VỢ ÔNG ANH, BÀ BÁN CHÁO

Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh

Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh

Bốn, năm giờ một buổi chiều đầu năm 1976, Cờ Máu Bắc Cộng và ảnh Hồ Già mới vào Sài Gòn chừng bẩy, tám tháng,  tôi trên xe đạp đi trên đường Hiền Vương. Đến khoảng gần Công Trường Dân Chủ, đường Lê Văn Duyệt, đường phố vắng tanh, tôi nghe tiếng sè sè trên mặt đường. Nhìn xuống, chiếc lá khô gió thổi lăn trước bánh xe tôi. Lá cây cao-su, không phải lá phong, lại càng không phải là lá ngô đồng, chiếc lá lăn trên mặt đường phát ra tiếng sè sè như muốn nói với tôi lời gì đó.

Vợ Ông Anh

Vợ Ông Anh

Lúc ấy, trên xe đạp, tôi nghĩ đến câu Thơ Tầu “Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri Thu…” Một lá ngô đồng rơi, mọi người biết mùa Thu đến.

Tôi nghĩ:

“Chỉ một lá ngô đồng rơi. Người ta biết mùa Thu đến. Tại sao 3 triệu người Sài Gòn ngày đêm rên khóc, người thế giới không một ai biết cả?”

Tại sao? Câu hỏi không có câu trả lời.

Năm 1976 Sài Gòn có khoảng 3 triệu người. Không phải chỉ có đường Hiền Vương vắng bóng người mà là cả thành phố Sài Gòn vắng tanh.  Niền Vương vắng người mà là cả thành phố vắng tanh. hà nhà đóng cửa. Chắc 3 triệu người Sài Gòn năm xưa ấy đều có cảm giác như tôi: “Chúng ta bị người thế giới bỏ rơi, và bỏ quên.” Cảm giác bị bỏ quên – với tôi – thật ghê rợn. Và sầu tủi. Không phải buồn, mà là ghê rợn. Hôm nay – buổi sáng một ngày Tháng Chín năm 2014, thời gian qua đã 40 năm, khi viết những dòng chữ này, tôi vẫn có cái cảm giác sầu tủi vì tôi và đồng bào tôi bị người thế giới bỏ rơi, bỏ quên năm xưa ấy.

Tôi hỏi mẹ tôi:

“Năm 1947 nhà mình về làng quê. Mẹ sống ở làng 4 năm, quanh quẩn trong một nhà, chắc những ngày ấy Mẹ buồn lắm. So cái buồn năm xưa ấy với cái buồn hiện nay, Mẹ thấy sao?”

Mẹ tôi nói:

“Năm xưa ở quê cũng buồn nhưng không tuyệt vọng. Bây giờ buồn mà tuyệt vọng.”

Buồn và tuyệt vọng là tâm trạng của người Sài Gòn những năm sau Ngày 30 Tháng Tư 1975. Những ngày đầu Sài Gòn còn ô-tô-buýt, một tối khoảng 6 giờ tôi trên xe buýt từ Sài Gòn về Ngã Ba Ông Tạ, qua trạm đậu xe đường Phạm Hồng Thái, tôi nhìn xuống thấy trên hè phố đầy bóng tối có tới năm, sáu mươi phụ nữ đứng chờ. Họ không chờ xe buýt mà chờ khách mua dâm. Toàn những phụ nữ trẻ trạc tuổi em gái tôi.

Bà Bán Cháo

Bà Bán Cháo

Tôi bước ra, không thấy phố, không thấy nhà

Không thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.

Chỉ thấy hồn bay, dù không có gió,

Thấy mẹ già trong cửa héo hon.

Tôi thấy Em môi nhạt mầu son

Gốc cây Đói, đời buồn đứng đợi.

Thấy chúng ta trong lòng ngục tối

Còn vu vơ kêu gọi Thiên Đường..

Những tin đồn: “Quân ta còn đông lắm. Rằn ri xuất hiện ở Cát Lái. Trực thăng quân ta từ Thái Lan bay về Rạch Giá mỗi ngày. Ta mở cho chúng nó vào để ta diệt chúng nó..” Người Sài Gòn mong ước như thế nên tưởng tượng ra những chuyện như thế. Không phải để nói cho sướng miệng mà là để sống. Rõ hơn: để bám víu vào Sự Sống.

Những năm ấy người Sài Gòn bị đoạn tuyệt với thế giới. Đường liên lạc duy nhất của người Sài Gòn với thế giới – những nước Anh, Mỹ, Pháp. Úc – là qua đài phát thanh.

Hai đài phát thanh được người Sài Gòn đón nghe nhiều nhất những năm sau năm 1975 là Đài VOA và Đài BBC. Những ông bạn tôi gọi Đài VOA là Đài Vợ Ông Anh, Đài BBC là Đài Bà Bán Cháo, Bà Bán Cam, Bà Bánh Cuốn, Bà Bún Chả. Những năm ấy – từ 1976 đến 1980 – Đài BBC được người Sài Gòn đón nghe nhiều hơn Đài VOA. Tôi – những năm không phải nằm phơi rốn trong tù – là một trong số những người Sài Gòn chăm chăm nghe Đài BBC mỗi ngày.

Nghe để xem người thế giới có nhắc gì đến Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà vừa bị tiêu vong hay không, có tin gì có hại cho bọn Bắc Cộng cướp nước, có lời người thế giới chửi rủa bọn Bắc Cộng hay không??

Những ngày xưa, những đêm xưa qua lâu rồi trên dòng thời gian. Tôi chắc không ai có thể nhớ đúng chi tiết những chuyện xẩy ra 40, 50 năm trước. Chuyện thời sự, chuyện đất nước, chuyện những đài phát thanh xưa, không phải những chuyện riêng tư. Nhớ như tôi nhớ chuyện xưa – Tám Bó tuổi đời – như thế này là khá lắm rồi. Nhiều ông bạn Tám Bó của tôi khen tôi:

“Sao mày nhớ hay quá. Nhớ những chuyện năm 1975 đã là hay rồi, mày nhớ cả những chuyện năm 1954.”

Nhớ nhưng tất nhiên không nhớ đúng thời gian, năm tháng, trước sau. Không thể nhớ đúng. Quí vị đọc bài này xin đừng bắt lỗi tôi viết sai thời gian. Tôi viết bài này nhân chuyện Đài Vợ Ông Anh – VOA – tính chuyện trao đổi tiếng nói với Đài Bắc Cộng. Tôi viết góp ý kiến còm cõi của tôi. Viết ngay:

“Đài VOA cần gì phải trao đổi giờ phát thanh với bọn Đài Bắc Cộng. Dân Việt trong nước vẫn chăm nghe Đài VOA, dân Việt ở hải ngoại không một ai thèm nghe Đài Bắc Cộng.”

Từ năm 1954, bọn Bắc Cộng ra luật cấm nhân dân nghe lén những đài phát thanh tư bổn. Ai nghe bị bắt, bị tù. Năm 1980 Luật Cấm này được đăng lại trên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng. Tôi có đọc bản tin ấy. Nhưng bọn Cộng cấm, người dân vẫn cứ nghe những đài BBC, VOA. Với những radio transistor, việc người Sài Gòn nghe những đài phát thanh Âu Mỹ là việc thật dễ làm. Bọn Cộng không thể ngăn được việc người Sài Gòn nghe những lời bà Vợ Ông Anh, Bà Bán Cháo nói mỗi ngày. Bọn Cộng cũng không thể tịch thu tất cả những radio của người dân.

Những năm sau năm 1975, theo nhận xét của tôi, chính phủ Hoa Kỳ có chính sách  “bỏ quên, không nhớ ” Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Đài Vợ Ông Anh tránh không loan tin về Việt Nam. Tin tốt cho VNCS không loan mà tin xấu lại càng không loan.

Nhưng từ năm 1980 Đài Vợ Ông Anh có mục “Âm Nhạc Việt Nam ở hải ngoại.” Mục này do ông Lê Văn có sáng kiến mở ra và phụ trách. Lê Văn Vợ Ông Anh, Đỗ Văn Bà Bán Cháo, là hai cái tên thân thuộc với người Sài Gòn nghe đài phát thanh Âu Mỹ. Nghe mục ”Âm Nhạc Việt Nam ở hải ngoại,” người Sài Gòn biết và bảo nhau:

“Ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn có nữ ca sĩ Nguyệt Ánh khi hát nhạc Việt bận áo dài có Cờ Vàng.”

Người Sài Gòn kể rõ:

“Nữ ca sĩ Nguyệt Ánh là con gái của Đại Tá Nguyễn Văn Y.”

Khi nghe kể chuyện về việc ở Hoa Kỳ, có cô ca sĩ Nguyệt Ánh khi hát nhạc Việt, bận áo dài có Cờ Vàng, tôi thấy ấm lòng, tôi nghĩ:

“Tao ở đây chúng mày cấm tao treo Cờ của tao. Nhưng chúng mày không thể cấm anh em tao ở Mỹ dương Cờ Vàng của Quốc Gia chúng tao.”

Tôi ấm lòng khi thấy anh chị em tôi sang Mỹ vẫn không quên Quốc Gia, không quên Cờ Vàng.

Nhiều người Sài Gòn ưá nước mắt khi nghe lời ca “Món quà cho quê hương” của Việt Dzũng.

“Gửi về cho cha vài thước vải… Cha may áo mặc ra pháp trường..

Gửi về cho anh vài chỉ vàng.. Anh thu xếp tìm đường vượt biên..”

Nhiều người thấy nhói trong tim khi nghe lời ca:

“Sài Gòn ơi.. Tôi đã mất Người trong cuộc đời.

Sài Gòn ơi.. Tôi đã mất Tình Yêu tuyệt vời..”

Nhạc và Lời của Nam Lộc.

Đêm Ba Mươi Tết năm 1976 – có thể là năm 1977 –  nằm bên cái radio Sony rệu rã trên căn gác lửng, tôi nghe Đài Bà Bún Chả truyền lởi một số người Việt ở Âu Mỹ gọi qua đài về cho người thân của họ ở Việt Nam. Tết 1976 nhân viên Việt trong Đài BBC có sáng kiến mời môt số thính giả Việt nói về Việt Nam cho người thân. Tôi nghe lời một thiếu nữ nói với bố mẹ cô qua làn sóng điện BBC. Thiếu nữ này được BBC giới thiệu là người ở Ngã Ba Ông Tạ. Tôi nằm trong một căn nhà nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, xúc động nghe lời cô:

“Ba Má ơi. Con đang sống ở nước Ý. Con nhớ Ba Má. Ở đây trời lạnh lắm. Tết đến, con thèm được hưởng cái nắng ấm Ngày Tết ở quê hương ta.”

Cô nghẹn lời, cô nói như khóc.

Bà Bán Cháo loan nhiều tin về Quốc Gia VNCH hơn Vợ Ông Anh. Nguyên nhân như tôi đã viết: “Những năm sau năm 1975, chính quyền Mỹ có chủ trương không nói, không loan tin về nước Việt Nam và người Việt Nam.”

Qua Bà Bán Cháo tôi được biết ký giả Nguyễn Thiện Nhơn của Đài. Nếu tôi nhớ tên ông ký giả BBC không đúng, xin bỏ qua. Ký giả Nguyễn Thiện Nhơn làm một phóng sự về người Việt ở hải ngoại. Tôi nhớ hai chuyện ông kể:

* Đến Toronto tôi hỏi chuyện một bà người Việt bán sạp trái cây. Bà hỏi tôi:

“Ông ra nước ngoài mấy năm rồi?’

Tôi trả lời bà:

“Hai mươi năm.”

Bà khóc:

“Tôi mới xa nước hai năm đã muốn chết rồi. Xa nước hai mươi năm, sống gì nổi.”

*  Đến New Orleans, tôi – ( ký giả Nguyễn Thiện Nhơn ) – ngồi trên một xe Police đi thăm thành phố. Ông Cảnh sát New Orleans đưa tôi đến một khu gia cư có mấy nhà người Việt. Ông cho tôi biết ở đây có một bà Việt Nam mấy lần bị những người nhà bên cạnh thưa về tội chửi bậy, chửi tục. Tôi được gặp bà người Việt đó. Bà nói:

“Con tôi bị mấy thằng con Mễ bắt nạt. Tôi sợ gì mà không chửi chúng nó.” Bà chỉ biết có mấy câu chửi tiếng Mỹ, bà dùng những câu chửi ấy mà không biết nghĩa những tiếng tục tĩu trong đó.

Những năm 2000, tôi gặp ký giả Nguyễn Thiện Nhơn ở Virginia. Tôi không có dịp hỏi có phải ông là ký giả Nguyễn Thiện Nhơn Đài BBC những năm 1980? Có phải ông là người kể hai chuyện trên hay không?

Những năm 1980 nhiều người Sài Gòn nghiện nghe chuyện Bà Bán Cam. Tôii là một trong những người nghiện ấy. Mỗi tuần BBC có mục “Tạp Chí Đông Nam Á,” mục này phát thanh trong 30 phút lúc 9 giờ 30 giờ Sài Gòn mỗi tối Thứ Năm. Mục này loan toàn những chuyện liên can đến Sài Gòn. Đang nửa cuộc ăn nhậu đến 9 giờ tối, tôi bỏ cuộc, lên xe đạp về nhà. Nhiều ông bạn hỏi:

“Về làm gì sớm thế. Đang vui.”

Tôi trả lời

“Về nghe Bê Bê Xê.”

Nhiều lần ở cà-phê vỉa hè, quán rượu nghèo ven đường xe lửa. trong tiệm hớt tóc, tôi nghe người Sài Gòn loan những tin như tin này:

“Các nước ký Hiệp Định Paris 1972 về Việt Nam họp lại để tính chuyện trừng phạt bọn Cộng Hà Nội phá hiệp định, xâm chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.”

Tôi hỏi:

“Tin ở đâu?”

“Bê Bê Xê loan tối hôm qua.”

“Tối hôm qua tôi nghe Bê Bê Xê. Làm gí có chuyện đó.”

Ông Cao Hữu Đính, ông đàn ông tôi, ra Chợ Trời Huỳnh Thúc Kháng chọn mua một radio transistor. Tôi hỏi anh:

“Anh có hai radio rồi. Anh còn mua cái này làm chi nữa?”

Anh trả lời:

“Cái transistor của tôi rệu quá rồi. Tôi cần cái này để nghe Bê Bê Xê cho rõ.”

Khi phải vào cầu tiêu trong giờ BBC phát thanh, anh Đính mang radio transistor theo anh vào cầu tiêu. Anh nhớ từng chi tiết BBC loan để kể lại cho các bạn anh.

Năm 1985 trong Phòng Giam Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu, tôi gặp người quen là anh Tám. Anh ở trong một tổ chức Phục Quốc. Mấy ông trong tổ chức này tự phong những cấp Thiếu Tướng, Trung Tướng, Tôi hỏi anh làm gì trong tổ chức, anh nói anh chuyên nghe BBC mỗi tối, ghi nhận tin để báo cáo với ông Thiếu Tướng. Ra toà, ông Thiếu Tướng bị nó phang án tù 20 năm khổ sai, anh bạn Tám của tôi, chuyên viên nghe Đài BBC, bị nó phang án tù khổ sai 5 năm.

Một buổi chiều không nhớ rõ năm tháng, tôi đến nhà ông bà Anh Ngọc trong Cư Xá Lữ Gia. Nhà mở cưả nhưng ông bà không có trong nhà. Con gái của ông bà cho tôi biết ông bà sang một nhà bên cạnh. Tôi đứng lớ ngớ bên xe đạp trước cửa nhà, chưa biết nên đi đâu, thì ông bà về. Ông nói:

“Sang nhà bên cạnh nghe nhờ radio.”

Tôi hỏi:

“Nhà có radio. Sao phải đi nghe nhờ?”

“Radio nhà rệu quá. Có khi bắt không được đài. Radio nhà ông bạn mới toanh, nghe suya lắm.”

Thì ra ông Lê Văn Vợ Ông Anh loan tin vào giờ đó VOA sẽ phỏng vấn Nghệ sĩ Thành Được, người vừa vuợt thoát ở nước Đức. Nhiều người Sài Gòn vào giờ đó đón nghe VOA để được biết đích xác về chuyện Nghệ sĩ Thành Được.

Một sáng tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi mới từ Sài Gòn đến Virginia được khoảng mười ngày, ông bạn Nguyễn Sơn, nhân viên Đài VOA, đưa tôi đến thăm văn phòng Đài ở Washington DC. Tôi được Đài phỏng vấn. Trời lạnh. Tôi thấy năm, bẩy ông bà Mỹ, áo mũ sùm sụp, đứng hút thuốc lá trước cửa vào toà nhà trong có Đài VOA. Tôi thấy đường phố DC có nhiều con sóc chạy qua, chạy lại. Tôi không biết loài sóc sống bằng gì trong thành phố chỉ có những toà công thự và những cây sao.

Đến Đài, tôi được gặp các ông Lê Văn, Bùi Bảo Trúc, tôi gặp lại Ngọc Hoán, người từng một thời làm việc với tôi trong tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Và tôi gặp lại bà Nhung, bà vợ ông Anh Ngọc. Bà Nhung từng dịch nhiều bài cho Tạp Chí Triển Vọng của USIS Saigon – Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở Sài Gòn – Ông bà sang Kỳ Hoa trước vợ chồng tôi khoảng hai, ba năm. Bà vào làm biên tập viên kiêm xướng ngôn viên VOA từ năm 1993 cho đến năm nay – 2014 – bà vẫn ngày ngày đến VOA.

Đài BBC có ông Đỗ Văn. Ông này là một Công Tử Hà Đông. Tên ông là Đỗ Văn Quý, có khi được gọi là Quỹ. Tôi học cùng lớp tiểu học với anh của ông là Đỗ Văn Phú ở thị xã Hà Đông những năm 1944, 1945. Phú đi kháng chiến từ năm 1947. Phú trạc tuổi tôi. Năm nay Tám Bó. Tôi không biết Phú còn sống hay không.

Đỗ Văn và cô Judith Stove  phụ trách chương trình phát thanh tiếng Việt của BBC trong nhiều năm. Nhiều người Sài Gòn thân quen với hai cái tên Đỗ Văn, Judith Stove. Dường như Đỗ Văn, và cô Judith Sove, là hai ký giả truyền thanh Âu Mỹ thứ nhất được bọn Cộng Hà Nội cho phép vào làm phóng sự ở Hà Nội và Sài Gòn. Họ vào Việt Nam khoảng những năm 1988, 1989. Tôi ở tù về, vợ tôi kể:

“Cô Judith Stove Đài BBC nói trên đài: “Nhờ công an Việt Nam, tôi mới biết tôi có mấy cái quần jeans.”

Năm xưa ấy bọn Công An sợ nữ ký giả Judith Stove mang tài liệu vào Việt Nam nên chúng mở va-li xét từng bộ y phục của cô.

o O o

Đoạn văn này tôi viết ở Kỳ Hoa năm 1999.

Tháng Giêng năm 1984 có tin nói về một đài phát thanh chống Cộng mới được phát sóng. Một số người ở miền Trung tình cờ bắt được băng tần của đài này. Tin ấy truyền về Sài Gòn. Giữa tháng Hai anh Cao Hữu Đính và tôi nghe được đài này. Đây là Tiếng Nói của Đài Phát Thanh Kháng Chiến Mặt Trận Phục Quốc Hoàng Cơ Minh.

1984-1999… Mười lăm năm trôi qua thật nặng mà cũng thật nhanh. Đài Phát Thanh Kháng Chiến năm ấy phát thanh năm lần một ngày, mỗi lần một giờ. Đài yếu, rất khó bắt. Người nào có duyên với đài thì may tay có lời, bắt được tiếng nói ngay bất kể máy thu thanh xấu, rệu rã, lão liệt, nhiều người có máy tốt mò đài cả nửa giờ vẫn không ra. Một giờ phát thanh quá dài. Đài Kháng Chiến phát thanh bằng băng thâu sẵn, ba bốn ngày mới thay một băng, tin tức không có, gần như phát toàn những bài viết đả kích cộng sản.

Vợ chồng tôi phấn khởi đón, tìm nghe đài, chúng tôi xúc động khi nghe nhạc hiệu của đài, bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” – nhạc, lời ca thật hay nhưng chúng tôi đã lãng quên cùng năm tháng – chúng tôi muốn đứng tim khi nghe Thái Thanh hát bài “Quê Em… Quê em miền trung du… Đồng quê lúa xanh rờn… Giặc tràn lên cướp phá… Anh về quê cũ, đi diệt thù giữ quê… Giặc tan đón em về…”

Năm ấy Thái Thanh đang sống ở Sài Gòn. Người ở đây nhưng tiếng hát của người lại ở một nơi nào xa lắm vọng về. Nghe tiếng hát Thái Thanh trên làn sóng Đài Phát Thanh Kháng Chiến tôi nghĩ đến những cái gọi là giả chân, chân giả của cõi đời này. Rõ ràng là tiếng hát của Thái Thanh nhưng lúc đó Thái Thanh đâu có hát.

