• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

MÙA THU…LÁ VÀNG…TIẾNG GỌI…

Trên vỉa hè Hà Nội, Lộc Vàng bật lửa cho Toán Xồm châm thuốc. Ảnh Lộc Vàng.

Trên vỉa hè Hà Nội, Lộc Vàng bật lửa cho Toán Xồm châm thuốc. Ảnh Lộc Vàng.

Tôi thấy nữ văn sĩ Quỳnh Dao của Đài Loan là nhà văn nữ Á châu viết nhiều tác phẩm nhất Á châu. Tiểu thuyết của bà tái bản ở Hoa Kỳ đến cả năm, sáu mươi  quyển. Tôi – CTHĐ – không đọc một trang truyện nào của Quỳnh Dao. Nhưng tôi – không muốn, không tìm – trong nhiều năm tôi vẫn nghe tiếng hát bài “Muà Thu Lá Bay”, bản nhạc lấy ý từ tiểu thuyết “Mùa Thu Lá Bay” của Quỳnh Dao. Trong những năm 1970, nhiều người Sài Gòn trẻ ưa thích, hay hát bản nhạc này. Bốn mươi mùa thu qua, tôi nhớ một lời ca:

Mùa thu lá bay…
Hẹn nhau kiếp sau ăn gà xé phay…

Để nhớ những mùa thu xưa ở quê nhà, mời đọc lại lời ca:

Một ngày sống bên Em sẽ muôn đời
Dẫu cho mưa rơi đá mòn tháng năm
Lạy Trời được yêu mãi nhau người ơi
Đừng mang trái ngang chia lìa lứa đôi

Thế gian ơi sao nhiều cay đắng
Tình vẫn đắm say, người cũng xa ta rồi
Ngồi ôm vết thương lòng đớn đau
Nghe tình rên xiết trong tim sầu

Mùa thu lá bay Em đã đi rồi
Vỡ tan ôi bao giấc mông lứa đôi
Giờ đành lìa xa thế nhân sầu đau
Hẹn nhau kiếp sau ta nhìn thấy nhau.

Tôi không biết ai là tác giả lời ca Việt. Nghe được quá.

Nhiều lần tôi xúc động vì lời ca:

Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội
Tuổi phong sương anh vẫn gắng quay về..

Người viết Trần Trung Sáng kể:

Những ngày đại lễ “1000 năm Thăng Long – Hà Nội”, trong những khúc hát hân hoan vang lừng trên phố phường Hà Nội, hẳn rằng không thể thiếu những câu hát:

“Có nhớ mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau xôn xao phím dương cầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về…”.

Thế nhưng, mấy ai biết: người viết nên những lời thơ của bài ca ấy, nhà thơ Tô Như Châu trước khi qua đời cách đây gần 10 năm, vẫn chưa một lần được đặt chân đến Hà Nội.

Muà Thu Hà Nội

Muà Thu Hà Nội

Vào khoảng năm 1995, một buổi sáng, xuất hiện trước cửa văn phòng nơi tôi làm việc, một người đàn ông dựng chiếc xe đạp cũ, cà tàng, bước vào. Anh bận áo thun, quần jean, gương mặt rắn rỏi, phong trần, khó đoán tuổi. Sau mấy lời chào hỏi, anh ngỏ lời, muốn được làm một chân bỏ báo (một dịch vụ phát báo tới từng nhà  trực thuộc cơ quan báo do tôi đang làm đại diện.) Hỏi chuyện một hồi, được biết: anh là Tô Như Châu, nguyên công nhân điện lực – tác giả bài thơ “Có phải em mùa thu Hà Nội” được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ thành ca khúc nhiều người yêu chuộng lâu nay. Ngờ đâu, từ đó định mệnh đã gắn liền nhà thơ Tô Như Châu với công việc đi phát báo, đưa báo từng nhà đến phút cuối cùng..

Trên thực tế, ca khúc “Có phải Em Mùa Thu Hà Nội” từng có tiếng trong một băng nhạc tại miền Nam trước 1975, từ 1990 bài ca được phổ biến trở lại với giọng hát Hồng Nhung, rồi Thu Phương… khiến nhiều người ngỡ đó là bài hát mới. Đáng nói hơn, ngay thời điểm anh Tô Như Châu bắt đầu nhận công việc đi bỏ báo thì bài hát này bỗng dưng rộ lên trở thành ca khúc Top 10 về Hà Nội. Hầu như mọi lúc mọi nơi, hang cùng ngõ hẻm nào cũng thường xuyên vang lên những lời ca: “Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội? Tuổi phong sương Anh  vẫn gắng đi tìm…” .

Tô Như Châu tên thật là Đặng Hữu Có,  sống và làm thơ ở một xóm nhỏ cạnh bến đò An Hải, Sơn Trà, Đà Nẵng. Theo anh, bài thơ nói trên được anh làm từ thời anh còn rất trẻ. Cũng giống như nhiều thanh niên miền Nam thời đó, anh rất mê những cô gái Bắc di cư, và anh đã mơ mộng về mùa thu Hà Nội qua hình ảnh một cô gái Bắc xõa tóc thề ngồi bên phím dương cầm. Bài thơ được Trần Quang Lộc, một nhạc sĩ trong nhóm thân hữu thường gặp anh thời đó đã đồng cảm phổ thành ca khúc hát chơi với bạn hữu. Cả hai người mơ ước ngày thống nhất cùng về Thăng Long, nhưng khi hòa bình đến thì mỗi người thất tán mỗi nơi…

Từ nỗi khát vọng chưa thành tựu ấy, có lần khi đi vòng quanh bỏ báo trên mọi ngã phố trở về, sau khi nghe lại tác phẩm của mình, trán còn lấm tâm mồ hôi, Tô Như Châu đã bày tỏ hạnh phúc không kiềm được qua bài thơ “Đi bỏ báo ngheTthơ phổ Nhạc”:

 “Anh con ngựa già chưa mỏi vó

Vẫn thênh thang bước nhẹ quanh đời

Đi tung bờm tóc gió

Quẳng gánh hương xa lên tiếng gọi mời…”

Đây là một bài thơ hay, xúc động thứ hai, sau “Mùa Thu Hà Nội” của anh. Trong đó, nhiều đoạn anh viết :

“Nghe em hát mùa thu vàng rực rỡ

Bỗng xôn xao nghiêng ngả đường chiều

Răng khểnh, soi Hồ Gươm yêu dấu

Đà Nẵng tung hê một trời thương yêu”

 Hoặc:

“Có phải Em Mùa Thu Hà Nội

Mùa thu trong veo mùa thu tuyệt vời

Sống đẹp âm thầm và khát vọng

Bỏ báo, đọc thơ, nghe nhạc đã đời”

Thế nhưng, niềm vui ấy chắng được bao lâu, thì Tô Như Châu phát hiện ra: trên tất cả các phương tiện đem ca khúc “Có phải Em Mùa Thu Hà Nội” đến với công chúng, hầu như chỉ có tên người viết nhạc, mà không có tên tác giả lời thơ. Nỗi bức xúc chính đáng của anh dần dà được bạn bè thân hữu thấu hiểu, sẻ chia và phản ánh trên một số tờ báo cả nước. Đầu tiên, nhạc sĩ Trần Quang Lộc giải trình lấp liếm, đại khái:

“Chưa hề biết Tô Như Châu là ai, chỉ nhớ thời trai trẻ ở Đà Nẵng gặp một người tên là Có đem đến một bài thơ dài, tôi phải sửa chữa lại nhiều đoạn rồi mới phổ thành bài hát như bấy giờ…”

Dù vậy, trước những chứng cứ rõ ràng về tình bạn giữa hai người – giữa Tô Như Châu và Trần Quang Lộc –  nhất là việc bài bài hát đã được phổ biến ghi rõ tác giả lời và nhạc từ trước 1975, nên một thời gian sau, vị trí của Tô Như Châu được trả lại đúng chỗ trên tác phẩm. Các đơn vị phát hành ca khúc cũng hứa sẽ giải quyết nhuận bút bản quyền cho Tô Như Châu theo quy định (Dù vậy, lời hứa đó vẫn chỉ là lời hứa…cho đến ngày nhà thơ vĩnh viễn ra đi).

Năm 1998, Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành tập thơ “Có phải Em Mùa Thu Hà Nội”, gồm 36 thi phẩm, kể cả bài thơ đầu tiên và bài mới nhất của Tô Như Châu. Được sự ủng hộ của nhiều bạn đọc, bạn hữu, không lâu sau đó, Tô Như Châu dự định ấn hành một tác phẩm mới gồm một số bài thơ tươi trẻ về Đà Nẵng, Bà Nà, bóng đá…Và nhân đó, sẽ một lần thực hiện chuyến thăm “Hà Nội …Mùa Thu của Ước Mơ.”

Thế nhưng, khoảng giữa năm 2002, khi những niềm hưng phấn  đang dâng tràn, một cơn bạo bệnh ập xuống cắt đứt mọi hoài bão của Tô Như Châu – từ khát vọng “mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi” đến những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi “là hạnh phúc quán vỉa hè chút rượu”, và kể cả “bỏ báo đọc thơ nghe nhạc đã đời”… Song với những người yêu thơ, những người yêu Hà Nội, cái tên Tô Như Châu sẽ chẳng bao giờ bị lãng quên.

Ngưng trích.

CTHĐ: Những năm 1976, 1977, tôi nghe nhiều người Hà Nội vào Sài Gòn kể chuyện ở Hà Nội những năm 1960 có những người lén nghe thứ nhạc trước 1954 – gọi là “Nhạc Vàng’ – bị bắt, ra toà, bị ở tù nhiều năm.

Nghe chuyện, tôi không tin lắm. Chỉ vì nghe mấy bản nhạc tình xưa mà bị tù sao?

Mùa Thu 2014, tôi tìm được chuyện Nhạc Vàng Hà Nội trên Internet:

Với nhiều người Hà Nội, vụ án Phan Thắng Toán và đồng bọn bị xét xử về tội truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại chính sách, pháp luật của Nhà Nước, họ vẫn chưa quên được.

Ông Nguyễn Văn Lộc, người bị coi là chủ chốt. trong vụ án Nhạc Vàng Hà Nội năm xưa  nay là chủ quán cà phê Lộc Vàng tại ven đường Hồ Tây. Hồi đó anh Lộc và một số người bạn của anh vì yêu mê Nhạc Tiền Chiến nên đã thành lập một nhóm bạn nhạc để tụ tập đàn hát nhạc của Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đặng Thế Phong…và các nhạc sỹ miền Nam như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng…Ngày 27/3/1968, nhóm nhạc anh Lộc bị bắt, bị  giam ở Nhà Tù Hỏa Lò 3 năm. Ba ngày 6,7,8 tháng 1 năm 1971 Tòa Án Nhân Dân Hà Nội mở phiên toà xét xử những người bị coi là phạm tội vì hát loại nhạc gọi là Nhạc Vàng. Tòa tuyên án Toán “xổm” 15 năm tù, Nguyễn văn Đắc 12 năm tù, anh Lộc 10 năm tù…Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, anh Lộc được giảm án xuống còn 8 năm tù. Năm 1976 anh ra tù

Thương tâm nhất là anh Toán “xổm.” Khi mãn án ra tù, anh mất hết tất cả, không nhà, không vợ con, không việc làm, anh sống nhờ  các bạn anh, sau cùng anh nằm chết ở vệ đường vào năm 1994.

Ra tù anh Lộc  đi làm thợ hồ, nhưng tình yêu nhạc vàng, nhạc tiền chiến trong tim anh không nguội lạnh. Anh quyết định mở quán Lộc Vàng để có nơi, có người nghe anh  hát những bản Nhạc một thời bị coi là “nhạc phản động.” Nhiều người Hà Nội coi những nhạc phẩm Vàng  đó quý hơn vàng y. Bây giờ Quán Lộc Vàng  luôn đông khách. Những đêm thứ ba, đêm thứ năm, đêm thứ bẩy trong tuần tiếng hát Nhạc Vàng vang lên trong quán

Khi nhắc đến người vợ của anh, anh Lộc thường ưá nước mắt, vợ anh qua đời năm 2002, để lại cho anh 2 đứa con. Người vợ đã yêu anh trước khi anh bị bắt, chị chờ đợi anh qua 8 năm anh ngồi tù để làm vợ anh. Anh Lộc nói năm đầu ra tù anh phải đi vào Quy Nhơn  làm thuê để dành tiền về cưới vợ. Anh nói không bao giờ anh quên chị, chị đã hy sinh cả cuộc đời cho  anh vì yêu anh.

Anh kể chị vợ anh  thích nghe anh hát bài “Niệm khúc cuối” của Ngô Thụy Miên. Từ ngày chị ra khỏi cõi đới, anh không thể hát được bài hát đó nữa, vì khi anh vừa cất tiếng  lên thì anh lại nghẹn lời muốn khóc vì thương cảm.

Báo Hà Nội ngày 12/1/1971 đưa tin Phan Thắng Toán và đồng bọn bị bắt, bị toà án xét xử về “tội: truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại chính sách pháp luật của Nhà Nước.”

Tôi chưa nghe người nào hát nhạc phẩm “Gửi người em gái “của Đoàn Chuẩn- Từ Linh hay bằng anh Lộc Vàng. Một giọng hát  trữ tình và sâu lắng. Anh hát đúng bản gốc của tác phẩm này, anh cho biết nhạc phẩm “Gửi người em gái “được thu âm và hát bây giờ đã bị thay lời quá nhiều, nhất cả khi các ca sỹ hải ngoại hát nó.

Tôi tự hỏi trong đám văn nghệ tào lao và khoe mẽ trên truyền thông hôm nay, có mấy ai có được phẩm giá và đam mê âm nhạc như anh Lộc

Tôi được ngồi uống cafe cùng bác Lộc Vàng trong một buổi chiều rét buốt của mùa đông Hà Nội. Nhâm nhi ly cafe và nghe bác kể chuyện ngày xưa, nhiều lúc tôi muốn rớt nước mắt, tôi thương cho một người dành tất cả cho đam mê của mình. Tiếc là lúc đó tôi không có ghi chép lại, may đọc được bài viết của bạn Nguyễn Tuấn Ngọc, xin phép tác giả được đăng bài lên website này!

Chuyện xưa, kể lại…

Báo Công Thương – 09/02/2013

Đầu năm 1968,  tôi đang là thiếu sinh quân, sang học tập tại nước bạn, tôi nhận được thư nhà gửi sang, thư của bố tôi. Ông là một sĩ quan quân đội, bận chuyện quân ngũ, chiến trường, ông lấy đâu ra thời gian mà viết thư dài cho tôi.

Đọc thư ông, tôi được biết ở nhà đang có chuyện động trời: Một vụ án sắp đưa ra xét xử- vụ “Toán Xồm.” Trong thư, ông bố tôi khuyên tôi chú tâm vào việc học, tiếp thu tinh hoa nước bạn, để về phụng sự Tổ quốc. Chứ ở trong nước, một số thanh niên đang sa đà vào lối sống “đồi trụy,” lối sống đầu độc tinh thần lớp trẻ thành thị, làm suy sụp ý chí chiến đấu của thanh niên…

Rất nhiều tội lỗi tày trời mà trong lá thư “ông già” viết có đề cập tới thú chơi “tàn bạo” của nhóm “Toán Xồm” rằng: họ  uống rượu Tây, hút thuốc lá ba số ( Thuốc 555, hồi đó chúng tôi thường gọi thuốc lá có cán, có chuôi), uống bia thì đổ bia lên người phụ nữ rồi mút, liếm… Nếu những năm đó, ai được xem phim “Nổi Gió” có một tiểu cảnh ca nhạc ở miền Nam, đoàn làm phim phải thuê nhóm Toán Xồm biểu diễn, có thế thấy họ trong phim đó. Còn nếu đúng như thư bố tôi kể thì quả thật là kinh khủng, mức sống của họ quá cao so với một xã hội tem phiếu.

Sau này khi về nước, tôi hỏi lại ông bố tôi, thì được biết ông cũng chỉ được nghe người ta nói lại. Nhưng ấn tượng xấu về vụ án đó đã khiến gia đình tôi quyết tâm khuyên chúng tôi phải vào Trường Đại học Quân sự, ở đó môi trường an toàn, xứng đáng với truyền thống gia đình, phải xông lên tuyến đầu chống Mỹ, tô thắm thêm lá cờ cách mạng. Chứ ở hậu phương, trước sau gì cũng bước theo nhóm “Toán Xồm”. Nghe ông nói, máu tôi sôi lên, quyết tâm mang tấm thân “cường tráng” thời bao cấp, cầm gậy tre, vượt Trường Sơn đi đánh Mỹ. Nhưng, tình thế chiến trường đã thay đổi, đoàn chúng tôi lại được đào tạo ngoại ngữ để đi học nước ngoài, chuẩn bị cho lớp “kế cận”, cách mạng còn lâu dài gian khổ…

Bây giờ, thời đại công dân toàn cầu, thế giới phẳng, thời gian đã có khoảng lùi xa để nhìn lại… những buồn vui ngày xưa!

Một buổi chiều, se lạnh, mưa phùn, một góc hồ Tây bảng lảng sương thu, anh bạn thời thiếu sinh quân rủ tôi đi nhâm nhi cốc cà phê đắng (thiếu sữa, không đường) như thời bao cấp, nghe ông chủ quán hát nhạc tiền chiến: Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Tình nghệ sĩ...

Bạn tôi nói:

“Ông Lộc hát đấy.” “Lộc nào?”- tôi  hỏi lại.

“Lộc Vàng chứ Lộc nào nữa! Ông này nổi tiếng lắm, ông là một nhân vật trong vụ “trọng án văn hóa” năm 1968 ở Hà Nội.” – bạn tôi nói.

Chúng tôi nghe ông “Lộc Vàng” kể lchuyện ngày xưa:

Những năm 1960, những người dân Hà Nội yêu nhạc tiền chiến phải nghe nhạc chui: nghe lén trong nhà mình. Ông Lộc có người bạn là Phan Thắng Toán chơi ghi ta, ông Toán ít cạo râu, vì thiếu lưỡi dao cạo (nên có hỗn danh “Toán Xồm”). Toán Xồm và Nguyễn Văn Thành (“Thành Tai Voi” đệm accordion), Nguyễn Văn Đắc (“Đắc Sọ” đánh trống), thường tụ tập tại nhà ông Thành, hát các bản tình ca của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh…

Thời điểm đó, hai miền Bắc- Nam rền vang  bom đạn. Nhà Toán Xồm ở phố Tô Hiến Thành. Những năm 1960, Toán Xồm đã có đĩa nhạc Steréo, khi mà các gia đình có người đi Liên Xô về mới có Electrophonemono. Ông còn tự chế ghi ta điện từ một ghi ta gỗ, amply cũng tự chế từ hộp bánh bích quy cũ với hai bóng điện tử  dẫn tới hai thùng loa cũng tự đóng. Nghe cũng có Bass có Treffle, tạo nên âm thanh lạ. Thế là một dàn nhạc tư nhân ra đời và… bị bắt.

Ra tù, ông Lộc lấy vợ. Thuở ông 19, cô ấy 17 tuổi, cô mê tiếng hát của ông nhưng đôi người chưa kịp ngỏ lời yêu, thì ông bị bắt, đi tù. Tám năm ông ở sau song sắt, bên ngoài có một người con gái xinh đẹp, mòn mỏi chờ đợi ông.

Ông Lộc ra tù, lý lịch “đen,” không ai dám gần, trừ người con gái ở Đoàn Ca Kịch Trung Ương, cô  da trắng, tóc dài, cô vẫn yêu ông. Ông Lộc ra tù nghèo rớt, người đen, gầy đét, không nghề nghiệp, thế mà vẫn có người yêu xinh đẹp. Ông hãnh diện, tự hào trên đời ông không thể tìm được người đàn bà nào như thế.

Khi cấp trên gọi lên văn phòng khuyên bảo:

“Sao lại chịu làm vợ thằng phản động đi tù về?”

Cô gái không trả lời, hôm sau cô bỏ ngay Đoàn Ca Kịch, cô ra ngồi vỉa hè bán đậu phụ.

Buồn thay, vợ ông bị bệnh. Khi bà mất, ông thức hàng đêm khóc nhớ thương, ân hận. Ông nói, mất mát lớn nhất của đời ông là bây giờ, khi ông đã mở được quán cà phê để sống với niềm đam mê nhạc tiền chiến thì vợ ông đã là người thiên cổ.

