CHA NÀO, CON NẤY

Đứng giữa: Đầu Xỏ Công An VC Mai Chí Thọ, Huỳnh Bá Thành đứng bên trái Mai Chí Thọ.

Đứng giữa: Đầu Xỏ Công An VC Mai Chí Thọ, Huỳnh Bá Thành đứng bên trái Mai Chí Thọ.

Tin trên báo VC ở Sài Gòn:

Đi xem “thầy” bói, chị Mai tình cờ quen một phụ nữ tự xưng là “nhà báo” có quen biết nhiều quan chức toà án và hứa sẽ chạy án cho chồng chị Mai với giá 360 triệu đồng.

Huỳnh Bá Thạch Thảo, con gái của Công An Huỳnh Bá Thành, bị bắt vì tội lừa tiền.

Huỳnh Bá Thạch Thảo, con gái của Công An Huỳnh Bá Thành, bị bắt vì tội lừa tiền.

Ngày 21/8, Công an TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cho biết: công an đã tạm giữ chị Huỳnh Bá Thạch Thảo, 42 tuổi, ngụ tại đường Phạm Văn Bạch, quận Tân Bình, TP HCM, để  điều tra về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Chị Phạm Thị Tuyết Mai, 34 tuổi, ngụ tỉnh Bình Dương, có chồng bị bắt vì tội đánh bạc. Nôn nóng muốn biết số phận của chồng mình như thế nào, chị Mai đi xem bói để nhờ “thầy” cho biết  mức án của ông chồng chị là bao lâu, tại đây chị Tuyết Mai gặp và quen chị Huỳnh Bá Thạch Thảo.

Thạch Thảo  gợi ý chị Mai muốn chồng trắng án thì phải chung tiền để Thạch Thảo chạy “sân sau”.

Để chị Mai tin tưởng, Thảo đưa tấm danh thiếp ghi rõ họ tên và cơ quan mình công tác kèm số điện thoại liên lạc là báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh – CATPHCM.  Thạch Thảo khoe có quen biết nhiều quan chức cấp cao nên có thể dàn xếp chạy án. Tin lời “nhà báo”, chị Mai đưa Thạch Thảo 360 triệu đồng nhờ chạy cho chồng được trắng án.

Thế nhưng khi tòa mở phiên xét xử thì chồng chị Mai bị tuyên án 12 tháng tù giam. Cho rằng “nhà báo” không làm được việc mà còn lấy tiền nhiều và nghĩ rằng mình bị lừa nên chị Mai nhờ người quen là một nhân viên công an tên Nguyễn Thanh Hải tìm cách đòi Thạch Thảo trả lại tiền.

Chị Mai giả vờ tiếp tục nhờ “nhà báo” tìm cách đưa chồng chị ra khỏi tù sớm và đồng ý chi thêm tiền. Nghĩ rằng “cá cắn câu,” nên sáng 20/8/2014, Thảo về Thủ Dầu Một để nhận tiền của chị Mai.

Trong lúc Thảo đang viết giấy mượn tiền của chị Mai tại một quán cà phê thì anh Nguyễn Thanh Hải cùng đồng đội đến, yêu cầu tất cả về công an phường làm rõ sự việc.

Tại cơ quan công an, Thảo khai nhận việc giả danh “nhà báo” nhằm mục đích lừa đảo, đồng thời chịu viết tờ cam kết trả nợ 360 triệu cho chị Mai trong thời gian sớm nhất.

Qua xác minh, Huỳnh Bá Thạch Thảo là con gái đầu của cố nhà báo lão thành Huỳnh Bá Thành, người nhân viên công an từng làm Tổng Biên Tập Tuần Báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh. Thạch Thảo từng là phóng viên báo CA TPHCM những năm 90. Sau đó vì nhiều lý do Thạch Thảo đã bị tờ báo cho thôi việc.

Hết bản tin về Huỳnh Bá Thạch Thảo trên Internet.

