NẾU ANH TRƯƠNG CHI ĐẸP TRAI

Đêm thanh vắng anh mới hát mấy câu Gió đưa văng vẳng đến lầu cô Mỵ Nương. Cô Mỵ Nương nghe tiếng hát thì thương..

Đêm thanh vắng anh mới hát mấy câu
Gió đưa văng vẳng đến lầu cô Mỵ Nương.
Cô Mỵ Nương nghe tiếng hát thì thương..

Năm 1981 tôi – CTHĐ Hoàng Hải Thủy – được biết Dương Hùng Cường viết, gửi sang Paris cho Trần Tam Tiệp bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.” Tôi không được Cường cho đọc bài đó trước khi anh gửi đi, anh viết tay nên không có bản thảo giữ lại.

Một trong những “tội phản động “làm cho DH Cường bị bắt tù và chết thảm trong tù là bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.” Hai mươi năm sau khi đến Paris tôi có ý tìm đọc bài viết của DH Cường; nhưng người tôi có thể hỏi về bài đó là anh Trần Tam Tiệp thì khi ấy anh đã bị tai biến bệnh não trở thành gần như phế nhân. Anh sống trong một căn phòng nhỏ, nói khó và ngọng, anh ngồi xe lăn, bao nhiêu sách, văn liệu của anh mất hết. Anh quên gần hết chuyện cũ. Tôi thất vọng vì không được đọc bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.” Trong nhiều năm tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ được đọc bài viết cuối cùng của Lão Dương Dê Húc Càn Dương Hùng Cường.

Lại 20 năm sống ở Kỳ Hoa vèo qua. Đêm khuya đầu Tháng Tư 2014, lang bang trên Internet tôi tình cờ tìm được bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai “của Dương Hùng Cường. “Tình cờ ” vì tôi không cố ý tìm, bài viết hiện lên trên màn hình computer của tôi trong đêm khuya xứ người, phòng ấm, đèn vàng, ngoài trời đêm tuyết rơi. Tôi ngậm ngùi đọc“Nếu anh Trương Chi đẹp trai.”

Đoạn văn giới thiệu “Nếu anh Trương Chi đẹp trai” đăng trên báo Nhất Việt:

Nếu anh Trương Chi đẹp trai”  của Dương Hùng Cường, viết ở Sài Gòn năm 1981, gửi lén ra ngoại quốc, đăng trong báo Nhất Việt ở Paris số Tháng 4-1982. Chủ đề của bài là “Mối tình Truơng Chi- cộng sản miền Bắc - và Mị Nương- tư sản Miền Nam.” Mị Nương nghe tiếng hát của Trương Chi, chưa gặp mặt đã thầm yêu trộm nhớ, đến khi gặp mặt Ngày 30 Tháng Tư 1975, thì cuộc gặp là một sự thật phũ phàng, thất vọng đau đớn ê chề cho Mị Nương.

Nhà văn Dương Hùng Cường sau khi học tập cải tạo sĩ quan về, lại bị Cộng sản bắt giam cùng với các văn nghệ sĩ Khuất Duy Trác, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần ngọc Tư, Lý Thụy Ý … Công An Hà Nội gán cho những văn nghệ sĩ này là “Những tên Biệt Kích Cầm Bút.”.

Dương Hùng Cường chết trong sà-lim Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu, Gia Định, ngày 22 tháng 1-1988. Ông là một nhà văn quân đội, binh chủng Không quân, viết với những bút hiệu Dê Húc Càn, Lão Húc, Lão Dương.

Bài “Nếu Anh Trương Chi đẹp trai” được viết như một bức thư gửi cho người bạn ở Paris.

o O o

Sáng ngày 1 Tháng 5, 1975 một số dân  Sài Gòn lộn mặt, lộn cờ đi chào đón bọn cướp nước.

Sáng ngày 1 Tháng 5, 1975 một số dân Sài Gòn lộn mặt, lộn cờ đi chào đón bọn cướp nước.

Anh thân,

Trong những cái lo hàng ngày như chuyện cơm áo, chuyện thường trú, tạm trú, chuyện hộ khẩu, chuyện hồi hương lập nghiệp, đi xây dựng vùng kinh tế mới, tôi lại thêm một cái lo nữa. Nhưng không sao, tôi sẽ viết, vì từ lâu tôi cũng muốn viết. Có nhiều thứ chất chứa trong đầu quá rồi !

Tôi bắt đầu bằng một truyện ký.

Khi anh biết tôi viết “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” anh  đã gửi trong thư vài hàng góp ý. Cảm ơn anh nhiều lắm. Tôi cũng định hạn chế cho mình là cái truyện ký này, chỉ nên viết từ hai trăm tới ba trăm trang. Kéo dài, dài mãi thì cũng được đấy, vì tới bây giờ chàng vô sản Trương Chi vẫn còn quản lý cái tài sản của nàng “tư sản phong kiến” Mị Nương, và cứ mỗi ngày lại lòi ra một cái xấu mới. Thành ra khó lòng mà làm một phát chấm hết truyện ký “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai

Khi bắt đầu vào truyện tôi nghĩ ngay tới ngày đầu mà ông Thưà tướng cho gọi Trương Chi vào phủ để gặp Mị Nương. Tôi dám chắc rằng ông Thừa tướng không để cho chàng kịp sửa sang lại nhan sắc. Có thể lúc đó chàng đang mặc một bộ quần áo bẩn nhất, rách nhất. Có thể lúc đó, chàng vừa chèo xong một chuyến đò dọc đưa “khứa” vất vả, chưa kịp tắm rửa nên đen đủi hôi hám.

Ông Thưà tướng cáo già phải lựa lúc nào chàng bẩn nhất, xấu nhất, hôi nhất, tuy rằng lúc bình thường chàng đã bẩn, đã xấu, đã hôi. Đúng cái lúc đó cho chàng gặp Mị Nương. Người viết truyện là tôi thì cho cái ngày mà chàng vô sản Trương Chi gặp nàng tiểu thư tư sản phong kiến Mị Nương là ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Bắt đầu câu chuyện là thế đấy, anh ạ.

Vậy tại sao ta lại gọi Ngày 30 Tháng Tư 1975 là Ngày Bại Trận ?

Ngày Thưà tướng cho Mị Nương gặp Trương Chi để cho cô thấy hết cái xấu của chàng vô sản để rồi chê anh chàng hơi kỹ, là ngày thua của ông Thừa tướng cáo già hay sao ? Không, ngày đó ông ta thắng chứ, mà lại thắng lớn. Tiếng hát của chàng vô sản Trương Chi, từ đây không còn “ép phê” với cô tiểu thư Mị Nương nữa rồi.

Tôi đã được nghe một bà già ở Bến Tre nói những câu làm mình mát long, mát dạ. Bến Tre, quê hương Đồng Khởi đấy nhé. Bà ta nói oang oang không một chút sợ sệt tránh né :

“Các ông có biết không, ngày xưa tôi nuôi nhiều đứa lắm. Tôi rút nõ trái mít, khoét hết ruột rồi đổ gạo vô cho đầy, đậy cái nõ lại mang gạo đi nuôi chúng nó. Tôi dấu chúng nó dưới hầm kín. Nếu mà biết như thế này thì hồi trước gạo có dư tôi nuôi thêm vài ba con chó. Bây giờ có chuyện gì chúng nó trốn vào trong quần tôi, tôi cũng vén cái quần lên cho nó lòi cái mặt chó nó ra !”

Ấy đấy, cái ngày 30-4-1975 đã làm thay đổi cả một hệ thống tư tưởng, suy nghĩ, hành động của một giai cấp được đặt lên đỉnh cao trung kiên, thì dù ai muốn nói thế nào cũng mặc, tôi vẫn cho Ngày 30-4-1975 là ngày chúng ta đại thắng.

Chàng vô sản Trương Chi mọi người đều biết là giỏi về nghề hót. Chàng đã hót rất kỹ về ba cái chiến thắng. Chiến thắng Điện Biên. Chiến thắng Tết Mậu Thân. Chiến tháng 30-4-1975. Một cái thực và hai cái hư, tạo nên cái hư hư thực thực để người ta dễ lầm, thật giả khó phân. Chiến thắng Điện biên là thực, vì dù sao, chín năm kháng chiến đánh Tây chưa lòi cái bộ mặt quốc tế vô sản ra, chúng nó còn có được chính nghĩa. Như vậy thì chiến thắng Điện Biên của 1954 không phải là của riêng giai cấp vô sản mà của toàn dân. Ai là người Việt Nam cũng có quyền chia phần hãnh diện. Nhưng hai cái chiến thắng giả tạo là chiến thắng Tết Mậu Thân và chiến thăn 30-4-1975. Ôi cái Tết Mậu thân bỉ ổi đê hèn mà chúng mình đã chứng kiến, cái chiến thắng ấy mới thê thảm làm sao. Chúng nó đã lùa vào thành phố một đám con nít ngớ ngẩn, đường lối trong thành phố còn mù tịt, dù có cho phép đi thong thả dạo chơi thì cũng lạc đường như một lũ mán về thành, còn đánh đấm cái gì ? Ông Tướng Trưởng đã gọi là nhử cọp vào nhà, đóng cửa lại mà thọi. Ấy thế mà cũng huyênh hoang là chiến thắng ! Tôi nhớ là phải ngoảnh mặt đi, ói mửa khi thấy xe xúc đất, xúc từng tảng xác chết đó đổ xuống một cái hố chôn tập thể ở đầu đường bay Tân Sơn Nhất. Vài ba tháng sau còn có những xác chết thối rữa trên trần nhà. Cứ nghĩ tới là nguyền ruả. Thế mà là chiến thắng đấy. Anh Trương Chi đã hát sai điệu.

Rồi tới chiến thắng 30-4-1975. Đến bài hát này anh Trương Chi đã trình bày giọng ca vô sản lên tới cái mức trơ trẽn và trưng tráo nhất. Trong một bài hồi ký kềnh càng của tên Đại úy Bùi Đức Nhung, tả chiến công tiến chiếm Dinh Độc Lập, đã kể rằng trên đường đi hắn đã mấy lần nhảy từ xe thiết giáp xuống hỏi thăm dân Sài Gòn đường đi tới dinh Độc Lập. Mẹ kiếp, đường đi còn chưa rõ thế mà vẫn khoác lác là sửa soạn kỹ, nào là tập lâu ngày bằng bản đồ với sa bàn. Chưa thấy đứa nào dối trá, láo xược bằng cái thằng vô sản Trương Chi.

Có chiến thắng là phải có xác chết. Bài ca mà chàng vô sản Trương Chi coi là sở trường của chàng “nghề của chàng” là bài ca Buôn Xác Chết. Cái gì chứ xác chết mang đi buôn lời là cái chắc. Người ta đi buôn chỉ mong một vốn bốn lời, nhưng đi buôn xác chết thì chẳng mất vốn, mà lời lại quá kỹ, vậy thì muôn năm Bài Ca Xác Chết.

Thảm cảnh 30 Tháng Tư 1975.

Thảm cảnh 30 Tháng Tư 1975.

Chiến thắng Điện Biên… Ôi nhiều xác chết quá, tha hồ mà buôn. Kéo pháo qua núi qua đèo, một xu cơ giới không có thì ta ca lên “Dốc núi cao nhưng lòng người quyết tâm của ta còn cao hơn núỉ”. Một đám kéo pháo, một đám đun đít pháo một kéo một đẩy. Cứ thế mà nhúc nhích. Nhưng đến lưng chừng dốc thì phựt một phát, dây kéo pháo đứt. Chết mẹ mấy thằng đun đít pháo. Pháo thụt lùi. Mấy thằng ở hai bên, trong lúc phản ứng cấp thời, nhảy vội sang bên cạnh để cứu lấy mạng. Những thằng đứng giữa, nhảy về bên nào cũng kẹt, lại vướng mấy thằng đứng ngoài. Lúc nhảy được thì lại đụng vào bánh xe pháo nên bị cán lòi phèo, chì còn ngáp vài cái là thành ngay cái xác chết. A, có xác chết rồi ! Phải ca lên bản “Bài ca buôn xác chết”. Đồng chí nào đấy ? A, đồng chí Tô Vĩnh Điện. Mấy anh nhà báo, nhà văn đâu ? Làm ngay bài ca tụng người anh hùng “lấy thân chèn pháo”. Phổ biến ngay tới các đơn vị, hành động anh hùng lấy thân chèn pháo, các đơn vị đang làm nhiệm vụ kéo pháo phải học tập ngay buổi tối hôm nay. Đồng chí Tô Vĩnh Điện, nhờ thành xác chết mà được bốc thơm hơi kỹ. Xong một Bài Ca Buôn Xác Chết.

Ô hô, bài ca buôn xác chết ấy, một phát tên mà bắn trúng tới vài ba con chim. Đồng chí Tô Vĩnh Điện có thành xác chết thì cũng khoái đến phải gật gù cái đầu. Các đồng chí lãnh tụ cũng khoái, vì đã che lấp được cái bất cẩn của mình. Chỉ cần một khúc gỗ chèn, nhích được tới đâu chèn ngay tới đó, thì dù cho dây có đứt cũng chẳng đến nỗi. Hơn nữa , dây dợ ra sao phải kiểm soát chứ, để cho nửa chừng đứt gánh, trách nhiệm đó về ai ?

Xác chết mà buôn được thì một phần thân thể mà chết đi cũng có thể mà buôn được. Đồng chí La Văn Cầu trong lúc xung phong, bị đạn, gãy một cánh tay, thấy cánh tay gãy lủng lẳng vướng víu, đồng chí vừa rút mã tấu, chặt phăng cái tay gẫy rồi tiếp tục xung phong. Bài ca Buôn Cánh Tay Chết ca lên nghe cũng hay hay. Đồng chí La Văn Cầu được yết kiến Hồ Chủ Tịch và được Bác tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì. Bài ca này khi được mang ra học tập tại lớp Học Tập Ba Ngày, mở ra sau này, đã được một anh đội Ngụy bổ túc thêm cho một đoạn.

Khi đưọc yết kiến Bác, đồng chí La Văn Cầu cứ thắc mắc về cái huân chương Kháng chiến hạng nhì. Đồng chí nói với Bác là nếu đồng chí chặt cả hai cánh tay thì đồng chí có bắt được cái hạng nhất không ? Bác gật đầu. Ấy thế là đồng chí đã dũng cảm xuống ngay dưới bếp của Bác, vớ con dao phay chặt phăng cánh tay còn lại. Cả lớp học tập ấy đã vỗ tay hoan hô đồng chí La Văn Cầu quá xá cỡ. Nhưng khi ra khỏi lớp học anh Cai Dù Ngụy hỏi anh Đội Ngụy rằng làm sao mà đồng chí La Văn Cầu lại tự chặt được cánh tay còn lại, thì được trả lời bằng những tiếng cười hì hì xỏ lá….

Chiến thắng Tết Mậu Thân…. Cái chiến thắng này thì nhiều xác chết thật đấy nhưng vì nó gấp quá, quen thuộc quá với dân thành phố Miền Nam, nên chàng vô sản Trương Chi không đủ can đảm trâng tráo trơ trẽn để mà ngồi xổm bài tiết ra những bài ca Buôn Xác Chết. Đành phải nhai lại cái xác chết Nguyễn văn Trỗi. Nhưng cái xác chết này đã từng ngâm mình ở con sông dưới cầu Công Lý, tục gọi là Bến Tắm Ngựa, nên có vẻ hơi nặng mùi. Chiến thắng Tết Mậu Thân thành ra vắng Bài Ca Buôn Xác Chết.

Rồi tới chiến thắng 30-4-1975 . Cái chiến thắng này thì lại khác hẳn, vì không có xác chết. Thì nào có đánh đấm cái mẹ gì đâu mà có xác chết ? Ở cái chỗ nào cũng vậy, thường là sau khi kết thúc một trận chiến, lại bày ra một cảnh đổ vỡ tan hoang, nhiều khi không còn viên gạch nào nguyên vẹn. Nhưng mà ở đây không sứt mẻ, không sây sứt môt tí tẹo nào. Như vậy thì sao gọi là cuộc chiến đã kết thúc ? Đường số 1 không gãy một cây cầu ! Mấy con đường xe cộ vẫn chạy phom phom, không môt khúc nào bị cắt đứt. Cả một thành phố Sài Gòn chỉ đổ có cái cổng Dinh Độc lập vì cái thằng lái xe thiết giáp loạng quạng, ra cái điều hách dịch phách lối, húc đánh rầm một phát. Nếu nó ngừng tại chỗ cho người ta mở cổng, rồi đi vào thơ thới hân hoan, thì Sài  Gòn sẽ được tiếng là còn nguyên si, chưa rụng một cái sợi lông sợi tóc.

Ấy cũng chỉ vì không có xác chết mà đại thắng mùa Xuân đâm ra táo bón bài ca Buôn Xác Chết. Nhưng chàng vô sản Trương Chi nổi danh về tài hót , đâu có chịu ? Thì vẫn có cái xác chết nằm chình ình ra đấy thôi ? Không còn xác chết nào để buôn, thì chúng buôn xác ông già. Nào, một, hai, ba, ta đồng ca :

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng,
Lời Bác nay  thành chiến thắng huy hoàng (…)

Ngày chiến thắng ấy có huy hoàng hay không, thỉ tôi sẽ viết trong truyện ký ” Nếu chàng Trương Chi đẹp trai “. Tôi viết đã được một trăm trang. Có một điều lạ là càng viết thì đầu óc lại càng sáng tỏ ra nhiều vấn đề. Những ngày đầu tháng 5 của năm 1975, tôi cực kỳ oán hận những kẻ đã để tôi ở lại đây. Phương tiện của Cờ Hoa năm 1975, có thể nói gấp ngàn lần phương tiện của Tây năm 1954. Năm 1954, Tây còn mang đi được môt triệu người. Ấy vậy mà năm 1975 … đạp lên nhau mà đi, bước lên xác nhau mà đi, con số chắc cũng chỉ tới trăm ngàn. Trong một lúc quá chán nản, tôi làm một bài thơ tự vịnh thân phận :

Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh

Một ván cờ thua ngã chổng kềnh

Bạn đỏ thiết tha mà dứt bạn

Tình vàng phụ bạc vẫn theo tình.

Tương lai trước mặt sao mù mịt

Dĩ vãng sau lưng lại bấp bênh

Trở giấc sao mình thao thức mãi

Quanh mình bóng tối cứ mông mênh.

Rồi tiếp theo là mấy năm đi học cải tạo. Trong nhiều lúc chán đời tôi chỉ muốn chết. Nhìn gần thì nhìn thấy mình và người chung quanh cứ mòn mỏi, cùn rỉ để rồi dần dần gục xuống. Nhìn xa thì thấy tương lai Miền Nam đi tới chỗ diệt chủng. Những thằng đàn ông có khả năng đẻ đái thì bị nhốt hết trong trại học tập cải tạo, còn sót lại thằng nào ở bên ngoài, thì lại được khuyến khích bằng sự hạn chế sinh đẻ. Hơn nữa cái chính sách lương bổng thật tồi tệ. Cha mẹ không nuôi nổi con cái, con cái không nuôi nổi cha mẹ, anh em không nâng đỡ nổi nhau thì đẻ thêm làm cái gì ?… (…)

Khi ra khỏi trại học tập cải tạo, gặp thằng Công Tử Con Bà Cả Đọi. Hắn tả cảnh sống của hắn và đọc cho tôi nghe bài thơ Cực Tả :

Cửa đóng màn che đã mấy thu

Đời tàn ngõ hẹp sống như tù

Quẩn quanh học lại Thiền Đông Độ

Vào ra luyện mãi Pháp Tây Du

Rầu rĩ Giáng Tiên ngồi gãi háng

Nẫu nà Từ Thức đúng xoa khu

Ăn chỉ tương cà, chê thịt cá

Sống chẳng tu hành cũng quá tu.

Tôi lại càng buồn, mẹ kiếp ! Đông độ với Tây du. Nước Mỹ với nước Tây thì cũng chán mớ đời. Tôi hoạ lại bài thơ ấy bằng bài Quân Tán, nghĩa là Tan Hàng :

Quân tán còn chi xuất với thu

Sống thừa thì cũng xác thân tù

Hữu tật cam đành câu bất dụng

Vô tài nên chịu tiếng nan du.

Những tuởng khoan hồng anh hạ bộ

Nào ngờ mắc bẫy chú Xuân Khu

Chung cuộc vài năm cầm cán cuốc.

Tu đọi, tu huyền ấy cũng tu.

***

Anh cứ nhớ rằng lúc nào anh em chúng mình làm thơ Đường, ấy là lúc chúng ta buồn và rất chán đời.

Nhưng từ lúc viết “Nếu chàng Trương Chi đẹp traỉ” thì tôi phấn khởi hẳn lên. Nghĩ tới ngày đầu tiên Mị Nương gặp Trương Chi là tôi nhớ tới cả một cuốn phim dĩ vãng của những ngày đầu Tháng Năm lịch sử. Nàng Mị Nương và chàng Truơng Chi hẳn cũng đã xảy ra chuyện “ngôn ngữ bất đồng” . Tôi cười một mình, nhớ tới mẩu đối thoại giữa cô bán thuốc lá ở trước cửa nhà và một anh bộ đội

- Bán cho tôi bao thuốc ná…

- Dạ anh mua thuốc nào ?

- Không bán cho tôi bao thuốc ná?

- Dạ anh mua thuốc nào ?

Tiếng gắt gỏng :

- Cái cô này nạ chửa. Người ta mua thuốc ná mà nại cứ hỏi người ta mua thuốc nào.

Giọng trả lời vẫn dịu dàng :

- Dạ thì tôi hỏi anh mua thuốc nào ? Thuốc Ru by, thuốc Cáp tăng hay thuốc Bát tô ?

Ngôn ngữ bất đồng là thế đấy. Khu nhà tôi ở bên kia cầu chữ Y, nên sau ngày 30-4-1975, quanh nhà thật đông bộ đội. Con nhỏ người làm nhà tôi đã biểu diễn một bộ mặt ngớ ngẩn khi một anh bộ đội tới hỏi mượn “một cái bàn nà” hay mượn một cái phễu. Tôi phải nhắc nó đua anh ta mượn cái bàn ủi hay cái quặng, lúc đó nó mới à lên một tiếng tự nhiên.

Buổi sáng buổi chiều là những lúc nhàn rỗi của mấy anh bộ đội. Những anh chàng này ít đi chơi vì Sài Gờn đối với mấy chàng chẳng có gì hấp dẫn. Đường phố thì dài dằng dặc. Đi bộ thì mỏi chân. Vượt Trường Sơn thi được nhưng đi bộ trên đường phố Sài Gòn thì các chàng lại chê. Vài chàng may mắn gặp được gặp người quen hay bà con họ hàng di cư vào đây năm 1954 nhưng họ cũng chỉ cho ăn vài bữa cơm rồi cũng lơ là. Bởi vậy các chàng không còn thú vui gì chỉ ngổi xúm lại với nhau tán gẫu. Cái lối ngồi của mấy chàng cũng lạ. Chúng mình thì ngồi bệt xuống, đặt cái mông xuống hè cho nó thoải máì, thằng nào muốn sạch thì lót cái khăn mùi xoa hay tờ giấy báo. Nhưng mấy chàng thì ngồi ở cái thế mà chúng ta hay biểu diễn ở những lúc ta ở trong cầu tiêu. Cứ ngồi xổm như thế mà nói chuyện râm ran, cả mấy giờ đồng hồ. Sáng, trưa chiếu lúc nào cũng có vài ba chàng hay đông hơn nữa ngồi ở đầu hè nói chuyện với nhau. Cứ ở tư thế “ngồi nước lụt”. Đứa cháu gái lớn một hôm ngồi ngắm các anh chàng rồi bảo tôi :

- Sấm, sấm rồi bố ạ !

Tôi ngạc nhiên hỏi lại :

- Thế nào mà lại là sấm ?

- Thì bố vẫn giảng cho con nghe những bài thơ, những câu phong dao tục ngữ không có tác giả đọc lên tối nghĩa một chút, không chừng là sấm. Như câu “hết quan tàn dân, thu quân bán ruộng”. Như câu …

- Rồi, rồi, nhưng cô định cho câu nào là sấm đây ?

Con bé ra mặt nghiêm trang :

- Con nghĩ tới bài thơ con cóc ” Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra. Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó. Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi “Mới đầu con cứ thắc mắc mãi về con cóc, không hiểu rằng con cóc ám chỉ cái gì. Bây giờ nhìn mấy đứa kia nó ngồi chồm hổm, mới thấy y như hệt con cóc. Bố thấy chúng nó có giống con cóc hay không ?

Tôi không trả lời đứa con gái nhưng trong lòng như ngầm đồng ý. Cũng như tôi đã mắng chúng nó khi chúng nó trả lời nhửng câu trêu chọc mấy chàng bộ đội bằng câu ca dao :

Khoai lang chấm muối ăn bùi
Lấy chồng bộ đội lấy cùi sướng hơn.

Tôi mắng nhưng trong lòng hả hê. Ừ, có thể là sấm thật đấy. Và bây giờ khi viết truyện ký ” Nếu chàng Trương chi đẹp trai ” tôi đã gọi Ngày 30-4-1975 là ngày VNCH đại thắng.

Đã là ngày đại thắng thì chỉ nên luận công mà không luận tội. Người Mỹ đã tạo nên ngày 30-4-1975, cũng như ông Thừa tướng đã tạo nên ngày Mị Nương gặp Trương Chi. Ôi, cả công lao tuyên truyền, cả một hệ thống tư tưởng từ Nam chí Bắc, xụp đổ thảm thương. Đi xe đò từ Bắc vào Nam, cứ tới Quảng Trị người dân miền Bắc yên trí là cái mông đít không còn bị hành hạ. Vào tới trong Sài Gòn nhiều kẻ đã ở lại, không muốn về, đấy là bây giờ Sài Gòn kém trước quá xa.

Công của ông Thiệu sửa soạn cho Ngày 30-4-1975 cũng quá lớn. Nhất là cái chương trình “Người cày có ruộng”. Mua lại ruộng đất của diền chủ, rồi phát không cho nông dân mỗi người ba mẫu với bằng khoán cẩn thận, ông Thiệu đã bẻ gãy cái liềm trên lá cờ có cái liềm cây buá. Lại còn Ngân hàng quốc gia Nông tín Cuộc cho nông dân vay tiền mua máy cày, máy bơm nước tới muà thì trả. Không trả được thì khất lại. Cả một chính sách cải cách ruộng đất mà những anh chàng vô sản rất lấy làm hãnh diện, ấy thế là…đi đoong.Thâm độc hơn nũa là cái vụ cấy luá Thần Nông. Cái thứ lúa ngắn ngày này phải cần bón phân cho nhiều. Mà lại phải là phân hoá học nhập cảng. Thì có chi lạ. Muốn chóng lớn thì phải ăn nhiều. Thấy lúa ngắn ngày, mấy chàng “cứ tưởng bở ” mang ngay về Bắc làm giống, huyênh hoang khoác lác quá xá, để rồi mấy năm mất mùa và cho tới nay phải trở lại cày cấy hai vụ chiêm mùa…. Thật là thâm quá thâm mà độc quá là độc.

Lại sắp tới Ngày 30 Tháng Tư.

Từ 1975 đến 1982, đối với mọi người kể cả tôi, cũng đã gọi là quá dài.

Mấy thằng Tây thất bại vì đã trở lại sớm quá. Chín năm kháng chiến chống Tây, chúng nó đã có thật đông chính nghĩa. Nhưng rồi sau chín năm ? Và tới bây giờ Trương Chi đã lộ mặt thật xấu bẩn. Mặt nạ chính nghĩa rơi rớt tơi tả.

Anh nói với bằng hữu: làm gì đi chứ ? Chia rẽ làm chi, tội nghiệp quá đi thôi! Đoàn kết không phải là tôi đi theo anh hay là anh đi theo tôi. Đoàn kết là dẹp bỏ hết mọi tị hiềm, xung khắc để cùng chung lo việc cấp bách trước mặt là … Phục Quốc.

Rất thân chào Anh

Lão Húc

o O o

CTHĐ Sao Y Bản chính.

Một buổi sáng Tháng Tư năm 1984 Dương Hùng Cường và tôi cùng vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu.

Một buổi trưa Tháng Tư năm 1985 Dương Hùng Cường và tôi cùng vào Nhà Tù Chí Hòa.

Một buổi sáng Tháng Giêng năm 1989 từ Nhà Tù Chí Hòa một mình tôi lên Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Một buổi sáng năm 1988 từ Nhà Xác Nhà Tù Chí Hòa Dương Hùng Cường lên Nghĩa Trang Lái Thiêu.

Đầu năm 1987 bọn Cộng Hà Nội định đưa nhóm văn nghệ sĩ bị gọi là bọn Biệt Kích Cầm Bút ra tòa. Nhóm văn nghệ sĩ này 8 người: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Doãn Quốc Sĩ, Khuất Duy Trác, Dương Hùng Cường, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn, Hoàng Hải Thủy. Họ bị  khép tội gián điệp. Án phạt tội gián điệp cao nhất là Tử hình, thấp nhất là tù khổ sai 12 năm. Bọn ký giả bị rọ mõm trong hai tờ báo Công An, Tuổi Trẻ rep hò: “Bọn gián điệp sẽ phải cúi đầu nhận tội trước nhân dân..” Để chuẩn bị cho phiên xử bọn công an đưa Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn từ Nhà Tù Chí Hòa về giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Dương Hùng Cường chết trong đêm trong một sà-lim. Xác anh được đưa về Nhà Xác Nhà Tù Chí Hòa. Vợ con DH Cường được gọi tới nhìn mặt người tù lần cuối. Bọn Cai Tù Chí Hòa cho xác người tù chết vào áo quan, cho xe nhà tù đưa lên chôn ở Nghĩa Trang Lái Thiêu.

Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong Nhà Tù Chí Hòa.

Phiên xử bọn Biệt Kích Cầm Bút bị hoãn cho đến đầu năm 1988 mới được đưa ra tòa. Lần này tội gián điệp trong cáo trạng bị bỏ, thay vào đó là tội tuyên truyền phản cách mạng: án tù tối đa 12 năm tù khổ sai, án tù tối thấp tù khổ sai 2 năm. Nhóm văn nghệ sĩ vào tù 8 người, còn 6 người ra tòa.

Dương Hùng Cường viết bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai” ở Sài Gòn năm 1981. Ba mươi năm sau – 2014 – Kỳ Hoa Đất Trích, đêm khuya tôi đọc “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.”

Cảm khái cách gì!

THƠ PHÓNG TÁC

Walter de la Mare. Born 1873

thoTHE LISTENERS

“Is there anybody there?” Said The Traveller

Knocking on the moonlit door:

And his horse in the silence champ’d the grass

Of the forest’s ferny floor:

Anh a bird flew up out of the turret,

Above The Traveller’s head:

And he smote upon the door again a second time;

“Is there anybody?” He said.

But no one descended to The Traveller

No head from the leaf-fringed sill

Lean’d over and look’d into his green eyes.

Where he stood perplex’d and still.

But only a host of phantom listeners

That dwell in the lone house then

Stood listening in the quiet of moonlight

To that voice from the world of men.

Stood thronging the faint moonbeams on the dark stair

That goes down to the empty hall

Hearkening in an air stirr’d and shaken

By the lonely Traveller’s call

Anh he fells in his heart their strangeness

Their stillness answering his cry

While his horse moved, cropping the dark turf

‘Neath the starr’d and leafy sky;

For he suddenly smote on the door, even louder , and lifted his head:

“Tell them I came, and no one answered,

“That I kept my word.” He said.

Never the least stir made the listeners

Through every word he spake

Fell echoing through the shadowiness of the still house

From the one man left awake:

Ay, they heard his foot  upon the stirrup,

And the sound of iron on stone

And how the silence surged softly backward,

When the plungings hoofs were gone.

cover

Những Người Nghe (Hoàng Hải Thủy phóng tác ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A ngày 29 tháng 12, năm 1989.)

Lính Đánh Thuê

Lính Đánh Thuê

“Có ai trong đó?” Người Lữ khách hỏi,

Tay Người gõ trên cánh cửa trăng soi.

Con ngựa của Người gặm cỏ ven đồi,

Một cánh chim bay lên từ ống khói,

Vút trên đầu Người Lữ Khách lên trời.

Người lại gõ cửa, và Người lại gọi:

“Có ai trong đó không?” Người lại hỏi.

Không một kẻ nào đi xuống đón Người,

Không khuôn mặt từ những khung cửa tối

Nhìn xuống đây đôi mắt sáng sao trời.

Người đứng im, như lạ lùng, hờn dỗi,

Chỉ những hồn ma trong đó nghe lời.

Những hồn ma lặng nghe trong trăng soi

Tiếng Người tới từ cuộc đời đang gọi.

Những hồn ma đứng đầy trong cầu thang

Nghe tiếng gọi thiêng vang trong hành lang.

Im lặng mênh mang trả lời Người gọi.

Dưới vòm trời sao, bên vòm lá tối

Con ngựa của Người bồn chồn chờ đợi.

Người ngẩng đầu cao, Người cao tiếng nói:

“Cho chúng biết rằng Ta vừa trở lại

“Như Ta đã hứa từ ngày xưa ấy.

“Chúng không đón ta, Ta đi mãi mãi.”

Những hồn ma buồn vẫn lặng yên nghe

Từng tiếng Người nói trong đêm tê tái.

Rồi họ nghe, này – tiếng chân nặng nề,

Tiếng xích trên nền đá lạnh kéo lê.

Một người thức trong tòa nhà ngủ mê

Đang chạy vội ra đón Người trở về.

Nhưng ngoài trời đêm chỉ còn vắng vẻ

Tiếng vó ngựa xa rồi trong đêm khuya.

Hoàng Hải Thủy. Virginia March 2014

Alfred Edward Housman (1860-1966) - Epitaph on an Army of Mercennaries

These, in the day when heaven is falling,

The hour when earth’s foundation fled,

Follow their mercennary calling

And took theirs wages and are dead.

Their shoulders held the sky suspended.

They stood and earth’s foundations stay.

What God abandon’d, these defended

And save the sum of things for pay.

Lời trên mộ những người Lính Đánh Thuê

Những người này khi trời sụp đổ,

Trong giờ nguy sông núi ngả nghiêng;

Họ đứng lên theo tiếng gọi thiêng

Nhận tiền công và nay họ chết.

Trời ngưng đổ trên vai họ đỡ,

Họ vững chân nên đất đứng yên.

Họ bảo vệ những ai khốn khổ

Người bỏ rơi và Chúa bỏ quên.

Họ chiến đấu và đời của họ

Khoản công lao được trả bằng tiền.

SÁNG TRĂNG SUÔNG

Thiếu nữ ngủ ngày. Tranh Bùi Xuân Phái. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm..

Thiếu nữ ngủ ngày. Tranh Bùi Xuân Phái. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm..

Tháng Ba 2014,  mưa tuyết – chắc là lần mưa tuyết cuối cùng của mùa Đông Virginia 2014 – vừa đi qua Rừng Phong. Mưa tuyết đi qua nhưng tuyết còn ở lại trắng trời, trắng đất, trắng cây. Vợ chồng già líu ríu bên nhau trong căn phòng ấm. Già, cơm không là vấn đề. Vợ đan áo, chồng mò mẫm trên Internet.

Tìm được bài viết “Thi Ca Dục Ái trong Văn Học” của NhàBiên Khảo Trần Bích San. Thấy chuyện Lá Đa, Mõm Chó, Sự Đời, Hái Chè, Váy, Con Cúi..vv..; toàn chuyện hấp dẫn, bèn có  hứng muốn viết góp ý. Trước hết mời quí vị đọc:

Trần Bich San. “Thi ca dục ái trong văn học.”

Thi ca dục ái xuất hiện từ lâu trong văn chương truyền khẩu. Phong dao, tục ngữ, câu đố có những bài, những câu liên quan đến tính dục nam nữ . Loại tác văn này không bóng bảy như văn chương chữ viết mà đôi khi còn thô lỗ, trắng trợn, tục tằn nữa. Thực ra đó chỉ là phản ảnh đặc tính nôm na, mộc mạc, tượng hình và cụ thể của nền văn học dân gian:

Tranh Bùi Xuân Phái. Vịnh Quạt Giấy: Mười bẩy hay là mười tám đây?

Tranh Bùi Xuân Phái. Vịnh Quạt Giấy: Mười bẩy hay là mười tám đây?

Sáng trăng em tưởng tối trời
Ngồi buồn em để cái sự đời em ra
Sự đời như chiếc lá đa
Đen hơn mõm chó, chém cha cái sự đời.

hoặc:

Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy nó cũng chẳng tha
Nó cứ ấn, cứ nhét cái đầu cha nó vào
Cái gì như cái củ nâu
Cái gì như thể cái cần câu nó gật gù…

(Phong Dao)

Văn chương chữ nghĩa bề bề
Thần l.. ám ảnh cũng mê mẩn đời

hoặc:

Không giàu thì cũng đẹp giai
Không thông kinh sử cũng dài con Q.

(Tục Ngữ)

Canh một thì trải chiếu ra
Canh hai bóp vú, canh ba sờ l..
Canh tư thì lắc xom xom
Canh năm cuộn chiếu ẵm con mà về

(Câu đố tả người kéo vó ban đêm)

Từ ngàn xưa đạo Nho bao trùm xã hội Việt Nam, quan hệ tình dục bị coi là thô tục nên văn gia tránh không đề cập tới. Nội dung thơ văn không hợp với đạo lý thánh hiền đều bị lên án khắt khe như “đàn ông chớ kể Phan Trần, đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều”. Truyện Phan Trần có đoạn tả Phan Sinh ốm tương tư, si tình đến toan tự tử. Với người xưa, nam nhi mà nhu nhược, ủy mị như thế là điều không thể chấp nhận được. Thúy Kiều vượt vòng lễ giáo đang đêm lẻn sang nhà Kim Trọng tình tự là điều luân lý Khổng Mạnh không cho phép. Truyện Kiều bị lên án là dâm ô, khiêu khích tình dục vì có đoạn tả nàng Kiều tắm và lúc Kiều thất thân với Mã Giám Sinh tuy rằng chỉ với những nét ước lệ, mờ nhạt thiếu tính cách cụ thể sinh động:

Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên

(Kiều tắm)

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió não nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương

(Mã Giám Sinh phá trinh Kiều)

Các thi gia có tư tưởng phóng khoáng như Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Khuyến cũng chỉ dám phớt qua:

Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ không.

(Nguyễn Công Trứ)

Đàn bà con gái sắn quần lên
Cái gì trăng trắng như con cúi

(Nguyễn Khuyến, Chỗ Lội Làng Ngang)

Hồ Xuân Hương, nhà thơ đầu tiên vượt trên cấm cản của xã hội, mô tả thật sống động cuộc mây mưa giữa nam nữ :

Trai co gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân có biết xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không

(Đánh Đu)

Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vướn phứa tịnh lên
Hai xe hà chàng gác hai bên
Thiếp sợ bí thiếp liền ghểnh sĩ
Chàng lừa thiếp đương cơn bất ý
Đem chốt đầu dú dí vô cung…

(Đánh Cờ)

Bà không ngại ngùng ca ngợi vẻ đẹp thể chất con người. Những bộ phận kín phụ nữ được diễn tả rõ ràng bằng lời thơ đầy nghệ thuật:

Thân em như quả mít trên cây
Da nó sù sì, múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng nõ
Xin đừng mân mó nhựa ra tay

(Quả Mít)

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng

(Giếng Nước)

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên nước chửa thông

(Thiếu Nữ Ngủ Ngày)

Thi ca dục ái Hồ Xuân Hương được lồng dưới hình thức ẩn dụ. Chính phần ẩn dụ chứa đựng những điều bị cho là thô tục, lả lơi, dâm dục có hại cho thế đạo nhân tâm. Thi sĩ Tản Đà lên án như sau: “Người ta thường có câu Thi Trung Hữu Họa, nghĩa là trong thơ có tranh. Như thơ Hồ Xuân Hưong lại là Thi Trung Hữu Quỉ, nghĩa là trong thơ có quỉ (An Nam Tạp Chí số 3 ra ngày 1/10/1932). Dương Quảng Hàm viết trong Quốc Văn Trích Diễm: “Suốt tập thơ Hồ Xuân Hương không mấy bài là không có ý lả lơi, dầu tả cảnh gì vật gì cũng vậy” (Quốc Văn Trích Diễm, chương 10).

Trong nền văn học chữ quốc ngữ, thời tiền chiến sự hiện diện của thi ca dục ái chỉ thấp thoáng trong thơ Hàn Mặc Tử :

Tiếng ca ngắt. Cành lá rung rinh
Một nường con gái trông xinh xinh
Ống quần vo xắn lên đầu gối
Da thịt, trời ơí trắng rợn mình…

(Thi tập Gái Quê, bài Nụ Cười)

Thi ca dục ái bắt đầu rõ nét hơn trong thơ Bích Khê. “Sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết.” (Hàn Mặc Tử, Tựa tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê):

Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ
Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
Hai vú nàng, hai vú nàng, chao ôi !
Cho tôi mút một giòng sông ngọt lộng
Và ô kìa một tòa hoa nghiêm động
Tay run run hãm lại cánh tình si
Hai tay nàng đã nở ngọc lưu ly
Hai chân nở màu sen ẻo lả
Cho tôi nàng, hãy cho tôi tất cả !…

(Tranh Lõa Thể)

Sang thế kỷ 21 thi ca dục ái là sự kết hợp nghệ thuật thơ Hồ Xuân Huơng, tính cách phong dao cận nhân tình và thêm chất thực tế trần trụi chói gắt của thi ca hiện đại. Nhà thơ công khai mô tả, ca ngợi vẻ đẹp lành mạnh tràn đầy nhựa sống, quyến rũ của thân thể con người cả hai phái nam nữ. Các điều đạo đức lánh xa che mặt được nhà thơ biến thành những đối tượng hấp dẫn. Tính dục mang tính cách tất yếu, một bản chất tự nhiên như ăn ngủ, là hạnh phúc hào hứng thực tế nhân loại. Chuyện ái ân nam nữ trong thơ dục ái dồi dào sức sống, bừng bừng sinh lực, đầy ắp không khí tươi mát lành mạnh đất trời. Con người và thiên nhiên hòa nhập, tương ứng, hài hòa với nhau. Thiên nhiên chứa đựng sinh lực con người. Con người thấm đượm màu sắc rực rỡ tươi thắm thiên nhiên:

Trong gió sớm cuộc hẹn hò cảnh khác
Rạch sậy lau che kín chiếc thuyền câu
Dành riêng em hưởng nguyên vẹn tình đầu
Đang trượt té qua cuộc tình nhục cảm
Ôi thế sự, ôi cuộc đời bụi cám !
Có nghĩa gì bằng dâng hiến tình yêu ?
Trái cấm dành người dám bạo dám liều
Tòa hoan lạc thường có ngoài cổ tích.
Hai thân thể trần truồng cùng quấn quít
Nụ hôn nồng, môi ham hố cơn say
Chồi nhân sinh gay gắt đỏ, giương dài
Cứ hăm hở chui huyệt sâu khoái lạc.
Trong gió sớm ôm mông chàng thật sát
Em lắng nghe thân ngún lửa từng cơn
Chàng vẫy vùng, thọc ngoáy thật sâu hơn
Cùng bay bổng lên thiên đường cảm giác
Trong gió sớm nhựa tinh chàng thơm ngát
Tuôn vào em từng đợt quánh và trơn
Em tặng chàng những vết máu tươi son
Khi chàng sống bản năng con thú đực

(Hồ Trường An, Trong Gió Sớm)

Thơ dục ái không hoằng dương nhục cảm. Nhà thơ sử dụng nó như phương tiện chuyên chở nghệ thuật, gây thích thú thưởng ngoạn, kích thích giác quan thẩm mỹ, tạo không khí trân trọng nghệ thuật. Tình yêu trong thơ dục ái là sự thăng hoa toàn diện, triệt để, vô hạn giữa tâm hồn và thể xác, giữa cá nhân với quê hương, giữa con người với thiên nhiên:

Rồi đó một trang đời mở rộng
Anh đưa em dưới vòm lá đêm
Tham lam môi nóng ghì môi ướt
Tay cứng nhồi xoa tảng ngực mềm
Đưa đẩy em trong một chiếc giường
Xem thường hiểm họa đạp tai ương
Khi nhìn thân thể anh ngồn ngộn
Da thịt nồng nàn như bốc hương
Em nghe bật vỡ nơi sâu kín
Máu thắm tuôn ra vậy cũng đành
Không biết thiên đường hay địa ngục
Khi nằm rạo rực dưới thân anh

(Hồ Trường An, Xa Bến Thiên Đường)

Thiên-đường-huyền-thoại vốn là không gian ảo chỉ hiện hữu trong ước mơ, nơi hứa hẹn hạïnh phúc vĩnh cửu nhưng xưa mai có ai tới được ngưỡng cửa thiên đường ? Thiên-đường-dục-ái là không gian có thật. Trong suốt hành trình đời sống hầu như mọi người ai cũng hơn một lần bước vào. Con thuyền-thơ-dục-ái chở những người yêu nhau chân chính trở lại tìm kiếm không gian và thời gian mà họ đã sống đến tận cùng giây phút tuyệt vời ngút lửa của hoan lạc thân xác trên giòng sông đam mê có thực. Thi ca dục ái là tiếng lòng nức nở và hoài niệm thiết tha của những tâm hồn nghệ sĩ đích thực. Một thời đại mới trong thi ca Việt đã mở đầu và dục-ái-ca thực sự chắp cánh bay bổng rạo rực ca ngợi hạnh phúc trần tục, thiên đường có thật của con người.

TRẦN BÍCH SAN

CTHĐ Sao Y Bản Chánh.

Công Tử Hà Đông bàn loạn: Xin Nhà Biên Khảo cho tôi góp vài ý mọn. Tôi không nói quyết tôi viết đúng, chỉ là góp ý thôi.

Chuyện tôi nên góp ý là chuyện “Sáng trăng.”

TBSan:

Sáng trăng em tưởng tối trời
Ngồi buồn em để cái sự đời em ra
Sự đời như chiếc lá đa
Đen hơn mõm chó, chém cha cái sự đời.

Lời phong dao tôi biết từ năm tôi 12 tuổi:

Sáng trăng suông em tưởng tối trời.
Em ngồi em để cái sự đời em ra..

Kính thưa: Phải là “sáng trăng suông” em mới tưởng là tối trời. Nếu trời sáng trăng, em không thể tưởng là tối trời, đang sáng trăng em tưởng tối trời là không có lý. Nhiều người Việt tuổi đời năm nay dưới Năm Bó, Sáu Bó,  không biết, không hiểu  “sáng trăng suông” là gì, tại sao lại gọi là “sáng trăng suông?”

Sáng trăng suông” theo sự biết không bảo đảm trúng trật, tức không quyết là đúng, cũng không quyết là trật, là sai, của kẻ viết CTHĐ là : đêm có trăng nhưng trăng bị mây mù che kín cả bầu trời, trăng không lộ ra, người không thấy trăng nhưng không gian đêm vẫn có ánh trăng sáng mờ mờ. Khi sáng trăng suông, ta không nhìn thấy mặt trăng. Phải ở đồng quê ta mới có thể thấy sáng trăng suông. Ở thành phố đêm có đèn điện, ta không thể thấy sáng trăng suông.

Tục Ngữ Phong Dao. Tác giả Nguyễn Văn Ngọc. Tập Dưới. Trang 182:

Sáng trăng suông, em nghĩ tối trời,
Em ngồi em đề cái sự đời em ra.
Sự đời bằng cái lá đa,
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

Và Trang 128:

Sáng trăng suông
Sáng cả vườn đào, sáng cả vườn chanh.
Ba bốn cô đằng ấy có cô nào còn không?
Có một cô thật đích cô chưa có chồng,
Cho anh ghé chút làm chồng. Nên chăng?

Sáng trăng suông sáng cả cái đêm hôm rằm.
Nửa đêm về sáng trăng bằng ngọn tre.
Em có thương anh thì thương cho vẹn mọi bề..

Phải là “sáng trăng suông” em mới tưởng là tối trời. Chỉ trong 4 câu thấy có ba hình ảnh gợi cảm: Sự đời, Lá Đa, Mõm Chó. Chuyện théc méc là “Sự đời, Lá Đa, Mõm Chó ” ba cái có tội gì mà chúng bị  người đe dọa “chém cha.” Oan thay cho Lá Đa.

Em phải mặc váy thì khi em ngồi, sáng trăng suông em tưởng tối trời, em mới để cái sự đời của em ra được. Em mặc quần thì vô phương. Phải viết rõ là em gái quê em mặc váy, em “không để nó ra,” nó là “cái sự đời” của em, nó vẫn ở trong đó nhưng vì em ngồi hớ hênh  – ngồi bệt mà dạng háng, tức banh hai chân ra — nên người ta nhìn vào, người ta thấy “nó.” Viết lại: Em mặc quần thì vô phương. Em mặc váy mà em đứng em cũng không thể để cái sự đời của em ra được.

Đến đây có vấn đề Váy và Quần Con Gái, Đàn Bà. Sử ghi: Ngày xưa, đàn bà Bắc kỳ mặc váy. Bắc Kỳ đây là từ Ải Nam Quan vào đến tỉnh Quảng Bình. Viết cách khác: từ Sông Gianh trở ra bắc. Từ Quảng Bình vào nam, đàn bà mặc quần. Ngày xưa đây là thời Thực Dân Pháp chưa đến nước Việt Nam. Cũng Sử ghi: Năm 1882 Vua Minh Mạng hạ chiếu, tức ra lệnh:

Cấm đàn bà mặc váy, lại tức: Đàn bà Bắc kỳ phải mặc quần.

Tháng Sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông.
Đi thì bóc lột quần chồng, sao đang.

Lệnh của Vua Minh Mạng không được nữ thần dân Bắc kỳ tuân theo. Vua cấm đàn bà mặc váy, đàn bà Bắc kỳ vẫn cứ mặc váy. Những năm 1947 đến 1950, kẻ viết những dòng chữ này sống trong những làng quê ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, thấy tận mắt 90/100 đàn bà miền quê mặc váy. Chỉ môt số cô gái trẻ, sinh sau năm 1930, mới mặc quần.

Chuyện năm xưa tôi trẻ, 14, 15 tuổi, tuổi sắp dậy thì, làm liên lạc viên Cục Tình Báo, khi đi ngang qua những cánh đồng chiêm, thấy những cô gái quê 15, 16, 17, 18 tuổi cào cỏ trong những thửa ruộng ven đường, nước ruộng lên đến đầu gối các cô, váy các cô sắn cao để khỏi bị ngập nước, chú liên lạc viên  có ý đi thật chậm, chờ mong có làn gió thổi qua, làm váy các cô tốc lên, cho chú được nhìn – dù chỉ thoáng qua trong hai, ba sát-na – cái Sự Đời của các cô, “cái” chưa bao giờ chú nhìn thấy. Nhưng không lần nào chú được nhìn. Váy các cô là váy sồi, dầy và nặng, gió có là bão cũng không thể làm cho tung lên. Các cô còn cẩn thận đục hai lỗ nhỏ ở gấu váy trước sau, dùng cái lạt tre buộc dính lại. Gió có thốc vô, các cô ngồi bệt có hớ hênh, có dạng háng, váy các cô cũng không mở ra, không ai có thể trông thấy cái Lá Đa của các cô.

Théc méc: đàn bà Việt mặc váy từ miền Bắc đi xuống miền Nam, tại sao đến miền Trung lại bỏ mặc váy để mặc quần? Phải có nguyên nhân gì chứ? Ta không biết đó thôi. Váy Bắc Kỳ là váy sồi. sồi dệt bằng những sợi tơ tằm thô, nên sồi dầy và cứng ngắc. Sồi chỉ có thể làm váy, không thể may thành quần. Phải chăng vì thế mà  Bắc Kỳ có váy sồi.

Năm xưa tôi trẻ – trước năm 1950 – ngoài câu đố “Cái thúng mà thủng hai đầu. Bên ta thì có, bên Tầu thì không,” cái Váy còn có những tên “Sống,”: Dậy đĩ vén sống. Người Bắc không nói “Dậy đĩ vén váy” mà nói “Dậy đĩ vén sống;” và cái tên “Pằng-tà-lồng Ộp, Bùng Rền;” những năm 1965 thế giới có cái mode – dường như phát xuất từ Paris – mode minijupe. Váy ngắn. Năm xưa ấy Mini Jíp có đến Sài Gòn.

TB San:

Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy nó cũng chẳng tha
Nó cứ ấn, cứ nhét cái đầu cha nó vào
Cái gì như cái củ nâu
Cái gì như thể cái cần câu nó gật gù…

CTHĐ:

Hôm qua lên núi hái chè.
Gặp thằng phải gió nó đè em ra.
Lậy van nó cũng chẳng tha.
Nó đem nó nhét cái mả cha nó vào.

Trong Tục Ngữ Phong Dao NV Ngọc không có bài “Hôm qua lên núi hái chè..”

Nhắc lại và nhấn mạnh: Chỉ khi mặc váy đàn bà, con gái mới để cho người đời nhìn thấy cái Sự Đời Lá Đa. Phụ nữ Á, Phụ nữ Âu Mỹ mặc váy cũng để hở Sự Đời như nhau. Chỉ có khác là phụ nữ Âu Mỹ mặc slip, phụ nữ Á châu ở trần. Bà Hillary Clinton khi là First Lady có lần – mặc váy – ngồi hớ hênh bị anh Phó Nháy chụp ảnh bà để lộ cái slip. Từ đó người ta thấy bà Hillary Clinton chuyên mặc quần.

Tennis không ăn nhậu gì đến “Sáng trăng suông,” Tennis ăn nhậu đến “Váy.” Từ năm 1980 mỗi năm qua quần short của nam đấu thủ Tennis một dài ra, xuống đầu gối, mỗi năm qua váy của nữ đấu thủ Tennis một ngắn đi và cao lên. Hai Em Tennis Anna Kournikova. Maria Sharapova đều có ảnh ngồi ở sân quần để lộ slip. Từ đó – tôi, CTHĐ – thấy mỗi lần nghỉ vài phút giữa trận đấu, vào ghế ngồi nghỉ, chưa ngồi Maria Sharapova đã cầm cái khăn bông phủ lên đùi nàng, để che cái Sự Đời của nàng.

Chỗ lội làng Ngang:

Cái gì trắng trắng như con cúi?:

Théc méc: Con cúi là con gì? Từ lâu tôi – CTHĐ – vẫn théc méc về chuyện “con Cúi.” Trong mấy quyển Tự điển ở Rừng Phong tìm không thấy có “con Cúi.”  “Trăng trắng” chỉ là “bẹn.” Cái Lá Đa Sự Đời nó phải đen đen. Ông Cuội phải nhìn thấy cái Lá Đa  đen đen ông Cuội mới có thể mỉm miệng cười.

Quí vị đọc bài này ai biết “con Cúi” là con gì, hình dáng nó ra sao, xin cho mọi người cùng biết.

Theo tôi: “Đàn bà đến đó sắn váy lên.”

Đánh đu.

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Théc méc: Bốn mảnh quần hồng: Trai mặc quần hồng? Đùi trai cũng là đùi ngọc?

Tiếng “Suông” trong Thơ Tản Đà.

Đêm suông phủ Vĩnh.

Đêm suông năm bẩy cái suông suồng.
Suông rượu, suông tình, bạn cũng suông.
Một bức mành con coi ngán nỗi.
Một câu đối mảnh nghĩ dơ tuồng.
Một vầng trăng khuất đi mà đứng,
Một lá màn treo cuốn lại buông.
Ngồi hết đêm suông suông chẳng hết.
Chùa ai xa điểm mấy hồi chuông.

Theo tôi “trăng khuyết”, không phải “trăng khuất.”

TB San:

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió não nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương

CTHĐ: Một cơn mưa gió nặng nề.

Những năm 1981, 1982 sống buồn quá đỗi ở Sài Gòn Cờ Máu., tôi làm bốn câu:

Tối trời em tưởng trăng thanh
Em ngồi em để  Sao Vành em ra.
Sao Vành như cái lá đa.
Đen hơn mõm chó. Chém cha Sao Vành.  

TÌNH VÀ THÙ

Tôi viết truyện “Tình và Thù” ở Sài Gòn khoảng những năm 1964, 1965. Năm mươi năm sau ngày truyện được đăng báo, rồi xuất bản trong Tập Truyện Kinh Dị Hitchcock, con tôi tìm được tập truyện xưa  trong một tiệm chuyên bán sách báo xưa ở Sài Gòn, con tôi gửi tập truyện sang Mỹ cho tôi. Đây là một truyện trong loại truyện tôi gọi là Truyện Kinh Dị. Nhiều truyện tôi phóng tác theo những truyện Mỹ trong Tuyển Tập Alfred Hitchcock Presents. Hôm nay tôi gõ máy chép lại truyện xưa, gửi tặng quý bạn. Năm xưa tôi ký Hòang Hải Thủy dưới truyện này.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Ngày 15 Tháng Ba, 2014.

HÒANG HẢI THỦY

o O o

Tập Truyện xuất bản ở Sài Gòn năm 1970. Nhà Xuất Bản Chiêu Dương.

Tập Truyện xuất bản ở Sài Gòn năm 1970. Nhà Xuất Bản Chiêu Dương.

Văn Thành đặt ly rượu xuống, đốt điếu xì-gà, nghiêng đầu nhìn quanh một vòng. Cái nhìn ấy cho Thành biết chắc rằng chỉ có hai chúng tôi – Thành và tôi — ngồi trong góc phòng này và quanh chúng tôi lúc này không có người lạ nào ở trong tầm tiếng nói nho nhỏ của chúng tôi. Anh hỏi tôi bằng lối hỏi đột ngột thường lệ:

- Có những chuyện gì đã xẩy ra với Hoàng Giác?

Tôi giựt mình. Và đúng lúc ấy, bên ngoài trời đêm cơn bão đến trên thành phố cùng với một tiếng sét lớn. Tôi như ông Lưu Bị ngày xưa khi bị đại gian hùng Tào Tháo chỉ mặt nói mình là anh hùng, đã cả sợ, hoảng kinh, giựt mình đến văng cả đôi đũa đang cầm ở tay xuống gầm bàn, nhân lúc đó trời có tiếng sấm nổ, Lưu Bị bèn đổ cho sấm nổ làm mình rớt đũa. May cho tôi, hoặc nói một cách khác, tôi may mắn hơn Lưu Bị ở điểm tôi không sợ Văn Thành giết tôi như Lưu Bị sợ Tào Tháo giết – vì Tào Tháo có thể giết được Lưu Bị dễ dàng còn Văn Thành thì khó có thể giết được tôi – nhưng nếu lúc Thành hỏi tôi câu đó tay tôi đang cầm vật gì, tôi cũng có thể vì sợ, vì ngạc nhiên, mà đánh rớt vật đó xuống sàn.

Gió nổi, mưa rơi ào ào sau tiếng sét. Giông tố đang giáng xuống thành phố. Tôi ngồi im lặng một lúc lâu nghe tiếng mưa gió và có ý làm ra vẻ không nghe rõ câu hỏi vừa rồi của Thành. Tôi không biết Thành có lắng nghe tiếng mưa, tiếng gió hay không, tôi chỉ biết y cũng im lặng khi thấy tôi im lặng. Nhưng nhìn vẻ mặt y, nhìn vành môi mỏng mím chặt và đôi mắt cú vọ sáng long lanh của y, tôi biết là đêm nay, ở đây, tôi không thể yên ổn ra khỏi đây mà không chịu làm vừa ý y. Y muốn tôi kể hết cho y nghe tất cả những chuyện bí mật cũng như không bí mật, những chuyện nhiều người biết và những chuyện chỉ một mình tôi biết, về Hoàng Giác. Và y sẽ nhất định không chịu buông tha tôi nếu tôi không chịu kể.

Tôi với Văn Thành là bạn học từ bậc Tiểu Học. Hoàng Giác với Văn Thành, và tôi là bạn cùng học ở Trung Học. Trưởng thành, mỗi đứa chúng tôi theo một nghề để sống: Hoàng Giác đi buôn, làm chủ nhà xuất nhập cảng, Văn Thành làm nghề ký giả viết báo – chúng tôi vẫn gọi đùa nghề của y là nghề “nói láo ăn tiền” và nhiều khi, y cũng nhận lời của y đúng là như thế. Nhưng ký giả Văn Thành nhận nghề làm báo nói láo ăn tiền của mình với một thái độ tự tôn, kiêu hãnh và khinh đời – còn tôi, tôi làm cái nghề có ít lợi tức hơn cả: nghề gõ đầu trẻ, tức nghề dạy học.

Tôi nhìn khuôn mặt đợi chờ của bạn và tuy trong lòng ngạc nhiên – tại sao Thành lại biết sớm quá về câu chuyện mà tôi tưởng là bí mật hoàn toàn này? – nhưng không thấy khó chịu gì lắm. Ðêm nay trời giông bão, hai chúng tôi đang ngồi ấm trong một hội quán, chất rượu mạnh ngon và ngọt đang làm tan biến những chất tôi vừa ăn thành ra chất nuôi dưỡng cơ thể tôi. Và tôi cũng đang cần có bạn để tâm sự cho vơi bớt sự kinh dị chứa chất trong lòng. Chuyện ghê rợn có liên can đến Hoàng Giác, đến tôi, cũng kết liễu trong một đêm mưa gió bão bùng như đêm nay. Có thể là đêm đó mưa bão còn dữ dội hơn đêm nay nữa.

Cơn bão đến đêm nay cho tôi biết rằng những cảm giác rùng rợn của tôi đêm nào sẽ không bao giờ phai nhạt trong tôi, cứ những đêm trời mưa bão tôi lại nhớ đến chúng, hoặc nói một cách khác, cứ những đêm trời nổi gió bão, chúng lại trở về ám ảnh tôi.

Chưa biết là tôi đã sẵn sàng kể lại hết với y, thấy tôi im lặng, Thành tiếp:

- Cậu biết những gì về vụ Hoàng Giác, cậu có bổn phận phải kể cho tôi biết. Ðừng bao giờ cậu quên rằng nghề kiếm cơm của tôi là nghề viết truyện đăng báo. Tôi cần có những chuyện lạ làm đề tài để viết truyện hay hơn thiên hạ. Và… – y nói tiếp bằng một giọng buồn rầu – …bạn của cậu hồi này… già mất rồi, tài năng của bạn cậu ngày một tàn tạ đi. Như một cái cây khô…

Tôi dư biết Thành giả vờ. Tên tuổi y vẫn còn và đang chói sáng hơn bao giờ hết trong địa hạt báo chí ở đây, địa vị của y trong làng báo ngày một vững chắc sau khi y đã chiếm được một chỗ ngồi mà người ta thường gọi là “chỗ ngồi dưới ánh mặt trời”. Tuy nhiên, khi nghe người bạn thân của mình nói như thế, dù biết dư rằng bạn giả vờ, người bạn biết nể bạn, mến bạn, cũng phải vờ như cho đó là thật.

- Thôi đi cha… – tôi nói – Ðừng tả oán nữa. Ai bảo lười không chịu vất vả đứng ra làm chủ báo, cứ đi viết thuê cho nhàn hạ. Về già hết lộc đói rách còn kêu than cái gì…? Cứ từ từ, để tôi sắp xếp lại đầu cuối và kể cho mà nghe…

Tôi ra hiệu cho Thành đẩy ghế ngồi gần tôi hơn, rồi tôi gọi bồi lấy thêm hai ly rượu. Một lúc tôi vào chuyện.

o O o

- Tôi sắp kể với anh một chuyện rùng rợn nhất đời này. Chuyện này có thể làm nhiều người nghe không tin là có thật, nhưng tôi hứa danh dự là tôi không thêm bớt. Chuyện này rùng rợn đến nỗi tôi tin rằng cả anh, anh cũng không dám viết ra thành truyện. Vì vậy tôi thấy không cần phải bắt anh hứa sẽ không khai thác chuyện này. Nhất là chuyện lại liên can đến một người bạn thân của hai chúng ta…

Alfred Hitchcock. Đạo diễn điện ảnh Hollywood, tác giả những phim kinh dị Psycho, Vertigo,The Birds, Rear Window..

Alfred Hitchcock. Đạo diễn điện ảnh Hollywood, tác giả những phim kinh dị Psycho, Vertigo,The Birds, Rear Window..

Tuy nói là sắp nói về chuyện Hoàng Giác, tôi đột ngột hỏi Thành về một người khác:

- Anh biết Lê Kim chứ?

Thành gật đầu:

- Biết chứ! Lê Kim, bác sĩ chuyên khoa giải phẫu một thời được coi là người có tương lai sáng nhất trong ngành y khoa Việt Nam, nổi tiếng xuất sắc khi trình bày luận án ở bên Pháp… Tôi có gặp hắn vài lần có chào hỏi nhau nhưng thân thiết như bạn thì không. Nhiều người nói hắn… dở người, khùng khùng. Mát mát đúng hơn. Con nhà giầu, học giỏi, đỗ đạt cao, danh vọng lớn… nhưng hắn đột nhiên bỏ hết. Hắn tự ý xa lánh mọi người, không biết hắn ở ẩn để nghiên cứu khoa học hay là để tu hành? Hình như vợ hắn đẹp lắm thì phải? Nghe nói vợ hắn là hoa khôi đất Thần Kinh?

- Ðẹp lắm – tôi đáp – Chính vì nàng đẹp quá như thế chuyện ghê gớm này mới xẩy ra. Nếu nàng không có nhan sắc làm đàn ông mê đắm, hoặc chỉ đẹp vừa vừa thôi, chắc người ta đã không đến nỗi giết nhau vì nàng.

- Vợ chồng họ còn ở với nhau không?

- Ly dị nhau lâu rồi. Nhà báo, nhà văn như anh chán bỏ mẹ, nhà báo mà rất nhiều chuyện cần biết lại không biết…

- Họ bỏ nhau bao giờ?

- Mấy năm rồi…

Thành đưa vào chuyện một câu triết lý thông thường:

- Có vợ đẹp là một tai họa. Từ ngày trái đất có loài người đến giờ đã có không biết bao nhiêu là thằng đàn ông thân bại danh liệt vì có vợ đẹp. Chết vì vợ đẹp nữa chứ chẳng phải chỉ thân bại danh liệt mà thôi! Chuyện những anh đàn ông chẳng may có vợ đẹp mà bị người khác giết đầy dẫy trong tập Ðông Chu Liệt Quốc. Ðại thần có vợ đẹp để cho vua đa dâm, hiếu sắc trông thấy, lập tức vua nó hại đại thần, nó cho đại thần đi tầu suốt để chiếm vợ. Kể cả những anh vua có vợ đẹp cũng khốn nạn cuộc đời khi bị thằng vua nước lớn hơn nó thích vợ mình. Như vụ nàng Tức Mặc, vợ vua nước Sái, hay nước Trần gì đó bị vua Sở chiếm mất đó. Anh vua nước nhỏ bị mất vợ buồn tủi chết luôn.

Ngừng vài giây, Thành nói tiếp:

- Và cũng có những anh đàn ông không may yêu phải vợ đẹp của người khác cũng bị chồng họ giết chết. Ðó là trường hợp của Hoàng Giác, người bạn không may của chúng ta. Chắc anh biết rằng Hoàng Giác trước đây là bạn thân của vợ chồng Lê Kim? Hoàng Giác mà lỉnh kỉnh với vợ Lê Kim không là chuyện lạ. Kể về phương diện đàn ông, Hoàng Giác hào hoa phong nhã hơn Lê Kim nhiều. Về nghệ thuật chiều chuộng đàn bà và đức tính chịu khó chiều đàn bà thì Hồng Giác hơn xa bọn mình. Mà hắn hình như chỉ thích yêu đàn bà khi người đàn bà đó là vợ người khác. Chắc hắn chinh phục được vợ Lê Kim?

- Chinh phục được. Vì thế hắn mới chết…

- Nói vụng vong linh hắn, kể ra thì hành động quyến rũ vợ bạn, nhất là khi người bạn đó lại là bạn thân thiết của mình là một hành động khó tha thứ được. Ngay cả trường hợp nếu không có mình thì người đàn bà ấy rồi cũng bỏ chồng…

Không muốn nói nhiều hơn về tội lỗi của người đã chết, tôi ngắt lời Thành:

- Hắn đã chết rồi. Hắn đã trả nợ cái lầm lỗi lớn đó. Thực ra việc Hoàng Giác chiếm được Lệ Ngọc – tên người hoa khôi thần kinh là Lệ Ngọc – không làm cho tôi thấy lạ. Chuyện làm tôi lạ là chuyện tại sao một người đàn ông như Lê Kim lại lấy được người đàn bà đẹp như Lệ Ngọc làm vợ?? Có lẽ là khi lấy chồng, Lệ Ngọc hãy còn quá ít tuổi, nàng chưa biết gì về cuộc đời. Có thể là gia đình nàng muốn nàng kết hôn với ông bác sĩ con nhà giầu mới du học về nước. Ðể rồi khi chung sống với nhau, nàng mới biết rằng người đàn bà, nhất là đàn bà đẹp và đa tình, cần có một người nàng yêu làm chồng chứ không cần có một anh thầy thuốc, dù là thầy thuốc Tây có tài nổi tiếng thế giới, quanh quẩn suốt ngày đêm cạnh họ. Dù không giao du mật thiết lắm với Lê Kim, ta cũng dư biết rằng Lê Kim có thể là một bác sĩ có tài nhưng không thể là một người chồng nhiều đức tính. Ít nhất người đàn ông như Lê Kim cũng không sao có thể làm cho người đàn bà xứ Huế, đa tình và đẹp như Lệ Ngọc phải yêu, phải mê, phải hy sinh. Mà thật ra thì Lê Kim cũng không coi vợ và tình yêu lớn bằng sự nghiệp của y. Có thể là y không chú ý gì lắm đến vợ. Sau khi cưới được nàng làm vợ rồi, có thể là y coi như vậy là xong, vấn đề đã kết liễu, y sẽ có người đàn bà đó ở bên cạnh suốt đời…

Thành buông nhẹ một câu kết luận:

- Nếu đúng như thế thì Lê Kim đã lầm lớn!

- Có thể! Nhưng Lê Kim cũng là loại đàn ông suốt đời không xâm phạm đến của riêng của người khác,  không thèm thuồng những cái người khác có, nhưng cũng nhất định không chịu yên khi người khác xâm phạm vào những cái gì y coi là của riêng của y. Y coi Lệ Ngọc là của riêng của y suốt đời. Y không nghĩ rằng Lệ Ngọc sống không có hạnh phúc với y và người đàn bà vừa đẹp vừa đa tình như nàng không sao có thể sống mà không có tình yêu, không có hạnh phúc. Y không chịu nghĩ rằng dù không có Hoàng Giác, vợ y rồi cũng bỏ y. Có thể nàng còn bỏ y sớm hơn nếu nàng không gặp Hoàng Giác, hoặc nói một cách khác, nếu chồng nàng không có Hoàng Giác là bạn. Nói tóm lại là Lê Kim coi như Hoàng Giác là thủ phạm làm cho gia đình y tan vỡ, Hoàng Giác là tên bạn phản phúc đã quyến rũ vợ bạn, làm cho vợ bạn bỏ chồng… Y bắt Hoàng Giác phải đền tội. Ðó là lý luận của y.

Tôi dừng lại để uống một hớp rượu lớn. Chất rượu mạnh này làm cho tôi tăng thêm tinh thần để có thể sống lại những giây phút kinh dị ấy và kể lại chúng.

- Vợ chồng Lê Kim sống với nhau được hai năm. Trong hai năm chung sống ấy, Lệ Ngọc có thể bị thất vọng, bị khổ sở đến hai mươi bốn tháng. Cưới vợ được chừng nửa năm thì Lê Kim đi với một phái đoàn thám hiểm Pháp vào sâu trong vùng rừng rậm Phi Châu huyền bí và man rợ. Cuộc hành trình này kéo dài cả sáu tháng. Ðó là thời gian Lệ Ngọc gần Hoàng Giác nhất và hai người bắt đầu yêu nhau. Lệ Ngọc đã tính chuyện đòi ly dị chồng ngay khi chồng nàng đi thám hiểm xa trở về nhưng chính Hoàng Giác lại là người thuyết phục nàng không nên làm gấp quá…

Thành nhìn tôi. Ðôi mắt thoáng hiện ánh nghi ngờ. Nếu Thành nghi cho tôi thầm yêu Lệ Ngọc, y cũng không có lỗi gì, và y nghi ngờ không sai sự thực mấy. Tôi có thể quả quyết là không một gã đàn ông nào, kể cả đàn ông có vợ đẹp nữa, gần Lệ Ngọc mà lại không thấy thầm yêu nàng, thầm tưởng tượng ra một cuộc sống yêu đương với nàng. Chỉ có điều khác là sự ước ao mơ tưởng này không có điều kiện trở thành sự thực, vì thiếu can đảm, vì sợ bất trắc, vì cả trăm nguyên do khác, còn với Hoàng Giác, mọi điều kiện thuận lợi đều có đủ. Hoàng Giác đẹp trai, hào hoa, chưa vợ và Hoàng Giác chỉ thích yêu đàn bà có chồng, Hoàng Giác bị hấp dẫn vì đàn bà có chồng nhiều hơn là bị hấp dẫn vì những người con gái.

Tuy nhiên, tôi thấy việc thú thực tình cảm của tôi với Lệ Ngọc trước mặt Văn Thành là việc không cần thiết. Nên khi Thành hỏi:

- Sao toa biết nàng muốn như thế?

Tôi cắt đứt sự nghi ngờ nhen nhúm trong óc y bằng câu trả lời thản nhiên:

- Chính Lệ Ngọc nói với tôi như thế.

Thành hiểu tôi nghĩ gì, y lặng yên.

- Họ lại sống chung với nhau nửa năm nữa. Trong thời gian này, Lệ Ngọc đã yêu Hoàng Giác nhưng Lê Kim vẫn không biết. Hắn như kẻ sống trong tòa nhà sắp đổ mà vẫn tưởng là an ninh. Văn hoa hơn, ta phải nói hắn như con chim sống ở góc mái nhà một căn nhà đã cháy một nửa mà không hay biết, không nghi ngờ. Sáu tháng sau, Lê Kim lại đi chuyến thám hiểm vào rừng núi Phi Châu lần thứ hai. Lần này thì Lệ Ngọc không còn có thể chịu đựng được nữa. Chuyến đi xa không cần biết vợ ở nhà sống ra sao của Lê Kim không phải là một giọt nước mà là cả một thùng “ton-nô” nước, cả mấy chục tấn nước, đổ vào bát nước đã đầy tràn từ lâu là sự chán chồng của người đàn bà đa tình ấy. Và vào thời gian này, Hoàng Giác cũng thấy là Lệ Ngọc đã “chín mùi”. Nếu Hoàng Giác còn khuyên Lệ Ngọc chịu đựng lâu hơn nữa, nàng sẽ nghĩ là Giác không yêu nàng, và nàng sẽ bỏ Giác để đi theo một người đàn ông khác sốt sắng với việc nàng bỏ chồng hơn.

Ðến ngày Lê Kim gần trở về, Hoàng Giác đưa Lệ Ngọc đi sống ở một nơi kín đáo chỉ có một mình hắn biết.

Cùng ngày ra đi, Lệ Ngọc đệ đơn xin ly dị chồng.

Lê Kim trở về. Cũng như lần trước, Kim đánh điện về nhà cho vợ báo tin mình về. Nhưng khi Lê Kim xuống phi cơ ở Tân Sơn Nhứt, hắn tìm mãi không thấy cô vợ trẻ trong số người ra đón thân nhân đi xa về. Kim về nhà và thấy tòa nhà lớn của mình đóng cửa im ỉm. Gia nhân của Kim ra đón ông chủ, báo tin bà chủ đã đi khỏi được ít ngày trước đó, bà chủ không nói là đi đâu, chỉ dặn là có thư để lại cho ông chủ. Lê Kim ngạc nhiên và thắc mắc đi vào phòng ngủ lạnh lẽo. Bức thư từ biệt của Ngọc để trên bàn ngủ đã có bụi phủ và y phục của nàng trong tủ áo đã được nàng mang đi gần hết.

Trong thư, Lệ Ngọc chỉ nói rằng nàng không thể sống được bên Lê Kim lâu hơn nữa, nàng ra đi làm lại cuộc đời của nàng và nàng cũng cẩn thận cho chồng biết tên luật sư nàng nhờ thực hiện cuộc xin ly dị tại tòa cùng ngày tháng nàng đệ đơn xin ly dị. Nhưng nàng chỉ không nói đến người đàn ông mới trong đời nàng, tức là nàng không nói gì đến Hoàng Giác.

Lê Kim thuộc loại đàn ông suốt đời không bao giờ hôn vợ nhưng nổi điên lên ngay lập tức khi có người đàn ông khác hôn vợ mình. Ðến lúc này Kim mới biết là mình bị tình phụ. Và Kim không làm ồn lên, không đi tìm cũng không than thở như nhiều anh bị vợ bỏ khác. Cuộc sống của Kim từ đó trôi đi im lìm như chuyện có vợ hay không, vợ bỏ hay vợ còn ở với mình, không phải là một chuyện quan trọng gì cho lắm. Nhiều người tin rằng với Lê Kim, y học quan trọng hơn tình yêu và đàn bà rất nhiều. Ngay cả Lệ Ngọc cũng tin như thế. Khi vụ án được đưa ra tòa. Lê Kim không tỏ ra chống đối ý định muốn ly dị của vợ. Lệ Ngọc được chấp thuận ly dị dễ hơn là nàng tưởng.

Tòa nhà vợ chồng Lê Kim chung sống là một trong những bất động sản do cha mẹ Lê Kim để lại. Khi Lệ Ngọc đi khỏi đó, Lê Kim cũng không ở đấy nữa. Tòa nhà rộng được đóng cửa để cho một đôi vợ chồng lão bộc trông coi. Lê Kim đi sống một mình ở một nơi khác. Nơi khác này của Lê Kim là một chiếc thuyền máy khá lớn. Thuyền này thuộc loại thuyền đi biển có thể chạy từ Sài Gòn ra Ðà Nẵng. Nó giống như du thuyền Hương Giang của Cựu Hoàng Bảo Ðại năm xưa nhưng tất nhiên là không lớn, không được đẹp bằng. Lê Kim biến thuyền máy thành một phòng thí nghiệm lưu động. Y ăn ngủ luôn dưới thuyền và ít khi có người biết đích xác thuyền này đậu chỗ nào trên sông Sài Gòn. Và Lê Kim biến mất hẳn trong giới trí thức, thanh lịch Sài Gòn.

Người ta quên đi Lê Kim và cặp nhân tình Hoàng Giác, Lệ Ngọc bắt đầu tính chuyện trở về sống ở Sài Gòn. Ðúng vào thời gian mà Lệ Ngọc yêu đời nhất, một buổi tối kia nàng không thấy người tình trở về tổ ấm của nàng như mọi tối.

Hoàng Giác không đến sở làm như mọi ngày và mất tích luôn. Không ai biết Hoàng Giác đi đâu. Lệ Ngọc lo sợ đi trình cảnh sát và cảnh sát mở cuộc điều tra. Một tháng rồi hai tháng trôi qua, Hoàng Giác vẫn biệt vô âm tín.

Chừng hơn hai tháng sau ngày Hoàng Giác mất tích một hôm Lệ Ngọc gọi điện thoại đến cho tôi, yêu cầu tôi đến nhà nàng ngay lập tức. Bây giờ nàng sống trong một căn phòng nhỏ ở đường Thi Sách. Nghe giọng nói kinh hoàng của nàng, tôi vội vã tới ngay, Lệ Ngọc mặt xanh như tầu lá, cho tôi biết nàng vừa nhận được một gói đồ gửi tới. Nàng chỉ vào cái hộp giấy cho tôi thấy trong đó là một bàn tay người.

Bàn tay người đó bị cắt tiện ở cổ tay, bàn tay một người đàn ông có đeo nhẫn hẳn hoi. Lệ Ngọc cho biết nàng vô tình mở gói ra, nàng còn kịp nhận chiếc nhẫn đó là chiếc nhẫn đeo tay của Hoàng Giác trước khi nàng ngất đi.

Kẻ gửi bàn tay bị cắt tiện của Hoàng Giác đến cho Lệ Ngọc còn cẩn thận gửi kèm trong hộp quà cái ví da có đựng thẻ căn cước của Hoàng Giác.

Tôi bàng hoàng, phải nói tôi kinh hòang mới đúng, tôi sợ không kém gì Lệ Ngọc. Khi trấn tĩnh lại được, tôi hỏi nàng hộp quà khủng khiếp được gửi tới bằng cách nào? Tôi được biết nó được gửi tới nhà Lệ Ngọc cùng với một bó hoa tươi mua ở hàng hoa đường Charner. Tên hiệu nhà bán hoa có ghi trên giấy gói bó hoa hồng Ðà Lạt. Tôi tìm đến hiệu bán hoa đó và được biết có một ông khách ngồi tắc-xi ghé qua tiệm, đưa tiền mua hoa gửi đến địa chỉ này và nhờ gửi thêm hộp quà tặng. Nhà bán hoa này vẫn nhận đem hoa khách mua tới nhà nên việc họ mang hoa đến nhà Lệ Ngọc không có gì là lạ.

Tôi thay mặt Lệ Ngọc báo cho cảnh sát biết về hộp quà kinh dị. Cảnh sát đến, đem bàn tay trong hộp giấy đi. Cuộc sống của Lệ Ngọc thực sự trở thành địa ngục từ giây phút đó. Nàng như phát điên. Chỉ trong vòng vài ngày, nàng võ vàng và già đi trông thấy. Còn tôi, tôi chẳng thể làm gì được để an ủi hay trấn tĩnh nàng.

Nửa tháng qua đi. Không có gì mới xẩy ra. Ðến ngày thứ mười tám sau ngày Lệ Ngọc nhận được bàn tay trái của Hoàng Giác, hộp quà thứ hai được gửi tới. Lần này nằm trong hộp giấy cùng với cái đồng hồ đeo tay là bàn tay phải của Hoàng Giác.

Lần này thì Lệ Ngọc lên cơn điên thực sự. Tôi lại được nàng gọi đến. Một tiệm bán hoa khác ở Sài Gòn được ông khách vô danh nhờ gửi hơp quà này cùng với bó hoa tươi. Cũng như lần trước, người bán hoa không thể tả được hình dáng ông khách ngồi trong xe tắc-xi ghé vào mua hoa và nhờ gửi theo hộp quà.

Lệ Ngọc phải vào bệnh viện điều trị. Còn tôi, tôi đi tìm Lê Kim. Hai bàn tay bị cắt thật gọn cho tôi nghi rằng người cắt phải là một chuyên viên giải phẫu chứ không thể là người thường.

Nhưng tìm gặp được Lê Kim không phải là một việc dễ. Không ai biết thuyền máy của Lê Kim hiện đậu ở nơi nào. Mãi tới cả mười ngày sau trong một buổi tối đi tìm nhưng không hy vọng gì gặp được Lê Kim, tôi gặp được y trong một tiệm ăn đường Bô Na.

Có quen sơ với Lê Kim trước đó nên tôi tới ngồi bàn y, hỏi thăm y. Y có vẻ bình thường, nhã nhặn vừa phải. Y thoải mái tiếp chuyện tôi và không tỏ vẻ gì bối rối, khó chịu. Khi nói đến Lệ Ngọc, đến sự mất tích của Hoàng Giác, y tỏ ra tò mò một cách vừa phải. Nghĩa là y ngầm cho tôi biết rằng y không  biết gì hết về vụ Hoàng Giác mất tích. Y không biết và y không cần biết. Tôi hỏi y, y có biết Hoàng Giác hiện là người tình của Lệ Ngọc hay không – câu hỏi có vẻ kém lịch sự nhưng trong lúc ấy tôi không còn cách nào lịch sự hơn để dò hỏi y – y lãnh đạm nói là có.

Rồi thôi. Y không chịu nói gì thêm, chỉ ngồi hút xì gà và uống rượu. Như chúng mình đang ngồi bây giờ vậy. Ðêm ấy trời cũng có giông bão như đêm nay. Có tiếng sét nổ và Lê Kim đứng dậy cáo từ tôi.

Tôi lén đi theo y.

Như người bận làm một việc gì cần kíp, như người đang suy nghĩ một chuyện gì quan trọng nên không chú ý gì đến ngoại cảnh, Lê Kim ra khỏi tiệm ăn và ngồi vào chiếc xe hơi của y, lái đi. Tôi vào xe tôi, lái đi theo. Tôi có theo sát đít xe y, y cũng không biết.

Chúng tôi đi ra khỏi thành phố trong cơn mưa tầm tã. Lê Kim lái xe chạy về Khánh Hội, rồi lên cầu Tân Thuận, sang khu Nhà Bè. Ðêm đen kịt và mưa đổ, gió mỗi lúc một lớn khi xe y ngưng lại bên một bờ sông vắng. Du thuyền của y đậu chơ vơ một mình ở tít mãi ngoài giữa dòng sông. Y xuống một chiếc ca nô để sẵn ở đó và mở máy chạy ra thuyền.

Tôi đi dọc bờ sông tìm kiếm và sau chừng nửa giờ bối rối, tôi tìm được một chiếc tam bản nhỏ. Nhờ những giờ bọn mình chung tiền nhau bơi périssoire năm xưa trên Hồ Tây, tôi xuống thuyền và loay hoay cũng phải mất đến nửa tiếng nữa, tôi mới bơi ra được đến gần chỗ du thuyền của Lê Kim đậu.

Thuyền có đèn sáng. Tôi cố gắng cho chiếc thuyền nhỏ của tôi ghé thật nhẹ vào thành du thuyền. Rồi tôi rời thuyền nhỏ leo lên thuyền lớn. Sự im lặng trên du thuyền cho tôi tin rằng Lê Kim không biết có người theo dõi y đến tận sào huyệt của y.

Tôi men theo thành du thuyền leo đến khung cửa sổ có ánh đèn sáng nhất, tôi bám vào thành cửa sổ có gắn kiếng nhìn xuống lòng du thuyền. Cảnh tôi nhìn thấy qua khung cửa đó làm cho tóc tôi đứng dựng hết lên.

Nơi tôi nhìn xuống là phần chính của lòng du thuyền. Trong đó, ngoài ánh đèn còn có ánh lửa sáng bập bùng. Lửa phát ra từ một lò than rất lớn đặt ngay giữa thuyền. Lê Kim bận áo “bờ lu” trắng như khi y ở trong phòng giải phẫu, hai tay múa may lưỡi dao, đi đi lại lại, vừa đi vừa nói lớn một mình. Cơn bàng hoàng qua đi, tôi nhận thấy có máu vấy trên áo y và trên lò than có một cái chảo lớn, trong lòng chảo đang được rán một khối thịt tròn, lớn như cả một con bê.

Không cần nhìn kỹ hơn, tôi cũng biết Lê Kim đang lên cơn điên loạn và khối thịt đang được rán vàng trong chảo mỡ kia là thịt… gì, thịt ai?? Sự phát giác ấy làm cho toàn thân cứng đờ ra, máu tôi như ngừng chạy và nước mưa ướt đẫm quần áo tôi làm cho tôi không còn cử động được nữa…

Tôi bị mưa lạnh làm tê liệt cả người. Tôi ngã sấp mặt xuống khung cửa sổ và… rầm… một tiếng, kiếng vỡ, tôi rớt xuống lòng du thuyền như một trái mít rụng.

Sự xuất hiện đột ngột của tôi cũng làm cho Lê Kim đứng sững mất vài giây đồng hồ. Sự bất động ấy của y cho phép tôi còn sống. Cơn sợ hãi vì biết mình gặp nguy hiểm có thể chết làm cho tôi có một sức mạnh lạ lùng. Tôi vượt được cơn tê liệt của bắp thịt, tôi chồm dậy được vừa vặn đúng lúc Lê Kim, mắt trợn lên rực lửa, miệng há ra hét lớn, tay cầm dao chạy tới đâm tôi…

Y trượt chân trên vũng máu tươi trơn trợt trên sàn tầu và ngã chúi mặt vào lò than hồng. Phản ứng của tôi đến thật nhanh… Ðêm nay… một là y chết, hai là tôi phải chết… Tôi bước tới nhặt lưỡi dao nhọn rớt trên vũng máu tươi, nghiến răng đâm sâu tới cán dao xuống ót tên quỷ sống…

Mùi thịt người nồng nặc trong căn phòng kín sau đó làm tôi choáng váng muốn ngất đi. Tôi vội hành động thật nhanh để có thể ra khỏi được nơi địa ngục này trước khi ngã ngất… Tôi khuân bình ét-xăng trong góc thuyền ra đổ lênh láng trên sàn… Tôi leo vội xuống thuyền nhỏ và chèo như bị ma đuổi. Tôi rời xa du thuyền được chừng hai trăm thước thì lửa vàng vọt lên từ đó và du thuyền phát nổ… Tàn lửa rớt cả xuống đầu tôi…

o O o

Giông bão nổi lớn hơn bên ngoài, Văn Thành ngồi lặng đi.

Tôi thâu hết can đảm để nói hết, vì tôi biết rằng nếu đêm nay tôi không nói được ra hết những kinh dị của tôi đêm đó, suốt đời tôi sẽ không bao giờ còn có đủ can đảm để kể lại chuyện này:

- Thì ra Lê Kim đã bắt cóc Hoàng Giác. Y bắt sống được Hoàng Giác và đưa tình địch về nhốt dưới du thuyền đó bằng cách nào, chỉ có y và Hoàng Giác biết. Lê Kim không giết Hoàng Giác ngay. Y để Giác sống và hành hạ. Nhờ tài giải phẫu có thể cưa chân, cắt tay người ta mà không làm cho người bị cắt phải chết, Lê Kim đã cắt một tay Hoàng Giác để gửi cho Lệ Ngọc. Y làm cho cổ tay bị cắt của nạn nhân cầm máu, chích thuốc khỏe cho nạn nhân, chờ cho nạn nhân mạnh lại mới cắt bàn tay bên kia… Ðêm hôm đó khi thấy tôi đến làm thân, nói chuyện với y, Lê Kim biết là tôi ngờ y là thủ phạm, y vội vã bỏ về thuyền và giết luôn Hoàng Giác. Cũng có thể là Hoàng Giác đã chết trước đêm đó…

Thành rùng mình:

- Như vậy là Hoàng Giác vẫn sống cả mấy tháng trời trong lòng cái du thuyền đó hay sao?

- Chắc thế!

- Nhưng còn khối thịt toa nhìn thấy rán trong chảo mỡ??

- Trong thời gian thám hiểm rừng sâu Phi Châu, Lê Kim chuyên khảo cứu về phong tục đặc biệt của giống dân ăn thịt người. Y có viết một báo cáo tường tận về tục ăn thịt người… Nấu nướng thịt người ra sao, chỗ nào ngon nhất… Tại sao người đã ăn thịt người một lần rồi cứ khoái, cứ thèm ăn thịt người mãi… Trong báo cáo, chính Lê Kim có viết để người đọc hiểu ngầm rằng nhiều lần y đã thưởng thức món đó mấy lần…

Có tiếng sét nổ rền trời. Thành phố rung chuyển. Ðêm Sài Gòn và gió lạnh lùa vào tận góc phòng kín này.

Một lần nữa Thành rùng mình.

Anh nói như người rên rỉ:

- Thôi… Thôi… Ðừng kể nữa… Gọi lấy rượu uống đây! Sao lạnh quá.!.

CÚN NHỚN, CÚN CON *

Ðể tránh nạn chợ đen Ðô-la Xanh Mỹ, Quân Mỹ ở Việt Nam dùng giấy “Ðô-la Ðỏ”. Bộ Tư Lệnh Quân Mỹ có thể ra lệnh thu hồi, đổi, và hủy loại Ðô-la Ðỏ bất cứ lúc nào. Trên đây là giấy Đô-la Đỏ dùng trong Căn Cứ Cam Ranh năm 1969.

Ðể tránh nạn chợ đen Ðô-la Xanh Mỹ, Quân Mỹ ở Việt Nam dùng giấy “Ðô-la Ðỏ”. Bộ Tư Lệnh Quân Mỹ có thể ra lệnh thu hồi, đổi, và hủy loại Ðô-la Ðỏ bất cứ lúc nào. Trên đây là giấy Đô-la Đỏ dùng trong Căn Cứ Cam Ranh năm 1969.

Lý Hít là cái tên Tích Bốp, bạn tôi, đặt cho Lý Hít. Tôi không biết tên họ thật của Lý Hít, chỉ biết lờ mờ ông ta thời ở quê từng làm Lý Trưởng, nên được gọi là ông Lý. Tôi thấy cái tên Lý Hít thật đúng, thật hợp với con người Lý Hít. Theo lời Tích Bốp, gã bạn cùng tỉnh, cùng học những lớp Ba, lớp Nhì của tôi, thì Lý Hít ngày xưa, thời trẻ, là một tay chơi. Hơn cả một tay chơi thường, đương sự là con nhà giầu, một thứ con nhà địa chủ kiêm Chánh Tổng, Lý Trưởng, gọi tắt là Tổng Lý, ở thôn quê, giai cấp mà bọn  cộng sản rất thù, rất ghét, muốn tận diệt, giai cấp phú nông ở miền đồng bằng sông Hồng Hà mà bọn cộng sản, theo ngôn ngữ của chúng, gọi là “giai cấp cường hào, ác bá”ù.

Tích Bốp và tôi gặp Lý Hít ở Sài Gòn. Chắc không cần tôi giới thiệu, quí vị độc giả cũng đã có thể biết Lý Hít là dân Bắc Kỳ Ri Cư vào Nam năm 1954, sinh quán, nguyên quán  của Lý Hít ở Thái Bình hay Ninh Bình, Hà Nam, Phủ Lý chi đó.

Tích, bạn tôi từ ngày chúng tôi mới mười một, mười hai tuổi ở tỉnh lỵ Hà Ðông – Hà Ðông bên hông Hà Nội – có cái tên Tích Bốp vì gã mê Kép Xi-nê Mỹ Rô-be Te-lo, gã chải mái tóc giống như tóc Kép Rô-be Te-lo. Những năm trước 1954 tóc thanh niên, tóc đàn ông An Nam, Bắc Kỳ Hà Nội cũng như Nam Kỳ Sài Gòn, đều chải brillantine bóng nhẫy, bóng mượt, bóng trơn, bóng láng, bóng đến nỗi cứ 10 con ruồi đậu lên thì 9 con trượt chân té vỡ mặt. Nhưng không biết tại sao sau năm 1954 đàn ông trên khắp thế giới không ai sài brillantine nữa. Tích Bốp, mới hơn mười tuổi, được cái trắng trẻo kiểu công tử bột, đã chăm chút mái tóc láng coóng nên có tên hiệu là Tích Bốp.

Tích Bốp bảo tôi:

- Tụi mình phải tìm nhà riêng mà chơi. Trẻ tuổi như tao với mầy mà bị vồ ở bàn đọi, khi bị đưa ra tòa, là bị quất nặng lắm! Có thể bị  còng tay tống dzô Lầu Bát Giác Chí Hòa nằm ngáp sái quai hàm từ mười lăm ngày tới ba tháng.”

Hắn còn phụ đề Việt ngữ lòng thòng như sau:

-  Làm cách mạng bị bắt đi tù là một vinh dự, đi ăn, đi chơi, nhất là đi hít tô phê mà bị vồ, bị đi tì thì… thật là thân bại, danh liệt. Khai là đi nằm ấp vì tội gì cũng được, tội hiếp dâm còn đỡ, khai là đi nằm ấp vì tội hít tốp thì ngượng lắm… Ðã có nhiều thằng bị rồi… Chỉ những anh già trên sáu mươi tuổi bị bắt vì tội hít mới được tòa án cho giảm khinh, phạt nhẹ… Con cháu cô Ba hồi này bị bố quá cỡ thợ mộc…

Năm đó là năm 1960, chính phủ Ngô Ðình Diệm đang ở trên đỉnh cao nhất của quyền lực. Không như những chính phủ Việt Nam trước đó để cho dân tha hồ ăn chơiù, thả cửa cờ bạc, công khai mại dâm, mãi dâm, chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm  thực hiện một chính sách gọi là “cách mạng quốc gia”, chính sách này có mục đích “lành mạnh hóa xã hội”, nôm na là làm cho xã hội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa sạch, mạnh, để có thể thắng trong cuộc tranh đấu một sống, một chết với bọn cộng sản Hà Nội. Trong toàn thể lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, hai trò vui muôn thưở của loài người là cờ bạc, mãi dâm bị cấm tiệt. Lại có đạo luật coi việc hút thuốc phiện là trọng tội, trọng tội là ra tịa, bị tù, cĩ án; bàn đèn ống hút, xe lọ, dọc tẩu..vv.. những món đồ nghề bất khả thiếu của bàn thờ Cô Ba Phù Dung bị coi là đồ quốc cấm. Chỉ cần tàng trữ những món quốc cấm ấy nếu bị bắt lần thứ nhất, người tàng trữ đã có thể bị phạt tù năm, bẩy tháng. Những vị Tiên  Phi Yến Thu Lâm bị bắt quả tang bên bàn đèn sẽ bị  ra tòa, có án, nằm Lầu Bát Giác Chí Hòa đàng hoàng.

Trong khoảng thời gian gần một trăm niên vàng son được các quan Ðại Pháp cai trị và khai hóa dân An Nam được Nhà Nước Bảo Hộ khuyến khích và tận tình nâng đỡ để có thể tập sì-po mỗi ngày bằng Mê-tót Hít Tô Phe, tẩm bổ bằng rượu Văn Ðiển, rượu Vạn Vân, rượu Bình Tây. Những thứ ruợu vưà kể tên được dân Bắc Kỳ gọi là Rượu Ty, tức rượu của xưởng rượu Nhà Nước bào chế, và rượu dân nấu là Rượu Lậu. Thời xưa ấy, những năm trước năm 1945, những nhà R.O và R.A được Nhà Nước cấp môn bài, cấp Opium, Alcool, cho hành nghề công khai. R.O là chữ viết tắt của Régie d’OpiumR.A là Régie d’Alcool. Nhà Nước Bảo Hộ còn lo cho dân ở việc làng nào dân tiêu thụ nhiều rượu và nha phiến hơn thiên hạ thì anh Lý trưởng làng đó được ân thưởng giấy khen. Dân An Nam trong thời gian đó được sung sướng trăm bề nhưng không biết hưởng, vẫn cứ hục hặc đòi đuổi các quan Ðại Pháp văn minh về mẫu quốc, vẫn cứ nằng nặc đòi được độc lập dể rồi bị khổ sở trăm bề.

Những năm sau 1946, dân An Nam sống trong những thành phố lớn vẫn được khuyến khích và tự do chơi bời đủ mục. Kỹ nghệ lấy Tây, một kỹ nghệ có từ thời ông Vũ Trọng Phụng viết phóng sự những năm 1934, 1935, sau năm 1945 lại đi vào thời kỳ phồn thịnh. Kỹ nghệ ấy phồn thịnh là do sựï hiện diện trên đất nước Việt Nam, huê mỹ là “Trên giải đất hình chữ S”, của hai trăm ngàn binh sĩ trong Quân Ðội Viễn Chinh Liên Hiệp Pháp, lại nhờ có chiến tranh làm cho các vùng quê mất an ninh, mạng người rẻ giá, bom đạn liên miên sẵn sàng giúp phương tiện cho dân quê đi những chuyến tàu suốt về tít tận bên kia thế giới, phụ nữ  ở những vùng thôn quê tránh việc bị Lính Tây chiếu cố, hãm hiếp, theo nhau trôi dạt về thành thị. Vì vậy ở những thành phố thời ấy nghề cô đầu, nghề gái nhẩy, nghề gái điếm, những nghề đặc biệt của đàn bà, đàn ông dù cho có thông minh đến đâu cũng không thể làm tranh được, bỗng trở nên đông đảo chị em.

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh v.v… những thành phố lớn của Bắc Việt thời nước ta còn liền một giải từ “ Ải Nam Quan  đến mũi Cà Mâu”, thờiø những chuyên viên bán rong Thuốc Ho Bà Lang Trọc còn làm nhiệm vụ nhắc nhở cho dân chúng An Nam nhớ rằng nước họ là một quốc gia thống nhất, dân tộc họ có những “bốn ngàn năm văn hiến.” Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Ðông,La Perle de L’Orient, ngoài những tiệm nhẩy đầm, còn có những nhà cô đầu. Nhưng bộ môn văn nghệ dân tộc Cô Ðầu Sài Gòn không được phồn thịnh. Sài Gòn đông dân cư nhất nước, đất rộng, nhà nhiều, người lắm nhất Ðông Dương nhưng chỉ lèo tèo có năm bẩy nhà hát cô đầu ở Ngõ Ðội Có, Phú Nhuận, Ngõ Mông Sô, Monceau, Tân Ðinh, sau năm 1956 có tên là Ðường Huỳnh Tịnh Của, đã Huỳnh Tịnh Của mà còn là Huỳnh Tịnh Của Nối Dài, vì đoạn đường có mấy nhà cô đầu này ở trong xóm nghèo được phát triển thành khu dân cư lao động sau năm 1954. Sài Gòn những năm từ 1945 đến 1954, văn minh hơn Hà Nội, đất Thăng Long ngàn năm văn vật, ở chỗ Sài Gòn có nhiều nhà nhẩy đầm hơn, có hai sòng bạc lớn là Kim Chung, Ðại Thế Giới và Sài Gòn có nhiều nhà điếm hơn, những khu ở ngay trung tâm Sài Gòn thời ấy là đường Hamelin, Calmette có ba, bốn nhà điếm hoạt động gần như công khai.. Và đặc biệt Sài Gòn từ năm 1952 có nhà Bình Khang, một cơ sở Mãi – Mại Dâm mà một nghìn năm trước, một nghìn năm sau, Việt Nam không có và chắc sẽ không bao giờ  có nữa!

Tả truyện và đưa bằng chứng dài dòng như thế là để chứng minh rằng Sài Gòn, trước năm 1956, trước khi ông Ngô Ðình Diệm “sau bao năm lê gót nơi quê người”, trở về nước làm Tổng Thống, Sài Gòn là một thành phố dân cư ăn chơi thả dàn. Tổ chức Bình Xuyên Bẩy Viễn trở về hợp tác với Pháp, được Pháp giao cho quyền công an ở Sài Gòn – Gia Ðịnh; Bình Xuyên, có những Cố Vấn Ba Tầu Chợ Lớn cộng tác, khai thác bốn món tứ đổ tường. Những cơ sở Kim Chung, Ðại Thế Giới, Bình Khang… là của Bình Xuyên, một nhà nấu thuốc phiện được  lập ngay ở Sài Gòn. Nhà đó ở đường Hai Bà Trưng, không biết sau năm 1956 trở thành công sở gì. Dân Sài Gòn ăn chơi thả cửa, những tiệm thuốc phiện cũng như những nhà chứa gái, mở ra công khai khắp nơi. Có những tiệm hút ở Chợ Lớn có tới hai, ba mươi bàn đèn, mở cửa tiếp khách suốt ngày đêm. Chính vì quen ăn chơi như vậy cho nên khi Luật Bài Trừ Tứ Ðổ Tường, tức Luật Cấm Chơi Bời được ban hành, dân chơi  Sài Gòn dắt nhau đi vào một cuộc bị chính quyền khủng bố, đàn áp, bỏ tù thẳng tay. Trong 300 năm lịch sử Sài Gòn, chưa bao giờ dân chơi Sài Gòn bị khổ nhục, ê chề, cay đắng đến thế.

Trở lại với câu chuyện trao đổi giữa tôi và Tích, nói trắng ra và giản dị là hắn rủ tôi đến hút thuốc phiện ở một nhà tư, một nhà không phải là tiệm hút. Chơi ở những nhà tư này tương đối an ninh hơn, đỡ sợ bị quí anh cảnh sát bài trừ ma túy bất thình lình tông cửa hay leo cột đèn lên mái nhà, chuyền cửa sổ, ào ào ập vô động tiên, bắt về bót. Ông chủ cái bàn đọi – tiếng Phú Lãng Sa là cái “pờ-la-ti” – mà Tích đưa tôi đến, theo lời hắn, là một tay chơi ở đất Bắc. Ðương sự đặt “pờ-la-ti” ở nhà chơi một mình, không tiếp ai, chỉ tiếp vài người quen , trong số có Tích Bốp.

Tôi vốn ham vui, có bạn rủ đi chơi là theo ngay, trừ những anh rủ đi tu hoặc đi theo hầu mấy anh chính trị hoạt đầu, lưu manh tự xưng là làm chính trị quốc dza, quốc dzô để, nói rõ ra chút nữa là hễ có bạn rủ đi ăn, đi chơi, đi vui… là tôi hưởng ứng ngay, rủ đi làm bất cứ việc gì khác không phải là việc ăn chơi, tôi thường xét lại. Có lẽ vì thái độ sống nhuốm mầu sắc Lão Trang ấy mà cho đến ngày hôm nay, gần bốn mươi tuổi rồi, giao du thân mật với không biết bao nhiêu là bạn bị tù lia chia về những tội làm chính trị, lường gạt, biển thủ v.v… ăn cắp, tống tiền cũng có, mà tôi vẫn sống phây phây chưa  bị quí anh cảnh sát thẩm vấn đánh một cái bạt tai, chưa bị nằm một đêm nào ở trong bất cứ một nhà tù nào.

Tôi theo Tích tới nhà Lý Hít. Lúc đó là sáu giờ một buổi chiều cuối năm ở Sài Gòn, trời bỗng dưng có tí sương còm và lành lạnh như những ngày cuối năm ở xứ Bắc Kỳ. Buổi chiều gần tối, giờ gà lên chuồng, là giờ dục dã những cặp tình nhân yêu nhau, nhớ nhau, đi tìm nhau và là giờ của những anh đã biết mùi vị hương phấn mê hồn của Cô Ba Phù Dung rủ nhau đến bàn đèn. Xuân Diệu ngày xưa đã làm hai câu thơ để tả cái tâm trạng đó:

Mỗi lúc hoàng hôn xuống
Là giờ viễn khách đi… hít.

Chúng tôi vào một xóm bình dân lao động của Sài Gòn. Hòn Ngọc Viễn Ðông có những khu nhà tồi tàn, lụp xụp không tài nào tả nổi. Các ông Balzac, Tolstoy có sống ở Sài Gòn những năm 1950, 1960  cũng không đủ tài, đủ chữ để tả đúng những xóm nhà vách ván, mái tôn của Sài Gòn. Các tổ sư thợ viết như Balzac, Tolstoy đã không tả được thì lẽ tất nhiên, tôi cũng không tả được. Chỉ biết đó là một xóm nghèo và xóm nghèo nào của Sài Gòn năm đó cũng có những con đường khuất khúc chỉ đi lọt một người, những ngôi mả đá ở chung với người sống, những cây cầu ván đi trên những vũng bùn sình, những dẫy cầu tiêu công cộng. Tôi theo Tích tới trước một căn nhà lụp xụp không có đèn điện. Khi chúng tôi bước qua cửa nhà, một người đàn bà từ trong bóng tối hiện ra với lời chào kính cẩn:

- Lạy hai ông ạ…

Vì bóng tối, tôi không nhìn rõ mặt người đàn bà, Tích dõng dạc:

- Ông Lý có nhà không?

- Thưa ông… thầy cháu ở trong nhà, mời hai ông vào chơi…

Hai ông bèn vào phòng trong. Nói là phòng, thật ra căn nhà chỉ được chia đôi bằng một tấm vách gỗ. Nhà tối om. Tôi lờ mờ nhìn thấy một bộ ván, trên ván có  bộ bàn đèn và nhờ ngọn đèn dầu lạc bàn đọi, tôi thấy bên bàn đọi có một người đàn ông. Như hình vẽ anh Cả Ðong trong cuốn Luân Lý Giáo Khoa Thư ngày xưa, ông Cả Ðong Sài Gòn 1960 bằng xương và ít thịt này đang ngồi đánh sái. Ông quay lại nhìn khi chúng tôi vào và cũng đon đả không kém  bà vợ, ông niềm nở chào:

- Hai ông đến chơi… Mời hai ông ngồi chơi…

Hai ông đến để nằm, hai ông không đến để ngồi, nhưng chủ nhà phải mời hai ông ngồi chơi, vì không lẽ lại mời hai ông nằm chơi. Bà vợ cầm cây phất trần khép nép đi tới quét quét mặt chiếu sửa soạn chỗ cho hai ông nằm. Ông Lý dặn vợ bằng một giọng quan trọng:

- Bu mày lo nước pha ấm trà mới… Gọi con Cún Nhớn về bảo nó đun nước, bảo con Cún Con đi mua cho tôi gói trà… Mau lên…

Ðây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến hai chị em Cún Nhớn, Cún Con. Những lần sau đó, lần nào đến nằm bàn đọi của Lý Hít – tôi đều được nghe những tiếng chửi con của Lý Hít: “Mẹ bố chúng mày, chỉ đi chơi. Thoắt một cái là mất mặt… Con Cún Nhớn đâu, đun cho tao ấm nước… Con Cún Con đâu, chạy ra phố mua cho ông gói thuốc… Mẹ bố mày… thuốc Lúc Ki nghe không? Ngu như con chó… Cầm cái bao thuốc này đi này… Bảo người ta bán cho một bao y như thế…Giá một bao có 30 đồng thôi. Nghe chưa.  Ði mau lên…”

Năm ấy, Cún Nhớn mười bốn, mười lăm tuổi, Cún Con chừng mười một, mười hai tuổi. Cún Con còn là con nít nhưng Cún Nhớn đã gần là con gái dậy thì. “Nàng”  sắp trổ mã. Nằm bên bàn đèn của ông Lý bố nàng, tôi nhìn thông thống xuống bếp, nhìn ra khoảng sân nhỏ để lu nước, rồi cửa nhà tắm kiêm cầu tiêu vách gỗ, tôi vẫn thấy nàng – Nàng đây là Em Cún Nhớn – đứng đun nước, ngồi giặt quần áo hoặc đi gánh nước về đổ ào ào vào lu. Cún Nhớn chỉ đến gần bàn đèn để pha nước sôi vào ấm trà. Những lần đó, tôi nhìn thấy cánh tay nàng phơn phớt lông tơ hứa hẹn một sự tóc dài, lông mày rậm, đa mao, đa tình như sau này.

Nhiều lần tà dục trong tôi nhen nhúm nổi lên, nhiều lần trước khi vào nhà Lý Hít hoặc sau khi hít xong ra về, tôi và Tích thường trao đổi ý kiến với nhau về Em Cún Nhớn: “Mẹ kiếp… hai vợ chồng thằng cha ấy xấu xí, bẩn thỉu thế sao con gái lại trông được quá hở mày? Chỉ hai năm nữa thôi là phải biết với em Cún Nhớn… Sao da em trắng quá? Mày có để ý thấy lông cánh tay em lúc em vào pha nước không?”

Tích và tôi cãi nhau loạn cào cào về mục lông măng và lông tơ. Những sợi lông vàng vàng trên cánh tay Cún Nhớn là lông măng hay lông tơ? Tích tuy đểu hơn tôi nhưng về mặt tình dục thì cũng như tôi, hắn chỉ đĩ mồm tức là chỉ nói mà không dám làm. Chúng tôi quả có nghĩ đến chuyện quyến rũ Em Cún Nhớn của vợ chồng Lý Hít đi ăn, đi chơi, cho vào Ðại Nam coi xi nê, đi ăn kem Phi Ðiệp, Mai Hương, để sờ mó, hôn hít Em, nhưng chẳng đứa nào thực hiện ý định đen tối ấy. Chúng tôi tới nhà Lý Hít là để hít chứ không phải để quyến rũ Cún Nhớn hay bất cứ ai. Chúng tôi tuy làm được nhiều chuyện, nhưng không thể làm được cái chuyện gỡ gạc con gái nhà người ta, dù người ta có nghèo, có đọi như  Lý Hít.

Có lần nằm đối diện với Lý Hít, tôi hỏi ông về nguyên do tại sao ông lại đặt tên cho con gái là Cún?  Lý Hít.. ê.. a..ề.. a.. đúng giọng Tổng Lý, Kỳ Mục, Kỳ Nát làng quê Bắc Việt kể lể dài dòng:

- Nhà cháu hiếm hoi… cần có con trai thì đẻ mãi không có… Mấy con mẹ cứ đẻ toàn con gái… Ấy..thưa ông, tôi đã bỏ hai con vợ chỉ vì chúng chỉ đẻ toàn con gái… Ðến con mẹ này thì tôi mong có con trai quá đi… Ông còn lạ gì nhà quê ta, cần con trai nối dõi, con gái là con người ta. Nuôi cho nó lớn nó lấy chồng, nó lo cho nhà chồng nó, mình mất con chứ mong gì ở nó? Ðến lúc con mẹ này sinh, mấy ông thầy Tử Vi hay nhất tổng tôi đều nói quyết sẽ đẻ con trai, tôi cho lên nằm đẻ ở nhà hộ sinh Nam Ðịnh đàng hoàng… Trong lúc mẹ nó nằm đẻ ở nhà hộ sinh thì tôi nằm nhà cô đầu… Khi nghe tin lại đẻ con gái thì tôi thất vọng quá! Tôi thấy số phận mình chó quá, năm đó lại là năm Tuất, nên tôi gọi nó là Cún. Lúc mẹ nó đẻ con thứ hai thì con trước là con Cún Nhớn, con sau là con Cún Con…

Như đã nói làng quê Lý Hít ở vùng Nam Ðịnh, hay Thái Bình, Phủ Lý gì đó. Tôi chỉ nhớ Lý Hít kể làng ông ở gần bến đò Tân Ðệ và ông ta tự giới thiệu năm xưa, ở những xóm cô đầu Khâm Thiên, Vạn Thái, Quán Bà Mâu, Gia Quất v.v… chị em thường gọi ông với cái biệt hiệu là Lý Tân Ðệ. Khi kể  thời dĩ vãng  vàng son oanh liệt ngày xưa, Lý Hít tự giới thiệu mình là tay chơi khét tiếng, được nhiều em cô đầu tài sắc thời ấy có cảm tình đặc biệt, lại được cả bà chủ nhà cô đầu mê lăn, mê lóc, mê như điếu đổ, một tay Lý Hít  từng cầm bán không biết bao nhiêu là mẫu ruộng thượng đẳng điền, cơ man nào là thúngï lúa, là mâm đồng, nồi đồng ba mươi, bát đĩa, lọ cổ, trâu bò… để chi vào cuộc ăn chơi với những em cô đầu tài sắc nhất Bắc Kỳ. Tuy nhiên, ngày xưa kia có thể Lý Hít đã nhờ bố mẹ mà có tiền, đã ăn chơi, đã là con mòng của chị em cô đầu Bắc Hà, đã tự đem thân tới cho chị em lột, nhưng bây giờ thì Lý Hít xác xơ lắm. Bao nhiêu ruộng đất bỏ lại hết để di cư vào Nam – Lý Hít và vợ con – nghèo rớt mồng tơi, rách như xơ mướp. Nhà bốn miệng ăn, người đàn ông chủ gia đình, người làm ra tiền và có bổn phận phải nuôi cả nhà thì nghiện ngập, cả ngày nằm bẹp bên khay đèn, chỉ chịu khó hút và kẽo kẹt đánh sái. Vợ Lý Hít là đàn bà nhà quê, ngu xuẩn, mắt có lông quặm, ở nhà quê thì mặc váy đụp, cả đời chỉ được ra tỉnh có một lần để nằm nhà hộ sinh, ở dơ như cú, hai đứa con gái hãy còn ít tuổi, chưa đi làm ăn gì được, tất nhiên gia đình Lý Hít phải lâm vào cảnh túng đói và có một tương lai đen như mõm chó.

Vấn đề quan trọng nhất của Lý Hít bây giờ là vấn đề cơm đen. Khi cơm trắng còn chưa đủ thì cơm đen tất nhiên, bắt buộc phải thiếu. Mỗi lần có khách tới chơi như tôi và Tích, tức là ngày đó món cơm đen của Lý Hít được bảo đảm, tức là ngày đó, nhờ  chúng tôi, Lý Hít có thuốc, có sái để hít. Vì vậy, bọn tôi được coi là thượng khách của nhà này. Có những buổi, Lý Hít hết nhẵn cả thuốc, không còn đào đâu ra tiền để đi mua, đành phải móc sái sảm, sái củ tỷ Long Vương ra nuốt cho qua cơn ghiền, chợt chúng tôi tới chơi. Có chúng tôi tới là Lý Hít có chầu hít rồi, chúng tôi, những lần đó, được chào đón như những vị cứu tinh. Ðang nằm bẹp như chết rồi bên khay đèn, Lý Hít ngồi nhỏm dậy, chào hỏi và quát vợ con như máy: “Lậy ông ạ… Mẹ nó đâu… Quét cái chiếu hai ông nằm, Cún đâu, Cún ơi..Ðun cho bố ấm nước…!”.

o O o

Rồi chiến tranh leo thang, Quân Ðội Mỹ vào Việt Nam. Tích đi làm Sở Mỹ, phiêu dạt theo nghề và theo chủ ra Cam Ranh, Ðà Nẵng, Chu Lai, tôicũng không được sống ở Sài Gòn.  Bẵng đi một thời gian, tôi không không đến nhà Lý Hít. Thế rồi một ngáy cuối năm,  chiến tranh đến hồi quyết liệt, Tết năm trước lính Việt Cộng vào tới Sài Gòn-Chợ Lớn để rồi bị chết hết, tôi gặp lại Tích ở Sài Gòn. Chúng tôi đi ăn ở Thiên Nam – gà roti, rượu Sangria – rồi  rủ nhau đi đong. Tích bảo tôi:

- Ê… Mày còn nhớ Lý Hít không? Nhà có hai em Cún Nhớn, Cún Con năm xưa tao với mày đến nằm ấy? Bây giờ  Lý Hít hách lắm rồi nghe mày! Cái khu ấy về sau đô thành phóng một con đường lớn, nhà anh Lý Hít đang ở trong kẹt củ tỉ hang cua bỗng dưng trở thành nhà mặt đường. Thằng cha ấy thế mà tốt số. Có người tới đề nghị bỏ tiền ra xây lên thành nhà hai tầng. Hai nhà nghe mày. Chủ bỏ tiền xây lấy một nhà, Lý Hít một nhà. Nhà lầu, bê toong, đèn điện, nước máy… Lý Hít bây giờ hách lắm. Nằm hít trên lầu, nhà lúc nào cũng có ít nhất là hai, ba ký thóc… Tao với mày đến chơi thằng chả đi… Tao đến, hắn  vẫn hỏi thăm mày.