Tôi mở quán là để thỏa lòng được hát, thế thôi!”- ông tâm sự.

Đời là vậy, một câu chuyện cảm động, đầy tình nghĩa, cũng rất nhân văn. Một mối tình tưởng như chỉ có trong tiểu thuyết. Vậy mà, nó hiện hữu ngay ở quán cà phê “Lộc Vàng,” quán cà phê trên con đường quanh Hồ Tây  thơ mộng.

Trích trong nhật báo Hà Nội, đăng trên “Tây Bụi.com.”:

Trong ba ngày 6, 7, 8 tháng 1, 1971, Toà án Nhân dân Thành phố Hà-nội đã xử sơ thẩm các bị cáo Phan Thắng Toán, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Lộc, Hà Trung Tân, Trần Văn Thành, Lý Long Hoa, Phạm Văn Ngọ và Lê Văn Trung can tội truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại các chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Phan Thắng Toán, 37 tuổi, hồi giặc Pháp tạm chiếm Hà-nội, đi lính ngụy, làm ở bộ phận mật mã của cơ quan nghiên cứu quân sự của địch.  Toán thú nhận khi ở lại miền Bắc, y đã có tư tưởng không ưa thích chế độ ta, y tán thành quan điểm phản động của bọn “Nhân văn Giai phẩm” và luôn mơ ước có cuộc sống “tự do,” trụy lạc như ở Mỹ và Sài Gòn.

Toán đã tập hợp một số phần tử xấu như: Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Lộc ( tài xế lái ô-tô cho công ty hàng hóa Hà-nội, can tội lấy cắp xăng bị sa thải ); Hà Trung Tân (không nghề nghiệp); Trần Văn Thành (thợ cơ khí bỏ việc, sống du dãng); Phạm Văn Ngọ (thợ nguôi bỏ việc, sống du đãng); Lý Long Hoa, v.v.. thành một ban nhạc nghiệp dư tụ tập chơi nhạc vàng.  Khi đi biểu diễn nhạc kiếm tiền ở những đám cưới, các cuộc liên hoan, chúng tìm cách trình diễn xen kẽ những bản nhạc vàng để truyền bá và thăm dò thị hiếu của đám thanh niên.  Chúng đi tìm mua đĩa hát loại nhạc vàng lọt vào được miền Bắc, đi sưu tầm các bài hát và nhạc vàng cũ, ghi chép các bản nhạc giật, nhạc tâm lý chiến của đài Mỹ và đài Sài-gòn.  Chúng dùng các bản nhạc này để luyện cho nhau những giọng hát, tiếng đàn thật là bi quan, sầu thảm, lả lướt, lãng mạn để đi truyền bá, lôi kéo thanh niên.  Chúng tự tâng bốc lẫn nhau tên này, tên nọ là “ca sĩ số 1″, là “cây đàn số 1″, v.v…

Do các thủ đoạn nói trên, bọn này đã rủ rê được một số nam nữ thanh niên ham thích âm nhạc, nhưng non nớt về nghệ thuật, tụ tập theo bọn chúng.  Chúng thường xuyên tổ chức những buổi chơi nhạc, với lối trang trí “huyền ảo”, kếp hợp cả lời lẽ phỉnh phờ, với câu chuyện kể, về cuộc sống đồi bại, các lối dâm ô trác táng điên loạn của giai cấp tư sản, chúng kích thích, dẫn dắt nam nữ thanh niên đi vào con đường dâm ô, trụy lạc.

Số thanh niên khi đã bị nhiễm độc nhạc vàng thì sinh ra lười biếng, bỏ việc, bỏ học, bỏ nhà đi theo chúng.  Gia đình, nhà trường, cơ quan, xí nghiệp, bạn bè có khuyên răn và ngăn cấm thì chúng bực dọc; lúc đó, bọn Toán lại tiêm thêm cho họ cái nọc độc bất mãn, bằng triết lý cuộc sống “tự do” kiểu Mỹ, bằng triết lý phản động “nghệ thuật vị nghệ thuật”, rồi vu khống xã hội ta không có đất cho tinh thần con người phát triển, v.v…, bọn Toán gợi lên cho lứa tuổi thanh niên những ước mơ kỳ quặc, hoang đường, xa vời, trừu tượng với nội dung cực kỳ phản động và cuối cùng chúng hướng cho lứa tuổi thanh niên ước mơ lối sống Mỹ và Sài Gòn, chống đối lại chế độ ta, trốn tránh nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ quân sự, v.v…

Những hành vi và thủ đoạn phạm tội nói trên của bọn chúng rất thâm độc và xảo quyệt, có ý thức phản cách mạng rõ ràng, đánh trực diện vào các mầm non của đất nước.  Một số nam nữ thanh niên đã bị thấm độc loại văn hóa trụy lạc này và đi vào con đường ăn chơi sa đọa dâm ô trụy lạc.  Một số khác đang có công ăn việc làm hoặc đi học, đã bỏ việc, bỏ học để ăn chơi sao đọa du đãng, cuối cùng phạm tội lưu manh, trộm cắp, hiếp dâm, “làm tiền”, hoặc tuyên truyền phản cách mạng.

Việc làm của bọn này đã gây ảnh hưởng xấu cho phong trào trật tư trị an, phá hoại việc thực hiện một số chính sách của Nhà Nước, nhất là chính sách lao động sản xuất, chính sách nghĩa vụ quân sự… xâm phạm nghiêm trọng đến hạnh phúc, phẩm giá của phụ nữ, đến đạo đức và đời sống của nhiều người, và tuyên truyền xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa trong lúc cả nước đang chiến đấu chống Mỹ xâm lược.

Do tính chất nghiêm trọng của vụ án nói trên, toà quyết định xử phạt Phan Thắng Toán 15 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Đắc, 12 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Lộc 10 năm tù giam và 4 năm bị tước quyền công dân; Hà Trung Tân, 8 năm tù giam và 4 năm bị tước quyền công dân; Lý Long Hoa, 6 năm tù giam và 3 năm bị tước quyền công dân; Trần Văn Thành, 5 năm tù giam và 3 năm bị tước quyền công dân; Phạm Văn Ngọ, 4 năm tù giam, và Lê Văn Trung, 18 tháng tù giam.

Toà tịch thu các tang vật và tiêu hủy tất cả các loại văn hóa phẩm đồi trụy, phản động của các bị can và của những người có liên quan đến vụ án.

Qua vụ án chính trị phản động này, các bậc cha mẹ, các thầy, cô giáo, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và các đồng chí phụ trách chính quyền các cấp càng thấy rõ cần quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục lứa tuổi thanh thiếu niên, kịp thời ngăn chặn và phê phán nghiêm khắc đối với số thanh thiếu niên thích đàn đúm, ham chơi, nhác học, bỏ việc, bỏ nhà, lại có hiện tượng ăn mặc lố lăng, có hành động càn quấy.  Việc giáo dục này cần phải nhẫn nại kiên trì, nhưng cũng phải kiên quyết, triệt để trừ tận gốc, vạch mặt các phần tử xấu còn tiếp tục gây độc cho lứa tuổi thanh, thiếu niên.

Đây là một tư liệu tôi đã tìm ra gần 10 năm trước, nay mới cho phổ biến.  Thêm vài nhận xét -

  1. Những người bị xét xử là người từng sống ở Hà Nội thời trước 1954, đa số là dân Hà Nội gốc.
  2. Tính toàn bộ những người ca hát Nhạc Vàng phải hơn vài trăm người, ở Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định.
  3. Rất hiếm có những đối tượng phạm tội chính trị phản động bị đưa ra trước toà án và bị xét xử công khai như trường hợp này.
  4. Theo tôi  không bao giờ có cái gì “sa đọa dâm ô trụy lạc” xảy ra vì Nhạc Vàng.

CTHĐ: Chuyện người Hà Nội bị bọn Cộng sản giam tù vì lén trình diễn, lén nghe những bản Nhạc Tình cho tôi thấy tôi đã sung sướng đến chừng nào khi tôi được sống những năm tôi trẻ: từ năm 1954 đến năm 1975 – ở Sài Gòn.

Tuy phải sống trong gông cùm Cộng sản đến 20 năm, tôi vẫn không thể ngờ bọn Bắc Cộng lại tàn ác với người Hà Nội đến như thế: chỉ vì nghe nhạc mà bị tù khổ sai 15 năm, 12 năm..

Trước năm 1975 tôi không một lần nghe lời ca “Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội?” Sau 1975 tôi nghe lời ca đó trong căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi, tôi nghe lời ca trong Nhà Tù Chí Hòa, tôi nghe lời ca ấy ở Virginia.

“Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội:

Tuổi phong sương Anh vẫn gắng đi tìm..”

Câu hát này của anh H2T:

“Em có nhớ những đêm trăng xa lộ?

Thưở yêu nhau Anh lót áo Em nằm.”

Áo paraverse xanh của Không Quân Mỹ.

Cảm khái cách gì!

LÀM BẬY KHÔNG KHÁ ĐƯỢC

Mary đến với H2T năm 1970, được H2T mang sang Kỳ Hoa.

Mary đến với H2T năm 1970, được H2T mang sang Kỳ Hoa.

Quí ông Thợ Viết Pha-lang-sa chuyên viết truyện gọi là Truyện Dtective, Truyện Roman Noir – những truyện đánh cướp, giết người – có câu “Le Crime ne paie pas.” Dịch thẳng câu này là “Tội Ác không chi tiền.” Nhưng dịch đen như vậy là ngớ ngẩn, vô nghĩa. Anh H2T – người anh em cùng vợ với CTHĐ – người một thời xưa ở Sài Gòn xanh ngắt từng phóng tác nhiều tiểu thuyết Âu Mỹ loại Detective, Thriller, dịch nghĩa bóng câu tiếng Pháp trên đây là “Làm bậy không khá được.”

Những năm 1960 tôi đọc trong Préface một truyện Série Noire bài viết “Le Crime ne paie pas.” Tôi không nhớ tên tác giả. Ý chính của bài viết là những tiểu thuyết Série Noire trong có những vụ giết người, đánh cướp, ngoại tình. lừa đảo, phản bội, thù hận rất có ích cho người đọc. Trong tất cả những tiểu thuyết Série Noire ấy bọn làm bậy bao giờ cũng phải đền tội. Như một bọn 4 tên đục két sắt Nhà Băng lấy được tiền, chúng rút đi êm, chúng thành công nhưng rồi bọn chúng giết lẫn nhau, cả bọn chết hết..v..v..Những anh giết vợ, những chị giết chồng dàn xếp khéo, kỹ, ăn chắc đến mấy cuối cùng cũng bị còng tay vào nằm khám trọn đời vì một lỗi nhỏ, một sơ hở nào đó. Tác giả “Le Crime ne paie pas” viết rõ:

“Những ông thầy giảng khuyên người ta đừng làm bậy; chủ ý cũng là dậy người ta đừng làm bậy, vì làm bậy không khá được. Nhưng lời khuyên của bài giảng không làm người ta xúc động bằng khi người ta đọc một tiểu thuyết Série Noire hay, hấn dẫn, sống thật, lình động, trong đó những kẻ làm bậy đều phải chịu tội, người đọc cảm thụ lời khuyên hơn khi họ nghe lời giảng.”

Những năm 1960 – thời phong độ cao nhấtt trong cuộc đời phóng tác tiểu thuyết Âu Mỹ của tôi – đường Lê Lợi, Sài Gòn có nhà sách nhập  nhiều tiểu thuyết Detective Pháp – nhà sách này không phải là Nhà Sách Khai Trí. Tôi quên tên nhà sách này. Từ chợ Bến Thành đi lên, ta đến nhà sách này trước rồi mới đến Nhà Khai Trí.

Những năm 1950 Nhà Xuất Bản Flammarion của Pháp xuất bản lọai truyện Série Noire, truyện nào cũng bìa sách đen chỉ khác có tên sách. Những năm 1960 loại tiểu thuyết Série Noire chuyển sang loại sách Livre de Poche, bìa có ảnh nhiều mầu trông đẹp mắt. Những bìa sách đẹp đến nỗi có những quyển tôi đã có rồi nay thấy cũng truyện ấy tái bản, bià sách mầu sắc quá đẹp, tôi lại mua vì bìa sách đẹp. Thời ấy tôi có tiền, tôi mong có sách mới để mua. Người ta mua sách về đọc, rồi thôi, tôi mua sách về đọc, để thưởng thức, rồi chọn truyện hay phóng tác đăng báo, vừa phục vụ đồng bào, vừa có tiền. Tôi từng viết:

“Nhà Sách như vườn hoa của tôi. Vào Nhà Sách, tôi như vào vườn hoa. Sách, với những ảnh bià mầu sắc, với tôi là nhưng đoá hoa.”

Mỗi lần mua về năm, bẩy quyển, tôi để đó đọc dần. Thấy truyện nào hay, hấp dẫn, có thể phóng tác được, tôi để riêng ra một nơi. Ba, bốn tháng sau tôi lấy quyển được chọn đó ra đọc lại, vẫn thấy truyện hay, hấp dẫn, tôi mới quyết định phóng tác truyện đó.

Hôm nay – một ngày thu năm 2014, ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi kể với quí vị về một số những truyện tôi dự định phóng tác mà rồi Ngày 30 Tháng Tư đến, tôi không phóng tác được.

Những năm 1973, 1974, tôi làm nhân viên USIS, tôi vẫn viết truyện phóng tác. Đây là một truyện ngắn loại Thriller của Mỹ tôi thấy hay, tôi định phóng tác nhưng tôi đã không chuyển sang chữ Việt được trong những tháng đầu năm 1974.

o O o

crime1

Chiếc xe cảnh sát  chạy qua biên giới Mễ sang Mỹ. Trên xe chở một tên làm bậy người Mỹ trốn sang Mễ. Tên Mỹ này bị cảnh sát Mễ bắt, giải về Mỹ. Xe đang chạy, tên Mỹ nói:

“Tôi mót tiểu quá. Xin Trung sĩ dừng xe cho.”

Chàng Trung sĩ Cảnh Sát Mễ cũng cần xuống đường. Chàng dừng xe bên đường. Tên Mỹ xin chàng mở còng tay. Còng vừa mở tên Mỹ đánh chết thầy đội Mễ, kéo xác nạn nhân vào bụi rậm.

Tên sát nhân vào xe cảnh sát Mễ chạy qua biên giới. Trời về chiều. Khi xe chạy xuống thung lũng, trời tối, khi xe chạy lên dốc, trời lại nắng vàng. Tên sát nhân đang hừng chí thì rầm, xe lao xuống cái hố bên đường.

Sau phút choáng váng, tên sát nhân mở cửa xe, mò lên đường. Trời sẩm tối. Có người đi tới, Y thấy đó là một ông thầy tu Mễ. Ông đạo này bận toàn y phục đen. Y nhìn  thấy đôi mắt ông sáng long lanh dưới vành mũ nỉ đen. Tên Mỹ năn nỉ;

“Tôi gặp tai nạn. Xin thầy giúp.”

crime2Ông đạo:

“Anh đi theo tôi. Tôi cứu linh hồn anh.”

Bỗng có tiếng người đàn bà vang lên;

“Anh kia. Đừng đi theo hắn.”

Tên sát nhân nhìn lại. Người nói là một thiếu phụ trên lưng ngựa. Nàng đến đó lúc nào y không biết. Nàng trẻ, đẹp, khỏe, tóc vàng, bận bộ đồ trắng hở vai, hở hai cánh tay. Nàng hấp dẫn quá. Y lại nghe tiếng nàng:

“Anh đi theo tôi. Nhà tôi gần đây. Đi theo tôi, anh sẽ có đủ thứ anh cần.”

Ông đạo:

“Đừng đi theo nó. Theo nó, anh sẽ mất…”

Nàng:

“Mất cái gì? Ông đừng đe dọa người ta. Người ta bị tai nạn, cần ăn uống cho tỉnh hồn, lại sức..”

Ông đạo:

“Đi theo nó anh sẽ mất linh hồn.”

Nàng:

“Chỉ nói bậy bạ. Chính phủ phải cấm những người như ông lảng vảng ngoài đường chuyên lừa gạt những người gập nạn. Anh kia theo tôi.’

Nàng quay ngựa đi. Anh Mỹ chạy theo. Nàng cho anh nhẩy lên ngựa ngồi sau nàng, ôm nàng. Ngựa chạy lên đồi cỏ xanh. Trăng sáng vằng vặc. Nàng chỉ về toà lâu đài đá trắng trên lưng đồi:

“Nhà tôi đó.”

Anh Mỹ ngồi một tay ôm ngực nàng, tay kia ôm bụng nàng. Anh ngây ngất vì mùi hương từ mái tóc nàng, mùi da thịt nàng. Ngựa chạy đều. Tay anh ôm chặt bầu vú nở của nàng, tay kia anh ôm xiết vòng bụng thon của nàng. Không thấy nàng phản đối. Anh làm tới. Anh hôn lên bờ vai trần thơm phức của nàng. Nàng cho ngựa dùng lại. Nàng theo anh xuống ngựa. Anh ôm nàng. Nàng chào đón anh.

Cuộc ái ân nồng nàn diễn ra trên cỏ mịn. Đã quá. Anh Mỹ nằm ngửa nhìn lên trời trăng. Cuộc đời sao lại có thể đẹp đến như thế này. Rồi anh ngửi thấy mùi gì hôi hôi. Hôi rồi thối. Anh nhìn sang bên. Nằm bên anh bây giờ không phải là người thiếu phụ nõn nà mà là xác một bà già. Cái xác đã thối rữa.

Biết gặp Qủi, anh Mỹ vùng dậy chạy. Bản năng tự cứu làm anh chạy trở về chỗ xe anh gập nạn. Anh vồ lấy cửa xe, định mở cửa chui vào xe. Anh khựng lại khi thấy xác anh nằm trong xe. Đến lúc ấy anh mới biết anh đã chết trong tai nạn, anh bây giờ chỉ là linh hồn anh.

Anh nhìn lên đường. Bóng ông thầy tu đi xa dần. Anh chạy theo:

“Thầy ơi..Xin thầy cứu tôi..”

Ông đạo nhìn anh, thương hại:

“Hồi nẫy ta cứu anh được. Bây giờ thì không thể.”

Tiếng nàng:

“Anh kia. Đi theo ta.”

Anh quay nhìn. Nàng trở lại thành người thiếu phụ đẹp làm anh vừa mê, vừa muốn, vừa sợ. Nàng quay ngựa. Anh vừa khóc vừa chạy theo nàng.

o O o

Bốn mươi mùa thu lá bay đã qua đời tôi kể từ khi tôi đọc truyện ngắn tôi vừa kể, đọc, thấy hay, định viết ra chữ Việt, hôm nay tôi còn nhớ từng chi tiết của truyện. Rất tiếc tôi đã không kịp viết thành truyện.

Năm 1973 tôi có được quyển tiểu thuyết “Ascenseur pour l’échafaud.” – Thang máy lên cột treo cổ – truyện viết theo phim Ascenseur pour l’échafaud của đạo diễn Pháp Louis Malle. Phim được làm năm 1958. Đạo diễn Malle là một đạo diễn ở trong giới gọi là Nouvelle Vague của xi-nê Pháp, Ý. Đây là phim đầu tay – đầu tiên, thứ nhất – của Louis Malle. Khi làm phim này, ông 25 tuổi. Tôi không biết năm xưa ấy phim Ascenseur pour l’échafaud có được đưa sang chiếu ở Sài Gòn hay không.

Phim do cô đào Jeanne Moreau trong vai chính. Tôi thấy Jeanne Moreau có tài hơn, diễn khéo hơn, diễn được nhiều vai hơn  Brigitte Bardot. Nếu phải chọn trong hai người lấy Nàng Số Một, tôi chọn Jeanne Moreau.