Một tối lúc 11 giờ đêm, tôi mở nghe đài Kháng Chiến. Cái radio Sony mười lăm, mười sáu tuổi đời – nó đến với tôi khoảng năm 1966, 1967 – nằm bên tôi trên căn gác lửng, nhưng Alice nằm tình tang trên cái võng treo ở dưới nhà lại nghe được tiếng nó rõ hơn tôi. Nguyên nhân là hệ thống truyền âm trong căn nhà nhỏ của chúng tôi hết sức ly kỳ. Đêm ấy vợ chồng tôi cùng nghe một bài bình luận viết về các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Đại ý của bài này là trước 1975 văn nghệ sĩ miền Nam có cái lỗi là đã không tích cực chống Cộng, nhưng sau 1975 văn nghệ sĩ miền Nam có cái hay là không một người nào cộng tác với Việt Cộng.

Và đây là nguyên văn một lời trong bài bình luận ấy tôi nghe và nhớ mãi:

“… Trong năm 1983 chúng ta được đọc văn thơ chống Cộng của Hoàng Hải Thủy, Hoàng Cầm, Nguy­ễn Chí Thiện…”

Tôi bồi hồi xúc động với những cảm giác vui lo. Tôi được kể tên trước Hoàng Cầm, thi sĩ tôi rất ái mộ, văn nghệ sĩ đàn anh của tôi. Hết giờ phát thanh tôi lọ mọ đi xuống gác, nói với vợ tôi:

– Em nghe rõ đài nói đến tên anh không? Chắc chúng nó phải bắt anh thôi, chúng nó không để anh yên đâu.

Vợ chồng tôi chẳng can đảm gì hơn ai, nhưng chúng tôi không sợ hãi khi biết chắc tai họa tù đầy lại sắp đến. Truớc đó 6 năm, bọn Công An Thành Hồ đã đến căn nhà nhỏ này của chúng tôi, còng tay tôi đưa đi tù hai năm.

Nhiều người quen tôi nghe Đài Phát Thanh Kháng Chiến nói đến tên tôi. Một sáng anh Nguyễn Văn Đạt, anh là Trung Tá, đi tù khổ sai ở miền Bắc về năm 1980, trên chiếc xe đạp mini, đến nhà chúng tôi. Vợ chồng tôi tiếp anh vài phút ở cửa. Anh nói:

“Tôi đến chào từ biệt anh.”

Anh nói với vợ tôi:

“Chị làm vợ một người chồng có tài. Chị phải chịu cái tai của anh ấy.”

Sáu năm sau, khi tôi trở về Sài Gòn, anh Đạt đã qua đời.

Khi bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt tôi lần thứ hai ồ đến nhà bắt tôi lần thứ hai. Cũng như lần trước, khi tôi ra khỏi nhà, vợ tôi ở lại nhà một mình. Lần này tôi nói hai câu cuối cùng với vợ tôi:

“Anh yêu Em.”

“Anh sẽ về với Em.”

Trên xe đi đến Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu – Phải viết tôi trở lại Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu mới đúng – tôi ngồi băng sau, giữa hai anh công an. Một anh hỏi tôi:

“Anh có nghe Đài Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh chứ?’

Tôi trả lời:

“Có.”

“Anh có thấy đài nói đến anh không?”

“Có.”

“Mấy hôm nay ành còn nghe được đài ấy không?”

Đài đã bị phá sóng. Tôi trả lời:

“Không.”

Tôi trở về Cư Xá Tự Do, và về trong vòng tay gầy của vợ tôi, đầu năm 1990. Năm 1993 tôi được tin ODP cho vợ chồng tôi sang Hoa Kỳ. Chúng tôi được ông bà Anh Ngọc gửi cho tấm ảnh ông bà trên một thảm cỏ ở Virginia. Cỏ xanh, đầy lá vàng. Cảnh quá đẹp. Tôi nói với vợ tôi:

“Chúng mình đến Virginia nhé.”

Cùng lúc, tôi nghe Đài VOA phỏng vấn Bà Khúc Minh Thơ, Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam. Bà Khúc Minh Thơ ở Virginia. Chúng tôi nhờ bà bảo lãnh. Tới Tháng Mười Một năm nay – 2014 – vợ chồng tôi đã sống ở Virginia 20 năm.

Dòng Thời Gian dài một ánh bay.
Những Ngày như Lá, Tháng như Mây.

THÂN BẠI, DANH LIỆT

Mã Phu Nhân, Sương Phụ Đa Tình. Ảnh phim Tầu.

Mã Phu Nhân, Sương Phụ Đa Tình. Ảnh phim Tầu.

Buổi sáng tôi thường dậy trước nàng. Khi nàng rưả mặt, tôi pha ly cà-phê để sẵn cho nàng. Chỉ có nàng và tôi trong phòng. Cửa sổ mở ra Rừng Phong Tháng Tám nắng vàng. Nàng thường hỏi:

“Hôm nay có những tin gì?”

Khi ấy tôi đã đọc lướt qua mấy trang báo The Washington Post – báo được người sáng sáng trước 7 giờ đem đến cửa phòng tôi – tôi đã xem qua mấy tin thời sự AOL trên computer, tôi trả lời nàng:

“Nó vừa cắt cổ nhà báo Mỹ thứ hai, nó chặt đầu cả trăm người Thiên Chuá Giáo. Israel và Palestine dùng hỏa tiễn, phi cơ giết nhau. Trong hai tuần100 người dân Palestine chết vì bom Israel, 10 người Irael chết vì hoả tiễn Palestine…”

Nàng im lặng, một lúc sau nàng nói:

“Anh cho em biết toàn những chuyện buồn. Tinh thần em xuống quá..”

Từ khi nghe nàng nói như thế, sáng chiều tôi tránh kể với nàng những chuyện buồn, tôi tránh không kể những vụ người giết người ghê rợn. Sáng nay khi viết bài Viết ở Rừng Phong, tôi tránh không kể với bạn đọc những chuyên thảm khốc đang xấy ra trên thế giới. Nhân chuyện ông Cựu Thống Đốc Virginia bị “thân bại danh liệt” vì bà vợ, tôi kể với quí bạn một chuyện “Thân bại, danh liệt” ngày xưa..

Xưa nhưng không xưa lắm. Xưa ở đây là những năm 1965, 1966. Chuyện được kể trong tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ. Chắc chắn có nhiều vị đã đọc Thiên Long Bát Bộ, đã biết những chuyện tình Thiên Long, cũng chắc chắn những vị này năm nay có trẻ lắm cũng phải Bấy Bó Tuổi Đời, các vị không còn nhớ rõ những chuyện Thiên Long, bài viết này sẽ làm các vị nhớ lại những năm các vị tuổi đời Ba Bó, với những vị trẻ tuổi chưa từng đọc Thiên Long Bát Bộ, bài này sẽ làm các vị biết năm mươi năm xưa những người đến cõi đời này trước các vị mê đọc tiểu thuyết loại nào, và tại sao họ mê đọc truyện võ hiệp Kim Dung.

Như Tam Quốc Chí mở đầu với bài thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng,’” kết thúc với ý Thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng”, Thiên Long Bát Bộ Luận Anh Hùng mở đầu và kết thúc với bài “Này Những Tình Oan, Những Thủy Chung”:

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Kỳ hiệp, quần ma kể chẳng cùng.
Ba mươi năm trước ai quên, nhớ
Những Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung?
Ai Hư Trúc Tử, ai Đồng Mỗ?
Đâu Thành Tây Hạ, Linh Thứu Cung?
Nhớ chăng Lục Mạch, Phù Sinh Tử?
Quên chưa Cực Ác với Cùng Hung?
Kìa Vương Ngọc Yến yêu Đoàn Dự,
Nọ chàng Đầu Sắt bắt băng trùng..
Chuyện xưa trong trí ta lần giở
Này những tình oan, những thủy chung.

(Thơ làm năm 1980 ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.
Lời bình viết năm 1996 ở Rừng Phong, Virginia Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.)

Mã phu nhân xuất hiện ở Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh với hình ảnh Nàng Sương Phụ Áo Trắng hiền hậu, trang nghiêm làm đám bang chúng Cái Bang – Bang phái bụi đời của Võ Lâm Trung Thổ – phải kính phục. Nhưng.. nhìn dzậy, thấy dzậy mà hổng phải dzậy: Mã phu nhân đẹp thì có đẹp nhưng hiền thì nàng không hiền một li ông cụ nào. Nàng là người đàn bà đa tình ác liệt nhất Thiên Long.

Dùng danh từ “đa tình” cho có vẻ văn huê. Thực ra theo ngôn ngữ ông cha ta nàng “đa dâm” thì đúng hơn. Hoặc nói nàng “dâm” cho gọn, đúng, trong sáng và dễ hiểu.

Mã phu nhân tên trong giấy căn cước, tên cúng cơm là gì tôi không nhớ, trong bài này tôi gọi nàng bằng cái tên Lệ Hoa. Nàng là Vợ Góa Mã Đại Nguyên Phó Bang Chủ Cái Bang. Mã Phó Bang Chủ có vợ đẹp, đa tình nhưng không có số phúc, lộc, thọ để hưởng hạnh phước, Phó Bang Chủ bị ám sát chết thê thảm. Mã phu nhân đến phó hội để làm chứng tố cáo:

- Kiều Phong, Bang Chủ Cái Bang, là người Khiết Đan, không phải người Hán.

- Mã Phó Bang Chủ, chồng nàng, biết bí mật lý lịch Kiều Phong nên bị Kiều Phong giết để bịt miệng.

Nàng tố Kiều Phong hai tội trời không dung, đất không tha, thần giận , người thù. Hiền hậu, đoan trang như Nàng nói ai mà không tin. Tên đại gian đại ác Kiều Phong chỉ từ chết đến chết.

Nhưng… chính nàng là người chủ mưu giết Mã Đại Nguyên chồng nàng. Nàng toa rập với Bạch Thế Kính, một Trưởng Lão Cái Bang, giết Mã Đại Nguyên rồi đổ tội cho Kiều Phong. Bạch Thế Kính là một tình nhân tay sai của nàng Sương Phụ Đa Tình. Lão vừa muốn nàng vừa muốn lên làm Bang Chủ Cái Bang. Và trước khi làm vợ Mã đại Nguyên, nàng đã gập, đã là tình nhân của Đoàn Chính Thuần.

Như đã kể trong đoạn viết về A Châu, nhiều hồi sau cuộc Đại Hội Rừng Hạnh, A Châu giả làm Bạch Thế Kính đến lừa Mã phu nhân để hỏi về vị Thủ Lãnh Đại Ca, người cầm đầu trận tàn sát gia đình Tiêu Viễn Sơn ở Nhạn Môn Quan nhiều năm trước. Mưu lừa của A Châu ngây thơ làm sao qua mắt được Nàng Sương Phụ Đa Tình. Mã phu nhân lợi dụng ngay A Châu và Kiều Phong để giết chết Đoàn Chính Thuần, người đàn ông nàng yêu nhưng nàng không chiếm được độc quyền. Giả vờ bị lừa nàng tiết lộ vị Thủ Lãnh Đại Ca là Đoàn Chính Thuần. Kết quả việc làm tàn ác của nàng là A Châu bị chết oan khốc.

A Châu chết thay cho cha nàng là Đoàn Chính Thuần. A Châu chết oan vì Đoàn Chính Thuần đâu phải, và không thể là Thủ Lãnh Đại ca. Người thống lãnh quần hùng Trung thổ phục kích ở Ải Nhạn Môn ba mươi năm xưa để tấn công vợ chồng Tiêu Viễn Sơn là Huyền Từ Phương Trượng Thiếu Lâm Tự. Kim Dung đã pha phách sì dầu, sa tế hơi quá tay khi cho Huyền Từ Phương Trượng từng “tình là dây oan”, tức là từng ân ái với Nàng Diệp Nhị Nương Vô Ác Bất Tác, sinh ra Hư Trúc.

A Châu chết rồi Kiều Phong một mình đi truy tầm lý lịch của mình. Nhiều hồi sau chàng gặp lại Mã phu nhân và được nàng cho biết tại sao nàng thù chàng, nàng vu cáo chàng.

Đây là đoạn kể truyện tuyệt hay của Kim Dung. Những tình tiết trong đoạn này dồn dập đến như sóng biển. Ly kỳ, bất ngờ, hồi hộp, hấp dẫn. Đợt sóng này đánh tới làm người đọc tối tăm mắt mũi. Tưởng hết nhưng đợt khác lại ào tới. Lại tưởng hết nhưng vẫn chưa hết. Nghệ thuật kể chuyện của Kim Dung lên đỉnh cao nhất ở đoạn này.

Đêm ấy ở Hàng Châu tuyết trắng phủ trắng trời, trắng đất, như tuyết đang phủ trắng trời, trắng đất Virginia Của Những Người Yêu, Kiều Phong theo dấu Đoàn Chính Thuần đến gia trang của Mã Sương Phụ. Mẹ con A Tử Nguyễn Tinh Trúc đã đến đây trước. Kiều Phong bắt gặp hai mẹ con đang nằm trên mái nhà, đục ngói nhìn xuống phòng ngủ của Mã Sương Phụ. Không muốn để hai mẹ con gây chuyện phá rối trật tự công cộng, Kiều Phong điểm huyệt cho họ nằm ngay đơ cán cuốc trên mái.

Dùng chỉ lực Kiều Phong đục một lỗ trên vách nhìn vào phòng. Phòng ngủ nhung lụa ấm áp, lò sưởi gỗ thông, than hồng lách tách reo vui, Đoàn Chính Thuần pi-ja-ma Made in China nằm trên giường. Sương phụ Lệ Hoa áo ngủ mỏng tanh cũng Made in China khêu gợi đứng ở bàn rượu.

Nàng đã cho Đoàn Chính Thuần uống ma dược làm họ Đoàn mất hết công lực. Nàng muốn hạ thủ giết họ Đoàn đêm nay. Nhưng trước khi cho tình nhân chết nàng muốn Y phải chịu trừng phạt thật não nề đau khổ. Trước khi trừng trị Bạc Tình Lang nàng cần biết chắc Y có còn nội lực hay không. Ma dược không đủ mạnh làm Y tiêu công lực mà nàng trổ mòi giết Y thì rửa hận chẳng thấy đâu, nàng khốn khổ khốn nạn là cái chắc.

Kiều Phong nghe, nhìn từng chi tiết màn kịch Ái Tình trong Phòng Ngủ Mã Phu nhân.

Choang…

Bình rượu bồ đào trên tay Lệ Hoa rơi xuống sàn..

- Đoàn lang…

Nàng kinh hãi kêu lên. Tay vịn vào thành bàn, người nàng nghiêng đi, khuôn mặt nàng ngước lại nhìn người yêu đầy vẻ sợ hãi:

- Có kẻ địch ám toán.. Nó đánh trúng em.. Nó nấp sau cửa sổ kia.. Chàng ra tay đi…

Đã bị rượu độc làm mất hết nội lực, Đoàn Chính Thuần bối rối:

- Nàng lại đây với ta..

- Em không đi được.. Chàng xuất Nhất Dương Chỉ diệt nó đi.. Chàng còn chờ gì nữa?

Đoàn lang có Nhất Dương Chỉ bao giờ đâu mà xuất với lại chẳng xuất, chàng ú ớ:

- Em ơi.. Không biết tại sao ta.. ta…

Lệ Hoa càng thêm hoảng sợ:

- Chàng nói sao? Chàng làm sao..?

- Ta.. ta.. không biết vì sao.. ta mất công lực…

Khi biết chắc ma dược đã có hiệu nghiệm Lệ Hoa mới âu yếm nói cho Đoàn lang yêu mến biết tại sao:

- Em đã làm chàng mất hết nội lực rồi. Ly rượu đào em vừa mời chàng uống ấy có pha chất Nhuyễn Cân Tán cực nặng. Em cần làm chàng mất nội lực để nói với chàng chuyện này..

Nàng trở lại giường, vuốt ve Đoàn lang:

- Chàng có quá nhiều đàn bà. Em muốn chàng là của riêng em, nhưng không được. Em không muốn chàng coi em cũng chỉ là một tình nhân của chàng như bao nhiêu mợ khác. Chàng có nhớ ngày chàng mới yêu em chàng hứa gì với em không?

Chàng hứa gì làm sao chàng nhớ đuợc? Một triệu anh đàn ông, con trai hứa nhăng hứa cuội với đàn bà, con gái trên cõi đời này có đến chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm chín mươi chín anh rưỡi đi một đường quên béng. Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Đoàn lang yêu dấu của Mợ Sương Phụ Đa Tình, cũng chỉ can tội quên như bất cứ anh đàn ông phó thường dân vô tội nào trên cõi đời này.

- Chàng quên phải hông? Em hổng ngạc nhiên khi thấy chàng quên. Chàng quên thì em nhắc cho chàng nhớ. Ngày đầu ta yêu nhau chàng thề nếu chàng phụ em chàng sẽ để em cắn từng miếng thịt chàng cho đến khi chàng chết. Chàng nhớ chưa? Có đúng là chàng thề mí em như vậy không?

Đoàn Chính Thuần can tội phong tình nhưng không hèn – nhất là không hèn với đàn bà. – Nhiều người đàn ông cực kỳ hiên ngang trước kẻ địch, khẳng khái trước cái chết nhưng lại yếu sìu, khóc ròng, năn nỉ trong phòng ngủ, úp mặt vào bụng đàn bà mà nức nở. Đoàn Chính Thuần không ở trong loại đàn ông can đảm này.

Chàng thản nhiên nói:

- Ta nhớ ta có thề như thế…

- Dzậy thì bi giờ em… cắn chàng đấy…

- Nàng muốn cắn cứ cắn..

Lệ Hoa vạch áo pijama của người yêu để lộ bờ vai vương giả trắng ngần. Như một thứ Vampira nàng nhe hàm răng trắng giữa đôi môi hồng..

Kiều Phong vốn là đại hiệp. Chàng không muốn nghe lỏm, rình trộm người khác. Nhất là khi hai người khác lại là đôi tình nhân đang tình tự với nhau. Nhưng vì nóng lòng muốn biết ai là thủ phạm đã giết cha mẹ chàng nên chàng đành phải nhìn trộm, nghe trộm. Chẳng gì Đoàn Chính Thuần cũng là cha của A Châu. Kiều Phong đã định ra tay cứu ông ta nhưng chàng thấy ông ta ái tình giăng dện linh tinh, bê bối quá, để cho ông ta bị đau đớn một phen cũng đáng nên chàng để yên.

Lệ Hoa ghé răng cắn vào vai Đoàn Chính Thuần. Tất nhiên là Đoàn lang yêu dấu đau tới óc. Thịt da Vua Chúa cũng chẳng có gì khác thịt da phó thường dân và dân ngu cu đen.

Sương Phụ Đa Tình Mã phu nhân Áo Trắng Rừng Hạnh Tô Châu – hàng Châu – Phước Kiến là loại đàn bà được Ông Bác sĩ Phổ Lộ Xứ Tây Dương – tiếng Tây Dương gọi là Bác sĩ Phờ Rây, Phờ Râu, Phờ Roi chi đó – xếp vào loại Masochist, tạm dịch là Bạo Dâm: thích làm tình nhân đau đớn khi hành lạc. Có làm, có thấy người tình bị đau đớn, quằn quại, rên la nàng mới thấy hứng. Nàng sung sướng cắn thịt người yêu, miệng nàng đỏ máu tươi, mắt nàng long lanh sáng, tim nàng đập mạnh, má nàng hồng lên, ngực nàng phập phồng…

Đoàn Chính Thuần mất hết nội lực nằm nhũn như con chi chi theo nghĩa đen. Được cái hơn người là đau thấy mồ, đau đến óc và thấy mình chết đến nơi chàng vẫn cười:

- Em có giết anh, anh cũng vui.

Và chàng đọc hai câu thơ:

– Mẫu đơn hoa hạ tử
Tố quỉ dã phong lưu…

(Chết dưới hoa mẫu đơn. Làm ma cũng phong lưu.)

Lệ Hoa đến bàn lấy con dao găm nàng dấu ở đó. Thấy ông bố vợ hụt chết đến cổ rồi Kiều Phong bèn ra tay. Chàng chọc thủng bức vách luồn bàn tay vào đặt trên lưng Đoàn Chính Thuần. Như cách chàng đã cứu A Tử thoát khỏi tay Trích Tinh Tử, Đại đệ tử Tinh Tú phái, Kiều Phong truyền nội lực cho Đoàn Chính Thuần.