Tôi theo Tích trở lại nhà Lý Hít. Trên đường, tôi hỏi thăm hai em Cún Nhớn, Cún Con, Tích kể:

- Cún Nhớn bây giờ hách lắm… Em có tiền, có hiếu, chịu giúp đỡ bố mẹ. Vợ chồng Lý Hít nhờ em nên đỡ khổ… Hôm nọ, tao tới gặp em về thăm bố mẹ… phây phây… Thơm như múi mít… Em khuân về nào là sà-bông Camay, Dove, đổng Seiko Five, ra-đi-ô Sony, quạt Sanyo, rượu Johnny Walker… Em mang đồ PX về cho mẹ bán. Lý Hít bây giờ hách ra rít… Rượu Mẽo phải là thứ Johnny Walker… black-label mới uống, chai giấy đỏ chê không thơm… Xài bật lửa ga Ronson, hút píp, mặc Montagut, đồng hồ Seiko nghe mày… Chị Lý Hít buôn bán đồ Pê Ích Mẽo, mở miệng ra là nói chuyện bạc triệu, chuyện đô-la đỏ, đô-la xanh…

Chỉ cần nghe Tích nói như thế về em Cún Nhớn, tôi cũng dư biết em hiện đang làm gì, em đang lấy ai, tại sao em có đồ PX Mỹ. Ngày xưa, có lần tôi và Tích say thóc, tiên đoán em – tôi muốn nói đến nàng Cún Nhớn, con gái lớn của Lý Hít, người năm đó chưa dậy thì, mới sắp trổ mã, là hậu vận của em sẽ khá, nhưng chúng tôi chỉ tiên đoán lờ mờ thế thôi. Năm đó chúng tôi  đâu biết là chỉ mấy năm sau, các bạn đồng minh Mỹ, Phi, Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Thái Lan… kéo vô nước ta đông đến như ngày hôm nay.

Ðúng như lời Tích kể, gia đình Lý Hít năm nay sáng choang, nhà xây, tủ lạnh Hitachi Jet Cycle, Tivi, quạt máy Sanyo v.v… Nhà không còn rơi rớt chút síu hình ảnh tù mù, tối tăm, ảm đạm, rách rưới như mấy năm về trước. Bây giờ, đến bàn đèn của Lý Hít, tôi và Tích không còn được đóng vai cứu tinh dân tộc nữa, chúng tôi chỉ còn nguyên hình là hai thằng nghiện dở đến hút nhờ, chủ nhân rảnh rỗi thì cho nằm mà bận đánh tổ tôm hay sắp có việc phải đi, hay mệt muốn nằm ngủ thì thôi, mời hai ông ngồi chơi xơi nước, rồi đi nơi khác cho được việc. Tuy nhiên, tôi cũng phải nhận rằng Lý Hít là người tương đối có tình. Bây giờ tuy no đủ đến có thể nói là thừa thãi, ông ta vẫn tiếp đón chúng tôi khá niềm nở, không đến nỗi khinh khỉnh làm cao như nhiều anh trước nghèo lõ đít mà sau có tí của là lên mặt vênh váo. Có điều phải nói là bây giờ, tôi không còn được Lý Hít đang nằm còng queo bên bàn đọi,  ngồi bật dậy, chào ròn tan, ngọt lịm: “Lậy ông ạ…” và gọi vợ con quét giường, đun nước trọng vọng như xưa.

Năm nay, Cún Nhớn đã trên dướ hai mươi, Cún Con mười sáu mười bẩy chi đó. Cún Con đã lấy chồng, đã có con. Chồng Cún Con là một chú ở trong tuổi quân dịch nên phải đi lính. Chú có nghề sửa xe hơi gia truyền nên được phục vụ trong xưởng sửa chữa quân xa, cũng nhàn và yên chữ thọ, tối tối vẫn được về nhà ngủ với vợ con. Nhưng vì là lính binh nhì, chú rách. Vợ chú, là em Cún Con, tất nhiên cũng rách. Trong khi Cún Nhớn tiền bạc phây phây, ăn diện như ca sĩ ăn khách thì Cún Con rách như tổ đỉa, vẫn ẵm con về nhà xin tiền mẹ. Tôi gặp Cún Con với đứa con trai bệu nhệch, mũi rãi dài hơn người, trông nàng xanh xao, cằn cỗi, rõ ra là già trước tuổi. “Nàng”, Cún Con, vẫn còn nhớ tôi – năm xưa, những lần nằm hít với bố “nàng”, sai nàng chạy đi mua tờ báo, mua thuốc lá, tôi vẫn thỉnh thoảng cho “nàng” vài đồng tiền lẻ – nàng vẫn chào tôi: “Lậy ông ạ…” nhưng tôi thì không còn có dịp nằm khểnh bên bàn đọi của ông bố nàng, bảo nàng: “Ði mua cho cậu gói Lucky” như năm xưa nữa.

Một hôm, tôi tới cửa nhà Lý Hít thì gặp Cún Nhớn. Nàng  đang trả tiền xe taxi. Ðây là lần đầu tiên sau ba, bốn năm xa cách tôi gặp lại nàng. Nhìn nàng, tôi nhận ra nàng ngay nhưng nếu nàng không nhìn ra tôi, tôi không lấy gì làm ngạc nhiên. Tôi định khóa cổ xong chiếc xe Vespa cọc cạch là tôi đi vào nhà, lên lầu với ông già nàng, không đứng đó chờ đợi nàng chào. Nhưng nàng nhìn ra tôi ngay, nàng mỉm cười với tôi và nàng đi đến bên tôi:

- … Lâu lắm không thấy anh đến chơi với ba em…

Nàng hỏi tôi trước và như một thằng chưa từng được đàn bà đẹp hỏi tới bao giờ, tôi bỗng dưng đi một đường cảm động. Tôi lí nhí nói mấy câu… bận đi làm ăn xa, không đến vì khu này đổi khác, không nhìn ra nhà cũ v.v… Nàng bận áo dài hàng Suara, đeo đồng hồ Longines, lắc vàng tây, đi giầy cao gót da nâu,  sắc tay da cũng nâu. Thật nhã. Trông nàng khác hẳn những chị Ðiếm Mẽo ăn bận lố lăng, sặc sỡ, tự tố cáo nghề làm điếm với người ngoại quốc nhan nhản trong các đường phố Sài Gòn hôm nay. Nàng đỏ da, thắm thịt đẫy đà, đài các như mệnh phu phu nhân. Tôi tưởng tượng đến những sợi lông tơ tôi thoáng thấy trên cánh tay nàng năm xưa, năm nay chắc là…

- Anh qua đây uống nước với em đi…

Gần ngay chỗ chúng tôi đứng có một tiệm cà-phê. Nàng đề nghị và tôi nhận lời. Lát nữa, tôi lên nằm nhờ bàn đọi của Lý Hít cũng chưa muộn, bây giờ tôi hãy ngồi uống tí nước còm với Cún Nhớn cái đã. Nàng hỏi tôi về chuyện làm ăn, viết lách của tôi:

- Bây giờ anh làm báo nào? Sao anh không về làm lại với bà Bút Trà? Anh có xuất bản được cuốn tiểu thuyết nào hay không? Quyển Vũ Nữ Sài Gòn của anh còn không? Sao em không thấy  bán ở tiệm sách? Con quyển Tây Ðực, Tây Cái của anh? Em vẫn theo dõi các truyện của anh… Hồi anh đăng báo tìm chị ấy em định tìm anh để hỏi thăm nhưng không biết anh ở đâu… Ba em vẫn nhắc đến anh luôn… Có sẵn cuốn truyện nào hay của anh, hôm nào tiện anh cầm đến cho em. Anh cứ gửi ba em, thỉnh thoảng em về lấy.

Nàng hỏi tôi:

- Bây giờ anh vẫn hút Lắc-ky? Anh có còn thích chơi bật lửa không? Pê Ích chỉ có Zíp-pô, không có Rông-sông, để hôm nào có người đi em gửi mua ở Hong Kong cho anh vài cái… Anh có thích hút Sê-Vơn Ty Nai không? Anh có cần mua gì trong Pê Ích không?”

Và nàng buồn rầu:

- Có lẽ cuối năm nay em phải về Hoa Kỳ… Em không muốn đi tí nào… Thầy mẹ em nhiều tuổi rồi. Con Cún em của em thì nó khờ quá. Nhưng em không đi không được!

Và nàng than thở:

- Ðời em buồn lắm. Thấy em thế này, chắc anh tưởng em sướng lắm, nhưng sự thực em không sướng đâu anh ạ. Em có nhiều nỗi khổ tâm… Nếu em viết được tiểu thuyết, em viết đời em thành truyện… Ðể hôm nào rỗi, em ngồi lâu với anh, em kể cho anh nghe. Anh sẽ thấy là em không được sung sướng, em khổ lắm…!

Vân vân và vân vân. Tâm sự của nàng làm tôi buồn lây. Năm xưa, khi nàng mới lớn, tôi đã không dám đụng đến làn lông tơ trên cánh tay nàng, thì bi giờ, sau khi những người bạn Mẽo mở đường như mở xa lộ, tôi lại càng không dám đụng đến nàng. Cuộc đời của mỗi người con gái, dù tầm thường nhất, cũng có thể viết thành một tiểu thuyết tình lâm ly, bi đát, nhưng vì ngày xưa đã có ông Nhất Linh – hay ông Khái Hưng, hay ông Thạch Lam – tôi không nhớ đúng ông nào – đã viết một truyện ngắn kể chuyện hai chị em một nhà nghèo miền quê Bắc Kỳ, cô chị bỏ làng lên thành phố làm gái nhẩy, cô em vẫn sống ở nơi bùn lầy, nước đọng. Một hôm, cô chị ăn bận sang đẹp, đi ô tô của tình nhân qua đường nên ghé vào thăm làng, thấy cô em  mắt toét, váy đụp. Hai chị em khác hẳn nhau. Dường như tác giả muốn cho người đọc thấy cô chị bỏ ra thành phố  chưa chắc đã là xấu, là sai, người em ở lại làng quê như vậy chưa chắc đã là hay, là nên. Nên bây giờ, tôi không còn hứng để viết về cuộc đời của Cún Nhớn, Cún Con.

Một hôm tôi được ngồi trên trực thăng bay trên căn cứ quân sự Cam Ranh. Vùng biển Cam Ranh đối diện với Quận Ba Ngòi trướ đây vài năm xơ xác, nghèo nàn, chỉ có biển xanh và cát trắng ấy nay trở thành một căn cứ quân sự hiện đại, lớn nhất Ðông Nam Á Châu. Trên bến, dưới thuyền, đồn trại, phi trường, phi cơ phản lực lên xuống rộn rịp. Ông bạn cùng ngồi trên trực thăng với tôi cay đắng và ngậm ngùi:

- Cam Ranh là đất Trời dành cho dân Việt… Ông cha phải đổ bao nhiêu xương máu mới giành được vụng biển này để cho con cháu. Nhưng con cháu các cụ hèn mạt, bất tài, có của không biết hưởng… Ðể cho cái thằng nó ở tận đâu đâu nó tới nó khai thác, nó ở… Ðau thật…!

Cảm khái của ông bạn tôi không đúng hẳn mà cũng không sai hẳn. Cam Ranh quả có đẹp, có quí nhưng nếu không tiền nhiều, của lắm, không có  phương tiện như người Hoa Kỳ, không nước nào có thể biến Cam Ranh thành hải cảng quốc tế được, kể cả người Nhật. Vì nó lớn quá. Người Hoa Kỳ đến Cam Ranh, biến vùng ven biển chỉ có núi và cát lèo tèo một xóm nhà ngư dân, trở thành căn cứ lớn này đã phải đổ vào đó biết bao nhiêu tiền, bao nhiêu nhân lực, vật lực. Họ mang tới đây đủ mọi thứ, kể cả những cây cột điện thoại cũng là cây mang sang từ Hoa Kỳ. Họ chỉ dùng đất của ta, họ chỉ thở hít khí trời của ta. Nếu cần, rất có thể họ mang cả khí trời Mỹ của họ sang đây họ dùng. Dân ta nghèo, lại chiến tranh liên miên, dù có anh dũng, có giỏi giang đến mấy cũng không đủ lực bạt núi, lấp sông biến Cam Ranh thành hải cảng lớn.

Em Cún Nhớn con gái anh Lý Hít, trước mắt tôi, là một hải cảng Cam Ranh nhỏ. Chỉ cóù những anh Jim, anh Mac, anh Joe… sẵn tiền, sẵn của mới có thể làm cho em trở thành tươi tốt như em ngày nay. Nếu em lấy một anh Mít làm nghề chạy xe tắc xi hay xe lam, làm không đủ ăn, em Cún Nhớn hôm nay cũng bệu nhệch như em Cún Con, em cũng xanh xao, nhẽo, thõng, hôi mùi quần áo cũ giặt thiếu sà-bông, chua mùi mồ hôi, mùi mũi rãi con nít như em Cún Con… Sức mấy mà em thơm, sức mấy mà em làm tôi tiếc…!

o O o

* Kính thưa quí vị độc giả,

Tôi viết CÚN NHỚN, CÚN CON ở Sài Gòn, để đăng trên  Báo Xuân Năm Tuất 1970. Ðã 45 năm qua đời tôi kể từ ngày ấy. Sau cuộc biển dâu bẩy  nổi, chín chìm, mười mấy cái lênh đênh, mới đây tôi tìm lại được truyện CÚN NHỚN, CÚN CON. Tôi đăng lại truyện xưa với niềm cảm khái.

Kính chúc quí vị Năm Mới Yên Vui.

Rừng Phong Tháng Giêng 2014.

MANG XUỐNG TUYỀN ĐÀI

tuyendai

Những người con của các Thi sĩ, Văn sĩ thường ít có – ít đến có thể nói là không có – người nào thừa hưởng thiên tài của ông bố. Văn giới Việt Nam như thế mà văn giới quốc tế cũng như thế. Những ông con của các Thi hào Nguyễn Du, Tản Ðà, Tú Xương, Balzac, Stendhal, Anatole France .. đều không ông nào làm thơ, viết văn. Tôi chỉ thấy có một ông người Pháp: ông Alexandre Dumas Con viết tiểu thuyết như ông thân của ông là Văn sĩ Alexandre Dumas Bố.

Tôi mời quí vị đọc bài viết về tiểu thuyết La Dame aux Camélias của Văn Sĩ Alexandre Dumas Fils. Truyện viết về cuộc tình của một công tử quí tộc với một nàng hoa khôi hương phấn phong tình ở Paris những năm cuối thế kỷ 19. Chàng và nàng yêu nhau thắm thiết, nhưng ông thân của chàng tìm đến, xin nàng vì hạnh phúc của chàng mà tự rút lui ra khỏi đời chàng. Ông nói lấy nàng làm vợ, chàng sẽ khổ. Nàng bị ông già quí tộc thuyết phục. Không biết cuộc tình của chàng bị đứt đoạn vì thân phụ của chàng can thiệp, chàng thù hận nàng. Nàng đau yếu và chết trong cô đơn, trong tiếc hận và tủi hận.

Năm 1950 tôi đoc La Dame aux Camélias lần thứ nhất ở Hà Nội. Nhiều đoạn của Truyện Tình này làm tôi ưá nước mắt.

Dưới đây là đoạn Công tử Armand gặp Nàng Marguerite lần đầu. Truyện phóng tác, chuyện xẩy ra ở Paris nhưng nhân vật mang tên Việt Nam.

La Dame aux Camélias. Trích:

Phòng chỉ có một ngọn nến le lói đặt trên cái bàn nhỏ. Quỳnh Lan nằm trên ghế dài, một tay để trên ngực, tôi đi nhẹ đến ngồi bên nàng, cầm bàn tay nàng.

– Anh Chương đấy à?

Nàng hỏi tôi với nụ cười. Lúc ấy dường như mặt tôi có những nét đau làm nàng phải hỏi:

– Anh làm sao? Anh cũng đau như Quỳnh ư?

– Không. Tôi đau vì Quỳnh đau. Còn tức ngực lắm không?

– Ðỡ rồi. Cám ơn anh — Nàng đưa bàn tay cầm khăn lên chùi nhẹ hai bên mắt, một bàn tay nàng vẫn nằm trong bàn tay tôi — Quỳnh quen với những cơn đau này rồi.

Nàng ngồi lên, sửa lại mái tóc, đứng dậy, đi đến soi gương:

– Trông Quỳnh dễ sợ quá. Anh không nên gần Quỳnh những lúc này. Anh thấy chứ? Người ta chỉ gần Quỳnh những lúc Quỳnh khỏe mạnh, vui vẻ thôi. Chúng mình ra uống tiếp đi.

Tôi ngồi yên. Nàng quay lại nhìn tôi. Nàng cảm động khi thấy tôi lo buồn vì tình trạng của nàng. Nàng đi trở lại chỗ tôi ngồi, đưa bàn tay cho tôi:

– Ði với Quỳnh.

Tôi cầm bàn tay nàng đưa lên môi hôn. Nàng thấy rõ hơn cơn xúc động và nỗi sợ của tôi, nàng nhìn thấy nước mắt ứa ra trong mắt tôi:

– Sao vậy? — Nàng ngồi xuống bên tôi, bàn tay nàng vẫn nằm trong bàn tay tôi — Tại sao Chương khóc?

– Có thể Quỳnh không tin tôi — Tôi nghẹn lời  – Tôi đau khi thấy Quỳnh đau.

– Anh tốt với Quỳnh quá — Nàng nói, giọng nàng cũng nghẹn ngào — Biết làm sao? Quỳnh cũng cần vui, Quỳnh cũng cần có bạn, mà muốn vui với  bạn thì phải cười, phải nói. Chắc Quỳnh không sống được lâu đâu. Ðành vậy thôi.

Không thể ngừng được tôi nồng nàn:

– Có thể Quỳnh không tin tôi nhưng tôi cứ phải nói: tôi rất trọng sinh mạng của Quỳnh. Tôi mong Quỳnh giữ dìn sức khỏe, lo chữa bệnh. Bệnh của Quỳnh không phải là không thể chữa được. Quỳnh đừng làm cho bệnh nặng thêm bằng lối sống buông thả như thế này..

Nàng nhìn tôi đăm đăm:

– Biết làm sao được? Chương quên em…làm gì để sống sao?

Tôi xúc động hơn khi nghe tiếng nàng xưng “em” với tôi, tiếng “em” đầu tiên tôi nghe nàng nói.

– Em phải sống như em vẫn sống — Nàng buồn sầu nói tiếp — Nếu em là một người vợ như những bà vợ trên đời, nếu em có chồng, có con, em cũng biết lo giữ dìn sức khỏe của em, giữ dìn cho chồng con em. Nhưng.. như anh thấy.. Em giữ dìn cho ai? Em càng chết trẻ càng tốt.

– Ðừng nói thế — Tôi năn nỉ nàng — Tôi xin Quỳnh ngừng sống như thế này một thời gian. Tôi muốn được săn sóc Quỳnh mỗi ngày. Chúng ta đi xa thủ đô một thời gian đûể em sống lành mạnh và tĩnh dưỡng. Bao giờ em mạnh lại, em lại trở về thủ đô.

Giọng nói chân thành của tôi làm nàng cảm động:

– Em cám ơn anh đã có lòng lo cho em. Nhưng đêm nay anh buồn, đôi khi rượu làm ta buồn, anh buồn nên anh nói thế. Sáng mai tỉnh rượu anh sẽ nghĩ khác. Dù sao em cũng cám ơn anh, anh làm tim em ấm lại..

Nàng ghé môi hôn lên môi tôi. Nụ hôn thứ nhất của chúng tôi. Tôi vừa đau thương vừa sung sướng, nên tôi lặng người, môi tôi đón nhận môi nàng nhưng không hôn lại môi nàng.

– Tôi nói thật mà. Em đừng đùa.

– Em có đùa đâu — Nàng nghiêm trọng nói — Anh hứa anh sẽ săn sóc em?

– Tôi hứa.

– Mỗi ngày?

– Mỗi ngày, mỗi giờ.

– Suốt đêm?

– Suốt đêm. Không phút nào xa em nếu em bằng lòng.

– Tại sao anh lại tự ý làm với em những việc đó?

Tôi ngẩn ngơ:

– Tại vì..tôi muốn em khỏe mạnh.

– Chương yêu em. Sao Chương không nói là Chương yêu em?

Ánh mắt nàng long lanh khi nàng nói câu đó. Tôi chắc tình yêu của tôi, cùng thái độ vụng dại nhưng chân thành của tôi làm nàng xúc động. Nhưng trong xúc động nàng vẫn không quên thân phận cùng nghề nghiệp hương phấn của nàng. Chúng tôi ngồi lặng nhìn nhau trong một lúc, nàng để yên cho tôi nắm bàn tay nàng, chúng tôi tìm đọc những tình ý trong mắt nhau. Lúc ấy tôi quên hết cuộc đời, với tôi lúc ấy cuộc sống chỉ có ở bên nàng, tôi chỉ sống để nghe nàng nói.

Cơn xúc động qua đi, nàng nói sau tiếng thở nhẹ:

– Chương đừng nói với em những lời như thế thì hơn.

– Sao lại không, sao lại hơn? Sao em lại không muốn tôi nói?

– Tại vì…sẽ có hai chuyện xẩy ra. Một là em từ chối tình yêu của Chương, Chương sẽ đau, Chương sẽ thù ghét em, Chương sẽ không đến với em nữa. Một là em nhận để Chương yêu em, Chươngsẽ có một người tình không xứng đáng với Chương.

Nàng xiết nhẹ bàn tay tôi, như muốn tôi tin là nàng nói phải:

– Thật mà. Em không đùa với Chương đâu. Chương nghĩ lại đi. Nếu Chương yêu em, Chương sẽ khổ. Khổ lắm, không phải khổ vừa đâu, vì Chương yêu em thật tình. Em là gái phong tình. Ðã có nhiều đàn ông trong đời em, còn Chương, không cần Chương nói, em biết Chương chưa yêu ai. Em chỉ có thể để cho những ông già có tiền gần em. Em không nói những người ấy yêu em, họ muốn em vì nhan sắc của em, em không yêu thương gì họ, họ dâng tiền cho em tiêu, em để cho họ gần em khi họ còn tiền.

Nàng lắc lắc bàn tay tôi như để làm cho tôi tỉnh cơn mê mộng:

– Còn Chương… Không được đâu. Không được là không được. Chương có bao nhiêu tiền mà tính chuyện bao em? Em quen sống đời phong tình của em rồi. Em quen tiêu tiền như em đổ nước. Em sẽ làm Chương nghèo rớt trong thời gian ngắn nhất. Khi đó Chương sẽ hạân em vì Chương đã yêu em. Em không muốn người tốt như Chương thù hận em, em cũng không muốn người tốt như Chương phải khổ vì em. Lại còn gia đình của Chương nữa chứ. Chương quên sao? Gia đình Chương sẽ không bằng lòng cho Chương sống với người như em. Hãy là bạn của em, là người bạn tốt mà em rất cần, em rất quí. Ðến thăm em, vui với em những lúc em vui, an ủi em những lúc em buồn. Nhưng chỉ thế thôi. Anh còn quá trẻ để yêu người như em..

Ngưng trích.

Marguerite Quỳnh Lan nói như vậy nhưng nàng không cưỡng lại được Tình Yêu, nàng cũng yêu chàng. Hai người bỏ Paris đến sống ở vùng đồi núi Phương Lâm. Ông thân của chàng hẹn chàng về Paris gặp ông. Ngày chàng về Paris là ngày ông đến nhà chàng, gặp nàng, ông xin nàng ra khỏi cuộc đời chàng. Nàng xúc động, nàng làm theo lời ông, nàng bỏ chàng.

Ðây là đọan Hồng Chương kể khi chàng về Paris gặp ông thân của chàng.

La Dame aux Camélias. Trích:

Buổi chiều trời trong xanh, gió mát. Nắng cuối thu hanh vàng. Ba tôi đi với tôi đến nhà ga. Cuộc đời thật đẹp. Chưa bao giờ tôi thấy tôi yêu thương và mang ơn Ba tôi đến thế. Trên sân ga Ba tôi còn ngỏ ý muốn tôi ở lại:

– Ba còn nhiều chuyện muốn nói với con. Phải chi tối nay cha con mình gần nhau thì hay quá.

Tôi nắm bàn tay Ba tôi:

– Con xin Ba. Ba cho con ngày mốt con sẽ về gặp Ba, ngày mốt con xin ở gần Ba cả ngày, cả đêm.

Ba tôi chợt hỏi:

– Con yêu nó đến thế kia ư?

Tôi nghẹn lời:

– Vâng. Thưa Ba, con yêu nàng lắm.

Ba tôi nhìn tôi. Tôi mơ hồ cảm thấy lúc ấy hình như ông muốn nói gì với tôi, nhưng ông lại không nói. Ông chỉ nhìn tôi, đôi mắt ông có những ánh như thương hại, như ân hận, ông nắm chặt bàn tay tôi rồi ông quay đi.

Ngừng trích.

Chàng thù hận nàng, chàng trả thù nàng bằng cách bỏ tiền ra bao những cô gái phong tình thượng lưu khác. Nàng đau vì bị chàng cố tình làm cho mất mặt. Một đêm, nàng đến với chàng:

La Dame aux Camélias. Trích:

Chín giờ tối. Chuông kêu ở cửa. Nàng đến. Khi mở cửa tôi xúc động đến nỗi tôi phải vịn tay vào tường để khỏi bị ngã.

Quỳnh Lan hiện ra trước mặt tôi.

Nàng bận toàn y phục đen, nàng đội mũ, mang mạng che mặt. Nhưng tôi vẫn nhìn rõ khuôn mặt nàng sau lần đăng-ten,

Ði vào phòng khách, nàng nhấc tấm mạng che mặt lên. Mặt nàng trắng như đá.

– Chương, em đây. Chương muốn em đến, em đến.

Ðưa hai bàn tay lên ôm mặt, nàng khóc.

Tôi đến gần nàng.

– Quỳnh Lan, em làm sao?

Tôi run giọng hỏi nàng.

Không trả lời, nàng chỉ nắm bàn tay tôi, nước mắt làm nàng nghẹn lời. Tôi dìu nàng ngồi xuống ghế, cái ghế nàng đã ngồi lần trước nàng đến đây, khi chúng tôi mới yêu nhau.

Tôi lại quì bên ghế, dưới chân nàng.

Khi nói được, nàng nói:

– Chương làm em khổ lắm, mà em, em không làm gì Chương cả.

Cay đắng tôi cười như mếu:

– Không làm gì cả ư?

– Em không làm gì cả ngoài những việc em bắt buộc phải làm.

Tôi không biết những người yêu khác khi gặp lại người đàn bà mình yêu mà không được chung sống có những cảm giác ra sao, tôi chỉ biết là tôi muốn vỡ tim, đứt ruột khi tôi quì gối bên ghế người tôi yêu dấu.

Nàng đã đến ngồi trên cái ghế này một lần. Sau lần ấy nàng và tôi yêu nhau, thắm thiết, nồng nàn, yêu có thể chết vì nhau. Rồi nàng đột ngột bỏ tôi, nàng trở lại cuộc sống cũ của nàng; đôi má này, làn môi này tôi đã hôn, sau tôi có những người đàn ông khác đã hôn làn môi này, đôi má này; biết vậy nhưng lúc ấy tôi vẫn yêu nàng như chưa bao giờ tôi yêu nàng đến thế.

Tối nay nàng đến, tôi khó có thể nói lên được nỗi lòng tôi, tôi không biết nàng đến để làm gì. Như biết tôi nghĩ thế nàng nói:

– Em đến làm phiền Chương. Em xin anh tha cho em, anh đừng hành hạ em nữa. Em đã khổ nhiều từ ngày em xa anh. Không có gì đáng để anh hành hạ một người đàn bà tội nghiệp như em. Anh cầm tay em xem. Anh thấy tay em nóng không? Em đang sốt, em cũng phải đến để xin anh tha cho em. Chương ơi.. Ðừng thù em nữa,  hãy coi em như nguời dưng. Em biết em đã làm anh khổ, nhưng chắc anh cũng thấy, em cũng khổ lắm..

Bàn tay nàng nóng ran nhưng người nàng lại lạnh ngắt. Nàng run lên trong làn áo nỉ. Tôi đẩy ghế nàng ngồi đến gần lò sưởi hơn. Tôi cũng nói không ra lời:

– Sao em bỏ anh? Anh yêu em quá..

– Em van anh – Nàng kêu lên – Mình đừng nói chuyện mình yêu nhau nữa. Em đến gặp anh không phải để nói chuyện hai đứa mình yêu thương nhau. Em đến để xin anh đừng hận em nữa. Em cũng muốn được gặp lại anh, em muốn được nghe tiếng anh nói, được anh..cầm tay em. Anh trẻ, anh có tương lai, anh có đàn bà đẹp yêu anh, anh hãy sống sung sướng và quên em đi.

– Còn em, em đã quên anh, em đã quên mối tình của chúng ta để sống sung sướng?

 – Chương nhìn mặt em xem em có phải là người sung sướng không..? Nếu em quên anh, đêm nay em đến với anh làm gì?

– Nhưng tại sao..?.. Tại sao em lại bỏ anh? Tại sao chúng ta lại đau khổ? Chúng ta yêu nhau mà?

– Có chuyện xẩy ra mà em không cưỡng được.. Em đã nói em bị bắt buộc phải làm thế. Tại sao em làm thế.. có ngày anh sẽ biết, ngày ấy anh sẽ thương em..

– Chuyện gì? Tại sao em không nói ngay bây giờ?

– Em không nói được.

– Em không nói được là em nói dối. Em sợ sống với anh em khổ, anh không đủ tiền cung phụng em. Em bỏ anh chỉ vì anh không có tiền..

- Thôi. Anh nghĩ thế cũng được.

Gượng đứng lên nàng đi ra cửa.

Tôi thấy nàng đau đớn, nỗi đau tinh thần mà rõ như nỗi đau thể xác. Tôi chặn nàng trên đường nàng đi.

– Em không đi được.

– Tại sao Chương không cho em đi?

- Tại vì dù em làm anh đau, anh vẫn yêu em, anh muốn giữ em lại bên anh, anh muốn em sống với anh..

Nàng muốn ngã xuống. Tôi ôm nàng, nàng ngả mặt vào ngực tôi. Mùi hương từ tóc nàng, từ da thịt nàng, làm tôi ngây ngất. Bao lâu rồi tôi vẫn thèm khát được hít thở mùi thơm này. Nàng thổn thức:

– Muộn quá rồi Chương ơi. Không còn được nữa. Ðường đời chúng ta đã chia ra hai ngả, em không sao có thể có được diễm phúc làm vợ anh trong kiếp này. Bây giờ.. Phải xa anh em mới tin ở luân hồi. Kiếp sau may ra em sẽ được..

Nghẹn lời, nàng dừng lại. Chúng tôi im lặng ôm nhau trong một lúc. Rồi  nàng cố gắng nói tiếp:

– Chương ơi. .Chúng ta không nên tìm cách nối lại yêu thương nữa. Nối lại, một mai anh sẽ thù ghét em còn hơn bây giờ, anh sẽ oán hận em còn hơn bây giờ. Rồi anh sẽ khinh em trong khi em xa anh bây giờ anh chỉ thù em thôi.

- Không..

Tôi kêu lên:

– Em nói gì anh cũng không nghe.. Quỳnh Lan.. Anh chỉ biết anh yêu em thôi. Anh không chịu để em xa anh nữa. Chúng ta lại sống với nhau. Chúng ta lại sống sung sướng bên nhau như chúng ta từng sống.. Chúng ta cứ yêu nhau như thế mãi..

Nàng ngước mặt lên nhìn tôi, đôi má nàng chan hòa nước mắt:

– Em cũng yêu anh lắm. Em là con nô lệ của anh. Yêu em đi, Chương muốn làm gì em cũng được.

Nàng cởi mũ, cởi áo ngoài, bỏ lên trường kỷ. Dường như cơn xúc động làm nàng khó thở, mặt nàng đỏ hồng lên, nàng khúc khắc ho vài tiếng:

– Anh bảo người nhà em cho xe về đi.

Tôi xuống đường bảo người đánh xe ngựa của nàng cho xe về.

Khi tôi trở lên nhà, Quỳnh Lan nằm ngay trên thảm trước lò sưởi. Nàng run lên vì lạnh.

Tôi bồng nàng vào giường, nàng không làm một cử động trong lúc tôi cởi y phục cho nàng. Tôi đắp mền cho nàng. Tôi nằm ôm nàng, tôi làm cho nàng ấm bằng hơi ấm của thân mình tôi, bằng những nụ hôn yêu thương, những vuốt ve trìu mến. Nàng không nói gì, nàng chỉ nhìn tôi, làn môi mỉm cười sung sướng.

Ôi..! Một đêm kỳ diệu. Tất cả tình yêu của Quỳnh Lan như truyền hết vào những môi hôn nàng hôn tôi, tôi yêu nàng đến nỗi trong lúc yêu nàng tôi muốn giết nàng, tôi muốn ôm xiết nàng cho nàng tắt thở, để nàng mãi mãi là của riêng của tôi. Nếu lúc ấy tôi xiết cổ nàng, chắc nàng sung sướng để cho tôi giết nàng.

Chỉ ba đêm yêu nhau như đêm ấy chúng tôi yêu nhau thân thể người ta chỉ còn là cái xác không sức sống.

Buổi sáng đến chúng tôi vẫn nằm ôm nhau.

Quỳnh Lan xanh sao. Nàng không nói một lời. Những giọt nước mắt chẩy trên đôi má nàng, những giọt lệ long lanh như kim cương. Ðôi vòng tay kiệt lực của nàng cố gắng ôm chặt tôi.

Trong một lúc, tôi quên tất cả mọi chuyện đã xẩy ra, tôi nói với nàng:

– Chúng mình đi em nhé? Chúng mình đi ngay sáng nay, đi thật xa.

– Không..  Ðừng..

Nàng sợ hãi:

– Sống với nhau mình sẽ khổ lắm. Em không có thể đem lại hạnh phúc cho anh, nhưng em còn sống ngày nào, em còn yêu anh ngày ấy, em sẽ là con nô lệ của anh. Bất cứ giờ nào, nửa đêm, sáng sớm, anh cần em, anh cứ đến với em. Anh cứ cho gọi em. Em sẽ là của anh, anh muốn làm gì em cũng được. Nhưng đừng bắt đời em phải gắn liền với đời anh. Sống vợ chồng với nhau anh sẽ khổ, anh sẽ làm em khổ.

Nàng hôn tôi:

– Nhan sắc em còn vài năm nữa thôi. Hưởng em đi, đừng đòi hỏi gì hơn ở em.

Nàng vừa đi khỏi tôi thấy cuộc đời tôi trống vắng mông mênh. Tôi kinh hãi trước sự trống vắng nàng để lại. Nàng đi rồi mấy tiếng đồng hồ sau tôi như người mất hồn. Tôi ngồi ngây bên giường, nhìn chiếc gối nàng ngả đầu, nhìn trên nệm giường còn dấu thân mình nàng, ngửi mùi hương và mùi tóc, mùi da thịt của nàng. Tôi tự hỏi tôi sẽ sống ra sao khi tôi vẫn yêu thương nàng nồng nàn mà nàng chỉ coi tôi như là một người đàn ông thèm muốn xác thịt của nàng, nàng cho tôi yêu nàng nhưng nàng vẫn ăn nằm với người đàn ông khác.

Ngưng trích.

Nhật ký của Quỳnh Lan. Trích:

Chương yêu thương của em,

Hôm qua ông Hoàng đến thăm em. Em không biết tại sao một người già lão, ốm yếu, cô đơn như ông mà vẫn cứ phải sống mãi. Ngồi bên giường em ba giờ đồng hồ, ông chỉ nói với em có năm, bẩy câu. Những giòng nước mắt cứ lặng lẽ chẩy trên đôi gò má ông. Người ta nói tuổi già hạt lệ như sương, người già ít còn nước mắt, chắc ông đau khổ lắm nên ông mới khóc như thế. Em biết tại sao ông đau, ông khóc: em làm ông nhớ cô con của ông, chắc những ngày cuối cô con ông cũng nằm chờ chết như em. Cô ấy và em cùng đau phổi. Thấy em sắp chết ông nhớ lại cảnh cô con ông nằm chờ chết. Ông đau khổ, ông khóc. Như ông thấy cô con ông chết hai lần. Ông không nói nửa lời oán trách em về chuyện em đã bỏ ông khi em gặp anh.

Những ngày trời xấu lại đến. Không ai đến thăm em cả. Chỉ có chị Hai và Mỹ Linh săn sóc em. Ngọc Sương cũng kiếm cớ bận công việc để tránh phải sang gặp em.

Chương ơi..Em sắp chết. Ông y sĩ của em là người rất lạc quan cũng tỏ ra không còn hy vọng gì cứu sống được em. Em thú thật với Chương chuyện này nhé: Em hối vì em đã nghe lời Ba anh, em hối vì em đã bỏ anh, em tưởng em làm như vậy là đúng, là tốt, nhưng Chương ơi, em đã lầm…

Phải chi ngày ấy em không nghe lời Ba anh! Phải chi chúng ta cứ sống với nhau. Chúng ta yêu nhau, tại sao chúng ta lại không sống với nhau? Chúng mình cứ sống với nhau một năm, hai năm, ba năm, đến khi Chương chán em, Chương bỏ em. Có sao đâu! Làm vợ Chương được vài năm, dù Chương có hận em, có thù ghét em, em cũng chịu, em cũng sung sướng hơn là em yêu Chương mà em không được sống trọn một năm với Chương.

Nếu em được sống với Chương một năm, một năm thôi, ở Phương Lâm, chắc em không đến nỗi phải chết sớm như thế này.

Ngày 5 Tháng Hai

Chương ơi..! Ðến với em. Em đau quá, em sắp chết. Hôm qua, em trở về thăm lại căn nhà chúng ta đã sống với nhau những ngày thần tiên ở Phương Lâm. Mỹ Linh và chị Hai không chịu cho em đi, em nói:

– Không đi tôi cũng sắp chết. Làm ơn đưa tôi đi.

Mỹ Linh đưa em đến Phương Lâm. Hình ảnh Chương trở về với em khi em nhìn thấy căn nhà bên suối của chúng ta. Em ngất đi. Mỹ Linh đưa em trở về nhà.

Em mệt quá, em không viết được nữa…

Chương ơi.. Em yêu anh..!

o O o

Nhật Ký của Quỳnh Lan ngừng ở hàng chữ “ ..Em yêu anh..!”

Tôi – Công Tử Hà Ðông –  không có duyên với La Dame aux Camélias. Trong gần hai mươi năm tôi viết tiểu thuyết phóng tác ở Sài Gòn – từ 1956 đến 1975 – tôi đã không phóng tác La Dame aux Camélias, dù tôi vẫn biết truyện nếu được phóng tác, sẽ rất ăn khách, sẽ có nhiều người đọc. Và tôi phóng tác La Dame aux Camelias ra truyện Việt dễ thôi. Phóng tác là nghề của tôi. Những năm 60 tôi đang thời phong độ, tôi muốn phóng tác truyện nào cũng được. Nhung như đã nói tôi không có duyên với Nàng Marguerite, với La Dame aux Camelias.

Người đọc loại tiểu thuyết phơi-ơ-tông – tiểu thuyết đăng từng kỳ trên những nhật báo, tuần báo – đa số là phụ nữ. Ðôc giả phụ nữ không thích đọc những truyện du đãng, côn đồ đâm chém, bắn giết, người chết; các cô, các bà thích đọc những tiểu thuyết tình cảm trong đó nhân vật chính là những thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, chung thủy, đa tình, những nàng nghèo tiền nhưng không nghèo tình, những nàng kiều nữ gặp những chuyện không may trong cuộc đời nhưng rồi cuối cùng, sau ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh, cũng gặp được Tình Yêu. Tình Yêêu viết hoa cả năm chữ.

Tôi đọc La Dame aux Camélias năm tôi mười tám tuổi, năm 1950 tôi vừa từ vùng kháng chiến Bắc Ninh-Bắc Giang trở về Hà Nội. Năm xưa ấy vốn liếng tiếng Phú-lang-sa của tôi đựng không đầy nửa cái lá mít, tức không được bao nhiêu, tôi đọc tiểu thuyết Pháp mà không hiểu hết, tơi phải đoán nghĩa. Vậy mà năm xưa ấy tôi đã xúc động đến ứa nước mắt vì cuộc tình đẹp quá mà dang dở của đôi người yêu nhau trong truyện.

Thế rồi.. những ngày như lá, tháng như mây.. Mải mê sống và viết, và yêu thương, và sung sướng, và khổ sở, và thấy mình được sung sướng, ở Sài Gòn, trong những năm thanh xuân của đời tôi đôi khi tôi có nghĩ đến chuyện phóng tác La Dame aux Camélias. tôi vẫn tự hứa sẽ có ngày tôi phóng tác La Dame aux Camélias, nhưng tôi đã không làm việc ấy, một việc làm quá dễ với tôi năm xưa.

Nhiều khi tôi vẫn nghĩ sẽ có ngày tôi viết một bài “Viết ở Rừng Phong” về chuyện sau khi được yêu Marguerite, đúng hơn là được Marguerite cho yêu nàng, đêm sau Armand trở lại nhà Marguerite để thấy Marguerite “tiếp khách”, chàng viết cho nàng bức thư trong có câu:

“Adieu, ma chère Marguerite; je ne suis ni assez riche pour vous aimer comme je le voudrais, ni assez pauvre pour vous aimer comme vous le voudriez..”

Văn Việt phóng tác của Hoàng Hải Thủy:

“Vĩnh biệt, Marguerite.., anh không đủ giầu để yêu em như anh muốn, anh  không đủ nghèo để yêu em như em muốn..”

Tôi vẫn nghĩ về câu trên: Tại sao lại đem chuyện giầu, nghèo, tiền bạc vào trong Tình Yêu? Lẽ ra Armand phải nói như thế này:

– Em yêu.. Anh không yêu em đủ để yêu em như em muốn, em  không yêu anh đủ để cho anh yêu em như anh muốn..

Tiền bạc bao giờ cũng thù nghịch với Tình Yêu. Tiền bạc thường giết chết Tình Yêu. Trong cuộc chiến giữa Tiền và Tình, gần như trận nào Tiền cũng thắng. Nhưng trong Cuộc Tình La Dame auxCamélias Tình đã thắng Tiền. Marguerite yêu Armand vì Yêu, khơng phải vì Tiền.

Chậm đến ba mươi năm, sau cùng năm 2002, liêu lạc xứ người – Kỳ Hoa Đất Trích – trở lại với việc phóng tác tiểu thuyết sau hai mươi năm bị bắt buộc phải ngừng làm công việc tôi yêu thích nhất ấy, tôi phóng tác La Dame aux Camélias. Kỳ lạ làm sao..! Bẩy Bó tuổi đời mà Trái Tim Bẩy Bó của tôi vẫn mềm như trái tim tôi năm tôi mười tám tuổi. Không phải mềm như mà là mềm hơn. Khi phóng tác La Dame aux Camélias đến đoạn Quỳnh Lan dục Hồng Chương đi về thủ đô để nàng gặp ông thân của chàng, rồi để nàng đi khỏi căn nhà yêu đương của họ ở Phương Lâm, nước mắt tôi cứ ứa ra. Tất nhiên tôi dư biết đó là chuyện xẩy ra trong tiểu thuyết, chuyện không có thật, nhưng tôi vẫn cứ cảm động như đó là chuyện xẩy ra thật. Tôi nghĩ nếu đó là chuyện thật thì Quỳnh Lan đáng thương biết là chừng nào.

Năm nay mái tóc không xanh nữa.. Tôi đã đau thương, đã nợ nần.. Năm nay, với kinh nghiệm của người đã sống gần hết cuộc đời mình với việc viết truyện, khi đọc lại không nhớ là lần thứ mấy và phóng tác La Dame aux Camélias, tôi thấy truyện có hai vấn đề:

– Thứ nhất: khi đã yêu nhau như Quỳnh Lan, Hồng Chương yêu nhau, người ta không thể bỏ nhau dễ dàng như thế. Ðang yêu nồng nàn, tha thiết, Quỳnh Lan bỏ đi, để lại cho Hồng Chưlng lá thư đoạn tuyệt. Và Hồng Chương chịu thua luôn. Tôi thấy không đời nào Hồng Chương lại chịu mất Quỳnh Lan dễ dàng quá đến như thế. Người tình nào yêu như chàng, được yêu như chàng, cũng hành động như sau: chàng thủ khẩu súng, hay con dao nhọn, đến gặp nàng, kề súng vào thái dương nàng, dí dao vào cổ nàng, gằn giọng hỏi nàng:

“Tại sao em bỏ anh? Nói. Tất cả những lý do em viết trong thư đều không đúng. Tại sao em bỏ anh?”

Trong truyện, đang yêu nhau thắm thiết, Marguerite đột ngột bỏ đi, cùng trở về sống ở Paris mà Armand không một lần gặp mặt Marguerite để hỏi nàng về lý do nàng bỏ chàng, để chính tai chàng nghe nàng nói tại sao. Tôi thấy truyện viết như thế là không đúng tâm lý nhân vật. Chuyện thật không đời nào, dù đời xưa hay đời nay, đời sau, lại xẩy ra như thế. Thêm nữa sau đêm nàng đến với chàng, tại sao chàng không giữ nàng lại, tại sao khi họ gặp lại nhau  họ không lại sống với nhau, họ vẫn yêu nhau mà? Bây giờ họ còn yêu thương nhau hơn trước? Bây giờ họ cĩ thể Yêu nhau và Sống với nhau.

Chuyện thứ hai tôi nghĩ khi ông thân của Hồng Chương đến xin Quỳnh Lan nghĩ đến tương lai của con trai ông mà bỏ con trai ông, Quỳnh Lan có thể nói:

– Ông ơi.. Ông lẩm cẩm quá. Tôi không trách ông, ông có yêu bao giờ đâu, ông đâu có biết gì về Tình Yêu. Con trai ông yêu tôi, lấy tôi làm vợ, là phúc cho nhà ông, không yêu tôi con trai ông sẽyêu, sẽ mê em chơi bời khác, con trai ông đâu thoát được tay gái phong tình thủ đô, yêu mê em khác, lấy em khác làm vợ,  con trai ông, cả nhà ông nữa, sẽ khốn khổ, khốn nạn hơn. Còn cái thằng rể nào định lấy con gái ông mà bỏ không lấy con gái ông vì lý do người anh của con gái ông chơi bời, lấy đĩ làm vợ, là thằng cà chớn. Nó lấy con gái ông hay nó lấy con trai ông? Như thế, nó yêu thương gì con gái ông? Nếu nó lấy con gái ông làm vợ nó rồi, con trai ông mới lấy gái chơi bời làm vợ, nó đuổi con gái ông về nhà ông ư? Dẹp chuyện ông đi, ông ơi. Tôi yêu, tôi không bao giờ bỏ người tôi yêu cả, tôi không bỏ người tôi yêu vì bất cứ lý do gì. Con trai ông yêu tôi, ông để cho chúng tôi vợ chồng với nhau thì tốt cho nhà ông, ông làm toáng lên thì không ăn thua gì đâu, chỉ có hại cho nhà ông thôi. Ông ngăn cản chúng tôi yêu nhau, con trai ông sẽ khổ sở lắm đấy, tôi làm phúc nói trước cho ông biết.

Tôi viết giọng điệu rỡn chơi, nhưng sự thực là thế. Thay vì trả lời như thế, và trả lời như thế mới đúng, Quỳnh Lan đã dại dột bỏ Hồng Chương. Cuộc tình đẹp của hai người tan vỡ, Quỳnh Lan chết thảm – yêu như nàng mà mất Tình Yêu là nàng phải chết thôi – chuyện đó chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch, Hồng Chương không chết nhưng sống như người tàn phế. Tàn phế cả thể xác và tinh thần. Cuộc tình đẹp tan vỡ, hai người yêu nhau một chết thảm, một sống như chết. Không bao giờ Hồng Chương còn được gặp Tình Yêu. Chàng sẽ ân hận suốt đời vì chàng sống mà không có Quỳnh Lan, chàng sẽ oán hận ông bố chàng vì ông đã làm chàng mất Quỳnh Lan.

Với tôi La Dame aux Camélias là một truyện tình đẹp. Tôi đã xúc động nhiều khi tôi đọc truyện. Tôi phóng tác La Dame aux Camélias chậm mất bốn mươi năm; lẽ ra tôi phải phóng tác La Dame aux Camélias những năm 1960, khi tôi trẻ – 30 tuổi – lời văn tôi còn nhuyễn, còn mượt, còn tươi, nhưng cuối cùng hôm nay, ở xứ người, tôi đã phóng tác La Dame aux Camélias.

Tôi đặt tên truyện là Mang Xuống Tuyền Ðài.         

Bây giờ là bốn giờ chiều ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, sau trận bão tuyết để lại những thảm tuyết trắng đất, chiều nay nắng vàng như nắng những chiều mùa thu ở Sài Gòn, tôi nhớ lại những đêm sáu mươi năm xưa ở Hà Nội – 18 tuổi — tôi ứa nước mắt khi đọc lần thứ nhất La Dame Aux Camélias, tôi bồi hồi nhớ lại lần thứ hai tôi ưá nước mắt khi tôi đọc La Dame aux Camélias ở Sài Gòn năm tôi ba mươi tuổi.

Năm 2014, Tháng Ba, khi đọc và sửa lại bài này ở Kỳ Hoa Đất Trích  tôi 80 tuổi, lần thứ ba Chuyện Tình Mang Xuống Tuyền Đài – La Dame aux Camelias – làm tôi ứa nước mắt.

Tôi ký tên Hòang Hải Thủy dưới bài viết này.

CON TẦU IM LẶNG

Người Tù Trần Tử Thanh, Đại Úy Quân Lực VNCH, năm 1988 tù cấm cố trong Phòng 10, Khu ED, Nhà Tù Chí Hòa. Trong Phòng 10 ED  năm ấy có người tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát.

Người Tù Trần Tử Thanh, Đại Úy Quân Lực VNCH, năm 1988 tù cấm cố trong Phòng 10, Khu ED, Nhà Tù Chí Hòa. Trong Phòng 10 ED năm ấy có người tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát.

Từ những năm 1942, 1943 tôi đã được đọc nhiều Thơ. Nhờ anh tôi có hoa tay viết chữ đẹp, lại thích sách, anh tôi mượn nhiều tập thơ – cũng chép tay – của các bạn anh, về nhà chép lại, làm thành tập Thơ của anh; nên tôi được đọc nhiều Thơ ngay những năm tôi chưa đầy 15 tuổi. Tôi đọc Thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, tôi được đọc một số bài Thơ của Tố Hữu. Trong số những bài Thơ Tố Hữu tôi đọc trước năm 1945 tới nay – 60 năm sau – tôi còn nhớ những bài Từ ấy, Châu Ro, Ly Rươu Thọ, và bài Quanh Quẩn.

Nhớ nhưng không nhớ được toàn bài, mỗi bài tôi  nhớ vài câu. Năm tháng qua – không phải năm, mười năm mà là năm, sáu mươi năm – những năm 1987, 1988 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hòa dzài dzài trong 5 năm, tôi nhớ một câu trong bài Thơ Quanh Quẩn của Tố Hữu:

Đây con tầu im lặng vượt thời gian.

Tuyệt! Phòng tù là con tầu im lặng vượt thời gian. Không lời nào tả cảnh phòng tù hay hơn và đúng hơn: “Con Tầu Im Lặng.” Tôi thấy câu thơ hay quá. Không biết đó là ý Tố Hữu nghĩ ra hay Tố Hữu lấy ý từ lời một người nào khác. Không gì diễn tả đúng cuộc sống trong tù bằng câu:

“Đây  con tầu im lặng vượt thời gian.”

tothuyyenTháng Hai 2014 tôi viết bài này. Tôi tìm được bài Thơ Quanh Quẩn:

Có ngang dọc mới hiểu buồn quanh quẩn
Khổ vô biên của ngày tháng khô khan.
Ðây con tàu im lặng vượt thời gian
Toa lớn nhỏ quanh năm vừa chật chỗ.
Khách chen chúc trên hai hàng sập gỗ
Một lối đi vừa rộng giữa bờ xai
Những tường cao và những chấn song gài
Chuồng tiêu giữa hai ô phòng nhỏ nhỏ
Giản tiện quá: chơi, nằm, ăn, ỉa đó.
Ðủ ba mùi: vôi, cứt với mồ hôi
Trộn hoà nhau làm nên một thứ mùi
Cay nồng nặc của bọn người khốn nạn
Mà muỗi rệp cũng hè nhau đốt cắn
Mà đến loài chí rận cũng không tha!
Mỗi người đi khi lãnh vé vào toa
Là cảm thấy mình sa vào địa ngục
Nơi phải nuốt chua cay và tủi nhục
Trọc lóc đầu, số áo đã thay tên
Bàn tay trơn còn đâu nữa tự quyền
Còn đâu nữa mênh mông đường hoạt động!
Thân giam cấm như con thuyền bin rộng
Sống loanh quanh trong một vũng ao tù
Ðời lặng thầm không một tiếng vang to
Trăm ý nghĩ không ngoài khuôn chật hẹp
Ngày cứ thế, vươn lên rồi cửa khép:
Nghĩa là trưa; lại m: nghĩa là chiều
Rồi là đêm, cửa khoá. Ngọn đèn treo
Bật cháy sáng. Thì thầm rồi yên tĩnh
Toa tàu đổi làm một căn phòng bệnh
Những chăn đơn phủ kín những hình hài…
Rồi lại mai, trưa, chiều, tối: một ngày mai
Tuy khác đến, nhưng để rồi lại cũ.
Mùa đổi áo trên những cành gội nhỏ
Một khung trời mưa nắng, bốn tường câm

Ga thời gian, từng chặng, mắt vừa tầm
Khách đôi kẻ trông ra ngoài tính nhẩm…
Ngày đi chóng bởi không chờ, tháng chậm
Khách dài lâu ngao ngán rủa bâng quơ
Ở ngoài kia, bao kẻ đợi người chờ!
Bao đồng chí, những ai còn ai mất?
Trái đất hỡi, sao mà mi vẫn chật!
Ðừng ai vô thêm nữa, bạn đời ơi
Rát mắt trông ra, cửa sắt ngăn trời
Ôi đêm tối những nơi nào lửa đỏ?

Nếu đôi lúc ta hát thầm nhỏ nhỏ
Dưới gầm xai, hay cười nói huyên thuyên
Như một thằng trẻ dại, một thằng điên
Là để khổ trong những giờ im lặng
Ðể nuốt bọt với bao nhiêu mật đắng
Của một đời cách biệt khối đời chung
Рnao nao với những mộng khôn cùng
Ðể cháy ruột mơ những ngày hoạt động.

Lao Thừa Thiên, Tháng 6-1939

Tôi đọc bài Thơ Đợi Anh Về của Tố Hữu năm 1946 ở Hà Đông, thành phố thời thơ ấu của tôi. Với tôi, Lời Thơ tuyệt hay. Tôi thán phục tài phóng tác Thơ của Tố Hữu qua bài thơ Đợi Anh về. Đây là bài Thơ phóng tác Hay nhất trong năm bẩy bài Thơ Phóng Tác tôi được đọc, như bài Tỳ Bà Hành:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.
Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Tù xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương đất khách gối sầu hôm mai….

Như lời Thơ Khóc Chiêu Quân của Tản Đà, ông Nguyễn Thiện Kế phóng tác từ lời Thơ Chữ Hán:

Cô ơi, cô đẹp nhất đời,
Mà cô mệnh bạc, Thợ Trời cũng thua.
Một đi từ biệt cung vua,
Có về đâu nữa, Đất Hồ ngàn năm!

laoxaTố Hữu: Đợi Anh về

Em ơi, đợi anh về
Đợi Anh hoài Em nhé,
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê
Thì Em ơi cứ đợi.

Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy Em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi Anh hoài Em nhé.

Tin Anh dù vắng vẻ,
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì Em ơi, cứ đợi.

Em ơi, Em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong Anh trở lại

Dù bạn viếng hồn Anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì Em ơi mặc bạn
Đợi Anh hoài nghe Em
Tin rằng Anh sắp về.

Đợi Anh, Anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ

Nào có biết bao giờ
Bởi vì Em ước vọng,
Bởi vì Em trông ngóng
Tan giặc, bước đường quê
Anh của Em lại về.

Vì sao Anh chẳng chết
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu Em ơi
Chỉ vì không ai người
Biết như Em chờ đợi.

Với tôi bài Thơ tả tâm trạng Người Tù trở về Hay Nhất là bài Ta Về của Tô Thùy Yên:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen 

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.

Tuyệt diệu hảo từ !!!

Năm 1976 tôi được đọc bài Thơ sáng tác trong năm của Thi bá Vũ Hoàng Chương:

Chàng về trong mộng đêm đêm
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Xa nhau nàng vẫn mong chờ
Vẫn mê trong mộng giấc mơ liền cành.
Biết đâu chàng đã trở thành
Xương tàn một nấm vô danh bên trời.
Bờ sông, bãi cát bồi hồi
Đã khô rồi, đã trắng rồi! Biết đâu!
Chữ Đồng tạc lấy cho sâu.
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.
Là Nam, Bắc, là Âm, Dương?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây!

o O o

Châu RoLy Rượu Thọ Tố Hữu, làm trước năm 1945, bị bỏ.

Châu Ro ơi, xa rừng quê núi cũ
Tù nơi đây buồn lắm phải không anh?
Người Thượng già đương mải ngó xa xanh
Với đôi mắt dại đờ trong tuyệt vọng
Bỗng quay lại, cơ chừng nghe xúc động
Cả một lòng thương nhớ dưới chiều đi
Anh nhìn tôi, đau đớn, rồi thầm thì:
“Tôi nhớ lắm, chui cha, tôi nhớ lắm!”

Ôi tiếng nhớ sao mà nghe buồn thảm
Nó kéo dài như một tiếng dê kêu
Lạc bầy đi ngơ ngác dưới sương chiều…
Tôi để lặng nghe nỗi lòng đau khổ
Của anh bạn, trong khi sầu não đó
Kể bên tai, bằng một giọng rừng non:
“…Mấy năm rồi, xa cái vợ, cái con

Tôi nhớ lắm! Nhớ cái nhà, cái cửa
Nhớ cái rẫy nhiều khoai, nhiều bắp lúa
Nhớ con bò to, nhớ mấy con heo
Không biết còn, hay Ông  bắt chết queo
Ðể con đói với vợ nghèo trong núi?”
Rồi bỗng lặng trầm ngâm anh rã rượi
Há hốc mồm như để gió rừng xa
Của quê hương đem lại chút hơi nhà…

Và dưới bóng mây đen, trong hộc tối
Như hang đá chiều hôm dày khí núi
Ðọng sương mờ trên đôi mắt chứa chan
Bao nhớ nhung, thờ thẫn, ngó lên ngàn…
Anh không khóc nhưng vì đâu chẳng biết
Có lẽ bởi bao nhiêu điều nhớ tiếc
Trong lòng anh hun lại khối căm hờn
Những bàn tay độc ác đã chia tan
Tổ yên ấm trên đầu ngàn, ngọn núi
Tôi bỗng thấy chớp loè lên dữ dội
Lửa thù trong đôi mắt tối chiều đông
Ðôi vành môi thành một lưỡi dao cong
Anh nghiến chặt hai hàm răng lẩm bẩm:
“Ðau cái bụng , ui chui cha, tức lắm!”

Và hồi lâu, bên ngưỡng cửa song tù
Tôi còn nghe tiếng nói của Châu Ro:
“Ðau cái bụng, ui chui cha, tức lắm!”

Lao Bảo, mùa đông 1940

Bài Châu Ro bị bỏ đi vì – theo tôi – trong đó Tố Hữu tả không đúng cảnh cuộc sống của người Thượng. Trong bài thơ năm xưa lời thơ là:

Người Mọi già đang mải ngó xa xăm.

Sau năm 1970 “người Mọi” được đổi là “người Thượng.”

Người Thượng những năm 1940 vẫn sống đời du mục, họ không cầy cấy nên không nuôi bò.

“…Mấy năm rồi, xa cái vợ, cái con
Tôi nhớ lắm! Nhớ cái nhà cái cửa
Nhớ cái rẫy nhiều khoai, nhiều bắp lúa
Nhớ con bò to, nhớ mấy con heo
Không biết còn, hay Ông  bắt chết queo
Ðể con đói với vợ nghèo trong núi?” 

“Ông” đây là Ông Hổ, Hổ bắt bò, bắt heo của Châu Ro. Bài Thơ này không có ý thơ, lời thơ nào kết tội Thực dân Pháp.

Tố Hữu: Ly Rượu Thọ

Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung bờm vang hí giữa tàn quân
Ải quân  xa bốc khói, đỉnh non gần
Ðã khuất phục dưới lá cờ quân Nhật.
Trán kiêu hãnh lần đầu trông xuống đất
Mã nghẹn ngào: “Thôi hết, Mãn Châu ơi!”
Và buông cương, nín lặng chẳng nên lời…

Rồi từ đó, và gươm vàng võ phục
Và cừu hận và lòng sôi rửa nhục
Mã chôn sâu trong một cõi trời riêng
Buông hồn đau rủ nhúng suối ưu phiền.
Cốt oanh liệt  khoác màu tro ẩn sĩ
Rượu cứ rót cho say sưa lạc hỉ
Ðàn ca lên cho át tiếng đầu rơi
Dưới gươm bay vun vút ánh xanh trời.
Mãn Châu Quốc trong  những giờ hấp hối
Gượng kêu lên, hỡi ôi lời trăn trối:
“Chiếm Sơn đâu, cứu nước, Chiếm Sơn ơi!”

Thì nơi kia Mã vén trướng, tươi cười
Cúi lạy mẹ, dâng  mừng ly rượu thọ.
Ðào xuân thắm dâng hương vào cửa sổ
Bạc xuân trong rắc trắng mái hành lang.

Mẹ ngồi yên, như cốc nước e tràn
Không dám động – và nhìn con lặng lẽ
Nhưng mắt yếu bỗng rưng rưng ngấn lệ
Trán nhăn nheo bỗng ửng máu tim già
Và bàn tay run rẩy đỡ ly ngà
Bỗng quật xuống nền hoa: ly rượu vỡ!
Ly rượu vỡ tan tành. Ôi bỡ ngỡ
Ôi hãi hùng. Mã tướng run toàn thân!

Lần đầu tiên, Mã tướng run toàn thân!
Ngoài chiến địa, Chiếm Sơn hằng ngạo nghễ
Trông lửa đạn là trò chơi con trẻ
Mà hôm nay Mã tướng run toàn thân
Mà hôm nay Mã tướng chết hai phần!
Nét nghiêm khắc cong vòng cung môi mỏng
Nghe sôi sục cả linh hồn nóng bỏng.
Người mẹ già thét lớn: “Mã Chiếm Sơn!”
Mã run lên. “Ðâu giọt rượu căm hờn?
Mãn Châu quốc nghe không mày, rên rỉ
Dưới gót sắt của Phù Tang ích kỷ
Ðang mang quân giày xéo cả Trung Hoa
Nước Trung Hoa yêu dấu của lòng ta
Ðã thống khổ bởi bao xiềng ngoại quốc!
Chưa vừa ư những tai ương thảm khốc
Ðã đè trên dân tộc nước non mày!
Có chi vui sông núi đỏ tràn thây
Mà Mã tướng hơm nay dâng rượu cúc?
Rượu cúc ấy, Chiếm Sơn, là rượu nhục!”

Rừng phong xa loáng bạc nắng lung lay
Hoa đào bay, trước giĩ, hoa đào bay
Trong hoa tuyết trắng ngần rơi lả tả…
Mùa xuân ấy năm nghìn quân của Mã
Ðánh tan xương quaân Nhật, một sư đoàn.

Bài Thơ Ly Rượu Thọ bị bỏ vì Tố Hữu sai lập trường giai cấp khi ca tụng Mã Chiếm Sơn, một nhân vật Lãnh Chúa-Quân Phiệt của Mãn Châu. Cộng sản thù nhất những nhà Quân Phiệt-Lãnh Chúa như Mã Chiếm Sơn. Ca tụng Quân Phiệt Mã Chiếm Sơn là việc làm ngu ngơ, ngớ ngẩn của người đảng viên Cộng sản Tố Hữu.

MỘT LỨA BÊN TRỜI


Cùng một lứa bên trời lận đận.
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương Đất Trích gối sầu hôm mai.

Bạch Cư Dị

CTHĐ: Bài này anh H2T viết khi anh mới đến Kỳ Hoa, Tháng 2 năm 1995. Năm xưa ấy anh H2T chưa viết bằng computer. Đêm qua tìm thấy bài viết của anh trong bao đựng những bài viết cũ, tôi gõ máy ghi lại cho anh. Đây là bài viết thứ nhất của H2T trên Xứ Kỳ Hoa.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ngày 25 Tháng Hai, 2014. 

o O o

thanhlanHOÀNG HẢI THỦY
Viết gửi THANH LAN
Đăng trên Tuần Báo Diễn Đàn Tự Do, Virginia

Ngày 11 Tháng 2, 1995.

MỘT LỨA BÊN TRỜI

Bấy giờ tháng mấy ngày Em đi? Em chỉ đặt chân lên đất này nhiều lắm là hai, ba tháng trước ngày Alice và Anh ngơ ngác, mệt mỏi, như mơ như tỉnh dắt nhau bước vào phi cảng San Francisco. Lúc đó là 11 giờ sáng ngày 9 tháng 11 năm 1994. Từ phi cảng San Francisco vợ chồng anh lên phi cơ bay sang WashingtonDC. Trời mưa lớn, phi cơ phải ngừng đêm ở hicago. Vợ chồng anh đến WashingtonDC lúc 11 giờ trưa ngày 10 tháng 11, 1994.

Khi vợ chồng Anh sống ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, đang bận rộn mờ mịt cả người vì những thủ tục phải làm trước khi xuất ngoại thì nghe tin Em đã đến Mỹ và ở lại Mỹ. Anh chỉ nghe chuyên Em loáng thoáng tai nọ qua tai kia vì như Anh đã viết Anh đang vất vả với chuyện để lại cái nhà nhỏ xíu cho các con anh, việc đi khám sức khỏe..v..v.. Nhưng chỉ nghe loáng thoáng thôi anh cũng biết em bị đời vùi dập ở cả hai nơi: nơi em bỏ đi và nơi em đến.

Dân tộc ta có câu “Đánh kẻ chạy đi, không đánh kẻ chạy lại.” Nhưng với em thì cả hai nơi – nơi em bỏ đi, nơi em đến – em đều bị người ta đánh. Thanh Lan ơi.. Anh thương em. Dù chúng ta cùng làm “dzăng nghệ, dzăng gừ” ở thành phố Sài Gòn cả hai mươi năm trời nhưng “chuyện khó tin nhưng có thật chăm phần chăm” là chưa bao giờ anh gặp em một lần, được nói với em một tiếng, được cười với em một cười.

Nhưng mà cần gì, chưa từng gặp mặt nhau mà thương nhau, mà viết cho nhau, có gì là không được? Cùng một lứa bên trời lận đận. Chúng ta cùng một nòi tình thương người đồng điệu. Động hoa vàng có tên nhau. Thương thì thương nhé, qua cầu gió bay. Tiếng em buồn cuối sông này. Mây đầu sông thẫm bóng ngày thương em.

Bây giờ em ở đâu? Không còn.. “Bến Hải hay Cà Mâu” nữa mà là Cali hay Texas? Santa Ana hay San Diego, San Jose? Anh thương em bởi vì:

Em cũng sống vất vả như anh ở thành phố Sài Gòn của chúng ta bị đổi tên là hành Hồ tới hơn mười chính năm trời. Không phải cuộc đời chỉ có em và anh vất vả. Nhiều người lắm. Nhưng em và anh là hai văn nghệ sĩ bị kẹt lâu nhất ở Thành Hồ. Rất nhiều văn nghệ sĩ cũng bị kẹt như chúng ta sau Ngày 30 Tháng Tư oan nghiệt trời long đất ngả nghiêng; nhưng trong những năm sau đó kẻ trước, người sau, người đi sớm, người đi muộn, đại đa số văn nghệ sĩ đã đi thoát được. Ở đây người ta gọi em là “Nữ ca sĩ cuối cùng từ Sài Gòn ra đi.” Anh thấy đúng. Em đi rồi Sài Gòn chẳng còn nữ ca sĩ nào của Sài Gòn nữa. Anh không được bằng em. Khi anh bỏ Sài Gòn anh đi, Sài Gòn vẫn có nhiều người viết hay hơn anh, những người viết từ trước năm 1975. Nhiều đêm, những đêm hai năm đầu 76, 77 trong căn gác hẹp của vợ chồng anh ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, nửa đêm, gần sáng, bàng hoàng tỉnh giấc anh thấy mặt gối anh ẩm và lạnh. Anh biết nước mắt anh đã ứa ra trong lúc anh ngủ. Đó thời gian anh làm những câu thơ gửi em và những người em gái của anh như em:

Muối nào bào dạ xót sa
Dao nào cắt trái tim ta đêm ngày?
Khóc trong giấc ngủ nào hay
Tỉnh ra sao thấy gối này đẫm sương.
Anh nghe từ cuối canh trường
Tiếng ek khóc ở mười phương vọng về.
Còn em trong mộng, trong mê
Có nghe má lạnh tái tê giọt sầu?
Có nghe trên tóc phai mầ
Lệ anh ướt nửa mái đầu không em?

Trong gần hai mươi năm sau năm 1975 biết bao lần em khóc, anh khóc? Cuộc đời và loài người còn muốn chúng ta khóc đến bao giờ nữa? Anh viết rõ: “Muốn em khóc đến bao giờ?” Em khóc vì em mang lấy nghiệp vào thân. Tại em tài sắc nên em bị lụy vì tài sắc của em. Nếu em may mắn em tầm thường, em có đòi khóc cũng chẳng có ai mất thì giờ làm cho em khóc.

Năm 1987 hay 1988 anh không nhớ đúng năm nào, anh chỉ nhớ trong hai năm đó anh đang ở Phòng 10 ED Khám Chí Hòa, có đoàn quay phim vào trong sân nhà tù quay cảnh nhà tù cho phim Ván Bài Lật Ngửa. Anh nghe nói trong đoàn quay phim có Lê Hoàng Hoa, và Thanh Lan. Nhiều anh em tù leo lên nhìn qua hai hàng song sắt xuống sân mong thấy cảnh quay phim. Anh nghĩ không biết em và Lê Hoàng Hoa có biết anh đang có mặt trong nhà tù này hay không.

Vài tháng sau trong một lần anh được ra nhận quà nuôi và gặp gia đình, con anh hỏi:

- Thanh Lan vào đây đóng phim có gửi quà cho bố, bố nhận được không?

Anh hỏi con anh “Sao con biết Thanh Lan gửi quà cho bố?” Con anh nói:

- Mang đồ vào gửi bố xong con ngồi uống cà phê ở căng-tin. Mấy em bán căng-tin biết con là con của bố, nói cho con biết khi vào đây đóng phim Thanh Lan có xin cán bộ gửi quà cho bố.

Mấy em bán căng-tin trong nhà tù Chí Hòa cũng là nữ tù nhân. Nhưng quà của Nữ ca sĩ Thanh Lan không đến được phòng giam trong có anh Tù Hoàng Hải Thủy. Từ căng-tin đến phòng anh là bẩy lần cửa sắt. Quà Em qua làm sao được, nhưng Tình Em đã đến với anh. Anh cám ơn Em.

Tháng 4 năm 1976 bọn Công An Thành Hồ bắt vào tù một lô văn nghệ sĩ. Một số vẫn được để cho sống vất vưởng ngoài nhà tù. Trong số đó có em và anh. Còn nhiều người khác nữa. Tháng 7 năm ấy bọn Văn Nghệ Thành Hồ mở cái lớp gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Trước sau có hai khóa. Anh đi dự Khóa 2, gặp Lệ Thu, Mộng Tuyền, Thanh Tuyền, Băng Châu. Không thấy có em, Thanh Lan. Em dự Khóa Bồi Dưỡng 1 với Thái Thanh, Thẩm Thúy Hằng, Hoài Bắc, phải không? Hay tháng đó em vượt biên bị bắt? Anh nghe nói em đi chui nhiều lần và em bị bắt nhiều lần. Anh không một lần đi chui. Có thể phần đi chui của anh đã được em sài hết.

Mười chín năm hơn lận đận ở quê hương chẳng lần nào ta gặp nhau. Năm 80 khi anh ở tù lần thứ nhất – 2 năm – trở về, có lần anh đạp xe đi với Phan Nghị qua đường Tú Xương. Phan Nghị chỉ cho anh thấy một bà ngồi tráng bánh cuốn ở vỉa hè, bảo anh:

- Bà mẹ của Thanh Lan đấy.

Năm 90 anh trở về nhà sau lần tù thứ hai – 6 năm – Sài Gòn đã có TiVi Mầu. Thấy em hát trên TiVi, vợ chống anh nói với nhau:

- Thanh Lan vẫn đẹp. Thanh Lan hát vẫn hay.

Thanh Lan, như Thái Thanh, như Lệ Thu.. là những người hát yêu mến của vợ chồng anh. Nay anh thấy anh gần em hơn vì em đã ở lại Sài Gòn với vợ chồng anh đến gần hai mươi năm.

Năm 1990 anh đã là ông ngoại. Anh nghe nói năm ấy em cũng đã là bà ngoại?  Anh tặng em danh hiệu “ Bà Ngoại Đa Tình” như anh đã tặng Alice khi vợ chồng anh có cháu ngoại.

Anh không phải là Bạch Cư Dị, em không phải là nàng kỹ nữ ôm đàn tì bà trên sông nước Tầm Dương. Nhưng cần gì, chúng ta vay mượn của người xưa chút tình để nói lên tình thương nhau của chúng ta:

Nghe đàn ta đã trạnh sầu
Lại buồn vì nỗi trước sau mấy lời.
Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương Đất Trích gối sầu hôm mai.

Chịu khó nghe anh kể chuyện này: chuyện nói lên cái nghiệp của những người chẳng may tài hoa. Ngày xưa Cao Bá Quát – anh trọng mến ông Cao Bá Quát vì ông là thi sĩ, vì ông bị tù, vì ông bị đời hành hạ. Trong tù ông làm bài thơ Cây Roi Song hay tuyệt cú mèo. Khi trong tù được tin bà vợ qua đời, ông viết tặng bà mấy câu:

Nữ vô duyên vi tài tử phụ.
Nam bất hạnh tác hồng nhan phu.

Em không phải là khách hồng nhan – người đàn bà đẹp – anh không phải là người có tài. Tại sao chúng ta cùng đau khổ!

Người đàn bà duyên phận chẳng ra gì làm vợ người chồng tài hoa, người đàn ông không may làm chồng người đàn bà  đẹp. Cao Bá Quát than:

- Nếu em là người đàn bà đẹp, anh là người có tài, chúng ta đau khổ cũng tạm gọi là được đi. Nhưng anh không có tài, em không đẹp lắm. Tại sao chúng ta lại đau khổ?

Khi ta không trả lời được câu hỏi, ta hỏi người, khi người cùng thời với ta không trả lời được câu ta hỏi, ta đành hỏi Trời. Nhưng cũng vô ích mà thôi, bởi vì:

Hốt tình, hốt vũ, Thiên vô định.
Vi hải, vi tang, Địa diệc lao.

Thay đổi nào ai biết tại sao.
Tại sao? Câu hỏi tự khi nào?

Cũng buồn, cũng giận, Trời mưa tạnh,
Cùng khổ, cùng đau, Đất biển dâu.
Ai thua, ai được, người điên tỉnh.
Khi còn, khi mất, vật thương đau.
Hỏi sao còn mất, sao thay đổi?
Đất dại, Trời ngu, có biết đâu!

Em hồng nhan, em tài hoa. Đời em vất vả đứt đuôi con nòng nọc. Còn anh, may cho anh, anh chỉ có chút tài phóng tác tiểu thuyết. Alice là người được hai anh Công An Nam Kiên và Minh Thi mô tả trong quyển “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” là “người phụ nữ sinh trưởng ở đồng bằng sông Cửu Long có nhan sắc trên mức bình thường..” Alice có nhan sắc trên mức bình thường nên anh cũng khổ, song anh chỉ khổ tí ti thôi. Trên Cầu Đoạn Trường mà gần như tất cả những công dân Quốc Gia VNCH đều phải đi qua, anh cũng đi qua cầu, nhưng anh chỉ lên cầu đi một quãng là nhẩy xuống. Anh cũng bị tù đầy nhưng chỉ qua loa gọi là có. Cuối cùng vợ chồng anh cũng dắt díu được nhau lên phi cơ bay một lèo qua Thái Bình Dương.

Anh đến đất Mỹ tính đến hôm nay, khi anh viết gửi em bài này, là 63 ngày. Như những người mới vào tù thường tính: “Tù hai tháng, tù sáu tháng rồi..” Khi ở tù lâu hai, ba năm, người tù không tính thời gian nữa. Người sang Mỹ cũng thế. Thời gian đầu nhớ tháng, nhớ năm. Rồi quên. Đôi khi nhớ lại:

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay.
Xuân đến hoa mai, hoa mận nở
Riêng em với anh buồn lắm thay.
Quê nhà xa lắc, xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay…

Thi sĩ Nguyễn Bính năm xưa chỉ mới lưu lạc đến xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh; sáu mươi, bẩy mươi năm xưa dù cho cảnh và người Nam Kỳ có xa lạ bao nhiêu với chàng Thi sĩ Bắc Kỳ thì đất ấy, người ấy vẫn là đất Việt Nam, là người Việt Nam, vẫn là đất nước của Thi sĩ. Nhớ quê, nhớ nhà Thi sĩ chỉ mất một khoản tiền và ba ngày, ba đêm ngồi tầu hỏa là Thi si đã về đến Ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Thi sĩ Quang Dũng đi kháng chiến ở bên sông Đáy những đêm trời tối Thi sĩ có thể nhìn thấy Hà Nội mờ sáng ánh đèn điện nơi chân trời, đã làm những câu thơ:

Xa quá rồi em, người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau..

Bây giờ chúng ta xa quê hương đến cả một đại dương, xa những người ta yêu thương một nửa vòng trái đất. Vợ chồng anh còn con cháu sống ở Sài Gòn, anh chắc em cũng có tâm trạng như vợ chồng anh. Bây giờ khi chúng ta thức, con cháu chúng ta ngủ.

Bây giờ mới thật là xa cách
Xa nửa tinh cầu, cách đại dương.
Khi anh trên gối mi sầu khép
Là lúc em nhìn thấy thái dương.
Cho anh ép nốt dòng dư lệ
Mưa trắng hồn Em ở viễn phương.  

Vàng Phai Mấy Lá

Đoàn Chuẩn và Từ Linh. Hà Nội năm 1942

Đoàn Chuẩn và Từ Linh. Hà Nội năm 1942

Cùng với Thơ Ðinh Hùng, Thơ Hoàng Cầm, Nhạc Ðoàn Chuẩn đến với tôi năm tôi tuổi đời bằng tuổi em Kiều Thúy, tức đôi tám, lại tức Một Bó lẻ Bẩy, Tám Que. Năm ấy là năm 1950, thời gian mắt tôi sáng, tóc tôi  xanh. da thịt tơi thơm mùi phấn hoa niên. Và từ năm ấy đến nay đã bẩy mươimùa lá rụng trôi qua cuộc đời– hơn một nửa thế kỷ, gần trịn 100 năm –qua bao nhiêu tang thương biến đổi, tôi vẫn thấy Nhạc Ðoàn Chuẩn làm tôi rung động và tôi vẫn yêu Nhạc Ðoàn Chuẩn như ngày tôi còn trẻ, thời tôi  chưa biết yêu..

Tôi không có khiếu về âm nhạc, tôi không có cái các nhà quân tải Tây gọi là “oreille musicale”. Tôi yêu nhạc, thích đàn nhưng tôi học nhạc hổng có dzô. Lần thứ nhất năm 1950 tôi học guitare espagnole Thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, lần thứ hai năm 1960 tôi học Thầy Lâm Tuyền ở Sài Gòn–Thầy Lâm Tuyền đã qua đời ở Thành Hồ, tôi chắc Thầy Tạ Tấn cũng đã ra đi vĩnh viễn từ  Hà Nội – nhưng hổng dzô là hổng dzô. Tuy có đủ điều kiện để học Nhạc– nói Học Nhạc cho có vẻ long trọng; thực ra chỉ là việc phừng phưng mấy accord đàn Espagnole, solo vài bản nhạc tủ. Trò vặt này nhiều anh chẳng cần phải học hành gì cả cũng mần được, nhưng tôi cũng mần không được và kết quả là tôi mù tịt về Nhạc. Như Sinclair Lewis, Văn sĩ Mỹ Giải Nobel Văn Chương, viết trong tác phẩm The Life of Dr. Arrowsmith:

“Những bản nhạc nói là tả cảnh núi cao, rừng sâu mà nghe như đấm vào tai..”

Nghe những bản nhạc cổ điển của những ông Bach, Mozart, Chopin tôi cũng chỉ thấy như tôi bị đấm vào tai.

Bởi vậy khi tôi nói tôi yêu Nhạc Ðoàn Chuẩn đó là tôi muốn nói tôi yêu Lời Nhạc của Nhạc Ðoàn Chuẩn. Những Lời Nhạc như Lời Thơ. Tuyệt đại đa số Thi sĩ ta mù tịt về Nhạc, nhưng nhiều Nhạc sĩ ta làm được Thơ. Không những chỉ làm được Thơ mà thôi, nhiều Nhạc sĩ ta làm Thơ rất hay. Như Văn Cao:

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ,
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ.
Vương vất heo may hoa yến mong chờ.
Ôi tiếng cầm ca.. Thu tới bao giờ…

Trương Chi

Như Ðặng Thế Phong:

Ðêm nay thu sang cùng heo may
Ðêm nay sương lam mờ trong mây.
Thuyền ai lờ lững trôi suôi dòng?
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…

Con thuyền không bến

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày tôi cảm khái Lời Thơ Lá Thư của Vũ Hoàng Chương, tơi gọi bài Thơ này là bài Kiều Thu::

Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay,
Hương mùa xuân mất ngậm ngùi bay.
Xa sôi trang giấy thơm mùi tóc,
Dáng chữ thanh tao gợi nét mày.
Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi nguyệt,
Trần ai nào lấm được thơ ngây.
Trán nghiêng tâm sự môi còn mím,
Như thưở ban đầu mộng chớm xây.
Viết gửi cho ta niềm tưởng nhớ…
Hồn phong ân ái bức thư này.
Em ơi thăm thẳm mười năm cách.
Gập lại nhau rồi Em có hay?
Trong mộ thời gian chừng đã thấu
Tờ hoa kinh động, sắc hây hây…

Và đây là lời Thơ Nhạc Ðoàn Chuẩn, bài Lá Thư:

Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau lá thư ngào ngạt hương,
Nét bút đa tình lả lơi…
Nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng..
Chờ đến kiếp nào, tình đầu trong gió mùa..  Người yêu ơi..!
Em nay về đâu? Phong thư còn đây..
Nhớ nhau..Tìm nhau trong ánh sao..!
Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu… Ngồi xõa tóc thề.. Hẹn lời ân ái..
Trôi tới bến nào.. Hình dáng thuyền yêu..!

Thời gian như xóa lời yêu đương. Thời gian phai dần mầu bao lá thư.
Anh quay về đây đốt tờ thư, quên đi niềm ân ái ngàn xưa.
Ái ân theo tháng năm tàn. Ái ân theo tháng năm vàng.
Tình người nghệ sĩ phai rồi.

Nhớ tới mùa thu năm nao một mình anh lênh đênh rừng cùng sông…
Chiếc lá thu dần vàng theo. Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu..
Ngồi xõa tóc thề.. Còn đâu ân ái chăng..! Người xưa..!

Cám ơn bạn chịu khó đọc tôi đến những dòng này. Bạn thơm như múi mít, bạn hăng mùi tỏi tươi, tôi xin cám ơn. Bạn thơm như múi mít tôi cám ơn tám lạng, bạn hăng mùi tỏi tươi tôi cám ơn nửa cân. Tôi để dành bạn việc so sánh Lời Thơ Vũ Hoàng Chương, Lời Nhạc Ðoàn Chuẩn qua hai tác phẩm để đời hai ông viết về những Lá Thư Tình của hai ông. Tôi không lạm bàn. Tôi chân chỉ hạt bột, Tơi Cơm Nhà, Quà Vợ thuần thành. Cả đời tôi chỉ có một người đàn bà yêu thương tôi. Người đàn bà ấy là vợ tôi. Mà vợ tôi thì nàng sống liền tù tì bên cạnh tôi từ năm mươi mấy năm trời nay–tất nhiên trừ những năm bọn Việt Cộng ác ôn, côn đồ nhốt tôi trong tù–nàng sống bên tôi vảnh cát suya vảnh cát. 24/21. Cả đời nàng chẳng viết cho tôi bức thư nào. Những người yêu nhau, gần nhau vảnh cát suya vảnh cát mỗi ngày không còn thì giờ đâu để viết thư tình cho nhau. Người yêu, người tình thì tôi hổng có. Chẳng bao giờ tôi nhận được thư tình, thư ái gì của ai nên tôi thấy tôi không có thẩm quyền bàn tán vẩân vương về những lá Thư Tình của hai nhà nghệ sĩ chính cống Bà Lang Trọc.

vuhoangchuong

Tôi chỉ có thể ca tụng thiên tài và tác phẩm của hai ông. Tôi đã viết về Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, hôm nay tôi viết về Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn. Vũ Thi sĩ đã về ngôi cuối năm 1976 ở Sài Gòn: Sau Tháng Tư 1975 Thi sĩ bị bọn Cơng An Thành Hồ giam tù 10 tháng, tội “sáng tác thơ văn phản động.” Trở về với bà vợ ông trong căn nhà nhỏ ờ Khánh Hội khoảng mười ngày sau Thi sĩ qua đời.

Ngày nào ta trở về ngôi. Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian. Ta van cát bụi bên đường. Dù trong, dù đục đừng vương gót này. “

Nhạc sĩ Đòan Chuẫn vĩnh biệt cõi đời ngày 16 tháng 11, 2001 ở Hà Nội. Tôi thầm gửi bài viết này đến Nhạc sĩ để bầy tỏ niềm cám ơn Người.

Thi sĩ Tản Ðà được người đời ca tụng vì có những câu, những tiếng gọi là: “câu thần, tiếng thần” trong thơ. Như hai tiếng “vèo trông” trong câu:

Vèo trông lá rụng đầy sân..
Công danh phù thế có ngần ấy thôi…

Tôi thấy Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn xử dụng ngôn ngữ thật thần kỳ. Như lời Tình Nghệ sĩ:

Ðây khách ly hương mấy thu vàng ấm.
Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng.
Mơ tới bên em, em tô quầng mắt,
Em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung…

Mấy thu vàng ấm..” Mèn ơi.. Tôi chịu hai tiếng “vàng ấm” quá xá. Ta chỉ nghe nói “vàng phai, vàng úa, vàng võ, vàng khè”, đôi khi ta nghe nói “vàng óng.” Nhạc sĩ gieo hai tiếng “vàng ấm” làm tôi ngất ngư con tầu đi. Chưa cần nghe nhạc Ðoàn Chuẩn qua những giọng ca vàng Anh Ngọc, Duy Trác, Ngọc Long tôi từng nghe thời tôi hoa niên tôi vi vút giữa lòng thành phố Sài Gòn Ðẹp lắm Sài Gòn ơi, chỉ cần một mình thầm đọc Lời Thơ Nhạc Ðoàn Chuẩn thôi, tiếng thơ vang vang trong tim, trong hồn, một mình mình đọc, một mình mình hay, tôi đã loạng quạng con tầu không bến…

…Qua bao rừng núi.. anh về đây..
Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây..

Ðường về miền Bắc

Và:

Chiều nay sao dâng nhanh mầu tím…
Và mây bay theo nhau về bến.
Thuyền cắm tay sào từ cuối thu…
Ngoài kia sông nước như đón chờ.
Thuyền ơi ! Sao mê say nhiều quá..?
Ðường mê không ai ngăn cản lối.
Một sớm thu về chuyển bến xuôi…
Về đâu đây nữa trời ? Bến nao?

Chuyển Bến

Bến nao? Tôi thở hắt ra vì những câu thần ấy. Thuyền cắm tay sào từ cuối thu… Nghĩa lý gì đây? Tôi tưởng tượng qua câu “Thuyền cắm tay sào từ cuối thu..” Nhạc sĩ muốn nói ông đã dừng bước giang hồ, đã cắm sào buộc chặt con thuyền phiêu lãng, đã vui cảnh cơm nhà, quà vợ. Nhưng một chiều thu đến, Nhạc sĩ thấy đất trời toàn một mầu tím ngắt– Than ôi.. Trời đất này là trời đất ngày Từ Hải bỏ Kiều ra đi và cũng là trời đất ngày Từ Hải quay gót lãng du trở về với Kiều–Nhạc sĩ cắm sào thấy.. ngoài kia sông nước như đón chờ..! Trái tim Người rạo rực nhưng thuyền của Người đã cắm sào, tầu của Người đã không những chỉ buông neo mà còn mắc neo, Licence Thuyền Trưởng của Người đã trả lại cho Nha Hàng Hải Thương Thuyền. Người than:

“Thuyền ơi..! Sao mê say nhiều quá.. Ðường mê không ai ngăn cản lối.. Một sớm thu về chuyển bến xuôi…”

Nhưng mà.. Về nơi đâu nữa trời? Bến nao? Nhạc sĩ đặt tên bản nhạc này là “Chuyển Bến”..Nhưng tôi thấy thuyền ông chẳng  chuyển bến mà cũng chẳng nhúc nhích một ly ông cụ nào cả, thuyền ông đã cắm tay sào từ cuối thu…

Thế Phong, hiện ở Thành Hồ, được Trung Tâm Văn Hoá Pháp mời dự Tuần Lễ Sách–Semaine des Livres –ở Hà Nội, có đến thăm ông bà Ðoàn Chuẩn. Semaine des Livres tổ chức ở Hà Nội khỏang năm 1998. Ðây là đoạn Thế Phong viết trong Tập “Hà Nội 40 năm xa..”:

Trích “Hà Nội Bốn Mươi Năm Xa.” Người viết Thế Phong.

…Ðoàn Chuẩn đang nằm trên chiếc giường nệm, cạnh đó là bàn để TV, đầu máy Video, máy nhạc compact-disc. Ðạo diễn Ð.A.D mới thực hiện băng Video Nhạc Ðoàn Chuẩn. Anh nói ngay: bản quyền trả vào hạng cao nhất là ba triệu đồng. Nhưng anh vẫn thích nghe băng nhạc hải ngoại hát nhạc của anh hơn. Anh ngồi dậy tiếp tôi. Chị Chuẩn pha hai cốc cà-phê sữa cho chủ khách nhâm nhi, trò chuyện. Nhớ lại: cậu công tử Ðoàn Chuẩn, chủ hãng nước mắm Vạn Vân, Hải Phòng. Mỗi lần lên Hà Nội, cậu chơi ngông thuê riêng một chiếc máy bay bốn chỗ, hai cánh kép của hãng Autrex. Về xe hơi cậu chơi chiếc Buick 1952. Năm ấy cả Bắc Việt chỉ có hai chiếc Buick. Chiếc kia– Buick 1951– của Thủ Hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Cậu từng tham gia kháng chiến, khi vào Khu Ba, khi ra Khu Bốn. Nhớ vợ Cậu làm bản nhạc Ðường về miền Bắc, Tà Áo Xanh. Lan man cậu nhắc đến thời kỳ cậu mê Nữ ca sĩ Mộc Lan ở Sài Gòn. Lúc ấy nữ ca sĩ nổi danh đang sống chung với Nhạc sĩ Châu Kỳ. Cậu chơi trội, theo đúng tác phong con nhà giầu, đặt mua hoa tươi ở một tiệm hoa. Mỗi sáng người tiệm hoa mang hoa đến nhà tặng nữ ca sĩ nhưng người tặng hoa chỉ là một người vô danh. Sáu tháng ngày ngày được tặng hoa Nữ ca sĩ vẫn không biết người ái mộ tặng hoa mình là ai. Một sáng nàng ra tối hậu thư cho người mang hoa đến: nếu người tặng hoa không cho biết phương danh, nàng sẽ ngừng nhận hoa. Thế là cậu công tử nhạc sĩ đa tình đành lộ mặt. Sau đó một số bản nhạc trữ tình ra đời, bắt nguồn từ Nữ ca sĩ Mộc Lan.

Còn bây giờ? Nhạc sĩ tài hoa nay ra sao?

Ðoàn Chuẩn móm sều. Anh không mang hàm răng giả, người bủng mặc dầu vẫn mập mạp. Giọng nói thiếu hàm răng không còn chuẩn. Mùa thu năm nay anh đã bẩy mươi mốt. Anh cùng tuổi với chị. Tóc chị đã bạc phơ, chị nói đùa với tôi:

“Vợ chồng cùng tuổi, ngồi ruỗi mà ăn. Nhưng bây giờ thì hết rồi..”

Ðoàn Chuẩn đưa cho tôi xem tờ tạp chí có bài phỏng vấn anh, anh nói bây giờ anh ở vào tình trạng “Ba Tê”: Hết Tiền, hết Tình, và quan trọng hơn cả là hết Tài. Anh chỉ sống với dĩ vãng, với những đưá con tinh thần tản mác khắp muôn phương– Chuyển Bến, Tình Nghệ sĩ, Dang dở, Tà Áo xanh.. Những đưá con trở về thăm anh trong những băng nhạc vang động âm thanh trữ tình, tiếc nuối. Nhờ những âm thanh ấy mà từ hải ngoại Nữ ca sĩ Khánh Ly, người chưa bao giờ anh gập mặt, người ca sĩ anh chỉ biết qua giọng ca, gửi về cho anh 200 đô-la, tờ giấy bạc có in hàng chữ In God We Trust, gọi là để anh thuốc thang. Tự dưng tôi nhớ đến bản Tình Nghệ sĩ của anh. Thực đúng như hai câu thơ của Tchya):

Nghệ sĩ trót sinh giầu cảm lụy..
Dẫu tàn thân thế khó quên nhau !

Ngưng trích.

Ba Tê..! Hết Tình, hết Tiền, hết Tài..! Nhà nghệ sĩ tài hoa có thể hết Tiền nhưng ông không thể hết Tình, hết Tài được. Tình của ông tập kết–mượn chữ của Tầu Cộng, hổng phải của Việt Cộng– ở bà vợ ông và Tình Yêu của Bả. Tầm thường nhất nước như tôi đây tôi có tí tài hoa nào đâu. Một tí tỉ tì ti tài hoa tôi cũng hổng có. Dzậy mà trong oan khiên, trong hoạn nạn, tôi cũng sống được bằng Tình Yêu của vợ tôi. Một tối đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ cuối năm 75. Bốn  mươi năm rồi đó, Nguyễn ơi—gặp nhau, Lê Trọng Nguyễn bảo tôi:

“Tao gập thằng S. ở khu nhà mày. Tao hỏi nó mày có đi được khơng? Nó nói mày đi không được. Tao kêu: “Rồi nó sống bằng gì?” S. nó nói: “Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”

Tôi đưa ra bằng chứng đó để nói rằng Ðoàn Nhạc sĩ không bao giờ hết Tình. Ông có Tình Yêu Lớn của bà vợ ông, ông có cả triệu người Việt yêu ông qua tiếng Nhạc của ông, những người Việt biết ơn ông vì ông đã hát lên dùm họ Tình Yêu của họ, ông làm cho đời họ đẹp hơn. Họ cám ơn ông như người viết bài này ở Rừng Phong Xứ Mỹ buổi sáng đđầu năm, từ một thành phố cách xa Hà Nội của ông bà mười ngàn dặm, nơi quê người ở tận nửa bên kia trái đất, viết để cám ơn ông.

Ðoàn Nhạc sĩ vẫn còn Tài chứ. Người tài hoa là tài hoa suốt một đời. Ông chỉ không còn sáng tác nữa thôi. Chúng ta không đòi hỏi ở nhà Nghệ sĩ nhiều hơn. Ông sáng tác khoảng 10 bản nhạc. Tôi thấy bản nào cũng tuyệt diệu.

Qua Nhạc ông, qua những chuyện kể về đời tư ông, tôi phát hiện ra — chữ “phát hiện” này cũng của Tầu Cộng– Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn là Hội viên Hội Cơm Nhà Quà Vợ. Ông cũng như các ông Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Lưu Trọng Lư… Ðọc thơ, nghe nhạc của mấy ổng ta tưởng mấy ổng yêu loạn cào cào, châu chấu, mấy ổng buông, bắt bà này, bà nọ như mấy ổng thay áo sơ-mi. Nhưng Thơ Nhạc của mấy ông dzậy mà đời thật của mấy ông thì hổng phải dzậy. Mấy ổng chỉ yêu vung tí mẹt trong Thơ Nhạc thôi. Trong đời thật mấy ổng là Hội Viên Hội Cơm Nhà Quà Vợ chân chính, thuần thành, trung kiên. tòng nhất nhi chung, trung thành với Chủ nghĩa Cơm Nhà Quà Vợ từ năm mấy ổng còn trẻ…

Tôi hãnh diện vì tôi có Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn cùng là hội viên Hội Cơm Nhà Quà Vợ với tôi. Xin quí vị cho phép tôi nhân bài viết này gửi vài lời đến những bạn Cơm Nhà Quà Vợ của tôi trên cõi đời này:

– Ơi.. Các bạn đồng hội.. Từ lâu ta vẫn có mặc cảm tự ti vì ta cơm nhà, quà vợ. Nhiều lần chúng ta nghe những lời bỉ bác: “Thằng đó cơm nhà, quà vợ.. Cả quỷnh.. Chẳng biết cái mẹ gì..” Kể cả đàn bà đa tình cũng khinh thị chúng ta: “Anh.. cơm nhà, quà vợ.. Chán bỏ mẹ..!” Ta thấy người đời  trọng thị những anh Thuyền Trưởng Hai, Ba Tầu mà coi khinh, coi rẻ những công dân chân chỉ, hạt bột Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta. Làm như là chỉ có bọn Thuyền Trưởng Hai Tầu mới là đàn ông, mới tài hoa, chúng ta là đồ bỏ! Người đời có thành kiến đó là người đời sai lầm. Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta không thua kém gì bọn Thuyền Trưởng Hai Tầu. Thuyền Trưởng Hai tầu có nhân vật tài hoa, Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta cũng có những nhân vật tài hoa.

Cơm Nhà Quà Vợ chúng ta có Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn!

Thơ Đoàn Chuẩn

Với bao tà áo xanh đây mùa thu
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa 

Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian

Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về
Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt
Có những đêm về sáng đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi
đã vội chi men rượu nhấp đôi môi mà phung phí đời em không tiếc nhớ

Lá đổ muôn chiều ôi lá úa, phải chăng là nước mắt người đi
Em ơi đừng dối lòng dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta

Gió bay từ muôn phía tới đây ngập hồn anh, rồi tình lên chơi vơi
Thuyền anh một lá ra khơi về em phong kín mây trời, đêm đêm ngồi chờ sáng, mơ ai

Mộng nữa cũng là không, ta quen nhau mùa thu, ta thương nhau mùa đông
Ta yêu nhau mùa xuân, để rồi tàn theo mùa xuân, người về lặng lẽ sao đành?

Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ Anh rồi. 

VÀNG PHAI MẤY LÁ

Sáng tác ở Hà Nội những năm 1960

Ai đốt Cô Tô thành vì đôi mắt giai nhân hề 
Lửa cháy bao đêm ròng, thành quách tan
Ai trót nhấp men tình để Mỵ Cơ thương nhớ
Khi thác rồi, khi thác rồi, Tiêu Nhiễn vẫn còn mơ
Ai xui ta gặp nhau, để tình gây oán trái
Để tình anh bẽ bàng, và tình em lỡ làng
Và ngàn sau lá vàng khóc tình ta

Từ nay bèo trôi, cầu xiêu, con đò nát
Và mây đìu hiu cây rụng lá, thân mình về đâu?
Đàn chùng, dây phím lỡ, mái đổ nhà xiêu, nhẹ như tiếng khóc thầm.
Mây sầu vương chót núi, đường chia biên giới, người xa nhau mãi
Giấc chiêm bao đêm nào chìm trong sương khói thời gian.

Xưa có người Phù Sai rắc hoa vàng sau mỗi bước giai nhân
Đến bây giờ yêu không đành, mà ghét cũng không đành,
mà dứt cũng không đành

Rồi đây thời gian đổi thay con người mới
Bài ca tình yêu bay lộng gió trên đường về tim. (*)
Chịu được bao giông tố, cánh buồm mong manh, nhẹ như cánh bướm vàng
Khi mùa Thu đến báo, tình duyên đã dứt, đường chia đôi lối
Gió nâng mây về trời đời nào quên cánh diều bay

Em khác gì Quỳnh Dao lúc phát lầm phung phí hết xuân xanh
Lúc đêm về thương cho đời, và cũng ghét cho đời, và cũng chán cho đời
Mưa dồn trôi nước lũ xuôi dòng thả hết bụi nhơ, xuôi dòng trầm câu hát tương tư
Nhủ lòng thôi hết những mùa Thu

Lá thu bay, về anh, như những cánh hoa đời em
Còn đâu cành hoa màu tím – đường đi dệt gấm vàng son
Lòng anh chua xót. Cánh hoa vì đợi anh rã rời, héo tàn úa vàng, vùi sâu trong kiếp thời gian.

* CTHĐ: Tim tôi đập hụt vài nhịp mỗi lần tôi nghe Vàng Phai Mấy Lá. 

TRỐN VIỆC ÐI TU…

kieu

Thúc Kỳ Tâm gập Vương Thúy Kiều ở Lầu Ngưng Bích. Lầu Ngưng Bích ở địa phang nào?

Thưa.. ở thành Lâm Tri.

Thúc Kỳ Tâm khi phải về Vô Tích làm bổn phận công dân với Hoạn Thư chia tay với Thúy Kiều ở đâu?

Thưa… cũng ở Lâm Tri.

Ở Lâm Tri thì ai mà chẳng biết nhưng mà chính xác là ở đâu trong Thành Lâm Tri?

Dạ.. ở nhà Thúc Kỳ Tâm.

Nhà Thúc Kỳ Tâm ở đâu?

Thưa thầy em chịu!

Nhà Thúc Kỳ Tâm ở Rừng Phong Thành Lâm Tri. Cũng như nhà Công Tử Hà Ðông ở Rừng Phong Thành A Linh Tôn. Bằng chứng:

Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm mầu quan san…

Người xưa đi đường xa phải đi bằng ngựa. Khi chia tay người ta thường bẻ cành liễu tặng nhau — cành liễu để nhau dùng làm roi ngựa, roi ngựa dùng để quất ngựa — Vì vậy cuộc đời mới có điển “Chương Ðài liễu.. Chương Ðài liễu.. Tích nhật thanh thanh…”

Khi về về hỏi Liễu Chương Ðài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay..

Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy.. Biệt ly nhớ nhung từ đây… Chiếc lá rơi theo heo may.. Người về có hay..! Biệt ly đời nào cũng buồn. Nhưng cứ theo sử sách phong tình để lại dường như người xưa khi chia tay nhau lưu luyến dữ dội hơn người đời nay, người đời sau nhiều. Người đi đã ngồi trên ngựa rồi người ở lại vẫn cứ nắm lấy vạt áo không chịu buông ra. Ðể có thể dứt áo ra đi người đi phải nghiến răng, nghiến lợi dùng dao cắt vạt áo. Và đấy là điển “Người lên ngựa, kẻ chia bào..”

Tôi đọc Kiều từ những năm 1940. Năm tơi mười một, mường hai tuổi. Cũng như nhiều người Việt tôi thấy Thơ Kiều tuyệt vời, tôi thán phục Nguyễn Du. Nhưng tôi chỉ thực sự “thấm” Kiều từ những tháng đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ. Sau khi Nón Cối, Giép Râu, Tóc Bím, Răng Cải Mả, Mông Ðít Bự ngơ ngáo vào Sài Gòn tôi mới sáng mắt, sáng lòng với qui luật ngàn đời:

Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao…

Nhớ lại cảnh trực thăng USMC bay ngang trời Sàigòn chiều ngày 29 Tháng Tư tôi Tập Kiều:

Ðùng đùng gió giục mây vần
Trực thăng trong cõi hồng trần như bay…

Nhớ người yêu theo chồng về xứ của chồng, tôi tập Kiều:

Cali – ( Paris ) — cách mấy nắng mưa
Có khi vòng bụng đã vừa người ôm..

Hóa thân làm Thúc Kỳ Tâm, khi Kiều tắm, tôi tập Kiều:

Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên…

Ðây là cảnh Nàng đi vượt biên:

Dùng dằng khi bước chân ra
Cực trăm nghìn nỗi, chui ba bốn lần.

Nàng ra khỏi tù:

Hoàn lương một thiếp thân vào cửa
Gót tiên thoắt đã thoát vòng trần.

Anh Con Trai Bà Cả Ðọi có vẻ khoái chí, đắc ý — những ông nhà Dzăng gọi việc này là “tâm đắc” — câu:

Mồ hôi chàng đã như mưa ướt
Nàng còn cầm lại một hai tình..

Tháng Bẩy, Tháng Tám năm 1988, sau khi ra tòa lãnh án Tám Niên, tôi xách giỏ, chiếu, sô can từ phòng 10 Khu ED sang phòng 20 Khu FG Chí Hòa chờ lên cái gọi là Tòa Trên, con tôi gửi vào cho tôi quyển Truyện Thúy Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo. Quyển Truyện Thúy Kiều của tôi được in năm 1950, đã ở với tôi đến năm đó là gần bốn mươi niên. Nhiều trang giấy đã vàng khô, đổi mầu, ròn, dễ rách. Tôi mang quyển Kiều này sang Mỹ với tôi, quyển Kiều đã theo tôi vào Nhà Tù Chí Hòa nay nằm trong Tàng Kinh Các Rừng Phong.

Trong Nhà Tù Chí Hòa tôi nằm đọc lại Kiều và đêm tới, khi cái mùng nhỏ của tôi được dăng lên, chia cách tôi với cả và thế giới, tôi nằm trong mùng mần Thơ Vịnh Kiều. Không có giấy bút để ghi chép, tôi mần Thơ, học thuộc, mần tiếp, học thuộc lòng. Cứ như thế tôi làm được một số bài thơ tôi gọi là Tại Ngục Vịnh Kiều. Ðầu năm 1989 tôi lên Trại Cải Tạo Z 30 A Xuân Lộc, Ðồng Nai. Ðến đây được dùng giấy bút, tôi ghi lên giấy những bài thơ Tại Ngục Vịnh Kiều đưa cho vợ tôi mang về. Và yên chí là thơ đã được ghi lên giấy, tôi bắt đầu quên những lời thơ. Có bài dài đến 120 câu tôi thuộc lòng.

Năm 1995 ở Rừng Phong tôi viết thêm lời bàn Tại Ngục Vịnh Kiều bắt chước Kim Thánh Thán viết lời bàn Tây Sương Ký. Tháng Tám 1996 tôi đã có bản Tại Ngục Vịnh Kiều in thành sách. Nhà Làng Văn Canada xuất bản Tại Ngục Vịnh Kiều cho tôi.

Với tôi quyển “Tại Ngục Vịnh Kiều” hình thức thật đẹp. Ðây là tác phẩm được in đẹp nhất, chỉnh nhất trong mấy chục mùa lá rụng viết tiểu thuyết nhà nghề của tôi. Tôi có khoảng 30 quyển truyện được in nhưng quyển nào cũng in bết bát, lỗi chính tả cả đống, đọc ngượng chín cả người. Nhiều bạn Dzăng Sègoòng xưa  phê bình tôi:

“Ông không thận trọng chọn nhà xuất bản. Bọn xuất bản sách của ông nó in cho ông tồi quá. Ông như em chơi bời có sắc, lẽ ra em phải hành nghề ở những nhà chơi sang, đắt giá nhất nhì Sài Gòn, em lại đi khách sáu choạc, một bò ở Ngã Ba Chú Ía”.

Tôi nhận  bạn tôi nói đúng. Nhưng đó là chuyện ngày xưa. Xưa rồi ta nên cho qua luôn.

Một trong những hạnh phúc của người viết là được đọc tác phẩm của mình trên bản in sạch sẽ, sáng sủa, rõ ràng. Ðêm qua mưa gió đi qua Rừng Phong, tôi nằm yên ổn — Bọn Công An Thành Hồ nửa đêm có đến đập cửa phòng tôi rầm rầm tôi cũng mặc mẹ chúng nó, tôi bất chấp – tôi nằm thưởng thức Tại Ngục Vịnh Kiều.

Sáng nay trước cảnh Rừng Phong bắt đầu vàng lá tôi ngồi gõ máy viết thêm vài bài thơ tôi đã bỏ sót không đưa vào tập Tại Ngục Vịnh Kiều.

Chẳng hạn như đây là bài Tại Ngục Vịnh

KIM TRỌNG

Phòng văn hơi giá như đồng
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan
Học trò như cậu thật là ngoan
Sáng đi ve gái, tối chơi đàn
Thó một thoa vàng, chàng được vợ
Thuổng đôi chữ lỏng, Cậu nên quan
Con chị đi, con dì sài đỡ
Ruột gan mừng húm, miệng phàn nàn
Bốn chàng Kim, Mã, Bạc và Sở
Ði học ngồi chung chắc một bàn.

Dường như cả và thiên hạ đều chê Thúy Vân. Ngay cả những ông quan lại ngày xưa luận Kiều cũng chê: “Thúy Vân trơ trơ như gỗ đá. Chỉ đáng làm bà vợ quan..” Tôi đã có bài vịnh cảnh Thúy Vân tàng tàng chén cúc dở say.. trong Tập Tại Ngục Vịnh Kiều. Bài thơ dưới đây không được in trong tập:

THÚY VÂN

Có ngu như vích mới chê đần
Phúc hậu, đoan trang, nhất Thúy Vân.
Má hồng, mày đậm Em nhiều tóc
Vú nở, mông to, Mợ chẳng bần.
Sáng mắt anh đồ khi mỏi học
Nhẹ đầu quan Huyện lúc tê gân.
Bố đi tù rạc, hay gì khóc
Chồng đòi vợ bé, muốn thì cân.
Chẳng khen thì chớ còn châm chọc
Nghìn vàng chưa mó được lông chân.

HOẠN THƯ CHO KIỀU RA Ở CHÙA

Mệnh bạc Em xin gửi Cửa Không
Thôi thì thôi Chị cũng chiều lòng
Sẵn cây trăm thức, Chùa Ta đó
Thêm hòn Non Bộ cậy Em trông.
Này chuông, này khánh, đôi ba mõ
Chỉ một dùi to đấm cũng xong.
Ai bảo Hoạn khôn, ta bảo dại
Trứng trao cho ác, áo nuôi ong
Gái thấy chồng xưa, thèm rỏ rãi
Trai thương vợ cũ, lộn râu rồng.
Ngỡ Em kinh kệ lơi là tục
Hóa Em sớm tối tưởng tơ chồng.
Lộn lèo Bát Nhã Em dông tuốt
Chồng mất, chùa không, Chị chổng mông.

Tại sao cứ nhất định không thể có chuyện Thúc Kỳ Tâm hăng tiết vịt, vùng lên làm cuộc cách mạng đập phá gông cùm xiềng xích của Hoạn Thư? Tại sao lại không thể có chuyện Thúc Kỳ Tâm liều mạng phú lỉnh đi với Thúy Kiều đến những nơi cuối bãi, đầu ghềnh, sơn cùng thủy tận? Chuyện này ta thấy đã xẩy ra, đang xẩy ra và sẽ còn xẩy ra dài dài ngày nào trái đất này còn có loài người. Thúc Kỳ Tâm ôm chuông vàng, khánh bac đi với Thúy Kiều, chị Hoạn chỉ còn có nước chổng mông kêu… Chời ơi Chời…

Khi Thúc Kỳ Tâm lẻn đến gập Thúy Kiều ở Quan Âm Các, Thúc Kỳ Tâm vẫn nguyên là Thúc Kỳ Tâm, Công Tử Chạp Phô, trèo cao lấy vợ con quan Lại bộ, tức Tể Tướng, sợ vợ, nhưng Thúy Kiều đã hai lần đổi thay lý lịch. Nàng không còn là Thúy Kiều Ngưng Bích nữa, trong thời gian qua nàng đã là Hoa Nô — con hầu nhà họ Hoạn — và bi giờ nàng là Ni cô Trạc Tuyền. Sự liên hệ giữa nàng và Thúc Kỳ Tâm rối tinh rối mù. Nàng lấy tư cách gì để tiếp Thúc Kỳ Tâm: tư cáchVợ Bé, Con Ở hay Ni Cô? Nàng coi Thúc Kỳ Tâm là chồng, là Cậu Chủ của nàng hay là Thí Chủ đến vãn cảnh Chùa?

Vì vậy trong những đêm Tại Ngục Vịnh Kiều ở Chí Hòa tôi mần Vịnh:

THÚC KỲ TÂM GẬP KIỀU Ở QUAN ÂM CÁC

Mặt trông tay chẳng chịu rời tay
Thí chủ, ni cô… nghĩ cũng hay.
Bồ Ðề tâm phát, anh thêm nợ
Ngã Phật từ bi, ả cứ vay.
Là nô, là vãi, hay là vợ?
Là chồng, là chủ lại là thày.
Tơ tình ngàn mối làm sao gỡ?
Phật Tổ, Quan Âm cũng chạy dài.

Thúy Kiều-Trạc Tuyền tu hành những ba niên ở Quan Âm Các. Tác giả long trọng cho ta biết thành tích tu hành tốt đẹp quá cỡ thợ mộc của nàng. Ðại khái: từ khi nàng bỏ áo xanh bận đồ nâu nhà chùa, bỏ son phấn, đàn địch, thơ phú để gõ mõ, tụng kinh, chép kinh tế độ chúng sinh, nàng đã gần Rừng Tía, nàng đã xa bụi hồng, tức là nàng đã gần cõi giải thoát, xa cuộc đời trần tục, lửa lòng của nàng đã tắt nhờ sự linh nghiệm của giọt nước Cành Dương của Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng
Nhân duyên đâu lại còn mong?
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp, sầu vùi
Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Khéo thay giọt nước cành dương
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên..

Người đọc ngây thơ yên chí như thế là Kiều đã dứt bỏ được mọi giây oan tình, nguồn gốc sự đau khổ của nàng. Người đọc ngây thơ tưởng khi Thúc Kỳ Tâm vào chùa, Ni cô Trạc Tuyền sẽ dửng dừng dưng với khách thập phang, Ni Cô sẽ lạnh như tiền, hai tay Ni Cô chắp trước ngực, mắt Ni Cô nhìn lên bàn thờ, Ni Cô lửng lơ con cá vàng:

- Kính chào Thí chủ.. Thí chủ đến vãn cảnh chùa. Xin mời Thí chủ lên điện dâng hương..

Thí chủ có nghẹn ngào:

- Kiều ơi.. Anh thương em quá, anh nhớ em quá.. Anh chết mất..”

Ni Cô nghiêm trang ngắt lời:

- Mô Phật.. Trước cửa Thiền.. Thí chủ đừng thốt ra những lời gây nên tội chướng. Xin Thí chủ cảm phiền, bần tăng không muốn nghe những lời ong bướm..

Nhưng sự thực.. thay vì nói những lời giá lạnh như thế ta thấy Ni Cô lập tức a la sô sát lại với Thúc Kỳ Tâm, lửa lòng Ni Cô nó không tắt ngúm mà nó bốc lên bừng bừng. Không những nàng chỉ khóc ròng vì uất hận, nàng còn hung hăng con bọ xít đe dọa:

- Con vợ anh nó chơi em nặng tay quá. Ðể em thí mạng với nó.. Em cho nó một dao, rồi em đâm cổ em chết.

Chẳng thấy bóng dáng giọt nước Cành Dương nhiệm mầu của Quan Thế Âm Bồ Tát đâu cả. Ta chỉ thấy Lửa Tình hừng hực cháy.

Vì vậy Công Tử Hà Ðông bèn có thơ Tại Ngục Vịnh

Thích Cam Ðồ

Buông đàn kỹ nữ hóa ni cô
Trạc Tuyền rắc rối thế Hoa nô.
Ngưng Bích lầu xanh thừa Tống Ngọc
Quan Âm rừng tía sẵn sơn hồ.
Cố đấm ăn xôi, ngồi phải cọc
Trốn việc đi tu, khéo dở trò.
Dương liễu Bà thiêng, Bà tưới nhọc
Lửa lòng nó mạnh, nó bùng to.
Tu ở chùa nhà, sư để tóc
Mợ về quê mẹ, cậu đi mò.
Mỡ để miệng mèo, ăn sỡ hóc
Kinh bầy kệ Phật, nuốt không vô.
Sư Tử há mồm, câm tựa thóc
Tình nhân thấy mặt, dính hơn hồ.
Liên Hoa Diệu Pháp lười không đọc
Vợ bé, chồng chung, chết cả lò.
Dưới cội Bồ Ðề Sư đứng khóc
Trên tòa Bát Nhã Phật nằm co.
Tu là cội phúc, Tình oan khốc
Miệng chịu nhưng lòng chẳng chịu cho.
Niết Bàn cửa giác rêu xanh mọc
Ðịa ngục sông mê chúng xuống đò.
Ðường ma cấm đến chen chân vọc
Cõi Tịnh mời dzô cứ thập thò
Ba thu công quả thành công cốc
Nửa kiếp oan khiên lại hẹn hò.
Bồ Tát chẳng bằng tay nó vuốt
Mình ơi… hơn hẳn tiếng Nam Mô.
Nó chẳng sài, thôi Bà cất thuốc
Ðừng cho vung vít, phí Cam Lồ
Chúng sinh ngu muội đầy ô trược
Cam Lồ chẳng thích, thích Cam Ðồ.

ÐỐNG ÐA MÙA XUÂN

money

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương…

Bà Huyện Thanh Quan

Ðọc “Thơ Chữ Hán” của Nguyễn Du tôi có một thắc mắc:

Tượng Vua Quang Trung ở Sài Gòn.

Tượng Vua Quang Trung ở Sài Gòn.

