bận quân phục, có võ khí, sống trong những nhà chưá gái, sống bằng chợ đen. Họ bán súng, quân cụ, quân xa, làm giả căn cước Mỹ. Họ đánh cướp những Nhà PX Mỹ, họ bán ra chợ đen bơ, sữa, rượu, thuốc, máy đủ thứ. Nhiều tốp năm, ba người tụ tập vào cướp những nhà giầu người Pháp, nhà Băng Pháp. Họ hiếp dâm phụ nữ Pháp.

Từ Tháng Sáu 1944 đến Tháng Tư1945, Cơ Quan Điều Tra Tội Phạm của Quân Đội Mỹ – The US Army’s Criminal Investigation Branch – CBI – phải xử 7.912 vụ lính Mỹ phạm tội hình sự, 49 can phạm bị án tử hình, nhưng như đã ghi trên đây, chỉ có một người bị xử bắn.

Người lính Mỹ không may đó là Eddie Slovik. Ngày 30 January 1945 Slovik bị đưa tới một làng quê và bị bắn ở đây. Vợ anh, chị Antoinette, ở Mỹ, được giấy báo chồng chị tử trận trên đất Pháp.

Alfred T Whitehead là người lính Mỹ đào ngũ gặp và kể chuyện cuộc đào ngũ của anh với Charles Glass tác giả “The Deserters.”

Whitehaead là một thanh niên trang trại ở Tennessee. Anh nhập ngũ để thoát khỏi cuộc sống vất vả, u tì ở trại. Ngoài việc phải làm việc cực nhọc, anh còn bị ông Bố Dượng hành hạ. Anh nói anh dự cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên bờ biển Normandy. Anh dự nhiều trận đánh ác liệt, anh có huy chương Silver Star, huy chuơng Đồng, được tuyên dương trước hàng quân. Vào đất Pháp anh bệnh. Nằm bệnh viện ra, anh được gửi tới đơn vị mới ở Fontainebleau. Trường hợp đào ngũ của anh không ra làm sao cả. Đến căn cứ đơn vị mới, anh lính chưa có tiền lương, anh không được vào cantine trong đơn vị vì anh chưa có cái thẻ gọi là pass để vào. Đi lang thang trong phố, anh lính GI vào một tiệm cà phê. Chị đầm hầu bàn biết anh đói nhưng không có tiền ăn, chị đem đến cho anh đĩa trứng chiên với mấy miếng khoai chiên. Chị đầm đưa anh về căn phòng trọ của chị. Anh ngủ lại đây với chị rồi vì quá chán đời lính, lại biết chiến tranh sắp chấm dứt, anh quên đường về căn cứ. Sau vài ngày anh bị truy tố tội AWL – Absence Without Leave – Vắng Mặt không phép. Chị đầm giới thiệu anh với một nhóm lính Mỹ đào ngũ sống trong vùng. Anh gia nhập nhóm này. Người Trưởng Nhóm là một Trung Sĩ, những cuộc đánh cướp được hoạch định như một cuộc đột kích quân sự. Whitehead kể:

“Đánh cướp những PX Mỹ là ngon lành nhất: dễ làm, lấy được nhiều hàng dễ bán ra tiền: rượu, thuốc lá, bơ, đường, sưã. Chỉ trong 6 tháng phần tiền được chia của tôi lên tới 100.000 đô Mỹ. Ngày 7 Tháng Năm, 1945 người ta loan báo Quân Đội Đồng Minh chiến thắng ở Âu Châu, Đức dau hàng, người ta vui mừng, nhẩy múa, ca hát ngoài phố. Riêng tôi bí sị bên chai rượu. Tôi nghĩ: Mình sẽ sống ra sao đây.”

Whitehead bị bắt, bị đưa về nhà tù ở New Jersey.

Năm 1995  cuộc đời anh Lính Mỹ Eddie Slovik đào ngũ được làm thành phim, diễn viên Martin Sheen đóng vai Eddie Slovic.

o O o

The Dark Arena là tiểu thuyết đầu tay – thứ nhất – của Mario Puzo, tác giả The Godfather.

Mario Puzo nhập ngũ và có sang dự chiến ở Âu Châu. Nhân vật trong The Dark Arena là một số lính Mỹ sống bất hợp pháp ở những thành phố nước Đúc bị tàn phá vì chiến tranh. Walter Mosca là nhân vật chính của The Dark Arena. Là một hạ sĩ quan Quân Mỹ vào chiếm đóng nước Đức, Mosca gặp và yêu Hella. Nhưng Luật Mỹ cấm quân nhân Mỹ kết hôn với phụ nữ những nước bại trận bị chiếm đóng, kể cả việc linh Mỹ sống chung với phụ nữ Đức cũng là việc bất hợp pháp. Hết thời hạn phục vụ Mosca phải về Mỹ. Khi chia tay Hella, Mosca tưởng đó là cuộc vĩnh biệt, chàng sẽ không bao giở trở lại với nàng. Nhưng cuộc sống nhàn tản đến nhạt nhẽo ở một tỉnh nhỏ nước Mỹ làm cho người cựu chiến binh Mỹ thấy chán. Anh đã sống đời lính trong ba năm. Anh đã sống những dây phút dữ dội ở xứ người. Anh thương nhớ Hella. Anh trở lại nước Đức.

Năm 1971 tôi dịch The Dark Arena ra chữ Việt, tên truyện  Trở Vế Tội Ác. Năm 2000 ở Hoa Kỳ tôi gặp bản truyện Trở Về Tội Ác do Nhà Xuân Thu tái bản. Tôi trích vài đoạn:

Chàng nhớ lại những cảnh tàn phá chàng đã thấy, đã đi qua. Nay chàng trở lại thành phố hoang tàn mà cháng tưởng không bao giờ chàng trở lại. Những cảnh sắc đưa chàng trở vào nước Đức quen thuộc với chàng hơn cả cảnh sắc thành phố ở Mỹ nơi chàng ra đời, lớn lên.

(.. .. .. )

Chàng lên xe buýt. Người bán vé hỏi xin chàng điếu thuốc lá. Y nhận ra ngay chàng là người Mỹ. Chàng nhìn sang những chiếc buýt chạy ngược chiều, nghĩ rằng rất có thể nàng đã ra khỏi nhà để đi đâu đó. Có vài lúc thần kinh chàng căng thẳng. Đó là những lúc chàng tuởng chàng nhìn thấy nàng: một bờ vai, một mái tóc của một phụ nữ Đức nào đó mà chàng tuởng là nàng.

Trở Về Tội Ác. Nguyên bản THE DARK ARENA của Mario Puzo. Bản dịch của Hoàng Hải Thủy, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972, Nhà Xuân Thu tái bản ở Hoa Kỳ năm 1982.

Trở Về Tội Ác. Nguyên bản THE DARK ARENA của Mario Puzo. Bản dịch của Hoàng Hải Thủy, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972, Nhà Xuân Thu tái bản ở Hoa Kỳ năm 1982.

Khi chàng đi trên đường phố ngày xưa, chàng không nhớ đúng toà nhà trong đó có Hella. Chàng chỉ vào lầm có một toà nhà. Vào toà nhà thứ hai chàng thấy tên nàng trong bảng tên ở cửa nhà.

Cửa mở, trong ánh đèn hành lang mờ, chàng nhận ra bà già chủ nhân toà nhà này. Bà ta có cái vẻ già nua, mòn mỏi, buồn rầu của tất cả những bà già ở bất cứ đâu.

“Chào ông. Ông cần chi?”

“Cô Hella có nhà không?”

Mosca hỏi bằng tiếng Đức. Chàng ngạc nhiên khi thấy chàng vẫn nói được tiếng Đức trôi chẩy.

Bà già không nhận ra chàng là người bạn xưa của Hella, bà cũng không biết chàng là người Mỹ. “Mời ông vô,” bà nói và chàng đi theo bà. Trong hành lang tối mờ, bà gõ nhẹ lên một cánh cửa phòng:

“Cô Hella. Cô có khách. Có ông đến thăm cô. “

Chàng nghe tiếng nàng. Giọng nói có vẻ ngạc nhiên: “Ông nào đến thăm tôi?” Rồi náng nói tiếp:

“Làm ơn chờ một chút.”

Cửa phòng không khoá. Mosca mở cửa phòng. Nàng đang ngồi quay lưng về phiá chàng, hai tay nàng đang cài mấy cái kẹp tóc vào mái tóc mới gội. Trên cái bàn nhỏ có ổ bánh mì mầu sám, cái giừong nhỏ kê sát tường, đầu giường là cái bàn ngủ.

Mosca đứng im. Kẹp tóc xong, nàng đứng lên cầm ổ bánh định đem cất đi. Nàng quay lại, mắt nàng gặp mắt chàng.

Mosca nhín thấy khuôn mặt có gò má cao, thân mình nàng gầy hơn thân mình nàng mà chàng vẫn tưởng nhớ. Bàn tay nàng trống không, ổ bánh mì đã rơi xuống sàn phòng. Mặt nàng không biểu lộ chút ngạc nhiên nào. Trong khoảnh khắc chàng tưởng như trên mặt nàng có những nét bực bội. Rôi tất cả mờ đi, mặt nàng như chiếc mặt nạ buồn và khổ. Những giọt nước mắt rơi xuồng bàn tay chàng nâng cầm nàng.

“Cho anh nhìn em.” Nàng gục mặt vào ngực chàng. “Có gì đâu mà em phải khóc. Anh chỉ muốn làm em bất ngờ.”

Nàng khóc nghẹn nức. Chàng chỉ có thể ôm nàng và chờ đợi. Chàng nhìn quanh căn phòng hẹp, cái giường nhỏ, tủ áo gỗ cổ lỗ sĩ, tấm hình chàng trên bàn ngủ. Ánh đèn duy nhất trên mặt bàn ngủ tỏa ánh sáng mờ, vàng vọt, sầu thảm, bốn vách tường và cả trần phòng cong lại, trũng xuống vị sức nặng của những đống gạch vụn chất bên trên mái nhà.

Hella ngửng mặt, nàng vừa cười vừa khóc:

“Ồ.. Mình.. Mình.. Sao không viết thư?  Sao không cho em biết trước?”

“Anh muốn làm em ngạc nhiên.”

Chàng nhắc lại. Chàng âu yếm hôn nàng. Nàng nói, giọng yếu, run,như hết hơi:

“Khi em nhìn thấy anh, em tưởng anh chết, anh hiện về với em, hay em đang mơ, hay em phát điên.”

Bây giờ chàng nhìn thấy hai quầng thâm dưới hai mắt nàng, đen như tất cả những sắc tố đen trên da nàng quy tụ cả về đấy. Làn tóc mới gội dưới bàn tay chàng ẩm, vô hồn, thân thể áp vào chàng cứng, đầy những góc cạnh.

Nàng mỉm cuời. Chàng thấy một bên má nàng hơi hóp lại. Chàng hôn lên đó:

“Sao vậy?”

“Em mất hai cái răng. Trông em có xấu lắm không?”

“Không.” Chàng trả lời. Đến lúc đó chàng mới nhớ cái thai trong bụng nàng khi chàng đi, chàng hỏi;

“Em cho nó ra hả?”

Hella đáp vội:

“Không. Em đẻ non. Nó chỉ sống được vài tiếng đồng hồ. Cách nay hai tháng.”

Nàng đã biết tính đa nghi của chàng, nàng đi đến mở tủ lấy ra một tập giấy được buộc bằng sợi dây đỏ. Nàng tìm trong đó bốn tờ giấy đưa cho chàng.

“Anh đọc đi.”

Nàng nói với giọng không hờn giận cũng không buồn phiền. Những con dấu công sở và những con tem dán trên những tờ chứng nhận cho chàng biết nàng không phá thai. Nàng lại mở tủ, lấy ra mội số tã, áo con nít mới đẻ. Không hỏi chàng biết nàng đã cắt mấy bộ áo của nàng để may tã chờ đứa con của họ sắp ra đời. Bỗng dưng chàng hờn giận vì cuộc sống đã làm cho mầu hồng trên má, trên môi nàng nhạt đi, làm hai cái răng của nàng rụng mất, làm công lao cắt, may những tã, áo con nít của nàng trở thành vô ích.

Trong một lúc khá lâu hai người cùng thấy bối rối, ngượng, mất tự nhiên. Họ cùng nhìn ngây lên những tường phòng rạn nứt, trần phòng trũng xuống, chiếc ghế cô đơn. Rồi chầm chậm, từ từ, như hai người dự một lễ cổ của bộ lạc, như những kẻ vô đạo kết hợp với vị thần mơ hồ, hai người hành lễ mà không biết cuộc lễ sẽ ban phúc hay giáng hoạ, họ nằm xuống giường và yêu nhau. Chàng yêu với sự nồng cháy của nhớ, của rượu, của hối hận, của tội lỗi; nàng yêu với sự nống ấm của tình yêu, của trìu mến, với niềm tin cuộc phối hợp này là đúng, là tốt, nó sẽ đem hạnh phúc đến cho chàng và nàng. Và nàng chấp nhận cảm giác đau đánh trên thân thể  chưa lành mạnh của nàng, chấp nhận sự tàn nhẫn trong hành động ân ái của chàng, chấp nhận việc chàng không tin nàng, chấp nhận việc chàng không tin tất cả mọi người, chàng không tin cả chính chàng. Nàng hiểu rằng trong tất cả những người chàng biết ở cõi đời này, chàng cần nàng, chàng cần lòng tin của nàng, cần thân thể nàng và cần tình yêu chàng của nàng.

Ngưng trích Trở Về Tội Ác.

Mosca ở lại với Hella. Để sống với nhau chàng phải làm mọi việc ra tiền, nhưng chàng cố tránh làm những việc bất hợp pháp. Rôi Hella có thai. Nàng đau. Cần tiền Mosca làm vài vụ cướp hàng của bọn buôn lậu. Số bạn lính của chàng ở lại Đức lôi cuốn chàng vào những vụ phạm pháp. Hella cần thuốc Penicilline. Mua phải Penicilline giả, Hella chết. Mosca bắn chết người bán thuốc gỉả. Chàng trở về với thế giới tội ác.

Mario Puzo viết The Dark Arena năm 1955. Sáu mươi năm sau – 2014 – tôi viết về The Dark Arena ở Hoa Kỳ.

 

CAO THẤP, NGẮN DÀI

Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài.

Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài.

Hai câu Thơ của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương được để ở trên đầu bài Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, Ngày 22 Tháng 5, 2014.

Giơ tay với thử trời cao thấp.
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài.

Những ngày Tháng 4 rồi những ngày Tháng 5 đến và đi, những sự dữ xẩy ra trên thế giới làm tôi – CTHĐ – sầu buồn quá đỗi. Những tai họa liên tiếp xẩy đến với nhân dân Đông Nam Á Châu: vụ phi cơ Malaysia mất tích chưa xong lại xẩy ra vụ chìm phà ở Nam Hàn, mỗi tai nạn làm chết ba trăm ngưởi, bốn trăm người. Rồi bọn khủng bố ở Nigeria bắt cóc 300 nữ sinh đem đi mất dấu.  Bọn khủng bố Nigeria cấm phụ nữ đi học, đi làm. Bọn này với bọn Taliban giống nhau.

Giơ tay với thử trời cao thấp.

Giơ tay với thử trời cao thấp.

Dân Syria và quân chính phủ bắn giết nhau thê thảm trong thời gian đã hơn một năm. Cả ngàn người Syria chết thảm, chưa biết Syria sẽ đi về đâu. Nga dùng quân lực chiếm Crimea, đe dọa thôn tính Ukraine.

Gần như ngày nào ở Mỹ cũng xẩy ra ít nhất là một vụ người bắn chết người không duyên cớ. Những tên Mỹ giết người Mỹ thù hằn người Mỹ phạm tội gần như mỗi ngày.

Tới hôm nay – 22/5/2014 – cuộc tìm chiếc máy bay Malaysia mất tích coi như đã ngừng. Không còn có tin về cuộc tìm máy bay trên TiVi, trên các báo Mỹ. Chiếc máy bay mất tích chìm trong màn bí mật. Với những phương tiện cơ khí hiện đại nhất cả thế giới không tìm ra một chiếc phi cơ chở 400 hành khách. Người thế giới đã quên tai nạn phi cơ Malaysia.

Hôm nay tôi – CTHĐ – gượng vui để viết bài vinh danh này.

Lâu lắm tôi mới có dịp đề cao Maria Sharapova. Ngày 11 Tháng 5, 2014 Maria Sharapova đoạt chức Vô Địch Giải Tennis Madrid.

Tôi tìm được hai tấm ảnh đẹp của Nàng để đi trong bài này, với hai câuThơ Hồ Xuân Hương.

Lần thứ nhất tôi nhìn thấy Maria Sharapova là năm 2004. Nàng 17 tuổi, nàng là thiếu nữ. Mười năm qua thật mau, năm nay – 2014 – Nàng 27 tuổi, Nàng không còn là thiếu nữ, Nàng sắp là thiếu phụ.

Tôi thấy đôi chân Nàng không còn thon nữa. So với những người nữ đồng tuổi, Nàng vẫn tuyệt. Nhưng Nàng không còn cái Tuyệt năm Nàng 17 tuổi. Nhìn Nàng trên sân năm nay, nhìn cặp chân Nàng năm nay, nhớ cặp chân Nàng 10 năm trước. Cảm khái cách gì!

Diệu Thủ Li Na

Diệu Thủ Li Na

Tôi thù ghét Tầu Cộng nhưng tôi đề cao Li Na, Diệu Thủ Tennis dân Tầu Cộng. Cô là nữ danh thủ da vàng duy nhất đoạt chức Vô Địch Tennis trên thế giới. Tôi chắc cô cảm thấy cô đơn khi giao đấu mà không có khán giả người Da Vàng nào ủng hộ.

Tôi gửi bài viết này đến quí bạn cùng Nỗi Buồn của tôi.

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN II

Hai tiểu thuyết của GABRIEL GARCIA MARQUÉZ được dịch và xuất bản ở Hà Nội.

Hai tiểu thuyết của GABRIEL GARCIA MARQUÉZ được dịch và xuất bản ở Hà Nội.

Sau bài TRĂM NĂM CÔ ĐƠN, Blog hoanghaithuy.com nhận được thư của Nhà Văn Nữ Trùng Dương.

TRÙNG DƯƠNG, VĨ NHÂN KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

Thái Nguyễn. May 2, 2014

Anh HHThủy ơi, TD đây. Hôm 17 tháng 4, 2014 Gabriel Garcia Marquez qua đời. Tôi đã viết một bài về ông, trong đó có nhắc tới bản dịch Việt ngữ “Trăm Năm Hiu Quạnh” do anh dịch. Có người nói với tôi là năm xưa ông ta đã “đọc bản dịch [Việt ngữ] “Trăm Năm Cô Đơn” hai, ba lần.” Tôi lấy làm lạ vì rõ ràng bản dịch đó bị cấm và đã không được chào đời, hay là có ai đó đã dịch. Nên lên Internet kiếm nó và tình cờ lạc vào Trang này của anh.

Vâng, tôi vẫn nhớ bản anh dịch rất nhuyễn, nhiều chi tiết còn ghi đậm trong trí nhớ tôi, và tôi đã rất thú vị khi gặp lại chúng sau này khi đọc lại bản Anh ngữ gần đây. Và cái tựa “Trăm Năm Hiu Quạnh” thật hay, thơ nữa. Anh có thể vô link này đọc bài tôi viết về Garcia Marquez: http://www.hopluu.net/D_1-2_2-118_4-2259_5-4_6-1_17-18_14-2_10-92_12-1/
Chúc anh an vui.

TD

Mời quí vị đọc bài viết của Trùng Dương về Gabriel Garcia Marquéz.

Trùng Dương

Hopluu.net. Trích

Người thiếu nữ Nhà Buendia bay lên trời.

Người thiếu nữ Nhà Buendia bay lên trời.

One Hundred Years of Solitude” không phải là cuốn tiểu thuyết duy nhất của ông, nhưng là cuốn nổi tiếng nhất và được nhiều người biết đến vì tài kể chuyện của tác giả, vì sự phong phú về văn chương, về tình tiết và bối cảnh lịch sử lồng vào với huyền thoại, vì câu chuyện trải dài ra tới bẩy thế hệ của cặp nhân vật chính, vì sự đan kết giữa hiện thực và siêu thực, và vì những lớp chủ đề chồng chất lên nhau như một di tích khảo cổ được khai quật lên phơi bầy nhiều thành phố xây chồng lên nhau từ đời này qua đời khác. Tóm lại, toàn bộ cuốn tiểu thuyết tuy lôi cuốn người đọc giở hết trang này tới trang khác, nhưng không dễ gì nắm bắt được ý chính của tác giả vì tính cách đồ sộ và choáng ngộp của các sự việc.

Chính qua cuốn tiểu thuyết này mà có nhà phê bình đã ví Garcia Marquéz với nhà tiểu thuyết, nhà thơ và kịch tác gia Miguel de Cervantes của Thế kỷ 16, và cuốn “One Hundred Years of Solitude” với cuốn “Don Quixote” của Cervantes mà đời sau vẫn có thể đọc lại, mượn ý và nhân vật để phóng tác và mặc cho tác phẩm tái tạo đó một ý nghĩa, một chủ đề tùy theo tâm tình thời đại.

Cuốn “One Hundred Years of Solitude” đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, bán tới mấy chục triệu ấn bản. Tại Nam Việt Nam trước năm 1975, cuốn sách đã được dịch ra với tựa đề “Trăm Năm Hiu Quạnh”, do nhà xuất bản Nhân Chủ, một bộ phận của nhật báo Sóng Thần hồi ấy, đặt Nhà Văn và Phóng tác gia điêu luyện Hoàng Hải Thủy dịch.

Được cử trông coi nhà xuất bản hồi ấy, nên tôi có dịp đọc (và sửa) bản dịch (từ bản Anh ngữ rất linh động của Gregory Rabassa) khi còn là bản vỗ (galley proofs) của anh Hoàng Hải Thủy một cách say sưa. Đáng tiếc là độc giả Việt hồi ấy không có dịp đọc bản dịch này vì lý do giản dị: nó không bao giờ được ra chào đời.

Trước khi đưa sang nhà in, bộ bản vỗ toàn cuốn sách dịch, có lẽ cũng khoảng gần 1,000 trang, được gửi lên Sở Kiểm Duyệt thuộc Bộ Thông Tin của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Kết quả: có lệnh cấm vì có nhiều đoạn trong sách bị coi là “vi phạm thuần phong mỹ tục”. Tôi không tin rằng những người kiểm duyệt sách dạo ấy lại uyên bác tới độ đề nghị cấm cuốn sách vì khuynh hướng khuynh tả của tác giả, người vẫn lớn tiếng bênh vực Cuba và Fidel Castro – một lý do đã khiến ông bị cấm nhập cảnh Hoa Kỳ cho tới khi Tổng thống Bill Clinton, một độc giả của ông khi còn trẻ, bãi bỏ lệnh cấm đó.

Gabriel Garcia Marquéz, hay “Gabo”, như những người mến mộ ông trong cộng đồng Châu Mỹ La Tinh vẫn gọi ông như thế, ra đời ngày 6 tháng 3 năm 1927 tại một tỉnh nhỏ thuộc miền bắc quốc gia Colombia, tên là Aracataca mà ông đã mượn nó để xây dựng nên tỉnh Macondo, trung tâm điểm của đại tác phẩm “One Hundred Years..” xuất bản lần đầu tiên vào năm 1967. Ông còn đem nơi chôn nhau cắt rốn đó vào hai tác phẩm nữa, cuốn tiểu thuyết ngắn “Leaf Storm,” và cuốn tiểu thuyết “In Evil Hour.”

Khi ông còn nhỏ, cha mẹ ông phải đi làm ăn xa, nên Garcia Marquéz được ông bà ngoại nuôi dưỡng. Ông ngoại ông, Đại tá Nicolá Ricardo Marquéz Mejía, một cựu quân nhân có tư tưởng cấp tiến, từng trải, trực tính và có biệt tài kể chuyện, đã giót vào tai anh cháu những mẩu chuyện của thời ông và các chiến hữu chống lại giới bảo thủ và những chi tiết lịch sử, xã hội đã đưa tới những tranh chấp, cả nội chiến. Trong khi đó, bà ngoại ông, bà Doña Tranquilina Iguarán Cotes, lại thường kể cho ông nghe những chuyện không tưởng, ma quái, huyễn hoặc bằng giọng nghiêm chỉnh như thể đó là sự thật, những chuyện mà ông chồng bà cho là mê tín dị đoan, nhưng cậu bé Gabriel thì lại như bị hút hồn và đã dùng làm chất liệu cho cuốn “One Hundred….” sau này.

Marquéz khởi nghiệp bằng nghề viết báo trong lúc theo học Luật tại trường Đại học Quốc gia Colombia. Vào thập niên 1950, ông cộng tác với nhiều báo tại thành phố Baranquilla ở phía bắc Colombia bên bờ biển Caribbean. Cũng trong thời gian này ông gia nhập một nhóm gồm các nhà văn, nhà báo tên là Baranquilla Group rất có ảnh hưởng tới văn học Châu Mỹ La Tinh, và làm quen với những tác phẩm của các tác giả Mỹ như James Joyce, Virginia Woolf và đặc biệt William Faulkner. Văn phong của William Faulkner, cũng như của Frank Kafka,  đã ảnh hưởng nhiều tới ông.

Vào giữa thập niên 1950, Marquéz dời Colombia đi Âu Châu, một phần vì một loạt bài phóng sự điều tra tựa là “The Story of a Shipwrecked Sailor” (Câu chuyện của một gã thủy thủ bị đắm tầu) đã khiến chính quyền địa phương không bằng lòng vì nội dung đi ngược lại với lời giải thích của nhà cầm quyền về nguyên nhân đưa đến vụ đắm tầu, nên tờ El Espectador mà ông cộng tác đã cử ông đi làm phóng viên nước ngoài. Chính những kinh nghiệm báo chí của ông đã xây nền cho sự nghiệp viết văn của ông sau này. “Chính nhờ những kinh nghiệm báo chí này mà GarciaMarquez, giống như nhiều nhà văn lớn còn sinh tiền, là người gần gụi nhất với thực tại thường nhật vậy,” nhà phê bình Bell-Villada đã nhận xét.

Garcia Marquéz tiếp tục sáng tác truyện cho các tạp chí Châu Mỹ La Tinh trong nhiều năm. Cuốn “Leaf Storm” viết xong tới cả năm năm mới có nhà xuất bản chịu in vào năm 1955, là cuốn tiểu thuyết ngắn mà ông thích nhất, ông cho biết, vì nó thành thực và bột phát. Đó là một câu chuyện với mọi diễn biến xẩy ra trong một căn phòng vào một ngày thứ Tư 12 tháng 9 năm 1928 khi một ông đại tá già (giống như ông ngoại của Marquéz) tìm cách tổ chức một cuộc chôn cất theo lễ nghi Thiên Chúa giáo cho ông bác sĩ người Pháp không ai ưa khi còn sống, do đấy họ không muốn ông bác sĩ được hưởng nghi lễ đó. Mọi người phản đối trừ cô con gái và đứa cháu ngoại. Truyện cũng phản ảnh kinh nghiệm của một đứa bé lần đầu đối diện với cái chết, và lần đầu được viết từ góc nhìn của người con gái.

Phải chờ tới năm 1967 với sự ra đời của “One Hundred Years of Solitude” Garcia Marquéz mới trở nên một tác giả được quảng đại quần chúng tìm đọc.

Từ hồi mới 18 tuổi Garcia Marquéz đã muốn viết một cuốn tiểu thuyết về ngôi nhà của ông bà ngoại nơi ông đã sống thời thơ ấu và nghe ông bà kể đủ thứ chuyện. Tuy nhiên ông đã lần lữa trì hoãn vì chưa tìm ra được đúng văn phong cho tới một ngày nọ trong lúc lái xe đưa gia đình đi nghỉ mát, ý tưởng chợt đến trong đầu. Thế là ông vòng xe đưa gia đình về nhà và cặm cụi viết từ đó. Phải 18 tháng sau, sau khi bán xe và những đồ vật giá trị trong nhà, kể cả vay nợ để chi dùng, ông hoàn tất “One Hundred Years of Solitude.”

Cuốn tiểu thuyết khi xuất bản vào năm 1967 đã trở thành một thành công về thương mại đồng thời đưa tác gỉả lên đài danh vọng. Cuốn “One Hundred years of Solitude “và những tác phẩm kế đó đã giúp ông đọat giải Văn Chương Nobel năm 1982. Nhờ danh tiếng quốc tế của ông mà ông đôi phen đã giúp hoà giải giữa chính phủ Colombia và quân phiến loạn. Do khuynh hướng chính trị khuynh tả và là người công khai bênh vực Cuba của Fidel Castro mà ông bị cấm không cho nhập cảnh nước Mỹ cho mãi tới thời Tổng thống Clinton là người đã bãi bỏ lệnh cấm đó.

Khi nghe tin tác giả “One Hundred Years of Solitude “qua đời ngày Thứ Năm 17 tháng 4 năm nay, 2014, ông Clinton nói:

“Tôi đau buồn nghe tin Gabriel Garcia Marquéz đã qua đời. Từ khi tôi đọc ‘ One Hundred Years of Solitude “tới giờ đã 40 năm, tôi luôn kinh ngạc về tài tưởng tượng độc nhất vô nhị của ông, sự trong sáng trong ý tưởng, và sự chân thành trong cảm xúc. Ông đã nắm bắt được nỗi đau đón và niềm hân hoan của cộng đồng nhân loại trong bối cảnh vừa thực vừa huyền hoặc.”

Về phương diện văn chương, Gabriel Garcia Marquez là một trong những nhà văn của Châu Mỹ La Tinh đã mở đầu một phong trào văn chương có tên gọi là “magical realism” (dịch nôm na là “chủ nghĩa hiện thực huyền hoặc”), một thể loại đan kết những yếu tố kỳ quái không tưởng vào thể văn chương hiện thực.

Tuy thành công tột cùng trong văn chương, Garcia Marquéz không từ bỏ báo chí.

“Tôi luôn tin rằng nghề nghiệp chính của tôi là một nhà báo,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí The Paris Review. “Cái mà tôi không thích trong báo chí là điều kiện làm việc. Bây giờ, sau khi làm việc với tư cách là nhà tiểu thuyết, và đã đạt được sự độc lập về tài chính, tôi có thể thực sự chọn những chủ đề mà tôi thích và hạp với tư tưởng của tôi.”

Là một trong những tác giả được trọng vọng và quý trọng nhất thế giới, đặc biệt ở vùng đất Châu Mỹ La Tinh, nơi văn chương được coi là nghiêm túc ngang với chính trị, sự ra đi của ông đã gây thương tiếc không chỉ nơi độc giả đông đảo của ông, mà còn nơi các nhà lãnh đạo.

“Nhân danh Mễ Tây Cơ, tôi xin tỏ bầy niềm đau đớn trước sự ra đi của một trong những đại văn hào của thời đại chúng ta,” Tổng thống Mễ Enrique Pena Nieto đã tweet như vậy, theo tường thuật của cnn.com.

Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos thì tweet ngắn gọn về sự hiện diện của tác giả “One Hundred Years of Solitude” như sau:

Vĩ nhân không bao giờ chết.”

[TD, 04/2014]

CTHĐ Sao Y Bản Chính.

Năm 1987, hay 1986, khi nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà, tôi – CTHĐ – thấy một số sách dịch của người Hà Nội được thân nhân người tù gửi vào nhà tù cho người tù đọc. Trong số những sách truyện ấy có những truyện Cuốn Theo Chiều Gió, Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết, và truyện Trăm Năm Cô Đơn, nguyên bản One Hundred Years of Solitude của Gabriel Garcia Marquez.

Nhiều người tù nói những bản dịch các sách truyện ngoại quốc đến từ Hà Nội ấy quá tệ. “Dịch trúc trắc, đọc mà nhức đầu..” Đó là lời phê phán chung. Tôi có đọc qua vài trang Trăm Năm Cô Đơn, thấy khó chịu, tôi không đọc nữa.

Như vậy, có hai chuyện tôi cần viết:

Tiểu thuyết One Hundred Years of Solitude được dịch và xuất bản ở Hà Nội những năm 1985, 1986. Nhiều người Việt trong nước đọc truyện dịch này.

Việc Bộ Thông Tin VNCH không cho xuất bản Trăm Năm Hiu Quạnh là do lệnh của Hoàng Đức Nhã. Có thể đó là lệnh bằng lời, không có văn bản cấm. Nguyễn Đức Nhuận có người thân làm việc trong Bộ Thông Tin, người này nói cho Nhuận biết quyết định của Hoàng Đức Nhã. Nhuận nói lại với tôi.

Tôi lấy trên Internet bản Sơ Lược “One Hundred Years of Solitude” tiếng Việt để gửi quí bạn đọc. Nhưng chỉ là bản Sơ Lược, truyện kể đã làm tôi loạng quạng như tôi đi lạc trong rừng, dù tôi là người đã dịch truyện 40 năm trước. Đúng là “One Hundred..” như rừng. Và đúng là “Truyện “One Hundred.. không thể kể được. Có kể, dù chỉ sơ lược, người đọc cũng không nắm được cốt truyện. Nếu kể chi tiết truyện quá dài, rắc rối, người đọc khó theo dõi.

“Trăm năm..” có 7 thế hệ, không phải chỉ có 5 thế hệ như tôi viết trong bài trước. Tôi kể chuyện Thế Hệ Thứ Năm, Thứ Sáu trong dòng họ Buendias.

Remedios – tên gọi trong nhà là Memé – yêu chàng thanh niên Mauricio Babilonia. Mỗi chiều gần tối Memé vào phòng tắm – phòng tắm ở ngoài vườn, sau nhà – Mauricio lén trèo lên mái nhà tắm, gỡ ván, xuống ân ái với Memé. Vì Memé ở trong nhà tắm quá lâu, người nhà biết nàng tư tình với Mauricio trong đó. Ông bố của Memé lấy cớ có trộm trên mái nhà, dùng súng bắn Mauricio. Bị đạn vào lưng, Mauricio nằm liệt. Từ đó đến khi chết chàng không nói nửa tiếng. Meme bị đưa vào Nữ Tu Viện. Từ sau buổi tối người nàng yêu bị bắn, Meme cũng không nói một tiếng nào với bố mẹ nàng. Nàng sinh con trai và chết trong Tu Viện. Một bà nữ tu đem con trai Meme trong cái lẵng mây, đến giao cho gia đình Memé. Có tờ giấy do Meme viết gửi kèm chú sơ sinh này. Meme đặt tên cho con là Aureliano Babilonia.

Amaranta Ursula là em gái của Meme Remedios. Từ nhỏ cô được gửi vào trường học, rồi cho sang học ở Bỉ. Cô không biết gì về anh cháu Babilonia.

Nhiều năm sau Amaranta Ursula trở về toà nhà của dòng họ Buendia với chồng nàng. Khi ấy trong nhà chỉ còn có một mình Babilionia. Không biết họ là dì cháu, Ursula và Babiliona yêu nhau. Gaston bỏ về Thụy Sĩ. Hai dì cháu yêu nhau công khai.

Tôi đăng ở đây đoạn tả cảnh Dì cháu Ursula làm tình với nhau lần đầu bằng tiếng Anh:

Aureliano smiled, picked [Amaranta Úrsula] up by the waist with both hands like a pot of begonias, and dropped her on her back on the bed. With a brutal tug he pulled off her bathrobe before she had time to resist and he loomed over an abyss of newly washed nudity whose skin color, lines of fizz, and hidden moles had all been imagined in the shadows of the other rooms. Amaranta Úrsula defended herself sincerely with the astuteness of a wise woman, writhing her slippery, flexible, and fragrant weasel’s body as she tried to knee him in the kidneys and scorpion his face with her nails but without either of them giving a gasp that might not have been taken for the breathing of a person watching the meager April sunset through the open window. It was a fierce fight, a battle to the death, but it seemed to be without violence because it consisted of distorted attacks and ghostly evasions, slow, cautious, solemn, […] as if they were two enemy lovers seeking reconciliation at the bottom of an aquarium. In the heat of that savage and ceremonious struggle, Amaranta Úrsula understood that her meticulous silence was so irrational that it could awaken the suspicions of her nearby husband much more than the sound of warfare that they were trying to avoid. Then she began to laugh with her lips tight together, without giving up the fight, but defending herself with false bites and deweaseling her body little by little until they both were conscious of being adversaries and accomplices at the same time and the affray degenerated into a conventional gambol and the attacks became caresses. (19.30)

Phỏng dịch:

Aureliano mỉm cuời, hai tay chàng nhấc nàng lên như nhấc châu hoa, và buông nàng nằm ngửa trên giường. Với cái kéo tay tàn bạo chàng lột cái áo tắm của nàng ra trước khi nàng kịp chống cự, và cúi mình trên vực thẳm trần truồng mới tắm mà mầu da, những đường lông, những nốt ruồi kín đã được tưởng tượng trong bóng tối của những phòng bên. Amaranta tự vệ thật tình bằng sự khéo léo của người đàn bà khôn ngoan, uốn tấm thân mềm như thân chồn  và thơm cùng lúc nàng thúc đầu gối vào mạng suờn chàng và cào như bọ cạp bằng những móng tay nàng vào mặt chàng nhưng cả hai cùng không thốt ra tiếng hừ nào để người nghe có thể tưởng đó là tiếng thở của một người ngắm cảnh hoàng hôn nhạt của Tháng Tư qua cửa sổ. Đó là một cuộc đấu dữ dội, trận đánh đến chết, nhưng nó có vẻ không có bạo lực vì nó chỉ là những cú tấn công méo mó, những tránh né giả dạng, những cử động chậm, thận trọng, trịnh trọng (..) như họ là đôi tình nhân thù địch làm hòa với nhau dưới đáy một hồ nuôi cá. Giữa cuộc vật lộn dữ dội và đúng quy tắc đó Amaranta Ursula chợt hiểu sự im lặng chi ly của nàng là phi lý đến có thể làm cho chồng nàng ở phòng bên nghi ngờ hơn là những tiếng động của cuộc xung đột mà họ cố tránh. Thế là nàng bắt đầu cười với đôi môi mím chặt xong vẫn không bỏ cuộc chống cự, nhưng nay nàng tự vệ bằng những miếng giả vò cắn và làm cho thân mình nàng không uốn né nữa, cho đến lúc cả hai cùng thấy họ vừa là địch thủ vừa là đồng loã và cuộc chống hiếp suy thoái thành trò đùa rỡn và những cú đánh trở thành những vuốt ve mơn trớn.

o O o

Đoạn kết: Ursula sinh con trai, nàng chết ngay vì bị băng huyết. Con trai nàng có cái đuôi như đuôi heo. Aureliano đau khổ bỏ quên đưá con nhỏ trong cái lẵng mây. Đàn kiến đỏ khiêng cái lẵng trong có chú nhỏ sơ sinh đi mất. Trận bão lốc đến. Thành phố Macondo bị bão phá tan.

Tôi bị vất vả khi phỏng dịch đoạn truyện trên. Mong quí vị thông cảm.

LỜI HỨA

- Năm anh đang đăng cái truyện “Người Yêu, Người Giết” trên nhật báo Sống, em có vào Sài Gòn. Em đến nằm ở tiệm ông Tư Kiêu, nghe anh em giang hồ ở đó nói  anh có đến đấy chơi, em định bụng chờ anh đến, em sẽ kể cho anh nghe chuyện vượt ngục của em. Ðể anh có thêm tài liệu đúng mà viết đoạn bọn côn đồ trong truyện  – đoạn Già Móng sắp vượt ngục  – em nhớ cái tiểu thuyết ấy lắm mà. Khi em đọc tới đoạn Già Móng sắp vượt ngục, em có nói ở nhà ông Tư Kiêu: “Tiếc quá tôi không được gặp anh Thủy. Nếu được gặp anh ấy, tôi kể cho anh nghe chuyện vượt ngục có tôi tham dự để anh ấy viết vào đoạn này thì hay biết mấy. Vượt ngục ở Việt Nam khác, vượt ngục ở nhà tù bên Tây, bên Mỹ khác…” Anh chưa từng bao giờ ở tù, anh chưa bao giờ vượt ngục hay dính líu vào vụ vượt ngục nào, làm sao anh viết về chuyện tù vượt ngục hay cho được? Phải không ạ?

Tuyển tập Truyện Ngắn của Hoàng Hải Thủy, Nhà VĂN xuất bản năm 1970, gồn 3 truyện: Mợ Chó, Canh Bạc Tất và Lời Hưá. Trong ảnh: H2T năm 1974.

Tuyển tập Truyện Ngắn của Hoàng Hải Thủy, Nhà VĂN xuất bản năm 1970, gồn 3 truyện: Mợ Chó, Canh Bạc Tất và Lời Hưá. Trong ảnh: H2T năm 1974.

Buổi sáng nay tôi vừa, với tư cách ký giả nhà báo, đến thăm ông Tỉnh Trưởng ở tư dinh ông ta. Trước mặt mấy ông sĩ quan thuộc cấp, ông Tỉnh bằng cái giọng tin chắc trăm phần trăm rằng cái gọi là “bài trừ tệ đoan, ma túy” ở trong địa phương ông rất cừ, rất bảnh.. Người vừa nói câu nói dính dáng đến ma túy và tiểu thuyết, và vượt ngục, côn đồ với tôi trên đây là một thanh niên trạc ba mươi tuổi. Mặt gã hơi dài, xương xương, nước da gã hơi đen và gã có cặp mắt sáng, không phải cái sáng của những người trí thức hoặc có nội tâm phong phú, suy tư mà là cái sáng của những kẻ liều lĩnh dám làm những việc ghê gớm như giết người, cướp của, những hành động tàn nhẫn, dữ dội. Gã nằm tiêm thuốc cho tôi và tôi nhận thấy trên bàn tay trái của gã có nhiều vết dao chém, ngón tay út trên bàn tay ấy bị cụt mất một nửa. Người bạn thổ công thành phố này đưa tôi đến đây chơi giới thiệu gã là một du đãng khét tiếng, một tên “quái” nói theo ngôn ngữ du đãng. Gã từng đánh chết người, từng đi tù và đúng như lời gã nói, gã từng tham dự vào một vụ vượt ngục làm chấn động dư luận.

Vụ vượt ngục ấy xẩy ra lâu lắm rồi, trong thời nước mình hãy còn ông Diệm, ông Nhu, bà Nhu. Vụ đó có được đăng báo và vụ đó xẩy ra ở ngay thành phố này. Bây giờ nhắc lại, chắc còn nhiều người nhớ. Ðại khái vụ này như sau: một ngày nọ có một bọn ba tên tới thành phố này thực hiện một vụ đánh cướp. Chúng đánh cướp ngay tiền của chánh phủ chứ không cướp nhà thường dân. Chúng đã sắp đặt, tính toán vụ này từ nhiều ngày trước và chúng đã tính trước đâu ra đấy hết. Chúng biết vào ngày đó cơ quan Nông Tín ở tỉnh này lãnh về số tiền hai triệu để cho nông dân vay theo kế hoạch cho vay của chánh phủ – vào những năm này, đồng tiền chưa mất giá, hai triệu bạc  lớn lắm – chúng tới để cướp số tiền đó ở ngay Ty Nông Tín. Chúng đến Ty vào lúc năm giờ chiều, giờ nhân viên sửa soạn ra về. Chúng cố tình đến Ty vào giờ đó. Chúng đến bằng xe Jeep quân đội đàng hoàng. Gã vào trước gặp ông Giám Ðốc bận quân phục mang cấp bậc Ðại úy, tự xưng là sĩ quan an ninh từ trung ương tức là từ Sài Gòn đến điều tra tại chỗ về vài nhân viên trong cơ quan này trước đây có dính với VC. Khi nhân viên ra về hết là lúc ông Giám Ðốc sẽ mở tủ sắt trong văn phòng ông lấy hồ sơ tố Cộng của nhân viên ông ra khoe. Tủ sắt này cũng là tủ sắt đựng số bạc hai triệu đồng vừa mới lãnh về. Tên thứ hai sẽ vào phòng dùng karaté đánh ngất ông Giám Ðốc trong khi tên thứ ba đóng vai tài xế ngồi trên xe Jeep chờ bên ngoài. Ðánh ngất Giám Ðốc, cướp số bạc hai triệu xong, bọn cướp sẽ vứt lại đó vài tờ truyền đơn MTGP và êm ả ra đi thơ thới hân hoan. Chúng dự tính không dùng đến võ khí và không cần phải giết ai hết.

Và sự việc xẩy ra đúng như chúng dự tính. Ít nhất là đúng tới tám phần mười. Ông Giám Ðốc người Huế khi nghe nhân viên mình bị nghi ngờ hoạt động cho Cộng Sản bèn nhiệt liệt cãi và mở ngay tủ sắt lấy những hồ sơ thành tích, những giấy tờ tưởng lệ thành tích tố Cộng của những nhân viên ra làm bằng chứng cho sĩ quan điều tra coi. Tên cướp thứ hai vào phòng đúng lúc và chặt karaté ngọt như điệp viên James Bond đánh trên màn ảnh xi-la-ma vào gáy ông Giám Ðốc làm ông này gục ngay xuống bàn, ngất đi. Nhưng bọn cướp quên mất một sự kiện nhỏ, nói là chúng quên không đúng hẳn, phải nói là chúng không ngờ đến, không dự tính đối phó trước một việc quá nhỏ xẩy ra lúc đó. Ðó là việc vào giờ này, tuy nhân viên đã ra về hết nhưng vẫn còn vợ chồng người tùy phái kiêm gác sở ở luôn trong căn nhà nhỏ đằng sau. Mỗi lần ông Giám Ðốc có khách, anh tùy phái vẫn có bổn phận pha nước trà bưng vào đãi khách. Buổi chiều này, anh tùy phái bưng khay nước trà vào phòng đúng lúc ông Giám Ðốc của anh vừa bị đánh ngất và hai tên cướp đang dồn số bạc trong tủ sắt vào cặp da. Anh đứng ngây ra đó, tay bưng khay nước, miệng ú ớ kêu không ra tiếng. Tên vừa chặt karaté, tên này là tên đầu bọn, quay lại thấy anh tùy phái và rút ngay con dao găm ra chọc vào cổ anh, lưỡi dao xuyên từ cổ lên đến miệng là nạn nhân chỉ còn thốt ra được những tiếng ặc ặc. Nạn nhân buông rơi khay nước xuống và chị vợ nạn nhân nghe được tiếng ly tách vỡ loảng xoảng trong phòng ông Giám Ðốc. Tò mò chị này nhìn qua cửa sổ vào phòng và thấy chồng chị nằm đó với lưỡi dao găm thọc sâu vào cổ, ông Giám Ðốc nằm gục trên bàn và hai người lạ đang lấy tiền ở tủ sắt. Chị la lên chói lói và cảnh sát ập tới bắt được quả tang cả ba tên cướp. Trụ sở Nông Tín Cuộc ở ngay trước Ty Cảnh Sát, chỉ cách Ty Cảnh Sát một con đường  chừng hai mươi thước. Nếu không có sự xuất hiện bất ngờ của vợ chồng người tùy phái, vụ cướp này đã thực hiện đúng như dự định của bọn cướp và chúng đã thành công hoàn toàn.

Gã du đãng kể lại đầu đuôi vụ cướp trên cho tôi nghe, có tật nói nhiều. Gã nói láu táu và huyên thuyên. Bây giờ gã đã qua thời du đãng hành nghề rồi, gã có vẻ dịu xuống và cả người gã chỉ còn đáng sợ ở đôi mắt. Tuy gã một điều anh, hai điều em với tôi, rất lễ phép, gã không văng tục, không chửi thề, gã có vẻ rất ngoan nữa là khác, nhưng nhìn đôi mắt gã thỉnh thoảng phát ra ánh sáng, long lên, tôi nghĩ rằng nếu tôi chạm đến tự ái của gã, chỉ cần tôi vô ý để lộ cử chỉ gì để gã nghĩ rằng tôi khinh bỉ gã, lập tức gã hạ tôi là mày, xưng tao và ăn thua đủ với tôi ngay tức khắc.

Người bạn thổ công của tôi nằm dưới tôi bên bàn đèn. Anh hút rất ít, mỗi lần chừng một đôi điếu là đã say, hút tới ba điếu là đã có thể biểu diễn một màn “Chu Du thổ huyết” tức là cho chó ăn chè, tức nôn mửa tùm lum. Dân đong thóc gọi việc hút say nôn mửa này là “Chu Du thổ huyết” theo truyện Tam Quốc. Anh nằm thưởng thức trà tầu, ăn kẹo lạc và bánh Trung Thu, lơ mơ bên bàn đèn. Anh nói: “Nằm ngửi khói thuốc anh thả ra cũng đủ say mềm người, khỏi cần phải hút.” Và anh bảo gã du đãng:

- Thuận… Mày phải kể từ đầu vụ này anh ấy mới hiểu được chứ. Mày kể lung tung chưa hết chuyện nọ đã nhẩy sang chuyện kia như thế làm sao anh ấy hiểu. Hãy còn sớm, anh ấy có thể nằm đây suốt đêm nghe mày kể chuyện. Mày cứ từ từ, đàng hoàng mà kể, làm gì mà lật đật như đi ăn cướp ấy.

Lúc này tôi mới biết gã tên là Thuận. Cái tên hiền khô không hợp với một tên du đãng từng giết người. Chuyện này cũng chẳng có gì lạ. Ða số côn đồ nổi tiếng một thời ở Sài Gòn đều có những cái tên cúng cơm rất thường, như mọi người, như Ðại, như Sơn, như Huỳnh chẳng hạn. Những cái tên rất thường này chỉ dữ dội khi có xước hiệu đi theo, khi trở thành Ðại Cathay, Sơn Ðảo, Huỳnh Tỳ. Như ngày xưa ở Hà Nội có Kim Vá, Mạc Xen – “cái đấm Kim Vá, cái đá Mạc Xen” – Những cái tên chỉ dữ dỗi vì và sau khi có những việc làm dữ dội của những người mang những cái tên đó. Thuận cười:

- Ðàn anh nói chi đúng dữ. Nghề ăn cướp là nghề của em mà.

Ðúng ra, Thuận phải nói là “nghề của chàng” nhưng đang nằm nói chuyện với đàn anh nên gã nói tránh ra là “nghề của em”. Tôi không biết du đãng, côn đồ ngoại quốc ra sao nhưng du đãng, côn đồ Việt Nam có nhã tính đặc biệt là rất coi trọng văn nghệ sĩ, tất nhiên những văn nghệ sĩ được họ coi trọng đó phải là những văn nghệ sĩ đàn anh, ít nhiều nổi tiếng, hơn tuổi họ và được tiếng là không giảo hoạt, không lưu manh, không lên mặt khinh khi họ. Nhiều đàn anh văn nghệ của tôi từng gặp Ðại Cathay trong những tiệm hút ở Sài Gòn, tất cả đều khen Ðại Cathay biết người, cư xử đúng, trọng người hơn tuổi và không tỏ ra hung dữ khi không cần thiết.

Tôi cảm thấy trong giọng nói của Thuận có âm thanh ngậm ngùi:

- Nhưng đấy là chuyện xưa rồi. Bây giờ em hết còn là du đãng. Mười năm trước kia mới có du đãng, năm năm trước đây thời ông Kỳ, ông Loan cũng vẫn còn du đãng. Bây giờ thì hết rồi, hết hẳn rồi. Bây giờ thì hết du đãng yêng hùng kiểu Ðại Cathay rồi. Vì sao các anh biết không? Vì bây giờ thanh niên phải đi lính hết. Cả du đãng cũng phải đi lính. Mà lính là có súng. Ðụng nhau bây giờ là bắn nhau. Cứ có súng trong tay là ai cũng bắn được. Thằng nhát gan nhất lại là thằng bắn hăng nhất, bắn nhiều nhất. Hết còn hơn nhau về gan dạ. Phải đánh nhau bằng dao, lấy sức đọ sức, lấy gan chơi gan, mới có du đãng thứ thiệt…

Bây giờ em ở lính, em đã có vợ con, bây giờ em phải nghĩ đến vợ con, không còn liều mạng bất cần đời như ngày xưa được nữa…

Với những ngón tay hơi dài mấy năm trước đây chuyên cầm dao nay sử dụng cây tiêm sắt rất mềm, Thuận đưa điếu thuốc nâu đã vê tròn trên đầu tiêm vào nõ tẩu trên khẩu đèn. Không cần sửa, không cần vô đến cái thứ hai, điếu thuốc đã nằm gọn đó, tròn xoe trôn quýt, gã chuyển đầu dọc sang tôi:

- Em muốn kể cho anh nghe câu chuyện của em để anh nghĩ một cách nào giúp em. Em muốn các anh ấy nhớ đến thằng em giang hồ từng hy sinh cho các anh ấy vượt ngục. Em muốn nhắc lại hai lời hứa. Lời em hứa với các anh ấy và lời các ảnh hứa với em. Em nghĩ em đã làm tròn lời hứa của em.

- Khi các anh ấy nằm ở nhà lao thị xã này – lời Thuận kể – em cũng vào nhà lao đó. Em vô sau ba anh ấy chừng ba tháng, em bị vồ vì tội ăn cắp. Năm ấy em mới hai mươi tuổi.

Vì đây là lần thứ nhất em thua, lại thua vì tội ăn cắp xe thì em chỉ phải nằm ấp nhiều lắm là ba tháng trong khi các anh ấy phải ra tòa Ðại Hình. Anh Lý tội nặng nhất bị xử tử hình, hai anh kia mỗi anh hai mươi năm tù cấm cố. Các anh ấy chống án chờ lên Tòa trên xử lại. Khi em vào tù, các anh ấy đã tung tiền ra mua chuộc từ quản đốc đến giám thị. Các anh ấy sống trong tù đầy đủ không thiếu một thứ gì. Quái đói rách như em lần đầu vào tù thấy các anh ấy sống như những ông Hoàng, nhất là được giám thị nể, lấy làm kính phục lắm.

Biết là chỉ vài tháng sau là em mãn tù, được ra nên các anh ấy móc nối em, thuyết phục em để giúp các ảnh vượt  ngục. Anh Lý dụ em. Anh ấy nói ra khỏi tù, các anh ấy sẽ sang Pháp ngay, các anh ấy sẽ không ở Việt Nam và do đó em không sợ các ảnh bị bắt lại để em bị liên lụy. Nếu em chịu giúp, các anh ấy sẽ cho em hai trăm ngàn đồng để trả công em.

Số tiền hai trăm ngàn đồng vào những năm đó lớn lắm. Chỉ năm mươi ngàn là mua được chiếc xe Simca bảnh rồi. Em cũng tham tiền nhưng em cũng hãy còn trẻ, em còn nặng máu giang hồ. Nghe anh Lý nói đến chuyện sang Pháp em cũng mơ ngay đến chuyện sang Pháp. Nhưng em không nhận lời anh ấy ngay, em còn thử xem các anh ấy có đủ tư cách để vượt ngục không đã. Em nói: “Anh dụ em giúp anh vượt ngục, anh không sợ em lên tố cáo với quản đốc hay sao?” Anh Lý cười nói: “Nếu em muốn tố cáo cứ việc, anh sẽ bảo giám thị đưa em lên gặp quản đốc bất cứ lúc nào em muốn….”

Nghĩa là anh ấy không hề ngán sợ em tố cáo, anh ấy vẫn tỉnh như không. Hai anh kia tên là Dư và Toán. Tên thật của các anh ấy khác nhưng khi tới đây thực hiện vụ cướp, các anh ấy dùng căn cước giả, tên giả. Em thấy hai anh Dư, Toán tài nghệ thường thôi, nhưng anh Lý thì bản lãnh thần sầu. Anh Lý là linh hồn của cả bọn. Anh Lý sắp xếp tất cả. Trong đời em chưa hề phục ai nhưng khi gặp anh Lý, em phải phục ảnh.

Sau đó em nhận lời, nhưng điều kiện của em là em không lấy tiền, các anh ấy sẽ đưa em cùng đi sang Pháp. Sang đến bên đó rồi em làm gì mặc em, các anh ấy hết bổn phận với em. Thay vì đưa cho em hai trăm ngàn đồng sau khi các anh ấy ra được, các anh ấy đưa em cùng đi sang Pháp hay làm bất cứ cách nào để em có thể đến được đất Pháp. Tuổi trẻ nào mà không thích giang hồ. Sang Tây là giấc mộng vàng của em.

Tôi ngắt lời Thuận:

- Bây giờ chú còn mộng sang Tây nữa không?

Ánh mắt sắc của gã mờ đi giây lát:

- Vẫn còn. Nhưng bây giờ em biết rằng chẳng bao giờ em còn ra đi được nữa.

Em nói thế, anh Lý bằng lòng, tức là anh ấy nhận lời khi ra khỏi tù, sẽ đưa em cùng đi sang Pháp. Từ đó cho đến ngày em ra khỏi nhà lao, em được ở cùng phòng với ba anh. Các anh ấy có tiền nên được ở riêng một phòng. Cũng chính nhờ ở riêng một phòng như thế, các ảnh mới có điều kiện để tổ chức vượt ngục. Việc ở riêng một phòng là việc đầu tiên trong kế hoạch vượt ngục của mấy ảnh, việc thứ hai là việc móc nối em. Nếu không có em, kế hoạch của mấy ảnh khó có thể làm được.

Những điếu thuốc trôn quýt theo nhau thành khói trên khẩu đèn, căn phòng nhỏ càng về khuya càng mù mịt khói. Khói thuốc phiện hòa lẫn với khói thuốc lá. Con muỗi nào dại dột bay vào đây chắc chắn là chỉ say khói thuốc phiện cũng đủ chết. Thuận kể tiếp về vụ vượt ngục:

- Anh Lý dặn em kỹ càng mọi việc em phải làm sau khi em ra tù. Các anh ấy có địa điểm liên lạc là một tiệm buôn ở ngoài chợ. Khi ra tù, em tới đó lấy tiền, nhận chỉ thị của anh ấy trong tù gửi ra, em muốn nhắn gì với ảnh cũng nói ở đó.

Trước hết, việc của em là đi tìm mua một cái kìm cắt được dây kẽm gai, một cái cưa nhỏ cưa được chấn song sắt và một ve át-xít để tẩm song sắt. Mua những thứ đó thì dễ rồi, có tiền là mua được, làm sao đưa được những thứ đó vào nhà lao cho các anh ấy mới là việc khó.

Ðể tránh điều tra tìm ra sau này, em sang tận Qui Nhơn để mua cái kìm và cái cưa. Em còn nhớ cái kìm năm trăm đồng, cái cưa bảy trăm đồng. Bây giờ cái cưa ấy chắc phải ba, bốn ngàn đồng chứ không dưới. Làm cách nào đưa được những thứ đó tới tay anh Lý là bổn phận của em.

Em để ý thấy vào lúc bảy giờ tối, tức là sau giờ ăn bữa tối của tù, có hai thằng tù hạng bét khiêng những thùng rác trong nhà lao ra đổ ở bãi cỏ đằng sau nhà lao chờ sáng mai xe rác đến hốt. Em nghĩ ra một cách. Em đến lò bánh mì bảo thằng chủ Tầu bán cho em một số bột mì đã nhào sẵn giá hai trăm đồng. Em đem bột về nhà cho cái kìm, cái cưa vào đó nặn thành một ổ bán săng-huýt to tướng rồi đem trở lại lò bánh. Em bảo thằng chủ Tầu là đêm nay nhà em đãi khách, muốn làm cái bánh thật lớn ăn chơi. Em nhờ nó cho ổ bánh của em vào lò nướng, em ngồi đó chờ lấy bánh về.

Lúc bảy giờ tối, em đem ổ bánh đến chờ sẵn ở chỗ đổ rác của tù. Tối đó may sao tên dẫn tù đi đổ rác lại là thằng quen em, trước kia nó cũng là tay chơi ở đất này. Em đến tán chuyện nó, em nói là em phải gửi cái bánh này vào cho bọn anh Lý ăn đêm nay, nếu không đưa được bánh vào ngay bây giờ thì lôi thôi to. Ở trong lao anh Lý bảnh lắm, tất cả mọi tên đều nể ảnh. Chính vì vậy mà tên đó nhận lời đưa ổ bánh vào dùm em. Em cho nó mượn hai ngàn đồng xài chơi và nó bỏ ổ bánh đã gói kỹ vào thùng rác không, cho hai tên tù khiêng trở vào nhà lao. Bọn canh cửa không quen khám thùng rác – thùng rác mà lại là thùng rác vừa đem đi đổ xong mang trở vào thì còn có cái gì để mà khám nữa – Em đứng đó đến lúc thấy thùng rác được đem yên ổn trở vào nhà lao rồi em mới về.

Ðó là xong cái kìm với cái cưa. Còn ve át-xít. Át-xít thì không cần nhiều, em đựng bằng ve pê-ni-xi-lin. Mưu này do anh Lý bầy cho em. Lấy hộp sữa đặc, cẩn thận bóc giấy nhãn bên ngoài ra cho khỏi rách, đục hộp ở giữa, nhét ve át-xít vào hộp xong rồi hàn lại, dán giấy nhãn bên ngoài lên. Gửi vào theo lối tiếp tế đồ. Êm như ru.

Tạm xong những gì em phải làm ngay ở bên ngoài sau khi em được ra. Việc ba anh ấy phải làm trong nhà lao là cắt chấn song sắt cửa sổ và chuẩn bị điều kiện thuận tiện để vượt lao. Lúc đó gần tới cuối năm. Sắp Tết. Các anh ấy đã ở trong tù được một năm. Các anh ấy định tới đêm 23 Tết, đêm cúng ông Táo về chầu Trời, là thoát ra. Mọi việc tiến triển êm và trơn tru như hòa bi sắt trong vòng quay ru-lét.

Át-xít được dùng để tẩm lên song cửa để cưa cho dễ. Ba anh thay phiên nhau cưa. Ban đêm, những lúc có tiếng tầu bay nổ là lúc các anh ấy cưa mạnh nhất. Vì ở riêng một phòng mới cưa song sắt được, nếu ở chung đông người thì lộ ngay. Phòng các anh ấy có cửa sổ mở ra một lối đi, rồi tới tường sau nhà lao. Tường cao lại có dây kẽm gai. Làm sao trèo lên đầu tường để cắt dây kẽm gai sau khi đã thoát từ phòng giam ra tới đấy? Anh Lý bỏ tiền ra nhờ quản đốc mua dùm cho một cái bàn ping-pong đánh cho đỡ buồn, bàn ping-pong kê ngay ở con đường sát tường sau nhà lao ấy. Bàn ping-pong được đem vào. Ðêm ấy, khi ra được tới đó, các anh ấy sẽ dựng bàn ping-pong lên, leo lên đầu tường dùng kìm cắt dây thép gai thoát ra ngoài. Ðúng giờ hẹn, em chờ sẵn ở bên ngoài, ngay chỗ sau nhà lao, với một chiếc xe hơi.

Trước khi thoát ra, các anh ấy còn làm cho đèn trong nhà lao tắt. Ðèn tắt là dấu hiệu báo cho em ở bên ngoài biết các anh ấy sắp ra. Ở bên ngoài, em phải làm tắt đèn đường, để cho lính gác trên lô-cốt không trông thấy.

Em còn việc mua thuốc ngủ gửi dần vào cho các ảnh. Thuốc ngủ cũng gửi theo lối bỏ vào trong hộp sữa, hàn kín lại. Ðến đêm hành sự, vì là gần Tết, các anh ấy sẽ bỏ tiền ra mua gà nấu cháo, mua rượu vào nhà lao, mượn sự năm hết tết đến, cái thân tù tội, nhớ nhà, nhớ vợ con, tổ chức ăn và mời hết nhân viên giám thị nhà lao đêm đó cùng đớp. Cả lính gác cũng được mời nhậu. Cháo gà có bỏ thuốc ngủ. Thiên hạ ăn uống kịch liệt sẽ ngủ lăn ra. Cuối năm ở đây trời khá lạnh, tuy không đến nỗi rét nhưng cũng không nóng như ở Sài Gòn. Trời lạnh thích hợp với việc ăn uống.

Anh Lý quyết định đêm 23 Tết trốn ra nhưng tới sáng 23, khi tới nhà liên lạc ở chợ, em được tin anh Lý hoãn lại. Em không biết vì sao, chỉ biết là hoãn lại. Về sau em mới biết là ngày đó các anh ấy chưa lấy đủ số băng cần thiết để băng mặt giả làm bị thương. Em ở ngoài chờ, giờ hành sự sắp tới, ruột em nóng như lửa đốt.

Tới sáng 26 Tết, em được tin: đêm nay. Ba anh sẽ vượt ngục đêm nay. Em được tin đó lúc 11 giờ trưa và em sống từ đó cho đến khuya như người sống trong mơ. Có thể là em còn thấy hồi hộp, còn thấy thì giờ đi chậm hơn là các anh ấy trong tù nữa. Anh Lý cẩn thận lắm, anh ấy tính trước đủ cả. Ngoài giờ hẹn đem xe đến chờ ở sau nhà lao, em còn được dặn cả khẩu hiệu để nhận nhau đêm đó. Mười hai giờ đêm ấy em đến bến xe lấy trộm một chiếc xe lô hiệu Peugeot sơn đen. Lấy trộm xe là nghề của em, em làm việc này còn dễ hơn là việc không có tiền vào hàng cơm ăn quỵt. Chỉ tội cho thằng tài xế cái xe lô mấy hôm sau bị Cớm bắt đánh gần chết.

Thời đó chưa có giới nghiêm ban đêm, dân chúng còn đi lại thong thả suốt đêm. Các anh ấy vượt tường ra vào lúc ba giờ sáng. Hai giờ em đã đem xe đến đó chờ. Gần Tết, đêm lạnh quá. Em bận đồ đen từ đầu đến chân để nấp ở trong bóng tối cho lính đi tuần không nhìn thấy. Thực ra, gần Tết nên thiên hạ cũng lơ là với việc canh phòng. Em đem xe tới đậu sau hàng cây rồi chờ. Lạnh ơi là lạnh. Lạnh mà phải ngồi chết dí một chỗ lại càng lạnh. Em cứ phải vung hai tay cho bớt lạnh. Ðến ba giờ rưỡi mà vẫn chưa thấy gì cả. Ðèn trong lao vẫn sáng. Cứ năm phút em lại nhìn đồng hồ. Nhiều lúc em nghĩ rằng đã lâu lắm mình không nhìn đồng hồ, chắc phải nửa giờ đã qua, nhưng khi nhìn lại đồng hồ mới thấy chỉ mới có năm sáu phút. Cho đến lúc bốn giờ sáng thì em thấy đèn trong lao phụt tắt.

Ðến lượt em làm tắt đèn đường. Con đường vắng sau lao xá chỉ có hai cột đèn đường thôi. Việc làm tắt đèn đường chẳng có gì là khó. Em đã làm sẵn một sợi dây thép, một đầu buộc vào thanh gỗ, chỉ cần quăng thanh gỗ qua những sợi dây đèn đường là dây thép làm dây điện chạm vào nhau, tắt điện hết cả khu phố.

Làm tắt đèn đường rồi em núp sau gốc cây, nhìn và chờ đợi. Trên bức tường sau lao xá, em thấy một đầu người nhô lên… rồi rớt ra ngoài, nằm yên đó. Gần chỗ các anh ấy nhẩy ra có nhiều lồng vịt, lồng gà, những nhà buôn gà vịt trong chợ chọn góc đường vắng này làm nơi đổ gà vịt xuống từ những xe hàng. Anh nhẩy ra chạy đến lấy một cái lồng úp lên người. Em nấp sau gốc cây nhìn rõ từng cử động của anh đó nhưng em vẫn chưa biết anh đó là anh nào trong ba anh. Em cũng chưa lên tiếng. Anh Lý dặn em là em khỏi cần lên tiếng, sau khi vượt ra được nhà lao, các anh ấy sẽ đi tới chỗ em đậu xe, em sẽ hỏi khẩu hiệu, nếu thấy trả lời không đúng thì em cứ việc chạy. Anh ấy đề phòng cả việc mưu vượt ngục bị bại lộ vào phút chót, giám thị đóng vai vượt ngục để vồ nốt bọn chờ đón ở bên ngoài. Anh ấy tính thật kỹ. Thật không thiếu sót một tí gì, bây giờ nhớ lại em vẫn còn phục. Càng nhớ lại em càng phục.

Chừng ba phút sau, mọi vật vẫn êm ả, mới thấy anh thứ hai vượt ra. Rồi anh thứ ba. Vài phút sau nữa, vẫn êm. Các anh ấy đứng dậy đi về phía em. Em hỏi khẩu hiệu, có tiếng anh Lý trả lời. Em bước ra, anh ấy hỏi em câu đầu tiên:

- Thuận em… Có xe không?

Bây giờ em mới biết tại sao các anh ấy cần nhiều băng y tế và tại sao phải có khẩu hiệu nhận nhau. Vì cả ba anh đều hóa trang thành người bị thương, mặt cả ba anh cùng băng kín.

Em đưa các anh ấy vào xe và nổ máy chạy ngay ra khỏi tỉnh. Xe vào đến Phan Rang mới có tám giờ sáng. Ở Phan Rang đã có một chiếc xe Jeep chờ sẵn. Bọn em sang xe. Chiếc xe lô được bỏ lại đó.

Người đem xe Jeep nhà binh đến đó không được theo xe. Em phải cầm lái. Trong xe có một cái tép da với bốn cái áo mưa nhà binh. Bọn em bận áo nỉ, áo mưa lên và trở thành quân nhân. Ba anh trở thành ba sĩ quan bị thương được cấp tốc đưa về Sài Gòn điều trị. Trong tép da có tiền và giấy tờ, tất nhiên toàn là giấy tờ giả. Xe cũng là xe đánh cắp. Chỉ có tiền là tiền thật.

Chính em lái xe Jeep đưa ba anh ấy về tới Sài Gòn.

Về tới Sài Gòn em mới thấy các anh ấy có cả một tổ chức, tổ chức lớn nữa là khác. Các anh ấy có đủ mọi thứ cần dùng, giấy tờ, tiền bạc. Từ Phan Rang về đến Sài Gòn, dọc đường bọn em không gặp qua một rắc rối hay một lo sợ nhỏ nào. Về tới Sài Gòn, các anh ấy vào ở ngay một khách sạn trong Chợ Lớn. Trong mấy ngày đầu có nhiều sĩ quan tới phòng gặp các anh ấy lắm, em không biết họ là sĩ quan thật hay sĩ quan giả, chỉ biết toàn là Trung Tá, Thiếu Tá, người nào thấp lắm cũng là Ðại Úy.

Ðiều buồn nhất cho em là dự định đi Pháp của mấy ảnh bị bỏ. Cho đến bây giờ em vẫn không biết rõ là anh Lý có tính đi Pháp thật không hay chỉ nói thế để cho em thêm hăng hái giúp anh vượt ngục, hoặc là về tới Sài Gòn, anh ấy lại thấy không cần đi nữa. Về Sài Gòn được một tuần thì anh Lý cho em biết là bọn ảnh không đi Pháp nữa, ảnh ở lại để “tranh đấu”. Lúc đó phong trào chống ông Diệm đã nhen nhúm nổi lên, khi bọn em về tới Sài Gòn thì đã có vụ hai ông phi công Quốc, Cử ném bom xuống dinh Ðộc Lập. Em buồn quá vì không được đi Pháp.

Em buồn vì không được đi như mộng ước, lại buồn vì có nhiều tiền mà không được đi chơi đâu hết, cứ ru rú suốt ngày, suốt đêm trong phòng khách sạn. Anh Lý không cho em đi đâu hết. Ảnh đi đâu cũng dắt em đi theo. Chắc ảnh sợ em có tiền đi chơi lang bang bị Cớm nó vồ được. Ảnh sợ em bị bắt, bị đánh đau rồi khai ra, chứ sợ em làm phản đi báo thì chắc ảnh không sợ.

Em còn nhớ thời gian ở khách sạn, có lần em bị anh Lý đánh hai cái bạt tai. Hôm ấy, anh Lý đi có việc. Cả hai anh kia cũng đi luôn. Ảnh dặn em ở nhà nếu có động thì đóng cửa sổ phòng lại, các ảnh khi về thấy cửa sổ đóng sẽ biết là có động và sẽ không lên phòng. Trưa hôm ấy em ở nhà một mình, cơm cũng gọi bồi đem lên phòng luôn, em uống rượu say quá nằm lăn ra ngủ. Quên mất lời dặn, em đóng cửa sổ phòng lại cho đỡ chói mắt. Khi các anh ấy về thấy cửa sổ đóng đúng như lời dặn nên không dám lên, cứ đứng léng phéng quanh đó nghe ngóng. Anh Lý gọi dây nói tới bảo bồi lên phòng gọi em xuống em cũng ngủ không ra mở cửa luôn. Cả mấy tiếng đồng hồ sau lúc trời tối, các ảnh mới vồ được thằng bồi phòng đi ra phố, hỏi thăm có chuyện gì xẩy ra, nó mới nói cái cậu ở trong phòng uống rượu rồi đóng cửa ngủ, có dây nói gọi cũng không chịu xuống nghe. Khi lên phòng, anh Lý cáu quá đánh em hai cái bạt tai…

Lật đật rồi qua Tết… Rồi hai mươi mấy ngày qua… Em chịu hết nổi. Em nói với mấy ảnh là em về Sài Gòn để theo các anh qua Pháp, nay các ảnh không đi nữa mà cứ sống thế này thì em phát điên lên mất. Xin các ảnh cho em trở về miền Trung. Lúc này các ảnh đã đưa em về ở một căn nhà đường Nguyễn Thông nối dài. Em sẽ tự lo cho thân em. Không có ai biết mà cũng chẳng có ai ngờ em dính líu trong vụ các anh ấy vượt ngục. Em có trở về cũng chẳng có gì nguy hiểm. Em thề chết cũng không chịu khai ra mấy ảnh.

Anh Lý bàn chuyện em với hai anh kia. Thấy không còn cách nào hơn, các anh bằng lòng cho em trở về. Anh Lý đưa cho em năm chục ngàn đồng và dặn em khi nào em cần gặp các anh thì tới đâu, tìm ai, nói những gì, những người ở đó sẽ đưa em đi gặp ảnh hoặc nói cho em biết phải tới đâu.

Em như con chim xổ lồng. Sống với các anh cả tháng em còn khổ hơn là khi bị tù. Bị tù tất nhiên là khổ nhưng khi có tiền, thấy mình có thể đi ăn đi chơi được mà vẫn chịu không dám đi ăn đi chơi còn khổ hơn. Số bạc năm chục ngàn đồng năm ấy lớn lắm. Em như thằng có bạc triệu trong tay, tưởng sẽ ăn chơi không bao giờ hết tiền vậy. Rời Sài Gòn, em lên Ðà Lạt, mướn phòng ngủ hách nhất, ăn chơi như công tử con nhà giầu. Sống ở Ðà Lạt chừng mười ngày, em về đây. Ở Ðà Lạt, em có bao một con điếm. Em rủ nó cùng về đây với em, đi chơi như vợ chồng mới cưới, em bao nó hết, khi chia tay em sẽ cho nó riêng năm ngàn đồng. Nó bằng lòng.

Em với nó về bằng xe hỏa. Tới Phan Rang, em với nó xuống chơi. Ở Phan Rang đang có chợ phiên. Em với con vợ bao của em vào khách sạn, mở phòng, tắm, thay quần áo rồi dắt tay nhau đi chơi chợ phiên đúng như vợ chồng mới cưới. Lúc ấy khoảng tám giờ tối. Người ta đi chơi chợ phiên thật đông. Nhưng em thật tình không ngờ cảnh sát hay đến vậy. Vừa tới cổng chợ phiên, em bị bắt, còng tay liền.

Cớm chìm đã chờ sẵn ở đó để bắt em mà em không biết. Em bị còng tay ngay tại chỗ, đưa liền về Ty, cả con bé đi với em cũng bị giam mất mấy tháng. Tội nghiệp con nhỏ đâu có biết mô tê gì. Em bị giữ ở Ty Cảnh Sát Phan Rang một đêm. Sáng sớm hôm sau em được đưa bằng xe về đây, hộ tống như một nhân vật quan trọng.

Về đây, em bị khai thác ngày đêm. Em bị đánh quá… Cớm đã biết hết. Họ bắt em khai ra chỗ các anh ấy ở Sài Gòn, nhưng em nhất định chối, em cứ nói là em không biết gì hết về vụ vượt ngục… Em cắn răng chịu đòn. Vì em sợ khai ra, các ảnh có thể vì không ngờ em đã bị bắt sớm thế, các ảnh vẫn còn ở trong căn nhà đường Nguyễn Thông nối dài và nếu em chỉ nhà, các ảnh sẽ bị bắt. Nếu em khôn như bây giờ thì em đã biết rằng ngày đó em có nhận, có khai cũng chẳng hại gì, vì sau khi em ra khỏi nhà đó là các anh ấy cũng đi luôn, đời nào các ảnh còn ở lại đấy.

Em chịu đòn tới nửa tháng, chịu bị đánh chết đi, sống lại. Thấy em chì quá, sợ đánh quá em có thể chết, họ bỏ đói em. Em không được ăn, không được uống, nằm như xác chết. Thét rồi em chịu hết nổi. Chừng hai mươi ngày sau em nghĩ rằng bây giờ chắc các ảnh ở Sài Gòn đã biết em bị bắt, các ảnh đã đi nơi khác, em có khai ra số nhà đó chắc Cớm cũng chẳng còn vồ được mấy ảnh. Nhưng em lại nghĩ rằng em đã có lời hứa không khai, em phải giữ lời hứa. Em tin chắc rằng anh Lý rất bảnh, rất anh hùng, nếu em cứ nhất định không khai, anh ấy sẽ tìm cách cứu em ra khỏi tù.

Tinh thần em mạnh lắm nhưng đói quá chịu không nổi. Em lại nghĩ nếu mình nhất định không khai, mình có thể chết. Có hôm đói quá, thèm thuốc lá quá, chịu không nổi, em nói với ông thẩm vấn: “Tôi xin khai… Nhưng tôi đói quá nói không được, ông cho tôi ăn đi rồi tôi khai…”

Họ cho em ăn ngay, ăn sữa với bánh mì, có cả phở  với cà-phê, thuốc lá. Họ hí hửng chờ em ăn xong là khai. Nhưng ăn xong em nói:

“Tôi đói quá nên nói bậy để các ông cho tôi ăn chứ tôi có biết gì đâu mà khai…”

Cha Trưởng Ban đổ quạu, chính cha này sai nhân viên đi mua phở, cà-phê cho em, hắn chửi:

“Ð.m. Mày rỡn mặt chúng ông hả…? Tao cho mày ăn cái gì mày phải nhả ra hết… Ðánh cho mày nhả ra…”

Mà thằng chả đánh em hộc ra hết anh ạ. Có gì đâu anh, vừa ăn no xong cứ đấm mạnh vào bụng là có gì trong bụng ọc ra hết ngay. Thằng cha không chịu cho em ăn không.

Kể đến đây Thuận buông tiêm cười hì hì. Tôi và người bạn thổ công của tôi cũng cười.

Rồi sau cùng, Thuận cũng phải khai. Thuận bị kết án bốn năm tù. Ở được hai năm thì gã được phóng thích. Gã trốn quân dịch ít lâu, làm nghề chạy xe Honda rước khách Mỹ khi lính Mỹ tới miền Trung. Rồi gã vào quân đội và đêm nay, gã nằm bên bàn đèn kể cho tôi nghe câu chuyện này.

NGƯỜI Ở LẠI SÀI GÒN

Ảnh Hoàng Hải Thủy, ghi ở Sài Gòn năm 1976, in lên trang bìa Nguyệt San Đất Việt, xuất bản ở California, Hoa Kỳ.Tháng 5- 1976.

Ảnh Hoàng Hải Thủy, ghi ở Sài Gòn năm 1976, in lên trang bìa Nguyệt San Đất Việt, xuất bản ở California, Hoa Kỳ.Tháng 5- 1976.

Muà Xuân 2014, một bà thường đọc Viết ở Rừng Phong gửi cho tôi – CTHĐ – tâp Bán Nguyệt San ĐẤT VIỆT Số 2. Tháng 7 năm 1976, xuất bản ở California. Chủ nhiệm Bà Nguyễn Giáng Vân, Chủ bút Tô Văn.

Tập báo xưa làm tôi bùi ngùi và cảm khái. Đất Việt ra đời ở Hoa Kỳ tới năm nay – 2014 — đã gần bốn mươi năm. Gần bốn mươi năm tờ báo được giữ kỹ. Giấy báo ngả mầu vàng nhưng không bị rách. Tôi cám ơn hai bà: một bà giữ Nguyệt San Đất Việt, một bà gửi Đất Việt cho tôi. Chủ đề chính của số báo viết về Hoàng Hải Thủy, một trong những người ở lại Sài Gòn sau Ngày Ba Mươi Tháng Tư 1975. Xin đăng nguyên văn bài viết; mời quí vị đọc.

ĐẤT VIỆT Số 2. Tháng 7 năm 1976.

Từ Hà Nội, Hoàng Hải Thủy vô Sài Gòn năm 1953, hình như cùng một lúc với Nhà văn Thanh Nam. Hồi đó, Hoàng Hải Thủy còn trẻ lắm, mới rời ghế nhà trường giữa lúc cuộc chiến tranh chống Thực dân Pháp đang hồi sôi động.

Tiểu thuyết Ba Xu của Lê Minh Hoàng Thái Sơn, viết cho Nhà Xuất Bản Nam Cường năm 1951. Năm 2000, Nhà Xuất Bản Đồng Tháp in lại.

Tiểu thuyết Ba Xu của Lê Minh Hoàng Thái Sơn, viết cho Nhà Xuất Bản Nam Cường năm 1951. Năm 2000, Nhà Xuất Bản Đồng Tháp in lại.

Vô Sài Gòn, Hoàng Hải Thủy ở chung với Lê Minh Hoàng Thái Sơn, chủ nhiệm tuần báo Đi và Sống. Lê Minh Hoàng Thái Sơn là anh rể của Hoàng Hải Thủy, một nhà văn rất giang hồ, táo bạo.

Hoàng Hải Thủy làm trong tòa soạn Tuần báo Đi và Sống, suốt ngày đi theo Hoàng Thái Sơn du hí ở những tiệm hút, tiệm khiêu vũ. Hồi đó Tuần báo Đi và Sống của Hoàng Thái Sơn bán chạy lắm, tiền bạc vô dễ dàng nên hai anh em họ Hoàng tha hồ ăn chơi. Phải nói rằng Hoàng Hải Thủy chiu ảnh hưởng rất nhiều từ Lê Minh Hoàng Thái Sơn nhưng Hoàng Hải Thủy có căn bản giáo dục hơn Lê Minh Hoàng Thái Sơn rất nhiều. Tánh chân thật và sự giáo dục của gia đình làm cho Hoàng Hải Thủy không bị sa đọa khi ăn chơi đàng điếm ở tuổi thanh xuân.

Cùng năm 1952 khi vừa vô Sài Gòn gặp lúc Nhựt báo Dân Quyền của anh Trần Tấn Quốc do anh Văn Hoàn làm chủ bút mở cuộc thi truyện ngắn, Hoàng Hải Thủy gửi truyện đến tham dự. Ban Giám Khảu Cuộc Thi của nhựt báo Dân Quyền đã chọn truyện ngắn của Hoàng Hải Thủy để tặng giải nhứt.

Chiếm được giải nhứt Truyện Ngắn của báo Dân Quyền, hình ảnhHoàng Hải Thủy được đăng trên báo chí miền Nam Việt Nam đã khuyến khích Hoàng Hải Thủy rất nhiều trong bước tiến vào làng văn, làng báo miền Nam VN.

Hoàng Hải Thủy say mê những tiểu thuyết phóng sự của Nhà Văn Xã Hội Vũ Trọng Phụng oàng Hải Thủy được đăng lên bánhư Số Đỏ, Giông Tố..v..v..Hoàng Hải Thủy thích lối viết hiện thực của Vũ Trọng Phụng. Năm 1954-1955, Hoàng Hải Thủy viết vài phóng sự ngắn trên vài tờ tuần báo ở Sài Gòn. Hồ Anh, Chủ nhiệm nhựt báo Ngôn Luận, thấy những phóng sự ngắn của Hoàng Hải Thủy rất có duyên nên Hồ Anh mời Hoàng Hải Thủy viết cho Ngôn Luận một phóng sự dài.

Hồi ấy Thủ Tướng Ngô Đình Diệm vừa cướp ngôi của Bảo Đại, dựa vào Mỹ đuổi Tây như điên. Ông Tây, Bà Đầm chán ngán quá rồi. Một số Tây Đầm từ miền Bắc di cư vào Namở trong Camp Lyautey đường Trần Quốc Toản, sau này là trại của Cảnh Sát Dã Chiến, sống với đủ các mục vui Tứ Đổ Tường, Rượu, Thuốc phiện, Trai gái, Cờ bạc. Ai thích Tây Đầm thì đến Camp Lyautey. Ai muốn Tứ Đổ Tường cũng đến Camp Lyautey.

Khi đó, người ta ra sức căm thù Tây Đầm Pháp cũng chẳng khác gì bây giờ người Việt oán hận chính sách của Hoa Kỳ làm mất miền Nam VN. Hoàng Hải Thủy lăn lộn, đi chơi nhiều nơi, anh tìm thấy một thiên phóng sự rất sống ở Trại Lyautey nên anh viết cho Ngôn Luận thiên phóng sự “TÂY ĐỰC TÂY CÁI” đăng 3 cột nơi trang nhứt.

Nhựt báo Ngôn Luận khởi sắc mạnh qua thiên phóng sự hiện thực xã hội của Hoàng Hải Thủy. Lối viết phóng sự của Hoàng Hải Thủy chịu ảnh hưởng rất nhiều của Vũ Trọng Phụng, nhưng có những ngôn ngữ mới, một số những  ngôn từ đối đáp của các nhân vật trong phóng sự Tây Đực Tây Cái đã trở thành ngôn ngữ thông dụng của giới trẻ giang hồ và giới báo chí thời bấy giờ. Về sau, Phan Nghị cũng thành công theo lối viết của Hoàng Hải Thủy.

Sau Ngôn Luận, Hoàng Hải Thủy viết thêm cho Văn Nghệ Tiền Phong, tờ tuần báo cũng doHồ Anh làm chủ nhiệm nhưng chỉ vài số Hoàng Hải Thủy và Hồ Anh có chuyện lục đục, Thủy đã bỏ Văn Nghệ Tiền Phong và Ngôn Luận, đi viết cho báo khác.

Hoàng Hải Thủy trở thành một nhà văn nổi tiếng sau nhiều tác phẩm được ấn hành. Hoàng Hải Thủy rất giỏi ngoại ngữ, Anh cũng như Pháp. Về sauHoàng Hải Thủy chỉ phóng tác  nhưng với cách phóng tác rất độc đáo. Những tác phẩm tiểu thuyết phóng tác của Hoàng Hải Thủy bán rất chạy.