Đoàn Nam Vương biết có người ám trợ mình bèn phóng ra một chỉ phong – Đây không phải là Nhất Dương Chỉ. Đoàn Nam Vương chỉ đánh ra chiêu “Cách không đả huyệt” rất thường — chiêu này Anh Con Trai Bà Cả Đọi nào cũng đánh được, khỏi cần học hành, tập luyện chi –nhưng vốn mê tín vì võ công Nhất Dương Chỉ danh vang giang hồ của nhà họ Đoàn, Sương Phụ Đa Tình tưởng Đoàn Nam Vương đánh Nhất Dương Chỉ.

Mã phu nhân bị trúng chỉ phong vào mạng sườn. Lần này nàng trúng chưởng — xin lỗi; trúng chỉ — thật sự, nàng không còn vờ vẫn kịch coọc gì nữa. Bạch Thế Kính, Trưởng Lão Cái Bang, tình nhân sơ-cua của nàng, nhẩy vào khi nàng ngã xuống sàn:

- Cẩn thận đấy – Mã phu nhân la lên – Hắn vẫn còn công lực. Hắn chỉ vờ mất công lực thôi…

Bạch Thế Kính căm hận tình địch đến xương tủy. Y đánh ngay hai chưởng làm Đoàn Nam Vương gẫy rắc rắc hai cổ tay. Kiều Phong vừa định xuất hiện – vào phòng – can thiệp thì sự kiện đột biến..

Mấy ngọn nến trắng lung linh trong phòng ngủ bỗng sáng lên rồi tắt ngấm. Trong bóng tối mờ mờ Kiều Phong nhìn thấy bóng người áo sám từ trên trần nhà rơi xuống. Kỳ nhân này nấp trên trần từ hồi nào linh mẫn đến như Kiều Phong cũng không phát hiện.

Kỳ nhân áo sám vừa rơi xuống cả Bạch Thế Kính và Mã phu nhân cùng thảng thốt kêu lên:

- Mã Đại Nguyên…

Kỳ nhân không nói một tiếng, xử dụng chiêu thức đặc biệt của Mã Đại Nguyên, nhẩy lên tung hai tay chặt vào cổ Bạch Thế Kính.

Rắc..! Cái Bang Trưởng Lão Chín Túi đam mê cả Tình lẫn Địa Vị đi một đường gẫy cổ, hồn du địa phủ.

Kỳ nhân áo xám vút ra khỏi phòng đi luôn. Kiều Phong vội đuổi theo ông ta. Trên vùng tuyết trắng mênh mông hai cao thủ chạy đua maratông. Công lực họ bằng nhau nhưng Kỳ nhân đề-pa trước nên giữa hai người vẫn có khoảng cách. Kiều Phong gia tăng cước lực, Kỳ nhân chạy nhanh hơn. Kiều Phong giảm tốc lực, Kỳ nhân chạy chậm lại.

Thấy mình không thể nào đuổi kịp được Kỳ nhân Kiều Phong dùng lời gạ gẫm:

- Xin tiền bối dừng chân cho tiểu sinh được trò chuyện đôi lời…

Không quay lại Kỳ nhân chỉ nói:

- Lúc này chưa phải là lúc ta và túc hạ nói chuyện với nhau..

- Xin cho tiểu sinh được biết cao danh của tiền bối. Người là ai? Tại sao người lại can thiệp vào vụ ân oán giang hồ này?

Kỳ nhân thở dài:

- Giang hồ có nhiều chuyện khó nói lắm. Rồi túc hạ sẽ biết. Đừng theo nữa. Ta đi đây…

Kiều Phong đứng lại nhìn theo bóng người áo xám chìm mất trong vùng tuyết trắng.

o O o

Đến đây người luận Thiên Long một lần nữa phải ngừng luận để ca tụng nghệ thuật tả truyện của Kim Dung.

Như đã nói đoạn Thiên Long này đầy những sự kiện ly kỳ, hấp dẫn, bất ngờ.. hồi hộp, gây kinh ngạc đến ngẩn ngơ. Những sự kiện liên tiếp theo nhau đến như những đợt sóng biển khi biển động.

Sự kiện Sương Phụ Đa Tình kể tội rồi cắn thịt Đoàn Nam Vương, Kiều Phong truyền nội lực cho Đoàn Nam Vương “cách không đả huyệt” Sương Phụ Đa Tình đã là hấp dẫn, ly kỳ rồi. Kỳ nhân áo xám đột ngột xuất hiện dùng võ công của Mã Đại Nguyên đánh gẫy cổ Bạch Thế Kính là sự kiện bất ngờ thứ hai. Kỳ nhân này là ai? Kiều Phong biết cao nhân này không phải là vị áo nâu đã cứu chàng ở Tụ Hiền Trang.

Vẫn chưa hết. Tác giả còn dành cho người đọc một ngạc nhiên lớn nữa. Kiều Phong trở lại gia trang của Lệ Hoa. Phòng ngủ hoang vắng, lạnh lẽo. Gia nhân của Đoàn Nam Vương – những anh vệ sĩ này đáng bị chặt đầu vì tội đến cứu giá quá muộn  – đã đến đưa Nam Vương lên am-bu-lăng đi bệnh viện. Xác Cái Bang Trưởng Lão Bạch Thế KÍnh nằm đâu chẳng ai cần biết. Kiều Phong gặp lại Mã phu nhân mình đầy máu tươi nằm chịu kiến lửa đốt.

Trong khi Kiều Phong đuổi theo Kỳ nhân áo xám mẹ con Nguyễn Tinh Trúc–A Tử đã tự giải khai được huyệt đạo, nhẩy xuống, vào phòng hành hạ Mã phu nhân. Bà Nguyễn Tinh Trúc ghen tuông nghe lời con gái ác độc dùng kiếm rạch nát mặt hoa, nát tấm thân ngà ngọc của nàng Sương Phụ Đa Tình rồi không giết nàng ngay, bỏ nàng nằm đấy cho kiến vàng, tức kiến lửa, đốt nàng, hút máu cho nàng đau đớn đến chết.

Kiều Phong thương hại Mã phu nhân. Tuy nàng đã vu cáo, hãm hại , có thể nói là tàn phá, cả đời tư lẫn đời công của chàng ở Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh nhưng chàng không thù hận gì nàng. Nàng sắp chết. Không thể cứu được nàng sống lại. chàng chỉ còn có thể an ủi nàng mấy câu trước khi nàng chết.

Mã phu nhân mở mắt thấy Kiều Phong, nàng bảo chàng:

- Ôm em đi. Em muốn được chết trong tay Bang chủ…

Chàng làm theo lời. Nàng lại hỏi:

- Chàng có biết tại sao em hãm hại chàng không?

Làm sao chàng biết được? Đây là chuyện thường xẩy đến với nhiều anh Con Trai Bà Cả Đọi trên cõi đời này: Em yêu anh anh hổng biết tại sao, em thù anh anh cũng hổng biết tại sao. Em yêu anh anh cám ơn em. Em thù anh thì anh phú lỉnh đi chỗ khác kiếm ăn. Em đánh, anh đỡ, anh đỡ hổng được thì anh chịu đòn. Đại hiệp võ công lệch đất, nghiêng trời hay anh Con Trai Bà Cả Đọi cả đời chẳng đánh nhau với ai đều ngơ ngáo như nhau trước sự Yêu Thù của Đàn Bà Đẹp Đa Tình.

Đây là đại khái câu chuyện rắc rối tơ Mã phu nhân kể với Kiều Phong khi nàng sắp chết. Đại khái thôi vì bộ nhớ rệu rã sau ba mươi mấy mùa soài tượng chỉ còn giữ lại được ngần này:

- Em kể anh nghe. Ngày xưa khi tuổi em mới tám, chín mùa táo tầu em là con nhỏ xinh đẹp nhất xóm. Nhưng nhà em nghèo. Tết đến giagia, mámá em không sắm được cho em bộ y phục mới. Con nhỏ nhà bên bằng tuổi em có y phục mới mà em không có. Đêm Ba Mươi Tết em lẻn sang nhà nó dùng cái kéo em mang theo cắt bộ y phục Tết của nó ra làm trăm mảnh. Em không được mặc đồ Tết thì nó cũng không được mặc đồ Tết. Anh hiểu em muốn nói gì không? Anh biết tại ao em làm thế không?

Lại một lần nữa Kiều Phong, cùng những anh Con Trai Bà Cả Đọi.., thở hắt ra. Làm sao các anh hiểu được tâm trạng rắc rối tơ vò của đàn bà đa tình, đa dâm, đa tham, đa đủ thứ trên cõi đời này. Họa chăng chỉ có Ông Bác sĩ Phờ Rơi Xứ Âu Lạp Ba bên Tây Vực xa xôi nói là ông hiểu. Mà ông cũng tự cho là ông hiểu thôi. Chẳng ai có thẩm quyền để biết ông Sích Mông Phờ Rơi – Sigmund Freud – hiểu như vậy là đúng hay trật. Thôi thì ta cứ tán nhăng, tán cuội theo sự hiểu biết không đầy cái lá mít của ta như sau:

- Mã phu nhân, Sương Phụ Đa Tình, là người đàn bà tối ích kỷ, chỉ biết mình, ghen tuông, ghen tị, ghen ghét. Cái gì nàng không được ăn là nàng đạp đổ. Em muốn em bá chủ, em độc tôn, độc quyền. Vì em không chiếm được Đoàn Chính Thuần cho riêng em nên em giết họ Đoàn. Em giết Đoàn lang yêu dấu của em thì thôi, cũng được đi. Nhưng còn Kiều Phong? Bang Chủ Cái Bang có ân oán gì với em mà em làm Bang Chủ thân bại, danh liệt?

Đây là nguyên nhân làm Sương Phụ Đa Tình hận và hại Kiều Phong:

- Xuân năm ấy.. ở Hàng Châu.. Đại Hội Hoa Anh Đào… Em được bầu làm Hoa Hậu.. Em đẹp nhất đại hội. Bao nhiêu vương tôn, công tử quì mọp dưới chân em. Nhưng em chỉ muốn một người trên cõi đời này biết là em đẹp, yêu em và mong được em yêu thôi. Người ấy là… Bang Chủ, là chàng. Chàng đến dự Hội Hoa Xuân nhưng chàng không đến mí em. chàng chẳng để ý gì đến em cả, chàng cứ ngồi trên cao lâu uống rượu. Em đi ngang mặt chàng cũng chẳng thèm nhìn em. Em thù chàng từ đó. Em thù chàng nên em hại chàng.

Than ôi.. Quân tử Tây có lời răn: “Đừng đùa rỡn với Ái Tình – Ne badine pas avec l’Amour..” Đúng phóoc. Đùa rỡn với Ái Tình là vỡ mặt nhưng không chịu đùa rỡn với Ái Tình nhiều khi, ngoài mặt mũi, sự nghiệp, người ta còn bị vỡ rất nhiều thứ khác nữa. Tâm trạng rắc rối tơ và võ công Ba Tư quái dị của những nữ lang đa đủ thứ trên cõi đời này như Nàng Sương Phụ Đa Tình Thiên Long Bát Bộ làm cho người viết hãi hùng kinh sợ.

Vì các nàng xử dụng võ công Ba Tư quái dị nên khi bị các nàng xuất chiêu, các anh Con Trai Bà Cả Đọi khốn khổ, khốn nạn trên cõi đời này không biết phải đỡ gạt, tránh né ra sao. Ngỏ lời ong bướm, ve vãn, gạ gẫm các nàng thì bị các nàng chửi là dâm, nham nhở, dơ dáy, kết cho cái tội khinh khi các nàng, là thứ đàn ông không xứng đáng được tán tỉnh, được “muốn” các nàng. Ung dung tự tại như ông Khổng Khâu nước Lỗ khi học nhạc Thiều, dửng dừng dưng với các nàng thì các nàng thù oán, các nàng cũng kết tội là khinh các nàng. Các nàng cho mà không chịu lấy, dí tận mồm mà không chịu ăn là chỉ có nước từ chết đến chết với các nàng.

Vậy thì muốn được sống hai chữ Bình An với một chữ Thọ trên cõi đời tục lụy này ta phải làm sao đây? Thảo hèn quân tử Tầu có lời than: “Vi nhân nan..” Làm người khó. Đừng nói gì đến chuyện ho hen kèn cựa, bon chen chèn lấn, tranh cướp với bọn đàn ông, chỉ nói riêng đến chuyện ứng phó với các chị con Dâu, Con Gái Bà Cả Đọi thôi những anh Con Trai Bà Cả Đọi trên cõi đời này cũng đã đủ tối tăm mắt mũi, tẩu hỏa nhập ma, thổ ra mấy búng máu tươi, thân bại, danh liệt…

Nàng Sương Phụ Đa Tình chỉ vì muốn được Bang Chủ Cái Bang yêu nhưng bị Bang Chủ đối xử hờ hững kiểu con cá vàng lơ lửng nên thù hận Bang Chủ, hãm hại Bang Chủ. Làm vợ Mã Phó Bang Chủ Cái Bang nàng vẫn không hài lòng. Có chồng, nàng ngoại tình và tham gia vào việc giết chồng. Rồi nàng tiến hành cuộc vu cáo hãm hại Kiều Phong. Mã phu nhân, trước sự phê phán của người viết ở Rừng Phong, là nữ nhân vật đa dâm nhất Thiên Long.

Qua thảm kịch Tình Thù Kiều Phong — Mã phu nhân, ta thấy với những người đàn bà đa tình, ta:

Thả lời ong bướm nhiều khi vỡ mặt.
Không thả lời ong bướm nhiều khi bỏ mạng..

Tình cảnh ấy, khó khăn này làm người viết nhớ đến một chuyện trong Cổ Học Tinh Hoa:

Trang Châu cùng môn đệ đi chơi. Qua chỗ mấy người tiều phu chặt cây, nghe họ hỏi nhau:

- Cây gỗ tốt, cây gỗ xấu. Chặt cây nào?

- Chặt cây gỗ tốt. Ngốc. Còn phải hỏi. Gỗ xấu lấy làm gì?

Trang Châu dậy:

- Các trò suy nghĩ nhen: Ở đời Tốt là chết

Thầy trò vào tiệm ăn, nghe người trong tiệm bàn chuyện làm thịt đãi khách:

- Nhà có hai Cờ Tây. Cờ Vện chăm giữ nhà, Cờ Cộc lười chỉ đớp rồi ngáo. Hạ Cờ nào?

- Hạ Cờ Cộc. Lười. Chỉ ăn rồi ngủ, để làm gì. Giữ Cờ Vện lại vì nó chăm chỉ…

Trang Châu dậy:

- Các trò suy nghĩ nhen: Ở đời lười là chết..

Anh Con Trai Bà Cả Đọi đọc chuyện trên từ thuở tuổi đời anh mới có mười mấy que. Theo lời Thầy Trang đôi khi anh cũng đi một đường suy nghĩ – sự thực anh rất lười suy nghĩ – về những nguyên nhân sống chết ở cõi đời này. Nhưng đến năm đời anh Sáu Bó anh vẫn chưa biết chắc anh phải làm gì, phải ứng xử như thế nào khi đời anh gặp tai họa. Ngày Ba Mươi Tháng Tư Đen, bỏ của chạy lấy người không kịp, vất vả tả tơi ở giữa Sài Gòn đầy cờ máu, anh thấy anh cần bổ xung thêm công thức ” Khôn-Dại-Sống-Chết “ mà anh nghe nói là của Trạng Trình:

– Dại thì chết
Khôn cũng chết
Biết thì sống…

Sau 1975 ở Sài Gòn – bị đổi tên là Thánh Hồ – công thức ấy được Anh Con Trai Bà Cả Đọi thêm thắt như vầy:

– Dại thì chết
Khôn cũng chết
Biết lại càng chết..

Cuộc sống muôn mặt, tình yêu muôn sắc được đúc kết trong thế giới Thiên Long. Người đúc kết, tạo lại, tả lại cho người khác thấy như thật là một Đấng Tạo Hóa Quyền Năng nho nhỏ. Hai mươi nhăm năm đẩu chuyển, tinh di, Quẻ Bác đến với những Anh Con Trai Bà Cả Đọi Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa nhưng Quẻ Phục không đến! Than ôi.. Phải chăng Quẻ Phục sẽ không bao giờ đến? Thay vì Quẻ Phục là Quẻ Đoạn, Quẻ Tuyệt, Quẻ Tịch.

Thôi thì hãy để “Định Mệnh an bài..”, ta trở về với Mã Phu nhân, Nàng Sương Phụ Đa Tình nhất Tình Sử Thiên Long.

Gieo gió, gặt bão, nàng ác độc, nàng hại người, nàng chết thảm. Suốt một đời đố kỵ, ghen tuông, mưu mô, xảo trá, nàng có gì hơn ai? Không những chẳng hơn ai nàng còn là người đàn bà đau khổ có số mệnh bi thảm nhất Thiên Long.

Công Tử Hà Đông bèn có Thơ Vịnh Nàng:

MÃ PHU NHÂN

Dối chồng.. Em nói, Em cười
Giết chồng nửa đoạn, nửa đời.. Vô luân.
Ngoại tình chẳng một tình nhân
Dâm thì dâm cũng có ngần ấy thôi.
Em ơi.. Rừng Hạnh trăng soi
Sao Em áo trắng hại người thản nhiên?
Kiều Phong đại ngốc vô duyên
Thân danh bại liệt nhãn tiền vì Em.
Thương Em tóc mượt, da mềm
Âm Ty làm quỷ đêm đêm thở dài.

ĐÃ BAO GIỜ CÓ…

Hoàng Hạc Lâu. Thôi Hiệu

Hoàng Hạc Lâu. Thôi Hiệu

Bốn mươi năm đọc sách Việt, tôi tự cho là tôi đã đọc khá nhiều về văn thơ của ông Ngô Thời Nhiệm và những ông sống, viết văn, làm thơ cùng thời với ông, nhưng chưa một lần tôi đọc đến tên ông Ngô Thời Vị.

Tháng Tám 2014, bài viết của ông Phạm Trọng Chính, đăng trên Trang Văn Hóa Nghệ An, cho tôi biết về ông Ngô Thời Vị. Tôi trích bài viết của ông Phạm Trọng Chính:

Phạm Trọng Chính. Văn Hoá Nghệ An. Trích:

Ngô Thời Vị, một người được Vua Gia Long biết tài, đươc Vua  trọng dụng ngang với Nguyễn Du. Ngô Thời Vị  còn xuất sắc hơn  Nguyễn Du vì tuổi trẻ hơn, đỗ đầu bốn kỳ thi, nên được Nguyễn Du gọi là Ngô Tứ Nguyên. Ngô Thời Vị làm quan triều Nguyễn, hai lần đi sứ Trung Quốc. Năm 1809 ông làm Phó sứ, năm 1820 ông làm Chánh sứ thay Nguyễn Du, bị bệnh rồi qua đời. Ngô Thời Vị là tác giả chính của Hoàng Lê Nhất Thống Chí, tác phẩm văn xuôi độc đáo nhất nước ta. Ngô Thời Vị là một trong An Nam Ngũ Tuyệt, một trong năm người văn chương một thời hay nhất nước Nam; bốn người kia là  Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Phan Huy Ích, Nguyễn Hành. Thế mà tên tuổi Ngô Thời Vị bị chìm trong quên lãng.

Ngô Thời Vị (hay Ngô Thì Vị) còn có tên Ngô Thời Hương, sinh năm Giáp Ngọ 1774, mất năm Tân Tị, 1821, tự Thành Phủ, hiệu Ước Trai, con út Ngô Thời Sĩ, em Ngô Thời Nhậm và Ngô Thời Chí, Ngô Thời Hoàng. Quê Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Đông. Mồ côi cha năm 6 tuổi, ông được ông anh cả Ngô Thời Nhậm nuôi dưỡng.  Gia Long lên ngôi, mời Ngô Thời Vị làm Hiệp trấn Lạng Sơn. Năm 1809 Ngô Thời Vị được cử làm Phó Sứ sang nhà Thanh, năm ấy ông 35 tuổi, lần thứ nhì ông thay Nguyễn Du làm Chánh Sứ, trên đường Trung Quốc về nước ông mất tại Quảng Tây ngày 1-1-1821, hưởng dương 47 tuổi.

Ông để lại hai tác phẩm chính là “Mai dịch thu dư” (Thơ làm khi đi sứ) và “Thành Phủ Công thi văn,” gồm hàng trăm bài thơ với nhiều đề tài thể loại khác nhau.