CTHĐ: Chuyện nhân viên công an, ký giả nhà báo Việt Cộng làm tiền, làm bậy là chuyện quá nhiều và quá nhàm ở Việt Nam hiện nay. CTHĐ tôi chú ý đến vụ Huỳnh Bá Thạch Thảo vì thị là con gái của anh công an Huỳnh Bá Thành.

Huỳnh Bá Thành là Việt Cộng nằm vùng nhiều năm trước năm 1975. Y là Hoạ sĩ Ớt vẽ tranh biếm trích trên nhật báo Điện Tín của Chủ nhiệm Hồng Sơn Đông. Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, Huỳnh Bá Thành là viên công an thẩm vấn nhiều ký giả, văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bọn Công An Thành Hồ bắt giam. Y từng viết tiểu thuyết dài Lệnh Truy Nã đăng trên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng. Thời gian Y đắc thế nhất là thời Y làm Trưởng Ban Biên Tập tuần báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh. 

Khi tôi bị bắt lần thứ nhất – lần bị bắt này của tôi không được hai anh Nam Thi – Minh Kiên nhắc đến, dù chỉ nhắc sơ nửa dòng trong quyển Những Tên Biệt Kích Cầm Bút – người phụ trách thẩm vấn tôi là Huỳnh Bá Thành. Lần thứ nhất gặp tôi trong phòng thẩm vấn của Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, Huỳnh Bá Thành tự giới thiệu:

- Tôi là Huỳnh Bá Thành, họa sĩ Ớt báo Đồng Nai. Chắc anh có biết tên tôi. Anh gặp những anh văn nghệ sĩ bị bắt và đã được thả chắc cũng có nghe nói đến tôi.

Tôi có nghe anh em kể vài mẩu chuyện trong tù nhưng thực sự tôi chưa một lần nghe anh em nào của tôi nói đến tên anh Công An VC Huỳnh Bá Thành.

Trước mắt tôi, Huỳnh Bá Thành gầy, nước da mái mái, tái tái, tóc chải sang bên trái cho tôi biết anh thuận tay trái. Anh cho tôi biết bí danh anh là Ba Trung. Anh cũng tự giới thiệu anh là tác giả quyển Vụ Án Hồ Con Rùa.

Tôi không nói cho anh biết là tôi chưa nghe ai nói đến tên anh lần nào, tôi không biết họa sĩ Ớt – đúng ra tôi không để ý đến anh – so với Hoạ sĩ Choé thì Hoạ sĩ Ớt thua xa –  Hoạ sĩ Ớt, so với Hoạ sĩ Choé thì Hoạ sĩ Ớt thua xa — và tôi cũng chưa từng để mắt đọc nửa trang truyện Vụ Án Hồ Con Rùa.

Tôi bị bắt chiều thứ Bảy – công an đến nhà tôi lúc 11 giờ trưa, khám xét, tìm tang vật mãi đến khoảng 5 giờ chiều tôi mới vào đến Biệt giam Số 15 khu B, Nhà Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của Sở Công An VC Sài Gòn – 10 giờ sáng Chủ nhật hôm sau Huỳnh Bá Thành đã gọi tôi ra phòng thẩm vấn.

Mỗi lần Ba Trung thẩm vấn tôi rất lâu. Ngoài phần hỏi đáp ghi biên bản còn có phần nói chuyện linh tinh, lang tang về văn nghệ, văn gừng, chính em, chính chị. Ba Trung tỏ ra thích thú nói chuyện văn nghệ, Y thường gọi tôi ra thẩm vấn vào buổi chiều, ngồi mãi đến chín, mười giờ tối mới thả tôi về xà lim, VC gọi theo Tầu là biệt giam. Tôi không lấy gì làm phiền nhiễu vì những buổi hỏi cung dài lòng thòng này. Mới bị bắt nằm xà lim một mình buồn thấy mồ đi. Được ra ngoài ngồi thoải mái, được có người nói chuyện qua lại – dù người đó là Công An ViXi – cũng đỡ buồn hơn là cứ nằm đến mỏi nhừ cả người trên nền xi măng xà lim.