Nhà thơ lớn của chúng ta chứng kiến trận chiến thắng Ðống Ða vang danh trong lịch sử. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ thống lĩnh quân dân ta đánh tan quân xâm lược Mãn Thanh năm Kỷ Dậu — 1789 Dương lịch. Thi sĩ Tố Như ra đời năm 1765, ông 23 tuổi năm 1788. Ông là một chứng nhân của trận chiến thắng oanh liệt này. Nhưng ông không làm qua một bài thơ nào về trận chiến thắng của dân tộc, ông không nhắc một lời về Vua Quang Trung tuy ông làm thật nhiều thơ, những bài thơ thật Hay, thật Thơ, thật cảm động về những nhân vật lịch sử Trung Quốc: Khổng Minh Gia Cát Lượng, Mã Viện, Nhạc Phi, Tần Cối, Văn Thiên Tường, Ðỗ Phủ.. vv…

Không chỉ riêng Nguyễn Du, những nhà thơ sống cùng thời với thi sĩ, những người cùng chứng kiến trận đánh Ðống Ða lịch sử với ông, cùng sống qua thời kỳ cầm quyền ngắn ngủi rồi suy bại thảm thê của Nhà Tây Sơn, những thi sĩ thời ấy như Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm .. cũng không một ông nào làm một bài thơ nhỏ về Vua Quang Trung, về chiến thắng Ðống Ða. Văn học ta thời Vua Quang Trung và những năm sau đó không có một bài thơ — chỉ một bài thôi — ca tụng chiến thắng Ðống Ða, ta không có một bài thơ nào ca tụng Vua Quang Trung Nguyễn Huệ!

Ta có thể giải thích nguyên nhân sự không lên tiếng, thái độ của giới nhân sĩ Bắc Hà cố tình không biết, không nhắc đến Vua Quang Trung cùng chiến thắng lịch sử Ðống Ða là vì  nhân sĩ Bắc Hà vẫn trung thành với Nhà Lê — trung thành với Nhà Lê gần như đồng nghĩa trung thành với Nhà Trịnh — Nhà Tây Sơn diệt Nhà Lê, Nhà Trịnh nên Nhà Tây Sơn bị nhân sĩ Bắc Hà coi như kẻ thù. Nhà Tây Sơn là Vua Quang Trung, thù hận nhà Tây Sơn là thù hận Vua Quang Trung.

Nhưng không phải tất cả những nhân sĩ Bắc Hà đều như các ông Nguyễn Du, Phan huy Ích, Ngô thời Nhiệm, chừng ba mươi năm sau thời đại của ba vị văn thần kiêm thi sĩ trên đây — thời các ông trước ta hơn hai trăm năm xã hội ta chưa có những thi sĩ chuyên nghiệp, tức những người không làm gì cả ngoài việc làm thơ — một nhóm người con cháu của ông Ngô Thời Nhiệm — tên ông này được đặt cho một con đường ở Sài Gòn của ta — người đời sau gọi nhóm các ông này là Ngô Gia Văn Phái; các ông này ở làng Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, đã chung sức viết ra tác phẩm lịch sử tiểu thuyết đầu tiên của văn học Việt Nam: Hoàng Lê Nhất Thống Chí.

Tôi đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí, bản dich của Ngô tất Tố, những năm 1940, khi tôi tuổi đời mới tròn Một Bó. Ở vào số tuổi đó tâm trí tôi chỉ có thể thấy là hay những truyện như  Dế Mèn phiêu lưu ký, cao hơn nữa là những tiểu thuyết Trường Ðời, Giông Tố. Năm 1960 — hai mươi năm sau – năm 1960 tôi đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí lần thứ hai, bản dịch mới của một dịch giả tôi không nhớ tên, do Nhà Xuất bản Tự Do của Nhật báo Tự Do, Sài Gòn, ấn hành.

Trong lần đọc thứ hai này tôi thấy tác phẩm thật hấp dẫn, thật linh động. Tôi nghĩ đến chuyện những người viết HLNTC không phải là những người viết tiểu thuyết chuyên nghiệp, họ không có qua một kinh nghiệm nào về việc viết tiểu thuyết lịch sử..; vậy mà tại sao các ông  hoàn thành được bộ tiểu thuyết lịch sử giá trị đến như thế ?? Các ông viết HLNTC vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ 19 — khoảng những năm 1830 — kể từ ngày ấy tới nay đã  gần hai trăm năm trôi qua, tôi không thấy văn học ta có quyển tiểu thuyết lịch sử thứ hai nào xứng đáng gọi là tiểu thuyết lịch sử.

Rồi những mùa lá rụng theo nhau qua. Những người Việt Nam như tôi, cùng thế hệ tôi, ra đời trong nửa đầu thế kỷ 20, trưởng thành vào những năm giữa thế kỷ và suy tàn, già lão cùng với thế kỷ, không chỉ chứng kiến một cuộc biển dâu, mà là phải sống qua đến những hai, ba cuộc biển dâu. Cuộc biển dâu dữ dội nhất, tàn khốc nhất xẩy ra Tháng Tư 1975. Những năm 1996, 1997, sống yên lành ở Rừng Phong, Virginia Ðất Tình Nhân, những đêm êm vắng trong căn phòng ấm, đèn vàng, tôi đọc lại Hoàng Lê Nhất Thống Chí không biết đây là lần thứ mấy trong đời, tôi vẫn thấy tác phẩm thật hay, và lần này tôi thấy tôi cần phải viết ra, phải nói lên những cảm nghĩ của tôi khi đọc tác phẩm này.

Một trong những thắc mắc của tôi khi đọc HLNTC là: tại sao triều đại Nguyễn Tây Sơn nổi lên nhanh, mạnh, anh hùng đến như thế mà lại suy tàn, thảm bại cũng nhanh đến như thế ?Vua Quang Trung thống lãnh quân dân đánh tan bọn Mãn Thanh đầu năm Kỷ Dậu 1789 — Ra quân từ Phú Xuân những ngày cuối năm Mậu Thân 1788, tiến vào thành Thăng Long ngày Mồng Năm Tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1789. Trước khi xuất quân vua lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân. Vua Quang Trung làm vua chỉ được có năm năm trời. Vua mất vào năm Quí Sửu 1793. Nguyễn Nhạc, cũng xưng hoàng đế, đóng đô ở Qui Nhơn, cũng tạ thế trong năm Quí Sửu 1793. Vua Quang Trung băng, con Vua là Quang Toản lên nối ngôi. Chưa đầy mười năm sau — năm Nhâm Tuất 1802 — Vua Gia Long bắt sống Quang Toản, chấm dứt triều đại Tây Sơn. Tính từ năm Vua Quang Trung lên ngôi năm Kỷ Dậu 1789 đến khi con vua là Quang Toản bị giết năm Nhâm Tuất 1802, Nhà Tây Sơn chỉ trị nước được có 13 năm.

Chẳng cần phải có kinh nghiệm chính trị hay kinh nghiệm sống, em nhỏ lên ba, cụ già chín bó cũng biết rằng không phải chỉ một mình Vua Quang Trung anh minh, hùng lược, tài tuấn  mà dân tộc ta có chiến thắng Ðống Ða. Tất nhiên bên cạnh, đằng sau Vua phải có thật nhiều những vị văn thần, dũng tướng giỏi, mạnh, những người tài cán thực hiện những sách lược, mệnh lệnh của vị chủ soái. Những vị tướng văn, tường võ này tuy không có năng lực và hùng lược như Vua nhưng cũng không phải là những người tầm thường. Nhà Vua mất sớm nhưng còn những võ tướng Ngô Văn Sở, Ðô Ðốc Long, những dũng tướng của trận Ðống Ða lịch sử, văn thần có Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích vv. Và còn biết bao nhiêu  người tài tuấn nữa?? Những vị này đi đâu hết, những vị này nghĩ gì, làm gì..? Tại sao các vị còn đó mà các vị để cho cơ nghiệp nhà Tây Sơn quang vinh bị suy bại thảm thê nhanh quá đến như thế ??

Và như vậy là trong những năm cuối thế kỷ 18 tình hình chính trị nước ta được hình thành giống như thời Tam Quốc bên Trung Quốc: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ  giữ đất từ Phú Xuân — Thừa Thiên — đến Ải Nam Quan — lãnh địa Tây Sơn lớn và dài nhất — Vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc đóng đô ở Bình Ðịnh — lãnh địa của Vua Thái Ðức nhỏ hẹp nhất, đã yếu lại bị hai mặt nam bắc tấn công, nhà Tây Sơn Bình Ðịnh bị diệt sớm nhất. Vua Gia Long Nguyễn Ánh xưng vương ở Gia Ðịnh. Vào thời này các ông Chúa nhà Nguyễn mới chiếm cứ và bắt đầu khai thác phần đất phì nhiêu bên dòng Cửu Long Giang.

Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí  – HLNTC -- cho tôi thấy có thể Vua Gia Long thù hận Vua Quang Trung — cũng phải thôi. Hai ông vua này từng cầm quân xung đột với nhau nhiều trận, Vua Gia Long từng bị thảm bại nhiều lần — Nhưng các vua Minh Mạng, Tự Ðức tỏ ra có thái độ khoan dung hơn với triều đại Quang Trung. Hoàng Lê Nhất Thống Chí có nhiều trang tả chiến công oanh liệt của Vua Quang Trung mà không bị triều đình Huế cấm dân lưu trữ hay làm khó dễ những người viết. Bộ tiểu thuyết lịch sử số một của ta không một lần được khắc bản gỗ để in, những bản truyền lại đời sau chỉ là những bản chép tay. Nhưng quả thật là triều đình nhà Nguyễn đã không làm một hành động nào để tiêu hủy tác phẩm này vì trong đó có những trang đề cao triều đại thù nghịch trước.

Tôi sẽ đăng  những trang Hoàng Lê Nhất Thống Chí cùng với lời bình luận của tôi. Tập sách sẽ có tên là Trăm Năm Binh Lửa. Tôi không làm việc này như việc phân tích lịch sử mà chỉ là viết ra những cảm nghĩ, những nhận xét của tôi, của một người đọc rất thường khi đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Mục đích của tôi chỉ là để giải trí cho quí vị bạn đọc và đem lại cho quý vị một dịp đọc lại Hoàng Lê Nhất Thống Chítác phẩm tiểu thuyết lịch sử giá trị của văn học ta.

Mời bạn đọc những trang đầu của Trăm Năm Binh Lửa:

CHIẾN THẮNG ÐỐNG ÐA. Trích “Hoàng Lê Nhất Thống Chí.”

Bắc Bình Vương cho đắp đàn trên Núi Bân, tế cáo Trời Ðất cùng các vị Thần Sông, Thần Núi, chế ra áo cổn, mũ miện, lên ngôi hoàng đế; đổi năm thứ 11 niên hiêu Thái Ðức của Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiêu Quang Trung. Lễ xong, hạ lệnh xuất quân. Hôm ấy là ngày 25 Tháng Chạp năm Mậu Thân — 1788.

Vua đốc xuất đại binh thủy bộ ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An Vua cho vời vị cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp đến gập và hỏi:

– Quân Thanh sang chiếm nước ta, tôi đem binh ra chống cự. Mưu đánh và giữ, cơ được hay thua, tiên sinh nghĩ thế nào ?

Nguyễn Thiếp nói:

– Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh, nên giữ ra sao. Chúa công ra Bắc chuyến này, không quá mười ngày giặc Thanh sẽ bị dẹp tan.

Vua rất mừng, liền sai Ðai tướng là Hám Hổ Hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba xuất đinh thì lấy một người làm lính, chưa mấy lúc đã được một vạn quân tinh nhuệ. Rồi Vua mở cuộc duyệt binh, đem số thân quân ở Thuận Hóa. Quảng Nam chia làm bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu, số lính mới tuyển ở Nghệ An làm trung quân.

Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh, truyền cho mọi người nghe lệnh:

– Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân định rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải cùng nòi giống dân ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay chúng đã nhiều phen tràn sang cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải; người mình ai cũng muốn đuổi chúng đi. Ðời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Ðinh Tiên Hoàng, Lê Ðại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Ðạo, đời Minh có Lê Thái Tổ. Các ngài không nỡ ngồi nhìn bọn giặc phương Bắc làm điều tàn bạo nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân chống địch. Các ngài chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương bắc. Ở các thời ấy Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Ðinh tới nay dân ta không còn quá khổ sở như thời bị nội thuộc trước đó. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy là những chuyện cũ rành rành của những triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh. Vì vậy ta phải đem quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy  cùng ta đồng tâm, hiệp lực, dựng nên công lớn. Chớ có quen thói ăn ở hai lòng, làm chuyện phản trắc, việc phát giác sẽ bị giết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước.

Quân sĩ đều nói:

– Xin vâng lệnh. Không dám hai lòng.

Hôm sau Vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các đạo quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Ðến núi Tam Ðiệp, Sở và Lân ra đón, hai người mang gươm trên lưng mà chịu tội.

Vua Quang Trung nói:

– Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái. Ta giao cho quản trị cả mười một thừa tuyên, lại cho tùy tiện làm việc. Vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước. Binh pháp dậy: “Quân thua, chém tướng.” Tội các ngươi đáng chết vạn lần. Song ta nghĩ các ngươi đều là hạng võ dũng, chỉ biết đánh, tài tùy cơ, ứng biến thì không có. Nên ta đã để Ngô thời Nhiệm ở lại đấy làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục. Thăng Long là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước ta ra đánh đất ấy, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kỳ làm nội ứng, các ngươi làm sao mà giữ thành được. Các ngươi biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của giặc, lui về chặn giữ nơi hiểm yếu, trong thì kích thích lòng quân, ngoài thì làm cho giặc kiêu căng; kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói ta đã đoán việc lui quân về đây là do Ngô thời Nhiệm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy.

Thời Nhiệm lậy hai lậy tạ ơn. Vua nói tiếp:

– Lần này ta xuất quân, phương lược tiến đánh ta đã có sẵn. Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được giặc Thanh. Nhưng ta nghĩ nước chúng lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua trận, chúng ắt lấy làm thẹn mà mưu sự báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Ðến lúc ấy chỉ có người khéo lời lẽ mới có thể dẹp được việc binh đao; việc ấy không phải Ngô Thời Nhiệm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn nuôi dưỡng lực lượng; bấy giờù nước giầu, dân mạnh, ta có sợ gì chúng.

Bọn Sở, Lân đều lậy tạ và nói:

– Chúa thượng thật là nhìn xa, chúng tôi ngu muội không thể nghĩ tới chỗ đó. Hiện nay phương lược tiến đánh ra sao xin Chúa thương chỉ rõ, chúng tôi nhất nhất tuân theo.

Vua sai mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm năm đạo. Hôm đó là ngày 30 Tháng Chạp. Vua nói riêng với các Tướng:

– Ta với các ông hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước, tối 30 Tết ta lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới ta vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ông hãy nhớ lời ta.

Vua truyền lệnh : Ðai tư mã Sở, Nội hầu Lân đốc xuất tiền quân làm tiên phong, Hám hổ hầu đốc xuất hậu quân làm đốc chiến, Ðai đô đốc Lộ, Ðô đốc Tuyết đốc xuất tả quân; trong tả quân có thủy quân vượt biển vào sông Lục Ðầu. Ðô đốc Tuyết sẽ hành quân ở vùng Hải Dương để tiếp ứng với mặt đông, Ðô đốc Lộc kéo quân đi gấp lên các hạt Lạng Sơn, Phượng Nhãn, Yên Báy chặn đường về của quân Thanh; Ðại đô đốc Bảo, Ðô đốc Long đốc xuất hữu quân, trong đó có quân voi và quân kỵ mã; Ðô đốc Long dẫn quân xuyên qua huyện Chương Ðức, đến thẳng làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, đánh ngang vào đồn quân Thanh ở Ðiền Châu, Ðô đốc Bảo dẫn quân voi, ngựa ra làng Ðại Áng, huyện Thanh Trì, tiếp ứng cho cánh hữu.

Năm đạo quân vâng lệnh, đúng ngày gióng trống lên đường ra bắc.

Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh trấn thủ ở đó chạy trước; khi quân đến sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi tuần thám từ xa trông thấy bóng đã bỏ chạy. Vua Quang Trung thúc quân đuổi theo, đến huyện Phú Xuyên thì bắt sống được hết bọn này, không một tên nào chạy thoát. Vì vậy không có quân về báo tin, những đạo quân Thanh đóng ở Hà Hồi, Ngọc Hồi đều không hay biết gì cả.

Nửa đêm ngày Mồng Ba Tháng Giêng năm Kỷ Dậu — 1789 — Vua Quang Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc. Vua cho quân  vây kín làng ấy rồi mới bắc loa truyền gọi. Tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran, nghe như đông đến vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời, sợ hãi, liền xin ra hàng; lương thực, khí giới trong đồn này bị quân Nam lấy hết.

Vua Quang Trung ra lệnh lấy 60 tấm ván, ghép ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín; tất cả là 20 bức. Kén lính khỏe mạnh, mười người khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn, 20 binh sĩ khác theo sau mỗi bức, dàn hàng ngang thành trận chữ “Nhất”, tiến đến đồn Ngọc Hồi. Vua cưỡi voi đốc tiến. Mờ sáng ngày Mồng Năm quân đến đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh trong đồn nổ súng bắn ra, quân tiên phong nấp sau những bức ván nên không ai bị trúng đạn. Thấy có gió bắc, quân Thanh dùng ống phun khói lửa ra, khói tỏa mù trời, cách gang tấc không trông thấy gì. Quân Nam bắt đầu bị rối loạn. Nhưng chỉ trong chốc lát trời trở gió nam, quân Thanh tự làm hại mình.

Vua Quang Trung hạ lênh đội khiêng ván xông thẳng đến đồn. Khi đến nơi đội quân này bỏ ván, rút dao ngắn chém giặc. Những binh sĩ theo sau nhất tề xông vào đánh.

Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Thái thú Ðiền Châu là Sầm Nghi Ðống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết, thây giặc nằm đầy đồng, máu chẩy thành suối, quân Thanh đại bại.

Trước đó Vua Quang Trung đã phái một toán quân theo bờ đê Yên Duyên kéo lên, mở cờ, gióng trống làm nghi binh ở phía đông. Quân Thanh chạy về đến đó trông thấy cờ xí lại càng hoảng sợ. Lại thấy quân voi từ Ðại Áng tới, quân Thanh hết hồn, hết vía bị dồn chạy xuống Ðầøm Mực, làng Quỳnh Ðô. Quân Tây Sơn lùa voi giày đạp, quân Thanh chết đến hàng vạn người trong đầm này.

Giữa trưa hôm ấy — Ngày Mồng Năm Tết Kỷ Dậu — Vua Quang Trung kéo quân vào thành Thăng Long. Vua hẹn với tướng sĩ sẽ ăn Tết trong thành Thăng Long ngày Mồng Bẩy Tết. Chiến thắng diễn ra đúng như lời Vua nói trước.

Ngưng trích.

Lời bàn của Công Tử Hà Ðông :

Ðây là lần thứ hai Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đem quân ra Thăng Long. Lần thứ nhất  Quân Tây Sơn ra Bắc là năm Bính Ngọ — 1786. Khi ấy Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Bình — một tên khác của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ — đem quân ra đánh lấy đất Thuận Hóa, thủ phủ của đất này là thành Phú Xuân, tức thủ đô Huế đời nhà Nguyễn Gia Long. Lần xuất quân thứ nhất này Nguyễn Bình có các tướnng Nguyễn hữu Chỉnh, Võ văn Nhậm phụ tá. Chỉnh là người Bắc Hà, có tài lược, mưu mô, lại biết rõ tình hình chính trị Bắc Hà, nên khuyên Bình nhân thắng lợi tiến quân ra Thăng Long diệt họ Trịnh. Bình làm theo lời khuyên của Chỉnh và thành công. Bọn tướng lãnh của Chúa Trịnh, đa số chỉ quen tranh quyền vị, đánh giết lẫn nhau, hà hiếp, bóc lột dân đen, thấy quân Tây Sơn kéo ra đều thi nhau bỏ chạy. Chúa Trịnh lúc đó là Trịnh Tông, tự tử chết trên đường chạy trốn. Chúa Trịnh bỏ chạy, Vua Lê vẫn ở kinh đô. Nguyễn Bình vào Thăng Long, tôn trọng Vua Lê, nói:

– Thiên hạ là của Chúa Trịnh thì một thước đất tôi cũng lấy, thiên hạ của Vua Lê thì một thước đất tôi cũng không lấy.

Tuy nói một thước đất của Vua Lê ông cũng không lấy, nhưng Nguyễn Bình có lấy nàng công chúa Ngọc Hân của Vua Lê. Hoàng Lê Nhất Thống Chí không cho ta biết khi tiến quân ra Bắc Vua Quang Trung, khi ấy mới là Nguyễn Bình,  bao nhiêu tuổi, trước khi lấy Công Chúa Ngọc Hân ông đã có vợ hay chưa. Lịch sử ta, theo kiểu viết sử của Trung Quốc, thường không viết gì về đời sống tình cảm vợ chồng của những nhân vật lịch sử.

Những cơn binh lửa, biển dâu trùng trùng nối tiếp nhau. Nguyễn hữu Chỉnh đưa quân Tây Sơn ra bắc, ở lại không theo về nam, trở thành Quận công, quyền nghiêng thiên hạ. Cuối cùng Chỉnh bị Tướng Tây Sơn Võ văn Nhậm bắt sống, giết một cách thê thảm : phanh thây, mổ bụng, moi ruột cho chó ăn. Trong HLNTC có nhiều người chết thê thảm, thê thảm nhất là cái chết của Vua Quang Toản, con Vua Quang Trung, và cái chết của Bằng quận công Nguyễn hữu Chỉnh.

Trong đoạn truyện trên đây tôi muốn các bạn cùng xét với tôi sự kiện :

– Ngày 29 Tết Vua Quang Trung đến Nghệ An, ra lệnh tuyển quân ở Nghệ An “cứ ba xuất đinh thì lấy một người lính, chưa mấy lúc đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ...” Tôi thắc mắc về chi tiết này.

Như trong truyện ta thấy Vua Quang Trung không ở Nghệ An lâu đến ba ngày. Mà dù có ở lại đấy ba ngày chăng nũa quân Tây Sơn cũng không thể có đủ thì giờ để tuyển nhập ngũ đến một vạn quân — 10.000 người -- Kể cả thời đại này, với cả trăm nhân viên hành chính chuyên về tuyển mộ binh sĩ, với những dàn máy vi tính hỗ trợ, sợ cũng khó có thể tuyển mộ được đến 10.000 người nhập ngũ trong ba ngày. Ðất Nghệ An lại không phải là đất đai nhà Tây Sơn. Dân Nghệ An tất nhiên không tuân phục ngay mệnh lệnh của những người xa lạ mới đến. Khi có giặc trai tráng địa phương, nếu không cầm võ khí chống địch, thường bỏ trốn để giữ mạng sống. Dân đất bị chiếm mới được tuyển vào lính, không được huấn luyện, không thể nào là “quân tinh nhuệ” được.

Dã sử ghi về chuyến tiến quân ra Bắc đánh quân Tôn sĩ Nghị của Vua Quang Trung thêm chi tiết :

– Vua Quang Trung cho quân lính cứ ba người một tốp, khiêng võng nhau đi — một người nằm võng, hai người khiêng, cứ thế thay đổi — thành ra quân trẩy liên miên không lúc nào ngừng mà mọi người vẫn được thay phiên nhau nghỉ. Do đó trong chuyến đi này quân Tây Sơn đã hành quân cực kỳ thần tốc.

Tôi thấy :

– Trước hết quân lấy võng đâu mà khiêng nhau? Ðể có thể đánh thắng 200.000 quân Mãn Thanh thuộc loại chính quy, tức lính nhà nghề, quân Tây Sơn ta phải có ít nhất là 100.000 người. Và phải có ít nhất là 20.000 cái võng.

Tôi nghi người sau chép sử phóng đại số quân Thanh sang Thăng Long. Quân Thanh sang nước ta không thể nhiều đến số 50.000 người. Họ lấy gì ăn? Họ không thể cướp gạo của dân Nam để ăn – họ có thể cướp gạo nhưng dân Nam ở quanh Thăng Long thời ấy không nhiều, không đủ gạo để nuôi bọn quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị có thể cho tải gạo từ bên Tầu sang, nhưng đường quá xa, lính đi bộ, phải mất nhiều ngày quân tải lương mới từ Vân Nam sang đến Thăng Long. Ði đường, quân tải lương phải ăn. Ðường xa họ ăn gần hết số gạo họ mang theo. Số quân Nam của Vua Quang Trung cũng được phóng đại.

Cứ cho là Vua Quang Trung đã tính trước, đã cho quân nhu dệt võng trước — việc dệt một lúc 20.000 cái võng không phải việc dễ làm. Nhưnng cứ cho là có sẵn võng đi — Việc người lính hành quân đi xa vạn dặm, phải mang theo võ khí, lương thực, lại phải vừa đi vừa khiêng võng có người nằm.. có phải là việc nên làm chăng, có lợi chăng ? Hay việc đó chỉ làm cho cả ba người lính người nào cũng mất sức, thay vì họ được đi mà không phải khiêng võng ??? Hành quân đến nơi họ còn phải chiến đấu nữa ! Phải chăng chuyện lính khiêng võng nhau chỉ là một huyền thoại nhân dân thêm vào chiến dịch này???

Và đây là những ngày tàn thê thảm quá đỗi của Nhà Tây Sơn oai hùng một thưở:

Ngày 18 tháng Sáu năm Nhâm Tuất — 1802 — Vua Gia Lonng tiến quân ra Thăng Long, quân Tây Sơn  tan vỡ. Vua Quang Toản bỏ thành cùng với em là Quang Thùy và bọn Ðô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà, chạy lên phía bắc.

Vài ngày sau Quang Thùy và vợ chồng Ðô đốc Tú cùnng tự thắt cổ chết. Quang Toản và một số triều thần bị thổ hào Kinh Bắc bắt sống, đóng cũi đưa đến nộp cho quân Gia Long.

Dẹp yên Bắc Hà Vua Gia Long ở lại thành Thăng Long một thời gian, hạ chiếu kêu gọi nhân dân yên ổn làm ăn, chia đặt quan văn, quan võ cai trị các trấn, lại mời nhiều quan chức cũ của nhà Lê ra làm việc, giảm bớt thuế khóa.

Vài tháng sau Vua Gia Long trở về kinh đô Phú Xuân, tổ chức đại lễ tế cáo trời đất cùng các vị  tiên vương, Vua Quang Toản cùng nhiều người khác theo Vua Quang Toản bị đem ra dùng cực hình giết chết trong lễ này… Nhà Tây Sơn tuyệt diệt.

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương…

Vua Gia Long  vào thành Thăng Long năm 1802 thì năm 1802 — cũng năm 1802, ngay trong năm 1802 — Nguyễn Du chấm dứt cuộc bất hợp tác với nhà cầm quyền, cuộc bất hợp tác kéo dài hơn mười mùa lá rụng dưới triều Vua Tây Sơn, ra nhận quan chức của triều Vua mới…

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Mước còn trau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy, người đây luống đoan trường.

SÀI GÒN ÐÊM BA MƯƠI TẾT 2014

Cầu Xa Lộ năm 1965.

Cầu Xa Lộ năm 1965.

“Ngũ đệ..! Anh em ta tình thân hơn cốt nhục!…”

Ðó là một câu tôi nhớ trong số những câu tôi nhớ của tiểu thuyết Ðồ Long Ðao – Ỷ Thiên Kiếm của Kim Dung, tác phẩm tiểu thuyết tôi đọc ở Sài Gòn những năm 1960, thời gian tôi ba mươi tuổi. Ðó là câu Dư Liên Châu nói với Trương Thúy Sơn trên chiếc thuyền lênh đênh giữa biển khi hai anh em đồng môn gặp lại nhau sau mười năm xa cách, khi Trương Thúy Sơn đưa vợ con: Ân Tố Tố và Vô Kỵ, từ Băng Hỏa Ðảo trở về trung thổ, Thúy Sơn sợ Trương Tam Phong, sư phụ của chàng, không cho chàng kết hôn với con gái của Giáo Chủ Bạch Mi Giáo. Chàng được Dư Liên Châu trấn tĩnh

“Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục…!”

Ðường Trần Hưng Ðạo, Sài Gòn 1955. Ðường Xe Ðiện Sài Gòn – Chợ Lớn chạy giữa đường. Tòa nhà cao là rạp xi-nê Lido. Bảng đèn Dancing Grand Monde bên phải ảnh, có đường đi vào bên  trong. Grand Monde không nằm ngay ở mặt đường Trần Hưng Ðạo.

Ðường Trần Hưng Ðạo, Sài Gòn 1955. Ðường Xe Ðiện Sài Gòn – Chợ Lớn chạy giữa đường. Tòa nhà cao là rạp xi-nê Lido. Bảng đèn Dancing Grand Monde bên phải ảnh, có đường đi vào bên trong. Grand Monde không nằm ngay ở mặt đường Trần Hưng Ðạo.

Một câu nói rất thường trong một truyện kiếm hiệp – truyện kiếm hiệp hay nhất trong thời tôi ba mươi tuổi – làm cho tôi xúc động mãi. Khi ngồi trong Nhà Hàng Pagode đêm cuối năm, quanh chúng tôi chỉ còn những chiếc ghế da nâu không người ngồi và nhà hàng sắp đóng cửa – lúc ấy là mười một giờ đêm 28 Tết, còn hai đêm nữa là đêm Giao Thừa – người ta, những người Sài Gòn đi chơi đêm, giờ này đến các tiệm nhẩy, tôi và Quang còn ngồi buồn ở đây.

Nhìn nét mặt đăm chiêu và những nếp nhăn hằn trên trán Quang, tôi chợt nhớ đến lời Dư Liên Châu nói với Trương Thúy Sơn – “Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục” và tôi xúc động. Tôi muốn nói một lời để an ủi Quang, nhưng tôi im lặng, vì tôi nghĩ trong lúc này, và trong nhiều trường hợp, yên lặng là tiếng nói của Trái Tim.

Tôi tuổi Dậu, Quang cũng tuổi Dậu, nhưng anh sinh trước tôi mười hai năm, tức là một giáp. Như vậy là tôi “ ẩn tuổi ” Quang; theo kinh nghiệm, các cụ ngày xưa cho rằng nhũng người ẩn tuổi nhau thường hợp nhau, thương mến nhau. Các cụ nói đúng trong trường hợp “ ẩn tuổi nhau” của Quang và tôi. Chúng tôi thân mến nhau, thông cảm nhau. Tôi thường đoán trước, biết trước được những điều Quang sắp nói, những việc Quang sắp làm. Ngược lại, Quang cũng biết trước về tôi như tôi biết về anh.

Quang là luật sư. Năm 1950, tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn, tôi đi làm phóng viên nhà báo và tới ngụ tại nhà anh trong một thời gian. Ngày ấy, anh đang kiếm ra tiền. Gia đình anh sống trong một vi-la đường Mayer. Tôi sống nhờ trong nhà anh, như người trong gia đình anh. Vợ chồng anh coi tôi như người thân ruột thịt. Quang đưa tôi đi ăn chơi, anh là người mở đầu cuộc sống “trăng hoa” của tôi tại Sài Gòn. Vợ anh là gái Hà Nội, hiền, khá đẹp nhưng không có gì xuất sắc. Chị là người không gây thiện cảm mà cũng không gây ác cảm. Năm đó Ngọc, con gái anh chị, lên năm tuổi. Cô bé xinh xắn, nước da hơi nâu, mạnh khỏe, thông minh, có đôi mắt tròn, đen láy, năm ấy cô bắt đầu cắp sách đi học Mẫu giáo. Trường gần nhà, đi bộ qua một con phố. Có những buổi chiều tôi đến trường đón Ngọc về. Thanh niên chưa có vợ, chưa có con thường thích trẻ con và muốn gần bọn trẻ con kháu khỉnh, xinh xắn, sạch sẽ và thông minh. Ngọc là một đứa bé có đủ nết ấy.

Rồi thời gian qua, Quang thành công với nhiều “áp phe” lớn. Ðịa vị của anh ngày một vững, tên tuổi anh nổi sáng. Rồi chiến tranh Ðông Dương kết thúc. Năm 1954, đất nước chia đôi, Quang trở thành một nhân vật lý tài quan trọng, cỡ quốc tế. Ðó là những năm tôi sống trong quân ngũ. Xa Sài Gòn, tôi xa gia đình Quang, cho tới ngày tôi được tin anh gặp tai họa. Những nhân vật của chế độ mới – những người làm đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm – đã hại Quang và hất anh ra khỏi cái địa vị chuyên gia kinh tế tài chính quốc gia mà anh đang giữ.

Quang bị tù hai năm. Ở tù ra, anh trắng tay. Những người hại anh đã củng cố được một địa vị và thế lực quá vững. Họ tiếp tục làm hại anh bằng cách ngăn cản không cho anh ra mặt làm bất cứ công việc gì. Họ phá không cho anh hành nghề luật sư. Các công ty ngoại quốc không dám mướn anh. Anh phải kiếm sống bằng cách nhận làm riêng cho vài ông luật sư bạn. Những ông này giúp anh bằng cách giao việc cho anh đem về nhà làm.

Và những tai họa theo nhau đến với Quang. Vợ anh bỏ đi – người vợ hiền thục của anh – bỏ chồng con, bỏ nhà đi chung sống với một người đàn ông khác. Hai đứa con được để lại cho Quang nuôi. Quang sống những ngày dài buồn nản trong thất vọng và túng thiếu. Người hào phóng tự tin ở tài năng của mình và thành công ngay từ ngày bước vào đời như Quang, nỗi thất vọng và buồn nản càng nặng nề khi anh đã ngoài bốn mươi tuổi, số tuổi mà những người đàn ông có tài bắt buộc phải có địa vị. Không được phép xuất ngoại, Quang đi lén ra ngoại quốc mấy lần, nhưng không thoát. Bọn mật vụ theo dõi anh, ngăn cản không cho anh đi. Có lần anh đã trốn được xuống một chiếc tầu buôn của Pháp, khi tầu sắp rời bến Sài Gòn, bọn mật vụ mới biết tin và ập xuống tầu lùng xét. Chúng không tìm ra chỗ nấp của anh, nhưng sau đó, ông Thuyền Trưởng đích thân gặp anh, xin anh trở lên bờ để tránh cho tầu của ông gặp khó khăn trong những chuyến sau tầu ghé bến Sài Gòn.

Ðó là những tin, những chuyện về Quang và gia đình của anh tôi được biết trong những năm tôi sống trong quân ngũ. Rồi một người đàn bà khác xuất hiện trong đời Quang. Người đàn bà này đẹp – rất đẹp, nổi tiếng hoa khôi tại Sài Gòn – Nàng thuộc loại “chơi bời quí phái” và nàng có một tài sản đủ cho nàng sống phong lưu suốt đời.

Người đàn bà ấy yêu Quang, nàng chấm dứt cuộc sống cũ để chung sống với Quang, để làm vợ Quang. Họ yêu nhau, họ sống đầy đủ về vật chất nhưng không được hạnh phúc lắm về tinh thần, cả hai người cùng yêu nồng nàn và cùng ghen tuông dữ dội. Quang bị cuộc sống cũ của vợ ám ảnh. Vợ Quang biết nỗi ám ảnh ấy của Quang, nàng sợ một ngày nào đó Quang sẽ khinh nàng, sẽ chán nàng, sẽ yêu một người đàn bà khác trẻ, đẹp, có dĩ vãng trong sạch hơn nàng. Nhưng cả hai người cùng cần có nhau để sống. Theo tôi, Quang là người cần vợ hơn và yếu thế hơn vợ. Người vợ thứ hai của anh – đẹp, sang, được đàn ông say mê, giầu tiền – là một bằng chứng thành công của anh. Ít nhất anh cũng còn thành công với đàn bà. Người vợ trước để lại cho Quang hai đứa con. Một gái, một trai. Thằng bé hãy còn nhỏ được anh gửi bà Nội nó nuôi. Ngọc, đứa con gái lớn được anh gửi vào một trường Nữ Học.

- Tôi đang bối rối không biết phải làm sao thì cậu đến. Có cậu thay tôi lo cho nó mấy ngàyTết này tôi yên tâm. Chắc nó cũng buồn, cũng giận tôi, nhưng nhẹ thôi. Cậu cố giúp tôi. Nói cho nó hiểu. Tôi biết. Cậu từ xa về đây cần phải du hí mấy ngày Tết. Bị vướng cẳng vì một con bé chắc cậu bực mình lắm.

Người cha khổ sở vì không thể đón được đứa con gái yêu từ nhà nội trú của trường ra ăn Tết với mình nhờ tôi lo cho con anh trong mấy ngày Tết. Anh lên Ðà Lạt ăn Tết với vợ. Vợ anh muốn thế, anh không đi không được. Nhưng nếu sáng mai anh đi, chiều mai, không có ai đến trường đón Ngọc, con gái anh, ra trường. Mẹ đi lấy chồng khác, bố có vợ, bố ăn Tết với bà vợ, người thiếu nữ ấy bị bỏ rơi trong ba ngày Tết. Tôi là người thay mặt bố nó để làm cho nó bớt cô đơn, đỡ tủi thân trong mấy ngày đầu năm.

Trước nét mặt khổ não của Quang tôi phải quay mặt nhìn đi. Quanh chúng tôi, nhà hàng vắng tanh chỉ còn một cặp Tây Ðầm già đang ngồi như chờ đợi ai ở góc phòng. Tôi cảm thấy thương Quang và lại nhớ đến câu nói của Dư Liên Châu!

“Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục…”

Tôi hiểu nỗi khổ tâm của Quang. Anh thương con anh nhưng cùng một lúc, anh cũng yêu vợ. Ngọc là con riêng của anh. Anh không thể “bỏ vợ, hy sinh vợ” trong mấy ngày Tết để gần, để sống với đứa con riêng của anh. Tôi nhận lời giúp anh.

o O o

Tôi đã được nghe nói về những nữ sinh của trường nữ trung học này, những chuyện được xếp vào loại “ly kỳ”.

Những chuyện đồn đại, không có bằng chứng. Ðại khái cuộc sống của nhiều nữ sinh trong Internat trường này rất loạn, nhiều nàng chơi trò đồng tính ân ái, nhiều nàng đêm đêm vẫn trốn ra đi chơi, đi nhẩy đầm, bọn vương tôn công tử Sài Gòn đêm đến đậu xe trong một con đường ngách bên trường, đợi các nàng ra, rước đi chơi.. v.v.. Tôi nghe qua những chuyện ấy rồi bỏ ra ngoài tai.

Chiều Ba Mươi Tết, tiếng xe ô tô ngoài đường làm ồn cả phòng đợi. Vào những ngày lễ hội, ngày nghỉ, thủ đô Sài Gòn đông xe hơn ngày thường, đông nhất là buổi chiều gần tối. Ở đây, phụ huynh tấp nập đến đón con ra trường. Nữ sinh người Pháp không còn là bao nhiêu. Nhìn quanh tôi chỉ thấy toàn người Việt Nam.

Tôi trình Thẻ Phụ Huynh, giấy phép được nhân lãnh học sinh. Một bà đầm trung niên – có vẻ là giám thị – ghi mấy dòng chữ vào quyển sổ, rồi nhấc điện thoại gọi vào trong. Bà nói tiếng Pháp.

Tôi ra hiên nhà, đứng hút thuốc lá.

- Chú…!

Tôi quay lại. Năm năm đã qua:

“Chú gặp cháu lần cuối năm 1964. Bố cháu bị bắt… chú đang ở lính. Chắc chú đâu có nhớ cháu, gặp nhau ngoài đường chắc chú không nhận ra cháu, phải không chú?”

Trong phòng lạnh của Restaurant Choeng Nam, trên bát “consommé chaud”, Ngọc mở rộng đôi mắt đen và trong, nói với tôi câu nói gợi lại kỷ niệm. Nàng hỏi:

“Chú có thấy cháu thay đổi nhiều không? Cháu chóng lớn quá, phải không chú…?”

Nàng dơ tay khoát nhẹ nửa vòng trong không khí, điệu bộ nhí nhảnh như cô đào điện ảnh Sandra Dee trong vai thiếu nữ dậy thì, con nhà giàu, ngây thơ, gợi tình. nàng nhắc lại:

“Chú gặp cháu ngoài đường chắc chú không nhận ra cháu. Nếu có ngờ ngợ chắc chú không dám hỏi. Phải không chú? Nhưng cháu nhận ra chú ngay!”

Nàng nhìn tôi đăm đăm như cô giáo nhìn anh học trò quấy phá

“Cháu nhận ra chú ngay! Chú có già đi chút chút, nhưng khuôn mặt, nét mặt vẫn không khác”.

Ánh mắt nàng long lanh, vành môi nàng cười mỉm.

“Tóc chú bạc nhiều rồi.” Tôi nói.

Trong năm năm, Ngọc thay đổi nhiều. Lần tôi đến nhà Ngọc lần cuối, Quang đang nằm trong khám Chí Hòa. Hôm ấy tôi chỉ thấy loáng thoáng bóng hai chị em Ngọc rồi tôi đi ngay, cho tới nay cô cháu ngồi trước mặt tôi giờ đây là một thiếu nữ mười sáu, mười bẩy tuổi, tóc để theo kiểu tóc Jacqueline Kennedy, mặt trái soan, mắt to và sáng, môi hồng mỏng và hai bên mép sa xuống. Ðôi khi, tôi thoáng thấy Ngọc có vẻ chán đời, ngạo đời – vì đôi môi sa xuống hai bên mép. Những người phụ nữ có đôi môi hai bên mép sếch lên, cũng như đuôi mắt sếch lên, thường có vẻ tươi vui – Ngọc bận đầm, đúng thời trang, không hoa hòe, hoa sói mà đẹp, trang trọng và gọn . Áo sơ mi trắng dài tay, váy Tergal xám, có hai dây vắt qua vai, ngực áo thêu hai chữ HN: Hồng Ngọc, bằng chỉ xanh. Một thiếu nữ đang đứng trên ngưỡng cửa cuộc đời. Ðời nàng xấu hay đẹp, mai sau nàng khổ sở hay sung sướng – suốt những năm còn lại, đó mới là cuộc đời, ba mươi năm, bốn mươi năm nữa – tùy thuộc vào vài năm sống sắp tới của nàng. Tôi thấy tôi lo sợ một cách chánh đáng: ai sẽ dẫn dắt cô gái này đi trong mấy năm trời quyết định ấy? Mẹ nàng đi lấy chồng khác, cha nàng có vợ và con riêng, cuộc đời nàng có biết bao nhiêu là cạm bẫy.

Nàng ngước lên, nét buồn vừa qua biến mất:

“Tại tóc chú bạc sớm chớ có phải tại nhiều tuổi đâu? Phải không chú? “

Hàm răng trắng của nàng lộ ra dưới vành môi mỏng.

“Chú kém ba cháu những mười hai tuổi. Năm nay, chú mới ba mươi ba tuổi. Ba cháu bốn mươi nhăm rồi. Tóc ba cháu đã bạc đâu. Có bạc, nhưng không nhiều bằng tóc chú. Hồi này, không biết ba cháu có nhuộm tóc không? Sao chú không nhuộm tóc, chú?”

“Chú không thích nhuộm. Chú thích tóc trắng?”

“Sao thế?”

Tôi nhún vai:

“Tại chú thích.”

Nàng cười thành tiếng:

“Tóc bạc như Jeff Chandler…! Cháu biết tại sao chú lại thích rồi!”

“Tại sao?”

“Chú muốn cho các cô phải để ý đến chú vì mái tóc của chú chứ gì? Chú khôn lắm. Cô nào thấy chú hãy còn trẻ măng mà tóc đã bạc trắng thì cũng phải để ý! Chú thấy không… Ðến cháu quen với chú là thế mà vẫn còn phải hỏi nữa là.”.

Tôi làm bộ ngượng vì bị nói trúng tim đen, nàng cười sung sướng.

“Ðã có cô nào nói với chú là… yêu chú vì mái tóc của chú chưa!”

Tôi cau mày:

“Ðừng hỏi bậy!”

“Cháu có hỏi gì quá lố đâu?

Mặt nàng cũng nghiêm lại.

“Chú vẫn… cho là cháu còn con nít? Chú là văn sĩ mà chú chẳng biết tâm lý chút nào! Cháu không dám nói là cháu đã yêu nhưng… cháu có đủ tư cách để nói chuyện về Tình Yêu với chú, với bất cứ ai…!”

Tôi muốn khuyên nàng vài câu. Tôi biết những điều mà nàng biết về tình yêu đó chỉ là những điều nàng đọc được trong tiểu thuyết, nàng nhìn thấy trên màn bạc xi-nê và nàng nghe vài cô bạn thuật lại. Tôi muốn nói cho nàng biết nàng chưa đủ tư cách để nói về bất cứ một chuyện gì, nhất là về Tình Yêu. Nhưng tôi chưa kịp mở miệng. Nàng đã tiếp:

“Cháu học hết năm nay thôi. Sang năm, chú sẽ không còn gặp cháu ở Sài Gòn nữa đâu.”

“Ngọc đi đâu?”

“Cháu đi xa.”

“Xa là tận đâu?”

“Bên kia biển.”

Ðôi mắt nàng mơ màng. Tôi thấy sợ – tôi biết là nàng nói thật – tôi hỏi:

“Ba cháu có biết chuyện cháu sắp đi xa không?”

Nàng lắc đầu:

“Ba cháu chưa biết. Nhưng có biết, chắc ba cháu cũng không ngăn cản cháu được, cháu hy vọng ba cháu sẽ không ngăn. Và cháu tin rằng ba cháu sẽ không ngăn cháu đâu..”

Giọng nàng chợt đổi khác, rất già dặn, đứng đắn:

“Ðến đúng lúc, cháu sẽ cho ba cháu biết chuyện.”

“Ngọc đừng có dại!”

“Không đâu, chú ơi. Chú sẽ thấy là cháu rất khôn. Cháu sẽ có tiền gửi về cho ba cháu, em cháu và cả mẹ cháu nữa. Ở đời này, tiền trên hết chú ạ! Tiền là tất cả. Chú viết truyện ca ngợi tình yêu, nhưng nếu nhà báo không trả tiền chú, chú ngưng viết ngay. Chẳng tình yêu thì đừng. Chú có thể viết truyện ca ngợi tình yêu rất hay, rất… ra rít, với điều kiện là truyện đó chú phải bán được ra tiền…”

Tôi trừng mắt:

“Ðừng nói lảm nhảm. Tôi không muốn nghe Ngọc nói nhảm. Ngọc chưa đến tuổi nói đến tiền, đến tình yêu.”

Nàng xịu mặtï:

“Cháu xin lỗi chú.”

Bữa ăn trôi qua trong tẻ nhạt. Chúng tôi trao đổi với nhau những câu hỏi đáp thông thường. Tôi suy nghĩ về những câu Ngọc vừa nói và thấy nàng có lý. Tôi thắc mắc muốn biết rõ về chuyện sắp đi xa của nàng. Nàng sẽ đi đâu? Ði với ai? Nói thật hay quan trọng hóa một sự việc chưa có gì là quan trọng cả?

Nàng buồn và ủ dột một cách lạ thường. Ăn xong, tôi cảm thấy hối hận nên vui vẻ:

“Chú thay mặt ba cháu đưa cháu đi chơi đêm Giao Thừa. Cháu muốn đi đâu, chú đưa đi.”

“Cháu muốn chú cho cháu đi coi xi nê, rồi cho vào Dancing nghe nhạc…!”

“Cũng được. Nhưng đi Dancing thì khuya quá. Sau đó, cháu về trên bà nội có tiện không?”

“Ðược chú. Nếu không đi quá nửa đêm sao gọi là đi chơi đêm Giao Thừa! Với lại… cháu thỉnh thoảng vẫn về bà nội cháu khuya quá nửa đêm, không sao đâu. Nhất là có chú đưa về, “suya” quá rồi!”

Nàng tươi lên khi tôi nhận lời. Ngồi trong rạp xi-nê, nàng chăm chú theo dõi những hình ảnh trên màn bạc, thỉnh thoảng mới thốt ra một câu phê bình truyện phim và lối đóng của các diễn viên, nàng phê bình rất sành, rất đúng.

Vào Dancing, nàng đòi uống Champagne. Ðêm Tất Niên, Grand Monde chật người, hết bàn, không khí thật vui. Tiếng nhạc và người nhẩy thật hào hứng. Nhìn quanh thấy những bộ mặt thỏa mãn ẩn hiện trong bóng tối lờ mờ, tôi chợt nghĩ lẩm cẩm rằng trong số những người ở đây, chắc không có một ai nhớ rằng đất nước này đang có chiến tranh, đang bị tấn công ngày đêm, giờ này, đang có những đồng bào của họ đổ máu và chết.

Tôi gọi Champagne. Chị Cai Gà thấy tôi vào, nhân lúc bồi đến mời uống, chị ghé đến bàn chúng tôi. Chị tủm tỉm cười, ra cái điều thông cảm và ngầm nói với tôi: ”Ðêm nay ông anh đưa trẻ em đi ăn, đi chơi”, chị kín đáo hỏi nhỏ tôi:

“Anh có cần em nào ngồi bàn, để gọi?”

Tôi lắc đầu:

“Ðêm nay tôi đi với cô cháu, chỉ đến nghe nhạc thôi, cám ơn chị.”

Chị ta nhắc lại:

“Dạ… anh đi mí cô cháu…!”

Không nhìn theo,chị Cai Gà, Ngọc hỏi tôi:

“Bà nào đấy chú? Có phải bà “Chef-Taxi-girl” không chú?”

Tôi gật đầu.

“Bà ấy có vẻ… bồ với chú lắm? Chắc là chú đi nhẩy nhiều nên bà ấy biết chú chứ gì?”

Thời gian càng trôi qua, đêm cuối cùng của năm nay càng gần giờ Giao Thừa, tôi càng thấy khó khăn trong việc trò chuyện với Ngọc. Nàng không còn trẻ con, nhưng cũng chưa hẳn là người lớn Nàng không thuộc loại Nymphet, nữ nhân vật Lolita của Vladimir Nabokov. Tiểu thuyết Lolita của Vladimir Nabokov được người đọc khắp thế giới nhắc đến và đọc từ năm ngoái, năm kia nhưng qua đến giữa năm nay, một vài cuốn tiểu thuyết này mới lọt vào Việt Nam. Chính quyền Ngô Ðình Diệm giữa thời cực thịnh, kiểm soát và cấm đoán gắt gao các loại sách báo và phim ảnh ngoại quốc bi mang tiếng là khiêu dâm. Ngọc không giống Lolita vì thân thể nàng nẩy nở, tròn và đầy hơn là Lolita thon và dài.

Khi nhận lời đến trường đón Ngọc cho đến lúc gặp Ngọc trong trường, tôi vẫn nghĩ rằng Ngọc hãy còn nhỏ, hãy còn là một đứa con gái sợ sệt mà tôi có thể đưa đi ăn kem, đi mua sách vở, mua quà con búp bê. Tôi nghĩ việc tôi đưa cô cháu ấy đi chơi sẽ không gây ra một sự hiểu lầm nào, kể cả những tên bạn lưu manh nhất của tôi cũng không có lý do để nghĩ bậy khi thấy tôi đi với cô cháu. Nhưng trong bữa ăn ở Choeng-Nam tôi thấy tôi nghĩ lầm. Nhìn tôi với Ngọc, chắc không ai cho rằng nàng là cháu tôi.

Và giờ đây, trong vầng ánh sáng mờ mờ của Dancing, rượu Champagne làm đôi mắt Ngọc sáng long lanh, tôi thấy nàng hoàn toàn khác hẳn với cái hình ảnh cháu Ngọc mà tôi vẫn có. Nhìn nàng, tôi hiểu tại sao cõi đời này có những người con gái thích lấy chồng già và chỉ có thể lấy – hoặc chung sống – được với những người đàn ông gấp đôi – hoặc gần gấp đôi tuổi các nàng – như người thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi đang ngồi trước mặt tôi đây chẳng hạn. Bọn con trai mười sáu, mười bẩy, kể cả hai mươi tuổi, ngốc nghếch như gà tồ, chưa biết tý gì về đời, chưa biết suy nghĩ – như tôi năm tôi mười bẩy, mười tám tuổi. Nếu đem xếp Ngọc đứng gần một anh hai mươi tuổi, nàng sẽ phải khóc thét lên vì bực mình.

Thấy tôi không trả lời câu nàng hỏi về chị Cai Gà, nàng mỉm cười.

“Chú có muốn gọi Ca-ve thì cứ gọi, chú nhá – Nhưng nếu chú gọi thì chú gọi cô nào trông “élégante” một chút, nghe chú. Và chú phải nhẩy với cô ấy. Chia ra, với cháu một bản, với người ta một bản..”

Tiếng trống vang rền, đèn điện mờ dần rồi tắt. Giờ Giao Thừa. Năm mới đã đến. Trong bóng tối người ta ôm nhau, hôn nhau, chúc tụng nhau năm mới. Tiếng cười, tiếng í é xen tiếng trống rền. Sau một phút như vậy, đèn sáng trở lại; Ngọc lấy được một trái bong bóng màu xanh. Nàng buộc dây bóng vào thành ghế rồi vỗ nhẹ hai bàn tay vào nhau:

“Vui quá. Năm nay, cháu sẽ được sống những ngày thật đẹp và có nhiều thay đổi.”

Tôi đứng dậy đưa nàng ra “pít”.

“Cháu chúc chú năm nay viết được truyện hay, kiếm được nhiều tiền và… chú gặp một người đàn bà yêu chú đủ để chú yêu lại và lấy làm vợ.”

Ban nhạc trình tấu bốn bản liền. Tango rồi Rumba rồi Mambo và Cha Cha Cha. Nhiều cặp phải bỏ cuộc đi vào lúc tiếng nhạc chưa ngừng. Ngọc nhẩy giỏi và đẹp như một vũ nữ nhà nghề. Nàng học nhẩy từ bao giờ? Nàng học nhẩy ở đâu? Với ai? Những câu hỏi ấy chỉ thoáng đến với tôi rồi biến đi ngay. Tôi không còn ngạc nhiên nữa. Tôi biết Ngọc còn dành cho tôi nhiều ngạc nhiên khác nếu tôi muốn tìm ngạc nhiên và việc tập nhẩy đầm không phải là một việc làm lén lút của nàng. Có lẽ trong cái trường Nữ Học nổi tiếng ấy, chỉ có Dì Phước và những nữ sinh thọt chân mới không biết nhẩy đầm. Hai nữa, chất rượu đã bắt đầu ngấm trong cơ thể tôi. Tôi chưa say, nhưng tôi đã nhìn đời bằng một đôi mắt khác.

“Chú với cháu đẹp đôi nhất Dancing đêm nay. “.

Nàng nói bằng một giọng nghiêm trang, đôi mắt nàng nhìn vào mắt tôi. Nếu lúc đó, tôi mỉm cười và gật đầu đồng ý cũng chẳng sao nhưng vì một mặc cảm, tôi nhíu mày:

“Ðừng nói bậy!”

Nàng dẩu môi :

“Nếu không biết rõ chú, cháu cho chú là đạo đức giả và… giả dối nữa là khác!”

Như người đàn bà trưởng thành nói chuyện với tất cả sự bình tĩnh, nàng tiếp:

“Nếu chú với cháu đẹp đôi, và biết là chúng ta đẹp đôi, có gì là xấu?… Chúng ta kiêu hãnh vì chúng ta hơn người. Nếu chú lờ khờ, nhà quê, cháu không được hãnh diện vì chú. Cũng như nếu cháu luộm thuộm bê bối, chú cũng không hăng hái lắm khi phải đưa cháu đến những nơi đông người.”

Nàng nói tiếp:

“Cháu không thích những người con trai ngang tuổi cháu hoặc hơn cháu chút ít, cả tụi bạn của cháu cũng vậy. Cháu chỉ có thể yêu được những người đàn ông nhiều tuổi hơn cháu.”

Tôi hỏi:

“Cháu đã yêu bao giờ chưa?”

Nàng cười, đôi mắt sáng lộ rõ vẻ tinh nghịch, hàm răng trắng lấp lánh. Trong bóng tối tôi chỉ trông thấy rõ đôi mắt và hàm răng của nàng:

“Nếu chú thấy cháu có thể nói chuyện với chú về Tình Yêu, cháu sẽ kể chú nghe truỵên tình của cháu, người sắp mang cháu đi… đi xa, là một người bằng tuổi chú.”

Tôi nhớ lời nàng nói với tôi khi chúng tôi ăn ở Nhà Hàng Choeng Nam – “Cháu chỉ học hết năm nay thôi. Sang năm cháu sẽ đi xa…” Bây giờ nàng không nói hết lời tôi cũng biết người đàn ông bằng tuổi tôi mà nàng nói là người sẽ mang nàng đi đó là một người Hoa Kỳ.

Chúng tôi trở lại bàn, Ngọc nâng ly chạm ly tôi:

“Năm mới, chúc chú vạn sự như ý, chúc chú gặp người yêu chú đủ để chú cưới về làm vợ.”

Tôi đáp:

“Năm mới, chúc Ngọc vui vẻ, học giỏi và không làm điều gì để những người thương yêu Ngọc phải buồn.”

Nàng uống hết ly rượu:

“Cháu chỉ có ba cháu và em cháu. Má cháu đã đi lấy chồng. Nếu thương cháu, bà đã chẳng bỏ đi như thế, nhất là bỏ đi trong lúc ba cháu gặp tai họa. Ba cháu đã làm lại cuộc đời. Em cháu còn nhỏ chưa biết gì, cháu ra đi nhẹ nhàng. Chú yên trí đi, cuộc đời của cháu – ít nhất trong năm nay – đã được sắp đặt sẵn rồi, chú khỏi phải chúc.”

Tôi gợi chuyện:

“Chú đoán người đàn ông bằng tuổi chú Ngọc nói đó là một người Mỹ?”

Nàng gật đầu:

“Chú nói đúng.”

“Cháu yêu người đó?”

“Cháu chưa biết, phải mười năm nữa cháu mới trả lời được chú câu ấy. Nghĩa là phải mười năm nữa cháu mới biết chắc là cháu có yêu anh ấy hay không. Tình yêu phải được thời gian thử thách.”

“Tên hắn là gì?”

“Sang đến Mỹ, cháu sẽ cho chú sẽ biết tên chồng cháu. Cháu không sợ chú phá cháu đâu, nhưng chú cũng chẳng nên biết sớm.”

Tôi cười:

“Ngọc quên là Ngọc mới mười bẩy tuổi, người Mỹ trọng pháp luật…”

“Chú muốn nói cháu hãy còn là gái vị thành niên và có yêu cháu đến điên cuồng người ta cũng không dám mang cháu đi chứ gì?”

Nàng ngắt lời tôi :

“Chú chưa biết cháu đi sang Mỹ học, cháu có học bổng, hai chánh phủ Mỹ-Việt bằng lòng cho cháu sang bên đó du học, tiền cho cháu ăn hoc  do chánh phủ và nhân dân Mỹ Quốc đài thọ!

Tôi nhìn nàng và tôi nhớ tới lời nói của một anh bạn. Anh bạn tôi bốn mươi nhăm tuổi, dược sĩ, có tiền, vẫn còn độc thân mặc dầu đã nhiều lần yêu. Mới đây anh nói với tôi :

” Toa phải viết về tình trạng: những cô gái Việt thích lấy chồng Mỹ. Những cuộc nhân duyên ấy không thể bền đẹp. Hiện giờ có quá nhiều gái Việt Nam con nhà tử tế, lấy Mỹ, đi theo chồng sang Hoa Kỳ. Toa nên nhớ trước kia thời Pháp… đa số me Tây đều là bọn gái hạ cấp. Nhưng bây giờ khác, bây giờ có cả con gái nhà tử tế, có thể nói là thượng lưu… cũng ham lấy chồng Mỹ.”

Anh bạn tôi cho rằng người Mỹ gần gái Việt là chỉ để chơi, để giải sầu. Nhưng tôi thấy đa số người Mỹ đến đây khi giao thiệp với gái bản xứ đều yêu và cố kết. Họ kết hôn cả với những cô gái điếm hạ cấp nhất. Tôi thấy tận mắt nhiều em điếm một trăm, sáu chục, hành nghề ở An Nhơn, Gò Vấp trở thành những cô vợ Mỹ rồi thành công dân Hoa Kỳ. Những cuộc hôn nhân ấy có bền và có hạnh phúc hay không ? Ðó là một chuyện khác. Những chuyện đã xảy ra ở Nam Hàn, ở Nhật Bản, giờ đây không có gì lạ đang xẩy ra ở Việt Nam.

Bỗng dưng tôi thấy buồn. Buồn và nản một cách lạ thường. Tôi nghĩ đến Quang. Anh sẽ nghĩ sao, sẽ nói gì khi con gái anh báo tin nó lấy chồng Mỹ và nó sang ở luôn bên Mỹ. Tôi sẽ không biết nói sao nếu con gái tôi nói với tôi như vậy.

“Nhẩy với cháu nữa đi chú. Sao chú buồn thế? Cháu đã đi mất ngay đâu. Cháu còn ở đây những gần mười hai tháng nữa kia mà!”

Hai giờ sáng, chúng tôi ra khỏi Grand Monde. Nàng say và yêu cầu tôi lái xe đưa nàng ra Cấp. Tôi không thể đưa nàng về nhà bà nội nàng trong lúc nàng say rượu.

Ðêm trên xa lộ, trời tối om. Ðêm Ba Mươi Tết. Nhiều chiếc xe, cũng như xe chúng tôi, vun vút chạy xa Sài Gòn. Gần như trên xe nào cũng có một cặp nhân tình.

Gần hết xa lộ, tôi dừng xe gần một vườn cao su. Tôi xuống xe theo nàng, sương đêm xuống lạnh hai vai áo. Nàng đi vài bước trên con đường vắng, rộng thênh thang, rồi nàng dơ tay thả trái bong bóng bay lên trời. Nàng đứng nghiêng nghiêng, trong chiếc áo lạnh màu trắng sữa, ngửa mặt nhìn theo trái bong bóng bay lên trời cao.

Hết truyện Xuân Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết.

Tôi – Hoàng Hải Thủy – viết truyên Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết cuối năm 1969 ở Sài Gòn. Như vậy truyện ngắn này đã có 40 năm tuổi. Tôi viết Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết để đăng trong một tờ báo Xuân. Tôi không nhớ báo nào. Năm 2000, con tôi tìm được tờ báo Xuân đăng truyện Sài Gòn Ðêm Ba Mươi Tết trong một tiệm sách báo cũ ở đường Hồng Thập Tự. Con tôi cắt mấy trang truyện trong báo gửi sang Mỹ cho tôi. Tôi gõ máy chép lại truyện. Tôi chép lại y chang, không thêm bớt, không thay đổi đoạn nào.

Bốn mươi năm sau đọc lại truyện xưa, tôi thấy giữa Sài Gòn chiến tranh, khi mỗi giờ có bao nhiêu đồng bào tôi chết vì bom đạn, tôi sống bình an ở Sài Gòn, tôi viết một Truyện Xuân như Sài Gòn thanh bình 500/100, một Sài Gòn không biết Chiến Tranh là gì. Tôi có mặc cảm phạm tội.

Tôi đưa Truyện cho TBS đọc. Tôi nói với anh:

“Tôi muốn đăng lại truyện này, nhưng tôi ngại. Sài Gòn đang có chiến tranh ác liệt mà tôi viết một truyện Tình khơi khơi.”

TBS nói:

“Cho đăng đi. Sài Gòn những năm ấy có những người sống như thế, có những cuộc Tình như thế.”

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích.

Chép lai, viết thêm Ngày 20 January 2014, Ngày gần Tết Giáp Ngọ.

TÌNH NGƯỜI, TÌNH NGỰA

Võ Đại Lang Bánh Bao

Võ Đại Lang Bánh Bao

Năm năm cứ đến Ngày gần Tết
Lại rộn bài Xuân, rộn báo Xuân..

Làng Báo Việt Nam ở Hoa Kỳ — đã ly quốc 40 mùa xuân – vẫn theo, vẫn giữ việc xuất bản một Số Báo Xuân khi Tết Nguyên Đán đến; vẫn theo đúng tục lệ Báo Xuân năm con Giáp nào thì báo có nhiều bài viết về con Giáp ấy; như năm 2013 là năm Tỵ – Rắn – báo Xuân Việt Năm Tỵ có những bài viết về Rắn; năm nay – 2014 – là năm Giáp Ngọ – Ngựa – báo Xuân Việt năm Ngọ có nhiều bài viết về Ngựa.

Thành phố Sài Gòn trước năm 1954 có nhiều xe thổ mộ, xe do ngựa kéo, những con ngựa gầy kéo xe thổ mộ trông thật thảm; nhiều con ngựa yếu quá ngã ngay trên đường, làm xe đổ, người trên xe bị thương. Sau năm 1956 xe thổ mộ không được dùng nữa trên toàn cõi Nam Việt Nam.

Phan Kim Liên

Phan Kim Liên

Ngựa sinh ra tiếng Đĩ Ngựa. Tiếng Đĩ Ngựa được dân Việt dùng để gọi những người đàn bà dâm đãng. Nhiều khi người ta chỉ nói “Em đó ngựa lắm” là đủ nghĩa.

Đến sống ở Kỳ Hoa Đất Trích từ năm 1994 đến năm nay – 2014 – là tròn 20 năm, tôi đã hai lần viết về Ngựa cho Báo Xuân Năm Ngựa. Năm nay – Năm Ngựa 2014, Năm Ngựa thứ ba tôi sống ở Kỳ Hoa,  tôi được gợi ý:

“Anh viết về một em nào nổi tiếng là Ngựa ở Sài Gòn.”

Tất nhiên là “ở Sài Gòn Xưa, Sài Gòn những năm 1960, 1970” – tôi được gợi ý viết về một trong những người đàn bà nổi tiếng là người dâm đãng ở Sài Gòn Xưa – như nhiều người tôi cũng biết vài người đàn bà nổi tiếng dâm đãng ở Sài Gòn Xưa, nhưng tôi không thể viết về họ. Đúng ra tôi chỉ nghe người ta nói về vài nữ nhân vật dâm nổi tiếng, nhưng nay với tuổi đời xế chiều, tôi thấy “chuyện nghe nói và chuyện thật” khác nhau xa. “Chuyện nghe thiên hạ nói” có chuyện chứa đến 9/10 là chuyện bịa đặt. Nên tôi chỉ kể sơ về hai người:

Năm 1954 có cô Yến Ngựa từ Hà Nội vào Sài Gòn. Tôi nghe những ông đàn anh tôi ở Hà Nội vào nói cô là ca-ve, vì cô sexy nên cô có biệt danh là Yến Ngựa. Cô Yến Ngựa độc thân, ngụ trong một căn phòng trên lầu dẫy nhà đường Tự Do bên kia đừờng trước Nhà Brodard. Năm 1960 Yến

Ngựa bị đâm nhiều nhát dao chết trên giường ngủ. Cô bị giết ban đêm. Tôi không nhớ sau đó công an Sài Gòn có tìm ra, có bắt được kẻ giết Yến Ngựa hay không. Tôi có gặp cô vài lần nhưng tôi không quen cô. Năm cô bị giết cô trạc 35 tuổi. Tôi chỉ nhìn vẻ mặt và hình thể cô khi cô xuất hiện trên vỉa hè đường Tự Do, trong tiệm Brodard cũng thấy cô quả thật là sexy.

Bà vợ ông Chủ Tiệm Giầy Nam Việt đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn ngoại tình, chủ mưu trong việc cùng với tình nhân giết ông chồng. Bà này bị bắt; tôi không nhớ bà bị tù bao nhiều năm, tôi chỉ nhớ bà chịu án tù trong Nhà Tù dành cho đàn bà ở Thủ Đức. Tại nhà tù này bà có thai với ông Đại Úy Quản Đốc Nhà Tù. Tôi không nhớ người tình của bà vợ dâm giết chồng bị án tù bao nhiêu năm.

Tôi nghĩ đến Nữ nhân vật Dzâm Tình Phan Kim Liên trong tiểu thuyết Kim Bình Mai. Tết Năm Ngựa mà viết về Phan Kim Liên là đúng sách vở, an toàn và hấp dẫn. Tên truyện Kim Bình Mai gồm tên ba nữ nhân vật trong truyện: Kim Liên, Bình Nhi và Xuân Mai. Thi sĩ Nguyễn Du của ta chắc có đọc Kim Bình Mai nên đặt tên truyện thơ của ông là Kim Vân Kiều: Kim Trọng, Thúy Vân  và Thúy Kiều.

Để viết về Đệ Nhất Nữ Dzâm Phan Kim Liên tôi lấy bộ Kim Bình Mai ra đọc lại. Tôi đã đoc Kim Bình Mai một lần năm 1970 ở Sài Gòn. Kim Bình Mai năm xưa ấy không hấp dẫn tôi. Đọc nó tôi thấy sốt ruột vì chuyện kể dài dòng, toàn chuyện Dzâm Tình Tầu mà tôi thấy là không đi đến đâu so với những tiểu thuyết Dzâm Tình Âu Mỹ. Năm 1970 khi đọc Kim Bình Mai lần đầu tuổi tôi chưa tròn Bốn Bó. Bốn mươi năm qua, nay đọc Kim Bình Mai trên xứ người, tôi thấy tác phẩm quá hay. Không những chỉ quá hay mà còn là Hay quá là Hay. Kim Bình Mai truyện Hay mà Thơ cũng Hay. Thơ Kim Bình Mai khác  Thơ Hồng Lâu Mộng. Đa số bài Thơ Hồng Lâu Mộng tả cảnh phong vân tuyết nguyệt, tả tình oán than, sầu não, Thơ Kim Bình Mai tả chuyện đời, lòng người.

Tôi trích vài đoạn tôi thấy Hay trong Kim Bình Mai.

Trích Kim Bình Mai.

Võ Tòng mang gông.

Võ Tòng mang gông.

Bỗng nghe ngoài cổng có tiếng ồn ào, Tây Môn khánh gọi Đại An, bảo ra xem chuyện gì, Đại An đi ra cổng rồi trở vào thưa:

- Không có chuyện gì cả, chỉ có mấy người hát xẩm vừa đi vừa hát xin tiền, bọn trẻ con hàng phố bu theo reo hò, chọc phá.

Tây Môn Khánh bảo:

- Hôm nay trong nhà có tiệc, gọi họ vào hát cho vui.

Hoa Tử Hư tiếp lời:

- Phải đó, nên lắm.

Ứng Bá Tước nói:

- Đành vậy, nhưng chỉ sợ bọn này hát thì khó lòng nghe nổi.

Nhưng Tây Môn Khánh đã sai Đại An ra gọi người hát xẩm vào. Người này khăn áo chỉnh tề, chân đi hài đen, trông có vẻ một đạo sĩ hơn là một người hát dạo, mà mặt mũi lại sáng sủa dễ coi. Người này vào tới nơi thì cúi chào rồi đứng đợi. Tây Môn Khánh bảo:

- Sao không hát đi ?

Người này rút ra một ống sáo, thổi lên vài điệu rồi cất giọng hát:

“Than cho cảnh phồn hoa
Chỉ trong chớp mắt là tiêu ma
Đâu còn má đào mày liễu
Đâu còn áo cừu may khéo
Chỉ còn con oanh đang đứng gọi
Núi đã lở rồi ai đỡ được
Nghe nói  Người thiếu nữ đất Ngũ Lăng lúc trước
Bây giờ sống cảnh thê lương.”

Bài hát dứt, Hoa Tử Hư bảo:

- Hát bài khác đi.

Người nọ hát tiếp:

“Kìa ai đua chen trong chốn phong lưu
Cái chí bình sinh chỉ là tìm liễu hỏi hoa
Tiếng tì bà không còn nữa
Chim yến đã chết
Ấy cũng bởi lúc xưa tâm địa sài lang
Bây giờ thì lâu đài bỏ không, chim phượng đi rồi
Đáng thương thaỵ Lòng mê man giấc mộng xuân đầỵ”

Ứng Bá Tước khen:

-  Hát cũng hay đấy chứ.

Người kia lại hát tiếp:

“Có một người lòng như rắn độc, mặt mũi đẹp tươi
Gia sản quá nửa là của ngườị
Đáng giận thay Túi đã đầy
Ý xanh, tình đỏ nào ai haỵ”

 Ứng Bá Tước nổi giận mắng:

- Tên kia, sao dám mắng xéo chúng tao ?

 Nói xong vừa đứng dậy định xông lại đánh thì đã không thấy người hát dạo đâu. Mọi người hoảng sợ ngơ ngác mà nhìn.Tây Môn Khánh nói:

- Giữa thanh thiên bạch nhật mà yêu quái dám lộng hành hay sao ? Thật là kỳ lạ, có lẽ phải nhờ các vị tăng sĩ đạo sĩ trừ khử đi mới được.

 Ứng Bá Tước run sợ nhất, định thần một lúc rồi mới nói:

- Lạ thật, rõ ràng là có người đang đứng hát ngay đây mà, rồi làm sao tự nhiên biến mất ? Lạ thật!

Hoa Tử Hư nói:

- Chưa chắc gì đã phải ma quỷ, có thể là bọn bàng môn tả đạo có thuật phân thân tàng hình đấy mà thôi. Để tôi nhân đây xin kể chuyện này cho các ca ca nghe, cũng kỳ quái lắm. Năm xưa tôi còn nhỏ, bác tôi nói là khối ngọc hổ trong cung vua tự nhiên biến mất. Đó là bảo vật truyền từ bao đời. Nó nặng tới hơn năm mươi cân, được để trên cái xà nhà chạm trổ của nội cung. Cung cấm canh phòng nghiêm ngặt lắm, ai lấy trộm được. Vậy mà sau một thời gian điều tra, tên trộm ngọc bị bắt rồi bị đem ra hành quyết, nhưng khi đao phủ vung đao leân chém thì tên trộm biến mất, chỉ còn thấy bộ quần áo của nó nằm đó. Thế có lạ không ? Cho nên theo tôi thì người vừa rồi cũng chỉ là bọn tà đạo đó mà thôi. Bây giờ thì chúng mình tiếp tục uống rượu đi.

Mọi người nghe Hoa Tử Hư nói thì cũng tạm yên lòng, cùng nhau ăn uống như cũ. Tuy nhiên đám gia nhân trong nhà Tây Môn Khánh thì cứ to nhỏ bàn luận không thôi.

Chỉ nội trong ngày hôm ấy, cả hàng phố rồi cả huyện Thanh Hà đều tràn ngập những lời đồn đại về yêu quái trong nhà Tây Môn Khánh. Có người lại bảo rằng đã trông thấy người hát dạo đó tiếp tục đi hát dạo ngoài phố.

Ngưng trích Kim Bình Mai.

“Người thiếu nữ đất Ngũ Lăng lúc trước
Bây giờ sống cảnh thê lương.”
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.

Người thiếu nữ Ngũ Lăng trong bài hát sẩm Kim Bình Mai là nàng ca nữ “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách..” của Bạch Cư Dị.

Ứng Bá Tước là anh bạn chuyên nịnh bợ Tây Môn Khánh để ăn nhậu, vay tiền, súi và bầy mưu cho Tây Môn Khánh gian dâm, hại người chồng, chiếm người vợ. Tác giả Kim Bình Mai có thể viết ngay boong “Ứng Bá Tước là tên bạn nịnh,” nhưng kể truyện mà giới thiệu nhân vật như thế là kém nghệ thuật, người kể truyện có nghệ thuất diễn tả nhân vật bằng những việc làm, những lời nói của nhân vật.

Trích vài chuyện kể có duyên trong Kim Bình Mai:

Ứng Bá Tước kể chuyện khôi hài riễu Mụ chủ nhà kỹ nữ khinh thường gã:

“Ma ma à, tôi kể câu chuyện cười cho mà nghẹ Ngày trước có một người khách phong lưu thường tới lui say mê một cô gái ca kỹ. Một hôm ông khách này làm vẻ nghèo nàn mà tớị Bà mẹ nuôi cô ca kỹ  thấy người khách lần này quần áo lam lũ thì không thèm tiếp rước gì cả, để mặc người đó ngồi, một miếng trà cũng chẳng có.

Người khách nói:

“Ma ma à, tôi đói quá, có cơm cho tôi một bát đỡ lòng”.

Lão bà nói gọn:

“Thời buổi này cơm ở đâu mà sẵn vậỷ”

Người khách nói :

“Nếu không có cơm thì thôi, xin cho tôi thau nước rửa cái mặt.”

 Lão bà nói:

“Tôi không có tiền trả tiền nước nên mấy hôm nay người ta không gánh nước.”

 Người khách lấy ra mười lạng bạc sáng ngời, bảo đi mua giùm thau nước rửa mặt. Lão bà thấy bạc, hoảng quá, líu lưỡi nói:

“Dạ dạ, để tôi mời quan nhân rửa cơm rồi ăn mặt, chết chết, để quan nhân ăn mặt rồi rửa cơm”.

Mọi người cười ầm lên.

*

Ứng Bá Tước cười:

- Hai anh em chúng tôi nói gẫy cả lưỡi, quỳ gãy cả gối mới thỉnh được quan nhân tới đây, vậy mà giờ này không mời anh em chúng tôi được một tiếng hay sao? Quan nhân mà hôm nay không chịu đến thì mẹ con chị em nhà này tha hồ mà khóc sưng mắt. Thật là đồ bạc bẽo vô ơn.

Quế Thư lườm Ứng Bá Tước:

- Thôi đi ông, đừng nói cạnh khoé chúng tôi mà cũng đừng Tào Tháo kể ơn nữa, có rượu thịt thì ông cứ việc ăn uống đi, còn đòi hỏi gì nữa!

Ứng Bá Tước nói với Tây Môn Khánh:

- Đại ca thấy không ? Rõ ràng là hạng vô ơn, chưa khỏi vòng đã cong đuôi. Mới khóc lóc lạy van người ta đó  bây giờ lại trở mặt ngay được. Đại ca xích ra để tôi coi kỹ xem mặt mũi hạng người đó thế nàọ

Nói xong nhoài người nắm kéo Quế Thư. Quế Thư cười khanh khách:

- Khỉ không, đổ hết rượu ra áo  quan nhân bây giờ.

Bá Tước nói:

- Thì cứ xích gần đây, để ta kể một câu chuyện vui cho nàng nghe. Ngày xưa có một con cua kết nghĩa huynh đệ với một con gà. Hai con hẹn rằng con nào nhảy qua được cái lạch thì làm anh. Con gà vỗ cánh nhảy qua bờ lạch bên kia. Con cua định nhảy theo thì chợt có hai thiếu nữ tới lạch múc nước. Thiếu nữ thấy con cua thì bắt rồi lấy một sợi dây buộc lại, lát nữa đem về. Nhưng lúc múc nước xong thì hai thiếu nữ quên con cua, không đem theo. Con gà ở bờ bên kia mãi không thấy gì, bèn trở lại bờ bên này thì thấy cua  bị trói nằm đó. Gà hỏi duyên cớ, cua đáp…

Tới chỗ này, Bá Tước nhìn thẳng vào  mặt Quế Thư mà nói:

 - …Tôi đang định nhảy sang thì bị hai con ngựa cái nó trói tôi..!”

Bá Tước chưa dứt lời thì Quế Thư vừa cười vừa chạy tới dùng quạt mà đánh. Tây Môn Khánh cũng không nín cười nổi. Mọi người vui vẻ ăn uống.

Ngưng trích.

Nửa đêm đất khách, trong tòa  nhà dành cho Người Già Low Income – viết rõ là sống bằng tiền bố thí SSI – khi đọc hai câu trong Kim Bình Mai:

Đẹp hơn chim phượng, xinh hơn yến.
Đỏ tự tương tư, xanh tựa thu!

Tôi thấy quá haỵ “Đỏ tự tương tư, xanh tựa thu.” Không biết nguyên văn chữ Hán ra sao, tiếng Việt mà như vậy là tuyệt. Tôi nghĩ: “Tay nào ở Hà Nội dịch truyện này tuyệt quá. Văn Việt  nhuyễn như lụa, mượt như nhung, trôi như suối chẩy, êm như mây bay, sáng như trăng thu, dịu như gió xuân.” Thán phục. Tôi nghĩ vậy vì quyển Kim Bình Mai tôi đọc đây do Nhà Văn Học Việt Cộng ấn hành. Đọc lý lịch tác phẩm tôi thấy:

“Nhà Xuất Bản Văn Học in lần thứ nhất theo bản của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1989.

(Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội in theo bản của Nhà Xuất Bản Chiêu Dương, 1969.)

Té ra truyện Kim Bình Mai tôi đọc năm nay, năm tôi tuổi đời Tám Bó, Kim Bình Mai tôi đang đọc và kể đây — đọc và thấy hay quá xá — là bản truyện của Nhà Xuất Bản Chiêu Dương in ở Sài Gòn năm 1969. Chủ Nhà Chiêu Dương là Nhất Giang, hiện nay là chủ nhiệm nhật báo Chuông Sài Gòn ở Sydney, Úc. Năm 1969 Kim Bình Mai được Chiêu Dương xuất bản 3 tập. Năm 1970 tôi đã đọc Kim Bình Mai. Nay tôi đọc bản truyện cũ mà tôi không biết.

Nhất Giang Chiêu Dương, Sài Gòn xuất bản đến 8/10 tiểu thuyết của người anh em cùng vợ với tôi là Hoàng Hải Thủy.

Cảm khái cách gì.

Đây là đoạn truyện Tây Môn Khánh thông dâm với Phan Kim Liên.

Sơ lược: Kim Liên nguyên là người hầu trong một nhà giầu. Vì Kim Liên không chịu làm thiếp – cho ông chủ hưởng thân xác — nên bị chủ ghét, đem gả cho Võ Đại, anh bán bánh bao vừa lùn vừa hèn yếu. Tây Môn Khánh tình cờ nhìn thấy Kim Liên, lòng dâm nổi lên, gã nhờ Mụ Vương, người ở cạnh nhà Võ Đại, dàn xếp cho gã được hưởng thân xác Kim Liên.

Kim Bình Mai. Trích:

Vương Bà nói:

“Kế của tôi thần tình lắm. Đại quan nhân đã nhờ tôi thì tôi nói thật. Cô nàng ngài muốn gần tuy xuất thân từ gia đình nghèo khó nhưng trăm phần lanh lợi, đàn hát giỏi, nữ công thêu thùa cũng khá, lại biết đọc sách, ngâm thơ, đánh cờ, uống rượu, cái gì cũng hay. Cô ta tên là Kim Liên, con nhà họ Phan, trước cư ngụ ở Nam Môn. Khi nhỏ vì nhà nghèo nên bị bán cho Trương Đại Hộ. Tại nhà họ Trương, cô được dậy đàn ca, thêu may. Khi Đại Hộ sắp chết gả cô cho anh chàng Võ Đại. Từ đó cô ta buồn khổ vì phải làm vợ người chồng không ra gì. Cô thường than thở với tôi. Bên nhà cô có chuyện gì cũng thường mời tôi sang giúp. Cô ta nhận tôi là mẹ nuôi. Hàng ngày, Võ Đại  gánh hàng đi bán từ sớm. Nếu Đại quan nhân chịu theo kế của tôi thì trước hết hãy lấy một xấp lụa xanh, một xấp lụa trắng đem tới cho tôi, tôi sẽ đưa qua nhờ cô ấy may áo dùm. Nếu cố từ chối không may thì kế coi như bỏ. Nếu cô ta vui vẻ nhận may dùm thì kế đã thành được một phần. Rồi tôi sẽ mời cô ấy sang đây ngồi may áo cho tôi, nếu cô ấy không chịu, kế phải bỏ, nếu cô ấy chịu sang, kế thành được hai phần. Tôi sẽ bầy một tiệc nhỏ mời cô ta, nếu cô ta không chịu sang ăn uống, kế phải bỏ, nếu cô ta chịu, kế thành được ba phần. Lần tôi mời cô ta uống rượu thứ nhất, ngài đừng đến. Chừng vài ngày sau tôi lại dọn một tiệc nhỏ mời cô ấy. Tôi sẽ báo ngài biết. Ngài sẽ đến đây vào lúc tiệc rượu đã bầy ra. Tôi mở cửa đón ngài vào. Nếu thấy khách đàn ông, cô ấy bỏ về, ấy là kế phải bỏ. Nếu cô ấy cứ ngồi lại, kế thành được bốn phần. Khi đó tôi sẽ nói ngài là người  thường làm ơn cho tôi, ngài cho tôi lụa để may quần áo. Nhân có tiệc rượu, tôi mời ngài nhập tiệc. Nếu ngài vào tiệc mà cô ấy đứng lên ra về, ta đành chịu. Còn cô ấy cứ ngồi lại, ấy là kế ta thi hành được năm phần. Ngài sẽ hỏi chuyện cô ta, nếu cô ta không chịu tiếp chuyện thì thôi, nếu cô ta chịu trả lời ngài, ấy là kế hoạch ta thì hành được sáu phần. Đến đó ngài sẽ nói ngài đã nhìn thấy cô ta, ngài thấy cô đẹp, ngài muốn kết tình thân với cô. Nếu cô nghe mà bỏ về, kế hoạch ta thất bại. Nếu cô ta nghe chuyện ngài tỏ ý ái mộ mà cứ ngồi lại, ấy là kế hoạch ta thành được bẩy phần. Rồi ngài nói ngài muốn nhờ cô ta may y phục cho ngài, cô ta không nhận thì thôi, cô ta nhận, kế ta thành được tám phần. Ngài sẽ hẹn ngày ngày trở lại nhà tôi để gặp cô ấy nhờ may y phục. Cô ta không chịu sang gặp lại ngài thì thôi, coi như kế hỏng. Nếu ngài hẹn ngày gặp lại mà cô ta không nói gì. Ấy là kế ta thành được chín phần. Rồi tôi nói  nhà hết rượu, tôi phải đi mua rượu, nếu cô ta bỏ về, kế hoạch ta thất bại, còn nếu cô ta cứ ngồi lại với ngài, kế hoạch ta thành được mười phần. Trước khi đi tôi sẽ khoá trái cửa lại, nếu cô ta phản đối, bỏ về bằng cửa sau, ấy là kế hoạch ta thất bại. Bây giờ đến việc khó làm nhất. Còn một mình ngài với cô ta trong nhà, ngài làm sao chiếm được thân xác cô ta, được hay không la do tài của ngài. Ngài phải rất cẩn thận. Tôi đề nghị như vầy: ngài dùng lời huê mỹ tỏ tình làm nàng xiêu lòng, rồi mới dùng đến ôm ấp. Ngài làm rơi đôi đũa xuống dưới chân cô ta, ngài quì xuống nhặt đũa rồi sờ nhẹ cổ chân cô ta. Nếu cô ta rụt chân lại, đứng lên bỏ về. Ấy là kế hoạch ta tiêu ma. Còn nếu cô ta chịu để ngài vuốt ve, ôm ấp, ấy là kế hoạch ta thành công.

( .. .. .. )

Tây Môn Khánh cố tình làm rơi đôi đũa xuống sàn nhà. Đôi đũa rơi nằm ngay bên chân Kim Liên. Khi thấy Tây Môn Khánh ngơ ngác tìm đũa, Kim Liên cười nói:

“Đũa của ngài rơi đây nàỵ”

Nàng chỉ tay xuống chân nàng.  Tây Môn khánh đi sang, ngồi sụp xuống, nhưng y không nhặt đũa mà lại nắm cổ chân Kim Liên, sờ vuốt  bắp chân nàng. Kim Liên đờ đẫn cả người. Nàng để cho Tây Môn Khánh dìu nàng vào giường.

 (.. .. )

Từ đó ngày nào Kim Liên cũng gặp Tây Môn Khánh ở nhà Vương Bà. Hai người ân ái mặn nồng, keo sơn gắn bó. Nhưng như lời thường vẫn nói: “Việc tốt nó ở trong nhà. Việc xấu theo gió bay ra ngoài đường.” Chuyện Kim Liên ngoại tình với Tây Môn Khánh nhiều người biết, riêng có Võ Đại, chồng của Kim Liên, là chưa biết.

Ở huyện Thanh Hà có chú thiếu niên 16 tuổi, làm nghề đẩy xe nên được gọi là Vận Ca. Chú này đến những tửu điếm chờ khách sai vặt, kiếm tiền nuôi cha gìa. Tây Môn Khánh thường cho tiền chú. Từ ngày có Kim Liên, Tây Môn Khánh không ra tiệm trà, tiệm rượu nữa. Lâu không có tiền Tây Môn Khánh chọ Vận Ca lựa mua một giỏ trái cây mang đến biếu Tây Môn Khánh. Vận Ca đã làm mánh này nhiều lần. Lần nào cũng được Tây Môn Khánh cho tiền nhiều gấp ba, gấp bốn số tiền Vận Ca mua trái cây. Hôm ấy Vận Ca mang giỏ trái cây đến tiệm buôn của Tây Môn Khánh, nhưng ông chủ không có ở đó. Người trong tiệm không nói cho Vận Ca biết ông chủ đi đâu. Vận Ca ôm giỏ trái cây đứng lơ ngơ ở đầu đường thì có người đi qua mách:

“Mày muốn tìm Tây Môn Khánh thì đến nhà Vương Bà. Mấy tháng nay lão ta đến đó hú hí với vợ Võ Đại, mày không biết à?”

Vận Ca dến nhà Vương Bà đòi gập Tây Môn Khánh. Vương Bà nói Tây Môn Khánh không có trong nhà mụ. Mụ và Vận Ca chửi nhau rồi xô xát. Vận Ca đi tìm Võ Đại, kể chuyện.

Vận Ca:

“Hồi này ca ca chắc ăn nhiều nên mập ra. Ca ca chỉ biết ăn thôi nên hóa ra ngu: vợ ca ca đi nằm với người khác mà ca ca đâu có biết.”

Võ Đại nổi nóng:

“Thằng ôn kia. Vợ tao đâu có ngoại tình mà mày dám nói!”

Vận Ca cười khẩy:

“Phải, bà chị đâu có ngoại tình; bà chị chỉ đi nằm với thằng đàn ông khác thôi.”

Do lời chỉ của Vận Ca, Võ Đại xông vào nhà Mụ Vương bắt gian phu, dâm phụ. Tây Môn Khánh tông cửa phòng nhẩy ra, phóng một đá vào ngực Võ Đại rồi bỏ chạy. Võ Đại bị đá, hộc máu, nằm chết ngất. Kim Liên và Mụ Vương khiêng Võ Đại về nhà. Sợ Võ Tòng, em Võ Đại, làm Đô đầu trong huyện, đi việc quan về, Võ Đại sẽ kể chuyện, Võ Tòng sẽ hỏi tội, bộ ba Mụ Vương, Kim Liên, Tây Môn Khánh dùng thuốc độc cho Võ Đại uống. Võ Đại chết thảm.

Ngưng trích Kim Bình Mai.

Chuyện Võ Đai bị chết thảm cho người đọc Kim Bình Mai là tôi – CTHĐ – thấy ở đời – đời nào cũng vậy – đàn ông nghèo hèn mà có vợ đẹp là một đại họa. Trong Kim Bình Mai còn hai, ba vụ đàn ông có vợ đẹp bị chết thê thảm. Thủ phạm là gã đa dzâm Tây Môn Khánh.

Đây là đoạn Võ Tòng khi trở về huyện, được biết Võ Đại chết.

Kim Bình Mai. Trích:

Võ Tòng trầm ngâm giây lát rồi cáo từ Vương bà, trở về huyện, sai lính huyện đi mua cho mình một bộ tang phục cùng các thứ hoa quả nhang đèn. Sau đó mặc đồ tang, đem lễ vật trở lại nhà của Võ Đại, bày bàn thờ, lập bài vị, đốt đèn thắp nhang rót rượu cúng. Lại sai lính làm cơm cúng Võ Đại. Cúng xong, Võ Tòng cùng đám lính ngồi ăn. Đêm đó Võ Tòng ở lại nhà Võ Đại, cho đám lính ngủ ở phòng ngoài,  còn mình thì nằm ngủ trước bàn thờ anh.

Tới quá nửa đêm Võ Tòng vẫn trằn trọc không ngủ được, bèn ngồi dậy trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn trên bàn thờ nhìn lên bài vị của anh mà nghĩ thầm:

“Anh mình lúc sống thì yếu đuối nhút nhát, lúc chết lại không được rõ ràng thật là…”

Còn đang nghĩ ngợi thì bỗng nhiên một cơn gió lạnh thổi vào, ngọn đèn trên bàn thờ chập chờn rồi tắt ngấm, Võ Tòng tự nhiên nổi gai ốc, tóc gáy dựng lên, nhưng trấn tĩnh mà nhìn thì thấy lờ mờ một bóng người từ sau bàn thờ bước ra nói:

- Em ơi, anh chết khổ chết nhục lắm.

Võ Tòng định cất tiếng hỏi thì hơi lạnh tan hết mà bóng người cũng chẳng thấy đâu nữa.

Bên ngoài, tiếng trống huyện báo hiệu canh ba, ba khắc. Võ Tòng kinh sợ nghĩ:

“Vừa rồi nhất định không phải là mộng, anh ta tới than với ta, đúng là anh chết oan chết uổng gì đây.”

Võ Tòng cứ ngồi nghĩ ngợi mà trống điểm canh năm cũng không hay biết.

Ngưng trích.

Tác giả Kim Bình Mai lấy đoạn truyện “Võ Tòng sát tẩu” trong Thủy Hử mà phát triển thành một truyện dài. Trong Thủy Hử, Võ Tòng trở về, gíết chết ngay Tây Môn Khánh, Mụ Vương và Kim Liên. Trong Kim Bình Mai, Võ Tòng đánh chết một tên gia nhân của Tây Môn Khánh nên phải đi tù; Tây Môn Khánh cưới Phan Kim Liên về làm vợ thứ năm. Nhiều năm sau Tây Môn Khánh chết vì suy nhược, Kim Liên thông dân với Kính Tế, con rể của Tây Môn Khánh nên bị Nguyệt Nương, vợ cả của Tây Môn Khánh, đuổi ra khỏi nhà. Kim Liên về sống với Mụ Vương. Võ Tòng trở về, giết nàng.

o O o

Truyện Kim Bình Mai được đăng trọn bộ trên Trang Web “Việt Nam Thư Quán”, tên Người Dịch là “Phan Văn Các.” Tôi vinh danh ông Phan Văn Các là Người Dịch TruyệnTầu Tuyệt Diệu ngang với Tử Vi Lang, người dịch Tam Quốc Chí.

THƠ LỚN, THƠ LỢN

ac

Một buổi chiều cuối năm – Tết Nguyên Ðán sắp đến trên thành phố tang thương –  không nhớ đúng là năm 1981 hay 1982, quá buồn, không biết làm gì, tôi lò mò lọ mọ đến tiệm sách ở Ngã Ba Ông Tạ coi chơi xem có gì lạ không. Tiệm sách lơ thơ, leo heo, đoi đẹn vài quyển văn học thổ tả, vài quyển chính chị, chính em ca tung đất nước Liên Xô giầu đẹp do bọn Thợ Viết Hà Nội viết ra – tên đúng của bọn Thợ Viết này là Cu Li Văn Nghệ – Những năm 1980 ở Sài Gòn, chó nó cũng không thèm đọc những sách của bọn Cu Ly Văn Nghệ Bắc Cộng.

Tuy không nói ra nhưng thái độ, vẻ mặt của ông  chủ tịệm sách leo heo Ngã Ba Ông Tạ cũng cho tôi thấy ông ta không muốn bán mấy quyển sách cù đinh, thiên pháo ấy vì sách bán đi không có sách khác bầy thế chỗ trên kệ, những kệ sách thành ra đoi, nhẵn thin, trơ trẽn. Mà tôi cũng không đến tiệm sách để mua sách do bọn Hà Nội viết, như đã nói, vì buồn quá đỗi, không có việc gì làm hay hơn, tôi lờ phờ đến đây coi chơi.

Sạp báo trước tịệm bầy mấy tờ báo Xuân. Tờ Xuân Văn Nghệ của bọn gọi là Hội Nhà Văn Hà Nội trên trang bìa có hàng chữ quảng cáo:

BỐN NHÀ THƠ LỚN CỦA DÂN TỘC

Bốn trự được bọn “Hội Nhà Văn Bị Rọ Mõm Hà Nội ” bốc là NHÀ THƠ LỚN của DÂN TỘC là:

  1. Hồ chí Minh
  2. Trường Chinh
  3. Tố Hữu
  4. Lê đức Thọ
Những ô lỗ châu mai trong lô-cốt quân Pháp -  chiến tranh Việt Pháp 1946-1954.- Tiếng Pháp là Blockhaus. Từ Blockhaus ta có tiếng lô-cốt.

Những ô lỗ châu mai trong lô-cốt quân Pháp – chiến tranh Việt Pháp 1946-1954.- Tiếng Pháp là Blockhaus. Từ Blockhaus ta có tiếng lô-cốt.

Tôi đứng tần ngần nhìn xuống tờ báo. Hồ chí Minh, Tố Hữu mần thơ thì tôi biết tỏng tĩ lâu rồi, tôi nghe nói anh Ðặng xuân Khu Trường Chinh có bút hiệu là Sóng Hồng, hành nghề đảng viên cộng sản chuyên nghiệp, tức nhà nghề, ngoài cái nghề “đảng viên Cộng Chồn” ra anh ta vô nghệ nghiệp. Trường Chinh từng có tập tọng viết lách, mần thơ, mần đồ chi đó, nhưng anh Lê đức Thọ Răng Vẩu mần thơ, làm dzăng nghệ, dzăng gừng thì tôi chưa bao giờ nghe nói.  Tôi cũng chỉ nghe nói thôi, tuy sống trong kìm kẹp cộng sản đã mấy năm, tôi chưa đọc bài thơ nào của anh cu Sóng Hồng. Tôi mở  tờ báo Xuân Văn Nghệ ra coi cọp tại chỗ. Trong báo có bài thơ của Sóng Hồng, bút hiệu của Trường Chinh, người là Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong nhiều năm.

Bài thơ, và lời ban biên tập tờ báo giới thiệu người làm thơ, kể trong trường hợp nào Thi Sĩ Sóng Hồng, “Nhà Thơ Lớn của Dân Tộc”, mần bài thơ này làm tôi ngơ ngẩn. Ngẩn ngơ rồi ngậm ngùi. Ðây là đại ý lời giới thiệu:

Năm 1944….. Mùa đông rất lạnh. Nữ đồng chí giao liên Y. viết thư xin Ðồng chí Tổng Bí Thư cấp cho chị một áo mặc ấm, Ðồng chí Tổng Bí thư làm bài thơ này gửi cho chị, lời thơ nhắc cho chị giao liên Y. nhớ đến những nữ đồng chí giao liên ở Liên Xô mùa đông này phải đi liên lạc trong tuyết lạnh khổ hơn chị nhiều.

Tôi ngẩn ngơ vì tôi không thể tưởng tượng đươc có tên đàn ông nào trên cõi đời này, khi có người đàn bà hỏi xin cái áo mặc ấm, thay vì chỉ gửi cái áo  cho người xin  là xong, lại rị mọ mần Thơ – Tất nhiên là Thơ Cóc, Thơ Nhái – trong bài Thơ không nói gì đến cái áo mà nói đến “Những Nữ đồng chí giao liên Liên Xô vĩ đại đang vất vả đi đưa thư trong tuyết giá.” Sau đó tôi nghĩ:

“Nó phải cà chớn như thế nó mới làm đươcï Tổng Bí Thư Ðảng nó.”

Tôi thương chị giao liên xin áo quá là thương. Tổng Bí thư của chị có nhẫn tâm, có phũ như chó nó mới làm thơ nhắn nhủ chị như thế. Tôi không biết sau khi mần Thơ Thủm, “Nó” có cho chị cái áo bông hay “Nó ” phe lờ luôn!

Tôi cảm thương chị giao liên vì tôi có mấy năm làm Liên Lạc Viên như chị. Những năm 1948, 1949 tôi là Liên Lạc Viên của cái gọi là Ban Tình Báo Ðăïc Biệt Gia Lâm. Ban này được đặt ra để do thám phi trường Gia Lâm, phi trường  độc nhất của Pháp hoạt động trong chiến tranh ở Bắc Kỳ từ 1946 đến 1954. Sau năm 1945 Pháp đóng cửa phi trường Bạch Mai. Những đêm mùa đông mưa dầm, gió lạnh, chú thiếu nên 15, 16 tuổi là tôi một mình đi qua, tất nhiên là đi chân đất, qua những cánh đồng Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, Ðông Anh, vùng đất quê hương bên kia sông Ðuống của ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên.

Năm 1947 tôi  làm cuộc văn huê là “thoát ly gia đình đi kháng chiến” với mấy bộ quần áo mẹ tôi may cho tôi từ năm 1945, 1946, thời gian  gia đình tôi ở Hà Ðông. Vào tuổi dậy thì, tôi nhớn bổng lên, tôi không còn mặc vừa mấy bộ quần áo cũ và những bộ quần áo ấy sau mấy năm dầu dãi cũng đã rách nát. Ði trong gió lạnh mùa đông giữa cánh đồng miền Bắc mà chỉ mặc mong manh có một cái áo, một cái quần, không áo len, áo sợi,  tôi biết thế nào là lạnh, là rét.

Một bài thơ cà chớn như thế mà được bọn Cu Li Văn Nghệ Hà Nội bốc là Bài Thơ Tuyệt Hay của Dân Tộc, anh mần thơ – Tổng Bí Trương Chinh – được đội lên thành Nhà Thơ Lớn của Dân Tộc. Gọi anh ta là “Nhà Thơ Lợn của Dân Tộc” nghe lọt tai hơn. Ngoài những đặc tính Ác, Ngu, Tham, Ðểu, Hèn, bọn đảng viên Cộng Sán Việt còn nhiệt tình, tích cực, hăng hái, tranh nhau “Bợ Ðít, Thổi Dzế, Nâng Bi “bọn lãnh tụ của chúng. Không chỉ bọn đảng viên CS Bắc Kỳ như thế, bọn đảng viên CS nước nào cũng thế. Chỉ có điều bọn CS Bắc Kỳ “bợ đít, thổi dzế, nâng bi “bọn lãnh tụ Lông Lợn của chúng trâng tráo nhất, lộ liễu nhất trong giới cộng sản.

Trường Chinh, tên đồ tể Cải Cách Ruộng Ðất.

Trường Chinh, tên đồ tể Cải Cách Ruộng Ðất.

Sau cái gọi là Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Ðất có những vụ đấu tố tàn ác, vô luân, đê tiện, bỉ ổi, giết người dã man, Anh Cu Tổng Bí Trường Chinh bị bọn đồng chí-đồng rận-đồng đảng của anh cho là có lỗi, chúng đá anh  vào bóng tối. Suốt thời gian hai tên Lê Duẩn-Lê đức Thọ cầm quyền sinh sát, dài đến 20 năm, Trường Chinh nín khe; anh không dám mở miệng nói nọ kia, kia nọ, kể cả đánh dzắm anh cũng không dám. Trong nhiều năm hai tên Lê Duẩn-Lê đức Thọ không những chỉ ngồi xổm lên mặt bọn Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm văn Ðồng, hai tên còn công nhiên ghé đít sịt cả hơi bẩn vào mặt Hồ chí Minh, Tôn đức Thắng, Hoàng văn Hoan, Vũ đình Huỳnh, Ðặng kim Giang.

Thế rồi Lê Duẩn lăn cổ ra chết, Trường Chinh được móc từ trong thùng rác ra, cho trở lại làm Tổng Bí Thư. Khi ấy Liên Xô vĩ đại, thành trì của vô sản thế giới, đã sụp đổ, Chiến Tranh Lạnh chấm dứt với sự thảm bại của bọn Bôn-sê-vích Nga. Nổi lên năm 1920, hoành hành, tác yêu, tác quái trong 70 năm, năm 1996 họa Cộng Sản hết còn làm khổ nhân dân thế giới. Nhiều người Việt ngạc nhiên khi thấy Tổng Bí Trường Chinh lép nhép nói:

- Ðổi mới hay là chết.

Từ ngày chúng cướp được quyền hành không bao giờ bọn Cộng Sán chịu nhận chúng có những sai lầm, chúng lại càng không bao giờ nhận chính sách của chúng cần có những sửa đổi. Chúng khăng khăng nói Chủ Nghĩa Mác-Lê của chúng Tuyệt Ðối Ðúng. Ðảng chúng Không Bao Giờ Sai. Chúng hung hăng và thẳng tay bắt tù mút mùa, tù đến chết những tên – cũng là đảng viên Cộng Sán – đòi“Xét Lại, Ðổi Mới”. Những năm 1976, 1977 bọn Cộng Sán Bắc Kỳ dán đầy đường phố Sài Gòn những tờ tuyên truyền “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin bách chiến bách thắng muôn năm! Chủ nghĩa Mác-Lê Vô Ðịch muôn năm.  Ðảng Cộng Sản Vtệt Nam muôn năm. Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội..”

Chắc không phải chỉ mình tôi mà nhiều người Việt trong những năm 1980 cũng nghĩ như tôi khi thấy sau khi chiếm trọn ba nước Việt Nam Cộng Hòa, Cao Miên, Ai Lao, bọn Cộng chiếm luôn nước A-phú-hãn, khi ấy tôi nghĩ:

“Thế này là bỏ mẹ dzồi. Thừa thắng xông lên, Nó sẽ dễ dàng chiếm nhiều nước nữa. Không gì ngăn nó được. Như cục đá được ném lên sẽ có lúc phải rơi xuống, nhưng mình vô phúc phải sống trong thời gian nó bay lên, mình sẽ chết mà không được thấy nó rơi xuống. Không khác những đế quốc đã thành hình, đã sụp đổ, đã tiêu ma trong lịch sửû, bọn Cộng có thể thành lập Ðế Quốc Ðỏ và Ðế Quốc Ðỏ của chúng có thể tồn tại trong hai, ba trăm năm.”

Lê Duẩn là tên “phấn khởi, hồ hởi” nhất trong bọn Lãnh Tụ Lông Lợn Cộng Hà Nội. Y huênh hoang tung ra khẩu hiệu “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa.” Y là tên Cộng “sung sướng nhất” trong bọn Cộng Hà Nội, y chết trong hào quang và dư quang chiến thắng, y chết trước khi bọn Nga Cộng bị nhân dân Nga bợp tai, đá đít, đuổi đi, y chết trước khi “Ðồng chí Hôn-nách-cơ vĩ đại” của y cúp đuôi chồn chạy khỏi Ðông Ðức, y chết trước khi “Ðồng chí Sô-xét-cu vĩ đại” của y bị dân Lỗ bắn chết. Bọn Trường Chinh, Tố Hữu, Phạm văn Ðồâng, Võ nguyên Giáp là những tên Cộng Lông Vịt nhục nhất. Nhục vì chúng phải thấy ngày Chủ nghĩa Cộng sản bị vứt vào hố phân của nhân loại, nhục vì chúng phải thấy bằng chính mắt chúng Tượng Sịt-ta-lin, Tượng Lê-nin bị nhân dân Nga kéo đổ, lôi ra nằm ở bãi rác, nhục vì chúng phải thấy”Ðồng chí Sô- xét-cu vĩ đại “Xứ Lỗ-ma-ni của chúng bị dân Lỗ lôi cổ ra trước chợ, cả hai vợ chồng, bị dân Lỗ dí súng vào mang tai, bắn bỏ, nhục và sợ vì phải thấy “Ðồng chí Na-dzi-bu-la vĩ đại” Xứ Ac-gha-nit-tan của chúng bị dân Ác lôi ra treo cổ toòng teeng nơi cột đèn.

Trường Chinh không bao giờ chủ trương Ðổi Mới. Trong nhiều năm Y thẳng tay bắt tù bọn Cộng Lông Chó Ghẻ ọ ẹ đòi“đổi mới, xét lại.” Y bị bắt buộc phải theo đuôi bọn Nga Cộng đàn anh. Y không “đổi mới” không được. Nhưng y vẫn còn may mắn: ít ngày sau khi lép nhép nói “Ðổi mới hay là chết” y lăn cổ ra đi một đường tầu suốt về Hỏa Ngục. Y đi theo, y về với Sịt-ta-lin, Hồ chí Manh. Nghe nói y bị té gẫy cổ khi đi trên thang lầu.

Thời gian qua.. Năm 2007, bọn Cu Li Văn Nghệ Cộng Sán Hà Nội hết chuyên viết, móc chuyện “Tổng Bí Trường Chinh Ðổi Mới Hay Là Chết” năm xưa ra kể lại. Mời quí vị đọc vài đoạn trích trong tờ  báo Cộng Lông Chuột xuất bản ở Hà Nội:

Báo TIỀN PHONG. Trường Chinh: Người “Chủ Biên” của Ðổi Mới

Những ngày này, cách đây hơn 20 năm cả đất nước đang chuẩn bị đón Tết cổ truyền với một niềm vui lớn. Lúc bấy giờ, Ðại Hội Ðảng Lần Thứ VI – Ðại Hội của Ðổi Mới.

Có thể nỗi khổ sở về cơm áo do kéo dài tình trạng quan liêu, bao cấp chưa kịp rời xa mỗi gia đình, nhưng nỗi bức xúc về tinh thần thì đã thực sự được “giải phóng” khi Thông điệp dứt khoát về đường lối Ðổi Mới của Ðảng vừa được chính thức công bố trên Hội Trường Ba Ðình (Hà Nội). Người đứng trước toàn Ðảng, toàn dân để tuyên bố thông điệp đó là Tổng Bí thư Trường Chinh.

Khi tìm gặp các sử gia, các nhà kinh tế là nhân chứng của những ngày mà công cuộc Ðổi Mới bắt đầu được đặt những nền móng đầu tiên, dù mỗi người diễn đạt theo cách của mình, nhưng họ đều gặp nhau ở điều mà Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trân trọng viết về Cố Tổng Bí thư Trường Chinh: “Ðiều thú vị là “chủ biên” của Ðổi Mới lại là một người vốn được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh”.

GS Trần Nhâm – Nguyên Thư ký của Cố Tổng Bí thư Trường Chinh, khi nhớ lại hành trình “đổi mới tư duy”, đặc biệt là “tư duy kinh tế” ở người lãnh đạo của mình, đã phát biểu:

-  Không thể nói ai là tác giả của Ðổi Mới ở Việt Nam, đó là sự nghiệp của toàn Ðảng, toàn dân. Mỗi người có đóng góp tùy vào vị trí, cũng như tâm huyết và trí tuệ của mình, để cùng nhau đẩy tiến trình Ðổi Mới đi lên.

Cánh cửa của Ðổi Mới có thể đã không được mở và vận mệnh của dân tộc sẽ khác đi rất nhiều nếu như chúng ta không có một “Tổng Bí thư của Ðổi Mới” như cách gọi của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt về Cố Tổng Bí thư Trường Chinh.

Ngưng trích.

Mời quí vị đọc mấy lời anh Võ văn Kiệt bốc thối Trường Chinh trong bài báo Cộng Lông Vịt Tiền Phong:

Ðồng chí Trường Chinh – Tổng Bí thư của Ðổi Mới

… Ðồng chí Trường Chinh được Ban Chấp Hành Trung Ương bầu làm Tổng Bí thư và bắt tay chuẩn bị Ðại hội VI. Phải nói rằng, vào thời điểm đó, chỉ có đồng chí Trường Chinh với hiểu biết sâu sắc về lý luận và hình ảnh một đồng chí hết sức nguyên tắc, có phần cứng theo kiểu chính thống mới có thể chỉ đạo thành công Ðại Hội VI – Ðại hội của Ðổi Mới.

Ðiều tôi thấy hết sức thú vị là “tác giả” – nói chính xác hơn là chủ biên của Ðổi Mới lại là một người được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh. Tôi hiểu rằng, đồng chí đã chú ý nghe từ nhiều phía, và đặc biệt là đã coi trọng ý kiến của những cán bộ có tư duy, dám nói thật, nói rõ quan điểm của mình.

Ðồng chí là người rất kiên trì đấu tranh với mọi ý tưởng, mọi sự việc mà theo đồng chí là không đúng và cũng rất quyết đoán đối với những điều mà đồng chí cho là đúng đắn, đủ cơ sở…

… Tôi được biết, trong thời gian chuẩn bị nhân sự Ðại hội VI, một số đồng chí lặn lội từ miền Nam ra, tới xin gặp đồng chí Trường Chinh để “năn nỉ” đồng chí tiếp tục làm Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ nữa. Ðiều đó thật không ai có thể hình dung được trước đó…

Võ Văn Kiệt

Ngưng trích.

Bốc thơm, nâng bi, thổi dzế lãnh tụ đến như bọn Cu Ly Văn Nghệ Hà Nội là..Nhất Thế Giới, là Fi-ní lô đia..Hết nước nói. Về Trò “Nhổ Liếm, Liếm Nhổ ” bọn Cộng Bắc Kỳ cũng Nhất Thế Giới. Những năm 1960, 1970 chúng ca tụng Trường Chinh vì Trường Chinh không chịu “đổi mới”, Trường Chinh bỏ tù đến chết bọn đòi “xét laiï, sửa sai.” Năm 1987 chúng, cũng những tên đó, ca tụng Trường Chinh vì Trường Chinh chịu “đổi mới”, tức “sửa sai”. “Ðổi mới” là “sửa sai,” là “xét lại.”

Tôi  - CTHÐ – khinh chúng, xong tôi cũng có chút thương hại chúng: Chúng, bọn Cộng Việt Nông Nợn , đáng thương vì chúng vừa chiếm được Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, chúng đang say men chiến thắng, chúng đang hăng máu chó điên, nhưng chúng hí hửng chưa được bao lâu thì chúng tưng hửng, chúng ngơ ngác, chúng thộn mặt, chúng há hốc mồm vì Tượng Sịt-ta-lin, Ông Nội của tên hung thần văn nghệ Tố Hữu, bị dân Hung, dân Tiệp, dân Lỗ, dân Nga kéo đổ, lôi ra cho nằm sấp, nằm ngửa ở những vệ đường, miệng cống, bãi rác;  những tội ác của bọn Cộng bị phơi bầy, những tên đảng viện Cộng bị đuổi ra khỏi chính quyền, bị nhân dân thế giới nguyền rủa, khinh bỉ, ghê tởm.

o O o

Dứi đây là lời kể của anh con Trường Chinh Ðặng Xuân Khu về những ngày tù đầy của Trường Chinh:

Trong buổi trò chuyện với PGS – TS Ðặng Việt Bích, con trai cố Tổng Bí thư Trường Chinh và vợ – chị Nguyễn Ngọc Ánh, ngoài những kỉ niệm mà tôi được nghe PGS – TS Ðặng Việt Bích kể, tôi đã được nghe rất nhiều câu chuyện cảm động do chính người con dâu của cố Tổng Bí thư Trường Chinh kể về người mẹ chồng của mình. Chị bảo, dù bà là mẹ chồng của chị, nhưng suốt những năm tháng cùng chung sống với bà, chị đã luôn biết ơn bà, bởi bà luôn dành cho chị tình yêu thương của một người mẹ ruột dành cho cô con gái của mình. Ðiều đó, khiến gần 10 năm qua, sau khi bà mất, những hình ảnh về bà vẫn nguyên vẹn trong lòng chị.

*

Cố Tổng Bí thư Trường Chinh tên thật là Ðặng Xuân Khu, sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907 ở làng Hành Thiện, Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Ðịnh. Làng Hành Thiện từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh ra nhiều nhân tài kiệt xuất của đất nước. PGS – TS Ðặng Việt Bích kể, thời đó, cùng với họ Nguyễn, họ Ðặng là một trong hai dòng họ lớn nhất của làng Hành Thiện. Thân phụ cố Tổng Bí thư Trường Chinh là cụ Ðặng Xuân Viện, một nhà nho có tinh thần yêu nước, nhưng không gặp thời, gặp thế.

 Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống, lại được sự giáo dục của thân phụ nên ngay từ nhỏ, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã được làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Ðường, được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống nho học. Sau này, khi lớn lên, ông bắt đầu tiếp xúc với Tây học và theo học bậc Thành Chung tại Nam Ðịnh. Ngay từ khi còn trẻ, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã ý thức rất rõ về nỗi đau của một dân tộc bị nô lệ, bị áp bức. Ông sớm tham gia các hoạt động cách mạng, trong đó nổi bật lên là phong trào đòi thả Phan Bội Châu. Chính vì việc này mà ông đã bị đuổi học, rồi sau này khi lên Hà Nội, ông mới tiếp tục theo học tại trường Cao đẳng Thương mại (trực thuộc trường Ðại học Ðông Dương – trường đại học hiện đại đầu tiên của Việt Nam) và tiếp tục hoạt động cách mạng.

 Cố Tổng Bí thư Trường Chinh lập gia đình với bà Nguyễn Thị Minh (sinh năm 1912), người cùng làng Hành Thiện, là con gái nhà họ Nguyễn, một dòng họ có gia thế trong làng. PGS – TS Ðặng Việt Bích kể:

“Ngày đó, mẹ tôi là con gái một gia đình có gia thế, giàu có. Cha tôi cũng là con của dòng họ Ðặng có uy tín trong vùng. Cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi đã được sắp đặt từ khi cha mẹ tôi còn bé. Năm mẹ tôi 5 tuổi, gia đình hai bên đã đính ước, hẹn làm thông gia với nhau. Ðến năm cha tôi 22 tuổi, mẹ tôi 17 tuổi, ông bà chính thức nên vợ nên chồng”.

Tuy lấy nhau qua sự sắp đặt của gia đình, nhưng bà Nguyễn Thị Minh vẫn luôn tâm sự với con cái rằng, cả cuộc đời bà, bà hạnh phúc, mãn nguyện với cuộc hôn nhân đó và bà luôn tin rằng, mối lương duyên của bà với ông là mối lương duyên được xếp đặt từ kiếp trước. Năm 1930, ông được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Ðảng Cộng sản Ðông Dương. Ðến cuối năm ông bị địch bắt. Khi đó bà Nguyễn Thị Minh đang mang thai người con đầu lòng.

Ðặng Việt Bích kể:

“Lần đó, khi anh Kỳ mới được mấy tháng tuổi, mẹ tôi đưa anh tôi vào nhà tù Hỏa Lò cho cha xem mặt. Mẹ tôi đứng ngoài, cha tôi đứng trong, chẳng nhìn thấy mặt nhau. Muốn để cho cha tôi biết mặt con, mẹ tôi đưa anh Kỳ qua cái lỗ châu mai chỉ rộng vài gang tay, để cho cha tôi xem mặt. Lúc đó, tên quan Tây chứng kiến sự việc  nói với cha tôi:

“Tao biết mày giỏi, thông minh, nhanh nhẹn. Mày lại có vợ đẹp con xinh như thế này. Mày đi theo cách mạng làm gì. Mày hãy nghe lời tao. Tao sẽ cho mày sang Pháp học, rồi trở về làm việc cho Nhà nước Bảo hộ.”