Năm 1961 Hoàng Hải Thủy làm đặc phái viên Nhựt báo Sàigỏnmoi của bà Bút Trà. Ở đây, Hoàng Hải Thủy được trọng dụng. Anh vừa viết văn vừa làm báo, kiếm được khá nhiều tiền. Hoàng Hải Thủy tậu được xe hơi, dư tiền chi tiêu cho gia đình, cùng tiền chi cho những thú ăn chơi mà anh đa mang.

Đời Hoàng Hải Thủy có 3 cái thú, 3 thứ đam mê nhất:

    • Mê hút thuốc phiện.
    • Mê Vợ.
    • Mê đọc sách.

Có thể nói trên trái đất này chưa có ai mê vợ bằng Hoàng Hải Thủy. Mối tình của Hoàng Hải Thủy với vợ anh cũng khác những mối tình của những người tầm thường. Vợ Hoàng Hải Thủy là một đầm lai, có vẻ đẹp nha trộn giữa Đông phương và Tây phương. Hoàng Hải Thủy vẫn nói với những người bạn thân : “Trong Tình yêu với vợ anh, anh là gã học trò yêu mê cô giáo.”

Có điều ngang trái, vợ Hoàng Hải Thủy lại rất ghét thuốc phiện, rất sợ thuốc phiện. Hai vợ chồng thường dằn dỗi nhau vì chuyện hút thuốc phiện. Anh hút dấu vợ nhưng làm sao dấu được những người đàn bà đẹp, tinh ranh có loại giác quan thứ 6, thứ 7 cho đến thứ 12, nên vợ anh nghi và biết anh nghiện.

Làm báo không như làm công chức vì thời giờ không nhất định, có khi đi sớm về muộn, có khi phải đi làm cho đến khuya mới về. Tòa báo cần là phải có mặt nên Hoàng Hải Thủy đi chơi lu bù. Buổi chiều Hoàng Hải Thủy cùng một số nhà văn đến tiệm Chú Quay ở đường Trần Hoàng Quân nằm hút cho đến 7, 8 giờ tối, ra tiệm ăn rồi lái xe về nhà, nằm đọc sách, hú hí với vợ con. Nhiều khi mê đọc và sáng tác, Hoàng Hải Thủy thức gần trọn đêm.

Hoàng Hải Thủy đẹp trai, duyên giáng, đúng là dân Hà Nội, nói chuyện thật đáng yêu, có đôi mắt rất lẳng lơ, nụ cười nhiều tình cảm, nên Hoàng Hải Thủy được nhiều nữ sinh say mê nhưng Thủy chỉ có mê vợ nên nhiều nàng cay cú Thủy lắm.

Tính Thủy rất nghệ sĩ, lái xe hơi nhưng chẳng bao giờ có bằng lái. Có người lo ngại cho anh thì anh nói:

“Không có bằng lái xe nên phải cẩn thận khi lái xe, có bằng ỷ vào bằng, chạy bậy, phiền lắm.”

Thật ra Hoàng Hải Thủy không thích chuyện gì bận bịu đến mình ngoài việc hút thuốc phiện, đọc sách và mê vợ.

Tuy mê vợ, Hoàng Hải Thủy cũng còn yêu một người đàn bà khác. Đó là một loài Chim Yến Đêm. Tôi là người được Hoàng Hải Thủy tâm sự nhiều nhứt khi anh yêu Yến Đêm:

“Tôi được mời đóng phim. Từ thưở nào đến giờ tôi có biết đóng phim là gì đâu, nhưng được mời cũng cứ nhận. Đạo diễn và nhà sản xuất  phim thì muốn dựa vào tên một văn sĩ, nhà báo. Đến phim trường tôi gặp một giai nhân, bốn mắt nhìn nhau. Nàng cũng như tôi cùng thấy một cảm thông huyền diệu, tình yêu làm chúng tôi sáp lại với nhau.”

Loài Yến về Đêm – (sở dĩ phải viết như thế vì người yêu của Hoàng Hải Thủy hiện sống ở California nên không thể viết rõ hơn.) – cùng Hoàng Hải Thủy gắn bó nhau  nhưng anh nói thật với nàng anh yêu nàng nhưng anh không thể sống vợ chồng với nàng.

Tình ngoại hôn dù có giữ kín tới đâu cũng không dấu được ai, nói gì đến chuyện dấu vợ. Hoàng Hải Thủy biết vợ anh đau nên anh dứt tình với Yến Đêm. Gia đình anh chỉ thêm chút nữa là tan vỡ.

Yến Đêm có thời vào làm nhân viên Việt Tấn Xã thời Tổng Giám Đốc Nguyễn Ngọc Linh

Năm 1964 nhật báo Saigonmới bị đóng cửa. Có thể nói năm 1964 là nămHoàng Hải Thủy lận đận nhất. Chị Hoàng Hải Thủy bỏ nhà ra đi. Anh viết nhắn tin trên báo kêu gọi vợ trở về. Anh viết về vợ anh ở cả trong những truyện dài đang đăng báo. Cuối cùng vợ anh trở về.

Nàng Yến Đêm buồn chán bỏ Sài Gòn đi luôn.

Mấy năm sau này Hoàng Hải Thủy vẫn viết truyện, in sách, hầu hết là loại phóng tác. Anh học thêm chữ Hán, chỉ trong 4 tháng anh đã có thể dịch sách chữ Hán, anh dịch và bàn luận truyện Tây Du Ký cho nhựt báo Sóng Thần cho đến Ngày 30 Tháng Tư 1975.

Năm 1973 Hoàng Hải Thủy làm nhân viên Sở Thông Tin Huê Kỳ – USIS – phụ trách báo chí với ông Mueller. Ông Mueller từng ở Việt Nam khá lâu, ông có gặp và có cảm tình với nhiều ký giả Việt. Khi người Việt di tản sang đảo Guam, ông Mueller phụ trách tờ báo tiếng Việt Chân Trời Mới ở Guam.

Tuy làm cho Mỹ vì sinh kế nhưng phải nói rằng Hoàng Hải Thủy rất ghét Mỹ. Nếu kẻ viết bài này nhớ đúng thì gần Ngày 30 Tháng Tư 1975, có người hỏi Hoàng Hải Thủy có “đi” không? Anh nói:

“Đi đâu?  Đi sangHuê Kỳ ư? Chẳng bao giờ tôi đi hết. Làm với người Mỹ nhưng tôi chán người Mỹ lắm.”

 Hoàng Hải Thủy nhất định không đi. Anh và gia đình ở lại với quê hương Việt Nam mến yêu và chịu khổ cực với đồng bào.

Bây giờ không biết đời sống của Hoàng Hải Thủy ra sao. Trên đất Huê Kỳ, nhớ thương những người bạn cũ, những Nhà Văn, chúng tôi cầu mong người Việt trong nước hãy đối xử với nhau trong Tình Thương, đừng kết thêm hận thù, đừng nghi oan cho những người thành tâm, thiện chí như Hoàng Hải Thủy.

Đất Việt xin giới thiệu với quí bạn đọc một truyện ngắn Xưa của Hoàng Hải Thủy: Truyện Mợ Chó, đăng trên giai phẩm Con Ong Xuân Canh Tuất, 1970.

CTHĐ Sao Y Bản Chính.

CTHĐ: Cám ơn ông bạn 40 năm xưa đã viết về tôi – H2T – trên Đất Việt, những chuyện quá đúng và quá đẹp. Ông bạn không ký tên dưới bài viết nên tôi chỉ biết ông là người Nam và ông biết nhiều về đời tư của tôi. Tôi chỉ cần viết thêm vài lời cho rõ:

Tôi không ghét Mỹ. Tháng Tư 1975 tôi chạy không thoát.

Tôi theo thấy mẹ tôi vào Sài Gòn năm 1951. Tôi học chừng 6 tháng ở Trường Tân Thanh do ông Phan Út làm hiệu trưởng. Năm ấy trường là một nhà tư ở góc đường Phạm Hồng Thái, tên Pháp là đường Lacoste. Ở đấy tôi được hai thầy Phạn Thụy, Phan Ngô dậy Pháp văn. iệu Trưởng. Trư

Đầu năm 1952 nhât báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc mở cuộc thi truyện ngắn. Tôi gửi dự thi truyện “Người con gái áo xanh.” Cuối năm truyện “Người Con Gái Áo Xanh” đuợc Giải Nhất. Tiền thưởng là 3.000 đông. Rất tiếc tôi không giữ được truyện ngắn đó.

Tôi không “rất giỏi ngoại ngữ..” Vốn tiếng Anh, tiếng Pháp của tôi đựng không đầy cái lá đa.

Số người Bắc di cư tạm trú ở Camp Lyautey chờ ngày về Pháp là những người lai Tây, hay người Việt có quốc tịch Pháp, không phải là Tây Đầm chính cống.

hht2

Nguyệt San Đất Việt Số 2 đăng một bài viết của ông Sức Mấy. Mời quí vị đọc:

SỨC MẤY – LÁ THƯ HOA THỊNH ĐỐN

LTS: Sức Mấy, một nhà báo nổi tiếng ở miên Nam Việt Nam, Tổng Thư Ký Nhật Báo Hoà Bình, một cây viết chuyện phiếm MÂY CHÓ, nay phụ trách mục LÁ ThƯ HOA THỊNH ĐỐN trên Nguyệt San Đất Việt.

D.C. 24-5-1976.

Anh Tô Văn thân mến,

Thú thật với anh, tôi không muốn viết tí nào. Vì biết viết cái gì bây giờ?

Mọi sự đã thay đổi hết, đúng ra phải nói mọi sự đã đảo lộn hết. Những đưá vốn lớn tiếng hô hào thắng lợi, rút cục đã thua cuộc và bỏ chạy trước nhất. Có thằng nhất định không chịu nhường một tấc đất, cuối cùng đã nhường cả nước cho cộng sản. Chín mươi chín phần trăm những người bỏ nước ra đi sang đây đã làm nghề khác không ăn nhằm gì tới nghề cũ. Khi mọi sự đã đảo lộn như vậy, người vốn cầm bút ở Sài Gòn bây giờ cầm đến bút, thấy lòng ngóng thế nào ấy.

Hơn nữa, đối tượng những bài viết của tôi khi còn ở V.N là chính quyền Sài Gòn ( hồi đó, tụi mình phải viết là “Chính quyền VNCH,” anh nào lỡ viết “Chính quyền Sàigòn” là báo bị đóng cửa thấy mẹ.) và những tên làm bậy, tham nhũng gộc. Nay đối tượng không còn nữa, hoàn cảnh đã thay đổi, viết cái gì bây giờ?

Nhưng anh thúc tôi quá, anh ở California, tôi ở Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, cách nhau mấy ngàn dặm mà cứ gọi điện thoại “long đít -tăng” giục bài, tốn kém cho anh quá. Tôi nói tới chuyện tốn kém đầu tiên, vì ở Mỹ xem ra mọi sự đều định giá bằng tiền, vì chỉ có tiền mới quan trọng, còn mọi sự là chuyện phụ.

Nên tôi “phải” viết cho anh. Nhưng xin đường lập lại mục “MÂY CHÓ” trên báo anh. Mục này, phù hợp với cái tên định mệnh của nó, đã gây bao nhiêu thăng trầm cho người viết, và tôi đã phải khổ cực, kể cả vào tù, ra khám, để bảo vệ nó. Tôi chỉ viết “MÂY CHÓ” khi nào thật “có hứng.” Mà ở đất Mỹ này mọi sự tính bằng tiền, nhưng tiền không mua được hứng, thành ra xin đừng lập lại mục “MÂY CHÓ.”

Đề nghị: báo anh xuất bản ở vùng California, tôi ở vùng Thủ Đô, tuy cùng một nước nhưng cũng xa gấp đôi khoảng cách từ V.N. sang Nhật. Vậy, một nửa tháng tôi sẽ viết cho anh một “Lá Thư Hoa Thịnh Đốn: kể dăm ba câu chuyện lẩm cẩm.

Viết cho anh hay độc giả của anh thì cũng vậy. Anh có thể đem thơ đăng lên báo, hay cứ coi là thư riêng, đọc xong rồi liệng bỏ, cũng được.

Hoa Thịnh Đốn kém Sàigòn về nhiều phương diện.

Trước hết, dân Thủ Đô Mỹ chưa tới một triệu, chỉ bằng một phần ba dân Sàigòn trước kia. Đa số là da đen, vào khoảng 70%. Cả ông Đô Trưởng cũng đen luôn. Tại sao có hiện tượng lạ: một nước nổi tiếng về nạn kỳ thị mầu da mà dân Thủ Đô nhiêu đen hơn trắng. Số là ngày xưa, sau khi được giải phóng, dân da đen đổ xô về thành phố làm công cho dân da trắng. Khi đó, phương tiện giao thông còn khó khăn, dân đen phải kiếm chỗ ở ngay trong thành phố. Dân da trắng giầu có hơn, che thành phố chật chội, bán lại nhà cho da đen để ra ngoại ô ở cho khang trang, rộng rãi. Hậu quả là hiện nay , đại đa số dân da trắng tập trung tập trung ở ngoại ô, sống trên đất Virginia hoặc Maryland, con da đen trở thành khối đa số ở Thủ Đô.

Nhà ở Hoa Thịnh Dốn cũng không cao bằng nhà ở Sài Gòn. Khách sạn Palace ở Sàigòn cao tới 15 tầng trong khi Mỹ sợ nhà cao, che khuất các công thự và đài kỷ niệm, luật  cho cất nhà cao tới một mức nào đó, nên nhà Hoa Thịnh Đốn chỉ cao tối đa 12 tầng. Thủ Đô Mỹ còn kém Sàigòn ở chỗ không có những căn nhà ổ chuột như các khu lao động ở Sài Gòn, không có chỗ đổ rác ở ngoài đường, thành ra, điều đáng buốn cho người Việt lưu vong là không thể tìm thấy Sàigòn giữa Hoa Thịnh Đốn.

Tôi còn nhớ rõ Sàigòn có hai nhà vệ sinh công cộng ngoài đường phố: một cái ở đầu đường Trần Hưng Đạo bên hông nhà ga, một cái ở đường Lê Lợi, phiá đối diện với nhà sách Khai Trí, cả hai đều rất mất..vệ sinh. Về điểm này, Hoa Thịnh Đốn cũng thua SàiGòn. Theo chỗ tôi biết, cả Thủ Đô Mỹ chỉ có một nhà vệ sinh công cộng bên đường phố và ngay trước Tòa Bạch Ốc. Kém về lượng, nhưng về “phẩm” nhà vệ sinh này cũng mất vệ sinh..gần bằng ở Sàigòn. Chẳng những chỗ đi tiểu mà ngay cả bên đi cầu đều không có cửa che. Mỗi khi bước vào đây, không cần có con mắt tinh đời của Cụ Đô Nhiễu cũng “thấy hết, biết hết.” Tôi vẫn thắc mắc tự hỏi tại sao một nước giầu lớn như Mỹ, có tiền viện trợ khắp thế giới, mà không sửa được cái cầu tiêu công cộng ngay trước Bạch Cung. Phải chăng vì những người có trách nhiệm không bao giờ có dịp sử dụng nó, nên nó bị bỏ quên. Hay vì cái mặc cảm trẻ trung, dân Mỹ thích bảo tồn cổ tích, đã bảo tồn luôn cái cầu tiêu cũ nát, dơ bẩn , không biết dựng lên từ bao giờ, coi như một “di tích lịch sử,” không muốn tân trang.

Đằng sau “di tích lịch sử” kia, cách một vườn bông, là Tòa Bạch Ốc, chỉ lớn bằng nửa Dinh Độc Lập. Chẳng những kém về kích thước, Bạch Ốc còn kém Dinh Độc Lập nhiều thứ: không có hàng rào kẽm gai, không có biển “vượt qua sẽ nổ súng,” không có lính canh, không có xe tăng bố trí, không có trực thăng đậu ngổn ngang trên nóc và dưới vườn Dinh Tổng Thống mà không có kẽm gai bao bọc, trông thiếu hẳn vẻ dân chủ và “thành trì chống Cộng” không được vững vàng. Nhất là Dinh Đốc Lập chỉ dành cho một hạng người ra vô, còn Bạch Ốc hàng ngày, du khách xếp hàng vào xem, cười đùa vui vẻ như đi xem khỉ ở sở thú, mất hết vẻ nghiêm trang.

Từ Bạch Ốc nhìn về phiá Tây, dọc theo Đại Lộ Pennsylvania thấy tòa nhà Quốc Hội to lớn, đứng án ngữ sùng sững như một trái núi. Xét về phương diện địa lý, toà nhà Quốc Hội Việt Nam nằm về phiá mặt dinh Độc Lập, nên Quốc Hội luôn luôn là cánh tay đắc lực của Tổng Thống. Trong khi đó, Bạch Ốc nằm trên Đại Lộ Pennsylvania và toà nhà Quốc Hội lớn gấp bội, án ngữ ngay đầu đường, nên Tổng Thống luôn luôn gặp chuyện bế tắc vì Quốc Hội. Dầu sao, Quốc Hội Mỹ cũng kém Quốc Hội Việt Nam ở chỗ thiếu Cụ Nguyễn Bá Lương làm Chủ Tịch. Tuy có cơ sở đồ sộ nhưng Quốc Hội thiếu Cụ Nguyễn Bá Lương, cũng như bún thang thiếu nắm tôm, mất hết cả ý nghĩa.

Bây giờ, xin nói đến người Việt ở vùng thủ đô Hoa Thịnh Dốn. Rất đông các Quí Vị tai to, mặt lớn, những người trong Chính Phủ và Quân Đội, từng một thời thét ra bạc, khạc ra tiền ở Việt Nam, bây giờ tập trung ở đây. Có điều đáng nói là người Mỹ không biết dùng nhân tài, nên bao nhiêu khả năng bị uổng phí. Xin nêu một thí dụ: Tổng Thống Ford đang gặp bất lợi trong chuyện tranh cử. Chẳng những ông khó có thể đắc cử vào tháng 11 này, mà còn có thể không được đảng đề cử ra làm ứng cử viên trong Đại Hội tháng tới.

Nếu Tổng Thống Ford biết dùng đám chuyên viên bầu cử của chính quyền cũ ở Sàigòn đang tập trung đông đảo ở quanh Hoa Thịnh Đốn thì chắc chắn sẽ đắc cử 90%, sẽ có dịp “tuyên thệ vinh quang,” và “thành trì chống Cộng vững vàng” từ năm năm nay rồi.

Thư đã dài, hẹn dịp khác.

SỨC MẤY.

Công Tử Hà Đông Sao Y bản Chính.

Kính gửi quí bạn,

Computer H2T hai tuần nay bị trục trặc lia chia. Viết  là “Vũ Hoàng Chương,” khi gửi đi, bản chữ tự ý và ngang nhiên đổi là “Vũ Hồng Chương.” Chữ “tôi” đổi là “tơi…vv..” Nhiều lần tôi save, máy không chịu save.

Nên hai tuần nay trong những bài Viết ở Rừng Phong có nhiều lỗi. Tôi xin lỗi. CTHĐ

TRÊN MẶT SẦU MIÊN…

By the sally-garden

By the sally-garden

Bạn Nam Phục viết trên Blog “hoanghaithuy.com.”

Tôi chịu nhất hai câu dưới đây trong bài thơ phóng tác “Khi Em Già” của CTHĐ, nghe thật cảm động

When You Are Old

When You Are Old

But one man loved the pilgrim’ soul in You,
And loved the sorrows of your changing face.

Chỉ có một người trong tất cả
Yêu hồn Em nặng những ưu phiền!

Người ấy nghiêng mình bên ánh lửa
Yêu nét buồn trên mặt sầu miên.

Phóng tác Thơ Tình như thế thì trên cả tuyệt vời!!! Hình ảnh phu nhân của CTHĐ mơ màng ẩn hiện trong những ngày đêm CT bị tù ở Z30 A và khi CT phóng tác bài thơ “When You are old. Khi Em Già.”

Tôi chép lại một bài thơ khác trong một tuyển tập Thơ Tình Thế Giới mà CT phóng tác:

Time of Roses – Thi sĩ Thomas Hood

It was not in the Winter
Our loving lot was cast;
It was the time of roses—
We pluck’d them as we pass’d!

That churlish season never frown’d
On early lovers yet:
O no—the world was newly crown’d
With flowers when first we met!

‘Twas twilight, and I bade you go,
But still you held me fast;
It was the time of roses—
We pluck’d them as we pass’d!

Mùa Hoa Hồng

Alice ơi, không phải mùa đông
Ta yêu nhau, tình ta nở hoa
Ta yêu nhau trong mùa hoa hồng
Ta hái hoa khi ta đi qua.

Mùa hoa ấy tưng bừng vẫn nở
Giữa những người yêu nhau, rực rỡ
Ôi cõi đời toàn hoa là hoa
Khi đôi ta lần đầu gặp gỡ.

Chiều đã xuống anh sợ chia xa
Em vẫn yêu, ôm anh thật chặt
Đường ta đi toàn hoa là hoa
Hoa em hái, tay em thơm ngát.

CTHĐ: Cám ơn bạn Nam Phục. Tôi xin kể với ông, và với các bạn đọc trang Thơ này, một số bài Thơ Phóng Tác tôi làm trong năm 1989 tôi sống ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A.

Đấu năm 1989 tôi từ Nhà Tù Chí Hoà lên tù xa cùng khoảng 30 anh em tù rời thành phố đến  Trại Lao Động Cải Tạo Z 30 A, viết đúng là Trại Tù Khổ Sai Cộng Sản. Con tôi đến trại thăm tôi, đem cho tôi quyển Thơ của Đại Học Oxford, Tuyển tập Thơ hơn một ngàn bài. Năm 1960 tôi mượn quyển Thơ Oxford này của Thư Viện Tòa Đại Sứ Anh, đường Thống Nhất, Sài Gòn, Thư Viện đối diện Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Theo đúng tật xấu “mượn rồi lấy luôn, không trả.” Nhờ vậy năm 1989 sống trong trại tù khổ sai cộng sản tôi mới phóng tác được những bài thơ Tiếng Anh này.  Đêm, tôi nằm trong mùng, bên ngọn đèn dầu hôi,  phỏng dịch những bài thơ tiếng Anh tôi cảm khái, tôi xúc động, tôi thấy hay ra thơ Việt, trong số có bài thơ của James Joyce:

Bài “Mùa Hoa Hồng” trong Tuyển Tập Thơ Tình Thế Giới, Nhà Xuất Bản Đồng Nai ấn hành ở Sài Gòn Tháng 10, 2002.

Bài “Mùa Hoa Hồng” trong Tuyển Tập Thơ Tình Thế Giới, Nhà Xuất Bản Đồng Nai ấn hành ở Sài Gòn Tháng 10, 2002.

CHAMBER MUSIC

Gentle lady do not sing
Sad songs about the end of Love.
Lay aside sadness and sing
How Love that passes is enough.

Sing about the long deep sleep
Of Love that are dead and how
In the grave all Love shall sleep
Love is aweary now.

NHẠC TRẦM

Đừng hát một mình
Bài ca sầu những cuộc tình dở dang.
Thôi buồn hãy hát theo đàn
Tình Yêu như ngọc, như vàng cho nhau…

Trong bóng đêm sâu
Những người yêu ngủ giấc sầu ngàn năm,
Trong lòng mộ tối Tình nằm
Bây giờ chắc mệt như tằm rũ tơ.

Tôi cảm khái bài Thơ Chamber Music của James Joyce. Trong khoảng 50 bài Thơ Anh Mỹ tôi dịch, tôi phóng tác sang Thơ Việt năm 1989 khi tôi sống ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, tôi thích nhất, tôi thấy hay nhất là bài Chamber Music. Đây là bài Thơ tôi thích thứ hai:

When You are old, Thi sĩ William Butler Yeast

When You are old and gray and full of sleep,
And nodding by the fire, take down this book,
And slowly read, and dream of the soft look,
Your eyes had once, and of theirs shadow deep.

How many loved your moments of glad grace,
And loved your beauty with love false or true;
But one man loved the pilgrim’ soul in You,
And loved the sorrows of your changing face.

And bending down beside the glowing bars,
Murmur, a little sadly, how Love fled!
And pace upon the mountains overhead,
And hid his face amid a crown of stars.

Khi Em già

Khi Em già uá, Em sầu rũ
Ngồi bên đèn đọc lại thư tình.
Em sẽ mơ về năm tháng cũ,
Ngày môi Em thắm, tóc Em xanh.

Biết bao nhiêu kẻ đã yêu Em,
Những chiều Em đẹp, tối Em duyên.
Chỉ có một người trong tất cả
Yêu hồn Em nặng những ưu phiền!

Người ấy nghiêng mình bên ánh lửa
Yêu nét buồn trên mặt sầu miên.
Tình đi, nuối tiếc, người than thở
Rồi núi cao người nhẹ bước lên
Đỉnh núi sương mù, người lệ rỏ
Trong chuỗi sao mờ dấu mặt tên.

Xin gửi đến quí vị vài bài Thơ Anh khác tôi phóng tác năm 1989 ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A.

Robert Browning, Parting at morning

Round the cap of a sudden came the sea

And the sun look’d over the mountain’s rim.

And straight was a path of gold for him,

And the need of a world of men for me.

Chia ly buổi sớm

Qua đường mòn chợt thấy biển xanh

Mặt trời nhìn ta trên viền núi.

Đường Em đi vàng ngọc long lanh.

Người ở lại nhớ Em là Anh.

Ernest Dowson – Vitae summa brevis

They are not long, the weeping and the laughter.

Love and Desire and Hate.

I think they are no portion in us after

We pass the Gate.

They are not long, the days of wine and roses:

Out of a misty dream

Our path emerges for a while then closes

Within a Dream.

Từ giấc mơ mù sương

Không dài lâu tiếng khóc, tiếng cười,

Tình yêu, Ước muốn và Thù hận

Tất cả chẳng còn gì Em ơi

Khi Ta qua cánh cửa đời.

Không dài lâu đất rượu, trời hoa

Từ giấc mơ mù sương

Đường Ta đi rồi sẽ chia xa

Trong giấc mộng Vô Thường.

William Butler Yeast

Down by the sally- garden

Down by the sally garden, my Love and I did met;

She pass’d the sally- garden with little snow white feet.

She bid me to take Love easy, as the leaves grow on the tree;

But I, being young and foolish,

With her would not agree.

In the field by the river, my Love and I did stand,

And on my leanging shoulder she laid her snow-whie hand

She bid me to take Life easy, as the grass grows on the weirs,

But I was young and foolish, and now full of tears.

Trong Vườn Yêu

Trong vườn yêu tôi gặp người yêu,

Đôi chân trắng ngọc Nàng đi trong nắng chiều.

Nàng bảo tôi hãy yêu dễ dàng như lá mọc trên cây.

Tôi không nghe Nàng, tôi dại, tôi ngây.

Bên hồ thu tôi đứng bên người yêu,

Trên vai tôi Nàng đặt bàn tay trắng ngọc,

Nàng bảo tôi hãy sống dễ dàng như bờ hồ cỏ mọc.

Tôi trẻ, tôi ngây, bây giờ tôi khóc.

The Apparition – Thi sĩ Stephen Phillips

My dead Love came to me, and said:

“God gives me one hour’s rest

To spend upon the earth with thee.

How shall we spend it best?”

“Why, as of old,” I said, and so

We quarell’d as of old.

But when I turned to make my peace

That one short hour was told.

Yêu như xưa

Người yêu xưa đến với tôi, Nàng kể:

“Chúa cho Em về được một giờ

Để cùng Anh yêu trên trần thế;

Yêu sao anh? Như mới, như xưa?”

“Yêu như xưa, cứ yêu như thế.”

Tôi nói rồi như nắng, như mưa;

Giận hờn nhau, mây trời, nước bể;

Chúng tôi yêu như những ngày xưa!

Khi tôi nói: “Yêu Em quá thể.”

Một giờ yêu hết tự bào giờ.

Respice Finem – Thi sĩ Francis Quarles

My soul, sit thou a patient looker-on;

Judge not the play before the play is done.

Her plot hath many changes; every day

Speaks a new scene, the last act crowns the play.

Vở Tuồng Đời

Ôi hồn ta, ngồi yên mà coi

Vở Tuồng Đơi.

Đừng phê phán trước khi tuồng hết;

Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười.

Tuồng hay, dở, làm sao ta biết

Mỗi ngày qua là một đổi dời.

Chờ đến lúc coi xong màn kết

Mới biết tuồng hay, dở mà thôi.

Làm ở  Z30 A. Ngày 6 Tháng 11, 1989.

Tháng Giêng 1990 hết án tù 6 năm, tôi vĩnh biệt Z 30 A. Tôi để lại Tuyệp Tập Thơ Oxford cho anh em tôi trong tù.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ngày 6 Tháng Năm, 2014.

NGHỀ BÁO, NGHIỆP BÁO

Nữ Ký Giả Lynh Bùi viết về Nghề Báo: “Đừng nói với tôi đây là một nghề tồi.”

Nữ Ký Giả Lynh Bùi viết về Nghề Báo: “Đừng nói với tôi đây là một nghề tồi.”

Trên Nhật báo The Washington Post, ngày March 14, 2014, có đoạn tin:

“MD. Couple found dead at home.

“Health issues cited in apparent murder suicide.

By Lynh Bui. 

“Maryland. Căp vợ chồng chết ở trong nhà.”

“Vấn đề sức khỏe được coi là nguyên nhân  giết người và tự sát.”

Tin của Lynh Bùi.

Tin không có gì lạ: cặp vợ chồng ở Maryland, tiểu bang bên cạnh Virginia, vì bà vợ bệnh trạng nhiều ngày, bệnh không thể chữa khỏi, ông chồng yêu thương bà vợ, hết lòng chăm sóc, nhưng rồi ông cũng đau yếu. Ông bắn chết bà rồi tự bắn. Chuyện bi thảm này – về những đôivợ chồng già – thường xẩy ra ở Hoa Kỳ.

Nữ phóng viên  Lynh Bùi, Nhật báo The Washington Post.

Nữ phóng viên Lynh Bùi, Nhật báo The Washington Post.

Tôi – CTHĐ – chú ý đến bản tin vì người đưa tin là cô Lynh Bùi, một phụ nữ Việt Nam. Lý do thứ hai làm tôi chú ý đến bài đăng báo là vì bài viết về “Nghề làm báo,” nghề tôi làm từ năm tôi 20 tuổi.

Đây là tiểu sử của nữ phóng viên Lynh Bùi:

Lynh Bùi vào tòa soạn Nhật báo The Washington Post năm 2012. Cô có Master về Báo Chí. Trước khi là nhân viên The Washington Post, cô từng làm việc trong nhà báo ở Phoenix, Arizona. Cô là người Việt ra đời ở Arizona.

Lời Nữ ký giả Lynh Bùi viết đi kèm ảnh cô trên báo:

“Reporter at The Washington Post. I get paid to learn new things, talk to people and tell stories. Not too shabby.”

“Làm phóng viên Nhật báo The Washington Post. Tôi được trả lương để học những chuyện mới, để nói chuyện với mọi người, và để kể chuyên. Không đến nỗi mạt rệp quá.”

Shabby: lôi thôi, mòn, sờn, rách, đáng khinh, hèn mạt.

“Không đến nỗi mạt rệp quá” có nghĩa là  Nghề báo – làm báo, viết báo, làm phóng viên nhà báo – không đến nỗi quá tồi.

Nữ ký giả Lynh Bùi viết về Nghề Báo của cô. Bài viết ngày June 30, 2012. CTHĐ phỏng dịch:

Don’t try to tell me this is a bad career.

Đừng nói với tôi đây là một nghề mạt.

Đầu năm nay, careercast.com cho đăng một danh sách 10 Nghề Tốt Nhất và 10 Nghề Tồi Nhất ở Hoa Kỳ trong năm 2012. Trong danh sách này, Nghề Báo là nghề thứ 5 trong số 10 Nghề Tồi Nhất, cao hơn nghề “Oil rig worker”. CTHĐ tôi không biết chắc nghề “oil rig worker” là nghề gì nên để nguyên tiếng Anh; phải chăng đây là những công nhân làm việc ở những giếng khoan dầu – và dưới nghề “waiter/waitress: phục vụ tiệm ăn,”  nôm na là bồi bàn.

Nữ ký giả Linh Bùi viết tiếp: Ngay hôm sau, Ký giả Jeff Bercovici, Tạp Chí Forbes, đưa ra bài trả lời:

“Forget That Survey. Here’s Why Journalism  is The Best Job ever: Hãy quên bản kiểm điểm đó. Đây là lý do tại sao Nghề Báo là Nghề Tốt Nhất trong mọi nghề.” Tôi – ( cô Lynh Bùi ) – nhớ lại bẩy năm tôi làm nhân viên báo Arizona Republic và đây là những gì tôi nghĩ về bản kiểm điểm và về lời phản bác của Bercovici.

Jacqueline Bouvier, Nữ Phóng Viên Báo Chí Mỹ duy nhất trở thành Đệ Nhất Phu Nhân.

Jacqueline Bouvier, Nữ Phóng Viên Báo Chí Mỹ duy nhất trở thành Đệ Nhất Phu Nhân.

Vài tuần nữa tôi sẽ đến Washington DC để thực tập một năm trong tòa soạn Nhật Báo The Washington Post. Dù cho tình trạng các tờ báo giấy bị suy tàn, nghề báo giấy nay bị coi như con tầu sắp đắm, người ta nay thích đọc tin trên những iPad, tôi vẫn yêu Nghề Làm Báo vì những lý do:

Làm báo tôi được trả lương để đi ra ngoài văn phòng.

Việc đi ra ngoài văn phòng có thể là việc tôi đến Tòa Thị Chính dự một cuộc họp hang tuần, có thể là việc tôi ngồi trên lạc đà đi xem những Kim Tự Tháp Ai Cập, ngồi trong xe đua với Tay Đua Vô Địch ở Trường Đua Xe Phoenix, vào thăm Nhà Tù và ăn thử cơm tù xem cơm tù ra sao. Tất cả những việc trên tôi đều được nhà báo trả lương để làm, tôi chỉ có nhiệm vụ đi, đến, xem, hỏi, ghi nhận và viết bài tường trình đúng sự thật.

Làm báo tôi được trả lương để gặp người ta.

Với tư cách ký giả, tôi được gặp và được bắt tay những vị vương giả – như Hoàng Tử Andrew, Quận Công York – các ông Dân biểu, Thị Trưởng. Quản Đốc Nhà Tù, những ông chủ tiệm ăn, những người đi biểu tình ..v..v..

Làm báo tôi được Hỏi và Học. Tôi có điều kiện hỏi những câu mà người thường không hỏi được. Hỏi và được trả lời. Tôi nhiều lần lục lọi những thùng rác của người ta để tìm những thứ tôi cần cho bài báo của tôi.

Tôi được trả lương để Kể chuyện. Tôi kể chuyện những tòa án làm việc ra sao, kể về những chương trình, kế hoạch của chính quyền, tôi báo trước những cuộc đình công sắp xẩy ra, những tai biến có thể sẽ đến, tôi kể những chuyện về cuộc đời của những công dân rất thường, như chuyện tôi viết về anh công nhân Bob Stockly ở Scottsdale. Trong 25 năm Bob làm công việc giữ đẹp và làm sạch đường phố. Anh hốt lá cây trong đường phố cho vào xe rác. Công việc nhọc nhằn mà ít tiền công. Anh qua đời năm anh 54 tuổi. Tôi hỏi chị vợ anh tại sao anh chồng chị không bỏ nghề hốt rác để làm việc khác sạch hơn, nhẹ hơn, nhiều tiền công hơn  khi có dịp, chị vợ anh nói :

“Chúng tôi hài lòng với hiện tại. Hai chúng tôi cùng cho rằng làm việc gì mà sống được là tốt. “

Cô Lynh Bùi kết luận:

“Tôi có cái may là kiếm được nhiều tiền hơn “số tiền vừa đủ để sống” trong bẩy năm vừa qua. Cám ơn tất cả những vị đã giúp tôi sống được với nghề tôi yêu thích.”

Đây là chuyện một nữ phóng viên Mỹ trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ:

Từ thời trung học, cô Jacqueline Bouvier viết văn và làm thơ, một số văn thi phẩm đầu đời của cô xuất hiện trên những tờ báo địa phương. Nhật báo Salmagundi của trường trung học trao tặng cô Giải Nhất về Văn Chương. Năm 1951 cô gửi bài dự Cuộc Thi Prix de Paris của Tạp Chí Vogue. Người đoạt Giải Nhất sẽ được Vogue đài thọ 6 tháng sống ở NewYork, 6 tháng sống ở Paris để viết bài cho tạp chí. Đề tài bài dự thi là “Viết về Paris.” Nữ sinh Jacqueline Bouvier viết bài “Những nhân vật tôi muốn được gặp ở Paris.” Trong bài cô kể cô muốn được gặp Nhà Văn Oscar Wilde, Thi sĩ Charles Baudelaire và Nhà Sáng Tác Vũ Ballet Serge Diaghilev. Cô vào danh sách  12 người chung kết. Cô được Vogue mời đến phỏng vấn và cô được chọn để trao giải. Bà mẹ cô không muốn cô sang Paris sống một mình trong 6 tháng nên cô từ chối nhận giải này.  Học xong đại học, công việc thứ nhất trong đời làm báo nhà nghề của cô là chân phóng viên nhiếp ảnh  báo The Washington Time-Herald, lương 42.50 đô-la một tuần. Cô vừa phỏng vấn vừa chụp ảnh. Thời kỳ này nữ phóng viên Jacqueline Bouvier trở thành nữ ký giả chính trị-thời sự. Cô phải hỏi và tường thuật về những vấn đề Chiến Tranh Lạnh, về Liên Bang Sô-Viết, Chiến Tranh Triều Tiên, việc Hoa Kỳ liên can đến vùng Đông Nam Á. Cô phỏng vấn bà Phu Nhân Phó Tổng Thống Pat Nixon, rồi ông Phó Tổng Thống Richard Nixon, cô phỏng vấn ông Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy. Sau đó cô và Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy kết hôn. Nữ phóng viên Jacqueline Bouvier trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ. Công tác báo chí cuối cùng của Nữ phóng viên Jacqueline Bouvier là sang London dự cuộc Lễ Tấn Phong Nữ Hoàng Elizabeth năm 1953. Theo tôi – CTHĐ – Nữ phóng viên Jacqueline Bouvier là nữ phóng viên duy nhất trên thế giới trở thành Đệ Nhất Phu Nhân. Cuộc nhân duyên của cô ký giả mở đầu bằng một cuộc phỏng vấn. Trong ảnh đi cùng bài này ta thấy Nữ Phóng Viên Jacqueline Bouvier dùng cái máy chụp hình hiệu Linhop. Từ năm 1950 đến năm 1960 Linhop là máy chụp ảnh tối tân của Hoa Kỳ. Những nhiếp ảnh viên nhà nghề của Mỹ những năm ấy đều dùng máy Linhop.

Nữ phóng viên Jacqueline Bouvier qua đời đã lâu, những chiếc máy chụp hình Linhop nay ở trong những nhà lưu trữ đồ cổ, tôi – CTHĐ – trong buồi sáng Tháng Năm nắng vàng trên Rừng Phong, không buồn, không vui, viết bài báo này.

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN

tramnamcover

Một buổi sáng năm 1970, hay năm 1971 ở Sài Gòn — Trùng Dương đưa cho tôi quyển “One Hundred Years of Solitude,” Nàng nói:

“Truyện hay tuyệt. Sẽ được Nobel Văn Chương. Anh dịch. Nhuận và tôi chi tiền anh. Dịch xong Sóng Thần sẽ xuất bản.”

Nàng nói:

“Những người đàn bà trong truyện này đa tình, đam mê không thể tưởng..”

Lần thứ nhất tôi cầm quyển “One Hundred Years of Solitude” của Gabriel Garcia Marquez, lần thứ nhất tôi biết tên ông. Truyện tiếng Anh, khoảng 800 trang chữ nhỏ. Nếu dịch trọn truyện bản chữ Việt phải ít nhất là 2000 trang. Nhà văn viết “One Hundred Years of Solitude” bằng tiếng Espagnole: Spanish – Tây Ban Nha, Y Pha Nho –  tác phẩm được dịch sang tiếng Anh. Trùng Dương đồng ý với tôi là sẽ lược bớt đi, để bản in chữ Việt khoảng từ 800 đến 1000 trang.

Nàng nói:

“Có hai tên “Trăm Năm Cô Đơn, Trăm Năm Hiu Quạnh;” anh chọn tên nào?”

Gabriel Garcia Marquez

Gabriel Garcia Marquez

Lẽ ra phải chọn “Trăm Năm Cô Đơn,” cái tên Việt tuyệt đúng với tên Anh, tôi ngớ ngẩn chọn “Trăm Năm Hiu Quạnh.” Ngớ ngẩn hết nước nói. Cảnh hiu quạnh, người cô đơn. Thay vì nói “Trăm Năm Cô Đơn” hay hơn, đúng hơn, Trùng Dương không nói, nàng để tôi chọn “Trăm Năm Hiu Quạnh.” Chúng tôi thoả thuận về tiền công dịch. Tiền công tính theo trang đánh máy. Dịch dần, trả tiền dần.

Hôm nay – một ngày Tháng Tư 2014 – 44 năm sau tôi không nhớ công dịch một trang đánh máy “Solitude” của tôi 44 năm xưa là bao nhiêu, chỉ nhớ đại khái là dịch xong 100 trang, tôi đem đến đưa Trùng Dương; nàng ký cho tôi cái phiếu chi tiền – khoảng 70.000 đồng – tôi đưa phiếu cho Nguyễn Đức Nhuận, quản lý nhật báo Sóng Thần, Cơ Sở Nhân Chủ. Nhuận chi tiền. Tôi về nhà dịch tiếp. Những năm ấy tôi chưa vào làm ở USIS nên tôi ngồi nhà gõ máy chữ dịch suốt ngày. Nhuận hiện sống ở Cali, Trùng Dương ở Washington State.

Trước khi dịch, tôi để hai đêm đọc “One Hundred Years..” Tôi mê mẩn vì truyện. Những lời văn Anh bay như Thơ, đẹp như Hoa, mịn như Lụa. Nghe tôi ca tụng, có người bảo: “Đọc nguyên bản tiếng Ét-ba-nhon còn hay, còn mê hơn nhiều.” Tôi mê mải dịch. Tôi dịch xong trong khoảng 60 ngày. Việc dịch “One Hundred..” làm tôi có cảm giác trong hai tháng tôi già đi mười tuổi. Nhuận cho xếp chữ, làm thành bản in mẫu như quyển sách, khoảng 800 trang. Đưa đi Sở Phối Hợp Nghệ Thuật Bộ Thông Tin xin kiểm duyệt. Sách kiểm duyệt về, tôi xem thấy bị cắt khoảng 60 trang – toàn những đoạn tả Tình Dục tuyệt tuyệt – tôi nghĩ:

“Truyện 800 trang, bị cắt 60 trang, như mất  một ngón tay. Được.”

Nhuận phải có một số tiền mua giấy in “Trăm Năm.” Khoảng mười tháng sau Nhuận có giấy in thì Sở Phối Hợp Nghệ Thuật có lệnh mới: “Sách đã kiểm duyệt quá sáu tháng chưa in phải kiểm duyệt lại.” Lần thứ hai ‘Trăm Năm” đến Bộ Thông Tinchịu kiểm duyệt, rồi Nhuận bảo tôi:

“Trăm năm bị cấm, không cho xuất bản.”

Tôi hỏi tại sao, Nhuận nói:

“Hoàng Đức Nhã không cho xuất bản vì tác giả thân bọn cộng sản, chống chiến tranh Việt Nam, chống Mỹ, là bạn thân của Fidel Castro.”

Trăm Năm Hiu Quạnh” bị chết khi chưa được chào đời. Tôi tiếc công tôi dịch. Nếu “Trăm Năm..” được in ngay sau lần kiểm duyệt đầu tiên.. Hay biết bao nhiêu.

Mùa thu lá bay.. Không hẹn nhau kiếp sau ăn gà xé phay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Thấp thoáng dzậy mà 40 năm.. Tháng Tư 2014, Gabriel Garcia Marquez giã từ trần thế. Tôi viết bài này. Tôi ngậm ngùi tiếc “Trăm Năm Hiu Quạnh” không được chào đời ở Sài Gòn những năm đầu 1970; tôi tiếc công tôi dịch.

Trăm Năm Hiu Quạnh là tác phẩm dịch duy nhất tôi dịch, được trả hết tiền công, được xếp chữ, được kiểm duyệt, chỉ còn chờ ngày lên máy in, đến những tiệm sách, đến tay người đọc; vậy mà bị cấm xuất bản. Ngày xưa đó nhật báo Sóng Thần – Cơ Sở Xuất Bản Nhân Chủ — đã đăng quảng cáo sắp có bán Trăm Năm Hiu Quạnh.

Năm 2005 một đêm mầy mò trên Web, tôi tình cờ tìm được bản quảng cáo Trăm Năm Hiu Quạnh trên báo Sóng Thần. Bản quảng cáo này đăng trong Trang “SáchXưa.net ” – nhà mua bán “sách xưa” trên Internet ở Sài Gòn. Đây là những dòng chữ quảng cáo:

Đón đọc TRĂM NĂM HIU QUẠNH, truyện dài của Gabriel Garcia Márquez, bản dịch Việt văn của Hoàng Hải Thuỷ

Tác phẩm đã được liệt vào một trong 12 cuốn tiểu thuyết giá trị nhất thế giới trong năm 1970 và đã đem về cho tác giả giải Văn Chương giá trị nhất của miền Nam Mỹ Châu, Romulo Galagos, trị giá 21.000 Mỹ kim ( khoảng 10 triệu bạc VN.)

Và được mô tả như: “Một  sáng thế kỷ náo nhiệt và đa tình của văn chương Mỹ hâu La Tinh. Một phần là lịch sử ký sự, một phần là huyền thoại vừa siêu thực, vừa hiện thực, tác phẩm ( Trăm Năm Hiu Quạnh ) viết về cuộc hình thành và tiêu diệt của một dòng họ điển hình và một thành phố.”

Cơ Sở NHÂN CHỦ ấn hành

Hơn bốn mươi năm đi qua đời tôi kể từ những ngày tôi dịch “One Hundred Years of Solitude” trong căn gác nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn. Sang Mỹ tôi có quyển truyện của Garcia Marquez nhưng tôi không đọc lại. Hôm nay Nhà Văn Marquez qua đời, tôi viết bài này, tôi chỉ còn nhớ máng máng cốt truyện.

Truyện One Hundred Years of Solitude không thể kể lại được. Muốn biết truyện, muốn thấy cái Hay Tuyệt của truyện, phải đọc truyện. Truyện một dòng họ dài trong một trăm năm, năm thế hệ, nhiều nhân vật trùng tên, nhiều đoạn truyện kể chuyện đã xẩy ra trước đó – những đoạn gọi là “flasback” – làm người đọc rối trí, điên đầu.

o O o

tramnam

Đêm. Trong không gian tĩnh của Virginia Xứ Tình Nhân, tôi đọc lại đoạn tôi đã viết trong ngày về One Hundred Years of Solitude và về tác giả. Thấy đoạn viết không ra làm sao cả, tôi bỏ đi nửa bài. Tôi tìm trên Web những lời viết về tác phẩm và tác giả.

Năm 1996, trả lời một cuộc phỏng vấn, Gabriel Garcia Marquez kể về thời gian đầu làm báo, viết truyện của ông:

Marquez kể: “Tôi sống phóng túng với việc phóng viên nhà báo ở Cartagena. Xong việc ở toà báo lúc 1 giờ sáng, tôi ở lại toà soạn để sáng tác một bài thơ, hay viết một truyện ngắn. Đến 3 giờ sáng tôi ra tiệm uống bia. Tôi về nhà lúc 5 giờ sáng. Nhiều bà đi dâng Lễ Nhà Thờ thấy tôi đi tới vội đi sang vỉa hè bên kia, các bà, các cô sợ anh say làm bậy, cướp, hiếp.

Tôi đọc Hemingway, Faulkner. Twain, Melville, Proust, Sartre, Camus.. Tôi thán phục các ông nhưng tôi không bắt chước viết như các ông. Tôi làm đủ mọi cách tôi có thể làm để viết không giống các ông.”

Năm 1955 ký giả Garcia phỏng vấn một thuỷ thủ sống sót trong một vụ tầu Hải Quan Colombia bị chìm ngoài biển. Thuỷ thủ này cho ký giả trẻ biết tầu chở quá nặng những hàng hoá lậu thuế của quan chức nên tầu bị đắm. Phóng sự điều tra đăng lên báo, Tướng Gustavo Rojas Pinilla, Nhà Độc Tài Colombia, ra lệnh bắt ký giả Marquez. Ông phải trốn sang Âu châu. Ông phải làm nhiều nghề để sống; có lúc ông bán rượu lậu thuế, rượu lấy trộm, bán trên đường phố. Ông bắt đầu cuộc đời tiểu thuyết gia với truyện vừa “In Evil Hour.” Ông không bị choáng ngợp, bị hớp hồn vì văn minh Âu Châu như nhiều nhà văn Mỹ La Tinh sang sống ở Paris, Vienna, Roma.

Marquez ca tụng và bênh Fidel Castro. Ông tán thành cả việc Castro xử tử, giam tù chung thân những văn nghệ sĩ Cuba đòi tự do, nhân quyền. Trong 30 năm, chính quyền Hoa Kỳ không cho ông vào nước Mỹ. Lý do nêu ra Nhà Văn là đảng viên Đảng Cộng Sản. Nhưng lý do chính là Nhà Văn thân với Fidel Castro.

Susan Sontag viết: “Với tôi, việc đáng trách nhất là một nhà văn lớn như ông lại là người phát ngôn của một chính quyền cho nhân dân nước họ vào tù nhiều nhất thế giới – tính theo tỷ lệ dân số – một thứ chính quyền bạo ngược tước bỏ mọi quyền của người dân.”

Năm 1995, Tổng Thống Clinton bãi bỏ lệnh cấm Nhà Văn Gabriel Garcia Marquez vào Mỳ Quốc bằng cách mời Nhà Văn đến thăm Nhà Martha’s Vineyard. Năm 1999 Marquez bị cancer. Tác phẩm cuối cùng của ông là tiểu thuyết “Memory of my Melancholy Whores;” đề tài của truyện là cuộc tình của ông già 90 tuổi với cô gái 14 tuổi.

Nhà Văn không cho One Hundred Years of Solitude làm thành phim.

o O o

Mở đầu: José Arcadia Buendia và cô em họ Ursula yêu nhau, kết hôn dù gia đình họ không bằng lòng. Dòng họ Buendia có truyền thuyết người trong họ lấy nhau là loạn luân – incest – con họ đẻ ra sẽ có cái đuôi như đuôi lợn. Vì vậy Ursula yêu chồng nhưng không cho chồng làm tình. Jose Arcadio thắng trận đấu gà. Anh bị Prudencio Aiguilar, chủ gà thua trận đấu, chế nhạo là bất lực. José đâm chết Aguilar rồi về nhà làm tình với Ursula. Họ sinh hai con trai: José Arcadio và Aureliano. Hồn ma Aiguilar theo ám José Asrcadio…

o O o

Đêm. Tôi lấy bản cốt truyện “One Hundred..” trên Internet định dịch để quí vị đọc, nhưng như tôi đã viết:  Không thể kể được truyên  “One Hundred ..” Dịch khó quá, mất công mà tôi có dịch ra quí vị đọc cũng không nắm được cốt Truyện, không thấy cái Hay, cái Kỳ Tuyệt của Truyện. Tôi ngừng dịch. Tôi lấy lại đoạn tôi đã viết về “One Hundred..” và đăng ở đây cùng một số Lời – gọi là “Quote” của “One Hundred Years of Solitude.” Mong quí vị đọc tạm.

Truyện một dòng họ dài trong một trăm năm, năm thế hệ, nhiều nhân vật trùng tên: Aureliano rồi Aureliano Secondo, tên bà nội tổ là Amaranta Ursula, tên cô chắt là Amaranta Remedios – tôi kể có thể không đúng tên – những nhân vật kỳ diệu, những cuộc tình lửa cháy, những người đàn bà đa tình làm người đọc những cuộc tình hoả diệm sơn của các nàng phải ngất ngư con tầu đi; có nàng đang đi trong cánh đồng bỗng bay lên trời, có nàng buộc dây vào cổ chồng dắt đi riễu phố, có nàng biệt hiệu là Voi Cái chuyên đi ăn thi xem ai ăn nhiều; nàng đến Macondo ăn thi với Aureliano Secondo; nàng ăn từ tốn đúng là một thiếu phụ quí phái trong khi Aureliano ăn lấy, ăn để. Nàng thắng, Aureliano bội thực, gục mặt xuống bàn ăn; có chàng trong họ Buendia – tôi không nhớ tên – đi khắp nước tìm người thiếu nữ đẹp nhất để cưới làm vợ, có vụ công nhân trồng chuối biểu tình đòi tăng tiền công bị lính bắn chết la liệt trên đường, một chú thiếu niên họ Buendia chạy kịp nên thoát chết; sáng hôm sau chú đói khát đi bộ mò về thầy nơi công nhân bị bắn hôm qua sạch boong, không một vết máu, không người dân Macondo nào biết gì về vụ công nhân đồn điền chuối bị bắn chết, chuyện một thanh niên Buendia chống chính quyền độc tài trốn cả mười năm trong một căn phòng kín, mỗi ngày người nhà chú đem đến cửa phòng cho chú đĩa cơm, trên đĩa có hai lát chuối. Chuyện này cho người đọc thấy dân Colombia ăn cơm với chuối. Chuyện làm tôi nghĩ nước Việt Nam có nhiều chuối như Colombia sao không thấy dân Việt ăn cơm với chuối. Trong phòng tối có sẵn cả ngàn cái hũ sành, người thanh niên ẩn trong phòng tiểu, đại vào những hũ sành ấy. Một hôm đội lính vào xét nhà. Viên sĩ quan bắt mở cửa phòng. Người đàn ba run rẩy mở cửa phòng nhìn thấy đôi mắt chàng thanh niên sáng quắc trong bóng tối nhưng viên sĩ quan không nhìn thấy; có chàng thanh niên bị đưa ra xử bắn, khi chờ chết ngửi thấy mùi nách người đàn bà cho chàng làm tình lần đầu, có những bà mẹ nhà quí tộc đêm đưa con gái đến xin ngủ với những người đàn ông được coi là anh hùng để lấy giống, cho dòng họ được mạnh, những người Buendia dự Lễ Tro, dấu tro trên trán họ ở mãi không phai, một số những người này bị kẻ thù bắn chết, những viên đạn đều bắn vào vết tro trên trán họ ..vv..vv..

Mời đọc mtộ số Lời Viết của Nhà Văn Gabriel Garcia Marquez:

*  Nobody deserves your tears, but whoever deserves them will not make you cry.

Không ai đáng để bạn khóc, người xứng đáng để bạn khóc không bao giờ làm bạn khóc.

Không ai xứng đáng với những giọt nước mắt của bạn, người xứng đáng không làm bạn khóc.

* It’s enough for me to be sure that you and I exist at this moment.

Anh thấy đủ cho anh khi anh biết chắc em và anh đang sống bên nhau.

* All human beings have three lives: public, private, and secret.

Mọi người đều có ba cuộc đời: đởi công, đời tư và đời bí mật.

* Nothing in this world was more difficult than Love.

Không gì khó hơn là Yêu trong cuộc đời này.

* Wisdom comes to us when it can no longer do any good.

Khôn ngoan đến với ta khi nó không còn giúp ích gì được ta.

* A lie is more comfortable than doubt, more useful than love, more lasting than truth

Lời dối trá dễ chịu hơn là ngờ vực, có ích hơn yêu, bền lâu hơn sự thật.

* Crazy people are not crazy if one accepts their reasoning.

Người khùng không khùng nếu ta chấp nhận những lý luận của họ.

* No matter what, nobody can take away the dances you’ve already had.

Bất kể có gì xẩy ra, không ai có thể lấy đi những sung sướng mà chúng ta đã được hưởng.

* Be calm. God awaits you at the door.

Bình tĩnh. Chúa chờ bạn ở cửa.

* Humanity, like armies in the field, advances at the speed of the slowest.

Nhân loại, như những đội quân trên chiến trường, tiến với tốc độ chậm nhất.

* The only regret I will have in dying is if it is not for Love.

Niềm tiếc hận duy nhất tôi có khi tôi chết là nếu tôi không chết cho Tình Yêu.

* A person doesn’t die when he should but when he can.

Người ta không chết khi nên chết mà chết khi người ta có thể.

* The heart’s memory eliminates the bad and magnifies the good.

Ký ức của Trái Tim loại bỏ cái dở và làm lớn lên những cái tốt, loại bỏ những cái Xấu, làm đẹp hơn những cái Tốt.

* No medicine cures what happiness cannot. 

Không thuốc nào chữa được nếu Hạnh Phúc chữa không được.

o O o

Một đoạn trích trong Diễn Văn Nhận Giải Văn Chương Nobel của Nhà Văn Gabriel Garcia Marquez:

Mười một năm trước, nhà thơ Chilê Pablo Neruda, một trong những nhà thơ xuất sắc của thời đại chúng ta, đã từng vén mở Sự Thật Châu Mỹ La Tình cho quí vị cử tọa ở đây thấy, qua bài diễn từ của ông. Kể từ bấy, những người Âu Châu có thiện ý — và đôi khi cả những kẻ ác ý nữa — đã được đánh động mãnh liệt hơn bao giờ hết bởi những tin tức kinh hoàng của Châu Mỹ La Tinh, cái vương quốc bao la toàn những đàn ông bị ma ám cùng những phụ nữ lẫy lừng mà thói bướng bỉnh ngoan cố vô hạn đã trở thành huyền thoại ấy. Chúng tôi chưa được nghỉ ngơi lấy một chốc lát nào. Một vị Tổng thống đầu óc sáng tạo táo bạo, cố thủ trong dinh thự đang cháy rực của ngài, đã chết trong lúc một thân một mình chiến đấu chống lại cả một đạo quân; (Tổng Thống Allende của Chile) và hai tai nạn máy bay đáng ngờ kia, vẫn chưa ai giải thích được, đã khiến một vị Tổng thống dũng cảm khác, cùng một chiến sĩ phe dân chủ, người đã từng phục hồi phẩm giá cho dân tộc mình, phải đoản mệnh. Đã có năm trận chiến và mười bẩy cuộc đảo chánh quân sự; cũng đã nẩy nòi ra được một tên độc tài quỉ quyệt nhân danh Chúa thực thi chính sách diệt chủng đầu tiên ở châu Mỹ La Tinh đối với các nhóm sắc tộc. (Độc tài Pinochet ở Chile) Cùng lúc, hai mươi triệu trẻ con Châu Mỹ La Tinh đã chết trước khi đầy tuổi — nhiều hơn số trẻ chào đời ở Châu Âu tính từ 1970. Con số những người mất tích do đàn áp đã đạt gần một trăm hai mươi nghìn người; cơ sự này có lẽ rồi sẽ chẳng ai kê khai nổi toàn bộ cư dân của Uppsala. Vô số phụ nữ bị bắt bớ trong lúc bụng mang dạ chửa đã cho con mình chào đời trong các nhà tù ở Achentina, dù vậy chẳng ai biết được gì về chỗ ở lẫn lai lịch của con cái họ, những đứa trẻ đã được người lạ lén lút nhận làm con nuôi hoặc gửi vào cô nhi viện theo lệnh các nhà cầm quyền quân sự. Chính vì toan tính cải cách mà gần hai trăm nghìn người đã chết trên toàn châu lục, cũng như hơn một trăm nghìn người đã mất mạng trong ba quốc gia nhỏ bé và xấu số ở Trung Mỹ: Nicaragua, El Salvador và Guatemala. Nếu điều này đã xảy ra ở nước Mỹ, con số tương ứng sẽ là một triệu sáu trăm ngàn cái chết bạo liệt trong vòng bốn năm.

Một triệu người đã trốn khỏi Chilê, một quốc gia có truyền thống hiếu khách — nghĩa là, mười phần trăm dân số. Uruguay, một xứ sở tí hon chừng hai triệu rưởi dân, vốn tự xem mình là đất nước văn minh nhất châu lục, cũng đã có cứ năm công dân thì hết một bị lưu đầy. Kể từ 1979, cuộc nội chiến ở El Salvador đã sản sinh ra gần như cứ mỗi hai mươi phút một người tị nạn. Nếu một xứ sở nào chứa toàn những kẻ bị phát vãng hoặc bị buộc phải di cư từ Châu Mỹ La Tinh, xứ sở ấy sẽ có một dân số đông hơn số dân Na Uy.

Tôi dám cho rằng chính cái hiện thực ngoại cỡ này của Châu Mỹ La Tinh, chứ không phải sự biểu đạt văn chương của nó, mới đáng để Viện Hàn Lâm Văn Học Thụy Điển lưu tâm. Một hiện thực không phải trên giấy, mà sống động trong chúng tôi, và quyết định từng khoảnh khắc một của vô vàn cái chết mỗi ngày của chúng tôi; chính nó đã nuôi dưỡng cái ngọn nguồn sáng tạo không bao giờ no thoả, đầy sầu não cùng vẻ đẹp, mà từ đó cái gã người Colombia lang thang và hoài cổ trước mắt quí vị đây chỉ là một kẻ vô tích sự mà số phận đã chọn lấy. Là thi nhân hay hành khất, nhạc công hay tiên tri, chiến binh hay kẻ vô lại, — toàn thể tạo vật của cái hiện thực ngoài vòng cương tỏa ấy, – chúng tôi chẳng phải cầu viện gì nhiều đến óc tưởng tượng; trái lại, vấn đề then chốt của chúng tôi chính là thiếu phương tiện qui ước để diễn đạt cái hiện thực ấy sao cho người ta tin được. Điều này, thưa quí vị, chính là điểm khó khăn nhất trong nỗi cô đơn của chúng tôi.

Ngưng trích Diễn Văn.

Buồn và Nản. Nhà Văn nói như thế mà Nhà Văn sống như thế, làm như thế: Ủng hộ hết mình Độc Tài Fidel Castro! Tất cả những tội ác mà nhà cầm quyền các nước Châu Mỹ La Tinh làm với nhân dân của họ — được Nhà Văn kể trong Diễn Văn — đều xẩy ra ở Cuba; Fidel Castro là tên độc tài ác độc nhất, người dân Cuba bỏ nước trốn sang Mỹ nhiều nhất.

* Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Một giờ sáng. Tôi ngưng ở đây.

BỐC THƠM KIỀU NỮ

Kiều Nữ Ana Ivanovic

Kiều Nữ Ana Ivanovic

Ngày tôi khăn gói quả mướp theo bọn Công An Thành Hồ vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu lần thứ hai – Tháng Tư 1984 – thành phố Sài Gòn tang thương, u ám. Những năm 1986, 1987, nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà, tôi nghe anh em mới vào tù nói Sài Gòn nay có những cái gọi là đầu máy Video, dân Sài Gòn nay có trò xem phim qua máy Video. Không những dân Sài Gòn nay chỉ được xem những phim Video Quỳnh Dao “Muà thu lá bay.. Hẹn nhau kiếp sau ăn gà xé phay..,” nay dân Sài Gòn còn được xem phim Video Cô Gái Đồ Long và những phim Chăn Nuôi văn minh, khoa học, hiện đại.

Maria Sharapova, Vô Địch Tennis Stuttgart 2014 và chiếc xe Porsche Sport.

Maria Sharapova, Vô Địch Tennis Stuttgart 2014 và chiếc xe Porsche Sport.

Sáu năm sau năm 1984– đầu năm 1990 – tôi từ Trại Tù Khổ Sai Z 30 A trở về mái nhà xưa ở Ngã Ba Ông Tạ, đường phố Sài Gòn cứ 500 thước có một nhà cho mướn đầu máy Video và phim Video. Dân Sài Gòn kìn kìn đến mướn máy, mướn băng về coi cả đêm ở nhà.

Từ năm 1989, tôi có được một số bạn ở Mỹ, ở Pháp, Úc gửi tiền về nhà tôi cho vợ tôi sống và đi nuôi tôi trong tù. Đặc biệt có hai cơ quan quốc tế là Hội Ân Xá Quốc Tế – Amnesty International – chi hội thành phố Melbourn, Úc, được Tổng Hội chỉ định giúp người tù Hoàng Hải Thủy – và Hội Văn Bút Phần Lan nhận Hoàng Hải Thủy làm hội viên danh dự, gửi tiền về giúp hàng tháng. Nên khi tôi chưa về đến nhà, vợ tôi đã mua sẵn một TiVi Sanyo Mầu để anh chồng ra tù về xem.

Trận đá bóng Nữ thứ nhất tôi xem trên TiVi năm 1990 là trận Đội Bóng Nữ Mỹ đá với Đội Bóng Nữ Tầu Cộng. Trận này Đội Nữ Mỹ thắng 2-0. Lần thứ nhất tôi thấy Mia Hamm. Tôi trở thành người ái mộ Nàng – Nàng, viết hoa chữ N – Nàng Mia Hamm. Từ đó tôi theo dõi để xem tất cả những trận tranh tài quốc tế của Đội Bóng Nữ Hoa Kỳ. Tôi vui buồn với những trận thắng, thua của Đội Bóng Nữ Mỹ. Tôi hào hứng khi Đội Tuyển Nữ Mỹ đoạt Cúp Vô Đich Thế Giới. Khi Mia Hamm giải nghệ – không đá bóng tranh giải nữa – tôi coi như Hoa Kỳ không còn Đội Bóng Nữ. Từ đó tuy tôi vẫn xem những trận Đội Bóng Nữ Mỹ tranh tài nhưng tôi không còn thấy hào hứng nữa.

Những ngày như lá, tháng như mây theo nhau qua. Năm 1995 vợ chồng tôi vĩnh biệt Sài Gòn, chúng tôi đến sống ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ở đây ngoài việc chờ xem những trận tranh tài của Đội Bóng Đá Nữ Mỹ, tôi thích xem những trận đấu Tennis trên TiVi. Không có gì cho tôi thấy sự thua được, vui buồn rõ nét như ở những trận đấu Tennis của Nữ Hảo Thủ. Nàng thắng hớn hở tươi cười, nàng thua buồn thiu lủi thủi đeo bao đồ nghề đi ra khỏi sân giữa sự thờ ơ của khán giả.

Mia Hamm, Kiều Nữ Soccer

Mia Hamm, Kiều Nữ Soccer

Năm 2004 lần thứ nhất tôi thấy Maria Sharapova. Tất nhiên là tôi thấy Nàng trên TiVi. Năm 2004, hay 2005, Nàng 17 tuổi, Nàng Vô Địch Wimbledon. Tôi ái mộ Maria Sharapova từ đó. Xem Nàng trên sân, tôi mần thơ:

Nếu Anh còn trẻ như năm cũ

Anh đón Em về sống với Anh.

Nếu tôi như Bill Gates, bằng mọi giá tôi cho ngựa ô tới đón Nàng về dinh.

Mơ mộng chút cho người cựu tù lưu vong già đỡ buồn. Hại gì. Có điều là trận đấu nào tôi cũng muốn Maria Sharapova thắng. Tôi giận hờn, tôi buồn, tôi bực  khi Nàng thua. Thế rồi khi xem Nàng đấu, trái tim già lão của tôi không chịu nổi những hồi hộp, những tiếc hận khi thấy Nàng thua vì những cú giao banh bị lỗi. Những cú giao banh gọi là Serve và Double Fault. Sharapova rất nhiều lần phạm lỗi doublefault khi serve. Xem Nàng đấu, tôi hồi hộp đến cái độ tôi không xem trực tiếp được. Tôi chờ cho trận đấu xong, mở Google ra tra cứu, thấy Nàng thắng match, tôi mới chờ xem trên TiVi chiếu lại trận Nàng thắng. Biết Nàng thắng, tôi thoải mái thưởng thức. Nếu thấy Nàng thua, tôi dzẹp. Và tôi mần Thơ:

Thua match là tại không may.

Thắng match là tại thiên tày Sha-ra.

Chủ nhât 27 Tháng Tư 2014, Hảo thủ Maria  Sharapova vào chung kết Giải Tennis Stuutgart với Hảo thủ Ana Ivankovic. Hai Nàng cùng là Kiều Nữ. Hai Kiều Nữ Trẻ, Đẹp Nhất Tennis Thế Kỷ 20-21. Hai trăm năm mươi năm trước đã có Thơ ca tụng nhan sắc hai Nàng

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn muời

Ana trang trọng khác vởi

Khuôn trăng đầy đặn, nét  ngài nở nang.

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường mầu da.

Shara sắc xảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn.

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Nếu tôi là giám khảo, tôi chấm điểm Maria Sharapova 20/20, tôi chấm điểm Ana Ivanovic 19/20.

Trận chung kết Giải Tennis Stuttgart: Sét 1 Sharapova thua Ivanonic 3-6. Sét 2 Ivanovic dẫn 3-1. Xem tới đây tôi nắm chắc Sharapova thua. Thua năm chăm phần chăm, thua đến không còn ai có thể thua hơn. Chán nản, tôi tắt TiVi. Buổi chiều tôi xem kết quả trên Google, xem cho thêm buồn thôi vì tôi đã biết Sharapova thua. Trong trận Tranh Tài Stuttgart, Nàng chỉ vào chung kết, Nàng không phải là Champion, Nàng chỉ là Finalist. Mà chức danh Finalist thì không ra nàm thao cả.

Tôi ngạc nhiên, tim tôi đập rộn, mắt tôi sáng lên khi tôi thấy Sharapova hạ Ivanovic 2-1. Nàng thua set 1, Nàng thắng 2 set sau. Nàng – Maria Sharapova – Vô Địch Tennis Stuttgart 2014. Ngoài tiền Giải – có thể đến 100.000 USD – Nàng còn được Hãng Xe Porsche tặng một xe Porsche Sport láng coóng. Kỳ Nữ Kiều Nữ Maria Sharapova có duyên với Tennis Stuttgart. Đã 3 năm liền Nàng đoạt Giải Vô Địch Tennis Stuttgart, tới nay Nàng được tặng ba xe Porsche Sport.

Maria Sharapova Vô Địch!

Người lưu vong già, khuôn mặt khắc khổ in hằn những vết roi đời, sống ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, hào hứng viết ca tụng Kỳ Nữ Maria Sharapova.

Nếu Anh còn trẻ như năm cũ,

Anh đón Em về sống với Anh!

Để những chiều vàng tha thướt lại

Em chơi Te-nít, Anh nhặt banh!

Năm Năm Cứ Đến …

Ngày 30 Tháng Tư 1975. Bọn cướp nước xé cờ Quốc Gia Việt Nam  Cộng Hoà.

Ngày 30 Tháng Tư 1975. Bọn cướp nước xé cờ Quốc Gia Việt Nam
Cộng Hoà.

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng nhớ Nước Xưa.
Hạc vàng, Tuổi Trẻ không trở lại.
Sài Gòn ơi..! Thương đến bao giờ!

Hai mươi năm sống ở Kỳ Hoa, tôi đã viết khoảng 10 bài về Ngày Ba Mươi Tháng Tư. Tôi gọi đó là Ngày Oan Trái. Đã hơn một lần tôi viết:

“Đây là bài Ba Mươi Tháng Tư cuối cùng của tôi. Sang năm, Ngày Ba Mươi Tháng Tư đến, tôi sẽ không viết gì về Ngày Ba Mươi Tháng Tư 1975  nữa..”

Nhưng những oan khiên, những uất hận cứ canh cánh trong tim. Năm nay – 2014 – Ngày Ba Mươi Tháng Tư trở lại, tôi lại viết vế Ngày Ba Mươi Tháng Tư 1975.

Đêm tha hương, tôi than với ông bạn:

“Tôi viết toàn những chuyện ngày xưa.”

Ông bạn:

“Trong lòng mình có chuyện gì, mình viết ra chuyện đó.”

Đêm nay, một đêm giữa Tháng Tư 2014 – Trời Mỹ Quốc vào Xuân, mát. Không gian không một tiếng động, tôi viết những dòng chữ này.

Trên Web, có bài viết về Ngày Ba Mươi Tháng Tư của một người sống trong nước.

Xin Lỗi Tháng Tư! Ngừơi viết Bình Ngọc

Bọn cướp phá Tượng Chiến Sĩ Quốc Gia VNCH ở Công Trường Lam Sơn, đường Tự Do.

Bọn cướp phá Tượng Chiến Sĩ Quốc Gia VNCH ở Công Trường Lam Sơn, đường Tự Do.

Thời trai trẻ, gác bút nghiên, gác mọi ước mơ… lên đường “đánh Mỹ!”
Cây súng trên vai, máu đỏ trong tim!
Mụ lí trí! Hùng hục vượt Trường Sơn.
Đêm nghỉ, ngày đi, giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh!
Mẹ còng lưng vắt kiệt sức, mỏi mòn, thao thức đợi con về!
“Ba Mươi Tháng Tư”: Bên Thắng cuộc, hả hê!!!
Con trở thành “kiêu binh!” trong đoàn “quân Giải phóng!”
Nhưng! Ba mươi tám năm qua con thất vọng!
Không hiểu mình đi Giải phóng cho ai???
Chỗm trệ trên cao, một lũ bất tài!
Đáy xã hội, nhiều “dân oan!” mất đất.
Những nghịch lý, tai ương… chồng chất!
Khoảng cách “sang, hèn” cứ rộng mãi ra.
Người ở “quê” không còn tha thiết với “ao nhà”.
Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với Miền Nam, miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của Miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.

Tôi còn nhớ sau cái ngày “Bắc Nam Thống Nhất”
Tôi đã được vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân trí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.

Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà Đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận Đảng, giận Đoàn bao năm phỉnh gạt.

Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài Bác, Đảng “kính yêu”
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.

Mở miệng ra là: “Nhờ ơn Bác, Đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường Chủ nghĩa Mác Lê nin
Tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường vô sản.”

Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi, người kéo cầy thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.

Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà Đảng từ lâu bưng bít dân mình.

Cảm tạ Miền Nam mở đường, chỉ lối
Đưa tôi trở về Tổ Quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, Quốc Tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Các Mác và Lê nin ngoại tộc.

Cảm tạ Miền Nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung Quốc và Liên Xô đại vĩ

Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành Công cũng đã thành Nhân.

Hết bài Thơ Xin Lỗi Tháng Tư.

CTHĐ: Tháng Tư 2014, người Việt miền Bắc xin lỗi, cám ơn Miền Nam và Người Việt Nam Cộng Hoà.

Ngay từ những tháng cuối năm 1975 có những người miền Nam – viết rõ hơn: những người Sài Gòn, những công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà  – ca tụng cái gọi là chiến công của bọn cướp nước. Đây là một bài:

Quí vị chắc đã biết — ít hay nhiều, hay quá nhiều, nhiều quá và tởm quá, quá tởm — về nhân vật Chánh Tổng Ðặng Tiến nên tôi miễn kể về cái gọi là “cuộc đời ái tình và sự nghiệp” của họ Ðặng. Tôi chỉ kể một chuyên nhỏ về Ðặng Cắc Ké thôi. Ðó là chuyện ông Ðặng Tiến, ở Paris, Chuyên Gia Nâng Bi Cộng Việt, Nâng Bi Chân Chính, Nâng Bi ngay từ ngày đầu, tức ngay từ Tháng Tư năm 1975, Cắc Ké Nâng Bi Cộng Việt dzài dzài từ đó đến nay — gần 40 năm cuộc đời Cắc Ké — nhưng vẫn bị bọn Cộng Việt khinh bỉ, đội cho cái mũ rách “Chánh Tổng Văn Nghệ.” Bọn Văn Nơ bị Rọ Mõm Cộng Hà Nội gọi ơng Đặng Tiến là “Chánh Tổng Văn Nghệ.”

Khi đặt tên cho bài Sao Y Bổn Chánh này tôi xếp Chánh Tổng Ðặng Tiến vào loại Kỳ Nhông Văn Nghệ. Nhưng rồi tôi thấy việc xếp loại ấy không đúng, Chánh Tổng Ðặng Tiến không bao giờ là Kỳ Nhông Văn Nghệ. Ðặng Tiến “đỏ đầu, đỏ đít” ngay từ Tháng Tư 1975. Nên tôi xếp đương sự vào loại Cắc Ké. Tuy bị bọn Cộng sản khinh bỉ, Cắc Ké Ðặng Tiến vẫn cứ trơ tráo nâng bi Cộng sản.

Mời quí vị đọc bài của Người viết Vương Thế Lan, nhan đề:

ÐẶNG TIẾN VÀ NỖI BĂN KHOĂN: LÀM SAO CHO KHỎI BỊ ÐÀO THẢI

Gần đây, trong cuộc tranh luận chung quanh vấn đề biên tập và kiểm duyệt trong việc xuất bản cuốn “Thơ đến từ đâu” (gồm loạt bài phỏng vấn một số nhà thơ trong và ngoài nước do Nguyễn Ðức Tùng thực hiện), có một độc giả nêu lên câu hỏi “Tại sao sách của ông Ðặng Tiến, nhà phê bình văn học, Việt kiều ở Pháp, vừa được xuất bản trong năm nay tại Việt Nam, mà không gặp vấn đề gì về kiểm duyệt?”

Câu hỏi này rất dễ trả lời. Nếu trong sách của ông Ðặng Tiến không có một chữ nào phê phán chế độ chính trị ở Việt Nam, thì lẽ dĩ nhiên là cán bộ kiểm duyệt đâu có phải xăn tay áo lên! Ðiều này không liên hệ gì đến chất lượng văn chương hay học thuật của cuốn sách. Mỗi năm ở Việt Nam các nhà xuất bản tung ra hàng đống sách rất nhếch nhác về văn chương và học thuật, mà chẳng hề bị kiểm duyệt, chỉ vì những cuốn đó không đụng đến chính trị. Ðặng Tiến đem cuốn “Thơ – Thi pháp và chân dung,” là một cuốn sách phê bình Thơ, về nước giao cho Nhà Xuất bản Phụ Nữ, thì họ in ngon ơ 1000 bản. Ngon ơ, vì trong cuốn đó không có một chữ nào làm Ðảng và Nhà nước phải nhíu mày! Tôi dám đánh cược như vậy, dù tôi chưa đọc cuốn đó.

Vì sao tôi dám quả quyềt như vậy? Vì tôi đã đọc ông Ðặng Tiến ngay từ những năm sau 30.4.1975 cho đến nay. Từ hồi ông còn ở Paris chưa về thăm Việt Nam, cho đến bây giờ ông đã ra vô Việt Nam nhiều lần, tôi thấy ông lúc nào cũng rất ngoan, rất khéo, rất “phải đạo.” Hôm nay, lục lại đống báo cũ, tôi lượm ra được một số bài của ông hồi xưa đó.

Trên báo Ðoàn Kết ở Paris, số 188, ngày 30.4.1976, kỷ niệm 1 năm giải phóng miền Nam, Ðặng Tiến có bài thơ “Nói với con Nhất Lập”. Báo Thể thao & Văn hóa VC ngày 4.4.2009 viết về bài thơ “tên cô con gái đầu lòng Nhất Lập, thể hiện rõ ông chờ đợi đất nước thống nhất và độc lập.”

Ðây là nguyên văn bài thơ:

Nói với con Nhất Lập

Con hình thành

Khi cô bác vùng lên giành lại núi sông

Năm mươi lăm ngày đêm đất chuyển trời rung

Con có nghe

Trong bụng mẹ sóng gào biển lớn?

Cha muốn nói với con

Những lời nói nửa đời chưa nói trọn

Ðộc lập, Thống nhất, Tự do

Vì hôm nay lịch sử hẹn hò

Trên năm ngón tay cha sờ bụng mẹ

Như ngọn gió Lào lay Trường Sơn nhủ khẽ

Trận cuối cùng dứt điểm hôm nay

Con có nghe trong chín tháng mười ngày

Năm nghìn năm rung chuyển?

*

Từ nguồn đến sông, từ sông về biển

Con chào đời thao láo mắt bình minh

Cha đã muốn nói với con trăm ngàn chuyện quê mình

Chuyện lưỡi cày cắm sâu vào sỏi cát

Chuyện giọt mồ hôi trên đồi trưa bỏng rát

Thành củ khoai tròn trịa tựa tim người

Chuyện bàn tay hơ bếp lửa sắn vui

Thắp tiếng cười lung linh mái lá

Chuyện mối tình đêm trăng đầu hạ

Trên đường làng mùi rạ ấm phân trâu

Cha muốn hôn con trong cái hôn đầu

Bằng ngọn gió nồm

Thổi qua chùm hoa khế

*

Còn lắm chuyện con không cần cha kể

Ðã khắc sâu trong lịch sử loài người

Những nét lửa bay dài thế kỷ hai mươi

Chuyện các cô tay mò cua bắt ốc

Súng trên vai, đôi mắt đựng trời xanh

Cao tay roi này các chị các anh

Vừa chăn trâu vừa đuổi giặc

Hiền như đất kia con chào các bác

Giữa đô thành ôm súng nhớ rừng sâu

Nhớ từng chiếc lá xanh mấy lớp đã thay màu

Trên mái tóc đang nhòa trong sương muối.

*

Với bè bạn năm châu sau này con sẽ nói

Việt Nam

Con thấy chúng nghiêng mình

Con có quyền hãnh diện

Việt Nam Việt Nam

Miễn con đừng quên ơn cô dì chú bác

Miễn suốt đời con biết

Không có gì quý bằng ngọn cỏ quê hương

ÐẶNG TIẾN

Orléans, 12-1975

(Nhân ngày sinh con gái đầu lòng)

Năm 1979, Ðặng Tiến về thăm Việt Nam lần đầu và ở chơi hai tháng hè. Trở lại Paris, Ðặng Tiến viết bài “Nhân một chuyến về thăm quê hương”, đăng trên báo Ðoàn Kết ngày 17.11.1979, song song với bài thơ “Paris và Hà Nội.” Cả hai bài đều ký tên Nam Chi.

Trong bài “Nhân một chuyến về thăm quê hương” có những đoạn đáng lưu ý, Ðăng Tiến viết:

“Về đến Việt Nam, những ưu tư bỗng nhiên lắng xuống. Quả có nghèo thật, có khó thật, nhưng không khốn khổ. Guồng máy chính quyền có nặng nề thật, nhưng không bức bách. Còn có bất công, nhưng không có áp chế.” (…)

“Không còn những khuôn mặt phì nộn, nhưng cũng không có khuôn mặt nào hốc hác. Không ai ăn mặc sang trọng, nhưng không ai rách rưới.” (…)

“Có thể là ăn không ngon, nhưng ăn no. Về sau, tôi có dịp đi khắp đất nước, thăm mọi giai tầng xã hội, và kiểm chứng điều này: toàn quốc không còn người đói.” (…)

“Một vài ngày sau, tôi đã gặp lại rất nhiều bà con, bạn bè, nhất là các anh em trong giới trí thức, văn nghệ. Cái mừng thứ nhất là ai nấy đều rắn rỏi, khoẻ mạnh, tuy nói chuyện lâu cũng có người ngỏ ý xin thuốc phòng thân, vì thuốc men rất khan hiếm. Cái mừng thứ hai là ai nấy đều có công ăn việc làm, kể cả những anh em đi học tập mới về. (…) Có người không chịu đi làm vì chê lương ít, việc làm vất vả, phải đi xa; nếu thật sự muốn đi làm thì không ai bị từ chối.” (…)

“Chỉ có một khó khăn: đồng lương không đủ sống. Nhưng anh em vẫn làm, vì ngoài những quyền lợi vật chất ra, sự lao động khôi phục cho họ tư cách công dân và thành viên của một xã hội mới. Một xã hội đang vật vã tiến lên nhưng nhất định phải tiến lên. Vì định mệnh của năm mươi triệu người đều gắn liền với xã hội đó: anh là đảng viên, cán bộ, hay là tư nhân, đều phải no đói có nhau; xã hội sản xuất nhiều hay ít thì người dân hưởng nhiều hay ít. Con người trách nhiệm về bát cơm mình ăn, manh áo mình mặc. Trên cơ sở lý luận đó, thành tố chính trị trong xã hội Việt Nam ngày nay còn nhẹ nhàng lắm. Ðó là điều làm tôi thoải mái nhất, và hy vọng nhất, trong hai tháng mùa hè tại quê nhà.”

Ðặng Tiến viết những lời đó vào năm 1979. Tôi — ( Vương Thế Lan. CTHÐ ghi )- không cần phải phân tích rườm rà, chỉ xin nói một điều đơn giản mà chắc là hầu hết mọi người đều còn nhớ: Năm 1979, cái năm Ðặng Tiến từ Paris về thăm Việt Nam lần đầu, là một trong những năm người dân Việt đói khổ khốn cùng nhất sau 1975. Ðó là năm cực điểm của chế độ bao cấp dưới sự cai trị của Lê Duẩn. Ðó là thời điểm mà hàng trăm ngàn người Việt đang bị giam cầm trong các trại “cải tạo”. Ðó là thời điểm mà hàng triệu người Việt bị chiếm mất nhà cửa, bị xua lên các vùng “kinh tế mới”. Ðó là thời điểm mà làn sóng người Việt vượt biên, vượt biển tỵ nạn lên đến tột độ. Hàng triệu người Việt liều chết để ra đi. Hàng trăm ngàn người Việt bỏ mạng trong lòng biển và trong rừng núi.

Trên báo Ðoàn Kết ngày 31.5.1980 có bài “Ðọc thư nhà” của Ðặng Tiến, cũng ký tên Nam Chi. Trong bài có những đoạn đáng lưu ý như sau:

“Xa nước mười mấy năm qua, kỳ hè vừa qua tôi mới có dịp về thăm quê hương trong hai tháng. Lúc về Pháp, mãi cho đến bây giờ, con người tôi nó cứ ngẩn ngơ như kẻ ốm tương tư. Chạm đến da thịt của đất nước, mình bỗng thấy đời sống ở nước ngoài, dù được ưu đãi đến đâu, vẫn phù phiếm.” (…)

“Ðọc những dòng thư đậm đạp như thế, tôi vừa phấn khởi, vừa băn khoăn. Phấn khởi vì quê nhà cái mưa, cái nắng vẫn bình thường. Ngọn lúa vẫn trổ bông. Người bạn dạy học vẫn dạy học và tìm cách giới thiệu cái hay, cái lạ. Người nhạc sĩ vẫn hát, và hát nhiều, hát lành mạnh. Người bạn họa sĩ vẫn vẽ, vẽ đẹp và vẽ lớn. Và người làm thơ thì vẫn làm thơ.

“Tôi lại cũng băn khoăn vì thấy đời sống của mình ở xứ người, chắp vá, đắp đổi, là một cái gì không bình thường. Và không bình thường trong cơ bản. Ngược lại, quê hương như một dòng sông đang chảy về phía đồng bằng, mỗi ngày một điều hòa. Và cũng như mọi dòng sông, nó có tiếp thu, có gạn lọc, và cũng có đào thải.

“Cái băn khoăn của tôi là: làm sao cho khỏi bị đào thải đây?”