Tôi phải viết là Huỳnh Bá Thành đối xử với tôi rất nhã, lịch sự. Anh ta không nói nặng tôi nửa câu, không tỏ ra khinh bỉ hay vô lễ với tôi, anh cũng không đe dọa tôi nửa lời. Anh có thể đe dọa tôi, đánh tôi, chửi tôi, nhưng anh đã không làm những việc ấy. Anh cũng không nói lời gì để tôi thêm buồn, thêm sợ. Anh có đọc tập thơ của tôi. Sau ngày oan nghiệt 30 Tháng Tư 75, tôi có làm một số bài thơ vẩn vương, chép vào một tập để ngay trên bàn. Bọn công an đến nhà tôi bắt tôi, lục xét nhà tôi, vồ được tập thơ này của tôi. Giờ này tập thơ xưa của tôi chắc vẫn nằm yên trong kho Lưu trữ Tang vật của Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh, trong tập có bài thơ tả cảnh Chợ Trời Sài Gòn sau ngày ta mất nước:

Chợ Trời

Trời chiều đi dạo Chợ Trời
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra
Lạc loài áo gấm, quần hoa
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa
Bán đồ toàn những người ta
Mua đồ thì rặt những ma cùng Mường
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường
 ?
Đầu Âm Phủ, cuối Thiên Đường là đây.

Huỳnh Bá Thành đọc bài thơ trên của tôi, Y nói với tôi:

“Anh làm thơ gọi chúng tôi là Mán, là Muờng, nếu các chú đến bắt anh mỗi chú cho anh một đấm thôi, giờ này anh nằm chứ anh không ngồi như vầy được.”

Y có đọc bài thơ Buồn của tôi, trong bài có câu:

“Em đứng mỏi mòn sau dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đợi trông.
Anh đứng võ vàng sau khung cửa sổ
Như người tù nhìn trời qua chấn song..”

Nên Y nói:

“Nay anh được nhìn trời qua chấn song rồi đó, anh hài lòng chưa?”

Bọn ký giả Thành Phố Hồ Chí Minh viết về Huỳnh Bá Thành:

Những năm 1971-1973, ở Sài Gòn và miền Nam,  người đọc báo, nhất là đọc báo Điện Tín đều biết tên tuổi “Họa sĩ Ớt” ký dưới những bức tranh biếm họa độc đáo, nhưng ngày đó ít ai biết  tên thật của Hoạ sĩ Ớt  là Huỳnh Thanh Tâm. Còn Huỳnh Bá Thành là bút danh của Ớt làm báo sau ngày năm 1975. Huỳnh Bá Thành sinh năm 1942, qua đời năm 1993, vì một cơn bạo bệnh. Huỳnh Bá Thành, quê làng Khái Đông, H. Hòa Vang, nay là P. Hòa Hải, Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Ngay ở quê nhà Hòa Vang, Đà Nẵng cũng không mấy người biết anh, một chiến sĩ tình báo cách mạng hào hoa, từ ngày anh lặng lẽ rời Trường Trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng vào Sài Gòn hoạt động những năm 1963 cho đến sau này.