 Nghe tên quan Tây Cai Tù nói, cha tôi lập tức hét lên:

“Lý tưởng của tao là đấu tranh chống áp bức, bóc lột, giải phóng dân tộc tao.”

Tức giận trước sự phản kháng của cha tôi, tên quan Tây đã dùng cây gậy sắt đánh vào đầu ông tóe máu, khiến ông loạng choạng, suýt đánh rơi đứa con trên tay, ông vội đưa anh tôi ra cho mẹ tôi bế. Mẹ tôi chứng kiến cảnh đó cứ khóc mãi”.

Vì không chấp nhận khuất phục trước địch, nên ngay sau đó, giặc đã tuyên án ông 12 năm tù khổ sai và đưa lên nhà tù Sơn La. Khi đó nghĩ tới việc mình sống chết không biết thế nào, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã nói với người vợ hiền của mình:

“Anh đi đợt này không biết bao giờ về, cũng không biết sống chết ra sao. Em về nhà, cố gắng chăm sóc con và tìm một người đàn ông khác để hai mẹ con nương tựa sau này”.

 Khi nghe chồng nói thế, bà Nguyễn Thị Minh chỉ khóc và nói:

 “Em quyết một lòng một dạ chờ anh trở về”.

 Nghe những lời gan ruột đó từ người vợ hiền, cố Tổng Bí thư Trường Chinh xúc động chẳng nói nên lời, ông chỉ biết nắm chặt tay bà và nhìn bà đầy yêu thương và biết ơn. Có lẽ vì cảm động trước sự hi sinh của người vợ hiền, nên sau này, dù là khi đã được tự do, hay khi đã trở thành lãnh tụ của đất nước, cố Tổng Bí thư Trường Chinh luôn luôn yêu thương và trân trọng người vợ hiền của mình.

Chị Nguyễn Ngọc Ánh – con dâu cố Tổng Bí thư Trường Chinh và bà  Nguyễn Thị Minh kể:

“Tôi về làm dâu khi ông cụ đã qua đời. Nhưng mẹ chồng tôi vẫn hay kể cho tôi những kỉ niệm ngày xưa. Có lần mẹ nói với tôi: đời mẹ khổ nhất, tối tăm nhất là lúc đi thăm ông chồng trong nhà tù Hỏa Lò, đó là lúc mẹ tôi đưa con trai đỏ hỏn qua lỗ châu mai cho ông chồng xem mặt. Khi đó, cha tôi luôn khuyên mẹ tôi lấy chồng khác, vì ï ông sợ ông khó sống mà trở về. Nhưng không hiểu sao khi đó mẹ chồng tôi vẫn luôn tin rằng, cha tôi là người giỏi giang, thông minh, dũng cảm, mưu trí và có nghị lực. Ông ấy nhất định sẽ vượt qua mọi nguy hiểm để trở về”.

Với niềm tin đó, bà đã nuốt ngược nước mắt ôm đứa con đầu lòng còn đỏ hỏn trở về nhà, vừa chăm sóc con, vừa phụng dưỡng bố mẹ chồng và đợi chồng đi tù khổ sai với án 12 năm ở một chốn rừng núi heo hút.

Ở nhà tù Sơn La những năm đó, cố Tổng Bí thư Trường Chinh vẫn hăng hái gây dựng phong trào trong tù. Ông trở thành người lãnh đạo phong trào của anh em tù nhân tại nhà tù Sơn La. Chính vì thế mà thực dân Pháp luôn nghi ngờ ông là một trong những người đứng đầu phong trào cách mạng. Cho rằng vai trò của ông là quan trọng, nên năm 1936, trong cao trào dân tộc dân chủ, Pháp buộc phải thả tù nhân chính trị ra. Nhưng nếu những tù nhân  khác được Pháp cho xe đưa về đến tận Hòa Bình mới bắt tự đi về  nhà thì riêng cố Tổng Bí thư Trường Chinh bị chúng bắt  đi về xuôi trên  một bè gỗ trôi theo dòng sông Ðà. Thời đó, những xoáy nước trên con sông Ðà hung dữ đã đánh chìm biết bao bè gỗ, cướp đi bao mạng người. Chính vì thế, việc bắt cố Tổng Bí thư Trường Chinh đi trên bè gỗ để xuôi về Hà Nội là ý đồ thâm độc của thực dân Pháp. Nhưng ông đã trở về bến Long Biên an toàn rồi tiếp tục xuôi về Nam Ðịnh đoàn tụ với gia đình, cha mẹ, vợ con. Ngày ông bị đi tù khổ sai, cậu con trai đầu lòng của ông mới còn đỏ hỏn. Ðến ngày ông về, con trai ông đã là một cậu bé 5, 6 tuổi. Lúc bước vào nhà, nhìn thấy có một cậu bé chạy nhảy ngoài sân, ông đã hỏi ông bố của ông:

“Thưa thầy, thằng bé này là con ai ai?”

Cha ông bật cười, nói:

“Con mày chứ con ai!”.

Hết bài trích.

CTHÐ: Tôi vừa khó chịu vừa khó tin khi đọc câu chuyện anh con trai của Trường Chinh kể trên đây. Anh này, và anh viết lại chuyện, ngu đến cái độ không biết “lỗ châu mai” là cái gì. Lỗ châu mai là những ô nhỏ mở ra để người lính trong những lô-cốt chĩa súng bắn ra ngoài. Nhà Tù Hỏa Lò – và tất cả những nhà tù trên thế giới – đều không có lỗ châu mai. Bon Tây Cai Tù là những tên Tây ít học. Không có anh Tây Cai Tù Hỏa Lò nào hứa cho anh tù Việt Nam sang Pháp học. Chuyện ngu đến em nhỏ lên ba nghe kể nó cũng biết là ngu. Ngu quá là ngu. Ngu hết nước nói.

Trên Internet tôi thấy cái gọi là Tuyên Bố của Trường Chinh.

Trường Chinh – Ðặng Xuân Khu

TUYÊN BỐ NĂM 1951

ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII. TỔNG THƯ KÝ ÐẢNG LAO ÐỘNG VN SỐ: 284/ ÐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC

Hỡi đồng bào thân mến !

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung Quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào !

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?

Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ Nho của Trung Quốc .Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo ! Có thế thôi !

Hỡi đồng bào yêu mến!

Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Ðế quốc phương Tây đem qua xứ ta !Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tầu danh tiếng khắp cả hoàn cầu .

Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v…

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân ! Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.

Trường Chinh.

Tổng Thư ký Ðảng Lao Ðộng

Số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố 1951 của Trường Chinh được lưu trữ   trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – London).

CTHÐ: Tôi đăng nguyên văn Tuyên Bố trên để quí vị đọc chơi. Tôi nghi một vị người Việt nào đó đã sáng tác ra bản Tuyên Bố này. Không có lý năm 1951 nhật báo Tiếng Dội của Chủ nhiệm Trần Tấn Quốc đăng khơi khơi bản Tuyên Bố của Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt.

Chú thích: Số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố 1951 của Trường Chinh được lưu trữ   trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – Londonlà một lời Chú Thích Mù Mờ Số Dzách. Có mất công tìm đến Tết Congo cũng không ra số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố ngớ ngẩn này.

TÌNH ở NEW ORLEANS

Virginia Mayo và Danny Kaye trong phim The Scret Life of Walter Mitty.

Virginia Mayo và Danny Kaye trong phim The Scret Life of Walter Mitty.

Tiểu Thuyết và Phim Xi-nê.

Năm 1950 tôi xem phim thứ nhất của Danny Kaye ở rạp xi-nê Majestic, Hà Nội. Tôi không nhớ tên phim, chỉ nhớ đó là phim mầu, vui, linh động. Năm nay – 2014 – 60 năm sau, ở Kỳ Hoa Ðất Trích, khi viết bài này, tôi tìm trên Internet nhưng không thấy bộ phim thứ nhất do Danny Kaye đóng vai chính tôi xem năm xưa.

Năm 1951 tôi xem phim thứ hai của Danny Kaye trên màn ảnh rạp xi-nê Majestic ở Sài Gòn – Phim The Secret Life of Walter Mitty – Bộ phim này được Hollywood làm  năm 1948.

Sáu mươi năm sau, thời gian qua mau, năm nay – 2014 – Hollywood làm lại phim The Secret Life of Walter Mitty – tôi viết bài này.

Phim The Scret Life of Walter Mitty làm theo một truyện ngắn cùng tên của Nhà Văn Mỹ James Thurber. Tôi xem phim trước khi đọc truyện. Xem phim năm tôi hai mươi tuổi, tôi đã mê phim. Khi ấy tôi không biết gì về Nhà Văn James Thurber. Năm 1960 tôi ba mươi tuổi, đọc truyện The Secret Life of Walter Mitty, tôi mê truyện của Nhà văn James Thurber.

Ðại ý cốt truyện: Walter Mitty là công dân Mỹ trạc 30, 35 tuổi, một công dân Mỹ rất thường. Mitty sống cuộc đời tư chức trầm lặng – cơm nhà, quà vợ –  anh thường tưởng tượng ra những sự kiện trong đó anh là vai chính, là người hùng. Như khi anh lái xe đưa vợ anh đi chợ, anh mơ anh là Phi Công Số Một của Hải Quân Mỹ điều khiển phi cơ tám máy bay qua cơn bão, khi ngồi chờ vợ ở lối vào khách sạn anh mơ anh là Bác Sĩ Giải Phẫu Số Một của Y Khoa Hoa Kỳ, anh mơ anh là Tay Súng Cừ Khôi được người ta hoan hô trong phòng xử án ..vv..

Trong truyện Walter Mitty có vợ, trong phim Walter Mitty chưa có vợ. Cô đào Virginia Mayo diễn chung với Danny Kaye trong phim. Tôi nhớ một đoạn trong phim:

Mitty mơ anh là công tử phong nhã, hào hoa, đi chơi trên chuyến tầu trên dòng sông Mississippy. Tiểu thư Virginia Mayo cùng du ngoạn với ông bố cô trên tầu. Con tầu trong phim là con tầu có guồng quay nước sau tầu như con tầu nay vẫn đậu ở bến sông thành phố New Orleans.

Ðêm. Công Tử Mitty hỏi tiểu thư khuê các:

“Sao cô buồn thế?”

“Em có chuyện khổ tâm.”  Nàng rươm rướm nước mắt, run giọng trả lời.

“Cô có thể nói cho tôi biết chuyện làm cô buồn được không? May ra tôi có thể giúp cô.”

Nàng kể ông bố nàng đánh bạc trên tầu. Ông thua hết tiền, ông cầm cố gia sản của ông. Và ông thua hết, ông định tự tử.

Mitty nói:

“Cô yên tâm. Tôi sẽ lo êm đẹp vụ này cho ông và cô.”

Ông già quí tộc thua bạc vì bị gã cờ bạc bịp cho vào xiếc. Mitty thách gã Bịp đánh bạc với chàng. Chàng lột mặt nạ bịp của Gã Cờ Bạc Bịp. Gã phải trả lại hết số tiền gã lột của ông già. Cảnh cuối cùng của phim: Mitty chia tay với tiểu thư khuê các trước guồng xoay nước sau con tầu.

Trăng sáng trên dòng sông lớn, ánh trăng lấp lánh trên mặt nước.

Nàng cám ơn chàng;

“Em không bao giờ quên anh.”

Nàng ôm chàng, nàng hôn chàng.

Tôi cảm khái vì cảnh này.

Năm 1951 khi thấy cảnh chia ly nàng hôn chàng  ở  sông Mississippy, khi tầu vào bến thành phố New Orleans, trên màn ảnh rạp Majestic, Sài Gòn, tôi nghĩ:

“Ngày nào mình đến Mỹ, mình sẽ đến thăm New Orleans.”

Năm 1995 – 60 năm sau – bánh xe tỵ nạn muộn màng, khấp khểnh đến Kỳ Hoa, tôi được các bạn tôi cho tôi đến Houston, tôi ngỏ ý muốn được đến New Orleans, thành phố ở ngay bên cạnh Houston, cô em văn nghệ của tôi là cô Thục Viên, ở Houston, nói:

“Em trai của em ở New Orleans. Em sẽ nhờ em em đón anh.”

Tôi đến phi trường New Orleans lúc 8 giời tối. Trời mưa. Chú em đưa tôi đi một vòng thành phố. New Orleans ngày xưa là thuộc địa của Pháp như Sài Gòn. Nhiều chỗ ở New Orleans giống Sài Gòn quá đỗiù. Ở một Ngã Sáu New Orleans, tôi thấy dàn đèn đường bằng đồng –  đồng qua mưa nắng lên mầu xanh han rỉ –  y hệt dàn đèn đường bằng đồng cổ xưa tôi thấy ở đường Phùng Hưng, Chợ Lớn. Hà Nội – hình như – không có những cây cột đèn bằng đồng xưa như ở Sài Gòn, New Orleans.

Tôi lên chiếc tầu chở du khách du ngoạn sông Mississippy. Tôi đến sau tầu, nhìn guồng xoay nước, tự nhủ;

“Mình đã thấy cái guồng xoay nước này sáu mươi năm trước. Chỗ này là chỗ Virginia Mayo ôm hôn Walter Mitty Danny Kaye.”

Tôi cám ơn Thục Viên, tôi cám ơn chú Em New Orleans.

Tôi ái mộ Nhà Văn James Thurber. Truyện của ông – như truyên The Scret Life of Walter Mitty -  là loại truyện tôi muốn tôi viết. Nhà Văn vẽ tranh vui. Tôi rất muốn vẽ tranh đăng cùng những bài viết của tôi.  Người viết truyện vẽ được tranh đi cùng truyện của mình là nhất. Năm 1983 tôi đến học vẽ ông bà Họa sĩ Nguyễn Sơn – Nguyễn Thị Tâm. Ông Sơn dậy vẽ croquis, tranh sơn dầu, bà Tâm dậy vẽ tranh lụa, mầu nước – tranh thủy mặc – ông bà – không con – sống rất nghệ sĩ. Ông bà dậy vẽ trong căn nhà nhỏ trong xóm sau Trường Mỹ Thuật Gia Ðịnh. Ông bà dậy vẽ không lấy tiền, không tiếc công. Tôi vốn thích vẽ từ nhỏ. Học ông bà tôi bắt đầu vẽ được, Tháng Tư 1984 bọn Công An Thành Hồ bắt tôi đi tù. Sáu năm sau tôi ra tù, tôi  không còn vẽ được nữa.

Tôi cám ơn ông bà Họa sĩ Nguyễn Sơn-Nguyễn Thị Tâm.

Tranh Vẽ của Nhà Văn James Thurber. Bà vợ thứ nhất  của tôi ở trên nóc tủ, đây là bà vợ hiện nay của tôi.

Tranh Vẽ của Nhà Văn James Thurber.
Bà vợ thứ nhất của tôi ở trên nóc tủ, đây là bà vợ hiện nay của tôi.

Trên Internet tôi thấy ghi chuyện Nhà Văn James Thurber bất mãn vì những người mua truyện của ông để làm phim đã không làm phim theo đúng truyện. Họ thay đổi quá nhiều sự kiên. Ông qua đời năm 1961. Nếu năm nay ông còn sống – năm 2014 – chắc ông còn bực bội nhiều hơn khi ông thấy người ta làm bộ phim thứ hai theo truyện  The Secret Life of Walter Mitty của ông. Người làm phim chỉ mua, chỉ lấy cái tên truyện vì truyện nổi tiếng. Họ làm phim với một cốt truyện khác hẳn.

Tôi trích đăng vài đoạn truyện tiếng Anh để những bạn đọc biết tiếng Anh có dịp thưởng thức Văn của Nhà Văn James Thurber. Lời dịch của tôi không có được tinh thần của nguyên tác.

The Secret Life of Walter Mitty

by James Thurber

“WE’RE going through!” The Commander’s voice was like thin ice breaking. He wore his full-dress uniform, with the heavily braided white cap pulled down rakishly over one cold gray eye. “We can’t make it, sir. It’s spoiling for a hurricane, if you ask me.” “I’m not asking you, Lieutenant Berg,” said the Commander. “Throw on the power lights! Rev her up to 8500! We’re going through!” The pounding of the cylinders increased: ta-pocketa-pocketa-pocketa-pocketa-pocketa. The Commander stared at the ice forming on the pilot window. He walked over and twisted a row of complicated dials. “Switch on No. 8 auxiliary!” he shouted. “Switch on No. 8 auxiliary!” repeated Lieutenant Berg. “Full strength in No. 3 turret!” shouted the Commander. “Full strength in No. 3 turret!” The crew, bending to their various tasks in the huge, hurtling eight-engined Navy hydroplane, looked at each other and grinned. “The Old Man’ll get us through,” they said to one another. “The Old Man ain’t afraid of hell!” . . .

“Not so fast! You’re driving too fast!” said Mrs. Mitty. “What are you driving so fast for?”

“Hmm?” said Walter Mitty. He looked at his wife, in the seat beside him, with shocked astonishment. She seemed grossly unfamiliar, like a strange woman who had yelled at him in a crowd. “You were up to fifty-five,” she said. “You know I don’t like to go more than forty. You were up to fifty-five.” Walter Mitty drove on toward Waterbury in silence, the roaring of the SN202 through the worst storm in twenty years of Navy flying fading in the remote, intimate airways of his mind. “You’re tensed up again,” said Mrs. Mitty. “It’s one of your days. I wish you’d let Dr. Renshaw look you over.”

H2T phóng tác: Walter Mitty mơ là Siêu Phi Công

“Ta sẽ thoát.” Lời vị Chỉ Huy lạnh như tiếng đá mỏng vỡ. Ông bận bộ quân phục, chiếc mũ trắng lẳng lơ sụp xuống con mắt sám lạnh. “Mình không ra thoát được, thưa ông. Trận bão lớn quá, nếu ông hỏi tôi.” “Tôi không hỏi anh, Trung úy Berg,” vị Chỉ huy nói.” Tăng tốc độ! Cho nó lên 500. Chúng ta sẽ thoát.” Tiếng đập của ống máy lớn hơn: ta-pocketa-pocketa-pocketa-pocketa. Vị Chỉ huy nhìn sững lớp băng giá bám ngoài cửa kính phòng hoa tiêu. Ông đi tới xoay, vặn một hàng những nút điện phức tạp. “Chuyển sang Máy Phụ 8.” Ông nói lớn. “Chuyển sang Máy Phụ 8.” Trung úy Berg nhắc lại. “Mở hết tốc lực Tháp số 3.” Vị Chỉ huy ra lệnh. “Mở hết tốc lực Tháp số 3.” Phi hành đoàn cắm cúi làm những việc họ phải làm trong chiếc thủy phi thuyền tám-động cơ của Hải Quân, nhìn nhau, cười mỉm. “Ông Già đưa bọn mình qua trận bão này.” Họ nói với nhau. “Ông Già không sợ địa ngục.”

“Ðừng chạy nhanh thế. Anh chạy xe nhanh quá.”  Chị Mitty nói. “Anh làm gì mà chạy xe nhanh thế?”

“Hả?” Mitty hỏi. Chàng nhìn chị vợ ngồi ghế bên, nhìn và ngạc nhiên. Chị có vẻ khác lạ, như chị là người đàn bà trong đám đông la lên với  chàng. “Anh chạy xe đến năm mươi nhăm,” chị nói. “Anh dư biết tôi không thích xe chạy quá bốn mươi. Anh chạy đến măm mươi nhăm.” Walter Mitty yên lặng lái xe đến Waterberry, tiếng gầm gừ của chiếc SN202 qua trận bão kinh khủng nhất trong hai mươi năm của Không Lực Hải Quân chìm trong xa vắng, trong đường bay thân thương của tâm trí chàng.  “Anh lại dở chứng.” Chị Mitty nói. “ Ðây là một trong những ngày dở chứng của anh. Tôi muốn anh để cho Bác sĩ Renshaw khám lại cho anh.”

Walter Mitty mơ là Y Sĩ Giải Phẫu Số Một

“It’s the millionaire banker, Wellington McMillan,” said the pretty nurse. “Yes?” said Walter Mitty, removing his gloves slowly. “Who has the case?” “Dr. Renshaw and Dr. Benbow, but there are two specialists here, Dr. Remington from New York and Dr. Pritchard-Mitford from London. He flew over.” A door opened down a long, cool corridor and Dr. Renshaw came out. He looked distraught and haggard. “Hello, Mitty,” he said. `’We’re having the devil’s own time with McMillan, the millionaire banker and close personal friend of Roosevelt. Obstreosis of the ductal tract. Tertiary. Wish you’d take a look at him.” “Glad to,” said Mitty.
In the operating room there were whispered introductions: “Dr. Remington, Dr. Mitty. Dr. Pritchard-Mitford, Dr. Mitty.” “I’ve read your book on streptothricosis,” said Pritchard-Mitford, shaking hands. “A brilliant performance, sir.” “Thank you,” said Walter Mitty. “Didn’t know you were in the States, Mitty,” grumbled Remington. “Coals to Newcastle, bringing Mitford and me up here for a tertiary.” “You are very kind,” said Mitty. A huge, complicated machine, connected to the operating table, with many tubes and wires, began at this moment to go pocketa-pocketa-pocketa. “The new anesthetizer is giving away!” shouted an intern. “There is no one in the East who knows how to fix it!” “Quiet, man!” said Mitty, in a low, cool voice. He sprang to the machine, which was now going pocketa-pocketa-queep-pocketa-queep . He began fingering delicately a row of glistening dials. “Give me a fountain pen!” he snapped. Someone handed him a fountain pen. He pulled a faulty piston out of the machine and inserted the pen in its place. “That will hold for ten minutes,” he said. “Get on with the operation. A nurse hurried over and whispered to Renshaw, and Mitty saw the man turn pale. “Coreopsis has set in,” said Renshaw nervously. “If you would take over, Mitty?” Mitty looked at him and at the craven figure of Benbow, who drank, and at the grave, uncertain faces of the two great specialists. “If you wish,” he said. They slipped a white gown on him, he adjusted a mask and drew on thin gloves; nurses handed him shining . . .
“Back it up, Mac!! Look out for that Buick!” Walter Mitty jammed on the brakes. “Wrong lane, Mac,” said the parking-lot attendant, looking at Mitty closely. “Gee. Yeh,” muttered Mitty. He began cautiously to back out of the lane marked “Exit Only.” “Leave her sit there,” said the attendant. “I’ll put her away.” Mitty got out of the car. “Hey, better leave the key.” “Oh,” said Mitty, handing the man the ignition key. The attendant vaulted into the car, backed it up with insolent skill, and put it where it belonged. 

“Ông Chủ Ngân Hàng tỷ phú Wellington McMillan,” cô y tá xinh đẹp nói. “Vâng,” Walter Mitty nói. Chàng chầm chậm gỡ bao tay. “Ai lo vụ này?” ” Thưa.. Bác sĩ Renshaw và Bác sĩ Benbow, có hai ông chuyên viên, Bác sĩ Remington đến từ New York, Bác sĩ Pritchard-Mitford đến từ London. Ông ấy mới bay đến.” Cánh cửa phòng mở ở cuối hành lang dài, lạnh, Bác sĩ Renshaw đi ra. Ông có vẻ bối rối và ngơ ngác. “Hello, Mitty,” ông nói. “Chúng tôi đang gặp khó khăn vì  McMillan, chủû ngân hàng tỷ phú  bạn thân của Roosevelt. Ostreosis ductal tract. Tertiary. Anh xem qua ông ấy nhé?” “Ðể tôi xem,” Mitty nói.

Trong phòng giải phẫu những tiếng giới thiệu thì thào: “Bác sĩ Remington. Bác sĩ Mitty. Bác sĩ Pritchard-Mitford. Bác sĩ Mitty.” “Tôi có đọc sách viết về streptothricosis của anh,” Bác sĩ Pritchard-Mitford bắt tay, nói: “Công trình tuyệt  vời.” “Cám ơn,” Mitty nói. “Tôi không biết có anh đang ở đây, Mitty,” Remington nói nhỏ: “Chở than về Newcastle, đưa Mitford và tôi đến đây vì tertiary.” “Anh quá tốt,” Mitty nói. Dàn máy lớn gắn liền với bàn giải phẫu, có nhiều ống và dây, bắt đầu phát tiếng pocketa-pocketa-pocketa. “Máy gây mê ngừng hoạt động,” một y sinh nói, “Không có ai ở miền Ðông này biết sửa máy này.”

“Ðừng nói,” Mitty nói, giọng trầm và lạnh. Chàng đi đến máy gây mê. Dàn máy lúc này phát ra những tiếng pocketa-pocketa queep, pocketa-queep. Chàng xoay nhẹ một dàn nút máy. “Ðưa tôi cây bút,” Chàng nói gọn. Người nào đó dưa cho chàng cây bút. Chàng rút cái chốt bị hư trong máy ra, cắm cây bút vào đấy. “Sẽ chạy được trong mười phút,” chàng nói. Cô y tá nói nhỏ vào tai Bác sĩ Renshaw, Mitty thấy ông này tái mặt. “Coreopsis nặng quá,” Renshaw lắp bắp nói,” Mitty, anh lo dùm được không?” Mitty nhìn ông ta, nhìn Bác sĩ Benbow, nhìn hai chuyên viên ngơ ngác. “Ðể tôi, nếu anh muốn,” Mitty nói. Áo trắng được choàng lên người chàng, chàng sửa lại khẩu trang và chầm chậm xỏ tay vào bao tay.

“Tốp. Mac. Coi chừng đụng cái Buick.” Mitty đạp thắng xe. “Trái đường,” người gác bãi đậu xe nói. “ Ra đi. Ðể tôi đưa xe vào cho.”

Walter Mitty mơ là Tay Súng Cừ Khôi

“Perhaps this will refresh your memory.” The District Attorney suddenly thrust a heavy automatic at the quiet figure on the witness stand. “Have you ever seen this before?” Walter Mitty took the gun and examined it expertly. “This is my Webley-Vickers 50.80,” ho said calmly. An excited buzz ran around the courtroom. The Judge rapped for order. “You are a crack shot with any sort of firearms, I believe?” said the District Attorney, insinuatingly. “Objection!” shouted Mitty’s attorney. “We have shown that the defendant could not have fired the shot. We have shown that he wore his right arm in a sling on the night of the fourteenth of July.” Walter Mitty raised his hand briefly and the bickering attorneys were stilled. “With any known make of gun,” he said evenly, “I could have killed Gregory Fitzhurst at three hundred feet with my left hand.” Pandemonium broke loose in the courtroom. A woman’s scream rose above the bedlam and suddenly a lovely, dark-haired girl was in Walter Mitty’s arms. The District Attorney struck at her savagely. Without rising from his chair, Mitty let the man have it on the point of the chin. “You miserable cur!” . . .

“..Chắc vật này có thể làm cho anh nhớ lại..” Ông Ủy viên Công tố đột ngột quăng lên mặt bàn trước đoàn bồi thẩm khẩu súng lục. “Anh có thấy cái này bao giờ chưa?” Walter Mitty cầm khẩu súng, xem xét với vẻ sành điệu. ” Ðây là khẩu Webley- Vickers 50.80 của tôi,” Chàng thản nhiên nói. Tiếng xì xào ngạc nhiên vang lên trong phòng xử. Ông Chánh án gõ búa cho mọi người giữ trật tự. “Anh là tay cừ khôi xử dụng tất cả các loại súng, phải không?” Ông Ủy viên Công tố khéo léo đưa đẩy lời kết tội. “Phản đối,” Luật sư  của Mitty nói lớn. “Chúng tôi đã chứng minh nghi can không thể bắn súng được lúc đó. Chúng tôi đã chứng minh nghi can phải mang dây băng tay phải trong đêm mười bốn tháng Bẩy.” Walter Mitty đưa tay lên, ông luật sư im tiếng. “Với bất cứ hiệu súng thông dụng nào,” chàng nói giọng thản nhiên,” tôi có thể bắn chết Gregory Fitzhurst xa tôi ba trăm bộ bằng tay trái tôi.” Náo động bùng lên trong phòng xử. Tiếng người đàn bà kêu lớn rồi bỗng nhiên người thiếu nữ tóc đen, đẹp, nhào đến trong vòng tay ôm của Mitty. Ủy viên Công Tố xô đẩy nàng. Vẫn ngồi, Mitty cho một cú đấm gọn vào cầm ông Ủy viên. “Ðồ khốn.”

Có vật gì đó chạm vào vai chàng. “Tôi đi tìm anh suốt cả cái ô-ten này, “Vợ Mitty nói. “Tại sao anh lại nấp vào dẫy ghế này. Làm sao tôi tìm ra anh!” “Ðến lúc rồi..” Mitty nói mơ hồ. “Cái gì?” Vợ Mitty hỏi. “Tôi đang nghĩ.” Mitty hỏi lại: “Có bao giờ cô thấy là cũng có lúc tôi suy nghĩ chứ?” Vợ Mitty nhìn chồng, “Về nhà tôi phải đo áp huyết của anh ngay mới được.”

Walter Mitty mơ là Người Hùng.

They went out through the revolving doors that made a faintly derisive whistling sound when you pushed them. It was two blocks to the parking lot. At the drugstore on the corner she said, “Wait here for me. I forgot something. I won’t be a minute.” She was more than a minute. Walter Mitty lighted a cigarette. It began to rain, rain with sleet in it. He stood up against the wall of the drugstore, smoking. . . . He put his shoulders back and his heels together. “To hell with the handkerchief,” said Waker Mitty scornfully. He took one last drag on his cigarette and snapped it away. Then, with that faint, fleeting smile playing about his lips, he faced the firing squad; erect and motionless, proud and disdainful, Walter Mitty the Undefeated, inscrutable to the last.

Họ đi ra bãi đậu xe. Ðến tiệm thuốc ở góc đường, vợ Mitty nói: “Ðứng đây chờ tôi, tôi vào tiệm một phút thôi.” Chị đi lâu hơn một phút. Walter Mitty châm điếu thuốc. Trời mưa. Chàng đứng dựa tường bên cửa tiệm thuốc. Chàng đứng thẳng lưng, hai gót giầy chạm nhau. “Vứt  đi..” Chàng nói, khinh mạn khi cái khăn được đưa đến để bịt mắt chàng. Walter Mitty hút hơi thuốc cuối cùng, chàng búng cho mẩu thuốc bay đi. Rồi với nụ cười mỉm trên môi, chàng đứng thẳng trước tiểu đội hành quyết, kiêu và khinh mạn, Người Hùng Walter Mitty Bất Bại, Bất Biến đến phút cuối cùng.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, Ngày Ðầu Năm Mỹ 2014.

BÚI TÓ CỦ HÀNH

Lời khắc trên phiến đá mộ Phạm Duy: Tôi yêu tiếng nước tôi Từ khi mới ra đời, người ơi.

Lời khắc trên phiến đá mộ Phạm Duy:
Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời, người ơi.

Tháng 12, 2013, tôi đọc “Hồi Ký Phạm Duy” trên Internet. Phạm Duy viết Hồi Ký này ở Hoa Kỳ khoảng năm 1980. Nghe nói những năm xưa ấy – 1980 – Hồi Ký Phạm Duy được đọc trên Ðài BBC, rồi xuất bản thành sách. Tôi trích vài đoạn mời quí vị cùng đọc.

Phạm Duy viết về ông Phạm Duy Tốn.

Bố tôi là một trong những người Việt Nam đầu tiên cắt búi tó và mặc âu phục. Không biết lúc chuẩn bị cắt tóc bố tôi có sai vợ lập ban thờ để làm lễ xin tổ tiên tha cho cái tội tày trời như những người cùng cảnh ngộ hay không? Nhưng sau khi bố tôi cắt tóc, bà tôi buồn rầu và căm giận đến độ từ đó trở đi, mỗi một buổi sáng vừa mở mắt dậy là bà tôi ngồi chửi con. Bà cứ ngồi ở đầu giường, không thèm đi xúc miệng vì muốn làm tăng ác độ của câu chửi :

“Tốn ơi! Mày là thằng con bất hiếu! Mày cắt tóc là mày từ bỏ cha mẹ đó, biết không? Rồi đây tao chết đi thì mày còn có cái gì để mà tóc tang hở mày?”

Kèm theo câu chửi là câu rủa. Ðệm vào câu rủa là một cái bát đàn — loại bát bằng đất nung, rẻ tiền nhất — được bà tôi đập xuống đất vỡ tan. Rủa cho bố tôi chết. Lời rủa có vẻ hiệu nghiệm. Bố tôi chết trước bà tôi hai năm.

CTHÐ: Việc các ông Việt Nam – thời xưa đó là An Nam –  cắt bỏ búi tóc – thường được gọi là “Búi Tó” – chắc xẩy ra vào khoảng những năm 1920 – 1925. Tôi nghe kể nhiều ông Nho An Nam, bắt chước các ông Nho Tầu – coi thân thể mình là do cha mẹ sinh ra; do đó người con không được phá hủy bất cứ cái gì trên thân thể mình: Râu, Tóc, Móng Tay không được cắt. Cắt bỏ ba thứ ấy là can tội bất hiếu. Ông Phan Khôi kể: ngày ông về tỉnh cắt tóc, ông phải đợi đến tối mới dám về nhà ông, ông sợ người làng trông thấy mái tóc mất búi tó của ông, người ta cười. Nhưng người chủ trương việc đàn ông An Nam cắt bỏ búi tó lại là vị khoa bảng nổi danh thời ấy: Tiến sĩ Phan Chu Trinh. Ðây là bài vè ông Phan Chu Trinh làm để kêu gọi đàn ông Việt cắt bỏ búi tó:

Tay trái cầm lược,
Tay phải cầm kéo
Cúp hề! Cúp hề!
Thăng thẳng cho khéo
Bỏ cái hèn này
Cho khôn, cho mạnh.

Chính phủ Bảo Hộ Pháp thời ấy không ép buộc dân An Nam phải cắt bỏ búi tó. Họ cũng không kêu gọi đàn ông An Nam cắt bỏ búi tóc. Trong bài vè, tiếng “Cúp” – Coupe – lần thứ nhất đi vào ngôn ngữ An Nam. Trong những năm từ 1935 người Việt Bắc Kỳ quen nói tiếng “cúp tóc.” Thợ hớt tóc tiếng Pháp là “coiffeur,” do đó ta có tiếng Phó Koáp để gọi những ông thợ hót tóc, tiếng “Phó Nháy” để gọi những ông thợ chụp ảnh, tiếng “Phó Chũi” để gọi những ông thợ may. Thời tôi mười tuổi, những năm 1940, người Bắc quen gọi những ông hớt tóc là Phó Cạo, thường nói là đi cúp tóc.

Ông Phan Bội Châu, ông Phan Chu Trinh. Tiến sĩ Phan Chu Trinh mặc Âu phục y như người Pháp.

Ông Phan Bội Châu, ông Phan Chu Trinh. Tiến sĩ Phan Chu Trinh mặc Âu phục y như người Pháp.

Người Tây Phương – người da trắng – không ép buộc, cũng không kêu gọi, không khuyến khích người Á Ðông – dân da vàng – bắt chước họ về lối sống, về ăn mặc. Người Á Ðông thấy y phục của người Âu Châu đẹp, gọn, tiện lợi nên bắt chước.

Ðọc đoạn Hồi Ký trên của Phạm Duy, tôi khó chịu khi thấy bà mẹ ông Phạm Duy Tốn rủa xả ông nặng lời chỉ vì cái tội ông cắt bỏ cái búi tó.

Phạm Duy: Mẹ tôi là con gái của một ông thầy đồ và trước khi lấy chồng, mẹ tôi là cô hàng bán sách ở phố hàng Gai. Tôi không biết tên họ của ông bà ngoại nhưng một hôm gặp bà dì ruột ở Sài Gòn vào khoảng 1970 thì dì nói: ”Mày có biết bà họ gì không? Họ Lưu, dòng dõi Lưu Vĩnh Phúc đó!”

Thế ra trong tôi có dòng máu nổi loạn à? Người Pháp gọi Lưu Vĩnh Phúc là giặc — Giặc Cờ Ðen — nhưng đối với tôi, ông là người làm Cách Mạng.

CTHÐ: Nhân vật Lưu Vĩnh Phúc không phải là “giặc”, cũng không phải là người làm “cách mạng.” Lưu Vĩnh Phúc là người Tầu có võ nghệ, tuyển mộ một số người Tầu làm lính, sang An Nam giúp quân An Nam đánh Pháp xâm lược. Vì lá cờ của quân Lưu Vĩnh Phước là cờ mầu đen nên họ được và bị gọi là Quân Cờ Ðen. Chắc họ – Lính Cờ Ðen – có cướp bóc dân An Nam nên họ bị gọi là Giặc Cờ Ðen. Dân An Nam phải nuôi toán quân Cờ Ðen. Việc chống Pháp không thành, Tướng Cờ Ðen Lưu Vĩnh Phúc sang sống và chết ở Ðài Loan.

Phạm Duy: Tôi có khá nhiều các bác, các dì, các cậu và có rất đông các anh em, chị em họ cùng với một rừng các cháu gọi tôi bằng chú và bằng cậu. Một trong những người anh họ của tôi là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, con của Bác Hai Hàng Ðường.

Tôi thường được ngồi ngắm tác giả Cổ Học Tinh Hoa, Tục Ngữ Phong Dao… nằm hút thuốc phiện. Trong đại gia đình tôi, không phải chỉ có anh Ngọc mới là bạn của Nàng Tiên Nâu. Tôi có bao nhiêu ông chú, ông cậu, có bao nhiêu ông anh hay em họ là có bấy nhiêu ”ông tiên”. Thậm chí sau này, con của cậu tôi, tên là Bá, còn mở hẳn một tiệm hút ở phố Hàng Dầu, không có một nhà văn Hà Nội nào hằng đêm là không tới đó để gập nhau. Ở đây, tôi hay gập Ðồ Phồn, Lan Sơn, Ðàm Quang Thiện…

CTHÐ: Phạm Duy viết “..không có một nhà văn Hà Nội nào hằng đêm không tới đó để gặp nhau..” là quá đáng. Nhà Văn Hà Nội trước năm 1945 có nhiều ông không hút á phiện. Tất nhiên những ông Nhà Văn này không đến tiệm hút. Một số ông tới tiệm hút là để hút, không phải các ông tới đó để gặp nhau.

Ông Nguyễn Văn Ngọc làm Ðốc Học tỉnh Hà Ðông những năm 1940. Mẹ tôi kể khi ông làm quyển Tục Ngữ-Phong Dao, ông yêu cầu học sinh tất cả các trường trong tỉnh  mỗi học sinh nộp cho ông ba câu phong dao, tục ngữ hay câu đố. Tôi có hai lần ở trong đoàn học sinh đến nhà riêng của ông chúc Tết ông. Ngày ấy tôi không biết ông là dân Hít Tô Phê. Nay nhớ lại ông mình hạc, xương mai, đúng là người tiên phong, đạo cốt. Thời ông Nguyễn Văn Ngọc làm Ðốc Học Hà Ðông, ông Hoàng Trọng Phu làm Tổng Ðốc Hà Ðông; hai ông cùng là đệ tử của Cô Ba Phù Dung.

Phạm Duy: Phía sau phố tôi là phố Hàng Bè, nơi vú già hay giắt tôi đi chợ và phố Hàng Thùng, nơi có lớp mẫu giáo để tôi đi vào chữ nghĩa khi tôi lên sáu. Phố nào cũng ngắn với dãy nhà tí hon. Riêng phố Hàng Bè có thêm ngôi nhà ba tầng — gọi là nhà Tây — của Bác Sĩ Lê Văn Chỉnh, người gốc miền Nam, có người con trai không hiểu vì sao mà tự tử (bằng súng lục). Cái chết của con Bác Sĩ Chỉnh và của những người tự vẫn ở Hồ Gươm ám ảnh tôi rất lâu.

CTHÐ: Tôi nhiều lần viết trước năm 1945, chính phủ Pháp không cho phép dân An Nam có súng lục. Tôi viết sai chăng?

Phạm Duy: Gọi là phố Hàng Dầu nhưng tôi chỉ thấy có một cửa hàng bán dầu ở xế cửa. Vào thời tôi mới sinh ra, Hà Nội không còn dùng dầu lạc để đốt đèn nữa vì đã có đèn điện và có loại đèn Hoa Kỳ dùng dầu lửa (pétrole) tiện lợi và sạch sẽ hơn dầu lạc. Hoa Kỳ láu cá lắm, biếu không cho người Việt Nam hàng vạn cái đèn để khi có đèn rồi thì phải mua dầu của họ.

Vài ba ngày, có người của ông nhà thầu Năm Diệm đem thùng khác tới đổi thùng đựng đầy phân. Ðổi thùng thường làm vào nửa đêm về sáng. Lúc đó, tiếng phu đổi thùng gõ cửa ầm ầm trong đêm thanh vắng thường làm thằng bé này giật mình thon thót. Chắc tiếng gõ cửa bắt người ban đêm cũng chỉ hãi hùng đến thế mà thôi.

Bà con hàng xóm trong khu phố tôi là những người dân hiền lành sống cuộc đời âm thầm nhưng cũng có một nhân vật dị thường khiến tôi để ý. Tên anh là Hùng, nhưng ai cũng gọi là Khùng. Hằng ngày, anh bắc ghế đẩu ra ngồi ở ngã tư, thấy ai đi qua cũng chào. Chào bằng đủ mọi thứ tiếng. Mọi người đều cho anh là thằng hoá dại. Trẻ con thường quây chung quanh anh để chọc ghẹo. Riêng tôi, lúc nào cũng ngẩn ngơ đứng nhìn con người “kính chào không mỏi mệt” này. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ gương mặt hiền hoà của một người lịch sự nhất phố Hàng Dầu.

Hà Nội có những buổi trời mưa thật to, mưa nặng nề như mưa đá vậy. Có thêm những tia chớp lớn. Những hạt mưa cục đập xuống mặt đường chưa trải nhựa, làm thành những bong bóng to. Ngồi trên bậc cửa nhìn qua nhà trước mặt, thằng bé này biết nhớ nhung da diết một con bé tên là Nguyệt. Nó thấy được nỗi buồn của một câu ca dao để rồi sẽ đưa vào một bản trường ca:

Ðêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người bên đó có buồn hay không ? .

CTHÐ: Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng?

Phạm Duy viết: “Ðổi thùng thường làm vào nửa đêm về sáng. Lúc đó, tiếng phu đổi thùng gõ cửa ầm ầm trong đêm thanh vắng thường làm thằng bé này giật mình thon thót. Chắc tiếng gõ cửa bắt người ban đêm cũng chỉ hãi hùng đến thế mà thôi.”

CTHÐ: Năm xưa chừng bốn, năm ngày đổi thùng phân một lần. Người ta nghe tiếng đập cửa mãi rồi quen. Không thể ví tiếng đập cửa đổi thùng với tiếng bọn Công An Việt Cộng ban đêm đập cửa vào nhà bắt người.

Phạm Duy: Từ lúc còn rất bé, không những được đi lễ với mẹ luôn luôn, tôi còn được mẹ tôi dạy tụng những câu kinh Phật: “… Lư hương xạ nhiệt pháp giới mông vân chư Phật hải hội… ” Tôi lại là thằng bé không thích ăn thịt hay chấm nước mắm, nhiều khi chỉ ăn cơm với oản, với chuối cho nên ngoài cái tên “thằng Tôm”, tôi còn có thêm cái tên là “chú Tiểu.”

CTHÐ: Năm 1972 khi dịch tiểu thuyết One Hundred Years of Solitude của Gabriel Garcia Marquez tôi thấy nhân vật trong truyện – Xứ Colombia – ăn cơm với chuối. Tôi théc méc: nước Việt nhiều chuối, nhưng người Việt không ăn cơm với chuối. Tại sao?

Phạm Duy: Từ khi vú bỏ tôi về quê, tôi đã nhiều lần được về sống với vú và con vú là thằng Cương ở một ngôi làng gần Trạm Chôi thuộc tỉnh Sơn Tây. Lúc đó tôi đi học rồi và qua những bài tập đọc bằng văn suôi hay văn vần trong cuốn QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ, tôi được dạy dỗ để biết yêu đồng quê Việt Nam như thế nào rồi! Hãy giở những cuốn sách học vỡ lòng đó ra mà coi. Cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư — Lớp Ðồng Ấu có 55 bài tập đọc thì có tới gần 10 bài tả cảnh đồng quê. Em bé thị thành như tôi vào tuổi lên 9 mà lại học về cầy cấy, gieo mạ, gặt lúa. Học bài “con người nói chuyện với con trâu” bằng thơ. Hay học “nghề làm ruộng”:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta.
Rủ nhau đi cấy đi cầy
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

CTHÐ:

Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cầy vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, trâu đấi, ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa có bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Tôi học bài học thuộc lòng trên năm tôi 10 tuổi. Ngay trong tuổi thơ ấy tôi đã thấy chuyện con trâu nó không phải kéo cầy vất vả, nó vẫn có cỏ ngoài đồng cho nó ăn.

Phạm Duy: Còn một trò chơi này tôi không biết gọi tên là gì  nhưng tôi chỉ thấy người ta chơi trong thời đó mà thôi. Ðó là những thanh que dài, được người chơi đứng xa phóng lên cho đầu thanh que rơi xuống một cái trống con rồi thanh que đó bật ngược lên cao để rơi vào họng của một cái bình hoa đặt ở xa xa. Người chơi phải đạt được hai lần chính xác: một lần khi tung thanh que rơi xuống mặt trống và một lần nữa khi thanh que đó rơi vào cái miệng hẹp của chiếc bình hoa. Trò chơi này cho ta nghe hai âm thanh vui: tiếng “tom” của cái trống và tiếng “thụt” của thanh que khi rơi vào bình.

CTHÐ: Trò chơi này gọi là “đầu hồ.” Tôi gặp tiếng “đầu hồ” trong một bài viết về một ông vua Nhà Nguyễn: “Khi mỏi mệt, vua đứng lên, bước tới đánh đầu hồ.” Nay đọc Phạm Duy, tôi biết “đầu hồ” là trò chơi như thế nào.

Phạm Duy: Ở trường Hàng Vôi, trong những năm học các lớp đồng ấu (cours enfantin) lớp dự bị (préparatoire) và hai lớp sơ đẳng (cours moyen I và II), tôi học dốt lắm.

CTHÐ: Thiếu Cours Eùlémentaire: Lớp Sơ Ðẳng. Cours Moyen 1, Moyen 2 được gọi là Lớp Nhì 1, Lớp Nhiø 2. Cours Superieux: Lớp Nhất.

Phạm Duy: Dù còn bé, tôi cũng biết thù ghét người con nuôi của Cụ Ðề Thám đã dắt tay sai của Pháp là Lê Hoan tới bắt Cụ cũng như tôi đã biết khinh bỉ những vị quan lại như ông tuần phủ họ Cung đã giúp kẻ thù trong việc bắt giết những anh hùng trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

CTHÐ: Ông Tuần Phủ Cung Ðình Vận. Ông bị Việt Minh giết năm 1945.

Phạm Duy: “Nói tới chuyện lên đồng của thời tôi còn bé thì phải nói tới Cô Bé Tý ở Hàng Bạc, một cô me Tây rất ngộ nghĩnh mà tôi có hân hạnh được tới gần. Cô Bé Tý được coi như ngang hàng với người nổi danh trong làng me Tây là cô Tư Hồng nhưng cô Bé Tý được nhiều người yêu mến vì tính đồng bóng của cô.”

CTHÐ: Theo tôi, cô Ba Tý, không phải cô Bé Tý.

Phạm Duy: Hà Nội ngày tôi còn bé, luôn luôn có những cơn sốt dị đoan như hiện tượng bàn ma xẩy ra trong một thời gian khá lâu. Nhà nào cũng có một cái bàn nhỏ ba chân rồi người ta ngồi chung quanh cái bàn đó, hai tay đặt vào thành bàn, sau khi khấn khứa với con ma bàn, người ta hỏi chuyện nó. Hỏi chồng bà này chết bao nhiêu năm rồi? Hỏi mẹ của bà nọ ở bên kia thế giới có vui hay không? Vui thì chân bàn gõ hai cái, buồn thì chân bàn gõ một cái… Cái bàn ma đã trả lời vanh vách với tiếng chân bàn gõ canh cách. Vừa run rợ vừa thích thú vì thấy mình như lạc vào cõi ma, nghe được thông điệp của người chết, tôi lại càng sợ hơn khi thấy có người đào mả lấy gỗ quan tài để làm bàn ma.

CTHÐ: Trò này là trò cầu cơ. Bàn cầu cơ là miếng gỗ viết chữ a, b, c..Người cầu cơ đặt ngón tay trỏ lên miếng gỗ nhỏ hình trái tim, nhắm mắt cầu khẩn hồn ma nhập vào, miếng gỗ tự động di chuyển trên các chữ, ghép các chữ lại thành tiếng. Ðể bàn cơ được thiêng, có người ra bãi tha ma lấy những miếng gỗ quan tài được cải táng, đem về làm bàn cầu cơ, không ai đào mả lấy gỗ áo quan. Trò Cầu Cơ biến mất sau năm 1945.

CTHÐ: Năm 1991, 1992, đi tù về, tôi được nghe – qua cassette – bài Tình Cầm – Phạm Duy phổ Thơ Hoàng Cầm – và bài Nghìn Thu. Hai bản Nhạc, Thơ làm tôi cảm động. Từ sau năm 1975, hai mươi năm Phạm Duy sống ở Mỹ, tôi chỉ thấy hay hai bản nhạc của Phạm Duy: bài Tình Cầm – Thơ Hoàng Cầm – và bài Nghìn Thu.

Nghìn Thu

Nghìn thu Anh là suối trên ngàn
Thành sông anh đi xuống, anh tuôn tràn biển mơ
Nghìn thu Em là sóng xô bờ
Vào sông Em đi mãi không bao giờ biển vơi

Em là cõi trống cho tình đong vào
Anh là nơi vắng cho tình căng đầy
Cuộc tình đi vào cõi thiên thu
Em là cơn gió, Anh là mây dài
Ði về bên nớ, đi về bên này
Rồi trở về cho hết cái đong đưa

Nghìn thu Em lặng lẽ ươm mầm
Cành mai không ai biết Em âm thầm nở hoa
Nghìn thu trăng chợt sáng hay mờ
Lặng im Anh lên xuống không ai ngờ hiển nhiên

Tình Ta biến hóa trong từng sát na
Tình luôn lai vãng đi về cõi chung
Tình vô hư đó nên gần với xa
Tình ra ánh sáng, tình về tối đen

Nghìn thu Anh là đã Em rồi
Và Em trong muôn kiếp, Em đã ngồi ở anh.
Nghìn thu Ta bồi đắp không ngừng,
Tình Âm Dương chan chứa xoay trong vòng Tử Sinh.

o O o

Năm 1940 người Bắc có thành ngữ:

“Búi tóc củ hành, làm anh thiên hạ.”

Tóc đàn ông không nhiều, những ông để tóc dài khi búi tóc lại sau ót, búi tóc chỉ lớn, chỉ nhỏ bằng củ hành. Tôi thấy những ông búi tó củ hành ngày xưa không có gì hơn người, tức không thể  làm đàn anh người khác. Năm 1946 cả làng tôi chỉ còn có một ông bác họ tôi là còn búi tó củ hành.

Théc méc: Không biết ông Vua nhà Nguyễn nào là ông Vua thứ nhất cắt  bỏ búi tó?

Năm 1995, gặp lại Phạm Duy, tôi hỏi:

“Nghìn Thu Thơ của ai thế?”

Phạm Duy:

“Thơ tôi chứ còn Thơ của ai nữa!”

MÙI PHẤN ÁI ÂN

Ngày xưa xa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần,
Ðời chỉ có hoa và mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Căn Nhà Không Có Mùa Xuân. Thơ H.H.THỦY

coupleLàng Linh Qui, tổng Kim Sơn, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ðó là căn cước làng quê tôi. Một làng không giầu, không nghèo, một làng điển hình của một ngàn lẻ một làng quê đồng bằng Bắc Việt. Những năm xưa, cách đây hơn năm mươi năm, khi tôi có điều kiện tìm biết nguồn gốc làng tôi, dòng họ tôi, tôi đã không tìm – ngày xưa ấy tôi còn ít tuổi quá, năm 1945 tôi mới 14 tuổi. Khi tôi trưởng thành, muốn tìm biết thì không còn được nữa. Chỉ nhớ tôi nghe ông thân tôi nói họ Dương của tôi gốc ở Bần Yên Nhân, năm năm một lần đại biểu họ tôi vẫn về Bần Yên Nhân cúng tổ. Ông tổ năm đời của tôi thi không đỗ, rời làng quê đi tìm nơi dậy học. Ông dừng chân ở một khu dân cư nằm ven con đê sông Ðuống, một số người trong họ ông theo ông đến đây sinh sống, và các ông lập ra làng Linh Qui. Làng tôi không có người nào đỗ cao,  Hán học cũng như Tây học. Năm tôi biết ghi nhận làng tôi chỉ có hai ông Thông Phán: ông Dương Ðức Hiệp, ông  bác tôi, chi trên, thân sinh anh Dương Ðức Hiền, và ông Dương Hoằng Giản, ông bố tôi. Làng Kim Sơn ngay bên làng tôi, cũng không giầu, không nghèo như làng tôi, có ba, bốn ông tiến sĩ, làng Phú Thị, nổi tiếng văn học nhất vùng, cách làng tôi một cánh đồng, là làng ông Cao Bá Quát.

Ði từ Hà Nội, qua cầu Sông Cái, năm tôi nhỏ tuổi tên Tây là cầu  Pont Doumer – tên một ông Toàn Quyền Pháp ở Ðông Dương, Toàn Quyền Doumer xây cầu qua sông Hồng, một tên khác là Sông Cái – vào đường Số 5, đi về hướng Hải Dương, Hải Phòng, 19 cây số thì đến ga xe lửa Phú Thị. Rẽ trái vào con đường đất, đi qua trước làng Phú Thị, vào bên trong chừng ba cây số thì đến làng tôi.

Làng tôi nằm giữa đê sông Ðuống và đường số 5, con đường huyết mạch nối liền thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng. Chiến tranh nổ ra, quân Pháp chiếm phi trường Gia Lâm trước nhất, họ mở ngay những cuộc hành quân càn quét hai bên đường số 5 để bảo vệ con đường quan trọng ấy. Khói lửa, chết tróc, hoang tàn đến với làng quê tôi rất sớm. Cánh đồng làng tôi là nơi xẩy ra trận đánh đầu tiên trong vùng. Hai ngày sau trận đụng độ, tôi đi theo vết bánh xe thiết vận xa, hồi đó chúng tôi gọi là xe tăng, qua cánh đồng lúc ấy trồng ngô, thấy những vết máu đỏ trên những lá ngô.

Gia đình tôi ở thị xã Hà Ðông. Trước tháng 12 năm 1946 mỗi năm tôi chỉ được về làng một ngày, thường là ngày giỗ ông nội tôi, sáng về, chiều trở lại Hà Ðông. Chiến tranh đến, gia đình tôi về quê và ở lại đấy mấy năm trời. Những tháng đầu tôi theo Yên đi chơi quanh vùng. Yên là con ông chú ruột tôi, ông chú tôi mất sớm, Yên hơn tôi đến mười tuổi, làm hương sư, tức thầy giáo dậy bọn trẻ con mới học a, b, c…ở những trường làng, Yên quen ông Cao Bá Thao ở làng Phú Thị. Năm 1945 Thi sĩ Thao Thao, tên thật Cao Bá Thao, đã nổi tiếng. Dường như ông có một hai trang trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân. Tôi theo Yên đến làng Phú Thị, và tôi được gặp Thi sĩ Thao Thao.

Chủ tịch Ủy Ban Hành Chính-Kháng Chiến xã Phú Thị cũng là người họ Cao, tên anh là Dinh, trước làm giáo viên, chắc cũng loại hương sư như Yên, nên thường được gọi là Giáo Dinh. Tôi gặp Giáo Dinh vài lần. Năm 1946 chủ tịch xã như Giáo Dinh có thể nói là “văn minh” nhất tỉnh, anh mặc sơ-mi kaki, áo có cầu vai, hai túi ngực, quần soóc kaki, đội ca-lo Mỹâ, đi săng-đan, và đặc biệt anh có khẩu súng lục. Súng do anh bỏ tiền nhà ra mua. Thời ấy rất có thể chủ tịch Ủy Ban Hành Chính-Kháng Chiến phủ Gia Lâm cũng không có súng lục, nhưng Giáo Dinh, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính-Kháng Chiến xã  Phú Thị, có súng lục.

Ðứng ở cổng làng Phú Thị người ta nhìn thấy Cầu Bây, cây cầu sắt bắc ngang dòng sông nhỏ, xe hỏa Hà Nội-Hải Phòng cùng xe ô tô chạy qua cầu này. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua cuộc đời tôi vẫn nhớ bài thơ Thi sĩ Thao Thao làm riễu anh Giáo Dinh. Không học mà thuộc, không có ý ghi nhớ mà qua năm mươi năm tôi không quên:

Tiếng súng Cầu Bây nổ đánh ình!
Ngoảnh ra thấy mất Bố Cu Dinh!
Hỏi xem mới biết vừa quăng súng,
Lõm bõm qua sông lội một mình!

Sau làng Phú Thị có con sông đào, sông không sâu, có chỗ người ta lội qua được. Con sông ấy nằm giữa làng tôi và làng Phú Thị. Tôi nhiều lần lội qua con sông này, những lần tôi đi đường tắt từ làng tôi sang làng Phú Thị.

backTừ năm xưa tôi mới mười mấy tuổi đó tôi đã thấy bài thơ riễu Bố Cu Dinh là bài thơ hay. Về sau mỗi lần hồi tưởng, tôi thấy năm ấy Thi sĩ Thao Thao Cao Bá Thao, con cháu Thi sĩ Cao Bá Quát, không chết vì bài thơ riễu đó là may. Có thể Chủ Tịt Bố Cu Dinh là người ngang hàng trong họ Cao, hay vai dưới Thi sĩ nên y không làm hại ông. Ông làm thơ như thế Bố Cu Dinh cũng đau chứ. Ðường đường là chủ tịch ủy ban hành chính-kháng chiến xã – chủ tịch xã cũng dư phương tiện thủ tiêu kẻ dám đem mình ra làm đề tài cười cợt. Chủ Tịt có súng lục đàng hoàng, Tây nó mới bắn mấy phát súng ở đường số 5 Chủ Tịt đã quăng súng, lội sông chạy. Ðã chạỵ mà còn chạy một mình, tức chạy lúc chưa có ai chạy cả. Rất có thể Chủ Tịt Bố Cu Dinh đã chạy như thế, nhà thơ không bịa chuyện để riễu Chủ Tịt.

Qua Yên, em tôi, tôi gặp anh Dũng, ủy viên thanh niên của phủ Gia Lâm. Anh Dũng trạc 25 tuổi, chưa vợ con, tính nết dễ thương. Là ủy viên thanh niên phủ mà anh nghèo rớt, không có qua một phương tiện gì để tuyên truyền. Anh tập hợp được 5 thiếu niên đồng tuổi tôi, chúng tôi đều mười bốn, mười lăm tuổi năm đó, cùng ở mấy làng gần nhau, và thành lập ban kịch thiếu niên. Tôi nguyên là hướng đạo sinh, tôi đem theo về quê được khoảng mười mấy số tuần báo Thẳng Tiến của Hội Hướng Ðạo. Trong những số báo Thẳng Tiến ấy có mấy vở kịch vui, và vở Kịch Thơ Hận Nam Quan, toàn những vở kịch hướng đạo dễ đóng, ít vai. Ban Kịch Tiền Phong của chúng tôi – cũng Tiền Phong như ai – trình diễn những vở kịch hướng đạo ấy. Cả ban chỉ có 5 anh em chúng tôi. Và anh Dũng trưởng ban. Chúng tôi đi đến những làng trong vùng diễn kịch, mỗi làng ở lại chừng ba, bốn ngày, người làng nuôi cơm. Kịch diễn tất nhiên là không bán vé, diễn ở đình làng, một ngọn đèn đốt sáng bằng khí đất là đủ cho sân khấu. Chỉ có một cái kèn harmonica do tôi thổi. Cũng chào cờ, quốc ca, mặc niệm đủ trò. Khán giả dễ dãi, được xem kịch là họ thích rồi. Thường thì chỉ có những người trẻ trong làng đến xem.

Một buổi tối cuối hạ, đầu thu, tôi đi trên đê sông Ðuống về làng tôi. Lúc ấy khoảng bẩy giờ tối, trăng lên, cả một con đê dài, những cồn cát, những bãi dâu, những bờ ngô, những bụi chuối, trên là trời trăng bao la, tôi đi một bên là dòng sông lớn, một bên là cánh đồng với những ruộng ngô, những làng mạc sau lũy tre xanh. Trong không gian chỉ có ánh trăng, tiếng gió, chỉ có một mình tôi giữa trời đất. Tối ấy tôi tự nhủ mai sau, những năm tôi ba mươi, bốn mươi tuổi, tôi sẽ trở về đi trên quãng đê này trong một tối trăng sáng như tối nay, để tưởng nhớ chú thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi là tôi tối nay đi trên con đê này.

Lính Pháp hành quân qua vùng tôi, ban kịch tan. Lần ấy lính Pháp chỉ đi qua, chưa đóng đồn trên đê sông Ðuống. Một số nhà bị cháy, một số người chết. Rồi cuộc sống trở về bình yên, một bình yên tạm bợ. Tôi gặp anh Tường Lan.

Tường Lan là bí danh của anh, anh trạc ba mươi tuổi, người trẻ mà để râu ba chòm như râu ông Hồ chí Minh, anh đến ở nhà ông bác tôi cùng với mấy anh nữa. Tôi đến chơi và thấy mến các anh. Các anh cũng mến tôi, rất tự nhiên và dễ dàng, tôi nhập vào nhóm các anh. Anh Tường Lan là tổ trưởng tổ tình báo ấy, tôi trở thành liên lạc viên của tổ.

Và tôi gặp người phụ nữ của đoạn truyện hồi ký này, đây là một đoạn trong Hồi Ký Hoài Niệm Cuộc Ðời mà từ lâu tôi định viết. Hồi ký hoài niệm đời tôi, sẽ có ba phần: Sáng, Trưa, Chiều. Sáng là thời gian những năm tôi từ 10 đến 20 tuổi, Trưa là những năm tôi 20 đến 40 tuổi, Chiều  là những năm tôi từ 40 tuổi đến bây giờ, tôi không thể viết đoạn Tối của đời tôi được.

o O o

Ðược nhận vào Ban Tình Báo, tôi lấy bí danh là Thành, Trần Chí Thành, tôi muốn lấy bí danh là Hồ Chí Thành nhưng không dám. Tình cờ bí danh của người chị diệu kỳ trong những ngày tôi mới lớn là Thanh. Thanh, Thành, như tên hai chị em ruột. Về sau, vì chị Thanh thương mến tôi, lo cho tôi,  nhiều người tưởng chúng tôi là chị em ruột, dù tôi nói tôi không phải là em chị, người ta cũng không tin. Khoảng hai mươi, hai mươi mốt tuổi, chị là cô gái nửa quê, nửa tỉnh, không phải là tiểu thư thành phố mà cũng không phải là gái quê làm việc ngoài đồng. Phụ nữ kháng chiến như chị thuộc loại gái văn minh, răng trắng, tóc thề, tức tóc cắt ngắn chấm vai, nước da trắng, ăn nói có duyên, bạo dạn. Nhưng chị không mặc áo nâu cổ vuông như những thiếu nữ thành thị tản cư hay như những em Việt Minh làm văn nghệ, chị mặc áo cánh, trong mặc yếm trắng. Chị mặc thế để giả dạng làm gái quê nhưng chỉ cần nhìn chị với hàm răng trắng, mái tóc cắt ngắn,  bất cứ anh sĩ quan Tây nào dù ngốc nghếch đến mấy cũng biết ngay chị là Việt Minh. Chị và một chị nữa không ở trong nhà ông bác tôi mà ở một nhà khác trong làng, hai bữa các chị ăn cơm chung với các anh trong tổ tình báo ở nhà ông bác tôi. Chưa phải là nhân viên Ban Tình Báo, tôi đã thường có mặt trong những bữa ăn ấy.

Anh Tường Lan cho tôi đi theo anh, và mấy anh lớn trong những chuyến đi công tác trong vùng. Tiếng là tình báo, thời ấy các anh làm quân báo thì đúng hơn, quân báo mà cũng là thứ quân báo hạng bét. Chẳng anh nào, kể cả anh Tường Lan, biết tình báo là gì. Một lần tôi theo một anh vào huyện Lang Tài, đến một làng ở gần núi Thiên Thai. Tây đã đóng đồn trên núi, anh tình báo đến điều tra về đồn lính ấy. Ban tình báo có một anh ở ngay trong làng. Hai anh gặp nhau. Giả làm nông dân, tôi theo hai anh đến một chỗ trong cánh đồng chỉ cách núi Thiên Thai chừng ba trăm thước. Không dám đến gần hơn, tất nhiên chúng tôi chẳng nhìn thấy gì nhiều. Hai anh tình báo ngồi đó nhìn lên đồn binh trên núi, sẵn sàng chạy nếu thấy bóng lính Tây xuống đồn, tưởng tượng  về đồn để về làm báo cáo.

Rồi một hôm anh Tường Lan cho tôi đi công tác với chị Thanh. Anh trao công tác cho chị Thanh, tôi chỉ đi theo học việc. Chúng tôi phải vượt qua Ðường số 5 – con đường chiến sự ác liệt nhất trong những năm đầu sau năm 1946 ở Bắc Việt – để sang vùng đất bên kia. Việc qua đường số 5 là việc nguy hiểm, ban đêm cũng như ban ngày, đã nhiều người bị bắn chết ở hai bên đường. Lính Pháp trên quân xa, tầu hỏa đi qua, thấy người là  bắn.

Chúng tôi ngồi dưới gốc đa trước cổng làng Phú Thị chờ trưa đứng nắng để qua đường. Những người qua đường số 5 những ngày  ấy truyền nhau kinh nghiệm: không qua đường ban đêm, bọn Tây hay phục kích ban đêm ở những đoạn người dân thường qua đường, ban đêm qua đường dễ bị Tây bắn chết, phải qua đường vào lúc giữa trưa. Thời gian đó quân xa Pháp ít chạy trên đường, chỉ có xe hỏa ngày nào cũng có chuyến lên, chuyến xuống. Xe hỏa từ Hà Nội sang Hải Phòng hay từ Hải Phòng sang Hà Nội thường chạy vào lúc 9, 10 giờ sáng, qua đường giữa trưa là an toàn nhất.

Áng chừng giữa trưa, tôi đi bên chị Thanh trên con đường đất song song với đường số 5 để đến chỗ lên đường, vượt đường nhựa, đường xe hỏa, qua bên kia. Con đường chúng tôi đi cách đường số 5 khoảng ba trăm thước.  Chúng tôi đi chân đất, tôi đeo vai cái bị trong có để hai bộ quần áo, khăn mặt của hai chị em. Ði bên nhau tôi mới thấy chị cao hơn tôi nửa đầu, mới mười lăm tuổi tôi chưa lớn hết chiều cao của tôi.

Trưa hè, nắng rát, trời không có gió, lưng dâm dấp mồ hôi, tôi không thấy sợ hãi hay hồi hộp, chỉ thấy một kích thích mơ hồ về việc  được cùng đi công tác với một phụ nữ như chị Thanh. Vẻ bạo dạn đầy thẩm quyền của chị làm tôi không thấy sợ.

Ði được nửa đường, trước mặt chúng tôi có một đoàn chừng hai mươi người dân quê đi tới,  họ đi buôn, môt số người gánh những thúng hàng, một số người cầm đòn gánh đi không. Họ cũng qua đường số 5 giữa trưa như chúng tôi và họ từ vùng bên kia đường đã qua được vùng bên này đường, họ đã qua được đoạn đường nguy hiểm.

Ðúng lúc chị em tôi gặp đoàn người thì tầu hỏa sình sịch đến, con tầu từ Hải Phòng lên. Súng nổ, lính trên tầu thấy người bắn xuống. Tôi chạy đến nằm nép vào cái mả. Nằm đấy tôi thấy chị Thanh nằm trên đường, nhưng chị nằm nghiêng, chị không nằm sấp úp mặt hay áp má xuống đất như mọi người, chị nằm nghiêng nhìn đoàn tầu. Tôi thấy rõ khoảnh yếm trắng trên ngực chị, và cánh tay phải của chị đỡ đầu chị. Và tôi thấy rõ những viên đạn bắn xuống ruộng nước quanh chỗ chị nằm làm nước tóe lên. Nhưng rõ ràng là chị vẫn nằm thoải mái, chị không ngán sợ.

Ðoàn tầu chạy qua, tôi trở lên đường. Không một ai bị thương. Nhiều chị trong đoàn người đi buôn nhào xuống ruộng, quần áo đầy những bùn nước. Chị Thanh của tôi sạch boong.

- Mình đi hay quay về, chị?

Tôi hỏi. Chị phủi bụi đất ở quần, trả lời:

- Ði chứ.

Và chị hỏi lại:

- Sao lại quay về?

Và thế là tôi theo chị đi. Tới đầu đường chúng tôi chạy lên đường số 5, theo lối mòn chạy lên đường tầu hỏa qua cánh đồng bên kia. Xuống đến đồng rồi chúng tôi vẫn chạy, chạy cho xa đường số 5. Khi chị ngừng chạy, tôi ngừng chạy, chị vừa đi vừa thở vừa cười. Ðến lúc ấy tôi mới nói:

- Lúc nó bắn, em thấy chị nằm nghiêng. Chị không sợ nó bắn trúng à?

Chị thản nhiên:

- Nó bắn mình nằm xuống đất rồi là không sợ.

Và chị cười, nói đến chuyện vừa qua như nói một chuyện rất thường:

- Tưởng tầu nó qua rồi, biết đâu hôm nay nó chạy muộn.

Ðồng đất bên này cũng như đồng đất vùng quê tôi ở bên kia đường, những làng thôn nằm sát nhau. Hình như chúng tôi đã đi vào huyện Văn Lâm chứ không còn ở trên đất Gia Lâm nữa. Trước mặt chúng tôi, mờ xanh xa kia là đê sông Hồng, sau lưng chúng tôi là đường số 5 và đê sông Ðưống,  phi trường Gia Lâm, những làng Bát Tràng, Thủ Khối, cầu sông Cái, Hà Nội ở bên tay phải chúng tôi.  Hai chị em tôi đi bên nhau chừng hai giờ nữa, nắng hè làm tôi quáng mắt, khát nước khô cổ họng, cuối cùng tôi theo chị vào một làng có cái tên đẹp là làng Ðào Nguyên.

Dòng thời gian dài một ánh bay.. Năm mươi năm dập dồn dâu biển..! Không biết hôm nay người chị ngày xưa còn hay đã mất, tôi vẫn nhớ tên làng Ðào Nguyên. Tên là Ðào Nguyên nhưng làng cũng chỉ giầu, chỉ nghèo giống như làng Linh Qui – làng Linh Qui của tôi có cái tên nôm là làng Vụi, hay làng Bụi, làng Phú Thị của ông Cao Bá Quát, Cao Bá Thao, tên nôm là làng Sủi – làng Ðào Nguyên hơn làng tôi vì làng có con sông chẩy quanh làng, cánh đồng Linh Qui không có sông cũng chẳng có qua một cái ao, cái chuôm nào.

Dường như Ðào Nguyên là làng quê ngoại của chị Thanh, ít nhất chị đã từng sống trong làng này trước đó. Chị quen biết nhiều người trong làng. Chúng tôi vào nhà một người quen của chị. Nhà gạch năm gian, sân gạch, bể nước mưa, cây mít, cây bưởi, một trong mấy nhà khang trang nhất làng.

Chúng tôi uống nước, ngồi nghỉ một lúc, rồi chị bảo tôi:

- Ði, chú.

Không biết đi đâu, chị bảo đi là tôi đội nón đi theo. Chị đưa tôi ra đồng qua một cổng làng khác với cổng làng có khúc sông chẩy ngang hồi nẫy chúng tôi vào làng. Chúng tôi đi về phía đê sông Hồng, đến một chỗ chúng tôi nhìn thấy đồn binh Pháp trên đê. Một đồn bốt nhỏ, một căn nhà gạch liền với lô-cốt, hai, ba hàng rào dây thép gai sơ sài. Nhiều năm sau nhớ lại hình ảnh cái đồn binh trên đê sông Hồng năm xưa, sống lại giây phút ngồi trên bờ ruộng bên người chị chỉ hơn tôi năm, sáu tuổi, ngửi mùi nước ruộng bị nắng hè hun nóng trong không khí phảng phất mùi tóc, mùi vải áo nâu đượm mồ hôi của chị, tôi thấy chẳng cần phải là tình báo viên, tình báo hòn, người có khả năng nhận xét bình thường cũng biết cái đồn ấy chỉ có thể chứa nhiều nhất là sáu anh lính, với sáu khẩu súng trường. Trong khoảng nửa giờ ngồi bên bờ ruộng quan sát đồn binh tôi không thấy bóng dáng một anh lính nào cả.

Nắng chiều nhạt dần, chúng tôi trở về làng Ðào Nguyên. Chủ nhà đãi chúng tôi bữa cơm. Rồi tối xuống.

- Chúng mình ra sông tắm.

Tôi theo chị đi. Chị không mắc áo, chĩ mặc có cái yếm. Trăng lên. Sáng trăng vằng vặc. Chị đưa tôi tới một khúc sông xa làng. Ðến đây tôi mới biết con sông này chẩy về Cầu Bây trên đường số 5, Cầu Bây trong thơ Thao Thao;

-  Tiếng súng Cầu Bây nổ đánh ình…

Tôi theo chị xuống một khúc sông có nhiều bụi lau sậy bên bờ, dường như chị đã tắm ở chỗ này trước đó nên chị biết đây là chỗ tắm tốt. Khúc sông này có cát nên nước trong. Tôi cởi áo để trên bờ, mặc quần cụt xuống nước, chị mặc quần dài đen. Chị bơi lọp bọp kiểu bơi nghển cổ ngửa mặt trên mặt nước, kiểu bơi  bọn trẻ chúng tôi gọi là bơi chó, bơi Tô-tô. Mùa hè một năm trước đó ở bãi sỏi sông Nhuệ Hà Ðông, ông Ðoàn Khê, ông cậu của nữ ca sĩ Linda, tức ông Khê Vinh, cầu thủ bóng tròn Hội Tuyển Túc Cầu Bắc Việt những năm 1952, 1953, người có danh hiệu là Thăng Long Xích Thố, đã dậy tôi bơi brasse, bơi crawl. Trên dòng sông Ðào Nguyên năm xưa ấy  tôi biểu diễn một đường bơi crawl. Khi trở lại chỗ chị, tôi thấy chị đã cởi yếm cầm ở tay

- Chú lội hay quá. Dậy chị nhá..

- Vâng.

Chị bảo gì tôi cũng nghe, chị làm gì tôi cũng thấy hay, có duyên, thấy đúng, nếu lúc ấy chị có cởi quần tắm truồng tôi cũng thấy không có gì lạ. Rồi nhìn lên bờ tôi thấy có người trên bờ sông. Không phải một người mà hai người, hai anh trai làng đến đây theo chị em tôi. Họ nhìn thấy chúng tôi dắt nhau ra khỏi làng, họ tò mò đi theo. Hai anh đến đây lúc nào tôi không biết. Thấy tôi nhìn hai anh rồi nhìn  chị, biết tôi nghĩ gì, chị cười, nói:

- Người ta ngồi đó mặc người ta, mình tắm mình cứ tắm.

Nước mát ơi là mát. Tắm đã rồi chúng tôi lên bờ. Chị nói:

- Mình về nhà hãy thay.

Chị đã mặc lại yếm, nhưng không mặc áo, để vai và lưng trần, mảng da thịt ngồn ngộn trắng vàng trong trăng đêm, quần đen ướt nước, tôi mặc quần đùi ướt, cũng không mặc áo, đi bên nhau về làng. Những giọt nước rơi đánh dấu những bước chân chị em tôi đi trên mặt đường đất mịn. Hai anh trai làng vẫn ngồi đó. Khi đi ngang mặt hai anh, chị cầm tay tôi kéo tôi đi sát vào chị, như muốn làm thế để nói với hai anh trai làng: “Chú này là em tôi..”

Không phải lòng bàn tay tôi mà là mu bàn tay tôi – nửa thế kỷ đã qua tôi vẫn nhớ đó là mu bàn tay phải của tôi – chạm vào bầu vú bên trái của chị.

Ông bà chủ nhà đãi chúng tôi ăn khoai lang luộc. Cũng chỉ hai chị em tôi ngồi bên nhau ăn khoai trên hiên nhà sáng ánh trăng. Rồi chúng tôi đi ngủ.

Chị ngủ ở nhà trên, tôi ngủ ở nhà ngang. Nhà này không có cửa. Tôi nằm trên cái phản, bên kia là cái bàn để bình nước, cái điếu thuốc lào, chắc là nơi tiếp khách của gia chủ. Thoáng mát nhưng muỗi nhiều quá. Tôi nằm chịu trận, lại không có cây quạt nan đuổi muỗi. Vì mệt có lúc tôi ngủ chợp đi nhưng không được lâu lại thức vì muỗi đốt rát mặt, muỗi vo ve bên tai..

Không biết mấy giờ đêm.. Ông chủ nhà, một ông chừng năm mươi tuổi, chắc đã ngủ được một giấc dài, đi vào ngồi ở bàn hút thuốc lào lọc sọc. Thấy tôi nằm mở mắt, qươ qươ bàn tay đuổi muỗi, ông nói:

- Muỗi quá làm sao ngủ được. Lên nhà ngủ với chị ấy, có màn.

Tôi đi lên nhà trên. Tôi biết chị Thanh ngủ trong cái chái bên trái. Ðây chắc là chỗ ngủ của bà chủ nhà, đêm nay được nhường cho khách. Nhà ở nhà quê miền Bắc chia ra từng gian, từng chái, gọi phòng là không đúng. Cái chái đêm xưa ấy  tôi đến có cửa nhưng không gài then, chỉ khép hờ. Nhìn vào, nhờ ánh trăng chiếu xiên trên hiên, tôi thấy cái màn nâu. Tôi đẩy cửa bước vào, đứùng bên giường, gọi:

- Chị… Chị.

Qua lá màn nâu, tôi thấy chị nằm, ở trần, mặc yếm. Tiếng muỗi vo ve trong bóng tối.

Tiếng chị âm ừ:

- Ừ.. Ừ..

Tôi gọi:

- Chị..

Chị hỏi:

- Thành hả em? Gì thế..?

- Cho em nằm mấy. Muỗi quá em không ngủ được..

- Ờ.. Ờ.. Vào đây…

Chị nằm dịch vào trong, tôi mở màn, ngồi xuống giường, đập đập hai bàn chân vào nhau để rũ bụi đất dính chân, rồi ngả người vào nằm bên chị.

……

Sáng tinh sương. Tôi chưa kịp rửa mặt, chưa kịp uống nước, kinh hoàng đến. Bà chủ nhà chạy về, nói:

- Tây nó vào làng.

Bà ra hiệu cho chúng tôi theo bà. Chạy ra vườn sau, chui qua hai ba khu vườn hoang, bà đưa chúng tôi đến một góc bụi tre. Ở đó dưới những lớp lá tre là một cửa hầm bí mật. Bà chủ nhà và chị Thanh bới đống lá nhấc lên tấm đan bằng tre cửa hầm. Bà chủ nói nhỏ:

- Ở dưới đó. Yên rồi tôi mở cho lên.

Tim tôi đập dữ dội. Tây nó vào làng là để bắt hai tên Việt Minh mới về làng. Hai tên Việt Minh ấy là chị Thanh và tôi. Tôi nhẩy xuống hầm trước, tối om, tôi lom khom mò vào trong. Chị Thanh nhẩy xuống sau tôi. Tôi nghe tiếng đậy nắp hầm. Hầm nhỏ, đào sơ sài vì mới đánh nhau chưa ai có kinh nghiệm đào hầm bí mật. Vào chừng hai thước là hết hầm. Tôi quay lại, chị Thanh ôm tôi. Không nhìn thấy chị, hơi thở của chị thoảng  vào mặt tôi, tiếng chị nói bên tai tôi:

-  Ðừng sợ. Ngồi xuống.

Chị biết trong hầm thiếu dưỡng khí nên kéo tôi ngồi xuống rồi, chị nói:

- Thở nhẹ thôi.

Và chị lại nói:

- Ðừng sợ.

Thời gian trôi qua, có những lúc nặng nề, có những lúc huyền diệu. Bên trên không một tiếng động. Chúng tôi cứ ngồi sát bên nhau như thế trong hầm tối. Miễn là không bị Tây bắt, tôi sẵn lòng ngồi như thế cả ngày, cả đêm…

Trời đã vào trưa khi chúng tôi được trở lên. Tôi nhìn chị và thấy mặt chị xanh đi vì thiếu dưỡng khí, chắc mặt tôi còn xanh hơn. Mồ hôi làm mấy sợi tóc của chị dính trên trán, sau ót. Tôi bồi hồi thương chị. Tôi cảm thấy chị thương tôi nhiều hơn, chị nhìn tôi, ánh mắt dịu hiền:

- Chú sợ lắm không? Chị quen rồi.

Lính Tây chỉ đi qua làng, chúng không vào để lùng bắt ai cả. Tây đi qua làng là chuyện thường với dân làng, nhưng không phải là chuyện thường với  tôi. Tôi vẫn cho là lính Tây trên đồn được báo có Việt Minh về làng, chúng vào để bắt Việt Minh. Có lẽ chị Thanh cũng nghĩ như tôi, hoặc chị không muốn làm phiền ông bà chủ nhà, Tây nó bắt được Việt Minh trong nhà ông, ông cũng chết, chị quyết định tối hôm đó chúng tôi trở về bên kia đường số 5.

Ăn xong bữa cơm chiều, chúng tôi chào ông bà chủ nhà, đi ra khỏi làng Ðào Nguyên, chúng tôi đi ngược lại con đường chúng tôi đi trưa qua. Sẩm tối chúng tôi đến bên đường số 5. Một số đồng bào qua đường số 5 ngồi lại trong một bãi tha ma ở giữa đồng. Họ bảo chúng tôi:

- Còn một bọn chúng nó chưa về đồn. Chờ một lúc nữa…

Trăng lên. Ðất trời long lanh sáng. Một trong những đêm trăng đẹp nhất đời tôi. Hai chị em tôi chuẩn bị chạy qua đường. Chị dợm chân chạy trước, tôi nắm tay chị, níu lại:

- Chị…

Chị đứng lại, nhìn tôi:

-  Em nói gì?

-  Ðể em chạy trước..

Tôi không nói để em chạy trước, chị chạy sau, nếu có nó phục, nó bắn em trước. Chị hiểu, chị nói:

- Hai đứa mình cùng chạy.

…..

Trên cánh đồng trước làng Phú Thị có cái hồ sen khá lớn, bên hồ có cái lều của những người chăn vịt. Chúng tôi tạt vào lều ngồi nghỉ. Cửa lều trải rơm như tấm thảm êm, khô, và sạch, mùi rơm phơi nắng hè cả ngày có mùi hăng hăng Tôi ngồi xuống nệm rơm, rồi thấy mệt rã rời, tôi nằm xuống, gối đầu lên cái bị hành lý trong chỉ có hai bộ quần áo.

Tôi ngủ đi. Có lúc mơ màng tôi thấy chị ngồi bên tôi, ngước mặt lên nhìn trời. Hình như chị khẽ hát một câu hát gì đó. Tôi lại ngủ đi.

Nhiều năm sau khi tôi mái tóc không xanh nữa, tôi đã đau thương, đã nợ nần, đọc Thơ Cao Chu Thần, tôi gặp bài thơ ông viết về một chuyến đi xa ông trở về làng ông, ông cảm động khi thấy cái hồ trong cánh đồng làng ông, ông gọi hồ đó là Hồ Ngựa Trời – Quán Cây Gạo đó sương còn đượm. Hồ Ngựa Trời kia nắng mới lên – tôi mới biết mùa hạ năm 1947 tôi đã nằm ngủ bên bờ Hồ Ngựa Trời của Cao Chu Thần, bên tôi có người con gái thứ nhất trong đời tôi.

Có hai người đàn bà nói với tôi:

- Da thịt anh thơm lắm.

Có một người con gái nói với tôi:

- Da thịt em thơm lắm.

Tôi nhớ Nàng khi tôi làm thơ, năm tôi năm mươi tuổi:

Ngày xưa xa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Ðời chỉ có hoa và mật ngọt
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

HOÀNG HẢI THỦY

Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân,  Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 22 Tháng 12, 2013.

60 năm sau buổi tối sáng trăng tôi một mình đi trên đê sông Ðuống, mơ nhiều năm sau tôi sẽ trở về con đê này, đi lại con đường này, nhớ lại hình ảnh tôi khi tôi là chú thiếu niên 14 tuổi. Chỉ là ước mơ. Tôi không một lần trở lại. HHT

XỔ SỐ NGÀY XƯA

soxo

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Xây đắp muôn người
Ðược nên cửa nhà

Tô điểm giang san
Qua bao lầm than
Ta thề kiến thiết
Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi
Năm, muời đồng thôi
Mua lấy xe nhà
Giàu sang mấy hồi 

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Ấy là thiên chức
của người Việt Nam

Mua số mau lên
Xổ số gần đến
Mua số mau lê
Xổ số… gần… đến…

Kiến thiết quốc gia..
Giúp đồng bào ta..

Tiếng ca quen thuộc tôi nghe mỗi tuần từ năm 1952 cho đến Tháng Tư năm 1975. Vang tiếng một thời. 60 mùa lá vàng bay qua đời tôi, tôi vẫn nhớ tiếng ca Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia của Trần Văn Trạch.

Tôi không biết người Pháp đem trò chơi Xổ Số vào nước ta năm nào, chắc vào khoảng năm 1935, 1938. Những năm 1940 tôi mười tuổi, ở tỉnh lỵ Hà Ðông bên hông Hà Nội, tôi nghe người lớn nói đến chuyện Xổ Số.

soxo2

Xổ Số thời xưa ấy tên tiếng Pháp là Lotterie, bán trên toàn cõi Ðông Pháp, tức bán trên cả ba nước Việt, Miên, Lào, 1 đồng bạc Ðông Dương một vé số, mỗi năm – 12 tháng – xổ số một kỳ, vé số trúng độc đắc 10.000 đồng bạc Ðông Dương, tiếng Nam là Mười Ngàn đồng, tiếng Bắc là Một Vạn đồng.

Chiến tranh nổ trên khắp nước năm 1946, Xổ Số bị dẹp. Năêm 1952 tôi thấy Xổ Số sống lại ở Sài Gòn. Giá mỗi vé là 10 đồng. Số tiền khá lớn thời đó. Năm ấy Sài Gòn có hai sòng bạc mở cửa hành nghề suốt ngày đêm, quanh năm không đóng cửa nghỉ một ngày,  là Kim Chung và Ðại Thế Giới. Hai sòng bạc có trò Sổ Ðề mỗi chiều. Dân nghèo chỉ có hai, ba đồng cũng đánh Ðề được, biết được mất, tức trúng đề – đề xổ đúng con số mình mua, hay không trúng – biết ngay trong ngày. Dân Sài Gòn mê chơi Số Ðề phần đông là dân nghèo. Như đã nói chỉ hai, ba đồng cũng chơi Số Ðề được. Lại có những người gọi là Huyện Ðề nhận bán Số Ðề ở ngay trong xóm, chi tiền đàng hoàng, việc mua số chỉ bằng miệng.

Nên ít người mua sổ xố do Nhà Nước bán. Xổ Số những năm đầu bị ế. Cảnh sát Sài Gòn phạt người đi xe vi phạm luật giao thông bằng cách bắt mua vé số Kiến Thiết. Tôi không nhớ trong những năm 1952, 1953, xổ số xổ mỗi tuần hay xổ mỗi tháng. Dường như thời xưa đó mỗi tháng Xổ Số một kỳ.

Tôi cũng không biết chắc  những năm đó Xổ Số đã có tên là Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia hay chưa. Căn cứ trên bài ca Kiến Thiết Quốc Gia của Trần Văn Trạch làm năm 1952, tôi chắc cái tên Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia đã có từ năm 1952.

Năm 1955 hai sòng bạc Kim Chung, Ðại Thế Giới bị chính phủ – Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm – đóng cửa. Hết trò Số Ðề. Xổ Số bắt đầu được dân mua. Ðến năm 1960 tình trạng Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, vì bán chạy, nên có trò tăng giá. Giá một vé xổ số chính thức là 10 đồng, người mua phải mua với giá 14, 15 đồng. Rồi có tin tổ chức Chợ Ðen Xổ Số KTQG bị bắt, người thầu vé số và bán vé số tăng giá là bà Ðức Lợi. Bà này bị bắt. Tên bà Ðức Lợi Chợ Ðen Vé Số Kiến Thiết được nhiều người Sài Gòn biết.

Khi xẩy ra vụ bà Ðức Lợi, tôi là nhân viên nhật báo Sàigònmới. Nhưng tôi chẳng biết gì nhiều về cái sì-căng-đan này. Như nhiều người Sài Gòn, tôi chỉ biết Nhà Thầu Vé Số KTQG là người đàn bà tên là Ðức Lợi, bị bắt vì bán vé số quá giá. Vậy thôi.

Tháng 12 năm 2013 tôi tìm được vụ Bà Ðức Lợi trong tập “Ký Ức Huỳnh Văn Lang.” Tôi xin phép ông Huỳnh Văn Lang cho tôi trích mấy trang về vụ Bà Ðức Lợi Chợ Ðen Xổ Số trong Ký Ứùc của ông để gửi đến bạn đọc. Tôi chắc chỉ những công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa tuổi đời năm nay Bẩy Bó, Tám Bó mới chú ý đến vụ này. Tôi trích đăng vì theo kinh nghiệm của tôi, chuyện gì tôi muốn đọc, nhiều người Việt cũng muốn đọc.

o O o

Ký Ức Huỳnh Văn Lang. Từ trang 120 đến trang 124.

Vụ Vé Số Kiến Thiết (Tháng 7, 1962)

Một buổi tối đầu tháng 7, năm 1962, trời đang mưa tầm tã, tôi đang dậy một lớp kế toán ở trường Bách Khoa Bình Dân, khoảng 8 giờ, thình lình vợ tôi đến bảo tôi về ngay, vì nhà có chuyện gấp. Ra xe vợ tôi nói cho tôi biết lý do:

Mợ bị Hiến Binh bắt, hiện bị giam giữ với 13, 14 bà nữa. Anh về xem có giúp gì được không?

Có biết lý do gì không?

Không biết, anh ghé Hiến Binh hỏi xem.

Sở Hiến Binh lúc bấy giờ ở trên đường Gia Long, ngay trước Bộ Kinh Tế và sau Bộ Tài Chánh, tôi biết Tư Lệnh Hiến Binh là Ðại Tá Lê Nguyên Phu, người từ miền Trung được đưa vào thay thế Ðại Tá Nguyễn Quang Sanh, một người bạn của tôi ở Liên Kỳ Bộ. Tôi lái xe đến đậu ngoài đường Gia Long, để vợ tôi ngồi trong xe chờ.

Văn phòng của Tư Lệnh Hiến Binh ở từng trên, tôi lên lầu, nhờ tùy viên vào báo và được Tư Lệnh Hiến Binh cho vào ngay. Tôi ngồi xuống ghế và xin vào đề:

Bà Ðức Âm mẹ vợ tôi bị Hiến Binh bắt giữ hồi chiều này, xin Ðại Tá cho tôi biết lý do và nếu được xin cho phép vào thăm bà mươi phút.

Bà Ðức Aâm và mười mấy bà bị bắt giam để điều tra về vụ chợ đen bán vé số Kiến Thiết quá giá chính thức do bà Lê Thị Tuất tổ chức. Khi khám nhà bà Lê Thị Tuất, tức bà Ðức Lợi, Hiến Binh có bắt gặp một cuốn sổ tay trong ghi tên bà Ðức Aâm và mười mấy bà khác với những số tiền mỗi bà hai, ba trăm ngàn đồng. Có thể là những số tiền hùn hạp làm ăn đấu thầu vé số Kiến Thiết với nhau, phải đợi điều tra thêm mới biết rõ được. Ông muốn đi thăm bà Ðức Aâm, đi theo tôi.

Xuống từng dưới, Tư Lệnh Hiến Binh bảo người lính gác mở cửa một cái phòng lớn không bàn ghế và để tôi bước vào. Bà Ðức Aâm và mười mấy bà ( tôi không nhớ rõ là bao nhiêu) mặc áo dài đàng hoàng, ngồi trệt trên sàn. Tôi lại ngồi kế bà Ðức Aâm, các bà khác xúm lại ngồi chung quanh, bà Ðức Ââm giới thiệu bà Ðức Lợi đang ngồi kế bên , bà Ðức Lợi còn trẻ và xem khỏe mạnh hơn bà Ðức Âm. Tôi hỏi chuyện bà Ðức Âm ngay:

Mợ có sao không? Mợ nên nói cho con rõ tất cả họa may con có giúp gì được chăng? Khi khám nhà bà Ðức Lợi, Hiến Binh bắt được một cuốn sổ tay, trong đó có ghi tên tuổi của mợ và các bà ở đây, mỗi người hai, ba trăm ngàn đồng! Vậy tiền này là tiền gì? Tiền hùn đấu thầu vé số?

Không! Con biết khi còn ở Hà Nội chị em buôn bán quen biết với nhau thường hay cho vay, cho mượn khi có chị nào cần một số tiền lớn để lấy hàng hay thế chân đấu thầu, đấu giá. Chị em giúp nhau là chuyện thường, ở Sài Gòn vào đây cũng vậy. Nhưng không có hùn hạp chung vốn, vì mỗi người mỗi chuyện buôn  bán làm ăn khác nhau. Mợ chỉ có cho vay, cho mượn thôi, chuyện ai nấy lo. Ðó là sự thật! Mợ cho vay để chị Ðức Lợi thế chân thầu vé số. Mợ không có hùn hay chung vốn gì hết. Các chị em đây cũng vậy.

Bà Ðức Lợi và các bà ngồi chung quanh  xác nhận lời bà Ðức Âm  nói.

Tôi sang qua hỏi bà Ðức Lợi:

Có đúng vậy không?

Ðúng vậy.

Lãi xuất bao nhiêu?

4% mỗi tháng hay 11% mỗi ba tháng.

Cũng hơi cao! Nhưng làm sao, giá chính thức vé số có 10 đồng mà lâu nay, nhứt là gần đây lại nhẩy vọt lên đến 15, 16 đồng mà người ta giành nhau mua? Có thể nào bà cho tôi biết nguyên do?

Ðến đây thì thấy bà Ðức Lợi lúng túng! Rồi bà đứng lên làm dấu bảo tôi ngồi xa các bà khác một chút và nhỏ tiếng lại nói với tôi:

Ông Lang, ông biết muốn được thầu tôi phải đấu cao, 9 đồng 6, 9 đồng 7 tôi mới trúng được. Bán giá chính thức 10 đồng, tôi chỉ còn 30, 40 xu để trang trải mọi chi phí phát hành ở Sài Gòn, Chợ Lớn, xuống các tỉnh, ra cả miền Trung. Có khi đủ, có khi còn thiếu. Và mỗi kỳ thầu tôi còn phải chi cho ở trên nữa.

Bà nói thật à? Cho ai ở trên?

Mỗi bận trúng thầu, tôi phải đóng cho người của ông Nguyễn Ðình Thuần , người của ông Nguyễn Lương và người của Bs Tuyến, mỗi người 300.000 đồng, không thiếu một xu. Như vậy nếu tôi không bán trên giá chính thức thì tôi làm sao có lời, sống làm sao?

Bà nói thật chứ?

Tôi thề với ông Lang và các bà ở đây làm chứng. Tôi không nói dối đâu, ông Lang.

Bà nhớ, tôi sẽ báo cáo lên trên như bà nói.

Bà Ðức Lợi nói nhỏ tôi nghe, nhưng tôi chắc nhiều bà khác cũng nghe được. Tôi sang qua bà Ðức Aâm:

Mợ yên trí. Con sẽ trình nội vụ với TT liền! Mợ có cần mùng mền gì không?

Không cần, phòng này cũng khá nóng.

Sau đó tôi lên từng trên cám ơn Ðại Tá Lê Nguyên Phu, rồi đi xuống lái xe về ngay. Vợ tôi ngồi chờ, mặt buồn xo, trời còn đang mưa, khá lạnh.

(.. .. .. )

Tôi viết một phúc trình cho TT Diệm, trên một carte postale như xưa nay, từ lúc ông còn là Thủ Tướng, khi gửi tôi qua Bộ Tài Chánh ông có bảo tôi: (10. 10. 1954)Tuy anh không làm trong văn phòng bí thư nữa nhưng anh thấy có gì lợi cũng như hại cho chính quyền thì anh nên biên note cho riêng tôi, anh Hải sẽ lo điều đó, khỏi phải qua tay ai khác, như vậy là anh giúp tôi.

Và lần này, cũng như mọi lần trước, tôi rất ý thức khi viết cái note, một mặt tôi viết: Khi Hiến Binh khám nhà chủ thầu vé số kiến thiết là bà Ðức Lợi Lê Thị Tuất có lấy một cuốn sổ tay, trong đó có ghi tên bà Ðức  Âm, mẹ vợ tôi và nhiều bà khác mỗi bà có cho bà Ðức Lợi vay hai, ba trăm ngàn đồng. Bà Ðức Âm và các bà khác nhìn nhận là tiền cho vay, không phải là tiền hùn thầu vé số. Ðó là chuyện thường trong giới buôn bán, chị em họ giúp nhau, nhưng chuyện làm ăn của ai nấy lo. Mặt hai tôi viết: Chính bà Lê Thị Tuất – bà Ðức Lợi – nói và thề với tôi là nói sự thật. Mỗi lượt trúng thầu là phải đóng cho người của ông Thuần, người của ông Lương và người của Bs Tuyến mỗi người 300.000 đồng. Nếu không bán 5, 6 đồng hơn giá chánh thức, thì làm gì có lời, làm sao sống được. Ðó là lời bà Ðức Lợi nói với tôi, nhiều bà ngồi đó có nghe.

Tôi lái xe vào Dinh Gia Long và trao tờ thư cho anh Hải ngay trong đêm đó, nhớ là khoảng 10, 11 giờ gì đó. Chắc chắn là thể nào cũng tới tay TT, trễ lắm là trước 8 giờ sáng ngày hôm sau. (.. .. .. )

Ðến trưa thì được tin Hiến Binh đã cho bà Ðức Aâm và các bà khác tự do đi về nhà, trừ bà Ðức Lợi còn bị giữ ở đó để điều tra thêm.

Chiều lại, khoảng 4 giờ tôi được anh Hải gọi vào Dinh gặp TT ngay. Tôi vẫn được TT tiếp như thường lệ, cũng ở trong phòng làm việc vừa làm phòng ăn,, phòng ngủ, cũng trước cái bàn tròn, cũng ngồi trên một ghế bành đã bạc mầu.

Thưa TT, tôi chào ông như xưa nay.

TT bảo tôi ngồi xuống bên cạnh, ông đang cầm trên tay cái note phúc trình của tôi và đang đọc. Ông lấy từ đĩa lên, 1 điếu thuốc lá, đã đốt rồi và đưa lên miệng phì phà hai ba cái, nhả khói và nhìn theo, tôi thấy ông rất buồn, tôi cảm nhận ông đã mất tinh thần từ bao giờ, có thể cuộc đảo chính bất thành ngày 11 – 11 – 60 và vụ bỏ bom Dinh Ðộc Lập mới 5 tháng trước đây ( 27 – 02 – 62 ) đã để lại trên mặt ông một nỗi buồn khó tả, làm tôi cũng buồn lây.

Ðến chuyện vé số này, liên lụy đến những người ông tin tưởng nhứt, tôi tin chắc là ông cũng phải tin tôi, khi ông cho lệnh Hiến Binh thả bà Ðức Aâm và các bà khác, trừ bà Ðức Lợi ra! Tôi tin chắc TT biết tôi không có lý gì mà bày chuyện, ích gì cho tôi. chỉ có thiệt thôi. Có thể ông đang suy nghĩ ghê lắm!

Sau bốn, năm phút im lặng, tôi thấy ông đau buồn lộ ra vẻ mặt, rồi như cố gắng lắm, như nói với mình, hơn là với tôi:
Làm gì ông Thuần lấy tiền của người ta..Vây mà ông nói với tôi chỉ có 2 cái áo sơ-mi để thay đổi thôi.

Ðến đây tôi không cầm lòng được nữa, nên phải nói ngay:

Thưa TT, tôi ghi lại gần từng tiếng bà Ðức Lợi nói. TT biết tôi không thêm bớt gì hết, tôi không tố cáo ai hết.

TT Diệm không nói gì thêm, phì phà thuốc, rồi chậm chậm điếu thuốc trên đĩa, ông ngó lên trên.

Bỗng chốc tôi sinh ra bối rối, tôi nhít người lên, như muốn đứng dậy, thấy thế TT bảo như người than thở:

Thôi, anh về đi!

Tôi đứng dậy, cúi đầu chào ông và lẳng lặng ra về, cũng không biết phải nói gì bây giờ, tôi sợ làm phiền ông thêm. Ngồi trên xe, đầu óc tôi vẫn bối rối, lòng tôi bất an, không phải cho tôi mà chính là cho TT. Tôi thấy ông  hoàn toàn như bị đè bẹp, hoàn toàn thất vọng. Cái hình ảnh sau cùng đó sẽ đeo đuổi tôi rất lâu về sau, dù sau đó trong hội đồng TTTCTD tôi còn gập ông mấy lần nữa nhưng thấy ông xa vắng.

( .. .. .. )

Tôi cũng không theo dõi cho sát chuyện của bà Ðức Lợi. Tôi chỉ biết sơ qua là bà bị đưa ra tòa và bị phạt ba, bốn năm tù ở gì đó về tội tổ chức chợ đen bán vé số Kiến Thiết. Hoàn toàn tôi không nghe ai nói đến chuyện hối mại quyền thế hay tham nhũng gì cả. Thành ra theo tôi nghĩ làm gì cũng có những bí ẩn sao sao đó? Tại sao bà Ðức Lợi nói với tôi như thế mà lại không thấy nói đến chuyện ba ông Thuần/Lương/Tuyến gì hết, dù tôi đã phúc trình đến tận tay TT.

Ông Huỳnh Văn Lang viết về Nguyễn Ðình Thuần:                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 Nguyễn Ðình Thuần. Ký Ức Huỳnh Văn Lang. Trang 111

Khi viết về người quá cố (anh Trần Kim Tuyến và ông Nguyễn Lương,) tôi có vấn đề lương tri. Tôi phải hết sức cẩn thận, vì họ không còn sống để biện hộ cho mình mà người ta nói: “Les absents ont toujours tort,” thì danh giá gì phải tố cáo người ta. Nhưng ông Nguyễn Ðình Thuần còn sống chui nhủi đâu đó ở Paria. ( .. .. .. )

Trông sao tập sách này được đến tay ông Thuần trước khi ông nhắm mắt không còn đọc được nữa. Ðể ông có cơ hội biện hộ cho ông và đồng lõa của ông.

CTHÐ: Cám ơn ông Huỳnh Văn Lang đã cho tôi biết  một chuyện tôi chỉ biết mù mờ 60 năm về trước.

CTHÐ bàn loạn: Sau ngày báo với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm việc ba nhân vật quan trọng trong chính phủ: Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Ðình Thuần, Bộ Trưởng Bô Tài Chính Nguyễn Lương, Bác sĩ Trần Kim Tuyến – người cả nước nghe tên mà không biết mặt – can tội tham những: mỗi lần thầu Xổ Số Kiến Thiết, bà Chủ Thầu Ðức Lợi phải nộp cho ba ông trên đây mỗi ông 300.000 đồng, Tổng Thống Diệm làm lơ. Ba nhân vật tham những vẫn tại chức, ông Huỳnh Văn Lang bị cất chức Tổng Giám Ðốc Viện Hối Ðoái. Viết rõ hơn là ông Huỳnh Văn Lang bị đuổi ra khỏi chính quyền. Người “đuổi” ông là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Trước ông  Huỳnh Văn Lang, hai ông Bộ Trưởng sáng giá trong chính phủ Ngô Ðình Diệm là ông Trần Chánh Thành, Trần Trunf Dung đã bị bọn Nguyễn Ðình Thuần, Trần Kim Tuyến đẩy ra khỏi chính phủ.

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm từng được ca tụng là “anh minh.” Riêng trong vụ Xổ Số Ðức Lợi, tôi thấy ông không được “anh minh” gì nhiều.

Nếu sự thật và sự thể do ông Huỳnh Văn Lang kể đúng chăm phần chăm, tôi thấy trong vụ Ðức Lợi Chợ Ðen Vé Số, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không những chỉ không anh minh mà còn ngốc nghếch. Khi Bộ Trưởng Nguyễn Ðình Thuần nói với ông Y “chỉ có hai cái áo sơ-mi thay đổi,” người ngu nhất Bắc Kỳ, ngu nhì Ðông Dương” là tôi cũng biết là Y nói láo, Y nói dối. Kẻ nói láo thường cho người nghe mình nói láo là ngu, ngu và sẽ tin lời mình nói láo là thật, nên  mới dám nói láo. Tôi lấy làm lạ: Sao ông Ngô Ðình Diệm lại không biết Nguyễn Ðình Thuần nói láo với ông?

Nguyễn Ðình Thuần trạc tuổi ông Huỳnh Văn Lang. Rất có thể hiện nay Nguyễn Ðình Thuần còn sống ở Pháp. Ông Thuần có người anh ruột là Nguyễn Ðình Thái. Ông Thái từng được coi như con nuôi của ông Ðốc Phủ Nguyễn Văn Tâm. Năm 1950 ông Nguyễn Ðình Thái từ Pháp về Hà Nội, làm Giám Ðốc Nha Cảnh Sát – Công An Bắc Việt. Khi ông Nguyễn Văn Tâm làm Thủ Tướng Chính Phủ, ông Thủ Hiến Bắc Việt Phạm Văn Bính trình ông Thủ Tướng một hồ sơ tố cáo Giám Ðốc Công An Nguyễn Ðình Thái tội hối mại quyền thế, ăn hối lộ. Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm cất chức Giám Ðốc Công An Nguyễn Ðình Thái, ra lệnh cho ông Thái và gia đình đi khỏi Hà Nội trong 48 giờ đồng hồ.

Tôi – CTHÐ – théc méc: Chuyện nhỏ thôi: Năm 1952 tôi là Lính Tuyên Truyền đóng ở Trại Tù Binh Cây Dừa Ðảo Phú Quốc. Ðại Úy Trương Vĩnh Ðắt là Phó Tư Lệnh Chi Khu Phú Quốc, ông đặc biệt phụ trách giữ an ninh Trại Tù Binh. Nay tôi đọc thấy ông Huỳnh Văn Lang viết năm 1965 ông bị đưa vào giam ở Trung Tâm Cải Huấn Tam Hiệp:

Ký Ức Huỳnh Văn Lang. Trang 472:

Năm phút sau, Ðại úy Giám Ðốc Trung Tâm – sau này tôi biết tên là Trương Vĩnh Ðắt – bước ra, có hai người lính của Trung Tâm ôm hai quyển sổ lớn đi theo và đặt lên bàn. Người lính của Tổng Nha Cảnh Sát trao một phong thư mầu vàng. Ðại Úy Giám Ðốc mở thư xem liền. Theo thủ tục thì phạm nhân có quyền biết mình bị giam giữ vì tội gì, nên Giám Ðốc Trung Tâm đọc ngay cho tôi nghe:

Giam giữ đương sự Huỳnh Văn Lang về tội “làm kinh tế cho gia đình họ Ngô.” Ký tên: Tổng Giám Ðốc Công An Cảnh Sát. Ðại Tá Phạm Văn Liễu.

CTHÐ: Năm 1952 người quân nhân Trương Vĩnh Ðắt là Ðại Úy, năm 1965 – 13 năm sau – ông vẫn là Ðại Úy?

Théc méc thứ hai dzui dzui tôi viết để tặng ông Huỳnh Văn Lang.

Trong Ký Ức, trang 110, ông viết:

“.. Ðến bây giờ, sau 50 năm, có ai nhắc đến chuyện gian dối cũ đó, nhiều thày, nhiều Phật tử nhẩy đổng lên như gái ngồi phải cọc..”

Thành ngữ của dân Bắc Kỳ: “Thin thít như gái ngồi phải cọc..”  Gái ngồi phải cọc thì im thin thít, không có gái Bắc nào ngồi phải cọc mà nhẩy đổng lên cho người ta biết mình ngồi phải cọc.

Théc méc cuối: Ông Huỳnh Văn Lang đến Sở Hiến Binh lúc 8 giờ tối. Vào giờ này Ðại Tá Tư Lệnh Hiến Binh vẫn làm việc ở văn phòng?

o O o

Viết thêm:

Công Tử Hà Ðông: Tôi không chỉ không được đoc tác phẩm “Trong Bóng Tối của Lịch Sử. Tác giả Lê Nguyên Phu”, tôi còn không biết có tác phẩm ấy. Khi được biết ông Lê Nguyên Phu có viết về ông Huỳnh Văn Lang, tôi tìm trên Internet nhưng tôi không tìm thấy sách “Trong Bóng Tối của Lịch Sử.” Tôi tìm được bài của ông Nguyễn Văn Lục viết về ông Mai Thạch Lê Nguyên Phu. Tôi trích những đoạn viết về ông Huỳnh Văn Lang trong bài của ông Nguyễn Văn Lục. Như sau:

Nguyễn Văn Lục:

Ðọc ông – ( Lê Nguyên Phu ) – tôi có cảm tưởng, ông không ngại ngùng bày tỏ cái niềm kính trọng gần như vô biên đối với cá nhân ông Diệm. Và cũng vì thế, ông khá nặng lời đến không cần thiết khi nói đến đám tướng lãnh hay đám công chức cao cấp như: Nói về Nguyễn Ngọc Huy trong vụ Ba Lòng mà ông gọi là đám “đối lập cuội” (trang 81), Nguyễn Chánh Thi trong vụ biến động 1960, “mặt nạ lưu manh” của y. Huỳnh Văn Lang với những láo khoét, gian dối (trang 175), văn chương ngớ ngẩn, nên tìm đọc hồi ký của y tập 3, từ trang 106 (10 trang tất cả) mà mỗi dòng là là một sự láo khoét, trắng trợn, bỉ ổi (trang 177)

( .. .. .. )

Vụ đầu cơ vé số của bà mẹ vợ ông Huỳnh Văn Lang

Phải thưa là tôi có quen biết với ông Huỳnh Văn Lang trong phạm vi văn học, báo chí. Thỉnh thoảng ông có liên lạc, trao đổi về những vấn đề liên quan đến tờ Bách Khoa, hay cho mượn tài liệu để tôi viết bài.

Sự liên hệ giữa hai người chỉ có vậy thôi. Không thành kiến, không yêu, không ghét.

(.. .. .. )

Nhắc đến việc viết hồi ký, tôi nhận thấy có hai người viết hồi ký khá “nổ” là ông Huỳnh Văn Lang và ông Võ Long Triều. Nhưng mỗi ông mỗi cách. Võ Long Triều viết nổ ra cái vẻ ta đây, Huỳnh Văn Lang viết nổ tàng tàng ra chiều khinh miệt người khác.

Riêng trong sách của ông Lê Nguyên Phu, tôi có cảm tưởng tác giả dành cho ông Huỳnh Văn Lang một chỗ khá đặc biệt, đến hơn 10 trang sách, trong đó nói về truyện ông Huỳnh Văn Lang sạo sạo chứ chẳng có bằng cấp gì. (.. .. .. )

Chuyện bằng cấp theo như lời tác giả Lê Nguyên Phu thì ông Huỳnh Văn Lang, vì không có tú tài nên chẳng học được gì và đỗ đạt gì cả. Vấn đề này không mấy quan trọng và xin bỏ qua và để tự ông Huỳnh Văn Lang nếu thấy cần, đối chất với tác giả Trong Bóng Tối Lịch Sử. Chúng tôi chỉ xin tóm tắt lại phần bài viết của ông Lê Nguyên Phu nói về vụ vé số chợ đen của bà mẹ vợ ông Huỳnh Văn Lang. Ðáng lẽ ra cũng chỉ nên nói về vụ chợ đen vé số do bà Ðức Âm chủ mưu và không cần nhắc nhở gì đến ông con rể là Huỳnh Văn Lang mới phải. Ở đây thì bà Ðức Aâm chỉ được nói tới vài dòng, phần còn lại dành cho con rể bà theo kiểu “mẹ vợ làm, con rể chịu”

Theo ông Lê Nguyên Phu, chính phủ có ban hành sắc lệnh 7/62TTP trừng trị những kẻ đầu cơ vé số chợ đen. Thoạt đầu các vụ điều tra nạn đầu cơ vé số do Công An và Cảnh Sát thụ lý. Nhưng sau TT Ngô Ðình Diệm gọi ông Lê Nguyên Phu vào dinh và ra lệnh cho Tổng nha Công an và Cảnh sát phải chuyển giao hồ sơ qua Hiến Binh Quốc Gia. Ông Lê Nguyên Phu ra lệnh cho thiếu tá Nguyễn Văn Minh, đại đội trưởng Hiến binh quân khu thủ đô thi hành các biện pháp pháp lý cần thiết. Thiếu tá Minh tìm ra hai thủ phạm chính là ông Nguyễn Lương, Bộ trưởng Tài chánh, cũng là chủ thầu, và Nguyễn Quang Nhạ, giám đốc Nha ngân khố. Vé số được đấu thầu, ai trả giá cao nhất thì được trúng thầu. Chẳng hạn, người trả giá cao nhất là 8 đồng một vé. Lời 2 đồng. Nhưng 2 đồng kia phải chia cho ông Nguyễn Lương và Nguyễn Quang Nhạ. Không lẽ mua 10 đồng lại huề vốn 10 đồng. Vì thế có nạn bán chợ đen. Ðáng lẽ phải đưa đi tù các ông Nguyễn Lương ăn chặn 2 đồng, người ta lại chi bắt giam những kẻ bán chợ đen.

Ðó là cái nguyên cớ sâu xa của việc tham nhũng.

Ngoài hai người trên xem ra vô tội, Hiến Binh lại bắt bà Ðức Âm và một số bà khác để điều tra… Hiến Binh giữ bà từ sáng đến chiều để điều tra. Ông Huỳnh Văn Lang được báo tin đã vội vã đến văn phòng điều tra tư pháp la lối, đòi họ thả bà mẹ vợ về ngay. Ông Lê Nguyên Phu đã yêu cầu ông Huỳnh Văn Lang đi ra ngay và đừng la lối. Biết không làm gì được, ông Huỳnh Văn Lang đành bỏ ra về.

Cũng theo ông Lê Nguyên Phu, sau này viết hồi ký, ông Huỳnh Văn Lang đã viết khác như sau:

“Một chiều tối gió mưa tầm tã, khoảng 9 giờ tối, tôi đang dạy học ở trường Bách Khoa, Tôn Thọ Tường, vợ tôi vội vã ngồi xe đi rước tôi về ngay; cô ta khóc: Mợ bị hiến binh, hiện bị giam giữ ở khám Nguyễn Du. Anh phải về lập tức. Xe về ngang khám cửa sau cũng trên đường Nguyễn Du, bỏ tôi xuống. Tôi lên từng nhà trên và xin gặp Tư lệnh Hiến binh Lê Quang Phu, Cần Lao của ông Cẩn đưa vào thay thế Nguyễn Quang Sanh, bạn tôi. Tôi sẵn không có cảm tình với đại tá Phu, tuy nhiên anh tiếp rước tôi hết sức chân tình và lễ phép, vì anh cũng biết tôi là ai ở trong hệ thống Cần Lao” (1)

(Huỳnh Văn Lang, Nhân chứng một chế độ, tập 3, trang 96-97)

Ðọc câu chót cho thấy ông Huỳnh Văn Lang quả thực cao ngạo quá chăng? Tội của ông chỉ là tội la lối và có phần phách lối với một ông giám đốc điều tra tư pháp. Giá ông nhẹ nhàng và biết điều một chút thì nay vụ án chợ đen vé số đâu có dịp được lôi ra ánh sang và độc giả đâu có phải đọc những dòng này?

Ông Lê Nguyên Phu đưa ra phản bác như sau:

– Các cơ sở chính quyền đều đóng cửa lúc 6 giờ, làm sao có chuyện ông Huỳnh Văn Lang đến lúc 9 giờ tối được đón tiếp lễ phép?

– Ðón tiếp ở đâu? Nếu ở văn phòng thì văn phòng ở tầng trệt? Còn nếu đón tiếp ở nhà thì cũng phải ở phòng khách, không thể ở trên lầu vì là phòng ngủ?

– Ông Huỳnh Văn Lang cho biết chẳng những gặp mẹ vợ và còn được gặp những người khác và ông đã ghi notes, trình tổng thống, sau đó tổng thống đã ra lệnh thả hết.

– Nhưng theo ông Lê Nguyên Phu, không thể có bất cứ ai có quyền lấy lời khai của can phạm ngoài những người có trách nhiệm điều tra. Nếu tổng thống tin Huỳnh Văn Lang thì tại sao sau đó Huỳnh Văn Lang bị cách chức? Và giải tán kỳ bộ của Huỳnh Văn Lang vào năm 1957?

Nhưng cũng như những “vụ án” khác, tôi không hiểu vụ án này kết quả điều tra ra sao, tòa án xét xử ra sao? Bà Ðức Âm bị tù mấy năm hay cậy quyền thế con rể rồi cũng được thả về? Và có liên quan gì đến cá nhân Huỳnh Văn Lang. Ðây là những vấn đề mà ông Lê Nguyên Phu cần làm sáng tỏ, nếu không, nó trở thành một vụ vu khống, nếu điều tra vụ vé số bà Ðức Âm được trắng án?

Tôi hy vọng là những dòng này được ông Huỳnh Văn Lang đọc và trả lời thích đáng?

Ngưng trích bài viết của ông Nguyễn Văn Lục.

Sao Y bản Chính.

CTHÐ

Quí vị nào có sách “Trong Bóng Tối của Lịch Sử. Tác giả Lê Nguyên Phu” xin vui lòng cho tôi mượn. Xin gửi sách về:

Công Tử Hà Ðông.
PO Box 5061
Falls Churh. VA 22044.

Tôi cám ơn.

TÌNH YÊU HOA NIÊN

Bích chương quảng cáo: Pier Angeli diễn vai chính trong phim nhưng vì chưa nổi tiếng, tên Nàng nhỏ síu.