Truyện phim: Julien Tavernier, Trung Úy Nhẩy Dù từng dự trận chiến tranh Đông Dương, giải ngũ, về Paris, trở thành chuyên viên thương mại. Chàng là người tình của nàng Florence.- Jeanne Moreau –  Nàng là cô vợ trẻ của ông chồng già Simon Carala, chủ nhân cơ sở thương mại mà Tavernier là nhân viên. Florence ngoại tình với Tavernier. Nàng và chàng muốn sống chung với nhau như vợ chồng, họ âm mưu giết ông già Carala. Họ dàn xếp cho vụ ám sát thành vụ nạn nhân tự tử. Tavernier làm giả thư tuyệt mệnh của ông già. Văn phòng của chàng ở tầng dưới, văn phòng ông già ở tầng trên. Gần giờ tan sở, Tavernier ra ban-công, chàng quăng dây lên ban công từng trên, leo dây lên, vào văn phòng ông già, dùng sáng bắn vào đầu ông. Chàng để khẩu súng vào tay ông già, để lá thư tuyệt mệnh lên bàn, trở ra ban công, bám dây chuyền xuống ban công tầng dưới, trở vào văn phòng, rồi đi qua phòng thư ký, xuống đường đi đến chỗ hẹn với người tình. Khi ngồi vào xe ô tô trước toà nhà, chàng nhìn lên mới thấy đoạn dây thừng vẫn còn mắc trên ban công, chàng đã quên không lấy sợ thừng đó đi.

Tavernier vội trở vào toà nhà để lên lầu lấy dây thừng. Nhưng đã qua giờ tan sở.  Khi Tarvernier vừa vào thang máy – ascenseur, elevator – thì người gác nhà tắt điện trong toà nhà, đi ra khoá cửa lại.

Tavernier bị kẹt trong thang máy. Chàng xoay sở hết cách mà không làm sao thoát ra được phòng thang máy. Bên ngoài, Florence hồi hộp chờ người yêu trong tiệm cà phê. Nhưng chờ mãi chàng không tới. Tất nhiên nàng không biết người nàng yêu bị kẹt trong phòng thang máy. Nàng lang thang đi tìm chàng suốt đêm trong Paris.

Theo tôi, L’ascenseur pour l’échafaud là truyện – các ông nhà văn gọi là “điển hình” của loại tiểu thuyết Le Crime ne paie pas: Làm bậy không khá được.

Khi thực hiện âm mưu, đôi tình nhân không ngờ xẩy ra chuyện chàng quên không lấy đi sợi dây thừng trên ban công, rồi chuyện toà nhà tắt điện khi chàng vừa vào phòng thang máy. Chàng và nàng bị kết tội giết người có dự mưu. Thay vỉ được sống vợ chồng yêu thương nhau, nàng và chàng tàn đời trong tù.

Bài học cho người đời của Ancenseur pour l’échafaud là “Làm bậy không khá được. Làm bậy không bao giờ thành công được. ” Nàng đẹp, Nàng đa tình, nàng ngoại tình cũng được đi. Nhưng Nàng đừng giết chồng. Không làm được. No can do. Ai can you, Nàng ơi.

L’ascenseur pour l’échafaud có nền nhạc của Miles Davis, nhạc sĩ Jazz Mỹ Đen nổi tiếng những năm 1955-1965. Davis độc tấu ngẫu hứng kèn đồng trong phim này. Tháng Mười 2014, đêm khuya, phòng vắng, yên tĩnh 200/100, an ninh 500/100, người viết lưu vong già nằm xem phim L’ascenseuer pour l’échafaud trên TiVi. Phin Đen Trắng. Noir et Blanc. Ông già nhớ lại năm xưa ông đọc truyện L’ascenseur pour l’échafaud ở Sài Gòn của ông; năm xưa ấy ông định phóng tác tiểu thuyết này ra tiếng Việt, ông làm không kịp. Tiếng kèn Miles Davis làm trái tim Tám Bó Một Que của ông nức nở như năm ông Bó Tám.

Vì được thấy Jeanne Moreau, Cô Đào Đầm Pháp  Xi-Nê Số Một của tôi, tôi viết bài này.

Một lời bàn loạn: Chuyện Ascenseur pour l’échafaud xẩy ra ở Paris khi loài người chưa có cellphone. Nếu có cellphone bi thảm kịch đã không xẩy ra. Bị kẹt trong thang máy, chàng móc phone trong túi ra, bấm phone gọi nàng:

crime3“Em yêu, nhà tắt điện. Anh bị kẹt trong thang máy.”

Hay nàng, trong tiệm cà phê, dùng cellphone gọi chàng:

“Anh yêu, anh đang ở đâu?”

Thời Cô Duy Liệt yêu cậu Lỗ Mê Đồ – Cô Juliet, Cậu Roméo –  thảm kịch Tình Oan làm cô cậu chết thảm đã không xẩy ra nếu thời đó cô cậu có cellphone.

Cô Duy Liệt:

“Anh Lỗ Mê Đồ yêu dấu. Ông già, bà già em bắt em lấy chồng. Sư huynh XX đưa cho em ve thuốc, uống vào em sẽ chết nhưng ba ngày sau em sống lại. Vậy em uống thuốc, gia đình em sẽ đưa xác em vào nhà mồ, anh về nhà mồ của gia đình em, chờ em sống lại, đưa em đi sống với anh.”

o O o

Một truyên tôi định phóng tác nhưng tôi đã không phóng tác được: Tiểu thuyết Mary của Vladimir Nabokov.

Nhà văn Nabokov viết Mary năm 1928. Ông theo gia đình ông tránh hoạ cộng sản từ Nga qua Pháp năm 1920. Sống ở Paris, ông viết cho những tạp chí Nga lưu vong bằng chữ Nga. Ông viết Mary bằng chữ Nga, tác phẩm được dịch sang chữ Đức. Nhiều năm sau, ông viết Lolita bằng chữ Anh. Ông nổi tiếng khắp thế giới với Lolita, khi đó Mary mới được chuyển sang chữ Anh.

Tôi có quyển Mary của Nabokov năm 1970. Truyện thưộc loại Truyện Vưà – không là truyện ngắn, không là truyện dài – Sơ lược: Chuyện xẩy ra ở một thị trấn Đức những năm 1925. Ganin – 25, 28 tuổi –  là một thanh niên Nga sống trong cộng đồng người Nga bỏ nước tránh hoạ cộng sản. Những người Nga này sống buồn, vô vọng, làm đủ nghề vặt để sống. Thị trấn Đức này có những căn nhà chia làm nhiều phòng nhỏ cho mướn. Người mướn ăn ở luôn trong nhà. Ganin gặp Alfyorov, một người đàn ông Nga trạc 49 tuổi, cùng sống trong nhà. Alfyorov tâm sự với Ganin về chuyện anh đang bị bối rối, khó xử: cô vợ Alfyorov từ Nga được anh làm bảo lãnh sắp đến với anh, nhưng ở đây anh đã có người anh yêu, một phụ nữ Nga cũng lưu vong như anh. Vợ ang đến anh phải đón, anh phải bỏ người anh yêu ở đây, mà anh thì anh không muốn bỏ nàng. Alfyorov cho Ganin xem ảnh cô vợ sắp từ Nga đến của anh. Ganin lặng người khi thấy cô vợ trẻ ở Nga của Alfyorov là  Mary, người yêu của chàng trước khi chàng nhập ngũ. Quân đội Nga Hoàng bại trận, Ganin theo đồng đội xuống tầu bỏ nước ra đi ở hải cảng Sevastopol, chàng đi mà không báo tin được cho Mary.

Ganin hôi tưởng những năm xưa gia đình chàng ở gần gia đình Mary. Nàng và chàng yêu nhau từ những năm họ mười sáu, muời bẩy tuổi. Tình yêu hoa niên trong trắng. Nay nàng sắp đến, tình yêu sống lại trong tim Ganin. Chàng dự định ngày nàng đến, chàng sẽ tìm cácvh làm cho Alfyorov không đi đón được nàng. Chàng sẽ đến nhà ga đón nàng. Chàng sẽ nói với nàng:

“Anh yêu em, anh vẫn yêu em. Nay định mệnh cho đôi ta gặp nhau ở đây. Anh đưa em đi sống với anh.”

Mary gửi điện tín đến cho biết giời tầu hỏa chở nàng đến nhà ga. Lúc 10 giờ tối. Tối ấy Ganin phục rượu cho Alfyorov say mút chỉ, chàng bào Alfyorov yên trí cứ ngủ đi, đến giờ chàng sẽ đánh thức hắn cho hắn đến nhà ga. Chàng đến nhà ga một mình. Khi chờ tầu đến, chàng bỗng thấy cuộc tình của chàng và Mary đã không còn nưã. Mary bây giờ, Mary sắp đến, không phải là nàng Mary, người chàng yêu năm xưa. Chàng bỏ đi.

Tiểu thuyết Mary không được làm thành phim. Tôi tưởng tượng nếu tôi là đạo diễn phim Mary, tôi sẽ cho Ganin đến đón Mary trong chiếc xe ngựa. Xe ngựa đậu trước nhà ga tỉnh nhỏ. Đêm. Khi đoàn tầu hoả hú còi chạy vào ga, chiếc xe ngựa đi xa dần nhà ga. Tiếng vó ngựa gõ lộp cộng trên mặt đường lạnh như đánh nhịp cho tiếng cói tầu.

Đi tù hai lần trở về căn nhà dzột nát và vòng tay gầy của nguời vợ hiền, tiểu thuyết Mary của Vladimiar Nabokov vẫn chờ tôi trong tủ sách còm cõi của tôi. Tôi mang Mary sang Mỹ với tôi. Ở Kỳ Hoa, tôi định phóng tác Mary. Nhân vật trong truyện sẽ là những người Việt tị nạn cộng sản sang sống ở Mỹ. Mary sẽ là thiếu nữ, rồi là môt thiếu phụ Việt. Chàng là một sĩ quan Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Cuộc tình hoa niên của họ sẽ được cho xẩy ra ở Đàlạt, hay Nha Trang. Chàng đi khỏi nuớc ngày 30 Tháng Tư 1975 mà không kịp từ biệt nàng. Chàng đón nàng ở phi cảng San Francisco hay phi cảng Dulles..v..v..

Tôi chọn tên “Tình đi từ đó” cho Mary bản chữ Việt. nhưng từ ngày tôi mang Mary sang Mỹ với tôi đến nay đã hai mươi năm, tôi chưa phóng tác Mary thành “Tình đi từ đó.” Chắc đến 5000/100 là Mary sẽ không bao giờ trở thành Truyện Việt “Tình đi từ đó.”

Ý trung nhân.. Ngô lão hỹ.

Em yêu ơi, anh già rồi. Anh hết síu oắt, anh không còn phóng tác tiểu thuyết đưọc như năm mươi năm xưa nữa!

Cảm khái cách gì!

Thưa quí vị nữ độc giả thơm như múi mít, tôi xin hỏi: Nếu quí vị phóng tác Mary, cuối cùng quí vị:

1 – Cho chàng chờ nàng ở phi cảng. Nàng và chàng sẽ yêu nhau, sẽ sống yêu thương nhau trọn đời trên đất Kỳ Hoa.

2 – Cho chàng đi khỏi phi cảng trước khi nàng đến.

Thư trả lời xin gửi cho tôi về tòa soạn Sàigonnhỏ.

Tôi cám ơn.

BAY ĐI, Ở LẠI

Chúng tôi sẽ chôn các anh.

Chúng tôi sẽ chôn các anh.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Tháng Mười 2014.

Lời Nói bay đi, Chữ Viết ở lại.

Sáu tháng nay tinh thần người Viết ở Rừng Phong từ từ và đều đều xuống dzốc. Như Dòng Đào Nguyên chẩy suôi, Dòng Đời CT cũng chẩy suôi. Tám Bó Lẻ Một Que. Ngày đi khỏi cõi đời này không còn bao lâu. Đã viết dzài dzài qua 60 mùa thu vàng. Riêng trong “hoanghaithuy.com” tới hôm nay đã có 624 bài Viết ở Rừng Phong.

Buá Liềm Sô Viết xuống đường và nằm đường.

Buá Liềm Sô Viết xuống đường và nằm đường.

Tám Bó còn viết được như vầy – dzù nhiều bài đã loạng quạng, tưởng chưa viết nên viết lại đề tài đã viết từ 10, 15 năm trước, viết lại mà viết dzở hơn bài trước – là được lắm dzồi. Còn mong gì hơn? Không nên, không cần mong gì hơn.

Cuộc đời 80 năm: 20 năm ở Xứ Bắc Kỳ, 40 năm ở Sài Gòn Thương Yêu, 20 năm ở Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Xa gia đình đi kháng chiến năm 14 tuổi, bốn năm sau trở về Hà Nội, lại đi học ở Trường Văn Lang, đường Phạm Phú Thứ, sau chợ Hàng Da. Ngày ngày ngôi trong những rạp xi-nê nhiều hơn ngời trong lớp học. Mười tám tuổi vào Sài Gòn. Hai năm đi Lính Quốc Gia. Làm phóng viên nhà báo Ánh Sáng năm 1952. Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngăn năm 1952 của nhật báo Tiếng Dội. Tiền giải 3.000 đồng bạc Đông Dương. Viết tiểu thuyết phóng tác từ 1956 đến 1975. Hai mươi năm sống trong Sài Gòn tang thương Cờ Máu, tám năm phơi rốn trong hai Nhà Tù Bắc Cộng: Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu, Sài Gòn, Nhà Tù Lớn Chí Hoà, nơi anh H2T, người anh em cùng vợ với CTHĐ, khi gọi là Lầu Bát Giác, khi gọi là Thánh Địa Chí Hòa. Anh H2T thường viết: “Người Sài Gòn bị tù nếu chưa một lần vào Nhà Tù Chí Hoà chưa hẳn là Tù.” Viết cách khác: “Chưa hẳn biết thế nào là Nhà Tù.”

Những năm 1987. 1988, trong Phòng 10 Khu ED Nhà Tù Chí Hoà thường có những ông Tù Thầy Bói Sáng Tài Tử. Tài Tử vì các ông không chuyên nghiệp, các ông chỉ bói chơi cho anh em Tù. Bói bằng cách Xem Chỉ Tay. Một hôm quá buồn, không có việc gì làm, không có chuyện gì để nói, H2T đưa bàn tay trái cho ông bạn Tù Thầy Bói Tài Tử xem chỉ tay. Ông này là người quen biết H2T từ trước. Ông xem, ông nói:

“Anh chỉ phải ngừng viết một thời gian. Rồi anh sẽ viết lại. Anh sẽ viết mãi đến ngày anh chết.”

Ông chỉ cho thấy:

“Đây là đường đời của anh. Đây là đường sự nghiệp của anh. Nó bị đứt chỗ này, nhưng rồi đến đây nó chắp lại và nó chạy dài. Anh sẽ lại viết như anh từng viết trong bao nhiêu năm.”

Khi ấy H2T cám ơn Thầy, nhưng không tin. Không tin một ly ông cụ nào. Làm sao còn viết được! Vô phương.

Thế rồi.. Dòng Thời Gian dài một ánh bay.. Những ngày như lá, tháng như mây..

Sáng nay gượng viết bài này: Lời Nói bay đi, Chữ Viết ở lại. Tôi viết về những Lời Huyênh Hoang của bọn Cộng Nga. Chuyện cũ. Ta nhắc lại để nhớ một thời bọn Cộng Nga hung hãn đe doạ nhuộm đỏ toàn thế giới.

Tôi tìm được những Lời Ba Hoa Phét Lác dưới đây trên Internet; tôi trích đăng nguyên câu chữ Anh để quí vị yên tâm tôi không bịa chuyện, và để quí vị thấy rõ hơn câu nói vì tôi có thể dịch sang tiếng Việt không sát nghiã.

Trăm năm sau, vì thù hận,  người dân Đông Âu vẫn dúng búa tạ đập Tượng Lenin.

Trăm năm sau, vì thù hận, người dân Đông Âu vẫn dúng búa tạ đập Tượng Lenin.

Bắt đầu là những Lời Nói của LENIN.

* A lie told often enough becomes the truth.

Dối trá nói mãi sẽ thành sự thật.

CTHĐ: Nhưng rồi người ta sẽ biết, sẽ thấy đó là dối trá.

* Give us the child for 8 years and it will be a Bolshevik forever.

Giao cho chúng tôi đưá trẻ trong tám năm, nó sẽ là người Bôn-sê-vích mãi mãi.

CTHĐ: Lenin lạc quan Tếu. Có những tên đảng viên cộng sản 50 tuổi Đảng vẫn bỏ Đảng như bỏ cái quần sà lỏn rách.

* Give me four years to teach the children and the seed I have sown will never be uprooted.

Cho tôi bốn năm để dậy một đưá trẻ, cái mầm tôi gieo vào nó sẽ không bao giờ bị bật rễ.

CTHĐ: Dzoóc.

* Communism is Soviet power plus the electrification of the whole country.

Cộng Sản là quyền lực Sô-viết và toàn quốc có điện.

CTHĐ: Cộng Sản là Nhà Tù và Đói dzài, Đói dzẹt.

* Destroy the family, you destroy the country.

Triệt phá gia đình là triệt phá quốc gia.

* He who now talks about the “freedom of the press” goes backward, and halts our headlong course towards Socialism.

Kẻ nào hôm nay nói đến “tự do báo chí” là kẻ đi ngược, và ngăn cản việc chúng ta tiến tới Xã hội chủ nghĩa.

Hoả tiễn nguyên tử Kút Xép đưa vào Cuba.

Hoả tiễn nguyên tử Kút Xép đưa vào Cuba.

CTHĐ: Bọn Cộng biết như thế nên chúng nắm chặt báo chí.

* The bourgeoisie is many times stronger than we. To give it the weapon of freedom of the press is to ease the enemy’s cause, to help the class enemy. We do not desire to end in suicide, so we will not do this

Giai cấp tư sản mạnh hơn ta nhiều lần. Giao cho nó cái võ khí tự do báo chí là giúp cho nó mạnh, là giúp kẻ thù giai cấp của ta. Chúng ta không muốn tự sát, nên chúng ta không làm cái việc đó.

* The Capitalists will sell us the rope with which we will hang them.

Bọn tư bản sẽ bán cho chúng ta sợi dây thừng ta dùng để treo cổ chúng.

CTHĐ: Bọn Cộng vẫn chửi giới tư sản-tư bản là chỉ biết có Tiền, không biết đến Tình Nghĩa, Tình Người. Lời Cộng: “Bọn tư bản chuyên dùng thói “tiền trao, cháo múc.” Có tiền thì có ăn, không tiền nhịn đói.” Những năm 1981, 1982 ở Sài Gòn trong số những bài tôi viết gửi sang Mỹ, Úc, Pháp, có bài “Tiền trao, cháo múc.” Tôi viết chuyện tiền trao, cháo múc là đúng. Người ta vất vả nấu được nồi cháo, người ta cần bán cháo kiếm chút tiền lời nuôi thân và nuôi con người ta. Anh ở đâu anh đến, anh đòi ăn cháo, anh không trả tiền. Người ta không múc cháo cho anh, anh chửi người ta vô tình, chỉ biết có Tiền. Chỉ khi nào anh Tiền có trao, Cháo không múc, anh mới có quyền hậm hực. Tôi chửi bọn Công là bọn “Tiền không trao, Cháo cứ múc.”

* Under socialism all will govern in turn and will soon become accustomed to no one governing.

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa tất cả sẽ thay phiên nhau cầm quyền và rồi người ta sẽ quen với việc không ai cầm quyền.

CTHĐ: Vừa dzoóc vừa ngớ ngẩn.

Anh Cộng hung hãn Đao to, Búa lớn nhất là KÚT XÉP.

Lời Kút:

* If you live among wolves you have to act like a wolf.

Nếu ta sống với chó sói, ta phải hành động như chó sói.

* Support by United States rulers is rather in the nature of the support that the rope gives to a hanged man.

Sự trợ giúp của bọn Hoa Kỳ giống như sự trợ giúp của sợi dây thừng giúp người bị treo cổ.

* Politicians are the same all over. They promise to build bridges even when there are no rivers.

Bọn làm chính trị ở đâu cũng giống nhau. Chúng hứa xây cầu ở cả những vùng không có con sông nào.

* The press is our chief ideological weapon.

Báo chí là võ khí ý thức chính của ta.

* When you are skinning your customers, you should leave some skin on to heal, so that you can skin them again.

Khi anh lột da những thân chủ của anh, anh nên để lại chút da cho nó lành, để anh có thể lột da tiếp.

CTHĐ: Bọn Cộng không làm theo lời Kút. Chúng lột da người dân đến xương.

* When it comes to combating imperialism we are all Stalinists

Khi phải đánh bọn Đế quốc, chúng ta đều là đệ tử của Stalin.

CTHĐ: Tiếng Anh không có hai tiếng “Chúng tôi, chúng ta.” Tiếng “we are” có thể là chúng ta, mà cũng là chúng tôi.