Trong những ngày đi tìm tài liệu để biên soạn cuốn “Đà Nẵng -mảnh đất con người”, tôi càng thật sự bất ngờ và cảm phục tính cách, phong cách của một “thư sinh” trong bão táp cách mạng sống động ở miền Nam. Nhất là khi tôi đọc được các tập sách thuộc loại tài liệu lịch sử như “Điệp báo A10″ của Nông Huyền Sơn, “Hồi ký không tên” của Lý Quý Chung, trong từng nơi, từng lúc, bằng tình cảm trân trọng, các tác giả đã viết về Huỳnh Bá Thành khá chi tiết. Mới đây, trong một lá thư của ông Võ Vân, cháu ruột của cố Chủ tịch nước Võ Chí Công, là cựu thành viên Cụm Điệp báo A10, hiện đang công tác ở Sở Giao thông Vận tải TPHCM, được tác giả Nguyễn Lê ghi lại, càng hiện rõ chân dung người con của Đà thành, người đã có một thời lặng lẽ cùng đồng nghiệp, đồng đội góp phần khuấy động chính trường Sài Gòn vốn chao đảo bằng nhiều hình thức đấu tranh đa dạng, quyết liệt với kẻ thù cho đến ngày toàn thắng.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, vùng Hòa Hải, Non Nước có nhiều căn cứ của địch đóng chốt, nơi đây cũng là vùng ngoại vi vành đai thành phố có nhiều cơ sở hoạt động của ta trong thế giằng co ác liệt. Huỳnh Bá Thành công tác và trưởng thành trong chiếc nôi cách mạng đó, rồi tham gia phong trào học sinh, sinh viên Đà Nẵng cho đến lúc vào Sài Gòn tiếp tục học tập, móc nối cơ sở, được tổ chức đưa vào mạng lưới tình báo nội thành, mang mật danh Ban An ninh T4 (Sài Gòn – Gia Định).

Không gì tốt hơn, khoác áo họa sĩ, nhà báo, là điều kiện để Ớt (Huỳnh Bá Thành) che mắt kẻ thù, có quan hệ rộng rãi với nhiều đối tượng xã hội và đi lại hợp pháp dễ dàng. Huỳnh Bá Thành cùng làm việc trong nhóm các nhà báo uy tín, có lập trường, tư tưởng tiến bộ, yêu nước, chống Mỹ – Thiệu – Kỳ, tập hợp ở nhật báo Điện Tín, như Lý Quý Chung, Trương Lộc, Trần Trọng Thức, Cung Văn (Nguyễn Vạn Hồng), Minh Đỗ, tờ Điện Tín do Lý Quý Chung làm chủ bút.

Sở dĩ tờ báo thu hút đông đảo người đọc ở miền Nam lúc bấy giờ là nhờ các chuyên mục nóng bỏng tính thời sự. Đặc biệt, là những bức biếm họa bằng bút pháp tả thực lợi hại, sắc sảo của họa sĩ Ớt. Có thể nói hầu hết các nhân vật tai to mặt lớn, tướng lĩnh háo danh, khát máu, tay sai của Mỹ ở “Phủ đầu rồng”, thượng, hạ viện Sài Gòn, đến Bôn – ke Đại sứ quán Mỹ, Tòa Bạch Ốc Hoa Kỳ như Johnxon, Nixon, H.Kissinger, kể cả những sự kiện chính trị đen tối như vụ Watergate; việc Tướng Mỹ Fred Weyand cuốn cờ ở Sân bay Tây Sơn Nhất… đều là đối tượng, mục tiêu để Ớt đả kích, vạch trần, tố cáo. Nhiều tác phẩm của họa sĩ Ớt, được các báo ở Mỹ, Pháp, Australia, Canada, Tây Đức, Nhật Bản trích đăng lại. Trong vỏ bọc nhà báo, hầu hết các sự kiện, vụ việc lớn nhỏ xảy ra trong nội đô, Huỳnh Bá Thành đều có mặt trực tiếp viết bài, vẽ tranh, nhanh chóng cung cấp tình hình, tin tức về cho cấp trên, nắm bắt diễn biến tư tưởng, động thái của giới tri thức, văn nghệ sĩ để có cách hướng dẫn dư luận, đối phó kịp thời.

Trong Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, người chỉ huy trực tiếp của Ớt bị địch bắt. Ớt mất liên lạc. Trong khi chờ đợi móc nối trở lại, Ớt vẫn tiếp tục chiến đấu bằng vũ khí ngòi bút của mình. Đến khi được trở về với đơn vị Cụm A10, Ớt được giao một công việc cực kỳ khó khăn – Với tư cách ký giả trong nhóm đối lập, có nhiều nhà báo, nghị sĩ, thân thiết với Tướng Dương Văn Minh chống Thiệu, Ớt đã tìm cách vào dinh Hoa Lan (biệt thự Tướng Minh) tìm hiểu các thế lực chính trị đang bao quanh vị tướng này, đồng thời kết thân với ông ta, đàm đạo thời cuộc rồi vẽ tranh viết bài đưa lên mặt báo đập lại luận điệu kéo dài chiến tranh, trì hoãn ký kết hòa đàm Paris về Việt Nam của Nguyễn Văn Thiệu. Ớt đã thực hiện hoàn hảo nhiệm vụ.