Vương Thế Lan viết tiếp:

Về những lời Ðặng Tiến phát biểu trong bài “Ðọc thư nhà”, tôi vừa đọc vừa liên tưởng đến lời của ông giáo sư Việt kiều Trần Thanh Vân. Năm 2009, ông Vân nói: “Sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài.” Năm 1980, ông Ðặng Tiến nói: “Chạm đến da thịt của đất nước, mình bỗng thấy đời sống ở nước ngoài, dù được ưu đãi đến đâu, vẫn phù phiếm…” Vì Ðặng Tiến là nhà văn nên phát biểu văn hoa hơn, nhưng lời của Ðặng Tiến và lời của Trần Thanh Vân cũng cùng một ý, và hai người này giống nhau ở việc cả hai đều không chịu về sống luôn ở Việt Nam cho sướng, mà cứ ở mãi bên Pháp để phải chịu cuộc sống “khổ sở và phù phiếm vô nghĩa!” Chỉ thỉnh thoảng họ mới về hưởng chút ít cái họ cho là “rất sướng” ở Việt Nam.

Về nỗi băn khoăn của Ðặng Tiến: “Làm sao cho khỏi bị đào thải đây?”, thì hiển nhiên ông đã biết cách làm cho mình không bị đào thải, bằng cây bút của ông. Tôi còn nhớ, năm 1980 hay 1981, Ðặng Tiến đã ký tên thật của mình (chứ không dùng bút danh) dưới một bài viết trên báo Ðoàn Kết với mục đích chào đón ông Tố Hữu sang Pháp. Tôi đã đọc bài báo đó và thấy Ðặng Tiến thật là giỏi. Số báo ấy đang nằm lẫn lộn đâu đó giữa đống giấy tờ và báo cũ trong garage nhà tôi mà tôi tìm chưa thấy. Hôm nào tìm ra tôi sẽ chụp lại rõ ràng để bạn đọc có dịp thưởng thức nguyên văn.

Năm nay, 30 năm sau cái ngày Ðặng Tiến băn khoăn “làm sao cho khỏi bị đào thải đây?” quyển “Thơ – Thi pháp và chân dung” của ông đã được chính thức in 1000 bản ở Hà Nội, mà không gặp phải bất cứ khó khăn nào về kiểm duyệt. Bây giờ thì ông đang hồ hởi chuẩn bị cho in cuốn sách tiếp theo. Vậy là ông đã không bị đào thải bởi chế độ. Ông đã được chế độ đón nhận. Ông giỏi thật. Xin chúc mừng ông.

Vương Thế Lan

CTHÐ Sao Y Bổn Chánh.

CT Hà Ðông bàn loạn:

Nghe nói ở Hà Nội Ðen có loan truyền mấy câu Thơ Nhất Lập cũng của Nhà Thơ Sờ Bụng Vợ Chửa Cắc Ké Ðăng Tiến nhưng khác với mấy câu trong bài quí vị vừa đọc. Mấy câu khác ấy là:

“Cha muốn nói với con

Những lời nói nửa nôn, nưả oẹ

Dưới năm ngón tay cha sờ bụng mẹ

Con có nghe

Bác Hồ muôn kính, ngàn yêu đang ngọ ngoẹ?”

Nhắc lại và nhấn mạnh: Chính tác giả Nhà Thơ Chánh Tổng sửa sai mấy câu trên. Nhà Thơ viết trong Di Chúc Cắc Ké:

“Trên năm ngón tay cha sờ bụng mẹ” là sai. Bọn “phản động” chúng nó sửa Thơ của tôi. Phải là “Dưới năm ngón tay..” vì lúc ấy không có lý vợ tôi chổng mông và tôi nằm dưới. Dù “dưới năm ngón tay..” tôi vẫn không hài lòng lắm, vì sờ là sờ bằng lòng bàn tay, nào ai lại sờ bụng vợ bằng năm ngón tay bao giờ. Cùù buồn thì cù bằng ngĩn tay; sờ thì sờ bằng lịng bàn tay. Còn chi tiết lịch sử lúc tôi sờ như thế thì “Bác Hồ muôn kính, ngàn yêu ngọ ngoe” là đúng.”

Lại nghe nói ở xứ Bắc Kỳ có mấy cô mò cua, bắt ốc, cảm khái cách gì vì lời thơ Chánh Tổng Việt Paris ca tụng việc các cô vừa lom khom mò cua, bắt ốc, nước ruộng lim rim lên đến bẹn, rêu theo nước bám dzô, vừa ngưá vừa gãi, vừa dzùng súng Mút-cơ-tông Tây quăng từ năm Min Nớp Săng Cát Toóc bắn Máy Bay 52 Mỹ rơi ngay cửa mình — cửa nhà mình, tức cửa nhà của mấy cô — nên mần mấy câu Thơ hoạ lại:

Ai ơi đừng nói lêu têu

Về nước bắt ốc cho rêu lấm bồn. *

Sống chui luồn ở nước Pháp Bơ Sưã làm chi cho nhục Kiếp Chồn.

Chồn mà Yêu Cộng thì Chồn về đây.

Chồn đừng dzở dzọng Chồn Lây!

 * Ca Dzao Bắc Kỳ:

Cơm ngày hai bữa nửa niêu

Tội gì bắt ốc cho rêu lấm bòn!

Cơm ngày hai bữa nửa lon

Tội gì ở Pháp cho bòn dzính lô!

Nhiều người Sài Gòn khinh ghét kẻ tên là Trịnh Cơng Sơn. Có người Sài Gòn nào sống ở Mỹ thương mến, quí trọng Trịnh Công Sơn, ca tụng họ Trịnh  không? Mời quí vị đọc mấy bài thơ:

Mười năm rồi, Sơn ơi.

Mười năm như chiêm bao

mười năm như chớp mắt

bạn xa trời về đất

tôi trên đất buồn tênh

nói như Phạm công Thiện

đi cho hết một đêm

hoang vu trên mặt đất

Mười năm rồi Sơn ơi

mười năm về đâu đó

như tranh Gauguin hỏi

chúng ta từ đâu tới

ta là ai đi đâu…

về nơi xa cuối trời

rằm rồi trăng sáng tỏ

tháng Chạp rồi Sơn ơi

nhớ không đêm cuối năm

ngồi Ba Miền với Tịnh

bộ bàn xưa ghế chạm

đôi đủa ngà mun đen

tôi về đây nhớ bạn

ngụm rượu nghẹn không lời

Mười năm rồi Sơn ơi

mười năm bao tàn phai …

Đinh Cường

- – – – -

Nhớ Trương Thìn

Có những buổi chiều về Bao Vinh

đi vô đường kiệt sâu

sân nhà có những vại lớn làm nước mắm

mệ thương Trương Thìn vô cùng

khi nào mệ cũng nói chờ

ở lại ăn cơm

Thìn khám bệnh xong

lấy đàn guitare ra hát

không thấy ai say sưa hát bằng bạn

cả những năm sau này vô Sài Gòn

khi qua Nhà Bè, căn nhà giữa cánh đồng rộng

bên chị Hà, chị Hà học Marie Curie

chị Hà bác sĩ làm việc ở Phú Nhuận

chị Hà bên Trương Thìn khi tôi gọi điện thoại về thăm

ở Cư Xá Bắc Hải

có lúc nhà ở Bàn Cờ

nơi nào cũng ghé thăm bạn

cả khu vườn đầy tượng và căn lầu đầy tranh

Viện Y Dược Học Dân Tộc đường lên sân bay

bạn vẫn say sưa hát, say sưa vẽ

như rủ bỏ hết, thật hạnh phúc .

bạn còn nhớ cuộc rong chơi năm nào

Maryland  -Pennsylvania –New York

trang đầu báo lớn địa phuơng đã ngợi ca

những đường kim châm cứu của bạn …

sáng thức dậy thật sớm bên dòng sông Hudson

bạn lại say sưa đàn say sưa hát

Kiều ca rồi Bùi Giáng ca.

Chiều nay nhìn thấy bìa thơ nhạc họa Thong Dong Ca

và ảnh đội mũ của người tìm thuốc trong nghệ thuật

trên mạng văn chương việt …mà nhớ cả chiều Bao Vinh

Nhớ cả chiều sương khói Huế.

Đinh Cường

Virginia, Feb .21.2011

chụp hình hai lần trưa và chiều dưới bảng tên đường trịnh công sơn ở huế

đứng dưới tên đường bạn

trưa bờ sông gió im

ngổn ngang là quán nhậu

bến vắng những con đò

phượng vàng như áo lụa

mùa tựu truờng guốc vông

nhớ chi nghiêng vành nón

như xưa đâu mà mong

như sơn hay đứng ngóng

diễm đi về trong mưa

dạ lý hương huyền thoại

để muôn đời diễm xưa

đứng dưới tên đường bạn

bụi đã bám nhiều chưa

gió sông chiều mát thổi

sơn ơi về rong chơi …

 huế , 22. 8. 2011

Ðinh Cường

Nhớ Bửu Chỉ mất 14 tháng 12 năm 2002

Ðinh Cường

Tháng Chạp lại về Bửu Chỉ ơi

Chỉ đi đâu mà bỏ bạn bè

Tôi vừa qua Pháp xem tranh bạn

Cây guitare bị gảy làm đôi

Là vì bạn hát không ngừng nghỉ

Ðặng Tiến bực mình ném xuống vườn

Bây giờ kể lại cùng rơi lệ

Hai đứa chiều ra sông Loiret

Sông Loiret, Sơn ví như An Cựu

Sơn đến đây chiều lạnh cuối năm

Và tôi đến đây lá vàng trước ngõ

Orléans, nhớ Thái Tuấn vô cùng

Tháng Chạp, Paris đầy tuyết trắng

Nơi này cây cối đã trơ xương

Chỉ ơi nhớ bạn, cà phê sáng

Mà đi, đi biệt chín năm luôn …

 Virginia 14.12.2010

 Mười năm, nhớ người làm mộ Trịnh công Sơn

Ðinh Cường

Ngôi mộ mười năm ôi Sơn ơi

có ai còn nhớ nhánh hoa tươi

của người con gái nào xa lạ

đứng khuất sau phiến đá đen ngời

Ðá hoa cương đen ai còn nhớ

ai người khắc tượng Trịnh công Sơn

lối đi như có hồn Côn Ðảo

xẻ đá mài xem thí nghiệm thôi

Cung tần: ý niệm theo phong thuỷ

ngôi mộ như nhà công chúng xây

cây xanh suốt mấy mùa che bóng

hoa vẫn theo người đến thắp nhang

Ngôi mộ mười năm trên Gò Dưa

có ai còn nhớ đến năm xưa

gia đình truyền thống vùng Non Nước

làm tặng. ôi Sơn hạnh phúc chưa.

o O o

CTHĐ: Lời nói, đọi máu. Tôi đau vì những người sống trong Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, sống nhờ xương máu của chiến sĩ VNCH, sống và thấy những giọt nước mắt của những bà vợ tử sĩ, nước mắt của những em nhỏ con tử sĩ, sống và thấy cuộc sống khốn khổ của nhân dân Quốc Gia VNCH sau khi bọn Bắc Cộng bê ảnh Già Hồ vào Sài Gòn, sống nhờ ở nước Pháp, nước Mỹ mà mở mồm ca tụng bọn Bắc Cộng.

Nên Ngày Ba Mươi Tháng Tư 2014, tôi viết bài này.

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái

Ta thắp hương lòng khóc Nước Xưa..! 

TÙ NGỤC XƯA NAY

Trong những ngày cuối đời sống nơi xứ người, tôi có dịp đọc những trang Sử Ngục Tù do các vị chí sĩ Việt Nam cùng đời ông cha tôi viết, nhiều trang Sử làm tôi cảm khái. Rất nhiều.

Tôi mời quí vị cùng tôi đọc chuyện hai ông Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, những năm 1944, 1945, được Quân đội Nhật giúp – có thể nói là lợi dụng –  trong việc đánh đổ chính quyền Thực Dân Pháp ở Ðông Dương. Quân Phiệt Nhật lợi dụng hai ông cho quyền lợi của họ,  nên để tránh việc hai ông bị Pháp bắt, họ đưa hai ông từ Hà Nội sang Singapore – Tân-gia-ba – tạm ngụ, chờ ngày họ lật đổ Pháp, họ sẽ đưa hai ông về nước lập chính phủ Việt Nam thân Nhật. Hai ông sống cô đơn, buồn nản cả năm ở đảo Chiêu Nam, ông Dương Bá Trạc chết vì bệnh ở đấy, chỉ có một mình ông Trần Trọng Kim về nước.

Nhà Yêu Nước Dương Bá Trạc

Nhà Yêu Nước Dương Bá Trạc

Ông Dương Bá Trạc đỗ cử nhân Hán học năm ông 16 tuổi – năm 1900 – ông là anh của ông Dương Quảng Hàm.  Năm 1908 ông bị Pháp bắt vì tội chống Pháp, ông bị xử án 15 năm tù khổ sai, bị đày ra Côn Đảo. Năm 1917 ông được Tòan Quyền Albert Sarrault ân xá.

Năm 1946, ông Trần Trọng Kim một lần nưã bỏ Hà Nội sang Trung Quốc sống lưu vong. Ông viết Hồi Ký “MỘT CƠN GIÓ BỤI.” Ðây là đoạn ông kể về những ngày ông và ông Dương Bá Trạc sống ở Singapore:

Một Cơn Gió Bụi. Hồi ký Trần Trọng Kim. Trích:

Sáng hôm sau, tôi đang ở trong nhà thấy mấy người Hiến binh Nhật đi xe hơi đến nói có lệnh đón tôi về Khách sạn của Nhà Binh Nhật! Nghe hai tiếng “có lệnh”, biết là mình không sao từ chối được. Tôi trách người Nhật quen tôi rằng sao ông đã hứa với tôi không cho Hiến binh Nhật biết về tôi, mà lại đi báo để Hiến binh đến chỗ tôi ở?

Người ấy nói:

“Tôi là người Nhật không có chức quyền gì, nếu cứ để ông như thế này nhỡ người Pháp biết mà đến bắt ông, thì tôi làm thế nào bênh vực được ông? Vì vậy tôi phải cho Hiến binh Nhật biết, để bảo vệ ông thôi, không có ý gì khác.“

Thôi đành theo số phận, tôi lên xe đi đến Khách sạn của Nhật. Ðến năm giờ chiều hôm ấy, thấy Hiến binh Nhật đưa ông Dương Bá Trạc  vào Khách sạn.

Ông Dương Bá Trạc là một nhà văn học, đỗ cử nhân từ năm ông 16 tuổi, vì tình nước ông không ra làm quan với triều đình ta, ông  cùng ông Phan Bội Châu đi làm cách mệnh, ông đã từng bị người Pháp bắt, kết án và đày ra Côn Lôn. Sau án tù ở Côn Lôn tuy được về nước nhưng ông bị cưỡng bách lưu trú mấy năm ở Nam kỳ. Ông với tôi là bạn cùng làm Bộ Việt Nam Tự Ðiển ở Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Ðức. Tôi trông thấy ông Dương, cười hỏi:

“Sao bác lại vào đây?”.

Ông Dương nói:

“Mình đang định lui về quê, bị bọn Hiến binh Nhật đến nhà mời lên xe đưa vào đây. Nghe đâu mấy hôm nay họ bắt lung tung cả, Pháp bắt, Nhật bắt, chưa biết rõ những ai bị bắt”.

Sau một lúc hỏi han về tình cảnh của nhau, ông Dương nói:

“Bây giờ chúng ta lâm vào cảnh này thật là khó xử quá. Dù mai đây chúng ta có trở về nhà, người Pháp cũng chẳng để ta yên. Chi bằng chúng ta nói với Hiến  Binh Nhật cho chúng ta ra nước ngoài để gặp ông Cường Ðể, ta sẽ bàn với ông cách làm việc gì có ích lợi cho tương lai nước nhà”.

Tôi nói:

“Ông Cường Ðể thì chỉ có bác quen biết mà thôi, và nghe nói ông ấy đã ủy quyền cho ông Ngô Ðình Diệm và ông Huỳnh Thúc Kháng tổ chức mọi việc, tôi chạy theo ông ấy thì có ích gì?“

Ông Dương lại nói:

“Hoàng thân Cường Ðể là người được Chính phủ Nhật Bản yểm trợ, ta ra nước ngoài cùng làm việc với ông ấy, rồi ta xin người Nhật cho cả ông Huỳnh Thúc Kháng và ông Ngô Ðình Diệm ra cùng ta nữa, ta sẽ lập thành một cơ quan ở hải ngoại, quy tụ hết thảy những nhà cách mệnh đã ở nước ngoài về một sở thì sự hành động của ta sẽ có ý nghĩa lắm. Chẳng hơn là cứ lẩn nấp ở trong nước, để cho người Pháp bắt giam ư?.“

Tôi nghe ông Dương nói cũng bùi tai, liền bàn nhau viết thư xin người Nhật giúp chúng tôi ra nước ngoài. Cách mấy hôm, viên Thiếu tá Hiến binh Nhật ở Hà Nội đến thăm chúng tôi,ø nói:

“Việc các ông xin ra nước ngoài là rất phải, để tôi vào Sài Gòn hỏi ý kiến Tư Lệnh Bộ trong ấy, lệnh trên định thế nào, tôi sẽ nói cho các ông biết ngay”.

Chúng tôi đợi ở khách sạn đến gần ba tuần lễ, viên Thiếu tá mới trở về,  đến nói cho chúng tôi biết:

“Tư Lệnh Bộ cho hay các ông đi đâu bây giờ cũng không tiện, chỉ có sang Chiêu Nam Ðảo là tốt hơn cả. Các ông sang đấy rồi ông Cường Ðể cũng sẽ về đấy cùng nhiều người khác nữa, các ông sẽ họp nhau làm việc, rất là thuận tiện”.

Chúng tôi nghĩ miễn là mình thoát ra khỏi cái cảnh eo hẹp này là được, vậy có sang  Chiêu Nam Ðảo cũng chả sao. Chúng tôi nhận đi.

Từ đó người Nhật tổ chức đưa chúng tôi vào Sài Gòn rồi đưa sang  Chiêu Nam Ðảo. Lúc chúng tôi ở Hà Nội đi, có người giúp cho được 5.000 đồng, giao cho ông Dương giữ cả.

Chúng tôi đi xe lửa với một toán lính Nhật vào Sài Gòn. Trước hết đến Sở Hiến Binh Nhật ở mất 12 ngày, rồi sang  ở nhà khách của Ðại Nam Công Ty ở 19 ngày. Ðến ngày Mùng Một tháng Giêng năm 1944 hai chúng tôi xuống tàu thủy sang Chiêu Nam Ðảo.TT Kim Singapore

Ông Trần Trọng Kim, vị Thủ Tướng Thứ Nhất của Quốc Gia Việt Nam.

Ông Trần Trọng Kim, vị Thủ Tướng Thứ Nhất của Quốc Gia Việt Nam.

Sau khi chúng tôi vào Sài Gòn được tám, chín ngày, xem báo được biết là cái nhà Khách sạn Nhật Bản chúng tôi ở trước, bị tàu bay Mỹ ném bom ngày Mồng 9 Tháng 12 năm 1943, bom đánh đúng vào giữa cái phòng chúng tôi ở. Ấy là trong khi nguy nan vẫn có Trời tựa, chứ nếu chậm lại độ mươi ngày thì mạng sống của hai chúng tôi cũng đi đời rồi.

Kể chi những nỗi lo sợ ở dọc đường từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi sang đến Chiêu Nam Ðảo. Lúc ấy chúng tôi chỉ mong chóng đến nơi để tổ chức công việc làm của mình. Người ta thường có cái tính lạ, là đang giữa lúc chiến tranh như thế, mà vẫn tưởng tượng Chiêu Nam Ðảo như Singapour ngày trước, chưa tới nơi mà đã dự định đến là sẽ mở cuộc mời ngay hết thảy những chính khách Việt đang lưu vong ở nước ngoài về đấy để cùng nhau trù tính việc nước. Ngờ đâu khi đến Chiêu Nam Ðảo rồi, mới biết cái đảo khi xưa thịnh vượng bao nhiêu, thì bây giờ tiều tụy bấy nhiêu. Ngoài cảng chỉ có lơ thơ vài chiếc tàu vận tải của Nhật, ở trong thành thị, những nhà cửa phố xá không hư hỏng mấy nhưng sự buôn bán đình trệ, cuộc sinh hoạt mỗi ngày một nghèo ngặt, lúa gạo mỗi ngày một khan, các thực phẩm đắt đỏ không thể tưởng tượng được. Sự đi lại với các xứ ngoài, người Nhật kiểm soát nghiêm mật, thành ra không giao thông được với đâu cả.

Lúc chúng tôi còn ở Sài Gòn, đã biết có hai chính khách Việt Nam ở Nam bộ đã sang Chiêu Nan Ðảo, cho nên khi tàu ghé vào bến chúng tôi cứ rướn cổ  trông xem có ai là người Việt Nam ra đón mình không. Trông chẳng thấy ai đã buồn bực, lại thấy mấy người Nhật đưa chúng tôi đi giữ cái thái độ bí mật. Hỏi họ đưa chúng tôi đến chỗ nào, họ cũng không nói năng gì. Họ đưa mình đến đâu cũng chẳng biết, trong bụng chỉ lo họ đem chúng tôi vào Sởø Hiến Binh như ở Sài Gòn, rồi cứ sống tù túng trong Sở đó  thì cực quá. Thôi thì đã liều thì liều cho đến cùng.

Người Nhật đưa chúng tôi về Khách sạn “Quốc Tế Phú Sĩ Binh Trạm” ở đường Grame Road. Ðến đấy chúng tôi có một sự vui mừng  là được gặp hai ông bạn đồng chí là ông Ðặng Văn Ký và ông Trần Văn Ân, chúng tôi  đã nghe nói đến hai ông này từ trước.Ông Ký và ông Ân được người Nhật đưa từ Sài Gòn sang đây trước chúng tôi mấy tháng.  Ði sang nước xa lạ, tiếng nói của người dân mình không biết mà gặp được người cùng xứ sở chuyện trò vui vẻ kể sao xiết.

Lúc đầu hai chúng tôi còn hứng thú đi xem đây xem đó, và gặp mấy người Việt Nam sang làm việc, hoặc buôn bán hay làm thuyền thợ, rồi vì sự chiến tranh mà mắc nghẽn bên ấy. Ai nấy đều vui mừng đón mời. Gặp nhau như thế làm cho chúng tôi khuây khỏa ít nhiều, song cũng không làm cho chúng tôi quên được sự nhớ nhà, nhớ nước.

Từ khi chúng tôi vào ở Khách sạn Nhật Bản ở Hà Nội cho đến khi sang tới Chiêu Nam Ðảo, trong óc chúng tôi tính toán dự định bao nhiêu công việc phải làm, nào báo chí, nào ủy ban này ủy ban nọ. Hễ lúc nào trong óc nẩy ra một ý tưởng gì, thì tưởng như thấy sự thực đã hiện ra trước mặt rồi. Ðến khi trông rõ sự thực, thì bao nhiêu mộng tưởng của mình vẫn ngấm ngầm vuốt ve, lại biến đi đâu mất cả.

Ở Chiêu Nam Ðảo hơn một tháng chẳng thấy gì khác, sáng như chiều, bốn người lủi thủi với nhau. Những người mà Nhật hứa hẹn sẽ đưa đến, cũng chẳng thấy ai, nỗi chán nản ngày một tăng thêm, thêm nỗi buồn lo vì nghĩ mình mắc vào cái cạm không sao gỡ mà ra được.

Về đường vật chất, thì những ngày đầu  bốn chúng tôi ở hai buồng lớn trong căn nhà hai tầng lên xuống dễ dàng. Từ tháng Tư Dương lịch trở đi, chủ khách sạn bảo chúng tôi dọn sang nhà lớn ở từng thứ năm, thang máy chỉ chạy có giờ mà thường lại hư hỏng, thành ra phần thì nóng nực phần thì trèo thang nhọc mệt phần thì thấy công việc chẳng có gì làm, sự ăn uống lúc đầu ngày ba bữa còn được sung túc, sau dần thiếu gạo, thiếu đồ ăn, có khi trong ba bữa phải hai bữa ăn mì bột sắn nấu với nước sôi.

Sự ăn uống thiếu thốn, hoàn cảnh quạnh hiu, tâm tình sầu muộn, lại ngày lên thang xuống thang nhọc mệt, chẳng bao lâu tôi mắc bệnh máu bốc lên đầu. Thuốc thang không có, chỉ có mấy ngày lấy bớt máu ra một lần. Thầy thuốc Nhà binh Nhật chữa mãi không khỏi, tôi phải chữa thầy thuốc ngoài. Có câu chuyện tự nhiên mà thành ra buồn cười: tôi đến nhà y sĩ người Trung Hoa. Ông xem xong rồi bảo tôi về ăn ít cơm và rau. Ông nói thế, thật là đúng phép, nhưng cơm đã không có đủ ăn, còn rau thì tìm đâu ra. Thôi thì việc sống thác phó mặc trời xanh ta cứ “cư dị dĩ sĩ mệnh”. Ấy là trong bụng tôi nghĩ như vậy, rồi ngày ngày tôi lấy Ðường thi dịch ra Việt thi để làm việc tiêu khiển.

Bệnh tôi chưa khỏi thì đến lượt ông Dương Bá Trạc bắt đầu đau. Trước thì mỗi khi tôi có cơn chóng mặt, ông trông nom thuốc thang cho tôi, sau dần ông thấy trong người ông mỏi mệt, và một đôi khi có ho năm ba tiếng. Tôi hỏi ông nói không việc gì. Tôi tin ở lời ông vì ông biết thuốc, thường ai đau yếu ông vẫn bốc thuốc cho người ta. Ông vẫn gượng đi chơi, hoặc ngồi dịch Ðường thi với tôi, cho nên ai cũng tưởng bệnh ông là bệnh xoàng.

Chúng tôi thấy từ năm 1944 trở đi, quân Nhật đánh ở các nơi thường cứ bại trận, Chiêu Nam Ðảo lại là nơi chiến địa, lương thực cạn khô, mà ở bên Xiêm thì gạo thóc nhiều và có nhiều người Việt Nam ở bên ấy. Ông Dương bàn với tôi rằng:

“Ở đây có nhiều điều nguy hiểm, chi bằng ta xin người Nhật cho  ta về Băng Cốc để dù xảy ra việc bất ngờ gì, ta còn có chỗ lui tới”.

Chúng tôi  làm cái thư xin Quân đội Nhật cho về Băng Cốc.

Thư gửi đi được mấy ngày, bấy giờ vào khoảng Tháng 9 Dương lịch, chủ khách sạn không hiểu duyên cớ gì lại bảo chúng tôi dọn về ở hai cái buồng cũ rộng rãi và mát mẻ hơn. Một hôm ông Dương đang ngồi dịch thơ với tôi, tự nhiên thấy ông lên cơn nấc. Nấc mãi không thôi, uống thuốc gì cũng không khỏi. Chúng tôi khuyên ông nên đi đến thầy thuốc Nhà binh Nhật xem rõ bệnh tình ra sao. Ông cho là bệnh thường, không chịu đi. Sau cơn nấc cứ làm khổ ông  cả ngày và đêm, nhọc mệt quá, ông mới chịu đi đến bệnh viện cho thầy thuốc xem.

Thầy thuốc ở bệnh viện đem chiếu điện xem phổi, thì ra ông mắc bệnh phế nham, là bệnh ung thư ở trong phổi. Người Nhật bảo ông phải vào nằm bệnh viện, ông không muốn vào, nói rằng: sống chết có mệnh, nay vào bệnh viện ngôn ngữ không biết, có nhiều sự bất tiện. Ông Trần Văn Ân nói:

“Cụ cứ vào, tôi vào bệnh viện ở với cụ”.

Trong bốn người chúng tôi, có ông Ân biết ít nhiều tiếng Anh và tiếng Nhật. Chúng tôi nói mãi, ông Dương mới chịu vào bệnh viện.

Ðịnh đến 3 giờ chiều ngày 5 tháng 1 Dương lịch thì Tư Lệnh Bộ Nhật Bản cho xe đến đưa ông Dương vào bệnh viện Nhà binh. Bữa cơm trưa hôm ấy ông Dương với tôi đi ăn cơm, bữa ăn chỉ có mỗi người một bát mì làm bằng bột sắn. Tôi nuốt không trôi, phần thì thương bạn, phần thì ngậm ngùi về số phận. Lúc mới rời nước ra đi tuy có nhiều điều cực khổ, nhưng lòng còn chứa chan hy vọng về công việc làm, thành ra vẫn hăng hái. Nay bao nhiêu hy vọng ấy đã thành ra ngọn khói bay tan, lại nhớ những lúc đi đường, đói no, lo sợ có nhau, giúp đỡ lẫn nhau, bây giờ chẳng may tôi đau yếu chưa khỏi mà bạn lại mắc phải cái bệnh nguy hiểm tính mệnh chưa biết ra sao. Hai người ngồi đối diện không nói năng gì mà tôi chắc rằng cũng đồng một ý nghĩ như nhau thành ra trước hai bát mì bột sắn, chỉ có bốn dòng lệ tuôn mưa. Tôi nói:

“Bệnh bác tuy nặng, nhưng chưa đến nỗi thất vọng, bác chịu khó vào bệnh viện cho người ta chữa, trời nào phụ lòng bác. Thỉnh thoảng tôi  vào thăm bác”.

Ông Dương nói:

“Còn một ít tiền đây, bác giữ lấy phòng khi có việc gì mà tiêu”.

Từ khi ở Hà Nội đi ra đến bây giờ, tiền nong có bao nhiêu ông Dương vẫn giữ tôi không biết. Anh em dặn dò nhau xong thì xe hơi đến, ông Trần Văn Ân đưa ông Dương vào bệnh viện.

Ông Dương đi rồi,  tôi nằm một mình trong phòng khách sạn, tình cảnh mới thê thảm làm sao; lại nhớ bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Vi Trang đời Ðường tôi vừa dịch xong:

Than thân xa lạ quê người

Lại cùng người cũ bên trời chia tay

Trăng tàn quán khách sớm mai

Tỉnh say ai cũng lệ rơi ướt đầm.

Khi ấy có một người Việt Nam khá giả ở Chiêu Nam Ðảo đã lâu, thường đem xe hơi đến đưa tôi đi chơi cho đỡ buồn. Một hôm ăn cơm tối rồi người ấy đưa tôi ra bờ biển ngồi xem trăng lên, tôi thấy cảnh động lòng thơ, mới vịnh một bài ngũ ngôn rằng:

Chiêu Nam ngụ đất khách

Hà Bắc nhớ quê hương

Mặt biển lô nhô sóng

Góc trời chênh chếch gương

Thân già đau đã nản

Bạn cũ bệnh càng thương

Tạo hóa chơi khăm quá

Trung trinh cũng đoạn trường!

Tôi vốn ít làm thơ, khi cao hứng làm một vài bài, nghe nó vẫn thật thà như thế, nên không hay làm. Dù sao nó cũng biểu lộ được chút tâm tình sầu muộn của tôi nơi đất khách lúc bấy giờ.

Khi mới vào bệnh viện, người Nhật để ông Dương ở khu  riêng của các Tướng Nhật,  và đối đãi rất tử tế. Ông nằm ở đó được mấy ngày thì phải đem sang nằm ở khu bệnh truyền nhiễm. Bệnh nấc tuy có đỡ, nhưng bệnh phổi thì mỗi ngày một nặng thêm. Ngày 13 tháng 1, tôi cùng mấy người bạn khác vào thăm ông Dương vừa đúng ngày ông phải dọn sang phòng riêng. Chúng tôi thấy ông phải sang ở một mình trong phòng rộng như thế ai nấy đều lo, nhưng không dám nói ra. Dọn sang phòng mới rồi, chúng tôi ngồi chơi một lúc, tôi hỏi ông Dương rằng:

“Tôi nghe bác có người con làm y sĩ ở Sài Gòn tên là gì và địa chỉ ở đâu?”

Ông nói:

“Nó làm ở Nhà Thương Chợ Quán ngay tại Sài Gòn nhưng không nên cho nó biết tin tôi bệnh làm gì”.

Tôi biên tên và địa chỉ người con ông Dương để phòng khi có xảy ra sự gì chẳng may tôi có thể báo tin cho biết.

Trong khi đang bối rối lo buồn như thế, vào khoảng đầu tháng 12  Dương lịch, Tư Lệnh Bộ Nhật cho viên Trung úy đến nói rằng có lệnh bên Ðông Dương sang cho ông Dương và tôi đi Băng Cốc. Tôi nói ông Dương đang đau nặng nằm ở bệnh viện, đi làm sao được. Ðể hỏi y sĩ bệnh viện xem ông Dương có đi được không, thì cùng đi cả hai người. Nếu ông Dương đi không được, thì hãy đình việc ấy lại, tôi cũng không đi. Thế là chuyện đi Băng Cốc ao ước mãi nay lại không thành.

Ông Trần Văn Ân, từ ngày ông Dương sang ở nhà bệnh truyền nhiễm thì không được phép ở luôn trong bệnh viện nữa, chỉ ngày ngày vào thăm mà thôi. Mỗi lúc ông ở bệnh viện về đều cho chúng tôi biết bệnh tình ông Dương nguy lắm. Qua đến ngày 10 tháng 12,  hồi 14 giờ 30, một người lính ở Tư Lệnh Bộ Nhật đến tìm ông Ân, bảo ông phải vào ngay bệnh viện, ông Dương nguy lắm.

Nghe nói chúng tôi biết là tin dữ. Ông Trần Văn Ân và ông Ðặng Văn Ký đi ngay vào bệnh viện, tôi thì lên cơn chóng mặt, nằm quay ra giường. Hai người vào đến nơi thì biết ông Dương đã mất từ lúc 12 giờ 30, giờ Nhật Bản tức là hồi 10 giờ 30 ở Sài Gòn. Thế là xong một đời người chí sĩ Việt Nam, một người đã lăn lộn trong cuộc Cách mệnh mưu sự Ðộc Lập cho nước nhà.

Ðộ hơn một tháng trước, một hôm ngồi nói chuyện, ông Dương nói: “Tôi thường không tin sự bói toán, nhưng tôi nghiệm thấy bói Kiều lắm lúc hay lắm. Khi xưa tôi đi thi Hương, có bói một que Kiêủ, thấy là thi  đỗ, mà rồi đỗ thiệt. Sau phải đầy ra Côn Lôn, lại một hôm bói một quẻ, đoán là sắp được về, cách mấy ngày quả được về thiệt”.

Chúng tôi nói:

“Bây giờ ông thử bói một quẻ xem số phận chúng ta ra sao.”

Ông nói: sáng mai ông sẽ làm quẻ bói.

Sáng ngày hôm sau, ông vui mừng bảo chúng tôi:

“Về, các ông ơi, chúng ta sắp được về nước.”

Chúng tôi hỏi:

“Sao ông biết?”

Ông vui nói:

“Tôi vừa bói một quẻ Kiều được hai câu nầy:

Việc nhà đã tạm thong dong,

Tinh kỳ dục dã đã mong độ về.

Theo  nghĩa hai câu ấy là chúng ta sắp được về.”

Thấy ông nói thế, ai nấy đều vui vẻ mừng rỡ. Kể ra đối với ông Dương thì Quẻ Bói Kiều ấy không đúng, mà đối với ba chúng tôi thì chỉ cách có mấy tháng sau là ba chúng tôi cùng được về nước. Việc tin hay không tin ở Quẻ Bói là chuyện khác, ở đây tôi cốt kể lại một chuyện cỏn con đó mà chứng thực cái lòng mong mỏi của chúng tôi lúc ấy là ai cũng muốn chóng được về nước.

Trước ba ngày khi ông Dương từ trần, ông có viết một bức thư rất dài bằng chữ Nho đưa cho Tư Lệnh Bộ Nhật, nói ông chết thì xin người Nhật cho hải táng, nghĩa là đem ném thây ông xuống biển. Ðến khi ông mất rồi, Tư Lệnh Bộ Nhật cho người đến bảo tôi rằng:

“Lễ hải táng phải có tàu đưa xác ra biển mà nay đang lúc chiến tranh, dùng tàu chiến làm hải táng rất không tiện. Vậy xin theo lễ Nhà Binh Nhật làm lễ Hỏa táng ông Dương như một chiến sĩ tử trận.”

Tôi nói rằng:

“Ông Dương một đời vì nước tranh đấu, tuy không tử trận cũng như tử trận. Nay Nhà Binh Nhật đãi ông Dương như thế, chúng tôi rất cảm tạ”.

Sáng ngày 12 Tháng chạp, làm Lễ Hỏa táng ông Dương Bá Trạc ở Chiêu Nam Ðảo, đến chiều đem cốt tro xác ông đựng vào cái hộp gỗ, ngoài đề danh hiệu, rồi đưa thờ tại chùa Bản Nguyên Tự của Nhật Bản. Ðến ngày 16 tháng 12 Dương lịch,  tức là ngày Mùng 2 tháng Giêng năm Giáp Thân làm lễ cầu kinh siêu độ cho ông ở tại chùa, có nhiều người dân Việt Nam ở tại Chiêu Nam Ðảo đến dự lễ.

Riêng về phần tôi, thì thật là sầu thảm. Lúc đi thì hai người cùng đi với nhau, nay còn một mình tôi, lại đau yếu chưa biết sau này ra sao.

Kể sao xiết nỗi thảm sầu.

Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay. 

Tro Tàn

Đ Q Anh Thái viết về Nguyễn Đình Toàn.

CTHĐ: Sao Y Bản Chính.

Nguyễn Đình Toàn. Ảnh ĐQ Anh Thái.

Nguyễn Đình Toàn. Ảnh ĐQ Anh Thái.

Ta có thở khói thương nhau

Tình cũng như nhang tàn

Ta còn nương náu trong đời không bao lâu

Lòng có đau thì cũng như là nắng qua chiều

Thôi cũng nhẹ

Ta yêu nhau trong nghèo khó

Khi quê hương tàn phá

Được mấy ngày vui trong đời

Tóc biếc ngoảnh đi đã đỏ màu phai

Ta xa nhau vào lúc xa đời

Bóng bỏ theo người

Đổ một lần cho hết cuộc rủi may

Cứ coi là mất coi là hết

Lật ngửa bàn tay mà cắt dây

Dẫu cho còn có khi nào nữa

Gặp lại được nhau cũng muộn rồi

Đừng hỏi tình xa bao lâu tình sẽ lạ

Và hỏi người chia xa nhau lòng có sợ

Gương lạnh bóng mờ

Còn một phần ba cây nhang đợi cháy vội

Đội một hòn than chôn chân sầu đứng đợi

Tro tàn rụng rơi.

(Nguyễn Đình Toàn, Sài Gòn – 1984)

Tác giả Áo Mơ Phai đọc cho nghe bài thơ Tro Tàn vào một buổi tối tháng Tư 2014.

Đến thăm anh, bước ra khỏi xe, ngước nhìn lên căn hộ anh sống, đã thấy bóng anh in nơi cánh cửa sổ. Anh nhìn xuống, tôi đoan chắc là anh chỉ thấy rõ bóng người từ xa. Mắt anh đã mờ, vì những khói bụi cuộc đời – và cả tình người – kể từ ngày thoát khỏi những năm tháng nghiệt ngã trong nhà tù; rồi đặt chân đến Mỹ.

Căn hộ một phòng của anh u ám, anh đứng dậy mở cửa, lưng anh như khụm xuống vì sức nặng tuổi già, trông anh lao chao như vừa thoát ra khỏi cái bóng của ngọn đèn vàng vọt nơi bàn ăn. Anh trở lại chỗ ngồi cố hữu nơi cửa sổ, giọng yếu, nhưng vẫn còn hơi hướng Nguyễn Đình Toàn vào mỗi tối thứ Năm trong chương trình Nhạc Chủ Đề trên Đài Phát Thanh Sài Gòn thời trước 75. Anh bảo, chán thật, chỉ còn một một nấc nữa là tám bó. Nghe mà giật mình, thoáng cái anh đã sắp bước vào tuổi 80.

Nhớ những buổi tối thứ Sáu tôi vừa ra khỏi tù năm 1984, trên căn gác nhà bác Dzoãn Quốc Sĩ, bác gái cho ăn bữa cơm đạm bạc, có Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Duy Trác.  Giá lúc ấy anh Toàn đồng ý cùng tôi đào thoát và may mắn như chuyến đi của tôi ít tháng sau đó, anh đã có thể chữa được bệnh mắt. Hỏi anh sao anh quyết ở lại, anh bảo, nghệ sĩ như cái nhau của thai nhi và quê hương như bà mẹ, một khi cái nhau bị cắt rời khỏi cuống rún là lúc nguồn nuôi dưỡng trực tiếp không còn nữa.

Quả như anh nói, có mấy nghệ sĩ buộc phải sống xa quê nhà mà còn trước tác dồi dào, sinh động?

Ngày chia tay anh ở Sài Gòn, thoắt cái đã 28 năm. Và giờ thì anh còn “một nấc nữa là tám bó”.  Hỏi anh giờ này anh mong gì, anh nói, chả biết mình mong gì nữa, “ngày hai bữa nấu cơm cho vợ ăn là đủ hết ngày rồi”, còn mong gì nữa.

Chị Hồng, vợ anh đau bệnh. Mà chính bản thân anh cũng nào khá hơn: anh cũng mang bệnh hiểm nghèo từ hơn năm nay.

Bóng bỏ theo người

Đổ một lần cho hết cuộc rủi may

Ừ, anh nói, cũng đã sắp tới lúc “bóng bỏ theo người”.

Nhìn những thùng sách chất chồng trong căn nhà hẹp của anh, tôi hỏi, “Nguyễn Đình Toàn tiểu thuyết 1 và 2” có được độc giả chú tâm không, anh cười nhưng không dấu được niềm chua chát: “cứ xem đây là lần in cuối cùng dành tặng bằng hữu. Chỉ buồn là gửi cho chục người thì chỉ có hai đứa tử tế điện thoại cám ơn, những đứa còn lại chúng nó xem như không có”.

Ngồi chơi với anh rồi cũng phải về. Anh đóng cánh cửa sau lưng tôi và nói vói theo:“Đã thấy ta gần với cái xa.”

Câu thơ này, anh đã đọc cho tôi nghe hôm đám tang Nhạc sĩ Nhật Ngân buổi sáng Mùng Sáu Tết năm nào.

Theo đoàn người sau quan tài, đi ngang nơi an nghỉ của Nhà báo Đỗ Ngọc Yến, anh Toàn ngồi xuống bãi cỏ trước mộ phần anh Yến, đọc cho nghe nguyên cả bài thơ:

Đã  Nghe

Đã nghe đời xa ta

Người xa ta

Tình xa ta

Như cây khô trút dần hết lá

Đường đang đi bỗng như

Chập chờn có sóng đưa

Xô dồn

Trong một lối về

Đã thấy quanh ta đời quạnh quẽ

Những tiếng xôn xao im dần đi

Đời một phía ta trôi về một phía

Có phải ta mù dở hay sương che

Những bóng hình xưa

Nhập vào trong ước mơ

Giờ cũng bay ra làm gió

Ta có quên đâu

Nhưng nhìn xem cũng lạ

Hoa ngỡ như không còn là hoa nữa

Những mặt người ta giấu trong ta

Dấu mốc đời qua

cười băng giá

Ta cũng không mong quay lại nữa

Trăng thoắt rơi ngang trên đường đi

Ta bỗng nghe ra bằng thịt da

Đã thấy ta gần với cái xa

Ô hay đất đá nào rơi lở

Hay tự lòng ta lấp lối về.

Rời căn hộ tác giả “Áo Mơ Phai”, ngoái lại nhìn thấy dáng anh xiêu đổ.

Đêm Cali se lạnh, trong đầu bỗng vang lên câu cuối của bài thơ “Hay tự lòng ta lấp lối về.”

Ðinh Quang Anh Thái

CTHĐ: Sao Y Bản Chính.

 

THÉC MÉC VĂN GỪNG

 

Anh Phó Hít Bắc Kỳ. Tranh vẽ trong Luân Lý Giáo Khoa Thư. Phó Hít đang nạo sái trong tẩu.

Anh Phó Hít Bắc Kỳ. Tranh vẽ trong Luân Lý Giáo Khoa Thư. Phó Hít đang nạo sái trong tẩu.

Trời mưa sắn ống cao quần
Hỏi cơ bán thuốc nhà gần hay xa?
Thân anh đã xác như vờ.
Đồng cân xin chị cho già chớ non.

Một trong những bài gọi là Phong Dao của Tản Đà. Thơ tả cảnh anh nghiện thuốc phiện Bắc Kỳ trời mưa sắn ống quần đi mua thuốc phiện. Bốn câu thôi mà tuyệt hay, tuyệt đúng. CTHĐ tôi théc méc: trong thời Thực dân Pháp làm chủ nước tôi, chủ luôn hai nước Miên, Lào, chính phủ Bảo Hộ độc quyền nhập thuốc phiên vào ba nước Đông Dưông – ba nước Đông Pháp cũng rứa – chính phủ Bảo Hộ độc quyền bán thuốc phiện cho dân bị trị. Nhà Nước Bảo Hộ đặt ở mỗi tỉnh Bắc Kỳ một nhà đại lý bán thuốc phiện. Những nhà này có tên là Régie d’Opium, trước cửa nhà treo bảng hiệu hai chữ RO. Người làm đại lý RO phải là người không can án, có tiền ký quỹ, nhà mặt tiền phố chính trong tỉnh. Nhà nước cấm ngặt việc người dân mua bán thuốc phiện không qua cái gọi là Nhà Đoan của Nhà Nước. Douane. Tức qua Nhà RO: Régie d’Opium. Người dân mua thuốc phiện phải mua ở nhà RO. Thuốc phiện không từ nhà RO bán ra bị coi là thuốc phiện lậu. Ai mua bán thuốc phiện lậu bị bắt, phạt tiền, phạt tù rất nặng. Do đó không thể có chuyện nhà cơ bán thuốc phiện ở trong xóm nghèo, anh nghiện Bắc Kỳ 1935 chiều mưa dầm thất thểu đến mua lẻ một vài đồng cân thuốc phiện. Một đồng cân theo cân ta là số lượng thấp nhất, nhỏ nhất của một chỉ; mười chỉ là một lạng cân ta. Một đồng cân thuốc phiện chỉ tiêm được hai điếu thuốc.

Tôi không biết rõ ông Tản Đà nghiện thuốc phiện hay không nghiện thuốc phiện. Trong những bài ông Tản Đà viết không có dòng chữ nào về thuốc phiện và việc nghiện thuốc phiện. Trong tất cả những bài người cùng thời ông Tản Đà viết về ông không thấy bài nào viết ông Tản Đà nghiện hút hay không nghiện hút.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con,
Sinh năm, đẻ bẩy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non.

Thi sĩ tiên đoán sai: đông mấy thì đông bọn dân đen chúng tôi cũng sống chết với thành phố, cũng sống bám vào thành phố. Thời nào cũng vậy: chỉ có bọn ở rừng, ở núi kéo nhau về sống ở những thành phố.

Nào có ra gì cái chữ Nho.
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co.
Sao bằng đi học làm thầy Phán,
Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò.

Thi sĩ tả sự ăn uống của những ông thông phán ngày xưa – trước năm 1945 – sự ăn uống ấy no đủ quá đáng. Là con nhà Thông Phán, tôi viết năm xưa các ông Thông Phán có mua những hộp sữa Nestllé về nhà cho các con ăn sáng với bánh mì. Sữa Nestlé xưa phải nhập từ Pháp xong giá không đắt lắm, nhưng sâm-banh – champagne – là thứ rượu Tây đắt tiền, chỉ được dùng trong những bữa tiệc. Người Pháp chính cống cũng không uống champagne mỗi ngày. Ông bố tôi – thông phán thượng hạng ngoại hạng – cả đời không uống ly rượu bia, nói gì đến sâm-banh.

o O o

“Tửu nhập, ngôn xuất.” Tranh vẽ Thi sĩ Tản Đà trên báo Phong Hoá năm xưa.

“Tửu nhập, ngôn xuất.” Tranh vẽ Thi sĩ Tản Đà trên báo Phong Hoá năm xưa.

Tháng Tư 2014, đêm, mầy mò trên Web, tôi thấy bài đăng trong Tạp Chí Văn – có thể là số xuất bản trong khoảng những năm từ 1970 đến 1974 – viết về “Những cái Nhất của một số văn nghệ sĩ Sài Gòn.”

Bảng Phong Thần 55 Cái Nhất

Nằm nhiều nhất Vũ Hồng Chương
Gây chấn động nhất Trùng Dương
Sống khuất lánh nhất Nguyễn Thị Hồng
Đen nhất Vũ Bằng
Hành hạ cái máy chữ khủng khiếp nhất Nhã Ca
Sợ nắng nhất (bốn mùa đội mũ) Vũ Hạnh
Nhỏ con nhất Đinh Tiến Luyện
Sếu vườn nhất Ngụy Ngữ
Độc miệng nhất Nguyễn Đình Tòan
Ở đảo lâu nhất Hồ Hữu Tường
Nhà võ nhất Ngọc Linh
Phệ nhất Nguyên Sa
Nói về mình nhiều nhất (trong tác phẩm) Nguyễn Thị Thụy Vũ
Bí mật nhất Nguyễn Mạnh Côn
Huế nhất Túy Hồng (tự phong)
Lật đật nhất Sơn Nam
Lủi thủi nhất Bình Nguyên Lộc
Long đong nhất Trần Lê Nguyễn
Gầm gừ nhất Vũ Khắc Khoan
Âm thầm nhất Quách Tấn
Đang có nhiều tiền mặt nhất (bốn trăm ngàn giải thưởng) Viên Linh
Thơ dại nhất Mộng Tuyết
Trong ấm ngồi yên nhất Tơ Thùy Yên
Đạo mạo nhất Võ Hồng
Thơm nhất Thanh Lãng
Làm thơ hăng nhất Phạm Thiên Thư
Nhàn hạ nhất Tạ Tỵ (vừa giải ngũ)
Ngừng viết lâu nhất Văn Quang
Tươi nhất Võ Phiến
Có chiếc xe hơi chiến nhất Duyên Anh
Có chiếc xe đạp cà khổ nhất Doãn Quốc Sỹ
Đạp chiếc xe đạp cà khổ kỹ nhất Thanh Nam
Cần kiệm nhất Dương Nghiễm Mậu
Hippy nhất Nguyễn Sỹ Tế
Làm dáng nhất Cung Trầm Tưởng
Ra khỏi nhà sớm nhất Mặc Đỗ (đi làm từ sáu giờ sáng)
Hạnh phúc nhất Tú Kếu và Trần Thị Nga (chàng vừa lấy vợ nàng vừa lấy chồng)
Ngoan đạo nhất Lệ Hằng
Ngang nhất Đỗ Đức Thu (theo Vũ Hồng Chương)
Đổ bác nhất Hùynh Phan Anh
Nổi sóng nhất Nguyễn Thị Vinh
Don Juan nhất Nguyễn Xuân Hồng
Hồi xuân nhất Tuệ Mai
Chỉnh nhất Lãng Nhân
Già gân nhất Vi Huyền Đắc
Nhiều cái nhất nhất Bùi Giáng

( Tạp chí Văn)

CTHĐ: Sao Y bản chính.

Tôi – CTHĐ – cho rằng bản phong thần này được viết trong khoảng những năm từ 1970 đến 1974 vì trong bản không có tên Đinh Hùng. Thi sĩ từ trần trước Tết Mậu Thân.

Tôi chú ý đến bản phong thần vì câu “Độc miệng nhất Nguyễn Đình Toàn.”

Tôi théc méc: Nguyễn Đình Toàn không nói to tiếng, không sài tiếng Đức, không văng tục, không chửi thề, không đả kích, không chê trách ai. Người “độc miệng” là người hay nói những lời độc ác về người khác. Nguyễn Đình Tồn Nói gì mà bị báo Văn phong là người “độc miệng?”

Bản này thiếu nhiều văn nghệ sĩ, như thiếu:

Người ngồi xích-lơ nhiều nhất Mai Thảo.

Người làm báo như tư chức Trần Phong Giao.

Người thả vịt nhất Chu Tử.

Người phong lưu nhất Đông Hồ.

“Thơ dại nhất Mộng Tuyết” theo tôi là không đúng. Bà này “ngây thơ cụ.” Sau 30 Tháng Tư bà lộn mặt nhanh nhất: bà đuổi ông bà Vũ Hồng Chương  ra khỏi nhà bà, bà đon đả mời bọn Cù Huy Cận, Nguyễn Tuần, Chế Lan Viên  đến nhà bà, nhưng chúng không đến. 

Tôi – CTHĐ – làm bản tường trình:

Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Hậu Tháng Tư 75

Nguyễn Hiến Lê ù lì
Nguyễn Ðăng Thục cù mì
Vũ Ðăng Bằng ngơ ngáo
Vương Hồng Sển nâng bi.
Vũ Hồng Chương  xộ khám
Dõan Quốc Sĩ đi tì
Mai Thảo đi trốn
Bình Nguyên Lộc cu ki
Nguyễn Mạnh Côn chết khát
Hồ Hữu Tường chết phì
Á Nam chết xà bát
Hiếu Chân chết ngạt
Dê Húc chết đen sì
Chu Tử xuống biển
Bùi Giáng giả điên
Mộng Tuyết lộn mặt.
Lãng Nhân nằm yên.
Sài Gòn văn sĩ, báo sĩ
1.001 anh tiến tùng
10 anh chạy qua biển
90 anh lỗ tai lùng bùng
Anh nào cũng han rỉ
Tồn lao với tồn lung.

Sau 1975, ông Vũ Bằng ngơ ngáo. Năm 1954 ông phú lỉnh vào Sài Gòn một mình, bỏ vợ con ông lại Hà Nội. Chuyện ông Vũ Bằng là “tình báo viên” do bọn Bắc Cộng cho dzô Sài Gòn hoạt động là chuyện bịa. Nếu ông Vũ Bằng là nhân viên tình báo VC, Cục Tình Báo Bắc Cộng đã tổ chức đưa cả vợ con ông dzô Sài Gòn với ông. Tưởng là chỉ sau hai năm là có chuyện hiệp thông, sẽ gặp lại vợ con, nên ông Vũ Bằng để vợ con ông ở lại Hà Nội giữ nhà, một mình ông vào Sài Gòn làm việc lấy tiền trả nợ. Không ngờ hai năm không có hiệp thông, bị kẹt, ông Vũ Bằng phải lấy bà vợ ngườiNam, cho ra đời một lố con. Vì vậy, trong những bài viết của ông Vũ ở Sài Gòn, ngồi những chuyện thương nhớ quê hương miền Bắc, với hy vọng lấy điểm may ra vợ con ông ở Hà Nội được đỡ khổ, ông thường xa gần đả kích Mỹ gây chiến tranh ở Việt Nam, kín và khéo bầy tỏ lòng oán hận Mỹ đánh bom Hà Nội, phá nát khu cơ đầu cũ Khâm Thiên ..vv.. Nhưng ông không phải là tình báo viên, tình báo hòn do Cộng sản gửi vào Sài Gòn. Sau 1975 ông ngơ ngáo như 4 triệu người dân Sài Gòn khốn khổ, khốn nạn sống cùng thời với ông. Cũng như mọi người Sài Gòn, ông và vợ con ông đói  dzài, đói  dzẹt. Một anh con ông tên là Vũ Lăng, từ Hà Nội vào Khánh Hội, Sài Gòn tìm ông, anh này cãi lộn tùm lum với bà vợ sau của ông làm ông chán quá cỡ thợ mộc.

Những năm 1970 sống bình yên giữa lòng thành phố Sài Gòn, ông Vũ Bằng viết chuyện ông thương nhớ đất Bắc Kỳ trong tác phẩm “Thương Nhớ Mười Hai.” Ông nhớ thương đất Bắc ngày xưa ra rít. Nhưng khi bọn Bắc Cộng Lính Cái Ðít To hơn cái thúng, ngơ ngáo kéo vào Sài Gòn, không một lần ông Vũ Bằng về thăm lại Hà Nội. Ông chết nghèo ở Khánh Hội. Thân xác ông nằm ở một nghĩa trang quanh Sài Gòn. Ðến năm 2000 bọn Bắc Cộng kể chuyện “Nhà Văn Vũ Bằng là nhân viên Cục Tình Báo Bắc Cộng được đưa vào Nam hoạt động tình báo.” Chuyện bậy bạ, em nhỏ lên ba nghe cũng phải chửi. Bọn Bắc Cộng chuyên môn Nhận Vơ.

o O o

Hơm qua em đi tỉnh về,
Ðợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi.
Nào đâu cái yếm lụa sồi,
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Tôi – CTHĐ – théc méc vì “cái yếm lụa sồi” trong bài thơ của ông Nguyễn Bính. Em nhỏ lên ba, cụ già chín bó Bắc Kỳ đều biết “lụa’ là “ lụa”, “ sồi” là “sồi.” Lụa dệt bằng thứ tơ tằm tốt nhất, mịn nhất, sồi dệt bằng những sợi tơ tằm thơ nhất. Không có cái yếm nào là “yếm lụa sồi.” Sồi thơ, cứng, chỉ được dùng làm váy cho đàn bà, con gái làm ruộng ở vùng quê Bắc Kỳ.

Bài “Yếm lụa sồi” có 4 câu kết tôi thấy tuyệt hay:

Hoa chanh nở ở vườn chanh.
Thầy U mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua Em đi tỉnh về,
Hương đồng, gió nội bay đi ít nhiều.

o O o

Trích Phỏng vấn của Ðài VOA ngày 28, tháng 6, 2011.

Công Chúa Huyền Trân. Nàng công chúa có công mở nước nhưng bị người đời quên lãng. Ảnh do người Việt những năm 2000 tưởng ra mà vẽ.

Công Chúa Huyền Trân. Nàng công chúa có công mở nước nhưng bị người đời quên lãng. Ảnh do người Việt những năm 2000 tưởng ra mà vẽ.

VOA: Kế hoạch sắp tới của nhà văn bất đồng chính kiến Trần Khải Thanh Thủy?

Nhà văn vừa tị nạn chính trị ở Hoa Kỳ đã Nói với Ðài VOA về kế hoạch sắp tới của bà  qua cuộc phỏng vấn của Ðài:

Trần Khải Thanh Thủy:

“Tôi chọn cách đi tị nạn như thế này để được tiếp tục cầm bút… Tôi vẫn tiếp tục giữ ngọn lửa tranh đấu, niềm đam mê viết, và tôi sẽ viết như khi còn ở trong nước.

“Mục tiêu của tôi là được sống thật với mình và sống tự do, được cầm bút trở lại. Tôi sẽ viết cuốn ‘Hỏa Lò: Cửa Sinh Cửa Tử của những Kiếp Buồn’. Tập thứ hai tôi sẽ viết về chính bản thân tôi là ‘Ðời Tù’và một cuốn nữa mang tính chính luận cao, phần hai của ‘Ðêm giữa ban ngày ở Việt Nam,’ nói lên mặt trái của xã hội Việt Nam khi cả nước có 372 trường học, nhưng có tới gần 900 nhà tù…

Chắc chắn chúng sẽ như những tiếng bom nổ giữa thời bình.

Ðam mê của tôi từ bé là cầm bút. Nhà văn muốn được tỏa sáng phải sống hết mình, phải mài mòn mình ra mà viết. Tôi hy vọng những tháng ngày ở Mỹ, cùng với lòng biết ơn đối với nước Mỹ không những đã cứu thốt tôi ra khỏi tù mà còn cưu mang hai mẹ con tôi nữa, tôi sẽ có sự cộng hưởng sức mạnh tinh thần để thể hiện tác phẩm đầy đặn hơn…”

Ngưng trích.

CTHÐ: Kể từ ngày cõi đời này có những người Việt Nam chống Cộng ở trong nước, bị bọn Cộng Việt giam tù, hành hạ, bị đe doạ nguy hiểm đến mạng sống, được người Mỹ đến sang Mỹ, bà Trần Khải Thanh Thủy là người Tù Việt được người Mỹ đến đi long trọng nhất.

Cho đến hôm nay, Người Tù Trần Khải Thanh Thủy là người Tù Việt duy nhất – thứ nhất – được nhân viên Ðại Sứ Quán Hoa Kỳ đến thăm trong tù, được đưa thẳng từ Trại Tù Khổ Sai ra phi trường, lên phi cơ bay thẳng sang Hoa Kỳ, được nhân viên Tồ Ðại Sứ Hoa Kỳ đưa đi trên phi cơ trên đường bay qua biển đến phi trường San Francisco.

Trong 10 năm qua, tôi thấy có Ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh được người Mỹ đưa đi khỏi nước Tầu Cộng giống như trường hợp Bà Tù Việt Trần Khải Thanh Thủy.

Ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh được người Mỹ can thiệp, lãnh đưa đi từ trại tù khổ sai, có nhân viên chính quyền Mỹ đến đến ông ở Trại Tù, cùng đi sang Mỹ với ông trên phi cơ. Ông đến phi trường New York. Người Mỹ gốc Hoa chào đến ông tưng bừng. Báo Mỹ đăng tin ông Ngụy nghiện hút một hiệu thuốc điếu của Tầu Cộng. Người ta lục tung các cửa tiệm người Tầu ở Phố Tầu New York tìm mua cho ông thứ thuốc điếu đó. Chính phủ Hoa Kỳ không chính thức mời ông đến Nhà Trắng. Một ông Tham Vụ Nhà Trắng mời ông đến Nhà Trắng. Trong khi Ông Tù Tầu ngồi trong văn phòng của ông Tham Vụ này, Tổng Thống Clinton ghé vào, bắt tay, nói chuyện một lúc.

Ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh được chào đến khắp nơi trong khoảng 12 tháng. Rồi theo đúng qui luật và thông lệ, ông bị người ta quên. Ở trong nước Tầu Cộng, ông là Nhà Tranh Ðấu cho Nhân Quyền. Sang Mỹ, sống ở Mỹ, ông là một ông Tầu như cả triệu ông Tầu khác sống ở Mỹ.

Chưa kể đến tình trạng đáng buồn là sống lưu vong ở những quốc gia dân chủ Âu Mỹ, nhiều ông Cựu Tù Chống Cộng bị “cháy,” bị “đốt.” Ða số các ông bị coi thường, có ông bị mạ lỵ. Không chỉ mạ lỵ suông mà là mạ lỵ tàn tệ. Tình cảnh các ông thê thảm trăm đường, đáng thương quá đỗi. Có ông Cựu Tù bị đốt, bị đánh rách đến không có cái sà-lỏn lành lặn mà mặc.

Ngay từ những ngày đầu sang Mỹ, tôi đã viết ra ý kiến của tôi trước tình trạng bọn Cộng Sản – đầu têu là Nga Cộng, Tầu Cộng – cứ bắt tù những người đòi Nhân Quyền, những người phản đối sự cai trị tàn bạo của chúng. Những người Dân chủ Âu Mỹ xin thả, xin lãnh mang những người tù ấy đi. Bọn CS thả, cho đi. Và thế là những người Âu Mỹ hoan hỉ cho là họ thắng, bọn CS phải nhượng bộ. Tôi gọi sách lược “Bắt, Chờ Xin, Thả cho Ði” của bọn Cộng Sản là trị “Chính Trị Con Tin.” Gần như tất cả những người chống Cộng bị CS bỏ tù trên thế giới đều được người Mỹ đến đến sống ở Hoa Kỳ, cứ như là Hoa Kỳ cần có những chuyên viên chống Cộng.

Người Mỹ lãnh mang những người chống đối đi, sang Mỹ, bọn Cộng cầm quyền mừng húm. Mang những người chống Cộng đi ra nước ngồi, người Mỹ nhổ những cái gai nhọn ghim ngay bên mắt bọn Cộng Sản. Sách lược “Chính Trị Con Tin” bọn Việt Cộng bắt chước bọn Nga Cộng, Tầu Cộng, đến nay – năm 2014, Thế Kỷ 21, vẫn được bọn Cộng xử dzụng có lợi cho chúng.

Tôi viết bài này trong ngày có tin ông Tù Cù Huy Hà Vũ và bà vợ đến phi trường Dulles, Washington DC. Tôi ngậm ngùi nhớ những Văn Nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hồ bị bọn Bắc Cộng bắt tù, chết thảm trong tù.

Bài viết đã đủ dài. Tôi chấm dzứt ở đây.

NẾU ANH TRƯƠNG CHI ĐẸP TRAI

Đêm thanh vắng anh mới hát mấy câu Gió đưa văng vẳng đến lầu cô Mỵ Nương. Cô Mỵ Nương nghe tiếng hát thì thương..

Đêm thanh vắng anh mới hát mấy câu
Gió đưa văng vẳng đến lầu cô Mỵ Nương.
Cô Mỵ Nương nghe tiếng hát thì thương..

Năm 1981 tôi – CTHĐ Hoàng Hải Thủy – được biết Dương Hùng Cường viết, gửi sang Paris cho Trần Tam Tiệp bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.” Tôi không được Cường cho đọc bài đó trước khi anh gửi đi, anh viết tay nên không có bản thảo giữ lại.

Một trong những “tội phản động “làm cho DH Cường bị bắt tù và chết thảm trong tù là bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.” Hai mươi năm sau khi đến Paris tôi có ý tìm đọc bài viết của DH Cường; nhưng người tôi có thể hỏi về bài đó là anh Trần Tam Tiệp thì khi ấy anh đã bị tai biến bệnh não trở thành gần như phế nhân. Anh sống trong một căn phòng nhỏ, nói khó và ngọng, anh ngồi xe lăn, bao nhiêu sách, văn liệu của anh mất hết. Anh quên gần hết chuyện cũ. Tôi thất vọng vì không được đọc bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.” Trong nhiều năm tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ được đọc bài viết cuối cùng của Lão Dương Dê Húc Càn Dương Hùng Cường.

Lại 20 năm sống ở Kỳ Hoa vèo qua. Đêm khuya đầu Tháng Tư 2014, lang bang trên Internet tôi tình cờ tìm được bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai “của Dương Hùng Cường. “Tình cờ ” vì tôi không cố ý tìm, bài viết hiện lên trên màn hình computer của tôi trong đêm khuya xứ người, phòng ấm, đèn vàng, ngoài trời đêm tuyết rơi. Tôi ngậm ngùi đọc“Nếu anh Trương Chi đẹp trai.”

Đoạn văn giới thiệu “Nếu anh Trương Chi đẹp trai” đăng trên báo Nhất Việt:

Nếu anh Trương Chi đẹp trai”  của Dương Hùng Cường, viết ở Sài Gòn năm 1981, gửi lén ra ngoại quốc, đăng trong báo Nhất Việt ở Paris số Tháng 4-1982. Chủ đề của bài là “Mối tình Truơng Chi- cộng sản miền Bắc - và Mị Nương- tư sản Miền Nam.” Mị Nương nghe tiếng hát của Trương Chi, chưa gặp mặt đã thầm yêu trộm nhớ, đến khi gặp mặt Ngày 30 Tháng Tư 1975, thì cuộc gặp là một sự thật phũ phàng, thất vọng đau đớn ê chề cho Mị Nương.

Nhà văn Dương Hùng Cường sau khi học tập cải tạo sĩ quan về, lại bị Cộng sản bắt giam cùng với các văn nghệ sĩ Khuất Duy Trác, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần ngọc Tư, Lý Thụy Ý … Công An Hà Nội gán cho những văn nghệ sĩ này là “Những tên Biệt Kích Cầm Bút.”.

Dương Hùng Cường chết trong sà-lim Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu, Gia Định, ngày 22 tháng 1-1988. Ông là một nhà văn quân đội, binh chủng Không quân, viết với những bút hiệu Dê Húc Càn, Lão Húc, Lão Dương.

Bài “Nếu Anh Trương Chi đẹp trai” được viết như một bức thư gửi cho người bạn ở Paris.

o O o

Sáng ngày 1 Tháng 5, 1975 một số dân  Sài Gòn lộn mặt, lộn cờ đi chào đón bọn cướp nước.

Sáng ngày 1 Tháng 5, 1975 một số dân Sài Gòn lộn mặt, lộn cờ đi chào đón bọn cướp nước.

Anh thân,

Trong những cái lo hàng ngày như chuyện cơm áo, chuyện thường trú, tạm trú, chuyện hộ khẩu, chuyện hồi hương lập nghiệp, đi xây dựng vùng kinh tế mới, tôi lại thêm một cái lo nữa. Nhưng không sao, tôi sẽ viết, vì từ lâu tôi cũng muốn viết. Có nhiều thứ chất chứa trong đầu quá rồi !

Tôi bắt đầu bằng một truyện ký.

Khi anh biết tôi viết “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” anh  đã gửi trong thư vài hàng góp ý. Cảm ơn anh nhiều lắm. Tôi cũng định hạn chế cho mình là cái truyện ký này, chỉ nên viết từ hai trăm tới ba trăm trang. Kéo dài, dài mãi thì cũng được đấy, vì tới bây giờ chàng vô sản Trương Chi vẫn còn quản lý cái tài sản của nàng “tư sản phong kiến” Mị Nương, và cứ mỗi ngày lại lòi ra một cái xấu mới. Thành ra khó lòng mà làm một phát chấm hết truyện ký “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai

Khi bắt đầu vào truyện tôi nghĩ ngay tới ngày đầu mà ông Thưà tướng cho gọi Trương Chi vào phủ để gặp Mị Nương. Tôi dám chắc rằng ông Thừa tướng không để cho chàng kịp sửa sang lại nhan sắc. Có thể lúc đó chàng đang mặc một bộ quần áo bẩn nhất, rách nhất. Có thể lúc đó, chàng vừa chèo xong một chuyến đò dọc đưa “khứa” vất vả, chưa kịp tắm rửa nên đen đủi hôi hám.

Ông Thưà tướng cáo già phải lựa lúc nào chàng bẩn nhất, xấu nhất, hôi nhất, tuy rằng lúc bình thường chàng đã bẩn, đã xấu, đã hôi. Đúng cái lúc đó cho chàng gặp Mị Nương. Người viết truyện là tôi thì cho cái ngày mà chàng vô sản Trương Chi gặp nàng tiểu thư tư sản phong kiến Mị Nương là ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Bắt đầu câu chuyện là thế đấy, anh ạ.

Vậy tại sao ta lại gọi Ngày 30 Tháng Tư 1975 là Ngày Bại Trận ?

Ngày Thưà tướng cho Mị Nương gặp Trương Chi để cho cô thấy hết cái xấu của chàng vô sản để rồi chê anh chàng hơi kỹ, là ngày thua của ông Thừa tướng cáo già hay sao ? Không, ngày đó ông ta thắng chứ, mà lại thắng lớn. Tiếng hát của chàng vô sản Trương Chi, từ đây không còn “ép phê” với cô tiểu thư Mị Nương nữa rồi.

Tôi đã được nghe một bà già ở Bến Tre nói những câu làm mình mát long, mát dạ. Bến Tre, quê hương Đồng Khởi đấy nhé. Bà ta nói oang oang không một chút sợ sệt tránh né :

“Các ông có biết không, ngày xưa tôi nuôi nhiều đứa lắm. Tôi rút nõ trái mít, khoét hết ruột rồi đổ gạo vô cho đầy, đậy cái nõ lại mang gạo đi nuôi chúng nó. Tôi dấu chúng nó dưới hầm kín. Nếu mà biết như thế này thì hồi trước gạo có dư tôi nuôi thêm vài ba con chó. Bây giờ có chuyện gì chúng nó trốn vào trong quần tôi, tôi cũng vén cái quần lên cho nó lòi cái mặt chó nó ra !”

Ấy đấy, cái ngày 30-4-1975 đã làm thay đổi cả một hệ thống tư tưởng, suy nghĩ, hành động của một giai cấp được đặt lên đỉnh cao trung kiên, thì dù ai muốn nói thế nào cũng mặc, tôi vẫn cho Ngày 30-4-1975 là ngày chúng ta đại thắng.

Chàng vô sản Trương Chi mọi người đều biết là giỏi về nghề hót. Chàng đã hót rất kỹ về ba cái chiến thắng. Chiến thắng Điện Biên. Chiến thắng Tết Mậu Thân. Chiến tháng 30-4-1975. Một cái thực và hai cái hư, tạo nên cái hư hư thực thực để người ta dễ lầm, thật giả khó phân. Chiến thắng Điện biên là thực, vì dù sao, chín năm kháng chiến đánh Tây chưa lòi cái bộ mặt quốc tế vô sản ra, chúng nó còn có được chính nghĩa. Như vậy thì chiến thắng Điện Biên của 1954 không phải là của riêng giai cấp vô sản mà của toàn dân. Ai là người Việt Nam cũng có quyền chia phần hãnh diện. Nhưng hai cái chiến thắng giả tạo là chiến thắng Tết Mậu Thân và chiến thăn 30-4-1975. Ôi cái Tết Mậu thân bỉ ổi đê hèn mà chúng mình đã chứng kiến, cái chiến thắng ấy mới thê thảm làm sao. Chúng nó đã lùa vào thành phố một đám con nít ngớ ngẩn, đường lối trong thành phố còn mù tịt, dù có cho phép đi thong thả dạo chơi thì cũng lạc đường như một lũ mán về thành, còn đánh đấm cái gì ? Ông Tướng Trưởng đã gọi là nhử cọp vào nhà, đóng cửa lại mà thọi. Ấy thế mà cũng huyênh hoang là chiến thắng ! Tôi nhớ là phải ngoảnh mặt đi, ói mửa khi thấy xe xúc đất, xúc từng tảng xác chết đó đổ xuống một cái hố chôn tập thể ở đầu đường bay Tân Sơn Nhất. Vài ba tháng sau còn có những xác chết thối rữa trên trần nhà. Cứ nghĩ tới là nguyền ruả. Thế mà là chiến thắng đấy. Anh Trương Chi đã hát sai điệu.

Rồi tới chiến thắng 30-4-1975. Đến bài hát này anh Trương Chi đã trình bày giọng ca vô sản lên tới cái mức trơ trẽn và trưng tráo nhất. Trong một bài hồi ký kềnh càng của tên Đại úy Bùi Đức Nhung, tả chiến công tiến chiếm Dinh Độc Lập, đã kể rằng trên đường đi hắn đã mấy lần nhảy từ xe thiết giáp xuống hỏi thăm dân Sài Gòn đường đi tới dinh Độc Lập. Mẹ kiếp, đường đi còn chưa rõ thế mà vẫn khoác lác là sửa soạn kỹ, nào là tập lâu ngày bằng bản đồ với sa bàn. Chưa thấy đứa nào dối trá, láo xược bằng cái thằng vô sản Trương Chi.

Có chiến thắng là phải có xác chết. Bài ca mà chàng vô sản Trương Chi coi là sở trường của chàng “nghề của chàng” là bài ca Buôn Xác Chết. Cái gì chứ xác chết mang đi buôn lời là cái chắc. Người ta đi buôn chỉ mong một vốn bốn lời, nhưng đi buôn xác chết thì chẳng mất vốn, mà lời lại quá kỹ, vậy thì muôn năm Bài Ca Xác Chết.

Thảm cảnh 30 Tháng Tư 1975.

Thảm cảnh 30 Tháng Tư 1975.

Chiến thắng Điện Biên… Ôi nhiều xác chết quá, tha hồ mà buôn. Kéo pháo qua núi qua đèo, một xu cơ giới không có thì ta ca lên “Dốc núi cao nhưng lòng người quyết tâm của ta còn cao hơn núỉ”. Một đám kéo pháo, một đám đun đít pháo một kéo một đẩy. Cứ thế mà nhúc nhích. Nhưng đến lưng chừng dốc thì phựt một phát, dây kéo pháo đứt. Chết mẹ mấy thằng đun đít pháo. Pháo thụt lùi. Mấy thằng ở hai bên, trong lúc phản ứng cấp thời, nhảy vội sang bên cạnh để cứu lấy mạng. Những thằng đứng giữa, nhảy về bên nào cũng kẹt, lại vướng mấy thằng đứng ngoài. Lúc nhảy được thì lại đụng vào bánh xe pháo nên bị cán lòi phèo, chì còn ngáp vài cái là thành ngay cái xác chết. A, có xác chết rồi ! Phải ca lên bản “Bài ca buôn xác chết”. Đồng chí nào đấy ? A, đồng chí Tô Vĩnh Điện. Mấy anh nhà báo, nhà văn đâu ? Làm ngay bài ca tụng người anh hùng “lấy thân chèn pháo”. Phổ biến ngay tới các đơn vị, hành động anh hùng lấy thân chèn pháo, các đơn vị đang làm nhiệm vụ kéo pháo phải học tập ngay buổi tối hôm nay. Đồng chí Tô Vĩnh Điện, nhờ thành xác chết mà được bốc thơm hơi kỹ. Xong một Bài Ca Buôn Xác Chết.

Ô hô, bài ca buôn xác chết ấy, một phát tên mà bắn trúng tới vài ba con chim. Đồng chí Tô Vĩnh Điện có thành xác chết thì cũng khoái đến phải gật gù cái đầu. Các đồng chí lãnh tụ cũng khoái, vì đã che lấp được cái bất cẩn của mình. Chỉ cần một khúc gỗ chèn, nhích được tới đâu chèn ngay tới đó, thì dù cho dây có đứt cũng chẳng đến nỗi. Hơn nữa , dây dợ ra sao phải kiểm soát chứ, để cho nửa chừng đứt gánh, trách nhiệm đó về ai ?

Xác chết mà buôn được thì một phần thân thể mà chết đi cũng có thể mà buôn được. Đồng chí La Văn Cầu trong lúc xung phong, bị đạn, gãy một cánh tay, thấy cánh tay gãy lủng lẳng vướng víu, đồng chí vừa rút mã tấu, chặt phăng cái tay gẫy rồi tiếp tục xung phong. Bài ca Buôn Cánh Tay Chết ca lên nghe cũng hay hay. Đồng chí La Văn Cầu được yết kiến Hồ Chủ Tịch và được Bác tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì. Bài ca này khi được mang ra học tập tại lớp Học Tập Ba Ngày, mở ra sau này, đã được một anh đội Ngụy bổ túc thêm cho một đoạn.

Khi đưọc yết kiến Bác, đồng chí La Văn Cầu cứ thắc mắc về cái huân chương Kháng chiến hạng nhì. Đồng chí nói với Bác là nếu đồng chí chặt cả hai cánh tay thì đồng chí có bắt được cái hạng nhất không ? Bác gật đầu. Ấy thế là đồng chí đã dũng cảm xuống ngay dưới bếp của Bác, vớ con dao phay chặt phăng cánh tay còn lại. Cả lớp học tập ấy đã vỗ tay hoan hô đồng chí La Văn Cầu quá xá cỡ. Nhưng khi ra khỏi lớp học anh Cai Dù Ngụy hỏi anh Đội Ngụy rằng làm sao mà đồng chí La Văn Cầu lại tự chặt được cánh tay còn lại, thì được trả lời bằng những tiếng cười hì hì xỏ lá….

Chiến thắng Tết Mậu Thân…. Cái chiến thắng này thì nhiều xác chết thật đấy nhưng vì nó gấp quá, quen thuộc quá với dân thành phố Miền Nam, nên chàng vô sản Trương Chi không đủ can đảm trâng tráo trơ trẽn để mà ngồi xổm bài tiết ra những bài ca Buôn Xác Chết. Đành phải nhai lại cái xác chết Nguyễn văn Trỗi. Nhưng cái xác chết này đã từng ngâm mình ở con sông dưới cầu Công Lý, tục gọi là Bến Tắm Ngựa, nên có vẻ hơi nặng mùi. Chiến thắng Tết Mậu Thân thành ra vắng Bài Ca Buôn Xác Chết.

Rồi tới chiến thắng 30-4-1975 . Cái chiến thắng này thì lại khác hẳn, vì không có xác chết. Thì nào có đánh đấm cái mẹ gì đâu mà có xác chết ? Ở cái chỗ nào cũng vậy, thường là sau khi kết thúc một trận chiến, lại bày ra một cảnh đổ vỡ tan hoang, nhiều khi không còn viên gạch nào nguyên vẹn. Nhưng mà ở đây không sứt mẻ, không sây sứt môt tí tẹo nào. Như vậy thì sao gọi là cuộc chiến đã kết thúc ? Đường số 1 không gãy một cây cầu ! Mấy con đường xe cộ vẫn chạy phom phom, không môt khúc nào bị cắt đứt. Cả một thành phố Sài Gòn chỉ đổ có cái cổng Dinh Độc lập vì cái thằng lái xe thiết giáp loạng quạng, ra cái điều hách dịch phách lối, húc đánh rầm một phát. Nếu nó ngừng tại chỗ cho người ta mở cổng, rồi đi vào thơ thới hân hoan, thì Sài  Gòn sẽ được tiếng là còn nguyên si, chưa rụng một cái sợi lông sợi tóc.

Ấy cũng chỉ vì không có xác chết mà đại thắng mùa Xuân đâm ra táo bón bài ca Buôn Xác Chết. Nhưng chàng vô sản Trương Chi nổi danh về tài hót , đâu có chịu ? Thì vẫn có cái xác chết nằm chình ình ra đấy thôi ? Không còn xác chết nào để buôn, thì chúng buôn xác ông già. Nào, một, hai, ba, ta đồng ca :

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng,
Lời Bác nay  thành chiến thắng huy hoàng (…)

Ngày chiến thắng ấy có huy hoàng hay không, thỉ tôi sẽ viết trong truyện ký ” Nếu chàng Trương Chi đẹp trai “. Tôi viết đã được một trăm trang. Có một điều lạ là càng viết thì đầu óc lại càng sáng tỏ ra nhiều vấn đề. Những ngày đầu tháng 5 của năm 1975, tôi cực kỳ oán hận những kẻ đã để tôi ở lại đây. Phương tiện của Cờ Hoa năm 1975, có thể nói gấp ngàn lần phương tiện của Tây năm 1954. Năm 1954, Tây còn mang đi được môt triệu người. Ấy vậy mà năm 1975 … đạp lên nhau mà đi, bước lên xác nhau mà đi, con số chắc cũng chỉ tới trăm ngàn. Trong một lúc quá chán nản, tôi làm một bài thơ tự vịnh thân phận :

Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh

Một ván cờ thua ngã chổng kềnh

Bạn đỏ thiết tha mà dứt bạn

Tình vàng phụ bạc vẫn theo tình.

Tương lai trước mặt sao mù mịt

Dĩ vãng sau lưng lại bấp bênh

Trở giấc sao mình thao thức mãi

Quanh mình bóng tối cứ mông mênh.

Rồi tiếp theo là mấy năm đi học cải tạo. Trong nhiều lúc chán đời tôi chỉ muốn chết. Nhìn gần thì nhìn thấy mình và người chung quanh cứ mòn mỏi, cùn rỉ để rồi dần dần gục xuống. Nhìn xa thì thấy tương lai Miền Nam đi tới chỗ diệt chủng. Những thằng đàn ông có khả năng đẻ đái thì bị nhốt hết trong trại học tập cải tạo, còn sót lại thằng nào ở bên ngoài, thì lại được khuyến khích bằng sự hạn chế sinh đẻ. Hơn nữa cái chính sách lương bổng thật tồi tệ. Cha mẹ không nuôi nổi con cái, con cái không nuôi nổi cha mẹ, anh em không nâng đỡ nổi nhau thì đẻ thêm làm cái gì ?… (…)

Khi ra khỏi trại học tập cải tạo, gặp thằng Công Tử Con Bà Cả Đọi. Hắn tả cảnh sống của hắn và đọc cho tôi nghe bài thơ Cực Tả :

Cửa đóng màn che đã mấy thu

Đời tàn ngõ hẹp sống như tù

Quẩn quanh học lại Thiền Đông Độ

Vào ra luyện mãi Pháp Tây Du

Rầu rĩ Giáng Tiên ngồi gãi háng

Nẫu nà Từ Thức đúng xoa khu

Ăn chỉ tương cà, chê thịt cá

Sống chẳng tu hành cũng quá tu.

Tôi lại càng buồn, mẹ kiếp ! Đông độ với Tây du. Nước Mỹ với nước Tây thì cũng chán mớ đời. Tôi hoạ lại bài thơ ấy bằng bài Quân Tán, nghĩa là Tan Hàng :

Quân tán còn chi xuất với thu

Sống thừa thì cũng xác thân tù

Hữu tật cam đành câu bất dụng

Vô tài nên chịu tiếng nan du.

Những tuởng khoan hồng anh hạ bộ

Nào ngờ mắc bẫy chú Xuân Khu

Chung cuộc vài năm cầm cán cuốc.

Tu đọi, tu huyền ấy cũng tu.

***

Anh cứ nhớ rằng lúc nào anh em chúng mình làm thơ Đường, ấy là lúc chúng ta buồn và rất chán đời.

Nhưng từ lúc viết “Nếu chàng Trương Chi đẹp traỉ” thì tôi phấn khởi hẳn lên. Nghĩ tới ngày đầu tiên Mị Nương gặp Trương Chi là tôi nhớ tới cả một cuốn phim dĩ vãng của những ngày đầu Tháng Năm lịch sử. Nàng Mị Nương và chàng Truơng Chi hẳn cũng đã xảy ra chuyện “ngôn ngữ bất đồng” . Tôi cười một mình, nhớ tới mẩu đối thoại giữa cô bán thuốc lá ở trước cửa nhà và một anh bộ đội

- Bán cho tôi bao thuốc ná…

- Dạ anh mua thuốc nào ?

- Không bán cho tôi bao thuốc ná?

- Dạ anh mua thuốc nào ?

Tiếng gắt gỏng :

- Cái cô này nạ chửa. Người ta mua thuốc ná mà nại cứ hỏi người ta mua thuốc nào.

Giọng trả lời vẫn dịu dàng :

- Dạ thì tôi hỏi anh mua thuốc nào ? Thuốc Ru by, thuốc Cáp tăng hay thuốc Bát tô ?

Ngôn ngữ bất đồng là thế đấy. Khu nhà tôi ở bên kia cầu chữ Y, nên sau ngày 30-4-1975, quanh nhà thật đông bộ đội. Con nhỏ người làm nhà tôi đã biểu diễn một bộ mặt ngớ ngẩn khi một anh bộ đội tới hỏi mượn “một cái bàn nà” hay mượn một cái phễu. Tôi phải nhắc nó đua anh ta mượn cái bàn ủi hay cái quặng, lúc đó nó mới à lên một tiếng tự nhiên.

Buổi sáng buổi chiều là những lúc nhàn rỗi của mấy anh bộ đội. Những anh chàng này ít đi chơi vì Sài Gờn đối với mấy chàng chẳng có gì hấp dẫn. Đường phố thì dài dằng dặc. Đi bộ thì mỏi chân. Vượt Trường Sơn thi được nhưng đi bộ trên đường phố Sài Gòn thì các chàng lại chê. Vài chàng may mắn gặp được gặp người quen hay bà con họ hàng di cư vào đây năm 1954 nhưng họ cũng chỉ cho ăn vài bữa cơm rồi cũng lơ là. Bởi vậy các chàng không còn thú vui gì chỉ ngổi xúm lại với nhau tán gẫu. Cái lối ngồi của mấy chàng cũng lạ. Chúng mình thì ngồi bệt xuống, đặt cái mông xuống hè cho nó thoải máì, thằng nào muốn sạch thì lót cái khăn mùi xoa hay tờ giấy báo. Nhưng mấy chàng thì ngồi ở cái thế mà chúng ta hay biểu diễn ở những lúc ta ở trong cầu tiêu. Cứ ngồi xổm như thế mà nói chuyện râm ran, cả mấy giờ đồng hồ. Sáng, trưa chiếu lúc nào cũng có vài ba chàng hay đông hơn nữa ngồi ở đầu hè nói chuyện với nhau. Cứ ở tư thế “ngồi nước lụt”. Đứa cháu gái lớn một hôm ngồi ngắm các anh chàng rồi bảo tôi :

- Sấm, sấm rồi bố ạ !