* All the sparrows on the rooftops are crying about the fact that the most imperialist nation that is supporting the colonial regime in the colonies is the United States of America.

Tất cả những con chim sẻ trên khắp các mái nhà đều kêu lên chuyện quốc gia đế quốc nhất giúp chế độ thuộc địa là Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ

* Berlin is the testicle of the West. When I want the West to scream, I squeeze on Berlin.

Berlin là dương vật của bọn Tây phương. Khi tôi muốn bọn Tây phương rú lên, tôi bóp Berlin.

CTHĐ: Đức bại trận, nước Đức bị chia hai. Berlin nằm trong phần Đông Đức Cộng Sản. Một nửa Berlin do Đồng Minh quản trị. Xe cộ từ Tây Đúc vào Berlin phải đi qua phần đất bị bọn Nga Cộng kiểm xoát. Bọn Nga nhiều lần phong toả Berlin, không cho xe tiếp tế thực phẩm cho dân Berlin đến từ Tây Đức. Bọn Nga Cộng muốn giữ mãi tình trạng hai nước Đức.

* If Adenauer were here with us in the sauna, we could see for ourselves that Germany is and will remain divided but also that Germany never will rise again.

Said during a late night visit to a sauna with Finland’s president Kekkonen in June 1957.

Nếu Adenauer ở trong nhà tắm hơi này với chúng ta, chúng ta sẽ thấy Đức Quốc hiện bị chia đôi và sẽ bị chia đôi mãi mãi, Đức Quốc sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được.

Kút nói câu trên trong một tối đến nhà tắm hơi ở Phần Lan cùng với Tổng Thống Phần Lan Kekkonen năm 1957. Kút và bọn Cộng Nga muốn nước Đức bị chia đôi mãi mãi.

* Mr. President, call the toady of American imperialism to order.

Xin Chủ Tịch bảo bọn cóc nhái tay sai của Đế Quốc Hoa Kỳ giữ trật tự.

Kút nói câu trên với Chủ Tích Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 12 Tháng 10, 1960, để phản đối bài phát biểu của đại biểu Phi-luật-tân.

* You Americans are so gullible. No, you won’t accept communism outright, but we’ll keep feeding you small doses of socialism until you’ll finally wake up and find you already have communism. We won’t have to fight you. We’ll so weaken your economy until you’ll fall like overripe fruit into our hands.”

Người Mỹ các anh thật khờ khạo – dễ bị lừa – Các anh không chịu nhận chủ nghiã cộng sản ngay, nhưng chúng tôi sẽ trích cho các anh những liều lượng xã hội chủ nghiã nho nhỏ cho đến khi các anh tỉnh ra và thấy các anh đã theo chế độ cộng sản. Chúng tôi sẽ không phải tấn công các anh. Chúng tôi sẽ làm cho nền kinh tế của các anh yếu đi cho đến khi các anh rơi như trái cây chín vào tay chúng tôi.

* President Kennedy. And lastly, Chairman Khrushchev has compared the United States to a worn-out runner living on its past performance, and stated that the Soviet Union would out-produce the United States by 1970. Without wishing to trade hyperbole with the Chairman, I do suggest that he reminds me of the tiger hunter who has picked a place on the wall to hang the tiger’s skin long before he his caught the tiger. This tiger has other ideas.

Tổng Thống Kennedy: Và sau cùng, Chủ Tịch Khrushchev ví Hoa Kỳ nhưng kẻ chạy đã mệt mỏi, chỉ sống nhờ những thành tích cũ, và ông tuyên bố Liên Bang Sô Viết sẽ có mức sản xuất cao hơn Hoa Kỳ vào năm 1970. Không muốn chơi chữ với Chủ Tích, tôi thấy ông làm tôi nhớ chuyện kẻ đi săn cọp dành sẵn một chỗ trên tường để treo tấm da con cọp anh ta chưa bắn được. Con cọp nó có những ý nghĩ khác.

o O o

Kút Xép là Lãnh Tụ Nga Cộng hung hãn nhất, nói năng đao to, buá lớn nhất. Trong đời làm lãnh tụ của Kút có hai sự việc đáng kể:

Kút đưa hoả tiễn nguyên tử vào đặt trong nước Cuba.

Kút cầm giầy đập lên bàn rầm rầm ở Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

Năm 1962, Liên Sô âm thầm thực hiện việc đưa hoả tiễn nguyên tử vào đặt trong nước Cuba. Kút và Cát Trô giữ kín việc này, nhưng phi cơ tuần thám của Hoa Kỳ phát hiện ra dàn hoả tiễn Nga trong đất Cuba. Lập tức Tổng Thống Kennedy có phản ứng quyết liệt:

Nga phải đưa ngay hoả tiễn ra khỏi Cuba. Nếu không, Hoa Kỳ sẽ tấn công tiêu diệt Cuba.

Hải Quân hoa Kỳ được lệnh phong toả — bao vây – Cuba.

Kút tuyên bố: Liên Sô bảo vệ Cuba, sẽ tấn công Hoa Kỳ nếu Hoa Kỳ tấn công Cuba.  Cùng lúc, Nga Sô cho tầu chiến tiến đến biển Cuba, sẽ xuyên qua vòng bao vây biển Cuba của Hải quân Mỹ, Hải quân Nga sẽ đụng trận với Hải quân Mỹ.

Mỹ găng, Nga cũng găng. Chiến tranh Nga Mỹ có cơ xẩy ra. Hai bên đánh nhau trận này là trận dùng võ khí nguyên tử. Không thể tưởng tượng được sự tàn phá.

Cát Trô tuyên bố: Hoả tiễn đặt trong nước Cuba là của Cuba.

Với lời nói trên Cát Trô muốn nói: Kể cả Nga nay cũng không có quyền đưa dàn hoả tiễn ra khỏi Cuba.

Cả thế giới nín thở theo dõi và chờ đợi. Dân Mỹ nín thở kỹ nhất.

Kút rút lui, ra lệnh Hải quân Nga trở lại, cho tháo gỡ và đem  hoả tiễn ra khỏi Cuba.

Vụ Kút đập giầy lên bàn trong Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc xẩy ra trong ngày 23 hay ngày 29 Tháng Chín, năm 1960. Kút cầm giầy đập rầm rần lên bàn để phản dối bài thuyết trình của Ngoại Trưởng Phi-luật-tân về tình trạng nhân dân các nước Đông Âu quằn quại dưới gót sắt của Nga Cộng.

Tôi – CTHĐ – chính mắt tôi trông thấy cảnh Kút Xép đập giầy lên bàn trong đoạn phim thời sự tôi xem ở rạp xi-ne Majestic, Tự Do, Sài Gòn, năm ấy. Trong số quí vị đọc những dòng chữ này hôm nay từng nhìn thấy cảnh Kút Xép đập giầy lên bàn năm xưa xin lên tiếng. Bởi vì bây giờ giới truyền thông Mỹ Anh rất mù mờ, ngơ ngáo về chuyện Kút đập giầy. Người ta tìm kỹ nhưng không tìm ra đoạn phim ghi cảnh Kút đập giầy. Có tấm ảnh Kút đậi giầy nhưng đó là ảnh giả, ảnh ghép, ảnh PhotoShop: chiếc giầy Kút đơ lên trong ảnh là giầy vải mocassin, không phải là giầy da.

Nhiều chuyện được kể về vụ Kút đập giầy. Nina Kút Xếp, cháu nội của Kút, kể hôm ấy ông nội Kút của cô đi đôi giầy mới. Giầy mới là Kút khó chịu nên khi ngồi dự hội, Kút tháo giầy ra cho dễ chịu. Rôi Kút nổi giận, hung hãn nắm tay đập lên bàn, đồng hồ đeo tay của Kút văng ra, rớt xuống sàn. Kút cúi nhặt, thấy chiếc giầy, bèn cầm giầy lên và đập. Chuyện khác kể Kút bụng to, thưộc loại bụng phệ, không cúi người xuống được..v..v..

Sergei Kút Xép, con trai của Kút, năm 1991 cùng vợ đến Hoa Kỳ; Sergei  giảng dậy về Lịch Sử Cuộc Chiến Tranh Lạnh Nga Mỹ. Năm 1999 Sergei, 61 tuổi.  và vợ xin nhập tịch Hoa Kỳ, làm công dân Mỹ, giơ tay thề trung thành với Mỹ Quốc, tuân theo và bảo vệ Hiến Pháp Hoa Kỳ….

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:

Đừng nghe những gì Cộng sản nói.

Hãy xem những gì Cộng sản làm.

Tổng Bí Thư Lê Duẩn:

Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm

Chủ nghĩ Mác-Lê nin bách chiến bách thắng muôn năm.

THƠ và CHUYỆN

bia3

Chuyện đây là chuyện về những người làm Thơ.

Từ những năm 1950, đọc sách báo, tôi đã biết đến tác phẩm Tùy Viên Thi Thoại cuả Viên Mai. Nhưng tôi chỉ được nghe chuyện loáng thoáng. Kể cả những ông năm xưa ấy viết về Tùy Viên Thi Thoại cũng chẳng biết gì nhiều về tác phẩm này. Lý do: Tùy Viên Thi Thoại không được dịch ra chữ Việt.

Dâng lên một chén mời Trời. Đưa ra một chén để mời Vầng Trăng.  Thơ Nguyễn Đức Liêm.

Dâng lên một chén mời Trời.
Đưa ra một chén để mời Vầng Trăng.
Thơ Nguyễn Đức Liêm.

Trong 20 năm – từ 1954 đến 1975 – Tùy Viên Thi Thoại không được dịch trong Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Năm 2007 con tôi tìm mua được cho tôi tập Tùy Viên Thi Thoại mới xuất bản. Người dịch là Trương Đình Chi. Trong lần xuất bản này sách chỉ in 500 cuốn.

Tôi vẫn nghĩ “Lộc không nên hưởng một mình. Văn lại vàng không nên.” Tôi đọc, tôi trích một số đoạn trong Tùy Viên Thi Thoại mời quí vị cùng đọc.

Viên Mai, tác giả Tùy Viên thi Thoại, sống đới Vua Khang Hy, ông chỉ trích và bình thơ của những người sống cùng thời với ông. Tôi thấy phần Thơ không mấy hay, riêng phần Thoại – những chuyện viết về đời từ, cá tính những thi sĩ, những trường hợp, hoàn cảnh bài thơ được làm, là lạ và đáng kể. Mời quí vị đọc.

Đây là bài Tưạ của Tùy Viên Thi Thoại:

* Đàn Mặc Trai viết tập Sở Đình Bại Châu Lục và tự đề tựa, có đoạn viết:

“..Có người đi chơi vùng Nam Hải, bắt được con kiến dài chừng một thước, anh ta ướp muốn con kiến để mang về cho mọi người cùng xem. Tô Đông Pha ăn món sò ngon ở đây, dặn con đừng nói cho ai biết, e những vị công khanh sẽ tìn ra Nam Hải ăn tranh mất món sò ngon này. Tôi viết tập này như người đem con kiến lạ khoe mọi người, không bắt chước thói tham miếng ăn ngon như Tô Đông Pha, dấu món ngon sợ người ta ăn mất.”

CTHĐ: Tô Đông Pha không chỉ không được ca tụng trong tập Thi Thoại này. Trái lại,Thơ của Tô bị chê là không có gì xuất sắc, không có chiều sâu, con người Tô bị chê là tham ăn, nhỏ mọn. Tôi théc méc: Tô nói chuyện ăn sò với con của Tô, ai nghe được lời Tô nói.

* Mi họa: Vẽ lông mày. Trương Sưởng làm chức Kinh triệu doãn đời Hán Tuyên Đế, tuy có tài nhưng thiếu nghiêm trang, thường vẽ lông mày cho vợ trước khi đi làm. Quan hữu tư tấu hặc, vua trách hỏi. Xưởng tâu:

“Thần thấy trong khuê phòng còn lắm việc tệ hơn chuyện vẽ lông mày.”

CTHĐ: Từ ngàn năm trước, phụ nữ Tầu đã làm việc nhổ lông mày và dùng mực vẽ lông mày. Tôi théc méc khi thấy ngày xưa các Vua Tầu xét nét đời tư của các quan quá kỹ.

* Đường Thanh Thần có bài thơ:

Bất đệ viễn qui lai

Thê tử sắc bất hỷ.

Hoàng khuyển cáp hữu tình

Đương môn ngọa dao vĩ.

Thi trượt, từ xa về. Sắc mặt vợ con đều buồn. Con chó vàng thế mà có tình, đón ở cửa, vẫy đuôi mừng.

* Kim Thánh Thán chuyên phê bình tiểu thuyết nên ít người biết tài làm thơ của ông. Ông là tác giả một số bài thơ rấy hay, như một bài tả cảnh ngủ trọ ở một dã miếu:

Chung hưởng tiệm dĩ tịch

Trùng ư Phật diện phi

Bán song quan dạ vũ

Tứ diện quải tăng y.

Mọi tiếng động đã im, côn trùng bay trước mặt Phật. Cửa sổ nửa khép vì mưa đêm. Bốn mặt tường áo sư treo đầy.

* Năm tôi làm chức Tể ở thành Giang Ninh – lời Viên Mai –  có tên con trai họ Tièn mua vợ của tên họ Trương làm vợ lẽ. Hai  bên thuận giá, nhưng tên Trương cứ khất lần không chịu giao vợ. Tên Tiền làm đơn thưa quan. Tôi hỏi cung thì thấy tên Trương là phu đào mỏ than, mặt mũi đen sạm, con vợ nó có nhan sắc, yểu điệu. Tên Tiền đẹp trai mà lại biết làm thơ. Tôi nghĩ hai đưá mà thành vợ chồng thì thật đẹp đôi, như duyên trời định. Nhưng nếu tôi xử cho hai đưá lấy nhau thì trái luật lệ. Tôi bèn cho bán mỏ than để tên Trương phải đi kiếm ăn nơi khác. Có kẻ nha dịch hiểu ý quan, bầy kế cho tên Tiền mua mỏ than. Rồi ngày tháng qua, tôi quên vụ đó.

Hơn mười năm sau tôi đi chơi núi Nguư Đầu, thấy bên đường có cặp vợ chồng cùng ba trẻ nhỏ, thắp hương, quì chào lậy tôi. Tôi dừng lại xem thì người chồng là anh Tiền. Anh kể:

“Được quan tác hợp, chúng tôi thành vợ chồng. Khi vợ cả tôi chết, Trần thị đây thành vợ chính của tôi. Ba đưá trẻ này là con chúng tôi. Vợ chồng tôi được biết hôm nay ngài đi qua đây chúng tôi đến cám ơn ngài.”

CTHĐ: Ngày xưa Quan Tầu nắm cả hai quyền: hành pháp, tư pháp.

* Tạ Thương Mi, người Tô Châu, suốt đời làm mặc khách. Ông có câu thơ mà ông đắc ý là:

Duy hữu hương tâm tiêu bất đắc

Hựu tùy nhất nhạn lạc Giang Nam.

Chí có nỗi nhớ quê là không thể mất.

Lại cùng chiếc nhạn xuống Giang Nam.

* Thơ Tống

Khuyến quân mạc não mấn mao ban

Mấn đáo ban thời dã tự nan.

Đa thiểu chu môn niên thiếu tử

Bị phong suy thượng Bắc Mang sơn.

Khuyên người đừng buồn vì mái tóc người điểm trắng. Có được mái tóc điểm trắng cũng rất khó. Bao nhiêu thiếu niên quyền quí đã bị gió đưa lên nghĩa trang núi Bắc Mang.

* Sách Bát Loại Sao ghi đời Tống, có chuyện cho mượn vợ:

“Ông Trần và ông Phan làn quan cùng triều, bạn thân nhau, Ông Trần than;

“Tôi với bác ngang chức nhau, tuổi cũng ngang nhau. Bác có mấy đưá con trai, tôi chẳng có đưá nào.”

Ông Phan nói:

“Tôi có người thiếp đã sinh hai đưá con trai. Tôi cho bác mượn. Khi bác có con trai thì xin trả lại tôi.”

Người thiếp của ông Phan đuợc đưa sang nhà ông Trần. Bà này sinh cho ông Trần một con trai, đặt tên là Trần Liễu. Được trả về cho ông Phan, bà sinh cho ông Phan một trai, đặt tên là Phan Quí. Trần Liễu và Phan Quí cùng trở thanh hai vị danh nho nổi tiếng một thời.  Chuyện này được người đời cho là giai thoại. Mà kể ra các vị hiền giả đời Tống như ông Trần, ông Phan, thật là rộng lượng và đạt lý.

CTHĐ: Đàn bà Tầu đời xưa không có nột chút giá trị gì cả. Chắc không ở đâu trên trái đất có chuyện “cho mượn vợ” như ở đất Tầu,

* Thái Thú Cao Nam Phu có bài thơ vịnh chuyện “Cho mượn vợ”::

Tặng thiếp sinh nhi cổ nhân hữu

Nhi sinh hoàn thiếp cổ nhân vô

Tống hiền khoát đạt cánh như thử

Ký ngữ nhân gian tiểu trượng phu.

Viên Mai bình luận: Người xưa tặng thiếp cho bạn để ngươi thiếp sinh con cho bạn thì có, nhưng người thiếp sinh con cho ông bạn rồi trở về nhà chồng cũ thì từ xưa chưa thấy. những ông nho hiền đời Tống đã làm việc đó. Hạng người thường hãy nhìn vào đó.

Tặng thiếp sinh con xưa đã có.

Sinh con, trả thiếp, chuyện xưa không.

Người hiền đời Tống làm như thế.

Cho bọn tầm thường được ngóng trông.

Tập Đông Hán Độc Hành Truyện có chuyện người tên là Nghiêm Vĩ, tránh cuộc loạn Vương Mãng, giả làm người thanh manh, vợ ông ăn nằm với trai ngay trước mặt mà ông coi như không biết.

* Thơ của Trần Kiến Phúc:

Hà tất tha sinh định hội kỳ.

Tương phùng tức tại mộng lai thì.

Ô đề, nguyệt lạc, nhân hà xứ!

Hựu thị nhất phiên tân biệt ly.

Không cần hẹn gặp lại nhau ở kiếp sau. Ta gặp nhau ngay trong mộng khi ta ngủ. Khi quạ kêu, trăng lặn, người đâu thấy. Thế là lại thêm một lần biệt ly.

Thơ H2T:

Cần gì hẹn gặp nhau kiếp sau.

Trong mộng đôi ta gặp nhau.

Quạ kêu, trăng lặn, Em ở đâu?

Ta lại biệt ly, Anh lại sầu.

* Đổng Nguyên Kính mua được một nghiên mực. Cạnh nghiên có đề bài thơ:

Tự hữu hồng quán nhật,

Cánh vô khách nhập Tần.

Khả lân Dịch Thủy thượng,

Sầu sát bạch y nhân.

Tuy mặt trời có vầng khí đỏ bao quanh, nhưng không có vị khách nào vào nước Tần. Đáng thương trên bờ sông Dich, người áo trắng buồn muốn chết.

* Viên Mai: Tôi đọc sử thấy chép: Mạnh Hạo Nhiên làm thơ rất vất vả, đến nỗi lông mày bị rụng hết. Vương Duy vừa đi vừa nghĩ vần thơ, bị ngã vào vại dấm. Ngày nay ta đọc Thơ của hai vị, thấy lời Thơ nào cũng thanh thoát, đẹp như y phục của thần tiên, không có vết nối, đường khâu. Hai vị học rộng, biết nhiều nhưng khi làm Thơ không dùng đến những hiểu biết ấy.

* Có ông lão làm nghề đóng, ghép thùng gỗ. Khi ông về già, anh con ông bỏ đói ông. Con ông sinh con trai, ông già thương cháu bồng bế nó cả ngày. Có người hỏi ông:

“Bố thằng nhỏ này bỏ đói ông. Ông thương nó làm gì?”

Ông lão làm bốn câu thơ:

Tằng ký đương niên dưỡng ngã nhi,

Ngã nhi kim hựu dưỡng tôn nhi.

Ngã nhi ngạ ngã, bằng tha ngạ,

Mạc khiến tôn nhi ngạ ngã nhi.

Thường nhớ những ngày ta nuôi thằng con ta. Con ta nay nuôi cháu ta. Con ta nó bỏ đói ta thì mặc nó, ta mong cháu ta không bỏ đói con ta.