Thơ chữ Hán của Ngô Thời Vị cho thấy bản lĩnh của một người tự tin vào tài của mình, khác với mọi người ca tụng những gì mọi người đã ca tụng, ông đưa ý kiến bài bác những sai lầm của văn chương Tầu; ông viết:

“Thôi Hiệu đang ở trên quê hương mình còn nhớ nhà cái nổi gì, tôi đi sứ xa quê hương tôi mới là người nhớ nhà, nhớ quê. Lý Bạch đến Lầu Hoàng Hạc, nói: Trước mắt có cảnh không làm thơ được, Vì đã có thơ Thôi Hiệu ở trên đầu. Lý Bạch sợ chứ tôi đây là sứ thần nước Việt, tôi là Ngô Thời Vị, tôi đến Lầu Hoàng Hạc, tôi làm thơ đây, tôi chẳng sợ đời đã có thơ Thôi Hiệu!” Ông viết:

“Triều đình Trung Quốc đòi nước Nam cống nạp tượng vàng Liễu Thăng là ngu dốt, vì đòi như thế là nhắc cho mọi người nhớ cuộc bại trận thảm hại của Trung Quốc, Tướng Liễu Thăng  bị chết chém có gì vinh hiển mà đòi người  Nam năm năm phải cống nạp tượng người bằng vàng?” Năm 1809 Ngô Thời Vị làm Phó Sứ sang nhà Thanh, khi đến Hoàng Hạc Lâu, ông viết:

“Lầu bên sông mùa thu mịt mù bóng lá cây và bóng mây. Người tiên không thấy chỉ thấy mái lầu trơ trọi. Hạc vàng bên trời bao giờ trở lại, dòng sông như dành riêng phó mặc cho bầy âu trắng bơi lội. Nhà thơ Lý Bạch chưa hề chịu thua ai sao đến lầu này oàng Hạc lại không làm thơ được?”

Trước lầu Hoàng Hạc, Lý Bạch viết: Trước mắt có cảnh không tả được, Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu. Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

Lầu Hoàng Hạc ở Trung Quốc, Thôi Hiệu là người Trung Quốc, sao lại nhớ quê hương? Ông ở quê ông, ông còn nhớ quê cái nỗi gì? Tôi sứ thần nước Nam đi sứ qua đây,tôi  mới là người xa quê hương. Và ông ung dung xưng danh:

“Sứ thần nước Việt Ngô Thời Vị, Chẳng sợ làm thơ trước cảnh này.”

Lầu Hoàng Hạc. Vũ Hoàng Chương

Lầu Hoàng Hạc. Vũ Hoàng Chương

Thơ Ngô Thời Vị Lầu Hoàng Hạc

Bản dịch: Sông Hán, thành thu mơ lá, mây,
Người tiên chẳng thấy, thấy lầu đây.
Hạc vàng biết có bao giờ lại,
Âu trắng dành riêng dãi nước đầy.
Lý Bá cớ chi dừng bút lại,
Thôi Quân sao lại nhớ quê ngay.
Sứ thần nước Việt: Ngô Thời Vị,
Chẳng sợ làm thơ viếng cảnh này.
Nguyên tác phiên âm Hán Việt

HOÀNG HẠC LÂU

Hán thủy thành biên vân thụ thu,
Tiên nhân bất kiến chỉ không lâu.
Hà thời thiên tế lai hoàng hạc,
Đề ý giang trung phó bạch âu.
Lý Bá vị ưng thâu bút lực,
Thôi quân bất hợp tác hương sầu.
Việt Nam sứ giả Ngô Thời Vị,
Đấu đảm đề thi ký thử du.

Bài thơ của Ngô Thời Vị được gửi đến Nguyễn Du. Nguyễn Du viết thư trả lời:

“Gửi ông Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên: Còn nhớ đêm hôm nào hai chúng ta đàm đạo cùng nhau, trên bãi biển Quỳnh Hải thời Tây Sơn. Chúng ta là bạn từ thuở ấu thơ, hai gia đình thân thiết nhau, tình vẫn còn nguyên như cũ. Chúng ta cùng làm quan, cái cày là cái lưỡi, vẫn thường no đủ. Xa quê lòng già nào không muốn về quê. Bệnh tiêu khát của Tư Mã Tương Như anh mỗi ngày thêm nặng. Hồn mộng tôi đêm đêm nhập vào thơ Đỗ Phủ.”

Nguyễn Du tặng Thơ Ngô Thời Vị.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên

Nhất dạ tây phong đáo hải mi,
Đồng niên giao nghị thượng y y.
Đại canh hữu thiệt sinh thường túc,
Khứ quốc hà tâm lão bất qui?
Tiêu khát nhật tăng Tư Mã bệnh,
Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi.
Lâm giang vị cảm đề Anh Vũ,
Hoàn hữu Trung nguyên nhất đại thi.

Thơ Hoàng Hạc Lêu của Thôi Hiệu làm cho Lý Bạch ngần ngại khi muốn đề thơ Lầu Hoàng Hạc. Nhưng các vị sứ thần Việt Nam qua đây ai cũng đề thơ Lầu Hoàng Hạc; chẳng có thi nhân sứ thần Việt Nam nào sợ thơ Thôi Hiệu!

Năm Kỷ tỵ 1809 Ngô Thời Vị làm Phó Sứ sang Bắc Kinh, đã đến Lầu Nhạc Dương, ông nhớ cách đó 17 năm, anh ông là Ngô Thời Nhậm từng làm Chánh Sứ đi sứ báo tang Vua Quang Trung mất năm 1793 đã đến  lầu này, Ngô Thời Vị viết:

“Năm Quý Sửu anh tôi đã lên lầu này, đến nay tôi đến lầu là mười bảy mùa thu qua. Ngoảnh đầu nhìn lại việc trước đáng ghê mình vì cuộc biển dâu, nay tôi nối gót anh tôi mà đi sứ thấy lòng hổ thẹn cho bao kiếp tu từ lâu đời. Người xưa đi qua rồi không trở lại nữa,  như đám mây bay đi mất. Cuộc đời thay đồi không ngừng như dòng nước chảy. Khâm phục lời nói hay của tiền nhân, càng nghĩ kỹ, càng cảm động: Có rút chân khỏi giang hồ, mới khỏi âu lo.”

Thơ Ngô Thời Vị làm ở Lầu Nhac Dương.

Anh tôi Quý Sửu thăm lầu này,
Mười bảy năm giờ em đến thay.
Dâu biển quay nhìn lòng sợ hãi,
Sứ trình tiếp bước hổ lòng nay.
Người xưa qua đó như mây nổi,
Đời đổi không ngừng nước chảy bay.
Khâm phục lời hiền nhân nghĩ kỹ,
Giang hồ rời gót mới an vui.

CTHĐ: Tôi không trích đăng bài Thơ Chữ Hán Đăng Nhạc Dương Lâu của Ngơ Thời Vị.

Một bài thơ khác của Ngô Thời Vị: Tuyết hay Bùn?

lauNâng lên tuyết trắng, xéo bùn đen,
Quý tiện do người dẫm bước lên.
Tiết sạch lẽ nào sa xuống thấp,
Cội tùng trăng xóa tuyết đầu non.

TUYẾT NÊ
Phủng vi băng ngọc, tiễn vi nê,
Quý tiện do nhân bộ bất tề.
Khiết tháo khởi nghi lưu hạ xứ.
Cô tùng tuyệt điến nhiệm quân thê.

Paris 18-10-2013

Ts Phạm Trọng Chánh

*

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu,
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du,
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng xử nhân sầu.

Ngô Tất Tố dịch:

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay
Lầu hạc còn suông với chốn này
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dầy
Hoàng hôn về đó quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người. 

Tản Đà:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu? 
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ! 
Hạc vàng đi mất từ xưa, 
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay. 
Hán Dương sông tạnh cây bày, 
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non. 
Quê hương khuất bóng hoàng hôn, 
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

Trần Trọng Kim

Người đi cưỡi hạc từ xưa
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu
Hạc vàng đi mất đã lâu
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông
Hán Dương cây bóng lòng sông
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì
Chiều hôm lai láng lòng quê
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

Thanh Tâm Tuyền:

Người xưa rong chim hạc đi khuất, 
Đất cũ để trơ lầu vắng không.
 
Hoàng hạc thuở biệt rồi tuyệt dạng,
 
Mây nghìn kiếp trắng mãi bông lông.
 
Tạnh quang cây bến lung linh nắng,
 
Xanh ngát cỏ đồng thiêm thiếp hoang.
 
Xế muộn làng quê nơi nào nhỉ?
 
Mặt sông khói quyện buồn lạ lùng.

Nguyễn Du và Hoàng Hạc Lâu

Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì?

Do lưu tiên tích thử giang mi.

Kim lai, cổ vãng, Lư sinh mộng,

Hạc khứ, lầu không, Thôi Hạo thi.

Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu.

Nhãn trung thảo thụ thượng y y.

Trung tình vô hạn bằng thùy tố,

Minh nguyệt, thanh phong dã bất tri.

Hoàng Hải Thủy dịch:

Thần tiên ở đâu, bao đời nay?

Dấu còn để lại bến sông này?

Lư sinh mộng đến mơ còn mỏi.

Thôi Hạo lầu không, hạc vẫn bay.

Ngoài hiên sóng cũ, mênh mang khói.

Trước mắt hoa xưa lả lướt bay.

Gió mát, trăng trong không thể hỏi.

Tình này chan chưá, nói ai đây!

Trong thư của Nguyễn Du gửi Ngô Thời Vị, có câu:

“Chúng ta cùng làm quan, cái cày là cái lưỡi, vẫn thường no đủ.”

“Cái cày là cái lưỡi..” Thành ngữ mới toanh, lần đầu tôi gặp. Nhưng với những ông Nguyễn Du, Ngô Thời Vị, Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, cái cày của các ông là cái bút. Các ông viết, các ông có nói đâu. Các ông không phải là biện sĩ.

Nhưng cho qua tất cả. Tôi viết bài này vì bài thơ Cảm đề Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương.

Đây là bài Thơ Vũ Hoàng Chương dịch bài Hoàng Hạc Lâu  của Thôi Hạo:

Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu hoàng hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc bay bay mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây nước Hán dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi…

Đây là bài thơ Vũ Hoàng Chương Cảm đề Hoàng Hạc Lâu

Đã bao giờ có hạc vàng đâu!

Mà có người tiên để có lầu.

Tưởng hạc vàng đi, mây trắng ở

Lầm Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau

Hạc chưa bay khỏi Mê hồn kịch

Tiên vẫn nằm trong Vạn cổ sầu

Trăng gió hão huyền như khói sóng

Nồi kê chín tới nghĩ mà đau.

Chắc đã có ít nhất là cả ngàn thi sĩ làm cả ngàn bài thơ thật hay về bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, chắc chỉ có một mình Nhà Thơ Việt Vũ Hoàng Chương lên tiếng:

Đã bao giờ có hạc vàng đâu.
Mà có Người Tiên để có Lầu.

Thi sĩ không hỏi, Thi sĩ không nghi, Thi sĩ nói chắc:

“Làm gí có đạo sĩ tu thành tiên, hoá thành con chim hạc bay đến cái lầu bên sông..”

Cảm khái cách gì!

Xứ Tình Nhân

Vợ chồng ông Robert McDonnell, nguyên Thống Đốc Virginia

Vợ chồng ông Robert McDonnell, nguyên Thống Đốc Virginia

Sáng, những buổi sáng Tháng Tám 2014, xong café, mở computer như mỗi sáng, đọc tin, xem ảnh, tinh thần tôi xuống quá đỗi. Toàn những vụ người giết người man dã, những tai họa khủng khiếp..

Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Đó là quy luật. Những tai họa liên tiếp đến với con người trên khắp trái đất: nguyên một phi cơ trên có 400 hành khách bay đi rồi mất tích. Thế giới trong Thế kỷ 21 dùng mọi khả năng cơ khí khoa học tìm chiếc phi cơ ngộ nạn rơi ở đâu, nhưng không thấy là không thấy, hoàn toàn không thấy, mất tích 1000/100; đã mấy tháng qua, người thế giới quên chiếc phi cơ mất tích. Rồi 300 nữ sinh nước Nigeria bị bọn khủng bố bắt cóc. Cũng tìm họ không ra. Mấy tháng qua 300 nữ sinh bị người đời quên lãng. Rồi một chiếc phà Nam Hàn chìm, mấy trăm người chết; chủ phà tự tử. Hoả tiễn Israel bắn chết ba lãnh tụ Hamas, hai ngày sau tổ chức Hamas đem bắn chết 18 người dân, 18 người này bị kết tội làm do thám cho Israel, dùng vô tuyến điện báo cho Tình báo Israel biết chỗ tụ hội của ba lãnh tụ Hamas. Những người Thiên Chuá Giáo bị chặt đầu ở Pakistan.

Nhà Báo James Foley trước khi bị cắt cổ. Tình báo Hoa Kỳ đã biêt tên, biết mặt gã sát nhân bịt mặt. Gã là một công dân Anh theo đạo Islam.

Nhà Báo James Foley trước khi bị cắt cổ. Tình báo Hoa Kỳ đã biêt tên, biết mặt gã sát nhân bịt mặt. Gã là một công dân Anh theo đạo Islam.

Chuyện làm tôi kinh sợ nhất vừa xẩy ra mấy hôm nay: James Foley, một nhà báo Mỹ, bị bọn Quá Khích Islam cứa cổ. Cuộc cắt cổ được bọn giết người trình diễn trên Internet. James Foley ngang tuổi con tôi, anh làm báo, tôi những năm 1960 cũng làm báo. Anh bị cắt cổ, tôi đau, tôi sợ như con tôi bị người ta cắt cổ.

Dường như càng ngày loài người càng trở nên ác độc hơn. Tôi thất vọng, tôi bi quan quá đỗi.

Tôi là người ca tụng Tình Yêu. Tôi từng viết – không phải một lần mà nhiều lần – tôi suốt đời ca tụng Tình Yêu. Tôi ca tụng Tình Yêu của tôi, tôi ca tụng Tình Yêu của người khác. Tôi vui, tim tôi ấm khi tôi thấy Tình Yêu – Tình Yêu viết Hoa bẩy chữ, oa bẩy chữ, oHoa luôn dấu Huyền, dấu Mũ – tôi buồn, tim tôi lạnh và nặng khi tôi thấy Tình Yêu thất bại.

Mấy sáng nay tim tôi lạnh vì cuộc Tình thất bại của ông bà  Robert McDonnell, nguyên Thống Đốc Virginia. Bị tố cáo tội nhận hối lộ, ra trước toà án ông McDonnell đổ tôi cho bà vợ ông. Ông khai ông không biết gì về việc nhận tiền hối lộ của bà. Một ông đại diện một nhà chế tạo thực phẩm ở Virginia, qua bà McDonnell,  đã giúp gia đình ông Thống Đốc nhiều quà tặng và tiền mặt lên đến 170.000 Mỹ kim. Trong số có chiếc đồng hồ Rolex giá 5.500 đô bà Donnell yêu cầu ông đại diện nhà chế tạo mua cho bà để bà làm quà sinh nhật tặng ông chồng bà, và khoản tiền 15.000 Mỹ kim chi phí tiệc kết hôn của cô con gái ông bà

Trước toà, ông nguyên Thống Đốc khai ông biết nhà sản xuất giúp gia đình ông những khoản tiền ấy, nhưng ông không dùng quyền năng Thống Đốc của ông để giúp nhà sản xuất bất cứ chuyện gì. Ông đổ hết tội cho bà vợ ông. Việc đổ tôi của ông hèn đến nỗi Nhật báo The Wahington Post, trong bài tường thuật về việc ông khai trước toà, gọi ông là A Cad in Virginia (Gã Đểu ở Virginia).

Virginia cảnh đẹp, thơ mộng, tình tứ  nên có tên là Virginia is for Lovers.Tôi thường ghi trong những bài viết của tôi câu “Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.” Tôi ngậm ngùi trước cuộc Tình tan vỡ của ông bà nguyên Thống Đốc Virginia, ông bà đã sống với nhau 38 năm. Kể về điều kiện để làm Người Virginia thì không ai có thể là Người Virginia hơn ông Robert McDonnell: ông ra đời ở Virginia, ông đã sống hai phần ba cuộc đời ông ở Virginia, ông làm Thống Đốc Virginia.

Quá buồn, tôi chuyển sang chuyện Tình Yêu. Một chuyện tôi gọi là “Tuyệt Đỉnh của Tình Yêu.”

Yêu như Ân Tố Tố yêu Trương Thúy Sơn — theo tôi — là tuyệt đỉnh tình yêu. Yêu nhất. Yêu đến không còn ai có thể yêu hơn được nữa. Thù đến như Tạ Tốn thù Thành Khôn là thù nhất, là tuyệt đỉnh của hận thù. Tôi gọi Ðồ Long Ðao là truyện của Tuyệt Ðỉnh Tình Yêu và Thù Hận.

Trước khi nói đến Hận Thù ta hãy nói đến Tình Yêu trong Ðồ Long. Nàng là con gái Chưởng môn Ma Giáo, chàng là thiếu hiệp danh môn, chính phái. Trong tiểu thuyết võ hiệp chính và tà luôn luôn xung đột với nhau, tiêu diệt nhau. Xung đột chính tà, thiện ác là nguồn gốc sản sinh, là nhựa sống của tiểu thuyết võ hiệp. Cuộc tình Ân Tố Tố — Trương Thúy Sơn có tính cách như cuộc tình Romeo và Juliet. Tôi thấy Tố Tố yêu Thúy Sơn hơn Thúy Sơn yêu Tố Tố. Yêu như Tố Tố mới là tuyệt đỉnh Tình Yêu, sống chết với Tình. Nàng yêu chàng nên nàng đạo diễn cho chàng xuống thuyền cùng nàng đi ra Vương Bàn Sơn dự hội Dương Ðao Lập Oai: Bạch Mi Giáo đoạt được đao Ðồ Long từ tay Dư Ðại Nham Võ Ðang, đem ra đảo Vương Bàn Sơn ngoài biển đông làm lễ dương đao lập oai với võ lâm, báo cho võ lâm biết Bạch Mi Giáo làm chủ đao Ðồ Long — Ðoạn này Kim Dung viết hơi yếu: Ðại Hội Dương Ðao Lập Oai  mà tân khách đại biểu các môn phái đến dự chỉ là mấy chú tiểu hiệp cắc ké kỳ nhông. Tôi chắc Kim Dung cũng biết sự kiện này hơi yếu song ông đành phải để. Bởi vì nếu cho Bạch Mi Giáo Chủ Hân Thiên Chính hay Thanh Dực Bức Vương Bạch Mi Giáo đến chủ trì đại hội thì Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn không thể xuất hiện, đoạt đao, kể tội, giết người, bắt người khơi khơi dễ dàng như thế được.

Tố Tố chỉ đưa Thúy Sơn ra đảo để nàng được gần chàng. Nàng không ngờ — định mệnh an bài — biến cố xẩy ra, Tạ Tốn bắt nàng và Thúy Sơn xuống thuyền đi lên biển bắc.

Và thế là cuộc phiêu lưu tuyệt kỳ đưa nàng và chàng vào Tình Yêu. Sau lần ân ái đầu tiên nằm ôm nhau trong khoang thuyền lênh đênh nàng nói:

– Anh yêu.. Em muốn ở nhân gian, trên tiên cảnh, dưới địa ngục… lúc nào đôi ta cũng gần nhau..

Và chàng nói:

– Anh cũng muốn nói với em một câu như thế…

Thuyền gập bão, vỡ, đắm. Trong đêm tối ba người nhẩy lên băng sơn, trôi giạt vào Băng Hoả Ðảo. Họ sống trên đảo đến mười năm. Tạ Tốn, bị Tố Tố bắn độc châm mù hai mắt, ngày ngày ngồi suy nghĩ về sự bí mật của đao Ðồ Long:

Ðồ Long bảo đao
Võ lâm chí tôn
Hiệu lệnh thiên hạ
Mặc cảm bất tòng.
Ỷ Thiên bất xuất
Thùy dữ tranh phong…

Tạ Tốn nổi điên, làm cuộc “tấn công tình dục” Tố Tố. Nói dễ hiểu là Tạ Tốn hiếp dâm Tố Tố. Kỳ quá. Kim Mao Sư Vương Ðại hiệp mà lại đi hiếp dâm? Ðại hiệp mần ký gì cũng được nhưng Ðại hiệp hiếp dâm đàn bà là hổng có được. Người đời không chấp nhận Ðại hiệp làm cái việc tồi bại ấy. Bất cứ tên đàn ông nào trên cõi đời này cũng có thể can tội hiếp dâm nhưng Ðại hiệp là hổng có thể. Ðã là Ðại hiệp là không hiếp dâm. Ðã hiếp dâm thì không phải là Ðại hiệp.