Tôi ngạc nhiên hỏi lại :

- Thế nào mà lại là sấm ?

- Thì bố vẫn giảng cho con nghe những bài thơ, những câu phong dao tục ngữ không có tác giả đọc lên tối nghĩa một chút, không chừng là sấm. Như câu “hết quan tàn dân, thu quân bán ruộng”. Như câu …

- Rồi, rồi, nhưng cô định cho câu nào là sấm đây ?

Con bé ra mặt nghiêm trang :

- Con nghĩ tới bài thơ con cóc ” Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra. Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó. Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi “Mới đầu con cứ thắc mắc mãi về con cóc, không hiểu rằng con cóc ám chỉ cái gì. Bây giờ nhìn mấy đứa kia nó ngồi chồm hổm, mới thấy y như hệt con cóc. Bố thấy chúng nó có giống con cóc hay không ?

Tôi không trả lời đứa con gái nhưng trong lòng như ngầm đồng ý. Cũng như tôi đã mắng chúng nó khi chúng nó trả lời nhửng câu trêu chọc mấy chàng bộ đội bằng câu ca dao :

Khoai lang chấm muối ăn bùi
Lấy chồng bộ đội lấy cùi sướng hơn.

Tôi mắng nhưng trong lòng hả hê. Ừ, có thể là sấm thật đấy. Và bây giờ khi viết truyện ký ” Nếu chàng Trương chi đẹp trai ” tôi đã gọi Ngày 30-4-1975 là ngày VNCH đại thắng.

Đã là ngày đại thắng thì chỉ nên luận công mà không luận tội. Người Mỹ đã tạo nên ngày 30-4-1975, cũng như ông Thừa tướng đã tạo nên ngày Mị Nương gặp Trương Chi. Ôi, cả công lao tuyên truyền, cả một hệ thống tư tưởng từ Nam chí Bắc, xụp đổ thảm thương. Đi xe đò từ Bắc vào Nam, cứ tới Quảng Trị người dân miền Bắc yên trí là cái mông đít không còn bị hành hạ. Vào tới trong Sài Gòn nhiều kẻ đã ở lại, không muốn về, đấy là bây giờ Sài Gòn kém trước quá xa.

Công của ông Thiệu sửa soạn cho Ngày 30-4-1975 cũng quá lớn. Nhất là cái chương trình “Người cày có ruộng”. Mua lại ruộng đất của diền chủ, rồi phát không cho nông dân mỗi người ba mẫu với bằng khoán cẩn thận, ông Thiệu đã bẻ gãy cái liềm trên lá cờ có cái liềm cây buá. Lại còn Ngân hàng quốc gia Nông tín Cuộc cho nông dân vay tiền mua máy cày, máy bơm nước tới muà thì trả. Không trả được thì khất lại. Cả một chính sách cải cách ruộng đất mà những anh chàng vô sản rất lấy làm hãnh diện, ấy thế là…đi đoong.Thâm độc hơn nũa là cái vụ cấy luá Thần Nông. Cái thứ lúa ngắn ngày này phải cần bón phân cho nhiều. Mà lại phải là phân hoá học nhập cảng. Thì có chi lạ. Muốn chóng lớn thì phải ăn nhiều. Thấy lúa ngắn ngày, mấy chàng “cứ tưởng bở ” mang ngay về Bắc làm giống, huyênh hoang khoác lác quá xá, để rồi mấy năm mất mùa và cho tới nay phải trở lại cày cấy hai vụ chiêm mùa…. Thật là thâm quá thâm mà độc quá là độc.

Lại sắp tới Ngày 30 Tháng Tư.

Từ 1975 đến 1982, đối với mọi người kể cả tôi, cũng đã gọi là quá dài.

Mấy thằng Tây thất bại vì đã trở lại sớm quá. Chín năm kháng chiến chống Tây, chúng nó đã có thật đông chính nghĩa. Nhưng rồi sau chín năm ? Và tới bây giờ Trương Chi đã lộ mặt thật xấu bẩn. Mặt nạ chính nghĩa rơi rớt tơi tả.

Anh nói với bằng hữu: làm gì đi chứ ? Chia rẽ làm chi, tội nghiệp quá đi thôi! Đoàn kết không phải là tôi đi theo anh hay là anh đi theo tôi. Đoàn kết là dẹp bỏ hết mọi tị hiềm, xung khắc để cùng chung lo việc cấp bách trước mặt là … Phục Quốc.

Rất thân chào Anh

Lão Húc

o O o

CTHĐ Sao Y Bản chính.

Một buổi sáng Tháng Tư năm 1984 Dương Hùng Cường và tôi cùng vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu.

Một buổi trưa Tháng Tư năm 1985 Dương Hùng Cường và tôi cùng vào Nhà Tù Chí Hòa.

Một buổi sáng Tháng Giêng năm 1989 từ Nhà Tù Chí Hòa một mình tôi lên Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Một buổi sáng năm 1988 từ Nhà Xác Nhà Tù Chí Hòa Dương Hùng Cường lên Nghĩa Trang Lái Thiêu.

Đầu năm 1987 bọn Cộng Hà Nội định đưa nhóm văn nghệ sĩ bị gọi là bọn Biệt Kích Cầm Bút ra tòa. Nhóm văn nghệ sĩ này 8 người: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Doãn Quốc Sĩ, Khuất Duy Trác, Dương Hùng Cường, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn, Hoàng Hải Thủy. Họ bị  khép tội gián điệp. Án phạt tội gián điệp cao nhất là Tử hình, thấp nhất là tù khổ sai 12 năm. Bọn ký giả bị rọ mõm trong hai tờ báo Công An, Tuổi Trẻ rep hò: “Bọn gián điệp sẽ phải cúi đầu nhận tội trước nhân dân..” Để chuẩn bị cho phiên xử bọn công an đưa Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn từ Nhà Tù Chí Hòa về giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Dương Hùng Cường chết trong đêm trong một sà-lim. Xác anh được đưa về Nhà Xác Nhà Tù Chí Hòa. Vợ con DH Cường được gọi tới nhìn mặt người tù lần cuối. Bọn Cai Tù Chí Hòa cho xác người tù chết vào áo quan, cho xe nhà tù đưa lên chôn ở Nghĩa Trang Lái Thiêu.

Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong Nhà Tù Chí Hòa.

Phiên xử bọn Biệt Kích Cầm Bút bị hoãn cho đến đầu năm 1988 mới được đưa ra tòa. Lần này tội gián điệp trong cáo trạng bị bỏ, thay vào đó là tội tuyên truyền phản cách mạng: án tù tối đa 12 năm tù khổ sai, án tù tối thấp tù khổ sai 2 năm. Nhóm văn nghệ sĩ vào tù 8 người, còn 6 người ra tòa.

Dương Hùng Cường viết bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai” ở Sài Gòn năm 1981. Ba mươi năm sau – 2014 – Kỳ Hoa Đất Trích, đêm khuya tôi đọc “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.”

Cảm khái cách gì!

THƠ PHÓNG TÁC

Walter de la Mare. Born 1873

thoTHE LISTENERS

“Is there anybody there?” Said The Traveller

Knocking on the moonlit door:

And his horse in the silence champ’d the grass

Of the forest’s ferny floor:

Anh a bird flew up out of the turret,

Above The Traveller’s head:

And he smote upon the door again a second time;

“Is there anybody?” He said.

But no one descended to The Traveller

No head from the leaf-fringed sill

Lean’d over and look’d into his green eyes.

Where he stood perplex’d and still.

But only a host of phantom listeners

That dwell in the lone house then

Stood listening in the quiet of moonlight

To that voice from the world of men.

Stood thronging the faint moonbeams on the dark stair

That goes down to the empty hall

Hearkening in an air stirr’d and shaken

By the lonely Traveller’s call

Anh he fells in his heart their strangeness

Their stillness answering his cry

While his horse moved, cropping the dark turf

‘Neath the starr’d and leafy sky;

For he suddenly smote on the door, even louder , and lifted his head:

“Tell them I came, and no one answered,

“That I kept my word.” He said.

Never the least stir made the listeners

Through every word he spake

Fell echoing through the shadowiness of the still house

From the one man left awake:

Ay, they heard his foot  upon the stirrup,

And the sound of iron on stone

And how the silence surged softly backward,

When the plungings hoofs were gone.

cover

Những Người Nghe (Hoàng Hải Thủy phóng tác ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A ngày 29 tháng 12, năm 1989.)

Lính Đánh Thuê

Lính Đánh Thuê

“Có ai trong đó?” Người Lữ khách hỏi,

Tay Người gõ trên cánh cửa trăng soi.

Con ngựa của Người gặm cỏ ven đồi,

Một cánh chim bay lên từ ống khói,

Vút trên đầu Người Lữ Khách lên trời.

Người lại gõ cửa, và Người lại gọi:

“Có ai trong đó không?” Người lại hỏi.

Không một kẻ nào đi xuống đón Người,

Không khuôn mặt từ những khung cửa tối

Nhìn xuống đây đôi mắt sáng sao trời.

Người đứng im, như lạ lùng, hờn dỗi,

Chỉ những hồn ma trong đó nghe lời.

Những hồn ma lặng nghe trong trăng soi

Tiếng Người tới từ cuộc đời đang gọi.

Những hồn ma đứng đầy trong cầu thang

Nghe tiếng gọi thiêng vang trong hành lang.

Im lặng mênh mang trả lời Người gọi.

Dưới vòm trời sao, bên vòm lá tối

Con ngựa của Người bồn chồn chờ đợi.

Người ngẩng đầu cao, Người cao tiếng nói:

“Cho chúng biết rằng Ta vừa trở lại

“Như Ta đã hứa từ ngày xưa ấy.

“Chúng không đón ta, Ta đi mãi mãi.”

Những hồn ma buồn vẫn lặng yên nghe

Từng tiếng Người nói trong đêm tê tái.

Rồi họ nghe, này – tiếng chân nặng nề,

Tiếng xích trên nền đá lạnh kéo lê.

Một người thức trong tòa nhà ngủ mê

Đang chạy vội ra đón Người trở về.

Nhưng ngoài trời đêm chỉ còn vắng vẻ

Tiếng vó ngựa xa rồi trong đêm khuya.

Hoàng Hải Thủy. Virginia March 2014

Alfred Edward Housman (1860-1966) – Epitaph on an Army of Mercennaries

These, in the day when heaven is falling,

The hour when earth’s foundation fled,

Follow their mercennary calling

And took theirs wages and are dead.

Their shoulders held the sky suspended.

They stood and earth’s foundations stay.

What God abandon’d, these defended

And save the sum of things for pay.

Lời trên mộ những người Lính Đánh Thuê

Những người này khi trời sụp đổ,

Trong giờ nguy sông núi ngả nghiêng;

Họ đứng lên theo tiếng gọi thiêng

Nhận tiền công và nay họ chết.

Trời ngưng đổ trên vai họ đỡ,

Họ vững chân nên đất đứng yên.

Họ bảo vệ những ai khốn khổ

Người bỏ rơi và Chúa bỏ quên.

Họ chiến đấu và đời của họ

Khoản công lao được trả bằng tiền.

SÁNG TRĂNG SUÔNG

Thiếu nữ ngủ ngày. Tranh Bùi Xuân Phái. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm..

Thiếu nữ ngủ ngày. Tranh Bùi Xuân Phái. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm..

Tháng Ba 2014,  mưa tuyết – chắc là lần mưa tuyết cuối cùng của mùa Đông Virginia 2014 – vừa đi qua Rừng Phong. Mưa tuyết đi qua nhưng tuyết còn ở lại trắng trời, trắng đất, trắng cây. Vợ chồng già líu ríu bên nhau trong căn phòng ấm. Già, cơm không là vấn đề. Vợ đan áo, chồng mò mẫm trên Internet.

Tìm được bài viết “Thi Ca Dục Ái trong Văn Học” của NhàBiên Khảo Trần Bích San. Thấy chuyện Lá Đa, Mõm Chó, Sự Đời, Hái Chè, Váy, Con Cúi..vv..; toàn chuyện hấp dẫn, bèn có  hứng muốn viết góp ý. Trước hết mời quí vị đọc:

Trần Bich San. “Thi ca dục ái trong văn học.”

Thi ca dục ái xuất hiện từ lâu trong văn chương truyền khẩu. Phong dao, tục ngữ, câu đố có những bài, những câu liên quan đến tính dục nam nữ . Loại tác văn này không bóng bảy như văn chương chữ viết mà đôi khi còn thô lỗ, trắng trợn, tục tằn nữa. Thực ra đó chỉ là phản ảnh đặc tính nôm na, mộc mạc, tượng hình và cụ thể của nền văn học dân gian:

Tranh Bùi Xuân Phái. Vịnh Quạt Giấy: Mười bẩy hay là mười tám đây?

Tranh Bùi Xuân Phái. Vịnh Quạt Giấy: Mười bẩy hay là mười tám đây?

Sáng trăng em tưởng tối trời
Ngồi buồn em để cái sự đời em ra
Sự đời như chiếc lá đa
Đen hơn mõm chó, chém cha cái sự đời.

hoặc:

Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy nó cũng chẳng tha
Nó cứ ấn, cứ nhét cái đầu cha nó vào
Cái gì như cái củ nâu
Cái gì như thể cái cần câu nó gật gù…

(Phong Dao)

Văn chương chữ nghĩa bề bề
Thần l.. ám ảnh cũng mê mẩn đời

hoặc:

Không giàu thì cũng đẹp giai
Không thông kinh sử cũng dài con Q.

(Tục Ngữ)

Canh một thì trải chiếu ra
Canh hai bóp vú, canh ba sờ l..
Canh tư thì lắc xom xom
Canh năm cuộn chiếu ẵm con mà về

(Câu đố tả người kéo vó ban đêm)

Từ ngàn xưa đạo Nho bao trùm xã hội Việt Nam, quan hệ tình dục bị coi là thô tục nên văn gia tránh không đề cập tới. Nội dung thơ văn không hợp với đạo lý thánh hiền đều bị lên án khắt khe như “đàn ông chớ kể Phan Trần, đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều”. Truyện Phan Trần có đoạn tả Phan Sinh ốm tương tư, si tình đến toan tự tử. Với người xưa, nam nhi mà nhu nhược, ủy mị như thế là điều không thể chấp nhận được. Thúy Kiều vượt vòng lễ giáo đang đêm lẻn sang nhà Kim Trọng tình tự là điều luân lý Khổng Mạnh không cho phép. Truyện Kiều bị lên án là dâm ô, khiêu khích tình dục vì có đoạn tả nàng Kiều tắm và lúc Kiều thất thân với Mã Giám Sinh tuy rằng chỉ với những nét ước lệ, mờ nhạt thiếu tính cách cụ thể sinh động:

Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên

(Kiều tắm)

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió não nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương

(Mã Giám Sinh phá trinh Kiều)

Các thi gia có tư tưởng phóng khoáng như Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Khuyến cũng chỉ dám phớt qua:

Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ không.

(Nguyễn Công Trứ)

Đàn bà con gái sắn quần lên
Cái gì trăng trắng như con cúi

(Nguyễn Khuyến, Chỗ Lội Làng Ngang)

Hồ Xuân Hương, nhà thơ đầu tiên vượt trên cấm cản của xã hội, mô tả thật sống động cuộc mây mưa giữa nam nữ :

Trai co gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân có biết xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không

(Đánh Đu)

Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vướn phứa tịnh lên
Hai xe hà chàng gác hai bên
Thiếp sợ bí thiếp liền ghểnh sĩ
Chàng lừa thiếp đương cơn bất ý
Đem chốt đầu dú dí vô cung…

(Đánh Cờ)

Bà không ngại ngùng ca ngợi vẻ đẹp thể chất con người. Những bộ phận kín phụ nữ được diễn tả rõ ràng bằng lời thơ đầy nghệ thuật:

Thân em như quả mít trên cây
Da nó sù sì, múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng nõ
Xin đừng mân mó nhựa ra tay

(Quả Mít)

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng

(Giếng Nước)

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên nước chửa thông

(Thiếu Nữ Ngủ Ngày)

Thi ca dục ái Hồ Xuân Hương được lồng dưới hình thức ẩn dụ. Chính phần ẩn dụ chứa đựng những điều bị cho là thô tục, lả lơi, dâm dục có hại cho thế đạo nhân tâm. Thi sĩ Tản Đà lên án như sau: “Người ta thường có câu Thi Trung Hữu Họa, nghĩa là trong thơ có tranh. Như thơ Hồ Xuân Hưong lại là Thi Trung Hữu Quỉ, nghĩa là trong thơ có quỉ (An Nam Tạp Chí số 3 ra ngày 1/10/1932). Dương Quảng Hàm viết trong Quốc Văn Trích Diễm: “Suốt tập thơ Hồ Xuân Hương không mấy bài là không có ý lả lơi, dầu tả cảnh gì vật gì cũng vậy” (Quốc Văn Trích Diễm, chương 10).

Trong nền văn học chữ quốc ngữ, thời tiền chiến sự hiện diện của thi ca dục ái chỉ thấp thoáng trong thơ Hàn Mặc Tử :

Tiếng ca ngắt. Cành lá rung rinh
Một nường con gái trông xinh xinh
Ống quần vo xắn lên đầu gối
Da thịt, trời ơí trắng rợn mình…

(Thi tập Gái Quê, bài Nụ Cười)

Thi ca dục ái bắt đầu rõ nét hơn trong thơ Bích Khê. “Sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết.” (Hàn Mặc Tử, Tựa tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê):

Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ
Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
Hai vú nàng, hai vú nàng, chao ôi !
Cho tôi mút một giòng sông ngọt lộng
Và ô kìa một tòa hoa nghiêm động
Tay run run hãm lại cánh tình si
Hai tay nàng đã nở ngọc lưu ly
Hai chân nở màu sen ẻo lả
Cho tôi nàng, hãy cho tôi tất cả !…

(Tranh Lõa Thể)

Sang thế kỷ 21 thi ca dục ái là sự kết hợp nghệ thuật thơ Hồ Xuân Huơng, tính cách phong dao cận nhân tình và thêm chất thực tế trần trụi chói gắt của thi ca hiện đại. Nhà thơ công khai mô tả, ca ngợi vẻ đẹp lành mạnh tràn đầy nhựa sống, quyến rũ của thân thể con người cả hai phái nam nữ. Các điều đạo đức lánh xa che mặt được nhà thơ biến thành những đối tượng hấp dẫn. Tính dục mang tính cách tất yếu, một bản chất tự nhiên như ăn ngủ, là hạnh phúc hào hứng thực tế nhân loại. Chuyện ái ân nam nữ trong thơ dục ái dồi dào sức sống, bừng bừng sinh lực, đầy ắp không khí tươi mát lành mạnh đất trời. Con người và thiên nhiên hòa nhập, tương ứng, hài hòa với nhau. Thiên nhiên chứa đựng sinh lực con người. Con người thấm đượm màu sắc rực rỡ tươi thắm thiên nhiên:

Trong gió sớm cuộc hẹn hò cảnh khác
Rạch sậy lau che kín chiếc thuyền câu
Dành riêng em hưởng nguyên vẹn tình đầu
Đang trượt té qua cuộc tình nhục cảm
Ôi thế sự, ôi cuộc đời bụi cám !
Có nghĩa gì bằng dâng hiến tình yêu ?
Trái cấm dành người dám bạo dám liều
Tòa hoan lạc thường có ngoài cổ tích.
Hai thân thể trần truồng cùng quấn quít
Nụ hôn nồng, môi ham hố cơn say
Chồi nhân sinh gay gắt đỏ, giương dài
Cứ hăm hở chui huyệt sâu khoái lạc.
Trong gió sớm ôm mông chàng thật sát
Em lắng nghe thân ngún lửa từng cơn
Chàng vẫy vùng, thọc ngoáy thật sâu hơn
Cùng bay bổng lên thiên đường cảm giác
Trong gió sớm nhựa tinh chàng thơm ngát
Tuôn vào em từng đợt quánh và trơn
Em tặng chàng những vết máu tươi son
Khi chàng sống bản năng con thú đực

(Hồ Trường An, Trong Gió Sớm)

Thơ dục ái không hoằng dương nhục cảm. Nhà thơ sử dụng nó như phương tiện chuyên chở nghệ thuật, gây thích thú thưởng ngoạn, kích thích giác quan thẩm mỹ, tạo không khí trân trọng nghệ thuật. Tình yêu trong thơ dục ái là sự thăng hoa toàn diện, triệt để, vô hạn giữa tâm hồn và thể xác, giữa cá nhân với quê hương, giữa con người với thiên nhiên:

Rồi đó một trang đời mở rộng
Anh đưa em dưới vòm lá đêm
Tham lam môi nóng ghì môi ướt
Tay cứng nhồi xoa tảng ngực mềm
Đưa đẩy em trong một chiếc giường
Xem thường hiểm họa đạp tai ương
Khi nhìn thân thể anh ngồn ngộn
Da thịt nồng nàn như bốc hương
Em nghe bật vỡ nơi sâu kín
Máu thắm tuôn ra vậy cũng đành
Không biết thiên đường hay địa ngục
Khi nằm rạo rực dưới thân anh

(Hồ Trường An, Xa Bến Thiên Đường)

Thiên-đường-huyền-thoại vốn là không gian ảo chỉ hiện hữu trong ước mơ, nơi hứa hẹn hạïnh phúc vĩnh cửu nhưng xưa mai có ai tới được ngưỡng cửa thiên đường ? Thiên-đường-dục-ái là không gian có thật. Trong suốt hành trình đời sống hầu như mọi người ai cũng hơn một lần bước vào. Con thuyền-thơ-dục-ái chở những người yêu nhau chân chính trở lại tìm kiếm không gian và thời gian mà họ đã sống đến tận cùng giây phút tuyệt vời ngút lửa của hoan lạc thân xác trên giòng sông đam mê có thực. Thi ca dục ái là tiếng lòng nức nở và hoài niệm thiết tha của những tâm hồn nghệ sĩ đích thực. Một thời đại mới trong thi ca Việt đã mở đầu và dục-ái-ca thực sự chắp cánh bay bổng rạo rực ca ngợi hạnh phúc trần tục, thiên đường có thật của con người.

TRẦN BÍCH SAN

CTHĐ Sao Y Bản Chánh.

Công Tử Hà Đông bàn loạn: Xin Nhà Biên Khảo cho tôi góp vài ý mọn. Tôi không nói quyết tôi viết đúng, chỉ là góp ý thôi.

Chuyện tôi nên góp ý là chuyện “Sáng trăng.”

TBSan:

Sáng trăng em tưởng tối trời
Ngồi buồn em để cái sự đời em ra
Sự đời như chiếc lá đa
Đen hơn mõm chó, chém cha cái sự đời.

Lời phong dao tôi biết từ năm tôi 12 tuổi:

Sáng trăng suông em tưởng tối trời.
Em ngồi em để cái sự đời em ra..

Kính thưa: Phải là “sáng trăng suông” em mới tưởng là tối trời. Nếu trời sáng trăng, em không thể tưởng là tối trời, đang sáng trăng em tưởng tối trời là không có lý. Nhiều người Việt tuổi đời năm nay dưới Năm Bó, Sáu Bó,  không biết, không hiểu  “sáng trăng suông” là gì, tại sao lại gọi là “sáng trăng suông?”

Sáng trăng suông” theo sự biết không bảo đảm trúng trật, tức không quyết là đúng, cũng không quyết là trật, là sai, của kẻ viết CTHĐ là : đêm có trăng nhưng trăng bị mây mù che kín cả bầu trời, trăng không lộ ra, người không thấy trăng nhưng không gian đêm vẫn có ánh trăng sáng mờ mờ. Khi sáng trăng suông, ta không nhìn thấy mặt trăng. Phải ở đồng quê ta mới có thể thấy sáng trăng suông. Ở thành phố đêm có đèn điện, ta không thể thấy sáng trăng suông.

Tục Ngữ Phong Dao. Tác giả Nguyễn Văn Ngọc. Tập Dưới. Trang 182:

Sáng trăng suông, em nghĩ tối trời,
Em ngồi em đề cái sự đời em ra.
Sự đời bằng cái lá đa,
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

Và Trang 128:

Sáng trăng suông
Sáng cả vườn đào, sáng cả vườn chanh.
Ba bốn cô đằng ấy có cô nào còn không?
Có một cô thật đích cô chưa có chồng,
Cho anh ghé chút làm chồng. Nên chăng?

Sáng trăng suông sáng cả cái đêm hôm rằm.
Nửa đêm về sáng trăng bằng ngọn tre.
Em có thương anh thì thương cho vẹn mọi bề..

Phải là “sáng trăng suông” em mới tưởng là tối trời. Chỉ trong 4 câu thấy có ba hình ảnh gợi cảm: Sự đời, Lá Đa, Mõm Chó. Chuyện théc méc là “Sự đời, Lá Đa, Mõm Chó ” ba cái có tội gì mà chúng bị  người đe dọa “chém cha.” Oan thay cho Lá Đa.

Em phải mặc váy thì khi em ngồi, sáng trăng suông em tưởng tối trời, em mới để cái sự đời của em ra được. Em mặc quần thì vô phương. Phải viết rõ là em gái quê em mặc váy, em “không để nó ra,” nó là “cái sự đời” của em, nó vẫn ở trong đó nhưng vì em ngồi hớ hênh  — ngồi bệt mà dạng háng, tức banh hai chân ra — nên người ta nhìn vào, người ta thấy “nó.” Viết lại: Em mặc quần thì vô phương. Em mặc váy mà em đứng em cũng không thể để cái sự đời của em ra được.

Đến đây có vấn đề Váy và Quần Con Gái, Đàn Bà. Sử ghi: Ngày xưa, đàn bà Bắc kỳ mặc váy. Bắc Kỳ đây là từ Ải Nam Quan vào đến tỉnh Quảng Bình. Viết cách khác: từ Sông Gianh trở ra bắc. Từ Quảng Bình vào nam, đàn bà mặc quần. Ngày xưa đây là thời Thực Dân Pháp chưa đến nước Việt Nam. Cũng Sử ghi: Năm 1882 Vua Minh Mạng hạ chiếu, tức ra lệnh:

Cấm đàn bà mặc váy, lại tức: Đàn bà Bắc kỳ phải mặc quần.

Tháng Sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông.
Đi thì bóc lột quần chồng, sao đang.

Lệnh của Vua Minh Mạng không được nữ thần dân Bắc kỳ tuân theo. Vua cấm đàn bà mặc váy, đàn bà Bắc kỳ vẫn cứ mặc váy. Những năm 1947 đến 1950, kẻ viết những dòng chữ này sống trong những làng quê ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, thấy tận mắt 90/100 đàn bà miền quê mặc váy. Chỉ môt số cô gái trẻ, sinh sau năm 1930, mới mặc quần.

Chuyện năm xưa tôi trẻ, 14, 15 tuổi, tuổi sắp dậy thì, làm liên lạc viên Cục Tình Báo, khi đi ngang qua những cánh đồng chiêm, thấy những cô gái quê 15, 16, 17, 18 tuổi cào cỏ trong những thửa ruộng ven đường, nước ruộng lên đến đầu gối các cô, váy các cô sắn cao để khỏi bị ngập nước, chú liên lạc viên  có ý đi thật chậm, chờ mong có làn gió thổi qua, làm váy các cô tốc lên, cho chú được nhìn – dù chỉ thoáng qua trong hai, ba sát-na – cái Sự Đời của các cô, “cái” chưa bao giờ chú nhìn thấy. Nhưng không lần nào chú được nhìn. Váy các cô là váy sồi, dầy và nặng, gió có là bão cũng không thể làm cho tung lên. Các cô còn cẩn thận đục hai lỗ nhỏ ở gấu váy trước sau, dùng cái lạt tre buộc dính lại. Gió có thốc vô, các cô ngồi bệt có hớ hênh, có dạng háng, váy các cô cũng không mở ra, không ai có thể trông thấy cái Lá Đa của các cô.

Théc méc: đàn bà Việt mặc váy từ miền Bắc đi xuống miền Nam, tại sao đến miền Trung lại bỏ mặc váy để mặc quần? Phải có nguyên nhân gì chứ? Ta không biết đó thôi. Váy Bắc Kỳ là váy sồi. sồi dệt bằng những sợi tơ tằm thô, nên sồi dầy và cứng ngắc. Sồi chỉ có thể làm váy, không thể may thành quần. Phải chăng vì thế mà  Bắc Kỳ có váy sồi.

Năm xưa tôi trẻ – trước năm 1950 – ngoài câu đố “Cái thúng mà thủng hai đầu. Bên ta thì có, bên Tầu thì không,” cái Váy còn có những tên “Sống,”: Dậy đĩ vén sống. Người Bắc không nói “Dậy đĩ vén váy” mà nói “Dậy đĩ vén sống;” và cái tên “Pằng-tà-lồng Ộp, Bùng Rền;” những năm 1965 thế giới có cái mode – dường như phát xuất từ Paris – mode minijupe. Váy ngắn. Năm xưa ấy Mini Jíp có đến Sài Gòn.

TB San:

Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy nó cũng chẳng tha
Nó cứ ấn, cứ nhét cái đầu cha nó vào
Cái gì như cái củ nâu
Cái gì như thể cái cần câu nó gật gù…

CTHĐ:

Hôm qua lên núi hái chè.
Gặp thằng phải gió nó đè em ra.
Lậy van nó cũng chẳng tha.
Nó đem nó nhét cái mả cha nó vào.

Trong Tục Ngữ Phong Dao NV Ngọc không có bài “Hôm qua lên núi hái chè..”

Nhắc lại và nhấn mạnh: Chỉ khi mặc váy đàn bà, con gái mới để cho người đời nhìn thấy cái Sự Đời Lá Đa. Phụ nữ Á, Phụ nữ Âu Mỹ mặc váy cũng để hở Sự Đời như nhau. Chỉ có khác là phụ nữ Âu Mỹ mặc slip, phụ nữ Á châu ở trần. Bà Hillary Clinton khi là First Lady có lần – mặc váy – ngồi hớ hênh bị anh Phó Nháy chụp ảnh bà để lộ cái slip. Từ đó người ta thấy bà Hillary Clinton chuyên mặc quần.

Tennis không ăn nhậu gì đến “Sáng trăng suông,” Tennis ăn nhậu đến “Váy.” Từ năm 1980 mỗi năm qua quần short của nam đấu thủ Tennis một dài ra, xuống đầu gối, mỗi năm qua váy của nữ đấu thủ Tennis một ngắn đi và cao lên. Hai Em Tennis Anna Kournikova. Maria Sharapova đều có ảnh ngồi ở sân quần để lộ slip. Từ đó – tôi, CTHĐ – thấy mỗi lần nghỉ vài phút giữa trận đấu, vào ghế ngồi nghỉ, chưa ngồi Maria Sharapova đã cầm cái khăn bông phủ lên đùi nàng, để che cái Sự Đời của nàng.

Chỗ lội làng Ngang:

Cái gì trắng trắng như con cúi?:

Théc méc: Con cúi là con gì? Từ lâu tôi – CTHĐ – vẫn théc méc về chuyện “con Cúi.” Trong mấy quyển Tự điển ở Rừng Phong tìm không thấy có “con Cúi.”  “Trăng trắng” chỉ là “bẹn.” Cái Lá Đa Sự Đời nó phải đen đen. Ông Cuội phải nhìn thấy cái Lá Đa  đen đen ông Cuội mới có thể mỉm miệng cười.

Quí vị đọc bài này ai biết “con Cúi” là con gì, hình dáng nó ra sao, xin cho mọi người cùng biết.

Theo tôi: “Đàn bà đến đó sắn váy lên.”

Đánh đu.

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Théc méc: Bốn mảnh quần hồng: Trai mặc quần hồng? Đùi trai cũng là đùi ngọc?

Tiếng “Suông” trong Thơ Tản Đà.

Đêm suông phủ Vĩnh.

Đêm suông năm bẩy cái suông suồng.
Suông rượu, suông tình, bạn cũng suông.
Một bức mành con coi ngán nỗi.
Một câu đối mảnh nghĩ dơ tuồng.
Một vầng trăng khuất đi mà đứng,
Một lá màn treo cuốn lại buông.
Ngồi hết đêm suông suông chẳng hết.
Chùa ai xa điểm mấy hồi chuông.

Theo tôi “trăng khuyết”, không phải “trăng khuất.”

TB San:

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió não nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương

CTHĐ: Một cơn mưa gió nặng nề.

Những năm 1981, 1982 sống buồn quá đỗi ở Sài Gòn Cờ Máu., tôi làm bốn câu:

Tối trời em tưởng trăng thanh
Em ngồi em để  Sao Vành em ra.
Sao Vành như cái lá đa.
Đen hơn mõm chó. Chém cha Sao Vành.  

TÌNH VÀ THÙ

Tôi viết truyện “Tình và Thù” ở Sài Gòn khoảng những năm 1964, 1965. Năm mươi năm sau ngày truyện được đăng báo, rồi xuất bản trong Tập Truyện Kinh Dị Hitchcock, con tôi tìm được tập truyện xưa  trong một tiệm chuyên bán sách báo xưa ở Sài Gòn, con tôi gửi tập truyện sang Mỹ cho tôi. Đây là một truyện trong loại truyện tôi gọi là Truyện Kinh Dị. Nhiều truyện tôi phóng tác theo những truyện Mỹ trong Tuyển Tập Alfred Hitchcock Presents. Hôm nay tôi gõ máy chép lại truyện xưa, gửi tặng quý bạn. Năm xưa tôi ký Hòang Hải Thủy dưới truyện này.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Ngày 15 Tháng Ba, 2014.

HÒANG HẢI THỦY

o O o

Tập Truyện xuất bản ở Sài Gòn năm 1970. Nhà Xuất Bản Chiêu Dương.

Tập Truyện xuất bản ở Sài Gòn năm 1970. Nhà Xuất Bản Chiêu Dương.

Văn Thành đặt ly rượu xuống, đốt điếu xì-gà, nghiêng đầu nhìn quanh một vòng. Cái nhìn ấy cho Thành biết chắc rằng chỉ có hai chúng tôi – Thành và tôi — ngồi trong góc phòng này và quanh chúng tôi lúc này không có người lạ nào ở trong tầm tiếng nói nho nhỏ của chúng tôi. Anh hỏi tôi bằng lối hỏi đột ngột thường lệ:

- Có những chuyện gì đã xẩy ra với Hoàng Giác?

Tôi giựt mình. Và đúng lúc ấy, bên ngoài trời đêm cơn bão đến trên thành phố cùng với một tiếng sét lớn. Tôi như ông Lưu Bị ngày xưa khi bị đại gian hùng Tào Tháo chỉ mặt nói mình là anh hùng, đã cả sợ, hoảng kinh, giựt mình đến văng cả đôi đũa đang cầm ở tay xuống gầm bàn, nhân lúc đó trời có tiếng sấm nổ, Lưu Bị bèn đổ cho sấm nổ làm mình rớt đũa. May cho tôi, hoặc nói một cách khác, tôi may mắn hơn Lưu Bị ở điểm tôi không sợ Văn Thành giết tôi như Lưu Bị sợ Tào Tháo giết – vì Tào Tháo có thể giết được Lưu Bị dễ dàng còn Văn Thành thì khó có thể giết được tôi – nhưng nếu lúc Thành hỏi tôi câu đó tay tôi đang cầm vật gì, tôi cũng có thể vì sợ, vì ngạc nhiên, mà đánh rớt vật đó xuống sàn.

Gió nổi, mưa rơi ào ào sau tiếng sét. Giông tố đang giáng xuống thành phố. Tôi ngồi im lặng một lúc lâu nghe tiếng mưa gió và có ý làm ra vẻ không nghe rõ câu hỏi vừa rồi của Thành. Tôi không biết Thành có lắng nghe tiếng mưa, tiếng gió hay không, tôi chỉ biết y cũng im lặng khi thấy tôi im lặng. Nhưng nhìn vẻ mặt y, nhìn vành môi mỏng mím chặt và đôi mắt cú vọ sáng long lanh của y, tôi biết là đêm nay, ở đây, tôi không thể yên ổn ra khỏi đây mà không chịu làm vừa ý y. Y muốn tôi kể hết cho y nghe tất cả những chuyện bí mật cũng như không bí mật, những chuyện nhiều người biết và những chuyện chỉ một mình tôi biết, về Hoàng Giác. Và y sẽ nhất định không chịu buông tha tôi nếu tôi không chịu kể.

Tôi với Văn Thành là bạn học từ bậc Tiểu Học. Hoàng Giác với Văn Thành, và tôi là bạn cùng học ở Trung Học. Trưởng thành, mỗi đứa chúng tôi theo một nghề để sống: Hoàng Giác đi buôn, làm chủ nhà xuất nhập cảng, Văn Thành làm nghề ký giả viết báo – chúng tôi vẫn gọi đùa nghề của y là nghề “nói láo ăn tiền” và nhiều khi, y cũng nhận lời của y đúng là như thế. Nhưng ký giả Văn Thành nhận nghề làm báo nói láo ăn tiền của mình với một thái độ tự tôn, kiêu hãnh và khinh đời – còn tôi, tôi làm cái nghề có ít lợi tức hơn cả: nghề gõ đầu trẻ, tức nghề dạy học.

Tôi nhìn khuôn mặt đợi chờ của bạn và tuy trong lòng ngạc nhiên – tại sao Thành lại biết sớm quá về câu chuyện mà tôi tưởng là bí mật hoàn toàn này? – nhưng không thấy khó chịu gì lắm. Ðêm nay trời giông bão, hai chúng tôi đang ngồi ấm trong một hội quán, chất rượu mạnh ngon và ngọt đang làm tan biến những chất tôi vừa ăn thành ra chất nuôi dưỡng cơ thể tôi. Và tôi cũng đang cần có bạn để tâm sự cho vơi bớt sự kinh dị chứa chất trong lòng. Chuyện ghê rợn có liên can đến Hoàng Giác, đến tôi, cũng kết liễu trong một đêm mưa gió bão bùng như đêm nay. Có thể là đêm đó mưa bão còn dữ dội hơn đêm nay nữa.

Cơn bão đến đêm nay cho tôi biết rằng những cảm giác rùng rợn của tôi đêm nào sẽ không bao giờ phai nhạt trong tôi, cứ những đêm trời mưa bão tôi lại nhớ đến chúng, hoặc nói một cách khác, cứ những đêm trời nổi gió bão, chúng lại trở về ám ảnh tôi.

Chưa biết là tôi đã sẵn sàng kể lại hết với y, thấy tôi im lặng, Thành tiếp:

- Cậu biết những gì về vụ Hoàng Giác, cậu có bổn phận phải kể cho tôi biết. Ðừng bao giờ cậu quên rằng nghề kiếm cơm của tôi là nghề viết truyện đăng báo. Tôi cần có những chuyện lạ làm đề tài để viết truyện hay hơn thiên hạ. Và… – y nói tiếp bằng một giọng buồn rầu – …bạn của cậu hồi này… già mất rồi, tài năng của bạn cậu ngày một tàn tạ đi. Như một cái cây khô…

Tôi dư biết Thành giả vờ. Tên tuổi y vẫn còn và đang chói sáng hơn bao giờ hết trong địa hạt báo chí ở đây, địa vị của y trong làng báo ngày một vững chắc sau khi y đã chiếm được một chỗ ngồi mà người ta thường gọi là “chỗ ngồi dưới ánh mặt trời”. Tuy nhiên, khi nghe người bạn thân của mình nói như thế, dù biết dư rằng bạn giả vờ, người bạn biết nể bạn, mến bạn, cũng phải vờ như cho đó là thật.

- Thôi đi cha… – tôi nói – Ðừng tả oán nữa. Ai bảo lười không chịu vất vả đứng ra làm chủ báo, cứ đi viết thuê cho nhàn hạ. Về già hết lộc đói rách còn kêu than cái gì…? Cứ từ từ, để tôi sắp xếp lại đầu cuối và kể cho mà nghe…

Tôi ra hiệu cho Thành đẩy ghế ngồi gần tôi hơn, rồi tôi gọi bồi lấy thêm hai ly rượu. Một lúc tôi vào chuyện.

o O o

- Tôi sắp kể với anh một chuyện rùng rợn nhất đời này. Chuyện này có thể làm nhiều người nghe không tin là có thật, nhưng tôi hứa danh dự là tôi không thêm bớt. Chuyện này rùng rợn đến nỗi tôi tin rằng cả anh, anh cũng không dám viết ra thành truyện. Vì vậy tôi thấy không cần phải bắt anh hứa sẽ không khai thác chuyện này. Nhất là chuyện lại liên can đến một người bạn thân của hai chúng ta…

Alfred Hitchcock. Đạo diễn điện ảnh Hollywood, tác giả những phim kinh dị Psycho, Vertigo,The Birds, Rear Window..

Alfred Hitchcock. Đạo diễn điện ảnh Hollywood, tác giả những phim kinh dị Psycho, Vertigo,The Birds, Rear Window..

Tuy nói là sắp nói về chuyện Hoàng Giác, tôi đột ngột hỏi Thành về một người khác:

- Anh biết Lê Kim chứ?

Thành gật đầu:

- Biết chứ! Lê Kim, bác sĩ chuyên khoa giải phẫu một thời được coi là người có tương lai sáng nhất trong ngành y khoa Việt Nam, nổi tiếng xuất sắc khi trình bày luận án ở bên Pháp… Tôi có gặp hắn vài lần có chào hỏi nhau nhưng thân thiết như bạn thì không. Nhiều người nói hắn… dở người, khùng khùng. Mát mát đúng hơn. Con nhà giầu, học giỏi, đỗ đạt cao, danh vọng lớn… nhưng hắn đột nhiên bỏ hết. Hắn tự ý xa lánh mọi người, không biết hắn ở ẩn để nghiên cứu khoa học hay là để tu hành? Hình như vợ hắn đẹp lắm thì phải? Nghe nói vợ hắn là hoa khôi đất Thần Kinh?

- Ðẹp lắm – tôi đáp – Chính vì nàng đẹp quá như thế chuyện ghê gớm này mới xẩy ra. Nếu nàng không có nhan sắc làm đàn ông mê đắm, hoặc chỉ đẹp vừa vừa thôi, chắc người ta đã không đến nỗi giết nhau vì nàng.

- Vợ chồng họ còn ở với nhau không?

- Ly dị nhau lâu rồi. Nhà báo, nhà văn như anh chán bỏ mẹ, nhà báo mà rất nhiều chuyện cần biết lại không biết…

- Họ bỏ nhau bao giờ?

- Mấy năm rồi…

Thành đưa vào chuyện một câu triết lý thông thường:

- Có vợ đẹp là một tai họa. Từ ngày trái đất có loài người đến giờ đã có không biết bao nhiêu là thằng đàn ông thân bại danh liệt vì có vợ đẹp. Chết vì vợ đẹp nữa chứ chẳng phải chỉ thân bại danh liệt mà thôi! Chuyện những anh đàn ông chẳng may có vợ đẹp mà bị người khác giết đầy dẫy trong tập Ðông Chu Liệt Quốc. Ðại thần có vợ đẹp để cho vua đa dâm, hiếu sắc trông thấy, lập tức vua nó hại đại thần, nó cho đại thần đi tầu suốt để chiếm vợ. Kể cả những anh vua có vợ đẹp cũng khốn nạn cuộc đời khi bị thằng vua nước lớn hơn nó thích vợ mình. Như vụ nàng Tức Mặc, vợ vua nước Sái, hay nước Trần gì đó bị vua Sở chiếm mất đó. Anh vua nước nhỏ bị mất vợ buồn tủi chết luôn.

Ngừng vài giây, Thành nói tiếp:

- Và cũng có những anh đàn ông không may yêu phải vợ đẹp của người khác cũng bị chồng họ giết chết. Ðó là trường hợp của Hoàng Giác, người bạn không may của chúng ta. Chắc anh biết rằng Hoàng Giác trước đây là bạn thân của vợ chồng Lê Kim? Hoàng Giác mà lỉnh kỉnh với vợ Lê Kim không là chuyện lạ. Kể về phương diện đàn ông, Hoàng Giác hào hoa phong nhã hơn Lê Kim nhiều. Về nghệ thuật chiều chuộng đàn bà và đức tính chịu khó chiều đàn bà thì Hồng Giác hơn xa bọn mình. Mà hắn hình như chỉ thích yêu đàn bà khi người đàn bà đó là vợ người khác. Chắc hắn chinh phục được vợ Lê Kim?

- Chinh phục được. Vì thế hắn mới chết…

- Nói vụng vong linh hắn, kể ra thì hành động quyến rũ vợ bạn, nhất là khi người bạn đó lại là bạn thân thiết của mình là một hành động khó tha thứ được. Ngay cả trường hợp nếu không có mình thì người đàn bà ấy rồi cũng bỏ chồng…

Không muốn nói nhiều hơn về tội lỗi của người đã chết, tôi ngắt lời Thành:

- Hắn đã chết rồi. Hắn đã trả nợ cái lầm lỗi lớn đó. Thực ra việc Hoàng Giác chiếm được Lệ Ngọc – tên người hoa khôi thần kinh là Lệ Ngọc – không làm cho tôi thấy lạ. Chuyện làm tôi lạ là chuyện tại sao một người đàn ông như Lê Kim lại lấy được người đàn bà đẹp như Lệ Ngọc làm vợ?? Có lẽ là khi lấy chồng, Lệ Ngọc hãy còn quá ít tuổi, nàng chưa biết gì về cuộc đời. Có thể là gia đình nàng muốn nàng kết hôn với ông bác sĩ con nhà giầu mới du học về nước. Ðể rồi khi chung sống với nhau, nàng mới biết rằng người đàn bà, nhất là đàn bà đẹp và đa tình, cần có một người nàng yêu làm chồng chứ không cần có một anh thầy thuốc, dù là thầy thuốc Tây có tài nổi tiếng thế giới, quanh quẩn suốt ngày đêm cạnh họ. Dù không giao du mật thiết lắm với Lê Kim, ta cũng dư biết rằng Lê Kim có thể là một bác sĩ có tài nhưng không thể là một người chồng nhiều đức tính. Ít nhất người đàn ông như Lê Kim cũng không sao có thể làm cho người đàn bà xứ Huế, đa tình và đẹp như Lệ Ngọc phải yêu, phải mê, phải hy sinh. Mà thật ra thì Lê Kim cũng không coi vợ và tình yêu lớn bằng sự nghiệp của y. Có thể là y không chú ý gì lắm đến vợ. Sau khi cưới được nàng làm vợ rồi, có thể là y coi như vậy là xong, vấn đề đã kết liễu, y sẽ có người đàn bà đó ở bên cạnh suốt đời…

Thành buông nhẹ một câu kết luận:

- Nếu đúng như thế thì Lê Kim đã lầm lớn!

- Có thể! Nhưng Lê Kim cũng là loại đàn ông suốt đời không xâm phạm đến của riêng của người khác,  không thèm thuồng những cái người khác có, nhưng cũng nhất định không chịu yên khi người khác xâm phạm vào những cái gì y coi là của riêng của y. Y coi Lệ Ngọc là của riêng của y suốt đời. Y không nghĩ rằng Lệ Ngọc sống không có hạnh phúc với y và người đàn bà vừa đẹp vừa đa tình như nàng không sao có thể sống mà không có tình yêu, không có hạnh phúc. Y không chịu nghĩ rằng dù không có Hoàng Giác, vợ y rồi cũng bỏ y. Có thể nàng còn bỏ y sớm hơn nếu nàng không gặp Hoàng Giác, hoặc nói một cách khác, nếu chồng nàng không có Hoàng Giác là bạn. Nói tóm lại là Lê Kim coi như Hoàng Giác là thủ phạm làm cho gia đình y tan vỡ, Hoàng Giác là tên bạn phản phúc đã quyến rũ vợ bạn, làm cho vợ bạn bỏ chồng… Y bắt Hoàng Giác phải đền tội. Ðó là lý luận của y.

Tôi dừng lại để uống một hớp rượu lớn. Chất rượu mạnh này làm cho tôi tăng thêm tinh thần để có thể sống lại những giây phút kinh dị ấy và kể lại chúng.

- Vợ chồng Lê Kim sống với nhau được hai năm. Trong hai năm chung sống ấy, Lệ Ngọc có thể bị thất vọng, bị khổ sở đến hai mươi bốn tháng. Cưới vợ được chừng nửa năm thì Lê Kim đi với một phái đoàn thám hiểm Pháp vào sâu trong vùng rừng rậm Phi Châu huyền bí và man rợ. Cuộc hành trình này kéo dài cả sáu tháng. Ðó là thời gian Lệ Ngọc gần Hoàng Giác nhất và hai người bắt đầu yêu nhau. Lệ Ngọc đã tính chuyện đòi ly dị chồng ngay khi chồng nàng đi thám hiểm xa trở về nhưng chính Hoàng Giác lại là người thuyết phục nàng không nên làm gấp quá…

Thành nhìn tôi. Ðôi mắt thoáng hiện ánh nghi ngờ. Nếu Thành nghi cho tôi thầm yêu Lệ Ngọc, y cũng không có lỗi gì, và y nghi ngờ không sai sự thực mấy. Tôi có thể quả quyết là không một gã đàn ông nào, kể cả đàn ông có vợ đẹp nữa, gần Lệ Ngọc mà lại không thấy thầm yêu nàng, thầm tưởng tượng ra một cuộc sống yêu đương với nàng. Chỉ có điều khác là sự ước ao mơ tưởng này không có điều kiện trở thành sự thực, vì thiếu can đảm, vì sợ bất trắc, vì cả trăm nguyên do khác, còn với Hoàng Giác, mọi điều kiện thuận lợi đều có đủ. Hoàng Giác đẹp trai, hào hoa, chưa vợ và Hoàng Giác chỉ thích yêu đàn bà có chồng, Hoàng Giác bị hấp dẫn vì đàn bà có chồng nhiều hơn là bị hấp dẫn vì những người con gái.

Tuy nhiên, tôi thấy việc thú thực tình cảm của tôi với Lệ Ngọc trước mặt Văn Thành là việc không cần thiết. Nên khi Thành hỏi:

- Sao toa biết nàng muốn như thế?

Tôi cắt đứt sự nghi ngờ nhen nhúm trong óc y bằng câu trả lời thản nhiên:

- Chính Lệ Ngọc nói với tôi như thế.

Thành hiểu tôi nghĩ gì, y lặng yên.

- Họ lại sống chung với nhau nửa năm nữa. Trong thời gian này, Lệ Ngọc đã yêu Hoàng Giác nhưng Lê Kim vẫn không biết. Hắn như kẻ sống trong tòa nhà sắp đổ mà vẫn tưởng là an ninh. Văn hoa hơn, ta phải nói hắn như con chim sống ở góc mái nhà một căn nhà đã cháy một nửa mà không hay biết, không nghi ngờ. Sáu tháng sau, Lê Kim lại đi chuyến thám hiểm vào rừng núi Phi Châu lần thứ hai. Lần này thì Lệ Ngọc không còn có thể chịu đựng được nữa. Chuyến đi xa không cần biết vợ ở nhà sống ra sao của Lê Kim không phải là một giọt nước mà là cả một thùng “ton-nô” nước, cả mấy chục tấn nước, đổ vào bát nước đã đầy tràn từ lâu là sự chán chồng của người đàn bà đa tình ấy. Và vào thời gian này, Hoàng Giác cũng thấy là Lệ Ngọc đã “chín mùi”. Nếu Hoàng Giác còn khuyên Lệ Ngọc chịu đựng lâu hơn nữa, nàng sẽ nghĩ là Giác không yêu nàng, và nàng sẽ bỏ Giác để đi theo một người đàn ông khác sốt sắng với việc nàng bỏ chồng hơn.

Ðến ngày Lê Kim gần trở về, Hoàng Giác đưa Lệ Ngọc đi sống ở một nơi kín đáo chỉ có một mình hắn biết.

Cùng ngày ra đi, Lệ Ngọc đệ đơn xin ly dị chồng.

Lê Kim trở về. Cũng như lần trước, Kim đánh điện về nhà cho vợ báo tin mình về. Nhưng khi Lê Kim xuống phi cơ ở Tân Sơn Nhứt, hắn tìm mãi không thấy cô vợ trẻ trong số người ra đón thân nhân đi xa về. Kim về nhà và thấy tòa nhà lớn của mình đóng cửa im ỉm. Gia nhân của Kim ra đón ông chủ, báo tin bà chủ đã đi khỏi được ít ngày trước đó, bà chủ không nói là đi đâu, chỉ dặn là có thư để lại cho ông chủ. Lê Kim ngạc nhiên và thắc mắc đi vào phòng ngủ lạnh lẽo. Bức thư từ biệt của Ngọc để trên bàn ngủ đã có bụi phủ và y phục của nàng trong tủ áo đã được nàng mang đi gần hết.

Trong thư, Lệ Ngọc chỉ nói rằng nàng không thể sống được bên Lê Kim lâu hơn nữa, nàng ra đi làm lại cuộc đời của nàng và nàng cũng cẩn thận cho chồng biết tên luật sư nàng nhờ thực hiện cuộc xin ly dị tại tòa cùng ngày tháng nàng đệ đơn xin ly dị. Nhưng nàng chỉ không nói đến người đàn ông mới trong đời nàng, tức là nàng không nói gì đến Hoàng Giác.

Lê Kim thuộc loại đàn ông suốt đời không bao giờ hôn vợ nhưng nổi điên lên ngay lập tức khi có người đàn ông khác hôn vợ mình. Ðến lúc này Kim mới biết là mình bị tình phụ. Và Kim không làm ồn lên, không đi tìm cũng không than thở như nhiều anh bị vợ bỏ khác. Cuộc sống của Kim từ đó trôi đi im lìm như chuyện có vợ hay không, vợ bỏ hay vợ còn ở với mình, không phải là một chuyện quan trọng gì cho lắm. Nhiều người tin rằng với Lê Kim, y học quan trọng hơn tình yêu và đàn bà rất nhiều. Ngay cả Lệ Ngọc cũng tin như thế. Khi vụ án được đưa ra tòa. Lê Kim không tỏ ra chống đối ý định muốn ly dị của vợ. Lệ Ngọc được chấp thuận ly dị dễ hơn là nàng tưởng.

Tòa nhà vợ chồng Lê Kim chung sống là một trong những bất động sản do cha mẹ Lê Kim để lại. Khi Lệ Ngọc đi khỏi đó, Lê Kim cũng không ở đấy nữa. Tòa nhà rộng được đóng cửa để cho một đôi vợ chồng lão bộc trông coi. Lê Kim đi sống một mình ở một nơi khác. Nơi khác này của Lê Kim là một chiếc thuyền máy khá lớn. Thuyền này thuộc loại thuyền đi biển có thể chạy từ Sài Gòn ra Ðà Nẵng. Nó giống như du thuyền Hương Giang của Cựu Hoàng Bảo Ðại năm xưa nhưng tất nhiên là không lớn, không được đẹp bằng. Lê Kim biến thuyền máy thành một phòng thí nghiệm lưu động. Y ăn ngủ luôn dưới thuyền và ít khi có người biết đích xác thuyền này đậu chỗ nào trên sông Sài Gòn. Và Lê Kim biến mất hẳn trong giới trí thức, thanh lịch Sài Gòn.

Người ta quên đi Lê Kim và cặp nhân tình Hoàng Giác, Lệ Ngọc bắt đầu tính chuyện trở về sống ở Sài Gòn. Ðúng vào thời gian mà Lệ Ngọc yêu đời nhất, một buổi tối kia nàng không thấy người tình trở về tổ ấm của nàng như mọi tối.

Hoàng Giác không đến sở làm như mọi ngày và mất tích luôn. Không ai biết Hoàng Giác đi đâu. Lệ Ngọc lo sợ đi trình cảnh sát và cảnh sát mở cuộc điều tra. Một tháng rồi hai tháng trôi qua, Hoàng Giác vẫn biệt vô âm tín.

Chừng hơn hai tháng sau ngày Hoàng Giác mất tích một hôm Lệ Ngọc gọi điện thoại đến cho tôi, yêu cầu tôi đến nhà nàng ngay lập tức. Bây giờ nàng sống trong một căn phòng nhỏ ở đường Thi Sách. Nghe giọng nói kinh hoàng của nàng, tôi vội vã tới ngay, Lệ Ngọc mặt xanh như tầu lá, cho tôi biết nàng vừa nhận được một gói đồ gửi tới. Nàng chỉ vào cái hộp giấy cho tôi thấy trong đó là một bàn tay người.

Bàn tay người đó bị cắt tiện ở cổ tay, bàn tay một người đàn ông có đeo nhẫn hẳn hoi. Lệ Ngọc cho biết nàng vô tình mở gói ra, nàng còn kịp nhận chiếc nhẫn đó là chiếc nhẫn đeo tay của Hoàng Giác trước khi nàng ngất đi.

Kẻ gửi bàn tay bị cắt tiện của Hoàng Giác đến cho Lệ Ngọc còn cẩn thận gửi kèm trong hộp quà cái ví da có đựng thẻ căn cước của Hoàng Giác.

Tôi bàng hoàng, phải nói tôi kinh hòang mới đúng, tôi sợ không kém gì Lệ Ngọc. Khi trấn tĩnh lại được, tôi hỏi nàng hộp quà khủng khiếp được gửi tới bằng cách nào? Tôi được biết nó được gửi tới nhà Lệ Ngọc cùng với một bó hoa tươi mua ở hàng hoa đường Charner. Tên hiệu nhà bán hoa có ghi trên giấy gói bó hoa hồng Ðà Lạt. Tôi tìm đến hiệu bán hoa đó và được biết có một ông khách ngồi tắc-xi ghé qua tiệm, đưa tiền mua hoa gửi đến địa chỉ này và nhờ gửi thêm hộp quà tặng. Nhà bán hoa này vẫn nhận đem hoa khách mua tới nhà nên việc họ mang hoa đến nhà Lệ Ngọc không có gì là lạ.

Tôi thay mặt Lệ Ngọc báo cho cảnh sát biết về hộp quà kinh dị. Cảnh sát đến, đem bàn tay trong hộp giấy đi. Cuộc sống của Lệ Ngọc thực sự trở thành địa ngục từ giây phút đó. Nàng như phát điên. Chỉ trong vòng vài ngày, nàng võ vàng và già đi trông thấy. Còn tôi, tôi chẳng thể làm gì được để an ủi hay trấn tĩnh nàng.

Nửa tháng qua đi. Không có gì mới xẩy ra. Ðến ngày thứ mười tám sau ngày Lệ Ngọc nhận được bàn tay trái của Hoàng Giác, hộp quà thứ hai được gửi tới. Lần này nằm trong hộp giấy cùng với cái đồng hồ đeo tay là bàn tay phải của Hoàng Giác.

Lần này thì Lệ Ngọc lên cơn điên thực sự. Tôi lại được nàng gọi đến. Một tiệm bán hoa khác ở Sài Gòn được ông khách vô danh nhờ gửi hơp quà này cùng với bó hoa tươi. Cũng như lần trước, người bán hoa không thể tả được hình dáng ông khách ngồi trong xe tắc-xi ghé vào mua hoa và nhờ gửi theo hộp quà.

Lệ Ngọc phải vào bệnh viện điều trị. Còn tôi, tôi đi tìm Lê Kim. Hai bàn tay bị cắt thật gọn cho tôi nghi rằng người cắt phải là một chuyên viên giải phẫu chứ không thể là người thường.

Nhưng tìm gặp được Lê Kim không phải là một việc dễ. Không ai biết thuyền máy của Lê Kim hiện đậu ở nơi nào. Mãi tới cả mười ngày sau trong một buổi tối đi tìm nhưng không hy vọng gì gặp được Lê Kim, tôi gặp được y trong một tiệm ăn đường Bô Na.

Có quen sơ với Lê Kim trước đó nên tôi tới ngồi bàn y, hỏi thăm y. Y có vẻ bình thường, nhã nhặn vừa phải. Y thoải mái tiếp chuyện tôi và không tỏ vẻ gì bối rối, khó chịu. Khi nói đến Lệ Ngọc, đến sự mất tích của Hoàng Giác, y tỏ ra tò mò một cách vừa phải. Nghĩa là y ngầm cho tôi biết rằng y không  biết gì hết về vụ Hoàng Giác mất tích. Y không biết và y không cần biết. Tôi hỏi y, y có biết Hoàng Giác hiện là người tình của Lệ Ngọc hay không – câu hỏi có vẻ kém lịch sự nhưng trong lúc ấy tôi không còn cách nào lịch sự hơn để dò hỏi y – y lãnh đạm nói là có.

Rồi thôi. Y không chịu nói gì thêm, chỉ ngồi hút xì gà và uống rượu. Như chúng mình đang ngồi bây giờ vậy. Ðêm ấy trời cũng có giông bão như đêm nay. Có tiếng sét nổ và Lê Kim đứng dậy cáo từ tôi.

Tôi lén đi theo y.

Như người bận làm một việc gì cần kíp, như người đang suy nghĩ một chuyện gì quan trọng nên không chú ý gì đến ngoại cảnh, Lê Kim ra khỏi tiệm ăn và ngồi vào chiếc xe hơi của y, lái đi. Tôi vào xe tôi, lái đi theo. Tôi có theo sát đít xe y, y cũng không biết.

Chúng tôi đi ra khỏi thành phố trong cơn mưa tầm tã. Lê Kim lái xe chạy về Khánh Hội, rồi lên cầu Tân Thuận, sang khu Nhà Bè. Ðêm đen kịt và mưa đổ, gió mỗi lúc một lớn khi xe y ngưng lại bên một bờ sông vắng. Du thuyền của y đậu chơ vơ một mình ở tít mãi ngoài giữa dòng sông. Y xuống một chiếc ca nô để sẵn ở đó và mở máy chạy ra thuyền.

Tôi đi dọc bờ sông tìm kiếm và sau chừng nửa giờ bối rối, tôi tìm được một chiếc tam bản nhỏ. Nhờ những giờ bọn mình chung tiền nhau bơi périssoire năm xưa trên Hồ Tây, tôi xuống thuyền và loay hoay cũng phải mất đến nửa tiếng nữa, tôi mới bơi ra được đến gần chỗ du thuyền của Lê Kim đậu.

Thuyền có đèn sáng. Tôi cố gắng cho chiếc thuyền nhỏ của tôi ghé thật nhẹ vào thành du thuyền. Rồi tôi rời thuyền nhỏ leo lên thuyền lớn. Sự im lặng trên du thuyền cho tôi tin rằng Lê Kim không biết có người theo dõi y đến tận sào huyệt của y.

Tôi men theo thành du thuyền leo đến khung cửa sổ có ánh đèn sáng nhất, tôi bám vào thành cửa sổ có gắn kiếng nhìn xuống lòng du thuyền. Cảnh tôi nhìn thấy qua khung cửa đó làm cho tóc tôi đứng dựng hết lên.

Nơi tôi nhìn xuống là phần chính của lòng du thuyền. Trong đó, ngoài ánh đèn còn có ánh lửa sáng bập bùng. Lửa phát ra từ một lò than rất lớn đặt ngay giữa thuyền. Lê Kim bận áo “bờ lu” trắng như khi y ở trong phòng giải phẫu, hai tay múa may lưỡi dao, đi đi lại lại, vừa đi vừa nói lớn một mình. Cơn bàng hoàng qua đi, tôi nhận thấy có máu vấy trên áo y và trên lò than có một cái chảo lớn, trong lòng chảo đang được rán một khối thịt tròn, lớn như cả một con bê.

Không cần nhìn kỹ hơn, tôi cũng biết Lê Kim đang lên cơn điên loạn và khối thịt đang được rán vàng trong chảo mỡ kia là thịt… gì, thịt ai?? Sự phát giác ấy làm cho toàn thân cứng đờ ra, máu tôi như ngừng chạy và nước mưa ướt đẫm quần áo tôi làm cho tôi không còn cử động được nữa…

Tôi bị mưa lạnh làm tê liệt cả người. Tôi ngã sấp mặt xuống khung cửa sổ và… rầm… một tiếng, kiếng vỡ, tôi rớt xuống lòng du thuyền như một trái mít rụng.

Sự xuất hiện đột ngột của tôi cũng làm cho Lê Kim đứng sững mất vài giây đồng hồ. Sự bất động ấy của y cho phép tôi còn sống. Cơn sợ hãi vì biết mình gặp nguy hiểm có thể chết làm cho tôi có một sức mạnh lạ lùng. Tôi vượt được cơn tê liệt của bắp thịt, tôi chồm dậy được vừa vặn đúng lúc Lê Kim, mắt trợn lên rực lửa, miệng há ra hét lớn, tay cầm dao chạy tới đâm tôi…

Y trượt chân trên vũng máu tươi trơn trợt trên sàn tầu và ngã chúi mặt vào lò than hồng. Phản ứng của tôi đến thật nhanh… Ðêm nay… một là y chết, hai là tôi phải chết… Tôi bước tới nhặt lưỡi dao nhọn rớt trên vũng máu tươi, nghiến răng đâm sâu tới cán dao xuống ót tên quỷ sống…

Mùi thịt người nồng nặc trong căn phòng kín sau đó làm tôi choáng váng muốn ngất đi. Tôi vội hành động thật nhanh để có thể ra khỏi được nơi địa ngục này trước khi ngã ngất… Tôi khuân bình ét-xăng trong góc thuyền ra đổ lênh láng trên sàn… Tôi leo vội xuống thuyền nhỏ và chèo như bị ma đuổi. Tôi rời xa du thuyền được chừng hai trăm thước thì lửa vàng vọt lên từ đó và du thuyền phát nổ… Tàn lửa rớt cả xuống đầu tôi…

o O o

Giông bão nổi lớn hơn bên ngoài, Văn Thành ngồi lặng đi.

Tôi thâu hết can đảm để nói hết, vì tôi biết rằng nếu đêm nay tôi không nói được ra hết những kinh dị của tôi đêm đó, suốt đời tôi sẽ không bao giờ còn có đủ can đảm để kể lại chuyện này:

- Thì ra Lê Kim đã bắt cóc Hoàng Giác. Y bắt sống được Hoàng Giác và đưa tình địch về nhốt dưới du thuyền đó bằng cách nào, chỉ có y và Hoàng Giác biết. Lê Kim không giết Hoàng Giác ngay. Y để Giác sống và hành hạ. Nhờ tài giải phẫu có thể cưa chân, cắt tay người ta mà không làm cho người bị cắt phải chết, Lê Kim đã cắt một tay Hoàng Giác để gửi cho Lệ Ngọc. Y làm cho cổ tay bị cắt của nạn nhân cầm máu, chích thuốc khỏe cho nạn nhân, chờ cho nạn nhân mạnh lại mới cắt bàn tay bên kia… Ðêm hôm đó khi thấy tôi đến làm thân, nói chuyện với y, Lê Kim biết là tôi ngờ y là thủ phạm, y vội vã bỏ về thuyền và giết luôn Hoàng Giác. Cũng có thể là Hoàng Giác đã chết trước đêm đó…

Thành rùng mình:

- Như vậy là Hoàng Giác vẫn sống cả mấy tháng trời trong lòng cái du thuyền đó hay sao?

- Chắc thế!

- Nhưng còn khối thịt toa nhìn thấy rán trong chảo mỡ??

- Trong thời gian thám hiểm rừng sâu Phi Châu, Lê Kim chuyên khảo cứu về phong tục đặc biệt của giống dân ăn thịt người. Y có viết một báo cáo tường tận về tục ăn thịt người… Nấu nướng thịt người ra sao, chỗ nào ngon nhất… Tại sao người đã ăn thịt người một lần rồi cứ khoái, cứ thèm ăn thịt người mãi… Trong báo cáo, chính Lê Kim có viết để người đọc hiểu ngầm rằng nhiều lần y đã thưởng thức món đó mấy lần…

Có tiếng sét nổ rền trời. Thành phố rung chuyển. Ðêm Sài Gòn và gió lạnh lùa vào tận góc phòng kín này.

Một lần nữa Thành rùng mình.

Anh nói như người rên rỉ:

- Thôi… Thôi… Ðừng kể nữa… Gọi lấy rượu uống đây! Sao lạnh quá.!.

CÚN NHỚN, CÚN CON *

Ðể tránh nạn chợ đen Ðô-la Xanh Mỹ, Quân Mỹ ở Việt Nam dùng giấy “Ðô-la Ðỏ”. Bộ Tư Lệnh Quân Mỹ có thể ra lệnh thu hồi, đổi, và hủy loại Ðô-la Ðỏ bất cứ lúc nào. Trên đây là giấy Đô-la Đỏ dùng trong Căn Cứ Cam Ranh năm 1969.

Ðể tránh nạn chợ đen Ðô-la Xanh Mỹ, Quân Mỹ ở Việt Nam dùng giấy “Ðô-la Ðỏ”. Bộ Tư Lệnh Quân Mỹ có thể ra lệnh thu hồi, đổi, và hủy loại Ðô-la Ðỏ bất cứ lúc nào. Trên đây là giấy Đô-la Đỏ dùng trong Căn Cứ Cam Ranh năm 1969.

Lý Hít là cái tên Tích Bốp, bạn tôi, đặt cho Lý Hít. Tôi không biết tên họ thật của Lý Hít, chỉ biết lờ mờ ông ta thời ở quê từng làm Lý Trưởng, nên được gọi là ông Lý. Tôi thấy cái tên Lý Hít thật đúng, thật hợp với con người Lý Hít. Theo lời Tích Bốp, gã bạn cùng tỉnh, cùng học những lớp Ba, lớp Nhì của tôi, thì Lý Hít ngày xưa, thời trẻ, là một tay chơi. Hơn cả một tay chơi thường, đương sự là con nhà giầu, một thứ con nhà địa chủ kiêm Chánh Tổng, Lý Trưởng, gọi tắt là Tổng Lý, ở thôn quê, giai cấp mà bọn  cộng sản rất thù, rất ghét, muốn tận diệt, giai cấp phú nông ở miền đồng bằng sông Hồng Hà mà bọn cộng sản, theo ngôn ngữ của chúng, gọi là “giai cấp cường hào, ác bá”ù.

Tích Bốp và tôi gặp Lý Hít ở Sài Gòn. Chắc không cần tôi giới thiệu, quí vị độc giả cũng đã có thể biết Lý Hít là dân Bắc Kỳ Ri Cư vào Nam năm 1954, sinh quán, nguyên quán  của Lý Hít ở Thái Bình hay Ninh Bình, Hà Nam, Phủ Lý chi đó.

Tích, bạn tôi từ ngày chúng tôi mới mười một, mười hai tuổi ở tỉnh lỵ Hà Ðông – Hà Ðông bên hông Hà Nội – có cái tên Tích Bốp vì gã mê Kép Xi-nê Mỹ Rô-be Te-lo, gã chải mái tóc giống như tóc Kép Rô-be Te-lo. Những năm trước 1954 tóc thanh niên, tóc đàn ông An Nam, Bắc Kỳ Hà Nội cũng như Nam Kỳ Sài Gòn, đều chải brillantine bóng nhẫy, bóng mượt, bóng trơn, bóng láng, bóng đến nỗi cứ 10 con ruồi đậu lên thì 9 con trượt chân té vỡ mặt. Nhưng không biết tại sao sau năm 1954 đàn ông trên khắp thế giới không ai sài brillantine nữa. Tích Bốp, mới hơn mười tuổi, được cái trắng trẻo kiểu công tử bột, đã chăm chút mái tóc láng coóng nên có tên hiệu là Tích Bốp.

Tích Bốp bảo tôi:

- Tụi mình phải tìm nhà riêng mà chơi. Trẻ tuổi như tao với mầy mà bị vồ ở bàn đọi, khi bị đưa ra tòa, là bị quất nặng lắm! Có thể bị  còng tay tống dzô Lầu Bát Giác Chí Hòa nằm ngáp sái quai hàm từ mười lăm ngày tới ba tháng.”

Hắn còn phụ đề Việt ngữ lòng thòng như sau:

-  Làm cách mạng bị bắt đi tù là một vinh dự, đi ăn, đi chơi, nhất là đi hít tô phê mà bị vồ, bị đi tì thì… thật là thân bại, danh liệt. Khai là đi nằm ấp vì tội gì cũng được, tội hiếp dâm còn đỡ, khai là đi nằm ấp vì tội hít tốp thì ngượng lắm… Ðã có nhiều thằng bị rồi… Chỉ những anh già trên sáu mươi tuổi bị bắt vì tội hít mới được tòa án cho giảm khinh, phạt nhẹ… Con cháu cô Ba hồi này bị bố quá cỡ thợ mộc…

Năm đó là năm 1960, chính phủ Ngô Ðình Diệm đang ở trên đỉnh cao nhất của quyền lực. Không như những chính phủ Việt Nam trước đó để cho dân tha hồ ăn chơiù, thả cửa cờ bạc, công khai mại dâm, mãi dâm, chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm  thực hiện một chính sách gọi là “cách mạng quốc gia”, chính sách này có mục đích “lành mạnh hóa xã hội”, nôm na là làm cho xã hội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa sạch, mạnh, để có thể thắng trong cuộc tranh đấu một sống, một chết với bọn cộng sản Hà Nội. Trong toàn thể lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, hai trò vui muôn thưở của loài người là cờ bạc, mãi dâm bị cấm tiệt. Lại có đạo luật coi việc hút thuốc phiện là trọng tội, trọng tội là ra tịa, bị tù, cĩ án; bàn đèn ống hút, xe lọ, dọc tẩu..vv.. những món đồ nghề bất khả thiếu của bàn thờ Cô Ba Phù Dung bị coi là đồ quốc cấm. Chỉ cần tàng trữ những món quốc cấm ấy nếu bị bắt lần thứ nhất, người tàng trữ đã có thể bị phạt tù năm, bẩy tháng. Những vị Tiên  Phi Yến Thu Lâm bị bắt quả tang bên bàn đèn sẽ bị  ra tòa, có án, nằm Lầu Bát Giác Chí Hòa đàng hoàng.

Trong khoảng thời gian gần một trăm niên vàng son được các quan Ðại Pháp cai trị và khai hóa dân An Nam được Nhà Nước Bảo Hộ khuyến khích và tận tình nâng đỡ để có thể tập sì-po mỗi ngày bằng Mê-tót Hít Tô Phe, tẩm bổ bằng rượu Văn Ðiển, rượu Vạn Vân, rượu Bình Tây. Những thứ ruợu vưà kể tên được dân Bắc Kỳ gọi là Rượu Ty, tức rượu của xưởng rượu Nhà Nước bào chế, và rượu dân nấu là Rượu Lậu. Thời xưa ấy, những năm trước năm 1945, những nhà R.O và R.A được Nhà Nước cấp môn bài, cấp Opium, Alcool, cho hành nghề công khai. R.O là chữ viết tắt của Régie d’OpiumR.A là Régie d’Alcool. Nhà Nước Bảo Hộ còn lo cho dân ở việc làng nào dân tiêu thụ nhiều rượu và nha phiến hơn thiên hạ thì anh Lý trưởng làng đó được ân thưởng giấy khen. Dân An Nam trong thời gian đó được sung sướng trăm bề nhưng không biết hưởng, vẫn cứ hục hặc đòi đuổi các quan Ðại Pháp văn minh về mẫu quốc, vẫn cứ nằng nặc đòi được độc lập dể rồi bị khổ sở trăm bề.

Những năm sau 1946, dân An Nam sống trong những thành phố lớn vẫn được khuyến khích và tự do chơi bời đủ mục. Kỹ nghệ lấy Tây, một kỹ nghệ có từ thời ông Vũ Trọng Phụng viết phóng sự những năm 1934, 1935, sau năm 1945 lại đi vào thời kỳ phồn thịnh. Kỹ nghệ ấy phồn thịnh là do sựï hiện diện trên đất nước Việt Nam, huê mỹ là “Trên giải đất hình chữ S”, của hai trăm ngàn binh sĩ trong Quân Ðội Viễn Chinh Liên Hiệp Pháp, lại nhờ có chiến tranh làm cho các vùng quê mất an ninh, mạng người rẻ giá, bom đạn liên miên sẵn sàng giúp phương tiện cho dân quê đi những chuyến tàu suốt về tít tận bên kia thế giới, phụ nữ  ở những vùng thôn quê tránh việc bị Lính Tây chiếu cố, hãm hiếp, theo nhau trôi dạt về thành thị. Vì vậy ở những thành phố thời ấy nghề cô đầu, nghề gái nhẩy, nghề gái điếm, những nghề đặc biệt của đàn bà, đàn ông dù cho có thông minh đến đâu cũng không thể làm tranh được, bỗng trở nên đông đảo chị em.

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh v.v… những thành phố lớn của Bắc Việt thời nước ta còn liền một giải từ “ Ải Nam Quan  đến mũi Cà Mâu”, thờiø những chuyên viên bán rong Thuốc Ho Bà Lang Trọc còn làm nhiệm vụ nhắc nhở cho dân chúng An Nam nhớ rằng nước họ là một quốc gia thống nhất, dân tộc họ có những “bốn ngàn năm văn hiến.” Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Ðông,La Perle de L’Orient, ngoài những tiệm nhẩy đầm, còn có những nhà cô đầu. Nhưng bộ môn văn nghệ dân tộc Cô Ðầu Sài Gòn không được phồn thịnh. Sài Gòn đông dân cư nhất nước, đất rộng, nhà nhiều, người lắm nhất Ðông Dương nhưng chỉ lèo tèo có năm bẩy nhà hát cô đầu ở Ngõ Ðội Có, Phú Nhuận, Ngõ Mông Sô, Monceau, Tân Ðinh, sau năm 1956 có tên là Ðường Huỳnh Tịnh Của, đã Huỳnh Tịnh Của mà còn là Huỳnh Tịnh Của Nối Dài, vì đoạn đường có mấy nhà cô đầu này ở trong xóm nghèo được phát triển thành khu dân cư lao động sau năm 1954. Sài Gòn những năm từ 1945 đến 1954, văn minh hơn Hà Nội, đất Thăng Long ngàn năm văn vật, ở chỗ Sài Gòn có nhiều nhà nhẩy đầm hơn, có hai sòng bạc lớn là Kim Chung, Ðại Thế Giới và Sài Gòn có nhiều nhà điếm hơn, những khu ở ngay trung tâm Sài Gòn thời ấy là đường Hamelin, Calmette có ba, bốn nhà điếm hoạt động gần như công khai.. Và đặc biệt Sài Gòn từ năm 1952 có nhà Bình Khang, một cơ sở Mãi – Mại Dâm mà một nghìn năm trước, một nghìn năm sau, Việt Nam không có và chắc sẽ không bao giờ  có nữa!

Tả truyện và đưa bằng chứng dài dòng như thế là để chứng minh rằng Sài Gòn, trước năm 1956, trước khi ông Ngô Ðình Diệm “sau bao năm lê gót nơi quê người”, trở về nước làm Tổng Thống, Sài Gòn là một thành phố dân cư ăn chơi thả dàn. Tổ chức Bình Xuyên Bẩy Viễn trở về hợp tác với Pháp, được Pháp giao cho quyền công an ở Sài Gòn – Gia Ðịnh; Bình Xuyên, có những Cố Vấn Ba Tầu Chợ Lớn cộng tác, khai thác bốn món tứ đổ tường. Những cơ sở Kim Chung, Ðại Thế Giới, Bình Khang… là của Bình Xuyên, một nhà nấu thuốc phiện được  lập ngay ở Sài Gòn. Nhà đó ở đường Hai Bà Trưng, không biết sau năm 1956 trở thành công sở gì. Dân Sài Gòn ăn chơi thả cửa, những tiệm thuốc phiện cũng như những nhà chứa gái, mở ra công khai khắp nơi. Có những tiệm hút ở Chợ Lớn có tới hai, ba mươi bàn đèn, mở cửa tiếp khách suốt ngày đêm. Chính vì quen ăn chơi như vậy cho nên khi Luật Bài Trừ Tứ Ðổ Tường, tức Luật Cấm Chơi Bời được ban hành, dân chơi  Sài Gòn dắt nhau đi vào một cuộc bị chính quyền khủng bố, đàn áp, bỏ tù thẳng tay. Trong 300 năm lịch sử Sài Gòn, chưa bao giờ dân chơi Sài Gòn bị khổ nhục, ê chề, cay đắng đến thế.

Trở lại với câu chuyện trao đổi giữa tôi và Tích, nói trắng ra và giản dị là hắn rủ tôi đến hút thuốc phiện ở một nhà tư, một nhà không phải là tiệm hút. Chơi ở những nhà tư này tương đối an ninh hơn, đỡ sợ bị quí anh cảnh sát bài trừ ma túy bất thình lình tông cửa hay leo cột đèn lên mái nhà, chuyền cửa sổ, ào ào ập vô động tiên, bắt về bót. Ông chủ cái bàn đọi – tiếng Phú Lãng Sa là cái “pờ-la-ti” – mà Tích đưa tôi đến, theo lời hắn, là một tay chơi ở đất Bắc. Ðương sự đặt “pờ-la-ti” ở nhà chơi một mình, không tiếp ai, chỉ tiếp vài người quen , trong số có Tích Bốp.

Tôi vốn ham vui, có bạn rủ đi chơi là theo ngay, trừ những anh rủ đi tu hoặc đi theo hầu mấy anh chính trị hoạt đầu, lưu manh tự xưng là làm chính trị quốc dza, quốc dzô để, nói rõ ra chút nữa là hễ có bạn rủ đi ăn, đi chơi, đi vui… là tôi hưởng ứng ngay, rủ đi làm bất cứ việc gì khác không phải là việc ăn chơi, tôi thường xét lại. Có lẽ vì thái độ sống nhuốm mầu sắc Lão Trang ấy mà cho đến ngày hôm nay, gần bốn mươi tuổi rồi, giao du thân mật với không biết bao nhiêu là bạn bị tù lia chia về những tội làm chính trị, lường gạt, biển thủ v.v… ăn cắp, tống tiền cũng có, mà tôi vẫn sống phây phây chưa  bị quí anh cảnh sát thẩm vấn đánh một cái bạt tai, chưa bị nằm một đêm nào ở trong bất cứ một nhà tù nào.

Tôi theo Tích tới nhà Lý Hít. Lúc đó là sáu giờ một buổi chiều cuối năm ở Sài Gòn, trời bỗng dưng có tí sương còm và lành lạnh như những ngày cuối năm ở xứ Bắc Kỳ. Buổi chiều gần tối, giờ gà lên chuồng, là giờ dục dã những cặp tình nhân yêu nhau, nhớ nhau, đi tìm nhau và là giờ của những anh đã biết mùi vị hương phấn mê hồn của Cô Ba Phù Dung rủ nhau đến bàn đèn. Xuân Diệu ngày xưa đã làm hai câu thơ để tả cái tâm trạng đó:

Mỗi lúc hoàng hôn xuống
Là giờ viễn khách đi… hít.

Chúng tôi vào một xóm bình dân lao động của Sài Gòn. Hòn Ngọc Viễn Ðông có những khu nhà tồi tàn, lụp xụp không tài nào tả nổi. Các ông Balzac, Tolstoy có sống ở Sài Gòn những năm 1950, 1960  cũng không đủ tài, đủ chữ để tả đúng những xóm nhà vách ván, mái tôn của Sài Gòn. Các tổ sư thợ viết như Balzac, Tolstoy đã không tả được thì lẽ tất nhiên, tôi cũng không tả được. Chỉ biết đó là một xóm nghèo và xóm nghèo nào của Sài Gòn năm đó cũng có những con đường khuất khúc chỉ đi lọt một người, những ngôi mả đá ở chung với người sống, những cây cầu ván đi trên những vũng bùn sình, những dẫy cầu tiêu công cộng. Tôi theo Tích tới trước một căn nhà lụp xụp không có đèn điện. Khi chúng tôi bước qua cửa nhà, một người đàn bà từ trong bóng tối hiện ra với lời chào kính cẩn:

- Lạy hai ông ạ…

Vì bóng tối, tôi không nhìn rõ mặt người đàn bà, Tích dõng dạc:

- Ông Lý có nhà không?

- Thưa ông… thầy cháu ở trong nhà, mời hai ông vào chơi…

Hai ông bèn vào phòng trong. Nói là phòng, thật ra căn nhà chỉ được chia đôi bằng một tấm vách gỗ. Nhà tối om. Tôi lờ mờ nhìn thấy một bộ ván, trên ván có  bộ bàn đèn và nhờ ngọn đèn dầu lạc bàn đọi, tôi thấy bên bàn đọi có một người đàn ông. Như hình vẽ anh Cả Ðong trong cuốn Luân Lý Giáo Khoa Thư ngày xưa, ông Cả Ðong Sài Gòn 1960 bằng xương và ít thịt này đang ngồi đánh sái. Ông quay lại nhìn khi chúng tôi vào và cũng đon đả không kém  bà vợ, ông niềm nở chào:

- Hai ông đến chơi… Mời hai ông ngồi chơi…

Hai ông đến để nằm, hai ông không đến để ngồi, nhưng chủ nhà phải mời hai ông ngồi chơi, vì không lẽ lại mời hai ông nằm chơi. Bà vợ cầm cây phất trần khép nép đi tới quét quét mặt chiếu sửa soạn chỗ cho hai ông nằm. Ông Lý dặn vợ bằng một giọng quan trọng:

- Bu mày lo nước pha ấm trà mới… Gọi con Cún Nhớn về bảo nó đun nước, bảo con Cún Con đi mua cho tôi gói trà… Mau lên…

Ðây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến hai chị em Cún Nhớn, Cún Con. Những lần sau đó, lần nào đến nằm bàn đọi của Lý Hít – tôi đều được nghe những tiếng chửi con của Lý Hít: “Mẹ bố chúng mày, chỉ đi chơi. Thoắt một cái là mất mặt… Con Cún Nhớn đâu, đun cho tao ấm nước… Con Cún Con đâu, chạy ra phố mua cho ông gói thuốc… Mẹ bố mày… thuốc Lúc Ki nghe không? Ngu như con chó… Cầm cái bao thuốc này đi này… Bảo người ta bán cho một bao y như thế…Giá một bao có 30 đồng thôi. Nghe chưa.  Ði mau lên…”

Năm ấy, Cún Nhớn mười bốn, mười lăm tuổi, Cún Con chừng mười một, mười hai tuổi. Cún Con còn là con nít nhưng Cún Nhớn đã gần là con gái dậy thì. “Nàng”  sắp trổ mã. Nằm bên bàn đèn của ông Lý bố nàng, tôi nhìn thông thống xuống bếp, nhìn ra khoảng sân nhỏ để lu nước, rồi cửa nhà tắm kiêm cầu tiêu vách gỗ, tôi vẫn thấy nàng – Nàng đây là Em Cún Nhớn – đứng đun nước, ngồi giặt quần áo hoặc đi gánh nước về đổ ào ào vào lu. Cún Nhớn chỉ đến gần bàn đèn để pha nước sôi vào ấm trà. Những lần đó, tôi nhìn thấy cánh tay nàng phơn phớt lông tơ hứa hẹn một sự tóc dài, lông mày rậm, đa mao, đa tình như sau này.