Bích chương quảng cáo: Pier Angeli diễn vai chính trong phim nhưng vì chưa nổi tiếng, tên Nàng nhỏ síu.

Buổi tối trên màn ảnh TiVi Mỹ, tôi thấy cảnh một nhóm phụ nữ – không ai trẻ dưới hai mươi tuổi – nàng nào cũng có vẻ trạc 35, 40, tụ họp làm cuộc tưởng niêm những nhạc sĩ ban Beatles.

Phóng viên TiVi hỏi:

“Ban Beatles không còn từ lâu rồi. Sao quý vị vẫn cứ năm năm tụ hội tưởng niệm họ?”

Người phụ nữ trả lời:

“Họ là thần tượng của chúng tôi thời chúng tôi mười tám, hai mươi tuổi. Chúng tôi tưởng nhớ họ mà cũng là tưởng nhớ tuổi trẻ của chúng tôi.”

Ðêm nay, đêm mùa thu vàng ở Virginia, tôi làm một việc giống như những phụ nữ ái mộ những nhạc sĩ Beatles, tôi nhớ Pier Angeli – nữ diễn viên điện ảnh tôi ái mộ thời tôi hai mươi tuổi. Tôi nhớ Nàng và tôi nhớ tuổi trẻ của tôi.

o O o

Pier Angeli

Pier Angeli

Trên “hoanghaithuy.com” Tháng 11, 2013 có điện thư:

Phan Sĩ Nghị,

Thân gửi Công Tử Hà Ðông

Ðệ xin cung cấp vài sự kiện về phim “Domani è troppo tardi” (1950), tên tiếng Anh là “Tomorrow is too late”, tên tiếng Pháp “Demain il sera trop tard,” tên tiếng Việt của phim là  “Ngày mai đã muộn”!

Phải nói là chỉ nghe cái tên phim không thôi là đã thấy “quá đã.” “Ngày mai đã muộn,” phim trắng đen, thực hiện ở Italia năm 1950, do Pier Angeli, người đẹp “bất tử” của Hoàng huynh đóng vai chánh Mirella, cặp với Gino Leurini vai Franco. Phim này được xem như là phim Romeo Juliet thời đó ở Âu châu! Xin trích dẫn một comment về phim này:

“Might be considered one of the best film of all time…. It was a huge success with the general public and deserves to be better remembered. It is a great humanist drama in the best Italian tradition..”

Có thể được xem như bộ phim hay nhất của mọi thời. Phim thành công lớn với công chúng và xứng đáng được tưởng nhớ nhiều hơn. Phim là một bi kịch nhân bản theo truyền thống đẹp nhất của Ý quốc.

Phim này được làm cùng một năm với hai phim “Ngày mai là một ngày khác” (Domini è un altro giorno) và “Le voleur de bicyclette – Ladri di biciclette” ( Tên trộm xe đạp)… Phim “Ngày mai là một ngày khác” cũng do Pier Angeli trong vai chính.

Nếu Hoàng huynh còn nhớ Pier Angeli (!) và nhớ phim “Ngày mai đã muộn,” xin huynh đi vài đường lả lướt về phim này và về cảm tưởng của huynh và giới văn chương, nghệ thuật thứ bảy thời đó đã “bàn loạn xế lào” về phim!

Tiểu đệ,

Phan Sĩ Nghị

o O o

Tháng 11, 2013, liêu lạc Xứ Người, nhận được thư của bạn Phan Sĩ Nghị, một bạn đọc “hoanghaithuy.com” từ ngày đầu cõi đời này có “hoanghaithuy.com.”

James Dean và Pier Angeli

James Dean và Pier Angeli

Bạn viết: “Hoàng huynh nếu còn nhớ Pier Angeli…” Mèn ơi, tôi mà không nhớ PierAngeli thì còn ai nhớ Nàng? Trên cõi đời này, khi tất cả 500. 589. 267.921 tỷ người đã quên Pier Angeli, khi loài người chỉ còn hai người nhớ Pier Angeli, hai người đó là tôi – CTHÐ –và anh H2T, người anh em cùng vợ với tôi.

Việc bạn Phan Sĩ Nghị muốn tôi viết về phim  “Ngày mai đã muộn” và về Pier Angeli làm tôi ngơ ngác. Ngơ ngác, ngạc nhiên, ngu ngơ, ngớ ngẩn. Và sau cùng ngậm ngùi. Bạn yên trí chăm phần chăm là tôi – CTHÐ – đã từng xem cuốn phim “Ngày mai đã muộn.” Nhưng tôi, người ái mộ Pier Angeli nhất trong số những người ái mộ Pier Angeli nhất cõi đời này, tôi yêu Pier Angeli đến cái độ tôi từng ngất ngư con tầu đi  vì Nàng, Nàng là Nữ tài tử xi-nê Ðẹp nhất đời tôi. Bạn PS Nghị viết Pier Angeli là “người đẹp bất tử” của tôi thật đúng. Ðúng đến cái độ không có gì đúng bằng. Vậy mà không những tôi chỉ không xem phim “Ngày mai đã muộn,” tôi còn không biết thời tôi hoa niên, tôi sống, tôi làm việc, tôi yêu, tôi viết, tôi đi xem xi-nê, tôi mê tín Pier Angeli tuyệt diễm, cõi đời này có bộ phim “Ngày mai đã muộn.”

Tôi ngơ ngác và tôi théc méc: Tại sao tôi không biết gì về phim “Ngày mai đã muộn?” Tại sao? Trên cõi đời này, ai cũng có thể không biết gì về phim “Ngày mai đã muộn” nhưng anh H2T, người anh em cùng vợ của tôi, và tôi – CTHÐ – chúng tôi không thể không biết. Không biết là chúng tôi – H2T và tôi, CTHÐ – có tội với Pier Angeli.

Trở về Ký Ức trong năm phút, tôi tìm ra nguyên nhân tại sao. Phim “Ngày mai đã muộn” được làm năm 1950 ở Ý Quốc. Chắc phim đến màn ảnh xi-nê Sài Gòn những năm 1952, 1853. Trong 2 năm ấy tôi đi Lính Quốc Gia, tôi sống 8 tháng ở Ðảo Phú Quốc, tiểu đội Lính Võ Trang Tuyên Truyền trong có tôi phụ trách việc tuyên truyền, kiểm duyệt thư tù binh ở Trại Tù Binh Cây Dừa Phú Quốc, tôi sống 6 tháng ở Ðại Ðội Trọng Pháo đóng ở bên phi trường thị trấn Sóc Trăng. Ngày ấy phi trường Sóc Trăng nhỏ như cái chiếu, phi trường không có phi cơ đậu thường trực, cả tuần mới có một, hai phi cơ quân sự Bà Già từ Cần Thơ phành phạch bay sang, đậu lại vài giờ rồi bay đi. Phi trường không có hàng rào.

Những ngày, tháng, năm  ấy không có tôi ở Sài Gòn. Những ngày, tháng, năm ấy Pier Angeli và phim “Ngày mai đã muộn” đến trên màn ảnh những rạp xi-nê Sài Gòn. Nàng đến Sài Gòn mà tôi lính chiến sống cô đơn ở đảo Phú Quốc, ở tỉnh Sóc Trăng.  Không có tôi ở Sài Gòn trong những năm tháng đó. Do đó, tôi không được xem, không được biết gì về phim “Ngày mai đã muộn,” bộ phim thứ nhất của Nàng. Ngày nào tôi gập Nàng – Nàng Pier Angeli – tôi sẽ nói với nàng như thế về chuyện tại sao tôi phạm tội không xem, không biết phim”Ngày mai đã muộn.”

Tôi tìm trên Net những chuyện về cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Pier Angeli, và những chuyện về phim “Ngày mai đã muộn.” Tôi tìm thấy trên Net bài viết của một người –  người Ý – từng xem phim “Ngày mai đã muộn,” từng xúc động vì bộ phim. Ðây là bài  người đó viết về bộ phim 50 năm sau ngày ông ta coi phim.

Bài viết dịch sang chữ Pháp:

À quoi s’accrochent un souvenir, une émotion. Pourquoi ce là et pas ceci. Pourquoi tel film, plutôt moyen sur un plan purement cinématographique, laisse t-il une impression aussi forte plus de 50 ans aprèn qu’on l’ait vu. Peut être qu’à l’époque – j’ai vu le film en 58, 59 – pour les jeunes alors, l’émotion valait plus que la technique.

Ce film c’est “Demain il sera trop tard.” J’ai du le voir 5 ou 6 fois dans la semaine où il est passé au “Studio” à Bastia, où je vivais à l’époque. Je ne l’ai plus jamais revu depuis mais il resta incroyablement gravé dans ma mémoire. Il y a quelque mois j’en ai parlé à ma soeur qui l’a vu en même temps que moi: même sentiment. Je suis allé me balader sur le net. C’est fou le nombre de personnes qui ont été marqueés par ce film.

Le scénario est simple, terriblement mélo:

Mireille, jeune fille romanesqua et dont les parents sont sévères, se lie d’une tendre aimitíé avec Franco, garcon dont le milieu familial est plus souple. Mais cela ne plait pas à la rétrograde directrice  de l’institution religieuse où ils sont. Elle les punit. Leur pur amour ne sera pas compris non plus par leurs familles. Tout cela finira très mal par la mort, noyeé, de la douce Mireille. Et un incroyable ment sentiment de gâchis.

L’extrait ci dessous, je suis tombé par hasard  sur youtube il y a une demi-heure. Ce qui m’a donné l’envie de ce post – Mais j’en garde un sentiment de grande douceur, de tendresse, de tristesse, de révolte devant l’incompréhension des “grands” pour un amour d’une telle pureté. Et des larmes, des larmes. Un torrent de larmes qui ne m’a pas empêché d’aller voir et revoir ce film comme si j’esperai quand même qu’elle ne meure pas à la fin.

Je me souviens aussi du doux visage d’ Anna Marie Pierangeli et de la très méchante Gabrielle Dorziat. Je ne pense pas avoir vraiment envie de revoir cr film. Je préfère le garder dans ma mémoire au rayon “vert-paradis des amours enfantines” à coté de “Marianne de ma jeunesse.”

James Dean trên xe moto.

James Dean trên xe moto.

Phỏng dịch:

Cái gì làm ta ghi nhớ một kỷ niệm, một xúc cảm? Tại sao ta nhớ chuyện này mà không nhớ chuyện kia?  Tại sao một cuốn phim xi-nê, tầm thường về mặt điện ảnh, để lại một xúc cảm mạnh đến như thế 50 năm sau ngày người ta xem phim đó? Có thể vì thời kỳ đó – tôi xem phim này trong năm 58, hay năm 59 – với thế hệ trẻ thời đó cảm xúc mạnh hơn là kỹ thuật.

Phim đó là phim “Demain il sera  trop tard. Ngày mai đã muộn.” Tôi xem phim này 5 hay 6 lần trong một tuần lễ khi phim chiếu ở rạp “Studio” thị trấn Bastia, nơi tôi sống thời đó. Từ đó không một lần tôi xem lại phim nhưng chuyện phim ghi dấu trong ký ức tôi một cách tôi không thể ngờ. Mấy tháng mới đây  tôi nói về chuyện tôi nhớ phim với em gái tôi, em tôi cùng xem phim ấy năm xưa như tôi. Em tôi cũng có những cảm xúc về phim như tôi. Tôi dạo trên Net. Số người nhớ nghĩ về phim ấy thật nhiều.

Chuyện phim đơn giản và rất ướt:

Mireille, thiếu nữ lãng mạn, có cha mẹ nghiêm khắc, kết bạn tâm tình với Franco, gia đình Franco cởi mở hơn, nhưng cuộc tình của đôi người trẻ tuổi làm bà hiệu trưởng lạc hậu trường họ không bằng lòng. Bà này phạt họ. Hai gia đình cũng không thông cảm với họ. Kết cục bi thảm là Mireille bị chết đuối. Khán giả thấy cái chết của người thiếu nữ ngây thơ là một sự phí phạm.

Tôi tình cờ tìm thấy đoạn văn trích dưới đây trên Youtube vừa mới nửa tiếng. Ðoạn văn này làm tôi viết bài này – Tôi có cảm xúc về một sự êm dịu thật lớn, ý tình trìu mến, nỗi buồn sầu, niềm phản kháng trước sự không thông cảm của những “người lớn” với một mối tình trong trắng đến như thế. Và nước mắt, nước mắt. Những dòng suối nước mắt không ngăn được tôi xem đi, xem lại bộ phim như tôi có hy vọng là cuối phim người thiếu nữ không chết thảm.

Tôi nhớ khuôn mặt hiền của Anna Marie Pierangeli, và vẻ ác độc của Gabrielle Dorziat, bà hiệu trưởng trong phim. Tôi không muốn xem lại phim. Tôi muốn giữ nó trong ký ức tôi, trong ngăn “Thiên Ðường Xanh những mối Tình thơ trẻ “bên phim “Marianne ngày tôi hoa niên.”

Ngưng trích.

CTHÐ: Vào lúc 2 giờ trưa một ngày trong năm 1951, hay năm 1952 – ngày tháng quá xa trên dòng thời gian, tôi không còn nhớ rõ – tôi đến rạp xi-nê Olympic xem phim. Ðây là lần thứ nhất Pier Angeli đến màn ảnh xi-nê Sài Gòn, đây là lần thứ nhất tôi nhìn thấy Pier Angeli trên màn ảnh xi-nê, đây là lần thứ nhất Pier Angeli đến trong tim tôi. Nàng đến và Nàng ngự trị như một Nữ  Tiên trong tim tôi kể từ ngày ấy.

Nhưng.. dòng thời gian dài một ánh bay.. những ngày nhứ lá, tháng như mây, đã sáu mươi mùa thu vàng lá thu bay qua đời tôi, nay tôi không nhớ tên phim, tôi không nhớ chuyện phim  trong đó lần thứ nhất tôi được thấy dung nhan kiều diễm của Pier Angeli.

Bạn Phan Sĩ Nghị viết: “Pier Angeli, người đẹp “bất tử ” của H2T.” Ðúng như bạn viết. Nàng đã sống trong tim tôi 60 mùa thu lá bay. Trong tôi, Nàng – Pier Angeli – trẻ mãi, đẹp mãi.

1951 – 2013. Thời gian vỗ cánh bay như quạ. Bay hết đường xuân đến chỗ ngồi. Thơ Thi sĩ Tchya. Ðêm nay trong những ngày cuối của đời tôi, ngồi viết ở Xứ Người, tôi – người tị nạn già bộ mặt khắc khổ in hằn những vết roi đời – ngồi lụm cụm gõ máy viết những dòng hoài niệm này, tôi không nhớ chuyện bộ phim tôi xem 60 năm xưa, bộ phim cho tôi thấy lần thứ nhất Nữ Thần Tiên Pier Angeli của tôi. Tôi nhớ khi đứng xem mấy tấm hình quảng cáo phim trước khi vào rạp, có một anh trạc tuổi tôi đứng bên tôi. Lúc đó chúng tôi chưa quen nhau. Chúng tôi nói với nhau:

“Pier Angeli đẹp quá.”

Vào rạp, chúng tôi ngồi cạnh nhau. Sau đó chúng tôi thành bạn. Lâm là thanh niên Nam Ðịnh, anh vào Sài Gòn từ những năm 1942, 1943. Khi chúng tôi gặp nhau. Lâm là thư ký Nhà Chartered Bank. Lâm đưa tôi vào làm thư ký trong nhà Chartered Bank, tôi bỏ việc vì tôi không thể làm thư ký giữ sổ chi thu của ngân hàng. Dù tôi có muốn làm cũng không được, tôi lẫn lộn lung tung những con số, những hàng số. Lâm chỉ đường cho tôi đi làm Sở Mỹ USOM. Tháng Tư 1975 anh là nhân viên Sở Thông Tấn ABC – American Broadcasting Conpany – anh và vợ con anh được ABC đưa sang Mỹ từ những ngày 25, 26 Tháng Tư 1975. Năm 1991 anh về thăm Sài Gòn, gặp lại nhau, anh nói:

“Gần mười lăm năm tao với mày gặp lại nhau. Những năm đầu ở Mỹ tao cứ nghĩ thế này là nghìn trùng xa cách. Tao cứ tưởng không bao giờ tao gặp lại mày.”

Mười người bạn chung  chúng tôi có từ những năm 1950, năm 1990, có đến tám người đã chết, mất tích. Chúng tôi bùi ngùi nói với nhau về những người bạn cũ.

Năm 1994 vợ chồng tôi đến Mỹ. Lâm ở trong số các bạn đến đón vợ chồng tôi ở phi trường. Lâm sống ở thành phố Falls Church. Rừng Phong ở Falls Church. Năm 2008 Lâm bị lãng tai – chưa điếc, chỉ nghe không rõ tiếng – mắt Lâm bị yếu, không còn đọc báo, xem TiVi được. Căn nhà của Lâm có thể bị mất về tay người đàn bà Bắc Kỳ Lâm về Hà Nội cưới, bảo lãnh sang Mỹ.  Lâm hơn tôi chừng 3 hay 4 tuổi.

o O o

Người Ðẹp vẫn thường hay chết yểu.
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.

Nàng – Tiên Nữ của tôi – Nàng đẹp nên Nàng nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương, Nàng đi khỏi cõi đời này năm Nàng 39 tuổi – tôi, CTHÐ, không phải là thi nhân, dzậy mà tóc tôi bạc sớm. Ba mươi tuổi tóc tôi đã bạc. Nhưng mà chuyện tôi tóc xanh, tóc bạc có gì đáng nói? Tôi trở lại với Người Ðẹp của tôi: Pier Angeli.

Tôi vẫn ngậm ngùi mỗi khi tôi tưởng nhớ Pier Angeli. Tại sao Người như Nàng lại không được hưởng Tình Yêu? Tại sao Nàng chết sớm?  Tại sao? Tại sao?

Ngôi Sao Ðiện Ảnh Pier Angeli vừa hiện lên đã sáng chói trên trời Hollywood. Nàng được gọi là Greta Garbo thập niên 50. Chỉ trong 12 tháng ở Cinecitta, Ý Quốc, nàng diễn vai chính trong hai bộ phim xuất sắc. Hollywood mời đón nàng ngay. Cuộc đời hứa hẹn với nàng thật nhiều hạnh phúc. Nàng gặp và yêu Jamres Dean. James Dean yêu nàng. Nàng và chàng cùng là hai ngôi sao mới nổi. Hai ngôi sao cùng rất sáng. Nàng và chàng bằng tuổi nhau. Khi ấy James Dean  bắt đầu đóng phim East of Eden, Pier Angeli đang đóng phim The Silver Calice. Chàng đến sàn quay phim thăm bạn chàng là Kirk Douglas. Chàng gặp nàng trên sàn quay, gặp nhau, họ yêu nhau, họ dính nhau ngay. Họ là cặp tình nhân trẻ nhất, đẹp nhất và đẹp đôi nhất Hollywood. Tôi nhìn ảnh họ âu yếm nhau mà thấy tim tôi ấm,  như tôi là James Dean.

Nhưng cuộc Tình của họ không đưa ho đến hôn nhân; Ðịnh Mệnh không cho họ thành vợ chồng. Bà mẹ của Pier Angeli đến Mỹ cùng cô con, bà là một bà người Ý sùng đạo, bà không chịu cho cô con làm vợ anh chàng Mỹ ngổ ngáo không biết Thiên Chúa, người chưa từng một lần vào Nhà Thờ. Bà ép cô con lấy Vic Damone, một ca sĩ người Ý, Vic cũng đến Hollywood đóng phim. Pier Angeli vâng lời bà mẹ, Nàng trở thành vợ Vic Damone.

James Dean ngồi trên xe moto trước cửa nhà thờ khi Lễ Hôn phối Pier Angeli-Vic Damone cử hành bên trong. Chàng cho xe moto nổ máy suốt buổi lễ. Khi cặp vợ chồng mới cưới ra khỏi nhà thờ, chàng rồ máy xe, chạy đi.

Pier Angeli làm vợ Vic Damone trong 4 năm. Họ ly dị nhau năm 1959. Pier Angeli lấy người chồng thứ hai, cũng chỉ ở với nhau được 4 năm. Năm 1970 Nàng trở lại Hollywood. Năm này Nàng 30 tuổi. Nàng cô đơn, sầu buồn, thiếu tiền. Nàng chết vì dùng thuốc quá liều. Có tin nói Nàng tự tử.

Pier Angeli nói:

“I have loved one person in my life, and that was James Dean.”

Tôi yêu một người trong đời tôi, người đó là James Dean.

Chỉ trong 3 phim – East of Eden, Rebel Without A Cause, Giant – James Dean nổi tiếng khắp thế giới. Chỉ có phim East of Eden được chiếu khi chàng còn sống. Pier Angeli đi lấy chồng, chàng sống độc thân. Có bóng dáng Natalie Wood, Ursula Andress trong đời chàng nhưng chàng không yêu ai, không kết với ai. Chàng thích lái xe đua, từng tham dự những cuộc đua xe của những người lái xe đua không chuyên nghiệp ở Cali. Ngày 30 September 1955, James Dean lái chiếc xe Porshe 550 Spyder đi dự cuộc đua xe ở Salinas. Trên đường đi xe chàng đụng chiếc xe Ford Tutor. Chàng chết trên tay lái, 24 tuổi, không vợ.

Năm 1995 tôi đến Cali. Hồng Dương lái xe đưa tôi đi chơi Los Angeles. Ðến một đoạn đường, anh nói:

“James Dean chết ở chỗ này.”

James Dean sinh năm 1931, Pier Angeli ra đời năm 1932. Nàng hơn H2T một tuổi. Theo Tử Vi Á Ðông, Nàng tuổi Thân.

Người ta tuổi Dậu, tuổi Mùi.
Còn tôi bùi ngùi, đứng giữa tuổi Thân.

Ðêm Virginia trời lạnh 20 độ F. Trong vài sát-na tôi thả hồn bay ngược dòng thời gian, tôi trở về đứng trước tấm bảng quảng cáo một phim tôi không nhớ tên, phim thứ nhất tôi được thấy Pier Angeli. Tôi về trong rạp xi-nê Olympic, đường Chasseloup-Laubat, Sài Gòn, 2 giờ trưa một ngày Sài Gòn mùa nắng. Mùa nắng hoa niên  60 năm trước.

Pier Angeli và tôi không một lần gặp nhau,

Mà tôi thương tiếc Nàng bởi vì đâu?

Vì tôi yêu Nàng. Nàng là “Giai Nhân Bất Tử” của tôi.

CHUYỆN HAI NGƯỜI

Chuyện hai người ở đây là chuyện ông Nhà Văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt  và ông Nhà Văn Vũ Khắc Khoan.

Tranh CHÓE

Tranh CHÓE

Tôi được quen biết hai ông. Tôi thân với ông Hoạt, tôi không được thân với ông Khoan, nhưng có thời gian chừng 6 tháng tôi làm việc chung một tòa soạn nhật báo với hai ông.

Thời gian đó vào khoảng tháng Sáu năm 1964. Tướng Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lý, dẹp bỏ chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, cho “Quốc Trưởng” Dương Văn Minh ngồi chơi sơi nước. Ông Bùi Tường Huân làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục trong chính phủ Thủ Tướng Nguyễn Khánh – ông Huân, tôi nghe nói là ông anh hay ông em bà vợ ông Vũ Khắc Khoan. Tôi cũng nghe nói ông Bùi Tường Huân được các ông Sư đưa vào chính phủ.  Ông Nguyễn Hoạt được giấy phép ra nhật báo Ngày Nay. Ông Nguyễn Hoạt làm chủ nhiệm, ông Vũ Khắc Khoan làm chủ bút. Thời ấy ông Nguyễn Hoạt được lực lượng Phật Giáo ủng hộ. Ông Hoạt có tham gia phong trào phản đối và cuộc lật đổ chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tôi nghe nói ông có viết và in truyền đơn kể tội cái gọi là Nhà Ngô độc tài, có vài tháng trước ngày đảo chính, sợ bị bắt, ông lánh đi ở nhà khác.

Tháng Tư năm 1964, nhật báo Sàigònmới, nhật  báo Ngôn Luận, hai nguồn tiền lương chính của tôi, bị chính phủ đóng cửa. Tội của hai tờ báo – do Ðỗ Mậu họp báo nói: “Cấu kết với Nhà Ngô.” Ðang kiếm được trên dưới 30.000 đồng một tháng, tôi không kiếm nổi một tháng 5.000 đồng. May cho tôi là nhật báo Ngày Nay mới ra cần một thư ký tòa soạn, Chủ nhiệm Nguyễn Hoạt gọi tôi đến  làm cho Ngày Nay, trả tôi lương tháng 12.000 đồng. Tôi báo tin tôi làm báo Ngày Nay, lương tháng 12.000 đồng với vợ tôi, nàng mừng:

“Thế là mình yên tâm. Có 12 ngàn đồng một tháng, chúng ta sống vững hơn bàn thạch.”

Ông Nguyễn Hoạt cũng như ông Vũ Khắc Khoan, hai ông là nhà văn, không ông nào biết điều hành một nhật báo. Về việc điều hành nhật báo, làm chủ báo, hai ông kém xa ông Chu Tử.

Ban biên tập Nhật báo Ngày Nay rất hùng hậu: có ông Vũ Hoàng Chương làm Thơ Vui mỗi ngày một bài, có ông Nguyễn Gia Trí vẽ biếm họa, ông Nhà Văn Ðỗ Ðức Thu viết phơi-ơ-tông. Chủ nhiệm Nguyễn Hoạt trịnh trọng loan báo Ngày Nay đăng Hồi Ký của Thượng Tọa Thích Trí Quang. Nhưng Ngày Nay  chỉ loan báo mà không có hồi ký. “Ngài”: Thượng Tọa Thích Trí Quang quá bận. Rất có thể Thượng Tọa không hứa nhưng ông chủ báo Ngày Nay cứ loan tin, để ép Thượng Tọa phải viết. Ông Hoạt cho cô cháu ngày ngày đến chùa chờ Thượng Tọa đọc cho cô ghi Hồi Ký, nhưng Ngày Nay vẫn không có hồi ký của  “Ngài” như báo đã loan. Trên manchette báo – manchette: tên báo – có hình Bánh Xe Luân Hồi. Nhưng Phật tử không mua, người không phải là Phật tử lại càng  không mua Ngày Nay. Tờ báo bán không được.

Một số ông bỏ tiền góp vốn cho hai ông nhà văn làm nhật báo, tôi nghe nói số tiền khoảng 1 triệu đồng. Hai ông nhà văn làm tiêu tan số vốn 1 triệu đồng trong khoảng 6 tháng. Với ông Chủ nhiệm Nguyễn Hoạt, ông chủ bút Vũ Khắc Khoan, nhật báo Ngày Nay như cái thùng không đáy. Không còn ông có tiền nào dám bỏ thêm tiền cho hai ông nhà văn đốt. Ngày Nay chết queo. Ðời tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó.

Chuyện xưa rồi, tôi không hào hứng kể nhiều hơn. Tháng Tư 1975 đến, ông Vũ Khắc Khoan chạy thoát sang Hoa Kỳ, ông Nguyễn Hoạt kẹt lại. Năm 1984 ông Nguyễn Hoạt bị bọn cộng an Thành Hồ  bắt về tội phản động. Một đêm khuya năm 1985, người tù chính trị Nguyễn Hoạt bất tỉnh trong phòng tù Số 11 khu ED Nhà Tù Chí Hòa.  Cai Tù cho một anh tù khỏe mạnh cõng, hay bồng, ông xuống cái gọi là trạm xá – phòng bệnh của nhà tù – Ông tù Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong đêm ấy.

Ông chủ nhiệm Nguyễn Hoạt và ông chủ bút Vũ Khắc Khoan của nhật báo Ngày Nay có hai dòng đời giống nhau ở đoạn đầu, khác hẳn nhau ở đoạn cuối. Ðoạn đầu: hai ông cùng là dân Bắc Việt di cư, tên tuổi hai ông nổi lên trong Làng Văn Quốc Gia VNCH cùng một thời, những năm sau năm 1954; đoạn cuối: ông chủ bút Vũ Khắc Khoan sang Mỹ, qua đời ở Mỹ Quốc, ông chủ nhiện Nguyễn Hoạt chết lạnh, chết cô đơn, chết thảm  trong cái gọi là trạm xá – phòng bệnh – của Nhà Tù Chí Hòa.

Ở Mỹ, ông Vũ Khắc Khoan viết:

Ðọc Kinh. Ðoản văn Vũ Khắc Khoan. Nhà Xuất bản An Tiêm ấn hành ở Paris năm 1990. Trích:

Nói ra là bị kẹt

Không nói ra cũng không xong.

Hai câu đầu một bài kệ của một thiền sư Việt Nam sống giữa thế kỷ 17, thiền sư Chân Nguyên. Hai câu kệ, một thế đứng chênh vênh giữa hai ngả hữu vô. Nói hay không nói? Chung cuộc, bài kệ đành phải chấm dứt bằng một nét chấm phá lửng lơ:

Vì anh đưa một nét
Ðầu núi ánh dương hồng

*

Tôi duỗi thẳng chân, ngửa mặt nhìn nắng sớm xuyên qua miếng băng bám nơi khung cửa, ánh nắng lung linh mầu sắc cầu vồng. Tự hỏi nắng sớm đích thực màu gì? Xanh hay đỏ, tím hay vàng, hay là do tất cả màu sắc gặp gỡ mà thành? Nhưng có cuộc gặp gỡ nào kéo dài mãi mãi? Ánh dương đầu núi đâu giữ mãi mầu hồng? Cái thế chênh vênh giữa hũu và vô đâu có thể đời đời tồn tại? Cái khó là nhập vào cái thế đó, không thỏa hiệp, mà vươn lên, và vượt qua. Từ cái phức tạp tìm về cái đơn thuần, tìm về cho tới cái khuôn mặt của chính mình khi mình chưa sinh, chưa thành. Ánh dương hồng khi chưa nhô lên khỏi đầu núi. Cái xôn xao nhú lên trong đêm sắp tàn. Cái đó.

Ngoài vườn tuyết rơi trắng và lạnh trong im sựng của trời và đất. Trong lò củi nổ ròn tan, ngọn lửa thấp cao ấm mầu hổ phách. Ngoài kia, vắng lặng..Trong tôi..vẫn chưa vắng lặng. Trong tôi, tôi vẫn thấy rằng..chưa ổn.

Ðẩy thêm củi vào lò. Củi gỗ cây phong phơi nỏ từ vào thu, lửa như bốc ngọn từ lòng gỗ. Mộc trung sinh hoả. Mộc tận hỏa hoàn diệt. Lửa sinh trong lòng gỗ. Gỗ hết lửa không còn. Lửa không còn, nghĩa là sao? Lửa sẽ biến thái tuy vẫn tồn tại hay cũng như khói và mây, lửa sẽ trở về, sẽ đi vào lòng cái đó tuyệt mù?

*

Tôi đặt cuốn Duy Ma Cật xuống bên lò sưởi, nhồi thuốc vào tẩu, hít hơi thuốc đầu trong ngày. Hơi thuốc thơm tỏa ấm gian phòng. Bất giác tôi nghĩ đến một mùi hương lạ. Một mùi hương như một phương tiện nói pháp. Mùi hương cõi nước Giáng Hương. Trở lại cuốn kinh:

“Qua khỏi 42 số cát sông Hằng cõi Phật, có nước tên là Chúng Hương, đức Phật thị hiện nơi đó là Phật Hương Tích. Mùi hương nước đó so với mùi hưong cõi trời, cõi người và các cõi Phật ở mười phương, nó thơm hơn hết. Ðức Phật Hương Tích lấy mùi làm phương tiện để nói pháp. Chúng sinh cõi nước Chúng Hương nghe mùi hương mà ngộ đạo.”

Tôi hít dài một hơi thuốc. Ðầy phổi. Hơi thuốc nghe như có pha trộn nhiều mùi hương cũ tôi tưởng đã phai, đã tuyệt mù. Mùi úa hoa ngọc lan, mùi ấm hoa hồng, mùi ngát hoa cau, mùi đạm hoa sói, hoa ngâu, mùi đắng hoa sấu nắng hè tháng sáu, mùi nồng hương đêm dạ lý. Và mùi ngát của nhang.

o O o

Ông Nghiêm Xuân Hồng, ở Mỹ, viết về ông Vũ Khắc Khoan.

Ðọc Kinh. Nghiêm Xuân Hồng: Nhân Ngày Kỵ Họ Vũ.

Tôi bình sinh tin quỷ thần cùng chuyện luân hồi, mặc dầu rất lười biếng việc cúng kiếng. Vì thiển nghĩ không có lý gì chỉ có đơn độc một kiếp sống chợt đột khởi lên rồi lại tan biến vào hư vô, cũng như trong pháp giới huyền hoặc này, không lý gì lại vỏn vẹn chỉ có người và súc sinh.. Ðó cũng là một câu chuyện mà xưa kia, trong nhiều lúc trà dư, tửu hậu, Vũ Khắc Khoan và tôi hay nhắc đến.

Một lần, tôi bảo họ Vũ rằng những chuyện Liêu Trai đều là việc có thực xảy ra trong dân giả, không phải là những ngụ từ châm biếm của họ Bồ đâu. Một danh sỹ như họ Bồ đâu có thì giờ  viết châm biếm, và đó đều là những mẩu tình duyên giữa những loài quỉ mị cùng những thư sinh nhiều mộng tưởng  và từng trồng nhiều tình căn.

Cách đây chừng một năm, tôi có dịp được ngồi thuyền du ngoạn trên một chiếc hồ lớn tỉnh Hàng Châu..Ðứng trên mạn thuyền, chợt nghĩ tới những vị quỉ thần nơi biển hồ đó đã từ lâu không được nghe một giọng nói của người tụng thần chú Thủ – lăng – nghiêm. Nên tôi đã khởi tâm tụng 3 biến thần chú đó lớn tiếng và rải xuống mặt hồ.

Tôi cũng ít hay nhớ nhung nhưng lúc đó, không hiểu tại sao, tôi bỗng cảm thấy rộn ràng nhớ họ Vũ.

Trên đường về, tôi trạnh lòng nghĩ rằng có thể là họ Vũ đã thọ sinh làm một vị thần nơi hồ này. Vì cái vụ đó có thể hợp với duyên nghiệp và tâm tình của anh ta.

Tịnh Liên

Nghiêm Xuân Hồng

Và đây là chuyện ông Vũ Khắc Khoan viết về ông Nghiêm Xuân Hồng.

Tịnh Liên lão ông với Khoan tôi vốn là chỗ thâm giao, lại là móng vuốt trong chốn thiền môn, mê đọc kinh như tuổi hai mươi mê đọc thư tình, gần đây vì thương cho sự hoang rậm của lòng người xa nước, nên đã dốc lòng đem tất cả cái sở đắc của mình mà viết lời sơ giải mấy bộ Ðại Thừa. Viết đến đâu hoằng bá đến đó và đều đều gửi tới Khoan tôi, với lời răn nhủ rằng: Này ông Vũ Khắc Khoan ơi, ông phải bớt đàn đúm với bọn lãng tử để dành thì giờ mà tu tỉnh đọc kinh. Rằng:

“Này Vũ Khắc Khoan, ý ông thế nào? Giả sử có người đem 7 món báu chứa đầy cả đại thiên thế giới mà bố thí thì người đó có nhiều công đức hay không?”

Tôi rằng:

“Thì nhiều.”

Ông chỉ đợi có thế, tiếp ngay

“Ấy thế mà còn thua một người chỉ thọ trì 4 câu kệ hay nhẩm thầm một đoạn kinh. Biết không?”

Biết rồi nhưng khốn một nỗi Khoan tôi căn cơ thô lậu, tâm thức lại hay lưu luyến tiếng tơ, tiếng trúc, cho nên chân tuy đĩnh đạc bước thẳng mà vẫn thấy tạt ngang vào nơi ca lâu, tửu quán, giọng cất lên muốn bàn câu đạo lý mà vô tình vẫn họa cùng một điệu với tiếng cười hô hố của đám lãng tử sông hồ. Cũng do vậy mà bao nhiêu kinh sách bạn vàng gửi đến, thảy đều được trịnh trọng xếp lên giá sách, giữ gìn cẩn thận. Thế thôi. Nhưng ngại đọc. Thảng hoặc có miễn cưỡng mở ra thì cũng loáng thoáng mấy trang cho đến khi khựng lại trước những danh từ dựng lên chất ngất.

Trước mặt, sau lưng, bên tả, bên hữu, trên đầu. Như một hàng rào nhọn hoắt. Như một tấm lưới trùng trùng. Tôi choáng váng tìm định nghĩa. Tôi đặt vấn đề. Rút cuộc, cuốn kinh từ giá sách được mở ra trên bàn đọc, lại trở về nguyên chỗ cũ, trên giá sách. Miệng Phật lại nín thinh. Khoan tôi lại lầm lũi trở về cái thế giới chữ nghĩa cũ kỹ ngày xưa.

o O o

Ðọc Kinh. Ðoản văn của Vũ Khắc Khoan. An Tiêm xuất bản năm 1990, 60 trang, trong có 10 trang bài ông Mai Thảo viết, tựa đề “Thế giới Vũ Khắc Khoan.”

Tôi – CTHÐ – chỉ trích vài đoạn đầu trong bài ông Mai Thảo, khi ở Cali, viết về ông Vũ Khắc Khoan:

Thế giới vũ khắc khoan

Những người du khách Mỹ hồng hào no ấm y phục xứ lạnh dầy nặng sặc sỡ đi về thường từ mười năm nay ở phi trường Minneapolis, tiểu bang Minnesota, lâu lâu một lần, lại nhìn thấy đơn độc khác lạ giữa họ một cặp vợ chồng Á châu, như  họ, cũng tới phi trường đợi chờ một giờ máy bay cất cánh.

Cặp vợ chồng đó, sau mỗi mùa đông Minnesota, càng đi thêm vào cái phong thái lão, hạc tách thoát trong suốt là khởi sự của tuổi già. Tuy người chồng vạm vỡ, lùn thấp và người vợ mảnh mai cao gầy đi đứng vẫn nhanh nhẹn vững thẳng giữa cái suối người Tây phương ào ạt ở chung quanh.

Họ cùng tiến vào một phòng đợi tường gương sáng láng nhìn xuống một phi đạo đông bắc dài vút giữa cái địa hình thủy mạc kỳ ảo diễm lệ của Vạn Hồ. Nhìn cặp vợ chồng gốc gác từ xa thẳm đông phương huyền bí này giữa một phi trườøng Mỹ sánh vai ngồi xuống ghế ở một góc đợi riêng, như họ chỉ có thể ở cạnh nhau suốt một đời như vậy, mọi người có thể đặt ra nhiều giả thuyết. Từ những giả thuyết bình thường nhất đến những giả thuyết khác thường nhất. Về thân thế họ. Về nguồn gốc họ. Cả chuyến bay họ đang đợi chờ một cách vừa hết sức ung dung vừa vô cùng nhẫn nại, để bay lên. Vẻ lẫm liệt rất Thái Cực Ðạo của người chồng nước da đồng hun và mái tóc trắng tuyết ( hồi còn trẻ, tao chỉ đánh một cái là thằng đó chết ) hợp đồng với vẻ âm u nhợt nhạt của người bạn đời, suy nghĩ – chỉ cần thêm một giọt tưởng tương của võ hiệp Kim Dung – đến một cặp lão trượng hiền lành ngồi kia nhưng giấu kín võ công cao cường vô tả, đến tuổi gác kiếm quy ẩn rồi mà vẫn còn phải dùng phản lực Mỹ, bởi một mối thù ở xa giải quyết chưa xong. Rồi thấy họ trao quẹt, trao thuốc cho nhau cùng đốt cùng phì phèo hút, lại có thể nghĩ họ là cặp vợ chồng Ðông Y Phúc Kiến, tới địa phương để kiểm tra một thần dược mọc giữa đám kỳ hoa, dị thảo trùng điệp của Vạn Hồ.

Và chuyến đi? Họ đi đâu? Xuống sa mạc phương nam tầm thù? Hay lưu lạc đã một đời nay trên đường quy hồi cố hương, ở một điểm nào đó của Á châu xa thẳm, mặc áo vải, đi giày cỏ, gặp lại giòng sông xưa, thềm nhà cũ, xóm giềng và con cháu sau bao năm xa cách, sống an nhàn phần đời còn lại dưới vòm trời từ tuổi trẻ đã ra đi.

Ngưng trích

Nhà Văn Vũ Khắc Khoan

Nhà Văn Vũ Khắc Khoan

CTHÐ: Tôi viết sang chuyện người thứ hai trong bài “Chuyện Hai Người.” Ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tôi thân với anh nên tôi gọi anh là anh.

Theo tôi, quê ngoại của anh Hoạt là làng La Khê, một làng quê cách thị xã Hà Ðông khoảng 2 cây số. Vào một mùa hè tôi không nhớ là năm bao nhiêu, 1942 hay 1943, anh Hoạt dậy khóa học hè hai tháng ở trường Tự Ðức, một trường tiểu học tư ở thị xã Hà Ðông. Trong số học trò của anh có tôi. Năm 1958 tôi gặp lại anh ở Sài Gòn, anh làm báo Tự Do, tôi làm báo Sàigònmới. Anh không nhớ tôi, tôi nhớ anh, tôi kể với anh năm xưa tôi là học trò của anh. tôi kết thân với anh.  Những năm đầu ở Sài Gòn anh viết truyện dài phơi-ơ-tông “Trăng Nước Ðồng Nai ” trên báo Tự Do. Rồi truyện dài “Tỵ Bái.” Anh thế chân ông Mai Nguyệt viết mục “Nói hay Ðừng” trên báo Tự Do. Thời ông Tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư Lệnh Quân Khu 1, Quân Ðoàn 1, ông Tướng mời anh Hoạt  làm cố vấn chính trị. Nhờ thời gian này và nhờ ông Tướng giúp,  anh có tiền mua căn nhà mới khang trang hơn ở trong xóm Cổng Xe Lửa số 6 đường Trương Minh Giảng. Vì ở sau nhà thờ Bùi Phát, xóm này có khi được gọi là Xóm Bùi Phát.

Dòng thời gian qua mau. Những năm 1981, 1982, anh Hoạt và tôi cùng sống buồn và túng thiếu. Có những chiều buồn quá chịu không nổi  tôi đến rủ anh đi uống rượu. Chúng tôi phải chung tiền mới có 20 đồng tiền Hồ thổ tả đủ để mua hai bìa đậu hũ sống, một gói lạc rang, một cút rượu trắng, uống với nhau trong chợ Bùi Phát. Chúng tôi tửu lượng kém, chỉ một cút rượu cũng đủ cho hai anh em tôi có một chiều đỡ buồn.

Năm 1984, tôi bị bắt Tháng 4. Cùng bị bắt với tôi là các anh Doãn Quốc Sĩ, Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Dương Hùng Cường, cô Lý Thụy Ý. Một tháng sau anh Hoạt bị bắt vào Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Tháng 5 năm 1985 anh Hoạt sang Nhà Tù Chí Hòa trước chúng tôi. Tháng 6 năm 1985 khi tôi xách mùng chiếu vào phòng 10 khu ED Nhà Tù Chí Hòa, anh Hoạt ở phòng tù 11 cùng khu.

Phòng tù chúng tôi sát nhau nhưng anh Hoạt và tôi ít khi trông thấy  nhau, chúng tôi cũng chẳng có tin gì, chuyện gì để nói với nhau. Chỉ một lần duy nhất  phòng tù số 10 được mở cửa cho tù ra xách nước, tôi ra ngồi ở hành lang, anh Hoạt ở phòng tù số 11 trông thấy tôi. Chúng tôi trao đổi với nhau vài câu.

Anh Hoạt nói:

“Lúc tôi đi, tôi dặn con gái tôi: con nhớ ngày này làm giỗ cho bố. Vợ tôi nói: “ Ông có về với tôi thì về, tôi không đi thăm ông được đâu, tôi yếu quá rồi.”

Và anh nói:

“Có câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.” Một ngày tù bằng ngàn năm ở ngoài. Mình ở tù 600 ngày rồi. Tính ra mình nhiều tuổi hơn ông Bành Tổ.”

Anh đọc qua song sắt cho tôi nghe bài thơ Ðường anh làm trong tù. Tôi nghe mà không nhớ. Như tôi đã kể, có thể vì bị cao áp huyết, lại chịu không nổi cảnh nhốn nháo, lao xao trong phòng tù quá đông người, nhốn nháo đầy người tù 6 giờ sáng đến 10 giờ đêm,  nên vào khoảng 11 giờ đêm, người tù Nguyễn Hoạt nằm ngất. Một anh tù trẻ trong phòng tù số 11 la lớn qua hai hàng song sắt:

“Báo cáo cán bộ: phòng 11 có người bệnh nặng. Xin cấp cứu.”

Sau chừng 10 tiếng la vang động khắp Lò Bát Quái, cai tù trực đêm lạch xạch chùm chìa khóa, lên mở cửa phòng tù, cho một anh tù trẻ, khoẻ cõng người tù bệnh xuống cái gọi là trạm xá. Từ phòng 9, anh Hoạt được cõng qua trước phòng 10 trong có tôi. Sáng hôm sau tôi được tin anh Hoạt đã chết trong đêm.

Tôi nằm phơi rốn trong nhà tù Chí Hòa 4 năm nhưng tôi không biết cái gọi là “trạm xá” của Chí Hòa nó nằm ở khu nào của nhà tù lớn này. Tôi không một lần đến đó. Nghe nói đời sống của người tù ở trạm xá đỡ khổ hơn. Người tù bệnh được nằm giường, được ăn cơm nóng, canh nóng. Phòng bệnh ít người nên yên tĩnh hơn phòng tù tập thể. Theo cái gọi là Luật nhà tù Việt Cộng, người tù chết bị đưa xuống nhà xác trong nhà tù. Tù chết ở Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Ðăng Lưu, hay ở những nhà giam quận, đều được đưa về Nhà Xác Chí Hòa. Tại đây bọn gọi là pháp y mổ, xẻ, cắt tanh bành xác người tù. Chúng làm thế để chúng học về cơ thể con người. Không bao giờ có chuyện nhà tù Việt Cộng giao xác người tù chết trong tù cho người nhà mang về chôn. Chúng sợ cuộc đưa ma biến thành cuộc nhân dân biểu tình lên án chúng. Người tù chết, bọn cai tù gọi vợ con người tù đến nhà xác nhìn mặt người tù lần cuối, chúng cho xác người tù vào áo quan do chúng cung cấp, cho quan tài lên xe nhà tù, đưa lên chôn ở nghĩa địa Lái Thiêu. Vợ con người tù có thể lên xe chở quan tài người tù. Tôi chỉ thấy có ông Tù Hồ Hữu Tường, đang chịu án tù, được về chết ở nhà ông. Nhưng đó là do ông đau nặng, người nhà ông được cai tù cho phép đưa ông về bệnh viện Sài Gòn chữa. Xe do người nhà ông HH Tường mướn. Xe về gần đến Sài Gòn  thì ông Tường tắt thở, anh công an trại tù cho đi theo xe còn trẻ, muốn có dịp dạo chơi Sài Gòn, bằng lòng cho người nhà ông Tù đưa xác ông về nhà ông.

Không biết có lúc nào trong đêm người tù Hiếu Chân Nguyễn Hoạt tỉnh lại và biết là mình đang nằm trơ trọi, đói, lạnh chờ chết trong nhà tù cộng sản hay không? Tôi không thể và tôi không dám tưởng tượng anh Hoạt nghĩ gì trong khoảnh khắc anh tỉnh lại trước khi chết. Tưởng tượng lúc ấy anh nghĩ gì và gán ý nghĩ ấy cho anh là hỗn xược với anh. Ở Mỹ Quốc, buổi sáng mùa đông, ông Vũ Khắc Khoan nằm trong phòng ấm, giường ấm, lò sưởi gỗ phong khô nổ lách tách, nhìn hoa tuyết ngoài cửa sổ nghĩ sự đời. Ðêm khuya trong phòng bệnh nhà tù Chí Hòa tối âm u, lạnh, hôi, tanh, tôi nghĩ có thể lúc ấy anh Hoạt thèm một hơi khói thuốc lào.

Tháng Tư năm 1986, trước khi bọn Cộng họp cái gọi là Ðại Hội 6, bọn Tòa ÁnThành Hồ định đưa nhóm chúng tôi ra tòa; trong lệnh gọi ra tòa do một nhân viên tòa án đem vào nhà tù đọc cho chúng tôi nghe có ghi tên anh Nguyễn Hoạt. Bọn tòa án gọi người tù ra tòa mà không biết rằng người tù ấy đã chết.

Những năm 70, trong một tiệm hút ở Cây Da Xà, anh Hoạt nói:

“Tầu nó có câu này: Cần tiền như anh nghiện cần đếu thuốc phiện sau bữa ăn.”

Anh nói:

“Mượn như Lưu Bị mượn Kinh Châu.”

Một lần nằm đọc tờ báo Xuân, anh nói:

“Bài “Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai” là bài kệ của một thiền sư Tầu. Ông Mẫn Giác thích bài đó, ông ấy chép lại. Ông ấy chết, người ta tìm thấy bài kệ ấy trong số giấy tờ của ông. Ngô Tất Tố vớ được, viết là của Mẫn Giác. Tầu nó đã viết mấy bài về chuyện ấy với bằng chứng. Mà mình thì Tết nào cũng lôi bài ấy ra, ca là của Mẫn Giác.”

Anh kể:

Thời kháng chiến.. ở.. Hội Liên Hiệp Phụ Nữ làm chợ phiên. Trời mưa dầm. Chợ phiên không có khách. Hội Phụ Lão Cứu Quốc bị động viên đi chợ phiên. Các cụ đi, đường trơn lại có ụ đắp, nhiều cụ ngã sưng cả đầu. Có cụ làm câu đối:

“Liên Nữ lỗ to, Liên Nữ ế.
Lão Thành trầy trật, Lão hành sưng. “

Nếu anh Hoạt sang được Mỹ, tôi chắc ngoài việc viết anh còn hoạt động chính trị, vì anh là người trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng, cùng hệ phái với ông Nguyễn Tường Tam.

Tôi hay nằm bên bàn thờ Cô Ba Phù Dung với anh Hoạt. Anh hay đi hút nhưng anh không bị nghiện như tôi. Anh có cái xe ô tô 2 chevaux nên anh thường chở tôi vào hút trong khu gọi là Cây Da Sà ở Phú Lâm. Khu này là khu của người Tầu Bắc Việt di cư, khu có nhiều tiệm hút. Ở đây các tiệm hút mở cửa gần như công khai– có lần anh Hoạt đưa ông Nhất Linh vào đây hút. Tôi nhớ anh kể chuyện ngày xưa anh trẻ, một tối bà chị anh đi lấy bộ y phục của anh ở tiệm giặt ủi để sáng mai anh mặc đi làm:

“Chị tôi mắt kém. Trời đã tối lại mưa. Chị tôi ngã xuống giếng. Tôi nghe tiếng chị tôi gọi lên “Cậu ơi. Cứu chị với.” Khi người ta đưa chị tôi lên được khỏi giếng, chị tôi đã chết.”

Con gái anh, cháu Vĩnh, nay là cô giáo, Vĩnh có tập Thơ mới xuất bản. Thơ Vĩnh có hồn, rất được.

o O o

Ði thuyền trên một cái hồ ở Hàng Châu, ông Tịnh Liên cư sĩ Nghiêm Xuân Hồng nghĩ về ông bạn họ Vũ của ông:

“Trên đường về, tôi trạnh lòng nghĩ rằng có thể là họ Vũ đã thọ sinh làm một vị thần nơi hồ này.”

Tôi – CTHÐ – théc méc: “Không biết ông Nhà Văn Vũ Khắc Khoan đã làm  những công đức gì với dân Tầu mà ông được Thượng đế Tầu cho làm Thần một cái hồ ở Hàng Châu!”

Ông Mai Thảo viết về vợ chồng ông Vũ Khắc Khoan:

Vẻ lẫm liệt rất Thái Cực Ðạo của người chồng nước da đồng hun và mái tóc trắng tuyết  chỉ cần thêm một giọt tưởng tương của võ hiệp Kim Dung – đến một cặp lão trượng hiền lành ngồi kia nhưng giấu kín võ công cao cường vô tả, đến tuổi gác kiếm quy ẩn rồi mà vẫn còn phải dùng phản lực Mỹ, bởi một mối thù ở xa giải quyết chưa xong. Rồi thấy họ trao quẹt, trao thuốc cho nhau cùng đốt cùng phì phèo hút, lại có thể nghĩ họ là cặp vợ chồng Ðông Y Phúc Kiến, tới địa phương để kiểm tra một thần dược mọc giữa đám kỳ hoa, dị thảo trùng điệp của Vạn Hồ.

Và chuyến đi? Họ đi đâu? Xuống sa mạc phương nam tầm thù?”

CTHÐ: Phải là Nhà Văn Nhớn chân chính mới có thể viết những lời hùng, huyền đẹp như thế về một cặp vợ chồng người Việt như trăm ngàn cặp vợ chồng người Việt khác trong một phi cảng Mỹ.  Việc hai vị lão trượng hút thuốc thoải mái trong phi cảng Mỹ cho người đời sau biết trong những năm nhị vị đáp phi cơ Mỹ từ Minnesota về California, nước Mỹ chưa có chuyện Cấm Hút Thuốc Lá nơi công cộng.

Ðêm Thanksgiving 2013, nhớ và thương anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, tôi có mấy câu:

Cùng một tội, trong tù lận đận
Tù gập tù, biết mấy thương nhau.
Từ xa Bùi Phát bấy lâu
Chí Hòa lao ngục gối sầu hôm mai.

Thanksgiving 2013

Trang báo Hồn Việt. Những người trong ảnh: Ngọc Hoài Phương, Hoàng Hải Thủy, Hồng Dương, Lâm Tường Dũ. Cali. January 1995.

Trang báo Hồn Việt. Những người trong ảnh: Ngọc Hoài Phương, Hoàng Hải Thủy, Hồng Dương, Lâm Tường Dũ. Cali. January 1995.

Thanksgiving 2013. Ðêm. Tôi nhớ những người bạn đã làm ơn cho vợ chồng tôi từ năm 1954. Nhiều bạn. Trong số có hai bạn tôi viết lời Tạ Ân trong bài viết đêm nay.

Việc làm của hai bạn làm tôi xúc động. Năm 1974 nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận – hai nguồn tiền chính của tôi – bị chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Khánh đóng cửa. Tội “cấu kết với Nhà Ngô.” Ðời tôi và đời sống của vợ con tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó. Tôi thất nghiệp – tôi không có báo nào để làm với lương tháng – chu kỳ lá đa ca dao này kéo dài cả năm. Vợ chồng tôi về ở trong một căn nhà vách ván Xóm Chuồng Bò, đường Petrus Ký. truớc bến xe đò đi Ðà lạt. Một buổi chiều khoảng 5 giờ,  thấy có bóng người đến trước cửa, tôi ra đón. Hồng Dương và Linh Linh Ngọc đến, dắt theo đưá con trai thứ nhất của họ. Hồng Dương bảo tôi:

Hồng Dương trên xe lăn. Ảnh năm 2010.

Hồng Dương trên xe lăn. Ảnh năm 2010.

“Tôi đã nói để Chính Luận mời anh viết phơi-ơ-tông. Xong cả rồi. Mai anh có thể đến đưa bài.”

Trước khi Chính Luận ra số 1, Từ Chung đã mời tôi viết phơi-ơ-tông cho Chính Luận. Tòa báo đã chi cho tôi nguyên một tháng lương. Lúc ấy đời tôi đang tuột dốc, tôi gặp nhiều chuyện bê bối, tôi lãnh tiền mà không đưa bài. Từ Chung là bạn mày tao với tôi. Anh giận tôi. Tôi không thể nào vác mặt mốc đến gặp Từ Chung:

“Tao đói. Thu xếp cho tao viết truyện.”

Hồng Dương thương tôi không có việc làm. Trong một cuộc họp tòa soạn, anh  đề nghị tòa báo mời Hoàng Hải Thủy viết. Nhiều người ngần ngại. Người viết truyện H2T còn nổi tiếng vì cái tật đưa bài muộn, đưa bài thiếu, làm cho ban xếp chữ gặp nhiều phiền nhiễu. Hồng Dương bảo đảm lần này H2T sẽ viết đàng hoàng, không bê bối.

50 năm sau ngày chịu ân ấy, đêm nay, một đêm Tháng 11 năm 2013, tôi viết lời Tạ Ân Hồng Dương.

Nhưng nay dù tôi có nói một ngàn câu: “Hồng Dương ơi.. Cám ơn.” Hồng Dương cũng không nghe, không biết. Cách đây khoảng hai năm,Hồng Dương bị bại liệt. Nay người bạn trẻ hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi, vẫn sống nhưng không còn biết, không còn nhớ.

Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi đến Virginia. Tháng 12 cùng năm, Hồng Dương mời vợ chồng tôi sang thăm Cali. Bạn cho tôi có dịp gặp lại những người bạn cũ, bạn mới, những độc giả của tôi.

Lúc 9 giờ tối nay tìm trong bao giấy chứa những bài báo cũ, tôi tìm thấy bài viết của Hồng Dương. Bạn tôi viết bài này trong tháng January 1995. Như vậy, bài này có tuổi đời 18 năm. Bài đăng trên Nguyệt san Hồn Việt.

Hồng Dương, Cảm khái về một chút gì.. rất Hoàng Hải Thủy.

Ông Thủy thân mến,

Từ giữa năm 87 tới nay tôi không viết một trang nào; viết hiểu theo nghĩa viết văn, viết truyện. Tôi gần như quên mất nghề Viết. Như ông nói: “Hồng Dương tự đứng ra ngoài việc Viết.” Thật sự tôi cũng chưa bao giờ thấy tôi đứng ở trong. Hình như tôi chỉ thập thò cạnh chiếu văn nghệ.

Khi ông và bà Alice sang, gặp lại ông bà, tôi có nhiều xúc động. Không biết tôi có được quyền tự coi là thân với ông hay không, nhưng tôi có nhiều kỷ niệm với ông. Thời lên voi như lúc xuống chó. Khi ái tình được mùa như khi ái tình mất mùa. Không thể quên được.

Vì thế, khi gặp lại ông và bà Alice, tôi cảm thấy có một sức thổi nào đó khơi dậy trong tôi ý muốn viết. Hôm nay tôi viết về ông, bên ông là hình ảnh bà Alice.

Tôi nghĩ trên đời này tất cả những anh đàn ông dù thành công hay thành danh tới đâu cuộc đời hắn vẫn chưa đầy đủ nếu hắn không yêu, không ấp ủ được trọn đời hắn một người đàn bà được gọi là “vợ hiền.”

Nếu ông đồng ý với tôi như vậy thì ông không được chối ông là người đàn ông rất đàn ông, và ông là người đàn ông hạnh phúc nhất, sung sướng nhất cõi đời này. Dẫu rằng tôi biết ông còn nhiều thương tưởng về các con ông sống ở Sài Gòn, về những người thân và về những người bạn đồng nghiệp kém may mắn hơn chúng ta.

Chắc là ông không nhìn thấy những giọt nước mắt xúc động của tôi trong buổi sáng 24 tháng 12, 1994 khi chúng ta ngồi ở bàn ăn  cạnh bếp trong căn nhà ở Fountain Valley. Việc đầu tiên  bà Alice nhờ tôi làm là gửi ngay mấy trăm đô về trả nợ bà bạn của bà và cho ba đứa con của ông bà.

Bà Alice nói đây chỉ là trả nợ tiền, còn cái nợ tình nghĩa thì khó mà trả được. Bởi vì ba, bốn trăm đô-la là số tiền lớn ở Sài Gòn, vậy mà bà bạn quen ở cùng cư xá sốt sắng cho bà vay để trang trải nợ nần trước khi ông bà ra đi. Cho vay không biết đến bao giờ trả, cho vay không biết người vay có trả hay không. Cái Tình đó quả thật nặng, bà Alice nói rất đúng.

Còn ông thì tính ngay đến việc san sẻ chút tiền còm của ông về nước cho một số văn nghệ sĩ đang sống rất rách, rất khổ và tất nhiên là rất cần tiền, trong số có người mới vừa được ra khỏi tù. Có người văn nghệ bạn chúng ta ra tù về nhà thấy bà mẹ anh chết, con anh chết, vợ anh có chồng khác.

 Tôi có tật hay ngưỡng mộ những người biết nghĩ tới nỗi khổ của bạn. Nói huỵch toẹt ra đây là tôi ngưỡng mộ ông. Nên khi nghe ông nói đến việc gửi tiền về nước cho các bạn ta, tôi xúc động không cầm được nước mắt. Tôi tán thành ý muốn của ông là kiếm một số tiền gửi về cho anh em, tiền càng nhiều càng tốt. Tôi tiếp tay với ông, tôi tin rằng nhiều anh em ta ở xứ này cũng tiếp tay với ông.

o O o

Tôi nhớ lại một ngày trong Tháng Tư năm 1976, đang chạy Honda ngoài đường, tình cờ tôi nhìn thấy Minh Vồ ngồi ở băng sau cái xế cát-xăng-cát có tài xế lái, có hai người ngồi hai bên, chạy trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Thấy Minh trong xế hộp, tôi thầm nghĩ: “Thằng này giỏi thật. Ði xế hộp với Việt Cộng rồi.” Tôi trên xe hai bánh chạy bên xe Minh Vồ một quãng. Minh trông thấy tôi, anh đưa hai tay lên cho tôi thấy tay anh bị còng, bằng cách ấy anh cho tôi hay anh bị bắt.

Ông cho tôi thắp lên nén hương tưởng nhớ Minh Vồ, bạn ta, người đã bỏ cuộc chơi để phơi phới đi về miền miên viễn.

Tôi báo tin Minh Vồ bị bắt cho các bạn tôi gặp, cuộc báo tin theo lối dây chuyền chưa được mấy ngày thì tôi và nhiều anh em bị bắt như Minh Vồ. Chúng tôi bị còng tay đưa vào Phòng A, Phòng B của Nha Cảnh Sát của ta đường Trần Hưng Ðạo. Dường như anh Nguyễn Mạnh Côn, anh Hồ Văn Ðồng ngụ ở Phòng B. Phòng A chứa gần sáu mươi mạng. Chưa bao giờ Sài Gòn có cuộc đại hội văn nghệ sĩ-ký giả đông đến như thế.

Lão Ngoan Ðồng Hoàng Anh Tuấn ẩn cư trên Ðàlạt, Lão Quái Khách Lê Văn Vũ Bắc TiếnLão Ký giả Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh, Nhà báo hành tung huyền hoặc  Như Phong Lê Văn Tiến theo nhau đi vào phòng giam. Chỉ có vài người không có mặt, trong số có Mai Thảo và Hoàng Hải Thủy, tức Công Tử Hà Ðông, lại tức Gã Thâm, người tôi đang có vài lời cảm khái hôm nay.

Mai Thảo là dân xê-li-bạt-te không bị ràng buộc nợ thê nhi, sau Tháng Tư 75 lại hay phiêu bạt, không ngụ một chỗ, công an VC tìm chưa ra nên chưa bị bắt thì còn có lý, Hoàng Hải Thủy vợ con dầm dề, chỗ ở cố định, việc thộp cổ đâu có khó. Thế thì tại sao chưa thấy bạn ta vào khám họp đại hội quần hùng?

Sau này anh em mới vỡ nhẽ. Ðầu đuôi như sau:

Công Tư khi được tin Ngày N đã tới, bèn lấy cái túi vải nhét vào trong đó vài thứ lỉnh kỉnh như áo thung, sà-lỏn, bàn chải răng, kem đánh răng, cục sà-bông. Ðó là tất cà hành trang cậu chuẩn bị cho cuộc vào nhà tù. Buổi sáng cậu dậy sớm, đeo túi vải lên xe đạp đi lăng quăng kháp nơi. Ðến khi toàn bộ văn nghệ sĩ-ký giả bị bắt bị đưa về Nhà tù Số 4 Phan Ðăng Lưu vẫn không thấy có công tử. Anh em nghĩ lẩm cẩm rằng chắc công tử đẻ bọc điều lại có thánh nhân phù trợ nên bọn công an VC bỏ sót cậu. Giả thuyết khác cho rằng có thể vì thấy cậu chuẩn bị vào tù nên bọn công an chưa bắt cậu, chúng theo rõi cậu để tìm tông tích vài người chúng chưa bắt được.

Nghe nói khi thấy bạn hữu bị bắt hết mà mình thì bị lờ đi, Công Tử Hà Ðông đâm ra ức lòng, cậu ức vì cậu không được bị bắt như anh em, cậu nằm nhà sáng tác những bài ca dao mới, cậu làm thơ gửi ra nước ngoài.

Cuối cùng cậu bị bắt. Tù hai năm cậu được tha về Ngã Ba Ông Tạ. Những văn nghệ sĩ ở tù khi được thả đều được phát cái giấy gọi là  “lệnh tạm tha.” Ra tù đói rách, may cho cậu là cậu vẫn còn nàng Alice. Nàng trước kia trông như đầm, phây phây, da thịt nõn nà, nay nàng gầy đét, xanh mướt, những ngón tay xương xẩu, lòng bàn tay chai cứng. Nhưng đôi môi nàng vẫn thắm, trái tim nàng vẫn tươi mát tình yêu. Ðể trả lời câu hỏi của Công Tử từ hai chục năm về trước:

“Hoa lòng em có về tươi?
Môi em có thắm nửa đời vì anh?”

 Thắm tươi là cái chắc.

 Alice của Công Tử âm thầm, kiên nhẫn, cặm cụi, tỉ mỉ ngồi suốt từ sáng đến khuya làm những bông hoa giấy đem bán ở những nhà thờ, nàng nuôi con và nuôi chồng. Công Tử Hà Ðông sống như ông Tú Xương.

Không được viết, những ngón tay Công Tử ngứa ngáy, cậu mỗi ngày đạp xe từ Ngã Ba Ông Tạ sang Gia Ðịnh học vẽ. Thầy dậy cậu vẽ là họa sĩ Nguyễn Sơn; tất nhiên thầy truyền nghề không lấy tiền, nhưng bút vẽ, cọ, mực mầu cậu bị thiếu.

Trí nhớ của tôi về những tháng năm ấy rất cùn. Tôi chỉ nhớ vào đầu năm 1984 tôi và các con tôi đã có passport, đợi ngày lên phi cơ sang Mỹ, một buổi chiều Công Tử đến nhà tôi.

Trên đầu vẫn có cái mũ phớt. Gặp bữa cơm, cậu ngồi ăn rất thoải mái với bố con tôi. Hai con tôi cũng học vẽ, cậu hỏi xin hai con tôi mấy cây cọ, mấy hộp mực mầu. Sự nghiệp hội họa của cậu chưa ra đâu vào đầu thì bị cắt ngang.

Một tối, ông cụ thân chủ vượt biên của tôi, ngụ trong Cư Xá Tự Do, đến báo tin cho tôi:

“Này ông.. cái ông nhà văn, nhà báo bạn ông trong cư xá tôi bị bắt đêm qua rồi đấy.”

 Tôi cho con tôi đến cư xá hỏi tin người quen, nó về báo tôi:

“Bác Thủy đã bị bắt.”

Thế là bạn ta vô khám lần thứ hai. Tôi vừa thương bạn vừa sợ, nhưng bố con tôi đi thoát.

Lần bị vồ thứ hai này nó đưa Công Tử vô Nhà Tù Chí Hòa. Trong tù không có bút giấy Công Tử làm thơ nhẩm, đọc đi đọc lại cho thật nhớ. Sang Mỹ, cậu ghi xuống giấy những bài thơ  vịnh Kiều cậu làm trong tù, viết thêm lời bình và xuất bản tập Tại Ngục Vịnh Kiều.

Bây giờ cậu mợ đã sang tới đây với anh em. Cậu nói tại cặp giò của cậu mợ yếu nên lê lết gần 20 năm mới sang được xứ Mỹ.

Nhưng không sao. Tuy có chậm nhưng người đến muộn vẫn nhận được những nguồn tình nghĩa trong vắt của bạn hữu. Thế là đủ.

Cậu mợ đều đã trên sáu chục. Ở tuổi này cậu mợ đâu còn sống cho mình nhiều nữa, cậu mợ sống cho người khác nhiều hơn. Cậu mợ đã đau nỗi đau của người như nỗi đau của mình, cậu mợ đã khổ cái khổ của người, cậu mợ đã thấy dung nhan các bạn tàn phai như dung nhan của cậu mợ.

Cậu mợ biết thương các bạn. Xưa kia gặp cậu mợ tôi đã ngả nón chào. Nay gặp lại cậu mợ tôi kính cẩn cúi đầu.

Hồng Dương.

Cõi Sương Mù. Ðầu tháng, đầu năm 1995.

CTHÐ: Những năm 1981, 1982, ở Sài Gòn, Hồng Dương tổ chức vượt biên. Anh là người ký giả VNCH duy nhất tổ chức vượt biên. Người làm báo thứ hai tổ chức vượt biên là Nguyễn Ðức Nhuận, nhưng Nhuận làm trị sư báo, Nhuận không là ký giả đúng nghĩa. Nhà tổ chức Hồng Dương rất mát tay, có nhiều may mắn, không chuyến tầu nào do Hồng Dương cho đi bị mất tích ngoài biển. Hình như cũng không có chuyến nào khách đi bị bắt. Tuy nhiều người biết Hồng Dương tổ chức vượt biên – kể cả tên Công An Huỳnh Bá Thành cũng biết – Hồng Dương không bị bắt, cho đến ngày anh và hai con anh được Linh Linh Ngọc làm bảo lãnh gia đình sang Mỹ.

Người bạn tôi thứ hai tôi viết lời Tạ Ân đêm nay là Trịnh Viết Thành.

Năm 1965, Trịnh Viết Thành làm thư ký tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Khi anh rời báo Tiền Tuyến để sang làm trong tòa soạn tờ báo mới của các bạn anh, anh yêu cầu báo Tiền Tuyến mời tôi về thế chỗ anh. Nhờ Hồng Dương tôi được nhật báo Chính Luận mời viết tiểu thuyết, nhờ Trịnh Viết Thành tôi được làm thư ký tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Ðời tôi, sau chu kỳ đen như mõm chó, nhờ tình thương của hai người bạn, trở lại bình thường. Tất nhiên cuộc sống của tôi không còn phong độ như trước năm 1964.

Năm 1967, Alice và tôi xa nhau một thời gian. Một tối Thành đưa tôi đi ăn ở Nhà Hàng Chương Nam. Anh nói:

“Muốn ăn bouillabsse, chúng mày phải đến đây.”

Khi chia tay, Thành nói:

“Mày đừng có quá buồn. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình thường tám năm, mười năm, có một cái crise. Nếu vượt qua được, vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.”

Chỗ làm cuối cùng của Thành là thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường. Tôi nghe nói báo Quật Cường của ông Nguyễn Khắc Bình, ông Tổng giám đốc Cảnh sát-Công an cuối cùng của Quốc gia VNCH. Sau 1975, Thành ở trong số ký giả bị bắt tù nhiều năm. Năm 1988 Thành từ Trại Tù Khổ Sai Gia Trung- Gia Lai về Sài Gòn. Anh bị bệnh, qua đời ở Sài Gòn năm 1991.

Ði tù lần thứ hai về năm 1990, tôi tìm gặp Thành ngay. Tôi không bao giờ quên lời Thành nói:

“Mày đừng quá buồn..”

Năm 1991 lần thứ hai tôi từ nhà tù trở về mái nhà xưa, tôi được nhiều bạn tôi ở nước ngoài gửi tiền về giúp. Năm 1995 khi tôi đến Kỳ Hoa, các bạn tôi lại gửi tiền cho tôi. Tôi chia phần tiền các bạn cho tôi với các bạn tôi sống ở Sài Gòn.

ĐAO TO, BÚA LỚN

Tế Hanh và Chế Lan Viên

Tế Hanh và Chế Lan Viên

Lời Mẹ Dặn

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc:
- Con ơi! trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.
- Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Từ đấy người lớn hỏi tôi:
- Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
- Bé yêu những người chân thật.
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vờị
In lên vết son đỏ chóị
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Ðứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Ði trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Ðường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
(1957)

Bài thơ “Lời Mẹ Dặn” của Phùng Quán đến Sài Gòn, và đến với tôi, khoảng năm 1960, hay 1958, 1959. Thời gian qua đã 60 năm, hôm nay tôi không còn nhớ rõ năm tháng. Nhưng tôi nhớ rõ lòng cảm phục của tôi khi tôi đọc bài thơ: sao lại có người làm thơ Hay và Hùng đến thế! Bút giấy tôi ai cướp giật đi. Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá! Nhất đời. Thi sĩ xưa nay, thi sĩ ở khắp nơi trên trái đất, không có người thứ hai làm Thơ hào hùng đến như thế,

Năm tôi gặp bài thơ “Lời Mẹ Dặn,” tôi 27, 28 tuổi, tôi mới bước vào làng Văn, tôi kính phục Thi sĩ Phùng Quán quá cỡ. Trong 30 năm, từ 1960 đến 2000 tôi vẫn yên trí dù bị bọn Cộng Sản Bắc Cộng đầy đoạ, vùi dập, Nhà Thơ Bất Khuất Phùng Quán sẽ sáng tác những bài thơ nẩy lửa. Một ngày nào đó tôi sẽ được đọc những bài thơ mới của ông. Nhöõng baøi Thô thi só duøng dao vieát leân ñaù. Tôi đã thất vọng. Thơ Phùng Quán sau bài “Lời Mẹ Dặn” chỉ là những bài thơ tầm thường. Thường như cả ngàn bài thơ tầm thường cùng thời. Tôi xếp Phùng Quán vào loại người “đao to, búa lớn”: nói thì rất hùng, nhưng hành động không theo được lời nói.

o O o

Ba ngày sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn phản tướng bắn, đâm chết, trên 2 tờ nhật báo Ngôn Luận, Đồng Nai đăng bài Hiệu Triệu dưới đây:

Phùng Quán năm 1950.

Phùng Quán năm 1950.

HIỆU TRIỆU

Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ và giải phóng con người, vậy mà trong thời gian qua, vì cơm áo, vì khiếp nhược đớn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội Sự Thật, phản bội Dân Tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô. Dù chúng ta có viện bất cứ lý do nào để bào chữa, chúng ta không thể chối cãi tội lỗi của chúng ta đối với đồng bào, với lịch sử.

Quân Ðội đã đứng lên, làm nhiệm vụ của mình. Cơ hội duy nhất để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút, “phi cầm, phi thú’, cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm người, đã tới… Nếu sự tự thiêu của bảy tu sĩ — một hy sinh bi hùng nhất trong lịch sử tôn giáo và nhân loại – chưa làm chúng ta giác ngộ, thì quả chúng ta đã hết là người, không còn xứng đáng gặp gỡ vận hội của chúng ta nữa.

Cuộc cách mạng chỉ mới bắt đầu. Xương máu của quân đội, của đồng bào không thể bị bọn đầu cơ chính trị lợi dụng một lần nữa.

Hơn lúc nào hết, chúng ta phải “gạn đục, khơi trong”, đem hết tâm hồn, năng lực ra phụng sự cho chính nghĩa.

Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các bạn nghệ sĩ, bằng máu, nước mắt, mồ hôi, đem ngòi bút viết lại thiên lịch sử của dân tộc, mà trong chín năm qua, bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố.”

Ðại diện cho các nhà văn, nhà báo chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ.

CHU TỬ – HIẾU CHÂN – TỪ CHUNG

Hiệu triệu đăng trên Tạp chí Bách Khoa, số 165 ngày 15-11-1963.

Giang Anh, September 19, 2012. Trích “hoanghaithuy.com”:

Cả 3 ông viết lời Hiệu Triệu trên đây đều đã chết dưới tay cộng sản !

Cái gọi là “quân đội đứng lên làm lịch sử”, nay đã rõ chỉ là một cuộc phản loạn, rốt cục làm mất nước về tay cộng sản, khiến cho 3 ông ký giả tuyên ngơn hiệu triệu đều phải chết thảm về tay giặc.

Không biết có nên nói là người Việt quốc gia chúng ta ngây thơ dễ sợ !

CTHĐ: Tôi không biết trong 3 ông: Chu Tử, Hiếu Chân, Từ Chung ông nào viết bài Hiệu Triệu lời lời đao to, búa lớn trên đây, nhưng tôi biết chắc người viết không phải là ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Vì chỉ hai, ba ngày sau ngày Hiệu Triệu đăng trên báo, ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt lên tiếng nói rõ: ông không ký tên dưới bản Hiệu Triệu ấy. Như vậy người đọc thấy hai ông Chu Tử, Từ Chung đã “mượn danh” ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Bản Hiệu Triệu hào hùng trở thành không ra nàm thao cả.

Một, hai năm sau năm 1963, các ông ký giả Sài Gòn được dịp phóng bút chửi “ Nhà Ngô” thả dàn. Những người cầm quyền mới để mặc cho các ký giả chửi chế độ, miễn đó là chế độ cũ. Thừa thắng xông lên, các ông ký giả chửi vung vít cả những người cầm quyền chế độ gọi là  “cách mạng.” Từ năm 1966, 1967, tình trạng báo chí trở lại như trước 1963. Cung cách bịt miệng ký giả của những chính phủ quân  nhân tinh vi hơn, nhưng ác liệt hơn.

Hai ông Chu Tử, Từ Chung cay, đau, sượng mặt vì lời chối của ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Từ Chung nói với tôi:

“Hiếu Chân không khá. Chính tao đưa Hiệu Triệu cho ông ấy đọc..”

Từ ngày đó ông Chu Tử không nói đến cũng không nhìn mặt ông Hiếu Chân. Theo tôi tác giả Hiệu Triệu là ông Chu Tử.

Từ bản Hiệu Triệu Đao Búa Lớn này tôi có thành ngữ “ Phi cầm, phi thú.” Ngày hôm nay, một ngày Tháng 11 năm 2013, trên cõi đời này – dường như – chỉ còn tôi – CTHĐ – là người nhớ bản Hiệu Triệu Đao To Búa Lớn của hai ông Ký Giả Chu Tử, Từ Chung 58 năm xưa. Hai năm sau ngày đưa ra bản Hiệu Triệu đó trong cùng một ngày ông Chu Tử bị kẻ sát nhân rình trước cửa nhà ông, buổi sáng khi ông vào xe ô tô để đến toà soạn nhật báo Sống, bắn ông nhiều phát đạn, nhưng ông Chu Tử không chết. Buổi trưa cùng ngày kẻ sát nhân chờ ký giả Từ Chung ở cửa nhà ông khi ông từ toà báo Chính Luận về, bắn ông khi ông ra khỏi xe ô tô. Ký giả Từ Chung ngã xuống chết ngay. Màn bí ấn trùm lên hai vụ bắn này: không biết thế lực nào là thủ phạm.

Chưa bao giờ hai tiếng “Cách Mạng” bị lạm dụng, bị bôi bẩn như trong thời bọn Phản Tướng VNCH cầm quyền, và thời bọn Bắc Cộng vào chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

o O o

Lê Đạt: Người cộng sản chỉ đường cho trái đất quay.

Lê Đạt: Người cộng sản chỉ đường cho trái đất quay.

Chế Lan Viên và Thơ Phét Lác

Ta là ai ? Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
“Ta vì ai ?” khẽ xoay chiều gió bấc
Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.

Chế Lan Viên và Thơ Nâng Bi

Từ có Bác cuộc đời chợt sáng
Bát cơm no ngày tám tháng ba
Cơm thơm ăn với cá kho
Công đức Bác Hồ bản nhớ nghìn năm
Bác thương dân chăm ăn chăm mặc
Em đi chợ đồng bằng bán hạt sa nhân.
Tháng giêng thêu áo,may quần,
Tháng hai trảy hội mừa xuân hãy còn
Lớp bình dân cuối thôn em học
Người thêm khôn, đất mọc thêm hoa
Chim khôn chim múa,chim ca
Bản em có Bác như nhà có trăng
Muối lên rừng tay bưng tay đặt
Bộ đội Bác lên rừng công tác em thương,
Khi xưa lên núi không đường
Giờ anh lên núi bản Mường đợi anh
Ra vườn xanh hái nhành vải đỏ,
Xuống ruộng vàng gặt bó lúa hương
Ngày vui nấu bữa cơm thường
Thết anh cán bộ lên Mường giúp dân.

Chế Lan Viên Thơ Bánh Vẽ

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối đêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm…

CTHĐ: Chế Lan Viên là anh vừa giả trá vừa đê tiện. Tôi thấy Chế Lan Viên là anh văn nghệ sĩ hèn nhất trong bọn văn nghệ sĩ bị rọ mõm ở Hà Nội. Chính Y là tên trong nhiều năm từng ca tụng Bánh Vẽ hết lời, Y là thi sĩ nâng bi lãnh tụ Hồ chí minh chỉ dưới có Tố Hữu. Cũng chính Y  là tên đe doạ, mạt sát những ai dám gọi những hứa hẹn ấm no hạnh phúc của bọn Cộng Sản là Bánh Vẽ.

Lê Đạt Thơ Ngớ Ngẩn

Ai xui em đẹp em xinh
Ba lần con thiến gáy
Mùa xuân phăn phăn lòng đường
Em vừa mới tuổi
Tà áo bay sao bổi hổi trời
Bâng khuâng thời gian

Bá ngọ con ong bé cái lầm

Xuân chẳng buông hương
sao bướm vượt đường
Kìa hoa leo tường
là hoa dâm bụt

CTHĐ: Gà sống thiến không còn gáy được, và không còn đạp mái được.  Ba lần con thiến gáy? Bố khỉ! Gà sống thiến còn đạp mái, còn gáy vào cái khổ nào. Em nhỏ lên ba cũng biết hoa dâm bụt không phải là loài hoa có thể leo lên tường.

Và đây là Thơ Lê Đạt “đao to, búa lớn”:

Ðường cách mạng còn dài
Nhiều ngã ba, ngã bảy
Không chúng ta đứng đấy
Ai chỉ đường
Cho trái đất quay?…
Trái đất
Không chúng ta
Ngơ ngác trước mù loà
Chống gậy
bước đi loạng choạng

Trần Dần. Thơ Bẩn.

tôi thích những cái tòi
tòi tí quần lót thịt nịt ngù tí sẹo đèn hàn hạt
tí câu-đố-bé-tí chẳng hạn ji jíc phố sẹo mưa mùn phùn tí nữ bộ hành joạc đùi ươn ướt tí
tí tắc-xi tòi sẹo cửa kinh jạch
tí nữ điện thoại jọc vành tai tí mắt Mông cổ lai sẹo xếchx của nhìntí bồn tắm nữ tòi ra ngoài vòng tròn jờ

tôi thích thoả
1 ngoạ cắn 1 nắn mím 1 thím nách 1 jạch phím 1 jim núm 1 jụm sách 1 lạch joác 1 xoạc bóc
tôi thán phục cái miếng hết vắt ve lăn thăn jờ thuỷ tạ
tôi xin cư trú thơ ca jọc lọc thì jờ truồng-vệ-xinh-công-cộng-nữ
ôi bọt đặc hài nhi bàn ghế tủ
ôi jơ joạc sạchxxx 

Chùm
Con nữ tô tô giao cấu jăng nhọn chiếc capốt cao su zính thịt lăn thăn vút jẹo jọc ngày
giộb
hột
lựu

joe joét quả joi quả mận ngủ nịt jờ trên jus ngực jòng jòng
mùa hạ nữ

Trích trong “Trần Dần. Thơ.” Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 2007.

Tập Thơ Trần Dần 492 trang, toàn những bài Thơ Bẩn làm người đọc phát tởm. Chuyện làm tôi – CTHD – ngạc nhiên là Thơ Bẩn đến như vậy mà vẫn có những ông người Việt ở Cali làm Tượng Trần Dần.

Trong Thơ Bẩn Trần Dần có câu:

trong chúng ta vẫn còn những thằng ăn cắp
ta vẫn cần khoá trái cửa từng đêm.

Trích trong “ Trần Dần. Thơ. “ Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 2007.

Tập Thơ Trần Dần 492 trang, tòan những bài Thơ Bẩn làm người đọc phát tởm. Chuyện làm tôi – CTHD – ngạc nhiên là Thơ Bẩn đến như vậy mà vẫn có những người Việt ở Cali làm Tượng Trần Dần.

Trong Thơ Bẩn Trần Dần có câu:

trong chúng ta vẫn còn những thằng ăn cắp
ta vẫn cần khóa trái cửa từng đêm.

CTHĐ: “Khóa trái cửa” là khi ta đi khỏi phòng, ta ở ngòai phòng ta khoá cửa phòng. Người ở trong phòng không thể “khóa trái” được cửa phòng. Lỗi nhỏ, nhưng vẫn là lỗi.

Ông Ngoại Hà Đông

Căn nhà – bên phải ảnh – là nhà Ông Nghiêm Duy Ninh, ông Thị Trưởng thứ nhất của thành phố Hà Đông. Ảnh ghi năm 2000.

Căn nhà – bên phải ảnh – là nhà Ông Nghiêm Duy Ninh, ông Thị Trưởng thứ nhất của thành phố Hà Đông. Ảnh ghi năm 2000.

Ông bố tôi trọn đời không một lần đọc Truyện Kiều, cả làng quê tôi không một người đọc Truyện Kiều, cả làng tôi không có một quyển Truyện Kiều, không những cả làng tôi không nhà nào có quyển Truyện Kiều mà cả làng tôi không có lấy một quyển tiểu thuyết.

Vậy mà tôi mê đọc tiểu thuyết từ năm tôi mới biết đọc chữ, tức ngay từ năm tôi lên sáu, lên bẩy tuổi. Mười một, mười hai tuổi, tôi đã mơ mai sau tôi sẽ viết tiểu thuyết.

Tôi có ảnh hưởng năng khiếu văn nghệ từ bên ngoại chăng? Có thể lắm. Ông Ngoại tôi là ông Nghiêm Duy Ninh, từng là Tri Phủ, và là Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông, ông Thị Trưởng thứ nhất của thị xã. Hà Ðông từng là Ville de Hà Ðông. Những năm tôi 60 tuổi tôi théc méc về chuyện vì sao thành phố Hà Ðông hiền hòa của tôi lại có tên là Hà Ðông.

Théc méc vì nhiều tỉnh nằm quanh Hà Nội, huê mỹ là trong lưu vực sông Hồng, đều có tên đặt theo vị trí của tỉnh với kinh đô Hà Nội, tên xưa là Thăng Long. Tỉnh Sơn Tây ở phía Tây của Hà Nội nên có tên là Sơn Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang ở phái Bắc của Hà Nội nên được đặt tên là Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Ðịnh, Hà Nam ở phái Nam của Hà Nội nên có tên là Nam Ðịnh, Hà Nam. Những cái tên tỉnh đó gọi đúng, Nhưng tỉnh Hà Ðông không nằm ở phía Ðông của Hà Nội, nó nằm lửng lơ con cá vàng ở giữa phía Tây và phía Nam của Hà Nội. Hai tỉnh Hải Dương, Hải Phòng ở phía Ðông của Hà Nội, sao không có tỉnh nào tên là Hải Ðông? Tại sao Hà Ðông không ở phía Ðông của Hà Nội mà lại có tên là Hà Ðông?

Tòa nhà xây năm 1938 ở làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, Hà Đông. Ảnh năm 2000.

Tòa nhà xây năm 1938 ở làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, Hà Đông. Ảnh năm 2000.

Sau ngày 9 Tháng Ba năm 1945, Nhật làm binh biến đảo chính Pháp ở Ðông Dương, lần thứ nhất tôi nghe nói đến hai tiếng Ðộc Lập. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, tỉnh lỵ Hà Ðông trở thành thị xã. Ông Ngoại tôi được mời làm Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông.

Ông Ngoại tôi, ông Phủ Nghiêm Duy Ninh, chỉ làm Thị Trưởng Hà Ðông có 4 tháng, từ Tháng Tư năm 1945 đến Tháng Tám năm 1945, khi Việt Minh làm cái gọi là cuộc Khởi Nghĩa Ngày 19 Tháng Tám cướp chính quyền. Bốn tháng xưa ấy là bốn tháng thật đẹp trong đời tôi. Tòa Thị Chính Hà Ðông mới được xây, mới tinh, có phòng tắm hai vòi bông sen nước máy. Mùa hè, tối nào tôi cũng theo hai cậu tôi đến Tòa Thị Chính tắm vòi nước bông sen đã đời.

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tại chức có 4 tháng ngắn ngủi, từ Tháng Tư năm 1945 đến Tháng Tám cùng năm, nhưng đã làm được việc đem một số gạo từ miền Nam ra Bắc cứu đói. Năm ấy, năm 1945, đường xe lửa, cầu đường, huê mỹ là xuyên Việt, nôm na là từ Nam ra Bắc, bị phi cơ Ðồng Minh, gọi đúng là phi cơ Mỹ, đánh bom tan nát, nhiều chỗ xe hỏa không qua được, phải làm cái gọi là “tăng-bo”, tức transport, hành khách, hàng hóa phải xuống tầu, đi bộ qua một đoạn đường vài cây số bị đánh bom, hay qua cây cầu bị trúng bom, gẫy, đổ., lên chiếc tầu đón ở doạn đường bên kia, di tiếp.  Vì đường đi khó khăn như thế số gạo chở bằng tầu hỏa từ trong Nam phải nhiều ngày mới đến được xứ Bắc. Những thuyền chở gạo lớn đi ven biển chỉ đi được ban đem, ban ngày sợ bị máy bay  đánh đắm.

Lần đầu trong đời tôi nghe nói đến “gạo bông”, tức gạo phải mua, gạo được bán bằng phiếu, hay bằng sổ – chỉ những người được cấp sổ mua gạo mới được mua gạo bông – số gạo được bán theo số người trong sổ. Các ông Trưởng Khu Phố làm danh sách dân trong khu, gửi đến Tòa Thị Chính làm bông mua gạo, các cậu tôi, cả tôi, được dùng trong việc làm bông. “Bông” theo tiếng “Bon pour” của người Pháp.

Ông Ngoại tôi hít tô phê. Nghe mẹ tôi nói ông tôi chơi thuốc phiện và nghiện ngay từ thời ông học ở Trường Hậu Bổ. Cậu tôi kể, cùng học một khóa học với ông tôi là ông Ðặng Vũ Hành, ông này sau làm Bố Chánh, trong khi ông Ngoại tôi ra tri huyện, về tri phủ; ông Hiệu trưởng người Pháp, khi kết thúc khóa học, viết trong bản nhận xét về các học viên:

- Le plus laborieux est Ðặng Vũ Hành, mais le plus intelligent  est Nghiêm Duy Ninh.

Người chăm chỉ nhất là Ðặng Vũ Hành, nhưng người thông minh nhất là Nghiêm Duy Ninh.

Năm 1946, mấy ông chú, ông cậu tôi đến nhà đánh chắn cho ông tôi đỡ buồn. Tôi giữ chân chia bài. Có ông anh tôi từ Hà Nội vào cũng ngồi đánh chắn.

Ông anh tôi bận bộ complet mới may. Một ông cậu tôi khen:

- Bộ com-lê của anh hàng đẹp quá nhỉ.

Ông anh tôi nói:

- Thứ hàng này nó hay lắm ạ. Mình mặc nó, có ngồi bị nhầu hay có nếp, mình đứng lên đi đi, lại lại một lúc nó lại thẳng ra.

Ông Ngoại tôi nói:

- Thành ra nếu có ai hỏi mình… Sao ông không ngồi yên mà ông cứ đi đi, lại lại như thế? Mình nói:

- Ấy… tôi phải đi đi, lại lại để cho bộ quần áo của tôi thẳng ra!

Tôi mới 13 tuổi, nhưng tôi đã thấy ông Ngoại tôi rất có duyên, rất nhanh trí khi nói câu đó. Mấy lần giỗ ông tôi những năm 1970, 1971, tôi nhắc lại chuyện ông Ngoại tôi nói về bộ com-lê của anh tôi năm xưa, có lần mẹ tôi nói:

- Sao lần giỗ nào, anh cũng kể lại chuyện ấy?

Tôi nói:

- Con kể lại vì con thấy chuyện ấy rất hay. Ông Ngoại con phải thông minh và có duyên lắm mới nói được một câu hay như thế. Phải thông minh lắm mới nói trêu được người ta mà người bị trêu không nổi giận được.

Nhà ông Ngoại tôi cũng ở trong thị xã Hà Ðông, cùng phố với nhà tôi, Phố Bóp Kèn, tên Tây là Boulevard de la République, hai nhà cách nhau chừng nửa cây số. Nhà ông Ngoại tôi ở ngã tư đường vào Nhà Thương Hà Ðông. Trong thời gian ông tôi làm Thị Trưởng, một buổi chiều khoảng 4, 5 giờ tôi đang đứng chơi léng phéng trước cửa nhà ông tôi, tôi thấy ông Sĩ Quan Nhật đi tới. Ông này là vị chỉ huy Lực Lượng Quân Nhật đóng trong tỉnh Hà Ðông, ông ở trong tòa nhà đẹp, lớn nhất tỉnh, tòa nhà trước là tư dinh của Công Sứ Pháp. Thấy ông đeo kiếm, đi bộ, từ phía dinh ông đến, tôi nghĩ rất có thể ông đến thăm ông tôi. Mà lúc ấy ông tôi đang nằm hút thuốc phiện trên lầu. Phúc đáo tâm linh, tôi chạy lên gác, nói với ông tôi:

- Ông ơi. Ông Sĩ quan Nhật ông ấy đến. Con sợ ông ấy đến thăm ông.

Phòng khách của ông Ngoại tôi có bộ sa-lông Tầu, giường ngủ và cũng là nơi bầy bàn đèn của ông tôi ở ngay bên bộ sa-lông Tầu. Lúc ấy, bà trẻ của tôi, vợ ba của ông tôi, bà bằng tuổi mẹ tôi, đang nằm tiêm thuốc, ông tôi đang hút. Nếu vào nhà thăm ông tôi, ông Sĩ Quan Nhật sẽ lên đây, ông ta sẽ thấy ông Ngoại tôi, ông Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông, đang nằm làm cuộc… Phi Yến Thu Lâm, nôm na là đang hít tô phe, nôm na hơn nữa là đang hút thuốc phiện!

Thấy tôi chạy lên báo, bà Ngoại tôi nhổm dậy, thổi tắt ngay ngọn đèn, bà bưng cả khay đèn cho xuống gầm giường, lấy mền phủ lên, tôi chạy xuống cửa nhà.

Ông Sĩ Quan Nhật đến thăm ông tôi thật. Tôi cúi chào ông, nói mấy câu chào bằng tiếng Nhật tôi mới học được. Tôi ra hiệu ông đứng lại để tôi vào nhà báo với ông tôi. Khi ông Nhật lên đến phòng khách, ông tôi đã bận áo dài ra chào. Hai vị nói chuyện với nhau bằng cách viết chữ Hán, trò này gọi là bút đàm.

Năm 1949, khi tôi sống trong Trường Huấn Luyện Tình Báo ở Ðại Từ, Thái Nguyên, trong một số báo Cứu Quốc tôi thấy đăng bài thơ của ông Ngoại tôi. Thơ ông Ngoại tôi được Giải Nhì Cuộc Thi Thơ Kháng Chiến của báo Cứu Quốc.

Năm 1976, tôi gặp bà Dì tôi, bà từ Hà Nội vào Sài Gịn, bà là con bà Ngoại Ba của tôi, sinh cùng năm với tôi. Dì tôi đi kháng chiến như tôi. Năm 1950, Dì tôi cũng trở về Hà Nội như tôi, nhưng bà khác tôi ở chỗ sống hai năm ở Hà Nội, bà lại trở ra vùng kháng chiến, còn tôi, tôi vào Sài Gòn, tôi đi làm báo ở Sài Gòn. Năm 1954, bà Dì tôi kết hôn với một Thương Binh Trận Ðiện Biên.

Sau năm 1954, bọn Ủy Viên Tỉnh Bộ Việt Minh ở Hà Ðông in một quyển sách về lịch sử tỉnh Hà Ðông, trong đó dường như chúng có mạt sát ông tôi về tội ông tôi có thời làm Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông. Bà Dì tôi kể chuyện ấy cho tôi nghe, bà nói:

- Ông Ngoại anh làm gì nên tội? Chỉ cần Ông phạm cái lỗi nhỏ như cái móng tay, chúng nó cũng làm to như quả đấm. Nhưng chúng nó có kể ra được tội gì của Ông đâu. Sẽ có ngày Dì chửi chúng nó. Chúng nó viết, …Tên Nghiêm Duy Ninh.. Tên Nghiêm Duy Ninh…

Dì tôi đọc cho tôi chép bài Thơ Kháng Chiến ông Ngoại tôi làm năm xưa, bà nói lẽ ra Thơ ông Ngoại tôi Giải Nhất, nhưng bọn báo Cứu Quốc không muốn thấy Giải Nhất Thơ tờ báo của chúng về tay một ông cựu quan lại nên chúng để Thơ ông Ngoại tôi Giải Nhì, nhưng cuộc Thi Thơ ấy cũng không có Giải Nhất. Rất tiếc khi bánh xe lãng tử sang Hoa Kỳ, tôi đã bỏ mất bài Thơ của ông Ngoại tôi. Dì tôi còn đọc bài Thơ ông Ngoại tôi làm ở làng quê, khi con chó vện của nhà bị người ta bắt mất. Tôi chỉ nhớ được có 3 câu:

Thương thay con Vện nhà ta
Vừa ra khỏi cổng, thế là mất ngay…

… …  …

Thôi thì cổ buộc, chẳng thà hồn bay…!

Năm 1945, tên Ðỗ Mười là Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Ðông. Vì sự ngu ngốc của Ðỗ Mười – Y tổ chức cuộc cướp chính quyền ở Hà Ðông, đưa dân biểu tình vào Trại Lính Khố Xanh đòi Quản Dưỡng, người chỉ huy trại lính, đầu hàng, nộp súng, bị Quản Dưỡng ra lệnh bắn, nhiều người dân Hà Ðông bị chết. Sẽ có một chương tôi viết về Ðỗ Mười và Quản Dưỡng.

Quê ngoại tôi là làng Hòa Xá, Phủ Ứng Hòa, hay Phủ Vân Ðình, tôi không nhớ đúng, tỉnh Hà Ðông. Ði trên đê Sông Ðáy từ phủ Vân Ðình vào Chùa Hương, làng Hòa Xá nằm bên phải, trong lòng sông. Tôi chỉ được về quê ngoại hai hay ba lần thời tôi nhỏ tuổi nên tôi không ghi nhớ được gì nhiều về quê ngoại. Ông Ngoại tôi có một trại trồng mía, nhãn, vải, trại có nhà ép mía nấu mật. Nhà của ông Ngoại tôi trong làng là nhà lầu, lớn, đẹp. Sau năm 1954, bọn cộng sản lấy nhà của ông tôi, dùng làm Nhà Khách, nơi nghỉ của bọn khách cái khối gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa khi chúng đến tham quan. Chúng lấy nhà, cũng được đi, nhưng chúng cu-li ở việc nhà ông tôi có hàng số xi-măng ghi năm 1938 là năm xây nhà, chúng đập hàng số 1938, chúng thay vào đó hàng số 1956, ra cái điều là sau năm 1954 chúng xây nên tòa nhà đó.

Nói về tòa nhà của ông Ngoại tôi, Mẹ tôi ngậm ngùi:

- Ông làm nhà lớn quá, nền nhà cao hơn nền đình. Ngay khi nhà làm xong, người ta đã nói là không khá được.

Năm 1947, quân Pháp mở cuộc hành quân qua vùng làng quê ngoại tôi. Khi ấy, nếu ông Ngoại tôi ở trong tòa nhà trong làng, có thể đã không có gì bất hạnh xẩy ra, nhưng đúng vào hôm quân Pháp bất ngờ ập đến, ông Ngoại tôi ở trong căn nhà ở Trại Vải. Ông Ngoại tôi cho đào hầm trong Trại. Có thể ông Ngoại tôi cho rằng nếu Tây nó đến, nó sẽ vào làng chứ nó không vào trại. Năm ấy, chưa người Việt nào ở Bắc Kỳ có kinh nghiệm về việc đào hầm bí mật, ai đời đào hầm trốn Tây mà lù lù như hầm tránh bom máy bay Mỹ. Bọn lính Tây ném tạc đạn xuống hầm, ông Ngoại tôi, và hai bà Ngoại tôi, Bà Hai, Bà Ba, cùng chết trong hầm.

Ông Ngoại tôi hiếm con trai, bà Ngoại tôi sinh liền ba người con gái, Mẹ tôi là con đầu lòng, bà Ngoại Hai của tôi là em ruột bà Ngoại tôi. Khi tôi 6, 7 tuổi, bà Ngoại tôi đã mất, tôi được gặp bà Ngoại Hai của tôi mấy lần, bà hiền thật là hiền, bà sống ở làng quê, bà cũng lại sinh ra Dì tôi. Thế là hai bà, bốn cô con gái, khi ông Ngoại tôi nạp Bà Ba ông mới có cậu tôi.

Bà Dì của tôi, Dì Lan, con của bà Ngoại Hai của tôi, những năm còn là con gái ở Hà Ðông, có làm thơ, viết văn. Tôi nghe Mẹ tôi kể thơ, văn của Dì tôi được báo ở Hà Nội đăng. Một hôm, có mấy ông nhà báo Hà Nội vào Hà Ðông, đến nhà ông Ngoại tôi để gặp người viết bút hiệu là Sơn Ca, Dì tôi nói Sơn Ca là chị tôi, chị tôi đi vắng.

Những năm 1941, 1942 xẩy ra vụ Dì Lan, bà Thi sĩ Sơn Ca, không biết vì chuyện gì, bỏ nhà vào chùa tu. Ðược tin Dì tôi ở trong một ngôi chùa gần Hà Nội, ông Ngoại tôi nhờ ông Bố tôi đến chùa đón Dì tôi về. Rồi Dì tôi lập gia đình, sống bình yên như mọi người. Chuyện Dì tôi đi tu xẩy ra khi tôi còn nhỏ quá, tôi không được biết gì nhiều.

Quê ngoại tôi, làng Hòa Xá, cũng là làng quê của bà Nữ Sĩ Thụy An, người bị bọn Cộng Sản Hà Nội vu là làm gián điệp cho Pháp, chúng bỏ tù bà 15 năm, bà có họ với Mẹ tôi, bà là vai em Mẹ tôi.

Bàn đèn thuốc phiện đầu tiên, tôi thấy trong đời, là bàn đèn của ông Ngoại tôi. Người nằm bàn đèn hút thuốc phiện thứ nhất tôi thấy trong đời, là ông Ngoại tôi. Trong số cháu nội, cháu ngoại của Ông tôi chỉ có tôi là tên làm văn nghệ, văn gừng và là đệ tử của Cô Ba Phù Dung, nôm na và huỵch tẹt là trong số các cháu của ông tôi chỉ có tôi mần thơ, viết truyện, làm báo và hít tô phe. Những năm tôi 40, 50 tuổi, trong những lúc nhớ ông Ngoại tôi và những ngày sống trong thị xã Hà Ðông hiền hòa, êm đềm, đôi khi tôi nghĩ nếu ông tôi còn sống khi tôi là Hoàng Hải Thủy, khi tôi viết truyện, viết phóng sự vung vít ở Sài Gòn, tôi sẽ được nằm bàn đèn với ông tôi, hai ông cháu vừa đong vừa nói chuyện văn nghệ, văn gừng, chắc ông tôi vui, chắc ông hài lòng vì ông có anh cháu thơ văn giống ông.

Ông Ngoại tôi ra tri huyện, về hưu tri phủ. Tôi nghe mẹ tôi nói ông tôi bị điểm xấu trong Sổ Đen của Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền Pháp. Ông cậu tôi kể chuyện: Năm ông ngoại tôi ngồi tri huyện ở một huyện miên Bắc, có nhân viên Sở Cadastre đến huyện đo đạc lại đất huyện. Nhân viên này người Pháp. Ông ta ở lại huyện vài ngày. Quan Huyện lo cho ông công chức Pháp một chỗ ở riêng, cho một chú lính lệ hầu hạ. Ông Tây này có cái tật gọi là đồng tính luyến ái. Những năm 1970 dân Sài gọi những người bệnh này là Bê Đê – theo tiếng Pédéraste – nửa đêm ông Tây đè chú lính lệ xuống. Chú lính sợ quá kêu toáng lên. Tưởng có cướp, quan huyện cũng phải chạy tới.

Chuyện chỉ có thế. Không có gì quan trọng lắm. Nhưng một nhật báo ở Hà Nội đăng chuyện đó trong mục chuyện phiếm, chuyện khôi hài. Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền nghi ông Tri Huyện sở tại là người kể chuyện đó với phóng viên nhà báo. Ông Huyện sở tại – ông Ngoại tôi – bị cho note xấu. Do đó, ông tôi ra làm việc là tri huyện, về hưu là tri phủ.

NỤ TẦM THANH 2013

Được tin Thái Thanh bị bệnh Quên, tôi đăng bài viết này về Nàng.

Trích “Lời Tác Giả” Phóng Sự Tiểu Thuyết YÊU NHAU BẰNG MỒM:

ttTôi viết  “Yêu nhau Bằng Mồm” để đăng báo tuần năm 1960. Ðến Tháng Bẩy năm 1970, mười năm sau ngày Kiều Ly – nhan vật chính trong Yêu Nhau Bằng Mồm –  xuất hiện trên báo, tôi ngồi sửa lại Yêu Nhau Bằng Mồm để đưa cho Nhà Chiêu Dương xuất bản thành quyển sách này. Buổi sáng mùa thu, tôi ngồi một mình trong căn phòng nhỏ của tôi và Alice; sau lưng tôi là chiếc Akai xoay đều một băng nhạc do Phạm Mạnh Cương thực hiện.

Ðến một phút nào đó tôi ngừng tay trên bản thảo vì tiếng hát của Thái Thanh. Nàng hát bài Mùa Thu Trong Mắt Em của Phạm Mạnh Cương. Tôi xúc động vì tiếng hát và tôi chợt nhớ  từ lâu rồi, từ rất nhiều năm nay, tiếng hát Thái Thanh đã làm tôi nhiều lần xúc động; tôi yêu đời, yêu người nhiều hơn, đời tôi sung sướng hơn, đẹp hơn, một phần chính là nhờ sự hỗ trợ, sự ca tụng Tình Yêu của Tiếng Hát Thái Thanh.

TÌNH YÊU viết Hoa Bẩy Chữ, Hoa luơn Dấu Huyền, Dấu Mũ.

Tôi  nhớ lại một buổi sáng cách buổi sáng hôm nay đã gần hai mươi năm. Ðó là một buổi sáng năm 1952. Buổi sáng đó tôi là một thanh niên vừa hai mươi tuổi, những bước chân tôi đang bỡ ngỡ bước vào đường đời; tôi vừa từ Hà Nội vào Sài Gòn và tôi đang đi tìm việc trong những toà báo ở Sài Gòn. Với tôi năm ấy một chân phóng viên báo chí với số lương tháng hai ngàn đồng bạc là một cái gì thật là lý tưởng và quí báu nhất đời. Buổi sáng ấy tôi đứng trên con tầu điện từ Chợ Lớn chạy về Sài Gòn, và tôi thấy Thái Thanh cùng đi trên con tầu điện ấy.

Năm 1952, gần hai mươi năm trước đây, Thái Thanh và tôi cùng hãy còn rất trẻ; chúng tôi đang cùng bước vào con đường văn nghệ, nàng ca hát, tôi viết truyện, làm thơ. Năm ấy tôi chưa có chút tiếng tăm nào, Thái Thanh và Ban Thăng Long đã bắt đầu nổi tiếng. Và năm đó Sài Gịn còn có đường xe điện chạy từ Sài Gòn vào Chợ Lớn trên đường Galliéni, nay là đường Trần Hưng Ðạo.

Và như thế là cho đến sáng hôm nay, khi tôi ngồi sửa truyện và nghe Thái Thanh hát qua băng nhựa, thời gian đã hai mươi năm trôi qua. Tôi thấy Nữ ca sĩ Thái Thanh, với tiếng hát không có dĩ vãng của nàng, đã làm cho đời tôi đẹp hơn, phong phú hơn là tôi với những truyện ngắn, truyện dài của tôi làm cho đời nàng thêm đẹp. Vậy để trả ơn nàng, tôi trang trọng đề tặng nàng tập truyện này. Bạn đọc thông minh chắc thừa hiểu  nữ nhân vật Kiều Ly của phóng sự tiểu thuyết này không phải là hình ảnh của Thái Thanh; tôi chỉ cần nói thêm rằng những đoạn nào tả chân về Kiều Ly là tả Kiều Ly, còn những đoạn nào tả thơm, tả sạch về Kiều Ly thì Kiều Ly đó có phảng phất hình ảnh Thái Thanh vậy.

Ngày Một Tháng Chín 1970

Thời gian vỗ cánh bay như quạ.. Thơ Ông Tchya Ðái Ðức Tuấn. Ðây là nguyên thơ bốn câu của ông tôi tìm được trong Hồi Ký” Nhớ Nơi Kỳ Ngộ” của ông Lãng Nhân:

Thì giờ vỗ cánh bay như quạ
Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi
Rượu đến, gà kêu, cô cuốn chiếu
Quay về, còn lại mảnh tình tôi…

Tôi chỉ đổi tiếng “thì giờ” thành “thời gian..”

Ðúng là thời gian vỗ cánh bay như quạ. Năm 1970 tôi ngồi trong căn gác nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, nghe tiếng hát Thái Thanh, viết những giòng trên đây làm lời nói đầu tập phóng sự tiểu thuyết Yêu Nhau Bằng Mồm của tôi. Tôi đăng Yêu Nhau Bằng Mồm từng kỳ trên tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong. Truyện viết xong được Nhà Xuất Bản Chiêu Dương ấn hành thành sách. Năm 1970 tôi nhớ hình ảnh của Thái Thanh trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn hai mươi năm trước – năm 1952, năm ấy hai chúng tôi còn rất trẻ…

Thế rồi… thời gian vỗ cánh bay như quạ.. năm nay, năm 2000, buổi sáng Tháng Mười, mùa thu lại về trên đồng đất Virginia của người Mỹ, tôi ở Rừng Phong,  viết lại bài tôi đã viết năm 1970 – ba mươi năm trước – bài tôi viết về Thái Thanh, người nữ ca sĩ của vợ chồng tôi, tôi lại tưởng như tôi nhìn thấy tôi ba mươi năm trước ngồi viết về Tiếng Hát Thái Thanh trong căn gác nhỏ của vợ chồng tôi ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn; năm 1970 ấy tôi mới bốn mươi tuổi. Tính ra thời gian đã qua năm mươi năm kể từ buổi sáng tôi nhìn thấy Thái Thanh – hai mươi tuổi  bận toàn đồ trắng trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn.

Nếu còn ở Sài Gòn tôi sẽ chẳng bao giờ được thấy lại, được đọc lại Yêu Nhau Bằng Mồm. Sau cuộc biến thiên 30 Tháng Tư 75 ở Sài Gòn tất cả những sách tiểu thuyết của chúng tôi đều bị tịch thu, cấm tàng trữ, chúng tôi mất hết tác phẩm, ở Hoa Kỳ người ta in lại nhiều sách truyện của những văn sĩ Sài Gòn, trong số sách được in lại có quyển Yêu Nhau Bằng Mồm của tôi. Bánh xe lãng tử sang Hoa Kỳ tôi lại có quyển Yêu Nhau Bằng Mồm; nhờ vậy hôm nay tôi mới có điều kiện  và cảm hứng để viết bài này.

Alice và tôi có hai ca sĩ Thái Thanh và Anh Ngọc, với vợ chồng tôi Thái Thanh và Anh Ngọc là nhất. Có lần, cũng những năm 1970, tôi đã viết:

Tôi quen mở máy nhạc khi ngồi viết, vừa viết vừa nghe nhạc. Nhưng khi tiếng hát Thái Thanh cất lên, tôi phải ngừng viết để nghe. Tôi vẫn nghĩ khi Thái Thanh hát mà tôi làm bất cứ việc gì là tôi có lỗi.

30 Tháng Tư 75 đến, số văn nghệ sĩ may mắn bỏ của chạy lấy người được lơ thơ như lá mùa thu, số văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở lại đông vô số kể, những ngày tháng đen tối, u sầu, lo âu kéo dài như vô tận. Một đêm cuối năm 1976 tôi  gặp lại Thái Thanh. Ðêm ấy  có Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn. Vi-la lớn số 203 đường Hiền Vương, gia chủ mời chúng tôi ăn bữa tối. Khoảng 11 giờ đêm Thái Thanh ngồi vào piano, nàng vừa đàn, vừa hát. Thấy tôi đến bên đàn, nàng mỉm cười nhìn tôi. Tôi hiểu nàng hỏi tôi: “Muốn nghe bài gì?” Tôi nói:

– Thôi thì thôi nhé..

Nàng nhắc lại:

– Thôi thì thôi nhé..

Và nàng hát cho tôi bài Ðộng Hoa Vàng, Thơ Phạm Thiên Thư, Nhạc Phạm Duy. Tôi lặng người nghe nàng hát cho riêng tôi nghe. Sau đó tôi làm bài thơ:

TIẾNG HÁT THANH

Tiếng mẹ ru từ thưở nằm nôi,
Mẹ thôi Mẹ không hát nữa, Khi Anh chân bước vào đời.
Tiếng hát Mẹ nằm trong ký ức
Tung cánh bay khi Em hát cho người!
Ngày xưa xa lắm ở bên trời
Có người xưa hát lúc đi rồi
Mười hôm tiếng hát còn vương vấn
Trên mái nhà xưa âm chửa rơi.
Tiếng hát Em tim Anh nức nở
Hai chục năm rồi thanh chửa thôi!

Em hát khi Anh vừa bỏ học,
Em hát khi Anh sắp bỏ đời.
Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc,
Em hát khi Anh giấc ngủ vùi,
E
m hát khi Anh chưa biết khóc,
Em hát khi Anh biết mỉm cười.
Em hát tan vàng, ca nát đá.
Em hát cho Anh biết ngậm ngùi.

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi.
Ðêm tàn Em hát, buồn ơi lá sầu.
Ðộng Hoa Vàng có tên nhau,
Thương thì thương nhé, qua cầu gió bay.
Tiếng Em buồn cuối sông này,
Mây đầu sông thẫm bóng ngày khóc nhau.

o O o

Khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1984 người Sàigòn  báo cho nhau có người nghe được tiếng nói của đài phát thanh kháng chiến. Nghe nói những người ở Nha Trang đầu tiên vô tình mở radio bắt được đài này. Tháng Tư năm ấy tôi nghe được tiếng nói của Ðài Phát Thanh Hoàng Cơ Minh, phát thanh năm lần một ngày, mỗi lần lâu một giờ. Nhạc của đài là bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông, tiếp đó là Thái Thanh hát bài Quê Em – Quê Em miền trung du. Ðồng quê lúa xanh rờn. Giặc tràn lên cướp phá. Anh về quê cũ. Ði diệt thù giữ quê. Giặc tan đón Em về.. – Ðêm khuya, khoảng 11 giờ, tiếng Thái Thanh hát Quê Em từ đâu xa lắm vọng về làm Alice và tôi ngây ngất. Nghe tiếng Thái Thanh từ radio phát ra tôi nghĩ:

– Thật lạ kỳ. Giả chân, chân giả. Ðây là tiếng hát Thái Thanh – không ai có thể nói đây không phải là tiếng Thái Thanh – nhưng cũng có thể nói không phải tiếng Thái Thanh vì lúc ấy Thái Thanh đâu có hát. Thái Thanh đang ở Sàigòn. Nghe tiếng hát của mình từ góc trời nào vọng lại, không biết Thái Thanh có cảm nghĩ gì.

o O o

Ðã phải sống đến năm năm trong ba bức tường, một hàng song sắt của nhà tù lớn Chí Hòa, tôi cô đơn, tôi sầu buồn nên tôi làm thơ. Thơ vẩn, thơ vơ thôi. Năm 2000 , thế hệ lão liệt chúng tôi đã và đang dắt nhau đi vào quên lãng. Thời gian tới biết có ai còn xúc động vì tiếng hát Thái Thanh, vì nhạc Phạm Duy, Hoài Bắc, Ðoàn Chuẩn? Tôi viết bài này để hoài niệm nhau lúc chúng tôi còn sống; tôi viết nhớ người mà cũng là  nhớ những ngày hoa niên, những ngày trung niên của đời tôi:

NỤ TẦM THANH

Tóc mai sợi vắn, sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài tình nhân.
Tiếng Em trời đất vang ngân
Âm vàng, thanh ngọc bội phần xót sa.

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
Nhớ nhau gọi một chút này
Mất nhau ta tiếc những ngày có nhau.
Nửa hồn thương, nửa hồn đau,
Nửa hồn ta tím ngắt mầu thời gian.
Nghìn trùng xa cách quan san
Biết Em chớp biển, mưa ngàn ở đâu.
Hạc vàng bay mất từ lâu
Mà sao hoàng hạc trên lầu còn thanh.

Lan huệ sầu ai..
Lan huệ sầu thành…
Quê Em tiếng hát em xanh đất trời.
Từ ly người đã xa người
Còn đây tiếng hát một đời xôn xao.
Ta đốt lên một cành hương dạ thảo
Em biết cho… Tình Ta vẫn nhớ Người.
Thăng Long từ độ Thanh hồng hảo.
Tình khúc, thương ca động đất trời.
Tà áo xanh ngời hương mộng ảo,
Hồ điệp, Trang Châu hát giữa đời.
Người đi mùa ấy thu giông bão,
Tà áo Văn Quân mấy khóc cười.
Mái nhà xưa nhớ trăng thu thảo,
Viễn xứ thuyền đi, biển nhớ lời.
Người đi vắng một trời châu bảo,
Vượn hú, chim kêu, nước ngậm ngùi.
Lâu đài tình ái sương dăng ảo
Ðồi tím hoa sim gió ạ…ời…

À… ơi.. ơi.. à …ơi…

Ngày ấy có Thanh, Thanh nhẹ vào đời
Và Thanh ca đến với lời thơ nuối.
Ngày ấy có Tôi mê mải tìm lời..
Và Thanh… Thanh..s uốt một đời…
Tình ơi..!
Nhớ người mười tám, đôi mươi,
Cỏ hồng, chiều tím, xanh trời, Người đi.
Chúng mình ngày đó xuân thì,
Tiếc không khăn gấm, quạt quỳ trao tay.
Gìn vàng, giữ ngọc cho hay,
Lửa hương ta hẹn kiếp này, kiếp sau.
Áo bay thương lúc qua cầu
Trăng vàng, mây bạc mái đầu thướt tha.