Thêm một tư liệu quý về Cụm Điệp báo A 10 và Huỳnh Bá Thành. Suốt thời gian hoạt động ra, vô nội thành bưng biền mà không bị lộ, bị địch tình nghi, bắt bớ, bảo toàn được mạng lưới giữa hang ổ địch. Có người nghi Huỳnh Bá Thành làm việc cho Tình báo Mỹ – Ngụy, hay công an chìm, mà không biết anh là điệp viên Cụm Điệp báo A10, thuộc Ban An ninh T4, nhận chỉ đạo của trên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Hòa bình năm 1975, Huỳnh Bá Thành được về làm việc ở Sở Công an TP Hồ Chí Minh với quân hàm Trung tá. Huỳnh Bá Thành có công tham gia đề xuất chuyển tờ tin nội bộ của Sở, thành tờ báo Công an khi sang công tác ở đây, Huỳnh Bá Thành được cử làm Phó tổng biên tập, rồi Tổng biên tập tuần báo Công An, anh đã mày mò xây dựng, cải tiến từ nội dung đến hình thức, tìm ra công thức làm báo hiện đại, cho ra tờ Công an giữa làng báo TPHCM và cả nước. Năm 1980, Huỳnh Bá Thành tập hợp biên soạn xuất bản toàn bộ các tác phẩm in báo của anh trong cuốn “Ký sự nhân vật”, mà mỗi lần xem lại, người ta vẫn còn cảm giác lôi cuốn, hấp dẫn, bởi đề tài, và nét vẽ “ma thuật” của Ớt. Ớt là một nhà báo hết lòng với nghề, lấy ngòi bút tiến công kẻ thù. Nhưng trước hết, Ớt là một nhà hoạt động tình báo trầm tĩnh, gan dạ trong đội ngũ chiến sĩ tình báo cách mạng luôn làm kẻ thù run sợ, bị động đối phó, và Ớt là một người Cộng sản, trung thành với lý tưởng mà Ớt đã chọn và cống hiến.

Người viết Đào Hiếu bốc Huỳnh Bá Thành:

Huỳnh Bá Thành

Viết đến đây tôi nhớ anh Huỳnh Bá Thành, cố tổng biên tập báo Công an TPHCM, một người bạn cũng ở trong phong trào sinh viên chống Mỹ ngày xưa.

Năm ấy thấy tôi sống vất vả quá, anh bảo tôi làm “ngoài giờ”, phụ anh sửa bài. Có lần báo anh có một sơ xuất gì đó, anh bị thành ủy gọi lên nhắc nhở, khi trở về, anh nói oang oang trong cuộc họp toà soạn (có tôi dự):

- Các anh chị biết tôi đã nói gì với thành ủy không? Tôi nói: Thời chế độ cũ, báo chí Sài Gòn phần lớn là đối lập. chính bản thân tôi thường vẽ tranh châm biếm ông Thiệu và gọi ông ta là Sáu Thẹo mà họ cứ cười. Bây giờ tất cả các báo đều của Đảng. Nhà báo chúng tôi ai cũng theo Đảng, nịnh Đảng muốn chết vậy mà hở một chút là phê bình kiểm điểm. Các anh thật quá đáng!