Về chuyện Tạ Ðại hiệp hiếp dâm Ân phu nhân một ông đàn anh văn nghệ của tôi năm xưa nói với tôi khi chúng tôi ở bên bàn thờ Phù Dung Tiên nữ:

– Cậu biết tại sao Tạ Tốn lại bắt Tố Tố với Thúy Sơn lên thuyền đi lên Bắc Hải không? Tại vì Ðại hiệp yêu em trinh nữ Tố Tố. Ðại hiệp yêu em nhưng Ðại hiệp là.. Ðại hiệp, đại hiệp không thể mở miệng bầy tỏ tình yêu như bọn đàn ông tầm thường. Ðại hiệp không thể vồ em được vì danh vọng, vì địa vị, vì tuổi tác của Ðại hiệp. Nhưng yêu em, muốn em thì Ðại hiệp vẫn cứ yêu, cứ muốn. Vì yêu nên Tạ Tốn bắt Tố Tố đi theo. Bắt Tố Tố một mình lên thuyền thì âm mưu lộ liễu qua, Tạ Tốn bắt luôn Thúy Sơn cùng đi. Trên Băng Hoả Ðảo tình yêu bị dồn nén làm Ðại hiệp phát điên, Ðại hiệp chịu không nổi, Ðại hiệp hiếp em…

o O o

Một tín đồ Thiên Chúa Giáo bị cắt cổ ở Pakistan.

Một tín đồ Thiên Chúa Giáo bị cắt cổ ở Pakistan.

Tiếng khóc của Vô Kỵ khi lọt lòng mẹ làm Tạ Tốn tỉnh cơn điên. Ðại hiệp trở lại là Ðại hiệp. Chính Tạ Tốn là người quyết định cho Vô Kỵ trở về đất liền:

– Vợ chồng hiền muội và ngu huynh có thể sống suốt đời trên đảo hoang này — Tạ Tốn nói với Tố Tố, Thúy Sơn — nhưng chúng ta không thể để cho thằng Vô Kỵ sống mãi ở đây. Phải đưa nó về trung thổ, cho nó sống với mọi người, sống như mọi người…

Tuy mù Tạ Tốn vẫn biết được hướng gió. Họ đóng bè, đợi mùa gió thổi về nam là thả bè theo gió về đất liền. Khi vợ chồng Thúy Sơn ôm Vô Kỵ xuống bè, Tạ Tốn cắt dây cho bè trôi còn mình ở lại. Ðến đây Kim Dung quên mất con Bạch Diện Hỏa Hầu.

Khi lên Băng Hoả Ðảo họ bắt và thuần phục được con vượn mặt trắng được gọi là con Bạch Diện Hoả Hầu. Con vượn này không sợ lửa, có sức khoẻ đánh vỡ sọ gấu rừng. Tạ Tốn dậy nó võ công, cho nó bảo vệ Vô Kỵ. Bạch Diện Hoả Hầu cùng xuống bè với Vô Kỵ. Khi bè Thúy Sơn gập thuyền và được vớt, thuyền về đến đất liền, ghé bến, mọi người lên chợ bến mua đồ, Vô Kỵ lên chợ chơi và bị đám Cái Bang bắt đi, không thấy con Bạch Diện Hỏa Hầu gác-đờ-co đâu cả. Nếu có con Bạch Diện Hoả Hầu bên cạnh Vô Kỵ, sức mấy đám Cái Bang bắt cóc được Vô Kỵ một cách quá dễ dàng như thế. Nghe nói có người nhắc Kim Dung mới nhớ nên cả tuần sau người đọc mới thấy hai dòng ngắn về chuyện con Bạch Diện Hoả Hầu đột nhiên mất tích: bè trôi về nam, con Hoả Hầu chịu …nóng không nổi, nhẩy lên một băng sơn trôi trở về biển bắc..!

Trước khi về đến đất liền, trước khi Vô Kỵ bị bắt cóc, bè Thúy Sơn gập thuyền Võ Ðang của Dư Liên Châu, người thứ hai trong Võ Ðang thất hiệp. Khi nghe Dư Liên Châu nói:

– Hiền đệ hãy để hiền muội cùng cháu nhỏ về Bạch Mi giáo, còn hiền đệ theo ta về Võ Ðang thưa chuyện với Sư phụ.

Thúy Sơn đã định nói: “Thưa vâng..” Chàng nhìn Tố Tố, thấy nàng ngước mắt nhìn lên trời, rồi nhìn chàng và  nhìn xuống đất. Chàng nhớ lời hẹn hò trên thuyền tình năm xưa:

– Ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục lúc nào đôi ta cũng gần nhau…

Gia đình, rõ hơn là vợ chồng, chia rẽ, xa nhau rất dễ, rất mau nhưng vợ chồng đoàn tụ lại rất là nhiêu khê, khó khăn, tốn nhiều thì giờ, giấy tờ, tiền bạc. Ðó là quy luật. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, quy luật gia đình chia rẽ dễ, đoàn tụ khó không bao giờ thay đổi. Ân Tố Tố đa tình, thông minh, biết ngay ý đồ Dư Liên Châu định chia rẽ vợ chồng nàng. Thúy Sơn lấy nàng không xin phép Sư phụ Trương Tam Phong, Chưởng Môn kiêm Tổ Sư Sáng Lập Võ Ðang. Nàng là con gái Chưởng Môn Tà giáo Bạch Mi nổi tiếng ác ôn. Sức mấy Trương Tam Phong chịu cho đệ tử yêu kết hôn với con gái Ma giáo. Chỉ cần ông tuyên bố lửng lơ con cá vàng một câu nghe rất có vẻ vô thưởng, vô phạt như: “Ðể đấy ta xét sau..” là có sớm lắm cũng mười, mười lăm muà lá rụng may ra nàng mới được đoàn tụ với chồng.

May quá anh chàng Trương Thúy Sơn khù khờ còn nhớ lời hẹn ước. Chàng xin cho vợ con cùng chàng về núi Võ Ðang. Và thế là đôi người yêu nhau nhất Ðồ Long Ðao Ký ấy cùng chết bên nhau trên núi Võ Ðang.

Một chuyện Tình thật Đẹp.

CHA NÀO, CON NẤY

Đứng giữa: Đầu Xỏ Công An VC Mai Chí Thọ, Huỳnh Bá Thành đứng bên trái Mai Chí Thọ.

Đứng giữa: Đầu Xỏ Công An VC Mai Chí Thọ, Huỳnh Bá Thành đứng bên trái Mai Chí Thọ.

Tin trên báo VC ở Sài Gòn:

Đi xem “thầy” bói, chị Mai tình cờ quen một phụ nữ tự xưng là “nhà báo” có quen biết nhiều quan chức toà án và hứa sẽ chạy án cho chồng chị Mai với giá 360 triệu đồng.

Huỳnh Bá Thạch Thảo, con gái của Công An Huỳnh Bá Thành, bị bắt vì tội lừa tiền.

Huỳnh Bá Thạch Thảo, con gái của Công An Huỳnh Bá Thành, bị bắt vì tội lừa tiền.

Ngày 21/8, Công an TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cho biết: công an đã tạm giữ chị Huỳnh Bá Thạch Thảo, 42 tuổi, ngụ tại đường Phạm Văn Bạch, quận Tân Bình, TP HCM, để  điều tra về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Chị Phạm Thị Tuyết Mai, 34 tuổi, ngụ tỉnh Bình Dương, có chồng bị bắt vì tội đánh bạc. Nôn nóng muốn biết số phận của chồng mình như thế nào, chị Mai đi xem bói để nhờ “thầy” cho biết  mức án của ông chồng chị là bao lâu, tại đây chị Tuyết Mai gặp và quen chị Huỳnh Bá Thạch Thảo.

Thạch Thảo  gợi ý chị Mai muốn chồng trắng án thì phải chung tiền để Thạch Thảo chạy “sân sau”.

Để chị Mai tin tưởng, Thảo đưa tấm danh thiếp ghi rõ họ tên và cơ quan mình công tác kèm số điện thoại liên lạc là báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh – CATPHCM.  Thạch Thảo khoe có quen biết nhiều quan chức cấp cao nên có thể dàn xếp chạy án. Tin lời “nhà báo”, chị Mai đưa Thạch Thảo 360 triệu đồng nhờ chạy cho chồng được trắng án.

Thế nhưng khi tòa mở phiên xét xử thì chồng chị Mai bị tuyên án 12 tháng tù giam. Cho rằng “nhà báo” không làm được việc mà còn lấy tiền nhiều và nghĩ rằng mình bị lừa nên chị Mai nhờ người quen là một nhân viên công an tên Nguyễn Thanh Hải tìm cách đòi Thạch Thảo trả lại tiền.

Chị Mai giả vờ tiếp tục nhờ “nhà báo” tìm cách đưa chồng chị ra khỏi tù sớm và đồng ý chi thêm tiền. Nghĩ rằng “cá cắn câu,” nên sáng 20/8/2014, Thảo về Thủ Dầu Một để nhận tiền của chị Mai.

Trong lúc Thảo đang viết giấy mượn tiền của chị Mai tại một quán cà phê thì anh Nguyễn Thanh Hải cùng đồng đội đến, yêu cầu tất cả về công an phường làm rõ sự việc.

Tại cơ quan công an, Thảo khai nhận việc giả danh “nhà báo” nhằm mục đích lừa đảo, đồng thời chịu viết tờ cam kết trả nợ 360 triệu cho chị Mai trong thời gian sớm nhất.

Qua xác minh, Huỳnh Bá Thạch Thảo là con gái đầu của cố nhà báo lão thành Huỳnh Bá Thành, người nhân viên công an từng làm Tổng Biên Tập Tuần Báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh. Thạch Thảo từng là phóng viên báo CA TPHCM những năm 90. Sau đó vì nhiều lý do Thạch Thảo đã bị tờ báo cho thôi việc.

Hết bản tin về Huỳnh Bá Thạch Thảo trên Internet.

CTHĐ: Chuyện nhân viên công an, ký giả nhà báo Việt Cộng làm tiền, làm bậy là chuyện quá nhiều và quá nhàm ở Việt Nam hiện nay. CTHĐ tôi chú ý đến vụ Huỳnh Bá Thạch Thảo vì thị là con gái của anh công an Huỳnh Bá Thành.

Huỳnh Bá Thành là Việt Cộng nằm vùng nhiều năm trước năm 1975. Y là Hoạ sĩ Ớt vẽ tranh biếm trích trên nhật báo Điện Tín của Chủ nhiệm Hồng Sơn Đông. Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, Huỳnh Bá Thành là viên công an thẩm vấn nhiều ký giả, văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bọn Công An Thành Hồ bắt giam. Y từng viết tiểu thuyết dài Lệnh Truy Nã đăng trên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng. Thời gian Y đắc thế nhất là thời Y làm Trưởng Ban Biên Tập tuần báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh. 

Khi tôi bị bắt lần thứ nhất – lần bị bắt này của tôi không được hai anh Nam Thi – Minh Kiên nhắc đến, dù chỉ nhắc sơ nửa dòng trong quyển Những Tên Biệt Kích Cầm Bút – người phụ trách thẩm vấn tôi là Huỳnh Bá Thành. Lần thứ nhất gặp tôi trong phòng thẩm vấn của Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, Huỳnh Bá Thành tự giới thiệu:

- Tôi là Huỳnh Bá Thành, họa sĩ Ớt báo Đồng Nai. Chắc anh có biết tên tôi. Anh gặp những anh văn nghệ sĩ bị bắt và đã được thả chắc cũng có nghe nói đến tôi.

Tôi có nghe anh em kể vài mẩu chuyện trong tù nhưng thực sự tôi chưa một lần nghe anh em nào của tôi nói đến tên anh Công An VC Huỳnh Bá Thành.

Trước mắt tôi, Huỳnh Bá Thành gầy, nước da mái mái, tái tái, tóc chải sang bên trái cho tôi biết anh thuận tay trái. Anh cho tôi biết bí danh anh là Ba Trung. Anh cũng tự giới thiệu anh là tác giả quyển Vụ Án Hồ Con Rùa.

Tôi không nói cho anh biết là tôi chưa nghe ai nói đến tên anh lần nào, tôi không biết họa sĩ Ớt – đúng ra tôi không để ý đến anh – so với Hoạ sĩ Choé thì Hoạ sĩ Ớt thua xa –  Hoạ sĩ Ớt, so với Hoạ sĩ Choé thì Hoạ sĩ Ớt thua xa — và tôi cũng chưa từng để mắt đọc nửa trang truyện Vụ Án Hồ Con Rùa.

Tôi bị bắt chiều thứ Bảy – công an đến nhà tôi lúc 11 giờ trưa, khám xét, tìm tang vật mãi đến khoảng 5 giờ chiều tôi mới vào đến Biệt giam Số 15 khu B, Nhà Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của Sở Công An VC Sài Gòn – 10 giờ sáng Chủ nhật hôm sau Huỳnh Bá Thành đã gọi tôi ra phòng thẩm vấn.

Mỗi lần Ba Trung thẩm vấn tôi rất lâu. Ngoài phần hỏi đáp ghi biên bản còn có phần nói chuyện linh tinh, lang tang về văn nghệ, văn gừng, chính em, chính chị. Ba Trung tỏ ra thích thú nói chuyện văn nghệ, Y thường gọi tôi ra thẩm vấn vào buổi chiều, ngồi mãi đến chín, mười giờ tối mới thả tôi về xà lim, VC gọi theo Tầu là biệt giam. Tôi không lấy gì làm phiền nhiễu vì những buổi hỏi cung dài lòng thòng này. Mới bị bắt nằm xà lim một mình buồn thấy mồ đi. Được ra ngoài ngồi thoải mái, được có người nói chuyện qua lại – dù người đó là Công An ViXi – cũng đỡ buồn hơn là cứ nằm đến mỏi nhừ cả người trên nền xi măng xà lim.

Tôi phải viết là Huỳnh Bá Thành đối xử với tôi rất nhã, lịch sự. Anh ta không nói nặng tôi nửa câu, không tỏ ra khinh bỉ hay vô lễ với tôi, anh cũng không đe dọa tôi nửa lời. Anh có thể đe dọa tôi, đánh tôi, chửi tôi, nhưng anh đã không làm những việc ấy. Anh cũng không nói lời gì để tôi thêm buồn, thêm sợ. Anh có đọc tập thơ của tôi. Sau ngày oan nghiệt 30 Tháng Tư 75, tôi có làm một số bài thơ vẩn vương, chép vào một tập để ngay trên bàn. Bọn công an đến nhà tôi bắt tôi, lục xét nhà tôi, vồ được tập thơ này của tôi. Giờ này tập thơ xưa của tôi chắc vẫn nằm yên trong kho Lưu trữ Tang vật của Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh, trong tập có bài thơ tả cảnh Chợ Trời Sài Gòn sau ngày ta mất nước:

Chợ Trời

Trời chiều đi dạo Chợ Trời
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra
Lạc loài áo gấm, quần hoa
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa
Bán đồ toàn những người ta
Mua đồ thì rặt những ma cùng Mường
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường
 ?
Đầu Âm Phủ, cuối Thiên Đường là đây.

Huỳnh Bá Thành đọc bài thơ trên của tôi, Y nói với tôi:

“Anh làm thơ gọi chúng tôi là Mán, là Muờng, nếu các chú đến bắt anh mỗi chú cho anh một đấm thôi, giờ này anh nằm chứ anh không ngồi như vầy được.”

Y có đọc bài thơ Buồn của tôi, trong bài có câu:

“Em đứng mỏi mòn sau dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đợi trông.
Anh đứng võ vàng sau khung cửa sổ
Như người tù nhìn trời qua chấn song..”

Nên Y nói:

“Nay anh được nhìn trời qua chấn song rồi đó, anh hài lòng chưa?”

Bọn ký giả Thành Phố Hồ Chí Minh viết về Huỳnh Bá Thành:

Những năm 1971-1973, ở Sài Gòn và miền Nam,  người đọc báo, nhất là đọc báo Điện Tín đều biết tên tuổi “Họa sĩ Ớt” ký dưới những bức tranh biếm họa độc đáo, nhưng ngày đó ít ai biết  tên thật của Hoạ sĩ Ớt  là Huỳnh Thanh Tâm. Còn Huỳnh Bá Thành là bút danh của Ớt làm báo sau ngày năm 1975. Huỳnh Bá Thành sinh năm 1942, qua đời năm 1993, vì một cơn bạo bệnh. Huỳnh Bá Thành, quê làng Khái Đông, H. Hòa Vang, nay là P. Hòa Hải, Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Ngay ở quê nhà Hòa Vang, Đà Nẵng cũng không mấy người biết anh, một chiến sĩ tình báo cách mạng hào hoa, từ ngày anh lặng lẽ rời Trường Trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng vào Sài Gòn hoạt động những năm 1963 cho đến sau này.

Trong những ngày đi tìm tài liệu để biên soạn cuốn “Đà Nẵng -mảnh đất con người”, tôi càng thật sự bất ngờ và cảm phục tính cách, phong cách của một “thư sinh” trong bão táp cách mạng sống động ở miền Nam. Nhất là khi tôi đọc được các tập sách thuộc loại tài liệu lịch sử như “Điệp báo A10″ của Nông Huyền Sơn, “Hồi ký không tên” của Lý Quý Chung, trong từng nơi, từng lúc, bằng tình cảm trân trọng, các tác giả đã viết về Huỳnh Bá Thành khá chi tiết. Mới đây, trong một lá thư của ông Võ Vân, cháu ruột của cố Chủ tịch nước Võ Chí Công, là cựu thành viên Cụm Điệp báo A10, hiện đang công tác ở Sở Giao thông Vận tải TPHCM, được tác giả Nguyễn Lê ghi lại, càng hiện rõ chân dung người con của Đà thành, người đã có một thời lặng lẽ cùng đồng nghiệp, đồng đội góp phần khuấy động chính trường Sài Gòn vốn chao đảo bằng nhiều hình thức đấu tranh đa dạng, quyết liệt với kẻ thù cho đến ngày toàn thắng.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, vùng Hòa Hải, Non Nước có nhiều căn cứ của địch đóng chốt, nơi đây cũng là vùng ngoại vi vành đai thành phố có nhiều cơ sở hoạt động của ta trong thế giằng co ác liệt. Huỳnh Bá Thành công tác và trưởng thành trong chiếc nôi cách mạng đó, rồi tham gia phong trào học sinh, sinh viên Đà Nẵng cho đến lúc vào Sài Gòn tiếp tục học tập, móc nối cơ sở, được tổ chức đưa vào mạng lưới tình báo nội thành, mang mật danh Ban An ninh T4 (Sài Gòn – Gia Định).

Không gì tốt hơn, khoác áo họa sĩ, nhà báo, là điều kiện để Ớt (Huỳnh Bá Thành) che mắt kẻ thù, có quan hệ rộng rãi với nhiều đối tượng xã hội và đi lại hợp pháp dễ dàng. Huỳnh Bá Thành cùng làm việc trong nhóm các nhà báo uy tín, có lập trường, tư tưởng tiến bộ, yêu nước, chống Mỹ – Thiệu – Kỳ, tập hợp ở nhật báo Điện Tín, như Lý Quý Chung, Trương Lộc, Trần Trọng Thức, Cung Văn (Nguyễn Vạn Hồng), Minh Đỗ, tờ Điện Tín do Lý Quý Chung làm chủ bút.

Sở dĩ tờ báo thu hút đông đảo người đọc ở miền Nam lúc bấy giờ là nhờ các chuyên mục nóng bỏng tính thời sự. Đặc biệt, là những bức biếm họa bằng bút pháp tả thực lợi hại, sắc sảo của họa sĩ Ớt. Có thể nói hầu hết các nhân vật tai to mặt lớn, tướng lĩnh háo danh, khát máu, tay sai của Mỹ ở “Phủ đầu rồng”, thượng, hạ viện Sài Gòn, đến Bôn – ke Đại sứ quán Mỹ, Tòa Bạch Ốc Hoa Kỳ như Johnxon, Nixon, H.Kissinger, kể cả những sự kiện chính trị đen tối như vụ Watergate; việc Tướng Mỹ Fred Weyand cuốn cờ ở Sân bay Tây Sơn Nhất… đều là đối tượng, mục tiêu để Ớt đả kích, vạch trần, tố cáo. Nhiều tác phẩm của họa sĩ Ớt, được các báo ở Mỹ, Pháp, Australia, Canada, Tây Đức, Nhật Bản trích đăng lại. Trong vỏ bọc nhà báo, hầu hết các sự kiện, vụ việc lớn nhỏ xảy ra trong nội đô, Huỳnh Bá Thành đều có mặt trực tiếp viết bài, vẽ tranh, nhanh chóng cung cấp tình hình, tin tức về cho cấp trên, nắm bắt diễn biến tư tưởng, động thái của giới tri thức, văn nghệ sĩ để có cách hướng dẫn dư luận, đối phó kịp thời.