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
Của tin gọi một chút này:
Tóc mai sợi trắng, sợi phai
Lấy nhau đặng cũng thương hoài ngàn năm!

Làm tai Phòng 20 F Chí Hòa

Tháng 10, 1988.

TU và TÙ

Khám Lớn Sài Gòn xưa ở đường Gia Long. Ảnh năm 1938.

Khám Lớn Sài Gòn xưa ở đường Gia Long. Ảnh năm 1938.

Tháng 11, 2013. Trên Internet tôi thấy một bài viết về Chuyện Tù, tôi trích bài viết đăng ở đây mời các bạn tôi ở tám phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca đọc đỡ buồn.

Bài trên WEB. Tôi xin lỗi đã không ghi tên tác giả và Tên Blog khi tôi save bài này.

tu1Một hôm, một vị sư ở Tu viện của chúng tôi được thỉnh đi dạy Thiền ở trong một nhà tù gần thị trấn Perth, nơi mà tình hình an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đã trở nên quen biết và kính trọng Sư Thầy. Vào cuối một thời pháp thoại, một số người tù hỏi Sư Thầy về nếp sống hằng ngày trong một Tu viện Phật giáo.

Sư Thầy trả lời:

“Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm vì phòng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một bình bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là chúng tôi không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi  không có vô tuyến truyền hình, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian tọa Thiền, theo dõi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”

Những người tù tỏ ra ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với Tu Viện, thì cuộc sống của những người tù trong nhà tù hết sức nghiêm nhặt này như là một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đã quá thương cảm cuộc sống thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là mình đang ở đâu, anh ta chợt nói:

“Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng tôi đi!”

Mọi người trong phòng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe nhà Sư kể lại câu chuyện. Rồi tôi suy nghĩ:

Quả thật những điều kiện sống trong tu viện của tôi kham khổ hơn cả cuộc sống của tù nhân trong những nhà tù khắc nghiệt nhất. Tuy nhiên nhiều người tự nguyện vào Tu Viện sống và họ cảm thấy sống trong Tu Viện họ có hạnh phúc. Trong khi đó, nhiều người tù lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, họ không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế?

Bởi vì các tu sĩ muốn sống ở Tu viện, còn tù nhân thì không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.

Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở thì dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạnnơi đó cũng là một nhà tù. Đây là ý nghĩa thật sự của tiếng “tù”. Nếu bạn đang làm một công việc mà bạn không thích thì bạn cũng đang ở tù. Bạn tù trong công việc bạn phải làm. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà bạn không mong muốn thì các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà các bạn không muốn thì thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạnNhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào bạn không muốn mà lại dính mắc vào.

Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?

Dễ thôi. Hãy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sốngThậm chí là ở ngay trong  nhà tù San Quentin, hay ở Tu Viện của chúng tôi. Nếu bạn thấy muốn sống ở đó thì nơi ấy không còn là một nhà tù đối với bạn nữa. Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không ưa muốn, thì nó không còn là một nhà tù nữa. Khi các bạn bằnlòng thì các bạn được tự do.

Tự do là bằng lòng với nơi chốn mình đang ở. Nhà Tù là nơi mình không muốn ở. Thế Giới Tự Do là thế giới mà người ta bằng lòng sinh sống.

Tự do thật sự là giải thoát khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.

Hết bài Tu và Tù.

CTHĐ: Không cần hỏi tôi biết chắc tác giả bài Tu và Tù là người chưa từng một lần bị ở Tù. Không ai có thể tự cho là mình hài lòng với cuộc sống trong tù. Tù thời Quốc Gia Việt Nam Cộng hoà đã dễ sợ, Tù thời Cộng Sản dễ sợ gấp trăm lần. Duyên Anh từng kể trong hồi ký của anh về Tù Đầy:

“Sáng kẻng đánh. Trở dậy, thấy trong ánh sáng lờ mờ quanh mình lố nhố những người và người, ở trần, sà lỏn, tóc bù sù, râu rậm rịt. Mình có cảm giác như mình đang ở trong địa ngục.”

Tất cả những người cư ngụ tại Sài Gòn phạm tội gọi là phản động, văn huê là tội chính trị, đều bị đưa vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của Sở Công An Thành Phố Hồ chí Minh. Nhà Tù này nguyên là Đề Lao Gia Định xưa, bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn xây thêm 3 khu trong nhà tù này. Khu A – khu Đề Lao Gia Đinh cũ, phòng giam có trần, có một hàng chấn song, phòng tù mát, thoáng, người tù đỡ khổ – Khu B, Khu C1, Khu C2 mới xây, phòng giam mái tôn, không có trần, tường vây quanh kín mít, nóng như trong lò than. Phòng giam nếu có 20 người tù thì mỗi người tù được nằm một chiếu cá nhân. Khi tù bị bắt vào đông, phòng giam chứa đến 40 người tù. Muỗi ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu nhiều kinh khủng. Cầu tiêu ngay trong góc phòng. Đêm, chuột cống từ lỗ cầu tiêu chui lên, con nào con nấy bự như bắp chân, trụi lông, lở loét. Ống nước nghẹt. Nóng từ mái tôn đè xuống, nóng từ hơi người bốc lên, nải chuối xiêm còn xanh lúc vào phòng, chỉ sau một đêm là chín vàng.

Đó là những cái khổ về thân xác, chưa kể đến những nỗi khổ về tinh thần. Lo cho vợ con đói khổ, thân tù không biết ngày nào về. Năm 1977, trong những ngày tù đầu tiên của tôi, tôi làm bài thơ:

Đã bun cho nó bun luôn
Vào Tù xem mt Tù Bun ra sao.
Vào Tù mi rõ thp cao
Bun Tù chng có Bun nào bun hơn.
Vào Tù mi biết ngun cơn
Bun nào thì cũng chng hơn Bun Tù.

Cảm giác Tù như cảm giác Thiền. Ai ở Tù thì biết Tù là thế nào. Tôi không muốn kể thêm về chuyện Tù Khổ, tôi mời quí vị đọc vài chuyện trong Tù của Nhà Văn An Khê. Có chuyện vui vui, có chuyện buồn thảm. Tôi kể những chuyện này để nhắc lại lời nói của tôi: “Không ai có thể tự làm mình thư thái, thảnh thơi, thoải mái trong Tù.”

An Khê Nguyễn Bính Thinh là người viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông nổi tiếng của làng báo Sài Gòn từ năm 1956 đến năm 1975. Phim Hai Chuyến Xe Hoa – Thanh Nga, Thành Được – làm theo một tiểu thuyết của anh. Tôi không được quen thân với anh, tôi chỉ biết anh từng là sĩ quan dự trận đánh ở An Khê những năm 1952, 1953. Ở trận này anh bị thương ở cánh tay trái. Viên đạn để lại trên cánh tay anh vết sẹo dài nhưng không làm anh gẫy tay. Giải ngũ, anh về Sài Gòn sống bằng việc viết truyện phơi-ơ-tông cho các nhật báo. Anh sống nghiêm túc. Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 anh kẹt lại ở Sài Gòn. Khoảng năm 1980, anh và gia đình sang Pháp. Hồi Ký “Từ Khám Lớn tới Côn Đảo” được anh viết ở Pháp, Nhà Làng Văn Canada xuất bản năm 1993.

Năm 2000, tôi đọc “Từ Khám Lớn đến Côn Đảo,” tôi thán phục anh An Khê. Anh viết hồi ký lao tù này thật xuất sắc, giọng văn của anh trong hồi ký dí dỏm, có duyên, sắc, tả chân, linh động, thực tế, khác hẳn với văn anh trong tiểu thuyết. Đọc hồi ký lao tù của anh tôi mới biết anh tham gia tổ chức chống Pháp từ những năm 1940, anh từng nằm phơi rốn trong Khám Lớn Sài Gòn những năm xưa ấy ở đường Gia Long. Anh bị đưa ra Côn Đảo năm 1944, anh được chính phủ Trần Trọng Kim cho ông đại biểu chính phủ Trần Tấn Phát ra Côn Đảo tuyên cáo Việt Nam độc lập và cho những tù nhân chính trị bị giam ở Côn Đảo về nước. Trong số tù nhân trở về dịp này có các ông Phan Khắc Sửu, Võ Oanh, Đào Duy Phiên, và Lê Duẩn, Phạm Hùng. Số tù nhân chính trị Côn Đảo trở về Sài Gòn ngày ấy là 123 người.

Đầu năm 1946 quân Pháp trở lại Sài Gòn. Sureté – Công An Pháp coi những người tù Côn Đảo được về đất liền là tù vượt ngục. Họ đi bắt lại những người tù đó. Có người tù bỏ chạy bị bắn chết, có người tù bị bắt lại, bị đưa trở ra Côn Đảo, chết ở đảo. Người tù Côn Đảo Phan Khắc Sửu không bị Pháp bắt lại, ông sống an ninh, đàng hoàng ở Sài Gòn.

Anh Nguyễn Bính Thinh, dù là tù Côn Đảo, có án, vẫn gia nhập được Quân Đội Việt Nam. Năm 2005 trong một hồi ký Nhà Văn Nguyễn Đạt Thịnh, kể chuyện năm xưa ông là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Khinh Quân, ông gặp Thiếu Tá Nguyễn Bính Thinh, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Khinh Quân cùng dự trận đánh An Khê. Thiếu Tá Nguyễn Bính Thinh bị thương trong trận này. Khi viết truyện, ông lấy bút hiệu An Khê.

Mời quí vị đọc:

An Khê. Từ Khám Lớn đến Côn Đảo.Trang 77, 78.

Trong việc tù viết thư về nhà, mặc dầu cặp-rằng luôn nhắc anh em chớ có viết gì khác ngoài chuyện sức khỏe, xin thực phẩm, trong phòng tù có tôi là một tù nhân cũng có hai anh viết nơi cuối thư một lời nhắn chị vợ, khiến hai chị vợ bị mang họa.

Đây là trường hợp anh tù Lương Văn Có, một tay chơi ngoài đời, anh viết cho vợ anh trong thư:

….Cái đ chơi ca tao, tao đ đâu mày đng đng ti. Đ tao ra khám tao xài..”

Thư gửi về nhà của anh Có bị khám đường chuyển sang Bót Catinat kiểm duyệt. Lính kín đến nhà bắt chị Có về bót điều tra. Chị bị đánh đến nỗi cả tháng sau mặt chị còn vết bầm tím. Chị có biết ất giáp gì đâu. Đến khi anh Có bị đưa sang Bót Catinat đối chất với chị vợ. Anh phải khai cái anh viết là  “đồ chơi” ấy là khẩu súng lục anh chôn dưới gốc mít trong vườn nhà anh. Chị vợ được thả sau mấy tháng bầm dập.

Trương hợp thứ nhì tôi chứng kiến là anh tù tên Xê. Anh viết thư cho vợ anh ở Cầu Bông, Thị Nghè:

Món đ quí ca anh em ráng gi dìn, đng đ thng khác xâm phm. Anh s v không lâu.

Thế là chị vợ anh bị bắt, bị điều tra xem “món đồ quí” đó là món đồ gì. Anh chồng có âm mưu vượt ngục hay sao mà cho vợ biết ngày anh về không lâu. Chị vợ nào có biết gì. Bị đánh đau quá chị kêu trời như bộng. Lính kín cho hai vợ chồng gặp nhau để chị vợ hết đường chối cãi.

Anh Xê không dè vì anh vô tình viết rỡn mà vợ anh mang hoạ. Anh la lên:

“Sao không hỏi tôi mà lại đánh vợ tôi như vậy! Đồ chơi của tôi là hai cái ở ngực vợ tôi, một cái ở dưới bụng. Có dậy mà cũng không biết.”

Bị anh tù xài xể, bọn lính kín không giận mà  tức cười. Thì ra anh chồng tù căn dặn vợ quá kỹ.

*

Hạng tù ông Cố là tù tử hình, loại tù này được trọng đãi. Họ muốn gì cũng được trừ việc đi dạo phố hay ngủ với đàn bà. Vì họ là những người chờ chết, chờ ngày lên máy chém nên nhà tù có lòng nhân đạo mà đối xử đặc biệt với họ chăng. Thưa rằng không phải như thế. Theo luật thời bấy giờ, khi thi hành bản án tử hình  phải có sự chứng kiền của một phái đoàn gồm vị đại diện tòa án, một đại diện luật sư biện hộ, một vị đại diện tinh thần – thường là một linh mục vì bên Phật giáo không dự vào việc sát sanh – một vị nhân sĩ  hay một thanh tra khám đường. Do vậy, Xếp Chánh Khám Lớn phải vỗ béo con thịt, làm sao cho người tù tử hình khi chịu án được khỏe mạnh.

Chẳng phải chỉ Xếp Khám phải chăm sóc, o bế ngừời tù tử hình mà đến cáx xếp gác khám, các thầy chú cũng phải chiều ý anh tù tử hình. Có người tù tử hình thích chơi dế đá. Thầy chú phải mua ngay một cặp dế than, dế lửa đem vô cho y. Tờ mờ sáng y la lối om sòm, bắt phải đưa cặp dế ra sân để dế quần sương, lấy hơi đất, lấy cỏ tươi cho dế ăn. Rủi dế nhẩy mất, anh tù bỏ ăn, xếp khám phải đến ngoài song sắt năn nỉ anh, bắt nhân viên đi tìm mua ngay cặp dế khác.

Mỗi sáng từ tử hình được ăn điểm tâm cà phe sưã, bánh mì bơ hay hủ tíu, mì, bánh bao, xiếu mại.  muốn ăn gì, thầy chú phải lo đi mua đúng thứ y muốn. Xong điểm tâm thầy chú phải hỏi người tù tử hình muốn ăn món gì bữa trưa, bữa tối, như cơm sườn nướng, cơm tôm càng rim. Cơm chiên Dương Châu, cơm thịt heo quay, cơn xá xíu. Những món này được giao cho nhà thầu nấu cơm tù cung cấp. Tất cả chi phí do Nhà Nước trả.

*

Lần thứ hai tôi phải xuống khám còng chân vì tôi bị tê, bị xuội hai chân và cánh tay mặt. Lúc ấy khám 1 quá đông người, tôi được đưa sang nằm nơi khám 2, nhỏ hơn, tôi không bị còng chân nhờ lịnh của bác sĩ . Khi tôi vào, khám chỉ có một tù mi-nơ khoảng 18 tuổi, bị bịnh ho lao, gầy còm, ốm hen, coi bộ khó sống.

Bữa cơm trưa ngày thứ bẩy có thịt heo kho với nước muối. Mỗi người tù được hai miếng thịt heo như hai ngón tay. Gã tù mi-nơ nói với tôi:

“Em sắp chết. Xin anh cho em thêm chút cơm, chút thịt. Em ăn lần cuối để chết. Ở tù cực quá, anh ơi.”

Tôi cho hắn nửa phần cơm và trọn phần thịt của tôi. Ăn xong, hắn nằm ưỡn bụng tròn vo, thở ì ạch.

Đến khoảng chín giờ tối, người ta khiêng vào và quăng lên sập xi-măng một anh tù, nói là tướng cướp Bình Xuyên vừa từ Bót Catinat chuyển sang. Người anh tù này đầy máu. Anh nằm thiêm thiếp, đến khuya bỗng anh kêu rống lên một tiếng thảm thiết rồi dựng người lên, lộn đầu xuống dưới sạp mà chết. Một chân anh còn mắc trong còng, người anh gập cúp trên lối đi. Tôi kêu gọi Xếp Khám. Không ai tới. Xác người tù chết không được đưa ra ngoài. Tôi sợ nếu chờ đến sáng, xác anh tù sẽ cứng đơ, làm sao mang đi chôn. Phải đỡ anh lên, cho anh nằm trên sập ngay ngắn. Nhưng tôi bị tê bại, sức một mình làm không nổi. Tôi lay gã tù mi-nơ. Gã cũng chết rồi. Tôi đành một mình hì hục kéo, đẩy xác anh tù Bình Xuyên cho lên nằm trên sập.

Đêm hôm ấy một mình tôi nằm giữa hai xác chết trong khám hẹp nặng mùi tử khí, lòng sầu thảm khôn cùng.

Ngưng trích “Từ Khám Lớn đến Côn Đảo.”

T do tht s là gii thoát khi dc vng ch không bao gi là t do tho mãn dc vng” không liên can gì đến chuyện Ở Tù!

Trên Internet không có tấm ảnh nào của Nhà Văn An Khê Nguyễn Bính Thinh. Trên những Trang Tiểu Thuyết Việt không thấy Trang nào có bản Hồi Ký “Từ Khám Lớn đến Côn Đảo.”

NGƯỜI EM GÁI NGÀY XƯA

Vũ Nữ Sài Gòn là tiểu thuyết phóng sự đầu tay của tôi, tôi viết Vũ Nữ Sài Gòn năm 1956, đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Số 1. Gọi là “phóng sự tiểu thuyết, tiểu thuyết phóng sự” cho khác lạ. Thật ra đây chỉ là những truyện ngắn mà nữ nhân vật trong truyện là những cô làm nghề gái nhẩy ở Sài Gòn. 8/10 tình tiết của  truyện do tôi tưởng tượng. Vũ Nữ Sài Gòn đăng xong trên Văn Nghệ Tiền Phong, năm 1957 tôi xuất bản thành sách. Vũ Nữ Sài Gòn là tác phẩm xuất bản thứ nhất của tôi.

headDòng thời gian dài một ánh bay. Năm 1974 tôi còn khoảng 10 quyển Vũ Nữ Sài Gòn trong tủ sách. Sau Tháng Tư 1975 tôi không còn quyển Vũ Nữ Sài Gòn nào. Nhiều tiểu thuyết của tôi được in lại ở Hoa Kỳ; sang Hoa Kỳ, tôi có lại gần tất cả những sách của tôi đã xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975. Vũ Nữ Sài Gòn không ở trong số sách được in lại ấy.  Một người bạn tôi thấy một bản Vũ Nữ Sài Gòn trong một Thư Viện ở Úc, anh mượn sách làm phocopy cho tôi. Nhờ anh tôi có dịp đọc lại một số bài tôi viết năm 1956, năm tôi 24 tuổi, những truyện ngắn đầu tiên của tôi. Và nhờ anh bạn hôm nay tôi được ngồi gõ máy ghi lại truyện ngắn này.

Vũ Nữ Sài Gòn. Người em gái ngày xưa.

Người ta sinh ra ở đời, nhất là những người nghệ sĩ, hình như là để mà nhớ, để mà thương. Những thương nhớ vẩn vơ thường làm buồn hiện tại, làm mờ ám tương lai; nhưng biết làm thế nào, khi quá khứ dù buồn thảm đến mấy nhưng nhìn qua màn sương hư ảo của thời gian, vẫn đẹp, vẫn huy hoàng như những giấc mộng vàng không bao giờ còn mơ lại được.

Tôi nhớ  buổi chiều mùa thu mây trắng bay đầy trời sơn cước, con đường nhỏ phủ lá vàng dẫn tôi qua đồi thông, rồi qua một cánh đồng đầy lúa chín vàng rào rạt trong gió, đưa tôi đến nhà Nàng: căn nhà gỗ xinh xinh nằm bên kia sườn đồi, bên bờ dòng suối nhỏ nước chẩy róc rách không lúc nào ngừng. Cách nhà nàng mười cây số là Thái Nguyên, cái thị xã tan tành của những ngày hoang loạn trên núi rừng Việt Bắc. Thị xã Thái Nguyên như thị xã Hà Đông bị Việt Minh ra lệnh “tiêu thổ kháng chiến,” bao nhiêu nhà trong thị xã bị phá nóc, đập tường, cả thành phố trở thành một đống gạch vụn, đổ nát.

Sáu tháng trời ngày ngày đi không nghỉ trong cái vùng mất chân trời ấy, ba mặt bao quanh bởi những ngọn núi cao xanh ngắt một mầu: từ Lạng Sơn sang Bắc Kạn, về Phú Thọ, xuống Vĩnh Yên rồi trở lại Đại Từ. Một sáng tôi đeo ba-lô theo Nghĩa về thăm gia đình. Gia đình Nghĩa, không phải gia đình tôi. Tôi nghĩ rằng gia đình người bạn trẻ thân thiết của tôi trong những ngày đi kháng chiến làm liên lạc viên ấy cũng đem lại cho tôi vài niềm an ủi.

Trong nhửng ngày hoa niên sống xa gia đình, thiếu đủ thứ, chúng tôi cảm thấy thiếu nhất là tình thương của bà mẹ chúng tôi. Bà mẹ của Nghĩa sống với người con trai cả và cô con gái nhỏ ở một khu chợ kháng chiến gần thị xã Thái Nguyên. Anh của Nghĩa mở một tiệm bán thuốc Tây và chích thuốc ngay tại chợ. Trước kia anh là y tá trong Nhà Thương Phủ Doãn. Bà mẹ Nghĩa lo cơm nước, em gái Nghĩa phụ giúp ông anh bán thuốc. Tôi được biết anh của Nghĩa đã có vợ, cô vợ trẻ của anh chạy lạc trong đêm Hà  Nà nội “bùng nổ” chiến tranh.

o O o

Một trang trong tập Vũ Nữ Sài Gòn, xuất bản năm 1957. Tranh vẽ Duy Liêm.

Một trang trong tập Vũ Nữ Sài Gòn, xuất bản năm 1957. Tranh vẽ Duy Liêm.

Tôi nhớ buổi chiều thu xưa ấy, buổi chiều thu mười năm trước trong đời tôi, buổi chiều hoa niên mọi vật mơ hồ huyền ảo như trong giấc mơ, khi Nghĩa và tôi bước lên chiếc cầu gỗ. Bên dòng suối trắng nước trong như lọc, đôi mắt to, đen láy, mở rộng chờ đón chúng tôi.

- Anh..!

Nàng ngạc nhiên khi thấy anh nàng về. Ngạc nhiên và mừng rỡ, nàng nhìn tôi với ánh mắt thân mến như ánh mắt nàng nhìn Nghĩa.

Tôi chưa bao giờ nhận biết nét xinh đẹp trên khuôn mặt những cô em các bạn tôi, cho đến ngày tôi gặp em của Nghĩa. Trên 40 cây số từ cơ quan ở Đai Từ về nhà bà mẹ của Nghĩa, tôi không nghĩ gì đến em gái của Nghĩa. Nàng xinh quá. Nàng trạc 14, 15 tuổi, nước da thiếu nữ tản cư chưa mất mầu trắng của người thành phố quen sống với đèn điện, nước máy. Nàng, người em gái hậu phương với đôi mắt đen, mái tóc thề như nàng Tiên có phép nhiệm mầu chỉ một nụ cười, một ánh mắt cũng đủ làm sáng vùng trời đông băng giá của núi rừng Việt Bắc, làm ấm trái tim của những chàng trai đi kháng chiến vẫn nhớ hình ảnh Hà Nội xa với nước Hồ Gươm xanh ngắt.

Bẩy ngày sống trong nhà bạn ở Thái Nguyên êm đềm trôi qua trong sự cô đơn của tôi. Dù có về trong gia đình bạn thân tôi vẫn thấy tôi cô đơn. Nhưng đó là những ngày cô đơn hạnh phúc nhất trong những tháng năm xa gia đình đi kháng chiến của tôi. Mối tình thầm kín và trong trắng nhất đời tôi đến với tôi trong bẩy ngày ấy.

Những ngày vui qua mau. Đến buổi sáng chia ly, Nghĩa và tôi ra đi, bà mẹ của Nghĩa khóc, em gái của Nghĩa khóc. Tôi thấy những giọt nước mắt trong như thuỷ tinh trên những gò má. Nghĩa và tôi gượng làm ra vẻ thản nhiên để ra đi. Đi như chạy trốn, chúng tôi không đủ can đảm dừng lại ở đầu con đường để nhìn mái nhà lần cuối: Nghĩa sợ nhìn thấy mái tóc bạc trắng của bà mẹ, tôi sợ nhìn thấy đôi mắt của nàng.

Rồi Nghĩa và tôi xa nhau, mỗi đứa về một ngả rừng. Nàng không quên tôi. Một ngày gần Tết, ở một bản thổ Bắc Sơn, nàng gửi đến cho tôi môt gói quà: ve thuốc trong đựng 20 viên quinine gói trong chiếc khăn mùi-soa thêu tên tôi, và lá thư. Tôi thấy hiện ra những nét chữ mềm của nàng:

“Nếu trong những cuộc hành quân anh thấy môt đám mây bay theo anh, đó là hồn Vân bay theo anh.”

Nàng có cái tên đẹp là Mộng Vân – Trần Thị Mộng Vân – làn mây đẹp trong những giấc mộng của một thiếu niên si tình đang cần tình yêu. Nàng cho hồn nàng bay theo tôi trên những con đường kháng chiến tôi đi. Còn có gì thơ mộng hơn thế?

Rồi mười năm, mười năm vật đổi, sao dời, tôi lãng quên Mộng Vân, hình ảnh nàng phai nhạt dưới lớp bụi thời gian. Một hôm ở Sài Gòn, người bạn năm xưa cùng đi kháng chiến với tôi cho tôi biết về “Người em gái Thái Nguyên” của tôi:

“Mày còn nhớ Nghĩa chứ? Gia đình nó tản cư ở Thái Nguyên. Bây giờ tao không biết nó có vào đây không, tao nghe nói em gái nó nay làm gái nhẩy ở đăng-xinh Tout Va.”

Ngày tôi gặp lại “đám mây đẹp bay theo tôi” năm xưa xẩy ra vào giữa năm 1955: Lực lượng Bình Xuyên chưa bị đẩy ra khỏi Sài Gòn, sòng bạc Kim Chung chưa bị đóng cửa. Đêm đêm đăng-xinh Tout Va trong sòng bạc Kim Chung hoạt động đến 3 giờ sáng. Khoảng 1 giờ sáng tôi vào Tout Va. Vài ông khách được bạc hay thua bạc ngồi tâm sự với mấy cô vũ nữ, vài cặp dìu nhau đi trên sàn nhẩy theo nhịp nhạc của một dàn nhạc Ba Tầu. Tôi đến hỏi một cô em ế khách ngồi ngáp vặt trong góc phòng. Cô dương cặp mắt nhìn tôi, tôi nghe như có tiếng kẽo kẹt của đôi mắt chỉ chực nằm vật xuống.

Nàng hỏi:

“Vân nào? Sạc-lốt hay Jan-nét? Ở đây có hai cô Vân.”

Tôi không biết tên mới của nàng. May sao nghe có người hỏi cô Vân, Jan-nét Vân dẫn riệu đến. Không phải Mộng Vân của tôi. Ja-nét Vân nói:

“Anh hỏi Sác-lốt Vân. Nó ngồi đằng kia. Anh lại đó là thấy nó.”

Tôi phải nhìn xem Sác-lốt Vân có phải là Mộng Vân hay không trước khi mời nàng ngồi bàn. Sự thật làm tôi đau lòng “đám mây hồng bay theo tôi trong những ngày chinh chiến “đang ngồi kia, đang si súp trước tô cháo.

Chẳng biết nàng có nhận ra tôi là người xưa hay không, nàng cười:

“Anh chịu khó ngồi uống nước. Ăn xong em ra ngay với anh.”

Nhận nhau xong, nàng kể:

“Anh Cả em chết rồi, anh Nghĩa em mất tích. Nghe người ta nói anh Nghĩa em chết khi qua đường số 5, bị Tây nó phục kích. Mẹ em đưa em theo người quen hồi cư về Hà Nội. Bây giờ mẹ em và em ở bên Khánh Hội.”

Dưới ánh đèn mờ Nàng là cô vũ nữ nhà nghề chứng 25, 26 tuổi. Làn phấn son tôi điểm không che nổi những vết giang hồ trên khuôn mặt nàng, của người thiếu nữ mười năm trước, người em gái hậu phương trong một mùa đông kháng chiến gửi cho tôi 20 viên thuốc ký-ninh, một khăn tay, một lá thư với đôi lời thơ mộng: “Hồn em sẽ là đám mây hồng bay theo anh mãi..”

Mười năm trời trong đời nàng có thể tóm tắt trong mấy giòng: Mẹ nàng và  nàng hồi cư, căn nhà nhỏ đổ nát phải bán đi lấy số vốn mua căn nhà nhỏ ở ngoại ô và mở tiệm tạp hoá kiếm sống. Mẹ con chẳng biết buôn bán là gì nên càng ngày càng nghèo sơ sác. Cô con dâu năm xưa đi lạc tìm đến giúp mẹ chồng, em chồng. Chị là gái nhẩy ở Hà Nội. Chị đưa cô em chồng vào nghề.”

Nàng thở dài:

“Biết làm thế nào hở anh? Nếu mẹ con em còn anh Cả em, còn anh Nghĩa, chắc em không làm nghề này.”

Rồi có lẽ vì thấy bản mặt tôi còn buồn hơn cõi lòng buồn vô tận của nàng, nàng gượng vui:

“Thôi, quên chuyện cũ đi anh. Mình gặp lại nhau là mừng rồi. Anh đi với em bản Tango này cho anh tiêu sầu, cho em tiêu.. cháo.”

Lúc ấy một nhạc công chỉ mới xách cây kèn lên nàng đã biết ban nhạc sắp chơi nhịp Tango, mà quả nhiên là Tango thật. Tôi dìu “đám mây suốt đời bay theo tôi” đi trong tiếng nhạc, lòng buồn như kẻ sắp ngã lăn ra vì nhớ, vì thương.

Nàng trìu mến nhìn mặt tôi. Trong đôi mắt còn trong, còn đen, còn đẹp ấy tôi nhìn thấy những ý tình thương yêu còn sót lại từ những năm xưa của ngườii thiếu nữ một chiều thu trìu mến nhìn tôi bên suối.

“Tết năm ấy em có gửi cho anh cái thư.”

Mặt chúng tôi sát gần nhau. Qua hơi thở của nàng có mùi cháo gà, mùi hành chưa bay hết. Tôi trả lời nàng là mười năm trước tôi nhận được quà và thư của nàng: “20 viên ký-ninh, một khăn tay và một lá thư hồng.”

Tôi không dám cho nàng biết tôi còn nhớ những nết chữ tròn, mềm của nàng: “Nếu trong những cuộc hành quân anh thấy một đám mây bay theo anh thì đó là hồn Vân bay theo anh..”

Tôi cũng không nói cho nàng biết đám mây xưa ấy nay đã thành mưa làm ướt trái tim tôi trong đêm tôi gặp lại nàng.

o O o

10 giờ đêm 14 Tháng 11, 2013 khi tôi chép lại xong truyện ngắn trên đây, truyện ngắn tôi viết gần 60 năm xưa, năm tôi còn rất trẻ.

Tôi ngừng viết vài phút, tôi thả hồn tôi trở về dĩ vãng. Năm 1947 tôi làm liên lạc viên của Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm – Ban Tình Báo phụ trách do thám phi trường Gia Lâm, phi trường quân sự lớn nhất Bắc Việt trong chiến tranh Việt Pháp – Chiến tranh nổ ra, gia đình tôi từ Hà Đông tản cư về làng quê tôi: làng Linh Quy, làng nằm giữa Đường Số 5 và sông Đuống. Những tháng đầu năm 1946 tôi ở trong ban Kịch Thiếu Nhi của Phủ Gia Lâm. Ban Kịch chúng tôi loe hoe 5 tên con trai trạc tuổi tôi – 13, 14 tuổi – Khi ban Kịch tan, tôi gặp các anh Tình Báo ngụ trong nhà bác tôi. Anh Tường Lan là Trưởng Ban. Tôi mến anh, tôi thường đi theo anh trong những chuyến anh đi công tác trong vùng. Một đêm anh Tường Lan qua sông Đuống về tổng đàn của anh ở Yên Phong, Bắc Ninh. Anh cho tôi đi theo anh. Tôi làm cái việc ngôn ngữ thời đó gọi là “thoát ly gia đình,” tôi bỏ nhà đi mà không nói cho mẹ tôi biết. Một lý do tôi không nói là tôi sợ mẹ tôi không cho tôi đi.

Tổng đàn của Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm ở trong một làng tôi quên tên. Làng dường như là làng Núi vì ở sườn một trái núi đá nhỏ. Đầu làng có chợ tên là Chợ Núi. Tôi thành liên lạc viên của Ban từ đó. Lương tháng của tôi là 120 đồng, tiền ăn trong cơ quan một tháng là 50 đồng, đi công tác không ăn ở nhà bữa nào không phải trả tiền bữa đó.

Về Chợ Núi được mấy tháng thì anh Tường Lan chuyển công tác. Tôi nghe nói anh đi làm Trưởng Ban Tình Báo Đặc Biệt Lạng Sơn. Năm sau tôi được tin anh qua đời vì bệnh ở Lạng Sơn. Anh Tường Lan là người tôi mến nhất trong bốn năm tôi làm liên lạc viên qua những tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên. Tôi sống khoảng sáu tháng trong thành Cổ Loa.

Anh Trưởng Ban thay thế anh Tường Lan là anh Hồng Dân. Một hôm anh gọi tôi đến bàn anh, đưa cho tôi bức thư mẹ tôi viết cho tôi. Tôi đọc thấy mẹ tôi viết:

“Mẹ không có con như cái cây không có nước. Cây không có nước không thể sống được..”

Vừa đọc đến câu ấy tôi ngừng đọc. Linh tính cho tôi biết nếu đọc hết thư tôi sẽ về với mẹ tôi. Ở góc nhà có cây đèn dầu tây bên cái điếu bát thuốc lào, tôi đem thư đến đấy châm lửa đốt.

Anh Hồng Dân nhìn thấy tôi đốt lá thư.

Sau đó anh bảo tôi:

“Anh đọc thư của mẹ em gửi em. Anh biết em đọc thư đó em sẽ về nhà. Nhưng là thư của mẹ em gửi em, anh phải đưa cho em. Khi anh thấy em đốt thư, anh biết là em có thể đi với bọn anh.”

Anh Hồng Dân mến tôi. Một sáng anh bảo tôi:

“Có khoá huấn luyện ở Việt Bắc, anh gửi em đi học..”

Tôi mừng hết lớn. Nếu tôi khôn, tôi xin anh cho tôi cái màn, có thể anh cho tôi, nhưng vì quá mừng trước việc được lên Việt Bắc, tôi không xin gì cả. Tôi lên Việt Bắc học 8 tháng mà không có màn. May mắn tôi được ngủ chung màn với ông anh kết nghĩa trong trường.

Bí mật cá nhân được giữ kín tuyệt đối. Học viên không cho ai biết tên bí danh của mình, cơ quan mình. Buổi học thứ nhất tất cả xếp hàng ngoài sân. Tôi nhỏ tuổi nhất, thấp nhất, đứng hàng đầu, sau tôi là mấy chị, tôi số Một nên được gọi là chú Một, rồi chị Hai, chị Ba, đến những anh Mười Ba, anh Hai Mươi..vv.. Gọi tên bằng số như thế rồi quen đi.

Khi ở trường, tôi đã xa gia đình hai năm. Tôi nhớ mẹ tôi, tôi nhớ các em tôi mà tôi không biết. Có anh, có chị mến tôi, thấy tôi ngồi buồn, hỏi tôi:

“Sao em buồn thế..?”

Tôi không biết là tôi nhớ nhà.

Trường Huấn Luyện ở Đại Từ. “Những người lử khử, lừ khừ. Chẳng ở Đại Từ thì ở Võ Nhai..” Đại Từ nổi tiếng nước độc, tôi mang bệnh sốt rét từ Đại Từ vào tận Sài Gòn mới chữa dứt bệnh.

Liên Khu 1 tổ chức Đại Hội Tập. Khoá sinh chúng tôi được về thị xã Thái Nguyên dự Đại Hội Tập. Đi bộ từ sáng đến chiều mới đến thị xã Thái Nguyên. Đại Hội được mở ở một vùng quê bên ngoài thành phố. Phi cơ Spitfire của Pháp bay đến bắn phá, làm chết hai con bò. Quân dân – trong có tôi – được dịp ăn Phở. Khi có phi cơ Pháp đến, vọng canh trên núi đánh kẻng báo động, dân chúng kéo lên những đồi thông quanh thị xã. Một lần lên đồi tôi thấy một gia đình ngồi dưới rặng thông. Gia đình người thành phố tản cư. Ông bố, bà mẹ trạc tuổi bố mẹ tôi, ba, bốn em trai, em gái trạc tuổi các em tôi. Tôi nhìn gia đình đó mà nhớ mẹ tôi, nhớ các em tôi quá đỗi.

Thị xã Thái Nguyên thời đó có món “trứng đường”: tròng đỏ hột gà – hai tròng – cho vào cốc với đường cát, dùng thìa quấy lên thành một thứ như kem. Chợ họp đêm trong thị xã. Những thiếu nữ tản cư áo nâu cổ vuông, tóc thế – tóc xoã ngang vai – quần đen, bán hàng trong chợ giữa những ngọn đèn dầu tây.

Đoàn Văn Công Sao Vàng trình diễn hai đêm trong Đại Hội. Có máy điện chạy bằng xăng. Sân khấu có đèn điện. Những nàng văn công 18, 19 tuổi làm tôi đứng tim. Trở về trường cả tháng sau tôi còn mơ thấy cảnh đêm văn nghệ.

Mười năm sau, chưa đến mười năm, tôi lên Việt Bắc năm 1949, ở Sài Gòn, năm 1956, nhớ kỷ niệm Việt Bắc, Cầu Treo Đại Từ, Đồi thông thị xã Thái Nguyên, Đêm Văn Nghệ Đèn Điện, những thiếu nữ áo cánh nâu cổ áo vuông ở thị xã Thái Nguyên, tôi viết truyện “Người Em Gái Ngày Xưa.”

Trải qua một cuộc biển dâu
Những lời nghe thấy làm đau đớn lòng.

Từ năm 2000, ở Việt Nam, người ta gọi gái điếm là “ca ve.”

Hoàng Long Phu Nhân II

Bài thứ hai, căn cứ trên sách “Finding The Dragon Lady, Nữ tác giả Monique Brinson Demery.” Bài Hoàng Long Phu Nhân Một đã đăng trên Tuần Báo SàigonNhỏ số ra ngày 31 Tháng 10, 2013.

Finding The Dragon Lady. Coup d’État. Trang 193 đến trang 211. Trích.

Gần một năm trôi qua từ khi tôi – ( bà Demery ) – và bà Nhu ngừng nói chuyện với nhau qua điện thoại. Nhưng khi bà lại phone cho tôi, vào mùa hạ 2010, cuộc nói chuyện qua phone giữa bà và tôi tiếp tục như không có chuyện gì xẩy ra. Tôi lại làm theo đúng những gì bà muốn, sự tuân phục bà của tôi làm tôi ngạc nhiên. Đến lúc đó tôi mới biết, mới thấy là tôi thiếu bà, tôi nhớ bà.

Bây giờ giọng nói của bà Nhu trầm xuống. Đây là giọng nói của bà già tám mươi tuổi. Bà nói bà bị đau, bà phải chịu giải phẫu ở chân, bà đã đi khỏi Paris.

“Các con tôi muốn tôi sống gần chúng – bà Nhu nói – Nay tôi ở Rome. “Bà nói bà đã viết xong Hồi Ký của bà – Memoirs – Bà sẽ gửi Hồi Ký cho tôi.

Tôi cảm thấy có việc gì không tốt đã xẩy đến với bà. Bà phone tôi một lần rồi thôi. Ba tháng sau tôi phone đến số phone của bà, người ta cho tôi biết số phone này đã bị hủy bỏ. Tôi sợ bà qua đời. Ngày ngày tôi theo dõi trang Obituaries – Ai Tín – trên nhật báo xem có tin về bà Nhu không.

Bà Trần Lệ Xuân cười lần cuối trong buổi tối Tháng 10 năm 1963 ở Phòng VIP Phi trường Tân Sơn Nhứt. Người complet-veston đứng sau Bà là Ký Phan Nghị, phóng viên Nhật báo Ngôn Luận. Trong ảnh này Bà Trần Lệ Xuân đã đứng lên, áo lạnh và sắc ở tay, để đi ra phi cơ PanAm American.

Bà Trần Lệ Xuân cười lần cuối trong buổi tối Tháng 10 năm 1963 ở Phòng VIP Phi trường Tân Sơn Nhứt. Người complet-veston đứng sau Bà là Ký Phan Nghị, phóng viên Nhật báo Ngôn Luận. Trong ảnh này Bà Trần Lệ Xuân đã đứng lên, áo lạnh và sắc ở tay, để đi ra phi cơ PanAm American.

Nguyên văn bà Demery viết: Trang 196:

“The last time we talked, Madame Nhu sounded worse, her voice sandpaper in her throat. “There are days when I  want to close my eyes and go in peace. But what wakes  me up is only the feeling that there is something that  have to do and something I have left to say.”

Lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện, Bà Nhu có vẻ yếu, giọng bà khàn khàn như cổ họng bà bị rát: “Có những ngày tôi muốn nhắm mắt lại và ra đi trong bình yên. Nhưng cái làm tôi tỉnh lại là cảm nghĩ có cái gì đó tôi phải làm, có lời tôi phải nói.”

Ý muốn cuối cùng của bà Nhu trước khi chết là viết ra những gì bà muốn nói; bà nhờ tôi giúp bà nhưng tôi không biết tôi phải làm sao đế giúp bà.

Ngưng trích Finding The Dragon Lady.

CTHĐ: Tôi gặp khó khăn khi viết bài đọc sách này. Tôi xin lỗi đã không viết lại được sáng, rõ những sự việc trong sách của nữ tác giả Demery. Qua những gì bà Demery kể tôi thấy trước sau bà Demery không một lần được gặp mặt bà Lệ Xuân. Trong năm, sáu năm hai bà chỉ nói với nhau qua điện thoại. Hai lần bà Demery từ Mỹ đến Paris để gặp bà Lệ Xuân nhưng đều không được gặp. Một lần chính bà Lệ Xuân gọi bà Demery sang Paris.

Finding The Dragon Lady. Trang 206, 207, 208.

Bà Nhu gần như tuyệt vọng trong ý muốn đưa ba người con của bà ra khỏi nước sau cuộc chính biến. Bà gọi phone cho Nữ ký giả Marguerite Higgins. Bà Higgins từng đến Sài Gòn và kết thân với bà Nhu. Bà Nhu khóc nghẹn nói với bà Higgins:

“Họ đã giết chồng tôi. Tôi sợ họ giết các con tôi.”

Bà Higgins hứa với bà Nhu bà sẽ nhờ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ can thiệp. Bà Higgins phone ngay cho ông Roger Hilsman, cố vấn thân cận của TT Kennedy và là Vụ Trưởng  Viễn Đông Sự Vụ của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Bà phone lúc 2 giờ sáng:

“Chúc mừng thành công, “– bà Higgins nói – “Anh thấy sao khi hai bàn tay anh dính máu?”

Ông Hillsman nói:

“Thôi mà, Maggie. Cách mạng là bạo động. Phải có người bị hại.”

Bà Higgins hỏi ông Hillsman về tình trạng và số phận của ba người con của bà Nhu hiện ở Nam Việt Nam. Lời hỏi này làm ông Hillsman nhớ đến quyền lực của báo chí truyền thông Mỹ. Ông Hillsman thấy ngay chính phủ Mỹ đã bị mang tiếng vì cái chết của TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, chính phủ Mỹ không thể để cho ba người con nhỏ của ông bà Nhu bị giết nốt. Cần phải đưa ngay ba trẻ nhỏ đó ra khỏi nước.

Fred Flott, nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam , được chỉ định làm việc đưa con ông bà Nhu ra khỏi nuớc. Tướng Nguyễn Khánh đưa Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh và Ngô Đình Lệ Quyên trên phi cơ của ông từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Fred Flott đón anh em Trác ở sân bay Tân Sơn Nhầt, đưa cả ba lên một phi cơ quân sự Mỹ bay sang Thái Lan. Từ Bangkok, Flott đích thân đưa ba anh em Trác bay sang Rome. Ba anh em Trác ngồi ghế hạng nhất trên phi cơ Pan American. Flott kể thái độ anh em Trác rất đàng hoàng, không khóc, không sợ. Flott kể chuyện:

“Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục đến đón cháu ở phi trường. Có khoảng 200 phóng viên chờ đón. Ông Thục tỏ ra có ác cảm với tôi. Tôi nói với ông tôi được lệnh của Đại Sứ Lodge làm việc này. Ông không cám ơn tôi, ông không nói với tôi một câu, ông không bắt tay tôi, ông đưa ba cháu ông lên xe, đi mất.”

CTHĐ: Tôi nhắc lại: tôi bị bối rối khi đọc Finding The Dragon Lady. Bà Demery viết : Bà NgôĐình Nhu gửi bà tập Memoirs – Hồi Ký qua Internet. Rồi bà được xem tập Diary – Nhật Ký – từ một người Việt Nam sống ở Mỹ.

Finding The Dragon Lady. Trang 104, 105, 106, 110, 111, 112.

Nguyên văn: The Diary came to my attention in August 2010 when James van Thach, a retired US Army captain, got in touch with me. He was my age, lived in the Bronx, and had found me through a Google search. Like me, James was interested in the history of the Vietnam War, particularly the story of Madame Nhu.”

Phỏng dịch: Tập Nhật Ký đến với tôi Tháng Tám 2012 khi James van Thach, một Đại úy hồi hưu quân đội Mỹ liên lạc với tôi. Ông trạc tuổi tôi, sống ở vùng Bronx, ông tìm ra tôi trên trang Google. Giống tôi, James chú ý đến lịch sử Cuộc Chiến Tranh Việt Nam và đặc biệt chú ý đến Bà Nhu.

Tôi nghi ngờ khi James cho tôi biết ông ta có quyển Nhật Ký của Bà Nhu. Chuyện năm mươi năm sau khi viết một tập Nhật ký xuất hiện trong tay một cựu sĩ quan ở New York là chuyện khó tin. Bà Nhu không một lần nói với tôi về quyển Nhật Ký của bà.

Nhưng tôi cũng đến nhà ba má James ở Queen. Tôi gặp James ở đây. James không nói, hay không thể nói bằng cách nào ông có quyển Nhật ký của Bà Nhu, ngoài việc ông nói ông có người thân làm công an Nam Việt Nam năm 1963. Nhật ký viết chữ Pháp, James không đọc được. James cho tôi xem Nhật ký ở tiệm cà phê Starbuck. Nhật ký ghi trong một sổ tay, bìa cứng, khoảng 300 trang. Tôi thấy đúng đó là chữ viết của Bà Nhu. Trang đầu ghi năm 1959, trang cuối ghi năm 1963.

(.. .. .. )

Nguyên văn Finding The Dragon Lady. Trích:

3.00 a.m on November 11, 1960.

Diem had already started negotiating with the coup plotters. He had promised them  a new and different government, and by the time Madame Nhu arrived in his office, he had even gone on the radio to prclaim it. “The president is much too sofhearted,” she realized ; someone is going to have to take charge. Concilliation is a sign of weakness. Just like Diem  had stood strong in the face of the Binh Xuyen mobters, he needed to stand firm now.

Madame Nhu strode over to Diem. She did not hide her frustation. In later interviews, she would say that when the preident behaved like a.child, she wanted to slap him. In her diary, she accused Diem of acting like a baby. She also wrote, “I am disgusted with him, he has no confidence in himself and has lowered himselp by talking with the rebels.” One published account of the confrontation that morning maintains that Madame Nhu actually  did slap the president, hard and across the face, before grabbing him by his sloping shoulders and shaking him in a fury. But that sounds like the kind of strory that was embroidered on its way through the café circuit gossip before it landed in the St. Louis Post Dispatch three years later.

Even if Madame Nhu did not slap Diem, her words had a lasting impact. “Keep only the necessary men here to defend the palace.” She instructed. “Send the rest of them to retake the radio.”

Phỏng dịch:  3 giờ sáng ngày 11 háng 11, 1960.

Ông Diệm đã bắt đầu những thảo luận về những điều kiện điều đình với nhóm đảo chính. Ông đã hứa với họ sẽ có một chính phủ mới và khác, khi bà Nhu đi vào văn phòng ông, ông đã tuyên bố trên đài phát thanh về chuyện chính phủ mới. “Tổng Thống mềm lòng quá,” Bà Nhu thấy thế, phải có người đứng ra chịu trách nhiệm ở đây. Điều đình là dấu hiệu của yếu kém. Như ông Diệm từng xử sự cứng rắn với bọn cướp Bình Xuyên,nay ông cũng cần phải tỏ ra cứng rắn.

Bà Nhu rảo bước tới trước ông Diệm. Bà không che dấu sự bực bội. Trong những cuộc phỏng vấn sau đó, bà có nói rằng khi thấy ông Tổng Thống xử sự như đứa trẻ, bà muốn tát vào mặt ông. Trong nhật ký của bà, bà kết tội ông Diệm hành động như đứa trẻ con. Bà cũng viết: “Tôi thấy tởm ông ta, ông ấy không có tự tin, ông ấy tự hạ thấp khi nói chuyện với bọn phản loạn.” Một bản tường thuật cuộc đụng độ sáng hôm ấy thuật rõ bà Nhu quả thực đã tát ông Diệm, tát mạnh vào mặt rồi nắm lấy vai áo ông mà giận dữ lắc mạnh. Nhưng chuyện đó giống loại chuyện được thêu dệt và truyền đồn ở những tiện cà phê trước khi nó lên trang báo St Louis Dispatch ba tháng sau.

Ngay cả khi bà Nhu không tát ông Diệm, những lời nói của bà có hiệu quả lâu dài. “Chỉ giữ số lính cần thiết ở đây để bảo vệ Dinh,” bà ra lệnh. “Phái số lính còn lại đi chiếm lại đài phát thanh.”

Ngưng trích Finding The Dragon Lady.

CTHĐ: Tôi trích đăng nguyên văn chữ Mỹ một số đoạn tôi trích trong tác phẩm của bà Demery để quí vị độc giả thấy bà Semery thực viết như thế, tôi – CTHĐ – không bịa chuyện gán cho bà Demery. Trong bài Hoàng Long Phu Nhân số Một đã đăng, tôi có viết tôi muốn tìm trong tác phẩm của bà Demery những chuyện về bà Trần Lệ Xuân tôi chưa từng đọc thấy, và nhất là tôi muốn tìm biết bà Trần Lệ Xuân có ngoại tình, có yêu ai không.

Trong một đoạn sách Finding The Dragon Lady, tôi thấy bà Demery thuật bà Lệ Xuân ghi về ông Ngô Đình Nhu:

“I love him less and less.”

Tôi yêu ông càng ngày càng ít.

Finding the Dragon Lady. Trang 224, 225.

Nguyên văn: I love him less and less.

She even seems to have tasted love briefly in the form of a few affairs. In the diary she wrote about three men  by their initials only: L, K, and H. The language is vague enough that I have to wonder if she ever acted on her impulse: “Happily have not met anyone yet who has it all,” “it” being a desired combination of sinceririty, admiration and adoration – the qualitiees to match her own. But H seem to have come close, with what she described as his dynamism and extraordinary way of courting her, though she doesn’t provide any details other than to say he was a real Don Juan character. She coyly ask H. “Are you always like thie with women?” and his reply pleases her to no end: “Do you really think women are like you? I had to cross ocean to fine you.”

The anonymous H understood Madame Nhu. I rather sympathize with him, even though I have no idea , beyond the initial, who he was. He loved Le Xuan, Madame Nhu, because of who she was staggered beautiful, proud, willful, a woman who would not be consigned to the place that that the men around her had fenced off for her. She would battle with empire, bandits, and the forces of history before she was  done. She would be in the heart of the sory, the center of the epic in whitch she was cast, and no one would ever forget her. She was indeed worth crossing an ocean for, and  am glad that  I did..

Phỏng dịch: Tôi viết phỏng dịch vì tôi không thể chuyển sang chữ Việt đúng những lời trong tác phẩm của bà Demery.

Bà cũng có vẻ đã có yêu trong vài cuộc tình ngắn. Trong nhật ký, bà viết về ba người đàn ông với chữ thứ nhầt tên của họ: L, K, và H. Lời viết mơ hồ đủ để tôi nghĩ bà chỉ yêu thoáng qua. Bà viết: “May mắn tôi chưa  gặp ai có đủ cái đó, ““Cái đó “đây là sự dung hợp của chân thành, ngưỡng mộ và thờ phụng.- những đức tính như bà có. Riêng nhân vật H đến gần mẫu người đó, với những đức tính bà kể về sự năng động của ông, và lối quyến rũ bà rất đặc biệt của ông. Bà không viết gì về nhân vật H ngoài lời tả ông là một Don Juan chân chính. Bà e lệ hỏi ông H: “Anh làm như vậy với tất cả những người đàn bà ư?” Câu trả lời của ông làm bà hài lòng vô tận: “Nàng cho rằng tất cả đàn bà đều như nàng ư? Tôi phải qua đại dương để tìm nàng.”

Nhân vật H vô danh hiểu Bà Nhu.  Tôi  - ( Bà Demery ) – có cảm tình với ông dù tôi không biết gì về ông ngoài chữ H. Ông yêu Lệ Xuân, bà Nhu, vì bà đẹp ngất, bà kiêu, bà có ý lực, một người đàn bà không chịu ở trong khung mà đàn ông đã đóng rào cho nàng. Nàng sẵn sàng chống những đế quốc, chống đạo tặc, chống những sức mạnh lịch sử trước khi chịu thua. Nàng ở trong tim của câu chuyện, nàng ở trung tâm vở hùng kịch mà nàng phải đóng một vai, sẽ mãi mãi không ai quên nàng.

Nàng quả thật xứng đáng để người ta vượt biển đến tìm, tôi vui vì tôi đã làm việc ấy.

Ngưng trích Finding he Dragon Lady.  ngoài l ngoài việc kể ông là một H

Trang 225 trên đây là trang cuối cùng sách Finding The Dragon Lady.

CTHĐ: Qua lời kể mơ hồ, rối bời của sách Finding The Dragon Lady, chắc quí vị cũng như tôi, ta thấy:  Quả thực có quyển Nhật ký của bà Trần Lệ Xuân. Nhật ký được một người lấy trong phòng ngủ của Bà Nhu và đem sang Mỹ

Nhưng bà Demery không cho ta thấy một cái ảnh nào về quyển Nhật ký, không có trang ảnh chụp trang viết tay của bà Lệ Xuân.

Ta thấy bà Lệ Xuân có yêu một người tên tắt là H. Người này có vẻ là người Âu Mỹ, vì lời ghi trong Nhật ký: “Tôi phải qua đại dương để tìm nàng.”

Tôi – CTHĐ – théc méc: “Don Juan H ở đâu mà không đến với Trần Lệ Xuân những năm 1967, 1968? “

She would be at the heart of David Halberstam, ký giả nổi tiếng của Mỹ, tác  giả sách The Best and The Brightest, từng sống, làm việc ở Sài Gòn những năm 1960, 1962, viết về bà Trần Lệ Xuân:

The beautiful but diabolic sex dictatress.”

Nữ độc tài đẹp nhưng Dzâm Quỉ.

David Halberstam trăm năm hồng lệ trước bà Trần Lệ Xuân. Anh không có dịp thấy người đàn bà Việt Nam bị anh gọi là “Nữ Dzâm Quỉ “sống thanh tịnh không có tai tiếng gì trong 40 năm.

Tôi đọc Finding The Dragon Lady của bà Monique Brinson Demery trong hai đêm, tôi viết bài này trong 8 giờ, mà bài viết không ra làm sao cả. Tôi không hài lòng với bài viết này.

Năm giờ chiều Ngày 31 Tháng 10, 2013. Tôi chấm dzứt ở đây.

Hoàng Long Phu Nhân

Bà Trần Lệ Xuân cho bà Johnson, bà em TT. Kennedy và bà Phu nhân Đại Sứ Mỹ xem những tấm da hổ.

Bà Trần Lệ Xuân cho bà Johnson, bà em TT. Kennedy và bà Phu nhân Đại Sứ Mỹ xem những tấm da hổ.

Tôi viết bài này căn cứ trên những trang sách “Finding The Dragon Lady” của Nữ tác giả Monique Brinson Demery. Sách phát hành Tháng 9  năm 2013. Đây là những hàng chữ trên bìa sách và trang 1 của sách:

Finding The Dragon Lady, The Mystery of Vietnam’s, Madame Nhu

Tìm Long Phu Nhân, Bí mật của Việt Nam, Bà Nhu.

Tôi thấy cái tít “Tìm Bà Rồng “nôm na, sống sượng, “Tìm Long Phu Nhân “cũng không khá hơn, tôi tạm để tên bài viết này là “Hoàng Long Phu Nhân.” Cái tít có vẻ như tên phim võ hiệp Tài Oăn, nhưng tôi không tìm được cái tên nào hay hơn. Bốn tấm ảnh đi theo bài này lấy trong sách “Finding The Dragon Lady” của bà Monique Brinson Demery.

Finding The Dragon Lady 260 trang. Trong bài viết này tôi chỉ trích những sự kiện về đời công, đời tư bà Trần Lệ Xuân mà tôi chưa từng đọc, chưa từng biết. Tôi muốn tìm trong Finding The Dragon Lady những chứng cứ bà Trần Lệ Xuân có “ngoại tình” hay không, bà có “yêu” ai không.

nhu1David Halberstam, ký giả nổi tiếng của Mỹ, tác  giả sách The Best and The Brightest, từng sống, làm việc ở Sài Gòn những năm 1960, 1962, viết về bà Trần Lệ Xuân:

The beautiful but diabolic sex dictatress.”

Tạm dịch: “Bà Độc tài đẹp nhưng dzâm quái quỉ.”

Ký giả Mỹ Malcolm Brownw, hành nghiệp ở Sài Gòn những năm 1960, viết về bà Trần Lệ Xuân:

“The most dangerous enemy a man can have.”

Tạm dịch: “Kẻ thù nguy hiểm nhất mà đàn ông có thể có.”

Bà Demery kể bà ra đời năm 1976. Như có duyên nghiệp với Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà và với riêng bà Trần Lệ Xuân, ngay từ năm 10 tuổi, bà đã chú ý đến Việt Nam và bà Trần Lệ Xuân. Bà kể năm bà 10 tuổi, bà lén mở quyển sách ảnh Vietnam’s War của thân phụ bà. Trong sách bà thấy ảnh “Ông sĩ quan kề súng vào mang tai anh Việt Cộng, ông Sư tẩm xăng tự thiêu, em gái nhỏ bị bom napalm trần truồng chạy trên đường..vv..” Khi mới lên đại học, bà đã biểu lộ ý muốn nghiên cứu về Việt Nam. Bà kể ông bố của bà nói:

“Bố phải mất 20 năm tuổi trẻ của bố để  tránh không đến Việt Nam, Nay con gái của bố lại muốn đến Việt Nam.”

Năm 1997 lần thứ nhất bà Demery đến Việt Nam. Bà được học bổng đến học ba tháng ở nơi bà gọi là Vietnamese Advanced Institute ở Hà Nội. Bà kể khóa học này toàn chuyện vớ vẩn, không giúp cho bà biết gì thêm về nước Việt Nam và người Việt Nam, Năm 2003 bà Demery, sống ở Chicago, tìm cách phỏng vấn bà Trần Lệ Xuân. Bà Demery kể:

Finding The Dragon Lady. Trang 1.

“Paris 2005.

Khi tôi bắt đầu tìm hiểu bà Ngô Đình Nhu – lời bà Demery – bà Nhu đã sống lưu vong hơn bốn mươi năm. Năm 1963 ở đỉnh cao của quyền lực, báo New York Times gọi bà Đệ Nhất Phu Nhân 39 tuổi của Nam Việt Nam – The thirty-nine -year old First Lady of South Viet nam – là “người đàn bà quyền lực nhất Á châu,” bài báo viết bà Nhu  giống như Lucrezia Borgia.”

CTHĐ: Lucrece Borgia là người đàn bà đẹp nổi tiếng dâm đãng trong triều đình La Mã ngày xưa. Chuyện đời của nhân vật Lucrece Borgia được điện ảnh Âu châu làm thành phim xi-nê nhiều lần.

January 2005 bà Demery đến Paris. Chỉ biết mơ hồ là bà Trần Lệ Xuân sống trong một toà nhà lầu có cửa sổ nhìn ra thấy Tháp Effel, bà Demery đến nơi đó. Ở đó bà thấy có 3 toà nhà lầu có cửa sổ mở ra Tháp Effel. Bà Demery vào một toà nhà. Thần Ký Giả giúp bà: bà vào đúng ngay tòa nhà trong có căn phòng của người bà đến tìm. Bà viết sẵn một thư gửi bà Ngô Đình Nhu, thư ngỏ ý muốn được gặp để phỏng vấn, bà tự kể sơ về bà, bà ghi số điện thoại của bà ở Paris, và số điện thoại nhà bà ở Mỹ, bà đưa phong thư cho bà quản gia toà nhà, nhờ đưa giúp cho bà Ngô Đình Nhu. Bà quản gia nhận thư để đưa dùm. Như vậy bà Demery biết bà Nhu ở trong tòa nhà đó. Bà ghi trong sách: Nhà No 24 Avenue de Suffren, Paris.

Trở về Mỹ, bà Demery gửi ba thư đến địa chỉ bà Lệ Xuân, thư viết rõ hơn về ý muốn được gặp và phỏng vấn. Vẫn khóng có thư trả lời. Bà Demery lấy chồng. Một buổi sáng Thứ Bẩy June 2005, khi ông chồng bà Demery còn ngủ nướng, bà Demery nghe tiếng chuông điện thoại reo. Bà Demery kể:

Cô dâu Trần Lệ Xuân. Ảnh năm 1943 ở Hà Nội.

Cô dâu Trần Lệ Xuân. Ảnh năm 1943 ở Hà Nội.

Finding The Dragon Lady, Trang 41, 42, 43, 44, 44.

“Bonjour, “giọng nói trầm vang lên trong ống nghe. “Madame Demery?”

Tôi chỉ có thể thốt ra được tiếng “Oui.” Tôi nghẹn thở, tim tôi đập mạnh. Người gọi tôi có phải là..? Còn là ai nữa! Tôi như đang mơ:

“Thưa bà, có phải bà là bà Nhu? “

Long phu nhân gọi tôi. Một tràng câu hỏi của bà làm tôi choáng váng:

“Bả có phải là viên chức nhà nước không?”

Không, không. Tôi trả lời.

“Ông chồng bà? Hay ông thân của bà? Một người nào trong gia đình bà?”

Tôi trả lời là không có người nào trong gia đình tôi làm nhân viên chính phủ.

“Bà có phải là người được Police mướn, hay bà được New York Times nhờ?”

Những câu hỏi sẽ làm tôi bất bình nếu là người nào đó hỏi, nhưng người hỏi tôi là bà Nhu. Tôi thận trọng trả lời bà từng câu. Bà Nhu tỏ ra hài lòng:

Bon,” she said definitely, “that is behind us. Good.”

Bon,” bà nói quyết định,” cho qua. Tốt.”

Bà Nhu đặt ra những điều lệ căn bản. Bà sẽ gọi phone cho tôi. Bà không cho tôi số phone của bà. Bà sẽ không nói với bất cứ ai ngoài tôi, nếu bà phone đến mà người khác bắt máy, bà cúp ngay. Bà sẽ không để message lại trên answering machine của tôi. Tôi nhất nhất tuân phục bà.

Bà nói lời cuối:

“Tôi sẽ phone ba ngày nữa.”

CTHĐ: Nhiều đoạn tôi trích nguyên Anh văn, để quí vị biết Anh văn dễ hiểu hơn. Nhiều tiếng Anh trong sách của  bà Demery tôi không chuyển được đúng sang tiếng Việt.

Bà Demery kể:

“Từ đó bà Nhu và tôi nói chuyện với nhau qua điện thoại. Tôi biết bà gọi khi caller ID điện thoại của tôi hiện hàng chữ “Unavailable.” Chicago đi sau Paris 7 giờ đồng hồ nên khi bà Nhu gọi tôi vào buổi sáng Chicago là buổi tối ở Paris, và ngược lại, Những lần gọi đầu bà nói với tôi về lịch sử Việt Nam, về Bà Trưng, Bà Triệu đánh giặc Tầu. Tôi biết bà nói thế để thử tôi, bà muốn biết về con người tôi. Xen vào chuyện bà kể là những câu bà hỏi về gia đình tôi, về tôn giáo của tôi, về chuyện tôi biết gì, tôi nghĩ gì về Kinh Thánh. Có vẻ như bà không hài lòng lắm về những câu trả lời của tôi.

Tôi thấy tôi nên để bà Nhu nói. Cứ để bà nói, bà sẽ nói nhiều, bà sẽ nói những chuyện riêng năm xưa của bà mà tôi không cần hỏi. Nếu tôi hỏi bà một câu gì mà bà không ưa, bà cắt đứt ngay cuộc nói chuyện. Như khi tôi hỏi bà người ta đồn vòi nước bồn rửa mặt và bồn tắm của bà bằng vàng, có thật thế không? Bà gọi tôi là “nhỏ ngu.” – a silly child – Khi tôi hỏi bà về chuyện người ta nói bà giam những ông sư và sinh viên trong những chuồng cọp, bà thản nhiên nói đó là những chuyện bọn Cộng bịa đặt.

Tôi kể với bà Nhu chuyện riêng của tôi: vợ chồng tôi muốn có con. Buổi sáng hôm tôi thử và biết tôi có thai chỉ vài phút trước cú điện thoại thứ nhất bà gọi tôi. Bà chào đón nồng nhiệt tin tôi có thai: “Mais c’est merveilleux! Maaaarvelous..” Tôi nói: “Merci.” Bà nói:

“Chị là thiên thần được gửi đến giúp tôi hoàn thành Hồi Ký của tôi. Tất cả mọi chuyện về tôi sẽ có trong Hồi Ký.”

Bà không hứa bà sẽ cho tôi đọc Hồi Ký của bà. Tôi bị bà mê hoặc, bà dẫn dắt tôi, tôi đi theo bà.

Bà Trần Lệ Chi

Bà Trần Lệ Chi

Finding The Dragon Lady. Trang 68, 69, 70.

“Chúng ta gặp nhau.” Bà Nhu nói ít ngày sau khi tôi sinh cháu trai Tommy. Đây là lần thứ nhất bà nói đến chuyện cho tôi gặp bà. Bà bảo tôi mang Tommy đến Paris. “Được không?” Bà hỏi.

“Thưa được,”

September. Mùa thu Paris. Tôi định đến September tôi sẽ bồng Tommy sang Paris để bà dì tôi ở Paris và các bạn tôi thấy cháu. Đúng lúc bà Nhu bảo tôi sang Paris gặp bà, bà còn dặn tôi đem con tôi theo. Bà cho tôi biết nơi gặp và giờ gặp: 10 giờ sáng ở trước Nhà Thờ  Saint Leon, một nhà thờ cách toà nhà của bà không xa, trong Quận 15. Tôi sẽ đứng với con tôi trong xe nôi dưới Tựợng Thánh Joseph.

Bà nói:

“Chúng ta sẽ đi vào công viên, vừa đi vừa nói chuyện. Sẽ rất kín đáo.”

Tôi chờ bà đến 11 giờ. Bà không đến. Khi tôi về nhà bà dì tôi, có tin bà nhắn tôi trong máy điện thoại. Bà phá lệ không nhắn tin của bà. Bà nói bà không đến gặp tôi được vì bà đau. Bà sẽ phone cho tôi sau.

Hôm sau bà phone cho tôi. Bà xin lỗi đã sai hẹn. Lần này bà bảo tôi đến gặp bà ở nhà bà. Tôi đến trước giờ bà hẹn cho tôi gặp, tôi và Tommy chờ bà hơn một giờ đồng hồ ở phòng khách dưới nhà. Bà không cho tôi lên phòng bà. Lần thứ hai bà sai hẹn. Lần thứ hai tôi không giận bà.

CTHĐ: Bà Demery trở về Chicago. Bà và bà Trần Lệ Xuân lại tiếp tục nói chuyện với nhau qua điện thoại. Bà Lệ Xuân nói khi đi khỏi Sài Gòn sang Mỹ giải độc chính quyền và dân Mỹ bà không mang theo tấm ảnh nào của gia đình bà. Bà nhớ căn phòng ngủ của bà. Bà Demery liên lạc với nhân viên Thư Viện Tổng Thống Lyndon B. Johnson. Bà xin được tấm ảnh bà Phó Tổng Thống Johnson – năm 1961 theo Phó Tổng Thống Johnson đến Sài Gòn – được bà Lệ Xuân tiếp và mời xem những tấm da hổ. Bà Demery gửi tấm ảnh ấy tặng bà Lệ Xuân. Bà Lệ Xuân cảm động vì tấm ảnh.

Ảnh ghi hình bà Lệ Xuân, bà Johnson, bà Smith em gái TT. Kennedy, bà vợ ông Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam. Bốn bà đứng xem bốn hay năm tấm da hổ đật trên sàn phòng. Nhìn kỹ  thấy ở tấm màn che cuối phòng  có cái đầu anh cà chớn thò ra.  Phòng ngủ của bà Lệ Xuân, bà chủ đang tiếp quốc khách, làm sao có anh cà chớn thập thò sau tấm màn? Ảnh có cái giường ngủ. Không lẽ bà Lệ Xuân bầy thường trực bốn, năm tấm da hổ ngay bên giường ngủ. Không biết có phải những tấm da hổ ấy là da những con hổ do ông Ngô Đình Nhu bắn được hay mua làm collection.  Những năm 1960 ông Nhu thường vào rừng săn cọp.

Khi bà Dân biểu Trần Lệ Xuân đưa ra Luật Bảo Vệ Gia Đình: Cấm Ly Dị, Cấm có Vợ Bé, dư luận cho rằng bà làm luật ấy để ngăn không cho ông Nguyễn Hữu Châu ly dị bà chị ruột ữu Châ của bà là bà Trần Lệ Chi. Bà Demeri kể bà Lệ Chi có chồng là Luật sư Nguyễn Hữu Châu, con nhà giầu miền Nam, từng làm luật sư phụ tá trong văn phòng của Luật sư Trần Văn Chương ở Hà Nội. Chuyện trước năm 1945.

Bà Lệ Chi sau khi có chồng lại yêu một người Pháp tên là Etienne Oggeri, một chuyên viên săn bắn voi lấy ngà voi nổi tiếng. Bà Lệ Chi muốn ly dị chồng để kết hôn với người tình Oggeri. Bà Lệ Xuân làm Luật Cấm Ly Dị để ngăn bà chị ly dị chồng. Bà Lệ Chi cắt mạch máu cổ tay để tự tử nhưng được cứu sống. Bà Lệ Xuân không lý gì đến sự sống chết của bà chị. Luật sư Nguyễn Hữu Châu là Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng chính phủ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Sau khi ông Ngô Đình Diện lên làm Tổng Thống, ông NH Châu từ chức, sang Pháp và qua đời ở Pháp.  Bà Demeri kể về sau bà Lệ Chi kết hôn với ông Oggeri, hai người sang sống ở Hoa Kỳ.

Finding The Dragon Lady. Chương 16. Trang 213 đến trang 225.

Bà Nhu và cô con lần lữa ở lại California sau ngày xẩy ra cuộc đảo chính. Ba người con của bà đã được đưa từ Sài Gòn đến Roma nhưng bà Nhu vẫn chưa thể sang đó với các con bà. Bà không sao chấp nhận cái tin Tổng Thống  NĐ Diệm và ông chồng bà đã chết, và chuyện nay mấy ông quân nhân đã nắm chính quyền Nam Việt Nam. Bà Nhu hy vọng chuyện Tổng Thống và ông chồng bà bị giết là do ông NĐ Nhu đặt ra để lừa đám đảo chính. Khi thấy ảnh TT NĐ Diệm và ông NĐ Nhu bị bắn chết bà Nhu vẫn không tin đó là ảnh thật.

Ngày 5 Tháng 11, 4 ngày sau cuộc đảo chính, bà NĐ Nhu mở cuộc họp báo trong một căn phòng khách sạn Beverly Wilshire. Bà mang kính đen, một chuỗi ngọc trai ở cổ, mặc áo dài Việt Nam đen. Bà nghẹn ngào khi bà đọc bản tuyên bố bà đã viết sẵn. trong bản tuyên bố này có câu:

Whoever has the Americans as allies does not need any enemies.”

“Bất cứ ai có người Mỹ là đồng minh sẽ không cần có kẻ thù.”

Bà cáo buộc Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về cuộc đảo chính. Bàn tay nắm chặt tờ giấy lau nước mắt, bà lấy đủ nghị lực để nói lên lời tiên đoán:

“I can predict to you all that the story in Vietnam is only at its beginning.”

“Tôi có thể nói trước với các vị chuyện về Việt Nam chỉ mới bắt đầu.”

(.. .. .. )

Bà Nhu bị bối rối về chuyện tiền bạc. Tiền căn phòng của bà ở  khách sạn là 98 đô-la một ngày. Nhật báo New York Times loan tin bà Nhu đến Hoa Kỳ với số tiền mặt 5.000 đôla, để chi dùng cho 3 tuần lễ bà dự định sẽ ở Hoa Kỳ. Dư luận đã thổi phồng quá đáng số của cải của ông bà NĐ Nhu. Ông bà Nhu không có tiền, không có nhà ở ngoại quốc. Ông Allen Chase, một nhà tài chính, có nhà ở Los Angeles, mời bà Nhu đến ở. Bà Nhu và Lệ Thủy đến. Ông bà Chase nhường phòng ngủ chính cho mẹ con bà khách, ông bà sang ngủ ở phòng ngủ dành cho khách.

Tạp chí National Review loan tin trong thời gian này có một số người Mỹ đến gặp bà Nhu để tính chuyện bà viết Hồi Ký, chuyện làm phim cuộc đời bà. Nhưng mọi việc đều quá sớm. Bà Nhu phải rời Hoa Kỳ để sang Roma. Số tiền bà không trả Khách sạn Beverly Wilshire là 1.000 đô-la.

Ở phi trường Los Angeles, trước khi cùng Lệ Thủy lên phi cơ, bà Nhu đọc một bản tuyên bố dài. Trong bản văn này có câu:

“Judas bán Chúa Cứu Thế lấy ba mươi đồng tiền bạc, anh em Ngô Tổng Thống bị bán với giá vài đô-la.”

Lời tiên đoán “Chuyện về Việt Nam mới chỉ bắt đầu..” bà Nhu nói trước khi rời Hoa Kỳ cũng đúng. Chỉ ba tuần lễ sau ngày TT. Ngô Đình Diệm bị giết, TT. John F. Kennedy bị bắn chết.

Ngày 24 tháng 11, 1963, từ Roma, bà Nhu gửi một điện tín chia buồn đến bà Jacqueline Kennedy. Trong điện văn, bà Nhu bầy tỏ cảm tình với bà Kennedy và các con của bà. Nhưng bà Nhu cũng không thể không gửi vào điện văn một lời cay đắng: Bà đã phải chịu nỗi đau mất chồng trước bà Kennedy.

“I sympathize the more for I understand that that ordeal might semm to you more unbearable because of your habitually well-shelterd life.” In other words, now you see how it feels.”

Còn 1 kỳ nữa.

Tuần tới sẽ tiếp.

ĐỨC MẸ LA VANG

Tượng Đức Mẹ La Vang ở Maryland, Hoa Kỳ.

Tượng Đức Mẹ La Vang ở Maryland, Hoa Kỳ.

Năm 1955 – sau Ngày Đất Nước Việt chia đôi – Sài Gòn có hai nhật báo của dân Bắc Kỳ di cư: Nhật báo Tự Do và nhật báo Ngôn Luận.

Nhật báo Ngôn Luận do Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng làm chủ nhiệm. Thời gian đầu Ngôn Luận có chủ bút là Hà Đức Minh. Khoảng năm 1960 Hồ Anh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Ông Hà Đức Minh từ trần ở Canada khoảng năm 2000.

Tôi viết phóng sự, tiểu thuyết cho Ngôn Luận trong nhiều năm nhưng tôi mù tịt về việc thế lực chính trị nào yểm trợ cho Hồ Anh ra nhật báo, Hồ Anh lấy tiền đâu mà mở nhật báo, tuần báo, lập nhà in riêng ở đường Lê Lai, Sài Gòn. Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong sống vững trong nhiều năm. Tôi thấy Hồ Anh hoàn toàn làm chủ nhật báo Ngôn Luận. Trong lúc nhật báo Tự Do là của chính quyền, mấy lần phải tạm ngưng ra báo để thay đổi nhân viên, nhật báo Ngôn Luận trong bao nhiêu năm chỉ có Hồ Anh làm chủ. Từ ngày ra đời cho đến ngày bị cái gọi là chính phủ quân nhân bức tử – nôm na là xiết cổ, cắt tiết – Ngôn Luận không tự đình bản để chấn chỉnh nội bộ lần nào. Ngôn Luận  với báo Sàigònmới, báo Đồng Nai cùng bị Đỗ Mậu bóp chết trong một ngày vì tội “cấu kết với nhà Ngô.”

Tượng  Đức Mẹ MARIA ở Nhà Thờ La Vang, Quảng Trị. Ảnh năm 2000.

Tượng Đức Mẹ MARIA ở Nhà Thờ La Vang, Quảng Trị. Ảnh năm 2000.

Có hai ông ký giả đã làm nhân viên tòa soạn nhật báo ở Hà Nội trước năm 1954 ở trong tòa soạn nhật báo Ngôn Luận từ Ngôn Luận Số 1. Hai ông Thái Lân, ông Thái Linh. Hai ông cùng Thái, hai ông cùng là ký giả Hà Nội di cư, hai ông cùng làm nhân viên nhật báo Ngôn Luận từ số đầu, rồi nhật báo Chính Luận, dzài dzài, liên tiếp từ năm 1955 đến Tháng Tư năm 1975. Hai ông cùng chạy thoát khỏi Sài Gòn trước Ngày Thổ Tả 30 Tháng Tư Đen Hơn Mõm Chó, hai ông cùng đến Kỳ Hoa Đất Trích. Nhưng hai ông Thái này có hai cuộc sống ở xứ Mỹ  khác hẳn nhau. Khi tôi – CTHĐ – tới Kỳ Hoa năm 1995 ông bạn đưa vợ chồng tôi đến thăm ông Thái Linh trong một Nursing Home ở thành phố Falls Church nơi chúng tôi đến ngụ. Ông Thái Linh bị bại liệt nửa người đã 10 năm. Sau  20 năm không gặp nhau, ông vẫn nhận ngay ra tôi khi tôi vào phòng ông. Hai tay ông còn viết được, bên giường ông có cái TiVi. Ông mở xem chương trình I love Lucy – nữ diễn viến Lucille Ball – ông nói:

“Tôi thích xem loại phim đàng hoàng này.”

Ông Thái Linh trăm năm hồng lệ khoảng năm 1998. Ông Thái Lân sống bình an, khoẻ mạnh ở Cali. Năm nay – 2013 – ít lắm ông Thái Lân cũng Tám Bó lẻ Năm, Sáu Que. Ông là ký giả thâm niên, cao tuổi nhất trong số loe ngoe vài ông ký giả Ngôn Luận, Chính Luận còn sống: Ký giả Hồng Dương bị Azheimer ở Santa Ana, ký giả Tô Ngọc ở  Sacramento, ký giả Thanh Thương Hoàng ở San José. Ngôn Luận, Chính Luận còn ký giả Vân Sơn ở Sài Gòn. Ngày tôi đi khỏi Sài Gòn năm 1995 Vân Sơn sống với tiệm tạp hóa ngay nhà ông. Hai mươi mùa thu lá bay, nay tôi không biết Vân Sơn còn ở Sài Gòn hay không.

Tôi kể dzài dzòng vế hai ông Thái ký gỉả để nói lên chuyện tôi coi hai ông là Tư chức Ký Giả, hay Ký Giả Tư Chức. Đa số ký giả Sài Gòn có những tật chung là ngồi cà phe đấu láo cả nửa ngày, ăn tục nói phét, cờ bịch, tình nhân, vợ bé vv..vv..Riêng hai ông Thái không vướng những tật chung ấy. Một tật hai ông cũng không vướng. Hai ông đến toà soạn, ra khỏi tòa soạn đúng giờ, hai ông làm trọn phần việc của hai ông.

Chuyện tôi muốn kể về hai ông Thái là hai ông có việc làm, có tiền lương đều từ năm 1955 đến năm 1975. Hai ông chỉ có khoảng thời gian ba tháng nằm nhà. Đó là ba tháng năm 1963 sau khi nhật báo Ngôn Luận bị đóng cửa, trước khi nhật báo Chính Luận ra đời. Còn tôi, trong 20 năm làm báo, viết truyện của tôi, tôi có 2 khoảng thời gian tôi đói dzài, đói dzẹt.

Năm 1954 tôi làm nhân viên nhật báo Sàigònmới, lương tháng 3.000 đồng. Tôi đòi lên lương 4.000 đồng, bà Bút Trà không cho, tôi bỏ Sàigònmới. Lâm, bạn tôi, làm Sở Mỹ, đưa tôi đi làm nhân viên Sở Mỹ. Lâm nói trước với anh Lê Minh Thịnh, Phó Phòng Nhân Viên Toà Đại Sứ Mỹ, người phụ trách nhân viên Việt của Toà Đại Sứ. Tôi đến gặp anh Thịnh. Anh hỏi tôi mấy câu:

“What is your name? How old are you?”

Anh đưa tôi dịch một Memo chữ Mỹ ra chữ Việt. Anh cấp giấy giới thiệu tôi đến USOM, Số nhà 35 đường Ngô Thời Nhiệm. Bà Trưởng Phòng Nhân Viên USOM nhận tôi vào làm ngay. Sở USOM — United States Operation Mission — là tiền thân của USAID. Tôi làm junior clerk, Travel Section, chuyên việc đi đến các Toà Lãnh Sự xin visa cho nhân viên, đi mua vé máy bay cho nhân viên, đưa đón những New Arivals: nhân viên Mỹ mới đến ở phi trường Tân Sơn Nhứt.  Năm 1955 Mỹ bắt đầu thế chân Pháp, can thiệp vào Việt Nam, việc Mỹ viện trợ kinh tế, quân sự cho Việt Nam được mở rộng; tuần nào cũng có năm, bẩy nhân viên USOM từ Mỹ đến Sài Gòn.

Lương tôi một tháng 6.500 đồng, cộng thêm nhiều giờ overtime. Công việc cho tôi có điều kiện đi khỏi sở cả buổi. Cùng lúc ấy tôi được mời viết tiểu thuyết cho Ngôn Luận, cho tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi có hai lương: lương USOM, luơng nhà báo. Cuối năm 1956 tôi chán làm nhân viên USOM, tôi bỏ việc USOM ngang xương. Tôi nói với vợ tôi:

“Anh không muốn làm thư ký Sở Mỹ, anh muốn viết tiểu thuyết.”

Vợ tôi muốn tôi cứ làm Sở Mỹ:

“Anh làm Sở Mỹ có lương tháng vững chắc, em không phải lo tiền hàng tháng. Làm USOM anh vẫn viết được mà. Sao anh lại bỏ USOM?”

“Anh muốn thử xem anh có thể sống được với việc viết truyện hay không.”

lavang3Chỉ với tiền viết Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, vợ chồng tôi đủ sống. Nhưng cái gọi là Série Noire của tôi đến. Trong số người viết cho Văn Nghệ Tiền Phong có vài anh em ghét tôi. Họ toa rập nhau mạt sát tôi ngay trên báo Văn Nghệ Tiền Phong. Họ chế nhạo tôi “ăn cắp văn Vũ Trọng Phụng,” Tôi tự ái bỏ ngang phóng sự tôi đang viết trên Văn Nghệ Tiền Phong, bỏ ngang cả tiểu thuyết tôi đang viết trên Ngôn Luận. Tuần báo Kịch Ảnh ra đời, tôi làm nhân viên Kịch Ảnh, lương tháng 5.000 đồng.

Với số lương tháng 5.000 năm 1956 vợ chồng tôi đã phải sống eo hẹp. Rồi đến cuối năm, Kịch Ảnh ra số cuối cùng là tự đình bản. Báo lỗ, tiêu hết vốn. Tết đến, ông bà nhạc tôi đi Đàlạt ăn Tết, vợ chồng tôi đi theo xe ô tô. Tôi không dám nói cho vợ tôi biết chuyện ăn Tết về là tôi thất nghiệp, tôi không có báo làm, tôi không kiếm được một đồng bạc.

Tôi lo quá là lo. Ngồi trên xe trên đường từ Đàlạt về Sài Gòn ngày Mùng Bốn Tết, nhìn thấy những nhà thờ Công giáo hai bên đường vùng Hố Nai, tôi nghĩ đến chuyện xin Đức Mẹ Maria cho tôi có việc làm. Mỗi nhà thờ tôi đọc nhẩm trong tim ba Kinh Kính Mừng. Nhà Thờ hai  bên đường nhiều đến nỗi tôi phải ghi số nhà thờ lên đốt ngón tay để nhớ mà đọc kinh.

Sáng Mồng SáuTết, Ký giả Nguyễn Ang Ca trên xe gắn máy ngưng trước cửa nhà tôi, gọi vào:

“Hoàng Hải Thủy! Bà Bút Trà nhắn tin trên Sàigonmới mời toa đến toà báo. Biết chưa?”

Tôi đã viết về chuyện tôi trở lại làm nhân viên nhật báo đầu năm 1957. Gần 50 năm sau hôm nay tôi chỉ viết mấy dòng: tôi làm nhân viên Sàgònmới từ năm Tháng Hai 1957 đến Tháng Tu7 năm 1964: Bẩy năm phong độ nhất đời tôi.

Dòng thời gian dài những lá vàng bay. Năm 1991, cô em văn nghệ của tôi ở Mỹ gửi về cho tôi lá thư:

“Em viết thư cho PEN Club Mỹ nhờ họ can thiệp cho anh, họ trả lời vì chính phủ họ khôngt bang giao với Việt Nam Cộng Sản nên họ không giúp anh được. Em gửi kèm đây thư Em gửi họ và thư họ trả lời Em.

“Em không có đạo. Người bạn em nói ở Maryland có Grotto of Lourdes rất đẹp, Đức Bà Maria ở đấy rất thiêng. Em đến xin Đức Bà ban ân cho anh chị. Đây là ảnh Em đến Grotto. “

Năm 1995 vợ chồng tôi đến Virginia,  chúng tôi đến Grooto cám ơn Đức Bà. Từ đó mỗi năm chúng tôi đến viếng Động ít nhất là một lần. Năm 2013 chúng tôi thấy Tượng Đức Bà La Vang Việt Nam được dựng trên đường núi đi vào Động. Tượng Đức Bà La Vang ở Maryland làm theo mẫu Tượng Đức Bà La Vang ở Quảng Trị, Việt Nam. Tượng được làm ở Việt Nam. Trước Tượng Đức Bà La Vang trên đất Kỳ Hoa, tôi nhớ lại một ngày năm 1959 Tổng Thống Ngô Đình Diệm đến nhà thờ La Vang ở Quảng Trị, tôi là ký giả nhật báo Sàigonmới, tôi ở trong đoàn ký giả theo Ngô Tổng Thống đến Nhà Thờ La Vang. Năm 1959 tôi 30 tuổi.

Đây là truyền thuyết về việc Đức Bà Maria hiện xuống La Vang năm 1798.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cầu nguyện trong Nhà Thờ La Vang đổ nát vì bị pháo kích. Ảnh năm 1972.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cầu nguyện trong Nhà Thờ La Vang đổ nát vì bị pháo kích. Ảnh năm 1972.

Trở về thời xa xưa, La Vang là nơi rừng núi hẻo lánh có nhiều cây “lá vằng”, có thú dữ, nằm về phía Tây cách đồn Dinh Cát, về sau là tỉnh lỵ Quảng Trị, bốn cây số và cách Phú Xuân, tức Kinh Ðô Huế, 58 km về phía Bắc. Theo địa bộ của làng Cổ Vưu được lập đời nhà Lê và được quản tu lại đời Gia Long có ghi tên “Phường Lá Vằng.” Sở dĩ gọi vậy là vì nơi đó có nhiều lá vằng, một loại cây mà người phụ nữ lúc sinh đẻ thường nấu nước, có vị đắng, để uống như một vị thuốc, rồi đọc trại ra là La Vang.

Dở lại những trang sử đau thương của đất nước từ năm 1765-1801, nhận thấy trăm họ lầm than, dân tình khổ sở vì nạn đói kém, chiến tranh. Ðối với người Công Giáo lại còn bị bắt bớ, tù đày, giết chóc. Theo truyền thuyết thì Ðức Mẹ đã hiện ra tại La Vang trong thời gian đen tối đó, tuy không rõ năm nào, nhưng theo truyền khẩu, nhiều người cho rằng Ðức Mẹ đã hiện ra dưới thời vua Cảnh Thịnh triều Tây Sơn vào năm 1798.

Ngày 17-08-1798 vua Cảnh Thịnh, con của vua Quang Trung, ra sắc dụ cấm đạo từ Phú Xuân đến Bắc Hà, lệnh cho tiêu diệt đạo Giatô, là đạo ngoại quốc, phải triệt hạ các đạo đường, đạo quán và tróc nả các đạo trưởng. Ðể trốn tránh sự bắt đạo của quan quân Tây Sơn, giáo dân xứ Trí Bưu (Cổ Vưu), xứ Thạch Hản… đã trốn vào  “Phường Lá Vằng”. Họ phá rừng làm rẫy,  làm trại để sống. Và theo truyền thuyết, đêm đêm họ họp nhau đọc kinh lần chuỗi. Vào một đêm, họ thấy một bà đẹp, tay bồng chú bé xuất hiện nơi một cây đa cổ thụ, có hai vị cầm đèn chầu. Họ nhận ra đó là Ðức Mẹ Maria bồng Chúa Hài Ðồng. Ðức Mẹ đã ngỏ lời an ủi họ, bảo họ hái lá cây xung quanh nấu nướx mà uống sẽ được lành bệnh và hứa rằng ai đến cầu khẩn tại chốn này Ngài sẽ ban ơn. Ðức Mẹ còn hiện ra với họ nhiều lần…

Ngưng trích Internet.

Dưới Tượng Đức Bà La Vang, Maryland có tấm bảng ghi:

Gift of Mr & Mrs Duong Tran and Kim Hoa T Tran. In Loving Memory of their parents.

Rừng Phong, Ngày 22 Tháng 10, 2013.

SÀI GÒN CHỈ VUI… 10. 2013

Tù Tầu vác cuốc đi làm khổ sai.

Tù Tầu vác cuốc đi làm khổ sai.

Tháng 10, 2013, Nhật báo The Washington Post đăng bài:

Virginia doctor thwarted in aid mission.

Woman from McLean is turned away after traveling to China in hope of treating imprisoned activist Zhu Yufu.

Y sĩ Virginia bị từ chối trong nhiệm vụ cứu trợ.

Bà Y sĩ ở vùng McLean bị xua đuổi  khi đến Trung Quốc với ý muốn điều trị cho Zhu Yufu, người đấu tranh cho Dân Chủ bị tù.

Bài của ký giả William Wan viết từ Bắc Kinh.

Ông Tù Tầu ZHU YUHU

Ông Tù Tầu ZHU YUHU

Sơ lược: Bị xúc động vì tình trạng suy nhược của một người Trung Hoa đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ bị giam tù vì tội là tác giả một bài thơ ngắn, một bà bác sĩ người Mỹ đã nghỉ hưu cư trú trong vùng McLean gần bên thủ đô Washington DC – Bà Devra Marcus, 73 tuổi – đã sang Trung Quốc để đến  trại tù khổ sai Số 4, ở tỉnh Zhejiang, yêu cầu được gặp người tù chính trị Zhu Yufụ Bà bác sĩ nói rõ ý định: bà gặp để lo việc trị bệnh cho ông Tù Tầụ

Viên chức Trại Tù Số 4 không cho bà Marcus được gặp người tù Yufu, họ lấy cellphone của người đàn ông Tầu đi theo bà Marcus để làm việc thông dịch; họ trả lại cellphone sau khi xóa những tấm ảnh ghi hình trại tù trong máỵ

Bà bác sĩ Devra Marcus, 73 tuổi, tóc bạn trắng, mang kính trắng, là bà nội, bà ngoại có nhiều cháụ Bà hành nghề y sĩ ở Virginia trong hơn 40 năm, bà diễn tả cuộc đến thăm Trại Tù là một “experience as surreal and at times frightening: sự việc không thực và có lúc dễ sợ.” Từ lúc bà đến Trại Tù tới lúc bà phải đi khỏi đấy là 2 giờ 30 phút. Bà nói:

“I figured, what are they possibly going to do to an old Jewish white lady from McLean?”

“Tôi nghĩ người ta có thể làm gì với một bà già người Do Thái da trắng đến từ McLean?”

Nhiều tổ chức Nhân Quyền trên thế giới đã làm nhiều việc để giúp người tù Zhu Yuhụ Nhiều người cho việc bà Devra Marcus đến ngay Trại Tù yêu cầu gặp người tù có thể gây hại cho bà và cho người tù Zhu Yuhụ Bà Marcus nói bà cũng biết việc bà muốn gặp người tù là rất khó và có ít hy vong, nhưng bà cứ làm. Bà nói:

“Việc quan trọng là tôi đến trại tù.”

Lần thứ nhất bà Marcus biết về người tù Zhu Yuhu là khi người con của ông Yuhu đến thủ đô Washington để tới Quốc Hội Mỹ nhờ những nhà lập pháp Mỹ lên tiếng bảo vệ ông Yuhụ Anh con ông Yuhu cần nơi trú ngụ. Ông chồng bà Marcus, một cựu viên chức trong chính phủ của Tổng Thống Ronald Reagan, một nhà đấu tranh cho Nhân Quyền, mời ông khách từ Trung Quốc đến ngụ ở nhà ông.

Khi được biết ông tù Yuhu đi đứng khó và da toàn thân bị lên những mảng đỏ, bà Marcus thấy bà phải làm một việc gì cho ông tù. Bà nói:

“Đó việc y sĩ phải làm khi có người bệnh, y sĩ phải lo cứu họ.”

Ông Zhu Yuhu bị án tù 7 năm – án năm 2011 – sau khi ông làm bài thơ có nội dung kêu gọi người trong nước đến Quảng Trường Thiên An Môn biểu tình nói lên ý muốn của họ, nói lên tiếng nói của Trái Tim họ. Bài thơ 12 dòng chữ, có tên là“It’s time “– Cái tên “It’s time” giống như lời bài ca “Sì lai: Thời lai” của quân Tầu Đỏ những năm 1945.

Đây là lời bài thơ được dịch sang Anh ngữ:

*The poem in question that Zhu Yufu posted on the Internet is “It’s Time”. The following is an English translation by Ạ Ẹ Clark.

It’s time, people of China!  It’s timẹ
The Square belongs to everyonẹ
With your own two feet
It’s time to head to the Square and make your choice.

It’s time, people of China! It’s time
A song belongs to everyone
From your own throat
It’s time to voice the song in your heart.

It’s time, people of China! It’s time
China belongs to everyone
Of your own will
It’s time to choose what China shall be.”

Bài thơ được ông Zhu Yuhu đưa lên Internet là bài “Đến lúc,” bản dịch Anh ngữ của Ông A.E Clark.

Đến lúc, nhân dân Trung Quốc, đến lúc
Công Trường là của tất cả mọi người.
Với hai chân bạn
Đến lúc bạn đi đến Công Trường và nói lên quyết định của bạn.
Đến lúc, nhân dân Trung Quốc, đến lúc
Bài ca của tất cả mọi người
Từ miệng bạn
Đến lúc bạn hát lên lời ca trong tim bạn.
Đến lúc, nhân dân Trung Quốc, đến lúc
Trung Quốc là của tất cả mọi người
Với ý chí của chính bạn
Đến lúc bạn chọn Trung Quốc sẽ ra sao

Trước đó người tù Zhu Yuhu đã bị tù 7 năm – từ 1999 đến 2006 – vì tội đòi Dân Chủ, Nhân Quyền cho dân Trung Quốc.

o O o

Bà Devra Marcus ngồi nghỉ trước cổng Nhà Tù Tầu Cộng. Thiếu phụ đứng bên bà là bà vợ Người Tù Zhu Yuhu.

Bà Devra Marcus ngồi nghỉ trước cổng Nhà Tù Tầu Cộng. Thiếu phụ đứng bên bà là bà vợ Người Tù Zhu Yuhu.

Trong hơn 30 năm, bà Marcus và ông chồng bà từng đón tiếp những nhân vật ly khai, bất đồng chính kiến đến thủ đô Hoa Kỳ từ khắp nơi trên thế giớị Mới đầu là những người Tiệp, Bảo, Hung, Ba lan và Nga, rồi có những người Bắc Hàn, Đông Đức. Tới năm 2000 có những người Tầu.

Gia đình bà Marcus – dân Nga gốc Do Thái – di cư từ Nga sang Hoa Kỳ năm 1920. Bà Marcus ra đời ở Mỹ, vì là dân di cư từ một nước cộng sản cầm quyền, bà thương cảm những nạn nhân của cộng sản. Bà cộng tác tích cực với Tổ Chức China Aid, Trụ sở ở Texas. Trước hết bà xin chiếu khán vào đất Tầu để du lịch, bà khai bà sẽ đến thăm những Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật. Trong hành lý bà có máy đo áp huyết, kim chích và một số thuốc. Bị hỏi về những thứ này bà nói bà đem theo để dùng cho bà.

Ông Kody Knoll là nhân viên Tổ chức China Aid, ông cùng đi với bà Marcus đến đất Tầụ Tại đây họ gặp bà Jang Hangli – bà vợ ông tù Zhu Yuhu – cùng với một ông Tầu biết tiếng Mỹ làm thông dịch; bốn người trên xe hơi đến Trại Tù Số 4 ở Hàng Châụ Một viên chức Trại Tù tiếp họ.  Viên chức này không cho biết tên và chức vụ, ông này nói:

“Người ngoại quốc không được phép thăm tù..”

Bà Marcus đưa trình tờ Thỉnh Nguyện Tổ Chức China Aid gửi Hội Đồng Liên Hợp Quốc và Thư Liên Hiệp Quốc tán thành việc nhân viên Tổ chức China Aid đến Trung Quốc lo việc Nhân Quyền, viên chức Trại Tù Tầu gạt đi:

“Liên Hiệp Quốc không có thẩm quyền gì cả.”

Viên chức này cho biết bà vợ Zhu Yuhu sẽ được gặp ông chồng tù theo điều lệ của Trại Tù nhưng cuộc gặp không phải là ngày hôm nay. Khi ra cổng trại tù, bà Marcus ngồi nghỉ – như trong ảnh – ông Kody Knoll và bà vợ ông Zhu Yuhu đứng hai bên bà, ông Tầu thông ngôn đã bỏ về trước.

Phone về Mỹ cho Tổ Chức China Aid, bà Marcus nói bà thất vọng về chuyến đi nhưng bà thấy ít nhất chuyến đến Trại Tù này của bà cũng có tác dụng tốt. Bà nói:

“Tôi muốn ông Yuhu, và chính quyền Trung Quốc biết rằng thế giới chú ý, quan tâm đến người tù Yuhu. Nếu ông tù chết vì bệnh trong tù, chính quyền Trung Quốc phải chịu trách nhiệm.”

o O o

Ông Tù Tầu Zhu Yuhu không phải là người Tầu làm Thơ duy nhất bị bọn Tầu Cộng bỏ tù. Ông Tầu Liu Xiaobo – Lưu Hiểu Ba – Giải Văn Học Nobel 2008 – bị tù từ tháng 12, 2008. Bà vợ ông Lưu Hiểu Bà bị cấm ra khỏi nhà từ tháng 10, 2008. Tổng Giám Mục Desmond Tu Tu làm một Thỉnh Nguyện Thư gửi chính phủ Tầu Cộng, yêu cầu trả tự do cho ông Tù Lưu. 450.000 người trên thế giới ký tên vào bản Thỉnh Nguyện này. Đồng thời 134 ông bà được Giải Nobel ký chung một thư yêu cầu Tầu Cộng trả tự do cho ông Nobel Tầu Lưu Hiểu Ba. Nhưng..

Bọn Tầu Công tỉnh bơ kiêm tỉnh queo. Chúng coi như không có những Thư Xin Tha ấy. Nhà Nobel Lưu Hiểu Ba cứ nằm phơi rốn trong tù dài dài.

Bọn Việt Cộng bắt chước y hệt những trò bọn Tầu Cộng làm. Tôi miễn kể tội bọn Việt Cộng trong bài này. Tôi viết đến một vụ bị Tù vì Thơ, Nhạc xẩy ra ở Việt Nam từ năm 1984.

Ông Khuất Duy Trác là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Tháng Sáu năm 1975 ông bị đi lao động khổ sai. Một hôm ông cùng các bạn tù – toàn là sĩ quan – cuốc đất, đào mương ở bên đường vào trại tù. Thấy các bà vợ tù vào trại thăm nuôi chồng, một ông tù hỏi:

“Sài Gòn có gì vui không, mấy chị?”

Một bà trả lời:

“Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Cảm khái vì câu trả lời, ông Duy Trác làm bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Ông làm Lời bản nhạc:

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
Sài Gòn có vui ? Sài Gòn có vui ?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ:
“Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ
Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
Tôi sẽ nguyện cầu cho Tình Yêu và cuộc Sống
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Cám ơn Sài Gòn tôi sẽ trở về
Sài Gòn mến yêu ! Người tình dấu yêu ! Tôi sẽ trở về !

Năm 1980 người tù khổ sai sĩ quan Duy Trác trở về Sài Gòn. Bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui..” được gửi ra nước ngoài. Tháng Tư năm 1984 nhạc sĩ tác giả “Sài Gòn chỉ vuị.” bị bọn P25 Việt Cộng bắt. Chúng giam ông 4 năm ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu và Nhà Tù Chí Hoà. Ông bị xếp vào nhóm tù văn nghệ sĩ  bị bọn Phản Gián VC gọi là “Bọn Biệt Kích Cầm Bút.” Nhóm tù này gồm các văn nghệ sĩ Doãn Quốc Sĩ, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý và Hoàng Hải Thủỵ Nhóm này có cô Nguyễn Thị Nhạn, nhân viên Nhà Bưu Điện Sài Gòn. Cô Nhạn giúp nhóm văn nghệ sĩ gửi những tác phẩm ra nước ngoài và nhận dùm những tài liêu từ nước ngoài gửi về.

Cô Lý Thụy Ý bị bắt tù vì bài thơ trong có hai câu:

“Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?
Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụỵ”

Ông Dương Hùng Cường bị bắt về tội viết bài gửi ra nước ngoàị Trong số sáng tác những năm 1982, 1983 của ông có bài “Nếu anh Trương Chi đẹp traị”

Ông Trần Ngọc Tự, sĩ quan bị tù khổ sai ở miền Bắc 4 năm. Về Sài Gòn năm 1982, 1983 ông Tự đem máy ảnh đi chụp một số cảnh và người Sài Gòn. Trong lô ảnh này có một số ảnh ghi hình những phụ nữ Sài Gòn rầu rĩ ngồi ở vỉa hè với những mảnh nylon trên bầy một hai bộ chén bát, cái bàn ủi, nồi cơm điện, cái casette ..vv ,,vv.. Và cảnh những thiếu nữ đi rong mua đồ trong những xóm nhà Sài Gòn. Tập ảnh này được đặt tên là “Nhìn em đi anh..” Tập ảnh được gửi ra nước ngoài. Ông Tự bị bọn P25 bắt Tháng Tư 1984.

Năm 2005 tôi – CTHĐ – sang Paris, tôi có ý tìm bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai” và tập ảnh “Nhìn Em đi anh.” Tôi không tìm được.

Trong 4 năm bị tù từ năm 1984 đến năm 1988, trước ngày ra toà xử, ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết ở Nhà Tù Chí Hoà, ông Dương Hùng Cường chết trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưụ

Năm 1986 – trước ngày bọn Cộng Hà Nội họp Đại Hội Đảng Kỳ 6 – bọn Cộng Hồ Chí Minh đưa nhóm Doãn Quốc Sĩ ra toà. Chúng khép nhóm văn nghệ sĩ này vào tội Gián Điệp. Án phạt bọn gián điệp: Tên Đầu Xỏ tử hình, tên thứ hai tù chung thân. Án tối thiểu xủ bọn gián điệp là tù 12 năm. Khi tên nhân viên Toà án vào Nhà Tù Chí Hòa, gọi nhóm Doãn Quốc Sĩ ra nghe đọc lệnh xử, bọn Tòa án không biết người tù Dương Hùng Cường đã chết, tên người tù Dương Hùng Cường vẫn ghi trong giấy gọi ra toà. Bọn nhà báo hai tờ Tuổi Trẻ, Công An om sòm loan tin về vụ Xử bọn Gián Điệp: “Bọn gián điệp sẽ phải cúi đầu nhận tội. Bọn gián đệp sẽ phải chịu những bản án đích đáng với tội trạng..vv..”

Bọn ký giả Tuổi Trẻ, Công An nhẩy múa trên gông cùm của người khác. Nhưng năm 1986 chúng định xử nhóm văn nghệ sĩ mà chúng không xử được. Phiên tòa được loan báo, đúng ngày người tù bị đưa từ Nhà Tù Chí Hòa ra toà án nhưng phiên toà bị đình hoãn vô hạn định. Nhóm tù văn nghệ sĩ bị đưa từ toà về Nhà Tù Chí Hoà. Năm 1988 lần thứ hai nhóm văn nghệ sĩ bị đưa ra tòa. Lần này nhóm mất thêm một người: ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong Nhà Tù Chí Hoà. Trong giấy gọi ra toà vẫn có tên người tù Nguyễn Hoạt.

Bọn Ký Giả bị Rọ Mõm báo Tuổi Trẻ, Công An Thành Hồ từng hí hởn loan tin “Bọn gián điệp ra tòa“ im re. Báo Rọ Mõm không loan tin Toà hoãn xử.

Vì hai câu Thơ “Anh giải phóng tôi  hay tôi  giải phóng anh? Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy,” cô Lý Thụy Ý bị án 5 năm tù khổ sai.

Vì tội giúp bọn phản động, cô Nguyễn Thị Nhạn lãnh án 4 năm tù khổ sai.

Nhà văn Doãn Quốc Sỉ bị án 9 năm tù khổ sai vì tôi viết nhiều bài mô tả đời sống cơ cực, tuyệt vọng của nhân dân trong gông cùm cộng sản. Nhà văn cũng ghi nhận sự thù hận bọn Cộng, và sự khinh bỉ bọn Cộng của nhân dân Sài Gòn. Trong một bài viết ông kể phụ nữ Sài Gòn “liệng những bao giấy báo trong có bông vệ sinh đỏ lòm những máu lên mặt đường, như họ ném những bao máu ấy lên mặt bọn lãnh đạo Cộng sản.”

Ông Duy Trác bị án 4 năm tù vì bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui..”

Ông Trần Ngọc Tự án 4 năm vì tập ảnh “Nhìn Em đi Anh.”

Năm 1984- năm 2013. Ba mươi muà thu lá bay…

Vèo trông lá rụng đầy rừng
Tù đầy phù thế có từng ấy thôi!

Hôm nay, một sáng Tháng 10 năm 2013, yên bình viết những dòng chữ này, tôi nhớ lại cảm giác, cảm nghĩ trong hai lần tôi bị đưa từ Nhà Tù Chí Hòa ra toà án. Chúng tôi 8 người vào tù trong một ngày, một đêm. Bốn năm sau chúng tôi chỉ còn 6 người ra toà. 8 mất 2: con số khá cao. Hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cùng đã chết thảm trong tù.

Làm sao tôi quên? Làm sao tôi không thù hận? Tại sao tôi không kể?

Tôi còn sống tôi còn kể.

RA TÒA, VỀ TÒA, Hoàng Hải Thủy làm trong Nhà Tù Chí Hoà năm 1988.

Ra toà trong chiếc xe heo
Tay còng, áo dấu, ngặt nghèo bước chân
Mấy năm toà xử mấy lần
Bồi hồi Em đến, ngại ngần Anh ra.
Anh tù Anh ở Chí Hoà
Em tù Em ở riêng nhà vắng Anh.
Anh làm, Anh tội đã đành.
Em làm gì tội, một cành thiên hương.
Ma dẫn lối, quỉ đưa đường
Đôi ta qua nẻo đoạn trường tới đây.

Ra toà trong chiếc xe cây
Tay còng, áo dấu dạn dầy bước chân.
Tài tử đa cùng
Hồng nhan đa truân.
Đa tình tài tử, giai nhân
Đa đoan thân thế mấy lần biển dâu
Biển dâu,, dâu biển mặc dầu
Đoạn trường ta vẫn qua cầu nắm tay

Về toà trong chiếc xe này
Tám năm tòa xử, một ngày bên nhau
Thời gian có nghĩa gì đâu,
Mặc thời gian chẩy dưới Cầu Thời Gian.
Em năm mươi tuổi đang xoan
Anh năm muơi tuổi chửa toan về già.
Toà về Anh ghé Chí Hoà
Tòa về Em trở về nhà đón Anh.

AO THẢ VỊT 2013

Toà báo Sống bị một nhóm người biểu tình phá, đốt năm 1966.

Toà báo Sống bị một nhóm người biểu tình phá, đốt năm 1966.

Sáng đầu mùa thu, mưa thu trên Rừng Phong. Trên Internet thấy chuyện Naked Streaking như sau:

Chủ nhật Tháng 10, ngày 6, 2013, cô Kimberley Webster, 23 tuổi, làm cuộc “Chạy Truồng” qua sân Golf đang giờ đánh Gôn ở thành phố Dublin, Ohio. Bản tin trên Internet có ảnh cô Webster chạy qua sân Golf với quốc kỳ Mỹ bay trên đầu. Cô Webster kể:

Cô Kimberley  Webster “Chạy truồng” Tháng 10, 2013 ở Ohio, Hoa Kỳ.

Cô Kimberley Webster “Chạy truồng” Tháng 10, 2013 ở Ohio, Hoa Kỳ.

“Hôm trước tôi và mấy người bạn tôi nói chơi về chuyện lâu lắm không có cuộc “Chạy truồng” nào. Một người bạn tôi nói: “You làm đi.” Về nhà, tôi tra kiểm trên Internet thấy mấy cuộc Streaking ở Mỹ đều do đàn ông thực hiện. Tôi nghĩ cần có một cuộc Streaking phụ nữ để gọi là thay đổi không khí. Tôi bèn thực hiện ý định. Và tôi đã hoàn thành niệm vụ.”

Cô Webster dùng tiếng “Mission accomplished.”  Như tiếng TT Bush đã dùng ngày nào khi ông cho quân Mỹ đánh vào Irak.  Gần như trần truồng chăm phần chăm, hai tay cầm quốc kỳ dương trên đầu, cô Webster chạy đẹp qua sân golf. Cô kể cô chạy qua sân golf rồi cô mới bị cảnh sát bắt. Cô không bị cảnh sát còng tay. Vì cô trần truồng nên cảnh sát cho cô mặc cái áo đặc biệt của cảnh sát dùng để giữ chặït hai tay của những người điên lên cơn hung dữ. Cô bị đưa thẳng đến Toà án Dublin. Tại toà án cô bị kết tội “có hành đông gây rối: – Disorderly conduct – “Cô nói:

And I walked away with $100.”

“Tôi ra khỏi toà với 100 dô-la. “

Như vậy phải chăng là cô bị phạt tiền, cô không bị đưa ra toà vì tội chạy truồng nơi công chúng, cái tội mà Pháp Luật Quốc Gia VNCH gọi là “tội công súc tu sỉ.” Năm xưa ông Vũ Văn Mẫu dịch câu “cơng súc tu sỉ” từ tiếng Pháp “attentat à la pudeur publique.”

Cô Webster nói cô chỉ tiếc cô bị mất lá quốc kỳ khi cảnh sát tóm cô.

Cuộc Chạy Truồng của cô người Mỹ làm tôi nhớ  một Cuộc Chạy Truồng năm xưa ở Sài Gòn. Năm xưa đây là những năm 1966, 1967.

Cuộc Chạy Truồng ở Sài Gòn Xưa do ông Chu Tử, Chủ nhiệm Nhật báo Sống tổ chức.

Tôi, Công Tử Hà Ðông, đã nhiều lần viết về Nhà Văn — Nhà Báo Chu Tử  Chu Văn Bình. Bài viết dưới đây  tôi viết Tháng Tư 2009, có thể là bài cuối cùng tôi viết về Nhà Báo Chu Tử.

“Tôi không là nhân viên Tòa soạn Nhật Báo Sống, tôi viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông “Người Yêu, Người Giết” cho Nhật báo Sống trong thời gian Nhật báo Sống có nhiều người đọc nhất, khoảng những năm 1967, 1970. Năm 1965, 1966 quân Mỹ ồ ạt kéo vào Việt Nam. Cùng trong một ngày 3 vụ ám sát chính trị xẩy ra trong thủ đô Sài Gòn:

  1. Lúc 8 giờ sáng, Chủ nhiệm Nhật Báo Sống Chu Tử, từ nhà riêng trong Cư Xá Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận, ra xe ô tô để đến tòa báo đường Gia Long. Bọn ám sát chờ sẵn trước cửa nhà ông, bắn ông nhiều phát đạn qua cửa kính sau xe ô tô của ông. Chủ Nhiệäm Nhật Báo Sống bị trúng đạn vào ót, tiếng Bắc là gáy, đạn xuyên từ sau cổ ông sang miệng ông. Nhưng ông không chết.
  2. Lúc 1 giờ trưa cùng ngày, Ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy, Tổng Thư Ký Tòa Soạn Nhật Báo Chính Luận, từ tòa báo đuờng Võ Tánh về nhà riêng trong Cư Xá Nguyễn Tri Phương. Bọn ám sát bắn ông khi ông ra khỏi xe. Ông chết ngay tại chỗ.
  3. Cùng ngày, Thượng Toạ Thích Thiện Minh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Phật Giáo, bị đặt mìn dưới xe, hay trong  xe ô tô. Mìn nổ, Thượng Tọa chỉ bị thương nhẹ. Có thể thế lực nào đó chỉ muốn cảnh cáo mà không muốn làm TT. Thiện Minh thiệt mạng.

Sau khi ông Chủ Báo bị bắn, bị thương nặng, nhưng không chết, nhật báo Sống có nhiều người đọc, người mua, trở thành một trong mấy tờ nhật báo nhiều người đọc, có thế lực nhất làng báo Việt Nam thời ấy. Trong một bài Ao Thả Vịt, ông Chu Tử, với bút hiệu Kha Trấn Ác, viết về vụ ông bị bắn và vị Thượng Tọa bị đánh mìn:

“Có người bạn vừa gửi cho ATV câu đối:

Chu Bình sứt miệng bình,
Thượng Toạ mẻ bàn toạ.

Cái miệng của ATV được ví với bàn toạ của Thượng Toạ là một vinh hạnh cho ATV.”

Từ khi ngồi sau xe Lambretta do Minh Vồ chạy, bị xe taxi đụng gẫy cổ chân phải, đi khập khiễng, ông Chu Tử lấy bút hiệu Kha Trấn Ác ký mục Ao Thả Vịt trên nhật báo Sống. Nhưng ông vẫn tự xưng là ATV trong bài viết.

Năm 1967 tôi viết truyện Người Yêu, Người Giết trên nhật báo Sống, phóng tác truyện La Seconde Souffle của José Giovanni, tiểu thuyết gia người Ý. Tháng thứ nhất tôi đến tòa soạn lấy tiền nhuận bút. Sau khi bị bắn, tay anh Chu Tử run, chữ anh viết thật lớn, anh viết bằng bút Bic trên trang sau của tờ tin Việt Tấn Xã, chỉ ba, bốn hàng chữ, mỗi hàng ba, bốn chữ là kín một trang. Tôi đến trước bàn anh:

- Anh cho tôi tiền tiểu thuyết.

Ngưng viết, anh hỏi tôi:

- Anh muốn lấy bao nhiêu?

Câu hỏi của anh làm tôi sững lại. Viết phơi-ơ-tơng từ năm 1956, tới lúc đó là 10 năm, chưa ông bà chủ báo nào hỏi tôi một câu như thế. “Muốn lấy bao nhiêu tiền?” Tôi ngần ngừ. Nói ra con số sợ quá nhiều, không được chi thì ngượng, mà nói ít thì tiếc. Thấy tôi ngần ngừ, anh Chu Tử nói:

- Anh muốn lấy bao nhiêu anh cứ nói. Báo tôi bây giờ khá rồi.

Tơi nói:

- Nếu anh nói thế, anh cho tôi mỗi tháng 20 ngàn.

Anh viết ngay xuống trang giấy Việt Tấn Xã:

“Ðưa anh HH Thủy mỗi tháng 20 ngàn.”

Quản lý báo Sống là ông Cao Ðắc Tín, các ký giả báo Sống gọi ông là ông Cao Hắc Ín vì nước da của ông, người giữ két báo Sống là Ðông, vì trẻ tuổi và nhỏ con nên được anh em thân mật gọi là Ðông Con. Trong 2 năm cuối của báo Sống, ông Cao Ðắc Tín nghỉ hưu, người quản lý mới, và cuối cùng của báo Sống là Vũ Ðạo Doanh. Vượt biên sang Mỹ khoảng năm 1980, Vũ Ðạo Doanh đã trăm năm hồng lệ ở Houston.

Ðưa tờ giấy VTX có chữ viết của ông Chủ Báo Sống Chu Tử cho Ðông Con là tôi có ngay 20 ngàn đồng. Tôi đưa nguyên 20.000 đồng bạc VNCH tiền nhuận bút Người Yêu, Người Giết tháng thứ nhất ấy cho Alice. Nàng đi mua cái máy may Sinco mới tinh ở nhà đại lý Sinco đường Trần Hưng Ðạo. Ðặt mua máy may Sinco giá năm ấy là 17.000 đồng, 3 tháng sau có máy; muốn lấy máy ngay thì sang cửa hàng bên cạnh, có máy sẵn, giá 19.000 đồng. Alice chi ngay 19.000 đồng, đưa máy lên xích-lô về nhà. Máy may Sinco mua năm 1967, được dùng cẩn thận, giữ kỹ nên đến năm 1975 còn gần như mới nguyên.

Sau 5 năm đồng bạc Quốc Gia bị lạm phát với tốc độ không phải là “phi mã” mà là “phi long,” năm 1972 giá một máy may Sinco là 100.000 đồng, tiền nhuận bút phơi-ơ-tông của tôi mỗi tháng cao nhất vẫn là 20.000 đồng, có báo chỉ trả 10.000 đồng một tháng.