* Lòng yêu thương của người con gái thường ngả về chồng, xưa nay vẫn thế. Vào khoảng đời Tần, Nam Việt là một bộ lạc Mán rất mạnh. Họ rất tài bắn nỏ, mỗi mũi tên bằng đồng họ bắn ra có thể giết chết đến mươi người. Triệu Đà lấy làm lo. Nhân Nam Việt Vương có con gái là nàng Lan Châu. Nàng có sắc đẹp lại biết cách chế nỏ. Triệu Đà bèn hỏi cưới Lan hâu cho con trai mình và cho con sang Nam Việt ở rể.

Ba năm sau chàng rể học được cách chế nỏ của dân Nam Việt, bỏ trốn về nước. Triệu Đà cũng có nỏ lợi hại như nỏ của quân Nam Việt, bèn cho quân đánh, bắt sống được ua am Việt. Việc này chép ở sách Việt Kiêu Chí; tôi – (Viên Mai) – bèn vịnh rằng:

Triệu Vương phụ tử khai biên giới

Lai chủng Lan Châu nhất đóa hoa.

Đồng nỗ tam thiên tùy tế khứ,

Nữ nhi tâm thái vị phu gia.

Cha con Triệu Vương mở bờ cõi nhờ gây được một đóa hoa là nàng Lan Châu. Ba ngàn cây nỏ đồng mất theo chàng rể, lòng người con gái vẫn nghiêng nặng về bên chồng.

CTHĐ: Đây là chuyện Mỵ Châu-Trọng Thủy của ta. Chỉ khác tên nhân vật.

* Hoa Nhụy phu nhân, vương phi của Mạnh Sưởng, vua nhà Hậu Thục. Nàng có tài văn chương, là tác giả của cả trăm bài thơ. Nhà Hậu Thục bị diệt, nàng trở thành một cung phi của Tống Thái Tổ. Đây là bài thơ nàng vịnh Nhà Hậu Thục mất:

Quân Vương thành thượng thụ hàng kỳ.

Thiếp tại thâm cung ná đắc tri.

Thập tứ vạn nhân tề giải giáp,

Ninh vô nhất cá thị nam nhi.

Trên thành quân vương cắm cờ hàng. Thiếp tại thâm cung nào có biết gì. Mười bốn vạn người đều cởi giáp. Không có người nào đáng gọi là đàn ông.

CTHĐ: Cảm khái cách gì.

* Cố Mục Vân đến Long Trung thăm di tích của Vũ Hầu Gia Cát Lượng. Gặp trời mưa, vào tránh mưa ở Ngoạ Long Cương. Gặp một cái am cỏ bên đường, một ông già trong am ra đón Cố, mời Cố vào am dùng trà. Đang ngồi nói chuyện, Cố nhìn lại thấy con hổ ngồi ngay cửa am. Cố sợ ngã ngửa. Ông già đỡ Cố ngồi lên, cười nói:

“Khách đừng sợ. Con hổ này đã quy y, nó là đồ đệ của lão.”

Ông già lại nói:

“Biết ông hay thơ. Ông cho vài câu tặng lão, lão cám ơn.”

Cố từ chối, nói vì mắt kém, viết chữ khó khăn. Ông già đưa cho Cố mấy củ khoai luộc, bảo Cố ăn, rồi bảo Cố nhắm mắt, ngồi yên. Lúc sau Cố mở mắt, thấy sáng rỡ, nhìn rõ mọi vật. Cố kinh ngạc, thán phục, bèn làm bài thơ:

Nhất  y, nhất bát, nhất quân trì

Vân thủy, thiên nhai nhậm sở chi.

Mạc tiếu đạo nhân vô bạn lữ

Tân thu mãnh hổ tác đồng nhi.

 

Ngẫu hướng sơn tiêu chú độc long

Phong lôi dục bạt vạn chu tùng

Tu du minh nguyệt đương không khởi

Qui đáo mao diêm đả vãn chung.

Một áo, một bát, một bình nước; mây nước, chân trời muốn đi đâu thì đi. Chớ cười ông đạo không có bạn, ông mới thu được con hổ dữ làm tiểu đồng.

Có hứng lên đầu núi dùng phù chú trừ con rồng độc. Gió sấm ầm ầm nổi như muốn lật đổ ngàn vạn cây thông. Một lúc sau trăng lại sáng tỏ trên trời. Người về am cỏ đánh chuông chiều.

Ông già giữ Cố ngủ lại am một đêm. Khi chia tay, ông nói với Cố:

“Tháng Giêng sang năm, ngày thứ nhất của tháng, ta mở kho thuốc bố thí chúng sinh. Đúng ngày ấy anh lên đây, ta sẽ cho anh thứ thuốc khiến thấn thể anh nhẹ nhàng, anh có thể tu luyện thành tiên. Đừng quên lời ta dặn.”

Ngày đầu Tháng Giêng, Cố lên núi, nhưng vừa tới chân núi thì  gặp bão tuyết. Tuyết trắng rừng, trắng núi, che lấp đường mòn lên núi. Cố sợ ông đạo không cón ở đó, mò lên gặp cọp thì nguy, nên quay về. Sau đó vài năm, mắt Cố mờ đi, thân thể suy yếu. Cố hối hận đã không làm theo lời ông đạo, bèn làm bài thơ.

CTHĐ: Tôi không trích bài thơ chữ Hán của Cố. Đây là ý Thơ:

Tuổi già thật đáng than thở, biết tìm đâu thuốc tiên để giữ nét mặt son trẻ. Tuổi già nhiều phiền não, ngũ quan còn đủ nhưng không còn cái nào hoạt động tốt. Tàn tạ như hoa quá thời, gầy ốm khác gì thân cỏ sau đêm đông sương phủ. Tay run, đầu choáng, đi lẩy bẩy không cất được chân lên. Tự giận dung mạo mình thay đổi, người ta ghét tính tình mình lệch lạc. Ôi chao..Ta nay tám chục mà đã như thế này, buồn thương biết bao những ông thần tiên sống cả ngàn tuổi ở Bồng Lai.

* Lời Viên Mai: “Con tằm ăn lá dâu nhưng khi nhả ra là tơ, không phải là lá dâu. Con ong hút nhụy hoa nhả ra mật.”

* Giang Hạp Nhiên cho biết đây là bài thơ của một thiếu phụ gửi cho chồng. Mời đọc lời dịch bài thơ:

Thiếp năm mười lăm tuổi được hứa gả cho chàng. Năm muời bẩy tuổi làm lễ vu qui mới biết mặt chàng. Gió xuân phảng phất, đôi ta lưu luyến nhau. Nhưng vui với nhau được nửa năm đôi ta phải chia ly. Núi sông xa cách ngàn dặm, bát ngát sóng biếc. Người bên sông Ngân Hà mỗi năm còn được gặp nhau một lần. Còn thiếp thì li bì đau yếu, nay đã gần cõi chết. Thiếp hận chưa sinh được con cho chàng. Nếu chàng nghĩ đến tình của thiếp thì em gái của thiếp đã trưởng thành, chàng nên nối lại dây đàn với em của thiếp. Việc đời đều được định trước, muốn gửi ngọc minh châu cho người thương ở xa để hẹn ước kiếp sau ta sẽ lại là vợ chồng.

CTHĐ: Sắp ra khỏi cuộc đời, dặn chồng : “Lấy em gái em làm vợ.” Người vợ như bà nhà thơ này là Number One.

* Lý Ngọc Châu tiên sinh nói:

“Người làm thơ phải đọc sách nhiều, trong tâm phải có ngàn vạn quyển sách Thơ mới có Thần. Lời Thơ có những ý giống ở sách, có những ý chẳng theo sách nào. Người làm thơ không biết mà người đọc thơ cũng không biết. Như thế có thể gọi là thực chất của Thơ.

Cùng là nhạc khí, đàn sắt mà gẩy thì gọi là cổ (khua, gõ,) gẩy đàn cầm thì gọi là thao (dượt, phô.) Đỗ Phủ có câu: “Quần sơn, vạn hác phó Kinh Môn.” Nếu ta đổi chữ quần (đàn, bọn ) thay bằng chữ thiên (một ngàn ) thì câu thơ bị mất âm điệu. Tuy hai chữ nghĩa gần như nhau nhưng chữ dùng khác đi lời thơ sẽ khác hẳn.

* Thường nói “Phụ nữ không nên làm thơ. Nói như vậy là quê, nông cạn. Đức Khổng lấy thơ Quan Thư, thơ Cát Đàm, thơ Quyên Nhĩ đặt lên đầu ba trăm thiên Kinh Thi. Người làm những bài thơ đó là phụ nữ.”

* Có người đem tập thơ của một vị quan lớn đến đưa tôi, ngỏ ý muốn tôi trích vài bài cho vào Thi Thoại. Tôi xem, thấy mệt, buồn ngủ. Tôi nói với người đem Thơ:

“Thơ rất thanh tao, già dặn, có công phu, nhưng chê là dở thì  không có lời nào chế được, trích cũng không có câu nào trích được. Rất tiếc.”

* Các vị quan võ mà hay về văn chương, đó là biểu hiện của thời thái bình thịnh trị. Tôi đi chơi núi Qúi Trì Tề thấy trên núi có bài thơ của Nhạc Vũ Mục – Nhạc Phi – Thơ khắc lên vách đá:

Niên lai trần thổ mãn chinh y

Ngẫu đắc nhàn ngâm thướng thúy vi.

Hảo thủy, hảo sơn khan bất tận,

Mã đề thôi sấn nguyệt minh qui.

Lâu nay bụi bám đầy áo chiến, được lúc nhàn lên đỉnh cao ngâm thơ. Sơn thủy đẹp ngắm hoài không chán, vó ngựa đuổi theo trăng sáng mà về.

* Mùa đông năm Nhâm Tý, tôi qua đất Hoài, trên tiệc rượu, được nghe Tư Mã Nghiêm Đình đọc mấy bài thơ của Tướng quân Tôn Sĩ Nghị khi cầm quân chinh phạt phương Nam (Việt Nam.)

Loan thành khâm đối tiếp trùng dương

Thượng hạ tư văn cảnh vật hoang

Dần vụ giao diên công yểm nhật

Đinh nam nha chủy quán canh sương

Nhập vân bản động bàn thiên chiết

Giáp đạo ông đồ võng tứ trương

Tối thị mã tiền phiền ủy lạo

Tân lang mãn hạp đáng hồ tương.

Vành đai bao bọc vùng Loan Thành tiếp giáp với biển. Từ trên xuống dưới việc văn học và cảnh vật đều tan hoang. Từ giờ Dần sương mù dầy trắng như dãi rồng che phủ mặt trời, trai tráng dùng cái cày như mỏ quạ đi cày từ lúc còn sương mù. Các bản, các động lẩn trong mây quanh co trăm ngàn dặm. Trên đường những ông đồ ngồi võng đi qua. Rất phiền là trước ngựa luôn luôn phải ủy lạo mọi người, cau trầu để đầp hộp thay cho hũ tương.

CTHĐ: Trong bài thơ trên có hai chữ tiếng Việt “Ông đồ.”

* Xưa thường có những bậc khuê các có thi tài tuyệt diệu. Ngày nay thấy có quá ít. Khi tôi giữ chức Tể – tri phủ – ở Giang Ninh, có cô gái tên là Uyển Ngọc, bỏ nhà chồng ở Sơn Dương trốn đi, đến tu trong một ngôi chùa ở bản hạt. Nhà chồng đệ đơn xin truy nã. Phùng Lệnh Doãn ở Sơn Dương gửi thư nhờ tôi truy tầm. Uyển Ngọc bị bắt. Khi nàng sắp bị giải về Sơn Dương, nàng phải đến phủ đường lãnh giấy. Nhân đó nàng dâng tôi bài thơ:

Ngũ Hồ thâm xứ tố hình hoa

Ngộ nhập Hoài Tây cô khách gia.

Đác ngộ Giang Châu Bạch Tư mã

Cảm tương u oán tố tỳ bà.

Vốn là một đóa hoa thơm ở Ngũ Hồ xa sôi. Chẳng may sa vào nhà anh lái buôn ở Hoài Tây. Nếu may mà gặp quan Tư Mã họ Bạch, ta dám đem nỗi oán hận thầm kín gửi vào tiếng đàn tỳ.

Tôi đọc thơ, ngờ có người làm hộ. Nàng xin phép được làm thơ ngay trước mặt tôi. Tôi chỉ cái cây đã rụng hết lá ở sân sảnh đường mà bảo nàng vịnh. Nàng thưa:

“Quan đã cho phép kẻ tiện tỳ này làm thơ, xin cho giấy bút và chỗ ngồi. Không lẽ tiện tỳ phải quì dưới đất mà làm thơ.”

Tôi y lời, cho nàng giấy bút và án viết. Nàng làm bài thơ:

Độc lập không đình cửu

Tiêu tiêu hướng thái dương

Hà nhân năng thủ thực

Di tác hậu đình phương.

Một mình đứng giữa sân đã lâu ngày, sớm sớm ngóng ánh thái dương. Ai người có thể ra tay đem trồng lại, dời vào sân sau thành một cây hoa làm cảnh.

Ít lâu sau quan Lệnh doãn họ Phùng ở Sơn Dương sang thăm, tôi hỏi ông chuyện nàng Uyển Ngọc, ông nói:

“Việc người phụ nữ ấy bỏ chồng không đáng bị tù, dòn, lại thêm người phụ nữ có tài sắc, biết làm thơ,  mà lấy phải anh chồng lái buôn quê kệch thì cũng đáng thương, nhưng xử cho chị ta ly dị cũng không được. Tôi tha về cho họ thu xếp với nhau.”

Tôi hỏi:

“Sao ông biết nàng có tài làm thơ?”

Ông đáp:

“Nàng dâng tôi bài thơ:

Khấp thỉnh thần minh tể

Dung nô phản cố hương

Tha thời hóa Thục điểu

Hàm kết đáp quân bằng.

Khóc xin quan Tể sáng suốt như thần, tha cho kẻ hèn mọn này được về quê cũ. Sẽ xin hóa ra chim đất Thục, ngậm vành, kết cỏ để báo đáp.

* Tổng Đốc Cát Lễ lấy bài thơ của Trần Thương Châu, cho là có ngôn từ phỉ báng Vua, làm sớ tấu dâng lên Vua Khang Hy. Vua đọc, phê:

“Thi nhân thường dùng lời bóng bẩy để ký thác ý tình. Lẽ nào ta lại cố ý bắt bẻ và ghép tội họ.”

Trần Thương Châu khi đó đã bị Tổng Đốc Cát Lễ bắt giam. Nhờ Vua Khang Hy, nhà thơ được phục chức, thăng chức, và điều đi làm việc ở nơi khác.

CTHĐ: Hoan hô Khang Hy.

VÔ ĐỊCH MARIA SHARAPOVA

Số Một Giai Nhân Tennis Hoàn Vũ.

Số Một Giai Nhân Tennis Hoàn Vũ.

Tháng Mười 2014, Maria Sharapova đoạt Giải Vô Địch Tennis Beijing China. Trang “hoanghaithuy,com” vinh danh Nàng.

Maria Yuryevna Sharapova sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987 là một vận động viên quần vợt quốc tịch Nga hiện sống ở Mỹ và là nữ vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất trên thế giới.

Năm 2004, Sharapova trở thành người thứ ba trẻ nhất trong lịch sử Tennis  giành chức vô địch Wimbledon đơn nữ (sau Lottie Dod và Martina Hingis). Cô cũng trở thành người phụ nữ Nga đầu tiên giành danh hiệu vô địch tại Giải Wimbledon. Sharapova kết thúc năm 2004 với chiến thắng tại WTA Championships, khi hạ Williams (4-6, 6-2, 6-4) sau khi bị dẫn 0-4 ở set quyết định.

Đôi Chân Bạc Tỷ US Dollars

Đôi Chân Bạc Tỷ US Dollars

Từ tháng 06, 2004 đến trận bán kết Wimbledon 2005, Sharapova đã có một mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ (trong đó có 2 chức vô địch liên tiếp ở Birmingham và một chức vô địch ở Wimbledon). Sau thành công trong năm 2004, Sharapova tiếp tục trụ vững, cô lọt vào bán kết giải Úc mở rộng 2005, và chỉ chịu thua sát nút Serena Williams 2-6, 7-5, 8-6, sau khi đã có 3 cơ hội kết thúc trận đấu(match point).

Tại giải Wimbledon năm 2005, trên đường bảo vệ danh hiệu của mình Sharapova thẳng tiến tới trận bán kết mà không thua một séc nào cả, nhưng tới đây cô đã vấp phải tay vợt đang hồi sinh Venus Williams và đành chịu thua với tỉ số (7-6, 6-1). Đồng thời chấm dứt mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ của mình.

Cũng trong năm Davenport bị chấn thương ở trận chung kết Wimbledon nên phải nghỉ thi đấu trong khoảng thời gian từ sau Wimbledon đến sau US Open, vì vậy mà lần đầu tiên Sharapova  lên vị trí số một thế giới và ở tại vị trí này trong vòng sáu tuần lễ cho đến khi Davenport giành được chức vô địch giải Tier I (chỉ kém 4 giải Grand Slam) tại Zürich vào tháng 10.

Cũng trong năm 2005, một điều hy hữu đã xảy ra với Sharapova. Tại 4 giải Grand Slam cô đã thua 4 tay vợt mà sau đó đã giành chức vô địch. (Thua Kim Clijsters ở bán kết US Open, Serena Williams ở bán kết Úc Mở rộng, Justine Henin-Hardenne ở giải Roland Garros và Venus Williams ở bán kết Wimbledon.

Sharapova thắng giải Mỹ Mở Rộng năm 2006

Năm 2006 Sharapova giành danh hiệu đầu tiên trong năm ở giải Pacific Life Open tại Indian Wells (giải được xếp hạng Tier 1), sau khi hạ hạt giống số 4 Elena Dementieva ở trận chung kết, 6-1 62 Sharapova và Dementieva trở thành hai tay vợt Nữ Nga đầu tiên lọt vào trận chung kết của giải đấu này

Danh hiệu thứ hai trong năm 2006 mà cô giành được là Vô Địch giải Acura Classic ở San Diego, sau khi thắng Clijsters, 7-5, 7-5. Đây là chiến thắng đầu tiên của Sharapova trước Clijsters sau năm lần thi tài.

Được coi là một trong những ứng cử viên cho chức vô địch ở giải Mỹ Mở Rộng, cô đã xuất sắc giành chức vô địch Grand Slam thứ hai  khi lần lượt đánh bại Mauresmo ở trận bán kết với tỉ số 6-0, 4-6, 6-0, rồi Henin-Hardenne ở trận chung kết.

Vào tháng 10 Sharapova giành danh hiệu thứ tư của năm khi vô địch giải Zurich Open 2006.

Cô giành danh hiệu thứ 15- cũng là danh hiệu thứ 5 trong năm sau chức vô địch giải Generali Ladies Linz, đánh bại ĐKVĐ Nadia Petrova sau 2 set.

Danh Hiệu:

27 tuổi. Nàng trở thành thiếu phụ.

27 tuổi. Nàng trở thành thiếu phụ.

2003

  • Tay vợt nữ của WTA mới xuất hiện ấn tượng nhất
  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2004

  • Tay vợt nữ của WTA xuất sắc nhất
  • Tay vợt nữ của WTA tiến bộ nhất
  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2005

  • Tay vợt nữ xuất sắc nhất do ESPN trao tặng
  • Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng
  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2006

  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)
  • Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng.
  • Sharapova đã sống ở Mỹ từ khi cô còn nhỏ nhưng cô vẫn giữ quốc tịch Nga.
  • Sharapova mua một ngôi nhà nhìn ra bờ biển ở Manhattan Beach, ngoại ô Los Angeles, California, nhưng suốt thời gian trong năm, cô sống gần cơ sở huấn luyện của IMGở Bradenton.
  • Năm 19, Sharapova đã học xong chương trình trung học Mỹ.
  • Sharapova có thói quen là hay hét trên sân đấu. Là tay vợt ồn ào nhất trên sân đấu kể từ khi Monica Selestừ giã sự nghiệp, một tờ báo ở London đã viết “Giọng hét của cô lúc cao điểm đạt tới âm lực 102 decibel”(ngang với còi của một ôtô cảnh sát).
  • Tên gọi thân mật của Sharapova là “Masha”.
  • Sharapova là tay vợt Nga duy nhất đã giành được nhiều hơn một chức vô địch Grand Slam.
  • Nhà tạo mốt mà Sharapova thích nhất là Marc Jacobs. Cô thỉnh thoảng tới dự các buổi trình diễn thời trang của ông.
  • Sharapova đã hoàn thành bộ sưu tập Grand Slam của mình (Grand Slam sự nghiệp) sau khi giành được chức vô địch tại Pháp Mở rộng.
  • Sharapova giành được huy chương Bạc tại Olympics London 2012sau khi thua Serena Williams với tỉ số 6-0 6-1.