Trong Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, người chỉ huy trực tiếp của Ớt bị địch bắt. Ớt mất liên lạc. Trong khi chờ đợi móc nối trở lại, Ớt vẫn tiếp tục chiến đấu bằng vũ khí ngòi bút của mình. Đến khi được trở về với đơn vị Cụm A10, Ớt được giao một công việc cực kỳ khó khăn – Với tư cách ký giả trong nhóm đối lập, có nhiều nhà báo, nghị sĩ, thân thiết với Tướng Dương Văn Minh chống Thiệu, Ớt đã tìm cách vào dinh Hoa Lan (biệt thự Tướng Minh) tìm hiểu các thế lực chính trị đang bao quanh vị tướng này, đồng thời kết thân với ông ta, đàm đạo thời cuộc rồi vẽ tranh viết bài đưa lên mặt báo đập lại luận điệu kéo dài chiến tranh, trì hoãn ký kết hòa đàm Paris về Việt Nam của Nguyễn Văn Thiệu. Ớt đã thực hiện hoàn hảo nhiệm vụ.

Thêm một tư liệu quý về Cụm Điệp báo A 10 và Huỳnh Bá Thành. Suốt thời gian hoạt động ra, vô nội thành bưng biền mà không bị lộ, bị địch tình nghi, bắt bớ, bảo toàn được mạng lưới giữa hang ổ địch. Có người nghi Huỳnh Bá Thành làm việc cho Tình báo Mỹ – Ngụy, hay công an chìm, mà không biết anh là điệp viên Cụm Điệp báo A10, thuộc Ban An ninh T4, nhận chỉ đạo của trên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Hòa bình năm 1975, Huỳnh Bá Thành được về làm việc ở Sở Công an TP Hồ Chí Minh với quân hàm Trung tá. Huỳnh Bá Thành có công tham gia đề xuất chuyển tờ tin nội bộ của Sở, thành tờ báo Công an khi sang công tác ở đây, Huỳnh Bá Thành được cử làm Phó tổng biên tập, rồi Tổng biên tập tuần báo Công An, anh đã mày mò xây dựng, cải tiến từ nội dung đến hình thức, tìm ra công thức làm báo hiện đại, cho ra tờ Công an giữa làng báo TPHCM và cả nước. Năm 1980, Huỳnh Bá Thành tập hợp biên soạn xuất bản toàn bộ các tác phẩm in báo của anh trong cuốn “Ký sự nhân vật”, mà mỗi lần xem lại, người ta vẫn còn cảm giác lôi cuốn, hấp dẫn, bởi đề tài, và nét vẽ “ma thuật” của Ớt. Ớt là một nhà báo hết lòng với nghề, lấy ngòi bút tiến công kẻ thù. Nhưng trước hết, Ớt là một nhà hoạt động tình báo trầm tĩnh, gan dạ trong đội ngũ chiến sĩ tình báo cách mạng luôn làm kẻ thù run sợ, bị động đối phó, và Ớt là một người Cộng sản, trung thành với lý tưởng mà Ớt đã chọn và cống hiến.

Người viết Đào Hiếu bốc Huỳnh Bá Thành:

Huỳnh Bá Thành

Viết đến đây tôi nhớ anh Huỳnh Bá Thành, cố tổng biên tập báo Công an TPHCM, một người bạn cũng ở trong phong trào sinh viên chống Mỹ ngày xưa.

Năm ấy thấy tôi sống vất vả quá, anh bảo tôi làm “ngoài giờ”, phụ anh sửa bài. Có lần báo anh có một sơ xuất gì đó, anh bị thành ủy gọi lên nhắc nhở, khi trở về, anh nói oang oang trong cuộc họp toà soạn (có tôi dự):

- Các anh chị biết tôi đã nói gì với thành ủy không? Tôi nói: Thời chế độ cũ, báo chí Sài Gòn phần lớn là đối lập. chính bản thân tôi thường vẽ tranh châm biếm ông Thiệu và gọi ông ta là Sáu Thẹo mà họ cứ cười. Bây giờ tất cả các báo đều của Đảng. Nhà báo chúng tôi ai cũng theo Đảng, nịnh Đảng muốn chết vậy mà hở một chút là phê bình kiểm điểm. Các anh thật quá đáng!

Một người khác là nhà thơ châm biếm nổi tiếng, cũng là đảng viên, gốc sinh viên tranh đấu, từng là cán bộ có cỡ của một tờ báo lớn của TPHCM, bữa kia anh nhậu với tôi, kể:

- Có thằng nhà báo Pháp gặp tao, nó hỏi: “Việt Nam hiện nay có mấy tờ báo và tạp chí?” Tao đáp: “Có chừng 700.” Nó kêu: “Ô, thế thì báo chí Việt Nam thật là phong phú.” Tao nói: “Coi vậy mà không phải vậy. Vì có 700 tờ báo nhưng chỉ có một ông Tổng biên tập.”

Thằng Tây nó cười gần chết.

TRÚC GIANG viết về  HUỲNH BÁ THÀNH.

Trích Internet. Blog Sơn Trung:

Họa sĩ Ớt, tên hung thần của văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Sau ngày 30-4-1975, bọn Việt Cộng nằm vùng lòi mặt ra hết, trong đó, người hung hãn nhất, tên VC gây kinh hoàng trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, là họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành. Tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, bí danh là Ba Trung,  Y làm trưởng ban “chống tình báo CIA” của Sở Công An Thành Phố Sài Gòn.

Chính họa sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành, chỉ huy những cuộc theo dõi, bố ráp, bắt giữ, thẩm vấn và giam cầm những văn nghệ sĩ nạn nhân, bị cho là gián điệp của CIA Hoa Kỳ. Đồng thời bỏ tù những tu sĩ Phật Giáo bị gán tội phản cách mạng.

Hai vụ điển hình là, “Vụ án Thập nhị tăng ni Già Lam” và “Vụ án Hồ Con Rùa” hay là vụ “Những tên biệt kích cầm bút”.

Vụ Án “Thập nhị Tăng ni Già Lam”

Ngày 30-3-1984,  buổi sáng, Hoà thượng Thích Trí Thủ, trụ trì chùa Già Lam, Phú Nhuận, được mời lên văn phòng Mặt Trận Tổ Quốc, Hòa thượng được cho nghe cuộn băng ghi tiếng nói – lời khai – của một tăng sinh bị bắt về “tội phản động”. Tăng sinh đó khai Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ, Thượng toạ Thích Trí Siêu và Ni cô Thích Trí Hải là những người trong ban lãnh đạo của một tổ chức phản động, mưu đồ lập chiến khu gây bạo động

Trong khi Hòa thượng Trí Thủ ở văn phòng Mặt Trận Tổ Quốc, thì tại chùa Già Lam, hai Thượng tọa Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị bắt. Đồng thời, ni cô Trí Hải cũng bị bắt từ Hố Nai đưa về trung tâm thẩm vấn và tạm giam ở Số 4 đường Phan Đăng Lưu.

Vài ngày sau đó, Hòa thượng Trí Thủ bị chết bất đắc kỳ tử, và thông tin nước ngoài cho rằng ông bị bọn VC ám sát.

Trong đợt hành quân lớn, 19 tăng, ni, cư sĩ khác cũng bị bắt, giam đến ngày 30-9-1988, (4 năm) mới đưa ra tòa xét xử.

Hai Thuợng tọa Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu bị tòa kết án tử hình.

Hai án chung thân dành cho hai cư sĩ Phan Văn Ty và Tôn Thất Kỳ.

Hoà thượng Thích Đức Nhuận lãnh án 10 năm. Các vị khác bị từ 4 đến 15 năm.

Ngày hôm sau, 1-10-1988, báo Sài Gòn Giải Phóng loan tin, hai vị Tuệ Sĩ và Trí Siêu ngoan cố, không chịu nhận tội. Đó là “tội tán thành, ủng hộ, che chở, đùm bọc hành động phản cách mạng, lật đổ chế độ Cộng Sản”.

Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu là hai nhà sư uyên bác nhất của Phật Giáo Việt Nam.

Thích Tuệ Sĩ, tục danh là Phạm Văn Thương, một học giả uyên bác về Phật Giáo. Là Giáo sư thực thụ của Đại học Vạn Hạnh, thông thạo tiếng Anh, Pháp, Trung Hoa, Nhật, Pali, Phạn và tiếng Đức.

Thích Trí Siêu là giáo sư, tiến sĩ, sử gia, thiền sư Lê Mạnh Thát.

Do áp lực quốc tế và sự vận động của người Việt ở nước ngoài, ngày 15-11-1988, Hà Nội phải mở phiên xử phúc thẩm để giảm hai án tử hình xuống còn 20 năm tù. Hai án chung thân giảm xuống còn 18 và 16 năm. Hoà thuợng Thích Đức Nhuận giảm xuống còn 9 năm tù.

Những cuộc bố ráp, bắt giam, thẩn vấn và kết tội nhóm Tăng Ni Già Lam là do Họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành trực tiếp chỉ huy.

Vụ án “Hồ Con Rùa” hay “Biệt Kích Cầm Bút” là việc bắt giam môt số văn nghệ sĩ Sài Gòn.

“Biệt kích cầm bút” là cái tên do 2 đại tá VC, Tổng và Phó Ban biên tập tuần báo Công An Saì Gòn ghép tội cho các văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30-4-1975 để bắt bỏ tù họ.

Ngày 2-4-1984, một vụ nổ lớn xẩy ra tại tháp Hồ Con Rùa ở ngã tư Duy Tân – Trần Quý Cáp thuộc khu vực nhà thờ Đức Bà quận 1 Sài Gòn. Báo nhà nước quy kết tội phá hoại, một người trong số chủ mưu thiệt mạng và những người khác bị bắt.

Sau vụ nổ, hơn 200 văn nghệ sĩ, nhà văn, giáo sư bị bắt đi tù. Người chỉ huy, điều động bắt bớ  chính là họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung. Những nhân vật nổi tiếng như Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Sĩ Tế… Đặc biệt, Nhã Ca là nhà văn nữ duy nhất có tên trong danh sách “Mười Biệt Kích Cầm Bút” (BKCB) bị cầm tù trong cuộc hành quân lớn của công an Sài Gòn.

Mười “BKCB” gồm có: Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Khuất Duy Trác, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Ngọc Tư và Lý Thụy Ý.

Ban đầu, những văn nghệ sĩ miền Nam bị ghép vào tội “Gián điệp”, nhưng đến năm 1988, đổi lại thành tội “Tuyên truyền phản cách mạng”.

Vụ án văn nghệ sĩ Sài Gòn được công an in thành sách, dựng thành phim  mang tên “Vụ Án Hồ Con Rùa”.

Thật ra, có một số bài viết được gởi ra nước ngoài. Luật sư Triệu Quốc Mạnh, một tên VC nằm vùng tại Nha Cảnh Sát Đô Thành, với cấp bậc đại úy, được chỉ định là luật sư biện hộ cho các văn nghệ sĩ, Mạnh nói với các nạn nhân: “Các anh viết bài gởi ra nước ngoài, dù chỉ than thở nghèo đói cũng là bôi bác chế độ. Các anh làm cho họ đau lắm. Các anh làm cho họ đau, họ bỏ tù các anh, như vậy là huề”. Luật sư biện hộ mà nói với thân chủ của mình như thế, thì biện hộ theo cái kiểu gì đây?

Ớt bị thất sủng và cái chết bất đắc kỳ tử.

Sau thời gian gây kinh hoàng cho giới văn nghệ sĩ, khi anh Trần Bạch Đằng, bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý, người đỡ đầu cho họa sĩ Ớt bị điều ra Bắc, và Hà Nội đưa người cài vào các cơ quan miền Nam, thì Huỳnh Bá Thành mất chỗ dựa, không còn tung hoành được như trước nữa. Ớt đã từng tống tiền, bắt địa những người Hoa xin xuất cảnh ra nước ngoài, anh ta được xem như tay tổ tham nhũng, cũng giống như Năm Thạch, đại tá VC Nguyễn Văn Năm, làm giám đốc Sở Công tác về người nước ngoài, trụ sở số 161 đường Nguyễn Du, cấp giấy xuất cảnh cho các diện con lai, người đi nước ngoài chữa bịnh và chương trình ODP, xum họp gia đình do thân nhân bảo lãnh. Năm Thạch vốn là VC nằm vùng, từng làm quản lý  đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga.

Thạch là tên CAVC ăn hối lộ trắng trợn, nên bị Hà Nội cho người vào bắt ép phải tự tử tại nhà Y ở đường Công Lý, công an mở cửa nhà cho công chúng vào xem xác chết Năm Thạch. Ngay sau đó, vợ con Năm Thạch bị đuổi ra khỏi nhà để bọn CA Hà Nội đập tường, đào nền nhà tìm vàng do Năm Thạch chôn dấu.

Huỳnh Bá Thành bị thất sủng ngay sau khi người em ruột của Y vượt biên qua Mỹ. Sau chuyến Huỳnh Bá Thành đi công tác qua Pháp, lý do là để tổ chức hệ thống gián điệp VC ở Pháp, nhưng thực ra Y sang Pháp với mục đích về tài chánh, như việc chuyển tiền, vàng từ Việt Nam sang Pháp. Khi Huỳnh Bá Thành từ Pháp về VN thì bị chết bất đắc kỳ tử, vài ngày sau tên đàn em thân tín của Thành, tên công an chuyên thu tiền cho Thành, là Trung úy Sơn, người Quảng Nam, cũng chết đột ngột với nguyên nhân mờ ám. Dư luận cho rằng Huỳnh Bá Thành, và tên Sơn, bị bọn Công An đầu độc, thanh toán. Nguyên nhân vì ân oán trong những cuộc tranh ăn.

CTHĐ: Theo tôi, anh Công An Huỳnh Bá Thành không phải là nhân vật quan trọng như được mô tả trong những bài viết trên đây. Bọn tổ chức bắt văn nghệ sĩ, tăng ni là bọn cấp trên của Huỳnh Bá Thành.

Bố làm công an VC, bị đồng bọn giết, con gái lừa đảo, bị bọn Công An VC bắt giam. Một nhà lụn bại.

Trời có mắt.

NHẠC SĨ TÔI QUEN

Qua bến nước xưa..

Qua bến nước xưa..

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ngày 22 Tháng Tám, 2014.

Tôi viết về một số nhạc sĩ tôi quen, tôi không viết về những nhạc sĩ tôi biết. Nhạc sĩ tôi biết thì nhiều, nhạc sĩ tôi quen – thân đến độ xưng hô mày tao – thì không bao nhiêu. Hai nhạc sĩ tôi thân và biết nhiều về đời tư nhất là Trọng Khương và Lê Trọng Nguyễn.

Trọng Khương – Bánh Xe Lãng Tử, Lê Trọng Nguyễn – Nắng Chiều.

Internet ghi: Nhạc sĩ Trọng Khương là một trong những nhạc sĩ tân nhạc Việt Nam tiên phong, tác giả ca khúc “Bánh Xe Lãng Tử.” Có rất ít tài liệu về ông. Chỉ biết Trọng Khương làm nhân viên trong Ban Kiểm soát Kỹ thuật, Đài Phát thanh Sài Gòn từ trước 1953.

CTHĐ: Trọng Khương không có thời gian nào làm việc trong Đài Phát Thanh Sài Gòn. Anh là một công tử Hà Đông: anh sinh trưởng ở thị xã Hà Đông. Nhà anh ở cùng một con phố với nhà tôi. Anh hơn tôi khoảng 5 tuổi. Trước năm 1945 ở Hà Đông, anh là bạn của ông cậu tôi, ông anh tôi. Anh có tập tuần báo “ Cậu Ấm, Cô Chiêu,” khoàng 30 số báo, từ Số 1 đến Số báo cuối cùng. Đóng thành tập, bìa các-tông. Từ 1942 đến 1945 tôi vài lần đến nhà anh hỏi muợn “Cậu Ấm, Cô Chiêu” về đọc.  Trang bìa sau đăng truyện Tranh Vẽ của Họa sĩ Mạnh Quỳnh. Hai nhân vật của truyện này là hai anh nhô tên Vá, tên Vếu.

Trước 1945 ở Hà Đông Nhạc sĩ Trọng Khương tên là Thiêm, Trọng Khương là tên anh tự đặt. Từ năm 1943 Trọng Khương đã chơi nhạc. Năm đầu anh chơi accordéon, năm 1944 anh chuyển sang guitare espagnole. Năm 1952 anh là nhân viên Phòng Năm, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Quốc Gia Việt Nam. Năm ấy quân đội Việt Nam tổ chức theo Quân Đội Pháp. Phòng Năm – Cinquième Bureau – Phòng Tâm Lý Chiến. Năm 1952 Thiếu Tá Trần Tử Oai là Trưởng Phòng Năm. Một số nhạc sĩ, ca sĩ được tuyển vào làm nhân viên Phòng Năm. Trọng Khương, Hoàng Giác, Vũ Huyến, Lê Đô.. v..v..trở thành quân nhân với cấp bậc Trung Sĩ đồng hoá. Từ năm 1952 Phòng Năm được đặt ở Sài Gòn. Năm 1952  Trọng Khương, Hoàng Giác, Vũ Huyến, Lê Đô đã làm việc trong Phòng Năm ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.

Năm 1956, 1957 tôi trở thành bạn mày-tao với Trọng Khương. Anh cho tôi biết năm 1947 anh bị Mật Thám Tây bắt, giam ở Nhà Tiền. Tôi nghe nói về Nhà Tiền Hà Nội nhưng không biết cái nhà đó ở đâu trong thành phố Hà Nội. Anh kể chuyện khi Mỹ cho quân Pháp những thùng thịt bò đông lạnh, một vài thùng được đưa đến Nhà Tiền cho tù ăn. Nhà bếp mở thùng thấy những tảng thịt bò đông lạnh cứng hơn gỗ lim. Dao búa không sao cắt xẻ được những tảng thịt bò này. Cả nửa ngày tù hì hục mới được chỉ cách dùng nước sôi dội lên thịt cho thịt mềm ra. Anh kể năm 1948 quân Pháp đánh lên Việt Bắc. Một số tù biết tiếng Pháp trong Nhà Tiền được tuyển làm interprète – thông ngôn – đi cùng quân đội Pháp. Sau chiến dịch, khi trở về những tù nhân interprète này được trả tự do. Trọng Khương từ Nhà Tìền đi chiến dịch Việt Bắc.

Sau 1954, ở Sài Gòn, Trọng Khương có vợ con. Anh nghiện hút nặng nên gia đình anh tan vỡ. Vợ anh nuôi con. Từ năm 1965 anh không kiếm được đồng nào, anh sống nhờ những nhà người quen. Sau năm 1975 những người quen anh không ai có thể cưu mang anh, anh chết trong Nhà Ga Hoà Hưng. Bản nhạc nổi tiếng nhất của anh là bài Bánh Xe Lãng Tử:

Bánh xe quay nhanh nhanh
Chiếc thân xe rung rinh
Chìm trong làn cát trắng
Xe nhịp nhàng quay bánh lướt
Hồn ta mờ khuất trong mênh mông

Ta luyến lưu một kiếp giang hồ
Dù rằng cuộc sống vô bờ
Tim nồng giòng máu vô tư

A ha ha! Suối in hình chiếc xe tàng
Đêm nao đập vỡ cây đàn, giận đời nào ai mắt xanh

Vó câu bấp bênh, trên đường gian nan
Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn

Xe lăn êm êm dưới ánh trăng vàng
Môi ai say sưa hé mấy cung đàn
Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng

Vui ca lên đi trong chiếc xe già
Sau khi men say lắng mấy tơ đàn
Hồn ta vụt bước lên trời xanh lam

Đây là lời bản nhạc thứ hai của Trọng Khương:

Đường về nhà tôi

Đường về nhà tôi xa quá ai ơi
Qua biết bao sông còn đi nhiều lối
Đường về nhà tôi quen quá đi thôi
Sau mấy nương dâu nhà nép bên đồi

Đường mòn nằm im mơ tiếng chân ai
Chân bước hiên ngang người trai ngày ấy
Đường mòn lặng nghe trong gió heo may
Như tiếng chân ai vang trong ngàn cây

Nhà tôi như một bức tranh
Có ba gian nhà gỗ với giàn thiên lý xanh
Đằng xa nước hồ in bóng
Liễu buồn rung thành tiếng với đàn chim trìu mến
Chiều lam mờ trong khói sương
Những mái tranh nhỏ bé với hồn quê vấn vương
Đường quen ai về nơi cũ
Nhắn rằng tôi còn nhớ cho vợi bao nhớ thương

Lạc loài lìa quê lê gót tha hương
Chân bước hoang mang lòng đau nhiều nỗi
Chiều nào ngoài thôn tiếng guốc reo vui
Xa quá đi thôi đường về nhà tôi

Lan Đài, Chiều Tưởng Nhớ:

Tìm kiếm mãi chỉ hoài công thôi
Còn riêng anh tóc xanh buồn vây quanh
Nhớ thương em thương mãi hoài
Đường thêu hoa nay úa phai

Chiều đi lặng lẽ
Thương nhớ muôn bề
Khi người yêu đã chết.
Nhạc thu chưa thấy về.

Chiều buông mờ sương
Quạnh vắng phố phường
Khi người yêu đã chết
Nhạc tình sao luyến thương?