Nhiều lần tà dục trong tôi nhen nhúm nổi lên, nhiều lần trước khi vào nhà Lý Hít hoặc sau khi hít xong ra về, tôi và Tích thường trao đổi ý kiến với nhau về Em Cún Nhớn: “Mẹ kiếp… hai vợ chồng thằng cha ấy xấu xí, bẩn thỉu thế sao con gái lại trông được quá hở mày? Chỉ hai năm nữa thôi là phải biết với em Cún Nhớn… Sao da em trắng quá? Mày có để ý thấy lông cánh tay em lúc em vào pha nước không?”

Tích và tôi cãi nhau loạn cào cào về mục lông măng và lông tơ. Những sợi lông vàng vàng trên cánh tay Cún Nhớn là lông măng hay lông tơ? Tích tuy đểu hơn tôi nhưng về mặt tình dục thì cũng như tôi, hắn chỉ đĩ mồm tức là chỉ nói mà không dám làm. Chúng tôi quả có nghĩ đến chuyện quyến rũ Em Cún Nhớn của vợ chồng Lý Hít đi ăn, đi chơi, cho vào Ðại Nam coi xi nê, đi ăn kem Phi Ðiệp, Mai Hương, để sờ mó, hôn hít Em, nhưng chẳng đứa nào thực hiện ý định đen tối ấy. Chúng tôi tới nhà Lý Hít là để hít chứ không phải để quyến rũ Cún Nhớn hay bất cứ ai. Chúng tôi tuy làm được nhiều chuyện, nhưng không thể làm được cái chuyện gỡ gạc con gái nhà người ta, dù người ta có nghèo, có đọi như  Lý Hít.

Có lần nằm đối diện với Lý Hít, tôi hỏi ông về nguyên do tại sao ông lại đặt tên cho con gái là Cún?  Lý Hít.. ê.. a..ề.. a.. đúng giọng Tổng Lý, Kỳ Mục, Kỳ Nát làng quê Bắc Việt kể lể dài dòng:

- Nhà cháu hiếm hoi… cần có con trai thì đẻ mãi không có… Mấy con mẹ cứ đẻ toàn con gái… Ấy..thưa ông, tôi đã bỏ hai con vợ chỉ vì chúng chỉ đẻ toàn con gái… Ðến con mẹ này thì tôi mong có con trai quá đi… Ông còn lạ gì nhà quê ta, cần con trai nối dõi, con gái là con người ta. Nuôi cho nó lớn nó lấy chồng, nó lo cho nhà chồng nó, mình mất con chứ mong gì ở nó? Ðến lúc con mẹ này sinh, mấy ông thầy Tử Vi hay nhất tổng tôi đều nói quyết sẽ đẻ con trai, tôi cho lên nằm đẻ ở nhà hộ sinh Nam Ðịnh đàng hoàng… Trong lúc mẹ nó nằm đẻ ở nhà hộ sinh thì tôi nằm nhà cô đầu… Khi nghe tin lại đẻ con gái thì tôi thất vọng quá! Tôi thấy số phận mình chó quá, năm đó lại là năm Tuất, nên tôi gọi nó là Cún. Lúc mẹ nó đẻ con thứ hai thì con trước là con Cún Nhớn, con sau là con Cún Con…

Như đã nói làng quê Lý Hít ở vùng Nam Ðịnh, hay Thái Bình, Phủ Lý gì đó. Tôi chỉ nhớ Lý Hít kể làng ông ở gần bến đò Tân Ðệ và ông ta tự giới thiệu năm xưa, ở những xóm cô đầu Khâm Thiên, Vạn Thái, Quán Bà Mâu, Gia Quất v.v… chị em thường gọi ông với cái biệt hiệu là Lý Tân Ðệ. Khi kể  thời dĩ vãng  vàng son oanh liệt ngày xưa, Lý Hít tự giới thiệu mình là tay chơi khét tiếng, được nhiều em cô đầu tài sắc thời ấy có cảm tình đặc biệt, lại được cả bà chủ nhà cô đầu mê lăn, mê lóc, mê như điếu đổ, một tay Lý Hít  từng cầm bán không biết bao nhiêu là mẫu ruộng thượng đẳng điền, cơ man nào là thúngï lúa, là mâm đồng, nồi đồng ba mươi, bát đĩa, lọ cổ, trâu bò… để chi vào cuộc ăn chơi với những em cô đầu tài sắc nhất Bắc Kỳ. Tuy nhiên, ngày xưa kia có thể Lý Hít đã nhờ bố mẹ mà có tiền, đã ăn chơi, đã là con mòng của chị em cô đầu Bắc Hà, đã tự đem thân tới cho chị em lột, nhưng bây giờ thì Lý Hít xác xơ lắm. Bao nhiêu ruộng đất bỏ lại hết để di cư vào Nam – Lý Hít và vợ con – nghèo rớt mồng tơi, rách như xơ mướp. Nhà bốn miệng ăn, người đàn ông chủ gia đình, người làm ra tiền và có bổn phận phải nuôi cả nhà thì nghiện ngập, cả ngày nằm bẹp bên khay đèn, chỉ chịu khó hút và kẽo kẹt đánh sái. Vợ Lý Hít là đàn bà nhà quê, ngu xuẩn, mắt có lông quặm, ở nhà quê thì mặc váy đụp, cả đời chỉ được ra tỉnh có một lần để nằm nhà hộ sinh, ở dơ như cú, hai đứa con gái hãy còn ít tuổi, chưa đi làm ăn gì được, tất nhiên gia đình Lý Hít phải lâm vào cảnh túng đói và có một tương lai đen như mõm chó.

Vấn đề quan trọng nhất của Lý Hít bây giờ là vấn đề cơm đen. Khi cơm trắng còn chưa đủ thì cơm đen tất nhiên, bắt buộc phải thiếu. Mỗi lần có khách tới chơi như tôi và Tích, tức là ngày đó món cơm đen của Lý Hít được bảo đảm, tức là ngày đó, nhờ  chúng tôi, Lý Hít có thuốc, có sái để hít. Vì vậy, bọn tôi được coi là thượng khách của nhà này. Có những buổi, Lý Hít hết nhẵn cả thuốc, không còn đào đâu ra tiền để đi mua, đành phải móc sái sảm, sái củ tỷ Long Vương ra nuốt cho qua cơn ghiền, chợt chúng tôi tới chơi. Có chúng tôi tới là Lý Hít có chầu hít rồi, chúng tôi, những lần đó, được chào đón như những vị cứu tinh. Ðang nằm bẹp như chết rồi bên khay đèn, Lý Hít ngồi nhỏm dậy, chào hỏi và quát vợ con như máy: “Lậy ông ạ… Mẹ nó đâu… Quét cái chiếu hai ông nằm, Cún đâu, Cún ơi..Ðun cho bố ấm nước…!”.

o O o

Rồi chiến tranh leo thang, Quân Ðội Mỹ vào Việt Nam. Tích đi làm Sở Mỹ, phiêu dạt theo nghề và theo chủ ra Cam Ranh, Ðà Nẵng, Chu Lai, tôicũng không được sống ở Sài Gòn.  Bẵng đi một thời gian, tôi không không đến nhà Lý Hít. Thế rồi một ngáy cuối năm,  chiến tranh đến hồi quyết liệt, Tết năm trước lính Việt Cộng vào tới Sài Gòn-Chợ Lớn để rồi bị chết hết, tôi gặp lại Tích ở Sài Gòn. Chúng tôi đi ăn ở Thiên Nam – gà roti, rượu Sangria – rồi  rủ nhau đi đong. Tích bảo tôi:

- Ê… Mày còn nhớ Lý Hít không? Nhà có hai em Cún Nhớn, Cún Con năm xưa tao với mày đến nằm ấy? Bây giờ  Lý Hít hách lắm rồi nghe mày! Cái khu ấy về sau đô thành phóng một con đường lớn, nhà anh Lý Hít đang ở trong kẹt củ tỉ hang cua bỗng dưng trở thành nhà mặt đường. Thằng cha ấy thế mà tốt số. Có người tới đề nghị bỏ tiền ra xây lên thành nhà hai tầng. Hai nhà nghe mày. Chủ bỏ tiền xây lấy một nhà, Lý Hít một nhà. Nhà lầu, bê toong, đèn điện, nước máy… Lý Hít bây giờ hách lắm. Nằm hít trên lầu, nhà lúc nào cũng có ít nhất là hai, ba ký thóc… Tao với mày đến chơi thằng chả đi… Tao đến, hắn  vẫn hỏi thăm mày.

Tôi theo Tích trở lại nhà Lý Hít. Trên đường, tôi hỏi thăm hai em Cún Nhớn, Cún Con, Tích kể:

- Cún Nhớn bây giờ hách lắm… Em có tiền, có hiếu, chịu giúp đỡ bố mẹ. Vợ chồng Lý Hít nhờ em nên đỡ khổ… Hôm nọ, tao tới gặp em về thăm bố mẹ… phây phây… Thơm như múi mít… Em khuân về nào là sà-bông Camay, Dove, đổng Seiko Five, ra-đi-ô Sony, quạt Sanyo, rượu Johnny Walker… Em mang đồ PX về cho mẹ bán. Lý Hít bây giờ hách ra rít… Rượu Mẽo phải là thứ Johnny Walker… black-label mới uống, chai giấy đỏ chê không thơm… Xài bật lửa ga Ronson, hút píp, mặc Montagut, đồng hồ Seiko nghe mày… Chị Lý Hít buôn bán đồ Pê Ích Mẽo, mở miệng ra là nói chuyện bạc triệu, chuyện đô-la đỏ, đô-la xanh…

Chỉ cần nghe Tích nói như thế về em Cún Nhớn, tôi cũng dư biết em hiện đang làm gì, em đang lấy ai, tại sao em có đồ PX Mỹ. Ngày xưa, có lần tôi và Tích say thóc, tiên đoán em – tôi muốn nói đến nàng Cún Nhớn, con gái lớn của Lý Hít, người năm đó chưa dậy thì, mới sắp trổ mã, là hậu vận của em sẽ khá, nhưng chúng tôi chỉ tiên đoán lờ mờ thế thôi. Năm đó chúng tôi  đâu biết là chỉ mấy năm sau, các bạn đồng minh Mỹ, Phi, Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Thái Lan… kéo vô nước ta đông đến như ngày hôm nay.

Ðúng như lời Tích kể, gia đình Lý Hít năm nay sáng choang, nhà xây, tủ lạnh Hitachi Jet Cycle, Tivi, quạt máy Sanyo v.v… Nhà không còn rơi rớt chút síu hình ảnh tù mù, tối tăm, ảm đạm, rách rưới như mấy năm về trước. Bây giờ, đến bàn đèn của Lý Hít, tôi và Tích không còn được đóng vai cứu tinh dân tộc nữa, chúng tôi chỉ còn nguyên hình là hai thằng nghiện dở đến hút nhờ, chủ nhân rảnh rỗi thì cho nằm mà bận đánh tổ tôm hay sắp có việc phải đi, hay mệt muốn nằm ngủ thì thôi, mời hai ông ngồi chơi xơi nước, rồi đi nơi khác cho được việc. Tuy nhiên, tôi cũng phải nhận rằng Lý Hít là người tương đối có tình. Bây giờ tuy no đủ đến có thể nói là thừa thãi, ông ta vẫn tiếp đón chúng tôi khá niềm nở, không đến nỗi khinh khỉnh làm cao như nhiều anh trước nghèo lõ đít mà sau có tí của là lên mặt vênh váo. Có điều phải nói là bây giờ, tôi không còn được Lý Hít đang nằm còng queo bên bàn đọi,  ngồi bật dậy, chào ròn tan, ngọt lịm: “Lậy ông ạ…” và gọi vợ con quét giường, đun nước trọng vọng như xưa.

Năm nay, Cún Nhớn đã trên dướ hai mươi, Cún Con mười sáu mười bẩy chi đó. Cún Con đã lấy chồng, đã có con. Chồng Cún Con là một chú ở trong tuổi quân dịch nên phải đi lính. Chú có nghề sửa xe hơi gia truyền nên được phục vụ trong xưởng sửa chữa quân xa, cũng nhàn và yên chữ thọ, tối tối vẫn được về nhà ngủ với vợ con. Nhưng vì là lính binh nhì, chú rách. Vợ chú, là em Cún Con, tất nhiên cũng rách. Trong khi Cún Nhớn tiền bạc phây phây, ăn diện như ca sĩ ăn khách thì Cún Con rách như tổ đỉa, vẫn ẵm con về nhà xin tiền mẹ. Tôi gặp Cún Con với đứa con trai bệu nhệch, mũi rãi dài hơn người, trông nàng xanh xao, cằn cỗi, rõ ra là già trước tuổi. “Nàng”, Cún Con, vẫn còn nhớ tôi – năm xưa, những lần nằm hít với bố “nàng”, sai nàng chạy đi mua tờ báo, mua thuốc lá, tôi vẫn thỉnh thoảng cho “nàng” vài đồng tiền lẻ – nàng vẫn chào tôi: “Lậy ông ạ…” nhưng tôi thì không còn có dịp nằm khểnh bên bàn đọi của ông bố nàng, bảo nàng: “Ði mua cho cậu gói Lucky” như năm xưa nữa.

Một hôm, tôi tới cửa nhà Lý Hít thì gặp Cún Nhớn. Nàng  đang trả tiền xe taxi. Ðây là lần đầu tiên sau ba, bốn năm xa cách tôi gặp lại nàng. Nhìn nàng, tôi nhận ra nàng ngay nhưng nếu nàng không nhìn ra tôi, tôi không lấy gì làm ngạc nhiên. Tôi định khóa cổ xong chiếc xe Vespa cọc cạch là tôi đi vào nhà, lên lầu với ông già nàng, không đứng đó chờ đợi nàng chào. Nhưng nàng nhìn ra tôi ngay, nàng mỉm cười với tôi và nàng đi đến bên tôi:

- … Lâu lắm không thấy anh đến chơi với ba em…

Nàng hỏi tôi trước và như một thằng chưa từng được đàn bà đẹp hỏi tới bao giờ, tôi bỗng dưng đi một đường cảm động. Tôi lí nhí nói mấy câu… bận đi làm ăn xa, không đến vì khu này đổi khác, không nhìn ra nhà cũ v.v… Nàng bận áo dài hàng Suara, đeo đồng hồ Longines, lắc vàng tây, đi giầy cao gót da nâu,  sắc tay da cũng nâu. Thật nhã. Trông nàng khác hẳn những chị Ðiếm Mẽo ăn bận lố lăng, sặc sỡ, tự tố cáo nghề làm điếm với người ngoại quốc nhan nhản trong các đường phố Sài Gòn hôm nay. Nàng đỏ da, thắm thịt đẫy đà, đài các như mệnh phu phu nhân. Tôi tưởng tượng đến những sợi lông tơ tôi thoáng thấy trên cánh tay nàng năm xưa, năm nay chắc là…

- Anh qua đây uống nước với em đi…

Gần ngay chỗ chúng tôi đứng có một tiệm cà-phê. Nàng đề nghị và tôi nhận lời. Lát nữa, tôi lên nằm nhờ bàn đọi của Lý Hít cũng chưa muộn, bây giờ tôi hãy ngồi uống tí nước còm với Cún Nhớn cái đã. Nàng hỏi tôi về chuyện làm ăn, viết lách của tôi:

- Bây giờ anh làm báo nào? Sao anh không về làm lại với bà Bút Trà? Anh có xuất bản được cuốn tiểu thuyết nào hay không? Quyển Vũ Nữ Sài Gòn của anh còn không? Sao em không thấy  bán ở tiệm sách? Con quyển Tây Ðực, Tây Cái của anh? Em vẫn theo dõi các truyện của anh… Hồi anh đăng báo tìm chị ấy em định tìm anh để hỏi thăm nhưng không biết anh ở đâu… Ba em vẫn nhắc đến anh luôn… Có sẵn cuốn truyện nào hay của anh, hôm nào tiện anh cầm đến cho em. Anh cứ gửi ba em, thỉnh thoảng em về lấy.

Nàng hỏi tôi:

- Bây giờ anh vẫn hút Lắc-ky? Anh có còn thích chơi bật lửa không? Pê Ích chỉ có Zíp-pô, không có Rông-sông, để hôm nào có người đi em gửi mua ở Hong Kong cho anh vài cái… Anh có thích hút Sê-Vơn Ty Nai không? Anh có cần mua gì trong Pê Ích không?”

Và nàng buồn rầu:

- Có lẽ cuối năm nay em phải về Hoa Kỳ… Em không muốn đi tí nào… Thầy mẹ em nhiều tuổi rồi. Con Cún em của em thì nó khờ quá. Nhưng em không đi không được!

Và nàng than thở:

- Ðời em buồn lắm. Thấy em thế này, chắc anh tưởng em sướng lắm, nhưng sự thực em không sướng đâu anh ạ. Em có nhiều nỗi khổ tâm… Nếu em viết được tiểu thuyết, em viết đời em thành truyện… Ðể hôm nào rỗi, em ngồi lâu với anh, em kể cho anh nghe. Anh sẽ thấy là em không được sung sướng, em khổ lắm…!

Vân vân và vân vân. Tâm sự của nàng làm tôi buồn lây. Năm xưa, khi nàng mới lớn, tôi đã không dám đụng đến làn lông tơ trên cánh tay nàng, thì bi giờ, sau khi những người bạn Mẽo mở đường như mở xa lộ, tôi lại càng không dám đụng đến nàng. Cuộc đời của mỗi người con gái, dù tầm thường nhất, cũng có thể viết thành một tiểu thuyết tình lâm ly, bi đát, nhưng vì ngày xưa đã có ông Nhất Linh – hay ông Khái Hưng, hay ông Thạch Lam – tôi không nhớ đúng ông nào – đã viết một truyện ngắn kể chuyện hai chị em một nhà nghèo miền quê Bắc Kỳ, cô chị bỏ làng lên thành phố làm gái nhẩy, cô em vẫn sống ở nơi bùn lầy, nước đọng. Một hôm, cô chị ăn bận sang đẹp, đi ô tô của tình nhân qua đường nên ghé vào thăm làng, thấy cô em  mắt toét, váy đụp. Hai chị em khác hẳn nhau. Dường như tác giả muốn cho người đọc thấy cô chị bỏ ra thành phố  chưa chắc đã là xấu, là sai, người em ở lại làng quê như vậy chưa chắc đã là hay, là nên. Nên bây giờ, tôi không còn hứng để viết về cuộc đời của Cún Nhớn, Cún Con.

Một hôm tôi được ngồi trên trực thăng bay trên căn cứ quân sự Cam Ranh. Vùng biển Cam Ranh đối diện với Quận Ba Ngòi trướ đây vài năm xơ xác, nghèo nàn, chỉ có biển xanh và cát trắng ấy nay trở thành một căn cứ quân sự hiện đại, lớn nhất Ðông Nam Á Châu. Trên bến, dưới thuyền, đồn trại, phi trường, phi cơ phản lực lên xuống rộn rịp. Ông bạn cùng ngồi trên trực thăng với tôi cay đắng và ngậm ngùi:

- Cam Ranh là đất Trời dành cho dân Việt… Ông cha phải đổ bao nhiêu xương máu mới giành được vụng biển này để cho con cháu. Nhưng con cháu các cụ hèn mạt, bất tài, có của không biết hưởng… Ðể cho cái thằng nó ở tận đâu đâu nó tới nó khai thác, nó ở… Ðau thật…!

Cảm khái của ông bạn tôi không đúng hẳn mà cũng không sai hẳn. Cam Ranh quả có đẹp, có quí nhưng nếu không tiền nhiều, của lắm, không có  phương tiện như người Hoa Kỳ, không nước nào có thể biến Cam Ranh thành hải cảng quốc tế được, kể cả người Nhật. Vì nó lớn quá. Người Hoa Kỳ đến Cam Ranh, biến vùng ven biển chỉ có núi và cát lèo tèo một xóm nhà ngư dân, trở thành căn cứ lớn này đã phải đổ vào đó biết bao nhiêu tiền, bao nhiêu nhân lực, vật lực. Họ mang tới đây đủ mọi thứ, kể cả những cây cột điện thoại cũng là cây mang sang từ Hoa Kỳ. Họ chỉ dùng đất của ta, họ chỉ thở hít khí trời của ta. Nếu cần, rất có thể họ mang cả khí trời Mỹ của họ sang đây họ dùng. Dân ta nghèo, lại chiến tranh liên miên, dù có anh dũng, có giỏi giang đến mấy cũng không đủ lực bạt núi, lấp sông biến Cam Ranh thành hải cảng lớn.

Em Cún Nhớn con gái anh Lý Hít, trước mắt tôi, là một hải cảng Cam Ranh nhỏ. Chỉ cóù những anh Jim, anh Mac, anh Joe… sẵn tiền, sẵn của mới có thể làm cho em trở thành tươi tốt như em ngày nay. Nếu em lấy một anh Mít làm nghề chạy xe tắc xi hay xe lam, làm không đủ ăn, em Cún Nhớn hôm nay cũng bệu nhệch như em Cún Con, em cũng xanh xao, nhẽo, thõng, hôi mùi quần áo cũ giặt thiếu sà-bông, chua mùi mồ hôi, mùi mũi rãi con nít như em Cún Con… Sức mấy mà em thơm, sức mấy mà em làm tôi tiếc…!

o O o

* Kính thưa quí vị độc giả,

Tôi viết CÚN NHỚN, CÚN CON ở Sài Gòn, để đăng trên  Báo Xuân Năm Tuất 1970. Ðã 45 năm qua đời tôi kể từ ngày ấy. Sau cuộc biển dâu bẩy  nổi, chín chìm, mười mấy cái lênh đênh, mới đây tôi tìm lại được truyện CÚN NHỚN, CÚN CON. Tôi đăng lại truyện xưa với niềm cảm khái.

Kính chúc quí vị Năm Mới Yên Vui.

Rừng Phong Tháng Giêng 2014.

MANG XUỐNG TUYỀN ĐÀI

tuyendai

Những người con của các Thi sĩ, Văn sĩ thường ít có – ít đến có thể nói là không có – người nào thừa hưởng thiên tài của ông bố. Văn giới Việt Nam như thế mà văn giới quốc tế cũng như thế. Những ông con của các Thi hào Nguyễn Du, Tản Ðà, Tú Xương, Balzac, Stendhal, Anatole France .. đều không ông nào làm thơ, viết văn. Tôi chỉ thấy có một ông người Pháp: ông Alexandre Dumas Con viết tiểu thuyết như ông thân của ông là Văn sĩ Alexandre Dumas Bố.

Tôi mời quí vị đọc bài viết về tiểu thuyết La Dame aux Camélias của Văn Sĩ Alexandre Dumas Fils. Truyện viết về cuộc tình của một công tử quí tộc với một nàng hoa khôi hương phấn phong tình ở Paris những năm cuối thế kỷ 19. Chàng và nàng yêu nhau thắm thiết, nhưng ông thân của chàng tìm đến, xin nàng vì hạnh phúc của chàng mà tự rút lui ra khỏi đời chàng. Ông nói lấy nàng làm vợ, chàng sẽ khổ. Nàng bị ông già quí tộc thuyết phục. Không biết cuộc tình của chàng bị đứt đoạn vì thân phụ của chàng can thiệp, chàng thù hận nàng. Nàng đau yếu và chết trong cô đơn, trong tiếc hận và tủi hận.

Năm 1950 tôi đoc La Dame aux Camélias lần thứ nhất ở Hà Nội. Nhiều đoạn của Truyện Tình này làm tôi ưá nước mắt.

Dưới đây là đoạn Công tử Armand gặp Nàng Marguerite lần đầu. Truyện phóng tác, chuyện xẩy ra ở Paris nhưng nhân vật mang tên Việt Nam.

La Dame aux Camélias. Trích:

Phòng chỉ có một ngọn nến le lói đặt trên cái bàn nhỏ. Quỳnh Lan nằm trên ghế dài, một tay để trên ngực, tôi đi nhẹ đến ngồi bên nàng, cầm bàn tay nàng.

– Anh Chương đấy à?

Nàng hỏi tôi với nụ cười. Lúc ấy dường như mặt tôi có những nét đau làm nàng phải hỏi:

– Anh làm sao? Anh cũng đau như Quỳnh ư?

– Không. Tôi đau vì Quỳnh đau. Còn tức ngực lắm không?

– Ðỡ rồi. Cám ơn anh — Nàng đưa bàn tay cầm khăn lên chùi nhẹ hai bên mắt, một bàn tay nàng vẫn nằm trong bàn tay tôi — Quỳnh quen với những cơn đau này rồi.

Nàng ngồi lên, sửa lại mái tóc, đứng dậy, đi đến soi gương:

– Trông Quỳnh dễ sợ quá. Anh không nên gần Quỳnh những lúc này. Anh thấy chứ? Người ta chỉ gần Quỳnh những lúc Quỳnh khỏe mạnh, vui vẻ thôi. Chúng mình ra uống tiếp đi.

Tôi ngồi yên. Nàng quay lại nhìn tôi. Nàng cảm động khi thấy tôi lo buồn vì tình trạng của nàng. Nàng đi trở lại chỗ tôi ngồi, đưa bàn tay cho tôi:

– Ði với Quỳnh.

Tôi cầm bàn tay nàng đưa lên môi hôn. Nàng thấy rõ hơn cơn xúc động và nỗi sợ của tôi, nàng nhìn thấy nước mắt ứa ra trong mắt tôi:

– Sao vậy? — Nàng ngồi xuống bên tôi, bàn tay nàng vẫn nằm trong bàn tay tôi — Tại sao Chương khóc?

– Có thể Quỳnh không tin tôi — Tôi nghẹn lời  — Tôi đau khi thấy Quỳnh đau.

– Anh tốt với Quỳnh quá — Nàng nói, giọng nàng cũng nghẹn ngào — Biết làm sao? Quỳnh cũng cần vui, Quỳnh cũng cần có bạn, mà muốn vui với  bạn thì phải cười, phải nói. Chắc Quỳnh không sống được lâu đâu. Ðành vậy thôi.

Không thể ngừng được tôi nồng nàn:

– Có thể Quỳnh không tin tôi nhưng tôi cứ phải nói: tôi rất trọng sinh mạng của Quỳnh. Tôi mong Quỳnh giữ dìn sức khỏe, lo chữa bệnh. Bệnh của Quỳnh không phải là không thể chữa được. Quỳnh đừng làm cho bệnh nặng thêm bằng lối sống buông thả như thế này..

Nàng nhìn tôi đăm đăm:

– Biết làm sao được? Chương quên em…làm gì để sống sao?

Tôi xúc động hơn khi nghe tiếng nàng xưng “em” với tôi, tiếng “em” đầu tiên tôi nghe nàng nói.

– Em phải sống như em vẫn sống — Nàng buồn sầu nói tiếp — Nếu em là một người vợ như những bà vợ trên đời, nếu em có chồng, có con, em cũng biết lo giữ dìn sức khỏe của em, giữ dìn cho chồng con em. Nhưng.. như anh thấy.. Em giữ dìn cho ai? Em càng chết trẻ càng tốt.

– Ðừng nói thế — Tôi năn nỉ nàng — Tôi xin Quỳnh ngừng sống như thế này một thời gian. Tôi muốn được săn sóc Quỳnh mỗi ngày. Chúng ta đi xa thủ đô một thời gian đûể em sống lành mạnh và tĩnh dưỡng. Bao giờ em mạnh lại, em lại trở về thủ đô.

Giọng nói chân thành của tôi làm nàng cảm động:

– Em cám ơn anh đã có lòng lo cho em. Nhưng đêm nay anh buồn, đôi khi rượu làm ta buồn, anh buồn nên anh nói thế. Sáng mai tỉnh rượu anh sẽ nghĩ khác. Dù sao em cũng cám ơn anh, anh làm tim em ấm lại..

Nàng ghé môi hôn lên môi tôi. Nụ hôn thứ nhất của chúng tôi. Tôi vừa đau thương vừa sung sướng, nên tôi lặng người, môi tôi đón nhận môi nàng nhưng không hôn lại môi nàng.

– Tôi nói thật mà. Em đừng đùa.

– Em có đùa đâu — Nàng nghiêm trọng nói — Anh hứa anh sẽ săn sóc em?

– Tôi hứa.

– Mỗi ngày?

– Mỗi ngày, mỗi giờ.

– Suốt đêm?

– Suốt đêm. Không phút nào xa em nếu em bằng lòng.

– Tại sao anh lại tự ý làm với em những việc đó?

Tôi ngẩn ngơ:

– Tại vì..tôi muốn em khỏe mạnh.

– Chương yêu em. Sao Chương không nói là Chương yêu em?

Ánh mắt nàng long lanh khi nàng nói câu đó. Tôi chắc tình yêu của tôi, cùng thái độ vụng dại nhưng chân thành của tôi làm nàng xúc động. Nhưng trong xúc động nàng vẫn không quên thân phận cùng nghề nghiệp hương phấn của nàng. Chúng tôi ngồi lặng nhìn nhau trong một lúc, nàng để yên cho tôi nắm bàn tay nàng, chúng tôi tìm đọc những tình ý trong mắt nhau. Lúc ấy tôi quên hết cuộc đời, với tôi lúc ấy cuộc sống chỉ có ở bên nàng, tôi chỉ sống để nghe nàng nói.

Cơn xúc động qua đi, nàng nói sau tiếng thở nhẹ:

– Chương đừng nói với em những lời như thế thì hơn.

– Sao lại không, sao lại hơn? Sao em lại không muốn tôi nói?

– Tại vì…sẽ có hai chuyện xẩy ra. Một là em từ chối tình yêu của Chương, Chương sẽ đau, Chương sẽ thù ghét em, Chương sẽ không đến với em nữa. Một là em nhận để Chương yêu em, Chươngsẽ có một người tình không xứng đáng với Chương.

Nàng xiết nhẹ bàn tay tôi, như muốn tôi tin là nàng nói phải:

– Thật mà. Em không đùa với Chương đâu. Chương nghĩ lại đi. Nếu Chương yêu em, Chương sẽ khổ. Khổ lắm, không phải khổ vừa đâu, vì Chương yêu em thật tình. Em là gái phong tình. Ðã có nhiều đàn ông trong đời em, còn Chương, không cần Chương nói, em biết Chương chưa yêu ai. Em chỉ có thể để cho những ông già có tiền gần em. Em không nói những người ấy yêu em, họ muốn em vì nhan sắc của em, em không yêu thương gì họ, họ dâng tiền cho em tiêu, em để cho họ gần em khi họ còn tiền.

Nàng lắc lắc bàn tay tôi như để làm cho tôi tỉnh cơn mê mộng:

– Còn Chương… Không được đâu. Không được là không được. Chương có bao nhiêu tiền mà tính chuyện bao em? Em quen sống đời phong tình của em rồi. Em quen tiêu tiền như em đổ nước. Em sẽ làm Chương nghèo rớt trong thời gian ngắn nhất. Khi đó Chương sẽ hạân em vì Chương đã yêu em. Em không muốn người tốt như Chương thù hận em, em cũng không muốn người tốt như Chương phải khổ vì em. Lại còn gia đình của Chương nữa chứ. Chương quên sao? Gia đình Chương sẽ không bằng lòng cho Chương sống với người như em. Hãy là bạn của em, là người bạn tốt mà em rất cần, em rất quí. Ðến thăm em, vui với em những lúc em vui, an ủi em những lúc em buồn. Nhưng chỉ thế thôi. Anh còn quá trẻ để yêu người như em..

Ngưng trích.

Marguerite Quỳnh Lan nói như vậy nhưng nàng không cưỡng lại được Tình Yêu, nàng cũng yêu chàng. Hai người bỏ Paris đến sống ở vùng đồi núi Phương Lâm. Ông thân của chàng hẹn chàng về Paris gặp ông. Ngày chàng về Paris là ngày ông đến nhà chàng, gặp nàng, ông xin nàng ra khỏi cuộc đời chàng. Nàng xúc động, nàng làm theo lời ông, nàng bỏ chàng.

Ðây là đọan Hồng Chương kể khi chàng về Paris gặp ông thân của chàng.

La Dame aux Camélias. Trích:

Buổi chiều trời trong xanh, gió mát. Nắng cuối thu hanh vàng. Ba tôi đi với tôi đến nhà ga. Cuộc đời thật đẹp. Chưa bao giờ tôi thấy tôi yêu thương và mang ơn Ba tôi đến thế. Trên sân ga Ba tôi còn ngỏ ý muốn tôi ở lại:

– Ba còn nhiều chuyện muốn nói với con. Phải chi tối nay cha con mình gần nhau thì hay quá.

Tôi nắm bàn tay Ba tôi:

– Con xin Ba. Ba cho con ngày mốt con sẽ về gặp Ba, ngày mốt con xin ở gần Ba cả ngày, cả đêm.

Ba tôi chợt hỏi:

– Con yêu nó đến thế kia ư?

Tôi nghẹn lời:

– Vâng. Thưa Ba, con yêu nàng lắm.

Ba tôi nhìn tôi. Tôi mơ hồ cảm thấy lúc ấy hình như ông muốn nói gì với tôi, nhưng ông lại không nói. Ông chỉ nhìn tôi, đôi mắt ông có những ánh như thương hại, như ân hận, ông nắm chặt bàn tay tôi rồi ông quay đi.

Ngừng trích.

Chàng thù hận nàng, chàng trả thù nàng bằng cách bỏ tiền ra bao những cô gái phong tình thượng lưu khác. Nàng đau vì bị chàng cố tình làm cho mất mặt. Một đêm, nàng đến với chàng:

La Dame aux Camélias. Trích:

Chín giờ tối. Chuông kêu ở cửa. Nàng đến. Khi mở cửa tôi xúc động đến nỗi tôi phải vịn tay vào tường để khỏi bị ngã.

Quỳnh Lan hiện ra trước mặt tôi.

Nàng bận toàn y phục đen, nàng đội mũ, mang mạng che mặt. Nhưng tôi vẫn nhìn rõ khuôn mặt nàng sau lần đăng-ten,

Ði vào phòng khách, nàng nhấc tấm mạng che mặt lên. Mặt nàng trắng như đá.

– Chương, em đây. Chương muốn em đến, em đến.

Ðưa hai bàn tay lên ôm mặt, nàng khóc.

Tôi đến gần nàng.

– Quỳnh Lan, em làm sao?

Tôi run giọng hỏi nàng.

Không trả lời, nàng chỉ nắm bàn tay tôi, nước mắt làm nàng nghẹn lời. Tôi dìu nàng ngồi xuống ghế, cái ghế nàng đã ngồi lần trước nàng đến đây, khi chúng tôi mới yêu nhau.

Tôi lại quì bên ghế, dưới chân nàng.

Khi nói được, nàng nói:

– Chương làm em khổ lắm, mà em, em không làm gì Chương cả.

Cay đắng tôi cười như mếu:

– Không làm gì cả ư?

– Em không làm gì cả ngoài những việc em bắt buộc phải làm.

Tôi không biết những người yêu khác khi gặp lại người đàn bà mình yêu mà không được chung sống có những cảm giác ra sao, tôi chỉ biết là tôi muốn vỡ tim, đứt ruột khi tôi quì gối bên ghế người tôi yêu dấu.

Nàng đã đến ngồi trên cái ghế này một lần. Sau lần ấy nàng và tôi yêu nhau, thắm thiết, nồng nàn, yêu có thể chết vì nhau. Rồi nàng đột ngột bỏ tôi, nàng trở lại cuộc sống cũ của nàng; đôi má này, làn môi này tôi đã hôn, sau tôi có những người đàn ông khác đã hôn làn môi này, đôi má này; biết vậy nhưng lúc ấy tôi vẫn yêu nàng như chưa bao giờ tôi yêu nàng đến thế.

Tối nay nàng đến, tôi khó có thể nói lên được nỗi lòng tôi, tôi không biết nàng đến để làm gì. Như biết tôi nghĩ thế nàng nói:

– Em đến làm phiền Chương. Em xin anh tha cho em, anh đừng hành hạ em nữa. Em đã khổ nhiều từ ngày em xa anh. Không có gì đáng để anh hành hạ một người đàn bà tội nghiệp như em. Anh cầm tay em xem. Anh thấy tay em nóng không? Em đang sốt, em cũng phải đến để xin anh tha cho em. Chương ơi.. Ðừng thù em nữa,  hãy coi em như nguời dưng. Em biết em đã làm anh khổ, nhưng chắc anh cũng thấy, em cũng khổ lắm..

Bàn tay nàng nóng ran nhưng người nàng lại lạnh ngắt. Nàng run lên trong làn áo nỉ. Tôi đẩy ghế nàng ngồi đến gần lò sưởi hơn. Tôi cũng nói không ra lời:

– Sao em bỏ anh? Anh yêu em quá..

– Em van anh – Nàng kêu lên – Mình đừng nói chuyện mình yêu nhau nữa. Em đến gặp anh không phải để nói chuyện hai đứa mình yêu thương nhau. Em đến để xin anh đừng hận em nữa. Em cũng muốn được gặp lại anh, em muốn được nghe tiếng anh nói, được anh..cầm tay em. Anh trẻ, anh có tương lai, anh có đàn bà đẹp yêu anh, anh hãy sống sung sướng và quên em đi.

– Còn em, em đã quên anh, em đã quên mối tình của chúng ta để sống sung sướng?

 — Chương nhìn mặt em xem em có phải là người sung sướng không..? Nếu em quên anh, đêm nay em đến với anh làm gì?

– Nhưng tại sao..?.. Tại sao em lại bỏ anh? Tại sao chúng ta lại đau khổ? Chúng ta yêu nhau mà?

– Có chuyện xẩy ra mà em không cưỡng được.. Em đã nói em bị bắt buộc phải làm thế. Tại sao em làm thế.. có ngày anh sẽ biết, ngày ấy anh sẽ thương em..

– Chuyện gì? Tại sao em không nói ngay bây giờ?

– Em không nói được.

– Em không nói được là em nói dối. Em sợ sống với anh em khổ, anh không đủ tiền cung phụng em. Em bỏ anh chỉ vì anh không có tiền..

- Thôi. Anh nghĩ thế cũng được.

Gượng đứng lên nàng đi ra cửa.

Tôi thấy nàng đau đớn, nỗi đau tinh thần mà rõ như nỗi đau thể xác. Tôi chặn nàng trên đường nàng đi.

– Em không đi được.

– Tại sao Chương không cho em đi?

- Tại vì dù em làm anh đau, anh vẫn yêu em, anh muốn giữ em lại bên anh, anh muốn em sống với anh..

Nàng muốn ngã xuống. Tôi ôm nàng, nàng ngả mặt vào ngực tôi. Mùi hương từ tóc nàng, từ da thịt nàng, làm tôi ngây ngất. Bao lâu rồi tôi vẫn thèm khát được hít thở mùi thơm này. Nàng thổn thức:

– Muộn quá rồi Chương ơi. Không còn được nữa. Ðường đời chúng ta đã chia ra hai ngả, em không sao có thể có được diễm phúc làm vợ anh trong kiếp này. Bây giờ.. Phải xa anh em mới tin ở luân hồi. Kiếp sau may ra em sẽ được..

Nghẹn lời, nàng dừng lại. Chúng tôi im lặng ôm nhau trong một lúc. Rồi  nàng cố gắng nói tiếp:

– Chương ơi. .Chúng ta không nên tìm cách nối lại yêu thương nữa. Nối lại, một mai anh sẽ thù ghét em còn hơn bây giờ, anh sẽ oán hận em còn hơn bây giờ. Rồi anh sẽ khinh em trong khi em xa anh bây giờ anh chỉ thù em thôi.

- Không..

Tôi kêu lên:

– Em nói gì anh cũng không nghe.. Quỳnh Lan.. Anh chỉ biết anh yêu em thôi. Anh không chịu để em xa anh nữa. Chúng ta lại sống với nhau. Chúng ta lại sống sung sướng bên nhau như chúng ta từng sống.. Chúng ta cứ yêu nhau như thế mãi..

Nàng ngước mặt lên nhìn tôi, đôi má nàng chan hòa nước mắt:

– Em cũng yêu anh lắm. Em là con nô lệ của anh. Yêu em đi, Chương muốn làm gì em cũng được.

Nàng cởi mũ, cởi áo ngoài, bỏ lên trường kỷ. Dường như cơn xúc động làm nàng khó thở, mặt nàng đỏ hồng lên, nàng khúc khắc ho vài tiếng:

– Anh bảo người nhà em cho xe về đi.

Tôi xuống đường bảo người đánh xe ngựa của nàng cho xe về.

Khi tôi trở lên nhà, Quỳnh Lan nằm ngay trên thảm trước lò sưởi. Nàng run lên vì lạnh.

Tôi bồng nàng vào giường, nàng không làm một cử động trong lúc tôi cởi y phục cho nàng. Tôi đắp mền cho nàng. Tôi nằm ôm nàng, tôi làm cho nàng ấm bằng hơi ấm của thân mình tôi, bằng những nụ hôn yêu thương, những vuốt ve trìu mến. Nàng không nói gì, nàng chỉ nhìn tôi, làn môi mỉm cười sung sướng.

Ôi..! Một đêm kỳ diệu. Tất cả tình yêu của Quỳnh Lan như truyền hết vào những môi hôn nàng hôn tôi, tôi yêu nàng đến nỗi trong lúc yêu nàng tôi muốn giết nàng, tôi muốn ôm xiết nàng cho nàng tắt thở, để nàng mãi mãi là của riêng của tôi. Nếu lúc ấy tôi xiết cổ nàng, chắc nàng sung sướng để cho tôi giết nàng.

Chỉ ba đêm yêu nhau như đêm ấy chúng tôi yêu nhau thân thể người ta chỉ còn là cái xác không sức sống.

Buổi sáng đến chúng tôi vẫn nằm ôm nhau.

Quỳnh Lan xanh sao. Nàng không nói một lời. Những giọt nước mắt chẩy trên đôi má nàng, những giọt lệ long lanh như kim cương. Ðôi vòng tay kiệt lực của nàng cố gắng ôm chặt tôi.

Trong một lúc, tôi quên tất cả mọi chuyện đã xẩy ra, tôi nói với nàng:

– Chúng mình đi em nhé? Chúng mình đi ngay sáng nay, đi thật xa.

– Không..  Ðừng..

Nàng sợ hãi:

– Sống với nhau mình sẽ khổ lắm. Em không có thể đem lại hạnh phúc cho anh, nhưng em còn sống ngày nào, em còn yêu anh ngày ấy, em sẽ là con nô lệ của anh. Bất cứ giờ nào, nửa đêm, sáng sớm, anh cần em, anh cứ đến với em. Anh cứ cho gọi em. Em sẽ là của anh, anh muốn làm gì em cũng được. Nhưng đừng bắt đời em phải gắn liền với đời anh. Sống vợ chồng với nhau anh sẽ khổ, anh sẽ làm em khổ.

Nàng hôn tôi:

– Nhan sắc em còn vài năm nữa thôi. Hưởng em đi, đừng đòi hỏi gì hơn ở em.

Nàng vừa đi khỏi tôi thấy cuộc đời tôi trống vắng mông mênh. Tôi kinh hãi trước sự trống vắng nàng để lại. Nàng đi rồi mấy tiếng đồng hồ sau tôi như người mất hồn. Tôi ngồi ngây bên giường, nhìn chiếc gối nàng ngả đầu, nhìn trên nệm giường còn dấu thân mình nàng, ngửi mùi hương và mùi tóc, mùi da thịt của nàng. Tôi tự hỏi tôi sẽ sống ra sao khi tôi vẫn yêu thương nàng nồng nàn mà nàng chỉ coi tôi như là một người đàn ông thèm muốn xác thịt của nàng, nàng cho tôi yêu nàng nhưng nàng vẫn ăn nằm với người đàn ông khác.

Ngưng trích.

Nhật ký của Quỳnh Lan. Trích:

Chương yêu thương của em,

Hôm qua ông Hoàng đến thăm em. Em không biết tại sao một người già lão, ốm yếu, cô đơn như ông mà vẫn cứ phải sống mãi. Ngồi bên giường em ba giờ đồng hồ, ông chỉ nói với em có năm, bẩy câu. Những giòng nước mắt cứ lặng lẽ chẩy trên đôi gò má ông. Người ta nói tuổi già hạt lệ như sương, người già ít còn nước mắt, chắc ông đau khổ lắm nên ông mới khóc như thế. Em biết tại sao ông đau, ông khóc: em làm ông nhớ cô con của ông, chắc những ngày cuối cô con ông cũng nằm chờ chết như em. Cô ấy và em cùng đau phổi. Thấy em sắp chết ông nhớ lại cảnh cô con ông nằm chờ chết. Ông đau khổ, ông khóc. Như ông thấy cô con ông chết hai lần. Ông không nói nửa lời oán trách em về chuyện em đã bỏ ông khi em gặp anh.

Những ngày trời xấu lại đến. Không ai đến thăm em cả. Chỉ có chị Hai và Mỹ Linh săn sóc em. Ngọc Sương cũng kiếm cớ bận công việc để tránh phải sang gặp em.

Chương ơi..Em sắp chết. Ông y sĩ của em là người rất lạc quan cũng tỏ ra không còn hy vọng gì cứu sống được em. Em thú thật với Chương chuyện này nhé: Em hối vì em đã nghe lời Ba anh, em hối vì em đã bỏ anh, em tưởng em làm như vậy là đúng, là tốt, nhưng Chương ơi, em đã lầm…

Phải chi ngày ấy em không nghe lời Ba anh! Phải chi chúng ta cứ sống với nhau. Chúng ta yêu nhau, tại sao chúng ta lại không sống với nhau? Chúng mình cứ sống với nhau một năm, hai năm, ba năm, đến khi Chương chán em, Chương bỏ em. Có sao đâu! Làm vợ Chương được vài năm, dù Chương có hận em, có thù ghét em, em cũng chịu, em cũng sung sướng hơn là em yêu Chương mà em không được sống trọn một năm với Chương.

Nếu em được sống với Chương một năm, một năm thôi, ở Phương Lâm, chắc em không đến nỗi phải chết sớm như thế này.

Ngày 5 Tháng Hai

Chương ơi..! Ðến với em. Em đau quá, em sắp chết. Hôm qua, em trở về thăm lại căn nhà chúng ta đã sống với nhau những ngày thần tiên ở Phương Lâm. Mỹ Linh và chị Hai không chịu cho em đi, em nói:

– Không đi tôi cũng sắp chết. Làm ơn đưa tôi đi.

Mỹ Linh đưa em đến Phương Lâm. Hình ảnh Chương trở về với em khi em nhìn thấy căn nhà bên suối của chúng ta. Em ngất đi. Mỹ Linh đưa em trở về nhà.

Em mệt quá, em không viết được nữa…

Chương ơi.. Em yêu anh..!

o O o

Nhật Ký của Quỳnh Lan ngừng ở hàng chữ “ ..Em yêu anh..!”

Tôi – Công Tử Hà Ðông –  không có duyên với La Dame aux Camélias. Trong gần hai mươi năm tôi viết tiểu thuyết phóng tác ở Sài Gòn – từ 1956 đến 1975 – tôi đã không phóng tác La Dame aux Camélias, dù tôi vẫn biết truyện nếu được phóng tác, sẽ rất ăn khách, sẽ có nhiều người đọc. Và tôi phóng tác La Dame aux Camelias ra truyện Việt dễ thôi. Phóng tác là nghề của tôi. Những năm 60 tôi đang thời phong độ, tôi muốn phóng tác truyện nào cũng được. Nhung như đã nói tôi không có duyên với Nàng Marguerite, với La Dame aux Camelias.

Người đọc loại tiểu thuyết phơi-ơ-tông – tiểu thuyết đăng từng kỳ trên những nhật báo, tuần báo – đa số là phụ nữ. Ðôc giả phụ nữ không thích đọc những truyện du đãng, côn đồ đâm chém, bắn giết, người chết; các cô, các bà thích đọc những tiểu thuyết tình cảm trong đó nhân vật chính là những thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, chung thủy, đa tình, những nàng nghèo tiền nhưng không nghèo tình, những nàng kiều nữ gặp những chuyện không may trong cuộc đời nhưng rồi cuối cùng, sau ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh, cũng gặp được Tình Yêu. Tình Yêêu viết hoa cả năm chữ.

Tôi đọc La Dame aux Camélias năm tôi mười tám tuổi, năm 1950 tôi vừa từ vùng kháng chiến Bắc Ninh-Bắc Giang trở về Hà Nội. Năm xưa ấy vốn liếng tiếng Phú-lang-sa của tôi đựng không đầy nửa cái lá mít, tức không được bao nhiêu, tôi đọc tiểu thuyết Pháp mà không hiểu hết, tơi phải đoán nghĩa. Vậy mà năm xưa ấy tôi đã xúc động đến ứa nước mắt vì cuộc tình đẹp quá mà dang dở của đôi người yêu nhau trong truyện.

Thế rồi.. những ngày như lá, tháng như mây.. Mải mê sống và viết, và yêu thương, và sung sướng, và khổ sở, và thấy mình được sung sướng, ở Sài Gòn, trong những năm thanh xuân của đời tôi đôi khi tôi có nghĩ đến chuyện phóng tác La Dame aux Camélias. tôi vẫn tự hứa sẽ có ngày tôi phóng tác La Dame aux Camélias, nhưng tôi đã không làm việc ấy, một việc làm quá dễ với tôi năm xưa.

Nhiều khi tôi vẫn nghĩ sẽ có ngày tôi viết một bài “Viết ở Rừng Phong” về chuyện sau khi được yêu Marguerite, đúng hơn là được Marguerite cho yêu nàng, đêm sau Armand trở lại nhà Marguerite để thấy Marguerite “tiếp khách”, chàng viết cho nàng bức thư trong có câu:

“Adieu, ma chère Marguerite; je ne suis ni assez riche pour vous aimer comme je le voudrais, ni assez pauvre pour vous aimer comme vous le voudriez..”

Văn Việt phóng tác của Hoàng Hải Thủy:

“Vĩnh biệt, Marguerite.., anh không đủ giầu để yêu em như anh muốn, anh  không đủ nghèo để yêu em như em muốn..”

Tôi vẫn nghĩ về câu trên: Tại sao lại đem chuyện giầu, nghèo, tiền bạc vào trong Tình Yêu? Lẽ ra Armand phải nói như thế này:

– Em yêu.. Anh không yêu em đủ để yêu em như em muốn, em  không yêu anh đủ để cho anh yêu em như anh muốn..

Tiền bạc bao giờ cũng thù nghịch với Tình Yêu. Tiền bạc thường giết chết Tình Yêu. Trong cuộc chiến giữa Tiền và Tình, gần như trận nào Tiền cũng thắng. Nhưng trong Cuộc Tình La Dame auxCamélias Tình đã thắng Tiền. Marguerite yêu Armand vì Yêu, khơng phải vì Tiền.

Chậm đến ba mươi năm, sau cùng năm 2002, liêu lạc xứ người – Kỳ Hoa Đất Trích — trở lại với việc phóng tác tiểu thuyết sau hai mươi năm bị bắt buộc phải ngừng làm công việc tôi yêu thích nhất ấy, tôi phóng tác La Dame aux Camélias. Kỳ lạ làm sao..! Bẩy Bó tuổi đời mà Trái Tim Bẩy Bó của tôi vẫn mềm như trái tim tôi năm tôi mười tám tuổi. Không phải mềm như mà là mềm hơn. Khi phóng tác La Dame aux Camélias đến đoạn Quỳnh Lan dục Hồng Chương đi về thủ đô để nàng gặp ông thân của chàng, rồi để nàng đi khỏi căn nhà yêu đương của họ ở Phương Lâm, nước mắt tôi cứ ứa ra. Tất nhiên tôi dư biết đó là chuyện xẩy ra trong tiểu thuyết, chuyện không có thật, nhưng tôi vẫn cứ cảm động như đó là chuyện xẩy ra thật. Tôi nghĩ nếu đó là chuyện thật thì Quỳnh Lan đáng thương biết là chừng nào.

Năm nay mái tóc không xanh nữa.. Tôi đã đau thương, đã nợ nần.. Năm nay, với kinh nghiệm của người đã sống gần hết cuộc đời mình với việc viết truyện, khi đọc lại không nhớ là lần thứ mấy và phóng tác La Dame aux Camélias, tôi thấy truyện có hai vấn đề:

– Thứ nhất: khi đã yêu nhau như Quỳnh Lan, Hồng Chương yêu nhau, người ta không thể bỏ nhau dễ dàng như thế. Ðang yêu nồng nàn, tha thiết, Quỳnh Lan bỏ đi, để lại cho Hồng Chưlng lá thư đoạn tuyệt. Và Hồng Chương chịu thua luôn. Tôi thấy không đời nào Hồng Chương lại chịu mất Quỳnh Lan dễ dàng quá đến như thế. Người tình nào yêu như chàng, được yêu như chàng, cũng hành động như sau: chàng thủ khẩu súng, hay con dao nhọn, đến gặp nàng, kề súng vào thái dương nàng, dí dao vào cổ nàng, gằn giọng hỏi nàng:

“Tại sao em bỏ anh? Nói. Tất cả những lý do em viết trong thư đều không đúng. Tại sao em bỏ anh?”

Trong truyện, đang yêu nhau thắm thiết, Marguerite đột ngột bỏ đi, cùng trở về sống ở Paris mà Armand không một lần gặp mặt Marguerite để hỏi nàng về lý do nàng bỏ chàng, để chính tai chàng nghe nàng nói tại sao. Tôi thấy truyện viết như thế là không đúng tâm lý nhân vật. Chuyện thật không đời nào, dù đời xưa hay đời nay, đời sau, lại xẩy ra như thế. Thêm nữa sau đêm nàng đến với chàng, tại sao chàng không giữ nàng lại, tại sao khi họ gặp lại nhau  họ không lại sống với nhau, họ vẫn yêu nhau mà? Bây giờ họ còn yêu thương nhau hơn trước? Bây giờ họ cĩ thể Yêu nhau và Sống với nhau.

Chuyện thứ hai tôi nghĩ khi ông thân của Hồng Chương đến xin Quỳnh Lan nghĩ đến tương lai của con trai ông mà bỏ con trai ông, Quỳnh Lan có thể nói:

– Ông ơi.. Ông lẩm cẩm quá. Tôi không trách ông, ông có yêu bao giờ đâu, ông đâu có biết gì về Tình Yêu. Con trai ông yêu tôi, lấy tôi làm vợ, là phúc cho nhà ông, không yêu tôi con trai ông sẽyêu, sẽ mê em chơi bời khác, con trai ông đâu thoát được tay gái phong tình thủ đô, yêu mê em khác, lấy em khác làm vợ,  con trai ông, cả nhà ông nữa, sẽ khốn khổ, khốn nạn hơn. Còn cái thằng rể nào định lấy con gái ông mà bỏ không lấy con gái ông vì lý do người anh của con gái ông chơi bời, lấy đĩ làm vợ, là thằng cà chớn. Nó lấy con gái ông hay nó lấy con trai ông? Như thế, nó yêu thương gì con gái ông? Nếu nó lấy con gái ông làm vợ nó rồi, con trai ông mới lấy gái chơi bời làm vợ, nó đuổi con gái ông về nhà ông ư? Dẹp chuyện ông đi, ông ơi. Tôi yêu, tôi không bao giờ bỏ người tôi yêu cả, tôi không bỏ người tôi yêu vì bất cứ lý do gì. Con trai ông yêu tôi, ông để cho chúng tôi vợ chồng với nhau thì tốt cho nhà ông, ông làm toáng lên thì không ăn thua gì đâu, chỉ có hại cho nhà ông thôi. Ông ngăn cản chúng tôi yêu nhau, con trai ông sẽ khổ sở lắm đấy, tôi làm phúc nói trước cho ông biết.

Tôi viết giọng điệu rỡn chơi, nhưng sự thực là thế. Thay vì trả lời như thế, và trả lời như thế mới đúng, Quỳnh Lan đã dại dột bỏ Hồng Chương. Cuộc tình đẹp của hai người tan vỡ, Quỳnh Lan chết thảm – yêu như nàng mà mất Tình Yêu là nàng phải chết thôi – chuyện đó chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch, Hồng Chương không chết nhưng sống như người tàn phế. Tàn phế cả thể xác và tinh thần. Cuộc tình đẹp tan vỡ, hai người yêu nhau một chết thảm, một sống như chết. Không bao giờ Hồng Chương còn được gặp Tình Yêu. Chàng sẽ ân hận suốt đời vì chàng sống mà không có Quỳnh Lan, chàng sẽ oán hận ông bố chàng vì ông đã làm chàng mất Quỳnh Lan.

Với tôi La Dame aux Camélias là một truyện tình đẹp. Tôi đã xúc động nhiều khi tôi đọc truyện. Tôi phóng tác La Dame aux Camélias chậm mất bốn mươi năm; lẽ ra tôi phải phóng tác La Dame aux Camélias những năm 1960, khi tôi trẻ – 30 tuổi – lời văn tôi còn nhuyễn, còn mượt, còn tươi, nhưng cuối cùng hôm nay, ở xứ người, tôi đã phóng tác La Dame aux Camélias.

Tôi đặt tên truyện là Mang Xuống Tuyền Ðài.         

Bây giờ là bốn giờ chiều ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, sau trận bão tuyết để lại những thảm tuyết trắng đất, chiều nay nắng vàng như nắng những chiều mùa thu ở Sài Gòn, tôi nhớ lại những đêm sáu mươi năm xưa ở Hà Nội – 18 tuổi — tôi ứa nước mắt khi đọc lần thứ nhất La Dame Aux Camélias, tôi bồi hồi nhớ lại lần thứ hai tôi ưá nước mắt khi tôi đọc La Dame aux Camélias ở Sài Gòn năm tôi ba mươi tuổi.

Năm 2014, Tháng Ba, khi đọc và sửa lại bài này ở Kỳ Hoa Đất Trích  tôi 80 tuổi, lần thứ ba Chuyện Tình Mang Xuống Tuyền Đài – La Dame aux Camelias – làm tôi ứa nước mắt.

Tôi ký tên Hòang Hải Thủy dưới bài viết này.

CON TẦU IM LẶNG

Người Tù Trần Tử Thanh, Đại Úy Quân Lực VNCH, năm 1988 tù cấm cố trong Phòng 10, Khu ED, Nhà Tù Chí Hòa. Trong Phòng 10 ED  năm ấy có người tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát.

Người Tù Trần Tử Thanh, Đại Úy Quân Lực VNCH, năm 1988 tù cấm cố trong Phòng 10, Khu ED, Nhà Tù Chí Hòa. Trong Phòng 10 ED năm ấy có người tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát.

Từ những năm 1942, 1943 tôi đã được đọc nhiều Thơ. Nhờ anh tôi có hoa tay viết chữ đẹp, lại thích sách, anh tôi mượn nhiều tập thơ – cũng chép tay – của các bạn anh, về nhà chép lại, làm thành tập Thơ của anh; nên tôi được đọc nhiều Thơ ngay những năm tôi chưa đầy 15 tuổi. Tôi đọc Thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, tôi được đọc một số bài Thơ của Tố Hữu. Trong số những bài Thơ Tố Hữu tôi đọc trước năm 1945 tới nay – 60 năm sau – tôi còn nhớ những bài Từ ấy, Châu Ro, Ly Rươu Thọ, và bài Quanh Quẩn.

Nhớ nhưng không nhớ được toàn bài, mỗi bài tôi  nhớ vài câu. Năm tháng qua – không phải năm, mười năm mà là năm, sáu mươi năm – những năm 1987, 1988 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hòa dzài dzài trong 5 năm, tôi nhớ một câu trong bài Thơ Quanh Quẩn của Tố Hữu:

Đây con tầu im lặng vượt thời gian.

Tuyệt! Phòng tù là con tầu im lặng vượt thời gian. Không lời nào tả cảnh phòng tù hay hơn và đúng hơn: “Con Tầu Im Lặng.” Tôi thấy câu thơ hay quá. Không biết đó là ý Tố Hữu nghĩ ra hay Tố Hữu lấy ý từ lời một người nào khác. Không gì diễn tả đúng cuộc sống trong tù bằng câu:

“Đây  con tầu im lặng vượt thời gian.”

tothuyyenTháng Hai 2014 tôi viết bài này. Tôi tìm được bài Thơ Quanh Quẩn:

Có ngang dọc mới hiểu buồn quanh quẩn
Khổ vô biên của ngày tháng khô khan.
Ðây con tàu im lặng vượt thời gian
Toa lớn nhỏ quanh năm vừa chật chỗ.
Khách chen chúc trên hai hàng sập gỗ
Một lối đi vừa rộng giữa bờ xai
Những tường cao và những chấn song gài
Chuồng tiêu giữa hai ô phòng nhỏ nhỏ
Giản tiện quá: chơi, nằm, ăn, ỉa đó.
Ðủ ba mùi: vôi, cứt với mồ hôi
Trộn hoà nhau làm nên một thứ mùi
Cay nồng nặc của bọn người khốn nạn
Mà muỗi rệp cũng hè nhau đốt cắn
Mà đến loài chí rận cũng không tha!
Mỗi người đi khi lãnh vé vào toa
Là cảm thấy mình sa vào địa ngục
Nơi phải nuốt chua cay và tủi nhục
Trọc lóc đầu, số áo đã thay tên
Bàn tay trơn còn đâu nữa tự quyền
Còn đâu nữa mênh mông đường hoạt động!
Thân giam cấm như con thuyền bin rộng
Sống loanh quanh trong một vũng ao tù
Ðời lặng thầm không một tiếng vang to
Trăm ý nghĩ không ngoài khuôn chật hẹp
Ngày cứ thế, vươn lên rồi cửa khép:
Nghĩa là trưa; lại m: nghĩa là chiều
Rồi là đêm, cửa khoá. Ngọn đèn treo
Bật cháy sáng. Thì thầm rồi yên tĩnh
Toa tàu đổi làm một căn phòng bệnh
Những chăn đơn phủ kín những hình hài…
Rồi lại mai, trưa, chiều, tối: một ngày mai
Tuy khác đến, nhưng để rồi lại cũ.
Mùa đổi áo trên những cành gội nhỏ
Một khung trời mưa nắng, bốn tường câm

Ga thời gian, từng chặng, mắt vừa tầm
Khách đôi kẻ trông ra ngoài tính nhẩm…
Ngày đi chóng bởi không chờ, tháng chậm
Khách dài lâu ngao ngán rủa bâng quơ
Ở ngoài kia, bao kẻ đợi người chờ!
Bao đồng chí, những ai còn ai mất?
Trái đất hỡi, sao mà mi vẫn chật!
Ðừng ai vô thêm nữa, bạn đời ơi
Rát mắt trông ra, cửa sắt ngăn trời
Ôi đêm tối những nơi nào lửa đỏ?

Nếu đôi lúc ta hát thầm nhỏ nhỏ
Dưới gầm xai, hay cười nói huyên thuyên
Như một thằng trẻ dại, một thằng điên
Là để khổ trong những giờ im lặng
Ðể nuốt bọt với bao nhiêu mật đắng
Của một đời cách biệt khối đời chung
Рnao nao với những mộng khôn cùng
Ðể cháy ruột mơ những ngày hoạt động.

Lao Thừa Thiên, Tháng 6-1939

Tôi đọc bài Thơ Đợi Anh Về của Tố Hữu năm 1946 ở Hà Đông, thành phố thời thơ ấu của tôi. Với tôi, Lời Thơ tuyệt hay. Tôi thán phục tài phóng tác Thơ của Tố Hữu qua bài thơ Đợi Anh về. Đây là bài Thơ phóng tác Hay nhất trong năm bẩy bài Thơ Phóng Tác tôi được đọc, như bài Tỳ Bà Hành:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.
Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Tù xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương đất khách gối sầu hôm mai….

Như lời Thơ Khóc Chiêu Quân của Tản Đà, ông Nguyễn Thiện Kế phóng tác từ lời Thơ Chữ Hán:

Cô ơi, cô đẹp nhất đời,
Mà cô mệnh bạc, Thợ Trời cũng thua.
Một đi từ biệt cung vua,
Có về đâu nữa, Đất Hồ ngàn năm!

laoxaTố Hữu: Đợi Anh về

Em ơi, đợi anh về
Đợi Anh hoài Em nhé,
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê
Thì Em ơi cứ đợi.

Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy Em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi Anh hoài Em nhé.

Tin Anh dù vắng vẻ,
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì Em ơi, cứ đợi.

Em ơi, Em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong Anh trở lại

Dù bạn viếng hồn Anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì Em ơi mặc bạn
Đợi Anh hoài nghe Em
Tin rằng Anh sắp về.

Đợi Anh, Anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ

Nào có biết bao giờ
Bởi vì Em ước vọng,
Bởi vì Em trông ngóng
Tan giặc, bước đường quê
Anh của Em lại về.

Vì sao Anh chẳng chết
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu Em ơi
Chỉ vì không ai người
Biết như Em chờ đợi.

Với tôi bài Thơ tả tâm trạng Người Tù trở về Hay Nhất là bài Ta Về của Tô Thùy Yên:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen 

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.

Tuyệt diệu hảo từ !!!

Năm 1976 tôi được đọc bài Thơ sáng tác trong năm của Thi bá Vũ Hoàng Chương:

Chàng về trong mộng đêm đêm
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Xa nhau nàng vẫn mong chờ
Vẫn mê trong mộng giấc mơ liền cành.
Biết đâu chàng đã trở thành
Xương tàn một nấm vô danh bên trời.
Bờ sông, bãi cát bồi hồi
Đã khô rồi, đã trắng rồi! Biết đâu!
Chữ Đồng tạc lấy cho sâu.
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.
Là Nam, Bắc, là Âm, Dương?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây!

o O o

Châu RoLy Rượu Thọ Tố Hữu, làm trước năm 1945, bị bỏ.

Châu Ro ơi, xa rừng quê núi cũ
Tù nơi đây buồn lắm phải không anh?
Người Thượng già đương mải ngó xa xanh
Với đôi mắt dại đờ trong tuyệt vọng
Bỗng quay lại, cơ chừng nghe xúc động
Cả một lòng thương nhớ dưới chiều đi
Anh nhìn tôi, đau đớn, rồi thầm thì:
“Tôi nhớ lắm, chui cha, tôi nhớ lắm!”

Ôi tiếng nhớ sao mà nghe buồn thảm
Nó kéo dài như một tiếng dê kêu
Lạc bầy đi ngơ ngác dưới sương chiều…
Tôi để lặng nghe nỗi lòng đau khổ
Của anh bạn, trong khi sầu não đó
Kể bên tai, bằng một giọng rừng non:
“…Mấy năm rồi, xa cái vợ, cái con

Tôi nhớ lắm! Nhớ cái nhà, cái cửa
Nhớ cái rẫy nhiều khoai, nhiều bắp lúa
Nhớ con bò to, nhớ mấy con heo
Không biết còn, hay Ông  bắt chết queo
Ðể con đói với vợ nghèo trong núi?”
Rồi bỗng lặng trầm ngâm anh rã rượi
Há hốc mồm như để gió rừng xa
Của quê hương đem lại chút hơi nhà…

Và dưới bóng mây đen, trong hộc tối
Như hang đá chiều hôm dày khí núi
Ðọng sương mờ trên đôi mắt chứa chan
Bao nhớ nhung, thờ thẫn, ngó lên ngàn…
Anh không khóc nhưng vì đâu chẳng biết
Có lẽ bởi bao nhiêu điều nhớ tiếc
Trong lòng anh hun lại khối căm hờn
Những bàn tay độc ác đã chia tan
Tổ yên ấm trên đầu ngàn, ngọn núi
Tôi bỗng thấy chớp loè lên dữ dội
Lửa thù trong đôi mắt tối chiều đông
Ðôi vành môi thành một lưỡi dao cong
Anh nghiến chặt hai hàm răng lẩm bẩm:
“Ðau cái bụng , ui chui cha, tức lắm!”

Và hồi lâu, bên ngưỡng cửa song tù
Tôi còn nghe tiếng nói của Châu Ro:
“Ðau cái bụng, ui chui cha, tức lắm!”

Lao Bảo, mùa đông 1940

Bài Châu Ro bị bỏ đi vì – theo tôi – trong đó Tố Hữu tả không đúng cảnh cuộc sống của người Thượng. Trong bài thơ năm xưa lời thơ là:

Người Mọi già đang mải ngó xa xăm.

Sau năm 1970 “người Mọi” được đổi là “người Thượng.”

Người Thượng những năm 1940 vẫn sống đời du mục, họ không cầy cấy nên không nuôi bò.

“…Mấy năm rồi, xa cái vợ, cái con
Tôi nhớ lắm! Nhớ cái nhà cái cửa
Nhớ cái rẫy nhiều khoai, nhiều bắp lúa
Nhớ con bò to, nhớ mấy con heo
Không biết còn, hay Ông  bắt chết queo
Ðể con đói với vợ nghèo trong núi?” 

“Ông” đây là Ông Hổ, Hổ bắt bò, bắt heo của Châu Ro. Bài Thơ này không có ý thơ, lời thơ nào kết tội Thực dân Pháp.

Tố Hữu: Ly Rượu Thọ

Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung bờm vang hí giữa tàn quân
Ải quân  xa bốc khói, đỉnh non gần
Ðã khuất phục dưới lá cờ quân Nhật.
Trán kiêu hãnh lần đầu trông xuống đất
Mã nghẹn ngào: “Thôi hết, Mãn Châu ơi!”
Và buông cương, nín lặng chẳng nên lời…

Rồi từ đó, và gươm vàng võ phục
Và cừu hận và lòng sôi rửa nhục
Mã chôn sâu trong một cõi trời riêng
Buông hồn đau rủ nhúng suối ưu phiền.
Cốt oanh liệt  khoác màu tro ẩn sĩ
Rượu cứ rót cho say sưa lạc hỉ
Ðàn ca lên cho át tiếng đầu rơi
Dưới gươm bay vun vút ánh xanh trời.
Mãn Châu Quốc trong  những giờ hấp hối
Gượng kêu lên, hỡi ôi lời trăn trối:
“Chiếm Sơn đâu, cứu nước, Chiếm Sơn ơi!”

Thì nơi kia Mã vén trướng, tươi cười
Cúi lạy mẹ, dâng  mừng ly rượu thọ.
Ðào xuân thắm dâng hương vào cửa sổ
Bạc xuân trong rắc trắng mái hành lang.

Mẹ ngồi yên, như cốc nước e tràn
Không dám động – và nhìn con lặng lẽ
Nhưng mắt yếu bỗng rưng rưng ngấn lệ
Trán nhăn nheo bỗng ửng máu tim già
Và bàn tay run rẩy đỡ ly ngà
Bỗng quật xuống nền hoa: ly rượu vỡ!
Ly rượu vỡ tan tành. Ôi bỡ ngỡ
Ôi hãi hùng. Mã tướng run toàn thân!

Lần đầu tiên, Mã tướng run toàn thân!
Ngoài chiến địa, Chiếm Sơn hằng ngạo nghễ
Trông lửa đạn là trò chơi con trẻ
Mà hôm nay Mã tướng run toàn thân
Mà hôm nay Mã tướng chết hai phần!
Nét nghiêm khắc cong vòng cung môi mỏng
Nghe sôi sục cả linh hồn nóng bỏng.
Người mẹ già thét lớn: “Mã Chiếm Sơn!”
Mã run lên. “Ðâu giọt rượu căm hờn?
Mãn Châu quốc nghe không mày, rên rỉ
Dưới gót sắt của Phù Tang ích kỷ
Ðang mang quân giày xéo cả Trung Hoa
Nước Trung Hoa yêu dấu của lòng ta
Ðã thống khổ bởi bao xiềng ngoại quốc!
Chưa vừa ư những tai ương thảm khốc
Ðã đè trên dân tộc nước non mày!
Có chi vui sông núi đỏ tràn thây
Mà Mã tướng hơm nay dâng rượu cúc?
Rượu cúc ấy, Chiếm Sơn, là rượu nhục!”

Rừng phong xa loáng bạc nắng lung lay
Hoa đào bay, trước giĩ, hoa đào bay
Trong hoa tuyết trắng ngần rơi lả tả…
Mùa xuân ấy năm nghìn quân của Mã
Ðánh tan xương quaân Nhật, một sư đoàn.

Bài Thơ Ly Rượu Thọ bị bỏ vì Tố Hữu sai lập trường giai cấp khi ca tụng Mã Chiếm Sơn, một nhân vật Lãnh Chúa-Quân Phiệt của Mãn Châu. Cộng sản thù nhất những nhà Quân Phiệt-Lãnh Chúa như Mã Chiếm Sơn. Ca tụng Quân Phiệt Mã Chiếm Sơn là việc làm ngu ngơ, ngớ ngẩn của người đảng viên Cộng sản Tố Hữu.

MỘT LỨA BÊN TRỜI


Cùng một lứa bên trời lận đận.
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương Đất Trích gối sầu hôm mai.

Bạch Cư Dị

CTHĐ: Bài này anh H2T viết khi anh mới đến Kỳ Hoa, Tháng 2 năm 1995. Năm xưa ấy anh H2T chưa viết bằng computer. Đêm qua tìm thấy bài viết của anh trong bao đựng những bài viết cũ, tôi gõ máy ghi lại cho anh. Đây là bài viết thứ nhất của H2T trên Xứ Kỳ Hoa.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ngày 25 Tháng Hai, 2014. 

o O o

thanhlanHOÀNG HẢI THỦY
Viết gửi THANH LAN
Đăng trên Tuần Báo Diễn Đàn Tự Do, Virginia

Ngày 11 Tháng 2, 1995.

MỘT LỨA BÊN TRỜI

Bấy giờ tháng mấy ngày Em đi? Em chỉ đặt chân lên đất này nhiều lắm là hai, ba tháng trước ngày Alice và Anh ngơ ngác, mệt mỏi, như mơ như tỉnh dắt nhau bước vào phi cảng San Francisco. Lúc đó là 11 giờ sáng ngày 9 tháng 11 năm 1994. Từ phi cảng San Francisco vợ chồng anh lên phi cơ bay sang WashingtonDC. Trời mưa lớn, phi cơ phải ngừng đêm ở hicago. Vợ chồng anh đến WashingtonDC lúc 11 giờ trưa ngày 10 tháng 11, 1994.

Khi vợ chồng Anh sống ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, đang bận rộn mờ mịt cả người vì những thủ tục phải làm trước khi xuất ngoại thì nghe tin Em đã đến Mỹ và ở lại Mỹ. Anh chỉ nghe chuyên Em loáng thoáng tai nọ qua tai kia vì như Anh đã viết Anh đang vất vả với chuyện để lại cái nhà nhỏ xíu cho các con anh, việc đi khám sức khỏe..v..v.. Nhưng chỉ nghe loáng thoáng thôi anh cũng biết em bị đời vùi dập ở cả hai nơi: nơi em bỏ đi và nơi em đến.

Dân tộc ta có câu “Đánh kẻ chạy đi, không đánh kẻ chạy lại.” Nhưng với em thì cả hai nơi – nơi em bỏ đi, nơi em đến – em đều bị người ta đánh. Thanh Lan ơi.. Anh thương em. Dù chúng ta cùng làm “dzăng nghệ, dzăng gừ” ở thành phố Sài Gòn cả hai mươi năm trời nhưng “chuyện khó tin nhưng có thật chăm phần chăm” là chưa bao giờ anh gặp em một lần, được nói với em một tiếng, được cười với em một cười.

Nhưng mà cần gì, chưa từng gặp mặt nhau mà thương nhau, mà viết cho nhau, có gì là không được? Cùng một lứa bên trời lận đận. Chúng ta cùng một nòi tình thương người đồng điệu. Động hoa vàng có tên nhau. Thương thì thương nhé, qua cầu gió bay. Tiếng em buồn cuối sông này. Mây đầu sông thẫm bóng ngày thương em.

Bây giờ em ở đâu? Không còn.. “Bến Hải hay Cà Mâu” nữa mà là Cali hay Texas? Santa Ana hay San Diego, San Jose? Anh thương em bởi vì:

Em cũng sống vất vả như anh ở thành phố Sài Gòn của chúng ta bị đổi tên là hành Hồ tới hơn mười chính năm trời. Không phải cuộc đời chỉ có em và anh vất vả. Nhiều người lắm. Nhưng em và anh là hai văn nghệ sĩ bị kẹt lâu nhất ở Thành Hồ. Rất nhiều văn nghệ sĩ cũng bị kẹt như chúng ta sau Ngày 30 Tháng Tư oan nghiệt trời long đất ngả nghiêng; nhưng trong những năm sau đó kẻ trước, người sau, người đi sớm, người đi muộn, đại đa số văn nghệ sĩ đã đi thoát được. Ở đây người ta gọi em là “Nữ ca sĩ cuối cùng từ Sài Gòn ra đi.” Anh thấy đúng. Em đi rồi Sài Gòn chẳng còn nữ ca sĩ nào của Sài Gòn nữa. Anh không được bằng em. Khi anh bỏ Sài Gòn anh đi, Sài Gòn vẫn có nhiều người viết hay hơn anh, những người viết từ trước năm 1975. Nhiều đêm, những đêm hai năm đầu 76, 77 trong căn gác hẹp của vợ chồng anh ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, nửa đêm, gần sáng, bàng hoàng tỉnh giấc anh thấy mặt gối anh ẩm và lạnh. Anh biết nước mắt anh đã ứa ra trong lúc anh ngủ. Đó thời gian anh làm những câu thơ gửi em và những người em gái của anh như em:

Muối nào bào dạ xót sa
Dao nào cắt trái tim ta đêm ngày?
Khóc trong giấc ngủ nào hay
Tỉnh ra sao thấy gối này đẫm sương.
Anh nghe từ cuối canh trường
Tiếng ek khóc ở mười phương vọng về.
Còn em trong mộng, trong mê
Có nghe má lạnh tái tê giọt sầu?
Có nghe trên tóc phai mầ
Lệ anh ướt nửa mái đầu không em?

Trong gần hai mươi năm sau năm 1975 biết bao lần em khóc, anh khóc? Cuộc đời và loài người còn muốn chúng ta khóc đến bao giờ nữa? Anh viết rõ: “Muốn em khóc đến bao giờ?” Em khóc vì em mang lấy nghiệp vào thân. Tại em tài sắc nên em bị lụy vì tài sắc của em. Nếu em may mắn em tầm thường, em có đòi khóc cũng chẳng có ai mất thì giờ làm cho em khóc.

Năm 1987 hay 1988 anh không nhớ đúng năm nào, anh chỉ nhớ trong hai năm đó anh đang ở Phòng 10 ED Khám Chí Hòa, có đoàn quay phim vào trong sân nhà tù quay cảnh nhà tù cho phim Ván Bài Lật Ngửa. Anh nghe nói trong đoàn quay phim có Lê Hoàng Hoa, và Thanh Lan. Nhiều anh em tù leo lên nhìn qua hai hàng song sắt xuống sân mong thấy cảnh quay phim. Anh nghĩ không biết em và Lê Hoàng Hoa có biết anh đang có mặt trong nhà tù này hay không.

Vài tháng sau trong một lần anh được ra nhận quà nuôi và gặp gia đình, con anh hỏi:

- Thanh Lan vào đây đóng phim có gửi quà cho bố, bố nhận được không?

Anh hỏi con anh “Sao con biết Thanh Lan gửi quà cho bố?” Con anh nói:

- Mang đồ vào gửi bố xong con ngồi uống cà phê ở căng-tin. Mấy em bán căng-tin biết con là con của bố, nói cho con biết khi vào đây đóng phim Thanh Lan có xin cán bộ gửi quà cho bố.

Mấy em bán căng-tin trong nhà tù Chí Hòa cũng là nữ tù nhân. Nhưng quà của Nữ ca sĩ Thanh Lan không đến được phòng giam trong có anh Tù Hoàng Hải Thủy. Từ căng-tin đến phòng anh là bẩy lần cửa sắt. Quà Em qua làm sao được, nhưng Tình Em đã đến với anh. Anh cám ơn Em.

Tháng 4 năm 1976 bọn Công An Thành Hồ bắt vào tù một lô văn nghệ sĩ. Một số vẫn được để cho sống vất vưởng ngoài nhà tù. Trong số đó có em và anh. Còn nhiều người khác nữa. Tháng 7 năm ấy bọn Văn Nghệ Thành Hồ mở cái lớp gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Trước sau có hai khóa. Anh đi dự Khóa 2, gặp Lệ Thu, Mộng Tuyền, Thanh Tuyền, Băng Châu. Không thấy có em, Thanh Lan. Em dự Khóa Bồi Dưỡng 1 với Thái Thanh, Thẩm Thúy Hằng, Hoài Bắc, phải không? Hay tháng đó em vượt biên bị bắt? Anh nghe nói em đi chui nhiều lần và em bị bắt nhiều lần. Anh không một lần đi chui. Có thể phần đi chui của anh đã được em sài hết.

Mười chín năm hơn lận đận ở quê hương chẳng lần nào ta gặp nhau. Năm 80 khi anh ở tù lần thứ nhất – 2 năm – trở về, có lần anh đạp xe đi với Phan Nghị qua đường Tú Xương. Phan Nghị chỉ cho anh thấy một bà ngồi tráng bánh cuốn ở vỉa hè, bảo anh:

- Bà mẹ của Thanh Lan đấy.

Năm 90 anh trở về nhà sau lần tù thứ hai – 6 năm – Sài Gòn đã có TiVi Mầu. Thấy em hát trên TiVi, vợ chống anh nói với nhau:

- Thanh Lan vẫn đẹp. Thanh Lan hát vẫn hay.

Thanh Lan, như Thái Thanh, như Lệ Thu.. là những người hát yêu mến của vợ chồng anh. Nay anh thấy anh gần em hơn vì em đã ở lại Sài Gòn với vợ chồng anh đến gần hai mươi năm.

Năm 1990 anh đã là ông ngoại. Anh nghe nói năm ấy em cũng đã là bà ngoại?  Anh tặng em danh hiệu “ Bà Ngoại Đa Tình” như anh đã tặng Alice khi vợ chồng anh có cháu ngoại.

Anh không phải là Bạch Cư Dị, em không phải là nàng kỹ nữ ôm đàn tì bà trên sông nước Tầm Dương. Nhưng cần gì, chúng ta vay mượn của người xưa chút tình để nói lên tình thương nhau của chúng ta:

Nghe đàn ta đã trạnh sầu
Lại buồn vì nỗi trước sau mấy lời.
Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương Đất Trích gối sầu hôm mai.

Chịu khó nghe anh kể chuyện này: chuyện nói lên cái nghiệp của những người chẳng may tài hoa. Ngày xưa Cao Bá Quát – anh trọng mến ông Cao Bá Quát vì ông là thi sĩ, vì ông bị tù, vì ông bị đời hành hạ. Trong tù ông làm bài thơ Cây Roi Song hay tuyệt cú mèo. Khi trong tù được tin bà vợ qua đời, ông viết tặng bà mấy câu:

Nữ vô duyên vi tài tử phụ.
Nam bất hạnh tác hồng nhan phu.

Em không phải là khách hồng nhan – người đàn bà đẹp – anh không phải là người có tài. Tại sao chúng ta cùng đau khổ!

Người đàn bà duyên phận chẳng ra gì làm vợ người chồng tài hoa, người đàn ông không may làm chồng người đàn bà  đẹp. Cao Bá Quát than:

- Nếu em là người đàn bà đẹp, anh là người có tài, chúng ta đau khổ cũng tạm gọi là được đi. Nhưng anh không có tài, em không đẹp lắm. Tại sao chúng ta lại đau khổ?

Khi ta không trả lời được câu hỏi, ta hỏi người, khi người cùng thời với ta không trả lời được câu ta hỏi, ta đành hỏi Trời. Nhưng cũng vô ích mà thôi, bởi vì:

Hốt tình, hốt vũ, Thiên vô định.
Vi hải, vi tang, Địa diệc lao.

Thay đổi nào ai biết tại sao.
Tại sao? Câu hỏi tự khi nào?

Cũng buồn, cũng giận, Trời mưa tạnh,
Cùng khổ, cùng đau, Đất biển dâu.
Ai thua, ai được, người điên tỉnh.
Khi còn, khi mất, vật thương đau.
Hỏi sao còn mất, sao thay đổi?
Đất dại, Trời ngu, có biết đâu!

Em hồng nhan, em tài hoa. Đời em vất vả đứt đuôi con nòng nọc. Còn anh, may cho anh, anh chỉ có chút tài phóng tác tiểu thuyết. Alice là người được hai anh Công An Nam Kiên và Minh Thi mô tả trong quyển “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” là “người phụ nữ sinh trưởng ở đồng bằng sông Cửu Long có nhan sắc trên mức bình thường..” Alice có nhan sắc trên mức bình thường nên anh cũng khổ, song anh chỉ khổ tí ti thôi. Trên Cầu Đoạn Trường mà gần như tất cả những công dân Quốc Gia VNCH đều phải đi qua, anh cũng đi qua cầu, nhưng anh chỉ lên cầu đi một quãng là nhẩy xuống. Anh cũng bị tù đầy nhưng chỉ qua loa gọi là có. Cuối cùng vợ chồng anh cũng dắt díu được nhau lên phi cơ bay một lèo qua Thái Bình Dương.

Anh đến đất Mỹ tính đến hôm nay, khi anh viết gửi em bài này, là 63 ngày. Như những người mới vào tù thường tính: “Tù hai tháng, tù sáu tháng rồi..” Khi ở tù lâu hai, ba năm, người tù không tính thời gian nữa. Người sang Mỹ cũng thế. Thời gian đầu nhớ tháng, nhớ năm. Rồi quên. Đôi khi nhớ lại:

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay.
Xuân đến hoa mai, hoa mận nở
Riêng em với anh buồn lắm thay.
Quê nhà xa lắc, xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay…

Thi sĩ Nguyễn Bính năm xưa chỉ mới lưu lạc đến xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh; sáu mươi, bẩy mươi năm xưa dù cho cảnh và người Nam Kỳ có xa lạ bao nhiêu với chàng Thi sĩ Bắc Kỳ thì đất ấy, người ấy vẫn là đất Việt Nam, là người Việt Nam, vẫn là đất nước của Thi sĩ. Nhớ quê, nhớ nhà Thi sĩ chỉ mất một khoản tiền và ba ngày, ba đêm ngồi tầu hỏa là Thi si đã về đến Ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Thi sĩ Quang Dũng đi kháng chiến ở bên sông Đáy những đêm trời tối Thi sĩ có thể nhìn thấy Hà Nội mờ sáng ánh đèn điện nơi chân trời, đã làm những câu thơ:

Xa quá rồi em, người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau..

Bây giờ chúng ta xa quê hương đến cả một đại dương, xa những người ta yêu thương một nửa vòng trái đất. Vợ chồng anh còn con cháu sống ở Sài Gòn, anh chắc em cũng có tâm trạng như vợ chồng anh. Bây giờ khi chúng ta thức, con cháu chúng ta ngủ.