Sharapova hứa hôn với vận động viên basketball chuyên nghiệp người Slovenia, Sasha Vujačić. Hai người đã cặp với nhau từ 2009. Vào ngày 31 tháng 8, 2012, Sharapova nói là cuộc hứa hôn đã bị hủy bỏ và họ đã chia tay vào mùa xuân 2012. Kể từ giữa năm 2012, cô ta cặp với vận động viên Tennis Grigor Dimitrov. Sau giải Madrid mở rộng 2013, cả hai thú nhận có quan hệ tình cảm với nhau.

Đối thủ khắc tinh của Sharapova là Serena Williams. Đấu 10 trận thì

Sharapova thua 8 trận.

Maria Sharapova nói:

“Tôi luôn cố gắng để trở thành tay vợt Tennis hàng đầu thế giới, tôi không bao giờ hài lòng tôi là thứ hai, tôi nói tôi muốn tôi là số một”.

Maria Sharapova được mời làm Goodwill Ambassador of The UN. Đặc Sứ Thiện Chí của Liên Hiệp Quốc.

o O o

Ngoài việc là Nữ Hảo Thủ Tennis, Sharapova còn có năng khiếu về thương mại. Cô sản xuất y phục, giầy mũ phụ nữ, có cửa tiệm riêng ở nhiều thành phố trên thế giới. Ước tính tài sản nổi của cô – đến năm 2010 – là 20 triệu đô-la Mỹ.

Tật nặng nhất của Sharapova khi tranh tài là hay phạm lỗi giao banh. Tiếng Mỹ là serve. Và doublefault. Khi giao banh Sharapova rất hay đánh banh chạm lưới hai lần liên tiếp. Mỗi lần giao bánh hỏng cô tặng cho dối thủ 1 điểm. Hảo thủ Tennis nào cũng có thể phạm lỗi Serve, nhưng Vô Địch thì không thể.

VỢ ÔNG ANH, BÀ BÁN CHÁO

Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh

Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh

Bốn, năm giờ một buổi chiều đầu năm 1976, Cờ Máu Bắc Cộng và ảnh Hồ Già mới vào Sài Gòn chừng bẩy, tám tháng,  tôi trên xe đạp đi trên đường Hiền Vương. Đến khoảng gần Công Trường Dân Chủ, đường Lê Văn Duyệt, đường phố vắng tanh, tôi nghe tiếng sè sè trên mặt đường. Nhìn xuống, chiếc lá khô gió thổi lăn trước bánh xe tôi. Lá cây cao-su, không phải lá phong, lại càng không phải là lá ngô đồng, chiếc lá lăn trên mặt đường phát ra tiếng sè sè như muốn nói với tôi lời gì đó.

Vợ Ông Anh

Vợ Ông Anh

Lúc ấy, trên xe đạp, tôi nghĩ đến câu Thơ Tầu “Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri Thu…” Một lá ngô đồng rơi, mọi người biết mùa Thu đến.

Tôi nghĩ:

“Chỉ một lá ngô đồng rơi. Người ta biết mùa Thu đến. Tại sao 3 triệu người Sài Gòn ngày đêm rên khóc, người thế giới không một ai biết cả?”

Tại sao? Câu hỏi không có câu trả lời.

Năm 1976 Sài Gòn có khoảng 3 triệu người. Không phải chỉ có đường Hiền Vương vắng bóng người mà là cả thành phố Sài Gòn vắng tanh.  Niền Vương vắng người mà là cả thành phố vắng tanh. hà nhà đóng cửa. Chắc 3 triệu người Sài Gòn năm xưa ấy đều có cảm giác như tôi: “Chúng ta bị người thế giới bỏ rơi, và bỏ quên.” Cảm giác bị bỏ quên – với tôi – thật ghê rợn. Và sầu tủi. Không phải buồn, mà là ghê rợn. Hôm nay – buổi sáng một ngày Tháng Chín năm 2014, thời gian qua đã 40 năm, khi viết những dòng chữ này, tôi vẫn có cái cảm giác sầu tủi vì tôi và đồng bào tôi bị người thế giới bỏ rơi, bỏ quên năm xưa ấy.

Tôi hỏi mẹ tôi:

“Năm 1947 nhà mình về làng quê. Mẹ sống ở làng 4 năm, quanh quẩn trong một nhà, chắc những ngày ấy Mẹ buồn lắm. So cái buồn năm xưa ấy với cái buồn hiện nay, Mẹ thấy sao?”

Mẹ tôi nói:

“Năm xưa ở quê cũng buồn nhưng không tuyệt vọng. Bây giờ buồn mà tuyệt vọng.”

Buồn và tuyệt vọng là tâm trạng của người Sài Gòn những năm sau Ngày 30 Tháng Tư 1975. Những ngày đầu Sài Gòn còn ô-tô-buýt, một tối khoảng 6 giờ tôi trên xe buýt từ Sài Gòn về Ngã Ba Ông Tạ, qua trạm đậu xe đường Phạm Hồng Thái, tôi nhìn xuống thấy trên hè phố đầy bóng tối có tới năm, sáu mươi phụ nữ đứng chờ. Họ không chờ xe buýt mà chờ khách mua dâm. Toàn những phụ nữ trẻ trạc tuổi em gái tôi.

Bà Bán Cháo

Bà Bán Cháo

Tôi bước ra, không thấy phố, không thấy nhà

Không thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.

Chỉ thấy hồn bay, dù không có gió,

Thấy mẹ già trong cửa héo hon.

Tôi thấy Em môi nhạt mầu son

Gốc cây Đói, đời buồn đứng đợi.

Thấy chúng ta trong lòng ngục tối

Còn vu vơ kêu gọi Thiên Đường..

Những tin đồn: “Quân ta còn đông lắm. Rằn ri xuất hiện ở Cát Lái. Trực thăng quân ta từ Thái Lan bay về Rạch Giá mỗi ngày. Ta mở cho chúng nó vào để ta diệt chúng nó..” Người Sài Gòn mong ước như thế nên tưởng tượng ra những chuyện như thế. Không phải để nói cho sướng miệng mà là để sống. Rõ hơn: để bám víu vào Sự Sống.

Những năm ấy người Sài Gòn bị đoạn tuyệt với thế giới. Đường liên lạc duy nhất của người Sài Gòn với thế giới – những nước Anh, Mỹ, Pháp. Úc – là qua đài phát thanh.

Hai đài phát thanh được người Sài Gòn đón nghe nhiều nhất những năm sau năm 1975 là Đài VOA và Đài BBC. Những ông bạn tôi gọi Đài VOA là Đài Vợ Ông Anh, Đài BBC là Đài Bà Bán Cháo, Bà Bán Cam, Bà Bánh Cuốn, Bà Bún Chả. Những năm ấy – từ 1976 đến 1980 – Đài BBC được người Sài Gòn đón nghe nhiều hơn Đài VOA. Tôi – những năm không phải nằm phơi rốn trong tù – là một trong số những người Sài Gòn chăm chăm nghe Đài BBC mỗi ngày.

Nghe để xem người thế giới có nhắc gì đến Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà vừa bị tiêu vong hay không, có tin gì có hại cho bọn Bắc Cộng cướp nước, có lời người thế giới chửi rủa bọn Bắc Cộng hay không??

Những ngày xưa, những đêm xưa qua lâu rồi trên dòng thời gian. Tôi chắc không ai có thể nhớ đúng chi tiết những chuyện xẩy ra 40, 50 năm trước. Chuyện thời sự, chuyện đất nước, chuyện những đài phát thanh xưa, không phải những chuyện riêng tư. Nhớ như tôi nhớ chuyện xưa – Tám Bó tuổi đời – như thế này là khá lắm rồi. Nhiều ông bạn Tám Bó của tôi khen tôi:

“Sao mày nhớ hay quá. Nhớ những chuyện năm 1975 đã là hay rồi, mày nhớ cả những chuyện năm 1954.”

Nhớ nhưng tất nhiên không nhớ đúng thời gian, năm tháng, trước sau. Không thể nhớ đúng. Quí vị đọc bài này xin đừng bắt lỗi tôi viết sai thời gian. Tôi viết bài này nhân chuyện Đài Vợ Ông Anh – VOA – tính chuyện trao đổi tiếng nói với Đài Bắc Cộng. Tôi viết góp ý kiến còm cõi của tôi. Viết ngay:

“Đài VOA cần gì phải trao đổi giờ phát thanh với bọn Đài Bắc Cộng. Dân Việt trong nước vẫn chăm nghe Đài VOA, dân Việt ở hải ngoại không một ai thèm nghe Đài Bắc Cộng.”

Từ năm 1954, bọn Bắc Cộng ra luật cấm nhân dân nghe lén những đài phát thanh tư bổn. Ai nghe bị bắt, bị tù. Năm 1980 Luật Cấm này được đăng lại trên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng. Tôi có đọc bản tin ấy. Nhưng bọn Cộng cấm, người dân vẫn cứ nghe những đài BBC, VOA. Với những radio transistor, việc người Sài Gòn nghe những đài phát thanh Âu Mỹ là việc thật dễ làm. Bọn Cộng không thể ngăn được việc người Sài Gòn nghe những lời bà Vợ Ông Anh, Bà Bán Cháo nói mỗi ngày. Bọn Cộng cũng không thể tịch thu tất cả những radio của người dân.

Những năm sau năm 1975, theo nhận xét của tôi, chính phủ Hoa Kỳ có chính sách  “bỏ quên, không nhớ ” Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Đài Vợ Ông Anh tránh không loan tin về Việt Nam. Tin tốt cho VNCS không loan mà tin xấu lại càng không loan.

Nhưng từ năm 1980 Đài Vợ Ông Anh có mục “Âm Nhạc Việt Nam ở hải ngoại.” Mục này do ông Lê Văn có sáng kiến mở ra và phụ trách. Lê Văn Vợ Ông Anh, Đỗ Văn Bà Bán Cháo, là hai cái tên thân thuộc với người Sài Gòn nghe đài phát thanh Âu Mỹ. Nghe mục ”Âm Nhạc Việt Nam ở hải ngoại,” người Sài Gòn biết và bảo nhau:

“Ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn có nữ ca sĩ Nguyệt Ánh khi hát nhạc Việt bận áo dài có Cờ Vàng.”

Người Sài Gòn kể rõ:

“Nữ ca sĩ Nguyệt Ánh là con gái của Đại Tá Nguyễn Văn Y.”

Khi nghe kể chuyện về việc ở Hoa Kỳ, có cô ca sĩ Nguyệt Ánh khi hát nhạc Việt, bận áo dài có Cờ Vàng, tôi thấy ấm lòng, tôi nghĩ:

“Tao ở đây chúng mày cấm tao treo Cờ của tao. Nhưng chúng mày không thể cấm anh em tao ở Mỹ dương Cờ Vàng của Quốc Gia chúng tao.”

Tôi ấm lòng khi thấy anh chị em tôi sang Mỹ vẫn không quên Quốc Gia, không quên Cờ Vàng.

Nhiều người Sài Gòn ưá nước mắt khi nghe lời ca “Món quà cho quê hương” của Việt Dzũng.

“Gửi về cho cha vài thước vải… Cha may áo mặc ra pháp trường..

Gửi về cho anh vài chỉ vàng.. Anh thu xếp tìm đường vượt biên..”

Nhiều người thấy nhói trong tim khi nghe lời ca:

“Sài Gòn ơi.. Tôi đã mất Người trong cuộc đời.

Sài Gòn ơi.. Tôi đã mất Tình Yêu tuyệt vời..”

Nhạc và Lời của Nam Lộc.

Đêm Ba Mươi Tết năm 1976 – có thể là năm 1977 –  nằm bên cái radio Sony rệu rã trên căn gác lửng, tôi nghe Đài Bà Bún Chả truyền lởi một số người Việt ở Âu Mỹ gọi qua đài về cho người thân của họ ở Việt Nam. Tết 1976 nhân viên Việt trong Đài BBC có sáng kiến mời môt số thính giả Việt nói về Việt Nam cho người thân. Tôi nghe lời một thiếu nữ nói với bố mẹ cô qua làn sóng điện BBC. Thiếu nữ này được BBC giới thiệu là người ở Ngã Ba Ông Tạ. Tôi nằm trong một căn nhà nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, xúc động nghe lời cô:

“Ba Má ơi. Con đang sống ở nước Ý. Con nhớ Ba Má. Ở đây trời lạnh lắm. Tết đến, con thèm được hưởng cái nắng ấm Ngày Tết ở quê hương ta.”

Cô nghẹn lời, cô nói như khóc.

Bà Bán Cháo loan nhiều tin về Quốc Gia VNCH hơn Vợ Ông Anh. Nguyên nhân như tôi đã viết: “Những năm sau năm 1975, chính quyền Mỹ có chủ trương không nói, không loan tin về nước Việt Nam và người Việt Nam.”

Qua Bà Bán Cháo tôi được biết ký giả Nguyễn Thiện Nhơn của Đài. Nếu tôi nhớ tên ông ký giả BBC không đúng, xin bỏ qua. Ký giả Nguyễn Thiện Nhơn làm một phóng sự về người Việt ở hải ngoại. Tôi nhớ hai chuyện ông kể:

* Đến Toronto tôi hỏi chuyện một bà người Việt bán sạp trái cây. Bà hỏi tôi:

“Ông ra nước ngoài mấy năm rồi?’

Tôi trả lời bà:

“Hai mươi năm.”

Bà khóc:

“Tôi mới xa nước hai năm đã muốn chết rồi. Xa nước hai mươi năm, sống gì nổi.”

*  Đến New Orleans, tôi – ( ký giả Nguyễn Thiện Nhơn ) – ngồi trên một xe Police đi thăm thành phố. Ông Cảnh sát New Orleans đưa tôi đến một khu gia cư có mấy nhà người Việt. Ông cho tôi biết ở đây có một bà Việt Nam mấy lần bị những người nhà bên cạnh thưa về tội chửi bậy, chửi tục. Tôi được gặp bà người Việt đó. Bà nói:

“Con tôi bị mấy thằng con Mễ bắt nạt. Tôi sợ gì mà không chửi chúng nó.” Bà chỉ biết có mấy câu chửi tiếng Mỹ, bà dùng những câu chửi ấy mà không biết nghĩa những tiếng tục tĩu trong đó.

Những năm 2000, tôi gặp ký giả Nguyễn Thiện Nhơn ở Virginia. Tôi không có dịp hỏi có phải ông là ký giả Nguyễn Thiện Nhơn Đài BBC những năm 1980? Có phải ông là người kể hai chuyện trên hay không?

Những năm 1980 nhiều người Sài Gòn nghiện nghe chuyện Bà Bán Cam. Tôii là một trong những người nghiện ấy. Mỗi tuần BBC có mục “Tạp Chí Đông Nam Á,” mục này phát thanh trong 30 phút lúc 9 giờ 30 giờ Sài Gòn mỗi tối Thứ Năm. Mục này loan toàn những chuyện liên can đến Sài Gòn. Đang nửa cuộc ăn nhậu đến 9 giờ tối, tôi bỏ cuộc, lên xe đạp về nhà. Nhiều ông bạn hỏi:

“Về làm gì sớm thế. Đang vui.”

Tôi trả lời

“Về nghe Bê Bê Xê.”

Nhiều lần ở cà-phê vỉa hè, quán rượu nghèo ven đường xe lửa. trong tiệm hớt tóc, tôi nghe người Sài Gòn loan những tin như tin này:

“Các nước ký Hiệp Định Paris 1972 về Việt Nam họp lại để tính chuyện trừng phạt bọn Cộng Hà Nội phá hiệp định, xâm chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.”

Tôi hỏi:

“Tin ở đâu?”

“Bê Bê Xê loan tối hôm qua.”

“Tối hôm qua tôi nghe Bê Bê Xê. Làm gí có chuyện đó.”

Ông Cao Hữu Đính, ông đàn ông tôi, ra Chợ Trời Huỳnh Thúc Kháng chọn mua một radio transistor. Tôi hỏi anh:

“Anh có hai radio rồi. Anh còn mua cái này làm chi nữa?”

Anh trả lời:

“Cái transistor của tôi rệu quá rồi. Tôi cần cái này để nghe Bê Bê Xê cho rõ.”

Khi phải vào cầu tiêu trong giờ BBC phát thanh, anh Đính mang radio transistor theo anh vào cầu tiêu. Anh nhớ từng chi tiết BBC loan để kể lại cho các bạn anh.

Năm 1985 trong Phòng Giam Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu, tôi gặp người quen là anh Tám. Anh ở trong một tổ chức Phục Quốc. Mấy ông trong tổ chức này tự phong những cấp Thiếu Tướng, Trung Tướng, Tôi hỏi anh làm gì trong tổ chức, anh nói anh chuyên nghe BBC mỗi tối, ghi nhận tin để báo cáo với ông Thiếu Tướng. Ra toà, ông Thiếu Tướng bị nó phang án tù 20 năm khổ sai, anh bạn Tám của tôi, chuyên viên nghe Đài BBC, bị nó phang án tù khổ sai 5 năm.

Một buổi chiều không nhớ rõ năm tháng, tôi đến nhà ông bà Anh Ngọc trong Cư Xá Lữ Gia. Nhà mở cưả nhưng ông bà không có trong nhà. Con gái của ông bà cho tôi biết ông bà sang một nhà bên cạnh. Tôi đứng lớ ngớ bên xe đạp trước cửa nhà, chưa biết nên đi đâu, thì ông bà về. Ông nói:

“Sang nhà bên cạnh nghe nhờ radio.”

Tôi hỏi:

“Nhà có radio. Sao phải đi nghe nhờ?”

“Radio nhà rệu quá. Có khi bắt không được đài. Radio nhà ông bạn mới toanh, nghe suya lắm.”

Thì ra ông Lê Văn Vợ Ông Anh loan tin vào giờ đó VOA sẽ phỏng vấn Nghệ sĩ Thành Được, người vừa vuợt thoát ở nước Đức. Nhiều người Sài Gòn vào giờ đó đón nghe VOA để được biết đích xác về chuyện Nghệ sĩ Thành Được.

Một sáng tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi mới từ Sài Gòn đến Virginia được khoảng mười ngày, ông bạn Nguyễn Sơn, nhân viên Đài VOA, đưa tôi đến thăm văn phòng Đài ở Washington DC. Tôi được Đài phỏng vấn. Trời lạnh. Tôi thấy năm, bẩy ông bà Mỹ, áo mũ sùm sụp, đứng hút thuốc lá trước cửa vào toà nhà trong có Đài VOA. Tôi thấy đường phố DC có nhiều con sóc chạy qua, chạy lại. Tôi không biết loài sóc sống bằng gì trong thành phố chỉ có những toà công thự và những cây sao.

Đến Đài, tôi được gặp các ông Lê Văn, Bùi Bảo Trúc, tôi gặp lại Ngọc Hoán, người từng một thời làm việc với tôi trong tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Và tôi gặp lại bà Nhung, bà vợ ông Anh Ngọc. Bà Nhung từng dịch nhiều bài cho Tạp Chí Triển Vọng của USIS Saigon – Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở Sài Gòn – Ông bà sang Kỳ Hoa trước vợ chồng tôi khoảng hai, ba năm. Bà vào làm biên tập viên kiêm xướng ngôn viên VOA từ năm 1993 cho đến năm nay – 2014 – bà vẫn ngày ngày đến VOA.

Đài BBC có ông Đỗ Văn. Ông này là một Công Tử Hà Đông. Tên ông là Đỗ Văn Quý, có khi được gọi là Quỹ. Tôi học cùng lớp tiểu học với anh của ông là Đỗ Văn Phú ở thị xã Hà Đông những năm 1944, 1945. Phú đi kháng chiến từ năm 1947. Phú trạc tuổi tôi. Năm nay Tám Bó. Tôi không biết Phú còn sống hay không.