Một người khác là nhà thơ châm biếm nổi tiếng, cũng là đảng viên, gốc sinh viên tranh đấu, từng là cán bộ có cỡ của một tờ báo lớn của TPHCM, bữa kia anh nhậu với tôi, kể:

- Có thằng nhà báo Pháp gặp tao, nó hỏi: “Việt Nam hiện nay có mấy tờ báo và tạp chí?” Tao đáp: “Có chừng 700.” Nó kêu: “Ô, thế thì báo chí Việt Nam thật là phong phú.” Tao nói: “Coi vậy mà không phải vậy. Vì có 700 tờ báo nhưng chỉ có một ông Tổng biên tập.”

Thằng Tây nó cười gần chết.

TRÚC GIANG viết về  HUỲNH BÁ THÀNH.

Trích Internet. Blog Sơn Trung:

Họa sĩ Ớt, tên hung thần của văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Sau ngày 30-4-1975, bọn Việt Cộng nằm vùng lòi mặt ra hết, trong đó, người hung hãn nhất, tên VC gây kinh hoàng trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, là họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành. Tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, bí danh là Ba Trung,  Y làm trưởng ban “chống tình báo CIA” của Sở Công An Thành Phố Sài Gòn.

Chính họa sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành, chỉ huy những cuộc theo dõi, bố ráp, bắt giữ, thẩm vấn và giam cầm những văn nghệ sĩ nạn nhân, bị cho là gián điệp của CIA Hoa Kỳ. Đồng thời bỏ tù những tu sĩ Phật Giáo bị gán tội phản cách mạng.

Hai vụ điển hình là, “Vụ án Thập nhị tăng ni Già Lam” và “Vụ án Hồ Con Rùa” hay là vụ “Những tên biệt kích cầm bút”.

Vụ Án “Thập nhị Tăng ni Già Lam”

Ngày 30-3-1984,  buổi sáng, Hoà thượng Thích Trí Thủ, trụ trì chùa Già Lam, Phú Nhuận, được mời lên văn phòng Mặt Trận Tổ Quốc, Hòa thượng được cho nghe cuộn băng ghi tiếng nói – lời khai – của một tăng sinh bị bắt về “tội phản động”. Tăng sinh đó khai Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ, Thượng toạ Thích Trí Siêu và Ni cô Thích Trí Hải là những người trong ban lãnh đạo của một tổ chức phản động, mưu đồ lập chiến khu gây bạo động

Trong khi Hòa thượng Trí Thủ ở văn phòng Mặt Trận Tổ Quốc, thì tại chùa Già Lam, hai Thượng tọa Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị bắt. Đồng thời, ni cô Trí Hải cũng bị bắt từ Hố Nai đưa về trung tâm thẩm vấn và tạm giam ở Số 4 đường Phan Đăng Lưu.

Vài ngày sau đó, Hòa thượng Trí Thủ bị chết bất đắc kỳ tử, và thông tin nước ngoài cho rằng ông bị bọn VC ám sát.

Trong đợt hành quân lớn, 19 tăng, ni, cư sĩ khác cũng bị bắt, giam đến ngày 30-9-1988, (4 năm) mới đưa ra tòa xét xử.

Hai Thuợng tọa Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu bị tòa kết án tử hình.

Hai án chung thân dành cho hai cư sĩ Phan Văn Ty và Tôn Thất Kỳ.

Hoà thượng Thích Đức Nhuận lãnh án 10 năm. Các vị khác bị từ 4 đến 15 năm.

Ngày hôm sau, 1-10-1988, báo Sài Gòn Giải Phóng loan tin, hai vị Tuệ Sĩ và Trí Siêu ngoan cố, không chịu nhận tội. Đó là “tội tán thành, ủng hộ, che chở, đùm bọc hành động phản cách mạng, lật đổ chế độ Cộng Sản”.

Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu là hai nhà sư uyên bác nhất của Phật Giáo Việt Nam.

Thích Tuệ Sĩ, tục danh là Phạm Văn Thương, một học giả uyên bác về Phật Giáo. Là Giáo sư thực thụ của Đại học Vạn Hạnh, thông thạo tiếng Anh, Pháp, Trung Hoa, Nhật, Pali, Phạn và tiếng Đức.