Bây giờ mới thật là xa cách
Xa nửa tinh cầu, cách đại dương.
Khi anh trên gối mi sầu khép
Là lúc em nhìn thấy thái dương.
Cho anh ép nốt dòng dư lệ
Mưa trắng hồn Em ở viễn phương.  

Vàng Phai Mấy Lá

Đoàn Chuẩn và Từ Linh. Hà Nội năm 1942

Đoàn Chuẩn và Từ Linh. Hà Nội năm 1942

Cùng với Thơ Ðinh Hùng, Thơ Hoàng Cầm, Nhạc Ðoàn Chuẩn đến với tôi năm tôi tuổi đời bằng tuổi em Kiều Thúy, tức đôi tám, lại tức Một Bó lẻ Bẩy, Tám Que. Năm ấy là năm 1950, thời gian mắt tôi sáng, tóc tôi  xanh. da thịt tơi thơm mùi phấn hoa niên. Và từ năm ấy đến nay đã bẩy mươimùa lá rụng trôi qua cuộc đời– hơn một nửa thế kỷ, gần trịn 100 năm –qua bao nhiêu tang thương biến đổi, tôi vẫn thấy Nhạc Ðoàn Chuẩn làm tôi rung động và tôi vẫn yêu Nhạc Ðoàn Chuẩn như ngày tôi còn trẻ, thời tôi  chưa biết yêu..

Tôi không có khiếu về âm nhạc, tôi không có cái các nhà quân tải Tây gọi là “oreille musicale”. Tôi yêu nhạc, thích đàn nhưng tôi học nhạc hổng có dzô. Lần thứ nhất năm 1950 tôi học guitare espagnole Thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, lần thứ hai năm 1960 tôi học Thầy Lâm Tuyền ở Sài Gòn–Thầy Lâm Tuyền đã qua đời ở Thành Hồ, tôi chắc Thầy Tạ Tấn cũng đã ra đi vĩnh viễn từ  Hà Nội — nhưng hổng dzô là hổng dzô. Tuy có đủ điều kiện để học Nhạc– nói Học Nhạc cho có vẻ long trọng; thực ra chỉ là việc phừng phưng mấy accord đàn Espagnole, solo vài bản nhạc tủ. Trò vặt này nhiều anh chẳng cần phải học hành gì cả cũng mần được, nhưng tôi cũng mần không được và kết quả là tôi mù tịt về Nhạc. Như Sinclair Lewis, Văn sĩ Mỹ Giải Nobel Văn Chương, viết trong tác phẩm The Life of Dr. Arrowsmith:

“Những bản nhạc nói là tả cảnh núi cao, rừng sâu mà nghe như đấm vào tai..”

Nghe những bản nhạc cổ điển của những ông Bach, Mozart, Chopin tôi cũng chỉ thấy như tôi bị đấm vào tai.

Bởi vậy khi tôi nói tôi yêu Nhạc Ðoàn Chuẩn đó là tôi muốn nói tôi yêu Lời Nhạc của Nhạc Ðoàn Chuẩn. Những Lời Nhạc như Lời Thơ. Tuyệt đại đa số Thi sĩ ta mù tịt về Nhạc, nhưng nhiều Nhạc sĩ ta làm được Thơ. Không những chỉ làm được Thơ mà thôi, nhiều Nhạc sĩ ta làm Thơ rất hay. Như Văn Cao:

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ,
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ.
Vương vất heo may hoa yến mong chờ.
Ôi tiếng cầm ca.. Thu tới bao giờ…

Trương Chi

Như Ðặng Thế Phong:

Ðêm nay thu sang cùng heo may
Ðêm nay sương lam mờ trong mây.
Thuyền ai lờ lững trôi suôi dòng?
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…

Con thuyền không bến

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày tôi cảm khái Lời Thơ Lá Thư của Vũ Hoàng Chương, tơi gọi bài Thơ này là bài Kiều Thu::

Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay,
Hương mùa xuân mất ngậm ngùi bay.
Xa sôi trang giấy thơm mùi tóc,
Dáng chữ thanh tao gợi nét mày.
Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi nguyệt,
Trần ai nào lấm được thơ ngây.
Trán nghiêng tâm sự môi còn mím,
Như thưở ban đầu mộng chớm xây.
Viết gửi cho ta niềm tưởng nhớ…
Hồn phong ân ái bức thư này.
Em ơi thăm thẳm mười năm cách.
Gập lại nhau rồi Em có hay?
Trong mộ thời gian chừng đã thấu
Tờ hoa kinh động, sắc hây hây…

Và đây là lời Thơ Nhạc Ðoàn Chuẩn, bài Lá Thư:

Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau lá thư ngào ngạt hương,
Nét bút đa tình lả lơi…
Nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng..
Chờ đến kiếp nào, tình đầu trong gió mùa..  Người yêu ơi..!
Em nay về đâu? Phong thư còn đây..
Nhớ nhau..Tìm nhau trong ánh sao..!
Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu… Ngồi xõa tóc thề.. Hẹn lời ân ái..
Trôi tới bến nào.. Hình dáng thuyền yêu..!

Thời gian như xóa lời yêu đương. Thời gian phai dần mầu bao lá thư.
Anh quay về đây đốt tờ thư, quên đi niềm ân ái ngàn xưa.
Ái ân theo tháng năm tàn. Ái ân theo tháng năm vàng.
Tình người nghệ sĩ phai rồi.

Nhớ tới mùa thu năm nao một mình anh lênh đênh rừng cùng sông…
Chiếc lá thu dần vàng theo. Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu..
Ngồi xõa tóc thề.. Còn đâu ân ái chăng..! Người xưa..!

Cám ơn bạn chịu khó đọc tôi đến những dòng này. Bạn thơm như múi mít, bạn hăng mùi tỏi tươi, tôi xin cám ơn. Bạn thơm như múi mít tôi cám ơn tám lạng, bạn hăng mùi tỏi tươi tôi cám ơn nửa cân. Tôi để dành bạn việc so sánh Lời Thơ Vũ Hoàng Chương, Lời Nhạc Ðoàn Chuẩn qua hai tác phẩm để đời hai ông viết về những Lá Thư Tình của hai ông. Tôi không lạm bàn. Tôi chân chỉ hạt bột, Tơi Cơm Nhà, Quà Vợ thuần thành. Cả đời tôi chỉ có một người đàn bà yêu thương tôi. Người đàn bà ấy là vợ tôi. Mà vợ tôi thì nàng sống liền tù tì bên cạnh tôi từ năm mươi mấy năm trời nay–tất nhiên trừ những năm bọn Việt Cộng ác ôn, côn đồ nhốt tôi trong tù–nàng sống bên tôi vảnh cát suya vảnh cát. 24/21. Cả đời nàng chẳng viết cho tôi bức thư nào. Những người yêu nhau, gần nhau vảnh cát suya vảnh cát mỗi ngày không còn thì giờ đâu để viết thư tình cho nhau. Người yêu, người tình thì tôi hổng có. Chẳng bao giờ tôi nhận được thư tình, thư ái gì của ai nên tôi thấy tôi không có thẩm quyền bàn tán vẩân vương về những lá Thư Tình của hai nhà nghệ sĩ chính cống Bà Lang Trọc.

vuhoangchuong

Tôi chỉ có thể ca tụng thiên tài và tác phẩm của hai ông. Tôi đã viết về Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, hôm nay tôi viết về Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn. Vũ Thi sĩ đã về ngôi cuối năm 1976 ở Sài Gòn: Sau Tháng Tư 1975 Thi sĩ bị bọn Cơng An Thành Hồ giam tù 10 tháng, tội “sáng tác thơ văn phản động.” Trở về với bà vợ ông trong căn nhà nhỏ ờ Khánh Hội khoảng mười ngày sau Thi sĩ qua đời.

Ngày nào ta trở về ngôi. Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian. Ta van cát bụi bên đường. Dù trong, dù đục đừng vương gót này. “

Nhạc sĩ Đòan Chuẫn vĩnh biệt cõi đời ngày 16 tháng 11, 2001 ở Hà Nội. Tôi thầm gửi bài viết này đến Nhạc sĩ để bầy tỏ niềm cám ơn Người.

Thi sĩ Tản Ðà được người đời ca tụng vì có những câu, những tiếng gọi là: “câu thần, tiếng thần” trong thơ. Như hai tiếng “vèo trông” trong câu:

Vèo trông lá rụng đầy sân..
Công danh phù thế có ngần ấy thôi…

Tôi thấy Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn xử dụng ngôn ngữ thật thần kỳ. Như lời Tình Nghệ sĩ:

Ðây khách ly hương mấy thu vàng ấm.
Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng.
Mơ tới bên em, em tô quầng mắt,
Em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung…

Mấy thu vàng ấm..” Mèn ơi.. Tôi chịu hai tiếng “vàng ấm” quá xá. Ta chỉ nghe nói “vàng phai, vàng úa, vàng võ, vàng khè”, đôi khi ta nghe nói “vàng óng.” Nhạc sĩ gieo hai tiếng “vàng ấm” làm tôi ngất ngư con tầu đi. Chưa cần nghe nhạc Ðoàn Chuẩn qua những giọng ca vàng Anh Ngọc, Duy Trác, Ngọc Long tôi từng nghe thời tôi hoa niên tôi vi vút giữa lòng thành phố Sài Gòn Ðẹp lắm Sài Gòn ơi, chỉ cần một mình thầm đọc Lời Thơ Nhạc Ðoàn Chuẩn thôi, tiếng thơ vang vang trong tim, trong hồn, một mình mình đọc, một mình mình hay, tôi đã loạng quạng con tầu không bến…

…Qua bao rừng núi.. anh về đây..
Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây..

Ðường về miền Bắc

Và:

Chiều nay sao dâng nhanh mầu tím…
Và mây bay theo nhau về bến.
Thuyền cắm tay sào từ cuối thu…
Ngoài kia sông nước như đón chờ.
Thuyền ơi ! Sao mê say nhiều quá..?
Ðường mê không ai ngăn cản lối.
Một sớm thu về chuyển bến xuôi…
Về đâu đây nữa trời ? Bến nao?

Chuyển Bến

Bến nao? Tôi thở hắt ra vì những câu thần ấy. Thuyền cắm tay sào từ cuối thu… Nghĩa lý gì đây? Tôi tưởng tượng qua câu “Thuyền cắm tay sào từ cuối thu..” Nhạc sĩ muốn nói ông đã dừng bước giang hồ, đã cắm sào buộc chặt con thuyền phiêu lãng, đã vui cảnh cơm nhà, quà vợ. Nhưng một chiều thu đến, Nhạc sĩ thấy đất trời toàn một mầu tím ngắt– Than ôi.. Trời đất này là trời đất ngày Từ Hải bỏ Kiều ra đi và cũng là trời đất ngày Từ Hải quay gót lãng du trở về với Kiều–Nhạc sĩ cắm sào thấy.. ngoài kia sông nước như đón chờ..! Trái tim Người rạo rực nhưng thuyền của Người đã cắm sào, tầu của Người đã không những chỉ buông neo mà còn mắc neo, Licence Thuyền Trưởng của Người đã trả lại cho Nha Hàng Hải Thương Thuyền. Người than:

“Thuyền ơi..! Sao mê say nhiều quá.. Ðường mê không ai ngăn cản lối.. Một sớm thu về chuyển bến xuôi…”

Nhưng mà.. Về nơi đâu nữa trời? Bến nao? Nhạc sĩ đặt tên bản nhạc này là “Chuyển Bến”..Nhưng tôi thấy thuyền ông chẳng  chuyển bến mà cũng chẳng nhúc nhích một ly ông cụ nào cả, thuyền ông đã cắm tay sào từ cuối thu…

Thế Phong, hiện ở Thành Hồ, được Trung Tâm Văn Hoá Pháp mời dự Tuần Lễ Sách–Semaine des Livres –ở Hà Nội, có đến thăm ông bà Ðoàn Chuẩn. Semaine des Livres tổ chức ở Hà Nội khỏang năm 1998. Ðây là đoạn Thế Phong viết trong Tập “Hà Nội 40 năm xa..”:

Trích “Hà Nội Bốn Mươi Năm Xa.” Người viết Thế Phong.

…Ðoàn Chuẩn đang nằm trên chiếc giường nệm, cạnh đó là bàn để TV, đầu máy Video, máy nhạc compact-disc. Ðạo diễn Ð.A.D mới thực hiện băng Video Nhạc Ðoàn Chuẩn. Anh nói ngay: bản quyền trả vào hạng cao nhất là ba triệu đồng. Nhưng anh vẫn thích nghe băng nhạc hải ngoại hát nhạc của anh hơn. Anh ngồi dậy tiếp tôi. Chị Chuẩn pha hai cốc cà-phê sữa cho chủ khách nhâm nhi, trò chuyện. Nhớ lại: cậu công tử Ðoàn Chuẩn, chủ hãng nước mắm Vạn Vân, Hải Phòng. Mỗi lần lên Hà Nội, cậu chơi ngông thuê riêng một chiếc máy bay bốn chỗ, hai cánh kép của hãng Autrex. Về xe hơi cậu chơi chiếc Buick 1952. Năm ấy cả Bắc Việt chỉ có hai chiếc Buick. Chiếc kia– Buick 1951– của Thủ Hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Cậu từng tham gia kháng chiến, khi vào Khu Ba, khi ra Khu Bốn. Nhớ vợ Cậu làm bản nhạc Ðường về miền Bắc, Tà Áo Xanh. Lan man cậu nhắc đến thời kỳ cậu mê Nữ ca sĩ Mộc Lan ở Sài Gòn. Lúc ấy nữ ca sĩ nổi danh đang sống chung với Nhạc sĩ Châu Kỳ. Cậu chơi trội, theo đúng tác phong con nhà giầu, đặt mua hoa tươi ở một tiệm hoa. Mỗi sáng người tiệm hoa mang hoa đến nhà tặng nữ ca sĩ nhưng người tặng hoa chỉ là một người vô danh. Sáu tháng ngày ngày được tặng hoa Nữ ca sĩ vẫn không biết người ái mộ tặng hoa mình là ai. Một sáng nàng ra tối hậu thư cho người mang hoa đến: nếu người tặng hoa không cho biết phương danh, nàng sẽ ngừng nhận hoa. Thế là cậu công tử nhạc sĩ đa tình đành lộ mặt. Sau đó một số bản nhạc trữ tình ra đời, bắt nguồn từ Nữ ca sĩ Mộc Lan.

Còn bây giờ? Nhạc sĩ tài hoa nay ra sao?

Ðoàn Chuẩn móm sều. Anh không mang hàm răng giả, người bủng mặc dầu vẫn mập mạp. Giọng nói thiếu hàm răng không còn chuẩn. Mùa thu năm nay anh đã bẩy mươi mốt. Anh cùng tuổi với chị. Tóc chị đã bạc phơ, chị nói đùa với tôi:

“Vợ chồng cùng tuổi, ngồi ruỗi mà ăn. Nhưng bây giờ thì hết rồi..”

Ðoàn Chuẩn đưa cho tôi xem tờ tạp chí có bài phỏng vấn anh, anh nói bây giờ anh ở vào tình trạng “Ba Tê”: Hết Tiền, hết Tình, và quan trọng hơn cả là hết Tài. Anh chỉ sống với dĩ vãng, với những đưá con tinh thần tản mác khắp muôn phương– Chuyển Bến, Tình Nghệ sĩ, Dang dở, Tà Áo xanh.. Những đưá con trở về thăm anh trong những băng nhạc vang động âm thanh trữ tình, tiếc nuối. Nhờ những âm thanh ấy mà từ hải ngoại Nữ ca sĩ Khánh Ly, người chưa bao giờ anh gập mặt, người ca sĩ anh chỉ biết qua giọng ca, gửi về cho anh 200 đô-la, tờ giấy bạc có in hàng chữ In God We Trust, gọi là để anh thuốc thang. Tự dưng tôi nhớ đến bản Tình Nghệ sĩ của anh. Thực đúng như hai câu thơ của Tchya):

Nghệ sĩ trót sinh giầu cảm lụy..
Dẫu tàn thân thế khó quên nhau !

Ngưng trích.

Ba Tê..! Hết Tình, hết Tiền, hết Tài..! Nhà nghệ sĩ tài hoa có thể hết Tiền nhưng ông không thể hết Tình, hết Tài được. Tình của ông tập kết–mượn chữ của Tầu Cộng, hổng phải của Việt Cộng– ở bà vợ ông và Tình Yêu của Bả. Tầm thường nhất nước như tôi đây tôi có tí tài hoa nào đâu. Một tí tỉ tì ti tài hoa tôi cũng hổng có. Dzậy mà trong oan khiên, trong hoạn nạn, tôi cũng sống được bằng Tình Yêu của vợ tôi. Một tối đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ cuối năm 75. Bốn  mươi năm rồi đó, Nguyễn ơi—gặp nhau, Lê Trọng Nguyễn bảo tôi:

“Tao gập thằng S. ở khu nhà mày. Tao hỏi nó mày có đi được khơng? Nó nói mày đi không được. Tao kêu: “Rồi nó sống bằng gì?” S. nó nói: “Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”

Tôi đưa ra bằng chứng đó để nói rằng Ðoàn Nhạc sĩ không bao giờ hết Tình. Ông có Tình Yêu Lớn của bà vợ ông, ông có cả triệu người Việt yêu ông qua tiếng Nhạc của ông, những người Việt biết ơn ông vì ông đã hát lên dùm họ Tình Yêu của họ, ông làm cho đời họ đẹp hơn. Họ cám ơn ông như người viết bài này ở Rừng Phong Xứ Mỹ buổi sáng đđầu năm, từ một thành phố cách xa Hà Nội của ông bà mười ngàn dặm, nơi quê người ở tận nửa bên kia trái đất, viết để cám ơn ông.

Ðoàn Nhạc sĩ vẫn còn Tài chứ. Người tài hoa là tài hoa suốt một đời. Ông chỉ không còn sáng tác nữa thôi. Chúng ta không đòi hỏi ở nhà Nghệ sĩ nhiều hơn. Ông sáng tác khoảng 10 bản nhạc. Tôi thấy bản nào cũng tuyệt diệu.

Qua Nhạc ông, qua những chuyện kể về đời tư ông, tôi phát hiện ra — chữ “phát hiện” này cũng của Tầu Cộng– Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn là Hội viên Hội Cơm Nhà Quà Vợ. Ông cũng như các ông Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Lưu Trọng Lư… Ðọc thơ, nghe nhạc của mấy ổng ta tưởng mấy ổng yêu loạn cào cào, châu chấu, mấy ổng buông, bắt bà này, bà nọ như mấy ổng thay áo sơ-mi. Nhưng Thơ Nhạc của mấy ông dzậy mà đời thật của mấy ông thì hổng phải dzậy. Mấy ổng chỉ yêu vung tí mẹt trong Thơ Nhạc thôi. Trong đời thật mấy ổng là Hội Viên Hội Cơm Nhà Quà Vợ chân chính, thuần thành, trung kiên. tòng nhất nhi chung, trung thành với Chủ nghĩa Cơm Nhà Quà Vợ từ năm mấy ổng còn trẻ…

Tôi hãnh diện vì tôi có Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn cùng là hội viên Hội Cơm Nhà Quà Vợ với tôi. Xin quí vị cho phép tôi nhân bài viết này gửi vài lời đến những bạn Cơm Nhà Quà Vợ của tôi trên cõi đời này:

– Ơi.. Các bạn đồng hội.. Từ lâu ta vẫn có mặc cảm tự ti vì ta cơm nhà, quà vợ. Nhiều lần chúng ta nghe những lời bỉ bác: “Thằng đó cơm nhà, quà vợ.. Cả quỷnh.. Chẳng biết cái mẹ gì..” Kể cả đàn bà đa tình cũng khinh thị chúng ta: “Anh.. cơm nhà, quà vợ.. Chán bỏ mẹ..!” Ta thấy người đời  trọng thị những anh Thuyền Trưởng Hai, Ba Tầu mà coi khinh, coi rẻ những công dân chân chỉ, hạt bột Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta. Làm như là chỉ có bọn Thuyền Trưởng Hai Tầu mới là đàn ông, mới tài hoa, chúng ta là đồ bỏ! Người đời có thành kiến đó là người đời sai lầm. Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta không thua kém gì bọn Thuyền Trưởng Hai Tầu. Thuyền Trưởng Hai tầu có nhân vật tài hoa, Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta cũng có những nhân vật tài hoa.

Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta có Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn!

Thơ Đoàn Chuẩn

Với bao tà áo xanh đây mùa thu
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa 

Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian

Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về
Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt
Có những đêm về sáng đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi
đã vội chi men rượu nhấp đôi môi mà phung phí đời em không tiếc nhớ

Lá đổ muôn chiều ôi lá úa, phải chăng là nước mắt người đi
Em ơi đừng dối lòng dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta

Gió bay từ muôn phía tới đây ngập hồn anh, rồi tình lên chơi vơi
Thuyền anh một lá ra khơi về em phong kín mây trời, đêm đêm ngồi chờ sáng, mơ ai

Mộng nữa cũng là không, ta quen nhau mùa thu, ta thương nhau mùa đông
Ta yêu nhau mùa xuân, để rồi tàn theo mùa xuân, người về lặng lẽ sao đành?

Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ Anh rồi. 

VÀNG PHAI MẤY LÁ

Sáng tác ở Hà Nội những năm 1960

Ai đốt Cô Tô thành vì đôi mắt giai nhân hề 
Lửa cháy bao đêm ròng, thành quách tan
Ai trót nhấp men tình để Mỵ Cơ thương nhớ
Khi thác rồi, khi thác rồi, Tiêu Nhiễn vẫn còn mơ
Ai xui ta gặp nhau, để tình gây oán trái
Để tình anh bẽ bàng, và tình em lỡ làng
Và ngàn sau lá vàng khóc tình ta

Từ nay bèo trôi, cầu xiêu, con đò nát
Và mây đìu hiu cây rụng lá, thân mình về đâu?
Đàn chùng, dây phím lỡ, mái đổ nhà xiêu, nhẹ như tiếng khóc thầm.
Mây sầu vương chót núi, đường chia biên giới, người xa nhau mãi
Giấc chiêm bao đêm nào chìm trong sương khói thời gian.

Xưa có người Phù Sai rắc hoa vàng sau mỗi bước giai nhân
Đến bây giờ yêu không đành, mà ghét cũng không đành,
mà dứt cũng không đành

Rồi đây thời gian đổi thay con người mới
Bài ca tình yêu bay lộng gió trên đường về tim. (*)
Chịu được bao giông tố, cánh buồm mong manh, nhẹ như cánh bướm vàng
Khi mùa Thu đến báo, tình duyên đã dứt, đường chia đôi lối
Gió nâng mây về trời đời nào quên cánh diều bay

Em khác gì Quỳnh Dao lúc phát lầm phung phí hết xuân xanh
Lúc đêm về thương cho đời, và cũng ghét cho đời, và cũng chán cho đời
Mưa dồn trôi nước lũ xuôi dòng thả hết bụi nhơ, xuôi dòng trầm câu hát tương tư
Nhủ lòng thôi hết những mùa Thu

Lá thu bay, về anh, như những cánh hoa đời em
Còn đâu cành hoa màu tím – đường đi dệt gấm vàng son
Lòng anh chua xót. Cánh hoa vì đợi anh rã rời, héo tàn úa vàng, vùi sâu trong kiếp thời gian.

* CTHĐ: Tim tôi đập hụt vài nhịp mỗi lần tôi nghe Vàng Phai Mấy Lá. 

TRỐN VIỆC ÐI TU…

kieu

Thúc Kỳ Tâm gập Vương Thúy Kiều ở Lầu Ngưng Bích. Lầu Ngưng Bích ở địa phang nào?

Thưa.. ở thành Lâm Tri.

Thúc Kỳ Tâm khi phải về Vô Tích làm bổn phận công dân với Hoạn Thư chia tay với Thúy Kiều ở đâu?

Thưa… cũng ở Lâm Tri.

Ở Lâm Tri thì ai mà chẳng biết nhưng mà chính xác là ở đâu trong Thành Lâm Tri?

Dạ.. ở nhà Thúc Kỳ Tâm.

Nhà Thúc Kỳ Tâm ở đâu?

Thưa thầy em chịu!

Nhà Thúc Kỳ Tâm ở Rừng Phong Thành Lâm Tri. Cũng như nhà Công Tử Hà Ðông ở Rừng Phong Thành A Linh Tôn. Bằng chứng:

Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm mầu quan san…

Người xưa đi đường xa phải đi bằng ngựa. Khi chia tay người ta thường bẻ cành liễu tặng nhau — cành liễu để nhau dùng làm roi ngựa, roi ngựa dùng để quất ngựa — Vì vậy cuộc đời mới có điển “Chương Ðài liễu.. Chương Ðài liễu.. Tích nhật thanh thanh…”

Khi về về hỏi Liễu Chương Ðài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay..

Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy.. Biệt ly nhớ nhung từ đây… Chiếc lá rơi theo heo may.. Người về có hay..! Biệt ly đời nào cũng buồn. Nhưng cứ theo sử sách phong tình để lại dường như người xưa khi chia tay nhau lưu luyến dữ dội hơn người đời nay, người đời sau nhiều. Người đi đã ngồi trên ngựa rồi người ở lại vẫn cứ nắm lấy vạt áo không chịu buông ra. Ðể có thể dứt áo ra đi người đi phải nghiến răng, nghiến lợi dùng dao cắt vạt áo. Và đấy là điển “Người lên ngựa, kẻ chia bào..”

Tôi đọc Kiều từ những năm 1940. Năm tơi mười một, mường hai tuổi. Cũng như nhiều người Việt tôi thấy Thơ Kiều tuyệt vời, tôi thán phục Nguyễn Du. Nhưng tôi chỉ thực sự “thấm” Kiều từ những tháng đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ. Sau khi Nón Cối, Giép Râu, Tóc Bím, Răng Cải Mả, Mông Ðít Bự ngơ ngáo vào Sài Gòn tôi mới sáng mắt, sáng lòng với qui luật ngàn đời:

Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao…

Nhớ lại cảnh trực thăng USMC bay ngang trời Sàigòn chiều ngày 29 Tháng Tư tôi Tập Kiều:

Ðùng đùng gió giục mây vần
Trực thăng trong cõi hồng trần như bay…

Nhớ người yêu theo chồng về xứ của chồng, tôi tập Kiều:

Cali – ( Paris ) — cách mấy nắng mưa
Có khi vòng bụng đã vừa người ôm..

Hóa thân làm Thúc Kỳ Tâm, khi Kiều tắm, tôi tập Kiều:

Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên…

Ðây là cảnh Nàng đi vượt biên:

Dùng dằng khi bước chân ra
Cực trăm nghìn nỗi, chui ba bốn lần.

Nàng ra khỏi tù:

Hoàn lương một thiếp thân vào cửa
Gót tiên thoắt đã thoát vòng trần.

Anh Con Trai Bà Cả Ðọi có vẻ khoái chí, đắc ý — những ông nhà Dzăng gọi việc này là “tâm đắc” — câu:

Mồ hôi chàng đã như mưa ướt
Nàng còn cầm lại một hai tình..

Tháng Bẩy, Tháng Tám năm 1988, sau khi ra tòa lãnh án Tám Niên, tôi xách giỏ, chiếu, sô can từ phòng 10 Khu ED sang phòng 20 Khu FG Chí Hòa chờ lên cái gọi là Tòa Trên, con tôi gửi vào cho tôi quyển Truyện Thúy Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo. Quyển Truyện Thúy Kiều của tôi được in năm 1950, đã ở với tôi đến năm đó là gần bốn mươi niên. Nhiều trang giấy đã vàng khô, đổi mầu, ròn, dễ rách. Tôi mang quyển Kiều này sang Mỹ với tôi, quyển Kiều đã theo tôi vào Nhà Tù Chí Hòa nay nằm trong Tàng Kinh Các Rừng Phong.

Trong Nhà Tù Chí Hòa tôi nằm đọc lại Kiều và đêm tới, khi cái mùng nhỏ của tôi được dăng lên, chia cách tôi với cả và thế giới, tôi nằm trong mùng mần Thơ Vịnh Kiều. Không có giấy bút để ghi chép, tôi mần Thơ, học thuộc, mần tiếp, học thuộc lòng. Cứ như thế tôi làm được một số bài thơ tôi gọi là Tại Ngục Vịnh Kiều. Ðầu năm 1989 tôi lên Trại Cải Tạo Z 30 A Xuân Lộc, Ðồng Nai. Ðến đây được dùng giấy bút, tôi ghi lên giấy những bài thơ Tại Ngục Vịnh Kiều đưa cho vợ tôi mang về. Và yên chí là thơ đã được ghi lên giấy, tôi bắt đầu quên những lời thơ. Có bài dài đến 120 câu tôi thuộc lòng.

Năm 1995 ở Rừng Phong tôi viết thêm lời bàn Tại Ngục Vịnh Kiều bắt chước Kim Thánh Thán viết lời bàn Tây Sương Ký. Tháng Tám 1996 tôi đã có bản Tại Ngục Vịnh Kiều in thành sách. Nhà Làng Văn Canada xuất bản Tại Ngục Vịnh Kiều cho tôi.

Với tôi quyển “Tại Ngục Vịnh Kiều” hình thức thật đẹp. Ðây là tác phẩm được in đẹp nhất, chỉnh nhất trong mấy chục mùa lá rụng viết tiểu thuyết nhà nghề của tôi. Tôi có khoảng 30 quyển truyện được in nhưng quyển nào cũng in bết bát, lỗi chính tả cả đống, đọc ngượng chín cả người. Nhiều bạn Dzăng Sègoòng xưa  phê bình tôi:

“Ông không thận trọng chọn nhà xuất bản. Bọn xuất bản sách của ông nó in cho ông tồi quá. Ông như em chơi bời có sắc, lẽ ra em phải hành nghề ở những nhà chơi sang, đắt giá nhất nhì Sài Gòn, em lại đi khách sáu choạc, một bò ở Ngã Ba Chú Ía”.

Tôi nhận  bạn tôi nói đúng. Nhưng đó là chuyện ngày xưa. Xưa rồi ta nên cho qua luôn.

Một trong những hạnh phúc của người viết là được đọc tác phẩm của mình trên bản in sạch sẽ, sáng sủa, rõ ràng. Ðêm qua mưa gió đi qua Rừng Phong, tôi nằm yên ổn — Bọn Công An Thành Hồ nửa đêm có đến đập cửa phòng tôi rầm rầm tôi cũng mặc mẹ chúng nó, tôi bất chấp – tôi nằm thưởng thức Tại Ngục Vịnh Kiều.

Sáng nay trước cảnh Rừng Phong bắt đầu vàng lá tôi ngồi gõ máy viết thêm vài bài thơ tôi đã bỏ sót không đưa vào tập Tại Ngục Vịnh Kiều.

Chẳng hạn như đây là bài Tại Ngục Vịnh

KIM TRỌNG

Phòng văn hơi giá như đồng
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan
Học trò như cậu thật là ngoan
Sáng đi ve gái, tối chơi đàn
Thó một thoa vàng, chàng được vợ
Thuổng đôi chữ lỏng, Cậu nên quan
Con chị đi, con dì sài đỡ
Ruột gan mừng húm, miệng phàn nàn
Bốn chàng Kim, Mã, Bạc và Sở
Ði học ngồi chung chắc một bàn.

Dường như cả và thiên hạ đều chê Thúy Vân. Ngay cả những ông quan lại ngày xưa luận Kiều cũng chê: “Thúy Vân trơ trơ như gỗ đá. Chỉ đáng làm bà vợ quan..” Tôi đã có bài vịnh cảnh Thúy Vân tàng tàng chén cúc dở say.. trong Tập Tại Ngục Vịnh Kiều. Bài thơ dưới đây không được in trong tập:

THÚY VÂN

Có ngu như vích mới chê đần
Phúc hậu, đoan trang, nhất Thúy Vân.
Má hồng, mày đậm Em nhiều tóc
Vú nở, mông to, Mợ chẳng bần.
Sáng mắt anh đồ khi mỏi học
Nhẹ đầu quan Huyện lúc tê gân.
Bố đi tù rạc, hay gì khóc
Chồng đòi vợ bé, muốn thì cân.
Chẳng khen thì chớ còn châm chọc
Nghìn vàng chưa mó được lông chân.

HOẠN THƯ CHO KIỀU RA Ở CHÙA

Mệnh bạc Em xin gửi Cửa Không
Thôi thì thôi Chị cũng chiều lòng
Sẵn cây trăm thức, Chùa Ta đó
Thêm hòn Non Bộ cậy Em trông.
Này chuông, này khánh, đôi ba mõ
Chỉ một dùi to đấm cũng xong.
Ai bảo Hoạn khôn, ta bảo dại
Trứng trao cho ác, áo nuôi ong
Gái thấy chồng xưa, thèm rỏ rãi
Trai thương vợ cũ, lộn râu rồng.
Ngỡ Em kinh kệ lơi là tục
Hóa Em sớm tối tưởng tơ chồng.
Lộn lèo Bát Nhã Em dông tuốt
Chồng mất, chùa không, Chị chổng mông.

Tại sao cứ nhất định không thể có chuyện Thúc Kỳ Tâm hăng tiết vịt, vùng lên làm cuộc cách mạng đập phá gông cùm xiềng xích của Hoạn Thư? Tại sao lại không thể có chuyện Thúc Kỳ Tâm liều mạng phú lỉnh đi với Thúy Kiều đến những nơi cuối bãi, đầu ghềnh, sơn cùng thủy tận? Chuyện này ta thấy đã xẩy ra, đang xẩy ra và sẽ còn xẩy ra dài dài ngày nào trái đất này còn có loài người. Thúc Kỳ Tâm ôm chuông vàng, khánh bac đi với Thúy Kiều, chị Hoạn chỉ còn có nước chổng mông kêu… Chời ơi Chời…

Khi Thúc Kỳ Tâm lẻn đến gập Thúy Kiều ở Quan Âm Các, Thúc Kỳ Tâm vẫn nguyên là Thúc Kỳ Tâm, Công Tử Chạp Phô, trèo cao lấy vợ con quan Lại bộ, tức Tể Tướng, sợ vợ, nhưng Thúy Kiều đã hai lần đổi thay lý lịch. Nàng không còn là Thúy Kiều Ngưng Bích nữa, trong thời gian qua nàng đã là Hoa Nô — con hầu nhà họ Hoạn — và bi giờ nàng là Ni cô Trạc Tuyền. Sự liên hệ giữa nàng và Thúc Kỳ Tâm rối tinh rối mù. Nàng lấy tư cách gì để tiếp Thúc Kỳ Tâm: tư cáchVợ Bé, Con Ở hay Ni Cô? Nàng coi Thúc Kỳ Tâm là chồng, là Cậu Chủ của nàng hay là Thí Chủ đến vãn cảnh Chùa?

Vì vậy trong những đêm Tại Ngục Vịnh Kiều ở Chí Hòa tôi mần Vịnh:

THÚC KỲ TÂM GẬP KIỀU Ở QUAN ÂM CÁC

Mặt trông tay chẳng chịu rời tay
Thí chủ, ni cô… nghĩ cũng hay.
Bồ Ðề tâm phát, anh thêm nợ
Ngã Phật từ bi, ả cứ vay.
Là nô, là vãi, hay là vợ?
Là chồng, là chủ lại là thày.
Tơ tình ngàn mối làm sao gỡ?
Phật Tổ, Quan Âm cũng chạy dài.

Thúy Kiều-Trạc Tuyền tu hành những ba niên ở Quan Âm Các. Tác giả long trọng cho ta biết thành tích tu hành tốt đẹp quá cỡ thợ mộc của nàng. Ðại khái: từ khi nàng bỏ áo xanh bận đồ nâu nhà chùa, bỏ son phấn, đàn địch, thơ phú để gõ mõ, tụng kinh, chép kinh tế độ chúng sinh, nàng đã gần Rừng Tía, nàng đã xa bụi hồng, tức là nàng đã gần cõi giải thoát, xa cuộc đời trần tục, lửa lòng của nàng đã tắt nhờ sự linh nghiệm của giọt nước Cành Dương của Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng
Nhân duyên đâu lại còn mong?
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp, sầu vùi
Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Khéo thay giọt nước cành dương
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên..

Người đọc ngây thơ yên chí như thế là Kiều đã dứt bỏ được mọi giây oan tình, nguồn gốc sự đau khổ của nàng. Người đọc ngây thơ tưởng khi Thúc Kỳ Tâm vào chùa, Ni cô Trạc Tuyền sẽ dửng dừng dưng với khách thập phang, Ni Cô sẽ lạnh như tiền, hai tay Ni Cô chắp trước ngực, mắt Ni Cô nhìn lên bàn thờ, Ni Cô lửng lơ con cá vàng:

- Kính chào Thí chủ.. Thí chủ đến vãn cảnh chùa. Xin mời Thí chủ lên điện dâng hương..

Thí chủ có nghẹn ngào:

- Kiều ơi.. Anh thương em quá, anh nhớ em quá.. Anh chết mất..”

Ni Cô nghiêm trang ngắt lời:

- Mô Phật.. Trước cửa Thiền.. Thí chủ đừng thốt ra những lời gây nên tội chướng. Xin Thí chủ cảm phiền, bần tăng không muốn nghe những lời ong bướm..

Nhưng sự thực.. thay vì nói những lời giá lạnh như thế ta thấy Ni Cô lập tức a la sô sát lại với Thúc Kỳ Tâm, lửa lòng Ni Cô nó không tắt ngúm mà nó bốc lên bừng bừng. Không những nàng chỉ khóc ròng vì uất hận, nàng còn hung hăng con bọ xít đe dọa:

- Con vợ anh nó chơi em nặng tay quá. Ðể em thí mạng với nó.. Em cho nó một dao, rồi em đâm cổ em chết.

Chẳng thấy bóng dáng giọt nước Cành Dương nhiệm mầu của Quan Thế Âm Bồ Tát đâu cả. Ta chỉ thấy Lửa Tình hừng hực cháy.

Vì vậy Công Tử Hà Ðông bèn có thơ Tại Ngục Vịnh

Thích Cam Ðồ

Buông đàn kỹ nữ hóa ni cô
Trạc Tuyền rắc rối thế Hoa nô.
Ngưng Bích lầu xanh thừa Tống Ngọc
Quan Âm rừng tía sẵn sơn hồ.
Cố đấm ăn xôi, ngồi phải cọc
Trốn việc đi tu, khéo dở trò.
Dương liễu Bà thiêng, Bà tưới nhọc
Lửa lòng nó mạnh, nó bùng to.
Tu ở chùa nhà, sư để tóc
Mợ về quê mẹ, cậu đi mò.
Mỡ để miệng mèo, ăn sỡ hóc
Kinh bầy kệ Phật, nuốt không vô.
Sư Tử há mồm, câm tựa thóc
Tình nhân thấy mặt, dính hơn hồ.
Liên Hoa Diệu Pháp lười không đọc
Vợ bé, chồng chung, chết cả lò.
Dưới cội Bồ Ðề Sư đứng khóc
Trên tòa Bát Nhã Phật nằm co.
Tu là cội phúc, Tình oan khốc
Miệng chịu nhưng lòng chẳng chịu cho.
Niết Bàn cửa giác rêu xanh mọc
Ðịa ngục sông mê chúng xuống đò.
Ðường ma cấm đến chen chân vọc
Cõi Tịnh mời dzô cứ thập thò
Ba thu công quả thành công cốc
Nửa kiếp oan khiên lại hẹn hò.
Bồ Tát chẳng bằng tay nó vuốt
Mình ơi… hơn hẳn tiếng Nam Mô.
Nó chẳng sài, thôi Bà cất thuốc
Ðừng cho vung vít, phí Cam Lồ
Chúng sinh ngu muội đầy ô trược
Cam Lồ chẳng thích, thích Cam Ðồ.

ÐỐNG ÐA MÙA XUÂN

money

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương…

Bà Huyện Thanh Quan

Ðọc “Thơ Chữ Hán” của Nguyễn Du tôi có một thắc mắc:

Tượng Vua Quang Trung ở Sài Gòn.

Tượng Vua Quang Trung ở Sài Gòn.

Nhà thơ lớn của chúng ta chứng kiến trận chiến thắng Ðống Ða vang danh trong lịch sử. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ thống lĩnh quân dân ta đánh tan quân xâm lược Mãn Thanh năm Kỷ Dậu — 1789 Dương lịch. Thi sĩ Tố Như ra đời năm 1765, ông 23 tuổi năm 1788. Ông là một chứng nhân của trận chiến thắng oanh liệt này. Nhưng ông không làm qua một bài thơ nào về trận chiến thắng của dân tộc, ông không nhắc một lời về Vua Quang Trung tuy ông làm thật nhiều thơ, những bài thơ thật Hay, thật Thơ, thật cảm động về những nhân vật lịch sử Trung Quốc: Khổng Minh Gia Cát Lượng, Mã Viện, Nhạc Phi, Tần Cối, Văn Thiên Tường, Ðỗ Phủ.. vv…

Không chỉ riêng Nguyễn Du, những nhà thơ sống cùng thời với thi sĩ, những người cùng chứng kiến trận đánh Ðống Ða lịch sử với ông, cùng sống qua thời kỳ cầm quyền ngắn ngủi rồi suy bại thảm thê của Nhà Tây Sơn, những thi sĩ thời ấy như Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm .. cũng không một ông nào làm một bài thơ nhỏ về Vua Quang Trung, về chiến thắng Ðống Ða. Văn học ta thời Vua Quang Trung và những năm sau đó không có một bài thơ — chỉ một bài thôi — ca tụng chiến thắng Ðống Ða, ta không có một bài thơ nào ca tụng Vua Quang Trung Nguyễn Huệ!

Ta có thể giải thích nguyên nhân sự không lên tiếng, thái độ của giới nhân sĩ Bắc Hà cố tình không biết, không nhắc đến Vua Quang Trung cùng chiến thắng lịch sử Ðống Ða là vì  nhân sĩ Bắc Hà vẫn trung thành với Nhà Lê — trung thành với Nhà Lê gần như đồng nghĩa trung thành với Nhà Trịnh — Nhà Tây Sơn diệt Nhà Lê, Nhà Trịnh nên Nhà Tây Sơn bị nhân sĩ Bắc Hà coi như kẻ thù. Nhà Tây Sơn là Vua Quang Trung, thù hận nhà Tây Sơn là thù hận Vua Quang Trung.

Nhưng không phải tất cả những nhân sĩ Bắc Hà đều như các ông Nguyễn Du, Phan huy Ích, Ngô thời Nhiệm, chừng ba mươi năm sau thời đại của ba vị văn thần kiêm thi sĩ trên đây — thời các ông trước ta hơn hai trăm năm xã hội ta chưa có những thi sĩ chuyên nghiệp, tức những người không làm gì cả ngoài việc làm thơ — một nhóm người con cháu của ông Ngô Thời Nhiệm — tên ông này được đặt cho một con đường ở Sài Gòn của ta — người đời sau gọi nhóm các ông này là Ngô Gia Văn Phái; các ông này ở làng Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, đã chung sức viết ra tác phẩm lịch sử tiểu thuyết đầu tiên của văn học Việt Nam: Hoàng Lê Nhất Thống Chí.

Tôi đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí, bản dich của Ngô tất Tố, những năm 1940, khi tôi tuổi đời mới tròn Một Bó. Ở vào số tuổi đó tâm trí tôi chỉ có thể thấy là hay những truyện như  Dế Mèn phiêu lưu ký, cao hơn nữa là những tiểu thuyết Trường Ðời, Giông Tố. Năm 1960 — hai mươi năm sau – năm 1960 tôi đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí lần thứ hai, bản dịch mới của một dịch giả tôi không nhớ tên, do Nhà Xuất bản Tự Do của Nhật báo Tự Do, Sài Gòn, ấn hành.

Trong lần đọc thứ hai này tôi thấy tác phẩm thật hấp dẫn, thật linh động. Tôi nghĩ đến chuyện những người viết HLNTC không phải là những người viết tiểu thuyết chuyên nghiệp, họ không có qua một kinh nghiệm nào về việc viết tiểu thuyết lịch sử..; vậy mà tại sao các ông  hoàn thành được bộ tiểu thuyết lịch sử giá trị đến như thế ?? Các ông viết HLNTC vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ 19 — khoảng những năm 1830 — kể từ ngày ấy tới nay đã  gần hai trăm năm trôi qua, tôi không thấy văn học ta có quyển tiểu thuyết lịch sử thứ hai nào xứng đáng gọi là tiểu thuyết lịch sử.

Rồi những mùa lá rụng theo nhau qua. Những người Việt Nam như tôi, cùng thế hệ tôi, ra đời trong nửa đầu thế kỷ 20, trưởng thành vào những năm giữa thế kỷ và suy tàn, già lão cùng với thế kỷ, không chỉ chứng kiến một cuộc biển dâu, mà là phải sống qua đến những hai, ba cuộc biển dâu. Cuộc biển dâu dữ dội nhất, tàn khốc nhất xẩy ra Tháng Tư 1975. Những năm 1996, 1997, sống yên lành ở Rừng Phong, Virginia Ðất Tình Nhân, những đêm êm vắng trong căn phòng ấm, đèn vàng, tôi đọc lại Hoàng Lê Nhất Thống Chí không biết đây là lần thứ mấy trong đời, tôi vẫn thấy tác phẩm thật hay, và lần này tôi thấy tôi cần phải viết ra, phải nói lên những cảm nghĩ của tôi khi đọc tác phẩm này.

Một trong những thắc mắc của tôi khi đọc HLNTC là: tại sao triều đại Nguyễn Tây Sơn nổi lên nhanh, mạnh, anh hùng đến như thế mà lại suy tàn, thảm bại cũng nhanh đến như thế ?Vua Quang Trung thống lãnh quân dân đánh tan bọn Mãn Thanh đầu năm Kỷ Dậu 1789 — Ra quân từ Phú Xuân những ngày cuối năm Mậu Thân 1788, tiến vào thành Thăng Long ngày Mồng Năm Tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1789. Trước khi xuất quân vua lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân. Vua Quang Trung làm vua chỉ được có năm năm trời. Vua mất vào năm Quí Sửu 1793. Nguyễn Nhạc, cũng xưng hoàng đế, đóng đô ở Qui Nhơn, cũng tạ thế trong năm Quí Sửu 1793. Vua Quang Trung băng, con Vua là Quang Toản lên nối ngôi. Chưa đầy mười năm sau — năm Nhâm Tuất 1802 — Vua Gia Long bắt sống Quang Toản, chấm dứt triều đại Tây Sơn. Tính từ năm Vua Quang Trung lên ngôi năm Kỷ Dậu 1789 đến khi con vua là Quang Toản bị giết năm Nhâm Tuất 1802, Nhà Tây Sơn chỉ trị nước được có 13 năm.

Chẳng cần phải có kinh nghiệm chính trị hay kinh nghiệm sống, em nhỏ lên ba, cụ già chín bó cũng biết rằng không phải chỉ một mình Vua Quang Trung anh minh, hùng lược, tài tuấn  mà dân tộc ta có chiến thắng Ðống Ða. Tất nhiên bên cạnh, đằng sau Vua phải có thật nhiều những vị văn thần, dũng tướng giỏi, mạnh, những người tài cán thực hiện những sách lược, mệnh lệnh của vị chủ soái. Những vị tướng văn, tường võ này tuy không có năng lực và hùng lược như Vua nhưng cũng không phải là những người tầm thường. Nhà Vua mất sớm nhưng còn những võ tướng Ngô Văn Sở, Ðô Ðốc Long, những dũng tướng của trận Ðống Ða lịch sử, văn thần có Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích vv. Và còn biết bao nhiêu  người tài tuấn nữa?? Những vị này đi đâu hết, những vị này nghĩ gì, làm gì..? Tại sao các vị còn đó mà các vị để cho cơ nghiệp nhà Tây Sơn quang vinh bị suy bại thảm thê nhanh quá đến như thế ??

Và như vậy là trong những năm cuối thế kỷ 18 tình hình chính trị nước ta được hình thành giống như thời Tam Quốc bên Trung Quốc: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ  giữ đất từ Phú Xuân — Thừa Thiên — đến Ải Nam Quan — lãnh địa Tây Sơn lớn và dài nhất — Vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc đóng đô ở Bình Ðịnh — lãnh địa của Vua Thái Ðức nhỏ hẹp nhất, đã yếu lại bị hai mặt nam bắc tấn công, nhà Tây Sơn Bình Ðịnh bị diệt sớm nhất. Vua Gia Long Nguyễn Ánh xưng vương ở Gia Ðịnh. Vào thời này các ông Chúa nhà Nguyễn mới chiếm cứ và bắt đầu khai thác phần đất phì nhiêu bên dòng Cửu Long Giang.

Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí  — HLNTC -- cho tôi thấy có thể Vua Gia Long thù hận Vua Quang Trung — cũng phải thôi. Hai ông vua này từng cầm quân xung đột với nhau nhiều trận, Vua Gia Long từng bị thảm bại nhiều lần — Nhưng các vua Minh Mạng, Tự Ðức tỏ ra có thái độ khoan dung hơn với triều đại Quang Trung. Hoàng Lê Nhất Thống Chí có nhiều trang tả chiến công oanh liệt của Vua Quang Trung mà không bị triều đình Huế cấm dân lưu trữ hay làm khó dễ những người viết. Bộ tiểu thuyết lịch sử số một của ta không một lần được khắc bản gỗ để in, những bản truyền lại đời sau chỉ là những bản chép tay. Nhưng quả thật là triều đình nhà Nguyễn đã không làm một hành động nào để tiêu hủy tác phẩm này vì trong đó có những trang đề cao triều đại thù nghịch trước.

Tôi sẽ đăng  những trang Hoàng Lê Nhất Thống Chí cùng với lời bình luận của tôi. Tập sách sẽ có tên là Trăm Năm Binh Lửa. Tôi không làm việc này như việc phân tích lịch sử mà chỉ là viết ra những cảm nghĩ, những nhận xét của tôi, của một người đọc rất thường khi đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Mục đích của tôi chỉ là để giải trí cho quí vị bạn đọc và đem lại cho quý vị một dịp đọc lại Hoàng Lê Nhất Thống Chítác phẩm tiểu thuyết lịch sử giá trị của văn học ta.

Mời bạn đọc những trang đầu của Trăm Năm Binh Lửa:

CHIẾN THẮNG ÐỐNG ÐA. Trích “Hoàng Lê Nhất Thống Chí.”

Bắc Bình Vương cho đắp đàn trên Núi Bân, tế cáo Trời Ðất cùng các vị Thần Sông, Thần Núi, chế ra áo cổn, mũ miện, lên ngôi hoàng đế; đổi năm thứ 11 niên hiêu Thái Ðức của Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiêu Quang Trung. Lễ xong, hạ lệnh xuất quân. Hôm ấy là ngày 25 Tháng Chạp năm Mậu Thân — 1788.

Vua đốc xuất đại binh thủy bộ ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An Vua cho vời vị cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp đến gập và hỏi:

– Quân Thanh sang chiếm nước ta, tôi đem binh ra chống cự. Mưu đánh và giữ, cơ được hay thua, tiên sinh nghĩ thế nào ?

Nguyễn Thiếp nói:

– Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh, nên giữ ra sao. Chúa công ra Bắc chuyến này, không quá mười ngày giặc Thanh sẽ bị dẹp tan.

Vua rất mừng, liền sai Ðai tướng là Hám Hổ Hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba xuất đinh thì lấy một người làm lính, chưa mấy lúc đã được một vạn quân tinh nhuệ. Rồi Vua mở cuộc duyệt binh, đem số thân quân ở Thuận Hóa. Quảng Nam chia làm bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu, số lính mới tuyển ở Nghệ An làm trung quân.

Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh, truyền cho mọi người nghe lệnh:

– Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân định rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải cùng nòi giống dân ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay chúng đã nhiều phen tràn sang cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải; người mình ai cũng muốn đuổi chúng đi. Ðời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Ðinh Tiên Hoàng, Lê Ðại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Ðạo, đời Minh có Lê Thái Tổ. Các ngài không nỡ ngồi nhìn bọn giặc phương Bắc làm điều tàn bạo nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân chống địch. Các ngài chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương bắc. Ở các thời ấy Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Ðinh tới nay dân ta không còn quá khổ sở như thời bị nội thuộc trước đó. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy là những chuyện cũ rành rành của những triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh. Vì vậy ta phải đem quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy  cùng ta đồng tâm, hiệp lực, dựng nên công lớn. Chớ có quen thói ăn ở hai lòng, làm chuyện phản trắc, việc phát giác sẽ bị giết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước.

Quân sĩ đều nói:

– Xin vâng lệnh. Không dám hai lòng.

Hôm sau Vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các đạo quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Ðến núi Tam Ðiệp, Sở và Lân ra đón, hai người mang gươm trên lưng mà chịu tội.

Vua Quang Trung nói:

– Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái. Ta giao cho quản trị cả mười một thừa tuyên, lại cho tùy tiện làm việc. Vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước. Binh pháp dậy: “Quân thua, chém tướng.” Tội các ngươi đáng chết vạn lần. Song ta nghĩ các ngươi đều là hạng võ dũng, chỉ biết đánh, tài tùy cơ, ứng biến thì không có. Nên ta đã để Ngô thời Nhiệm ở lại đấy làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục. Thăng Long là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước ta ra đánh đất ấy, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kỳ làm nội ứng, các ngươi làm sao mà giữ thành được. Các ngươi biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của giặc, lui về chặn giữ nơi hiểm yếu, trong thì kích thích lòng quân, ngoài thì làm cho giặc kiêu căng; kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói ta đã đoán việc lui quân về đây là do Ngô thời Nhiệm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy.

Thời Nhiệm lậy hai lậy tạ ơn. Vua nói tiếp:

– Lần này ta xuất quân, phương lược tiến đánh ta đã có sẵn. Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được giặc Thanh. Nhưng ta nghĩ nước chúng lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua trận, chúng ắt lấy làm thẹn mà mưu sự báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Ðến lúc ấy chỉ có người khéo lời lẽ mới có thể dẹp được việc binh đao; việc ấy không phải Ngô Thời Nhiệm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn nuôi dưỡng lực lượng; bấy giờù nước giầu, dân mạnh, ta có sợ gì chúng.

Bọn Sở, Lân đều lậy tạ và nói:

– Chúa thượng thật là nhìn xa, chúng tôi ngu muội không thể nghĩ tới chỗ đó. Hiện nay phương lược tiến đánh ra sao xin Chúa thương chỉ rõ, chúng tôi nhất nhất tuân theo.

Vua sai mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm năm đạo. Hôm đó là ngày 30 Tháng Chạp. Vua nói riêng với các Tướng:

– Ta với các ông hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước, tối 30 Tết ta lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới ta vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ông hãy nhớ lời ta.

Vua truyền lệnh : Ðai tư mã Sở, Nội hầu Lân đốc xuất tiền quân làm tiên phong, Hám hổ hầu đốc xuất hậu quân làm đốc chiến, Ðai đô đốc Lộ, Ðô đốc Tuyết đốc xuất tả quân; trong tả quân có thủy quân vượt biển vào sông Lục Ðầu. Ðô đốc Tuyết sẽ hành quân ở vùng Hải Dương để tiếp ứng với mặt đông, Ðô đốc Lộc kéo quân đi gấp lên các hạt Lạng Sơn, Phượng Nhãn, Yên Báy chặn đường về của quân Thanh; Ðại đô đốc Bảo, Ðô đốc Long đốc xuất hữu quân, trong đó có quân voi và quân kỵ mã; Ðô đốc Long dẫn quân xuyên qua huyện Chương Ðức, đến thẳng làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, đánh ngang vào đồn quân Thanh ở Ðiền Châu, Ðô đốc Bảo dẫn quân voi, ngựa ra làng Ðại Áng, huyện Thanh Trì, tiếp ứng cho cánh hữu.

Năm đạo quân vâng lệnh, đúng ngày gióng trống lên đường ra bắc.

Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh trấn thủ ở đó chạy trước; khi quân đến sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi tuần thám từ xa trông thấy bóng đã bỏ chạy. Vua Quang Trung thúc quân đuổi theo, đến huyện Phú Xuyên thì bắt sống được hết bọn này, không một tên nào chạy thoát. Vì vậy không có quân về báo tin, những đạo quân Thanh đóng ở Hà Hồi, Ngọc Hồi đều không hay biết gì cả.

Nửa đêm ngày Mồng Ba Tháng Giêng năm Kỷ Dậu — 1789 — Vua Quang Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc. Vua cho quân  vây kín làng ấy rồi mới bắc loa truyền gọi. Tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran, nghe như đông đến vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời, sợ hãi, liền xin ra hàng; lương thực, khí giới trong đồn này bị quân Nam lấy hết.

Vua Quang Trung ra lệnh lấy 60 tấm ván, ghép ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín; tất cả là 20 bức. Kén lính khỏe mạnh, mười người khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn, 20 binh sĩ khác theo sau mỗi bức, dàn hàng ngang thành trận chữ “Nhất”, tiến đến đồn Ngọc Hồi. Vua cưỡi voi đốc tiến. Mờ sáng ngày Mồng Năm quân đến đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh trong đồn nổ súng bắn ra, quân tiên phong nấp sau những bức ván nên không ai bị trúng đạn. Thấy có gió bắc, quân Thanh dùng ống phun khói lửa ra, khói tỏa mù trời, cách gang tấc không trông thấy gì. Quân Nam bắt đầu bị rối loạn. Nhưng chỉ trong chốc lát trời trở gió nam, quân Thanh tự làm hại mình.

Vua Quang Trung hạ lênh đội khiêng ván xông thẳng đến đồn. Khi đến nơi đội quân này bỏ ván, rút dao ngắn chém giặc. Những binh sĩ theo sau nhất tề xông vào đánh.

Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Thái thú Ðiền Châu là Sầm Nghi Ðống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết, thây giặc nằm đầy đồng, máu chẩy thành suối, quân Thanh đại bại.

Trước đó Vua Quang Trung đã phái một toán quân theo bờ đê Yên Duyên kéo lên, mở cờ, gióng trống làm nghi binh ở phía đông. Quân Thanh chạy về đến đó trông thấy cờ xí lại càng hoảng sợ. Lại thấy quân voi từ Ðại Áng tới, quân Thanh hết hồn, hết vía bị dồn chạy xuống Ðầøm Mực, làng Quỳnh Ðô. Quân Tây Sơn lùa voi giày đạp, quân Thanh chết đến hàng vạn người trong đầm này.

Giữa trưa hôm ấy — Ngày Mồng Năm Tết Kỷ Dậu — Vua Quang Trung kéo quân vào thành Thăng Long. Vua hẹn với tướng sĩ sẽ ăn Tết trong thành Thăng Long ngày Mồng Bẩy Tết. Chiến thắng diễn ra đúng như lời Vua nói trước.

Ngưng trích.

Lời bàn của Công Tử Hà Ðông :

Ðây là lần thứ hai Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đem quân ra Thăng Long. Lần thứ nhất  Quân Tây Sơn ra Bắc là năm Bính Ngọ — 1786. Khi ấy Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Bình — một tên khác của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ — đem quân ra đánh lấy đất Thuận Hóa, thủ phủ của đất này là thành Phú Xuân, tức thủ đô Huế đời nhà Nguyễn Gia Long. Lần xuất quân thứ nhất này Nguyễn Bình có các tướnng Nguyễn hữu Chỉnh, Võ văn Nhậm phụ tá. Chỉnh là người Bắc Hà, có tài lược, mưu mô, lại biết rõ tình hình chính trị Bắc Hà, nên khuyên Bình nhân thắng lợi tiến quân ra Thăng Long diệt họ Trịnh. Bình làm theo lời khuyên của Chỉnh và thành công. Bọn tướng lãnh của Chúa Trịnh, đa số chỉ quen tranh quyền vị, đánh giết lẫn nhau, hà hiếp, bóc lột dân đen, thấy quân Tây Sơn kéo ra đều thi nhau bỏ chạy. Chúa Trịnh lúc đó là Trịnh Tông, tự tử chết trên đường chạy trốn. Chúa Trịnh bỏ chạy, Vua Lê vẫn ở kinh đô. Nguyễn Bình vào Thăng Long, tôn trọng Vua Lê, nói:

– Thiên hạ là của Chúa Trịnh thì một thước đất tôi cũng lấy, thiên hạ của Vua Lê thì một thước đất tôi cũng không lấy.

Tuy nói một thước đất của Vua Lê ông cũng không lấy, nhưng Nguyễn Bình có lấy nàng công chúa Ngọc Hân của Vua Lê. Hoàng Lê Nhất Thống Chí không cho ta biết khi tiến quân ra Bắc Vua Quang Trung, khi ấy mới là Nguyễn Bình,  bao nhiêu tuổi, trước khi lấy Công Chúa Ngọc Hân ông đã có vợ hay chưa. Lịch sử ta, theo kiểu viết sử của Trung Quốc, thường không viết gì về đời sống tình cảm vợ chồng của những nhân vật lịch sử.

Những cơn binh lửa, biển dâu trùng trùng nối tiếp nhau. Nguyễn hữu Chỉnh đưa quân Tây Sơn ra bắc, ở lại không theo về nam, trở thành Quận công, quyền nghiêng thiên hạ. Cuối cùng Chỉnh bị Tướng Tây Sơn Võ văn Nhậm bắt sống, giết một cách thê thảm : phanh thây, mổ bụng, moi ruột cho chó ăn. Trong HLNTC có nhiều người chết thê thảm, thê thảm nhất là cái chết của Vua Quang Toản, con Vua Quang Trung, và cái chết của Bằng quận công Nguyễn hữu Chỉnh.

Trong đoạn truyện trên đây tôi muốn các bạn cùng xét với tôi sự kiện :

– Ngày 29 Tết Vua Quang Trung đến Nghệ An, ra lệnh tuyển quân ở Nghệ An “cứ ba xuất đinh thì lấy một người lính, chưa mấy lúc đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ...” Tôi thắc mắc về chi tiết này.

Như trong truyện ta thấy Vua Quang Trung không ở Nghệ An lâu đến ba ngày. Mà dù có ở lại đấy ba ngày chăng nũa quân Tây Sơn cũng không thể có đủ thì giờ để tuyển nhập ngũ đến một vạn quân — 10.000 người -- Kể cả thời đại này, với cả trăm nhân viên hành chính chuyên về tuyển mộ binh sĩ, với những dàn máy vi tính hỗ trợ, sợ cũng khó có thể tuyển mộ được đến 10.000 người nhập ngũ trong ba ngày. Ðất Nghệ An lại không phải là đất đai nhà Tây Sơn. Dân Nghệ An tất nhiên không tuân phục ngay mệnh lệnh của những người xa lạ mới đến. Khi có giặc trai tráng địa phương, nếu không cầm võ khí chống địch, thường bỏ trốn để giữ mạng sống. Dân đất bị chiếm mới được tuyển vào lính, không được huấn luyện, không thể nào là “quân tinh nhuệ” được.

Dã sử ghi về chuyến tiến quân ra Bắc đánh quân Tôn sĩ Nghị của Vua Quang Trung thêm chi tiết :

– Vua Quang Trung cho quân lính cứ ba người một tốp, khiêng võng nhau đi — một người nằm võng, hai người khiêng, cứ thế thay đổi — thành ra quân trẩy liên miên không lúc nào ngừng mà mọi người vẫn được thay phiên nhau nghỉ. Do đó trong chuyến đi này quân Tây Sơn đã hành quân cực kỳ thần tốc.

Tôi thấy :

– Trước hết quân lấy võng đâu mà khiêng nhau? Ðể có thể đánh thắng 200.000 quân Mãn Thanh thuộc loại chính quy, tức lính nhà nghề, quân Tây Sơn ta phải có ít nhất là 100.000 người. Và phải có ít nhất là 20.000 cái võng.

Tôi nghi người sau chép sử phóng đại số quân Thanh sang Thăng Long. Quân Thanh sang nước ta không thể nhiều đến số 50.000 người. Họ lấy gì ăn? Họ không thể cướp gạo của dân Nam để ăn – họ có thể cướp gạo nhưng dân Nam ở quanh Thăng Long thời ấy không nhiều, không đủ gạo để nuôi bọn quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị có thể cho tải gạo từ bên Tầu sang, nhưng đường quá xa, lính đi bộ, phải mất nhiều ngày quân tải lương mới từ Vân Nam sang đến Thăng Long. Ði đường, quân tải lương phải ăn. Ðường xa họ ăn gần hết số gạo họ mang theo. Số quân Nam của Vua Quang Trung cũng được phóng đại.

Cứ cho là Vua Quang Trung đã tính trước, đã cho quân nhu dệt võng trước — việc dệt một lúc 20.000 cái võng không phải việc dễ làm. Nhưnng cứ cho là có sẵn võng đi — Việc người lính hành quân đi xa vạn dặm, phải mang theo võ khí, lương thực, lại phải vừa đi vừa khiêng võng có người nằm.. có phải là việc nên làm chăng, có lợi chăng ? Hay việc đó chỉ làm cho cả ba người lính người nào cũng mất sức, thay vì họ được đi mà không phải khiêng võng ??? Hành quân đến nơi họ còn phải chiến đấu nữa ! Phải chăng chuyện lính khiêng võng nhau chỉ là một huyền thoại nhân dân thêm vào chiến dịch này???

Và đây là những ngày tàn thê thảm quá đỗi của Nhà Tây Sơn oai hùng một thưở:

Ngày 18 tháng Sáu năm Nhâm Tuất — 1802 — Vua Gia Lonng tiến quân ra Thăng Long, quân Tây Sơn  tan vỡ. Vua Quang Toản bỏ thành cùng với em là Quang Thùy và bọn Ðô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà, chạy lên phía bắc.

Vài ngày sau Quang Thùy và vợ chồng Ðô đốc Tú cùnng tự thắt cổ chết. Quang Toản và một số triều thần bị thổ hào Kinh Bắc bắt sống, đóng cũi đưa đến nộp cho quân Gia Long.

Dẹp yên Bắc Hà Vua Gia Long ở lại thành Thăng Long một thời gian, hạ chiếu kêu gọi nhân dân yên ổn làm ăn, chia đặt quan văn, quan võ cai trị các trấn, lại mời nhiều quan chức cũ của nhà Lê ra làm việc, giảm bớt thuế khóa.

Vài tháng sau Vua Gia Long trở về kinh đô Phú Xuân, tổ chức đại lễ tế cáo trời đất cùng các vị  tiên vương, Vua Quang Toản cùng nhiều người khác theo Vua Quang Toản bị đem ra dùng cực hình giết chết trong lễ này… Nhà Tây Sơn tuyệt diệt.

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương…

Vua Gia Long  vào thành Thăng Long năm 1802 thì năm 1802 — cũng năm 1802, ngay trong năm 1802 — Nguyễn Du chấm dứt cuộc bất hợp tác với nhà cầm quyền, cuộc bất hợp tác kéo dài hơn mười mùa lá rụng dưới triều Vua Tây Sơn, ra nhận quan chức của triều Vua mới…

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Mước còn trau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy, người đây luống đoan trường.

SÀI GÒN ÐÊM BA MƯƠI TẾT 2014

Cầu Xa Lộ năm 1965.

Cầu Xa Lộ năm 1965.

“Ngũ đệ..! Anh em ta tình thân hơn cốt nhục!…”

Ðó là một câu tôi nhớ trong số những câu tôi nhớ của tiểu thuyết Ðồ Long Ðao – Ỷ Thiên Kiếm của Kim Dung, tác phẩm tiểu thuyết tôi đọc ở Sài Gòn những năm 1960, thời gian tôi ba mươi tuổi. Ðó là câu Dư Liên Châu nói với Trương Thúy Sơn trên chiếc thuyền lênh đênh giữa biển khi hai anh em đồng môn gặp lại nhau sau mười năm xa cách, khi Trương Thúy Sơn đưa vợ con: Ân Tố Tố và Vô Kỵ, từ Băng Hỏa Ðảo trở về trung thổ, Thúy Sơn sợ Trương Tam Phong, sư phụ của chàng, không cho chàng kết hôn với con gái của Giáo Chủ Bạch Mi Giáo. Chàng được Dư Liên Châu trấn tĩnh

“Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục…!”

Ðường Trần Hưng Ðạo, Sài Gòn 1955. Ðường Xe Ðiện Sài Gòn – Chợ Lớn chạy giữa đường. Tòa nhà cao là rạp xi-nê Lido. Bảng đèn Dancing Grand Monde bên phải ảnh, có đường đi vào bên  trong. Grand Monde không nằm ngay ở mặt đường Trần Hưng Ðạo.

Ðường Trần Hưng Ðạo, Sài Gòn 1955. Ðường Xe Ðiện Sài Gòn – Chợ Lớn chạy giữa đường. Tòa nhà cao là rạp xi-nê Lido. Bảng đèn Dancing Grand Monde bên phải ảnh, có đường đi vào bên trong. Grand Monde không nằm ngay ở mặt đường Trần Hưng Ðạo.

Một câu nói rất thường trong một truyện kiếm hiệp – truyện kiếm hiệp hay nhất trong thời tôi ba mươi tuổi – làm cho tôi xúc động mãi. Khi ngồi trong Nhà Hàng Pagode đêm cuối năm, quanh chúng tôi chỉ còn những chiếc ghế da nâu không người ngồi và nhà hàng sắp đóng cửa – lúc ấy là mười một giờ đêm 28 Tết, còn hai đêm nữa là đêm Giao Thừa – người ta, những người Sài Gòn đi chơi đêm, giờ này đến các tiệm nhẩy, tôi và Quang còn ngồi buồn ở đây.

Nhìn nét mặt đăm chiêu và những nếp nhăn hằn trên trán Quang, tôi chợt nhớ đến lời Dư Liên Châu nói với Trương Thúy Sơn – “Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục” và tôi xúc động. Tôi muốn nói một lời để an ủi Quang, nhưng tôi im lặng, vì tôi nghĩ trong lúc này, và trong nhiều trường hợp, yên lặng là tiếng nói của Trái Tim.

Tôi tuổi Dậu, Quang cũng tuổi Dậu, nhưng anh sinh trước tôi mười hai năm, tức là một giáp. Như vậy là tôi “ ẩn tuổi ” Quang; theo kinh nghiệm, các cụ ngày xưa cho rằng nhũng người ẩn tuổi nhau thường hợp nhau, thương mến nhau. Các cụ nói đúng trong trường hợp “ ẩn tuổi nhau” của Quang và tôi. Chúng tôi thân mến nhau, thông cảm nhau. Tôi thường đoán trước, biết trước được những điều Quang sắp nói, những việc Quang sắp làm. Ngược lại, Quang cũng biết trước về tôi như tôi biết về anh.

Quang là luật sư. Năm 1950, tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn, tôi đi làm phóng viên nhà báo và tới ngụ tại nhà anh trong một thời gian. Ngày ấy, anh đang kiếm ra tiền. Gia đình anh sống trong một vi-la đường Mayer. Tôi sống nhờ trong nhà anh, như người trong gia đình anh. Vợ chồng anh coi tôi như người thân ruột thịt. Quang đưa tôi đi ăn chơi, anh là người mở đầu cuộc sống “trăng hoa” của tôi tại Sài Gòn. Vợ anh là gái Hà Nội, hiền, khá đẹp nhưng không có gì xuất sắc. Chị là người không gây thiện cảm mà cũng không gây ác cảm. Năm đó Ngọc, con gái anh chị, lên năm tuổi. Cô bé xinh xắn, nước da hơi nâu, mạnh khỏe, thông minh, có đôi mắt tròn, đen láy, năm ấy cô bắt đầu cắp sách đi học Mẫu giáo. Trường gần nhà, đi bộ qua một con phố. Có những buổi chiều tôi đến trường đón Ngọc về. Thanh niên chưa có vợ, chưa có con thường thích trẻ con và muốn gần bọn trẻ con kháu khỉnh, xinh xắn, sạch sẽ và thông minh. Ngọc là một đứa bé có đủ nết ấy.

Rồi thời gian qua, Quang thành công với nhiều “áp phe” lớn. Ðịa vị của anh ngày một vững, tên tuổi anh nổi sáng. Rồi chiến tranh Ðông Dương kết thúc. Năm 1954, đất nước chia đôi, Quang trở thành một nhân vật lý tài quan trọng, cỡ quốc tế. Ðó là những năm tôi sống trong quân ngũ. Xa Sài Gòn, tôi xa gia đình Quang, cho tới ngày tôi được tin anh gặp tai họa. Những nhân vật của chế độ mới – những người làm đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm – đã hại Quang và hất anh ra khỏi cái địa vị chuyên gia kinh tế tài chính quốc gia mà anh đang giữ.

Quang bị tù hai năm. Ở tù ra, anh trắng tay. Những người hại anh đã củng cố được một địa vị và thế lực quá vững. Họ tiếp tục làm hại anh bằng cách ngăn cản không cho anh ra mặt làm bất cứ công việc gì. Họ phá không cho anh hành nghề luật sư. Các công ty ngoại quốc không dám mướn anh. Anh phải kiếm sống bằng cách nhận làm riêng cho vài ông luật sư bạn. Những ông này giúp anh bằng cách giao việc cho anh đem về nhà làm.

Và những tai họa theo nhau đến với Quang. Vợ anh bỏ đi – người vợ hiền thục của anh – bỏ chồng con, bỏ nhà đi chung sống với một người đàn ông khác. Hai đứa con được để lại cho Quang nuôi. Quang sống những ngày dài buồn nản trong thất vọng và túng thiếu. Người hào phóng tự tin ở tài năng của mình và thành công ngay từ ngày bước vào đời như Quang, nỗi thất vọng và buồn nản càng nặng nề khi anh đã ngoài bốn mươi tuổi, số tuổi mà những người đàn ông có tài bắt buộc phải có địa vị. Không được phép xuất ngoại, Quang đi lén ra ngoại quốc mấy lần, nhưng không thoát. Bọn mật vụ theo dõi anh, ngăn cản không cho anh đi. Có lần anh đã trốn được xuống một chiếc tầu buôn của Pháp, khi tầu sắp rời bến Sài Gòn, bọn mật vụ mới biết tin và ập xuống tầu lùng xét. Chúng không tìm ra chỗ nấp của anh, nhưng sau đó, ông Thuyền Trưởng đích thân gặp anh, xin anh trở lên bờ để tránh cho tầu của ông gặp khó khăn trong những chuyến sau tầu ghé bến Sài Gòn.

Ðó là những tin, những chuyện về Quang và gia đình của anh tôi được biết trong những năm tôi sống trong quân ngũ. Rồi một người đàn bà khác xuất hiện trong đời Quang. Người đàn bà này đẹp – rất đẹp, nổi tiếng hoa khôi tại Sài Gòn – Nàng thuộc loại “chơi bời quí phái” và nàng có một tài sản đủ cho nàng sống phong lưu suốt đời.

Người đàn bà ấy yêu Quang, nàng chấm dứt cuộc sống cũ để chung sống với Quang, để làm vợ Quang. Họ yêu nhau, họ sống đầy đủ về vật chất nhưng không được hạnh phúc lắm về tinh thần, cả hai người cùng yêu nồng nàn và cùng ghen tuông dữ dội. Quang bị cuộc sống cũ của vợ ám ảnh. Vợ Quang biết nỗi ám ảnh ấy của Quang, nàng sợ một ngày nào đó Quang sẽ khinh nàng, sẽ chán nàng, sẽ yêu một người đàn bà khác trẻ, đẹp, có dĩ vãng trong sạch hơn nàng. Nhưng cả hai người cùng cần có nhau để sống. Theo tôi, Quang là người cần vợ hơn và yếu thế hơn vợ. Người vợ thứ hai của anh – đẹp, sang, được đàn ông say mê, giầu tiền – là một bằng chứng thành công của anh. Ít nhất anh cũng còn thành công với đàn bà. Người vợ trước để lại cho Quang hai đứa con. Một gái, một trai. Thằng bé hãy còn nhỏ được anh gửi bà Nội nó nuôi. Ngọc, đứa con gái lớn được anh gửi vào một trường Nữ Học.

- Tôi đang bối rối không biết phải làm sao thì cậu đến. Có cậu thay tôi lo cho nó mấy ngàyTết này tôi yên tâm. Chắc nó cũng buồn, cũng giận tôi, nhưng nhẹ thôi. Cậu cố giúp tôi. Nói cho nó hiểu. Tôi biết. Cậu từ xa về đây cần phải du hí mấy ngày Tết. Bị vướng cẳng vì một con bé chắc cậu bực mình lắm.

Người cha khổ sở vì không thể đón được đứa con gái yêu từ nhà nội trú của trường ra ăn Tết với mình nhờ tôi lo cho con anh trong mấy ngày Tết. Anh lên Ðà Lạt ăn Tết với vợ. Vợ anh muốn thế, anh không đi không được. Nhưng nếu sáng mai anh đi, chiều mai, không có ai đến trường đón Ngọc, con gái anh, ra trường. Mẹ đi lấy chồng khác, bố có vợ, bố ăn Tết với bà vợ, người thiếu nữ ấy bị bỏ rơi trong ba ngày Tết. Tôi là người thay mặt bố nó để làm cho nó bớt cô đơn, đỡ tủi thân trong mấy ngày đầu năm.

Trước nét mặt khổ não của Quang tôi phải quay mặt nhìn đi. Quanh chúng tôi, nhà hàng vắng tanh chỉ còn một cặp Tây Ðầm già đang ngồi như chờ đợi ai ở góc phòng. Tôi cảm thấy thương Quang và lại nhớ đến câu nói của Dư Liên Châu!

“Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục…”

Tôi hiểu nỗi khổ tâm của Quang. Anh thương con anh nhưng cùng một lúc, anh cũng yêu vợ. Ngọc là con riêng của anh. Anh không thể “bỏ vợ, hy sinh vợ” trong mấy ngày Tết để gần, để sống với đứa con riêng của anh. Tôi nhận lời giúp anh.

o O o

Tôi đã được nghe nói về những nữ sinh của trường nữ trung học này, những chuyện được xếp vào loại “ly kỳ”.

Những chuyện đồn đại, không có bằng chứng. Ðại khái cuộc sống của nhiều nữ sinh trong Internat trường này rất loạn, nhiều nàng chơi trò đồng tính ân ái, nhiều nàng đêm đêm vẫn trốn ra đi chơi, đi nhẩy đầm, bọn vương tôn công tử Sài Gòn đêm đến đậu xe trong một con đường ngách bên trường, đợi các nàng ra, rước đi chơi.. v.v.. Tôi nghe qua những chuyện ấy rồi bỏ ra ngoài tai.

Chiều Ba Mươi Tết, tiếng xe ô tô ngoài đường làm ồn cả phòng đợi. Vào những ngày lễ hội, ngày nghỉ, thủ đô Sài Gòn đông xe hơn ngày thường, đông nhất là buổi chiều gần tối. Ở đây, phụ huynh tấp nập đến đón con ra trường. Nữ sinh người Pháp không còn là bao nhiêu. Nhìn quanh tôi chỉ thấy toàn người Việt Nam.

Tôi trình Thẻ Phụ Huynh, giấy phép được nhân lãnh học sinh. Một bà đầm trung niên – có vẻ là giám thị – ghi mấy dòng chữ vào quyển sổ, rồi nhấc điện thoại gọi vào trong. Bà nói tiếng Pháp.

Tôi ra hiên nhà, đứng hút thuốc lá.

- Chú…!

Tôi quay lại. Năm năm đã qua:

“Chú gặp cháu lần cuối năm 1964. Bố cháu bị bắt… chú đang ở lính. Chắc chú đâu có nhớ cháu, gặp nhau ngoài đường chắc chú không nhận ra cháu, phải không chú?”

Trong phòng lạnh của Restaurant Choeng Nam, trên bát “consommé chaud”, Ngọc mở rộng đôi mắt đen và trong, nói với tôi câu nói gợi lại kỷ niệm. Nàng hỏi:

“Chú có thấy cháu thay đổi nhiều không? Cháu chóng lớn quá, phải không chú…?”

Nàng dơ tay khoát nhẹ nửa vòng trong không khí, điệu bộ nhí nhảnh như cô đào điện ảnh Sandra Dee trong vai thiếu nữ dậy thì, con nhà giàu, ngây thơ, gợi tình. nàng nhắc lại:

“Chú gặp cháu ngoài đường chắc chú không nhận ra cháu. Nếu có ngờ ngợ chắc chú không dám hỏi. Phải không chú? Nhưng cháu nhận ra chú ngay!”

Nàng nhìn tôi đăm đăm như cô giáo nhìn anh học trò quấy phá

“Cháu nhận ra chú ngay! Chú có già đi chút chút, nhưng khuôn mặt, nét mặt vẫn không khác”.

Ánh mắt nàng long lanh, vành môi nàng cười mỉm.

“Tóc chú bạc nhiều rồi.” Tôi nói.

Trong năm năm, Ngọc thay đổi nhiều. Lần tôi đến nhà Ngọc lần cuối, Quang đang nằm trong khám Chí Hòa. Hôm ấy tôi chỉ thấy loáng thoáng bóng hai chị em Ngọc rồi tôi đi ngay, cho tới nay cô cháu ngồi trước mặt tôi giờ đây là một thiếu nữ mười sáu, mười bẩy tuổi, tóc để theo kiểu tóc Jacqueline Kennedy, mặt trái soan, mắt to và sáng, môi hồng mỏng và hai bên mép sa xuống. Ðôi khi, tôi thoáng thấy Ngọc có vẻ chán đời, ngạo đời – vì đôi môi sa xuống hai bên mép. Những người phụ nữ có đôi môi hai bên mép sếch lên, cũng như đuôi mắt sếch lên, thường có vẻ tươi vui – Ngọc bận đầm, đúng thời trang, không hoa hòe, hoa sói mà đẹp, trang trọng và gọn . Áo sơ mi trắng dài tay, váy Tergal xám, có hai dây vắt qua vai, ngực áo thêu hai chữ HN: Hồng Ngọc, bằng chỉ xanh. Một thiếu nữ đang đứng trên ngưỡng cửa cuộc đời. Ðời nàng xấu hay đẹp, mai sau nàng khổ sở hay sung sướng – suốt những năm còn lại, đó mới là cuộc đời, ba mươi năm, bốn mươi năm nữa – tùy thuộc vào vài năm sống sắp tới của nàng. Tôi thấy tôi lo sợ một cách chánh đáng: ai sẽ dẫn dắt cô gái này đi trong mấy năm trời quyết định ấy? Mẹ nàng đi lấy chồng khác, cha nàng có vợ và con riêng, cuộc đời nàng có biết bao nhiêu là cạm bẫy.

Nàng ngước lên, nét buồn vừa qua biến mất:

“Tại tóc chú bạc sớm chớ có phải tại nhiều tuổi đâu? Phải không chú? “

Hàm răng trắng của nàng lộ ra dưới vành môi mỏng.

“Chú kém ba cháu những mười hai tuổi. Năm nay, chú mới ba mươi ba tuổi. Ba cháu bốn mươi nhăm rồi. Tóc ba cháu đã bạc đâu. Có bạc, nhưng không nhiều bằng tóc chú. Hồi này, không biết ba cháu có nhuộm tóc không? Sao chú không nhuộm tóc, chú?”

“Chú không thích nhuộm. Chú thích tóc trắng?”

“Sao thế?”

Tôi nhún vai:

“Tại chú thích.”

Nàng cười thành tiếng:

“Tóc bạc như Jeff Chandler…! Cháu biết tại sao chú lại thích rồi!”

“Tại sao?”

“Chú muốn cho các cô phải để ý đến chú vì mái tóc của chú chứ gì? Chú khôn lắm. Cô nào thấy chú hãy còn trẻ măng mà tóc đã bạc trắng thì cũng phải để ý! Chú thấy không… Ðến cháu quen với chú là thế mà vẫn còn phải hỏi nữa là.”.

Tôi làm bộ ngượng vì bị nói trúng tim đen, nàng cười sung sướng.

“Ðã có cô nào nói với chú là… yêu chú vì mái tóc của chú chưa!”

Tôi cau mày:

“Ðừng hỏi bậy!”

“Cháu có hỏi gì quá lố đâu?

Mặt nàng cũng nghiêm lại.

“Chú vẫn… cho là cháu còn con nít? Chú là văn sĩ mà chú chẳng biết tâm lý chút nào! Cháu không dám nói là cháu đã yêu nhưng… cháu có đủ tư cách để nói chuyện về Tình Yêu với chú, với bất cứ ai…!”

Tôi muốn khuyên nàng vài câu. Tôi biết những điều mà nàng biết về tình yêu đó chỉ là những điều nàng đọc được trong tiểu thuyết, nàng nhìn thấy trên màn bạc xi-nê và nàng nghe vài cô bạn thuật lại. Tôi muốn nói cho nàng biết nàng chưa đủ tư cách để nói về bất cứ một chuyện gì, nhất là về Tình Yêu. Nhưng tôi chưa kịp mở miệng. Nàng đã tiếp:

“Cháu học hết năm nay thôi. Sang năm, chú sẽ không còn gặp cháu ở Sài Gòn nữa đâu.”

“Ngọc đi đâu?”

“Cháu đi xa.”

“Xa là tận đâu?”

“Bên kia biển.”

Ðôi mắt nàng mơ màng. Tôi thấy sợ – tôi biết là nàng nói thật – tôi hỏi:

“Ba cháu có biết chuyện cháu sắp đi xa không?”

Nàng lắc đầu:

“Ba cháu chưa biết. Nhưng có biết, chắc ba cháu cũng không ngăn cản cháu được, cháu hy vọng ba cháu sẽ không ngăn. Và cháu tin rằng ba cháu sẽ không ngăn cháu đâu..”

Giọng nàng chợt đổi khác, rất già dặn, đứng đắn:

“Ðến đúng lúc, cháu sẽ cho ba cháu biết chuyện.”

“Ngọc đừng có dại!”

“Không đâu, chú ơi. Chú sẽ thấy là cháu rất khôn. Cháu sẽ có tiền gửi về cho ba cháu, em cháu và cả mẹ cháu nữa. Ở đời này, tiền trên hết chú ạ! Tiền là tất cả. Chú viết truyện ca ngợi tình yêu, nhưng nếu nhà báo không trả tiền chú, chú ngưng viết ngay. Chẳng tình yêu thì đừng. Chú có thể viết truyện ca ngợi tình yêu rất hay, rất… ra rít, với điều kiện là truyện đó chú phải bán được ra tiền…”

Tôi trừng mắt:

“Ðừng nói lảm nhảm. Tôi không muốn nghe Ngọc nói nhảm. Ngọc chưa đến tuổi nói đến tiền, đến tình yêu.”

Nàng xịu mặtï:

“Cháu xin lỗi chú.”

Bữa ăn trôi qua trong tẻ nhạt. Chúng tôi trao đổi với nhau những câu hỏi đáp thông thường. Tôi suy nghĩ về những câu Ngọc vừa nói và thấy nàng có lý. Tôi thắc mắc muốn biết rõ về chuyện sắp đi xa của nàng. Nàng sẽ đi đâu? Ði với ai? Nói thật hay quan trọng hóa một sự việc chưa có gì là quan trọng cả?