Đỗ Văn và cô Judith Stove  phụ trách chương trình phát thanh tiếng Việt của BBC trong nhiều năm. Nhiều người Sài Gòn thân quen với hai cái tên Đỗ Văn, Judith Stove. Dường như Đỗ Văn, và cô Judith Sove, là hai ký giả truyền thanh Âu Mỹ thứ nhất được bọn Cộng Hà Nội cho phép vào làm phóng sự ở Hà Nội và Sài Gòn. Họ vào Việt Nam khoảng những năm 1988, 1989. Tôi ở tù về, vợ tôi kể:

“Cô Judith Stove Đài BBC nói trên đài: “Nhờ công an Việt Nam, tôi mới biết tôi có mấy cái quần jeans.”

Năm xưa ấy bọn Công An sợ nữ ký giả Judith Stove mang tài liệu vào Việt Nam nên chúng mở va-li xét từng bộ y phục của cô.

o O o

Đoạn văn này tôi viết ở Kỳ Hoa năm 1999.

Tháng Giêng năm 1984 có tin nói về một đài phát thanh chống Cộng mới được phát sóng. Một số người ở miền Trung tình cờ bắt được băng tần của đài này. Tin ấy truyền về Sài Gòn. Giữa tháng Hai anh Cao Hữu Đính và tôi nghe được đài này. Đây là Tiếng Nói của Đài Phát Thanh Kháng Chiến Mặt Trận Phục Quốc Hoàng Cơ Minh.

1984-1999… Mười lăm năm trôi qua thật nặng mà cũng thật nhanh. Đài Phát Thanh Kháng Chiến năm ấy phát thanh năm lần một ngày, mỗi lần một giờ. Đài yếu, rất khó bắt. Người nào có duyên với đài thì may tay có lời, bắt được tiếng nói ngay bất kể máy thu thanh xấu, rệu rã, lão liệt, nhiều người có máy tốt mò đài cả nửa giờ vẫn không ra. Một giờ phát thanh quá dài. Đài Kháng Chiến phát thanh bằng băng thâu sẵn, ba bốn ngày mới thay một băng, tin tức không có, gần như phát toàn những bài viết đả kích cộng sản.

Vợ chồng tôi phấn khởi đón, tìm nghe đài, chúng tôi xúc động khi nghe nhạc hiệu của đài, bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” – nhạc, lời ca thật hay nhưng chúng tôi đã lãng quên cùng năm tháng – chúng tôi muốn đứng tim khi nghe Thái Thanh hát bài “Quê Em… Quê em miền trung du… Đồng quê lúa xanh rờn… Giặc tràn lên cướp phá… Anh về quê cũ, đi diệt thù giữ quê… Giặc tan đón em về…”

Năm ấy Thái Thanh đang sống ở Sài Gòn. Người ở đây nhưng tiếng hát của người lại ở một nơi nào xa lắm vọng về. Nghe tiếng hát Thái Thanh trên làn sóng Đài Phát Thanh Kháng Chiến tôi nghĩ đến những cái gọi là giả chân, chân giả của cõi đời này. Rõ ràng là tiếng hát của Thái Thanh nhưng lúc đó Thái Thanh đâu có hát.

Một tối lúc 11 giờ đêm, tôi mở nghe đài Kháng Chiến. Cái radio Sony mười lăm, mười sáu tuổi đời – nó đến với tôi khoảng năm 1966, 1967 – nằm bên tôi trên căn gác lửng, nhưng Alice nằm tình tang trên cái võng treo ở dưới nhà lại nghe được tiếng nó rõ hơn tôi. Nguyên nhân là hệ thống truyền âm trong căn nhà nhỏ của chúng tôi hết sức ly kỳ. Đêm ấy vợ chồng tôi cùng nghe một bài bình luận viết về các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Đại ý của bài này là trước 1975 văn nghệ sĩ miền Nam có cái lỗi là đã không tích cực chống Cộng, nhưng sau 1975 văn nghệ sĩ miền Nam có cái hay là không một người nào cộng tác với Việt Cộng.

Và đây là nguyên văn một lời trong bài bình luận ấy tôi nghe và nhớ mãi:

“… Trong năm 1983 chúng ta được đọc văn thơ chống Cộng của Hoàng Hải Thủy, Hoàng Cầm, Nguy­ễn Chí Thiện…”

Tôi bồi hồi xúc động với những cảm giác vui lo. Tôi được kể tên trước Hoàng Cầm, thi sĩ tôi rất ái mộ, văn nghệ sĩ đàn anh của tôi. Hết giờ phát thanh tôi lọ mọ đi xuống gác, nói với vợ tôi:

– Em nghe rõ đài nói đến tên anh không? Chắc chúng nó phải bắt anh thôi, chúng nó không để anh yên đâu.

Vợ chồng tôi chẳng can đảm gì hơn ai, nhưng chúng tôi không sợ hãi khi biết chắc tai họa tù đầy lại sắp đến. Truớc đó 6 năm, bọn Công An Thành Hồ đã đến căn nhà nhỏ này của chúng tôi, còng tay tôi đưa đi tù hai năm.

Nhiều người quen tôi nghe Đài Phát Thanh Kháng Chiến nói đến tên tôi. Một sáng anh Nguyễn Văn Đạt, anh là Trung Tá, đi tù khổ sai ở miền Bắc về năm 1980, trên chiếc xe đạp mini, đến nhà chúng tôi. Vợ chồng tôi tiếp anh vài phút ở cửa. Anh nói:

“Tôi đến chào từ biệt anh.”

Anh nói với vợ tôi:

“Chị làm vợ một người chồng có tài. Chị phải chịu cái tai của anh ấy.”

Sáu năm sau, khi tôi trở về Sài Gòn, anh Đạt đã qua đời.

Khi bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt tôi lần thứ hai ồ đến nhà bắt tôi lần thứ hai. Cũng như lần trước, khi tôi ra khỏi nhà, vợ tôi ở lại nhà một mình. Lần này tôi nói hai câu cuối cùng với vợ tôi:

“Anh yêu Em.”

“Anh sẽ về với Em.”

Trên xe đi đến Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu – Phải viết tôi trở lại Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu mới đúng – tôi ngồi băng sau, giữa hai anh công an. Một anh hỏi tôi:

“Anh có nghe Đài Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh chứ?’

Tôi trả lời:

“Có.”

“Anh có thấy đài nói đến anh không?”

“Có.”

“Mấy hôm nay ành còn nghe được đài ấy không?”

Đài đã bị phá sóng. Tôi trả lời:

“Không.”

Tôi trở về Cư Xá Tự Do, và về trong vòng tay gầy của vợ tôi, đầu năm 1990. Năm 1993 tôi được tin ODP cho vợ chồng tôi sang Hoa Kỳ. Chúng tôi được ông bà Anh Ngọc gửi cho tấm ảnh ông bà trên một thảm cỏ ở Virginia. Cỏ xanh, đầy lá vàng. Cảnh quá đẹp. Tôi nói với vợ tôi:

“Chúng mình đến Virginia nhé.”

Cùng lúc, tôi nghe Đài VOA phỏng vấn Bà Khúc Minh Thơ, Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam. Bà Khúc Minh Thơ ở Virginia. Chúng tôi nhờ bà bảo lãnh. Tới Tháng Mười Một năm nay – 2014 – vợ chồng tôi đã sống ở Virginia 20 năm.

Dòng Thời Gian dài một ánh bay.
Những Ngày như Lá, Tháng như Mây.

THÂN BẠI, DANH LIỆT

Mã Phu Nhân, Sương Phụ Đa Tình. Ảnh phim Tầu.

Mã Phu Nhân, Sương Phụ Đa Tình. Ảnh phim Tầu.

Buổi sáng tôi thường dậy trước nàng. Khi nàng rưả mặt, tôi pha ly cà-phê để sẵn cho nàng. Chỉ có nàng và tôi trong phòng. Cửa sổ mở ra Rừng Phong Tháng Tám nắng vàng. Nàng thường hỏi:

“Hôm nay có những tin gì?”

Khi ấy tôi đã đọc lướt qua mấy trang báo The Washington Post – báo được người sáng sáng trước 7 giờ đem đến cửa phòng tôi – tôi đã xem qua mấy tin thời sự AOL trên computer, tôi trả lời nàng:

“Nó vừa cắt cổ nhà báo Mỹ thứ hai, nó chặt đầu cả trăm người Thiên Chuá Giáo. Israel và Palestine dùng hỏa tiễn, phi cơ giết nhau. Trong hai tuần100 người dân Palestine chết vì bom Israel, 10 người Irael chết vì hoả tiễn Palestine…”

Nàng im lặng, một lúc sau nàng nói:

“Anh cho em biết toàn những chuyện buồn. Tinh thần em xuống quá..”

Từ khi nghe nàng nói như thế, sáng chiều tôi tránh kể với nàng những chuyện buồn, tôi tránh không kể những vụ người giết người ghê rợn. Sáng nay khi viết bài Viết ở Rừng Phong, tôi tránh không kể với bạn đọc những chuyên thảm khốc đang xấy ra trên thế giới. Nhân chuyện ông Cựu Thống Đốc Virginia bị “thân bại danh liệt” vì bà vợ, tôi kể với quí bạn một chuyện “Thân bại, danh liệt” ngày xưa..

Xưa nhưng không xưa lắm. Xưa ở đây là những năm 1965, 1966. Chuyện được kể trong tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ. Chắc chắn có nhiều vị đã đọc Thiên Long Bát Bộ, đã biết những chuyện tình Thiên Long, cũng chắc chắn những vị này năm nay có trẻ lắm cũng phải Bấy Bó Tuổi Đời, các vị không còn nhớ rõ những chuyện Thiên Long, bài viết này sẽ làm các vị nhớ lại những năm các vị tuổi đời Ba Bó, với những vị trẻ tuổi chưa từng đọc Thiên Long Bát Bộ, bài này sẽ làm các vị biết năm mươi năm xưa những người đến cõi đời này trước các vị mê đọc tiểu thuyết loại nào, và tại sao họ mê đọc truyện võ hiệp Kim Dung.

Như Tam Quốc Chí mở đầu với bài thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng,’” kết thúc với ý Thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng”, Thiên Long Bát Bộ Luận Anh Hùng mở đầu và kết thúc với bài “Này Những Tình Oan, Những Thủy Chung”:

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Kỳ hiệp, quần ma kể chẳng cùng.
Ba mươi năm trước ai quên, nhớ
Những Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung?
Ai Hư Trúc Tử, ai Đồng Mỗ?
Đâu Thành Tây Hạ, Linh Thứu Cung?
Nhớ chăng Lục Mạch, Phù Sinh Tử?
Quên chưa Cực Ác với Cùng Hung?
Kìa Vương Ngọc Yến yêu Đoàn Dự,
Nọ chàng Đầu Sắt bắt băng trùng..
Chuyện xưa trong trí ta lần giở
Này những tình oan, những thủy chung.

(Thơ làm năm 1980 ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.
Lời bình viết năm 1996 ở Rừng Phong, Virginia Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.)

Mã phu nhân xuất hiện ở Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh với hình ảnh Nàng Sương Phụ Áo Trắng hiền hậu, trang nghiêm làm đám bang chúng Cái Bang – Bang phái bụi đời của Võ Lâm Trung Thổ – phải kính phục. Nhưng.. nhìn dzậy, thấy dzậy mà hổng phải dzậy: Mã phu nhân đẹp thì có đẹp nhưng hiền thì nàng không hiền một li ông cụ nào. Nàng là người đàn bà đa tình ác liệt nhất Thiên Long.

Dùng danh từ “đa tình” cho có vẻ văn huê. Thực ra theo ngôn ngữ ông cha ta nàng “đa dâm” thì đúng hơn. Hoặc nói nàng “dâm” cho gọn, đúng, trong sáng và dễ hiểu.

Mã phu nhân tên trong giấy căn cước, tên cúng cơm là gì tôi không nhớ, trong bài này tôi gọi nàng bằng cái tên Lệ Hoa. Nàng là Vợ Góa Mã Đại Nguyên Phó Bang Chủ Cái Bang. Mã Phó Bang Chủ có vợ đẹp, đa tình nhưng không có số phúc, lộc, thọ để hưởng hạnh phước, Phó Bang Chủ bị ám sát chết thê thảm. Mã phu nhân đến phó hội để làm chứng tố cáo:

- Kiều Phong, Bang Chủ Cái Bang, là người Khiết Đan, không phải người Hán.

- Mã Phó Bang Chủ, chồng nàng, biết bí mật lý lịch Kiều Phong nên bị Kiều Phong giết để bịt miệng.

Nàng tố Kiều Phong hai tội trời không dung, đất không tha, thần giận , người thù. Hiền hậu, đoan trang như Nàng nói ai mà không tin. Tên đại gian đại ác Kiều Phong chỉ từ chết đến chết.

Nhưng… chính nàng là người chủ mưu giết Mã Đại Nguyên chồng nàng. Nàng toa rập với Bạch Thế Kính, một Trưởng Lão Cái Bang, giết Mã Đại Nguyên rồi đổ tội cho Kiều Phong. Bạch Thế Kính là một tình nhân tay sai của nàng Sương Phụ Đa Tình. Lão vừa muốn nàng vừa muốn lên làm Bang Chủ Cái Bang. Và trước khi làm vợ Mã đại Nguyên, nàng đã gập, đã là tình nhân của Đoàn Chính Thuần.

Như đã kể trong đoạn viết về A Châu, nhiều hồi sau cuộc Đại Hội Rừng Hạnh, A Châu giả làm Bạch Thế Kính đến lừa Mã phu nhân để hỏi về vị Thủ Lãnh Đại Ca, người cầm đầu trận tàn sát gia đình Tiêu Viễn Sơn ở Nhạn Môn Quan nhiều năm trước. Mưu lừa của A Châu ngây thơ làm sao qua mắt được Nàng Sương Phụ Đa Tình. Mã phu nhân lợi dụng ngay A Châu và Kiều Phong để giết chết Đoàn Chính Thuần, người đàn ông nàng yêu nhưng nàng không chiếm được độc quyền. Giả vờ bị lừa nàng tiết lộ vị Thủ Lãnh Đại Ca là Đoàn Chính Thuần. Kết quả việc làm tàn ác của nàng là A Châu bị chết oan khốc.

A Châu chết thay cho cha nàng là Đoàn Chính Thuần. A Châu chết oan vì Đoàn Chính Thuần đâu phải, và không thể là Thủ Lãnh Đại ca. Người thống lãnh quần hùng Trung thổ phục kích ở Ải Nhạn Môn ba mươi năm xưa để tấn công vợ chồng Tiêu Viễn Sơn là Huyền Từ Phương Trượng Thiếu Lâm Tự. Kim Dung đã pha phách sì dầu, sa tế hơi quá tay khi cho Huyền Từ Phương Trượng từng “tình là dây oan”, tức là từng ân ái với Nàng Diệp Nhị Nương Vô Ác Bất Tác, sinh ra Hư Trúc.

A Châu chết rồi Kiều Phong một mình đi truy tầm lý lịch của mình. Nhiều hồi sau chàng gặp lại Mã phu nhân và được nàng cho biết tại sao nàng thù chàng, nàng vu cáo chàng.

Đây là đoạn kể truyện tuyệt hay của Kim Dung. Những tình tiết trong đoạn này dồn dập đến như sóng biển. Ly kỳ, bất ngờ, hồi hộp, hấp dẫn. Đợt sóng này đánh tới làm người đọc tối tăm mắt mũi. Tưởng hết nhưng đợt khác lại ào tới. Lại tưởng hết nhưng vẫn chưa hết. Nghệ thuật kể chuyện của Kim Dung lên đỉnh cao nhất ở đoạn này.

Đêm ấy ở Hàng Châu tuyết trắng phủ trắng trời, trắng đất, như tuyết đang phủ trắng trời, trắng đất Virginia Của Những Người Yêu, Kiều Phong theo dấu Đoàn Chính Thuần đến gia trang của Mã Sương Phụ. Mẹ con A Tử Nguyễn Tinh Trúc đã đến đây trước. Kiều Phong bắt gặp hai mẹ con đang nằm trên mái nhà, đục ngói nhìn xuống phòng ngủ của Mã Sương Phụ. Không muốn để hai mẹ con gây chuyện phá rối trật tự công cộng, Kiều Phong điểm huyệt cho họ nằm ngay đơ cán cuốc trên mái.

Dùng chỉ lực Kiều Phong đục một lỗ trên vách nhìn vào phòng. Phòng ngủ nhung lụa ấm áp, lò sưởi gỗ thông, than hồng lách tách reo vui, Đoàn Chính Thuần pi-ja-ma Made in China nằm trên giường. Sương phụ Lệ Hoa áo ngủ mỏng tanh cũng Made in China khêu gợi đứng ở bàn rượu.

Nàng đã cho Đoàn Chính Thuần uống ma dược làm họ Đoàn mất hết công lực. Nàng muốn hạ thủ giết họ Đoàn đêm nay. Nhưng trước khi cho tình nhân chết nàng muốn Y phải chịu trừng phạt thật não nề đau khổ. Trước khi trừng trị Bạc Tình Lang nàng cần biết chắc Y có còn nội lực hay không. Ma dược không đủ mạnh làm Y tiêu công lực mà nàng trổ mòi giết Y thì rửa hận chẳng thấy đâu, nàng khốn khổ khốn nạn là cái chắc.

Kiều Phong nghe, nhìn từng chi tiết màn kịch Ái Tình trong Phòng Ngủ Mã Phu nhân.

Choang…

Bình rượu bồ đào trên tay Lệ Hoa rơi xuống sàn..

- Đoàn lang…

Nàng kinh hãi kêu lên. Tay vịn vào thành bàn, người nàng nghiêng đi, khuôn mặt nàng ngước lại nhìn người yêu đầy vẻ sợ hãi:

- Có kẻ địch ám toán.. Nó đánh trúng em.. Nó nấp sau cửa sổ kia.. Chàng ra tay đi…

Đã bị rượu độc làm mất hết nội lực, Đoàn Chính Thuần bối rối:

- Nàng lại đây với ta..

- Em không đi được.. Chàng xuất Nhất Dương Chỉ diệt nó đi.. Chàng còn chờ gì nữa?

Đoàn lang có Nhất Dương Chỉ bao giờ đâu mà xuất với lại chẳng xuất, chàng ú ớ:

- Em ơi.. Không biết tại sao ta.. ta…

Lệ Hoa càng thêm hoảng sợ:

- Chàng nói sao? Chàng làm sao..?

- Ta.. ta.. không biết vì sao.. ta mất công lực…

Khi biết chắc ma dược đã có hiệu nghiệm Lệ Hoa mới âu yếm nói cho Đoàn lang yêu mến biết tại sao:

- Em đã làm chàng mất hết nội lực rồi. Ly rượu đào em vừa mời chàng uống ấy có pha chất Nhuyễn Cân Tán cực nặng. Em cần làm chàng mất nội lực để nói với chàng chuyện này..

Nàng trở lại giường, vuốt ve Đoàn lang:

- Chàng có quá nhiều đàn bà. Em muốn chàng là của riêng em, nhưng không được. Em không muốn chàng coi em cũng chỉ là một tình nhân của chàng như bao nhiêu mợ khác. Chàng có nhớ ngày chàng mới yêu em chàng hứa gì với em không?

Chàng hứa gì làm sao chàng nhớ đuợc? Một triệu anh đàn ông, con trai hứa nhăng hứa cuội với đàn bà, con gái trên cõi đời này có đến chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm chín mươi chín anh rưỡi đi một đường quên béng. Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Đoàn lang yêu dấu của Mợ Sương Phụ Đa Tình, cũng chỉ can tội quên như bất cứ anh đàn ông phó thường dân vô tội nào trên cõi đời này.

- Chàng quên phải hông? Em hổng ngạc nhiên khi thấy chàng quên. Chàng quên thì em nhắc cho chàng nhớ. Ngày đầu ta yêu nhau chàng thề nếu chàng phụ em chàng sẽ để em cắn từng miếng thịt chàng cho đến khi chàng chết. Chàng nhớ chưa? Có đúng là chàng thề mí em như vậy không?

Đoàn Chính Thuần can tội phong tình nhưng không hèn – nhất là không hèn với đàn bà. – Nhiều người đàn ông cực kỳ hiên ngang trước kẻ địch, khẳng khái trước cái chết nhưng lại yếu sìu, khóc ròng, năn nỉ trong phòng ngủ, úp mặt vào bụng đàn bà mà nức nở. Đoàn Chính Thuần không ở trong loại đàn ông can đảm này.

Chàng thản nhiên nói:

- Ta nhớ ta có thề như thế…

- Dzậy thì bi giờ em… cắn chàng đấy…

- Nàng muốn cắn cứ cắn..