Bàn tay đâu tìm không thấy nữa!
Bờ môi đâu, mắt đâu ôi tìm đâu?
Dấu chân em xa vời vợi
Nghìn muôn xưa quên lãng rồi

Hồn chìm tưởng nhớ
Dòng thư xanh mờ
Hôn tình thư em viết
Gửi anh xưa đến giờ

Chiều đi lặng lẽ
Mộ chí  hoa tàn
Ôi màu hoa tang trắng
Liệm tình anh nát tan

Một chiều Sài Gòn năm 1983 khoảng 5 giờ, tôi đạp xe đến nhà Lê Trọng Nguyễn rủ anh đi uống ruợu. Những năm ấy, như mọi người Sài Gòn – hai chúng tôi quá buồn. Không có tiền, Nguyễn và tôi thường đến một quán rượu nghèo ở ven đường xe lửa Cổng Số 6. Quán rượu này có thể là quán rượu nghèo nhất hành tinh xanh, nôm na là Trái Đất. Năm giờ chiều quán mới dọn ra. Một tấm nylon căng bên bức tường căn nhà ven đường rầy. Vài cái bàn gỗ thông thấp tè. Quán chỉ có một thứ rượu đế giá một đồng tiền Hồ một ly, một gói lạc rang một đồng một gói. Mỗi chiều chúng tôi đến quán ngồi từ 5, 6 giờ đến 8,9 giờ tối. Mỗi tên uống hai ly rượu, nhâm nhi với hai gói lạc rang. Có 10 đồng chúng tôi qua một buổi chiều.

Tôi quen Lê Trọng Nguyễn qua Duy Sinh. Năm 1980 Duy Sinh đi chui sang Mỹ. Tôi trở thành người bạn thân của Nguyễn. Trong buồn phiền và tuyệt vọng, tôi có mấy câu thơ tặng Nguyễn:

Xót mày dạ trúc, lòng tơ,
Họa cung đàn mọi, bây giờ hẳn đau.
Tóc chia hai thứ trên đầu,
Thương thì đã muộn, mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo.

Đầu năm 1983 Nguyễn đưa tôi bản nhạc anh mới sáng tác, bản hành khúc ngắn. Anh bảo tôi:

“Tao tặng bản này cho những kháng chiến quân. Mày làm lời cho tao.”

Tôi nói:

“Thường thì chỉ có Thơ phổ Nhạc. Ít khi có Nhạc trước, Thơ sau. Tao mù tịt về nhạc. Tao phải nghe đàn bản này nhiều lần mới làm lời được.”

Nguyễn viết lời rồi đưa bản nhạc cho tôi. Tôi đặt tên bản nhạc là “Tiếng Hát Trở Về.” Tôi đặt tên tác giả là Trung Nhân, viết  lời giới thiệu:

“Tác giả Tiếng Hát Trở Về là một nhạc sĩ tên tuổi. Nhạc sĩ sống ờ Sài Gòn nên ta tạm gọi ông là Trung Nhân.”

Tôi gửi bản nhạc sang một số bạn tôi ở Pháp, ở Mỹ. Bản nhạc được công bố trên một số báo Việt ở Pháp và Mỹ.

Cuối năm 1983 Nguyễn và vợ con đi sang Mỹ. Gia đình vợ Nguyễn làm bảo lãnh. Vì các con nhỏ, Nguyễn phải bỏ bà mẹ ở lại. Mẹ anh chỉ có anh là con trai và cô em gái anh. Cô em sớm qua đời, để lại con gái sống với bà ngoại và ông bác. Nguyễn rất đau lòng nhưng vì các con mà phải theo vợ ra đi.

Một chiều trên xe đạp tới cửa nhà Nguyễn, tôi gặp Lan Đài và con gái anh từ nhà Nguyễn đi ra. ai bố con chở nhau trên xe đạp. Tôi dừng xe trao đổi vài câu với Lan Đài. Khi vào nhà tôi nói với Nguyễn:

“Tao vừa gặp Lan Đài với con gái nó ngoài kia. Tao thấy nó có vẻ như muốn nói gì với tao mà lại không nói.”

Nguyễn:

“Mày tinh ý đấy. Bố con nó sắp đi chui. Nó đến từ biệt tao.”

Vài ngày sau gặp lại nhau, Nguyễn nói như khóc:

“Lan Đài nó chết rồi. Nửa đêm, từ taxi lên tầu ở cửa sông, nó ngã xuống sông. Người ta tìm được xác nó rồi.”

Tôi hỏi:

“Con nó có đi được không?”

“Con nó cũng không đi được.”

Tôi đọc thấy trên tuần báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ Giải Phóng loan tin “ Nhạc sĩ Lan Đài về quê ăn giỗ, bị bạo bệnh qua đời.”

o O o

Internet ghi về Duy Trác:

Tên thật Khuất Duy Trác, là một ca sĩ nổi tiếng, thành danh ở Sài Gòn từ những năm trước 1960. Tuy là một ca sĩ tài tử – không chuyên nghiệp – Duy Trác được coi là một trong những giọng ca Nam lớn nhất của tân nhạc Việt Nam.

Khuất Duy Trác là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Tháng Sáu năm 1975 ông bị đi tù khổ sai. Một hôm, ở một trại tù miền Bắc ông cùng các bạn tù – toàn là sĩ quan – cuốc đất, đào mương ở bên đường vào trại tù. Thấy các bà vợ tù vào trại thăm nuôi chồng đi trên đường, một ông tù hỏi:

“Sài Gòn có gì vui không, mấy chị?”

Một bà trả lời:

“Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Cảm khái vì câu trả lời, người tù Duy Trác làm bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Lời bản nhạc:

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
Sài Gòn có vui ? Sài Gòn có vui ?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ:
“Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ
Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
Tôi sẽ nguyện cầu cho Tình Yêu và cuộc Sống
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Cám ơn Sài Gòn tôi sẽ trở về
Sài Gòn mến yêu ! Người tình dấu yêu ! Tôi sẽ trở về !

Năm 1980 người tù khổ sai sĩ quan Duy Trác trở về Sài Gòn. Bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui..” được gửi ra nước ngoài. Tháng Tư năm 1984 nhạc sĩ tác giả “Sài Gòn chỉ vui…” bị bọn P25 Việt Cộng bắt. Chúng giam ông 4 năm ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu và Nhà Tù Chí Hoà. Ông bị xếp vào nhóm tù văn nghệ sĩ  mà bọn Phản Gián VC gọi là “Bọn Biệt Kích Cầm Bút.” Sau 4 năm tù, nhóm Biệt Kích Cầm Bút ra toà, người tù tác giả “ Sài Gòn chỉ vui..” bị án tù 4 năm. Vừa phơi rốn đủ 4 năm, ông ra khỏi tù ngay..

o O o

Lê Trọng Nguyễn trên Intenet:

Lê Trọng Nguyễn (1926-2004) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả ca khúc Nắng chiều. Lê Trọng Nguyễn không sống bằng âm nhạc. Năm 1965, ông làm Giám đốc công ty Centra Co., một công ty thương mại của Pháp. Từ năm 1968, ông là Giám đốc điều hành của công ty Sealand tại Đà Nẵng. Năm 1970 sau khi lập gia đình, ông từ bỏ chức vụ Giám đốc công ty SeaLand về sống tại Sài Gòn. Năm 1973, ông làm Giám đốc nhà máy Dầu Hỏa Cửu Long. Sau biến cố 1975, ông mở lớp dạy nhạc tại nhà và tự chế tạo các loại đàn do chính tay ông làm để sinh sống.

Lê Trọng Nguyễn đến Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 1983, định cư tại Rosemead cùng vợ và bốn người con. Ông mất ngày 9 tháng 1 năm 2004 tại bệnh viện City of Hope, Rosemead vì bệnh ung thư phổi.

Lê Trọng Nguyễn viết ca khúc đầu tay “Ngày mai trời lại sáng” năm 1946. Ông sáng tác không nhiều, nhưng các nhạc phẩm của ông đều có giá trị nghệ thuật cao, với giai điệu và lời ca trau truốt, nhiều hình ảnh đẹp. Trong những tác phẩm của Lê Trọng Nguyễn, nổi tiếng hơn cả là bản Nắng chiều, được ông sáng tác vào năm 1952. Nhạc phẩm này không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà nó còn được biết tới nhiều ở Nhật Bản, Đài Loan và ở Hồng Kông với tên Bản tình ca Việt Nam. Nắng Chiều cũng là ca khúc trong bộ phim cùng tên thực hiện năm 1971 của đạo diễn Lê Mộng Hoàng với sự tham gia diễn xuất của diễn viên nổi tiếng Thanh Nga.

Trong một cuộc phỏng vấn, Lê Trọng Nguyễn nói:

“Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng Chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”

Nắng Chiều

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
khi đến cuối thôn chân bước không hồn
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ
Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy
Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh
Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm
Má em mầu ngà tóc thề nhẹ bay

Nay anh về qua sân nắng
chạnh nhớ câu thề tim tái tê
chẳng biết bây giờ
người em gái duyên ghé về đâu
Nay anh về nương dâu úa
giọng hát câu hò thôi hết đưa
hình bóng yêu kiều
kề hoa tím biết đâu mà tìm

Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn anh em nói yêu anh
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi…

***

Sao đêm

Còn gì nữa ? Tuổi vàng qua mất rồi
Làn môi khô khan câm nín đau thương
Và tóc rối bời hồn đang lạnh trống
Ðôi mắt mơ xanh mờ theo ánh tà dương

Chờ gì nữa ? Nửa trời sao úa rồi
Vì sao em quên câu hát yêu thương ?
Tìm ít gió lành còn trong cuộc sống
Dìu nhau qua bến vượt sóng đại dương

Em, cánh sao mờ xa cuối trời đi về đâu ?
Em biết chăng hồn ta rã rời trong sầu đau ?
Tìm em không gian hồ đổ vỡ, theo tinh cầu bay
Rồi đêm gối sách mơ trăng sao

Còn gì nữa ? Bầu trời rạn nứt rồi
Ðường lên Thiên Thai sao tắt mây vương
Lạc bước, thiếu tài, nhạc lôi, rượu cuốn
Người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương

Những năm 1981, 1982 LT Nguyễn và tôi gặp nhau gần như mỗi ngày. Tôi sang Hoa Kỳ sau Nguyễn mười năm. Giao tình của chúng tôi đứt đoạn trên đất Mỹ. Không một lần chúng tôi gặp lại nhau.

o O o

 ndt

Nguyễn Đình Toàn, Chiều trong tù

Chiều trong tù anh nhớ em
Ôi đất trời dường như tấm khăn
Bưng kín đời người trong tối tăm
Phương hướng nào nhìn ra mắt em

Hàng song sầu che mắt sâu
Những bóng người ngẩn ngơ ngó nhau
Tay xanh nào thầm ra dấu đau
Thay cho lời chào thăm mỗi chiều

Ai nghe chăng tiếng đời xa vắng
Ta nghe ta đã dường khác xưa
Tay qua ngang vết hằng năm tháng
Trong đau thương tóc người cứng khô

Trên hoang vu những vầng mây trắng
Ta nghe ra trong niềm xót xa
Vai em thơm như mùa thu nắng
Vai bao nhiêu .. máu hồng tình xa

Chiều trong tù anh nhớ em
Anh trông trời , trời như tấm khăn
Trông quanh mình những hàng khóa câm
Những mắt người quầng thâm cũng trông

Người nhớ người, hơi nhớ hơi
Trong âm thầm còn ai nhớ ai
Cho mưa lạnh lùng rơi xuống rồi
Cho đêm buồn, một cơn đau dài

Tháng Bẩy năm 1976 Nguyễn Đình Toàn và tôi cùng đi dự cái gọi là Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị. Nhà Toàn ở Làng Báo Chí, buổi trưa Toàn không thể đạp xe về nhà ăn trưa rồi trở lại lớp lúc 2 giờ; tôi rủ Toàn về nhà mẹ tôi ăn cơm trưa. Trong bữa ăn nghèo có đĩa đậu phụ kho với tóp mỡ, cà chua, đĩa rau luộc, đĩa dưa, mẹ tôi cùng ăn với chúng tôi, bà bảo Toàn:

“Ông ăn đậu đi chứ. Sao ông cứ gắp rau dưa thôi.”

Tôi nói:

“Đau thật. Trước kia mình mời khách thì nói : Ông ăn thịt đi chứ, sao ông cứ ăn đậu thôi.”

Một buổi trưa trời mưa, ngồi chờ đến giờ đi học, Toàn ôm cây guitar của con tôi, đệm đàn, hát nhẹ vài câu. Mẹ tôi nói:

“Nhạc của ông buồn quá.”

Toàn nói với tôi:

“Tao là một nhạc sĩ lỡ.”

o O o

Internet ghi về Nhạc sĩ Văn Phụng: Văn Phụng(1930-1999) là một nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc tình miền Nam trước 1975. Một số nhạc phẩm của ông được xếp vào thể loại Nhạc tiền chiến. Văn Phụng còn được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âm hay nhất của Miền Nam trước 1975.

Văn Phụng và Châu Hà

Văn Phụng và Châu Hà

Nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh năm 1930 tại Hà Nội trong một gia đình bốn anh em mà ông là thứ hai. Học đàn dương cầm từ nhỏ, được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 1945 Văn Phụng đoạt giải nhất độc tấu dương cầm trong một cuộc tuyển lựa tại Nhà Hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm “La Prière d’Une Vierge”.

Thời đi học Văn Phụng là một học sinh xuất sắc, ông học tiểu học tại trường Louis Pasteur, trung học ở trường Albert Sarraut. Năm 16 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tú tài, Văn Phụng theo học ngành Y vì ý muốn của thân phụ ông. Nhưng chỉ được một năm Văn Phụng bỏ học Y khoa để theo âm nhạc.

Năm 1946,  chạy loạn về Nam Định, Văn Phụng trú tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn, ông gặp linh mục Mai Xuân Đình ở đây. Vị linh mục đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý.

Năm 1948, Văn Phụng về Hà Nội. Theo lệnh tổng động viên, ông gia nhập Ban Quân nhạc Đệ tam Tiểu đoàn Danh dự. Ở đây, Văn Phụng đã quen và kết thân với những người về sau cũng trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam như Nhật Bằng, Đan Thọ ,Nguyễn Hiền, Văn Khôi, Vũ Thành… Thời gian đó, ông được nhạc trưởng người Pháp gốc Đức tên Schmetzer chỉ dẫn về hòa âm.

Năm 1948 là năm Văn Phụng sáng tác ca khúc đầu tay “Ô mê ly.”  Bài hát được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú ý. Về sau “Ô mê ly” còn nổi tiếng hơn qua  tiếng hát của ban Thăng Long với Thái Thanh, Hoài Trung, Phạm Đình Chương..

Khoảng 1954, 1955 Văn Phụng di cư vào miền Nam, ông là Nhạc Trưởng của Đài Phát thanh Quân đội thuộc Nha Chiến tranh Tâm lý (Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa) và phụ trách chương trình ca nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn.

Khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc với “Ô mê ly” vào năm 1948 và kết thúc với “Chán nản” vào năm 1972, Văn Phụng đã sáng tác hàng trăm ca khúc, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc sắc như “Trăng sơn cước”, “Yêu”, “Tôi đi giữa hoàng hôn”, “Suối tóc”, “Mưa”, “Tiếng dương cầm”, “Giấc mộng viễn du”, “Tình”, “Bức họa đồng quê”…

Tuy được xem như là một trong số các nhạc sĩ theo trường phái nhạc cổ điển Tây Phương, Văn Phụng cũng viết những bản nhạc giá trị với âm hưởng dân ca như “Trăng sáng vườn chè” (thơ Nguyễn Bính), “Các anh đi” (thơ Hoàng Trung Thông), “Đêm buồn” (phổ ca dao), “Nhớ bến Đà Giang”… Ông còn hòa âm cho nhiều cuốn băng nổi tiếng và được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âm xuất sắc nhất của Sài Gòn khi đó.

Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến Malaysia. Sau 5, 6 tháng ở đây gia đình ông đến định cư tại Mỹ, ở tiểu bang Virginia, cư ngụ tại quận Fairfax.

Ngày 17 tháng 12 năm 1999, Văn Phụng qua đời do tác hại của bệnh tiểu đường.

Suối tóc

Tìm cho thấy liễu xanh-xanh lả lơi
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai
Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai
Anh với em một đêm thu êm ái

Người em gái đứng im trong hồi lâu
Anh ngập ngừng lòng muốn nói đôi câu
Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau
Như chúng ta đôi lần hàn gắn thương yêu

Anh muốn đưa em qua miền giòng núi xanh
Chúng ta cùng thăm con suối dịu êm
Nhưng thiên nhiên không êm như tóc huyền
Nhưng thu qua không trong như đôi mắt em

Lòng anh muốn viết lên đôi vần thơ
Hay cung đàn cùng nét bút tranh hoa
Xin em biết nhé cho tình hai chúng ta
Trong ý thơ, cung đàn và suối tóc mơ

CTHĐ: Sang Hoa Kỳ, tôi gặp Văn Phụng nhiều lần. Anh và chị Châu Hà và tôi ở cùng một thành phố. Nghe nói anh nhiều đêm một mình lái xe vào ở cả đêm trong những sa mạc Mỹ, tôi hỏi anh ban đêm vào sa mạc làm gì, anh nói:

“Tôi vào đó nghe cái im lặng của sa mạc.”

Tôi nghe nói trong những năm cuối đời Văn Phụng không muốn sống. Anh không chịu uống thuốc.

o O o

Nay chỉ còn Duy Trác, Nguyễn Đình Toàn sống ở Kỳ Hoa. Duy Trác ở Houston, Texas, Nguyễn Đình Toàn ở Santa Ana, Cali. Tất cả những nhạc sĩ được kể trong bài này đều đã qua đời.

Nho Ta, Nho Tầu, Nho Tây

Tổng Thống Ngô Đình Diệm bận quốc phục Việt Nam tiếp Hoàng Thái Tử Thái Lan năm 1957.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm bận quốc phục Việt Nam tiếp Hoàng Thái Tử Thái Lan năm 1957.

Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co!
Sao bằng đi học làm thầy Phán,
Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò.

Thơ ông Tú Xương, làm trong những năm cuối  Thế kỷ 19. Cho đến năm nay, năm 2014, bài thơ trên đã sống được hơn một trăm năm.

Ông Tú Xương là người viết về giới Nho Ta cuối Thế kỷ 19 với những lời tả thực nặng nề nhất, những lời thơ gần như lên án sự yếu hèn của các ông Nho Ta thời ông:

Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,
Mười người theo học, chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi.
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ,
Trình có ông Tiên, Thứ chỉ tôi.

Ông Phan Chu Trinh, ông Nho Ta bận âu phục trước nhất trong các ông Nho Ta. Trên Internet không có tấm ảnh nào ông Phan Chu Trinh với khăn đóng, áo dài.

Ông Phan Chu Trinh, ông Nho Ta bận âu phục trước nhất trong các ông Nho Ta. Trên Internet không có tấm ảnh nào ông Phan Chu Trinh với khăn đóng, áo dài.

Cuối Thế kỷ 19 các ông Nho Ta tự nhận các ông không còn hợp thời, nhân dân và đất nước không cần sự có mặt của các ông nữa – đúng ra là nhân dân cần các ông nhưng các ông đã không đáp ứng được nhu cầu của nhân dân – các ông im lặng rút vào vùng quên lãng, nhường chỗ cho những ông Nho Tây, tức những ông Tây học.

Liêu lạc quê người, tuổi đời Bẩy Bó, tôi có điều kiện mầy mò, lục lọi, tra cứu, suy luận, để tìm biết những chuyện xưa trên những trang sách cũ, tôi thấy năm xưa khi văn học Nho Tầu suy tàn ở nước ta, các ông Nho Tây, tức những ông Tây học, như các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Duy Khiêm.. không ông nào viết nửa lời chế nhạo – chế nhạo thôi, đừng nói khinh mạn – các ông Nho Ta, cũng không ông Nho Tây nào viết một lời chê bai, khinh thị chữ Hán. Không những không khinh thị, tôi còn thấy các ông Nho Tây thời xưa đó có mặc cảm tội lỗi trước việc các ông bỏ Hán học để theo Tây học. Tâm trạng ấy của các ông cũng dễ hiểu thôi: ông nội, ông ngoại các ông, ông bố đẻ các ông, ông bố đẻ vợ các ông, là những nhà Nho Ta, sức mấy các ông dám khinh những ông nhà Nho. Các ông ra đời trong khung cảnh những nhà có sập gụ, tủ chè, bộ salon Tầu, tràng kỷ, tủ đồ cổ, hoành phi, câu đối, có những bộ sách chữ Hán mà các ông mù tịt không đọc được một chữ. Gia phả của các ông viết bằng chữ Hán, tất nhiên các ông, khi cần, phải nhờ người đọc dùm, giảng nghĩa gia phả cho mấy ông.