Nàng buồn và ủ dột một cách lạ thường. Ăn xong, tôi cảm thấy hối hận nên vui vẻ:

“Chú thay mặt ba cháu đưa cháu đi chơi đêm Giao Thừa. Cháu muốn đi đâu, chú đưa đi.”

“Cháu muốn chú cho cháu đi coi xi nê, rồi cho vào Dancing nghe nhạc…!”

“Cũng được. Nhưng đi Dancing thì khuya quá. Sau đó, cháu về trên bà nội có tiện không?”

“Ðược chú. Nếu không đi quá nửa đêm sao gọi là đi chơi đêm Giao Thừa! Với lại… cháu thỉnh thoảng vẫn về bà nội cháu khuya quá nửa đêm, không sao đâu. Nhất là có chú đưa về, “suya” quá rồi!”

Nàng tươi lên khi tôi nhận lời. Ngồi trong rạp xi-nê, nàng chăm chú theo dõi những hình ảnh trên màn bạc, thỉnh thoảng mới thốt ra một câu phê bình truyện phim và lối đóng của các diễn viên, nàng phê bình rất sành, rất đúng.

Vào Dancing, nàng đòi uống Champagne. Ðêm Tất Niên, Grand Monde chật người, hết bàn, không khí thật vui. Tiếng nhạc và người nhẩy thật hào hứng. Nhìn quanh thấy những bộ mặt thỏa mãn ẩn hiện trong bóng tối lờ mờ, tôi chợt nghĩ lẩm cẩm rằng trong số những người ở đây, chắc không có một ai nhớ rằng đất nước này đang có chiến tranh, đang bị tấn công ngày đêm, giờ này, đang có những đồng bào của họ đổ máu và chết.

Tôi gọi Champagne. Chị Cai Gà thấy tôi vào, nhân lúc bồi đến mời uống, chị ghé đến bàn chúng tôi. Chị tủm tỉm cười, ra cái điều thông cảm và ngầm nói với tôi: ”Ðêm nay ông anh đưa trẻ em đi ăn, đi chơi”, chị kín đáo hỏi nhỏ tôi:

“Anh có cần em nào ngồi bàn, để gọi?”

Tôi lắc đầu:

“Ðêm nay tôi đi với cô cháu, chỉ đến nghe nhạc thôi, cám ơn chị.”

Chị ta nhắc lại:

“Dạ… anh đi mí cô cháu…!”

Không nhìn theo,chị Cai Gà, Ngọc hỏi tôi:

“Bà nào đấy chú? Có phải bà “Chef-Taxi-girl” không chú?”

Tôi gật đầu.

“Bà ấy có vẻ… bồ với chú lắm? Chắc là chú đi nhẩy nhiều nên bà ấy biết chú chứ gì?”

Thời gian càng trôi qua, đêm cuối cùng của năm nay càng gần giờ Giao Thừa, tôi càng thấy khó khăn trong việc trò chuyện với Ngọc. Nàng không còn trẻ con, nhưng cũng chưa hẳn là người lớn Nàng không thuộc loại Nymphet, nữ nhân vật Lolita của Vladimir Nabokov. Tiểu thuyết Lolita của Vladimir Nabokov được người đọc khắp thế giới nhắc đến và đọc từ năm ngoái, năm kia nhưng qua đến giữa năm nay, một vài cuốn tiểu thuyết này mới lọt vào Việt Nam. Chính quyền Ngô Ðình Diệm giữa thời cực thịnh, kiểm soát và cấm đoán gắt gao các loại sách báo và phim ảnh ngoại quốc bi mang tiếng là khiêu dâm. Ngọc không giống Lolita vì thân thể nàng nẩy nở, tròn và đầy hơn là Lolita thon và dài.

Khi nhận lời đến trường đón Ngọc cho đến lúc gặp Ngọc trong trường, tôi vẫn nghĩ rằng Ngọc hãy còn nhỏ, hãy còn là một đứa con gái sợ sệt mà tôi có thể đưa đi ăn kem, đi mua sách vở, mua quà con búp bê. Tôi nghĩ việc tôi đưa cô cháu ấy đi chơi sẽ không gây ra một sự hiểu lầm nào, kể cả những tên bạn lưu manh nhất của tôi cũng không có lý do để nghĩ bậy khi thấy tôi đi với cô cháu. Nhưng trong bữa ăn ở Choeng-Nam tôi thấy tôi nghĩ lầm. Nhìn tôi với Ngọc, chắc không ai cho rằng nàng là cháu tôi.

Và giờ đây, trong vầng ánh sáng mờ mờ của Dancing, rượu Champagne làm đôi mắt Ngọc sáng long lanh, tôi thấy nàng hoàn toàn khác hẳn với cái hình ảnh cháu Ngọc mà tôi vẫn có. Nhìn nàng, tôi hiểu tại sao cõi đời này có những người con gái thích lấy chồng già và chỉ có thể lấy – hoặc chung sống – được với những người đàn ông gấp đôi – hoặc gần gấp đôi tuổi các nàng – như người thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi đang ngồi trước mặt tôi đây chẳng hạn. Bọn con trai mười sáu, mười bẩy, kể cả hai mươi tuổi, ngốc nghếch như gà tồ, chưa biết tý gì về đời, chưa biết suy nghĩ – như tôi năm tôi mười bẩy, mười tám tuổi. Nếu đem xếp Ngọc đứng gần một anh hai mươi tuổi, nàng sẽ phải khóc thét lên vì bực mình.

Thấy tôi không trả lời câu nàng hỏi về chị Cai Gà, nàng mỉm cười.

“Chú có muốn gọi Ca-ve thì cứ gọi, chú nhá – Nhưng nếu chú gọi thì chú gọi cô nào trông “élégante” một chút, nghe chú. Và chú phải nhẩy với cô ấy. Chia ra, với cháu một bản, với người ta một bản..”

Tiếng trống vang rền, đèn điện mờ dần rồi tắt. Giờ Giao Thừa. Năm mới đã đến. Trong bóng tối người ta ôm nhau, hôn nhau, chúc tụng nhau năm mới. Tiếng cười, tiếng í é xen tiếng trống rền. Sau một phút như vậy, đèn sáng trở lại; Ngọc lấy được một trái bong bóng màu xanh. Nàng buộc dây bóng vào thành ghế rồi vỗ nhẹ hai bàn tay vào nhau:

“Vui quá. Năm nay, cháu sẽ được sống những ngày thật đẹp và có nhiều thay đổi.”

Tôi đứng dậy đưa nàng ra “pít”.

“Cháu chúc chú năm nay viết được truyện hay, kiếm được nhiều tiền và… chú gặp một người đàn bà yêu chú đủ để chú yêu lại và lấy làm vợ.”

Ban nhạc trình tấu bốn bản liền. Tango rồi Rumba rồi Mambo và Cha Cha Cha. Nhiều cặp phải bỏ cuộc đi vào lúc tiếng nhạc chưa ngừng. Ngọc nhẩy giỏi và đẹp như một vũ nữ nhà nghề. Nàng học nhẩy từ bao giờ? Nàng học nhẩy ở đâu? Với ai? Những câu hỏi ấy chỉ thoáng đến với tôi rồi biến đi ngay. Tôi không còn ngạc nhiên nữa. Tôi biết Ngọc còn dành cho tôi nhiều ngạc nhiên khác nếu tôi muốn tìm ngạc nhiên và việc tập nhẩy đầm không phải là một việc làm lén lút của nàng. Có lẽ trong cái trường Nữ Học nổi tiếng ấy, chỉ có Dì Phước và những nữ sinh thọt chân mới không biết nhẩy đầm. Hai nữa, chất rượu đã bắt đầu ngấm trong cơ thể tôi. Tôi chưa say, nhưng tôi đã nhìn đời bằng một đôi mắt khác.

“Chú với cháu đẹp đôi nhất Dancing đêm nay. “.

Nàng nói bằng một giọng nghiêm trang, đôi mắt nàng nhìn vào mắt tôi. Nếu lúc đó, tôi mỉm cười và gật đầu đồng ý cũng chẳng sao nhưng vì một mặc cảm, tôi nhíu mày:

“Ðừng nói bậy!”

Nàng dẩu môi :

“Nếu không biết rõ chú, cháu cho chú là đạo đức giả và… giả dối nữa là khác!”

Như người đàn bà trưởng thành nói chuyện với tất cả sự bình tĩnh, nàng tiếp:

“Nếu chú với cháu đẹp đôi, và biết là chúng ta đẹp đôi, có gì là xấu?… Chúng ta kiêu hãnh vì chúng ta hơn người. Nếu chú lờ khờ, nhà quê, cháu không được hãnh diện vì chú. Cũng như nếu cháu luộm thuộm bê bối, chú cũng không hăng hái lắm khi phải đưa cháu đến những nơi đông người.”

Nàng nói tiếp:

“Cháu không thích những người con trai ngang tuổi cháu hoặc hơn cháu chút ít, cả tụi bạn của cháu cũng vậy. Cháu chỉ có thể yêu được những người đàn ông nhiều tuổi hơn cháu.”

Tôi hỏi:

“Cháu đã yêu bao giờ chưa?”

Nàng cười, đôi mắt sáng lộ rõ vẻ tinh nghịch, hàm răng trắng lấp lánh. Trong bóng tối tôi chỉ trông thấy rõ đôi mắt và hàm răng của nàng:

“Nếu chú thấy cháu có thể nói chuyện với chú về Tình Yêu, cháu sẽ kể chú nghe truỵên tình của cháu, người sắp mang cháu đi… đi xa, là một người bằng tuổi chú.”

Tôi nhớ lời nàng nói với tôi khi chúng tôi ăn ở Nhà Hàng Choeng Nam – “Cháu chỉ học hết năm nay thôi. Sang năm cháu sẽ đi xa…” Bây giờ nàng không nói hết lời tôi cũng biết người đàn ông bằng tuổi tôi mà nàng nói là người sẽ mang nàng đi đó là một người Hoa Kỳ.

Chúng tôi trở lại bàn, Ngọc nâng ly chạm ly tôi:

“Năm mới, chúc chú vạn sự như ý, chúc chú gặp người yêu chú đủ để chú cưới về làm vợ.”

Tôi đáp:

“Năm mới, chúc Ngọc vui vẻ, học giỏi và không làm điều gì để những người thương yêu Ngọc phải buồn.”

Nàng uống hết ly rượu:

“Cháu chỉ có ba cháu và em cháu. Má cháu đã đi lấy chồng. Nếu thương cháu, bà đã chẳng bỏ đi như thế, nhất là bỏ đi trong lúc ba cháu gặp tai họa. Ba cháu đã làm lại cuộc đời. Em cháu còn nhỏ chưa biết gì, cháu ra đi nhẹ nhàng. Chú yên trí đi, cuộc đời của cháu – ít nhất trong năm nay – đã được sắp đặt sẵn rồi, chú khỏi phải chúc.”

Tôi gợi chuyện:

“Chú đoán người đàn ông bằng tuổi chú Ngọc nói đó là một người Mỹ?”

Nàng gật đầu:

“Chú nói đúng.”

“Cháu yêu người đó?”

“Cháu chưa biết, phải mười năm nữa cháu mới trả lời được chú câu ấy. Nghĩa là phải mười năm nữa cháu mới biết chắc là cháu có yêu anh ấy hay không. Tình yêu phải được thời gian thử thách.”

“Tên hắn là gì?”

“Sang đến Mỹ, cháu sẽ cho chú sẽ biết tên chồng cháu. Cháu không sợ chú phá cháu đâu, nhưng chú cũng chẳng nên biết sớm.”

Tôi cười:

“Ngọc quên là Ngọc mới mười bẩy tuổi, người Mỹ trọng pháp luật…”

“Chú muốn nói cháu hãy còn là gái vị thành niên và có yêu cháu đến điên cuồng người ta cũng không dám mang cháu đi chứ gì?”

Nàng ngắt lời tôi :

“Chú chưa biết cháu đi sang Mỹ học, cháu có học bổng, hai chánh phủ Mỹ-Việt bằng lòng cho cháu sang bên đó du học, tiền cho cháu ăn hoc  do chánh phủ và nhân dân Mỹ Quốc đài thọ!

Tôi nhìn nàng và tôi nhớ tới lời nói của một anh bạn. Anh bạn tôi bốn mươi nhăm tuổi, dược sĩ, có tiền, vẫn còn độc thân mặc dầu đã nhiều lần yêu. Mới đây anh nói với tôi :

” Toa phải viết về tình trạng: những cô gái Việt thích lấy chồng Mỹ. Những cuộc nhân duyên ấy không thể bền đẹp. Hiện giờ có quá nhiều gái Việt Nam con nhà tử tế, lấy Mỹ, đi theo chồng sang Hoa Kỳ. Toa nên nhớ trước kia thời Pháp… đa số me Tây đều là bọn gái hạ cấp. Nhưng bây giờ khác, bây giờ có cả con gái nhà tử tế, có thể nói là thượng lưu… cũng ham lấy chồng Mỹ.”

Anh bạn tôi cho rằng người Mỹ gần gái Việt là chỉ để chơi, để giải sầu. Nhưng tôi thấy đa số người Mỹ đến đây khi giao thiệp với gái bản xứ đều yêu và cố kết. Họ kết hôn cả với những cô gái điếm hạ cấp nhất. Tôi thấy tận mắt nhiều em điếm một trăm, sáu chục, hành nghề ở An Nhơn, Gò Vấp trở thành những cô vợ Mỹ rồi thành công dân Hoa Kỳ. Những cuộc hôn nhân ấy có bền và có hạnh phúc hay không ? Ðó là một chuyện khác. Những chuyện đã xảy ra ở Nam Hàn, ở Nhật Bản, giờ đây không có gì lạ đang xẩy ra ở Việt Nam.

Bỗng dưng tôi thấy buồn. Buồn và nản một cách lạ thường. Tôi nghĩ đến Quang. Anh sẽ nghĩ sao, sẽ nói gì khi con gái anh báo tin nó lấy chồng Mỹ và nó sang ở luôn bên Mỹ. Tôi sẽ không biết nói sao nếu con gái tôi nói với tôi như vậy.

“Nhẩy với cháu nữa đi chú. Sao chú buồn thế? Cháu đã đi mất ngay đâu. Cháu còn ở đây những gần mười hai tháng nữa kia mà!”

Hai giờ sáng, chúng tôi ra khỏi Grand Monde. Nàng say và yêu cầu tôi lái xe đưa nàng ra Cấp. Tôi không thể đưa nàng về nhà bà nội nàng trong lúc nàng say rượu.

Ðêm trên xa lộ, trời tối om. Ðêm Ba Mươi Tết. Nhiều chiếc xe, cũng như xe chúng tôi, vun vút chạy xa Sài Gòn. Gần như trên xe nào cũng có một cặp nhân tình.

Gần hết xa lộ, tôi dừng xe gần một vườn cao su. Tôi xuống xe theo nàng, sương đêm xuống lạnh hai vai áo. Nàng đi vài bước trên con đường vắng, rộng thênh thang, rồi nàng dơ tay thả trái bong bóng bay lên trời. Nàng đứng nghiêng nghiêng, trong chiếc áo lạnh màu trắng sữa, ngửa mặt nhìn theo trái bong bóng bay lên trời cao.

Hết truyện Xuân Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết.

Tôi – Hoàng Hải Thủy – viết truyên Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết cuối năm 1969 ở Sài Gòn. Như vậy truyện ngắn này đã có 40 năm tuổi. Tôi viết Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết để đăng trong một tờ báo Xuân. Tôi không nhớ báo nào. Năm 2000, con tôi tìm được tờ báo Xuân đăng truyện Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết trong một tiệm sách báo cũ ở đường Hồng Thập Tự. Con tôi cắt mấy trang truyện trong báo gửi sang Mỹ cho tôi. Tôi gõ máy chép lại truyện. Tôi chép lại y chang, không thêm bớt, không thay đổi đoạn nào.

Bốn mươi năm sau đọc lại truyện xưa, tôi thấy giữa Sài Gòn chiến tranh, khi mỗi giờ có bao nhiêu đồng bào tôi chết vì bom đạn, tôi sống bình an ở Sài Gòn, tôi viết một Truyện Xuân như Sài Gòn thanh bình 500/100, một Sài Gòn không biết Chiến Tranh là gì. Tôi có mặc cảm phạm tội.

Tôi đưa Truyện cho TBS đọc. Tôi nói với anh:

“Tôi muốn đăng lại truyện này, nhưng tôi ngại. Sài Gòn đang có chiến tranh ác liệt mà tôi viết một truyện Tình khơi khơi.”

TBS nói:

“Cho đăng đi. Sài Gòn những năm ấy có những người sống như thế, có những cuộc Tình như thế.”

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích.

Chép lai, viết thêm Ngày 20 January 2014, Ngày gần Tết Giáp Ngọ.

TÌNH NGƯỜI, TÌNH NGỰA

Võ Đại Lang Bánh Bao

Võ Đại Lang Bánh Bao

Năm năm cứ đến Ngày gần Tết
Lại rộn bài Xuân, rộn báo Xuân..

Làng Báo Việt Nam ở Hoa Kỳ — đã ly quốc 40 mùa xuân – vẫn theo, vẫn giữ việc xuất bản một Số Báo Xuân khi Tết Nguyên Đán đến; vẫn theo đúng tục lệ Báo Xuân năm con Giáp nào thì báo có nhiều bài viết về con Giáp ấy; như năm 2013 là năm Tỵ – Rắn – báo Xuân Việt Năm Tỵ có những bài viết về Rắn; năm nay – 2014 – là năm Giáp Ngọ – Ngựa – báo Xuân Việt năm Ngọ có nhiều bài viết về Ngựa.

Thành phố Sài Gòn trước năm 1954 có nhiều xe thổ mộ, xe do ngựa kéo, những con ngựa gầy kéo xe thổ mộ trông thật thảm; nhiều con ngựa yếu quá ngã ngay trên đường, làm xe đổ, người trên xe bị thương. Sau năm 1956 xe thổ mộ không được dùng nữa trên toàn cõi Nam Việt Nam.

Phan Kim Liên

Phan Kim Liên

Ngựa sinh ra tiếng Đĩ Ngựa. Tiếng Đĩ Ngựa được dân Việt dùng để gọi những người đàn bà dâm đãng. Nhiều khi người ta chỉ nói “Em đó ngựa lắm” là đủ nghĩa.

Đến sống ở Kỳ Hoa Đất Trích từ năm 1994 đến năm nay – 2014 – là tròn 20 năm, tôi đã hai lần viết về Ngựa cho Báo Xuân Năm Ngựa. Năm nay – Năm Ngựa 2014, Năm Ngựa thứ ba tôi sống ở Kỳ Hoa,  tôi được gợi ý:

“Anh viết về một em nào nổi tiếng là Ngựa ở Sài Gòn.”

Tất nhiên là “ở Sài Gòn Xưa, Sài Gòn những năm 1960, 1970” – tôi được gợi ý viết về một trong những người đàn bà nổi tiếng là người dâm đãng ở Sài Gòn Xưa – như nhiều người tôi cũng biết vài người đàn bà nổi tiếng dâm đãng ở Sài Gòn Xưa, nhưng tôi không thể viết về họ. Đúng ra tôi chỉ nghe người ta nói về vài nữ nhân vật dâm nổi tiếng, nhưng nay với tuổi đời xế chiều, tôi thấy “chuyện nghe nói và chuyện thật” khác nhau xa. “Chuyện nghe thiên hạ nói” có chuyện chứa đến 9/10 là chuyện bịa đặt. Nên tôi chỉ kể sơ về hai người:

Năm 1954 có cô Yến Ngựa từ Hà Nội vào Sài Gòn. Tôi nghe những ông đàn anh tôi ở Hà Nội vào nói cô là ca-ve, vì cô sexy nên cô có biệt danh là Yến Ngựa. Cô Yến Ngựa độc thân, ngụ trong một căn phòng trên lầu dẫy nhà đường Tự Do bên kia đừờng trước Nhà Brodard. Năm 1960 Yến

Ngựa bị đâm nhiều nhát dao chết trên giường ngủ. Cô bị giết ban đêm. Tôi không nhớ sau đó công an Sài Gòn có tìm ra, có bắt được kẻ giết Yến Ngựa hay không. Tôi có gặp cô vài lần nhưng tôi không quen cô. Năm cô bị giết cô trạc 35 tuổi. Tôi chỉ nhìn vẻ mặt và hình thể cô khi cô xuất hiện trên vỉa hè đường Tự Do, trong tiệm Brodard cũng thấy cô quả thật là sexy.

Bà vợ ông Chủ Tiệm Giầy Nam Việt đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn ngoại tình, chủ mưu trong việc cùng với tình nhân giết ông chồng. Bà này bị bắt; tôi không nhớ bà bị tù bao nhiều năm, tôi chỉ nhớ bà chịu án tù trong Nhà Tù dành cho đàn bà ở Thủ Đức. Tại nhà tù này bà có thai với ông Đại Úy Quản Đốc Nhà Tù. Tôi không nhớ người tình của bà vợ dâm giết chồng bị án tù bao nhiêu năm.

Tôi nghĩ đến Nữ nhân vật Dzâm Tình Phan Kim Liên trong tiểu thuyết Kim Bình Mai. Tết Năm Ngựa mà viết về Phan Kim Liên là đúng sách vở, an toàn và hấp dẫn. Tên truyện Kim Bình Mai gồm tên ba nữ nhân vật trong truyện: Kim Liên, Bình Nhi và Xuân Mai. Thi sĩ Nguyễn Du của ta chắc có đọc Kim Bình Mai nên đặt tên truyện thơ của ông là Kim Vân Kiều: Kim Trọng, Thúy Vân  và Thúy Kiều.

Để viết về Đệ Nhất Nữ Dzâm Phan Kim Liên tôi lấy bộ Kim Bình Mai ra đọc lại. Tôi đã đoc Kim Bình Mai một lần năm 1970 ở Sài Gòn. Kim Bình Mai năm xưa ấy không hấp dẫn tôi. Đọc nó tôi thấy sốt ruột vì chuyện kể dài dòng, toàn chuyện Dzâm Tình Tầu mà tôi thấy là không đi đến đâu so với những tiểu thuyết Dzâm Tình Âu Mỹ. Năm 1970 khi đọc Kim Bình Mai lần đầu tuổi tôi chưa tròn Bốn Bó. Bốn mươi năm qua, nay đọc Kim Bình Mai trên xứ người, tôi thấy tác phẩm quá hay. Không những chỉ quá hay mà còn là Hay quá là Hay. Kim Bình Mai truyện Hay mà Thơ cũng Hay. Thơ Kim Bình Mai khác  Thơ Hồng Lâu Mộng. Đa số bài Thơ Hồng Lâu Mộng tả cảnh phong vân tuyết nguyệt, tả tình oán than, sầu não, Thơ Kim Bình Mai tả chuyện đời, lòng người.

Tôi trích vài đoạn tôi thấy Hay trong Kim Bình Mai.

Trích Kim Bình Mai.

Võ Tòng mang gông.

Võ Tòng mang gông.

Bỗng nghe ngoài cổng có tiếng ồn ào, Tây Môn khánh gọi Đại An, bảo ra xem chuyện gì, Đại An đi ra cổng rồi trở vào thưa:

- Không có chuyện gì cả, chỉ có mấy người hát xẩm vừa đi vừa hát xin tiền, bọn trẻ con hàng phố bu theo reo hò, chọc phá.

Tây Môn Khánh bảo:

- Hôm nay trong nhà có tiệc, gọi họ vào hát cho vui.

Hoa Tử Hư tiếp lời:

- Phải đó, nên lắm.

Ứng Bá Tước nói:

- Đành vậy, nhưng chỉ sợ bọn này hát thì khó lòng nghe nổi.

Nhưng Tây Môn Khánh đã sai Đại An ra gọi người hát xẩm vào. Người này khăn áo chỉnh tề, chân đi hài đen, trông có vẻ một đạo sĩ hơn là một người hát dạo, mà mặt mũi lại sáng sủa dễ coi. Người này vào tới nơi thì cúi chào rồi đứng đợi. Tây Môn Khánh bảo:

- Sao không hát đi ?

Người này rút ra một ống sáo, thổi lên vài điệu rồi cất giọng hát:

“Than cho cảnh phồn hoa
Chỉ trong chớp mắt là tiêu ma
Đâu còn má đào mày liễu
Đâu còn áo cừu may khéo
Chỉ còn con oanh đang đứng gọi
Núi đã lở rồi ai đỡ được
Nghe nói  Người thiếu nữ đất Ngũ Lăng lúc trước
Bây giờ sống cảnh thê lương.”

Bài hát dứt, Hoa Tử Hư bảo:

- Hát bài khác đi.

Người nọ hát tiếp:

“Kìa ai đua chen trong chốn phong lưu
Cái chí bình sinh chỉ là tìm liễu hỏi hoa
Tiếng tì bà không còn nữa
Chim yến đã chết
Ấy cũng bởi lúc xưa tâm địa sài lang
Bây giờ thì lâu đài bỏ không, chim phượng đi rồi
Đáng thương thaỵ Lòng mê man giấc mộng xuân đầỵ”

Ứng Bá Tước khen:

-  Hát cũng hay đấy chứ.

Người kia lại hát tiếp:

“Có một người lòng như rắn độc, mặt mũi đẹp tươi
Gia sản quá nửa là của ngườị
Đáng giận thay Túi đã đầy
Ý xanh, tình đỏ nào ai haỵ”

 Ứng Bá Tước nổi giận mắng:

- Tên kia, sao dám mắng xéo chúng tao ?

 Nói xong vừa đứng dậy định xông lại đánh thì đã không thấy người hát dạo đâu. Mọi người hoảng sợ ngơ ngác mà nhìn.Tây Môn Khánh nói:

- Giữa thanh thiên bạch nhật mà yêu quái dám lộng hành hay sao ? Thật là kỳ lạ, có lẽ phải nhờ các vị tăng sĩ đạo sĩ trừ khử đi mới được.

 Ứng Bá Tước run sợ nhất, định thần một lúc rồi mới nói:

- Lạ thật, rõ ràng là có người đang đứng hát ngay đây mà, rồi làm sao tự nhiên biến mất ? Lạ thật!

Hoa Tử Hư nói:

- Chưa chắc gì đã phải ma quỷ, có thể là bọn bàng môn tả đạo có thuật phân thân tàng hình đấy mà thôi. Để tôi nhân đây xin kể chuyện này cho các ca ca nghe, cũng kỳ quái lắm. Năm xưa tôi còn nhỏ, bác tôi nói là khối ngọc hổ trong cung vua tự nhiên biến mất. Đó là bảo vật truyền từ bao đời. Nó nặng tới hơn năm mươi cân, được để trên cái xà nhà chạm trổ của nội cung. Cung cấm canh phòng nghiêm ngặt lắm, ai lấy trộm được. Vậy mà sau một thời gian điều tra, tên trộm ngọc bị bắt rồi bị đem ra hành quyết, nhưng khi đao phủ vung đao leân chém thì tên trộm biến mất, chỉ còn thấy bộ quần áo của nó nằm đó. Thế có lạ không ? Cho nên theo tôi thì người vừa rồi cũng chỉ là bọn tà đạo đó mà thôi. Bây giờ thì chúng mình tiếp tục uống rượu đi.

Mọi người nghe Hoa Tử Hư nói thì cũng tạm yên lòng, cùng nhau ăn uống như cũ. Tuy nhiên đám gia nhân trong nhà Tây Môn Khánh thì cứ to nhỏ bàn luận không thôi.

Chỉ nội trong ngày hôm ấy, cả hàng phố rồi cả huyện Thanh Hà đều tràn ngập những lời đồn đại về yêu quái trong nhà Tây Môn Khánh. Có người lại bảo rằng đã trông thấy người hát dạo đó tiếp tục đi hát dạo ngoài phố.

Ngưng trích Kim Bình Mai.

“Người thiếu nữ đất Ngũ Lăng lúc trước
Bây giờ sống cảnh thê lương.”
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.

Người thiếu nữ Ngũ Lăng trong bài hát sẩm Kim Bình Mai là nàng ca nữ “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách..” của Bạch Cư Dị.

Ứng Bá Tước là anh bạn chuyên nịnh bợ Tây Môn Khánh để ăn nhậu, vay tiền, súi và bầy mưu cho Tây Môn Khánh gian dâm, hại người chồng, chiếm người vợ. Tác giả Kim Bình Mai có thể viết ngay boong “Ứng Bá Tước là tên bạn nịnh,” nhưng kể truyện mà giới thiệu nhân vật như thế là kém nghệ thuật, người kể truyện có nghệ thuất diễn tả nhân vật bằng những việc làm, những lời nói của nhân vật.

Trích vài chuyện kể có duyên trong Kim Bình Mai:

Ứng Bá Tước kể chuyện khôi hài riễu Mụ chủ nhà kỹ nữ khinh thường gã:

“Ma ma à, tôi kể câu chuyện cười cho mà nghẹ Ngày trước có một người khách phong lưu thường tới lui say mê một cô gái ca kỹ. Một hôm ông khách này làm vẻ nghèo nàn mà tớị Bà mẹ nuôi cô ca kỹ  thấy người khách lần này quần áo lam lũ thì không thèm tiếp rước gì cả, để mặc người đó ngồi, một miếng trà cũng chẳng có.

Người khách nói:

“Ma ma à, tôi đói quá, có cơm cho tôi một bát đỡ lòng”.

Lão bà nói gọn:

“Thời buổi này cơm ở đâu mà sẵn vậỷ”

Người khách nói :

“Nếu không có cơm thì thôi, xin cho tôi thau nước rửa cái mặt.”

 Lão bà nói:

“Tôi không có tiền trả tiền nước nên mấy hôm nay người ta không gánh nước.”

 Người khách lấy ra mười lạng bạc sáng ngời, bảo đi mua giùm thau nước rửa mặt. Lão bà thấy bạc, hoảng quá, líu lưỡi nói:

“Dạ dạ, để tôi mời quan nhân rửa cơm rồi ăn mặt, chết chết, để quan nhân ăn mặt rồi rửa cơm”.

Mọi người cười ầm lên.

*

Ứng Bá Tước cười:

- Hai anh em chúng tôi nói gẫy cả lưỡi, quỳ gãy cả gối mới thỉnh được quan nhân tới đây, vậy mà giờ này không mời anh em chúng tôi được một tiếng hay sao? Quan nhân mà hôm nay không chịu đến thì mẹ con chị em nhà này tha hồ mà khóc sưng mắt. Thật là đồ bạc bẽo vô ơn.

Quế Thư lườm Ứng Bá Tước:

- Thôi đi ông, đừng nói cạnh khoé chúng tôi mà cũng đừng Tào Tháo kể ơn nữa, có rượu thịt thì ông cứ việc ăn uống đi, còn đòi hỏi gì nữa!

Ứng Bá Tước nói với Tây Môn Khánh:

- Đại ca thấy không ? Rõ ràng là hạng vô ơn, chưa khỏi vòng đã cong đuôi. Mới khóc lóc lạy van người ta đó  bây giờ lại trở mặt ngay được. Đại ca xích ra để tôi coi kỹ xem mặt mũi hạng người đó thế nàọ

Nói xong nhoài người nắm kéo Quế Thư. Quế Thư cười khanh khách:

- Khỉ không, đổ hết rượu ra áo  quan nhân bây giờ.

Bá Tước nói:

- Thì cứ xích gần đây, để ta kể một câu chuyện vui cho nàng nghe. Ngày xưa có một con cua kết nghĩa huynh đệ với một con gà. Hai con hẹn rằng con nào nhảy qua được cái lạch thì làm anh. Con gà vỗ cánh nhảy qua bờ lạch bên kia. Con cua định nhảy theo thì chợt có hai thiếu nữ tới lạch múc nước. Thiếu nữ thấy con cua thì bắt rồi lấy một sợi dây buộc lại, lát nữa đem về. Nhưng lúc múc nước xong thì hai thiếu nữ quên con cua, không đem theo. Con gà ở bờ bên kia mãi không thấy gì, bèn trở lại bờ bên này thì thấy cua  bị trói nằm đó. Gà hỏi duyên cớ, cua đáp…

Tới chỗ này, Bá Tước nhìn thẳng vào  mặt Quế Thư mà nói:

 – …Tôi đang định nhảy sang thì bị hai con ngựa cái nó trói tôi..!”

Bá Tước chưa dứt lời thì Quế Thư vừa cười vừa chạy tới dùng quạt mà đánh. Tây Môn Khánh cũng không nín cười nổi. Mọi người vui vẻ ăn uống.

Ngưng trích.

Nửa đêm đất khách, trong tòa  nhà dành cho Người Già Low Income – viết rõ là sống bằng tiền bố thí SSI – khi đọc hai câu trong Kim Bình Mai:

Đẹp hơn chim phượng, xinh hơn yến.
Đỏ tự tương tư, xanh tựa thu!

Tôi thấy quá haỵ “Đỏ tự tương tư, xanh tựa thu.” Không biết nguyên văn chữ Hán ra sao, tiếng Việt mà như vậy là tuyệt. Tôi nghĩ: “Tay nào ở Hà Nội dịch truyện này tuyệt quá. Văn Việt  nhuyễn như lụa, mượt như nhung, trôi như suối chẩy, êm như mây bay, sáng như trăng thu, dịu như gió xuân.” Thán phục. Tôi nghĩ vậy vì quyển Kim Bình Mai tôi đọc đây do Nhà Văn Học Việt Cộng ấn hành. Đọc lý lịch tác phẩm tôi thấy:

“Nhà Xuất Bản Văn Học in lần thứ nhất theo bản của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1989.

(Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội in theo bản của Nhà Xuất Bản Chiêu Dương, 1969.)

Té ra truyện Kim Bình Mai tôi đọc năm nay, năm tôi tuổi đời Tám Bó, Kim Bình Mai tôi đang đọc và kể đây — đọc và thấy hay quá xá — là bản truyện của Nhà Xuất Bản Chiêu Dương in ở Sài Gòn năm 1969. Chủ Nhà Chiêu Dương là Nhất Giang, hiện nay là chủ nhiệm nhật báo Chuông Sài Gòn ở Sydney, Úc. Năm 1969 Kim Bình Mai được Chiêu Dương xuất bản 3 tập. Năm 1970 tôi đã đọc Kim Bình Mai. Nay tôi đọc bản truyện cũ mà tôi không biết.

Nhất Giang Chiêu Dương, Sài Gòn xuất bản đến 8/10 tiểu thuyết của người anh em cùng vợ với tôi là Hoàng Hải Thủy.

Cảm khái cách gì.

Đây là đoạn truyện Tây Môn Khánh thông dâm với Phan Kim Liên.

Sơ lược: Kim Liên nguyên là người hầu trong một nhà giầu. Vì Kim Liên không chịu làm thiếp – cho ông chủ hưởng thân xác — nên bị chủ ghét, đem gả cho Võ Đại, anh bán bánh bao vừa lùn vừa hèn yếu. Tây Môn Khánh tình cờ nhìn thấy Kim Liên, lòng dâm nổi lên, gã nhờ Mụ Vương, người ở cạnh nhà Võ Đại, dàn xếp cho gã được hưởng thân xác Kim Liên.

Kim Bình Mai. Trích:

Vương Bà nói:

“Kế của tôi thần tình lắm. Đại quan nhân đã nhờ tôi thì tôi nói thật. Cô nàng ngài muốn gần tuy xuất thân từ gia đình nghèo khó nhưng trăm phần lanh lợi, đàn hát giỏi, nữ công thêu thùa cũng khá, lại biết đọc sách, ngâm thơ, đánh cờ, uống rượu, cái gì cũng hay. Cô ta tên là Kim Liên, con nhà họ Phan, trước cư ngụ ở Nam Môn. Khi nhỏ vì nhà nghèo nên bị bán cho Trương Đại Hộ. Tại nhà họ Trương, cô được dậy đàn ca, thêu may. Khi Đại Hộ sắp chết gả cô cho anh chàng Võ Đại. Từ đó cô ta buồn khổ vì phải làm vợ người chồng không ra gì. Cô thường than thở với tôi. Bên nhà cô có chuyện gì cũng thường mời tôi sang giúp. Cô ta nhận tôi là mẹ nuôi. Hàng ngày, Võ Đại  gánh hàng đi bán từ sớm. Nếu Đại quan nhân chịu theo kế của tôi thì trước hết hãy lấy một xấp lụa xanh, một xấp lụa trắng đem tới cho tôi, tôi sẽ đưa qua nhờ cô ấy may áo dùm. Nếu cố từ chối không may thì kế coi như bỏ. Nếu cô ta vui vẻ nhận may dùm thì kế đã thành được một phần. Rồi tôi sẽ mời cô ấy sang đây ngồi may áo cho tôi, nếu cô ấy không chịu, kế phải bỏ, nếu cô ấy chịu sang, kế thành được hai phần. Tôi sẽ bầy một tiệc nhỏ mời cô ta, nếu cô ta không chịu sang ăn uống, kế phải bỏ, nếu cô ta chịu, kế thành được ba phần. Lần tôi mời cô ta uống rượu thứ nhất, ngài đừng đến. Chừng vài ngày sau tôi lại dọn một tiệc nhỏ mời cô ấy. Tôi sẽ báo ngài biết. Ngài sẽ đến đây vào lúc tiệc rượu đã bầy ra. Tôi mở cửa đón ngài vào. Nếu thấy khách đàn ông, cô ấy bỏ về, ấy là kế phải bỏ. Nếu cô ấy cứ ngồi lại, kế thành được bốn phần. Khi đó tôi sẽ nói ngài là người  thường làm ơn cho tôi, ngài cho tôi lụa để may quần áo. Nhân có tiệc rượu, tôi mời ngài nhập tiệc. Nếu ngài vào tiệc mà cô ấy đứng lên ra về, ta đành chịu. Còn cô ấy cứ ngồi lại, ấy là kế ta thi hành được năm phần. Ngài sẽ hỏi chuyện cô ta, nếu cô ta không chịu tiếp chuyện thì thôi, nếu cô ta chịu trả lời ngài, ấy là kế hoạch ta thì hành được sáu phần. Đến đó ngài sẽ nói ngài đã nhìn thấy cô ta, ngài thấy cô đẹp, ngài muốn kết tình thân với cô. Nếu cô nghe mà bỏ về, kế hoạch ta thất bại. Nếu cô ta nghe chuyện ngài tỏ ý ái mộ mà cứ ngồi lại, ấy là kế hoạch ta thành được bẩy phần. Rồi ngài nói ngài muốn nhờ cô ta may y phục cho ngài, cô ta không nhận thì thôi, cô ta nhận, kế ta thành được tám phần. Ngài sẽ hẹn ngày ngày trở lại nhà tôi để gặp cô ấy nhờ may y phục. Cô ta không chịu sang gặp lại ngài thì thôi, coi như kế hỏng. Nếu ngài hẹn ngày gặp lại mà cô ta không nói gì. Ấy là kế ta thành được chín phần. Rồi tôi nói  nhà hết rượu, tôi phải đi mua rượu, nếu cô ta bỏ về, kế hoạch ta thất bại, còn nếu cô ta cứ ngồi lại với ngài, kế hoạch ta thành được mười phần. Trước khi đi tôi sẽ khoá trái cửa lại, nếu cô ta phản đối, bỏ về bằng cửa sau, ấy là kế hoạch ta thất bại. Bây giờ đến việc khó làm nhất. Còn một mình ngài với cô ta trong nhà, ngài làm sao chiếm được thân xác cô ta, được hay không la do tài của ngài. Ngài phải rất cẩn thận. Tôi đề nghị như vầy: ngài dùng lời huê mỹ tỏ tình làm nàng xiêu lòng, rồi mới dùng đến ôm ấp. Ngài làm rơi đôi đũa xuống dưới chân cô ta, ngài quì xuống nhặt đũa rồi sờ nhẹ cổ chân cô ta. Nếu cô ta rụt chân lại, đứng lên bỏ về. Ấy là kế hoạch ta tiêu ma. Còn nếu cô ta chịu để ngài vuốt ve, ôm ấp, ấy là kế hoạch ta thành công.

( .. .. .. )

Tây Môn Khánh cố tình làm rơi đôi đũa xuống sàn nhà. Đôi đũa rơi nằm ngay bên chân Kim Liên. Khi thấy Tây Môn Khánh ngơ ngác tìm đũa, Kim Liên cười nói:

“Đũa của ngài rơi đây nàỵ”

Nàng chỉ tay xuống chân nàng.  Tây Môn khánh đi sang, ngồi sụp xuống, nhưng y không nhặt đũa mà lại nắm cổ chân Kim Liên, sờ vuốt  bắp chân nàng. Kim Liên đờ đẫn cả người. Nàng để cho Tây Môn Khánh dìu nàng vào giường.

 (.. .. )

Từ đó ngày nào Kim Liên cũng gặp Tây Môn Khánh ở nhà Vương Bà. Hai người ân ái mặn nồng, keo sơn gắn bó. Nhưng như lời thường vẫn nói: “Việc tốt nó ở trong nhà. Việc xấu theo gió bay ra ngoài đường.” Chuyện Kim Liên ngoại tình với Tây Môn Khánh nhiều người biết, riêng có Võ Đại, chồng của Kim Liên, là chưa biết.

Ở huyện Thanh Hà có chú thiếu niên 16 tuổi, làm nghề đẩy xe nên được gọi là Vận Ca. Chú này đến những tửu điếm chờ khách sai vặt, kiếm tiền nuôi cha gìa. Tây Môn Khánh thường cho tiền chú. Từ ngày có Kim Liên, Tây Môn Khánh không ra tiệm trà, tiệm rượu nữa. Lâu không có tiền Tây Môn Khánh chọ Vận Ca lựa mua một giỏ trái cây mang đến biếu Tây Môn Khánh. Vận Ca đã làm mánh này nhiều lần. Lần nào cũng được Tây Môn Khánh cho tiền nhiều gấp ba, gấp bốn số tiền Vận Ca mua trái cây. Hôm ấy Vận Ca mang giỏ trái cây đến tiệm buôn của Tây Môn Khánh, nhưng ông chủ không có ở đó. Người trong tiệm không nói cho Vận Ca biết ông chủ đi đâu. Vận Ca ôm giỏ trái cây đứng lơ ngơ ở đầu đường thì có người đi qua mách:

“Mày muốn tìm Tây Môn Khánh thì đến nhà Vương Bà. Mấy tháng nay lão ta đến đó hú hí với vợ Võ Đại, mày không biết à?”

Vận Ca dến nhà Vương Bà đòi gập Tây Môn Khánh. Vương Bà nói Tây Môn Khánh không có trong nhà mụ. Mụ và Vận Ca chửi nhau rồi xô xát. Vận Ca đi tìm Võ Đại, kể chuyện.

Vận Ca:

“Hồi này ca ca chắc ăn nhiều nên mập ra. Ca ca chỉ biết ăn thôi nên hóa ra ngu: vợ ca ca đi nằm với người khác mà ca ca đâu có biết.”

Võ Đại nổi nóng:

“Thằng ôn kia. Vợ tao đâu có ngoại tình mà mày dám nói!”

Vận Ca cười khẩy:

“Phải, bà chị đâu có ngoại tình; bà chị chỉ đi nằm với thằng đàn ông khác thôi.”

Do lời chỉ của Vận Ca, Võ Đại xông vào nhà Mụ Vương bắt gian phu, dâm phụ. Tây Môn Khánh tông cửa phòng nhẩy ra, phóng một đá vào ngực Võ Đại rồi bỏ chạy. Võ Đại bị đá, hộc máu, nằm chết ngất. Kim Liên và Mụ Vương khiêng Võ Đại về nhà. Sợ Võ Tòng, em Võ Đại, làm Đô đầu trong huyện, đi việc quan về, Võ Đại sẽ kể chuyện, Võ Tòng sẽ hỏi tội, bộ ba Mụ Vương, Kim Liên, Tây Môn Khánh dùng thuốc độc cho Võ Đại uống. Võ Đại chết thảm.

Ngưng trích Kim Bình Mai.

Chuyện Võ Đai bị chết thảm cho người đọc Kim Bình Mai là tôi – CTHĐ – thấy ở đời – đời nào cũng vậy – đàn ông nghèo hèn mà có vợ đẹp là một đại họa. Trong Kim Bình Mai còn hai, ba vụ đàn ông có vợ đẹp bị chết thê thảm. Thủ phạm là gã đa dzâm Tây Môn Khánh.

Đây là đoạn Võ Tòng khi trở về huyện, được biết Võ Đại chết.

Kim Bình Mai. Trích:

Võ Tòng trầm ngâm giây lát rồi cáo từ Vương bà, trở về huyện, sai lính huyện đi mua cho mình một bộ tang phục cùng các thứ hoa quả nhang đèn. Sau đó mặc đồ tang, đem lễ vật trở lại nhà của Võ Đại, bày bàn thờ, lập bài vị, đốt đèn thắp nhang rót rượu cúng. Lại sai lính làm cơm cúng Võ Đại. Cúng xong, Võ Tòng cùng đám lính ngồi ăn. Đêm đó Võ Tòng ở lại nhà Võ Đại, cho đám lính ngủ ở phòng ngoài,  còn mình thì nằm ngủ trước bàn thờ anh.

Tới quá nửa đêm Võ Tòng vẫn trằn trọc không ngủ được, bèn ngồi dậy trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn trên bàn thờ nhìn lên bài vị của anh mà nghĩ thầm:

“Anh mình lúc sống thì yếu đuối nhút nhát, lúc chết lại không được rõ ràng thật là…”

Còn đang nghĩ ngợi thì bỗng nhiên một cơn gió lạnh thổi vào, ngọn đèn trên bàn thờ chập chờn rồi tắt ngấm, Võ Tòng tự nhiên nổi gai ốc, tóc gáy dựng lên, nhưng trấn tĩnh mà nhìn thì thấy lờ mờ một bóng người từ sau bàn thờ bước ra nói:

- Em ơi, anh chết khổ chết nhục lắm.

Võ Tòng định cất tiếng hỏi thì hơi lạnh tan hết mà bóng người cũng chẳng thấy đâu nữa.

Bên ngoài, tiếng trống huyện báo hiệu canh ba, ba khắc. Võ Tòng kinh sợ nghĩ:

“Vừa rồi nhất định không phải là mộng, anh ta tới than với ta, đúng là anh chết oan chết uổng gì đây.”

Võ Tòng cứ ngồi nghĩ ngợi mà trống điểm canh năm cũng không hay biết.

Ngưng trích.

Tác giả Kim Bình Mai lấy đoạn truyện “Võ Tòng sát tẩu” trong Thủy Hử mà phát triển thành một truyện dài. Trong Thủy Hử, Võ Tòng trở về, gíết chết ngay Tây Môn Khánh, Mụ Vương và Kim Liên. Trong Kim Bình Mai, Võ Tòng đánh chết một tên gia nhân của Tây Môn Khánh nên phải đi tù; Tây Môn Khánh cưới Phan Kim Liên về làm vợ thứ năm. Nhiều năm sau Tây Môn Khánh chết vì suy nhược, Kim Liên thông dân với Kính Tế, con rể của Tây Môn Khánh nên bị Nguyệt Nương, vợ cả của Tây Môn Khánh, đuổi ra khỏi nhà. Kim Liên về sống với Mụ Vương. Võ Tòng trở về, giết nàng.

o O o

Truyện Kim Bình Mai được đăng trọn bộ trên Trang Web “Việt Nam Thư Quán”, tên Người Dịch là “Phan Văn Các.” Tôi vinh danh ông Phan Văn Các là Người Dịch TruyệnTầu Tuyệt Diệu ngang với Tử Vi Lang, người dịch Tam Quốc Chí.

THƠ LỚN, THƠ LỢN

ac

Một buổi chiều cuối năm – Tết Nguyên Ðán sắp đến trên thành phố tang thương –  không nhớ đúng là năm 1981 hay 1982, quá buồn, không biết làm gì, tôi lò mò lọ mọ đến tiệm sách ở Ngã Ba Ông Tạ coi chơi xem có gì lạ không. Tiệm sách lơ thơ, leo heo, đoi đẹn vài quyển văn học thổ tả, vài quyển chính chị, chính em ca tung đất nước Liên Xô giầu đẹp do bọn Thợ Viết Hà Nội viết ra – tên đúng của bọn Thợ Viết này là Cu Li Văn Nghệ – Những năm 1980 ở Sài Gòn, chó nó cũng không thèm đọc những sách của bọn Cu Ly Văn Nghệ Bắc Cộng.

Tuy không nói ra nhưng thái độ, vẻ mặt của ông  chủ tịệm sách leo heo Ngã Ba Ông Tạ cũng cho tôi thấy ông ta không muốn bán mấy quyển sách cù đinh, thiên pháo ấy vì sách bán đi không có sách khác bầy thế chỗ trên kệ, những kệ sách thành ra đoi, nhẵn thin, trơ trẽn. Mà tôi cũng không đến tiệm sách để mua sách do bọn Hà Nội viết, như đã nói, vì buồn quá đỗi, không có việc gì làm hay hơn, tôi lờ phờ đến đây coi chơi.

Sạp báo trước tịệm bầy mấy tờ báo Xuân. Tờ Xuân Văn Nghệ của bọn gọi là Hội Nhà Văn Hà Nội trên trang bìa có hàng chữ quảng cáo:

BỐN NHÀ THƠ LỚN CỦA DÂN TỘC

Bốn trự được bọn “Hội Nhà Văn Bị Rọ Mõm Hà Nội ” bốc là NHÀ THƠ LỚN của DÂN TỘC là:

  1. Hồ chí Minh
  2. Trường Chinh
  3. Tố Hữu
  4. Lê đức Thọ
Những ô lỗ châu mai trong lô-cốt quân Pháp -  chiến tranh Việt Pháp 1946-1954.- Tiếng Pháp là Blockhaus. Từ Blockhaus ta có tiếng lô-cốt.

Những ô lỗ châu mai trong lô-cốt quân Pháp – chiến tranh Việt Pháp 1946-1954.- Tiếng Pháp là Blockhaus. Từ Blockhaus ta có tiếng lô-cốt.

Tôi đứng tần ngần nhìn xuống tờ báo. Hồ chí Minh, Tố Hữu mần thơ thì tôi biết tỏng tĩ lâu rồi, tôi nghe nói anh Ðặng xuân Khu Trường Chinh có bút hiệu là Sóng Hồng, hành nghề đảng viên cộng sản chuyên nghiệp, tức nhà nghề, ngoài cái nghề “đảng viên Cộng Chồn” ra anh ta vô nghệ nghiệp. Trường Chinh từng có tập tọng viết lách, mần thơ, mần đồ chi đó, nhưng anh Lê đức Thọ Răng Vẩu mần thơ, làm dzăng nghệ, dzăng gừng thì tôi chưa bao giờ nghe nói.  Tôi cũng chỉ nghe nói thôi, tuy sống trong kìm kẹp cộng sản đã mấy năm, tôi chưa đọc bài thơ nào của anh cu Sóng Hồng. Tôi mở  tờ báo Xuân Văn Nghệ ra coi cọp tại chỗ. Trong báo có bài thơ của Sóng Hồng, bút hiệu của Trường Chinh, người là Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong nhiều năm.

Bài thơ, và lời ban biên tập tờ báo giới thiệu người làm thơ, kể trong trường hợp nào Thi Sĩ Sóng Hồng, “Nhà Thơ Lớn của Dân Tộc”, mần bài thơ này làm tôi ngơ ngẩn. Ngẩn ngơ rồi ngậm ngùi. Ðây là đại ý lời giới thiệu:

Năm 1944….. Mùa đông rất lạnh. Nữ đồng chí giao liên Y. viết thư xin Ðồng chí Tổng Bí Thư cấp cho chị một áo mặc ấm, Ðồng chí Tổng Bí thư làm bài thơ này gửi cho chị, lời thơ nhắc cho chị giao liên Y. nhớ đến những nữ đồng chí giao liên ở Liên Xô mùa đông này phải đi liên lạc trong tuyết lạnh khổ hơn chị nhiều.

Tôi ngẩn ngơ vì tôi không thể tưởng tượng đươc có tên đàn ông nào trên cõi đời này, khi có người đàn bà hỏi xin cái áo mặc ấm, thay vì chỉ gửi cái áo  cho người xin  là xong, lại rị mọ mần Thơ – Tất nhiên là Thơ Cóc, Thơ Nhái – trong bài Thơ không nói gì đến cái áo mà nói đến “Những Nữ đồng chí giao liên Liên Xô vĩ đại đang vất vả đi đưa thư trong tuyết giá.” Sau đó tôi nghĩ:

“Nó phải cà chớn như thế nó mới làm đươcï Tổng Bí Thư Ðảng nó.”

Tôi thương chị giao liên xin áo quá là thương. Tổng Bí thư của chị có nhẫn tâm, có phũ như chó nó mới làm thơ nhắn nhủ chị như thế. Tôi không biết sau khi mần Thơ Thủm, “Nó” có cho chị cái áo bông hay “Nó ” phe lờ luôn!

Tôi cảm thương chị giao liên vì tôi có mấy năm làm Liên Lạc Viên như chị. Những năm 1948, 1949 tôi là Liên Lạc Viên của cái gọi là Ban Tình Báo Ðăïc Biệt Gia Lâm. Ban này được đặt ra để do thám phi trường Gia Lâm, phi trường  độc nhất của Pháp hoạt động trong chiến tranh ở Bắc Kỳ từ 1946 đến 1954. Sau năm 1945 Pháp đóng cửa phi trường Bạch Mai. Những đêm mùa đông mưa dầm, gió lạnh, chú thiếu nên 15, 16 tuổi là tôi một mình đi qua, tất nhiên là đi chân đất, qua những cánh đồng Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, Ðông Anh, vùng đất quê hương bên kia sông Ðuống của ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên.

Năm 1947 tôi  làm cuộc văn huê là “thoát ly gia đình đi kháng chiến” với mấy bộ quần áo mẹ tôi may cho tôi từ năm 1945, 1946, thời gian  gia đình tôi ở Hà Ðông. Vào tuổi dậy thì, tôi nhớn bổng lên, tôi không còn mặc vừa mấy bộ quần áo cũ và những bộ quần áo ấy sau mấy năm dầu dãi cũng đã rách nát. Ði trong gió lạnh mùa đông giữa cánh đồng miền Bắc mà chỉ mặc mong manh có một cái áo, một cái quần, không áo len, áo sợi,  tôi biết thế nào là lạnh, là rét.

Một bài thơ cà chớn như thế mà được bọn Cu Li Văn Nghệ Hà Nội bốc là Bài Thơ Tuyệt Hay của Dân Tộc, anh mần thơ – Tổng Bí Trương Chinh – được đội lên thành Nhà Thơ Lớn của Dân Tộc. Gọi anh ta là “Nhà Thơ Lợn của Dân Tộc” nghe lọt tai hơn. Ngoài những đặc tính Ác, Ngu, Tham, Ðểu, Hèn, bọn đảng viên Cộng Sán Việt còn nhiệt tình, tích cực, hăng hái, tranh nhau “Bợ Ðít, Thổi Dzế, Nâng Bi “bọn lãnh tụ của chúng. Không chỉ bọn đảng viên CS Bắc Kỳ như thế, bọn đảng viên CS nước nào cũng thế. Chỉ có điều bọn CS Bắc Kỳ “bợ đít, thổi dzế, nâng bi “bọn lãnh tụ Lông Lợn của chúng trâng tráo nhất, lộ liễu nhất trong giới cộng sản.

Trường Chinh, tên đồ tể Cải Cách Ruộng Ðất.

Trường Chinh, tên đồ tể Cải Cách Ruộng Ðất.

Sau cái gọi là Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Ðất có những vụ đấu tố tàn ác, vô luân, đê tiện, bỉ ổi, giết người dã man, Anh Cu Tổng Bí Trường Chinh bị bọn đồng chí-đồng rận-đồng đảng của anh cho là có lỗi, chúng đá anh  vào bóng tối. Suốt thời gian hai tên Lê Duẩn-Lê đức Thọ cầm quyền sinh sát, dài đến 20 năm, Trường Chinh nín khe; anh không dám mở miệng nói nọ kia, kia nọ, kể cả đánh dzắm anh cũng không dám. Trong nhiều năm hai tên Lê Duẩn-Lê đức Thọ không những chỉ ngồi xổm lên mặt bọn Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm văn Ðồng, hai tên còn công nhiên ghé đít sịt cả hơi bẩn vào mặt Hồ chí Minh, Tôn đức Thắng, Hoàng văn Hoan, Vũ đình Huỳnh, Ðặng kim Giang.

Thế rồi Lê Duẩn lăn cổ ra chết, Trường Chinh được móc từ trong thùng rác ra, cho trở lại làm Tổng Bí Thư. Khi ấy Liên Xô vĩ đại, thành trì của vô sản thế giới, đã sụp đổ, Chiến Tranh Lạnh chấm dứt với sự thảm bại của bọn Bôn-sê-vích Nga. Nổi lên năm 1920, hoành hành, tác yêu, tác quái trong 70 năm, năm 1996 họa Cộng Sản hết còn làm khổ nhân dân thế giới. Nhiều người Việt ngạc nhiên khi thấy Tổng Bí Trường Chinh lép nhép nói:

- Ðổi mới hay là chết.

Từ ngày chúng cướp được quyền hành không bao giờ bọn Cộng Sán chịu nhận chúng có những sai lầm, chúng lại càng không bao giờ nhận chính sách của chúng cần có những sửa đổi. Chúng khăng khăng nói Chủ Nghĩa Mác-Lê của chúng Tuyệt Ðối Ðúng. Ðảng chúng Không Bao Giờ Sai. Chúng hung hăng và thẳng tay bắt tù mút mùa, tù đến chết những tên – cũng là đảng viên Cộng Sán – đòi“Xét Lại, Ðổi Mới”. Những năm 1976, 1977 bọn Cộng Sán Bắc Kỳ dán đầy đường phố Sài Gòn những tờ tuyên truyền “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin bách chiến bách thắng muôn năm! Chủ nghĩa Mác-Lê Vô Ðịch muôn năm.  Ðảng Cộng Sản Vtệt Nam muôn năm. Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội..”

Chắc không phải chỉ mình tôi mà nhiều người Việt trong những năm 1980 cũng nghĩ như tôi khi thấy sau khi chiếm trọn ba nước Việt Nam Cộng Hòa, Cao Miên, Ai Lao, bọn Cộng chiếm luôn nước A-phú-hãn, khi ấy tôi nghĩ:

“Thế này là bỏ mẹ dzồi. Thừa thắng xông lên, Nó sẽ dễ dàng chiếm nhiều nước nữa. Không gì ngăn nó được. Như cục đá được ném lên sẽ có lúc phải rơi xuống, nhưng mình vô phúc phải sống trong thời gian nó bay lên, mình sẽ chết mà không được thấy nó rơi xuống. Không khác những đế quốc đã thành hình, đã sụp đổ, đã tiêu ma trong lịch sửû, bọn Cộng có thể thành lập Ðế Quốc Ðỏ và Ðế Quốc Ðỏ của chúng có thể tồn tại trong hai, ba trăm năm.”

Lê Duẩn là tên “phấn khởi, hồ hởi” nhất trong bọn Lãnh Tụ Lông Lợn Cộng Hà Nội. Y huênh hoang tung ra khẩu hiệu “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa.” Y là tên Cộng “sung sướng nhất” trong bọn Cộng Hà Nội, y chết trong hào quang và dư quang chiến thắng, y chết trước khi bọn Nga Cộng bị nhân dân Nga bợp tai, đá đít, đuổi đi, y chết trước khi “Ðồng chí Hôn-nách-cơ vĩ đại” của y cúp đuôi chồn chạy khỏi Ðông Ðức, y chết trước khi “Ðồng chí Sô-xét-cu vĩ đại” của y bị dân Lỗ bắn chết. Bọn Trường Chinh, Tố Hữu, Phạm văn Ðồâng, Võ nguyên Giáp là những tên Cộng Lông Vịt nhục nhất. Nhục vì chúng phải thấy ngày Chủ nghĩa Cộng sản bị vứt vào hố phân của nhân loại, nhục vì chúng phải thấy bằng chính mắt chúng Tượng Sịt-ta-lin, Tượng Lê-nin bị nhân dân Nga kéo đổ, lôi ra nằm ở bãi rác, nhục vì chúng phải thấy”Ðồng chí Sô- xét-cu vĩ đại “Xứ Lỗ-ma-ni của chúng bị dân Lỗ lôi cổ ra trước chợ, cả hai vợ chồng, bị dân Lỗ dí súng vào mang tai, bắn bỏ, nhục và sợ vì phải thấy “Ðồng chí Na-dzi-bu-la vĩ đại” Xứ Ac-gha-nit-tan của chúng bị dân Ác lôi ra treo cổ toòng teeng nơi cột đèn.

Trường Chinh không bao giờ chủ trương Ðổi Mới. Trong nhiều năm Y thẳng tay bắt tù bọn Cộng Lông Chó Ghẻ ọ ẹ đòi“đổi mới, xét lại.” Y bị bắt buộc phải theo đuôi bọn Nga Cộng đàn anh. Y không “đổi mới” không được. Nhưng y vẫn còn may mắn: ít ngày sau khi lép nhép nói “Ðổi mới hay là chết” y lăn cổ ra đi một đường tầu suốt về Hỏa Ngục. Y đi theo, y về với Sịt-ta-lin, Hồ chí Manh. Nghe nói y bị té gẫy cổ khi đi trên thang lầu.

Thời gian qua.. Năm 2007, bọn Cu Li Văn Nghệ Cộng Sán Hà Nội hết chuyên viết, móc chuyện “Tổng Bí Trường Chinh Ðổi Mới Hay Là Chết” năm xưa ra kể lại. Mời quí vị đọc vài đoạn trích trong tờ  báo Cộng Lông Chuột xuất bản ở Hà Nội:

Báo TIỀN PHONG. Trường Chinh: Người “Chủ Biên” của Ðổi Mới

Những ngày này, cách đây hơn 20 năm cả đất nước đang chuẩn bị đón Tết cổ truyền với một niềm vui lớn. Lúc bấy giờ, Ðại Hội Ðảng Lần Thứ VI – Ðại Hội của Ðổi Mới.

Có thể nỗi khổ sở về cơm áo do kéo dài tình trạng quan liêu, bao cấp chưa kịp rời xa mỗi gia đình, nhưng nỗi bức xúc về tinh thần thì đã thực sự được “giải phóng” khi Thông điệp dứt khoát về đường lối Ðổi Mới của Ðảng vừa được chính thức công bố trên Hội Trường Ba Ðình (Hà Nội). Người đứng trước toàn Ðảng, toàn dân để tuyên bố thông điệp đó là Tổng Bí thư Trường Chinh.

Khi tìm gặp các sử gia, các nhà kinh tế là nhân chứng của những ngày mà công cuộc Ðổi Mới bắt đầu được đặt những nền móng đầu tiên, dù mỗi người diễn đạt theo cách của mình, nhưng họ đều gặp nhau ở điều mà Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trân trọng viết về Cố Tổng Bí thư Trường Chinh: “Ðiều thú vị là “chủ biên” của Ðổi Mới lại là một người vốn được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh”.

GS Trần Nhâm – Nguyên Thư ký của Cố Tổng Bí thư Trường Chinh, khi nhớ lại hành trình “đổi mới tư duy”, đặc biệt là “tư duy kinh tế” ở người lãnh đạo của mình, đã phát biểu:

-  Không thể nói ai là tác giả của Ðổi Mới ở Việt Nam, đó là sự nghiệp của toàn Ðảng, toàn dân. Mỗi người có đóng góp tùy vào vị trí, cũng như tâm huyết và trí tuệ của mình, để cùng nhau đẩy tiến trình Ðổi Mới đi lên.

Cánh cửa của Ðổi Mới có thể đã không được mở và vận mệnh của dân tộc sẽ khác đi rất nhiều nếu như chúng ta không có một “Tổng Bí thư của Ðổi Mới” như cách gọi của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt về Cố Tổng Bí thư Trường Chinh.

Ngưng trích.

Mời quí vị đọc mấy lời anh Võ văn Kiệt bốc thối Trường Chinh trong bài báo Cộng Lông Vịt Tiền Phong:

Ðồng chí Trường Chinh – Tổng Bí thư của Ðổi Mới

… Ðồng chí Trường Chinh được Ban Chấp Hành Trung Ương bầu làm Tổng Bí thư và bắt tay chuẩn bị Ðại hội VI. Phải nói rằng, vào thời điểm đó, chỉ có đồng chí Trường Chinh với hiểu biết sâu sắc về lý luận và hình ảnh một đồng chí hết sức nguyên tắc, có phần cứng theo kiểu chính thống mới có thể chỉ đạo thành công Ðại Hội VI – Ðại hội của Ðổi Mới.

Ðiều tôi thấy hết sức thú vị là “tác giả” – nói chính xác hơn là chủ biên của Ðổi Mới lại là một người được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh. Tôi hiểu rằng, đồng chí đã chú ý nghe từ nhiều phía, và đặc biệt là đã coi trọng ý kiến của những cán bộ có tư duy, dám nói thật, nói rõ quan điểm của mình.

Ðồng chí là người rất kiên trì đấu tranh với mọi ý tưởng, mọi sự việc mà theo đồng chí là không đúng và cũng rất quyết đoán đối với những điều mà đồng chí cho là đúng đắn, đủ cơ sở…

… Tôi được biết, trong thời gian chuẩn bị nhân sự Ðại hội VI, một số đồng chí lặn lội từ miền Nam ra, tới xin gặp đồng chí Trường Chinh để “năn nỉ” đồng chí tiếp tục làm Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ nữa. Ðiều đó thật không ai có thể hình dung được trước đó…

Võ Văn Kiệt

Ngưng trích.

Bốc thơm, nâng bi, thổi dzế lãnh tụ đến như bọn Cu Ly Văn Nghệ Hà Nội là..Nhất Thế Giới, là Fi-ní lô đia..Hết nước nói. Về Trò “Nhổ Liếm, Liếm Nhổ ” bọn Cộng Bắc Kỳ cũng Nhất Thế Giới. Những năm 1960, 1970 chúng ca tụng Trường Chinh vì Trường Chinh không chịu “đổi mới”, Trường Chinh bỏ tù đến chết bọn đòi “xét laiï, sửa sai.” Năm 1987 chúng, cũng những tên đó, ca tụng Trường Chinh vì Trường Chinh chịu “đổi mới”, tức “sửa sai”. “Ðổi mới” là “sửa sai,” là “xét lại.”

Tôi  – CTHÐ – khinh chúng, xong tôi cũng có chút thương hại chúng: Chúng, bọn Cộng Việt Nông Nợn , đáng thương vì chúng vừa chiếm được Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, chúng đang say men chiến thắng, chúng đang hăng máu chó điên, nhưng chúng hí hửng chưa được bao lâu thì chúng tưng hửng, chúng ngơ ngác, chúng thộn mặt, chúng há hốc mồm vì Tượng Sịt-ta-lin, Ông Nội của tên hung thần văn nghệ Tố Hữu, bị dân Hung, dân Tiệp, dân Lỗ, dân Nga kéo đổ, lôi ra cho nằm sấp, nằm ngửa ở những vệ đường, miệng cống, bãi rác;  những tội ác của bọn Cộng bị phơi bầy, những tên đảng viện Cộng bị đuổi ra khỏi chính quyền, bị nhân dân thế giới nguyền rủa, khinh bỉ, ghê tởm.

o O o

Dứi đây là lời kể của anh con Trường Chinh Ðặng Xuân Khu về những ngày tù đầy của Trường Chinh:

Trong buổi trò chuyện với PGS – TS Ðặng Việt Bích, con trai cố Tổng Bí thư Trường Chinh và vợ – chị Nguyễn Ngọc Ánh, ngoài những kỉ niệm mà tôi được nghe PGS – TS Ðặng Việt Bích kể, tôi đã được nghe rất nhiều câu chuyện cảm động do chính người con dâu của cố Tổng Bí thư Trường Chinh kể về người mẹ chồng của mình. Chị bảo, dù bà là mẹ chồng của chị, nhưng suốt những năm tháng cùng chung sống với bà, chị đã luôn biết ơn bà, bởi bà luôn dành cho chị tình yêu thương của một người mẹ ruột dành cho cô con gái của mình. Ðiều đó, khiến gần 10 năm qua, sau khi bà mất, những hình ảnh về bà vẫn nguyên vẹn trong lòng chị.

*

Cố Tổng Bí thư Trường Chinh tên thật là Ðặng Xuân Khu, sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907 ở làng Hành Thiện, Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Ðịnh. Làng Hành Thiện từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh ra nhiều nhân tài kiệt xuất của đất nước. PGS – TS Ðặng Việt Bích kể, thời đó, cùng với họ Nguyễn, họ Ðặng là một trong hai dòng họ lớn nhất của làng Hành Thiện. Thân phụ cố Tổng Bí thư Trường Chinh là cụ Ðặng Xuân Viện, một nhà nho có tinh thần yêu nước, nhưng không gặp thời, gặp thế.

 Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống, lại được sự giáo dục của thân phụ nên ngay từ nhỏ, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã được làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Ðường, được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống nho học. Sau này, khi lớn lên, ông bắt đầu tiếp xúc với Tây học và theo học bậc Thành Chung tại Nam Ðịnh. Ngay từ khi còn trẻ, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã ý thức rất rõ về nỗi đau của một dân tộc bị nô lệ, bị áp bức. Ông sớm tham gia các hoạt động cách mạng, trong đó nổi bật lên là phong trào đòi thả Phan Bội Châu. Chính vì việc này mà ông đã bị đuổi học, rồi sau này khi lên Hà Nội, ông mới tiếp tục theo học tại trường Cao đẳng Thương mại (trực thuộc trường Ðại học Ðông Dương – trường đại học hiện đại đầu tiên của Việt Nam) và tiếp tục hoạt động cách mạng.

 Cố Tổng Bí thư Trường Chinh lập gia đình với bà Nguyễn Thị Minh (sinh năm 1912), người cùng làng Hành Thiện, là con gái nhà họ Nguyễn, một dòng họ có gia thế trong làng. PGS – TS Ðặng Việt Bích kể:

“Ngày đó, mẹ tôi là con gái một gia đình có gia thế, giàu có. Cha tôi cũng là con của dòng họ Ðặng có uy tín trong vùng. Cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi đã được sắp đặt từ khi cha mẹ tôi còn bé. Năm mẹ tôi 5 tuổi, gia đình hai bên đã đính ước, hẹn làm thông gia với nhau. Ðến năm cha tôi 22 tuổi, mẹ tôi 17 tuổi, ông bà chính thức nên vợ nên chồng”.

Tuy lấy nhau qua sự sắp đặt của gia đình, nhưng bà Nguyễn Thị Minh vẫn luôn tâm sự với con cái rằng, cả cuộc đời bà, bà hạnh phúc, mãn nguyện với cuộc hôn nhân đó và bà luôn tin rằng, mối lương duyên của bà với ông là mối lương duyên được xếp đặt từ kiếp trước. Năm 1930, ông được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Ðảng Cộng sản Ðông Dương. Ðến cuối năm ông bị địch bắt. Khi đó bà Nguyễn Thị Minh đang mang thai người con đầu lòng.

Ðặng Việt Bích kể:

“Lần đó, khi anh Kỳ mới được mấy tháng tuổi, mẹ tôi đưa anh tôi vào nhà tù Hỏa Lò cho cha xem mặt. Mẹ tôi đứng ngoài, cha tôi đứng trong, chẳng nhìn thấy mặt nhau. Muốn để cho cha tôi biết mặt con, mẹ tôi đưa anh Kỳ qua cái lỗ châu mai chỉ rộng vài gang tay, để cho cha tôi xem mặt. Lúc đó, tên quan Tây chứng kiến sự việc  nói với cha tôi:

“Tao biết mày giỏi, thông minh, nhanh nhẹn. Mày lại có vợ đẹp con xinh như thế này. Mày đi theo cách mạng làm gì. Mày hãy nghe lời tao. Tao sẽ cho mày sang Pháp học, rồi trở về làm việc cho Nhà nước Bảo hộ.”

 Nghe tên quan Tây Cai Tù nói, cha tôi lập tức hét lên:

“Lý tưởng của tao là đấu tranh chống áp bức, bóc lột, giải phóng dân tộc tao.”

Tức giận trước sự phản kháng của cha tôi, tên quan Tây đã dùng cây gậy sắt đánh vào đầu ông tóe máu, khiến ông loạng choạng, suýt đánh rơi đứa con trên tay, ông vội đưa anh tôi ra cho mẹ tôi bế. Mẹ tôi chứng kiến cảnh đó cứ khóc mãi”.

Vì không chấp nhận khuất phục trước địch, nên ngay sau đó, giặc đã tuyên án ông 12 năm tù khổ sai và đưa lên nhà tù Sơn La. Khi đó nghĩ tới việc mình sống chết không biết thế nào, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã nói với người vợ hiền của mình:

“Anh đi đợt này không biết bao giờ về, cũng không biết sống chết ra sao. Em về nhà, cố gắng chăm sóc con và tìm một người đàn ông khác để hai mẹ con nương tựa sau này”.

 Khi nghe chồng nói thế, bà Nguyễn Thị Minh chỉ khóc và nói:

 “Em quyết một lòng một dạ chờ anh trở về”.

 Nghe những lời gan ruột đó từ người vợ hiền, cố Tổng Bí thư Trường Chinh xúc động chẳng nói nên lời, ông chỉ biết nắm chặt tay bà và nhìn bà đầy yêu thương và biết ơn. Có lẽ vì cảm động trước sự hi sinh của người vợ hiền, nên sau này, dù là khi đã được tự do, hay khi đã trở thành lãnh tụ của đất nước, cố Tổng Bí thư Trường Chinh luôn luôn yêu thương và trân trọng người vợ hiền của mình.

Chị Nguyễn Ngọc Ánh – con dâu cố Tổng Bí thư Trường Chinh và bà  Nguyễn Thị Minh kể:

“Tôi về làm dâu khi ông cụ đã qua đời. Nhưng mẹ chồng tôi vẫn hay kể cho tôi những kỉ niệm ngày xưa. Có lần mẹ nói với tôi: đời mẹ khổ nhất, tối tăm nhất là lúc đi thăm ông chồng trong nhà tù Hỏa Lò, đó là lúc mẹ tôi đưa con trai đỏ hỏn qua lỗ châu mai cho ông chồng xem mặt. Khi đó, cha tôi luôn khuyên mẹ tôi lấy chồng khác, vì ï ông sợ ông khó sống mà trở về. Nhưng không hiểu sao khi đó mẹ chồng tôi vẫn luôn tin rằng, cha tôi là người giỏi giang, thông minh, dũng cảm, mưu trí và có nghị lực. Ông ấy nhất định sẽ vượt qua mọi nguy hiểm để trở về”.

Với niềm tin đó, bà đã nuốt ngược nước mắt ôm đứa con đầu lòng còn đỏ hỏn trở về nhà, vừa chăm sóc con, vừa phụng dưỡng bố mẹ chồng và đợi chồng đi tù khổ sai với án 12 năm ở một chốn rừng núi heo hút.

Ở nhà tù Sơn La những năm đó, cố Tổng Bí thư Trường Chinh vẫn hăng hái gây dựng phong trào trong tù. Ông trở thành người lãnh đạo phong trào của anh em tù nhân tại nhà tù Sơn La. Chính vì thế mà thực dân Pháp luôn nghi ngờ ông là một trong những người đứng đầu phong trào cách mạng. Cho rằng vai trò của ông là quan trọng, nên năm 1936, trong cao trào dân tộc dân chủ, Pháp buộc phải thả tù nhân chính trị ra. Nhưng nếu những tù nhân  khác được Pháp cho xe đưa về đến tận Hòa Bình mới bắt tự đi về  nhà thì riêng cố Tổng Bí thư Trường Chinh bị chúng bắt  đi về xuôi trên  một bè gỗ trôi theo dòng sông Ðà. Thời đó, những xoáy nước trên con sông Ðà hung dữ đã đánh chìm biết bao bè gỗ, cướp đi bao mạng người. Chính vì thế, việc bắt cố Tổng Bí thư Trường Chinh đi trên bè gỗ để xuôi về Hà Nội là ý đồ thâm độc của thực dân Pháp. Nhưng ông đã trở về bến Long Biên an toàn rồi tiếp tục xuôi về Nam Ðịnh đoàn tụ với gia đình, cha mẹ, vợ con. Ngày ông bị đi tù khổ sai, cậu con trai đầu lòng của ông mới còn đỏ hỏn. Ðến ngày ông về, con trai ông đã là một cậu bé 5, 6 tuổi. Lúc bước vào nhà, nhìn thấy có một cậu bé chạy nhảy ngoài sân, ông đã hỏi ông bố của ông:

“Thưa thầy, thằng bé này là con ai ai?”

Cha ông bật cười, nói:

“Con mày chứ con ai!”.

Hết bài trích.

CTHÐ: Tôi vừa khó chịu vừa khó tin khi đọc câu chuyện anh con trai của Trường Chinh kể trên đây. Anh này, và anh viết lại chuyện, ngu đến cái độ không biết “lỗ châu mai” là cái gì. Lỗ châu mai là những ô nhỏ mở ra để người lính trong những lô-cốt chĩa súng bắn ra ngoài. Nhà Tù Hỏa Lò – và tất cả những nhà tù trên thế giới – đều không có lỗ châu mai. Bon Tây Cai Tù là những tên Tây ít học. Không có anh Tây Cai Tù Hỏa Lò nào hứa cho anh tù Việt Nam sang Pháp học. Chuyện ngu đến em nhỏ lên ba nghe kể nó cũng biết là ngu. Ngu quá là ngu. Ngu hết nước nói.

Trên Internet tôi thấy cái gọi là Tuyên Bố của Trường Chinh.

Trường Chinh – Ðặng Xuân Khu

TUYÊN BỐ NĂM 1951

ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII. TỔNG THƯ KÝ ÐẢNG LAO ÐỘNG VN SỐ: 284/ ÐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC

Hỡi đồng bào thân mến !

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung Quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào !

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?

Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ Nho của Trung Quốc .Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo ! Có thế thôi !

Hỡi đồng bào yêu mến!

Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Ðế quốc phương Tây đem qua xứ ta !Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tầu danh tiếng khắp cả hoàn cầu .

Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v…

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân ! Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.

Trường Chinh.

Tổng Thư ký Ðảng Lao Ðộng

Số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố 1951 của Trường Chinh được lưu trữ   trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – London).

CTHÐ: Tôi đăng nguyên văn Tuyên Bố trên để quí vị đọc chơi. Tôi nghi một vị người Việt nào đó đã sáng tác ra bản Tuyên Bố này. Không có lý năm 1951 nhật báo Tiếng Dội của Chủ nhiệm Trần Tấn Quốc đăng khơi khơi bản Tuyên Bố của Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt.

Chú thích: Số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố 1951 của Trường Chinh được lưu trữ   trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – Londonlà một lời Chú Thích Mù Mờ Số Dzách. Có mất công tìm đến Tết Congo cũng không ra số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố ngớ ngẩn này.

TÌNH ở NEW ORLEANS

Virginia Mayo và Danny Kaye trong phim The Scret Life of Walter Mitty.

Virginia Mayo và Danny Kaye trong phim The Scret Life of Walter Mitty.

Tiểu Thuyết và Phim Xi-nê.

Năm 1950 tôi xem phim thứ nhất của Danny Kaye ở rạp xi-nê Majestic, Hà Nội. Tôi không nhớ tên phim, chỉ nhớ đó là phim mầu, vui, linh động. Năm nay – 2014 – 60 năm sau, ở Kỳ Hoa Ðất Trích, khi viết bài này, tôi tìm trên Internet nhưng không thấy bộ phim thứ nhất do Danny Kaye đóng vai chính tôi xem năm xưa.

Năm 1951 tôi xem phim thứ hai của Danny Kaye trên màn ảnh rạp xi-nê Majestic ở Sài Gòn – Phim The Secret Life of Walter Mitty – Bộ phim này được Hollywood làm  năm 1948.

Sáu mươi năm sau, thời gian qua mau, năm nay – 2014 – Hollywood làm lại phim The Secret Life of Walter Mitty – tôi viết bài này.

Phim The Scret Life of Walter Mitty làm theo một truyện ngắn cùng tên của Nhà Văn Mỹ James Thurber. Tôi xem phim trước khi đọc truyện. Xem phim năm tôi hai mươi tuổi, tôi đã mê phim. Khi ấy tôi không biết gì về Nhà Văn James Thurber. Năm 1960 tôi ba mươi tuổi, đọc truyện The Secret Life of Walter Mitty, tôi mê truyện của Nhà văn James Thurber.

Ðại ý cốt truyện: Walter Mitty là công dân Mỹ trạc 30, 35 tuổi, một công dân Mỹ rất thường. Mitty sống cuộc đời tư chức trầm lặng – cơm nhà, quà vợ –  anh thường tưởng tượng ra những sự kiện trong đó anh là vai chính, là người hùng. Như khi anh lái xe đưa vợ anh đi chợ, anh mơ anh là Phi Công Số Một của Hải Quân Mỹ điều khiển phi cơ tám máy bay qua cơn bão, khi ngồi chờ vợ ở lối vào khách sạn anh mơ anh là Bác Sĩ Giải Phẫu Số Một của Y Khoa Hoa Kỳ, anh mơ anh là Tay Súng Cừ Khôi được người ta hoan hô trong phòng xử án ..vv..

Trong truyện Walter Mitty có vợ, trong phim Walter Mitty chưa có vợ. Cô đào Virginia Mayo diễn chung với Danny Kaye trong phim. Tôi nhớ một đoạn trong phim:

Mitty mơ anh là công tử phong nhã, hào hoa, đi chơi trên chuyến tầu trên dòng sông Mississippy. Tiểu thư Virginia Mayo cùng du ngoạn với ông bố cô trên tầu. Con tầu trong phim là con tầu có guồng quay nước sau tầu như con tầu nay vẫn đậu ở bến sông thành phố New Orleans.

Ðêm. Công Tử Mitty hỏi tiểu thư khuê các:

“Sao cô buồn thế?”

“Em có chuyện khổ tâm.”  Nàng rươm rướm nước mắt, run giọng trả lời.

“Cô có thể nói cho tôi biết chuyện làm cô buồn được không? May ra tôi có thể giúp cô.”

Nàng kể ông bố nàng đánh bạc trên tầu. Ông thua hết tiền, ông cầm cố gia sản của ông. Và ông thua hết, ông định tự tử.

Mitty nói:

“Cô yên tâm. Tôi sẽ lo êm đẹp vụ này cho ông và cô.”

Ông già quí tộc thua bạc vì bị gã cờ bạc bịp cho vào xiếc. Mitty thách gã Bịp đánh bạc với chàng. Chàng lột mặt nạ bịp của Gã Cờ Bạc Bịp. Gã phải trả lại hết số tiền gã lột của ông già. Cảnh cuối cùng của phim: Mitty chia tay với tiểu thư khuê các trước guồng xoay nước sau con tầu.

Trăng sáng trên dòng sông lớn, ánh trăng lấp lánh trên mặt nước.

Nàng cám ơn chàng;

“Em không bao giờ quên anh.”

Nàng ôm chàng, nàng hôn chàng.

Tôi cảm khái vì cảnh này.

Năm 1951 khi thấy cảnh chia ly nàng hôn chàng  ở  sông Mississippy, khi tầu vào bến thành phố New Orleans, trên màn ảnh rạp Majestic, Sài Gòn, tôi nghĩ:

“Ngày nào mình đến Mỹ, mình sẽ đến thăm New Orleans.”

Năm 1995 – 60 năm sau – bánh xe tỵ nạn muộn màng, khấp khểnh đến Kỳ Hoa, tôi được các bạn tôi cho tôi đến Houston, tôi ngỏ ý muốn được đến New Orleans, thành phố ở ngay bên cạnh Houston, cô em văn nghệ của tôi là cô Thục Viên, ở Houston, nói:

“Em trai của em ở New Orleans. Em sẽ nhờ em em đón anh.”

Tôi đến phi trường New Orleans lúc 8 giời tối. Trời mưa. Chú em đưa tôi đi một vòng thành phố. New Orleans ngày xưa là thuộc địa của Pháp như Sài Gòn. Nhiều chỗ ở New Orleans giống Sài Gòn quá đỗiù. Ở một Ngã Sáu New Orleans, tôi thấy dàn đèn đường bằng đồng –  đồng qua mưa nắng lên mầu xanh han rỉ –  y hệt dàn đèn đường bằng đồng cổ xưa tôi thấy ở đường Phùng Hưng, Chợ Lớn. Hà Nội – hình như – không có những cây cột đèn bằng đồng xưa như ở Sài Gòn, New Orleans.

Tôi lên chiếc tầu chở du khách du ngoạn sông Mississippy. Tôi đến sau tầu, nhìn guồng xoay nước, tự nhủ;

“Mình đã thấy cái guồng xoay nước này sáu mươi năm trước. Chỗ này là chỗ Virginia Mayo ôm hôn Walter Mitty Danny Kaye.”

Tôi cám ơn Thục Viên, tôi cám ơn chú Em New Orleans.

Tôi ái mộ Nhà Văn James Thurber. Truyện của ông – như truyên The Scret Life of Walter Mitty –  là loại truyện tôi muốn tôi viết. Nhà Văn vẽ tranh vui. Tôi rất muốn vẽ tranh đăng cùng những bài viết của tôi.  Người viết truyện vẽ được tranh đi cùng truyện của mình là nhất. Năm 1983 tôi đến học vẽ ông bà Họa sĩ Nguyễn Sơn – Nguyễn Thị Tâm. Ông Sơn dậy vẽ croquis, tranh sơn dầu, bà Tâm dậy vẽ tranh lụa, mầu nước – tranh thủy mặc – ông bà – không con – sống rất nghệ sĩ. Ông bà dậy vẽ trong căn nhà nhỏ trong xóm sau Trường Mỹ Thuật Gia Ðịnh. Ông bà dậy vẽ không lấy tiền, không tiếc công. Tôi vốn thích vẽ từ nhỏ. Học ông bà tôi bắt đầu vẽ được, Tháng Tư 1984 bọn Công An Thành Hồ bắt tôi đi tù. Sáu năm sau tôi ra tù, tôi  không còn vẽ được nữa.

Tôi cám ơn ông bà Họa sĩ Nguyễn Sơn-Nguyễn Thị Tâm.

Tranh Vẽ của Nhà Văn James Thurber. Bà vợ thứ nhất  của tôi ở trên nóc tủ, đây là bà vợ hiện nay của tôi.

Tranh Vẽ của Nhà Văn James Thurber.
Bà vợ thứ nhất của tôi ở trên nóc tủ, đây là bà vợ hiện nay của tôi.

Trên Internet tôi thấy ghi chuyện Nhà Văn James Thurber bất mãn vì những người mua truyện của ông để làm phim đã không làm phim theo đúng truyện. Họ thay đổi quá nhiều sự kiên. Ông qua đời năm 1961. Nếu năm nay ông còn sống – năm 2014 – chắc ông còn bực bội nhiều hơn khi ông thấy người ta làm bộ phim thứ hai theo truyện  The Secret Life of Walter Mitty của ông. Người làm phim chỉ mua, chỉ lấy cái tên truyện vì truyện nổi tiếng. Họ làm phim với một cốt truyện khác hẳn.