Năm 1966, 1967 — trước Tết Mậu Thân — là những năm nhật báo Sống bán chạy nhất. Báo Sống năm 1967 có Kha Trấn Ác — bút hiệu của anh Chu Tử — viết Ao Thả Vịt, anh Nguyễn Mạnh Côn viết “Tuyên Ngôn của Tình Yêu và Ánh Sáng,” Tú Kếu giữ mục Thơ Ðen, anh Anh Hợp viết tiểu thuyết “Cõi Chết,” Nguyễn Thụy Long viết “Loan Mắt Nhung, Kinh Nước Ðen”, anh Hoàng Ly viết “Giặc Cái,” anh Bùi Giáng viết một tiểu thuyết võ hiệp tôi không nhớ tên, và tôi viết truyện “Người Yêu, Người Giết.” Ðằng Giao làm thư ký tòa soạn. Phóng viên Nhật Báo Sống có Trần Tử, Anh Quân.

Tác giả Bùi Giáng viết phơi-ơ-tông mà người đọc không ai hiểu anh viết gì cả, anh cho nhân vật, nhất là nhân vật nữ, trong truyện của anh, luôn miệng nói hai tiếng  “liên tồn, tồn liên.” Như:

“Nàng thu bảo kiếm, chắp tay, hé miệng anh đào, nói:

– Ða tạ đại hiệp đã có dạ liên tồn.”

Hoặc:

– Ơn tồn liên ấy thiếp không bao giờ quên..”

Hay

“Chàng nhớ mãi nụ cười liên tồn của nàng.”

Chủ nhiệm Nhật báo Sống tất nhiên cũng rất muốn báo mình có trang Rao Vặt như báo Chính Luận, nhưng anh không sao có được, Rao Vặt của Sống chỉ èo uột không đầy nửa trang báo, mà đa phần lại không đúng là Rao Vặt. Cho đến một ngày chúng tôi thấy xuất hiện trong mục Rao Vặt của Sống một mẩu nhắn tin khá đặc biệt mà chúng tơi gọi là tin “Tý Con Em.”

“Tý Con Em: Nửa tháng không thấy nhau, ra vào thấy gối giường, quần áo, rơi lệ, TRẤU CẮN, BUỒN chịu vậy, biết nói cùng ai. TƠ DUYÊN sao đứt. Em đừng tin lời NGƯỜI TA. HAI hay BA cũng xấu. Rắn HỔ MANG. Miệng lằn, lưỡi mối. Em hết giận hờn không lâu. HIỂU LẦM. THƯƠNG QUÍ nhau hơn. Chồng Em mong Em về. Thương Em.”

Anh chồng Tý Con cứ đăng nhắn tin lẩm cẩm như thế trong mục Rao Vặt báo Sống, ba bốn ngày thay một bản tin, dài dài đến bốn, năm tháng. Mỗi lần đến tòa soạn Sống đưa bài, lấy tờ báo qua ngồi đọc ở xe cà phe bên kia đường, tôi thường hỏi các bạn:

– Tý Con Em có gì mới không?

Có hôm tôi nghe nói anh Chu Tử vừa bị An Ninh Quân Ðội hỏi thăm về chuyện Tý Con. Số là báo Sống đăng bản nhắn tin:

TÝ CON EM

Cần gặp em thanh toán mấy việc. Công nợ phải trả. Ðừng để MANG TIẾNG. Hãy xứng đáng con nhà GIA GIÁO, LƯƠNG THIỆN. TRỐN TRÁNH không đi đến đâu. Hẹn gặp Thứ Bẩy ở nhà bác Tư Cao, ấp Trung Mỹ Tây. Ðừng sai hẹn. Nhớ đem Sổ Gia Ðình trả cho người ta. Chồng Em.”

Năm ấy là năm trước Tết Mậu Thân, VC hay đánh mìn những bin-đinh Mỹ. Vài ngày sau ngày báo Sống đăng tin anh chồng Tý Con hẹn gặp Tý Con ở ấp Trung Mỹ Tây, một bin-đinh Mỹ ở Sài Gòn bị đánh bom, An Ninh Quân Ðội nghi bản nhắn tin “Tý Con Em”trên báo Sống có thể là tin của đặc công VC nhắn nhau đi đánh bom bin-đinh Mỹ nên hỏi Chủ nhiệm Sống.

Ngày tháng qua đi, một sáng ở xe cà phê trước tòa soạn báo Sống, trên báo Sống tôi đọc thấy:

“Trả lời: Ðừng đăng báo vô ích. Tôi khơng bao giờ trở về. Tôi trả hết nợ rồi. Sổ gia đình để ở nhà bác Cả Bi. Ðịnh mệnh đã an bài. Vĩnh biệt. TÝ CON.”

Tôi kêu lên với Nguyễn Thụy Long:

– Ê.. Tý Con trả lời này.. Nhất định không về. Cắt đứt luôn.. Ðịnh mệnh đã an bài. Vĩnh biệt!

Và thế là hết. Thư trả lời ngắn gọn của Tý Con chấm dứt cuộc tình “Rao Vặt Tý Con Em” trên báo Sống. Từ đó anh chồng Tý Con ngưng không nhắn tin cà kê dê ngỗng mong Tý Con trở về nữa. Anh im luôn. Ðúng là vĩnh viễn. Tôi nhớ mãi chuyện Tý Con, tôi cảm khái vì “Cuộc Tình Tý Con Em.” Tôi dùng câu “Ðịnh mệnh đã an bài” làm tên một tiểu thuyết phóng tác của tôi .“

Các anh tôi vừa kể trên đây: Chu Tử, Nguyễn Mạnh Côn, Cao Ðắc Tín, Vũ Ðạo Doanh, Bùi Giáng, Hoàng Ly, Anh Hợp, Duyên Anh, Minh Vồ, Anh Quân, Tú Kếu, Nguyễn Thụy Long, Ðông Con, Trần Tử, Anh Quân nay đều không còn ở cõi đời này.

Năm 1969, hay năm 1970, tôii không nhớ đúng, chỉ nhớ là sau Tết Mậu Thân, báo Sống đang sống mạnh, sống vui thì bị chính phủ Nguyễn Văn Thiệu đóng cưả. Nguyên nhân: báo Sống làm một phóng sự về Căn Cứ Quân Sự Mỹ ở Cam Ranh. Bán đảo Cam Ranh, giải đất nhô ra biển, được VNCH nhượng cho người Mỹ làm căn cứ quân sự. Người Mỹ xây lên trên giải đất này một bến tầu biển, một phi trường phi cơ phản lực. Tầu biển Mỹ, phi cơ Mỹ đến đi, xuống lên căn cứ này không phải xin phép cũng không phải báo cho chính quyền Việt Nam biết, giải đất bán đảo này thời gian ấy gần như một phần lãnh thổ Hoa Kỳ. Ban đêm căn cứ đèn điện sáng choang, phi cơ phản lực quân sự Mỹ trắng như bằng bạc, sáng đèn cả trăm cửa sổ, lên xuống như cảnh phi trường bên Mỹ. Thường dân Việt, kể cả viên chức chính quyền Việt, không được vào căn cứ. Có chuyện rắc rối không ai ngờ là Căn Cứ US Cam Ranh không “cắm dzùi” trọn bán đảo, còn một khoảnh đất ở đầu bán đảo phiá ngoài biển ở ngoài hàng rào căn cứ. Một số dân nghèo Viêt dựng lều trên khoảnh đất ấy, họ sống với việc bán “Sì ke” cho lính Mỹ. Đôi bên mua bán qua hàng rào dây thép gai. Quân Cảnh Mỹ trong căn cứ đến đuổi và phá mấy túp lều của dân Việt. Nhật báo Sống làm lớn vụ này, cáo buộc đây là “hành động quân Mỹ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.”

Phóng sự của báo Sống bị kết tội “gây chia rẽ giữa Việt Nam và quân đội Ðồng Minh.” Nhật báo Sống bị thu hồi giấy phép. Nguyên nhân chìm của vụ này là Chủ nhiệm báo Sống Chu Tử bị nhiều người trong phe Phó Tổng Thống Trần Văn Hương thù ghét, họ chờ dịp đập cho báo Sống chết luôn, họ làm mọi cách cho Nhà Văn Chu Tử hết còn được làm chủ báo. Ông Trần Văn Hương còn là Phó Tổng Thống VNCH, ông Chu Tử còn không được làm chủ báo.

Nhật báo Sống một chết là chết luôn. Năm 1972 tôi đọc trên Tạp Chí Playboy bài phỏng vấn một Ðại Tá Mỹ từng tham chiến ở ViệtNam. Ðại Tá này – về hưu, sống ở Mỹ – phản đối một số việc làm ông cho là phạm pháp của chính phủ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, trong số có việc nặng nhất là cho CIA tổ chức những vụ ám sát nhân sĩ Việt Quốc Gia và đổ cho là doViệt Cộng giết. Ðại Tá giải ngũ, về Mỹ, nạp đơn kiện chính phủ Mỹ. Ông nói  trong cuộc phỏng vấn của Playboy:

- Tôi không bày đặt kiện cáo để lấy tiếng. Là quân nhân, tôi bắn đối thủ trên chiến trường nhưng tôi không thể làm việc ám sát. Bọn CIA không có chức vụ gì chính thức, với những cái tên dzởm Bob, Ted, chúng có quyền chỉ huy sĩ quan chúng tôi. Tôi phản đối chúng thực hiện những vụ ám sát các nhân sĩ, tu sĩ Việt Nam, giết người giữa đường rồi để bản án Tử Hình của Việt Cộng lại bên xác chết, đổ lỗi giết người cho Việt Cộng, để dân Việt căm thù Việt Cộng.

Ông Ðại Tá Mỹ nói về Ngoại Trưởng Henry Kissinger:

- Anh chàng đó là thứ người gì mà có nhiều quyền và được tâng bốc đến như thế? Tôi chắc hồi hắn đi học, có ai lấy cái xe máy của hắn, hắn cũng đứng im, không dám nói gì cả.

Tôi kể với anh Chu Tử về những lời ông Ðại Tá Mỹ nói trong Tạp Chí Playboy, có thể anh cũng nghĩ như tôi là vụ bắn anh, bắn Từ Chung, gài mìn xe của Thuợng Toạ Thích Thiện Minh, là do CIA gây ra, để dư luận dân Việt Nam quên đi việc lính Mỹ đang ào ạt kéo vào Việt Nam lúc ấy. Tôi hỏi anh:

- Cho đến bây giờ anh có biết ai bắn anh không?

Anh trả lời:

- Cho đến bây giờ tôi vẫn không biết ai bắn tôi.

Trên “Ao Thả Vịt” Nhật báo Sống 50 năm trước, Chủ nhiệm Chu Tử loan báo Nhật báo Sống sẽ trao giải 100.000 đồng cho ai đối được câu đối:

“Bố cạn tiền rồi, anh cán bộ.”

Cho đến nay chưa có ai đối được câu đối trên đây.

o O o

Tôi kể cuộc Chạy Truồng của cô Mỹ Kimberley Webster, vụ Chủ Nhiệm Nhật báo Sống Chu Tử bị bắn để kể chuyện này:

Khoảng năm 1960 không biết ai là người thứ nhất bầy ra trò Naked Streaking trên thế giới; người Mỹ hay người Pháp, người Anh, người Ý, người Ðức là người đầu tiên “chạy truồng” nơi công chúng. Thường là một, có khi hai người, một nam, một nữ, bỏ hết quần áo, chạy qua một khu phố, hay chạy qua sân đá banh, sân tennis. Họ chỉ chạy chơi thế thôi. Và thường là họ chỉ bị phạt tiền.

Một sáng – năm 1966 hay năm 1967 – tôi đọc mục Ao Thả Vịt trên Nhật báo Sống – ATV Sống do Chủ báo Chu Tử viết :

“Ðể hưởng ứng phong trào Chạy Truồng trên thế giới. Sài Gòn cũng có cuộc Chạy Truồng. ATV tiết lộ: Lúc 10 giờ sáng chủ nhật.. ..sẽ có cuộc Chạy Truồng được thực hiện ở Sài Gòn. Người Chạy Truồng gồm Nữ Minh Tinh Thẩm Thúy Hằng, Nữ Dân Biểu Kiều Mộng Thu và ATV. Cuộc Chạy sẽ diễn ra vào giờ nói trên từ cổng Sở Thú đến cổng Dinh Ðộc Lập, hay từ cửa chợ Bến Thành đến cửa Nhà Quốc Hội, đường Tự Do. Ban Tổ Chức phải chọn 2 đường có thể chạy để tránh sự ngăn chặn của cảnh sát.”

Bài Ao Thả Vịt năm xưa còn nhiều chuyện, CTHÐ chỉ nhớ có từng ấy. Ðó là chuyện Ao Thả Vịt Việt Nam hay nhất, đúng chuyện Vịt nhất, có duyên nhất tôi được đọc trong đời tôi.

Năm mươi năm!!

Tưởng như mới sáng hôm qua.

Cảm khái cách gì!

CTHÐ đọc GIO-O

gioTháng Một 1995 – Tháng Mười 2013. Thấm thoắt dzậy mà tôi đã sống 18 mùa thu lá bay ở Mỹ. Mười năm đầu – cũng như mọi người – tôi đi đây, đi đó. Năm năm mới đây tôi ít đi. Tuổi tác. Tám Bó. Ði lại tầu xe vất vả. Tháng Sáu 2012 Alice bị ngã, ngồi bên nàng giữa trưa Virginia nắng, chờ xe ambulance, tôi tưởng Alice chết. Từ đó tôi suốt ngày đêm sống bên nàng. May là tôi có computer.

Ông Huỳnh Văn Lang gọi computer là “tình nhân” của ông. Alice gọi computer là “cô vợ bé ” của chồng nàng. Nàng nói với bà bạn ở cùng Nhà Già:

“Ông ấy ôm cô vợ bé của ông ấy suốt ngày.”

Tôi nghiện computer. Không có chi lạ, cũng không có gì đáng nói. Nhiều người nghiện computer như tôi. Tôi có nhiều điều kiện để nghiện computer. Tôi ở nhà chăm phần chăm, tôi không có việc gì phải làm, tôi không có việc gì phải đi khỏi nhà. Cái xế Toyota Corolla xuất xưởng năm 2000 của tôi mỗi năm đi chứng 500 miles. Một lần đưa xe vào JiffyLube, bà Mỹ ngồi két nói với tôi:

“You don’t travel much.”

Tôi viết những bài Viết ở Rừng Phong. Sáng tôi thường dậy vào lúc 6 giờ, uống ly cà-phê, không hút thuốc lá, xem tin thời sự trên TV, đọc qua tờ nhật báo The Washington Post. Nhật báo Mỹ chẳng có tin, chuyện gì liên can đến tôi, tôi vẫn cứ đọc, đọc vì quen đọc. Mỗi sáng trước 7 giờ tờ báo được người mang đến để ở cửa phòng tôi. Hai tháng trả tiền báo 40 đô. Ăn sáng, thường là trái chuối, hai miếng cheese, một hũ yaourt. Chờ Alice dậy, pha cho nàng ly cà-phê. Thường thì nàng không ăn sáng.

Chín giờ sáng mở computer. Ðọc, viết đến 11 giờ 30 trưa. Tắt máy. Ăn trưa. Cơm của vợ chồng tôi là Meal on wheel; cơm do Ban Hỗ Trợ người Già Việt Nam trong Social Service Faifax County cung cấp. Cơm do hàng ăn Hương Bình nấu, được những vị thiện nguyện – volunteer – đem đến tận phòng. Ngày hai bữa. Mỗi bữa chúng tôi chỉ phải trả 1 đô, số tiền khác biệt được Sở Xã Hội trả. Ăn trưa xong nằm đọc Post, ngủ lơ mơ, ngủ thật lực, 2 giờ 30 dậy, 3 giờ mở computer, đọc, viết, 5 giờ tắt máy. Ði bộ 60 phút trong Rừng Phong, hay vào Exercise Room ngay trong housing đi trên treadmill 40 phút, tập tạ để mong tay không bị run. 6 giờ 30 về phòng, tắm, xem TV, ăn bữa tối, nằm xem TV, 9 giờ tối mở computer lần thứ ba trong ngày. Ðọc mải miết, đọc mê mải Nhiều đêm vợ tôi ngủ giấc dài, dậy thấy anh chồng vẫn mầy mò em vợ bé:

“Hai giờ sáng rồi.”

Tôi nghiện computer ngày 3 cữ.

LÊ THỊ HUỆ, người chủ trương “gio-o.com.”

LÊ THỊ HUỆ, người chủ trương “gio-o.com.”

Có một rừng gọi là Blog chữ Việt trên Internet. Blog nào cũng hay, cũng hấp dẫn. Mỗi sáng tôi thường đọc tin, chuyện trên các Blog Ðàn Chim Việt, Hải Ngoại Phiếm Ðàm, Vietnam Exodus, X-Café, Tin Paris. Tối tôi đọc chuyện văn nghệ trên những Blog Báo Mai, Tiền Vệ, Gocnhin, Ðặc Trưng, Lịch Sử Việt Nam. Nay bất cứ người nào có computer nếu muốn cũng có thể mở Blog của mình trên Internet. Không mất tiền, chỉ mất công. Blog“hoanghaithuy.com” do một bạn đọc tiểu thuyết của tôi làm cho tôi. Chú là người đọc truyện HHT từ Mỹ về Sài Gòn gặp HHT. Chú về thăm thân nhân. Chú đến nhà tôi. Chú nói:

“Em sang Mỹ từ năm em bẩy, tám tuổi. Nay em đã ra trường, có việc làm. Chúng em mấy đứa muốn học nói tiếng Việt. Chúng em thấy cha anh chúng em nay nói một thứ tiếng Việt không thuần Việt. Chúng em học tiếng Việt trong những tiểu thuyết của ông. Như chúng em đọc truyện The Deep của Mickey Spillane, rồi đọc Gã Thâm của ông, tìm trong đó những câu tiếng Mỹ được ông viết thành tiếng Việt ra sao. Như câu vai chính trong truyện là Gã Thâm ra lệnh cho một tay côn đồ:

“Mày đi ba bước người lớn, hai bước trẻ con, đến đây nghe tao nói..”

Tôi gặp lại chú ở Mỹ. Năm 2007 qua E-mail Internet, chú bảo tôi gửi cho chú mấy bài tôi viết về Ðồ Long Ðao Ỷ Thiên Kiếm để chú gửi cho một người bạn chú mở Blog về tiểu thuyết võ hiệp. Tôi gửi bài, chú bảo tôi:

“Em làm cái Blog của riêng bác.”

Ðấy là uyên nguyên Bloc “hoanghaithuy. com.” Tôi cám ơn chú. Nhờ chú, những bài tôi viết có thể được người đọc trên khắp thế giới, nhiều bạn trong nước đọc “hoanghaithuy.com.” Ðọc và viết cho tôi. Cảm khái cách gì.

Hôm nay tôi trích vài trang trong Blog “gio-o” của cô Lê Thị Huệ, Mời quí vị đọc bài “gio-o” phỏng vấn Hoàng Hải Thủy:

Lê Thị Huệ: Cảm giác của tôi ông là một người rất khó gần. Ðầy cá tính, đầy lôi cuốn, và khó gần.

Sau khi thực hiện cuộc phỏng vấn HHT, cảm giác ấy của tôi vẫn vương đọng …Tôi không nghĩ ông sẽ nhận lời khi tôi viết meo mời ông cho phỏng vấn. Và rồi thật bất ngờ, ông nhận lời. Hoàng Hải Thủy là một nhà văn đắt giá. Ông đã từng và đang là nhà văn được các báo Việt Nam lấy làm  may mắn khi được ông nhận lời gửi bài. Lý do là ông có nhiều độc giả. Các báo phải trả nhuận bút thì mới có bài của ông.

gio-o.com lấy làm hân hạnh được nhà văn Hoàng Hải Thủy gửi bài và đồng ý cho phỏng vấn không thù lao. Có lẽ con người mà người Việt thường gọi là “nghệ sĩ” của ông lộ ra ở điểm này. Có lẽ vì thế mà xuyên suốt bài phỏng vấn, sự ngập ngừng của ông chỉ làm cho tôi và có lẽ nhiều độc giả khác càng tò mò.  Và càng thấy những điều ông không trả lời còn ẩn đậy phần tài hoa và khô khốc ở con người Hoàng Hải Thủy, mà cuộc phỏng vấn vẫn chưa bật hé được.

Tôi rất yêu câu trả lời này của ông: “Tôi phóng tác tiểu thuyết để các vị phụ nữ Việt đọc”.

(.. .. .. )

LTH:  Ông giỏi ngoại ngữ từ nhỏ ? Ông biết bao nhiêu thứ tiếng ?

HHT: Tôi mà “giỏi ngoại ngữ” thì trên cõi đời này còn có ai “dzốt ngoại ngữ? ” Tôi tiếng Tây Bồi, tiếng Anh Bồi, tiếng Mỹ cũng Bồi.

 LTH:  Tại sao Công Tử Hà Ðông ? Tại sao ông không lấy một bút hiệu như Công Tử Sè Gòng chẳng hạn, vì ông đã sống những năm thanh niên ở Sài Gòn và nghe nói ông cũng thuộc loại dân ăn chơi có hạng ở Sài Gòn thời đó. Tại sao Công Tử ? Tại sao Hà Ðông ?

HHT: Năm 1970 tôi giữ một trang trong Tuần Báo Con Ong, tôi cần một, hai bút hiệu Tếu để viết những bài  kiểu viết láo mà chơi. Cái tên HHT dành để viết tiểu thuyết. Tôi lấy 2 tên Công Tử Hà Ðông và Gã Thâm để ký 2 bài tôi viết trên Con Ong. Tôi ra đời, lớn lên ở thị xã Hà Ðông. Hà Ðông cách Hồ Gươm Hà Nội 11 cây số, có xe điện qua lại ngày 4, 5 lượt. Vì quá gần Hà Nội nên Hà Ðông không có gì đặc biệt cả. Ăn cao lâu, đi xem xi-nê, đi xem bói, mua thực phẩm Tết, quần áo, giày mũ, người Hà Ðông đều ra Hà Nội. Thanh niên Hà Ðông ăn diện không khác thanh niên Hà Nội nhưng vẫn là thanh niên Hà Ðông. Không ai dám tự nhận, nhất là công khai tự nhận trên báo, trong văn phẩm, mình là Công Tử Hà Nội, nhưng nhận mình là Công Tử Hà Ðông thì được. Vì Công Tử Hà Ðông là một thứ công tử tỉnh lẻ, không giống ai, không hơn ai, không được ai trọng. Anh Chu Tử hiểu nghĩa cái tên Công Tử Hà Ðông cuả tôi. Anh bảo tôi:

“Anh lấy bút hiệu Công Tử Hà Ðông hay đấy.’

Lúc ấy có anh  bạn tôi, nói:

“Công Tử Hà Nội” mới hay chứ.”

Anh Chu Tử nói:

“Công Tử Hà Nội thì còn nói gì nữa.”

LTH:  Tiêu chuẩn nào để ông chọn những tác phẩm để phóng tác ?

HHT: Tôi chỉ viết để người đọc giải trí. Loại tiểu thuyết phơi-ơ-tông – feuilleton – đăng trên nhật báo mỗi ngày cần có những chuyện làm người đọc phải đọc tiếp. Tôi đọc tiểu thuyết Âu Mỹ trước hết vì tôi thích đọc, tôi cần đọc. Ðọc quyển nào tôi thấy hay, tôi bị lôi cuốn, tôi nghĩ đến chuyện nên phóng tác truyện này cho độc giả của tôi đọc. Cách chọn truyện Âu Mỹ để phóng tác của tôi như sau: Những năm 1960 thời gian tôi phóng tác tiểu thuyết nhiều nhất, nhờ làm nhân viên nhật báo Sàigònmới, viết tiểu thuyết quanh năm cho nhật báo Ngôn Luận, tôi có tiền, tôi ăn chơi, tôi mua sách thả dàn. Thời gian này, thời gian phong độ nhất đời tôi, tôi chia cuộc sống của tôi trong ba việc: Làm, Học và Chơi.

Tôi Làm để có Tiền sống, để có điều kiện Học – học trong sách – tôi Chơi vì tôi ham Chơi, tôi Chơi để Làm và Học. Ba việc thời gian bằng nhau nhưng thường thì việc Chơi của tôi lấn sang việc tôi Làm và Học. Rõ hơn: thời tôi trẻ, tôi Chơi nhiều hơn tôi Làm và Học.

Khi đọc một tiểu thuyết Pháp, Mỹ thấy hay, tôi để sách nằm đó, chừng năm, sáu tháng sau lấy ra đọc lại, vẫn thấy hay, thấy hấp dẫn, tôi mới quyết định phóng tác truyện đó. Nên khi phóng tác tôi thuộc nằm lòng cốt truyện. Tôi thêm sự kiện nào vào truyện là thưà.

LTH: Tại sao ông lại chọn cách “phóng tác” thay vì dịch đúng nguyên bản tiểu thuyết ngoại văn?

HHT: Tôi phóng tác để các vị phụ nữ Việt đọc. Các cô, các bà người Việt khi đọc tiểu thuyết khó nhớ được một nhân vật lúc thì tên làElizabeth, lúc thì tên là Liz, lúc là cô Taylor. Vì khó nhớ tên nhân vật, họ không thích đọc truyện có những nhân vật ấy. Ðộc giả phụ nữ Việt những năm 1960 khó hiểu những truyện tiểu thuyết có những sự kiện chính như thang máy,  phone, máy ghi âm, phi cơ. Trong việc phóng tác của tôi có việc tôi gọi là “dịch địa” và “Việt Nam hoá tiểu thuyết ngoại văn,” tôi làm tác phẩm tiểu thuyết Âu Mỹ trở thành tiểu thuyết Việt Nam, chuyện xẩy ra ở Việt Nam, nhân vật là người Việt Nam.

LTH:  Tác phẩm phóng tác nổi tiếng nhất của ông là Kiều Giang. Tại sao từ Jane Eyre lại thành Kiều Giang ?  Nguyên tắc “phóng” của ông từ đâu ? Từ âm thanh tương tự ? Từ điển tích ? Từ ngẫu hứng ? Từ đâu ?

HHT: Khi đọc Jane Eyre, tôi nghĩ: ” Mình sẽ phóng tác truyện này, đặt tên là Kiều Giang. “Tên con gái tôi là Kiều Giang, cháu ra đời cùng năm tôi phóng tác Jane Eyre trên nhật báo Ngôn Luận.

LTH:  Kiều Giang của Sài Gòn ngày đó như thế nào ? Những điều mà độc giả chúng tôi chưa được biết ?

HHT: Có ba loại người thích đọc Kiều Giang ở ba số tuổi khác nhau: Tính vào những năm 1960-1965: Mẹ tôi 65 tuổi, vợ tôi 35 tuổi, con gái tôi 10  tuổi. Cả ba người đều đọc và thấy Kiều Giang hay.  Nếu quốc gia ta còn, Kiều Giang có thể sẽ có những lớp người Việt kế tiếp nhau đọc. Kiều Giang được in 3 lần ở Sài Gòn trước năm 1975, được xuất bản một lần năm 1980 ở Hoa Kỳ. Những năm 1980 trở đi mỗi khi có phim Jane Eyre chiếu ở Sài Gòn người ta đều dùng tên Việt là phim Kiều Giang.

LTH:  Ông nghĩ một nhà văn nên tham dự những vấn đề chính trị hay xã hội đến đâu?

HHT: Theo tôi “Việc của Nhà Văn là Viết.”

LTH:  Alice? Tại sao ông lại cho Alice đi vào thơ văn, một fictional character từ chính tên của người vợ ông ? Tại sao không là một tên nào khác?

HHT: Bài Thơ nào tôi làm riêng cho vợ tôi, tôi để tên nàng vào bài. Thơ tôi toàn việc thật, người thật.

CTHÐ: Tôi trích bài “Sài Gòn Mẹt ” trong “gio-o.com.” Bài này có đoạn viết về Vở Ca Kịch Miss Saigon.

Lê Thị Huệ, Sài Gòn Mẹt *

Tôi còn nhớ những ngày rất đầu tiên ở Mỹ 1975. Vào những năm rất đầu hai mươi của một thời con gái còn rất yêu đời là tôi. Những ngày vừa đặt chân đến xứ Mỹ. Tôi chia nhà trọ với một cô bạn học người Mỹ. Cô ta người da trắng, xấp xỉ tuổi tôi. . Cô ta có một anh bồ rất là Californian boy. Mắt nâu tóc vàng, hút cần sa, lái xe trúc con, để tóc dài, mặc quần jean. Mỗi tuần họ chỉ hẹn gặp nhau để làm tình ở phòng cô ta vào tối thứ tư. Còn những cuối tuần tôi không biết anh ta đi làm chuyện này ở đâu, vì không thấy cô bạn tôi ra đi với anh vào những cuối tuần.

Có một lần cô ta nói với tôi. Hue nghe nè, bây giờ ở chung với nhau lâu rồi tôi mới nói cho bồ nghe. Bồ không giống như lời ông anh tôi nói về con gái Việt Nam hồi anh tôi vừa từ Việt Nam về. Tôi nói anh bồ nói cái gì về con gái Việt Nam. Sandy nói, anh tôi nói con gái Việt Nam ai cũng làm đĩ hết. Ai cũng làm đĩ hết, they all prostitute. Tôi trố mắt hỏi lại. Cô gái tóc vàng có hàm răng trắng kem Crest cười rung lên những sợi tóc ướp đầy mùi hương ngợi ca thân xác trả lời. Không phải everybody, you know. Nhưng ông ấy nói con gái Việt Nam làm đĩ nhiều lắm. Và chỉ có làm đĩ với Mỹ họ mới có nhiều tiền. Nếu không họ nghèo lắm. Anh tôi là lính hồi đó đóng ở ViệtNam, you know.

Ðây không phải là kinh nghiệm đầu tiên của tôi về những bộ mặt của một cuộc chiến mà tôi là kẻ ngây thơ trong cuộc  và không biết cái gì hết.

Năm mười mấy tuổi, trong một phút giây vô tư học trò nhỏ áo trắng đến trường, có một hôm trời bất ngờ đổ mưa to. Cô bé dạt vào một cái hàng hiên để vội nép mưa. Trúng ngay một cái bar Mỹ. Có một người đàn ông Mỹ  đang đứng chờ để vào cái bar đó. Cũng trong một phút giây chắc là vô tư nhất của một thanh niên ở xứ lạ quê người, anh ta mắt nhìn tôi và tay chỉ vào hạ bộ đến mấy phút. Không hiểu sao lúc đó tôi không run rẩy. Nhìn anh ta một lần. Nhìn ra trời mưa đang sắp thành cơn dông sấm chớp nổ um sùm trên trời. Rồi nhìn lại anh ta lần nữa. Rồi trời thì mưa to mà tôi cứ ôm cặp vở nhào đại ra đường mà đi về nhà. Vừa đi vừa khóc như vừa đánh mất một điều gì. Tôi đã không kể cho mẹ tôi nghe về chuyện này. Tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe chuyện này. Trong đoạn đường đánh mất thơ ngây, để mở mắt ngó trừng trừng về phìa những khoảng không màu thăm thẳm của cuộc đời, tôi không bao giờ quên được khuôn mặt của người lính Mỹ và những ngón tay của anh ta trong một buổi hoàng hôn mưa trên hè phố đường Lê Lợi Quy Nhơn năm nào.

Khi tôi đang viết những giòng chữ này (1990) thì ngoài kia một chương trình ca kịch lừng danh đang diễn ra ở  New York. Người ta đang nói về Miss Saigon như một hiện tượng. Vé bán sạch bách gần mấy tháng trước ngày mở hàng. Tôi chưa xem, chỉ mới nghe, đọc, và xem những mục điểm tuồng trên báo, truyền hình và truyền thanh. Chuyện phim mô tả một cô đĩ Việt Nam và một anh ma cô Tây Lan ham đi Mỹ. Làm tất cả mọi cách để đi Mỹ.

Cùng một lúc đang xảy ra đang nói tới là trong chế độ Cộng Sản hiện nay, nạn đĩ điếm đang thịnh soạn bày cỗ ở Việt Nam. Lý do vì đây là một cách kiếm sống phổ thông trong một xứ sở vừa nghèo vừa ngu, và có chương trình chào đón du khách Tây Mỹ Tàu Phi Hàn ghé chơi.

Tôi đang lẩn tránh chính tôi khi cố gắng nói ít về những điều gì đang xảy ra trên một xứ sở có tên gọi Việt Nam. Mỗi người Việt Nam là một kẻ tội đồ. Mỗi người Việt Nam đều mang theo trong lòng một cảm giác tội lỗi tại sao mình lại để cho xứ sở ấy tồi tệ đến như ngày nay. Nhưng bạn phải là người Việt Nam bạn mới hiểu được nỗi câm nín khốn nạn ấy. Chuyện này chỉ có thể giữa chúng tôi giải quyết với nhau. Cho nên tôi sẽ nói một cách lơ tơ mơ về cái điều gọi là ngây thơ từ những kinh nghiệm cụ thể nhất cho đến những ý niệm mơ hồ nhất. Bởi tôi là kẻ thường xuyên bị giằng co giữa hai bờ vực này, dưới lớp biểu bì rất mẫn cảm của một thứ cảm giác có tên gọi là nhà văn.

Người ta có thể dẫm lên niềm ngây thơ của kẻ khác để vinh danh những giá trị như Hạnh Phúc, Hoan Lạc, Nghệ Thuật, Tài Năng, Tự Do, Cách Mạng v.v….. Miss Saigon theo cái ẩn ý của nó chuyên chở một nước Việt Nam ngây thơ và buông thả phó mặc cho một tên ma cô có máu Pháp-Tây (lịch sử) buôn bán sinh mạng. Tất cả cái bi kịch của Sàigòn là cuộc giẫy chết 1975 và cái ùa ạt hướng về đất Hoa Kỳ để tìm kiếm một sinh lộ. Ðó là cái cách người ngoại quốc nhìn về Việt Nam và tiểu thuyết hóa nó. Ðó là cái nhìn của người ngoại quốc ném về phía chúng tôi – Và rồi tôi không quên được đôi mắt nhìn của người lính GI Mỹ của chiều mưa năm xưa.

1990

* Ðăng trên Tạp chí Văn hải ngoại do  Nhà văn Mai Thảo chủ biên, dưới tựa “Ngây Thơ Ðã Chết Tự Hôm Nào.”

Lê Thị Huệ © gio-o.com 2013

Thơ Lê Thị Huệ: tái nạm tình cũ

họ nằm dưới lớp vảy thời sâu

khẩy một tiếng đàn nghe giọng cười lắc lẻo

tiếng yêu thân quen mòn mèn bên lỗ tai

những cái lỗ khác hình như róc rách

giọng hoan lạc ngày hành kinh nhớ tình làm

nằm úp mặt tương tư những ngón tay ve vuốt

lần lượt họ về khi vồ vập phải nhau

gọi tôi giữa đêm khuya khi vợ mắng mỏ

khi vợ mang bầu ngặt tháng thứ chín

khi vợ bỏ họ đi xa

những người tình cũ tìm đến tôi khi hôn nhân sập

họ nương nhờ cánh tay tôi hỏi han

nữ hoàng tôi là nữ hoàng tình ái họ thời xa thẳm

tôi bật cười những người tình không rời trí nhớ

o O o

CTHÐ: * Lê Thị Huệ Sài Gòn Mẹt. Không phải Sài Gòn Mệt.

Tôi bốc thơm: “gio-o.com” có những bài viết thật hay. Tôi chỉ có một ý góp với cô Chủ. Trong một bài cô viết có câu:

“.. rũ như con gà bị dội nước sôi trước khi bị cắt tiết..”

Tôi save đoạn văn này, định bụng khi viết về “gio-o.com” đem ra dùng, nhưng tôi save vào đâu nay tôi tìm không thấy.Ý chính của câu là: “..con gà bị dội nước sôi trước khi bị cắt tiết..”

Gà vịt bị cắt tiết chết queo rồi mới bị dội nước sôi để vặt lông, cô Chủ “gio-o” ơi. Lỗi nhỏ thôi. Tôi viết ra chuyện này để nói lên ý nghĩ của tôi:

“Phụ nữ Việt Nam nay không còn mấy người biết và có thể cắt tiết gà vịt. Như chuyện nước Việt bị nước Tầu thôn tính, trong thời gian không xa, phụ nữ Việt sống ở thành phố khi có gà vịt sẽ không biết làm sao làm thịt để ăn. Chuyện ấy chắc như bắp rang, chắc như cua gạch.”

Than ôi…. Cảm khái cách gì.

SẼ CÓ MỘT NGÀY

Ðầu hàng, khai báo Ngày 30 Tháng Tư 1975

Ðầu hàng, khai báo Ngày 30 Tháng Tư 1975

Tháng 10, 2013, trên Internet có bài của tác giả Phạm Ðức Nhi “Viết tại San Leon, thành phố Houston, Texas, nhân ngày Lễ Dựng Kỳ Ðài Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.”

Thơ Pham Ðức Nhi:

Tự do như muối
Hạnh phúc như đường
Khi còn đang ăn đủ miếng ngọt, miếng ngon
Khó thấy giá trị của hạt đường, hạt muối

Tôi sống ở miền Nam
nhìn dòng đời trôi nổi
nở lại tàn bao nhiêu mùa hoa
hai nền Cộng Hòa
một cuộc chiến tranh dài đẫm máu
tôi đã dốc lòng chiến đấu
bảo vệ tự do
dưới lá cờ nền vàng ba sọc đỏ

Tiếc thay trong đội ngũ
chúng tôi có ít những Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam
mà có khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn
nên lính mất niềm tin, dân chán nản
những kẻ có lòng lắc đầu ngao ngán
rồi nước Mỹ đồng minh, xưa là bạn nay trở mặt lọc lừa, quên lời hứa năm xưa bỏ mặc “tiền đồn của thế giới tự do“ thất thủ

Kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ
rồi khua chiêng, gióng trống ăn mừng
đám trí thức, sinh viên, học sinh  xưa trốn vô bưng
mơ một thiên đường trên trái đất
nay ngồi trên khán đài nghếch mặt
“Thiên đường đang ở trong tầm tay “

Má Hai xưa đào hầm nuôi cán bộ nay hớn hở
“Tụi nó dzià mình chắc có tương lai.”
Bà Tám con chết trận Ðồng Xoài
hãnh diện lãnh bằng gia đình liệt sĩ
Những nhà văn, nhà thơ, xưa chống “Cuộc chiến tranh phi lý “
(đâm sau lưng người lính Cộng Hòa )
Nay chìa bút ra
xin viết bài ngợi ca chế độ mới.
Ðám thanh niên xưa trốn chui, trốn nhủi ở hậu phương
xanh mặt khi nghe nhắc tới chiến trường
nay tự nhận đã yêu thầm cách mạng
những người dân bình thường
xưa gặp lính, khi ghét, khi thương
lúc buồn ngồi chửi đổng
“Tao chửi cả thằng Tổng Thống
xá gì lính tráng tụi bay. “
Nay cũng ngập ngừng vỗ tay
nhưng mắt nhìn quanh lấm lét
họ chưa có câu trả lời dứt khoát
muốn đợi một thời gian

Sau vài năm
cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật đã đầy nước mắt
và những tiếng nấc nghẹn ngào
đám trí thức vô bưng năm nào tức giận thấy mình bị bội phản
buông lời phản kháng
kẻ vô khám Chí Hòa,người bị quản thúc tại gia, đưổi gà cho vợ
thiên đường ước mơ sụp đổ

Má Hai
đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai
như người dân miền Bắc
những cán bộ xưa Má nuôi trong hầm bí mật
đã ra lệnh bắt Má mấy lần
Má không đủ ăn, lấy đâu đóng thuế

Bà Tám ôm tấm bằng Gia Ðình Liệt Sĩ, bụng đói meo
làng trên xóm dưới ai cũng nghèo, tình người hiếm hơn hồi đó
Bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ, khóc thầm

Những văn nhân một thời phản chiến
“Ngộ biến tòng quyền “cố bẻ cong ngòi bút
nhưng với văn thơ, với nhạc
quen phóng túng tự do
sao chịu nổi gông xiềng
lại tiếc những ngày trời rộng thênh thang múa bút

Ðám thanh niên hèn, khoác lác
tưởng được chế độ mới tin dùng
bị đi lao động quốc phòng, thanh niên xung phong
làm việc không công nơi rừng sâu, nước độc
cháy da, vàng mắt, đói lòng

Những người dân xưa chửi vung, chửi vít
nay im thin thít, chẳng dám hé môi
một số kẻ lỡ lời bị đi “tù không án “
khi cán bộ xưng tụng bác Hồ, ca ngợi Ðảng
họ cao giọng hoan hô, vỗ tay thật to
nhưng bụng thầm ao ước được sống lại những ngày xưa cũ

Sau Ba Mươi Tháng Tư, đớn đau tủi hổ
là gia đình người lính Cộng Hòa
kẻ bị cướp nhà, người bị cướp đất, con bị đuổi học, vợ mất sở làm, chồng đi tù biệt tăm; đi họp, cán bộ Cộng Sản mỉa mai nhiếc móc
ra đường bị lườm dọc, nguýt ngang

Ðến khi ruộng vô tập đoàn
gạo vải sữa đường bán theo tiêu chuẩn
nhà máy công ty hãng xưởng
trờ thành quốc doanh
công an khu vực đầy quyền hành
thực thi chính sách nhân hộ khẩu
người dân chịu đời không thấu
mà chẳng dám than vãn kêu ca
bấy giờ gia đình người lính Cộng Hòa
mới nhận được những tia nhìn thiện cảm
nghĩ đến con, đến chồng, đến cha
trong nhà tù Cộng Sản, họ hãnh diện ngẩng đầu

Hôm nay giữa trời cao
được thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ
phất phới bay trong gió
tôi muốn khóc thật to , tôi muốn hét lên
“Ðây Hạnh phúc ! Ðây Tự do ! “
Mà thuở nào tôi đã buông tay đánh mất
để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất của cuộc đời
trong các trại tù rải rác khắp nơi trên đất nước
Họ hàng tôi, đồng bào tôi, những ai không đi được, mấy chục năm trường
gánh chịu đau thương, uất hận tủi hờn nhìn quê hương tan nát
Mẹ Việt Nam ơi ! Những đứa con lưu lạc đã nhận rõ lỗi lầm
đang đấu tranh âm thầm cho một ngày quang phục

Sẽ còn nhiều khó nhọc
để dành lại giang san từ tay bọn Cộng Sản tham tàn, nhưng kìa !
Phất phới bay trong gió vẫn như ngày nào lá cờ vàng ba sọc đỏ
mà sao hôm nay chính nghĩa sáng ngời
chẳng cần một lời luận bàn lý giải
Tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái
lá cờ vẫn bay đây
Thì quê hương ơi !  Sẽ có một ngày.

 o O o

Ðưòng Hàng Xanh, Sài Gòn trưa 30 Tháng Tư 1975.

Ðưòng Hàng Xanh, Sài Gòn trưa 30 Tháng Tư 1975.

CTHÐ: Lời Thơ của Thi sĩ Phạm Ðức Nhi gợi cho tôi nhớ:

“Tự do như muối
Hạnh phúc như đường
Khi còn đang ăn đủ miếng ngọt, miếng ngon
Khó thấy giá trị của hạt đường, hạt muối.”

Một buổi chiều năm 1981, hay năm 1982 tôi không nhớ rõ. Mà kể rõ năm tháng làm chi? Chỉ cần viết một buổi chiều sau năm 1975,  Vị Ý đến căn nhà nhỏ của tôi trong Cư Xá Tự Do. Chiều mùa mưa, căn nhà đầy bóng tối. Chúng tôi ngồi bên cái bàn kê trên khoảng nhà trống đi xuống bếp. Lối đi ngắn có mái tôn che. Ngồi ở đây chúng tôi không phải bật đèn. Từ buổi chiều Cư Xá Tự Do này đến buổi sáng hôm nay trời Rừng Phong vào thu – Vị Ý đã trăm năm hồng lệ ở Kỳ Hoa – 40 mùa thu lá bay đã qua đời tôi, tôi nhớ lời Vị Ý nói:

“Ông chưa đói, ông chưa khổ. Bao giờ ông ngậm hạt muối ông thấy ngọt. Khi ấy ông mới thật biết thế nào là đói khổ.”

o O o

“Những nhà văn, nhà thơ, xưa chống “Cuộc chiến tranh phi lý “
(đâm sau lưng người lính Cộng Hòa )
Nay chìa bút ra xin viết bài ngợi ca chế độ mới.”

CTHÐ: Lời kết tội oan. Không đúng. Những nhà văn Quốc gia VNCH chống Cộng hay chỉ làm văn nghệ không ai “chìa bút ra xin viết ca tụng bọn Bắc Cộng cướp nước.” Cũng có một, hai người. Quá ít nên có thể viết là “không có.” Bọn Bắc Cộng không cần văn nghệ sĩ VNCH ca tụng chúng. Chúng đã có bọn văn nghệ sĩ Hà Nội bị chúng rọ mõm chuyên ca tụng chúng. Tháng Ba 1976 khoảng 30 văn nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn bị bọn Cộng bắt đi tù. Nếu có tình trạng văn nghệ sĩ Sài Gòn xin ca tụng bọn cướp nước, tình trạng họ bị bắt tù đã không nhiều đến thế.

“Sau vài năm cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật đã đầy nước mắt
và những tiếng nấc nghẹn ngào
đám trí thức vô bưng năm nào tức giận thấy mình bị bội phản
buông lời phản kháng, kẻ vô khám Chí Hòa, người bị quản thúc tại gia, đưổi gà cho vợ , thiên đường ước mơ sụp đổ.”

CTHÐ: Không có cái gọi là “cuộc hôn nhân” giữa bọn Bắc Cộng và nhân dân Quốc Gia VNCH. “Bọn Bắc Cộng “hiếp dzâm” Sài Gòn, chúng lột truồng nhân dân Sài Gòn. Bọn gọi là “trí thức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” không tên nào dám lên tiếng phản kháng. Bọn hèn này không cả dám thốt ra lời than thở.

“Sau Ba Mươi Tháng Tư, đớn đau tủi hổ là gia đình người lính Cộng Hòa
kẻ bị cướp nhà, người bị cướp đất, con bị đuổi học, vợ mất sở làm, chồng đi tù biệt tăm; đi họp, cán bộ Cộng Sản mỉa mai nhiếc móc
ra đường bị lườm dọc, nguýt ngang.”

CTHÐ: Trang Châu xưa viết: “Khi ta chết, nhà ta người ở, xe ta người đi, ngựa ta người cưỡi, vợ ta người lấy, con ta người mắng chửi.”

Người Quốc Gia VNCH : khi ở tù, khi được thả về, nhà bị chiếm, vợ bị cán Cộng hiếp, con bị đưa đi chết mất xác ở Campuchia. Nhưng người làm việc chính quyền, người trong quân đội Quốc Gia VNCH không ai bị nhân dân Quốc Gia VNCH “lườm dọc, nguýt ngang.” Sau Tháng Tư 1975 không một vụ trả thù, không một lời chửi rủa. Nhân dân Quốc Gia VNCH thương xót nhau.

Từ năm 1971, trong ngục tù Bắc Cộng, Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện đã có Thơ diễn tả Niềm Tin Chắc Sẽ Có Một Ngày..

Nguyễn Chí Thiện. Hỏa Lò 1971.

Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng, vất cờ, vất cùm, vất Ðảng
Ðội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng
Oan khiên!
Về với miếu đường, mồ mả gia tiên
Mấy chục năm trời bức bách lãng quên
Bao hận thù độc địa dấy lên
Theo hương khói êm lan tan về cao rộng.
Tất cả bị lùa qua cơn ác mộng
Kẻ lọc lừa, kẻ bạo lực vô luân
Sống sót về đây, an nhờ phúc phận
Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân
Ðứng bên nhau trong mất mát quây quần
Kẻ bùi ngùi hối hận
Kẻ bồi hồi kính can
Ðặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông
Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng!
Tiếng sáo mục đồng
Tình quê tha thiết ngân nga
Thay tiếng Tiến quân ca
Và Quốc tế ca
Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la.

*

Tôi tin chắc một điều
Một diều tất yếu
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu’
Tôi lại nghĩ một điều
Một điều sâu thẳm
Là đêm tàn cộng sản tối tăm
Có thể kéo dài hàng mấy mươi năm
Và như thế thì buồn lắm lắm
Cho kiếp người sống chẳng bao lăm.

CTHÐ: Thi sĩ tin chắc sẽ có ngày bọn Cộng sản Việt bị nhân dân Việt  đuổi khỏi chính quyền, tượng Hồ Chí Minh ra nằm ở bãi rác. Chuyện đã xẩy ra năm 1990  ở Liên Xô, ở các nước Ðông Âu bị bọn Cộng cướp quyền. Thi sĩ tin chắc như thế nhưng ông cũng sợ thời gian bọn Cộng Việt ngắc ngoải có thể kéo dài.

Hôm nay, một ngày Tháng 10 Năm 2013,  tôi thầm nói với Thi sĩ:

“Ông ơi.. Ðêm tàn Cộng Sản tối tăm nó kéo dài từ năm 1990 đến nay đã 23 năm. Không biết nó còn kéo dài bao nhiêu năm nữa trên đất nước ta! Ông đã không thấy Nó chết, chắc rồi tôi cũng như ông. Tôi buồn quá, ông ơi.”

HỌA SĨ CHOÉ

choe1Tháng 10, 2013 trên Web Internet có tin:

Sài Gòn, 27 Ngày xem Tranh Choé

Lần đầu tiên tại Việt Nam, hai bộ tranh “Phụ nữ nước tôi” và “Vision d’Été 1998” ( Cảnh quan mùa hạ 1998) thuộc bộ sưu tập của gia đình họa sĩ Choé, và các bức tranh sơn dầu, tranh màu nước trên lụa, trên giấy dó của họa sĩ Choé thuộc bộ sưu tập của Phòng tranh Tự Do sẽ được giới thiệu tại Cuộc Triển lãm “TRANH CỦA CHÓE“.

Chỉ cần nói đến “Hoạ sĩ Chóe,” người ta nhớ ngay tới  người vẽ hý họa danh tiếng quốc tế. Tháng 3, 2013 để kỷ niệm 10 năm ngày mất của ông – Hoạ sĩ qua đời Tháng 3.2003 — Nhà Xuấb Bản Văn hoá – Văn nghệ và Công ty Sách Phương Nam ấn hành cuốn “Nghề Cười” – bao gồm một số tác phẩm tuyển chọn của hoạ sĩ Chóe gồm tranh, nhạc, truyện…. Và đầu tháng 5, phòng tranh Tự Do tổ chức triển lãm hồi cố những họa phẩm của  ông.

Hoạ sĩ Thu Hà — chủ Phòng tranh Tự Do — cho biết:

“Khoảng cuối năm 1970, chúng tôi gặp họa sĩ Chóe lần đầu ở tòa soạn nhật báo Báo Ðen ở đường Cống Quỳnh, Sài Gòn. Lúc đó Chóe vẽ hý họa cho vài tờ báo ở Sài Gòn. Mấy năm sau, Chóe trở thành cây bút hý họa danh tiếng lừng lẫy thế giới. Phòng tranh Tự Do khai trương ngày 24.6.1989. Tháng 7.1989, lần đầu chúng tôi mua 20 bức tranh lụa của Chóe. Ðó là những bức tranh đầu tiên trong bộ sưu tập của Phòng tranh Tự Do”.

Tranh lụa của Chóe rất khác với tranh lụa của đa số các họa sĩ miền Nam. Các họa sĩ miền Nam xuất thân từ trường Cao đẳng Mỹ Thuật Gia Ðịnh, trung thành với phong cách Lê Văn Ðệ: Trong sáng, thơ mộng… Vốn là một họa sĩ tự học, lại học rất nhanh, và đã quen với bút pháp phóng khoáng của hý họa, nên Chóe vẽ tranh lụa cũng nhanh như khi Chóe vẽ hý họa, nét bút mạnh mẽ, dứt khoát với các mảng màu thoải mái. Có nhiều người cho rằng tranh lụa của Chóe không đúng với tranh lụa truyền thống Việt Nam. Chóe cũng đồng ý với nhận xét trên. Ông cho rằng đây là cách vẽ riêng của ông. Tranh lụa của Chóe được các nhà sưu tập đặc biệt yêu thích và nhanh chóng trở thành “best seller” (bán được nhiều nhất) trong Phòng tranh Tự Do. Về sau, Chóe vẽ thêm tranh giấy dó Việt Nam và giấy xuyến chỉ của Trung Quốc, theo phong cách tranh màu nước riêng của Chóe (giống như tranh lụa của ông), và tiếp tục được người hoan nghênh, ưa chuộng…

Một trong những bức tranh sơn dầu đầu tiên của Chóe là bức “Phong cảnh cao nguyên” sáng tác năm 1965. Bức tranh này ông tặng người yêu, và sau này trở thành người vợ chung thủy của ông. Năm 1985, trở về từ Trại cải tạo, ông vẽ chân dung vợ ông. Cuối năm 1989, ông mang đến Phòng tranh Tự Do bức “Mẹ gà con vịt” sáng tác năm 1989, mở đầu cho loạt tranh sơn dầu của Chóe, với bút pháp mạnh mẽ và phóng khoáng cố hữu của ông. Từ đó, tranh sơn dầu của ông được trưng bày thường xuyên ở Phòng tranh Tự Do và luôn luôn được các nhà sưu tập tranh đón mua.

Hoạ sĩ Choé  tham dự nhiều cuộc  triển lãm Tranh trong và ngoài nước. Ông vẽ nhiều bộ tranh theo chủ đề như: “Những Tổng thống Mỹ” – 41 tranh sơn dầu năm 1993. ( Bộ sưu tập của bà Nancy Phạm, Hoa Kỳ); bộ “Phụ nữ nước tôi” gồm 10 bức hý họa. Ông vẽ bộ tranh này khi được mời tham dự cuộc triển lãm “Hý họa Châu Á” tại Tokyo (Nhật Bản) năm 1995. Trong Triển lãm “Tranh của Choé” lần này có thêm 2 bức ông mới vẽ – một tranh sơn dầu ( Nhạc sĩ Trần Tiến, 1993) và một tranh lụa ( Ca sĩ Bảo Yến, 1990).

Ðây là tiểu sử của Họa sĩ CHOÉ trên Internet:

Phạm Văn Ðồng đi xin viện trợ. Tranh Choé vẽ tại Sài Gòn Tháng 4, 1973.

Phạm Văn Ðồng đi xin viện trợ. Tranh Choé vẽ tại Sài Gòn Tháng 4, 1973.

Nguyễn Hải Chí (sinh 11 tháng 11, 1943 – mất 12 tháng 3, 2003) là một họa sĩ vẽ tranh biếm của Việt Nam, nổi tiếng với bút danh Choé, ngoài ra ông còn có bút danh Trần Ai, Cap, Kit. Ông được coi là “Họa sĩ Biếm Số Một của Việt Nam” với những tranh biếm đặc sắc qua nhiều thời kỳ. Ông vẽ chủ yếu là tranh sơn dầu, giấy dó và tranh lụa. Ngoài vẽ, Chóe còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ.

Nguyễn Hải Chí sinh ngày 11 tháng 11 năm 1943 tại Cái Tàu Thượng, Hội An, Chợ Mới, An Giang. Sau đó gia đình ông chuyển về xã Vĩnh Tế dưới chân núi Sam, Châu Ðốc.

Do hoàn cảnh gia đình nghèo, ông phải nghỉ học từ năm lớp 2, đi làm kiếm sống từ năm 9 tuổi. Ông làm đủ nghề: đập đá, đốn củi, chăn bò mướn…

Năm 1960, bị cán bộ Cộng sản ép lên núi hoạt động du kích, ông bỏ trốn về Mỹ Tho, xin làm việc tại một phòng vẽ quảng cáo và học vẽ tại đây. Năm 1963, ông làm thơ đăng báo để tán tỉnh cô Nguyễn Thị Kim Loan, người sau này trở thành vợ ông.

Năm 1964, ông đi quân dịch, năm sau được chuyển về làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc này ông làm thơ, viết truyện gửi đăng báo. Năm 1966 ông được nhật báo Tiền Tuyến trao giải “Truyện Ngắn Xuất Sắc Nhất.” Từ đó ông đi vào làng báo Sài Gòn

Cuối năm 1969, ông chuyển qua vẽ hí họa cho tờ Diễn Ðàn, từ đây ông ký tên Choé dưới các tranh vẽ của ông, nghệ danh “ Choé”  do nhà văn Viên Linh đặt; lúc đó ông Viên Linh là chủ bút báo Diễn Ðàn. Sau đó ông vẽ cho nhật báo Báo Ðen năm 1970, nhưng vẫn chưa được nhiều người lưu ý. Năm 1971, ông chuyển qua cộng tác với nhật báo Sóng Thần. Từ đây ông  được nhiều người biết tài, biết tên, ông nổi tiếng từ mùa hè năm 1972. Các tranh biếm của ông được các báo danh tiếng thế giới như The New York Times, Newsweek…chọn đăng. Ông còn viết truyện dài đăng hàng ngày với tựa đề “Cái gọi la.ø”

Trong giai đoạn nóng bỏng của chiến tranh Việt Nam, ông đã vẽ nhiều nhân vật nổi tiếng: Richard Nixon, Henry Kissinger, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Hương, Võ Nguyên Giáp… Một số tranh của ông đã đụng đến vấn đề nhạy cảm do đó ông bị chính quyền VNCH bắt giam từ tháng 2 năm 1975. Thời gian ở tù như bị giam lỏng, cả ngày ông chỉ chơi cờ tướng và đọc truyện kiếm hiệp, và ông tự học đàn và sáng tác nhạc trong thời gian ở tù.

Sự kiện 30 tháng 4, 1975 diễn ra, Nguyễn Hải Chí tự thoát khỏi nhà ngục sau 3 tháng ở tù. Mấy tháng sau ông được nhận vào làm ở tòa soạn báo Lao Ðộng Mới với nhiệm vụ trình bày tờ báo.

Tháng 4 năm 1976, ông bị bắt đi học tập cải tạo cùng với các văn nghệ sĩ miền Nam cho đến cuối năm 1985, ông đã sống tù trong  Nhà Tù Chí Hòa rồi Trại Cải Tạo Gia Trung, Pleiku. Năm 1986  ông vượt biên nhưng bị bắt và phải trở lại tù thêm lần nữa.

Từ năm 1990, do không xác định được thời hạn tù, ông bị từ chối đơn xuất cảnh theo diện H.O. Ông ở lại Việt Nam hành nghề vẽ tranh bán cho khách nước ngoài. Ông cộng tác với Phòng tranh Tự Do tại Thành phố Hồ Chí Minh, để trưng bày và bán tranh lụa, giấy dó và tranh sơn dầu, ký tên Vân Bích. Ít lâu sau, ông được nhiều tờ báo trong nước đề nghị cộng tác trở lại. Tranh của ông tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực của xã hội.

Năm 1997, Choé bị đột quỵ, dẫn đến bại liệt một thời gian. Trước đó ông  đã mắc phải bệnh Tiểu đường. Từ năm 1998 tới 2001, ông có 2 lần sang Pháp điều trị nhưng  bệnh trạng không thuyên giảm. Từ năm 2001, ông bắt đầu đi đứng khó khăn, mù mắt trái, mờ mắt phải, từ đó ông không vẽ nữa mà chuyển qua làm thơ, viết nhạc.

Lê Ðức Thọ và Hiệp Ðịnh Paris. Tranh Choé vẽ tại Sài Gòn Tháng 4, 1973.

Lê Ðức Thọ và Hiệp Ðịnh Paris. Tranh Choé vẽ tại Sài Gòn Tháng 4, 1973.

Cuối năm 2002, ông được bạn bè giúp đỡ đưa sang Virginia, Hoa Kỳ chữa bệnh. Ngày 22 tháng 2 năm 2003, ông đột ngột bị ngộp thở, 10 ngày sau ông đột quỵ và đứt mạch máu não.

3 giờ 50 phút sáng ngày 12 tháng 3 năm 2003, ông qua đời tại bệnh viện Fairfax, Virginia. Lễ tang ông được cử hành tại Nhà Thờ các Thánh Tử Ðạo Arlington, sau đó được đưa về Việt Nam an táng tại nghĩa trang Nhà thờ Thánh Mẫu, huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai.

Ngoài rất nhiều tranh biếm đã được đăng trên các báo, còn những tuyển tập thu thập các tác phẩm của Chóe :

Sách

The World of Choé (Thế giới của Choé), tuyển tập do nhà báo Mỹ Barry Hilton  thu thập một số tranh biếm họa của ông, Nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ năm 1973.

Lai rai vẽ viết – bút ký ( Nxb Lao Ðộng, 1992)

Tử tội – tuyển tập tranh hí họa, thơ, văn, nhạc ( Nxb Tiếng quê hương, Hoa Kỳ, 2001)

Nghề Cười, tuyển tập tranh, thơ, văn, nhạc ( Nxb Văn hóa Văn nghệ, 2013)

Trong sự nghiệp đồ sộ của mình, Họa sĩ Choé đã được nhiều vinh dự trong lẫn ngoài nước:

Năm 1966, ông được báo Tiền tuyến trao giải “Truyện Ngắn Xuất Sắc”.

Năm 1973, nhà báo Mỹ Barry Hilton thu thập một số tác phẩm của ông định in thành sách phát hành tại Mỹ dưới tên “The World of Choé” (Thế giới của Choé) và gọi ông là “cây biếm hoạ số 1 của Việt Nam”, nhưng ý định này đã bị Bộ Ngoại Giao Mỹ cản trở.

Năm 1973, tuần báo New York Times bình chọn Chóe là một trong 8 họa sĩ biếm họa xuất sắc trên thế giới của thập niên 1970.

Năm 1995, Choé được Phó Tổng Lãnh sự Nhật Bản mời tham dự cuộc triển lãm tranh quốc tế với chủ đề “Phụ nữ nước tôi” tổ chức tại một số thành phố ở Nhật.

Ông được tuần báo L’Hebdo của Pháp chọn là một trong 6 người Việt tiêu biểu từ 1975 tới 1995 với đặc trưng là “Họa sĩ bướng bỉnh”.

Năm 1998, ông có cuộc triển lãm tranh tại Pháp. Khi tới thăm Roma, ông được đặc ân diện kiến Ðức Giáo Hoàng John Paul II tại Tòa Thánh Vatican.

Năm 2004, 29 tranh chân dung của Choé về những người phụ nữ đoạt giải thưởng Nobel được trưng bày ở Stockholm nhân “Ngày Việt Nam” ở Thụy Ðiển.

Sao y bản chính

TÌNH YÊU MƯỜI 2013

Phim Romeo and Juliet thứ tư, được làm năm 1996, Diễn viên Leonardo DiCaprio, Clara Danes.

Phim Romeo and Juliet thứ tư, được làm năm 1996, Diễn viên Leonardo DiCaprio, Clara Danes.

Trong Ðỉnh Gió Hú, tiểu thuyết tôi phóng tác từ tác phẩm Wuthering Heights của Nữ sĩ Emily Bronte, đăng trên nhật báo Ngôn Luận khoảng năm 1960, tôi nhớ câu nói của Ðông nói với Hồng Ðào:

“Nó yêu em cả đời nó không bằng anh yêu em trong một ngày.”

Phim Romeo and Juliet thứ ba, được làm năm 1968. Diễn viên Leonard Whiting, Olivia Hussey

Phim Romeo and Juliet thứ ba, được làm năm 1968. Diễn viên Leonard Whiting, Olivia Hussey

Tôi nhớ lời viết của Nhà Văn Mỹ Scott Fitzgerald:

“Un amour comme le nôtre il n’y a qu’un par siècle.”

“Tình Yêu như Tình Yêu của đôi ta mỗi thế kỷ chỉ có một.”

Những năm 1965 ở Sài Gòn tôi tìm được lời nói về Tình Yêu trên đây của Nhà Văn Fitzgerald trên Tạp chí Selection của Pháp. Selection dịch bài viết của Nhà Văn Mỹ Fiztgerald sang chữ Pháp nên tôi có câu nói xanh rờn một cây của Nhà Văn Mỹ bằng chữ Pháp. Tôi cắt lời nói trên từ Tạp chí, Selection dán lên tấm ảnh vợ chồng tôi ngày chúng tôi mới gặp nhau. Rất tiếc trong cơn dâu biển 1975 tôi để mất tấm ảnh ấy.

Tôi nhớ trong một truyện ngắn của Tchekov lời người thiếu phụ nói:

“Em yêu anh đến có thể chết vì anh.”

Tôi đọc truyện ngắn này khoảng năm 1970. Tôi định sẽ phóng tác truyện ngắn này nhưng tôi không kịp làm. Ngày Oan Nghiệt ập đến làm tôi hụt phóng tác một số truyện tôi đã định phóng tác. Từ ngày ấy tôi vẫn thấy tiếc tôi đã không phóng tác những truyện ấy sớm hơn. Hứa với quí vị tôi sẽ viết về Những Truyện Tôi Không Kịp Phóng Tác trong một bài Viết ở Rừng Phong.

Tôi nhớ lời Tiểu Siêu nói với Trương Vô Kỵ khi Thánh Nữ sắp phải sang thuyền khác để về Ba Tư:

“Em chỉ muốn suốt đời được sống bên Công Tử, được hầu Công Tử.”

Trong đời đọc tiểu thuyết đã dài 70 mùa thu lá bay của tôi – tôi đọc tiểu thuyết từ năm tôi 10 tuổi – có nhiều lời nhân vật nói, nhiều đoạn truyện làm tôi xúc động đến ứa nước mắt. Hôm nay, một ngày Virginia is for Lovers tha thướt vào Thu, tôi chỉ viết về vài chuyện.

Với tôi, lời Tỏ Tình Tuyệt Nhất Ðời Tôi là Lời Ân Tố Tố nói với Trương Thúy Sơn:

“Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, ở đâu đôi ta cũng sống với nhau, cũng yêu nhau, cũng là vợ chồng.”

Tôi – CTHÐ – cũng muốn nói với người tôi yêu như lời Ân Tố Tố nói với Trương Thúy Sơn. Chỉ đổi một tiếng:

Anh muốn….. ..”

Trong một bài Viết ở Rừng Phong trước đây, tôi đã viết về một truyện tình của người Tầu: Truyện Tình Lưu Vô Song. Truyện như sau:

Truyền Kỳ Mạn Lục: Lưu Vô Song, vợ chưa cưới của Vương Tiên Khánh, bị tuyển nhập cung làm cung phi. Nghĩa sĩ Cổ Áp Nha dùng kế, đưa thuốc độc cho Lưu Vô Song uống, Lưu chết. Xác Lưu  đưa ra khỏi cung. Gia đình Lưu lãnh xác về nhà chôn, Cổ Áp Nha cho Lưu uống thuốc giải độc. Lưu Vô Song sống lại, kết hôn với Vương Tiên Khánh. Vợ chồng đưa nhau đi trốn, sống với nhau trọn đời. Truyện cuộc Tình Romeo và Juliet của Shakespeare giống như truyện Tầu vừa kể. Tình tiết uống thuốc độc, chết, sống lại như nhau, khác nhau ở điểm Romeo và Juliet là bi kịch, hai nhân vật chính chết thảm, chuyện Lưu Vô Song có kết cuộc được gọi là “có hậu.”

Tôi – CTHÐ – không biết chuyện  Tầu, hay chuyện Anh, có trước.

Shakespeare là Nhà Văn có tác phẩm được người đời sau – 300 năm sau – làm thành phim xi-nê nhiều nhất thế giới. Trên Web tôi tìm thấy Kịch Hamlet được làm thành phim tới 8 lần, Kịch Romeo và Juliet tôi trinh bày ở đây hôm nay được 4 lần làm thành phim xi-nê:

  1. Phim Romeo and Juliet được Hollywood làm thành phim năm 1936, diễn viên Leslie Howard vai Romeo, Norma Shearer vai Juliet. Leslie Howard là diễn viên đóng vai Công Tử Ashley trong phim Gone with the wind. Leslie Howard và Norma Shearer quá tuổi để đóng hai vai Romeo, Juliet. Theo tôi – CTHÐ – Romeo 18 tuổi, Juliet 17 tuổi.
  2. Phim Romeo and Juliet thứ hai được Hollywood làm năm 1954. diễn viên Laurence Harvey vai Romeo, Susan Shentall vai Juliet.
  3. Phim Romeo and Juliet thứ ba được Hollywood làm năm 1968. Leonard Whiting vai Romeo, Olivia Hussey vai Juliet. Hai diễn viên đẹp, xứng vai. Tôi – CTHÐ – thích nhất phim này.
  4. Phim Romeo and Juliet thứ tư được Hollywood làm năm 1996. Leonardo DiCaprio vai Romeo, Clara Danes vai Juliet. Phim này được đặt bối cảnh thời hiện tại, diễn viên đi xe ô tô, giết nhau bằng súng.

Ơi người bạn đọc ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, tôi chắc bạn biết và nhớ chuyện Tình Romeo-Juliet có khi rõ, đúng hơn tôi, nhưng vì để câu chuyện kể có đầu, có cuối, tôi kể:

Phim Romeo and Juliet thứ nhất, Hollywood làm năm 1936. Diễn viên Leslie Howard, Norma Shearer.

Phim Romeo and Juliet thứ nhất, Hollywood làm năm 1936. Diễn viên Leslie Howard, Norma Shearer.

“Ngày xưa ở vương quốc Verona có hai dòng họ quí tộc  thù địch nhau. Hai dòng họ này thù nhau từ cả trăm năm trước. Họ Montague, họ Capulet. Mùa xuân, ï Nhà Capulet mở Hội Vũ Hoá Trang. Công tử Romeo Motague mang mặt nạ vào Nhà Capulet dự hội. Chàng gặp tiểu thư Juliet Capulet trong dạ vũ hội. Ðịnh mệnh và Oan Nghiệt dàn xếp cho hai người trẻ tuổi, ở hai dòng họ thù địch nhau, yêu nhau. Họ hưá hôn với nhau.

Oan nghiệt đến. Người bạn thân của Romeo Montague bị một chàng Capulet đâm chết trong cuộc đấu kiếm. Romeo trả thù cho bạn, chàng thách đấu với chàng trai Capulet và dùng kiếm đâm chết chàng này. Hận thù lại nổ bùng giữa hai dòng họ. Tiểu thư Juliet Capulet không sao có thể làm vợ Công tử Romeo Montague.

Quốc Vương đã có lệnh cấm thần dân đấu kiếm. Romeo bị án không được ở kinh đô. Chàng phải đến sống ở một thị trấn nhỏ. Juliet bị gia đình gả cho Công tước Paris. Ngày cưới sắp đến. Juliet cầu cứu Tu sĩ Lawrence. Ông Tu sĩ này đã làm lễ kết hôn cho Juliet và Romeo trước ngày Romeo phải đi khỏi kinh đô.

Tu sĩ Lawrence bầy kế: ông dùng một loại thuốc ngủ cực mạnh, lén đưa cho Juliet uống. Bà Vú của Juliet là người liên lạc với Tu sĩ Lawrence. Phục thuốc, Juliet sẽ chết trong ba ngày, ba đêm. Xác nàng được đưa vào nhà mồ của Họ Capulet. Tu sĩ Lawrence sai người đi báo tin cho Romeo. Người báo tin sẽ cho Romeo biết Juliet sẽ sống lại. Việc của chàng là lén về kinh đô, vào nhà mồ Họ Capulet, chờ Juliet sống lại, đưa nàng đi. Ðôi người trẻ tuổi yêu nhau sẽ sống với nhau hạnh phúc trọn đời ở một góc trời nào đó.

Chuyện Tình được sắp đặt êm đẹp như thế, nhưng Ðịnh Mệnh đôi khi tỏ ra tàn nhẫn tuyệt cùng với những người yêu nhau. Người đưa tin do Tu sĩ Lawrence sai đi không đến được với Romeo. Romeo chỉ được tin Juliet chết, xác nàng được đưa vào nằm trong Nhà Mồ. Chàng trở về kinh đô để đến với nàng. Chàng mua ve thuốc độc để đem vào Nhà Mồ, uống và chết bên Juliet.

Romeo gặp Công Tước Paris trong Nhà Mồ. Paris yêu Juliet. Nửa đêm Paris vào Nhà Mồ nhìn xác Juliet. Romeo và Paris đấu kiếm. Romeo đâm chết Paris. Romeo hôn Juliet rồi uống thuốc độc.

Juliet tỉnh lại. Nhìn cảnh Romeo và Paris cùng chết, nàng biết ngay có chuyện gì xẩy ra: Romeo tưởng nàng chết nên uống thuốc độc để chết theo nàng. Bên xác chàng, nàng ca sáu câu rồi cầm ve thuốc độïc lên, nàng thấy trong ve còn một số thuốc chắc đủ cho nàng chết. Nàng uống thuốc.

o O o

Tôi xem một phim Romeo-Juliet, tôi không nhớ phim nào, tôi cũng không nhớ tôi xem phim năm nào ở Sài Gòn. Tôi chỉ có thể nói chắc là tôi xem một trong 2 phim làm năm 1954 và năm 1968. Phim làm năm 1954 với hai diễn viên Lawrence Harvey – Susan Shantall, phim làm năm 1968 với hai diễn viên Leonard Whitey và Olivia Hussey. Nhớ lại, tôi chắc tôi đã xem phim Leonard Whitey là Romeo, Olivia Hussey là Juliet. Trong ký ức của tôi có hình ảnh hai người như trong tấm ảnh phim tôi đăng cùng bài này.

Chuyện phim Romeo và Juliet làm tôi cảm động. Ðọc Kịch Romeo and Juliet trên trang giấy, văn là văn Anh cổ xưa, tôi không cảm động bằng khi tôi xem phim với hình ảnh những nhân vật thật.

Dòng thời gian dài một ánh bay..Những ngày như lá, tháng như mây..50 năm trước ở một rạp xi-nê Sài Gòn tôi ba mươi tuổi. Ðêm nay tôi nhớ ba cảnh phim Romeo-Juliet tôi đã thấy trên màn ảnh.

Ðêm. Romeo được bà nhũ mẫu của Juliet đưa vào phòng ngủ của Juliet. Sau cuộc tình tự, họ chia tay nhau trên ban-công. Khi Romeo đã xuống dưới vườn, Juliet trên ban-công gọi chàng:

“Romeo.. Lại đây. Em muốn nói với anh chuyện này.”

Chàng:

“Em nói chuyện gì?”

“Em muốn nói chuyện gì nhưng em quên mất rồi.”

“Anh muốn em quên mãi để anh được đứng mãi đây chờ em nhớ lại.”

Cảnh người đi đưa tin dọc đường vào nghỉ trong một tiệm ăn. Ðịa phương này đang có nạn dịch hạch. Người đưa tin đang ngồi trong quán thì binh sĩ ập đến, dùng ván đóng chẹn cửa ra vào quán. Người đưa tin bị kẹt trong quán.

Cảnh Romeo trong tiệm bào chế thuốc. Ðêm. Lão Lang Băm để ve thuốc lên quầy, Lão căn dặn:

“Cậu cẩn thận. Ðây là thuốc kịch độc. Một giọt đủ làm chết người.”

Romeo đặt đồng tiền vàng bên ve thuốc độc:

“Lão đừng nhiều lời. Vật tôi đưa cho lão mới là kịch độc. Cái lão bán cho tôi chỉ làm chết vài người, cái tôi đưa cho lão làm chết nhiều người.”

Mười một giờ ba mươi đêm. Phòng kín, đèn vàng, an ninh, yên tĩnh  năm chăm phần chăm. Trời vào thu. Không nóng, không lạnh. Mát. Dễ chịu. Microsoft 7 làm việc đúng yêu cầu. Những chữ in đen rõ nét trên màn hình trắng. Toà nhà bốn tầng, hai trăm phòng không một tiếng động. Những hành lang đèn vàng không bóng người. Người đàn bà sống bên tôi 60 năm nay đã nằm ngủ yên trong giường. Mình tôi ngồi trước máy computer, ánh đèn lung linh. Tôi mở kịch bản Romeo and Juliet ra đọc lại, tôi trích mấy đoạn tôi vừa kể:

Phim Romeo Juliet thứ hai, làm năm 1954. Diễn viên Lawrence Harvey, Susan Shentall.

Phim Romeo Juliet thứ hai, làm năm 1954. Diễn viên Lawrence Harvey, Susan Shentall.

Juliet: I have forgot why I did call thee back.
Romeo: Let me stand here till thou remember it.
Juliet: I shall forget to have thou still stand there.
Romeo: And I will stay, to have thou still forget. 

Juliet: Em quên mất tại sao em gọi anh trở lại.
Romeo: Cho anh đứng đây đến khi em nhớ lại.
Juliet: Em sẽ quên để có anh đứng đấy mãi.
Romeo: Anh sẽ đúng đây chờ em quên mãi.

Ðêm trong tiệm bào chế.

Apothecary: My poverty but not my will consents.
Romeo: I pay thy poverty and not thy will.
Apothecary: Put this in any liquid thing you will.
And drink it off, and if you had the strength
Of twenty men, it would dispatch you straight
Romeo: There is thy gold – worse poison to men’s souls.
Doing more murder in this loathsome world
Than these poor compounds that thou mayst not sell.
I sell thee poison, thou hast sold me none.

Lang Băm: Cái nghèo của tôi chịu bán, tinh thần tôi không chịu.
Romeo: Tôi trả tiền cái nghèo của anh, không trả tiền cho tinh thần anh.
Lang Băm: Hoà cái này vào nước, rồi uống. Cậu có khỏe bằng hai mươi người, nó cũng cho cậu đi ngay lập tức.
Romeo: Ðây là vàng của anh – cái này độc hại nhất cho linh hồn người ta.
Nó giết nhiều người hơn trong cái thế giới đáng tởm này
Hơn là những thứ gọi là độc của anh.
Tôi bán thuốc độc cho anh, anh có bán gì cho tôi đâu.

o O o

Tôi nghĩ  Romeo và Juliet yêu nhau nếu họ có cellphone, họ sẽ không bị chết thảm. Nàng và chàng sẽ:

Juliet: A lô.. Romeo anh yêu ơi.. Ba má em gả em cho Công Tước Paris.

Romeo: Juliet yêu thương. Em đừng sợ. Ðể anh lo.

.. ..

Juliet: Romeo anh yêu. Sư huynh Lawrence bầy cho em cách này. Sư huynh  đưa thuốc cho em uống.

Romeo: Thuốc độc? Không được.

Juliet: Nghe em nói. Uống thuốc, em sẽ chết. Nhưng em chỉ chết trong ba ngày, ba đêm thôi. Gia đình em tưởng em chết thật, sẽ đưa em vào nằm trong nhà mồ của dòng họ em. Anh về nhà mồ đón em, đưa em đi.

Romeo: Em yêu. Chờ anh.

Juliet: Anh yêu. Em chờ anh.

Chỉ là chuyện tôi suy nghĩ lẩm cẩm thôi, nếu những năm ông Thạch-Sĩ-Bia người nước Anh-cát-lợi viết Kịchï có cellphone, cuộc đời này làm gì có Chuyện Tình Cậu Lỗ Mê Ðồ yêu Cô Duy Liệt. Làm sao những trinh nữ có dịp ứa nước mắt trong bóng mờ của những rạp xi-nê; làm sao “Tình là dây Oan” là định luật ngàn đời? Sông có thể cạn, núi có thể mòn, định luật “Tình là dây Oan” không bao giờ thay đổi.

Nếu:

Thúy Kiều: A lô! Phải anh không? Anh Kim yêu dấu của em?

Kim Trọng: A lô. Em yêu. Anh đây.

Thúy Kiều: Anh yêu ơi. Nhà em có chuyện. Cảnh sát Tổng Nha vừa đến nhà em, lục xét tanh banh, rồi bắt bố em với em trai em đi. Họ nói bố em bị liên can trong vụ bán súng cho Việt Cộng.

Kim Trọng: Em đừng sợ. Anh phôn ngay cho bác Y hỏi bác về vụ nhà mình. Em nói Má đừng sợ. Ðã có anh lo. Anh phone ngay cho anh bạn luật sư của anh, anh bạn anh sẽ đến gặp em ngay. Bác Y nói gì anh báo em ngay. Anh yêu em.

Thúy Kiều: Em yêu anh.

Nếu như dzậy thì dân Việt Nam làm gí có điều kiện kiêu hãnh vì những lời Thơ Truyện Thúy Kiều Tuyệt Diệu; lại nếu như dzậy thì những nàng trinh nữ Việt Nam khi lên xe bông về nhà chồng làm sao có thể gửi cho người yêu Lời Tạ Tình đoạn trường, tức vỡ tim, đứt ruột:

Trăm nghìn gửi lậy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!

Và khóc mà gọi tên chàng:

Ôi Kim lang.. Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.

Mười hai giờ đêm.

Yên tĩnh, đèn vàng. Bài viết đẹp, gọn, sạch. Như Nàng  thơm ngây, nằm chờ chàng save.

Lời cuối trước khi save:

Lời Tình Yêu Tuyệt Nhất Ðời:

“Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, ở đâu đôi ta cũng sống với nhau, cũng yêu nhau, cũng là vợ chồng.”

CÓ PHẢI VỢ ANH..

Vàng Ảnh, Vàng Anh
Có phải vợ anh
Chui vào tay áo..

Tôi được nghe chuyện “Vàng Ảnh Vàng Anh “70 năm trước. Mẹ tôi kể tôi nghe chuyện “Vàng Ảnh, Vàng Anh” năm tôi năm, sáu tuổi. Chuyện xưa nằm trong ký ức tôi. Qua năm tháng, ký ức tôi rệu rã, hôm nay tôi nhớ được ngần này về chuyện “Vàng Ảnh, Vàng Anh “:

Chuyện Tấm Cám. Ðoạn cuối chuyện: Tấm làm vợ vua, được vị Vua trẻ tuổi yêu thương. Một hôm Tấm về thăm làng quê. Cám bầy chuyện cho Tấm trèo cây cau hái trái cau. Cám chặt gốc cây cau. Cây cau đổ, Tấm ngã xuống chết. Cám dàn xếp cho vụ Cám giết chị thành tai nạn. Tấm chết. Cám được thay chị làm vợ Vua.

Linh hồn Tấm nhập vào con chim vàng anh – những tên gọi khác của con chim này là hoàng oanh, hoàng anh, hoàng yến – chim vàng anh mang linh hồn Tấm bay vào cung vua. Hôm ấy ông Vua trẻ tình cờ đi ngang chỗ cung nữ – dưới quyền Cám – giặt và phơi y phục của Vua – Vua nghe tiếng con chim vàng anh hót nghe như tiếng người:

“Phơi áo chồng tao
Thì phơi bằng sào
Ðừng phơi bờ rào
Rách áo chồng tao..”

Vua nhìn con chim vàng anh mà nhớ đến Tấm, người vợ Vua yêu thương đã chết. Vua đưa tay áo lên, nói với chim:

“Vàng ảnh, vàng anh
Có phải vợ anh
Chui vào tay áo..”

Con chim vàng anh bay vào tay áo của Vua.

o O o

Tôi bỗng nhớ chuyện “Vàng ảnh, vàng anh.. Có phải vợ anh.. Chui vào tay áo” lúc nửa đêm qua khi tôi nằm đọc Bút ký “Những Ngày Tháng Khó Quên” của tác giả Ngô Ðình Châu, một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ông sĩ quan Ngô Ðình Châu đi HO đến Virginia trước tôi mấy năm. Ông là một trong số nhiều ông giúp đỡ vợ chồng tôi khi chúng tôi đến Xứ Tình Nhân Mỹ Quốc.

Tác giả Ngô Ðình Châu là em ruột Họa sĩ Mạnh Quỳnh. Tôi sẽ gửi đến quí vị bài viết của tôi về Họa sĩ Mạnh Quỳnh, bài viết căn cứ trên lời kể của ông Ngô Ðình Châu. Hôm nay tôi chỉ viết về tác phẩm “Những Ngày Tháng Khó Quên”, văn phẩm cuối cùng của ông Ngô Ðình Châu. Ông đã trăm năm hồng lệ ở Virginia. Tôi tiếc khi ông còn sống tôi đã không đọc kỹ “Những Ngày Tháng Khó Quên” của ông.

Sĩ quan Ngô Ðình Châu bị đi tù khổ sai ở Sốc Trăng. Dưới đây là một đoạn trích trong “Những Ngày Tháng Khó Quên.” Ðoạn truyện này làm tôi nhớ chuyện “Vàng ảnh, vàng anh.. Có phải vợ anh..”

Ngô Ðình Châu. Những Ngày Tháng Khó Quên. Trích:

book-coverTrong những ngày đi cuốc đất với anh em, tôi chứng kiến một chuyện thật là khó tin nhưng có thật.

Ðó là chuyện xẩy ra với một Thiếu úy Cảnh sát làm việc ở Ty Cảnh sát Sóc Trăng, lâu ngày tôi quên tên anh, nhưng có nhiều anh em tôi chứng kiến chuyện này, trong số có anh Phạm Kim Anh hiện sống ở Magnolia Westminster, Cali.

Nguyên sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, bọn Việt Cộng bắt tất cả sĩ quan quân đội và cảnh sát đi tù. Anh Thiếu úy bị bắt giam khi người vợ trẻ của anh đang bệnh nặng. Biết mình sắp chết, chị guợng đến khám tù xin gặp mặt chồng. Không được gặp chồng, chị về nhà và chết trong ngày hôm sau.

Anh Thiếu úy ở trong tù được tin vợ chết chỉ biết ưá nước mắt. Mấy tháng sau bọn tù chúng tôi bị đưa đến Cù Lao Vung. Tôi ở cùng đội với anh Thiếu úy. Suốt buổi chỉ thấy anh cắm cúi cuốc đất, nhưng ở gần anh thì thấy môi anh mấp máy như anh thầm nói chuyện với ai đó.

Rôi đến một chiều chúng tôi đang làm rẫy ngoài trời thì trời bỗng u ám, bỗng có một con chim từ xa bay đến, bay lượn vòng trên đầu anh Thiếu úy, chim kêu lên những tiếng “Khách.. Khách..” Chúng tôi thấy anh Thiếu úy ngưng cuốc, ngửng lên nhìn con chim. Anh nói nhỏ câu gì đó cùng lúc anh giơ bàn tay lên, con chim xà xuống đâu trên bàn tay anh. Anh nói nhỏ gì đó với con chim một lúc rất lâu.

Rồi mưa đổ xuống. Con chim bay lên, lượn ba vòng trên đầu người tù xong chim bay đi mất. Người tù đứng sững dưới mưa nhìn theo bóng chim bay.

Tối đó trong phòng giam, anh Thiếu úy rưng rưng nước mắt nghẹn ngào kể cho chúng tôi nghe: vì thương nhớ vợ anh nên anh thường nói chuyện với chị như chị còn sống. Lúc ấy bỗng có chim bay đến lượn vòng trên đầu anh, anh nghĩ có thể hồn vợ anh nhập vào con chim, bay đến an ủi anh. Anh thầm nói: “Nếu Em về, Em đậu lên tay anh..”

Ngưng trích.

Câu chuyện trên đây làm tôi thêm tin người ta có linh hồn, và con người sau khi chết có một thời gian linh hồn vương vấn trần gian. Rất có thể nếu có người thân thương tiếc quá, linh hồn người chết không bỏ đi được. Cô em văn nghệ của tôi, người chồng cô yêu thương hồng lệ, gặp tôi cô nói:

“Em phải quên chồng em, để chồng em được siêu thoát. Cứ giữ anh ấy ở mãi với em là em ích kỷ, em chỉ biết có em.”

Cuộc đời đã có nhiều chuyện buồn. Tôi không muốn làm quí vị buồn thêm. Mời quí vị đọc một chuyện vui.

Như Chuyện Thần Tiên

Mỹ Lan

Mỹ Lan

Tôi tên là Ðào Duy Kỳ, dòng dõi Ðào Duy Từ, là một Trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp trường Võ Bị Thủ Ðức, ra đơn vị tác chiến khoảng hai năm thì ngày 30-4-1975  đến. Cũng như mọi sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã bị giải ra Bắc và chịu tù đầy qua các trại Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn…

Khoảng năm 1983, chúng tôi bị chuyển trại về Vĩnh Phú. Một hôm nhóm tôi gồm 20 người đi đốn cây trong rừng. Buổi trưa là giờ ăn, tôi bèn đi sâu vào rừng để tìm chuối rừng hay rau rừng để “cải thiện.” bữa ăn Bỗng nhiên tôi thấy có một cánh tay phụ nữ trắng trẻo giơ lên vẫy tôi. Tôi nhìn quanh rồi bước đến thì một người con gái hiện ra ôm lấy tôi, kéo tôi vào một cái hang ở dưới một gốc cây. Nàng ôm tôi và nói bằng tiếng Việt rất rõ ràng, rành mạch:

“Em yêu anh! Anh yêu em đi.”

Tôi không kịp nghĩ gì cả, tôi ôm nàng, cởi vội y phục nàng.Tôi như con hổ đói vồ con hươu tơ. Tôi như anh con trai mới lớn lần đầu được ôm hôn một cô gái trắng trinh. Da thịt nàng thơm mùi gái trinh. Tôi đắm vào một thế giới đầy cảm xúc tuyệt vời.

Xong việc, nàng ngồi dậy, hôn tôi và bảo tôi:

“Anh đi nhanh đi. Em tên là Mỹ Lan.”

Tôi nói:

“Cảm ơn em đã đến, đã cho anh những giây phút tuyệt vời.”

Tôi ôm nàng nhưng không nói tên tôi vì tôi không mong được gặp lại nàng lần thứ hai trong đời, việc gặp lại cô gái rất khó đối với một tù nhân giữa núi rừng âm u! Hơn nữa, tôi sợ câu chuyện có thể bị vỡ lỡ mà mang tai họa cho tôi và nàng.

Trước khi ra khỏi hang, tôi nhìn ngược nhìn xuôi lỹ lưỡng. Thấy không có ai, tôi nhanh nhẹn bước ra rồi tiếp tục công việc như chẳng có việc gì xảy ra. Mấy hôm sau, khi đi đốn cây rừng, tôi cố ý trở lại nơi này, nhưng không thấy bóng dáng nàng hay một vết tích nào của nàng. Tôi cố ý lắng nghe trong trại có tin tức gì một người con gái nào bị bắt ở gần trại không, nhưng tuyệt nhiên không nghe ai nói gì cả. Tôi mừng nàng được an toàn. Tôi phục nàng can đảm, dám xông pha hiểm nguy. Nếu chuyện vỡ lỡ, nàng có thể bị khổ về nhiều tội.

Nàng có thể mang tội gián điệp và bị tù mãn kiếp, héo úa một đời xuân. Tôi bị tù đã đành, nhưng nàng tại sao lại mạo hiểm? Ngoài đời thiếu gì trai tơ? Thiếu gì đàn ông? Tôi không thể hiểu nguyên do nào mà nàng tìm đến hiến dâng trinh tiết của nàng cho tôi như thế! Nàng là con gái miền núi, đâu phải ngưởi Tây phương mà có lối “yêu cuồng sống vội” như vậy? Quả thật tội không hiểu. Dẫu nàng là người thế nào đi nữa, tôi yêu nàng, tôi trân quý nàng. Nàng là một vị tiên hiện đến trong đời tôi. Nàng đến một lần và chỉ ban ân cho tôi một lần thôi! Tôi nhớ nàng mãi.

Tôi nhớ làn da trắng ngà của nàng, hương thơm trên thân thể nàng, nhất là nốt ruồi bên mép trái, đặc biệt là một nốt ruồi son giữa ngực của nàng. Nàng chợt đến rồi chợt đi như con bướm vàng trong giấc mộng. Thỉnh thoảng tôi nhớ đến nàng. Trong giấc mơ, tôi thấy nàng cùng tôi âu yếm.Tôi thắc mắc không hiểu nàng là ai. Nàng là một cô gái Mường hay cô gái Kinh? Nàng là một sơn nữ hay một cán bộ ở trong vùng? Nàng lãng mạn muốn tìm của lạ miền Nam hay nàng là một cô gái bụi đời? Dẫu sao, đối với tôi, nàng là một vưu vật!

Tuần sau, chúng tôi được lệnh chuyển trại về Sơn La. Việc di chuyển này làm cho lòng tôi thêm chua xót.Thế là tôi xa cách Vĩnh Phú, không còn cơ hội gặp lại Mỹ Lan.

Năm 1985, tôi được phóng thích.

Trước đây, tôi nghe nói một số sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa bị giải ra Bắc bằng xe lửa đã bị dân chúng ngoài Bắc ném đá. Nhưng lần này trên xe lửa từ Hà Nội về đến Quảng Bình , chúng tôi không thấy có chuyện gì xẩy ra. Khi tầu về đến ga  Quảng Trị, rồi ga Huế, ga Quảng Nam, chúng tôi xuống tàu đi lại cho giãn gân cốt, thì được đồng bào vồn vã hỏi chuyện, nắm tay, kẻ cười, người khóc làm cho chúng tôi rất xúc động. Khi chúng tôi lên tàu, đồng bào ném quà bánh cho chúng tôi rất nhiều. Tình cảm đồng bào quê hương miền Nam rất nồng thắm với những đứa con bất hạnh như chúng tôi!

Sang năm 1986, tôi cùng anh chị em trong gia đình tổ chức vượt biên, may mắn chúng tôi đến được Paulo Bidong; năm 1987, tôi được đi định cư ở Hoa Kỳ. Tại Houston, tôi vừa đi làm vừa ghi tên vào đại học. Sau mấy năm, tôi đỗ bằng kỹ sư điện toán và làm việc cho hãng Corel. Sau tôi gặp Mai Linh, người Mỹ Tho, chúng tôi kết hôn.

Thỉnh thoảng tôi nhớ đến kỷ niệm Vĩnh Phú, Mỹ Lan đến rồi đi như trong giấc mộng Liêu Trai. Tôi nghĩ nàng có lẽ đã lấy chồng, hằng ngày vợ chồng mang gùi vào núi bẻ măng, đào khoai, nhổ sắn như hình ảnh những người dân thiểu số mà tôi thường thấy khi đi Ðà Lạt chơi. Tôi thấy bóng nàng ẩn hiện trong núi rừng Vĩnh Phú và lòng tôi cảm thấy luyến tiếc bâng khuâng. Tôi nghĩ cuộc đời nàng sẽ héo úa trong chốn rừng sâu. Giỏi lắm thì nàng sẽ thành một cán bộ thương nghiệp hay Hợp tác xã trong bản làng, tay dắt con lớn, vai địu con nhỏ, ngực teo, mặt mũi xanh xao như bao cô nàng Thổ Mán nơi thượng du miền Bắc. Hay cao hơn nàng là một nữ đảng viên cấp xã, cấp huyện, mang áo bộ đội bỏ ngoài quần, đội nón cối, đi dép râu, vai mang săc-cốt, thân gầy ốm, dáng lom khom. Những hình ảnh của nàng, lúc ẩn lúc hiện trong tâm trí tôi làm thành một kho kỷ vật êm đềm.

Cuộc hôn nhân của của Mai Linh và tôi rất hạnh phúc. Chúng tôi sống bên nhau được ba năm thì Mai Linh bị bệnh ung thư rồi mất. Tôi buồn rầu mấy năm trời. Hình ảnh Mỹ Lan lại hiện đến trong tôi rất ngọt ngào và thần bí. Hương thơm của thân thể nàng như còn vương vấn trong mũi tôi và thân thể tôi. Tôi có ý định về Việt Nam du lịch, thăm lại Vĩnh Phú, tìm lại mối tình xưa. Nhưng tôi lại không dám vì cuộc đời như nước chảy mây trôi, thuyền trôi mà bến bờ cũng đổi thay, quá khứ e đã tan vỡ như xác pháo mùa Xuân, không thể nào tìm lại được. Nếu đào bới quá khứ,chỉ thêm đau lòng như Lưu Nguyễn khi trở lại quê xưa!

Các bạn khuyên tôi nên đi du lịch một chuyến để quên sầu. Tôi mua vé máy bay đi du lịch Ðức, Pháp, và Ý vì Tây phương đối với tôi có nhiều quyến rũ. Hơn nữa, tôi có bà chị họ định cư tại Tây Ðức. Chị tôi có con du học tại Tây Ðức trước 1975, đỗ tiến sĩ, sau 1975 xin ở lại, rồi bảo lãnh gia đình qua đây. Khi tôi đến Tây Ðức, gặp anh chị và các cháu, tôi vui mừng hết sức. Các cháu lái xe đưa tôi đi xem cảnh trong thành phố. Một hôm các cháu đưa tôi đi ăn phở ở một tiệm phở của người Việt nổi tiếng là ngon nhất tại đây. Khi bà chủ tiến tới chào hỏi chúng tôi thì tôi ngạc nhiên hết sức, vì nàng là Mỹ Lan, người tình một khắc mà tôi ghi nhớ ngàn đời. Bên môi trái của nàng vẫn in rõ một nốt ruồi duyên. Tôi  bàng hoàng đứng dậy, kéo nàng ra một bên, hỏi nhỏ:

- Phải chăng em là Mỹ Lan? Chúng ta đã gặp nhau tại trại tù Vĩnh Phú?

 Sau một phút ngỡ ngàng, nàng  nhận ra tôi. Tôi hỏi nàng và kể lể mọi sự. Chúng tôi ôm nhau mà khóc. Nàng giao công việc cho người nhà rồi đưa tôi về nhà nàng. Còn tôi, tôi quay lại bảo các cháu tôi:

“Bà chủ nhà hàng là bạn quen của cậu ở Việt Nam. Bà ấy mời cậu lại nhà. Các cháu về trước, cậu sẽ về sau”.

Tôi theo nàng ra xe.

Nhà nàng ở tại một khu yên tĩnh trong thành phố. Nàng ở một mình với con trai. Các anh em nàng có nhà riêng. Người thì đi làm các hãng tư, người thì phụ giúp nàng trông coi tiệm phở. Khi còn hai chúng tôi, nàng kể sự tình. Quê nàng ở Sơn Tây, tổ tiên nhiều người đỗ cử nhân, tiến sĩ, làm quan  ở triều Lê, triều Nguyễn. Năm 1954, cộng sản về Hà Nội, mở cuộc cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, gia đình nàng bị quy là địa chủ. Mẹ nàng và anh em nàng thu vén tài sản, bỏ trốn lên mạn ngược. Ban đầu, gia đình nàng giả làm thương gia lên buôn bán để tìm hiểu, sau đó làm nhà cửa gần bản Mường, lán Thổ tại Vĩnh Phú.

Gia đình nàng ăn mặc, nói năng và sinh hoạt  theo phong tục bản Mường, Mán. Nhờ khéo giao thiệp, gia đình nàng được cảm tình dân chúng nơi đây, được họ giúp đỡ và che chở. Nàng nghe tin các sĩ quan miền Nam bị đưa ra giam giữ tại Vĩnh Phú, là một nơi gần bản Mường của nàng. Tuy chưa gặp những người miền Nam, nhưng lòng nàng chan chứa cảm tình với các tù nhân miền Nam vì họ với nàng  cùng chung cảnh ngộ, là nạn nhân của chế độ cộng sản. Nàng quyết gặp một sĩ quan miền Nam và sẵn sàng hiến thân cho chàng ta để giữ lấy dòng máu trong sạch của người quốc gia. Nàng cam tâm mang tiếng “không chồng mà chửa” còn hơn ở góa trong rừng thẳm, hoặc phải lấy anh Mán, anh Thổ hay anh cộng sản làm chồng! Nàng đã nghiên cứu địa hình địa vật, và đã đào hang ẩn náu đưới một gốc cây trong rừng, nơi tù cải tạo thường tới lao động. Nàng đã chờ đợi vài ngày đêm; cuối cùng nàng đã gặp tôi, và đã toại nguyện.

Sau cuộc ân ái đầu tiên và duy nhất ấy với người tù khổ sai VNCH là tôi, nàng có thai. Lúc này, mẹ nàng đã mất, anh em nàng chung sống với nhau. Hằng ngày, anh em nàng phải tô mặt cho đen thêm một chút để tránh cặp mặt cú vọ của cộng sản, mặc dầu nơi đây hoang vắng, người Kinh ít khi lên đây. Gia đình nàng cũng theo nếp “du canh” của người thiểu số mà di chuyển nơi này nơi nọ. Cứ vài năm là một lần di chuyển, như vậy cũng có lợi là tránh được sự theo dõi của công an. Nhân dịp người Hoa bị đánh đuổi trong vụ nạn kiều, anh em nàng theo họ sang Hoa Lục, rồi sang Hongkong.

Tại đây, chính phủ Hongkong bắt anh em nàng vào trại tập trung. Sau một thời gian, gia đình nàng được phái đoàn Tây Ðức nhận cho định cư tại Tây Ðức. Anh em nàng lúc đầu xin làm công nhân cho các hãng xưởng, sau cả nhà quyết định góp vốn mở hàng phở, và anh em nàng đã thành công. Khách hàng vào ra nườm nượp, người Việt Nam đã đành mà người Ðức, Pháp, Mỹ cũng thích ăn phở của nhà nàng. Con trai nàng nay đã lớn, được mười tuổi, đang theo học trung học và nàng thì vẫn phòng không chiếc bóng. Còn tôi, tôi cũng kể đời tôi từ nhỏ cho đến nay, qua bao chuỗi ngày sóng gió và đau thương.

 Chúng tôi ngồi nói chuyện một hồi thì nàng rủ tôi theo nàng đón con đi học về. Chúng tôi ra xe do nàng lái, đến chờ đợi ở cổng trường. Vài phút sau thì học sinh tan học. Con nàng ra xe. Nàng giới thiệu tôi với con nàng:

- Hưng, đây là bố ruột của con từ Mỹ sang tìm mẹ.

Tôi thấy Hưng giống tôi nhưng cao to hơn, trắng hơn. Tôi ôm con tôi và con tôi cũng ôm tôi trong xúc động. Tôi rất mừng vì bất chợt mà tôi đã có một đứa con trai khôn lớn.

Tối hôm đó, Mỹ Lan và tôi sống trong đêm tân hôn. Ðêm đó cũng là đêm thứ hai tôi thấy lại bộ ngực trần trắng như ngọc với một nốt ruồi son nằm ở giữa hai gò bồng đảo của nàng.

Tôi ngỏ lời xin cưới nàng làm vợ, nàng sung sướng cười trong hàng nước mắt. Tôi hỏi nàng muốn sang Mỹ hay ở lại Ðức, nàng trả lời nàng muốn sang Mỹ cùng tôi chung sống. Mấy tháng sau, chúng tôi tiến hành thủ tục hôn nhân và bảo lãnh. Ðám cưới của chúng tôi được tổ chức đơn giản tại Ðức, gồm anh chị họ và các cháu của tôi, cùng anh em nhà nàng với bạn bè. Sau đó, vợ chồng và con chúng tôi về Mỹ, chúng tôi sống một đời tự do và hạnh phúc.

Sơn Trung

Quỳnh Mai chuyển

CTHÐ: Tôi tìm được đoạn truyện trên đây trên Web Internet. Thấy truyện hay quá tôi đặt tên truyện là “Như Chuyện Thần Tiên.” Tôi tưởng đó là chuyện thật. Rồi tôi thấy chuyện không thể, chuyện không phải là chuyện thật. Ở đời này, đời xưa, đời sau làm gì có cuộc Tình nào Thần Tiên như thế.

Rồi tôi nghĩ sao lại không? Biết đâu đó chẳng phải là chuyện thật? Nếu đó không phải là Chuyện Thật, tôi thán phục ông bạn nào sáng tác ra Chuyện.  Tưởng tượng của ông bạn phong phú, lãng mạn, tuyệt vời hơn tôi nhiều lắm.

Mà tại sao ta lại không cho đó là Chuyện Thật? Chuyện làm cho Tim Ta ấm lại, Chuyện làm cho Ta thấy Ðời bớt u ám, bớt sầu buồn. Chuyện cho ta thấy Con Người không chỉ giết nhau, bỏ tù nhau, Con Người Yêu Nhau dza dzít. Chuyện làm ta yêu Ðời, yêu Người. Chuyện làm cho ta trong một khoảnh khắc thời gian, trở về cái tuổi ta thơ ấu, khi ta ngây thơ, ta tin tất cả những chuyện Tình Ðẹp ta nghe kể đều là chuyện thật. Ta còn đòi hỏi gì hơn ở một Chuyện Kể??

CHỦ NHIỆM, CHỦ NHIẾC

binhnguyenlocTôi – CTHÐ – thấy tôi không cần viết về tiểu sử ông  Bình Nguyên Lộc, ông là Nhà Văn nổi tiếng của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều vị độc giả biết về ông Bình Nguyên Lộc hơn tôi. Tôi viết bài này vì mới đây, tìm trên Web, tôi gặp tác phẩm “Hồi Ký “ của Nhà Văn Bình Nguyên Lộc. Nhà văn viết hồi ký này ở Hoa Kỳ trước ngày ông qua đời. Hồi Ký có chương “Ông Bà Bút Trà.”

Sơ lược chương “Ông Bà Bút Trà”:  Ông BN Lộc kể năm ông 17 tuổi, ông học ở Sài Gòn, ông có người anh họ là ông Tô Văn Giỏi. Từ ông Giỏi, ông  Lộc quen biết bà Tô Thị Thân – tức bà Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận, bà chủ nhật báo Sàigònmới – theo lời ông BN Lộc ông là người giới thiệu ông Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận với bà Tô Thị Thân.  Trong Hồi Ký, ông BN Lộc kể bà Tô Thị Thân làm chủ nhiều tiệm cầm đồ ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Các báo thời ấy công kích những tiệm cầm đồ lấy tiền lời quá cao, bà Tô Thị Thân bị các báo “chưởi” là hút máu dân, bà muốn ra nhật trình để “chưởi” lại những người “chửi” bà. Bà nhờ ông Giỏi tìm cho bà “ông làm báo nào viết hay mà ăn lương rẻ” để bà muớn làm chủ bút. Ông Giỏi nhờ ông BN Lộc tìm người tài. Và ông BN Lộc tìm được ông Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận cho bà Tô Thị Thân.

Hồi Ký Bình Nguyên Lộc. Trích:

Anh Giỏi  bỏ học, ra đời kiếm ăn.  Anh  hơn tôi 10 tuổi  Và anh ấy rơi vào hũ nếp.  Anh làm thư ký kế toán cho một bà nhà giàu kia, tên là bà Tô-Thị-Thân.  Viết tới đây, kẻ viết bài nầy cần nói ngay là bà Tô-thị-Thân chẳng ai đâu lạ.  Về sau bà nầy là bà Bút-Trà, một nhân vật mà bất kỳ ai cũng biết tên, vì bà ấy làm chủ một tờ báo hằng ngày, có một dạo nhiều năm, là tờ báo bán mạnh nhứt ở miền Nam nước Việt.

Bà ấy kết hôn với một ông nhà giàu người Tàu.  Ông ấy làm chủ đến hai mươi cơ-sở doanh thương ở Sài Gòn-Chợ Lớn, cả hai mươi cơ sở đều do bà ấy đứng tên làm chủ chánh thức, ông Tàu kia không thích chường mặt ra, theo thói quen của người Hoa kiều ở miền Nam nước ta.  Vì lấy chồng Tàu, nên bà họ Tô tiêm nhiễm tục lệ Tàu, mà một điểm là xem bất kỳ người nào mang họ Tô đều như là bà con cật ruột.  Người anh họ tôi được bà ấy rất tin cậy, chỉ vì anh ấy họ Tô, chớ thật ra thì anh ấy chẳng có tài-cán gì đặc biệt, mà đạo-đức thì cũng chỉ lè-phè vậy thôi                                                                        Vào cái năm tôi  17 tuổi thì báo chí ở Sài Gòn đang cạn đề tài giựt gân ăn khách, nên họ moi óc tìm chuyện sensationnelle.  Họ đã tìm được: bao nhiêu tờ báo đều đua nhau chưởi các tiệm cầm đồ. Báo chí đưa ra đề tài chủ-lực nầy :

« Tiệm cầm đồ hút máu dân, cần phải bị rút lại giấy phép ».

Ta cần bình tĩnh để nghĩ lại.  Hỏi vậy mấy mươi người Ấn Ðộ cho vay thật nặng lãi, nặng bằng mười bà Bút-Trà thì sao chẳng ai nói đến, chẳng bị ai chưởi là hút máu dân ? (.. .. .. )

Ông Bút-Trà quê ở miền Trung, giữa núi Bút Sơn và sông Trà Khúc.  Thuở đó ông vào Sài Gòn, sống như là một ông thầy thuốc du phương.  Nhưng ông hay thơ, làm thơ cổ thật đúng niêm luật, còn chữ thì đối nhau chan chác.  Văn tài như thế thì cam phận làm thầy thuốc du phương là rất biết điều vậy. (.. .. )

 Và nhân vật điếc không sợ súng hơn cả trong vụ nầy là ông Bút-Trà, ông ấy tin rằng ông sẽ thành công với việc làm nhật báo, nên khi tôi mời ông gặp bà Tô Thị Thân thì ông nhận lời ngay tức khắc.

Và bà Bút-Trà, theo tôi nghĩ, là người có đức hạnh.  Báo ra được một thời gian, thì bà đặt vấn đề với ông chồng cũ một cách đường hoàng :

« Tôi không phản bội ba nó ( Họ ở với nhau đã có con) nhưng tôi phải nói thật với ba nó là tôi hết thương ba nó, nay tôi thương ông làm nhựt –trình, tôi định kết hôn với ông ấy. »

Ông Tàu toát mồ hôi lạnh, không phải vì tình, mà vì chuyện khác.  Bà họ Tô  nói thêm :

 « Tài sản của vợ chồng ta, do tôi đứng tên hết, nhưng tôi không cướp của ba nó.  Vậy, của chồng, công vợ, ta chia hai. »

Ông chồng Tầu bấy giờ mới hoàn hồn và đâm ra mến phục vô cùng người vợ Việt sòng phẳng nầy.

Người ta tiếp tục chưởi nghề cầm đồ.  Báo bà đáp ngắn gọn :

« Hằng ngàn người khác cho vay cắt cổ, sao cứ bà họ Tô mà chưởi ? »  Thiên hạ bảo rằng bà quá lì, nên rồi họ thôi chưởi.  Và bà Tô-Thị-Thân thành công lớn, và cũng có thể nói là thành danh phần nào.

*

Về sau lâu lắm, khi đã có cháu rồi, bà bị ông bỏ bê.  Ðêm đêm bà thường xuống hiệu ăn Ngân Ðình ở bờ sông ngồi suông một mình, buồn xo.  Có lần tôi định bụng tới bàn bà để an-ủi bà nhưng bạn hữu tôi họ ngăn : « Ðừng, sẽ có thằng hiểu lầm, và ngỡ mầy làm thân để xin tiền mụ ấy thì chết mầy. »

 Tôi nghe lời bạn, nên thôi, và chỉ có vài người là biết bà với tôi xưa kia đã quen nhau nhiều, và chính tôi đã tạo ra bà Bút-Trà, một cách gián tiếp.

Ðó là thời buồn nhứt trong đời bà Bút-Trà.  Nơi Ngân Ðình, đêm đêm có bàn của Thanh Nam, có bàn của Quốc Phong, v.v… bàn nào cũng đông đảo người trong làng báo hay làng văn.  Chỉ có bàn của nhà nữ triệu phú Bút-Trà là vắng teo như chùa Bà Ðanh.  Thỉnh thoảng có cô con gái của bà, vợ của một ông Tướng hiện đang còn bị cộng sản giam cầm, đến đó với bà, còn thì bà chỉ đơn phưong độc mã sống suốt nhiều năm trường, cho đến ngày cộng sản về và bà qua đời, trong đơn lạnh, vì con bà, cả hai dòng con đều đã dông mất hết.

Thi sĩ-Ðạo diễn Hoàng Anh Tuấn.

Thi sĩ-Ðạo diễn Hoàng Anh Tuấn.

Ngưng Hồi Ký Bình Nguyên Lộc.

CTHÐ: Ðã nhiều lần tôi viết về Cuộc Gặp – Cuộc Tình và Cuộc Ðời của ông bà Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận. Hôm nay tôi chỉ viết:

Ông Bút Trà không làm Thầy Thuốc Bắc ở Sài Gòn. Ông làm phóng viên nhà báo chuyên đến cò bót lấy tin trộm cướp, tự tử, tai nạn, đánh ghen vv..vv.. Các quận cảnh sát thời xưa ấy có nhiều nhân viên người Pháp, phóng viên nhà báo Việt ít nhất phải biết tiếng Tây Bồi mới có thể đến các bót – poste de police – lấy tin. Phóng viên NÐ Nhuận không biết tiếng Pháp nên được nhà báo phái ngày ngày đến những nhà thương lấy tin. Nhà thương có những tin tai nạn, đánh nhau, tự tử. Bà Tô Thị Thân bị thương trong một tai nạn xe thổ mộ lật đổ – xe thổ mộ của nhà bà, do bà cầm cương – bà phải vào nhà thương. Bà gặp ông phóng viên nhà báo và ông bà thành vợ chồng. Bà ly dị ông chồng Tầu, bà dùng tiền vốn của bà cho ông NÐ Nhuận làm chủ nhật báo.. Lúc đầu tên tờ báo là báo Sài Gòn, sau năm 1946 báo tục bản, đổi tên là báo Sàigònmới…..vv..vv..

Tiệm cầm đồ – brocanteur – phải đóng thuế môn bài cho chính quyền sở tại, chính quyền quyết định số tiền phần trăm tiệm cầm đồ được lấy theo số tiền chi cho vật người dân đem đến cầm. Không phải chủ tiệm cầm đồ muốn lấy tiền lời bao nhiêu thì lấy. Giới Chetty Ấn Ðộ chuyên cho vay tiền cũng vậy.

Bà Tô Thị Thân không thể làm chủ 20 tiệm cầm đồ. Năm ông Nhà Văn Bình Nguyên Lộc 17 tuổi, năm Sài Gòn chưa có tờ nhật báo Sàigòn – sau năm 1945 là báo Sàigònmới – khoảng năm 1925, 1930, cả Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Ðịnh chưa chắc đã có đến 5 tiệm cầm đồ.

Bà Bút Trà không biết Nhà Hàng Ngân Ðình ở đâu. “Về sau bà này là bà Bút Tràmột nhân vật mà bất cứ ai cũng biết tên.” Không thể người Sài Gòn nào cũng biết bà Bút Trà. Tôi – CTHÐ – không biết tại sao ông Nhà Văn Bình Nguyên Lộc lại viết những câu như thế. Ðọc Hồi Ký mang tên ông tôi thấy như đó là do người nào viết, để tên ông. Ông Bình Nguyên Lộc không thể hạ bút viết những chuyện ngớ ngẩn quá đỗi.

Nhật báo Sàigònmới bị chính phủ Nguyễn Khánh đóng cửa Tháng Tư năm 1964. Từ đó ông bà Bút Trà bị bắt buộc phải ngưng mọi việc làm về báo chí.

Trong Hồi Ký Bình Nguyên Lộc có chương “Vài kỷ niệm viết lách với Thanh Nam.” Trong chương này có đoạn viết về Hoàng Anh Tuấn. Như sau:

Hồi Ký Bình Nguyên Lộc. Trích:

Còn nhớ anh Hoàng Anh Tuấn, mỗi lần phải chun vào nhà in của một tờ hằng ngày ở Sài Gòn, anh ấy phải cởi trần ra, mặc quần đùi cẩn thận rồi mới dám vào. Vào xong, anh ấy ngồi xổm như các chị bán cá, vì ghế ở đó tởm quá, anh không đủ can đảm để ngồi theo cách bình thường. Anh nầy kén ghế lắm, nếu phải ngồi ở hiệu giải khát không mấy sang trọng, anh ấy cũng ngồi xổm như thường, bất kể thiên hạ, chẳng hạn như ở mấy cái bàn ngoài của hiệu giải khát Kim Sơn, đại lộ Lê Lợi, loại bàn mà Pháp gọi là Table de terrasse.

Nhà in Sài Gòn là nơi làm việc phản luật lao động nhứt thế giới, điều đó thì ai cũng biết, nhưng sao các tay viết lách lại chen vào đó để làm gì…? Tòa soạn của một tờ hàng ngày nghèo nhứt, vẫn không thiếu bàn. Ấy, người ở ngoài nghề không làm sao mà biết được chuyện bê bối của các tay viết tiểu thuyết cho báo hàng ngày, mà kẻ nầy là một. Phải chun vào nhà in, vì thợ sắp chữ họ gào họ thét, họ đòi bài, ta vào đó, xé giấy ra từng mảnh nhỏ, viết được ba bốn giòng chữ thì nộp cho một anh thợ để anh xếp chữ ngay, kẻo không kịp in. Ta lại viết ba bốn giòng nữa giao cho anh thợ thứ nhì, nếu anh thứ nhứt khi nãy, làm chưa xong công việc. Chun vào nhà in để được gần thợ, hầu nộp bài cho nhanh ấy mà! Dĩ nhiên là bài không bao giờ qua tay các thư ký tòa soạn, mà các ông ấy cũng mong khỏi phải đọc bài, vì các ông chỉ có mấy mươi phút mà phải đọc hết năm tiểu thuyết, thì quá đau đầu.

Ngưng trích.

Tôi – CTHÐ – thấy tôi chỉ cần viết: Hoàng Anh Tuấn không viết truyện Phơi-ơ-tông. Không có chuyện Hoàng Anh Tuấn bận sà-lỏn, ngồi xổm viết tiểu thuyết trong nhà in nhật báo, lại càng không có chuyện Hoàng Anh Tuấn ngồi xổm trên ghế nhà hàng Bồng Lai. Không có một ông viết tiểu thuyết Sài Gòn nào “cởi trần, mặc quần sà lỏn, chui vào nhà in nhật báo, ngồi xổm viết truyện đăng báo.” Một lần nữa tôi phải viết:

“Tôi không biết tại sao ông Bình Nguyên Lộc lại viết những chuyện kỳ cục như thế.”

o O o

Ông Ngô Tất Tố từng có mấy năm cùng ông Tản Ðà được ông Diệp Văn Kỳ mời vào Sài Gòn làm báo Ðông Pháp. Ðược khoảng hai năm, ông Tản Ðà và ông Ngô Tất Tố cùng trở ra Bắc, Ông Ngô Tất Tố từng viết chuyện phiếm cho một số báo Hà Nội. Dưới đây là hai bài ông Ngô Tất Tố viết về ông Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận.

Ngô Tất Tố: Oan cho mấy ông chủ báo Sài Gòn.

Hôm nọ tôi đã báo với các bạn cái tin bốn chục anh em viết báo trong Nam đồng lòng tẩy chay ông Bút Trà và báo Sài Gòn của ông ấy.