Ðấy là tình trạng những năm 1900. Một trăm năm sau tình hình đổi ngược. Nói một trăm năm sau không đúng, ngay những năm 1960, 1970 chữ Hán lại được nhiều người Việt trọng vọng. Người Việt vẫn không mấy ai học chữ Hán, người Việt vẫn miệt mài học tiếng Anh nhưng họ biết họ học cái tiếng đó là để đi làm, để kiếm cơm, cái tiếng ngoại ấy không giúp cho đời sống tinh thần của họ khá hơn bao nhiêu. Và trong xã hội ta  những thập niên 1960, 1970  có nhiều người biết tiếng Anh, tiếng Pháp – đa số lem nhem – nhưng chỉ có rất ít người Việt biết chữ Hán.

Một trăm năm trước những ông Nho Tây không ông nào tỏ ra khinh thị chữ Hán hay cười chê những ông Nho Ta – hai tuần báo Ngày Nay, Phong Hóa thời xưa ấy có chế riễu hai nhân vật Lý Toét, Xã Sệ, nhưng Lý Toét, Xã Sệ tuy ở làng quê xong hai anh không phải là nho sĩ, hai anh thuộc loại kỳ mục, kỳ nát – người chế riễu, chỉ trích những ông Nho Ta lại chính là những ông Nho Ta, như ông Tú Xương, như ông Dương Bá Trạc.

Dương Bá Trạc. Tính hay bắt chước của người mình. Bài viết năm 1925, đăng trong tập Tiếng Gọi Ðàn, in tại Nghiêm Hàm Ấn Quán, Hà Nội năm 1925:

Người ta ai là khỏi có cái bắt chước người, nhưng bắt chước người mà cũng cần phải có cái trí khôn quyết trạch của mình, bắt chước cái hay mà biết bỏ cái dở: mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải; mình xưa nay không biết rượu chè, hút xách là cái gì cả mà thấy người uống rượu cũng bắt chước uống rượu, thấy người nghiện thuốc phiện cũng bắt chước nghiện thuốc phiện thì chẳng là nguy lắm ru !

Vả mô phỏng của người mà lại cần phải tự ý mình suy nghĩ ra: như người nước Pháp học văn chương La-mã mà lập ra được hẳn một nền văn học riêng; người Nhật học chữ Hán mà chế ra được thứ chữ bình giả, phiến giả, làm một lối chữ Hòa-văn riêng của mình. Xét rộng ra, các điều phát minh, các môn kỹ nghệ cho đến trăm nghề, trăm nghiệp trong thế giới từ xưa đến giờ, cái gì cũng chỉ sáng khởi ra trước tự một hai người, bao nhiêu người sau đều là bắt chước cả, mà nào có ai giống ai, có nước nào giống nước nào, ngày mới tháng lạ, biến hóa vô cùng, càng về sau lại càng thấy hơn về trước nhiều mà không có chút gì là đạo tập người trước nữa. Bắt chước người mà khôn thì là sự tiện lợi thứ nhất, không gì chóng hay, chóng khá bằng.

Người mình có cái thiên tính hay bắt chước, cái gì cũng nhất vị chỉ biết bắt chước người, nên bắt chước dại thì nhiều mà bắt chước khôn thì ít lắm. Bắt chước người Tầu học chữ Hán mà trong khoảng mấy nghìn năm chỉ học nhờ, viết mượn, không hề nghĩ ra được một thứ chữ quốc văn nào – trừ ra có một thứ chữ nôm cũng viết bằng chữ Hán mà ai muốn viết thế nào thì viết, chưa thành lối chữ nhất định – người Tàu bị dại vì cái học khoa cử, mình cũng bắt chước theo cái học khoa cử mà bị dại, người Tàu bị ngu, bị hèn vì cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ, người mình cũng bắt chước theo cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ mà bị ngu hèn; về tư tưởng thì người Tàu có cái học thuyết chán đời, người mình cũng bắt chước chán đời, người Tàu có cái thuyết vị ngã, người mình cũng bắt chước vị ngã; về phong tục thì người Tàu trọng bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người mình cũng bắt chước bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người Tàu thờ ông thánh Quan, bà Tiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi, người mình cũng bắt chước thờ ông thánh Quan, bà Thiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi. Trong cái lúc thâu thái được chút đỉnh luân lý, học vấn, văn chương, kỹ nghệ của người Tàu thì bao nhiêu cái dại, cái dở của người Tàu mình cũng cũng nhắm mắt theo cho kỳ hết.

Nhân thế mà bao nhiêu cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo mất dần đi tất cả. Người nước nào có cái đặc sắc văn học của nước ấy, mỹ thuật nước ấy. Nói đến văn học của người mình thì ai làm được câu văn thơ nào hay cũng tự đắc rằng câu văn ấy Tàu, câu thơ ấy Tàu mà khen ngợi nhau, khuyến miễn cho nhau cũng lấy thế làm tuyệt phẩm; nói đến mỹ thuật của mình thì không luận là đồ gì, suốt cả nước từ trên chí dưới, từ trẻ chí già cũng đều cho kiểu Tàu, nét Tàu mới là đẹp; kiểu mạc ra không đúng Tàu, đồ làm ra không hệt Tàu là xấu, là bỉ tiện, là ít người thích, phải bán rẻ tiền… Như thế thì còn gì là cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo nữa. Cho nên dân tộïc mình lập quốc đã bốn ngàn năm mà tuyệt không có tí gì là quốc học của mình cả. Các nhà bác học đời nay nghiên cứu về Ðông phương hoặc về mỹ thuật đều cho người mình là nhất thiết cái gì cũng chịu ảnh hưởng của người Tàu cả, thật là đúng lắm. Cái đó chẳng là một cái cớ lớn làm cho người mình bao giờ tiến hóa cũng chậm trễ sau người ta ru?

Hết bài viết của ông Dương Bá Trạc.

o O o

Ðêm, riêng một ngọn đèn..

Với tôi, Viết là hạnh phúc mà Ðọc là lạc thú. Rừng Phong, phòng ấm, đèn vàng, im lặng, an ninh năm chăm phần chăm, ngoài trời tuyết rơi nhưng tôi săng phú! Không phải đi làm, ngán gì tuyết phủ, mặc cho tuyết rơi, ta nằm với những trang sách cũ! Ðọc hết bài viết của ông Dương Bá Trạc, đăng trong sách “Văn Học Việt Nam” của Giáo sư Dương Quảng Hàm, tôi ấp sách lên ngực, nhắm mắt, vắt chân lên trán, xin lỗi, tôi vắt tay lên trán, nghĩ ngợi lăng tăng băng. Mấy anh Việt Cộng bắt chước Tàu Cộng gọi việc suy nghĩ kiểu này là “tư duy.”

Bài viết của ông Dương, viết năm 1925, năm tôi chưa ra đời, văn huê là năm cuộc đời chưa có tôi, làm tôi nhớ đến bài tham luận “Văn Minh Tiểu Phẩm” của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ. Trong bài tham luận của TT. Tuệ Sỹ, viết trong nước gửi ra, đọc tại Ðại Hội Phật Giáo Việt Nam ngày 4 Tháng Giêng 2003 tại San Diego, Hoa Kỳ có đoạn:

Văn Minh Tiểu Phẩm. TT. Thích Tuệ Sỹ. Trích:

Nói rằng chữ Nôm phức tạp cho nên không tiện lợi để phổ biến cho bằng chữ La-tinh, điều này chỉ đúng cho những người mà não trạng đã quen với tập tính lười biếng. Có điều, hình như đại bộ phận trí thức của ta, từ mặc cảm tự ti, bị trị, của một dân tộc nhược tiểu, muốn nhanh chóng rút ngắn con đường giải phóng và cách mạng, để bắt kịp nền văn minh vật chất hào nhoáng từ phương Tây rọi sang. Từ đó phát sinh càng lộ liễu tập tính lười biếng, chỉ cần bắt chước những gì được coi là chuẩn mực của văn minh, không cần đến tư duy sáng tạo, điều mà tiền nhân của chúng ta đã không ngừng trong suốt chiều dài của lịch sử để tự tồn, bên cạnh một thiên triều luôn nghĩ cách thôn tính và đồng hóa. Do đó, người ta không nhìn thấy tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm, trong cách cấu tạo tự hình trong đó hàm tàng những cái nhìn về nhân sinh và thế giới. Chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác.

Ngưng trích.

Nhà ái quốc Phan Bội Châu suốt đời không mặc áo sơ-mi. Trong những năm lưu vong trên đất Tầu, ông bận y phục Tầu.

Nhà ái quốc Phan Bội Châu suốt đời không mặc áo sơ-mi. Trong những năm lưu vong trên đất Tầu, ông bận y phục Tầu.

Một đêm cũng trong căn phòng ấm ở Rừng Phong này, cũng ngọn đèn này, tôi cũng nằm như thế này đọc bài tham luận của Thầy Tuệ Sỹ. Ðọc đến đoạn trên đây tôi xấu hổ quá. Những người đồng thời với tôi, và tôi, ngu muội, hèn mạt, chỉ biết bắt chước bọn Tây, bọn Mỹ. Hèn quá là hèn, nhục ơi là nhục. Ðêm nay bài viết của Dương Bá Trạc Tiên sinh – bài viết từ năm 1925, năm Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ chưa ra đời để cứu người – cho tôi thấy.. té ra..

… Té ra.. không phải chỉ thế hệ ông bố tôi, thế hệ từ năm 1890 đến năm 1960, không phải chỉ thế hệ tôi, thế hệ từ năm 1930 đến năm 2000, là những thế hệ người Việt đốn mạt chỉ biết cong lưng, gục mặt, lé mắt bắt chước và bắt chước người. Té ra thế hệ các ông tằng tổ, kỵ tổ, thủy tổ, đủ thứ tổ, tổ đủ thứ của tôi từ ngàn xưa đã có cái tật bắt chước người nước ngoài. Tổ tiên tôi bắt chước bọn Ðại Tầu, đến đời ông bố tôi, đời tôi, bắt chước bọn Ðại Tây.  Nhưng cái mà Thầy Tuệ Sỹ gọi là “tập tính lười biếng” của dân tộc tôi đó, theo ý ngu của tôi, thì không phải chỉ một dân tộc tôi có, không phải là cái thói xấu, cái tính đáng khinh của riêng dân tộc tôi. Tất cả những dân tộc chậm tiến lúc nhúc trên trái đất này đều bị bắt buộc phải bắt chước bọn người da trắng văn minh hơn. Họ bắt chước xử dụng những dụng cụ để sống cho đỡ khổ do bọn người da trắng sáng chế ra thôi cũng đã phờ râu, mờ mắt, nói đến chuyện cạnh tranh với chúng trong việc sáng chế là ngớ ngẩn. Bắt chước còn chưa xong, ở đó mà hiu hiu nói đến “tư duy sáng tạo.” Trong bẩy, tám trăm năm độc lập, các ông Nho Ta đã không sáng tạo ra được một thứ chữ riêng cho dân tộc tôi, một thứ chữ riêng của dân tộc. Ðừng nói chuyện chưa đủ thời gian, mấy trăm năm là thời gian dư dài để người ta sáng chế ra một thứ chữ viết. Cái gọi là “tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm” quá yếu, vì quá yếu nên Chữ Nôm, có từ đời Hồng Ðức Nhà Lê – Những bài Thơ Nôm, thi phẩm Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, Hồng Ðức Quốc Âm Thi Tập vv.. – đã không được làm cho hoàn chỉnh, chữ Nôm  ở trong tình trạng không ra làm sao cả khi bọn thực dân Pháp đến nước ta. Những người chê khinh Chữ Nôm chính là những ông Nho Ta, chính các ông Nho Ta đánh giá Chữ Nôm bằng câu “Nôm na là cha mách qué.”

Chưa bao giờ “chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc, cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác.” Chữ Nôm không có vị trí nào đáng kể trong đời sống của nhân dân nên nó không thể bị thay thế. Tôi chắc các ông linh mục truyền đạo Gia Tô khi nghĩ ra cách dùng mẫu tự a, bâ, c để ghi tiếng nói của người Việt, để dùng trong việc truyền đạo, không ông nào nghĩ đến việc chế ra một thứ chữ để cho dân cả nước Việt dùng.

o O o

Nhưng tại sao ta lại bắt chước? Ta bắt chước vì nó hay, nó tốt, vì nó có lợi cho ta, vì nó làm cho đời sống của ta sung sướng hơn. Vậy thì câu hỏi có thể là “Tại sao ta lại không bắt chước?” Nếu ta không bắt chước, dân tộc ta cứ nằm ngồi mãi trong tình trạng bán khai. Nếu ta bắt chước mà không khéo, không giỏi, ta có thể bị những ông Việt Nam như ông Dương Bá Trạc, như Thầy Tuệ Sỹ, mắng là “Bọn khốn nạn. Chỉ có việc bắt chước mà cũng không nên thân..” Việc có môt số người bắt chước cả những cái xấu là cái giá phải trả cho sự bắt chước. “Bắt chước” nó là như thế. Ðến Thế kỷ 20 tất cả ba giống dân da vàng, da đỏ, da den đều phải bắt chước bọn dân da trắng. Văn minh đến như dân Ðại Tầu, giống dân có thứ chữ được các ông Nho Ta ca tụng là uyên áo, uẩn súc, tuyệt phẩm.. cũng bắt chước bọn dân da trắng như điên.

Năm 1984 khi bọn Việt Cộng đưa xe bông đến nhà tó tôi đi tù lần thứ hai, Sài Gòn chỉ có rất ít nhà có máy TiVi, năm 1990 khi tôi từ nhà tù cộng sản trở về mái nhà xưa lần thứ hai, gần như nhà nào ở Sài Gòn cũng có máy TiVi. Không những chỉ TiVi mà còn là TiVi mầu. Tôi ngồi xem TiVi và ngạc nhiên khi thấy cảnh một nhà ga ở nước Ðại Tầu đầy những thanh niên nam nữ bận jacket, quần jeans, đi giày thể thao thường gọi  là giày Adidas. Tôi tưởng đó là cảnh thanh niên ở một nhà ga ở Nhật, Nam Hàn, nhưng đó là cảnh một nhà ga Tầu ở gần Thẩm Quyến, khu có những xưởng máy chế tạo công nghiệp do tư bản ngại quốc mở dùng lực lượng công nhân Ðại Tầu rẻ tiền làm thuê. Ðám thanh niên nam nữ Ðại Tầu trong cảnh tôi thấy trên TiVi từ khắp nơi trên đất Ðại Tầu đổ về Thẩm Quyến để tìm việc làm. Họ bị cảnh sát chặn lại ở nhà ga đó vì khu công nghiệp Thẩm Quyến đã quá thừa công nhân. Thế rồi mới đây, bọn Cộng Sản Tầu họp đại hội, bầu bọn lãnh đạo. Tôi thấy trên nhật báo The Washington Post ảnh 6 anh Tầu Cộng được bầu đứng dàn hàng nhận sự hoan hô chúc mừng của đồng đảng. Cả 6 anh Tầu Cộng, chắc còn nhiều anh nữa, đều mặc com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách. Ông Tầu Lin Yu Tang, tên Việt là ông Lâm Ngữ Ðường, là người những năm 1920, 1930 từng viết ca tụng tính cách gọi là nhân văn, đề cao khả năng làm cho người bận thoải mái, dễ chịu của những bộ áo thụng Tầu, người từng kết tội y phục của người phương Tây là gò bó, giam hãm, hành hạ thân thể con người, nếu nhìn thấy bọn đảng viên cộng sản Tầu năm 2000 hoan hỉ, cười toe, bận com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách cả lũ.., chắc phải khóc thét lên..

Vợ chồng Tập Cận Bình, Tầu Cộng, bắt chước Tây 500/100. Còn Tầu đâu nữa, Tây Đầm thế thôi!

Vợ chồng Tập Cận Bình, Tầu Cộng, bắt chước Tây 500/100.
Còn Tầu đâu nữa, Tây Đầm thế thôi!

Người Tây bận com-lê vét-tông vì họ thấy kiểu y phục đó gọn, đẹp, trang trọng, hợp với họ, nên họ bận. Họ không đòi hỏi, hay dụ dỗ, bất cứ một giống dân nào khác bận com-lê vét-tong như họ. Những giống dân khác thấy bộ com-lê vét-tông đẹp, trang trọng, nên bắt chước mặc theo. Bọn Tây dùng toong-đưa cắt tóc ngắn, dùng dao cạo cạo râu ria nhẵn nhụi, rửa mặt, rửa tay, tắm bằng sà-bông, những giống dân khác thấy những trò đó đẹp, tốt, sạch, bèn làm theo. Việc bắt chước làm cho đồng bào tôi bị mất một số những truyền thống như tắm giặt, vo gạo, rửa rau, rửa đít cùng một cầu ao. Việc đồng bào tôi rửa đít ở cầu ao là việc nếu người Việt nào nghi ngờ là làm gì có, thì người nghi ngờ đó là người Việt – không phải mất gốc– mà là người Việt chưa từng lần nào sống ở làng quê hơn ba ngày, đồng bào tôi vo gạo ở cầu ao là việc có thực, vì dân tôi có câu “Ăn mày đánh đổ cầu ao..”, nói lên việc người ăn mày xin được dúm gạo, mang ra cầu ao vo, không may đánh đổ dúm gạo đó xuống ao. Hết ăn. Tôi ngu muội nghĩ rằng những truyền thống như truyền thống vo gạo và rửa đít cùng một cầu ao – ao tù, nước đọng, mùa cạn toen hoẻn năm mươi phân nước – thì có lẽ ta cũng không nên tiếc khi mất, mặc dù truyền thống vo gạo, rửa đít cùng một cầu ao là truyền thống của “bốn ngàn năm văn hiến.”

Dương Tiên sinh viết: “..Mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải..” Ðêm khuya, im lặng hai chăm phần chăm, tôi “tư duy, tư dzéo” về chuyện “ăn bốc, ở truồng..” và tôi muốn nói với Dương Tiên sinh:

– Thưa Tiên sinh.. Một trăm năm trước bọn ăn bốc, ở truồng, thường là bọn dân da vàng, dân da đen, bắt chước bọn dân da trắng ăn bằng cù-dìa, phóng-xét, bọn đàn ông thì bắt chước bận sơ-mi, vét-tông, bọn đàn bà thì sú-cheng, si-líp, dzúp se-rê, rốp sắc. Nhưng một trăm năm sau đó, tức là bi giờ đây, thời tôi sống, thời tôi làm chứng nhân, những năm 2000, bọn dân da trắng thừa quần, thừa áo, lại bắt chước bọn ăn bốc, ở truồng mà ở truồng. Thưa Tiên sinh, tức là bây giờ bọn dân da trắng lại ở truồng tùm lum, tòa loa. Họ kéo nhau đến những khu riêng của họ, thường ở bãi biển, hay ở trong rừng, trên núi. Vào đó vợ chồng, con cái, dâu rể, anh em, chị em, cả ông cháu, bạn hữu ở truồng tồng ngồng cả ngày, lẫn đêm. Kỳ thật là kỳ. Người man dã bắt chước người văn minh, rồi đến lượt người văn minh bắt chước người man dã. Như vậy thì việc “ở truồng” chưa chắc đã là không hay, nói cách khác, việc “người ta ở truồng” có thể là việc hay, việc tốt cho con người. Nếu không hay, không tốt, tại sao có người làm nó?

Mà bọn ở truồng bi giờ lại toàn là bọn dân những nước văn minh nhất thế giới. Tôi chưa được đến những Khu Ở Truồng ấy lần nào, có vài ông bạn tôi đã đến đấy xem thực hư, thường là ở Pháp, kể chuyện: “Mình vào đấy mấy con đầm ở truồng nó chửi mình nhục lắm. Nó quẳng vào mặt mình đủ các thứ đồ.. Ðồ mọi rợ.. Ðồ đểu cáng.. Ðồ dơ dáy.. Ðồ đói khát.. Ðồ dâm đãng.. Ðồ bệnh hoạn.. Ðồ con heo.. Mày vác cái mặt chó của mày vào đây xem cái gì? Mày thèm cái này lắm à? Mày không thấy cái này của mẹ mày bao giờ à.?”

Thưa Tiên sinh, tôi thấy bi giờ bọn ở truồng, đáng lẽ phải gọi là bọn mọi rợ, đáng lẽ phải xấu hổ, lại khinh bỉ bọn bận quần áo  đàng hoàng. Và bọn bận quần áo đàng hoàng, đáng lẽ phải khinh bỉ bọn ở truồng vú vê thỗn thện, lại bị bọn thỗn thện, lông lá chửi cho vuốt mặt không kịp và lấy làm hổ thẹn. Kỳ thật là kỳ!

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 132 other followers