Tôi trích đăng vài đoạn truyện tiếng Anh để những bạn đọc biết tiếng Anh có dịp thưởng thức Văn của Nhà Văn James Thurber. Lời dịch của tôi không có được tinh thần của nguyên tác.

The Secret Life of Walter Mitty

by James Thurber

“WE’RE going through!” The Commander’s voice was like thin ice breaking. He wore his full-dress uniform, with the heavily braided white cap pulled down rakishly over one cold gray eye. “We can’t make it, sir. It’s spoiling for a hurricane, if you ask me.” “I’m not asking you, Lieutenant Berg,” said the Commander. “Throw on the power lights! Rev her up to 8500! We’re going through!” The pounding of the cylinders increased: ta-pocketa-pocketa-pocketa-pocketa-pocketa. The Commander stared at the ice forming on the pilot window. He walked over and twisted a row of complicated dials. “Switch on No. 8 auxiliary!” he shouted. “Switch on No. 8 auxiliary!” repeated Lieutenant Berg. “Full strength in No. 3 turret!” shouted the Commander. “Full strength in No. 3 turret!” The crew, bending to their various tasks in the huge, hurtling eight-engined Navy hydroplane, looked at each other and grinned. “The Old Man’ll get us through,” they said to one another. “The Old Man ain’t afraid of hell!” . . .

“Not so fast! You’re driving too fast!” said Mrs. Mitty. “What are you driving so fast for?”

“Hmm?” said Walter Mitty. He looked at his wife, in the seat beside him, with shocked astonishment. She seemed grossly unfamiliar, like a strange woman who had yelled at him in a crowd. “You were up to fifty-five,” she said. “You know I don’t like to go more than forty. You were up to fifty-five.” Walter Mitty drove on toward Waterbury in silence, the roaring of the SN202 through the worst storm in twenty years of Navy flying fading in the remote, intimate airways of his mind. “You’re tensed up again,” said Mrs. Mitty. “It’s one of your days. I wish you’d let Dr. Renshaw look you over.”

H2T phóng tác: Walter Mitty mơ là Siêu Phi Công

“Ta sẽ thoát.” Lời vị Chỉ Huy lạnh như tiếng đá mỏng vỡ. Ông bận bộ quân phục, chiếc mũ trắng lẳng lơ sụp xuống con mắt sám lạnh. “Mình không ra thoát được, thưa ông. Trận bão lớn quá, nếu ông hỏi tôi.” “Tôi không hỏi anh, Trung úy Berg,” vị Chỉ huy nói.” Tăng tốc độ! Cho nó lên 500. Chúng ta sẽ thoát.” Tiếng đập của ống máy lớn hơn: ta-pocketa-pocketa-pocketa-pocketa. Vị Chỉ huy nhìn sững lớp băng giá bám ngoài cửa kính phòng hoa tiêu. Ông đi tới xoay, vặn một hàng những nút điện phức tạp. “Chuyển sang Máy Phụ 8.” Ông nói lớn. “Chuyển sang Máy Phụ 8.” Trung úy Berg nhắc lại. “Mở hết tốc lực Tháp số 3.” Vị Chỉ huy ra lệnh. “Mở hết tốc lực Tháp số 3.” Phi hành đoàn cắm cúi làm những việc họ phải làm trong chiếc thủy phi thuyền tám-động cơ của Hải Quân, nhìn nhau, cười mỉm. “Ông Già đưa bọn mình qua trận bão này.” Họ nói với nhau. “Ông Già không sợ địa ngục.”

“Ðừng chạy nhanh thế. Anh chạy xe nhanh quá.”  Chị Mitty nói. “Anh làm gì mà chạy xe nhanh thế?”

“Hả?” Mitty hỏi. Chàng nhìn chị vợ ngồi ghế bên, nhìn và ngạc nhiên. Chị có vẻ khác lạ, như chị là người đàn bà trong đám đông la lên với  chàng. “Anh chạy xe đến năm mươi nhăm,” chị nói. “Anh dư biết tôi không thích xe chạy quá bốn mươi. Anh chạy đến măm mươi nhăm.” Walter Mitty yên lặng lái xe đến Waterberry, tiếng gầm gừ của chiếc SN202 qua trận bão kinh khủng nhất trong hai mươi năm của Không Lực Hải Quân chìm trong xa vắng, trong đường bay thân thương của tâm trí chàng.  “Anh lại dở chứng.” Chị Mitty nói. “ Ðây là một trong những ngày dở chứng của anh. Tôi muốn anh để cho Bác sĩ Renshaw khám lại cho anh.”

Walter Mitty mơ là Y Sĩ Giải Phẫu Số Một

“It’s the millionaire banker, Wellington McMillan,” said the pretty nurse. “Yes?” said Walter Mitty, removing his gloves slowly. “Who has the case?” “Dr. Renshaw and Dr. Benbow, but there are two specialists here, Dr. Remington from New York and Dr. Pritchard-Mitford from London. He flew over.” A door opened down a long, cool corridor and Dr. Renshaw came out. He looked distraught and haggard. “Hello, Mitty,” he said. `’We’re having the devil’s own time with McMillan, the millionaire banker and close personal friend of Roosevelt. Obstreosis of the ductal tract. Tertiary. Wish you’d take a look at him.” “Glad to,” said Mitty.
In the operating room there were whispered introductions: “Dr. Remington, Dr. Mitty. Dr. Pritchard-Mitford, Dr. Mitty.” “I’ve read your book on streptothricosis,” said Pritchard-Mitford, shaking hands. “A brilliant performance, sir.” “Thank you,” said Walter Mitty. “Didn’t know you were in the States, Mitty,” grumbled Remington. “Coals to Newcastle, bringing Mitford and me up here for a tertiary.” “You are very kind,” said Mitty. A huge, complicated machine, connected to the operating table, with many tubes and wires, began at this moment to go pocketa-pocketa-pocketa. “The new anesthetizer is giving away!” shouted an intern. “There is no one in the East who knows how to fix it!” “Quiet, man!” said Mitty, in a low, cool voice. He sprang to the machine, which was now going pocketa-pocketa-queep-pocketa-queep . He began fingering delicately a row of glistening dials. “Give me a fountain pen!” he snapped. Someone handed him a fountain pen. He pulled a faulty piston out of the machine and inserted the pen in its place. “That will hold for ten minutes,” he said. “Get on with the operation. A nurse hurried over and whispered to Renshaw, and Mitty saw the man turn pale. “Coreopsis has set in,” said Renshaw nervously. “If you would take over, Mitty?” Mitty looked at him and at the craven figure of Benbow, who drank, and at the grave, uncertain faces of the two great specialists. “If you wish,” he said. They slipped a white gown on him, he adjusted a mask and drew on thin gloves; nurses handed him shining . . .
“Back it up, Mac!! Look out for that Buick!” Walter Mitty jammed on the brakes. “Wrong lane, Mac,” said the parking-lot attendant, looking at Mitty closely. “Gee. Yeh,” muttered Mitty. He began cautiously to back out of the lane marked “Exit Only.” “Leave her sit there,” said the attendant. “I’ll put her away.” Mitty got out of the car. “Hey, better leave the key.” “Oh,” said Mitty, handing the man the ignition key. The attendant vaulted into the car, backed it up with insolent skill, and put it where it belonged. 

“Ông Chủ Ngân Hàng tỷ phú Wellington McMillan,” cô y tá xinh đẹp nói. “Vâng,” Walter Mitty nói. Chàng chầm chậm gỡ bao tay. “Ai lo vụ này?” ” Thưa.. Bác sĩ Renshaw và Bác sĩ Benbow, có hai ông chuyên viên, Bác sĩ Remington đến từ New York, Bác sĩ Pritchard-Mitford đến từ London. Ông ấy mới bay đến.” Cánh cửa phòng mở ở cuối hành lang dài, lạnh, Bác sĩ Renshaw đi ra. Ông có vẻ bối rối và ngơ ngác. “Hello, Mitty,” ông nói. “Chúng tôi đang gặp khó khăn vì  McMillan, chủû ngân hàng tỷ phú  bạn thân của Roosevelt. Ostreosis ductal tract. Tertiary. Anh xem qua ông ấy nhé?” “Ðể tôi xem,” Mitty nói.

Trong phòng giải phẫu những tiếng giới thiệu thì thào: “Bác sĩ Remington. Bác sĩ Mitty. Bác sĩ Pritchard-Mitford. Bác sĩ Mitty.” “Tôi có đọc sách viết về streptothricosis của anh,” Bác sĩ Pritchard-Mitford bắt tay, nói: “Công trình tuyệt  vời.” “Cám ơn,” Mitty nói. “Tôi không biết có anh đang ở đây, Mitty,” Remington nói nhỏ: “Chở than về Newcastle, đưa Mitford và tôi đến đây vì tertiary.” “Anh quá tốt,” Mitty nói. Dàn máy lớn gắn liền với bàn giải phẫu, có nhiều ống và dây, bắt đầu phát tiếng pocketa-pocketa-pocketa. “Máy gây mê ngừng hoạt động,” một y sinh nói, “Không có ai ở miền Ðông này biết sửa máy này.”

“Ðừng nói,” Mitty nói, giọng trầm và lạnh. Chàng đi đến máy gây mê. Dàn máy lúc này phát ra những tiếng pocketa-pocketa queep, pocketa-queep. Chàng xoay nhẹ một dàn nút máy. “Ðưa tôi cây bút,” Chàng nói gọn. Người nào đó dưa cho chàng cây bút. Chàng rút cái chốt bị hư trong máy ra, cắm cây bút vào đấy. “Sẽ chạy được trong mười phút,” chàng nói. Cô y tá nói nhỏ vào tai Bác sĩ Renshaw, Mitty thấy ông này tái mặt. “Coreopsis nặng quá,” Renshaw lắp bắp nói,” Mitty, anh lo dùm được không?” Mitty nhìn ông ta, nhìn Bác sĩ Benbow, nhìn hai chuyên viên ngơ ngác. “Ðể tôi, nếu anh muốn,” Mitty nói. Áo trắng được choàng lên người chàng, chàng sửa lại khẩu trang và chầm chậm xỏ tay vào bao tay.

“Tốp. Mac. Coi chừng đụng cái Buick.” Mitty đạp thắng xe. “Trái đường,” người gác bãi đậu xe nói. “ Ra đi. Ðể tôi đưa xe vào cho.”

Walter Mitty mơ là Tay Súng Cừ Khôi

“Perhaps this will refresh your memory.” The District Attorney suddenly thrust a heavy automatic at the quiet figure on the witness stand. “Have you ever seen this before?” Walter Mitty took the gun and examined it expertly. “This is my Webley-Vickers 50.80,” ho said calmly. An excited buzz ran around the courtroom. The Judge rapped for order. “You are a crack shot with any sort of firearms, I believe?” said the District Attorney, insinuatingly. “Objection!” shouted Mitty’s attorney. “We have shown that the defendant could not have fired the shot. We have shown that he wore his right arm in a sling on the night of the fourteenth of July.” Walter Mitty raised his hand briefly and the bickering attorneys were stilled. “With any known make of gun,” he said evenly, “I could have killed Gregory Fitzhurst at three hundred feet with my left hand.” Pandemonium broke loose in the courtroom. A woman’s scream rose above the bedlam and suddenly a lovely, dark-haired girl was in Walter Mitty’s arms. The District Attorney struck at her savagely. Without rising from his chair, Mitty let the man have it on the point of the chin. “You miserable cur!” . . .

“..Chắc vật này có thể làm cho anh nhớ lại..” Ông Ủy viên Công tố đột ngột quăng lên mặt bàn trước đoàn bồi thẩm khẩu súng lục. “Anh có thấy cái này bao giờ chưa?” Walter Mitty cầm khẩu súng, xem xét với vẻ sành điệu. ” Ðây là khẩu Webley- Vickers 50.80 của tôi,” Chàng thản nhiên nói. Tiếng xì xào ngạc nhiên vang lên trong phòng xử. Ông Chánh án gõ búa cho mọi người giữ trật tự. “Anh là tay cừ khôi xử dụng tất cả các loại súng, phải không?” Ông Ủy viên Công tố khéo léo đưa đẩy lời kết tội. “Phản đối,” Luật sư  của Mitty nói lớn. “Chúng tôi đã chứng minh nghi can không thể bắn súng được lúc đó. Chúng tôi đã chứng minh nghi can phải mang dây băng tay phải trong đêm mười bốn tháng Bẩy.” Walter Mitty đưa tay lên, ông luật sư im tiếng. “Với bất cứ hiệu súng thông dụng nào,” chàng nói giọng thản nhiên,” tôi có thể bắn chết Gregory Fitzhurst xa tôi ba trăm bộ bằng tay trái tôi.” Náo động bùng lên trong phòng xử. Tiếng người đàn bà kêu lớn rồi bỗng nhiên người thiếu nữ tóc đen, đẹp, nhào đến trong vòng tay ôm của Mitty. Ủy viên Công Tố xô đẩy nàng. Vẫn ngồi, Mitty cho một cú đấm gọn vào cầm ông Ủy viên. “Ðồ khốn.”

Có vật gì đó chạm vào vai chàng. “Tôi đi tìm anh suốt cả cái ô-ten này, “Vợ Mitty nói. “Tại sao anh lại nấp vào dẫy ghế này. Làm sao tôi tìm ra anh!” “Ðến lúc rồi..” Mitty nói mơ hồ. “Cái gì?” Vợ Mitty hỏi. “Tôi đang nghĩ.” Mitty hỏi lại: “Có bao giờ cô thấy là cũng có lúc tôi suy nghĩ chứ?” Vợ Mitty nhìn chồng, “Về nhà tôi phải đo áp huyết của anh ngay mới được.”

Walter Mitty mơ là Người Hùng.

They went out through the revolving doors that made a faintly derisive whistling sound when you pushed them. It was two blocks to the parking lot. At the drugstore on the corner she said, “Wait here for me. I forgot something. I won’t be a minute.” She was more than a minute. Walter Mitty lighted a cigarette. It began to rain, rain with sleet in it. He stood up against the wall of the drugstore, smoking. . . . He put his shoulders back and his heels together. “To hell with the handkerchief,” said Waker Mitty scornfully. He took one last drag on his cigarette and snapped it away. Then, with that faint, fleeting smile playing about his lips, he faced the firing squad; erect and motionless, proud and disdainful, Walter Mitty the Undefeated, inscrutable to the last.

Họ đi ra bãi đậu xe. Ðến tiệm thuốc ở góc đường, vợ Mitty nói: “Ðứng đây chờ tôi, tôi vào tiệm một phút thôi.” Chị đi lâu hơn một phút. Walter Mitty châm điếu thuốc. Trời mưa. Chàng đứng dựa tường bên cửa tiệm thuốc. Chàng đứng thẳng lưng, hai gót giầy chạm nhau. “Vứt  đi..” Chàng nói, khinh mạn khi cái khăn được đưa đến để bịt mắt chàng. Walter Mitty hút hơi thuốc cuối cùng, chàng búng cho mẩu thuốc bay đi. Rồi với nụ cười mỉm trên môi, chàng đứng thẳng trước tiểu đội hành quyết, kiêu và khinh mạn, Người Hùng Walter Mitty Bất Bại, Bất Biến đến phút cuối cùng.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, Ngày Ðầu Năm Mỹ 2014.

BÚI TÓ CỦ HÀNH

Lời khắc trên phiến đá mộ Phạm Duy: Tôi yêu tiếng nước tôi Từ khi mới ra đời, người ơi.

Lời khắc trên phiến đá mộ Phạm Duy:
Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời, người ơi.

Tháng 12, 2013, tôi đọc “Hồi Ký Phạm Duy” trên Internet. Phạm Duy viết Hồi Ký này ở Hoa Kỳ khoảng năm 1980. Nghe nói những năm xưa ấy – 1980 – Hồi Ký Phạm Duy được đọc trên Ðài BBC, rồi xuất bản thành sách. Tôi trích vài đoạn mời quí vị cùng đọc.

Phạm Duy viết về ông Phạm Duy Tốn.

Bố tôi là một trong những người Việt Nam đầu tiên cắt búi tó và mặc âu phục. Không biết lúc chuẩn bị cắt tóc bố tôi có sai vợ lập ban thờ để làm lễ xin tổ tiên tha cho cái tội tày trời như những người cùng cảnh ngộ hay không? Nhưng sau khi bố tôi cắt tóc, bà tôi buồn rầu và căm giận đến độ từ đó trở đi, mỗi một buổi sáng vừa mở mắt dậy là bà tôi ngồi chửi con. Bà cứ ngồi ở đầu giường, không thèm đi xúc miệng vì muốn làm tăng ác độ của câu chửi :

“Tốn ơi! Mày là thằng con bất hiếu! Mày cắt tóc là mày từ bỏ cha mẹ đó, biết không? Rồi đây tao chết đi thì mày còn có cái gì để mà tóc tang hở mày?”

Kèm theo câu chửi là câu rủa. Ðệm vào câu rủa là một cái bát đàn — loại bát bằng đất nung, rẻ tiền nhất — được bà tôi đập xuống đất vỡ tan. Rủa cho bố tôi chết. Lời rủa có vẻ hiệu nghiệm. Bố tôi chết trước bà tôi hai năm.

CTHÐ: Việc các ông Việt Nam – thời xưa đó là An Nam –  cắt bỏ búi tóc – thường được gọi là “Búi Tó” – chắc xẩy ra vào khoảng những năm 1920 – 1925. Tôi nghe kể nhiều ông Nho An Nam, bắt chước các ông Nho Tầu – coi thân thể mình là do cha mẹ sinh ra; do đó người con không được phá hủy bất cứ cái gì trên thân thể mình: Râu, Tóc, Móng Tay không được cắt. Cắt bỏ ba thứ ấy là can tội bất hiếu. Ông Phan Khôi kể: ngày ông về tỉnh cắt tóc, ông phải đợi đến tối mới dám về nhà ông, ông sợ người làng trông thấy mái tóc mất búi tó của ông, người ta cười. Nhưng người chủ trương việc đàn ông An Nam cắt bỏ búi tó lại là vị khoa bảng nổi danh thời ấy: Tiến sĩ Phan Chu Trinh. Ðây là bài vè ông Phan Chu Trinh làm để kêu gọi đàn ông Việt cắt bỏ búi tó:

Tay trái cầm lược,
Tay phải cầm kéo
Cúp hề! Cúp hề!
Thăng thẳng cho khéo
Bỏ cái hèn này
Cho khôn, cho mạnh.

Chính phủ Bảo Hộ Pháp thời ấy không ép buộc dân An Nam phải cắt bỏ búi tó. Họ cũng không kêu gọi đàn ông An Nam cắt bỏ búi tóc. Trong bài vè, tiếng “Cúp” – Coupe – lần thứ nhất đi vào ngôn ngữ An Nam. Trong những năm từ 1935 người Việt Bắc Kỳ quen nói tiếng “cúp tóc.” Thợ hớt tóc tiếng Pháp là “coiffeur,” do đó ta có tiếng Phó Koáp để gọi những ông thợ hót tóc, tiếng “Phó Nháy” để gọi những ông thợ chụp ảnh, tiếng “Phó Chũi” để gọi những ông thợ may. Thời tôi mười tuổi, những năm 1940, người Bắc quen gọi những ông hớt tóc là Phó Cạo, thường nói là đi cúp tóc.

Ông Phan Bội Châu, ông Phan Chu Trinh. Tiến sĩ Phan Chu Trinh mặc Âu phục y như người Pháp.

Ông Phan Bội Châu, ông Phan Chu Trinh. Tiến sĩ Phan Chu Trinh mặc Âu phục y như người Pháp.

Người Tây Phương – người da trắng – không ép buộc, cũng không kêu gọi, không khuyến khích người Á Ðông – dân da vàng – bắt chước họ về lối sống, về ăn mặc. Người Á Ðông thấy y phục của người Âu Châu đẹp, gọn, tiện lợi nên bắt chước.

Ðọc đoạn Hồi Ký trên của Phạm Duy, tôi khó chịu khi thấy bà mẹ ông Phạm Duy Tốn rủa xả ông nặng lời chỉ vì cái tội ông cắt bỏ cái búi tó.

Phạm Duy: Mẹ tôi là con gái của một ông thầy đồ và trước khi lấy chồng, mẹ tôi là cô hàng bán sách ở phố hàng Gai. Tôi không biết tên họ của ông bà ngoại nhưng một hôm gặp bà dì ruột ở Sài Gòn vào khoảng 1970 thì dì nói: ”Mày có biết bà họ gì không? Họ Lưu, dòng dõi Lưu Vĩnh Phúc đó!”

Thế ra trong tôi có dòng máu nổi loạn à? Người Pháp gọi Lưu Vĩnh Phúc là giặc — Giặc Cờ Ðen — nhưng đối với tôi, ông là người làm Cách Mạng.

CTHÐ: Nhân vật Lưu Vĩnh Phúc không phải là “giặc”, cũng không phải là người làm “cách mạng.” Lưu Vĩnh Phúc là người Tầu có võ nghệ, tuyển mộ một số người Tầu làm lính, sang An Nam giúp quân An Nam đánh Pháp xâm lược. Vì lá cờ của quân Lưu Vĩnh Phước là cờ mầu đen nên họ được và bị gọi là Quân Cờ Ðen. Chắc họ – Lính Cờ Ðen – có cướp bóc dân An Nam nên họ bị gọi là Giặc Cờ Ðen. Dân An Nam phải nuôi toán quân Cờ Ðen. Việc chống Pháp không thành, Tướng Cờ Ðen Lưu Vĩnh Phúc sang sống và chết ở Ðài Loan.

Phạm Duy: Tôi có khá nhiều các bác, các dì, các cậu và có rất đông các anh em, chị em họ cùng với một rừng các cháu gọi tôi bằng chú và bằng cậu. Một trong những người anh họ của tôi là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, con của Bác Hai Hàng Ðường.

Tôi thường được ngồi ngắm tác giả Cổ Học Tinh Hoa, Tục Ngữ Phong Dao… nằm hút thuốc phiện. Trong đại gia đình tôi, không phải chỉ có anh Ngọc mới là bạn của Nàng Tiên Nâu. Tôi có bao nhiêu ông chú, ông cậu, có bao nhiêu ông anh hay em họ là có bấy nhiêu ”ông tiên”. Thậm chí sau này, con của cậu tôi, tên là Bá, còn mở hẳn một tiệm hút ở phố Hàng Dầu, không có một nhà văn Hà Nội nào hằng đêm là không tới đó để gập nhau. Ở đây, tôi hay gập Ðồ Phồn, Lan Sơn, Ðàm Quang Thiện…

CTHÐ: Phạm Duy viết “..không có một nhà văn Hà Nội nào hằng đêm không tới đó để gặp nhau..” là quá đáng. Nhà Văn Hà Nội trước năm 1945 có nhiều ông không hút á phiện. Tất nhiên những ông Nhà Văn này không đến tiệm hút. Một số ông tới tiệm hút là để hút, không phải các ông tới đó để gặp nhau.

Ông Nguyễn Văn Ngọc làm Ðốc Học tỉnh Hà Ðông những năm 1940. Mẹ tôi kể khi ông làm quyển Tục Ngữ-Phong Dao, ông yêu cầu học sinh tất cả các trường trong tỉnh  mỗi học sinh nộp cho ông ba câu phong dao, tục ngữ hay câu đố. Tôi có hai lần ở trong đoàn học sinh đến nhà riêng của ông chúc Tết ông. Ngày ấy tôi không biết ông là dân Hít Tô Phê. Nay nhớ lại ông mình hạc, xương mai, đúng là người tiên phong, đạo cốt. Thời ông Nguyễn Văn Ngọc làm Ðốc Học Hà Ðông, ông Hoàng Trọng Phu làm Tổng Ðốc Hà Ðông; hai ông cùng là đệ tử của Cô Ba Phù Dung.

Phạm Duy: Phía sau phố tôi là phố Hàng Bè, nơi vú già hay giắt tôi đi chợ và phố Hàng Thùng, nơi có lớp mẫu giáo để tôi đi vào chữ nghĩa khi tôi lên sáu. Phố nào cũng ngắn với dãy nhà tí hon. Riêng phố Hàng Bè có thêm ngôi nhà ba tầng — gọi là nhà Tây — của Bác Sĩ Lê Văn Chỉnh, người gốc miền Nam, có người con trai không hiểu vì sao mà tự tử (bằng súng lục). Cái chết của con Bác Sĩ Chỉnh và của những người tự vẫn ở Hồ Gươm ám ảnh tôi rất lâu.

CTHÐ: Tôi nhiều lần viết trước năm 1945, chính phủ Pháp không cho phép dân An Nam có súng lục. Tôi viết sai chăng?

Phạm Duy: Gọi là phố Hàng Dầu nhưng tôi chỉ thấy có một cửa hàng bán dầu ở xế cửa. Vào thời tôi mới sinh ra, Hà Nội không còn dùng dầu lạc để đốt đèn nữa vì đã có đèn điện và có loại đèn Hoa Kỳ dùng dầu lửa (pétrole) tiện lợi và sạch sẽ hơn dầu lạc. Hoa Kỳ láu cá lắm, biếu không cho người Việt Nam hàng vạn cái đèn để khi có đèn rồi thì phải mua dầu của họ.

Vài ba ngày, có người của ông nhà thầu Năm Diệm đem thùng khác tới đổi thùng đựng đầy phân. Ðổi thùng thường làm vào nửa đêm về sáng. Lúc đó, tiếng phu đổi thùng gõ cửa ầm ầm trong đêm thanh vắng thường làm thằng bé này giật mình thon thót. Chắc tiếng gõ cửa bắt người ban đêm cũng chỉ hãi hùng đến thế mà thôi.

Bà con hàng xóm trong khu phố tôi là những người dân hiền lành sống cuộc đời âm thầm nhưng cũng có một nhân vật dị thường khiến tôi để ý. Tên anh là Hùng, nhưng ai cũng gọi là Khùng. Hằng ngày, anh bắc ghế đẩu ra ngồi ở ngã tư, thấy ai đi qua cũng chào. Chào bằng đủ mọi thứ tiếng. Mọi người đều cho anh là thằng hoá dại. Trẻ con thường quây chung quanh anh để chọc ghẹo. Riêng tôi, lúc nào cũng ngẩn ngơ đứng nhìn con người “kính chào không mỏi mệt” này. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ gương mặt hiền hoà của một người lịch sự nhất phố Hàng Dầu.

Hà Nội có những buổi trời mưa thật to, mưa nặng nề như mưa đá vậy. Có thêm những tia chớp lớn. Những hạt mưa cục đập xuống mặt đường chưa trải nhựa, làm thành những bong bóng to. Ngồi trên bậc cửa nhìn qua nhà trước mặt, thằng bé này biết nhớ nhung da diết một con bé tên là Nguyệt. Nó thấy được nỗi buồn của một câu ca dao để rồi sẽ đưa vào một bản trường ca:

Ðêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người bên đó có buồn hay không ? .

CTHÐ: Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng?

Phạm Duy viết: “Ðổi thùng thường làm vào nửa đêm về sáng. Lúc đó, tiếng phu đổi thùng gõ cửa ầm ầm trong đêm thanh vắng thường làm thằng bé này giật mình thon thót. Chắc tiếng gõ cửa bắt người ban đêm cũng chỉ hãi hùng đến thế mà thôi.”

CTHÐ: Năm xưa chừng bốn, năm ngày đổi thùng phân một lần. Người ta nghe tiếng đập cửa mãi rồi quen. Không thể ví tiếng đập cửa đổi thùng với tiếng bọn Công An Việt Cộng ban đêm đập cửa vào nhà bắt người.

Phạm Duy: Từ lúc còn rất bé, không những được đi lễ với mẹ luôn luôn, tôi còn được mẹ tôi dạy tụng những câu kinh Phật: “… Lư hương xạ nhiệt pháp giới mông vân chư Phật hải hội… ” Tôi lại là thằng bé không thích ăn thịt hay chấm nước mắm, nhiều khi chỉ ăn cơm với oản, với chuối cho nên ngoài cái tên “thằng Tôm”, tôi còn có thêm cái tên là “chú Tiểu.”

CTHÐ: Năm 1972 khi dịch tiểu thuyết One Hundred Years of Solitude của Gabriel Garcia Marquez tôi thấy nhân vật trong truyện – Xứ Colombia – ăn cơm với chuối. Tôi théc méc: nước Việt nhiều chuối, nhưng người Việt không ăn cơm với chuối. Tại sao?

Phạm Duy: Từ khi vú bỏ tôi về quê, tôi đã nhiều lần được về sống với vú và con vú là thằng Cương ở một ngôi làng gần Trạm Chôi thuộc tỉnh Sơn Tây. Lúc đó tôi đi học rồi và qua những bài tập đọc bằng văn suôi hay văn vần trong cuốn QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ, tôi được dạy dỗ để biết yêu đồng quê Việt Nam như thế nào rồi! Hãy giở những cuốn sách học vỡ lòng đó ra mà coi. Cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư — Lớp Ðồng Ấu có 55 bài tập đọc thì có tới gần 10 bài tả cảnh đồng quê. Em bé thị thành như tôi vào tuổi lên 9 mà lại học về cầy cấy, gieo mạ, gặt lúa. Học bài “con người nói chuyện với con trâu” bằng thơ. Hay học “nghề làm ruộng”:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta.
Rủ nhau đi cấy đi cầy
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

CTHÐ:

Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cầy vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, trâu đấi, ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa có bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Tôi học bài học thuộc lòng trên năm tôi 10 tuổi. Ngay trong tuổi thơ ấy tôi đã thấy chuyện con trâu nó không phải kéo cầy vất vả, nó vẫn có cỏ ngoài đồng cho nó ăn.

Phạm Duy: Còn một trò chơi này tôi không biết gọi tên là gì  nhưng tôi chỉ thấy người ta chơi trong thời đó mà thôi. Ðó là những thanh que dài, được người chơi đứng xa phóng lên cho đầu thanh que rơi xuống một cái trống con rồi thanh que đó bật ngược lên cao để rơi vào họng của một cái bình hoa đặt ở xa xa. Người chơi phải đạt được hai lần chính xác: một lần khi tung thanh que rơi xuống mặt trống và một lần nữa khi thanh que đó rơi vào cái miệng hẹp của chiếc bình hoa. Trò chơi này cho ta nghe hai âm thanh vui: tiếng “tom” của cái trống và tiếng “thụt” của thanh que khi rơi vào bình.

CTHÐ: Trò chơi này gọi là “đầu hồ.” Tôi gặp tiếng “đầu hồ” trong một bài viết về một ông vua Nhà Nguyễn: “Khi mỏi mệt, vua đứng lên, bước tới đánh đầu hồ.” Nay đọc Phạm Duy, tôi biết “đầu hồ” là trò chơi như thế nào.

Phạm Duy: Ở trường Hàng Vôi, trong những năm học các lớp đồng ấu (cours enfantin) lớp dự bị (préparatoire) và hai lớp sơ đẳng (cours moyen I và II), tôi học dốt lắm.

CTHÐ: Thiếu Cours Eùlémentaire: Lớp Sơ Ðẳng. Cours Moyen 1, Moyen 2 được gọi là Lớp Nhì 1, Lớp Nhiø 2. Cours Superieux: Lớp Nhất.

Phạm Duy: Dù còn bé, tôi cũng biết thù ghét người con nuôi của Cụ Ðề Thám đã dắt tay sai của Pháp là Lê Hoan tới bắt Cụ cũng như tôi đã biết khinh bỉ những vị quan lại như ông tuần phủ họ Cung đã giúp kẻ thù trong việc bắt giết những anh hùng trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

CTHÐ: Ông Tuần Phủ Cung Ðình Vận. Ông bị Việt Minh giết năm 1945.

Phạm Duy: “Nói tới chuyện lên đồng của thời tôi còn bé thì phải nói tới Cô Bé Tý ở Hàng Bạc, một cô me Tây rất ngộ nghĩnh mà tôi có hân hạnh được tới gần. Cô Bé Tý được coi như ngang hàng với người nổi danh trong làng me Tây là cô Tư Hồng nhưng cô Bé Tý được nhiều người yêu mến vì tính đồng bóng của cô.”

CTHÐ: Theo tôi, cô Ba Tý, không phải cô Bé Tý.

Phạm Duy: Hà Nội ngày tôi còn bé, luôn luôn có những cơn sốt dị đoan như hiện tượng bàn ma xẩy ra trong một thời gian khá lâu. Nhà nào cũng có một cái bàn nhỏ ba chân rồi người ta ngồi chung quanh cái bàn đó, hai tay đặt vào thành bàn, sau khi khấn khứa với con ma bàn, người ta hỏi chuyện nó. Hỏi chồng bà này chết bao nhiêu năm rồi? Hỏi mẹ của bà nọ ở bên kia thế giới có vui hay không? Vui thì chân bàn gõ hai cái, buồn thì chân bàn gõ một cái… Cái bàn ma đã trả lời vanh vách với tiếng chân bàn gõ canh cách. Vừa run rợ vừa thích thú vì thấy mình như lạc vào cõi ma, nghe được thông điệp của người chết, tôi lại càng sợ hơn khi thấy có người đào mả lấy gỗ quan tài để làm bàn ma.

CTHÐ: Trò này là trò cầu cơ. Bàn cầu cơ là miếng gỗ viết chữ a, b, c..Người cầu cơ đặt ngón tay trỏ lên miếng gỗ nhỏ hình trái tim, nhắm mắt cầu khẩn hồn ma nhập vào, miếng gỗ tự động di chuyển trên các chữ, ghép các chữ lại thành tiếng. Ðể bàn cơ được thiêng, có người ra bãi tha ma lấy những miếng gỗ quan tài được cải táng, đem về làm bàn cầu cơ, không ai đào mả lấy gỗ áo quan. Trò Cầu Cơ biến mất sau năm 1945.

CTHÐ: Năm 1991, 1992, đi tù về, tôi được nghe – qua cassette – bài Tình Cầm – Phạm Duy phổ Thơ Hoàng Cầm – và bài Nghìn Thu. Hai bản Nhạc, Thơ làm tôi cảm động. Từ sau năm 1975, hai mươi năm Phạm Duy sống ở Mỹ, tôi chỉ thấy hay hai bản nhạc của Phạm Duy: bài Tình Cầm – Thơ Hoàng Cầm – và bài Nghìn Thu.

Nghìn Thu

Nghìn thu Anh là suối trên ngàn
Thành sông anh đi xuống, anh tuôn tràn biển mơ
Nghìn thu Em là sóng xô bờ
Vào sông Em đi mãi không bao giờ biển vơi

Em là cõi trống cho tình đong vào
Anh là nơi vắng cho tình căng đầy
Cuộc tình đi vào cõi thiên thu
Em là cơn gió, Anh là mây dài
Ði về bên nớ, đi về bên này
Rồi trở về cho hết cái đong đưa

Nghìn thu Em lặng lẽ ươm mầm
Cành mai không ai biết Em âm thầm nở hoa
Nghìn thu trăng chợt sáng hay mờ
Lặng im Anh lên xuống không ai ngờ hiển nhiên

Tình Ta biến hóa trong từng sát na
Tình luôn lai vãng đi về cõi chung
Tình vô hư đó nên gần với xa
Tình ra ánh sáng, tình về tối đen

Nghìn thu Anh là đã Em rồi
Và Em trong muôn kiếp, Em đã ngồi ở anh.
Nghìn thu Ta bồi đắp không ngừng,
Tình Âm Dương chan chứa xoay trong vòng Tử Sinh.

o O o

Năm 1940 người Bắc có thành ngữ:

“Búi tóc củ hành, làm anh thiên hạ.”

Tóc đàn ông không nhiều, những ông để tóc dài khi búi tóc lại sau ót, búi tóc chỉ lớn, chỉ nhỏ bằng củ hành. Tôi thấy những ông búi tó củ hành ngày xưa không có gì hơn người, tức không thể  làm đàn anh người khác. Năm 1946 cả làng tôi chỉ còn có một ông bác họ tôi là còn búi tó củ hành.

Théc méc: Không biết ông Vua nhà Nguyễn nào là ông Vua thứ nhất cắt  bỏ búi tó?

Năm 1995, gặp lại Phạm Duy, tôi hỏi:

“Nghìn Thu Thơ của ai thế?”

Phạm Duy:

“Thơ tôi chứ còn Thơ của ai nữa!”

MÙI PHẤN ÁI ÂN

Ngày xưa xa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần,
Ðời chỉ có hoa và mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Căn Nhà Không Có Mùa Xuân. Thơ H.H.THỦY

coupleLàng Linh Qui, tổng Kim Sơn, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ðó là căn cước làng quê tôi. Một làng không giầu, không nghèo, một làng điển hình của một ngàn lẻ một làng quê đồng bằng Bắc Việt. Những năm xưa, cách đây hơn năm mươi năm, khi tôi có điều kiện tìm biết nguồn gốc làng tôi, dòng họ tôi, tôi đã không tìm – ngày xưa ấy tôi còn ít tuổi quá, năm 1945 tôi mới 14 tuổi. Khi tôi trưởng thành, muốn tìm biết thì không còn được nữa. Chỉ nhớ tôi nghe ông thân tôi nói họ Dương của tôi gốc ở Bần Yên Nhân, năm năm một lần đại biểu họ tôi vẫn về Bần Yên Nhân cúng tổ. Ông tổ năm đời của tôi thi không đỗ, rời làng quê đi tìm nơi dậy học. Ông dừng chân ở một khu dân cư nằm ven con đê sông Ðuống, một số người trong họ ông theo ông đến đây sinh sống, và các ông lập ra làng Linh Qui. Làng tôi không có người nào đỗ cao,  Hán học cũng như Tây học. Năm tôi biết ghi nhận làng tôi chỉ có hai ông Thông Phán: ông Dương Ðức Hiệp, ông  bác tôi, chi trên, thân sinh anh Dương Ðức Hiền, và ông Dương Hoằng Giản, ông bố tôi. Làng Kim Sơn ngay bên làng tôi, cũng không giầu, không nghèo như làng tôi, có ba, bốn ông tiến sĩ, làng Phú Thị, nổi tiếng văn học nhất vùng, cách làng tôi một cánh đồng, là làng ông Cao Bá Quát.

Ði từ Hà Nội, qua cầu Sông Cái, năm tôi nhỏ tuổi tên Tây là cầu  Pont Doumer – tên một ông Toàn Quyền Pháp ở Ðông Dương, Toàn Quyền Doumer xây cầu qua sông Hồng, một tên khác là Sông Cái – vào đường Số 5, đi về hướng Hải Dương, Hải Phòng, 19 cây số thì đến ga xe lửa Phú Thị. Rẽ trái vào con đường đất, đi qua trước làng Phú Thị, vào bên trong chừng ba cây số thì đến làng tôi.

Làng tôi nằm giữa đê sông Ðuống và đường số 5, con đường huyết mạch nối liền thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng. Chiến tranh nổ ra, quân Pháp chiếm phi trường Gia Lâm trước nhất, họ mở ngay những cuộc hành quân càn quét hai bên đường số 5 để bảo vệ con đường quan trọng ấy. Khói lửa, chết tróc, hoang tàn đến với làng quê tôi rất sớm. Cánh đồng làng tôi là nơi xẩy ra trận đánh đầu tiên trong vùng. Hai ngày sau trận đụng độ, tôi đi theo vết bánh xe thiết vận xa, hồi đó chúng tôi gọi là xe tăng, qua cánh đồng lúc ấy trồng ngô, thấy những vết máu đỏ trên những lá ngô.

Gia đình tôi ở thị xã Hà Ðông. Trước tháng 12 năm 1946 mỗi năm tôi chỉ được về làng một ngày, thường là ngày giỗ ông nội tôi, sáng về, chiều trở lại Hà Ðông. Chiến tranh đến, gia đình tôi về quê và ở lại đấy mấy năm trời. Những tháng đầu tôi theo Yên đi chơi quanh vùng. Yên là con ông chú ruột tôi, ông chú tôi mất sớm, Yên hơn tôi đến mười tuổi, làm hương sư, tức thầy giáo dậy bọn trẻ con mới học a, b, c…ở những trường làng, Yên quen ông Cao Bá Thao ở làng Phú Thị. Năm 1945 Thi sĩ Thao Thao, tên thật Cao Bá Thao, đã nổi tiếng. Dường như ông có một hai trang trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân. Tôi theo Yên đến làng Phú Thị, và tôi được gặp Thi sĩ Thao Thao.

Chủ tịch Ủy Ban Hành Chính-Kháng Chiến xã Phú Thị cũng là người họ Cao, tên anh là Dinh, trước làm giáo viên, chắc cũng loại hương sư như Yên, nên thường được gọi là Giáo Dinh. Tôi gặp Giáo Dinh vài lần. Năm 1946 chủ tịch xã như Giáo Dinh có thể nói là “văn minh” nhất tỉnh, anh mặc sơ-mi kaki, áo có cầu vai, hai túi ngực, quần soóc kaki, đội ca-lo Mỹâ, đi săng-đan, và đặc biệt anh có khẩu súng lục. Súng do anh bỏ tiền nhà ra mua. Thời ấy rất có thể chủ tịch Ủy Ban Hành Chính-Kháng Chiến phủ Gia Lâm cũng không có súng lục, nhưng Giáo Dinh, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính-Kháng Chiến xã  Phú Thị, có súng lục.

Ðứng ở cổng làng Phú Thị người ta nhìn thấy Cầu Bây, cây cầu sắt bắc ngang dòng sông nhỏ, xe hỏa Hà Nội-Hải Phòng cùng xe ô tô chạy qua cầu này. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua cuộc đời tôi vẫn nhớ bài thơ Thi sĩ Thao Thao làm riễu anh Giáo Dinh. Không học mà thuộc, không có ý ghi nhớ mà qua năm mươi năm tôi không quên:

Tiếng súng Cầu Bây nổ đánh ình!
Ngoảnh ra thấy mất Bố Cu Dinh!
Hỏi xem mới biết vừa quăng súng,
Lõm bõm qua sông lội một mình!

Sau làng Phú Thị có con sông đào, sông không sâu, có chỗ người ta lội qua được. Con sông ấy nằm giữa làng tôi và làng Phú Thị. Tôi nhiều lần lội qua con sông này, những lần tôi đi đường tắt từ làng tôi sang làng Phú Thị.

backTừ năm xưa tôi mới mười mấy tuổi đó tôi đã thấy bài thơ riễu Bố Cu Dinh là bài thơ hay. Về sau mỗi lần hồi tưởng, tôi thấy năm ấy Thi sĩ Thao Thao Cao Bá Thao, con cháu Thi sĩ Cao Bá Quát, không chết vì bài thơ riễu đó là may. Có thể Chủ Tịt Bố Cu Dinh là người ngang hàng trong họ Cao, hay vai dưới Thi sĩ nên y không làm hại ông. Ông làm thơ như thế Bố Cu Dinh cũng đau chứ. Ðường đường là chủ tịch ủy ban hành chính-kháng chiến xã – chủ tịch xã cũng dư phương tiện thủ tiêu kẻ dám đem mình ra làm đề tài cười cợt. Chủ Tịt có súng lục đàng hoàng, Tây nó mới bắn mấy phát súng ở đường số 5 Chủ Tịt đã quăng súng, lội sông chạy. Ðã chạỵ mà còn chạy một mình, tức chạy lúc chưa có ai chạy cả. Rất có thể Chủ Tịt Bố Cu Dinh đã chạy như thế, nhà thơ không bịa chuyện để riễu Chủ Tịt.

Qua Yên, em tôi, tôi gặp anh Dũng, ủy viên thanh niên của phủ Gia Lâm. Anh Dũng trạc 25 tuổi, chưa vợ con, tính nết dễ thương. Là ủy viên thanh niên phủ mà anh nghèo rớt, không có qua một phương tiện gì để tuyên truyền. Anh tập hợp được 5 thiếu niên đồng tuổi tôi, chúng tôi đều mười bốn, mười lăm tuổi năm đó, cùng ở mấy làng gần nhau, và thành lập ban kịch thiếu niên. Tôi nguyên là hướng đạo sinh, tôi đem theo về quê được khoảng mười mấy số tuần báo Thẳng Tiến của Hội Hướng Ðạo. Trong những số báo Thẳng Tiến ấy có mấy vở kịch vui, và vở Kịch Thơ Hận Nam Quan, toàn những vở kịch hướng đạo dễ đóng, ít vai. Ban Kịch Tiền Phong của chúng tôi – cũng Tiền Phong như ai – trình diễn những vở kịch hướng đạo ấy. Cả ban chỉ có 5 anh em chúng tôi. Và anh Dũng trưởng ban. Chúng tôi đi đến những làng trong vùng diễn kịch, mỗi làng ở lại chừng ba, bốn ngày, người làng nuôi cơm. Kịch diễn tất nhiên là không bán vé, diễn ở đình làng, một ngọn đèn đốt sáng bằng khí đất là đủ cho sân khấu. Chỉ có một cái kèn harmonica do tôi thổi. Cũng chào cờ, quốc ca, mặc niệm đủ trò. Khán giả dễ dãi, được xem kịch là họ thích rồi. Thường thì chỉ có những người trẻ trong làng đến xem.

Một buổi tối cuối hạ, đầu thu, tôi đi trên đê sông Ðuống về làng tôi. Lúc ấy khoảng bẩy giờ tối, trăng lên, cả một con đê dài, những cồn cát, những bãi dâu, những bờ ngô, những bụi chuối, trên là trời trăng bao la, tôi đi một bên là dòng sông lớn, một bên là cánh đồng với những ruộng ngô, những làng mạc sau lũy tre xanh. Trong không gian chỉ có ánh trăng, tiếng gió, chỉ có một mình tôi giữa trời đất. Tối ấy tôi tự nhủ mai sau, những năm tôi ba mươi, bốn mươi tuổi, tôi sẽ trở về đi trên quãng đê này trong một tối trăng sáng như tối nay, để tưởng nhớ chú thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi là tôi tối nay đi trên con đê này.

Lính Pháp hành quân qua vùng tôi, ban kịch tan. Lần ấy lính Pháp chỉ đi qua, chưa đóng đồn trên đê sông Ðuống. Một số nhà bị cháy, một số người chết. Rồi cuộc sống trở về bình yên, một bình yên tạm bợ. Tôi gặp anh Tường Lan.

Tường Lan là bí danh của anh, anh trạc ba mươi tuổi, người trẻ mà để râu ba chòm như râu ông Hồ chí Minh, anh đến ở nhà ông bác tôi cùng với mấy anh nữa. Tôi đến chơi và thấy mến các anh. Các anh cũng mến tôi, rất tự nhiên và dễ dàng, tôi nhập vào nhóm các anh. Anh Tường Lan là tổ trưởng tổ tình báo ấy, tôi trở thành liên lạc viên của tổ.

Và tôi gặp người phụ nữ của đoạn truyện hồi ký này, đây là một đoạn trong Hồi Ký Hoài Niệm Cuộc Ðời mà từ lâu tôi định viết. Hồi ký hoài niệm đời tôi, sẽ có ba phần: Sáng, Trưa, Chiều. Sáng là thời gian những năm tôi từ 10 đến 20 tuổi, Trưa là những năm tôi 20 đến 40 tuổi, Chiều  là những năm tôi từ 40 tuổi đến bây giờ, tôi không thể viết đoạn Tối của đời tôi được.

o O o

Ðược nhận vào Ban Tình Báo, tôi lấy bí danh là Thành, Trần Chí Thành, tôi muốn lấy bí danh là Hồ Chí Thành nhưng không dám. Tình cờ bí danh của người chị diệu kỳ trong những ngày tôi mới lớn là Thanh. Thanh, Thành, như tên hai chị em ruột. Về sau, vì chị Thanh thương mến tôi, lo cho tôi,  nhiều người tưởng chúng tôi là chị em ruột, dù tôi nói tôi không phải là em chị, người ta cũng không tin. Khoảng hai mươi, hai mươi mốt tuổi, chị là cô gái nửa quê, nửa tỉnh, không phải là tiểu thư thành phố mà cũng không phải là gái quê làm việc ngoài đồng. Phụ nữ kháng chiến như chị thuộc loại gái văn minh, răng trắng, tóc thề, tức tóc cắt ngắn chấm vai, nước da trắng, ăn nói có duyên, bạo dạn. Nhưng chị không mặc áo nâu cổ vuông như những thiếu nữ thành thị tản cư hay như những em Việt Minh làm văn nghệ, chị mặc áo cánh, trong mặc yếm trắng. Chị mặc thế để giả dạng làm gái quê nhưng chỉ cần nhìn chị với hàm răng trắng, mái tóc cắt ngắn,  bất cứ anh sĩ quan Tây nào dù ngốc nghếch đến mấy cũng biết ngay chị là Việt Minh. Chị và một chị nữa không ở trong nhà ông bác tôi mà ở một nhà khác trong làng, hai bữa các chị ăn cơm chung với các anh trong tổ tình báo ở nhà ông bác tôi. Chưa phải là nhân viên Ban Tình Báo, tôi đã thường có mặt trong những bữa ăn ấy.

Anh Tường Lan cho tôi đi theo anh, và mấy anh lớn trong những chuyến đi công tác trong vùng. Tiếng là tình báo, thời ấy các anh làm quân báo thì đúng hơn, quân báo mà cũng là thứ quân báo hạng bét. Chẳng anh nào, kể cả anh Tường Lan, biết tình báo là gì. Một lần tôi theo một anh vào huyện Lang Tài, đến một làng ở gần núi Thiên Thai. Tây đã đóng đồn trên núi, anh tình báo đến điều tra về đồn lính ấy. Ban tình báo có một anh ở ngay trong làng. Hai anh gặp nhau. Giả làm nông dân, tôi theo hai anh đến một chỗ trong cánh đồng chỉ cách núi Thiên Thai chừng ba trăm thước. Không dám đến gần hơn, tất nhiên chúng tôi chẳng nhìn thấy gì nhiều. Hai anh tình báo ngồi đó nhìn lên đồn binh trên núi, sẵn sàng chạy nếu thấy bóng lính Tây xuống đồn, tưởng tượng  về đồn để về làm báo cáo.

Rồi một hôm anh Tường Lan cho tôi đi công tác với chị Thanh. Anh trao công tác cho chị Thanh, tôi chỉ đi theo học việc. Chúng tôi phải vượt qua Ðường số 5 – con đường chiến sự ác liệt nhất trong những năm đầu sau năm 1946 ở Bắc Việt – để sang vùng đất bên kia. Việc qua đường số 5 là việc nguy hiểm, ban đêm cũng như ban ngày, đã nhiều người bị bắn chết ở hai bên đường. Lính Pháp trên quân xa, tầu hỏa đi qua, thấy người là  bắn.

Chúng tôi ngồi dưới gốc đa trước cổng làng Phú Thị chờ trưa đứng nắng để qua đường. Những người qua đường số 5 những ngày  ấy truyền nhau kinh nghiệm: không qua đường ban đêm, bọn Tây hay phục kích ban đêm ở những đoạn người dân thường qua đường, ban đêm qua đường dễ bị Tây bắn chết, phải qua đường vào lúc giữa trưa. Thời gian đó quân xa Pháp ít chạy trên đường, chỉ có xe hỏa ngày nào cũng có chuyến lên, chuyến xuống. Xe hỏa từ Hà Nội sang Hải Phòng hay từ Hải Phòng sang Hà Nội thường chạy vào lúc 9, 10 giờ sáng, qua đường giữa trưa là an toàn nhất.

Áng chừng giữa trưa, tôi đi bên chị Thanh trên con đường đất song song với đường số 5 để đến chỗ lên đường, vượt đường nhựa, đường xe hỏa, qua bên kia. Con đường chúng tôi đi cách đường số 5 khoảng ba trăm thước.  Chúng tôi đi chân đất, tôi đeo vai cái bị trong có để hai bộ quần áo, khăn mặt của hai chị em. Ði bên nhau tôi mới thấy chị cao hơn tôi nửa đầu, mới mười lăm tuổi tôi chưa lớn hết chiều cao của tôi.

Trưa hè, nắng rát, trời không có gió, lưng dâm dấp mồ hôi, tôi không thấy sợ hãi hay hồi hộp, chỉ thấy một kích thích mơ hồ về việc  được cùng đi công tác với một phụ nữ như chị Thanh. Vẻ bạo dạn đầy thẩm quyền của chị làm tôi không thấy sợ.

Ði được nửa đường, trước mặt chúng tôi có một đoàn chừng hai mươi người dân quê đi tới,  họ đi buôn, môt số người gánh những thúng hàng, một số người cầm đòn gánh đi không. Họ cũng qua đường số 5 giữa trưa như chúng tôi và họ từ vùng bên kia đường đã qua được vùng bên này đường, họ đã qua được đoạn đường nguy hiểm.

Ðúng lúc chị em tôi gặp đoàn người thì tầu hỏa sình sịch đến, con tầu từ Hải Phòng lên. Súng nổ, lính trên tầu thấy người bắn xuống. Tôi chạy đến nằm nép vào cái mả. Nằm đấy tôi thấy chị Thanh nằm trên đường, nhưng chị nằm nghiêng, chị không nằm sấp úp mặt hay áp má xuống đất như mọi người, chị nằm nghiêng nhìn đoàn tầu. Tôi thấy rõ khoảnh yếm trắng trên ngực chị, và cánh tay phải của chị đỡ đầu chị. Và tôi thấy rõ những viên đạn bắn xuống ruộng nước quanh chỗ chị nằm làm nước tóe lên. Nhưng rõ ràng là chị vẫn nằm thoải mái, chị không ngán sợ.

Ðoàn tầu chạy qua, tôi trở lên đường. Không một ai bị thương. Nhiều chị trong đoàn người đi buôn nhào xuống ruộng, quần áo đầy những bùn nước. Chị Thanh của tôi sạch boong.

- Mình đi hay quay về, chị?

Tôi hỏi. Chị phủi bụi đất ở quần, trả lời:

- Ði chứ.

Và chị hỏi lại:

- Sao lại quay về?

Và thế là tôi theo chị đi. Tới đầu đường chúng tôi chạy lên đường số 5, theo lối mòn chạy lên đường tầu hỏa qua cánh đồng bên kia. Xuống đến đồng rồi chúng tôi vẫn chạy, chạy cho xa đường số 5. Khi chị ngừng chạy, tôi ngừng chạy, chị vừa đi vừa thở vừa cười. Ðến lúc ấy tôi mới nói:

- Lúc nó bắn, em thấy chị nằm nghiêng. Chị không sợ nó bắn trúng à?

Chị thản nhiên:

- Nó bắn mình nằm xuống đất rồi là không sợ.

Và chị cười, nói đến chuyện vừa qua như nói một chuyện rất thường:

- Tưởng tầu nó qua rồi, biết đâu hôm nay nó chạy muộn.

Ðồng đất bên này cũng như đồng đất vùng quê tôi ở bên kia đường, những làng thôn nằm sát nhau. Hình như chúng tôi đã đi vào huyện Văn Lâm chứ không còn ở trên đất Gia Lâm nữa. Trước mặt chúng tôi, mờ xanh xa kia là đê sông Hồng, sau lưng chúng tôi là đường số 5 và đê sông Ðưống,  phi trường Gia Lâm, những làng Bát Tràng, Thủ Khối, cầu sông Cái, Hà Nội ở bên tay phải chúng tôi.  Hai chị em tôi đi bên nhau chừng hai giờ nữa, nắng hè làm tôi quáng mắt, khát nước khô cổ họng, cuối cùng tôi theo chị vào một làng có cái tên đẹp là làng Ðào Nguyên.

Dòng thời gian dài một ánh bay.. Năm mươi năm dập dồn dâu biển..! Không biết hôm nay người chị ngày xưa còn hay đã mất, tôi vẫn nhớ tên làng Ðào Nguyên. Tên là Ðào Nguyên nhưng làng cũng chỉ giầu, chỉ nghèo giống như làng Linh Qui – làng Linh Qui của tôi có cái tên nôm là làng Vụi, hay làng Bụi, làng Phú Thị của ông Cao Bá Quát, Cao Bá Thao, tên nôm là làng Sủi – làng Ðào Nguyên hơn làng tôi vì làng có con sông chẩy quanh làng, cánh đồng Linh Qui không có sông cũng chẳng có qua một cái ao, cái chuôm nào.

Dường như Ðào Nguyên là làng quê ngoại của chị Thanh, ít nhất chị đã từng sống trong làng này trước đó. Chị quen biết nhiều người trong làng. Chúng tôi vào nhà một người quen của chị. Nhà gạch năm gian, sân gạch, bể nước mưa, cây mít, cây bưởi, một trong mấy nhà khang trang nhất làng.

Chúng tôi uống nước, ngồi nghỉ một lúc, rồi chị bảo tôi:

- Ði, chú.

Không biết đi đâu, chị bảo đi là tôi đội nón đi theo. Chị đưa tôi ra đồng qua một cổng làng khác với cổng làng có khúc sông chẩy ngang hồi nẫy chúng tôi vào làng. Chúng tôi đi về phía đê sông Hồng, đến một chỗ chúng tôi nhìn thấy đồn binh Pháp trên đê. Một đồn bốt nhỏ, một căn nhà gạch liền với lô-cốt, hai, ba hàng rào dây thép gai sơ sài. Nhiều năm sau nhớ lại hình ảnh cái đồn binh trên đê sông Hồng năm xưa, sống lại giây phút ngồi trên bờ ruộng bên người chị chỉ hơn tôi năm, sáu tuổi, ngửi mùi nước ruộng bị nắng hè hun nóng trong không khí phảng phất mùi tóc, mùi vải áo nâu đượm mồ hôi của chị, tôi thấy chẳng cần phải là tình báo viên, tình báo hòn, người có khả năng nhận xét bình thường cũng biết cái đồn ấy chỉ có thể chứa nhiều nhất là sáu anh lính, với sáu khẩu súng trường. Trong khoảng nửa giờ ngồi bên bờ ruộng quan sát đồn binh tôi không thấy bóng dáng một anh lính nào cả.

Nắng chiều nhạt dần, chúng tôi trở về làng Ðào Nguyên. Chủ nhà đãi chúng tôi bữa cơm. Rồi tối xuống.

- Chúng mình ra sông tắm.

Tôi theo chị đi. Chị không mắc áo, chĩ mặc có cái yếm. Trăng lên. Sáng trăng vằng vặc. Chị đưa tôi tới một khúc sông xa làng. Ðến đây tôi mới biết con sông này chẩy về Cầu Bây trên đường số 5, Cầu Bây trong thơ Thao Thao;

-  Tiếng súng Cầu Bây nổ đánh ình…

Tôi theo chị xuống một khúc sông có nhiều bụi lau sậy bên bờ, dường như chị đã tắm ở chỗ này trước đó nên chị biết đây là chỗ tắm tốt. Khúc sông này có cát nên nước trong. Tôi cởi áo để trên bờ, mặc quần cụt xuống nước, chị mặc quần dài đen. Chị bơi lọp bọp kiểu bơi nghển cổ ngửa mặt trên mặt nước, kiểu bơi  bọn trẻ chúng tôi gọi là bơi chó, bơi Tô-tô. Mùa hè một năm trước đó ở bãi sỏi sông Nhuệ Hà Ðông, ông Ðoàn Khê, ông cậu của nữ ca sĩ Linda, tức ông Khê Vinh, cầu thủ bóng tròn Hội Tuyển Túc Cầu Bắc Việt những năm 1952, 1953, người có danh hiệu là Thăng Long Xích Thố, đã dậy tôi bơi brasse, bơi crawl. Trên dòng sông Ðào Nguyên năm xưa ấy  tôi biểu diễn một đường bơi crawl. Khi trở lại chỗ chị, tôi thấy chị đã cởi yếm cầm ở tay

- Chú lội hay quá. Dậy chị nhá..

- Vâng.

Chị bảo gì tôi cũng nghe, chị làm gì tôi cũng thấy hay, có duyên, thấy đúng, nếu lúc ấy chị có cởi quần tắm truồng tôi cũng thấy không có gì lạ. Rồi nhìn lên bờ tôi thấy có người trên bờ sông. Không phải một người mà hai người, hai anh trai làng đến đây theo chị em tôi. Họ nhìn thấy chúng tôi dắt nhau ra khỏi làng, họ tò mò đi theo. Hai anh đến đây lúc nào tôi không biết. Thấy tôi nhìn hai anh rồi nhìn  chị, biết tôi nghĩ gì, chị cười, nói:

- Người ta ngồi đó mặc người ta, mình tắm mình cứ tắm.

Nước mát ơi là mát. Tắm đã rồi chúng tôi lên bờ. Chị nói:

- Mình về nhà hãy thay.

Chị đã mặc lại yếm, nhưng không mặc áo, để vai và lưng trần, mảng da thịt ngồn ngộn trắng vàng trong trăng đêm, quần đen ướt nước, tôi mặc quần đùi ướt, cũng không mặc áo, đi bên nhau về làng. Những giọt nước rơi đánh dấu những bước chân chị em tôi đi trên mặt đường đất mịn. Hai anh trai làng vẫn ngồi đó. Khi đi ngang mặt hai anh, chị cầm tay tôi kéo tôi đi sát vào chị, như muốn làm thế để nói với hai anh trai làng: “Chú này là em tôi..”

Không phải lòng bàn tay tôi mà là mu bàn tay tôi – nửa thế kỷ đã qua tôi vẫn nhớ đó là mu bàn tay phải của tôi – chạm vào bầu vú bên trái của chị.

Ông bà chủ nhà đãi chúng tôi ăn khoai lang luộc. Cũng chỉ hai chị em tôi ngồi bên nhau ăn khoai trên hiên nhà sáng ánh trăng. Rồi chúng tôi đi ngủ.

Chị ngủ ở nhà trên, tôi ngủ ở nhà ngang. Nhà này không có cửa. Tôi nằm trên cái phản, bên kia là cái bàn để bình nước, cái điếu thuốc lào, chắc là nơi tiếp khách của gia chủ. Thoáng mát nhưng muỗi nhiều quá. Tôi nằm chịu trận, lại không có cây quạt nan đuổi muỗi. Vì mệt có lúc tôi ngủ chợp đi nhưng không được lâu lại thức vì muỗi đốt rát mặt, muỗi vo ve bên tai..

Không biết mấy giờ đêm.. Ông chủ nhà, một ông chừng năm mươi tuổi, chắc đã ngủ được một giấc dài, đi vào ngồi ở bàn hút thuốc lào lọc sọc. Thấy tôi nằm mở mắt, qươ qươ bàn tay đuổi muỗi, ông nói:

- Muỗi quá làm sao ngủ được. Lên nhà ngủ với chị ấy, có màn.

Tôi đi lên nhà trên. Tôi biết chị Thanh ngủ trong cái chái bên trái. Ðây chắc là chỗ ngủ của bà chủ nhà, đêm nay được nhường cho khách. Nhà ở nhà quê miền Bắc chia ra từng gian, từng chái, gọi phòng là không đúng. Cái chái đêm xưa ấy  tôi đến có cửa nhưng không gài then, chỉ khép hờ. Nhìn vào, nhờ ánh trăng chiếu xiên trên hiên, tôi thấy cái màn nâu. Tôi đẩy cửa bước vào, đứùng bên giường, gọi:

- Chị… Chị.

Qua lá màn nâu, tôi thấy chị nằm, ở trần, mặc yếm. Tiếng muỗi vo ve trong bóng tối.

Tiếng chị âm ừ:

- Ừ.. Ừ..

Tôi gọi:

- Chị..

Chị hỏi:

- Thành hả em? Gì thế..?

- Cho em nằm mấy. Muỗi quá em không ngủ được..

- Ờ.. Ờ.. Vào đây…

Chị nằm dịch vào trong, tôi mở màn, ngồi xuống giường, đập đập hai bàn chân vào nhau để rũ bụi đất dính chân, rồi ngả người vào nằm bên chị.

……

Sáng tinh sương. Tôi chưa kịp rửa mặt, chưa kịp uống nước, kinh hoàng đến. Bà chủ nhà chạy về, nói:

- Tây nó vào làng.

Bà ra hiệu cho chúng tôi theo bà. Chạy ra vườn sau, chui qua hai ba khu vườn hoang, bà đưa chúng tôi đến một góc bụi tre. Ở đó dưới những lớp lá tre là một cửa hầm bí mật. Bà chủ nhà và chị Thanh bới đống lá nhấc lên tấm đan bằng tre cửa hầm. Bà chủ nói nhỏ:

- Ở dưới đó. Yên rồi tôi mở cho lên.

Tim tôi đập dữ dội. Tây nó vào làng là để bắt hai tên Việt Minh mới về làng. Hai tên Việt Minh ấy là chị Thanh và tôi. Tôi nhẩy xuống hầm trước, tối om, tôi lom khom mò vào trong. Chị Thanh nhẩy xuống sau tôi. Tôi nghe tiếng đậy nắp hầm. Hầm nhỏ, đào sơ sài vì mới đánh nhau chưa ai có kinh nghiệm đào hầm bí mật. Vào chừng hai thước là hết hầm. Tôi quay lại, chị Thanh ôm tôi. Không nhìn thấy chị, hơi thở của chị thoảng  vào mặt tôi, tiếng chị nói bên tai tôi:

-  Ðừng sợ. Ngồi xuống.

Chị biết trong hầm thiếu dưỡng khí nên kéo tôi ngồi xuống rồi, chị nói:

- Thở nhẹ thôi.

Và chị lại nói:

- Ðừng sợ.

Thời gian trôi qua, có những lúc nặng nề, có những lúc huyền diệu. Bên trên không một tiếng động. Chúng tôi cứ ngồi sát bên nhau như thế trong hầm tối. Miễn là không bị Tây bắt, tôi sẵn lòng ngồi như thế cả ngày, cả đêm…

Trời đã vào trưa khi chúng tôi được trở lên. Tôi nhìn chị và thấy mặt chị xanh đi vì thiếu dưỡng khí, chắc mặt tôi còn xanh hơn. Mồ hôi làm mấy sợi tóc của chị dính trên trán, sau ót. Tôi bồi hồi thương chị. Tôi cảm thấy chị thương tôi nhiều hơn, chị nhìn tôi, ánh mắt dịu hiền:

- Chú sợ lắm không? Chị quen rồi.

Lính Tây chỉ đi qua làng, chúng không vào để lùng bắt ai cả. Tây đi qua làng là chuyện thường với dân làng, nhưng không phải là chuyện thường với  tôi. Tôi vẫn cho là lính Tây trên đồn được báo có Việt Minh về làng, chúng vào để bắt Việt Minh. Có lẽ chị Thanh cũng nghĩ như tôi, hoặc chị không muốn làm phiền ông bà chủ nhà, Tây nó bắt được Việt Minh trong nhà ông, ông cũng chết, chị quyết định tối hôm đó chúng tôi trở về bên kia đường số 5.

Ăn xong bữa cơm chiều, chúng tôi chào ông bà chủ nhà, đi ra khỏi làng Ðào Nguyên, chúng tôi đi ngược lại con đường chúng tôi đi trưa qua. Sẩm tối chúng tôi đến bên đường số 5. Một số đồng bào qua đường số 5 ngồi lại trong một bãi tha ma ở giữa đồng. Họ bảo chúng tôi:

- Còn một bọn chúng nó chưa về đồn. Chờ một lúc nữa…

Trăng lên. Ðất trời long lanh sáng. Một trong những đêm trăng đẹp nhất đời tôi. Hai chị em tôi chuẩn bị chạy qua đường. Chị dợm chân chạy trước, tôi nắm tay chị, níu lại:

- Chị…

Chị đứng lại, nhìn tôi:

-  Em nói gì?

-  Ðể em chạy trước..

Tôi không nói để em chạy trước, chị chạy sau, nếu có nó phục, nó bắn em trước. Chị hiểu, chị nói:

- Hai đứa mình cùng chạy.

…..

Trên cánh đồng trước làng Phú Thị có cái hồ sen khá lớn, bên hồ có cái lều của những người chăn vịt. Chúng tôi tạt vào lều ngồi nghỉ. Cửa lều trải rơm như tấm thảm êm, khô, và sạch, mùi rơm phơi nắng hè cả ngày có mùi hăng hăng Tôi ngồi xuống nệm rơm, rồi thấy mệt rã rời, tôi nằm xuống, gối đầu lên cái bị hành lý trong chỉ có hai bộ quần áo.

Tôi ngủ đi. Có lúc mơ màng tôi thấy chị ngồi bên tôi, ngước mặt lên nhìn trời. Hình như chị khẽ hát một câu hát gì đó. Tôi lại ngủ đi.

Nhiều năm sau khi tôi mái tóc không xanh nữa, tôi đã đau thương, đã nợ nần, đọc Thơ Cao Chu Thần, tôi gặp bài thơ ông viết về một chuyến đi xa ông trở về làng ông, ông cảm động khi thấy cái hồ trong cánh đồng làng ông, ông gọi hồ đó là Hồ Ngựa Trời – Quán Cây Gạo đó sương còn đượm. Hồ Ngựa Trời kia nắng mới lên – tôi mới biết mùa hạ năm 1947 tôi đã nằm ngủ bên bờ Hồ Ngựa Trời của Cao Chu Thần, bên tôi có người con gái thứ nhất trong đời tôi.

Có hai người đàn bà nói với tôi:

- Da thịt anh thơm lắm.

Có một người con gái nói với tôi:

- Da thịt em thơm lắm.

Tôi nhớ Nàng khi tôi làm thơ, năm tôi năm mươi tuổi:

Ngày xưa xa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Ðời chỉ có hoa và mật ngọt
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

HOÀNG HẢI THỦY

Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân,  Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 22 Tháng 12, 2013.

60 năm sau buổi tối sáng trăng tôi một mình đi trên đê sông Ðuống, mơ nhiều năm sau tôi sẽ trở về con đê này, đi lại con đường này, nhớ lại hình ảnh tôi khi tôi là chú thiếu niên 14 tuổi. Chỉ là ước mơ. Tôi không một lần trở lại. HHT

XỔ SỐ NGÀY XƯA

soxo

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Xây đắp muôn người
Ðược nên cửa nhà

Tô điểm giang san
Qua bao lầm than
Ta thề kiến thiết
Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi
Năm, muời đồng thôi
Mua lấy xe nhà
Giàu sang mấy hồi 

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Ấy là thiên chức
của người Việt Nam

Mua số mau lên
Xổ số gần đến
Mua số mau lê
Xổ số… gần… đến…

Kiến thiết quốc gia..
Giúp đồng bào ta..

Tiếng ca quen thuộc tôi nghe mỗi tuần từ năm 1952 cho đến Tháng Tư năm 1975. Vang tiếng một thời. 60 mùa lá vàng bay qua đời tôi, tôi vẫn nhớ tiếng ca Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia của Trần Văn Trạch.

Tôi không biết người Pháp đem trò chơi Xổ Số vào nước ta năm nào, chắc vào khoảng năm 1935, 1938. Những năm 1940 tôi mười tuổi, ở tỉnh lỵ Hà Ðông bên hông Hà Nội, tôi nghe người lớn nói đến chuyện Xổ Số.

soxo2

Xổ Số thời xưa ấy tên tiếng Pháp là Lotterie, bán trên toàn cõi Ðông Pháp, tức bán trên cả ba nước Việt, Miên, Lào, 1 đồng bạc Ðông Dương một vé số, mỗi năm – 12 tháng – xổ số một kỳ, vé số trúng độc đắc 10.000 đồng bạc Ðông Dương, tiếng Nam là Mười Ngàn đồng, tiếng Bắc là Một Vạn đồng.

Chiến tranh nổ trên khắp nước năm 1946, Xổ Số bị dẹp. Năêm 1952 tôi thấy Xổ Số sống lại ở Sài Gòn. Giá mỗi vé là 10 đồng. Số tiền khá lớn thời đó. Năm ấy Sài Gòn có hai sòng bạc mở cửa hành nghề suốt ngày đêm, quanh năm không đóng cửa nghỉ một ngày,  là Kim Chung và Ðại Thế Giới. Hai sòng bạc có trò Sổ Ðề mỗi chiều. Dân nghèo chỉ có hai, ba đồng cũng đánh Ðề được, biết được mất, tức trúng đề – đề xổ đúng con số mình mua, hay không trúng – biết ngay trong ngày. Dân Sài Gòn mê chơi Số Ðề phần đông là dân nghèo. Như đã nói chỉ hai, ba đồng cũng chơi Số Ðề được. Lại có những người gọi là Huyện Ðề nhận bán Số Ðề ở ngay trong xóm, chi tiền đàng hoàng, việc mua số chỉ bằng miệng.

Nên ít người mua sổ xố do Nhà Nước bán. Xổ Số những năm đầu bị ế. Cảnh sát Sài Gòn phạt người đi xe vi phạm luật giao thông bằng cách bắt mua vé số Kiến Thiết. Tôi không nhớ trong những năm 1952, 1953, xổ số xổ mỗi tuần hay xổ mỗi tháng. Dường như thời xưa đó mỗi tháng Xổ Số một kỳ.

Tôi cũng không biết chắc  những năm đó Xổ Số đã có tên là Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia hay chưa. Căn cứ trên bài ca Kiến Thiết Quốc Gia của Trần Văn Trạch làm năm 1952, tôi chắc cái tên Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia đã có từ năm 1952.

Năm 1955 hai sòng bạc Kim Chung, Ðại Thế Giới bị chính phủ – Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm – đóng cửa. Hết trò Số Ðề. Xổ Số bắt đầu được dân mua. Ðến năm 1960 tình trạng Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, vì bán chạy, nên có trò tăng giá. Giá một vé xổ số chính thức là 10 đồng, người mua phải mua với giá 14, 15 đồng. Rồi có tin tổ chức Chợ Ðen Xổ Số KTQG bị bắt, người thầu vé số và bán vé số tăng giá là bà Ðức Lợi. Bà này bị bắt. Tên bà Ðức Lợi Chợ Ðen Vé Số Kiến Thiết được nhiều người Sài Gòn biết.

Khi xẩy ra vụ bà Ðức Lợi, tôi là nhân viên nhật báo Sàigònmới. Nhưng tôi chẳng biết gì nhiều về cái sì-căng-đan này. Như nhiều người Sài Gòn, tôi chỉ biết Nhà Thầu Vé Số KTQG là người đàn bà tên là Ðức Lợi, bị bắt vì bán vé số quá giá. Vậy thôi.

Tháng 12 năm 2013 tôi tìm được vụ Bà Ðức Lợi trong tập “Ký Ức Huỳnh Văn Lang.” Tôi xin phép ông Huỳnh Văn Lang cho tôi trích mấy trang về vụ Bà Ðức Lợi Chợ Ðen Xổ Số trong Ký Ứùc của ông để gửi đến bạn đọc. Tôi chắc chỉ những công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa tuổi đời năm nay Bẩy Bó, Tám Bó mới chú ý đến vụ này. Tôi trích đăng vì theo kinh nghiệm của tôi, chuyện gì tôi muốn đọc, nhiều người Việt cũng muốn đọc.

o O o

Ký Ức Huỳnh Văn Lang. Từ trang 120 đến trang 124.

Vụ Vé Số Kiến Thiết (Tháng 7, 1962)

Một buổi tối đầu tháng 7, năm 1962, trời đang mưa tầm tã, tôi đang dậy một lớp kế toán ở trường Bách Khoa Bình Dân, khoảng 8 giờ, thình lình vợ tôi đến bảo tôi về ngay, vì nhà có chuyện gấp. Ra xe vợ tôi nói cho tôi biết lý do:

Mợ bị Hiến Binh bắt, hiện bị giam giữ với 13, 14 bà nữa. Anh về xem có giúp gì được không?

Có biết lý do gì không?

Không biết, anh ghé Hiến Binh hỏi xem.

Sở Hiến Binh lúc bấy giờ ở trên đường Gia Long, ngay trước Bộ Kinh Tế và sau Bộ Tài Chánh, tôi biết Tư Lệnh Hiến Binh là Ðại Tá Lê Nguyên Phu, người từ miền Trung được đưa vào thay thế Ðại Tá Nguyễn Quang Sanh, một người bạn của tôi ở Liên Kỳ Bộ. Tôi lái xe đến đậu ngoài đường Gia Long, để vợ tôi ngồi trong xe chờ.

Văn phòng của Tư Lệnh Hiến Binh ở từng trên, tôi lên lầu, nhờ tùy viên vào báo và được Tư Lệnh Hiến Binh cho vào ngay. Tôi ngồi xuống ghế và xin vào đề:

Bà Ðức Âm mẹ vợ tôi bị Hiến Binh bắt giữ hồi chiều này, xin Ðại Tá cho tôi biết lý do và nếu được xin cho phép vào thăm bà mươi phút.

Bà Ðức Aâm và mười mấy bà bị bắt giam để điều tra về vụ chợ đen bán vé số Kiến Thiết quá giá chính thức do bà Lê Thị Tuất tổ chức. Khi khám nhà bà Lê Thị Tuất, tức bà Ðức Lợi, Hiến Binh có bắt gặp một cuốn sổ tay trong ghi tên bà Ðức Aâm và mười mấy bà khác với những số tiền mỗi bà hai, ba trăm ngàn đồng. Có thể là những số tiền hùn hạp làm ăn đấu thầu vé số Kiến Thiết với nhau, phải đợi điều tra thêm mới biết rõ được. Ông muốn đi thăm bà Ðức Aâm, đi theo tôi.

Xuống từng dưới, Tư Lệnh Hiến Binh bảo người lính gác mở cửa một cái phòng lớn không bàn ghế và để tôi bước vào. Bà Ðức Aâm và mười mấy bà ( tôi không nhớ rõ là bao nhiêu) mặc áo dài đàng hoàng, ngồi trệt trên sàn. Tôi lại ngồi kế bà Ðức Aâm, các bà khác xúm lại ngồi chung quanh, bà Ðức Ââm giới thiệu bà Ðức Lợi đang ngồi kế bên , bà Ðức Lợi còn trẻ và xem khỏe mạnh hơn bà Ðức Âm. Tôi hỏi chuyện bà Ðức Âm ngay:

Mợ có sao không? Mợ nên nói cho con rõ tất cả họa may con có giúp gì được chăng? Khi khám nhà bà Ðức Lợi, Hiến Binh bắt được một cuốn sổ tay, trong đó có ghi tên tuổi của mợ và các bà ở đây, mỗi người hai, ba trăm ngàn đồng! Vậy tiền này là tiền gì? Tiền hùn đấu thầu vé số?

Không! Con biết khi còn ở Hà Nội chị em buôn bán quen biết với nhau thường hay cho vay, cho mượn khi có chị nào cần một số tiền lớn để lấy hàng hay thế chân đấu thầu, đấu giá. Chị em giúp nhau là chuyện thường, ở Sài Gòn vào đây cũng vậy. Nhưng không có hùn hạp chung vốn, vì mỗi người mỗi chuyện buôn  bán làm ăn khác nhau. Mợ chỉ có cho vay, cho mượn thôi, chuyện ai nấy lo. Ðó là sự thật! Mợ cho vay để chị Ðức Lợi thế chân thầu vé số. Mợ không có hùn hay chung vốn gì hết. Các chị em đây cũng vậy.

Bà Ðức Lợi và các bà ngồi chung quanh  xác nhận lời bà Ðức Âm  nói.

Tôi sang qua hỏi bà Ðức Lợi:

Có đúng vậy không?

Ðúng vậy.

Lãi xuất bao nhiêu?

4% mỗi tháng hay 11% mỗi ba tháng.

Cũng hơi cao! Nhưng làm sao, giá chính thức vé số có 10 đồng mà lâu nay, nhứt là gần đây lại nhẩy vọt lên đến 15, 16 đồng mà người ta giành nhau mua? Có thể nào bà cho tôi biết nguyên do?

Ðến đây thì thấy bà Ðức Lợi lúng túng! Rồi bà đứng lên làm dấu bảo tôi ngồi xa các bà khác một chút và nhỏ tiếng lại nói với tôi:

Ông Lang, ông biết muốn được thầu tôi phải đấu cao, 9 đồng 6, 9 đồng 7 tôi mới trúng được. Bán giá chính thức 10 đồng, tôi chỉ còn 30, 40 xu để trang trải mọi chi phí phát hành ở Sài Gòn, Chợ Lớn, xuống các tỉnh, ra cả miền Trung. Có khi đủ, có khi còn thiếu. Và mỗi kỳ thầu tôi còn phải chi cho ở trên nữa.

Bà nói thật à? Cho ai ở trên?

Mỗi bận trúng thầu, tôi phải đóng cho người của ông Nguyễn Ðình Thuần , người của ông Nguyễn Lương và người của Bs Tuyến, mỗi người 300.000 đồng, không thiếu một xu. Như vậy nếu tôi không bán trên giá chính thức thì tôi làm sao có lời, sống làm sao?

Bà nói thật chứ?

Tôi thề với ông Lang và các bà ở đây làm chứng. Tôi không nói dối đâu, ông Lang.

Bà nhớ, tôi sẽ báo cáo lên trên như bà nói.

Bà Ðức Lợi nói nhỏ tôi nghe, nhưng tôi chắc nhiều bà khác cũng nghe được. Tôi sang qua bà Ðức Aâm:

Mợ yên trí. Con sẽ trình nội vụ với TT liền! Mợ có cần mùng mền gì không?

Không cần, phòng này cũng khá nóng.

Sau đó tôi lên từng trên cám ơn Ðại Tá Lê Nguyên Phu, rồi đi xuống lái xe về ngay. Vợ tôi ngồi chờ, mặt buồn xo, trời còn đang mưa, khá lạnh.

(.. .. .. )

Tôi viết một phúc trình cho TT Diệm, trên một carte postale như xưa nay, từ lúc ông còn là Thủ Tướng, khi gửi tôi qua Bộ Tài Chánh ông có bảo tôi: (10. 10. 1954)Tuy anh không làm trong văn phòng bí thư nữa nhưng anh thấy có gì lợi cũng như hại cho chính quyền thì anh nên biên note cho riêng tôi, anh Hải sẽ lo điều đó, khỏi phải qua tay ai khác, như vậy là anh giúp tôi.

Và lần này, cũng như mọi lần trước, tôi rất ý thức khi viết cái note, một mặt tôi viết: Khi Hiến Binh khám nhà chủ thầu vé số kiến thiết là bà Ðức Lợi Lê Thị Tuất có lấy một cuốn sổ tay, trong đó có ghi tên bà Ðức  Âm, mẹ vợ tôi và nhiều bà khác mỗi bà có cho bà Ðức Lợi vay hai, ba trăm ngàn đồng. Bà Ðức Âm và các bà khác nhìn nhận là tiền cho vay, không phải là tiền hùn thầu vé số. Ðó là chuyện thường trong giới buôn bán, chị em họ giúp nhau, nhưng chuyện làm ăn của ai nấy lo. Mặt hai tôi viết: Chính bà Lê Thị Tuất – bà Ðức Lợi – nói và thề với tôi là nói sự thật. Mỗi lượt trúng thầu là phải đóng cho người của ông Thuần, người của ông Lương và người của Bs Tuyến mỗi người 300.000 đồng. Nếu không bán 5, 6 đồng hơn giá chánh thức, thì làm gì có lời, làm sao sống được. Ðó là lời bà Ðức Lợi nói với tôi, nhiều bà ngồi đó có nghe.

Tôi lái xe vào Dinh Gia Long và trao tờ thư cho anh Hải ngay trong đêm đó, nhớ là khoảng 10, 11 giờ gì đó. Chắc chắn là thể nào cũng tới tay TT, trễ lắm là trước 8 giờ sáng ngày hôm sau. (.. .. .. )

Ðến trưa thì được tin Hiến Binh đã cho bà Ðức Aâm và các bà khác tự do đi về nhà, trừ bà Ðức Lợi còn bị giữ ở đó để điều tra thêm.

Chiều lại, khoảng 4 giờ tôi được anh Hải gọi vào Dinh gặp TT ngay. Tôi vẫn được TT tiếp như thường lệ, cũng ở trong phòng làm việc vừa làm phòng ăn,, phòng ngủ, cũng trước cái bàn tròn, cũng ngồi trên một ghế bành đã bạc mầu.

Thưa TT, tôi chào ông như xưa nay.

TT bảo tôi ngồi xuống bên cạnh, ông đang cầm trên tay cái note phúc trình của tôi và đang đọc. Ông lấy từ đĩa lên, 1 điếu thuốc lá, đã đốt rồi và đưa lên miệng phì phà hai ba cái, nhả khói và nhìn theo, tôi thấy ông rất buồn, tôi cảm nhận ông đã mất tinh thần từ bao giờ, có thể cuộc đảo chính bất thành ngày 11 – 11 – 60 và vụ bỏ bom Dinh Ðộc Lập mới 5 tháng trước đây ( 27 – 02 – 62 ) đã để lại trên mặt ông một nỗi buồn khó tả, làm tôi cũng buồn lây.

Ðến chuyện vé số này, liên lụy đến những người ông tin tưởng nhứt, tôi tin chắc là ông cũng phải tin tôi, khi ông cho lệnh Hiến Binh thả bà Ðức Aâm và các bà khác, trừ bà Ðức Lợi ra! Tôi tin chắc TT biết tôi không có lý gì mà bày chuyện, ích gì cho tôi. chỉ có thiệt thôi. Có thể ông đang suy nghĩ ghê lắm!

Sau bốn, năm phút im lặng, tôi thấy ông đau buồn lộ ra vẻ mặt, rồi như cố gắng lắm, như nói với mình, hơn là với tôi:
Làm gì ông Thuần lấy tiền của người ta..Vây mà ông nói với tôi chỉ có 2 cái áo sơ-mi để thay đổi thôi.

Ðến đây tôi không cầm lòng được nữa, nên phải nói ngay:

Thưa TT, tôi ghi lại gần từng tiếng bà Ðức Lợi nói. TT biết tôi không thêm bớt gì hết, tôi không tố cáo ai hết.

TT Diệm không nói gì thêm, phì phà thuốc, rồi chậm chậm điếu thuốc trên đĩa, ông ngó lên trên.

Bỗng chốc tôi sinh ra bối rối, tôi nhít người lên, như muốn đứng dậy, thấy thế TT bảo như người than thở:

Thôi, anh về đi!

Tôi đứng dậy, cúi đầu chào ông và lẳng lặng ra về, cũng không biết phải nói gì bây giờ, tôi sợ làm phiền ông thêm. Ngồi trên xe, đầu óc tôi vẫn bối rối, lòng tôi bất an, không phải cho tôi mà chính là cho TT. Tôi thấy ông  hoàn toàn như bị đè bẹp, hoàn toàn thất vọng. Cái hình ảnh sau cùng đó sẽ đeo đuổi tôi rất lâu về sau, dù sau đó trong hội đồng TTTCTD tôi còn gập ông mấy lần nữa nhưng thấy ông xa vắng.

( .. .. .. )

Tôi cũng không theo dõi cho sát chuyện của bà Ðức Lợi. Tôi chỉ biết sơ qua là bà bị đưa ra tòa và bị phạt ba, bốn năm tù ở gì đó về tội tổ chức chợ đen bán vé số Kiến Thiết. Hoàn toàn tôi không nghe ai nói đến chuyện hối mại quyền thế hay tham nhũng g