Không biết các bạn đồng nghiệp trong đó có dùng cái kiểu “trường kỳ kháng chiến” của Tưởng Giớu Thạch để đối phó với kẻ địch không. Chỉ biết thái độ của anh em coi bộ hăng lắm. Luôn mấy tuần trước các báo hàng ngày, hàng tuần ở Sài Gòn vẫn đem ngòi bút thao thao bất tuyệt mà thống mạ cả người lẫn của ( tôi muốn nói tờ báo Sài Gòn) của ông Bút Trà.

Bây giờ ở Ðộng Sài Gòn lại mới xẩy ra một chuyện rất lạ: ông Bút Trà cho ông Hiền Sĩ vào tù.

Có lẽ các bạn chưa biết Hiền Sĩ là ai. Ðó là một ông phóng viên rất đắc lực của báo Sài Gòn, ông Hiền Sĩ giúp việc báo ấy đã lâu năm. Hồi này không hiểu cơm sống vì nồi hay cơm sống vì vung, ông Hiền Sĩ tự dưng liệng bút vào Ðộng Sài Gòn rồi phủi bụi áo đứng dậy. Cứ lời ông Hiền Sĩ nói trên báo thì cuộc “đình bút” đó do vì ông ta không chịu nổi những trò đê hèn của báo Sài Gòn. Thấy ông Sĩ nói như vậy thì tôi cũng hay rằng vậy. Nghe chuông một tiếng tôi chưa dám chắc là đúng hay sai.

Dù sao mặc lòng, sự từ chức của một viên trợ bút , đáng lẽ đối một tờ báo hàng ngày chỉ là việc rất thường. Sở dĩ Bút Trà tiên sinh phải coi đó là việc quan trọng là vì trong đó còn có việc khác.

Theo lời một bạn đồng nghiệp ở Sài Gòn thuật lại thì sau khi ông Hiền Sĩ thôi việc ở báo Sài Gòn và anh em nhà báo đang hô hào nhau tẩy chay báo ấy thì ông Bút Trà có nói với ông Hội Trưởng Hội Ái Hữu Báo Giới Nam Kỳ câu này:

“Các báo công kích tôi không sợ, tôi chỉ sợ thằng Hiền Sĩ nó nói người ta tin nó, vì nó là người trong nhà, nó nói ai lại không tin.”

Vậy là cái miệng của ông Hiền Sĩ có thể là một trái bom phá hoại cái Ðộng Sài Gòn. Ông Bút Trà chắc nghĩ như thế.

Bởi thế Bút Trà tiên sinh phải tìm cách để hãm cái miệng ghê gớm kia lại. Nghĩa là ông Bút Trà đã lấy những cớ sau đây để kiện ông Hiền Sĩ ở toà án:

1 – Thôi làm việc mà không báo trước.

2 – Lấy của nhà báo một cái máy ảnh mà không trả.

3 – Nợ của nhà báo số tiền 90 đồng.

Hiện ông Hiền SĨ đã bị bắt nhối vào khám rồi.

Nhưng theo các báo trong Nam thì cái diệu kế ấy của ông Bút Trà không chính đáng gì cho lắm. Người ta nói rằng ông Hiền Sĩ đã giao trả cái máy ảnh của nhà báo cho ông Tế Xuyên, một nhân viên của báo Sài Gòn. Và ông Hiền Sĩ không nợ tiền ông Bút Trà, ông Hiền Sĩ chỉ có vay của Thím Sồi – tức bà Bút Trà – một số tiền đâu gần trăm bạc nhưng đã trừ dần vào lương tháng hết rồi.

Ấy là người ta nói vậy, tôi cũng hay rằng vậy. Nào tôi có ở Sài Gòn đâu mà biết thực hư thế nào. Giả sử những chuyện nói ấy là thực thì ra ông Nhà báo Hiền Sĩ bị tù oan. Vì vậy đang có cuộc người ta ủng hộ ông Hiền Sĩ. Có nhiều người gửi tiền giúp vợ con ông Hiền Sĩ. Người ta còn muốn mở  cuộc lạc quyên lấy tiền giúp gia đình ông Hiền Sĩ. Vì ông Hiền Sĩ nghèo lắm. Từ khi ông vào nhà đá, con ông sài, vợ ông ốm, không có nơi nương nhờ.

Các bạn chắc cũng thấy rằng người ta thương ông Hiền Sĩ bao nhiêu, tức là người ta ghét ông Bút Trà bấy nhiêu.

Từ ngày ông Hiền Sĩ vào tù, các báo công kích ông Bút Trà dữ hơn trước.

Ðó là vì người ta hẹp lượng, không chịu xét kỹ cho ông Bút Trà. Thực ra những việc ông Bút Trà làm đâu phải do tự ông ấy.

Ở cột báo này đã có lần tôi nói rằng: ông Bút Trà ở Ðộng Sài Gòn cũng như Vua Tuyên Thống ở Mãn Châu Quốc. Ông Bút Trà chỉ được tiếng là ông chủ nhiệm nhưng mọi việc trong Ðộng đều do Áp Trại Phu Nhân chỉ huy – Bà Bút Trà quyết định hết – ông Bút Trà có quyền hành gì đâu.

Không phải chỉ có mình tôi nói vậy, sau vụ ông Bút Trà đánh ông Võ Oanh, báo Mai Sài Gòn, Số 16, dưới đầu đề “Thư Chủ Báo gửi Nhà Văn” có bài thơ như sau:

Bìa tác phẩm “Nhốt Gió”của Nhà Văn Bình Nguyên Lộc xuất bản tại Sài Gòn năm 1950.

Bìa tác phẩm “Nhốt Gió”của Nhà Văn Bình Nguyên Lộc xuất bản tại Sài Gòn năm 1950.

Mang tiếng chủ nhiệm và chủ nhiếc
Thực tôi chẳng có quyền chi hết.
Từ bên tòa soạn đến nhà in
Ðều do tay nhà tôi định quyết.

Nên khi bác đến hỏi tiền bài
Tôi bị điên đầu, bị choáng tai.
Tôi phải đáp liều: Mai bác đến
Chờ tôi hỏi lại ở nhà tôi.

Ðó, các ngài coi, thân danh làm ông chủ nhiệm mà cái quyền trả tiền bài cũng không có thì làm chủ làm chi.

Vậy thì những việc ông Bút Trà làm, như việc bỏ tù ông Hiền Sĩ, đều do mệnh lệnh của bà Bút Trà, không phải do ông tự do hành động.

Thế mà người ta cứ nhè vào đầu ông ấy mà công kích hoài. Thật là oan uổng biết chừng nào.

Tôi muốn khuyên các bạn nhà báo Nam Kỳ:

Hãy nghĩ đến phúc đức cho con cháu, đừng gắp lửa bỏ vào tay ông chủ nhiệm, tội nghiệp.

Xuân Trào

Thời Sự Số 130, ngày 26 Tháng 5, 1939.

Xuân Trào là một trong những bút danh của ông Ngô Tất Tố.

Ðây là chuyện ông Chủ Báo Bút Trà “uýnh” ông Nhà Văn Võ Oanh, chuyện cũng do ông Ngô Tất Tố kể.

Ngô Tất Tố: Trận đại náo trong Ðộng Sài Gòn.

Có người vừa từ Nam ra Bắc khoe với tôi rằng ở chính giữa thành phố Sài Gòn có một cái Ðộng.

Cái Ðộng ấy là một tòa nhà sâu hơn đường xuống Âm Ty của Chùa Hương Tích.

Chánh Chủ Ðộng là Bà Bút Trà, cựu danh Thím Sồi.

Phó Chủ Ðộng là ông Bút Trà, chính tên là ông Nguyễn Ðức Nhuận, quán vùng Núi Bút, Sông Trà chi đó, hiện đương giúp bà Bút Trà làm quản lý hay chủ nhiệm báo Sài Gòn.

Ðộng có nhiều ngăn. Ngăn ngoài là toà trị sự của báo Sài Gòn. Ngăn trong là chỗ ở của ông bà Bút Trà và các cô nhỏ, cậu nhỏ. Một số biên tập viên của báo Sài Gòn viết bài ở đó, ăn ở đó và ngủ ở đó, không biết có ông nào đặt bàn đèn hút ở đó không.

Nhờ cách xếp đặt khôn khéo của bà Bút Trà nên trong mấy năm nay Ðộng ấy vẫn thái bình, tờ báo Sài Gòn chạy như bươm bướm.

Thình lình đến bữa giáp Tết, trong Ðộng tự nhiên xẩy ra một cuộc đại chiến, khiến cho người ngoài đều phải ngạc nhiên.

Không phải là có toán lâu la nào ở đâu dám đến gây sự. Ðó là các vị “Tướng Soái” của Ðộng xung đột với nhau.

Số là trước đó ông Bút Trà có thay mặt bà Bút Trà mời người viết bài để ra số báo Sài Gòn Xuân. Trong bọn viết thuê có ông Võ Oanh. Chừng không phải là “Tướng” ngụ luôn trong Ðộng nên chi ngày 25 Tết ông Võ Oanh đến Ðộng hỏi tiền nhuận bút bài Xuân của ông ấy.

Cứ như lời của báo Sự Thật và báo Tia Sáng thuật lại thì ông Bút Trà không chịu trả tiền bài cho ông Võ Oanh, ông còn truyền lệnh cho bộ hạ đánh cho ông Võ Oanh một trận.

Nhưng đó là chỉ là một tiếng chuông, tôi không dám tin là đúng.

Theo sự phỏng đoán của tôi thì cuộc đại chiến có thật, không phải có người ghét làng báo mà bịa ra. Nhưng mà trước khi khai chiến, chắc ông Võ Oanh có khiêu chiến chi đó khiến ông Bút Trà nổi giận. Nếu ông Võ Oanh chỉ nhũn nhặn đến hỏi tiền nhuận bút mà không nói gì ngoài việc đó thì không lẽ ông Phó Chủ Ðộng Sài Gòn lại nỡ dùng đến võ lực.

Sở dĩ tôi nói quyết như vậy là vì tôi đã được nghe tiếng của ông Bút Trà.

Trước khi tìm được Áp Trại Phu Nhân để lên làm chủ tờ báo Sài Gòn, Bút Trà tiên sinh đã nhiều năm lẽo đẽo đi theo ông Nguyễn Ðức Nhuận thứ ba mà làm trợ bút cho báo Công Luận. Cái cảnh cần tiền của bọn viết mướn như thế nào ông ấy cũng đã trải rồi. Không lẽ bây giờ một bước nhẩy vọt lên chức Phó Chủ Ðộng mà một người biết điều như ông Bút Trà lại có thể trở nên kẻ “bẻ tay Bụt trong Ngày Rằm” cho được.

Thế thì cuộc đại chiến ấy tất nhiên do ông Võ Oanh gây ra.

Cứ kể thì ông Võ Oanh cũng là người có can đảm. Cái can đảm ấy cũng giống như cái can đảm của Triệu Tử Long một sang, một ngựa, dám xông pha trong đám trăm vạn quân Tào. Nhưng vì không có dũng lực như vị anh hùng họ Triệu nên trong khi một mình giao chiến trong Ðộng Sài Gòn – không biết được bao nhiêu hiệp – ông Võ Oanh bị thương khá nặng.

Sau khi thoát khỏi Ðộng Sài Gòn, ông Võ Oanh đi lấy giấy đốc tờ và đầu đơn kiện ở toà án.

Tấn kịch vẫn chưa hạ màn.

Cách đó mấy hôm, một bọn viết báo từng là bè bạn của ông Võ Oanh có đứng tên chung trong một tờ truyền đơn chửi ông Bút Trà cực kỳ tàn nhẫn.

Nghe nói Bút Trà tiên sinh cũng có chửi lại trên báo Sài Gòn, ông ấy bảo bọn này là bọn con nít vì xin vô làm báo Sài Gòn không được nên thừa dịp báo thù.

Cuộc khẩu chiến ấy hiện đang kéo dài.

Trong mấy số gần đây báo Sự Thật cùng báo Tia Sáng hô hào quần chúng tẩy chay báo Sài Gòn và đòi đuổi ông Bút Trà ra khỏi làng báo. Ấy là người ta muốn dùng cái chiến thuật đã đánh ông Nguyễn Ðức Nhuận thứ nhất ngày xưa mà đánh ông Nguyễn Ðức Nhuận thứ hai này vậy.

Nhưng chiến thuật đó khó lòng có hiệu quả lần thứ hai này. Bởi vì cung vận của ông Nguyễn Ðức Nhuận thứ hai đương đỏ chon chót như gấc, quần chúng nào mà đánh cho đổ!

Vả lại nếu đánh đổ được ông Bút Trà, quần chúng cũng không có thể kéo vào làm chủ cái Ðộng Sài Gòn, tội gì người ta lại chịu xen vào chiến trường làm chi.

Vậy nên tôi muốn can cả đôi bên: Các ông nên vì danh dự của Làng Báo mà ký giấy đình chiến.

Xuân Trào

Thời Vụ Số 109 Ngày 10 Tháng 3, 1939.

o O o

CTHÐ: Thi sĩ Hàn Mặc Tử có thời làm nhân viên nhật báo Sài Gòn.

Năm 1960 ông Thiếu Lăng Quân làm Thư Ký Toà Soạn Nhật báo Sàgonmới. Các ông nhà báo gọi ông Thiếu Lăng Quân là ông “Thiếu Lưng Quần.” Ông Ký giả Việt Tha nhật báo Tiếng Dội cùng thời được gọi là ký giả “Chuột Tha.”

Làng báo Sài Gòn trước sau có ba ông Nguyễn Ðức Nhuận. Trong bài viết của ông Ngô Tất Tố ông Nguyễn Ðức Nhuận thứ nhất là ông  Nguyễn Ðức Nhuận làm báo Phụ Nữ Tân Văn, ông Nguyễn Ðức Nhuận thứ hai là ông Bút Trà, ông Nguyễn Ðức Nhuận thứ ba là ông Phú Ðức, tác giả những bộ tiểu thuyết Châu về Hiệïp phố, Lửa Lòng (Bách Si Ma.)

Ðến Tháng Chín năm 2013 tôi mới biết ông Ngô Tất Tố 70 năm xưa có viết nhiều bài Phiếm, trong số có hai bài viết về ông Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận. Ðọc những  bài Phiếm của ông tôi thấy ông viết có duyên, rất được, tôi chỉ théc méc các ông Bút Trà, Hiền Sĩ là nhà báo Sài Gòn, ở Bắc Kỳ đâu có ai biết các ông Bút Trà, Hiền Sĩ, ông Ngô Tất Tố kể chuyện về các ông Bút Trà, Hiền Sĩ Sài Gòn trên báo Hà Nội, ai đọc.

Khoảng năm 1960 tôi có lần được gặp ông Hiền Sĩ ở toà soạn Nhật Báo Sàigònmới; ông Hiền Sĩ đến thăm ông bà Bút Trà. Tôi nghe nói đầu năm 1946 Thực Dân Pháp trở lại Sài Gòn, cho xuất bản nhật báo L’Entente chữ Pháp, và nhật báo Phục Hưng chữ Việt. Nhật báo Phục Hưng được Pháp chi tiền, giao cho ông Hiền Sĩ làm chủ nhiệm. Vì làm báo Phục Hưng tuyên truyền cho người Pháp, ông Hiền Sĩ bị coi như “Việt Gian.”

Khi báo Phục Hưng đình bản, ông Hiền Sĩ bỏ Sài Gòn về sống ở quê ông. Tôi nghe nói quê ông ở Chợ Gạo, có thời ông làm Cai Tổng.

Tất cả các ông có tên trong bài báo này đều đã qua đời.

Dòng thời gian dài một ánh bay..

Cảm khái cách gì!

NHẠC CHỦ ÐỀ

Nguyễn Ðình Toàn: Văn Tình, Thơ Tình, Nhạc Tình, Nhạc Chủ Ðề. Ảnh năm 2005 ở Cali, Kỳ Hoa.

Nguyễn Ðình Toàn: Văn Tình, Thơ Tình, Nhạc Tình, Nhạc Chủ Ðề. Ảnh năm 2005 ở Cali, Kỳ Hoa.

Tháng Chín 2013, trên Internet Rừng Phong Virginia, thấy có những bài viết về Nhà Văn – Nhà Thơ –Nhà Nhạc Nguyễn Ðình Toàn. Tôi – CTHÐ – trích đăng mấy bài:

Tác giả Phan Xuân Sinh viết về Văn nghệ sĩ  Nguyễn Ðình Toàn, ngày 11/07/2012, ở Houston

Khi chúng tôi dự trù tổ chức “Chiều Nhạc Nguyễn Ðình Toàn”, chúng tôi không nhớ là chiều Nhạc cũng là chiều diễn ra những trận đá banh EuroCup ở vào thời điểm quyết liệt nhất. Ảnh hưởng của Giải Túc Cầu Âu Châu làm cho một số quí vị vì phải xem trận đá banh nên không tới dự   “Áo Mơ Phai – Chiều Nhạc của Nguyễn Ðình Toàn.” Chiều Nhạc tổ chức tại Café Canvas, Houston, Tuy vậy số người  đến dự vẫn đông. Chúng tôi khai mạc Chiều Nhạc đúng giờ; đó là một sinh hoạt đúng với tinh thần văn hóa, không kéo dài thời gian chờ đợi và tất cả quý khách tham dự rất lịch sự giúp cho chương trình tiến diễn một cách tốt đẹp.

*

Ðêm, nghe lại nhiều lần những ca khúc của Nguyễn Ðình Toàn, người nghe như bị thôi miên, cuốn hút theo, và thèm nghe thêm nhiều lượt nữa, cõi nhạc Nguyễn Ðình Toàn tha thiết, réo rắt, thăm thẳm, buồn hiu!

Có phải vì đêm nay, đêm tái hiện trong cơn mê sảng thời đại, những ‘oan hồn điên cuồng còn chảy tuôn máu chưa hề quên, khăn tang nào che ngang đầu, những kiếp người một đời giông bão…,’ và có thật một nỗi buồn gan thắt nữa, trùm lấp vào ‘đêm thao thức trông trời, xa vắng tin người âm u tiếng đời vui. Sao rơi rớt lưng trời hay nước mắt đưa người…!

*

Ðào Trương Phúc, Ký Giả-Nhà Văn- Chủ Báo -Võ Sư

Ðào Trương Phúc, Ký Giả-Nhà Văn- Chủ Báo -Võ Sư

Nhà văn Nguyễn Ðình Toàn nổi tiếng năm 1962 bằng  Truyện dài “Chị Em Hải” do Nhà Xuất Bản Tự Do ấn hành.

Suốt mười năm sau đó, ông cho ra đời thêm 10 tác phẩm, gồm truyện ngắn, truyện dài, trong đó có cuốn “Áo Mơ Phai” được trao tặng Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1972, tác phẩm này đã làm ông khốn đốn không ít trong nhà tù cộng sản sau năm 1975. Ngoài ra ông còn là một nhà thơ với tập thơ Mật Ðắng. Sau thời Ðệ Nhị Cộng Hòa 1963, ông là người khai sinh chương trình Nhạc Chủ Ðề, phát thanh hàng tuần trên Ðài Sài Gòn, đặc biệt với lời dẫn nhập do chính ông đọc và viết cho mỗi bài hát.

Ý kiến của Nữ ca sĩ Quỳnh Giao:

“Ông viết lời giới thiệu như người ta làm thơ. Văn phong ông cổ điển, khác với lời viết của Mai Thảo, khác lời nhạc của Trịnh Công Sơn, lời viết về bản nhạc trong Nhạc Chủ Ðề là một loại thơ dẫn vào nhạc. Chương trình ăn khách và tạo ra một trào lưu chính là nhờ giọng nói truyền cảm, như lời thủ thỉ của Nguyễn Ðình Toàn. Ông dẫn thính giả vào nhạc bằng câu “Hỡi em yêu dấu” như ông  chỉ nói với một người. Qua làn sóng điện người nghe thấy lời thì thầm với riêng mình những cảm xúc do ca khúc gợi lên. Ông tạo ra một không khí tình cảm dịu dàng, điệu nghệ, để người nghe chuẩn bị đón nhận. Nhạc Chủ Ðề Nguyễn Ðình Toàn đã là nơi báo hiệu hào quang sáng lên trên các ca sĩ sau này là những tên tuổi lẫy lừng như Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu.”

*

Nhà Văn-Nhà Báo Ðào Trương Phúc viết về Tình Ca Nguyễn Ðình Toàn và Nhạc Chủ Ðề.

Tình ca- những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta”…

“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: Tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ, tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố… Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ… Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố,,”

Ðó là những lời mở đầu một chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, một buổi tối thứ năm nào đó của thập niên 60. Nguyễn Ðình Toàn đọc những lời giới thiệu ấy sau phần nhạc hiệu của chương trình, và tiếp theo là những giọng hát và những ca khúc chọn lọc đến với thính giả – giọng hát Duy Trác và “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, giọng hát Thái Thanh và “Giáo Ðường Im Bóng” của Nguyễn Thiện Tơ, giọng hát Sĩ Phú và “Trở Về Dĩ Vãng” của Lâm Tuyền, giọng hát Lệ Thu và “Bóng Chiều Tà” của Nhật Bằng, giọng hát Khánh Ly và “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy…

Những lời giới thiệu ấy, những lời ca tiếng hát ấy dội vào tâm tư của cả một thế hệ Việt Nam, một thế hệ lớn lên trong bối cảnh của những cơn binh lửa nối tiếp nhau trên quê hương. Và kỳ lạ thay, đến bây giờ những ca khúc ấy vẫn ở lại trong ký ức họ, cho dù nhiều năm tháng đã trôi đi, bao nhiêu khuôn mặt đã xa khuất, một cuộc chiến đầy cay đắng đã tàn để nhường chỗ cho một thảm kịch khởi đầu, một thế hệ đang lùi dần vào quá khứ trong khi nhân loại đón chào một thiên niên kỷ mới…

Nếu như đối với các thính giả ái mộ “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60, chương trình phát thanh ấy là một thư viện cất giữ giùm cho họ những trang sách kỷ niệm vô giá của tuổi thanh xuân hay một thời yêu đương, thì đối với sinh hoạt văn nghệ nói chung, “Nhạc Chủ Ðề” là nhịp cầu tiếp nối giữa dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc sau cùng của miền Nam tự do. Chất nối kết hai dòng nhạc ấy là tình yêu, cho nên cuộc hành trình của “Nhạc Chủ Ðề” chính là cuộc hành trình của Tình Ca Việt Nam, dọc theo những năm tháng oan trái nhất của lịch sử…

Tình Ca Việt Nam” là tựa đề của băng nhạc đầu tiên và duy nhất do người khai sinh chương trình “Nhạc Chủ Ðề” – nhà văn Nguyễn Ðình Toàn – thực hiện vào năm 1970. Ngày đó trên quê hương chúng ta, compact disc và video chưa xuất hiện, mới chỉ có hình thức “bande magnetique,” và các phòng thâu băng cũng chưa có những thiết bị kỹ thuật tối tân để lọc âm thanh, ghép tiếng hát… Nhưng ngày đó cơn lốc chiến tranh đã cuốn hàng triệu người tuổi trẻ từ thành phố ra sa trường và đưa lửa đạn mịt mù từ sa trường về thành phố. Giữa giông bão chiến tranh, trong nỗi mong manh bọt bèo của thân phận con người và số phận đất nước, những ca khúc bất hủ của kho tàng Tình Ca Việt Nam được ghi lại và cất lên qua những giai điệu tuyệt vời nhất, vào giai đoạn thăng hoa nhất của những tiếng hát Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác, Sĩ Phú, Võ Anh Tuấn, tiếng dương cầm của Nghiêm Phú Phi và Lê Vũ Lê Văn Chấn, tiếng vĩ cầm của Ðan Thọ, Tuấn Khanh, Phạm Văn Phúc, Ðào Duy… tiếng clarinette của Ðỗ Thiều và Lê Ðô, tiếng đại hồ cầm của Nhật Bằng, nhịp trống của Trần Quang Mây…

Hơn ba mươi năm sau, khi khối người Việt Nam lưu lạc nơi hải ngoại đã chuyển tiếp từ thế hệ thứ nhất qua thế hệ thứ hai, rồi thế hệ thứ ba, “Tình Ca Việt Nam” mới được in và phát hành lần đầu tiên dưới hình thức CD. Nguyễn Ðình Toàn gửi đến thính giả mười lăm bài hát cũ của chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, cùng lúc với tuyển tập ca khúc thứ hai do ông sáng tác “Tôi Muốn Nói Với Em”. Và như thế, phải chăng một nhịp cầu đã được nối trở lại?

Nhưng câu hỏi ấy đặt ra để làm gì nhỉ? Ba mươi năm quá đủ dài để dập vùi bao nhiêu cuộc đời, xé nát bao nhiêu giấc mơ, cuốn phăng bao nhiêu ân tình, nhưng vẫn chưa và có lẽ chẳng bao giờ xóa sạch được dấu vết kỷ niệm trên ký ức của những người đã lạc nhau trong một cuộc bể dâu. Ba mươi năm trước, khi viết lời giới thiệu “Hướng Về Hà Nội”, Nguyễn Ðình Toàn nhắn nhủ rằng sự chia lìa hai thành phố trên cùng một đất nước cũng đớn đau y như cuộc phân ly giữa những cặp tình nhân sinh ra đời để yêu nhau.

Bây gờ đây, có những người mở mắt chào đời ở Hà Nội và trưởng thành ở Sài Gòn nhưng chẳng biết có còn được một ngày trở về để nhìn lại hai thành phố thân yêu ấy lần nữa hay không. Sự chia lìa giữa người và người đã trộn lẫn trong cuộc phân ly giữa người và quê hương, cũng như những con sông đều trở thành dòng vĩnh biệt để chảy vào biển cả câm lặng.

“Ta đã xa nhau như đời xa cõi chết
Có bao giờ
Còn có bao giờ ta thấy lại nhau không?”

Ðó là lời của “Em Còn Yêu Anh“, một trong những ca khúc Nguyễn Ðình Toàn viết khi ông sống sót trở về từ lao tù và ngơ ngác giữa một thành phố đã bị đổi tên, trên một quê hương nơi mà “sông chia dòng vĩnh biệt” và “người với người đã trở thành thiên tai.” Mỗi ca khúc ấy là hóa thân của một bài thơ, được viết trong đầu rồi hát trong tim, như sự mài dũa trí nhớ để chống chọi với một cơn mộng dữ. Nhưng dẫu cho đau buồn bao nhiêu và cay đắng chừng nào, những bài thơ ấy vẫn còn nguyên vẹn sự óng chuốt và mềm mại, cũng giống như những lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60.

Thật là kỳ lạ khi mỗi câu thơ và lời hát này, sau bao nhiêu đợt sóng quay cuồng của định mệnh, vẫn có thể mang người ta trở lại với một ngày nắng vui hay một chiều mưa buồn, một buổi sớm mai trong mảnh vườn nhỏ của Hà Nội hay một đêm khuya hiu hắt trên đường phố Sài Gòn. Nếu người ta tái ngộ với chính mình qua những dòng thơ “Em Ðến Thăm Anh Ðêm Ba Mươi” thì người ta cũng cảm thấy lòng trẻ lại với “Căn Nhà Xưa”. Cái rung cảm của năm nào “Tay em lạnh để cho tình mình ấm, môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm, sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan, trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết” – vẫn trở lại đầy ắp trong lời thầm thì của mấy chục năm sau:

Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải, nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái… Có những sớm em tìm đến, với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm… Nghe sau lưng em có chiếc lá mừng, đã đổi màu xanh lấy hương nồng…”

Những ca khúc ấy khiến người ta bâng khuâng tự hỏi: “Biết đâu có một ngày ở hai phương trời cách biệt mà cũng đều là đất khách quê người, có đôi tình nhân cũ tuy xa nhau hàng ngàn dặm nhưng đang cùng chia xẻ với nhau một thanh âm quen thuộc, để nhắn nhủ nhau rằng ” Tình Ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau…”

“Tôi Muốn Nói Với Em” [2001] là tuyển tập ca khúc thứ hai của Nguyễn Ðình Toàn, sau tuyển tập “Hiên Cúc Vàng” [1999] với 10 ca khúc đánh dấu những ngày đầu tiên khi tác giả đặt chân tới nước Mỹ. Và tiếp theo đó là tuyển tập thứ ba: “Mưa Trên Cây Hoàng Lan” [2002]. Một trong những ca khúc của tuyển tập này, được trình bày qua giọng hát Khánh Ly, mang tên “Nước Mắt Cho Sài Gòn,” với những lời hát mà ngay từ đầu năm 1976 đã trở thành rất quen thuộc với thính giả hải ngoại, nhưng dường như chỉ được biết đến dưới tựa đề bài hát “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” của một tác giả khuyết danh.

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên – như dòng sông nước quẩn quanh buồn – như người đi cách mặt xa lòng – ta hỏi thầm em có nhớ không… Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao – trong niềm vui tiếng hỏi câu chào – sáng đời tươi thắm vạn sắc màu – còn gì đâu…”

Sài Gòn trong ” Nhạc Chủ Ðề ” có thể chỉ là một nơi chốn kỷ niệm nào đó – “một thành phố nơi người ta đã yêu nhau”. Nhưng đối với tác giả bài hát, và đối với cả một thế hệ những người yêu quý ông, Sài Gòn giống như một chiếc hộp thần bí mà Pandora đã vô tình mở ra, và những oan khiên thống khổ tràn ngập không gian là cái giá phải trả cho những hạnh phúc tuyệt vời mà người ta nhận từ thế giới huyễn hoặc của một thời tuổi trẻ.

Sài Gòn là nơi từ đó, suốt thập niên 60, qua làn sóng điện giữa đêm khuya thanh vắng, chương trình “Nhạc Chủ Ðề” đã gửi đến thính giả những viên ngọc trác tuyệt nhất của kho tàng Tình Ca Việt Nam, những sáng tác bất hủ của Ðoàn Chuẩn, Ðặng Thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Ngọc Bích, Lâm Tuyền, Phạm Duy, Hoàng Trọng, Nhật Bằng… mỗi bài hát là tặng vật vô giá mà chỉ riêng các cặp tình nhân Việt Nam mới có thể chia sẻ cùng nhau. Sài Gòn cũng là nơi mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết lên những ca khúc của chính ông, đầy chất Thơ và miên man Tình tự, ghi lại dấu vết những cuộc tình không may, nổi trôi giữa cơn gió định mệnh khắc nghiệt, trên một quê hương tan nát vì khói lửa đạn bom. “Một Ngày Sau Chiến Tranh” là một trong những ca khúc ấy, vẽ lên hình ảnh quê hương như trong giấc mơ, những người trai trẻ ra đi ngày nào khi trở lại thấy mình già, nhưng “dẫu sao lòng anh vẫn đầy bao nỗi vui, đóa xương rồng sắc tươi hồng trong bó gai, ôi gió mát trời xanh ơi, sông sâu chôn những hồn ai, cây cao đã héo bao nhiêu nụ đời…”

Tiếc thay chiến tranh không tàn như trong một giấc mơ. Chiến tranh đã kết thúc bằng một cơn ác mộng, và ngay cả những viễn ảnh đen tối nhất vẽ nên bởi một đầu óc bi quan nhất cũng không thể so sánh nổi với thực tại về mức độ kinh hoàng. Cuộc chiến nửa thế kỷ chỉ kết thúc để mở đầu cho một thảm kịch mới, để biển Ðông trở thành mồ chôn cả triệu xác người, mảnh đất quê hương biến thành trại tù vĩ đại, và người ta bám víu vào mỗi cuộc chia ly như một niềm hy vọng đau xót. Trong những năm tháng nhọc nhằn cùng khổ, đầy bất trắc ấy, giữa một thành phố yêu dấu đã bị mất tên, có những người bạn thầm thì với nhau “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, để nhớ… Rồi cơn sóng thời gian lại cuốn đi, hết thập niên 70, rồi hết thập niên 80, cuộc bể dâu tiếp tục vùi dập từng mảnh đời, chia xa những thân tình, thử thách những số mệnh, như âm vang của một lời tiên tri nhẹ nhàng nhưng đau đớn:

“Này đường xưa tôi đi
Khóm cây bao lần thay lá nhớ
Dòng đời trôi quanh co
Có khi xui người lỗi hẹn hò…”

Dường như mỗi bài hát mà Nguyễn Ðình Toàn viết và mang theo khi ông rời xa quê hương là dấu vết còn sót lại của một thời mà người ta cùng nghe với nhau và hát cho nhau nghe những bản tình ca. Những bài hát ấy rất buồn, mỗi lời hát có thể như một tiếng thở dài chua xót, nhưng đó là ngôn ngữ của tình ca, của hạnh phúc và khổ ải quyện lẫn với nhau thành tặng phẩm của trần gian. Như ai đã nói: “Chẳng có gì khác biệt giữa những giọt lệ khóc thương và những giọt lệ mừng vui”, biết đâu mỗi kỷ niệm đắng cay âm thầm chứa đựng một phút giây hạnh phúc?

Và nếu Sài Gòn – như lời hát viết cho một người tình đã mất tên – chính là chiếc hộp oan nghiệt mà Pandora đã mở ra, thì người ta cũng có thể nhắc nhở nhau rằng chiếc hộp ấy đã được đóng lại sau khi tất cả những thống khổ và bất hạnh đã tràn ngập không gian, và nơi đáy hộp vẫn còn sót lại một tặng vật cuối cùng, mang tên hy vọng, để Sài Gòn sẽ không mãi mãi chỉ là một “Quê Hương Thu Nhỏ” trong lòng người viễn xứ.

Ðào Trường Phúc

o O o

CTHÐ: “Ðó là những lời mở đầu một chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, một buổi tối thứ năm nào đó của thập niên 60.”

Ðúng dzậy. 10 giờ một tối Thứ Năm nào đó trong năm 1965, hay năm 1966, lần thứ nhất tôi nghe chương trình Nhạc Chủ Ðề của Ðài Phát Thanh Sài Gòn. Ðài Sài Gòn mới có chương trình Nhạc Chủ Ðề do Nguyễn Ðình Toàn khai sinh và phụ trách. Lúc 10 giờ tối xưa ấy tôi nằm lơ mơ bên cái radio. Lời Toàn nói đưa tôi vào giấc ngủ êm. Sáng hôm sau trong tòa soạn Nhật báo Tiền Tuyến, tôi viết bài Tạp Chi về Nhạc Chủ Ðề. Tạp Ghi tất nhiên là đăng trên nhật báo Tiền Tuyến. Tôi tin chắc bài viết của tôi là bài viết thứ nhất về Nhạc Chủ Ðề.

Năm tháng qua. Tháng Bẩy năm 1976, Toàn và tôi gặp lại nhau trong cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị do bọn Bắc Cộng tổ chức. Khóa Học trong 21 ngày. Nhà Toàn ở trong Làng Báo Chí. Buổi trưa Toàn không thể đạp xe máy cọc cạch về nhà ăn cơm rồi lại đạp xe sang dự lớp 2 giờ trưa. Tôi rủ Toàn trưa về nhà tôi ăn cơm với tôi. Một buổi trưa Toàn cầm cây guitar của con tôi, dạo đàn vài phút, tôi nói:

“Nhạc của mày buồn quá.”

Toàn nói:

“Tao là một nhạc sĩ lỡ.”

Ðầu năm 1976 – vì không việc gì làm, quá buồn – một số người Sài Gòn bầy ra chuyện nuôi thỏ. Nhà Toàn ở làng Báo Chí, có vườn, tiện cho việc nuôi thỏ. Không thể mua rau cho thỏ ăn, Toàn đi cắt cỏ ở bãi cỏ quanh làng, đem cỏ về rửa sạch, phơi cho ráo nước rồi cho thỏ ăn. Cỏ phải cắt bằng liềm. Một chiều tôi đạp xe sang Làng Báo Chí thăm anh em. Gặp Toàn đi cắt cỏ về. Anh đội nón lá, bận bộ pijama nâu. Anh cho tôi xem vết sẹo ở bàn tay anh. Anh nói:

“Cả năm nay tao không được ăn miếng thịt bò. Mà liềm cắt tay tao, tao mất đến nửa lít máu. Làm sao tao sống được.”

Năm 1977 khi bị giam trong Xà-lim Khu B Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, qua ô cửa gió tôi nhìn thấy Nguyễn Ðình Toàn bị công an dẫn đi ngang để vào Khu Thẩm Vấn.

o O o

Ðào Trường Phúc chủ trương Tuần Báo Phố Nhỏ ở Falls Church, Virginia. Tôi viết riêng cho ÐT Phúc những lời này:

“Chắc Phúc cũng nhớ như tôi nhớ: Ân Tố Tố nói với Trưong Thúy Sơn:

“Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, ở đâu đôi ta cũng sống với nhau.”

Thúy Sơn nói:

“Anh cũng muốn nói ới em một câu như thế.”

Hôm nay tôi nói với ông Ðào một câu gần giống như câu nói của Võ Ðang Thất Hiệp Trương Thúy Sơn:

“Tôi cũng muốn viết về Nguyễn Ðình Toàn và Nhạc Chủ Ðề như ông mà tôi viết không hay. Tôi mượn bài viết của ông. Mong ông thông cảm.”

GHI VẶT

1

Năm 1995 ông Nguyên Sa cho tôi vài dòng:

“Viết ở Rừng Phong đọc được. Viết tiếp.”

Ông Nhất Tuấn nhắn:

“Nên có sổ tay, ghi những đề tài chợt đến, để dành viết.”

Nghe lời hai ông tôi ghi lên giấy những ý tưởng tôi chợt có, những chuyện hay hay tôi đọc được trong sách báo. Ðể dành khi có hứng lấy làm đề tài viết thành bài. Hôm nay – một ngày đầu Tháng Chín 2013, tôi mở quyển sổ ghi chuyện ra đọc. Tôi trích một số những chuyện tôi ghi. Mời quí vị đọc. Có chuyện tôi thêm lời bàn loạn. Như chuyện vị Thần Sisyphus trong Thần Thoại Hy Lạp và chuyện ông Tiên Ngô Tôn Cương của truyền thuyết Tầu, hay chuyện cuộc Tình Romeo Juliet của Anh và truyện nàng Lưu Vô Song  của người Tầu.

* Sisyphus: Tên vị Thần trong Thần Thoại Hy Lạp, nguyên là Vua Corinth – được tả trong Odyssey, khi chết xuống Âm Ty, bị phạt phải đẩy một tảng đá từ chân núi lên đỉnh núi. Lên tới đỉnh núi, tảng đá lăn xuống chân núi, Sisyphus lại phải đẩy tảng đá lên đỉnh núi. Cứ vần đá như vậy mãi.

* Dậu Dương Tạp Trở: Ngô Cương, người đời Hán, tu thành tiên, mắc lỗi bị đày vào Cung Trăng, phải cầm rìu đẵn một cây quế. Nhưng cứ đẵn đến đâu thân cây quế lại mọc ra đến đấy. Công việc làm không bao giờ xong, mất công vô ích.

* Truyền Kỳ Mạn Lục: Lưu Vô Song, vợ chưa cưới của Vương Tiên Khánh, bị tuyển nhập cung làm cung phi. Nghĩa sĩ Cổ Áp Nha dùng kế, đưa thuốc độc cho Lưu Vô Song uống, Lưu chết. Xác Lưu  đưa ra khỏi cung. Gia đình Lưu lãnh xác về nhà, Cổ Áp Nha cho Lưu uống thuốc giải độc. Lưu Vô Song sống lại, kết hôn với Vương Tiên Khánh. Vợ chồng đưa nhau đi trốn, sống với nhau trọn đời. Truyện cuộc Tình Romeo và Juliet của Shakespeare giống như truyện Tầu vừa kể. Tình tiết uống thuốc độc, chết, sống lại như nhau, khác nhau ở điểm Romeo và Juliet là bi kịch, hai nhân vật chính chết thảm, chuyện Lưu Vô Song có kết cuộc được gọi là “có hậu.”

Bài Thơ được cho là “thủ bút: chữ viết” của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nếu đúng thì bài Thơ này được Cố Thi sĩ làm trong Nhà Tù Chí Hoà năm 1976. Sự kiện này cho  biết tại sao cùng thời gian ấy nhiều văn nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn bị VC bắt giam mà không ông nào gặp, hay nhìn thấy ông Vũ Hoàng Chương trong tù. Gần như tất cả các văn nghệ sĩ, ký giả đều bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Luư, riêng ông Vũ Hoàng Chương bị giam khoảng 10 tháng ở Nhà Tù Chí Hòa.

Bài Thơ được cho là “thủ bút: chữ viết” của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nếu đúng thì bài Thơ này được Cố Thi sĩ làm trong Nhà Tù Chí Hoà năm 1976. Sự kiện này cho biết tại sao cùng thời gian ấy nhiều văn nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn bị VC bắt giam mà không ông nào gặp, hay nhìn thấy ông Vũ Hoàng Chương trong tù. Gần như tất cả các văn nghệ sĩ, ký giả đều bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Luư, riêng ông Vũ Hoàng Chương bị giam khoảng 10 tháng ở Nhà Tù Chí Hòa.

* Cà Cuống. Văn Nghệ Tiền Phong xuất bản ở Mỹ, Số 513, ngày 15 tháng 6, 1991.

Một số nhỏ nhà văn lớp trước
Hồi mới đây sang được Hoa Kỳ.
Mấy ông nay đã qua thì
Viết văn còn có ra gì nữa đâu.
Thế nhưng vẫn tự cao, tự đại,
Vẫn tưởng mình là bố người đời.
Thật là rởm, thối quá trời.
Trong làng chữ nghĩa cứ đòi ngồi trên.
Chao ôi khắm vô biên, vô tả,
Còn nặng mùi hơn cả mắm tôm.
Y như cục kít thối om
Thế mà vẫn tưởng mình thơm ngạt ngào.
Người ta đang cười vào mũi đó.
Mà mấy ông không rõ, không hay.
Ðít cà cuống, chết còn cay.
Hũ Mắm

* Ðỗ Phủ:

Thính viên thật hạ tam thanh lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

* Ðinh Hùng:

Rồi những đêm sâu bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya.
Ðâu đây u uất hồn sơ cổ,
Từng bóng ma rừng theo bước đi.

Trải sông nước, vượt qua ngàn châu thổ
Ta đến đây nghe vượn núi kêu sầu.
Từng buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ,
Ta nằm trên cỏ lặng yên nghe.
Thèm ăn một chút hoa man dại,
Rồi ngủ như loài muông thú kia.

CTHÐ: Một chiều xưa tôi đến phòng Thanh Nam trong bin-đinh Cửu Long. Thanh Nam nói với tôi về đoạn thơ trên:

“Mày thấy không? Hút xong trong người háo, thèm ăn rau tươi.”

Tôi thấy Thanh Nam – không nghiện – nói đúng. Tôi nhiều lần hút xong thấy tim phổi nóng ran, khô queo, thèm ăn vài miếng dưa leo.

* Ðinh Hùng

Em hãy cười lên vang cõi âm
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
Những hồn phiêu bạt bao năm cũ
Nay đã vào chung một chỗ nằm.

* James Joyce

Chamber Music

Gentle lady, do not sing
Sad songs about the death of Love,
Lay aside sadness and sing
How Love that passes is enough.
Sing about the long deep Sleep
Of Lovers that are dead, and how
In the grave all Love shall sleep
Love is aweary now.

2

* Thơ H2T

Nhạc Trầm

Ðừng hát một mình
Bài ca buồn những cuộc Tình dở dang.
Thôi sầu hãy hát theo đàn
Tình Yêu như ngọc, như vàng cho nhau.
Trong bóng đêm sâu
Những người yêu ngủ giấc sầu ngàn năm.
Trong lòng một tối Tình nằm
Bây giờ chắc mệt như tằm rũ tơ!

* H2T

Những người Yêu nhau không cần nói là họ yêu nhau

Là vợ chồng chúng ta vẫn Yêu nhau.

* Dante:

Không gì buồn bằng trong đau khổ nhớ lại hạnh phúc đã qua.

* Arnand Salacrou:

Ta thấy ta đau khổ trong bất hạnh nhiều hơn ta thấy ta sung sướng trong hạnh phúc.

* Sigmund Freud:

The goal of all Life is Death.

* Ðinh Hùng. Thơ đăng trên bích báo – báo viết tay, chỉ có một bản, dán trên tường – trong Ðại Hội Luyện Quân Lập Công VM Quân Khu 3 tại Phù Tế, Ứng Hòa 1947.

Bóng Cờ Nương Tử

Còn ngát dư hương mùa Ðại Hội
Ta về nhắn gió bốn phương xa
Có nàng du kích miền duyên hải
Ðẹp giữa thao trường như cỏ hoa.
Nàng tự đồi sương, dặm cát về
Biển cồn hò hẹn với sơn khê
Mắt xanh dợn mấy mùa hoang đảo
Như gió ngàn phương cuộn sóng thề.
Nàng đã về theo tiếng núi sông
Ánh sao vàng mái tóc phiêu bồng
Chín lần gươm báu trao tay đẹp
Trung dũng lòng hoa thắm sử hồng.
Nàng đã về theo gót lữ đoàn
Ngập ngừng theo nhịp bước chân đan
Nàng ca ảo diễm hồn cây cỏ
Nghe vọng huyền âm nhạc khải hoàn.
Chợt hiện bóng cờ nương tử cũ
Ta về mơ chuyện gái Châu Phong
Từ đâu thoảng gió thùy dương hát
Nàng đã trao hồn cho núi sông.

*  Vũ Hoàng Chương

Duyên

Tặng các chiến sĩ Trường Huấn Luyện Sĩ Quan Lê Lợi Quân Khu III năm 1948. Bài thơ đăng trên bích báo của trường.

Mùa lạnh đã về, kìa..ai chiến sĩ
Áo nhung trao mỏng mảnh ấm gì chăng?
Ngùn ngụt sa trường vương tử khí
Ðàn quạ đen bay rợp bóng Cô Hằng.
Ðau đớn quá áo nàng Bân chậm gửi
Trời quan san ảm đạm khói mờ mây
Những tay ngọc sao còn chưa dệt cửi
Ðã lâu rồi trống trận nguyệt lung lay.
Và ai đó ngồi vui quanh lửa ấm
Chuyện thế gian, thời cuộc nở thâu đêm
Có giây phút cảm thông ngoài vạn dậm
Mơ ai về chia xẻ gối chăn êm.
Ta hàn sĩ nửa đời lưu lạc mãi
Xót cho ai cùng lạnh giấc tha hương
Ðây nhầu lấm vạt áo xanh quằn quại
Ðấy chinh bào thôi cũng ướt đầm sương
Bông ấm áp vải dầy ta chẳng có
Ðể dâng ai chung một hội, một thuyền
Ta rút sợi tơ lòng van với gió
Gửi dùm đi tạm chút gọi là Duyên.

* Làn Gió Giao Thần

Thơ bà Ðinh Thục Oanh, bà vợ ông Vũ Hoàng Chương, làm ngày 18 Tháng Giêng năm 2003.

Cánh hạc tung trời một sớm mai
Oanh ca lạc lõng vọng hiên ngoài
Canh khuya thao thức nghe chuông điểm
Gối lẻ âm thầm thấm lệ rơi.
Năm tháng dần trôi phai sắc áo
Long đong thân thế tiếc chi đời
Mộng tan rồi, sóng đời xanh biếc
Về bến sông nào mới thảnh thơi.

*Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt kể:

Mùa đông những năm đầu cuộc kháng chiến, Hội Phụ Nữ Liên Hiệp, gọi tắt kiểu Vẹm là Liên Nữ, mở chợ phiên. Gặp tuần mưa dầm dân không ai đến. Chợ phiên ế, các phụ lão trongt vùng bị vận động đi chợ phiên. Các cụ trèo qua những ụ đất trơn, nhiều cụ té sưng cả mặt. Bèn có câu đối:

Liên Nữ lỗ to, Liên Nữ ế.
Lão Thành trầy trật, Lão Thành sưng.

Anh Hiếu Chân nói:

“Bài thơ “Cáo Bệnh Thị Chúng: Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai..” là thơ của một thiền sư Tầu, không phải là thơ ông Mẫn Giác. Bọn Tầu đưa ra bằng chứng từ lâu. Ông Mẫn Giác thích bài thơ ấy, chép lại. Khi ông chết, người ta tìm thấy bài thơ ấy trong số giấy tờ của ông. Ngô Tất Tố cho bài thơ vào tập Thơ Lý Trần, ghi là thơ Mẫn Giác. Từ đó mỗi Tết đến lại có người kể bài thơ ấy là thơ ông Mẫn Giác.”

* Ðinh Hùng kể:

Năm 1946 ở Hà Nội, Hồ Dzếnh muốn kết thân với Việt Minh nên viết bài ca tụng Hồ Chí Minh, nhưng bọn VM tảng lờ không kết với Hồ Dzếnh. Cùng năm ấy Ngọc Giao yêu người phụ nữ tên Ngọc, nhưng không được yêu lại. Văn nghệ sĩ Hà Nội có câu:

Hồ Dzếnh dính Hồ, Hồ chẳng dính
Ngọc Giao giao ngọc, Ngọc không giao.

Xuân Diệu làm Ðoan, Xuân Riệu lậu.
Trái tim nổi loạn, trái tim la.

* Quang Dũng

Ðường về quê hương
Ðường về quê hương, về quê hương
Không thấy quê hương, chỉ thấy đường.
Em đã đi trên đường nhựa ấy
Hai mươi năm trước lá thu vàng.
Ðường về quê hương, về quê hương
Em mặc áo vàng hay áo tím
Mắt em lơ đãng nhìn chân mây
Anh vịn thành xe, tay trong tay.
Ðường về quê hương, về quê hương
Có một ngày sao mà bất tận
Hai mươi cây số tưởng vô vàn
Dài đến bây giờ vẫn chứa chan.
Ôi con chim đậu nhành giây điện
Lại giống ngày xưa chuyện nắng thu
Em đã xa rồi – chim gọi nắng
Em còn nghe thấy nữa bao giờ.

* H2T:

Ví ví von von..Anh cho một quả ôm con mà về.
Thẩn thẩn thơ thơ..Anh cho một khúc ngẩn ngơ mà về.
Hội hội hè hè..Anh cho một quẻ nín khe mà về.
Bút bút văn văn..Anh cho một quắn lăng xăng mà về.
Bút bút nghiên nghiên..Anh cho một nghiến ngả nghiêng mà về.

* Ngày 16 January 2004, Tết đến, ông bạn Nguyễn Cố Nhân  gửi cho câu đối:

Tuần đọc Công Tử đôi bài, viết ở Rừng Phong, cảm khái cách gì, chữ nghĩa dao đâm, tội có oan đâu Biệt Kích.
Tháng xem Hoàng Hải dăm trang, chuyện nơi Ðất Trích, ngậm ngùi biết mấy. Văn chương lửa bốc, bút không sợ nữa Ðăng Lưu.

H2T cám ơn, và xin sửa một tiếng:

Tù không sợ nữa, Ðăng Lưu.

* Ông Hư Chu kể năm 1950 ông được ông Trần Trung Viên, soạn giả Văn Ðàn Bảo Giám, nhờ hiệu chính Văn Ðàn Bảo Giám. Trong số những bài thơ ông Hư Chu bỏ đi có bài “Sịt Tắc “của Tú Xương:

Sịt tắc..Mày rao dã điếc tai.
Tiền thì không có, biết vay ai.
Hay mày bán chịu tao vài bát
Có tiền tao trả một thành hai.

* Những năm 1940 Thi sĩ Trần Huyền Trân sống trong một túp lều bên cái ao sau xóm cô đầu Khâm Thiên. Thi sĩ gọi cái ao này là Ðầm Liên Hoa. Nhà văn Lê Văn Trương làm bài thơ:

Ao đĩ trồi lên một túp lều
Nhân tâm thiên hạ nổi lều bều.
Có chàng thi sĩ trong lều ấy
Nói chuyện yêu đương sớm lại chiều.

* Thơ Mặc Thu làm trong đám tang Mai Thảo:

Sân ga một đám đứng chờ tầu,
Toàn bạn già xưa biết mặt nhau.
Tầu chật, có người lên được trước.
Chậm chân kẻ đợi chuyến tầu sau.
Một đi là chẳng quay đầu lại.
Áo trắng trên người đủ kín thân.
Ra đi giống thuở ai vừa đến
Tầu suốt trăm năm chỉ một lần.
Sân ga thấp thoáng bóng người già
Họ sẵn sàng về cõi thật xa
Hình như trong đám trông chờ ấy
Có bạn thân tình, có cả ta.

* Tô Châu. Hồn Việt Số 259. Tháng Tư 2005.

Vô đề

“Dữ hơn rắn độc” đàn bà.
“Vịnh Kiều Tại Ngục ” chút quà gửi em.
Ðất Hồ lục truyện xưa xem.
Nghìn năm còn bóng trăng hoen mộ sầu.
“Hồng Loan, Hồng Ngọc “nay đâu?
Rừng Phong Công Tử bạc đầu ngóng ai?
Ông có than hoài cũng rứa.
Bạn ông gần tịch hết dzồi.
Sài Gòn nơi ông sống chết
Kiều giờ thơm lắm, ông ơi!
Bẩy Bó ông còn gân quá.
Gừng ông vừa già vưà tươi.

* Thơ Hoàng Hải Thủy Rừng Phong Ngày Mồng Năm Tết 2005.

Liêu lạc bi tiền sự.
Chi ly tiếu thử thân.
Quạnh hiu buồn chuyện trước kia
Vẩn vương nhớ lại, cười khì tấm thân.
Sớm mai trời đất vào Xuân,
Thương thì thương nhé, có ngần ấy thôi.

* Thơ Dương Bá Trạc

Nguyễn Văn Quyên

Giữ ngựa tuy hèn cũng chúa tôi.
Gan trung ngứa tiết sợ gì ai.
Cường quyền chúa gặp quân vô lễ.
Quốc thể tôi liều bịch mấy thoi.
Dùi dắng đã không tình cấp nạn,
Hung hăng lại giở thói khinh người.
Anh Ngô biết mặt thằng này chửa?
Giữ ngựa tuy hèn cũng chúa tôi.

Mỗi lần đọc bài thơ này tôi – CTHÐ – lại ngậm ngùi cái nhục vong quốc, nhục nhờ người, nhục bị người khinh bỉ. Ông Nguyễn Văn Quyên chuyên dắt ngựa cho Vua Lê Chiêu Thống. Ông theo Vua chạy sang Tầu. Vua Lê thường vào cung xin yết kiến Vua Thanh để xin Vua Thanh cấp quân đưa Vua về nước. Bọn vua quan nhà Thanh bỏ rơi Vua Lê, chúng không tiếp Vua Lê, chúng ra lệnh cho bọn lính canh cửa cung không cho Vua Lê vào cung. Vua Lê năn nỉ nên bị chúng xô đẩy. Ông Nguyễn Văn Quyên thấy Vua bị bọn lính Tầu làm nhục, ông đánh chúng: “Sao chúng mày dám hỗn với Vua nước tao?” Bọn lính Tầu xúm lại đánh ông. Ông Nguyễn Văn Quyên bị đánh hộc máu chết.

* Thơ Trần Văn Hương

Nhớ vợ xưa

Vừa mới ngày nào đã đủ năm.
Bồi hồi chuyện cũ nghĩ còn căm.
Dặc dài những tưởng bền tơ nhện,
Tráo trác ai hay đứt ruột tằm.
Sao cội đa xưa chưa hết lá,
Mà con đò cũ chẳng còn tăm.
Ôm cầm gượng nối dây uyên lại,
Biết khúc đàn kia lựa có nhằm.

CON DZỞM CHÍ HÒA

Nhà Tù Chí Hòa. Người Sài Gòn bị bọn Bắc Cộng bắt tù, nếu không bị nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hòa chưa hẳn là Người Tù Sài Gòn.

Nhà Tù Chí Hòa. Người Sài Gòn bị bọn Bắc Cộng bắt tù, nếu không bị nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hòa chưa hẳn là Người Tù Sài Gòn.

Trong 4 năm nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà – từ  Tháng 4/1984 đến Tháng 12/1988 – tôi có khoảng 5 chú tù trẻ gọi tôi là Bố, tự xưng là Con. Ngày tôi ra khỏi Nhà Tù Chí Hoà Tháng 12/1988 đến hôm nay Tháng Chín 2013: thấm thoắt dzậy mà ngày tháng qua đã 22 năm. Hôm nay tôi nhớ những chú Con Dzởm Nhà Tù Chí Hòa của tôi: Lượm, Vĩnh, Cường, Bạch, Lâm Tới, Tuấn Sí Cà Ve. Cả năm chú những năm xưa ấy đều khoảng từ 25 đến 30 tuổi. Con Dzởm trong tù hầu Bố Dzởm mấy việc: đặt bát lấy cơm canh, rửa bát, dành nước tắm, dăng mùng, tháo mùng, canh giữ thức ăn khi có đồ gia đình gửi vào..v..v.. Lượm là anh con dzởm ngây ngô, hiền lành nhất trong tù của tôi. Là con hoang bị mẹ đẻ quăng trong bụi tre, người ta lượm được đem về nuôi đặt tên là Lượm. Lượm – khoảng trên dưới 20 tuổi – theo người ta lên Nam Vang kiếm ăn. Ðó là thời quân VNCS chiếm đóng Kampuchia. Con trai Việt sang Nam Vang chuyên trộm, cướp, con gái sang Nam Vang hành nghề mãi dâm. Mỗi năm vài lần bọn Bắc Cộng bắt vài lô cả trăm trai gái Việt ở Nam Vang đưa về Nhà Tù Chí Hoà nằm chờ sưu tra lý lịch – xem có phạm tội gì trước khi sang Nam Vang hay không – rồi thả. Hôm được Cai Tù gọi ra hỏi lần cuối, Lượm về phòng nói với tôi:

Lâm Tới trên Xe Ðạp trước Xương Rồng Arizona.

Lâm Tới trên Xe Ðạp trước Xương Rồng Arizona.

“Con nói với cán bộ cho con ở tù, đừng bắt con ra tù. Cán bộ hỏi sao muốn ở tù, con nói ở tù con có cơm ăn..”

Cường 10 tuổi năm 1954, theo bố mẹ di cư vào Nam, định cư ở Cái Sắn, gia đình đạo dòng, mới lấy vợ hai năm, đưa vợ về Sài Gòn tìm đường vượt biên, bị bắt trong tổ chức vượt biên. Bạch, thanh niên công giáo ở Hố Nai, bị bắt vì tham gia tổ chức Già Lam trong có các ông Tuệ Sĩ, Trí Siêu, ni sư Trí Hải. Năm 2012 tôi được biết Bạch làm người giữ một nhà thờ, thường gọi là Ông Bõ, người giữ chùa gọi là Ông Từ. Tuấn có tên là Tuấn Sì Ca Ve vì lúc nhỏ bị chích thuốc trúng gân nên bị lép một bên chân. Năm 2012 tôi được Lâm Tới cho biết Tuấn định cư ở Bỉ.

Vĩnh và tôi có những đêm bố con ăn bánh tráng trong tù. Năm ấy Nhà Tù Chí Hoà không cho gửi nước mắm vào cho tù, vì có vụ tù dùng nước mắm tẩm vào chấn song sắt phòng tù để cưa và vựợt ngục. Nhưng cho gửi nước mắm cục. Những cục nước mắm như những viên chocolat. Khoảng 11 giờ đêm, tôi khều chân Vĩnh. Hai bố con ngồi trong màn. Vĩnh lấy nước mài cục nước mắm, lấy nước nhúng bánh tráng, cuộn lại, bố con chấm nước mắm ớt cùng ăn. Như bánh ướt. Ngon tuyệt.

Tôi đi tù về. Vĩnh đi tù về đến nhà tôi tìm tôi. Tôi hỏi:

“Bây giờ con làm gì để sống?”

“Con bán vé số.”

“Ði bán dạo?”

“Không. Con có sạp ở gần nhà.”

“Người ta đi bán dạo đầy thành phố. Bán vé số ở sạp ai mà mua?”

“Vẫn có người mua, bố ơi. Những người chơi vé số phải đến sạp bán để chọn vé. Mua vé người bán dạo họ không chọn vé được. Người bán dạo chỉ có 10 vé là cùng. Có những ông theo một con số, dặn con để dành những vé mang số ấy cho mấy ông mua.”

Vĩnh dính vụ rải truyền đơn gì đó. Ðêm khuya hay bốn, năm giờ sáng, Vĩnh chạy xe Honda, người bạn Vĩnh ngồi sau rải truyền đơn. Bị bắt nhưng không tang chứng, cả hai đều chối tội. Vĩnh tù một năm ở Nhà Tù Số 4 Phăn Ðăng Lưu, một năm ở Nhà Tù Chí Hoà, bị đưa đến Trại Tù Khổ Sai Ðồng Hoà cuốc đất, xúc phân, gánh nước tưới rau hai năm.

Lâm Tới là tên Con Dzởm ly kỳ nhất của tôi. Nó có nhiều tên. Vào Phòng 10 Khu ED Chí Hoà năm 1987 nó nói tên nó là Tới nên chúng tôi gọi nó là Lâm Tới, theo tên một diễn viên xi-nê thời ấy. Năm ấy tôi ăn chung với Thầy Sáu Lê Văn Bẩy và Tu Sĩ Phật Giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Mấy năm trước Tới từng học lớp Giáo Lý do Thầy Bẩy dậy, nên vào phòng – Tới dính tổ chức vượt biên – Tới nhập bọn với chúng tôi.

Tụ lại một thời gian rồi chúng tôi tan hàng. Thầy Bẩy can “tội in ấn bất hợp pháp.” Cùng hai ông Thầy khác – ba ông đã tu xong nhưng không được bọn Cộng cho thụ phong linh mục – in ronéo một số bài giảng phát cho giáo dân vùng Ngã Ba Ông Tạ – Tân Sa Châu. Khi  xét nhà bọn công an tìm thấy Thầy Bẩy cất giữ một bản đánh máy tác phẩm Ðồi Fanta do Duyên Anh viết năm 1982 sau khi đi tù Xuyên Mộc về, trước khi vượt biên đi thoát và sang Pháp. Sợ tác phẩm bị mất, Duyên Anh nhờ Thầy Bẩy đánh máy Ðồi Fanta thành nhiều bản. Thầy Bẩy giữ một bản. Vì giữ Ðồi Fanta, Thầy Bẩy bị phang án tù 8 năm, hai ông Thầy In Ấn Roneo bất hợp pháp kia mỗi ông tù 3 năm. Năm 2010 nhờ Lâm Tới, tôi được biết Thầy Lê Văn Bẩy, người bạn tù cùng phòng với Trí Siêu, Lâm Tới và tôi những năm 1986, 1987, đến năm 2000 trở thành một linh mục ở trong nước. Linh mục Bẩy có nhiều cháu ở Mỹ, năm nào Cha cũng sang Mỹ chơi.

Một hôm tôi đọc được lời Lâm Tới gửi đến Blog hoanghaithuy.com:

“Con là Tới, từng ở Phòng 10 với Bố. Số phone của con.. .. Bố phone cho con.”

Tôi phone cho Tới, và anh Con Dzởm với ông Bố Dzởm gặp nhau trên đất Kỳ Hoa. Tôi théc méc không hiểu bằng cách nào năm 1987 ở Phòng 10 ED Nhà Tù Chí Hoà, tên Tù Lâm Tới chỉ biết có hai tiếng Yes, No. Hai mươi năm sau gặp lại Nó ở xứ người – Bố Dzởm Tám Bó, Con Dzởm Năm Bó Gặp – Nó là chuyên viên cơ khí quản trị Máy Bay Không Người Lái của Không Quân Mỹ. Lâm Tới và vợ đến Virginia thăm vợ chồng tôi. Nó là đứa Con Dzởm duy nhất tôi gặp lại ở Kỳ Hoa Ðất Trích.

Lâm Tới viết gửi tôi bài “Ði Xe Ðạp ở Arizona.” Thấy bài viết tạm được, tôi đăng mời quí vị đọc.

Lâm Tới. Hôm nay tôi đi Xe đạp

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp… vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học. (Thanh Tịnh).

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai bầu trời Arizona, cái lạnh vẫn còn se sắt lắm, vợ tôi âu yếm nắm lấy “tai” tôi và kéo lê trong  cái phòng dài và hẹp… và trên khuôn mặt tôi có một sự thay đổi lớn (đau quá!): Hôm nay tôi đi (xe) đạp (Sáu Cam).

Ðã vậy bả còn âu yếm rít lên:

“Dậy đi ông cố nội, nướng gì mà đến khét vẫn chưa chịu dậy, dậy mà thể thao với người ta!”

Tánh Sáu Cam tui hay nể vợ (hổng phải sợ vợ à nhe), nên tui, tuy đầu óc còn u mê, thể xác còn nặng nề, bật dậy như lò xo, phóng ba bước vô bathroom, đánh răng, lấy ngón tay thấm nước quẹt hai bên mép và hai bên mắt, chụp cái lược tính chải đầu, sực nhớ ra đầu hổng còn một cọng tóc. Thế là xong một phút vệ sinh ban sáng. Người bạn đang chờ trước cửa nhà với hai chiếc mountain bike trên cái giá sau xe ô tô. Anh ta sẽ là bạn “đồng đạp” chứ hổng phải “đồng chí” của tôi hôm nay. Cả hai chiếc xe đạp  đều là của Zi, tên người bạn.  Anh là một cựu phi công Blackhawk về hưu, nay làm việc cho quân đội và cùng làm một chỗ với Sáu tui.  Zi đã từng 15 năm” kinh nguyệt,” ý quên: kinh nghiệm có thừa về mountain bike, anh muốn có bạn đồng hành, nên rủ tui theo cho đời bớt cô đơn chăng? Tui thường “nể” vợ nên cũng “nể” bạn  và để tỏ ra mình cũng là một “giận động diên” có hạng, nên tui nói với Zi:

“OK, it’s a piece of cake.” Dễ như ăn cơm sườn. Gọn mà đủ ý là : “Cơm sườn!”

Ở đất nước này, thực phẩm dư thừa cả về chất lẫn lượng, nếu ăn uống mà hổng “chịu khó” dòm chừng thi mai này sẽ bị” khó chịu” với sức khỏe của mình. Mountain biking là một môn thể thao khá thịnh hành ở Mỹ dành cho mọi lứa tuổi, già như anh bạn đồng đạp của tui, hay lằng nhằng như thằng tui, hoặc sồn sồn như con mẹ hàng xóm, và nhí nhố như hai đứa con của bả mới chừng 10, 12 tuổi.

Ai chưa biết về mountain bike, tui xin tóm tắt vài lời như sau: Mountain Bike là một loại xe đạp bình thường như mọi xe đạp khác nhưng được thiết kế đặc biệt như bộ số Shimano để chạy trên những con đường gồ ghề, dốc núi hiểm trở (off- road) và chịu được những dằn sóc trên đường xuyên núi. Bánh xe to bản hơn xe đạp thường và có nhiều gai để bám đường. Khung sườn phải bằng nhôm cho nhẹ  nhưng vẫn đủ cứng để “chịu” được những chàng/nàng liễu yếu đào tơ non một tạ rưỡi ở đất nước lắm sữa nhiều bơ nầy.

 Có nhiều loại mountain bike như cross-country, downhill, free-ride, trail-riding v…v… Sáu tui thuộc loại trail-riding sau cùng. Muốn chơi môn này, bạn phải biết tự sửa và bảo trì chiếc xe của mình vì nếu xe hư giữa đường thì phiền lắm. Ở giữa rừng núi hoang vu, xa nơi người ở, lấy đâu ra tiệm để mà sửa. Quan trọng nhất là nước uống, mà phải là những loại nước có thể thay thế electrolytes (Gatorade) cho cơ thể đã bị mất calori khi ra mồ hôi, và nước lã (water) vẫn là chất lỏng cần có và phải có. Tiểu bang Arizona này là sa mạc, chỉ có loại xương rồng như cactus, saguaro, hoặc những loại cây cỏ đặc biệt có thể thích hợp với khí hậu nắng cháy da và khô rốc như ngói. Mùa hè bước ra khỏi nhà, ta có cảm tưởng như ai đem lò lửa mà hắt vô mặt mình. Nóng nhưng khô là hai yếu tố khiến con người ta mất nước nhanh nhất. Nếu bạn đến Arizona, lời khuyên thứ nhất là “stay hydrated”  (uống nước cho thật nhiều), khô đến nỗi Sáu tui khi đếm tiền, vừa liếm ngón tay chưa kịp đếm thì ngón tay đã khô mất rồi (cái lày nà “nếu náo” đấy nhá), đừng tin!

Thêm nữa là quần áo (gear), bảo vệ cho “thằng lớn”; quần short nên là loại có đệm (padding) để che chở cho “thằng nhỏ” và cho cái bàn tọa; nón bảo vệ cái gáo dừa, bao tay và giày bảo vệ cho những cơ phận làm ra tiền và cho việc chạy… thật lẹ khi bà nhà nổi trận lôi đình. Kính thể thao và hệ thống định vị (GPS navigation device) là 2 thứ cũng không thể thiếu khi trail- riding để khỏi lạc đường và che chở mắt khỏi bụi và tia nắng mặt trời chói chang. Nói chung là nhiều thứ lỉnh kỉnh khác nếu mình muốn, còn không thì những cái nêu trên là đủ rồi.

Lái xe từ nhà đi khoảng 10 miles, đậu lại, chuẩn bị ba lô, nước uống, kiểm lại vài dụng cụ cần thiết và không quên mang theo 1 khẩu súng ngắn đề phòng thân vì mới có 5 giờ sáng, nên bobcat hoặc mountain-lion vẫn còn lảng vảng đi kiếm mồi, chúng chỉ kiếm chỗ núp khi mặt trời lên cao. Những loại thú hoang nầy đôi khi rất hung hăng, có thể tấn công  người khi chúng thấy chúng  bị làm phiền.

Chúng tôi bắt đầu đạp xe vào một con đường mòn tương đối bằng phẳng để warm-up những bắp thịt khá là khiêm tốn trên đôi chân gầy gò như cái ống điếu của tui. Chay khoảng vài dặm thì bắt đầu đoạn đường chiến binh, khúc đường này bắt đầu lên dốc và sỏi đá lởm chởm hơn, rất dễ té, mà té thì bạn biết cái gì sẽ xảy ra ngay. Sỏi đá sẽ làm rách quần áo hoặc trầy xước da, còn xui xẻo hơn nếu bạn té vào bụi xương rồng gai lởm chởm, thì mất cả ngày để ngồi buồn mà gỡ từng cái gai, thú vị lắm! Trước đây Sáu tui bị một cái gai xương rồng Agave đâm vào mu bàn tay trái, phải vào emergency nhờ lấy ra, vì nó vô lút cán, cái gai dài khoảng 1 inch, may mà không chạm vào bất cứ cái gân nào.

Ðường càng dài, hơi thở càng gấp gáp, mồ hôi ướt đẫm lưng áo, bắp thịt chân như bị chuột rút, đau tê tái, muốn nghỉ mà không dám, sợ bị ông bạn già bỏ lại đằng sau. Căng thẳng vì phải nhìn đường nếu không muốn té xe. Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay! Mãi đến khi bạn đồng đạp phán một câu mà Sáu tui vẫn chờ đợi nãy giờ:

“Take a break, you are a tough guy, man.”

Nghỉ một chút, mày cũng chì lắm đấy. Chì cái khỉ khô, gần chết mà làm bộ tỉnh thôi! Tui thầm nghĩ thế mà không nói ra.

Tiếp tục “trèo non, lội suối” thêm khoảng 2 dặm nữa qua những vùng cát khô cằn, “mồ hôi thành biển mặn trên môi” (Nhạc Trần Thiện Thanh).  Bánh xe lún sâu xuống đất, bắp chuối như tê đi không còn cảm giác, chỉ còn biết đứng lên mà đạp theo phản xạ tự nhiên vì không muốn xe dừng lại. Qua khỏi con suối cát đó, phải dừng lại để lấy hơi, nếu không chắc sẽ không mong gì gặp lại người vợ dấu yêu của “buổi sớm mai hôm ấy”. Buông xe đạp ra là té ngồi bệt xuống đất, “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt,” đầu óc quay cuồng vì không có đủ dưỡng khí trong phổi. Mất hồi lâu mới trở lại tạm bình thường, làm một hơi gần hết nửa chai nước Gatorade, tim mới trở lại nhịp đều đặn. Bố khỉ, cứ tưởng mountain bike là “piece of cake,” nào ngờ “piece of gân gà” khó nuốt.

Thôi “lỡ cỡi lưng xe đạp rồi (không phải lưng cọp), không thể xuống xe, bỏ xe giữa đường được.” Ðã đạp xe đi là phải đạp xe về. Ðành vậy! Sau khi feeling better, giờ phải theo con đường mòn Sáu tôi gọi là “Ðường mòn Hồ Chí Minh” mà trở về điểm xuất phát. Lịch sử được lặp lại một lần nữa, đỡ chăng là đường về có một đoạn dài xuống dốc. Ðổ dốc cũng không kém phần gay go vì xe lao nhanh như tên bắn, nếu bánh xe cán phải một hòn đá chỉ cần bằng quả trứng gà là ta có thể “lăng ba vi bộ” bay ra khỏi xe, người đi đằng người, xe đi đằng xe, đáp trúng một bụi cactus, về nhà vợ nhận không ra. Cặp thắng phải làm việc tối đa, đôi tay phải “nạng nách có chình độ” (lạng lách có trình độ) theo kiểu phát ngôn của các Cán Ngố vào miền Nam năm “Bẩy Nhăm.”

Sau hơn 2 tiếng mountain bike, thấm đòn và bèo nhèo như cái mền rách,  được ngồi vào xe ô tô với máy lạnh mở maximum, có tài xế lái, thật sung sướng cho cái thân còm này. May là về nhà  vợ không phải đấm bóp hay massage gì cả, nếu không nàng lại âu yếm “véo tai tôi” một lần nữa thì bỏ bu. Nhưng kìa, nàng đang nhẹ gót ngọc đến bên, dịu dàng và âu yếm hỏi:

 “Còn sức làm không?”

 “Làm gì?”

Tôi hỏi, đầu óc liên tưởng đến chuyện kia kia, ấy ấy, thì đến Năm Cam cũng chịu chứ đừng nói Sáu Cam tui.

“Rửa chén chứ  làm gì.”

Nàng nhẹ nhàng buông lời. Ôi.. thân trai mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu khó lóng phèn mà xài.

Lâm Tới.

TRUYỆN CUỐI CÙNG

Lời ghi dưới ảnh: “Công Tử Hà Ðông Hoàng Hải Thủy  đẹp trai, học giỏi, con nhà giầu nhưng không cờ bịch, có.. ..phí của giời không!” Nhà văn Văn Quang viết ở Sài Gòn.

Lời ghi dưới ảnh: “Công Tử Hà Ðông Hoàng Hải Thủy đẹp trai, học giỏi, con nhà giầu nhưng không cờ bịch, có.. ..phí của giời không!” Nhà văn Văn Quang viết ở Sài Gòn.

Vê Cu,

Không biết tao đã gửi cho mày truyện này chưa? Ðây là truyện cuối cùng cuả tao. Hết xí quách rồi, không viết gì được nũa. Truyện này không dài mà cũng không ngắn, chỉ dở dở ương ương thôi. Tiện thể gửi  cho CTHÐ xem chơi. Khói.

Trên đây là đoạn thư  ngắn ông Nhà Văn Tạ Quang Khôi, hiện sống và viết ở Virginia, Kỳ Hoa, gửi qua I-Meo Internet cho bạn ông là ông Nhà Văn Quang hiện sống ở Sài Gòn, Việt Nam. Nhân tiện ông TQ Khôi gửi bản “Truyện Cuối Cùng” của ông cho CTHÐ – tức là Tui – nên tui mới được đọc truyện cuối cùng của ông Tạ, và sáng nay tôi viết bài này.

Ông TQ Khôi gọi ông Văn Quang là Vê Cu – VQ – như năm xưa – trước năm 1975 – các ông văn nghệ sĩ Sài Gòn thường gọi ông Nhà Văn Vũ Khắc Khoan là VêCaCa – VKK – tiếng gọi thân thương. Ông TQ Khôi vì nước da của ông trắng như bông bưởi nên được các ông văn nghệ sĩ gọi là Tạ Ống Khói. Ông TQK còn có cái tên thứ ba là TêCuKa. TQK. Ông ký tên là “Khói” dưới đoạn thư  ông gửi ông VQ như quí vị thấy trên đây.

Năm 1956 khi tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong – Chủ nhiệm Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng – Số 1 ra đời ở Sài Gòn, ông Tạ Quang khôi – thanh niên Hà Nội dzô Sài Gòn năm 1954 – viết truyện dài Mưa Gió Miền Nam trên VNTP. Cùng khi ấy ông Mai Thảo giữ Trang Thơ VNTP. Ông không ký tên Mai Thảo, ông ký tên gì tôi không nhớ, và ông chỉ giữ Trang Thơ VNTP chừng hai, ba tháng là ngừng để lo việc biên tập Tạp Chí Sáng Tạo. Cùng khi ấy tôi được viết phóng sự Vũ Nữ Sài Gòn trên VNTP.

Tôi gặp ông TêCuKa lần đầu trong tòa soạn Văn Nghệ Tiền Phong. Ngoài việc viết tiểu thuyết, ông là nhà giáo. Có lẽ vì nặng chất mô phạm nên ông TQK là người viết truyện có đời sống ngang bằng, sổ ngay – tức đàng hoàng — nhất trong giới viết truyện có nhiều người sống bê tha, bê bối.

Ngày vui, ngày buồn, tháng hồng, tháng sám, năm sớm, năm muộn rồi cũng qua mau. Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh trong cuộc biển dâu quốc nạn, rồi tôi và vợ con tôi cũng sang được Kỳ Hoa. Tháng 10 năm 1994 khi tôi đến Virginia được khoảng 10 ngày, nhiều lúc tôi còn tưởng như tôi đang sống ở Sài Gòn, ông TQK – tức ông Tạ Quang Khôi – đến đón tôi, đưa tôi đi xem phong cảnh Washington DC. Sau 1975 bà vợ ông qua đời ở Sài Gòn, năm 1980 ông dắt các con ông vượt biên sang Mỹ. Ở Virginia, ông từng làm vài năm trong tòa soạn Văn Nghệ Tiền Phong. Nay ông đã retire. Trên xe đi, ông nói:

“Tao đưa mày đi mua quần áo. Ngày tao đến Mỹ, các bạn cho bố con tao quần áo cũ. Tao tủi thân lắm. Nay có bạn đến, tao đưa đi mua quần áo mới. Một bộ thôi, nhưng là đồ mới. Mày chọn cho mày một bộ, chọn cho vợ mày một bộ.”

Văn Quang, Uyên Thao và tôi ra đời năm 1933; Tạ Quang Khôi cao tuổi nhất trong ba chúng tôi. Tôi nghi ông vào cõi đời này năm 1930, có thể là năm 1928. Từ 10 năm nay ông sống một mình trong một apartment Bộ Xã Hội Mỹ dành cho những người già có tiền thu nhập thấp: Old Senior Low Income. Ông sống rất thư thái với hai dàn máy computer, một dàn để viết, một dàn để sơ-cua. Sống một mình nhưng ông không buồn một ly ông cụ nào. Mấy năm nay vì tuổi già, ông mắt mờ, tai điếc, tâm trí ông vẫn minh mẫn. Nay thấy ông cho biết ông ngưng viết vì tuổi cao, tôi bùi ngùi vừa thương ông vừa thương thân. Tôi cũng sắp không còn viết được nữa như ông. Thay vì viết tiếc thương ông khi ông không còn ở đời này, tôi viết về ông ngay khi ông còn sống.

o O o

Tháng Giêng 1990, sau sáu năm tù lần thứ hai, tôi từ Trại Cải Tạo Z 30 A, Xuân Lộc, trở về Sài Gòn. Vài ngày sau tôi gặp lại một số các bạn tôi ở nhà Vương Ðức Lệ. VÐ Lệ cũng “oa-dzi-tô đờ luých: oasiteau de luxe” như anh em chúng tôi: không công ăn, việc làm, quanh năm không kiếm được xu teng, ngày tháng phất phơ toàn chủ nhật; tình trạng này kéo dài từ ngày 30 Tháng Tư 1975, nhưng VÐ Lệ có hai cô em ở Hoa Kỳ, hai cô em thương anh ra rít nên Lệ được chi viện đều đều và dài dài. Lệ và vợ con sống đỡ khổ hơn anh em chúng tôi. Có tiền và được vợ chiều, chỉ có một cháu gái còn nhỏ, Lệ có điều kiện tổ chức những buổi anh em gặp mặt chuyện trò có ăn nhậu tại gia. Gần như tuần nào anh em chúng tôi, đa số là những anh Con Trai Bà Cả Ðọi chính cống, cũng gặp nhau ở nhà Lệ.

Tôi gặp lại Thái Thủy ở nhà Lệ sau mười lăm năm trời xa cách. Thái Thủy bị bắt tháng Ba 1976, tù mút chỉ cà tha đến những năm 1986, 1987 mới trở về phố cũ Nguyễn huỳnh Ðức. Khi Thái Thủy trở về tôi đang ngồi rù nhìn thời gian đi qua hai lần song sắt trong Lầu Bát Giác Chí Hòa. Chúng tôi gặp lại nhau ở nhà VÐ Lệ vào buổi trưa, người tù mới trở về là tôi được chiêu đãi bia lon thoải mái. Tất cả anh em đều uống bia lon – dân Ngụy Thành Hồ năm 1990 mà uống bia lon ngoại quốc hách hơn Việt kiều ở Mỹ uống XO –  tôi được quyền “iâu tin” uống nhiều hơn anh em. Lúc ba, bốn giờ chiều, tôi sỉn sỉn, sương sương xuống đường ra về. Trời Sài Gòn u ám, lất phất mưa xuân, Lệ và Thủy đưa tôi ra tận vỉa hè. Lệ gọi xích lô, dặn:

Nhà Văn Tạ Quang Khôi, biệt danh Tạ Ống Khói.

Nhà Văn Tạ Quang Khôi, biệt danh Tạ Ống Khói.

– Ðưa ông bạn tôi về Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Nhiêu? Tiền đây. Ðưa ông ấy về đàng hoàng dùm…

Trên vỉa hè Bà Hạt, tôi nói với Thái Thủy:

– Tao có chuyện này muốn nói với mày đã lâu.. Tao có nợ mày một món..

Thái Thủy tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Mày có nợ gì tao đâu?

– Mày quên. Hồi mày đi Sanh-ga-po về tao có lấy của mày cái đổng Seiko. Tao không trả tiền mày.

Vương đức Lệ hỏi chuyện gì thế? Tôi kể lại chuyện cái đổng Seiko Singapore, Thái Thủy nói:

– Mày nhớ làm gì. Quên chuyện đó đi.

Vương đức Lệ nói:

– Bây giờ chúng mình phải sống như thế này: cái gì trước kia lớn nay mình làm cho nó nhỏ lại, cái gì nhỏ mình cho đi luôn..

Năm tháng sau Thái Thủy, Vương Ðức Lệ và Mai Trung Tĩnh bị bắt, tội phản động, ông tù 5 năm, ông tù 4 năm. Khoảng năm 2000 ba ông sang Mỹ. Ba ông đã trăm năm hồng lệ ở Mỹ.

Hai mươi năm đã qua kể từ buổi chiều ra giêng trời mưa lất phất ở vỉa hè Bà Hạt, Sài Gòn, sáng nay khi nhớ và viết về các bạn tôi, tôi vẫn nhớ vẻ mặt và cái chặt tay của Lệ khi anh nói:

“…Cái gì nhỏ.. mình cho đi luôn..!”

Tôi kể rõ về chuyện cái đổng Seiko: Năm 1965, hay 1966, Thái Thủy, Trịnh viết Thành, được chính phủ cho đi sang Singapore du nhai. Trong số quà cáp Thái Thủy đem về còn dư cái đồng hồ Seiko dame. Loại đồng hồ đàn bà có mười cái dây đeo bằng nhung khác mầu nhau để thay đổi năm xưa ấy – 50 năm trước –  được kể là hiện đại. Thái Thủy đưa cho ai đem đi bán không đưa lại đưa ngay cho Hoàng Anh Tuấn. Năm ấy Tuấn và tôi làm trong tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Tuấn mang đồng hồ đến tòa soạn và Tuấn đưa cho ai không đưa lại đưa ngay cho tôi. Tôi nhận liền, Tuấn nói:

– Mày trả tiền cho Thái Thủy.

Tôi đem Seiko về tặng vợ tôi, nói tôi mua của Thái Thủy vừa đi Singapore về, và tôi quên luôn việc trả tiền.

Thái Thủy, Vương Ðức Lệ và tôi gặp lại nhau ở Kỳ Hoa. Rồi Thái Thủy ra đi lần cuối ở Cali, Vương Ðức Lệ lần cuối ra đi ở Virginia.

Bốn anh em chúng tôi: Tạ Quang Khôi, Uyên Thao, Vương Ðức Lệ và tôi tiễn đưa ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng đến nơi an nghỉ ngàn đời của ông. Trên xe trở về thành phố, tôi hỏi:

“Bốn thằng mình đây, thằng nào đi trước?”

TQ Khôi nói ngay:

“Tao đi trước.”

VÐ Lệ nói:

“Chưa chắc.”

Và sau đó Vương Ðức Lệ là người đi trước trong bốn anh em chúng tôi.

Tôi làm bài thơ:

ÐI TRƯỚC, ÐI SAU

Chưa biết thằng nào trước thằng nào,
Thằng nào đi trước, thằng nào sau.
Ði sau, đi trước cùng đi cả,
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Không thằng nào nói : Tao đi trước!
Không thằng nào nói: Tao đi sau!
Thằng đi trước đi lên tầu trước,
Thằng đi sau đi lên tầu sau.
Thằng đi sau lậy thằng đi trước,
Thằng đi trước kệ thằng đi sau.
Ði sau, đi trước rồi đi cả,
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Ðã không tránh được đi sau trước,
Bận trí làm chi chuyện trước sau!

o O o

Ðây là chuyện trao đổi – qua I-Meo Internet – giữa Nhà Văn Văn Quang và tôi:

CTHРgửi VQ:

Tôi gửi chú thư này để nếu tôi đi trước chú, chú có sẵn chuyện, ảnh về tôi để dùng viết điếu văn tôi. Nếu chú đi trước tôi chắc tôi không viết điếu văn chú đâu, có chuyện gì đáng viết về chú tôi viết hết cả dzồi.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích

Ngày 3 Tháng Giêng Tây 2006.

VQ trả lời: Tặng tất cả các vị bô lão lắm tài nhiều tật

ÐIẾU VĂN Gửi CTHÐ:

Nếu mày đi trước
Tao viết điếu văn
Nếu tao đi trước
Mày nói “Không viết.”
Ðồ đểu!

Khi viết điếu văn
Cần tí bốc thơm
Thêm tí bốc pét
Hạng bét!
Tao viết điếu văn
Kể toàn chuyện thật
Vợ mày mà biết
Mày chết!

VQ  Sài Gòn Ngày  04-Tháng Giêng Tây-2006

CTHÐ:

Tao  chít queo dzồi.
Kể tội tao, tao cóc sợ.

o O o

ÐẸP TRAI, HỌC GIỎI, CON NHÀ GIẦU

Văn Quang viết từ Sài Gòn Ngày 28 Tháng 8, 2013 bài “Cờ Bịch Ngày Xưa.” Trích:

Những ông văn nghệ sĩ không chơi Cờ Bịch:

Có những ông văn nghệ sĩ không bào giờ bén mảng đến bàn cờ bịch và sàn dancing. Ông Hoàng Hải Thủy, tức Công Tử Hà Ðông, viết “phóng sự ăn chơi rất ác liệt,” nhiều độc giả cứ tưởng ông “ăn chơi kinh lắm” nhưng ông là người không chơi bất kỳ môn nào. Ông là một ông chồng mẫu mực.

Ông Nhà văn Tạ Quang Khôi cũng vậy, ông tự nhận là Giáo Gian nhưng thật ra ông rất hiền, tốt tính, chỉ hay giận vặt, cũng giận bạn nhưng qua loa rồi quên ngay; ông không nhẩy đầm, không cờ bịch dù suốt đời ông chơi với anh em văn nghệ, ông từng có thời làm “nhớn” ở Phòng Văn Nghệ Ðài Phát Thanh Sài Gòn. Ông Uyên Thao cũng là nhà văn “chân chỉ,” cuộc sống của ông là “cày” và “cày.” Ông làm việc nhiều đến nỗi anh em phát ghét. Ông Chú Tư Cầu Lê Xuyên hiền lành hơn, ông không cờ bịch, không rượu chè, thậm chí không bao giờ ghé vào phòng trà nghe nhạc.

o O o

Bạn Văn Băng Ðình, Wychita, Kansas, làm bài Thơ Một Vần về Hoàng Hải Thủy:

Bẩy Bó Gân Gà.

Bẩy Bó Gân Gà Hoàng Hải Thủy
Nhóc tì Sông Nhuệ, lớn sông Nhĩ
Thành danh Vàm Cỏ sông Sài Gòn
Lính tráng leo tới cấp Trung sĩ
Võ Trang Tuyên Truyền thưở bán khai
Tiền thân ngành Chiến Tranh Chính Trị
Thầy Ðội khó nuốt cơm nhà banh
Tháo lon tự  khoác nghiệp văn sĩ
Hóa thân bướm lượn cõi hoa hương
Làm văn chương ma, thi phú quỉ
Mà khiến người mê, khiến thần sầu
Chữ nghĩa vung vít thật phỉ chí
Sáng tác, tối tác, phóng tác luôn
Ngòi bút chẳng bao giờ tắc tị
Dẫu “Lời quê góp nhặt dông dài..”
Miễn góp tiếng cười vui một tí
Giặc vào.. ”Sắc đỏ rũa mầu xanh..”
Hoa tàn khám lạnh tưởng mút chỉ
Tại Ngục Vịnh Kiều thêm Phóng Dao
Chiếu phim bạn tù nghe mệt nghỉ
Mơ màng khói lửa hít tô phe
Tiên ông ép rệp bất đắc dĩ
Mấy bó cũng về một bó xương
Duy thưở trần ai có tri kỷ
Trẻ trung vay mượn lắm ân tình
Già lão nợ nần gậy với bị
Bánh xe lãng tử đến Rừng Phong
Hát Ô.. Hát Ô Vàng Mít Mỹ
Chữ nghĩa lại vào Hội Gió Mưa
Ðộc giả năm châu vẫn khoái tỉ
Xuân thu nhị kỳ gọi thăm nhau
Bạn rầu mần thơ sao vận bí
Này này ai có khác chi ai
Ta chán thi văn, nản hồi ký
Ta chán người, chán luôn cả ta
Cẩm như đồng bào chán đồng chí
Ta cũng nhiều phen bẻ bút thơ
Suy đi, xét lại song thầm nghĩ
Thân tàn, đời mạt kiếp lưu vong
Giấy rách khiến bao người hóa khỉ
Chỉ còn Nàng Thơ quấn quít ta
Chẳng rượu mà say đến túy lúy
Nhớ nhau gửi chút tình cho nhau
Bớ Hoàng Hải Thủy, chớ tịch hĩ !

BĂNG ÐÌNH. 30-3-2001

Nhà Thơ Băng Ðình làm bài thơ trên năm 2001. Năm ấy H2T Bẩy Bó. Năm nay 2013, H2T Tám Bó.

Cảm khái cách gì!

Virginia Ngày 1 Tháng Chín 2013.

Thần Dược VINAGRA

Có thể tìm được Dây Thần Dược VINAGRA bên hồ nước này.

Có thể tìm được Dây Thần Dược VINAGRA bên hồ nước này.

Mười năm trước trong một bài Viết ở Rừng Phong tôi ngỏ ý tôi muốn bắt chước ông Lê Quý Ðôn trong việc ông đọc những sách xưa, thấy chuyện hay hay, ông ghi lại, làm thành tập “Kiến Văn Tiểu Lục,” tập sách Ghi những chuyện Thấy, Nghe nho nhỏ. Tôi muốn tôi cũng ghi lại những chuyện nho nhỏ tôi thấy hay hay tôi đọc được trong những trang sách của người xưa, trước hết là đăng lên báo, lên Internet, để đồng bào tôi đọc, làm thành một tập như tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục” của ông Quế Ðường Lê Quý Ðôn, một văn phẩm tác giả viết từ 300 năm trước.

Tôi thấy tôi làm việc ấy – việc ghi lại những chuyện hay, nhỏ, vui, lạ trong sách – đăng báo, xuất bản thành sách thân tặng những người Việt Nam không có điều kiện và thì giờ đọc, ghi như tôi  có ích, có giá trị hơn là những bài tôi viết linh tinh lang tang về những chuyện ruồi bâu như chuyện đả kích bọn Kỳ Nhông, bọn Việt Bợ Ðít Cộng sản, hay chuyện bới móc những sai lầm trong văn phẩm của người khác. Việc đọc, ghi lại, làm thành một tập, với tôi thật dzễ làm. Chỉ có Hay, Dzở . Tất nhiên. Nhưng từ ngày có ý định ấy đến nay đã mười mùa lá phong rơi trên Rừng Phong, tôi  chưa làm được.

“Ý trung nhân! Ngô lão hỹ! Em yêu ơi, anh già rồi.”

Sáng nay Virginia cuối hạ, đầu thu, trời dịu mát, lất phất mưa, tôi mời quí vị đọc vài trang, vài chuyện ghi trong tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục” của ông Tiến sĩ Triều Lê Quế Ðường Lê Quý Ðôn.

Ðây là lý lịch quyển Kiến Văn Tiểu Lục tôi có, tôi đọc, tôi học, tôi trích: Sách do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa in lần thứ nhất năm 1961 tại Sài Gòn. Dịch giả Trúc Viên Lê Mạnh Liêu. Kiến Văn Tiểu Lục  đến với tôi khoảng năm 1965. Năm 2000  Kiến Văn Tiểu Lục từ Sài Gòn đến Rừng Phong với tôi. Từ 10 năm nay đêm đêm tôi vẫn thường đọc lại những trang Kiến Văn Tiểu Lục và Vân Ðài Loại Ngữ.

Những trang đầu tập “Kiến Văn Tiểu Lục” ghi khoảng 100 câu người xưa nói và viết, toàn những lời khuyên tốt cho người đời. Những sách loại Minh Tâm Bảo Giám có trích nhiều câu trong “Kiến Văn” như những câu sau đây:

Nhĩ bất văn nhân chi tội, mục bất đổ nhân chi đoản, khẩu bất ngôn nhân chi quá.

Tai không nghe chuyện tội lỗi của người, mắt không thấy những vụng kém của người, miệng không nói những sai lầm của người.

Bià sách Kiến Văn Tiểu Lục bản in năm 1963 ở Sài Gòn. Quyển sách có số tuổi 50 năm. Sách này hiện nằm trong Tàng Kinh Các Rừng Phong.

Bià sách Kiến Văn Tiểu Lục bản in năm 1963 ở Sài Gòn. Quyển sách có số tuổi 50 năm. Sách này hiện nằm trong Tàng Kinh Các Rừng Phong.

Khi đọc câu trên đây – tôi, CTHÐ – thấy từ ngày sang Kỳ Hoa và viết những bài Viết ở Rừng Phong, tôi đã viết đả kích nhiều người. Tôi chạy tội với chính tôi bằng cách nghĩ tôi không đả kích ai về đời tư của người đó, tôi chỉ trích họ trên những gì họ viết, họ làm, những trò nham nhở phản bội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Giới tửu hậu ngữ, giới thực thời sân. Nhẫn nan nhẫn sự, thuận bất thuận nhân.

Không nói sau khi uống ruợu, không giận dữ khi đang ăn. Nhịn được chuyện khó nhịn, thuận với người không thuận mình.

CTHÐ: Tôi vẫn làm theo lời khuyên trên đây ngay trước khi tôi biết cuộc đời có lời khuyên ấy.

Ða ngôn đa bại, đa sự đa lự.

Nói nhiều sẽ bị nhiều thất bại, Bới việc sẽ có nhiều chuyện phải lo.

Thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong.

Ham thích nhiều sẽ tiêu phí nhiều. Chưá nhiều tiền của sẽ bị nguy đến thân.

CTHÐ bàn loạn: Lời nhận xét trên đây – đa tàng tất vong – rất đúng với những ông trọc phú-gian thương-vị kỷ ở Sài Gòn sau Ngày 30 Tháng Tư 1975. Những ông nhà giầu, những ông con buôn bỏ của chạy lấy người không kịp, bị bọn Bắc Cộng lấy hết tài sản, giam tù, tra hỏi, khảo của; những ông này bị tù tội chỉ vì cái tội có nhiều nhà, vàng, đô-la. Nhiều ông vì có nhiều mấy thứ đó mà chết thảm trong tù.

Sự bất khả tố tận, thế bất khả dụng tận, ngôn bất khả đạo tận, phúc bất khả hưởng tận.

Việc đời không nên làm hết, thế lực không nên dùng hết, lời nói không nên nói hết, phúc không nên hưởng hết.

Ðạo ngô ác giả thị ngô sư, đạo ngô mỹ giả thị ngô tặc.

Người kể điều xấu của ta là Thầy ta, người kể cái Hay, cái Ðẹp của ta là tên Giặc hại ta.

CTHÐ: “Ðạo ngô ác giả thị ngô sư, đạo ngô mỹ giả thị ngô hảo hữu.”

Người nói những cái Xấu, cái Dzở, cái Dzơ, cái Bẩn, cái Ngu, cái Tục Tĩu, cái Cu Ly Cu Leo  của ta là Thầy ta. Ðúng dzậy, đúng thôi. Nhưng người nói những cái Hay, cái Ðẹp của ta là bạn tốt của ta. Sao ta lại gọi Bạn Tốt của ta là Giặc?

Sự bất can kỷ, phân hào mạc lý.

Việc không liên can đến mình thì đừng dzính dzô.

CTHÐ: Tôi thấy lời khuyên này không được chỉnh. Thấy thằng ác ôn làm hại người khác, ta cứ bình chân như vại, vì thằng ác đó không làm hại ta với vợ con ta?

Vô đạo nhân chi đoản, vô thuyết kỷ chi trường. Thi nhân thận vật niệm, thụ thi thận vật vong.

Không nên nói cái kém của người, không nên khoe cái hay của mình. Làm ơn cho ai đừng nhớ, chịu ơn ai đừng quên.

Hiếu nghị luận nhân trường đoản, thị phi, vi đại ác.

Những kẻ hay bàn luận việc hay dở, phải trái của người là bọn đại ác.

CTHÐ: Nói, viết, bàn luận về những việc làm hay, dở, phải, trái của người đời sao lại bị coi là bọn đại ác? Nói, viết, bàn luận, khen chê đúng là việc ta phải làm. Chỉ cần “đúng.”

Tôi ngừng bàn loạn về những cách ngôn, châm ngôn, lời hay, ý đẹp trong “Kiến Văn Tiểu Lục.” Tôi sẽ viết tiếp về những lời này trong một bài sau. Nay mời quí vị đọc chủ đề của bài này: “Bịa chuyện, Nhận vơ”:

o O o

Cho đến những năm trước năm 1940 ở Bắc Kỳ vẫn còn cái tục – thói quen – người đau ốm không đi bệnh viện, không dùng thuốc mà cho người nhà đến những đền miếu nghe nói là nơi có Thần Thánh tuy không phải là thầy thuốc mà nổi tiếng hay chữa bệnh cho dân, xin cái gọi là “tàn nhang, nước thải” về cho người bệnh uống để trị bệnh. “Tàn nhang” là tro từ cây nhang bị đốt cháy, “nước thải” là nước đã cúng Thần, nước đã được Thần dùng rồi.  Năm tôi – CTHÐ – 10 tuổi, năm 1942, 1943, việc người bệnh uống cái gọi là “tàn nhang, nước thải” không còn nữa.

Mời quí vị đọc nguyên nhân cái tục “người bệnh uống nước thải hoà tàn nhang” của ông bà ta ngày xưa. Tôi – CTHÐ – chắc đây cũng là việc ông bà ta bắt chước người Tầu.  Chuyện “Tàn nhang, nước thải” An Nam được ghi trong tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục“ của ông Quế Ðường Lê Quý Ðôn.

Kiến Văn Tiểu Lục. Sao y bản chánh. Tập 2. Trang 340

Ðền Ðức Cao Sơn Ðại Vương ở làng Láng Giản, huyện Chí Linh. Tục truyền Ðại Vương chữa bệnh rất giỏi, thường hiện làm ông lang đi chữa  bệnh đậu, bệnh sởi cho trẻ em. Có người ở Sơn Tây, con vừa lên đậu vưà lên sởi, may gặp ông già nói là chữa được, bèn đón về nhà, bốc thuốc chữa. Quả nhiên đưá con khỏi bệnh, mới hỏi họ tên và quê ở đâu, ông già nói:

- Ta tên là Cao Sơn, nhà ta ở đầu cái hồ thôn Láng Giản, huyện Chí Linh.

Người kia theo lời mang đồ đến tạ, thấy đó là ngôi đền cao ngất như ngọn dáo, quanh đền cây cối xanh um, mới biết là Thần hiển thánh. Từ đấy Ðại Vương nức tiếng là Thần Y. Ai có bệnh cứ mang đồ lễ chay, và một bình nước trong, đến quì dâng trước đền, xưng tên, kể rõ bệnh trạng, xin Thần chữa cho. Nhiều người được khỏi bệnh. Người xa, người gần, đến xin chữa bệnh hay bán con, rất đông.

Ngưng trích.

Trong tiểu thuyết Số Ðỏ của Vũ Trọng Phụng có đoạn Cụ Cố Hồng — nhân vật sống mãi với câu nói “Biết dzồi.. Khổ lắm.. Nói mãi.. ” khi bệnh được người nhà đi xin “tàn nhang, nước thải” ở cái đền gọi là Ðền Bia về cho uống.

Dường như – tôi nhớ lơ mơ – người bệnh uống tàn nhang, nước thải trong Số Ðỏ không phải là ông Cố Hồng mà là ông bố của ông Cố Hồng.

Kiến Văn Tiểu Lục. Sao Y Bổn Chánh hai chuyện “Nhận Vơ.” Tập 2. Trang 344.

Người đời thường sai lầm về việc xưa. Tập “Thi Liên Hợp Bích” – CTHÐ: Sách Tầu –  ghi chuyện:

Vua Thánh Tổ nhà Minh ra vế đối: Si, My, Võng, Lạng, tứ tiểu quỷ.

Ông Giải Tấn đối: Cầm, Sắt, Tỳ Bà, bát  đại vương.

Vua khen:

- Câu đối hay như trời sinh ra vậy.

Thế mà truyện ta thì vẫn cho câu đối đó là của ông Vũ Duệ người bản triều.

Phần “Tùng Thuyết” ở sách Thuyết Phu có chuyện:

-  Ông Dương Ức đời Tống đi sứ sang nước phương Bắc. Bắc triều làm lễ tế Hoàng Hậu, cử ông vào đọc văn. Khi mở bản văn tế chỉ thấy giấy trắng, không có một chữ. Ông liền đọc:

Duy linh
Vu Sơn nhất đoá vân
Lăng Uyển nhất đoạn tuyết
Ðào Nguyên nhất chi hoa
Thu không nhất luân nguyệt.
Khởi kỳ:
Vân tán, Tuyết tiêu, Hoa tàn, Nguyệt khuyết!
Phục duy thượng hưởng

Dịch

Kính nghĩ Ðức Bà xưa
Non Vu một đám mây, Vuờn Lãng một chòm tuyết
Nguồn Ðào một cành hoa
Trời Thu một vầng nguyệt
Ðâu ngờ:
Mây tán, Tuyết tan, Hoa tàn, Trăng khuyết!
Xin kính hưởng.

Vua Tống Chân Tông rất mừng về tài mẫn tiệp của ông Dương Ức. Thế mà ta thì cứ cho đó là chuyện ông Nguyễn Ðăng Cảo ở triều ta.

Sách “Triều Dã Thiêm Tải” ghi chuyện:

Cao Thôi Ngụy đời Ðường thích làm trò cười. Vua sai nhẩy xuống sông xem đáy sông có gì lạ không. Cao lặn xuống sông. Lúc sau nổi lên, há miệng cười lớn. Vua hỏi có chuyện gì mà cười, Cao nói:

- Thần gặp ông Khuất Nguyên, ông ấy nói với thần: “Ta gặp Hoài Vương vô đạo mới phải nhẩy xuống sông Mịch La, anh nay gặp Minh Chuá, xuống đây làm gì?”

Vua vui lòng, thưởng cho Cao trăm tấm gấm.

Thế mà ta cứ cho đó là chuyện ông Lương Thế Vinh. Rõ thật là nhận vơ, chuyện của người nước khác nhận là chuyện người nước mình.

Ngưng trích.

CTHÐ phụ đề Việt ngữ: Tác giả “Kiến Văn Tiểu Lục” viết về một số chuyện của người Tầu, được ghi trong sách Tầu, vậy mà những người Việt  cứ nhận, cứ khoe đó là những chuyện do người Việt làm. Tác giả “Kiến Văn” kể và kết:

“Rõ thật là biạ chuyện.”

Kính thưa Lê Quế Ðường Tiên sinh: Ông cha tôi không “biạ chuyện“, ông cha tôi chỉ “nhận vơ.” Cái Tật Nhận Vơ nay vẫn còn trong số những Tật Xấu của chúng tôi.

Chuyện đọc Văn Tế “Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết ” là chuyện của người Tầu đời Tống, có ghi trong sách của Tầu. Ông cha tôi “nhận vơ” đó là chuyện của dân tộc mình. Thời ông Lê Quí Ðôn đang sống, ông cha tôi kể nhân vật đọc Văn Tế trong chuyện là ông Nguyễn Ðăng Cảo. Sau đó khoảng trăm năm, nhân vật đọc Văn Tế được đổi ra là ông Mạc Ðĩnh Chi. Chuyện Ông Trạng Mạc Ðĩnh Chi đọc Văn Tế ở triều đình Tầu được kể trong rất nhiều sách văn học nước tôi. Ba trăm năm trước ông Lê Quý Ðôn đã viết đó là chuyện người Tầu, ghi ở sách nào.vv..vv. Chắc cũng có nhiều người đọc “Kiến Văn Tiểu Lục” nhưng dường như chẳng ai cho chuyện “nhận vơ” như thế là không nên. Ông Dương Quảng Hàm, người được coi là nhà làm sách văn học kỹ, đúng nhất Việt Nam, cũng ghi chuyện “Trạng nguyên Mạc Ðĩnh Chi đi sứ sang Tầu đọc văn tế ” trong một quyển Việt Nam Văn Học Sử của ông.

Nhắc lại cho đúng: Ông cha tôi không “biạ chuyện,” ông cha tôi “nhận vơ.” “Nhận vơ” tồi hơn “bịa chuyện.” Muốn “Biạ chuyện” người bịa phải có tài tưởng tượng, tài sáng tác. “Nhận vơ” lấy chuyện hay của người làm chuyện của mình.

Nay mời quí vị đọc một chuyên Hay Hay, Vui Vui – Chuyện Có Thật – trong “Kiến Văn Tiểu Lục”:

Kiến Văn Tiểu Lục. Tập 2, trang 366,367.

Làng Tử Cầm ở huyện Chương Ðức. Phiá Tây làng có hơn 10 ngọn núi đá, trong đó có một cái động. Hồi gần đây có làm một tòa hành cung ở trên núi nên đổi tên là xã Châu Long.

Châu Canh, người đời nhà Trần, ở làng này. Người ta kể: Nhà Châu Canh nghèo, ông bố mất sớm, bà mẹ Canh dọn hàng bán nước ở chân núi. Thôn ấy có một ngọn núi đá, trên đỉnh núi có khối đá hình dáng như con cóc ngồi xổm; ở chân núi phiá đông có khu đất khá rộng, giữa khu đất là một cái hồ. Buổi chiều khi mặt trời về phiá Tây, ánh nắng chiếu in bóng con cóc trên đầu núi xuống mặt hồ. Trước mặt hồ là khu ruộng rộng khoảng vài mẫu, dáng đất như hình dao cầu cắt thuốc.

Một hôm có một người Tầu đi qua, vào quán uống nước, thấy mẹ con Canh nghèo quá, thương hại bảo Canh:

“Bên núi này có một ngôi đất rất tốt, bóng con cóc trên núi ngự trên ngôi đất này. Ta chỉ cho anh làm nhà mà ở trên chỗ đất ấy. Chỉ trong ba năm là anh được làm quan, được ở gần vua. Nhưng khi anh đã là quan sang giầu rồi thì anh phải dẹp ngay căn nhà đó, anh làm nhà nơi khác mà ở. Nếu cứ ở chỗ đó, anh sẽ gặp tai hoạ.”

Canh làm theo lời ông thầy Tầu, làm căn lều trên chỗ đất được chỉ, Canh sống trong lều đó, ngày đi cày thuê, cuốc mướn cho người. Năm Canh 20 tuổi, dân trong vùng tổ chức một ngày xuống hồ bắt cá. Canh đi bắt cá với người làng. Ðang mò bắt cá thì dây đeo cái rọ chứa cá của Canh bị đứt, Canh ghé vào bờ lấy một sợi dây leo bên hồ làm dây buộc rọ. Dây này quấn quanh bụng Canh. Buộc dây một lúc Canh thấy duơng vật của anh cứng lên, anh xấu hổ cứ đứng duới hồ nước, không dám lên bờ. Mọi người về hết. Bà mẹ Canh không thấy anh con về, chạy ra hồ tìm. Canh kể chuyện buộc dây leo cho mẹ nghe, bà mẹ anh bảo anh cởi cái dây leo đó ra. Canh cởi ra, dương vật anh sìu xuống. Canh thấy lạ, đem sợi dây leo về nhà, phơi khô, cất đi. Ít ngày sau Canh đem dây ra buộc quanh bụng, lại thấy dương vật ngổng lên như lần trước. Bèn cho là vật quí, gác lên gác bếp.

Năm sau, Vua Trần Dụ Tông mắc chứng dương nụy – liệt dương – sai xá nhân đi khắp nước rao tìm thầy chữa bệnh. Một xá nhân ghé vào hàng nước của bà mẹ Châu Canh. Canh nghe chuyện Vua bệnh, mừng lắm. Tự nói mình có thuốc chữa. Xá nhân đưa Canh về kinh đô. Canh đem sợi dây nấu với nước như nấu canh, cho Vua uống. Vua dùng vài lần thấy hết bệnh, trong thưởng và trọng đãi Canh, cho Canh ở ngay trong cung để gần vua.

Canh trở nên giầu sang, nhưng không nghe lời cảnh cáo của ông thầy Tầu, không đi ở chỗ khác mà lại cho làm toà nhà lớn nơi cái lều cũ.

Vì được sống trong cung vua, Canh thông dâm với các cung nữ. Chuyện vỡ lỡ, Vua không nỡ giết Canh, chỉ  đuổi Canh ra khỏi cung.

Ngừng trích.

Chuyện xưa về thứ  Dây Leo thần kỳ ghi trong Kiến Văn Tiểu Lục đến đây là hết.

Nửa đêm, xứ người, nằm trong phòng yên lặng, đèn vàng, an ninh, đọc sách. Chuyện xưa Châu Canh Dây Leo Cường Dương Tuyệt Dziệu làm tôi théc méc.

Ấp quyển “Kiến Văn” lên ngực, tôi nhắm mắt, suy nghĩ:

“Chuyện được ông Lê Qúy Ðôn ghi trong sách chắc phải là chuyện có thật. Nếu mình còn trẻ, 40, 50 tuổi cũng còn được, mình sẽ về xứ Bắc Cộng – mình không về để ăn chơi, tất nhiên mình không về để bợ đít bọn Bắc Cộng đang rẫy chết – mình sẽ về tìm làng Tử Cầm của ông Châu Canh. Làng Tử Cầm trong “Kiến Văn Tiểu Lục.” Mình về đấy tìm sợi Dây Leo Thần Lực ngày xưa. Mấy trăm năm dzồi, chắc là khó tìm, nhưng tại sao lại nghĩ là sẽ không sao tìm được? Mình mà tìm được thứ Dây Thần ấy, mình gây giống, mình sản xuất ra Thần Dzược Vinagra, mình bán ra khắp thế giới. Người thế giới sẽ biết đến đất nước Việt Nam, sẽ biết ơn nước Việt Nam. Thần Duợc Vinagra an ninh hơn, công hiệu hơn, dễ dùng hơn Viagra của Mỹ. Khi VINAGRA ra đời, mấy anh Mỹ nhờ sản xuất Viagra mà thành tỷ phú chỉ có nước khóc.“

Ðến đây tạm chấm dzứt chuyện Thần Dược Vinagra.

TRÁI TIM HỒNG

Thi phẩm Nguyễn Chí Thiện. Trái Tim Hồng

Thi phẩm Nguyễn Chí Thiện. Trái Tim Hồng

Tin trên ÐÀN CHIM VIỆT. Ngày 28/9/2013, tại Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ, Lễ Giỗ năm đầu Nhà thơ Thomas More Nguyễn Chí Thiện sẽ được cử hành trọng thể với sự tham dự và cầu nguyện của đông đảo người Việt hải ngoại. Ngoài buổi Tưởng Niệm chính thức khai diễn Thứ Bảy ngày 28-9 với cuộc Hội Thảo quy mô do một thuyết trình đoàn gồm các diễn giả đến từ nhiều nơi trên thế giới, ban Tổ chức Lễ Giỗ còn mở những cuộc hội luận (từ ngày 21 tới 28/9/2013) về thân thế, sự nghiệp và thông điệp mà Nhà thơ quá cố Nguyễn Chí Thiện lưu lại hậu thế cho con em người Việt, trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình hải ngoại. Trong dịp tưởng niệm này, Ban Tổ Chức sẽ phát hành tác phẩm “Nguyễn Chí Thiện, Trái Tim Hồng” của nhà biên khảo Trần Phong Vũ do Tủ Sách Tiếng Quê Hương ấn hành.

Với thời gian nhanh kỷ lục sau khi nhận được sự gợi ý của Nhà văn Uyên Thao, người chủ trương Tủ Sách Tiếng Quê Hương, Nhà văn/nhà báo Trần Phong Vũ đã hoàn thành tác phẩm “Nguyễn Chí Thiện, Trái Tim Hồng”  mà chúng tôi cho là một chứng từ lịch sử giá trị và quý hiếm về một nhân vật lẫy lừng trong thời đại chúng ta.

Quyển sách “Nguyễn Chí Thiện – Trái Tim Hồng” trình bày trang nhã, với bề dày 560 trang gồm ba phần: ngoài phần chính với 12 chương 288 trang do tác giả họ Trần biên soạn là phần 2 với 48 trang hình màu và phần Phụ lục 224 trang thu gom những tài liệu và những chứng từ quý giá của nhiều tác giả, liên quan tới cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh qua văn thơ của cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện.

o O o

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện.

Ðàn Chim Việt nhắc lại những ngày sống cuối cùng của Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện.

Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời

Tin từ California cho hay, Nhà Thơ Ngục Tù Nguyễn Chí Thiện đã qua đời sớm nay tại một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California, thọ 73 tuổi.

Trước đó ít ngày, có tin ông bị bệnh vì nhiễm trùng phổi và có khả năng bị ung thư. Những xét nghiệm cuối cùng chưa kịp hoàn tất thì Nhà Thơ đã qua đời.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939 tại Hà Nội, ông được biết tới như là một nhà thơ  kháng Cộng người Việt Nam. Ông từng bị nhà chức trách Việt Nam Cộng Sản bắt giam tổng cộng 27 năm tù vì tội “phản tuyên truyền.”

Ông được phóng thích ngày 28 tháng 10 năm 1991, đến tháng 1 năm 1995 ông sang Hoa Kỳ. Trong thời gian tù đày và sau khi được ra khòi tu, ông đã làm hàng trăm bài thơ.

Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là tập thơ Hoa Ðịa Ngục. Ông làm những bài thơ trong tập thơ này trong ngục tu CS, rồi được lén chuyển ra ngoài, đưa tới tòa đại sứ quán Anh ở Hà Nội và sau đó xuất hiện ở hải ngoại vào năm 1980. Tác phẩm gồm những ghi chép và suy nghĩ thể hiện bằng Thơ qua 400 trang giấy.

Hoa Ðịa Ngục mở đầu với Lời Ngỏ của chính tác giả:

“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.”

Tập thơ xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1980 không có tên tác giả, vì khi ấy thi sĩ  vẫn sống trong tù và có thể bị nguy hại về tính mạng.

Một số bài thơ trong Hoa Ðịa Ngục  được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Tập thơ  đem lại cho tác giả Giải Thơ Quốc Tế “Rotterdam International Poetry Prize”

Sau khi ra hải ngoại, ông Nguyễn Chí Thiện vẫn tiếp tục làm thơ, đọc thơ và viết văn xuôi. Trong đó, có những tác phẩm được dịch ra Anh ngữ.

Mặc dù vậy, không phải ai cũng thông cảm hay tin tưởng ông. Một số người Việt tại Mỹ nghi ngờ ông là “Việt cộng nằm vùng”, thậm chí cho rằng thơ ông do người khác làm.

Với anh em Ðàn Chim Việt, Nguyễn Chí Thiện là người bạn, người anh thân thiết, từng gặp gỡ, trò chuyện và trao đổi thư từ thường xuyên.

o O o

Thơ Võ Ðại Tôn: Tạm biệt Bạn Tù Nguyễn Chí Thiện

Một vài bi thuốc lào
Ném qua khung rào kẽm.
Ông bạn ơi,
Bọn mình bụng teo, mắt kém
Tôi có thấy gì đâu?
Trong vũng lầy địa ngục thâm sâu
Tôi chỉ nhặt được Tình nhau, thông cảm.
Tôi: xà lim số 8, tay trong còng số 8,
Còn Ông nằm số 7, thở ra Thơ.
Thoáng nhìn nhau qua khung cửa tò vò
Hai bóng ma chập chờn, lạng quạng.
Ông miền Bắc, tôi miền Nam, chung kiếp nạn
Cùng toàn dân lũ lượt vào tù.
Tôi từ hải ngoại, vượt rừng núi thâm u
Trong một phút sa cơ đành ôm hận.
Giờ quanh tôi chỉ toàn rệp rận
Nhưng còn Thơ – và Bạn mới trong Ðời.
Giữa đêm khuya, thoáng nghe giọng khàn hơi
Gõ vách tường, Ông “trao” vần, chuyển vận.
Bóng tối trùm đen, tôi “cảm” lòng hưng phấn
Ðánh thức Nàng Thơ, “đáp” lại vài câu.
Bóng cai tù, sè sẹ dép râu