Lệ Hoa vạch áo pijama của người yêu để lộ bờ vai vương giả trắng ngần. Như một thứ Vampira nàng nhe hàm răng trắng giữa đôi môi hồng..

Kiều Phong vốn là đại hiệp. Chàng không muốn nghe lỏm, rình trộm người khác. Nhất là khi hai người khác lại là đôi tình nhân đang tình tự với nhau. Nhưng vì nóng lòng muốn biết ai là thủ phạm đã giết cha mẹ chàng nên chàng đành phải nhìn trộm, nghe trộm. Chẳng gì Đoàn Chính Thuần cũng là cha của A Châu. Kiều Phong đã định ra tay cứu ông ta nhưng chàng thấy ông ta ái tình giăng dện linh tinh, bê bối quá, để cho ông ta bị đau đớn một phen cũng đáng nên chàng để yên.

Lệ Hoa ghé răng cắn vào vai Đoàn Chính Thuần. Tất nhiên là Đoàn lang yêu dấu đau tới óc. Thịt da Vua Chúa cũng chẳng có gì khác thịt da phó thường dân và dân ngu cu đen.

Sương Phụ Đa Tình Mã phu nhân Áo Trắng Rừng Hạnh Tô Châu – hàng Châu – Phước Kiến là loại đàn bà được Ông Bác sĩ Phổ Lộ Xứ Tây Dương – tiếng Tây Dương gọi là Bác sĩ Phờ Rây, Phờ Râu, Phờ Roi chi đó – xếp vào loại Masochist, tạm dịch là Bạo Dâm: thích làm tình nhân đau đớn khi hành lạc. Có làm, có thấy người tình bị đau đớn, quằn quại, rên la nàng mới thấy hứng. Nàng sung sướng cắn thịt người yêu, miệng nàng đỏ máu tươi, mắt nàng long lanh sáng, tim nàng đập mạnh, má nàng hồng lên, ngực nàng phập phồng…

Đoàn Chính Thuần mất hết nội lực nằm nhũn như con chi chi theo nghĩa đen. Được cái hơn người là đau thấy mồ, đau đến óc và thấy mình chết đến nơi chàng vẫn cười:

- Em có giết anh, anh cũng vui.

Và chàng đọc hai câu thơ:

– Mẫu đơn hoa hạ tử
Tố quỉ dã phong lưu…

(Chết dưới hoa mẫu đơn. Làm ma cũng phong lưu.)

Lệ Hoa đến bàn lấy con dao găm nàng dấu ở đó. Thấy ông bố vợ hụt chết đến cổ rồi Kiều Phong bèn ra tay. Chàng chọc thủng bức vách luồn bàn tay vào đặt trên lưng Đoàn Chính Thuần. Như cách chàng đã cứu A Tử thoát khỏi tay Trích Tinh Tử, Đại đệ tử Tinh Tú phái, Kiều Phong truyền nội lực cho Đoàn Chính Thuần.

Đoàn Nam Vương biết có người ám trợ mình bèn phóng ra một chỉ phong – Đây không phải là Nhất Dương Chỉ. Đoàn Nam Vương chỉ đánh ra chiêu “Cách không đả huyệt” rất thường — chiêu này Anh Con Trai Bà Cả Đọi nào cũng đánh được, khỏi cần học hành, tập luyện chi –nhưng vốn mê tín vì võ công Nhất Dương Chỉ danh vang giang hồ của nhà họ Đoàn, Sương Phụ Đa Tình tưởng Đoàn Nam Vương đánh Nhất Dương Chỉ.

Mã phu nhân bị trúng chỉ phong vào mạng sườn. Lần này nàng trúng chưởng — xin lỗi; trúng chỉ — thật sự, nàng không còn vờ vẫn kịch coọc gì nữa. Bạch Thế Kính, Trưởng Lão Cái Bang, tình nhân sơ-cua của nàng, nhẩy vào khi nàng ngã xuống sàn:

- Cẩn thận đấy – Mã phu nhân la lên – Hắn vẫn còn công lực. Hắn chỉ vờ mất công lực thôi…

Bạch Thế Kính căm hận tình địch đến xương tủy. Y đánh ngay hai chưởng làm Đoàn Nam Vương gẫy rắc rắc hai cổ tay. Kiều Phong vừa định xuất hiện – vào phòng – can thiệp thì sự kiện đột biến..

Mấy ngọn nến trắng lung linh trong phòng ngủ bỗng sáng lên rồi tắt ngấm. Trong bóng tối mờ mờ Kiều Phong nhìn thấy bóng người áo sám từ trên trần nhà rơi xuống. Kỳ nhân này nấp trên trần từ hồi nào linh mẫn đến như Kiều Phong cũng không phát hiện.

Kỳ nhân áo sám vừa rơi xuống cả Bạch Thế Kính và Mã phu nhân cùng thảng thốt kêu lên:

- Mã Đại Nguyên…

Kỳ nhân không nói một tiếng, xử dụng chiêu thức đặc biệt của Mã Đại Nguyên, nhẩy lên tung hai tay chặt vào cổ Bạch Thế Kính.

Rắc..! Cái Bang Trưởng Lão Chín Túi đam mê cả Tình lẫn Địa Vị đi một đường gẫy cổ, hồn du địa phủ.

Kỳ nhân áo xám vút ra khỏi phòng đi luôn. Kiều Phong vội đuổi theo ông ta. Trên vùng tuyết trắng mênh mông hai cao thủ chạy đua maratông. Công lực họ bằng nhau nhưng Kỳ nhân đề-pa trước nên giữa hai người vẫn có khoảng cách. Kiều Phong gia tăng cước lực, Kỳ nhân chạy nhanh hơn. Kiều Phong giảm tốc lực, Kỳ nhân chạy chậm lại.

Thấy mình không thể nào đuổi kịp được Kỳ nhân Kiều Phong dùng lời gạ gẫm:

- Xin tiền bối dừng chân cho tiểu sinh được trò chuyện đôi lời…

Không quay lại Kỳ nhân chỉ nói:

- Lúc này chưa phải là lúc ta và túc hạ nói chuyện với nhau..

- Xin cho tiểu sinh được biết cao danh của tiền bối. Người là ai? Tại sao người lại can thiệp vào vụ ân oán giang hồ này?

Kỳ nhân thở dài:

- Giang hồ có nhiều chuyện khó nói lắm. Rồi túc hạ sẽ biết. Đừng theo nữa. Ta đi đây…

Kiều Phong đứng lại nhìn theo bóng người áo xám chìm mất trong vùng tuyết trắng.

o O o

Đến đây người luận Thiên Long một lần nữa phải ngừng luận để ca tụng nghệ thuật tả truyện của Kim Dung.

Như đã nói đoạn Thiên Long này đầy những sự kiện ly kỳ, hấp dẫn, bất ngờ.. hồi hộp, gây kinh ngạc đến ngẩn ngơ. Những sự kiện liên tiếp theo nhau đến như những đợt sóng biển khi biển động.

Sự kiện Sương Phụ Đa Tình kể tội rồi cắn thịt Đoàn Nam Vương, Kiều Phong truyền nội lực cho Đoàn Nam Vương “cách không đả huyệt” Sương Phụ Đa Tình đã là hấp dẫn, ly kỳ rồi. Kỳ nhân áo xám đột ngột xuất hiện dùng võ công của Mã Đại Nguyên đánh gẫy cổ Bạch Thế Kính là sự kiện bất ngờ thứ hai. Kỳ nhân này là ai? Kiều Phong biết cao nhân này không phải là vị áo nâu đã cứu chàng ở Tụ Hiền Trang.

Vẫn chưa hết. Tác giả còn dành cho người đọc một ngạc nhiên lớn nữa. Kiều Phong trở lại gia trang của Lệ Hoa. Phòng ngủ hoang vắng, lạnh lẽo. Gia nhân của Đoàn Nam Vương – những anh vệ sĩ này đáng bị chặt đầu vì tội đến cứu giá quá muộn  – đã đến đưa Nam Vương lên am-bu-lăng đi bệnh viện. Xác Cái Bang Trưởng Lão Bạch Thế KÍnh nằm đâu chẳng ai cần biết. Kiều Phong gặp lại Mã phu nhân mình đầy máu tươi nằm chịu kiến lửa đốt.

Trong khi Kiều Phong đuổi theo Kỳ nhân áo xám mẹ con Nguyễn Tinh Trúc–A Tử đã tự giải khai được huyệt đạo, nhẩy xuống, vào phòng hành hạ Mã phu nhân. Bà Nguyễn Tinh Trúc ghen tuông nghe lời con gái ác độc dùng kiếm rạch nát mặt hoa, nát tấm thân ngà ngọc của nàng Sương Phụ Đa Tình rồi không giết nàng ngay, bỏ nàng nằm đấy cho kiến vàng, tức kiến lửa, đốt nàng, hút máu cho nàng đau đớn đến chết.

Kiều Phong thương hại Mã phu nhân. Tuy nàng đã vu cáo, hãm hại , có thể nói là tàn phá, cả đời tư lẫn đời công của chàng ở Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh nhưng chàng không thù hận gì nàng. Nàng sắp chết. Không thể cứu được nàng sống lại. chàng chỉ còn có thể an ủi nàng mấy câu trước khi nàng chết.

Mã phu nhân mở mắt thấy Kiều Phong, nàng bảo chàng:

- Ôm em đi. Em muốn được chết trong tay Bang chủ…

Chàng làm theo lời. Nàng lại hỏi:

- Chàng có biết tại sao em hãm hại chàng không?

Làm sao chàng biết được? Đây là chuyện thường xẩy đến với nhiều anh Con Trai Bà Cả Đọi trên cõi đời này: Em yêu anh anh hổng biết tại sao, em thù anh anh cũng hổng biết tại sao. Em yêu anh anh cám ơn em. Em thù anh thì anh phú lỉnh đi chỗ khác kiếm ăn. Em đánh, anh đỡ, anh đỡ hổng được thì anh chịu đòn. Đại hiệp võ công lệch đất, nghiêng trời hay anh Con Trai Bà Cả Đọi cả đời chẳng đánh nhau với ai đều ngơ ngáo như nhau trước sự Yêu Thù của Đàn Bà Đẹp Đa Tình.

Đây là đại khái câu chuyện rắc rối tơ Mã phu nhân kể với Kiều Phong khi nàng sắp chết. Đại khái thôi vì bộ nhớ rệu rã sau ba mươi mấy mùa soài tượng chỉ còn giữ lại được ngần này:

- Em kể anh nghe. Ngày xưa khi tuổi em mới tám, chín mùa táo tầu em là con nhỏ xinh đẹp nhất xóm. Nhưng nhà em nghèo. Tết đến giagia, mámá em không sắm được cho em bộ y phục mới. Con nhỏ nhà bên bằng tuổi em có y phục mới mà em không có. Đêm Ba Mươi Tết em lẻn sang nhà nó dùng cái kéo em mang theo cắt bộ y phục Tết của nó ra làm trăm mảnh. Em không được mặc đồ Tết thì nó cũng không được mặc đồ Tết. Anh hiểu em muốn nói gì không? Anh biết tại ao em làm thế không?

Lại một lần nữa Kiều Phong, cùng những anh Con Trai Bà Cả Đọi.., thở hắt ra. Làm sao các anh hiểu được tâm trạng rắc rối tơ vò của đàn bà đa tình, đa dâm, đa tham, đa đủ thứ trên cõi đời này. Họa chăng chỉ có Ông Bác sĩ Phờ Rơi Xứ Âu Lạp Ba bên Tây Vực xa xôi nói là ông hiểu. Mà ông cũng tự cho là ông hiểu thôi. Chẳng ai có thẩm quyền để biết ông Sích Mông Phờ Rơi – Sigmund Freud – hiểu như vậy là đúng hay trật. Thôi thì ta cứ tán nhăng, tán cuội theo sự hiểu biết không đầy cái lá mít của ta như sau:

- Mã phu nhân, Sương Phụ Đa Tình, là người đàn bà tối ích kỷ, chỉ biết mình, ghen tuông, ghen tị, ghen ghét. Cái gì nàng không được ăn là nàng đạp đổ. Em muốn em bá chủ, em độc tôn, độc quyền. Vì em không chiếm được Đoàn Chính Thuần cho riêng em nên em giết họ Đoàn. Em giết Đoàn lang yêu dấu của em thì thôi, cũng được đi. Nhưng còn Kiều Phong? Bang Chủ Cái Bang có ân oán gì với em mà em làm Bang Chủ thân bại, danh liệt?

Đây là nguyên nhân làm Sương Phụ Đa Tình hận và hại Kiều Phong:

- Xuân năm ấy.. ở Hàng Châu.. Đại Hội Hoa Anh Đào… Em được bầu làm Hoa Hậu.. Em đẹp nhất đại hội. Bao nhiêu vương tôn, công tử quì mọp dưới chân em. Nhưng em chỉ muốn một người trên cõi đời này biết là em đẹp, yêu em và mong được em yêu thôi. Người ấy là… Bang Chủ, là chàng. Chàng đến dự Hội Hoa Xuân nhưng chàng không đến mí em. chàng chẳng để ý gì đến em cả, chàng cứ ngồi trên cao lâu uống rượu. Em đi ngang mặt chàng cũng chẳng thèm nhìn em. Em thù chàng từ đó. Em thù chàng nên em hại chàng.

Than ôi.. Quân tử Tây có lời răn: “Đừng đùa rỡn với Ái Tình – Ne badine pas avec l’Amour..” Đúng phóoc. Đùa rỡn với Ái Tình là vỡ mặt nhưng không chịu đùa rỡn với Ái Tình nhiều khi, ngoài mặt mũi, sự nghiệp, người ta còn bị vỡ rất nhiều thứ khác nữa. Tâm trạng rắc rối tơ và võ công Ba Tư quái dị của những nữ lang đa đủ thứ trên cõi đời này như Nàng Sương Phụ Đa Tình Thiên Long Bát Bộ làm cho người viết hãi hùng kinh sợ.

Vì các nàng xử dụng võ công Ba Tư quái dị nên khi bị các nàng xuất chiêu, các anh Con Trai Bà Cả Đọi khốn khổ, khốn nạn trên cõi đời này không biết phải đỡ gạt, tránh né ra sao. Ngỏ lời ong bướm, ve vãn, gạ gẫm các nàng thì bị các nàng chửi là dâm, nham nhở, dơ dáy, kết cho cái tội khinh khi các nàng, là thứ đàn ông không xứng đáng được tán tỉnh, được “muốn” các nàng. Ung dung tự tại như ông Khổng Khâu nước Lỗ khi học nhạc Thiều, dửng dừng dưng với các nàng thì các nàng thù oán, các nàng cũng kết tội là khinh các nàng. Các nàng cho mà không chịu lấy, dí tận mồm mà không chịu ăn là chỉ có nước từ chết đến chết với các nàng.

Vậy thì muốn được sống hai chữ Bình An với một chữ Thọ trên cõi đời tục lụy này ta phải làm sao đây? Thảo hèn quân tử Tầu có lời than: “Vi nhân nan..” Làm người khó. Đừng nói gì đến chuyện ho hen kèn cựa, bon chen chèn lấn, tranh cướp với bọn đàn ông, chỉ nói riêng đến chuyện ứng phó với các chị con Dâu, Con Gái Bà Cả Đọi thôi những anh Con Trai Bà Cả Đọi trên cõi đời này cũng đã đủ tối tăm mắt mũi, tẩu hỏa nhập ma, thổ ra mấy búng máu tươi, thân bại, danh liệt…

Nàng Sương Phụ Đa Tình chỉ vì muốn được Bang Chủ Cái Bang yêu nhưng bị Bang Chủ đối xử hờ hững kiểu con cá vàng lơ lửng nên thù hận Bang Chủ, hãm hại Bang Chủ. Làm vợ Mã Phó Bang Chủ Cái Bang nàng vẫn không hài lòng. Có chồng, nàng ngoại tình và tham gia vào việc giết chồng. Rồi nàng tiến hành cuộc vu cáo hãm hại Kiều Phong. Mã phu nhân, trước sự phê phán của người viết ở Rừng Phong, là nữ nhân vật đa dâm nhất Thiên Long.

Qua thảm kịch Tình Thù Kiều Phong — Mã phu nhân, ta thấy với những người đàn bà đa tình, ta:

Thả lời ong bướm nhiều khi vỡ mặt.
Không thả lời ong bướm nhiều khi bỏ mạng..

Tình cảnh ấy, khó khăn này làm người viết nhớ đến một chuyện trong Cổ Học Tinh Hoa:

Trang Châu cùng môn đệ đi chơi. Qua chỗ mấy người tiều phu chặt cây, nghe họ hỏi nhau:

- Cây gỗ tốt, cây gỗ xấu. Chặt cây nào?

- Chặt cây gỗ tốt. Ngốc. Còn phải hỏi. Gỗ xấu lấy làm gì?

Trang Châu dậy:

- Các trò suy nghĩ nhen: Ở đời Tốt là chết

Thầy trò vào tiệm ăn, nghe người trong tiệm bàn chuyện làm thịt đãi khách:

- Nhà có hai Cờ Tây. Cờ Vện chăm giữ nhà, Cờ Cộc lười chỉ đớp rồi ngáo. Hạ Cờ nào?

- Hạ Cờ Cộc. Lười. Chỉ ăn rồi ngủ, để làm gì. Giữ Cờ Vện lại vì nó chăm chỉ…

Trang Châu dậy:

- Các trò suy nghĩ nhen: Ở đời lười là chết..

Anh Con Trai Bà Cả Đọi đọc chuyện trên từ thuở tuổi đời anh mới có mười mấy que. Theo lời Thầy Trang đôi khi anh cũng đi một đường suy nghĩ – sự thực anh rất lười suy nghĩ – về những nguyên nhân sống chết ở cõi đời này. Nhưng đến năm đời anh Sáu Bó anh vẫn chưa biết chắc anh phải làm gì, phải ứng xử như thế nào khi đời anh gặp tai họa. Ngày Ba Mươi Tháng Tư Đen, bỏ của chạy lấy người không kịp, vất vả tả tơi ở giữa Sài Gòn đầy cờ máu, anh thấy anh cần bổ xung thêm công thức ” Khôn-Dại-Sống-Chết “ mà anh nghe nói là của Trạng Trình:

– Dại thì chết
Khôn cũng chết
Biết thì sống…

Sau 1975 ở Sài Gòn – bị đổi tên là Thánh Hồ – công thức ấy được Anh Con Trai Bà Cả Đọi thêm thắt như vầy:

– Dại thì chết
Khôn cũng chết
Biết lại càng chết..

Cuộc sống muôn mặt, tình yêu muôn sắc được đúc kết trong thế giới Thiên Long. Người đúc kết, tạo lại, tả lại cho người khác thấy như thật là một Đấng Tạo Hóa Quyền Năng nho nhỏ. Hai mươi nhăm năm đẩu chuyển, tinh di, Quẻ Bác đến với những Anh Con Trai Bà Cả Đọi Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa nhưng Quẻ Phục không đến! Than ôi.. Phải chăng Quẻ Phục sẽ không bao giờ đến? Thay vì Quẻ Phục là Quẻ Đoạn, Quẻ Tuyệt, Quẻ Tịch.

Thôi thì hãy để “Định Mệnh an bài..”, ta trở về với Mã Phu nhân, Nàng Sương Phụ Đa Tình nhất Tình Sử Thiên Long.

Gieo gió, gặt bão, nàng ác độc, nàng hại người, nàng chết thảm. Suốt một đời đố kỵ, ghen tuông, mưu mô, xảo trá, nàng có gì hơn ai? Không những chẳng hơn ai nàng còn là người đàn bà đau khổ có số mệnh bi thảm nhất Thiên Long.

Công Tử Hà Đông bèn có Thơ Vịnh Nàng:

MÃ PHU NHÂN

Dối chồng.. Em nói, Em cười
Giết chồng nửa đoạn, nửa đời.. Vô luân.
Ngoại tình chẳng một tình nhân
Dâm thì dâm cũng có ngần ấy thôi.
Em ơi.. Rừng Hạnh trăng soi
Sao Em áo trắng hại người thản nhiên?
Kiều Phong đại ngốc vô duyên
Thân danh bại liệt nhãn tiền vì Em.
Thương Em tóc mượt, da mềm
Âm Ty làm quỷ đêm đêm thở dài.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 138 other followers