Thích Trí Siêu là giáo sư, tiến sĩ, sử gia, thiền sư Lê Mạnh Thát.

Do áp lực quốc tế và sự vận động của người Việt ở nước ngoài, ngày 15-11-1988, Hà Nội phải mở phiên xử phúc thẩm để giảm hai án tử hình xuống còn 20 năm tù. Hai án chung thân giảm xuống còn 18 và 16 năm. Hoà thuợng Thích Đức Nhuận giảm xuống còn 9 năm tù.

Những cuộc bố ráp, bắt giam, thẩn vấn và kết tội nhóm Tăng Ni Già Lam là do Họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành trực tiếp chỉ huy.

Vụ án “Hồ Con Rùa” hay “Biệt Kích Cầm Bút” là việc bắt giam môt số văn nghệ sĩ Sài Gòn.

“Biệt kích cầm bút” là cái tên do 2 đại tá VC, Tổng và Phó Ban biên tập tuần báo Công An Saì Gòn ghép tội cho các văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30-4-1975 để bắt bỏ tù họ.

Ngày 2-4-1984, một vụ nổ lớn xẩy ra tại tháp Hồ Con Rùa ở ngã tư Duy Tân – Trần Quý Cáp thuộc khu vực nhà thờ Đức Bà quận 1 Sài Gòn. Báo nhà nước quy kết tội phá hoại, một người trong số chủ mưu thiệt mạng và những người khác bị bắt.

Sau vụ nổ, hơn 200 văn nghệ sĩ, nhà văn, giáo sư bị bắt đi tù. Người chỉ huy, điều động bắt bớ  chính là họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung. Những nhân vật nổi tiếng như Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Sĩ Tế… Đặc biệt, Nhã Ca là nhà văn nữ duy nhất có tên trong danh sách “Mười Biệt Kích Cầm Bút” (BKCB) bị cầm tù trong cuộc hành quân lớn của công an Sài Gòn.

Mười “BKCB” gồm có: Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Khuất Duy Trác, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Ngọc Tư và Lý Thụy Ý.

Ban đầu, những văn nghệ sĩ miền Nam bị ghép vào tội “Gián điệp”, nhưng đến năm 1988, đổi lại thành tội “Tuyên truyền phản cách mạng”.

Vụ án văn nghệ sĩ Sài Gòn được công an in thành sách, dựng thành phim  mang tên “Vụ Án Hồ Con Rùa”.

Thật ra, có một số bài viết được gởi ra nước ngoài. Luật sư Triệu Quốc Mạnh, một tên VC nằm vùng tại Nha Cảnh Sát Đô Thành, với cấp bậc đại úy, được chỉ định là luật sư biện hộ cho các văn nghệ sĩ, Mạnh nói với các nạn nhân: “Các anh viết bài gởi ra nước ngoài, dù chỉ than thở nghèo đói cũng là bôi bác chế độ. Các anh làm cho họ đau lắm. Các anh làm cho họ đau, họ bỏ tù các anh, như vậy là huề”. Luật sư biện hộ mà nói với thân chủ của mình như thế, thì biện hộ theo cái kiểu gì đây?

Ớt bị thất sủng và cái chết bất đắc kỳ tử.

Sau thời gian gây kinh hoàng cho giới văn nghệ sĩ, khi anh Trần Bạch Đằng, bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý, người đỡ đầu cho họa sĩ Ớt bị điều ra Bắc, và Hà Nội đưa người cài vào các cơ quan miền Nam, thì Huỳnh Bá Thành mất chỗ dựa, không còn tung hoành được như trước nữa. Ớt đã từng tống tiền, bắt địa những người Hoa xin xuất cảnh ra nước ngoài, anh ta được xem như tay tổ tham nhũng, cũng giống như Năm Thạch, đại tá VC Nguyễn Văn Năm, làm giám đốc Sở Công tác về người nước ngoài, trụ sở số 161 đường Nguyễn Du, cấp giấy xuất cảnh cho các diện con lai, người đi nước ngoài chữa bịnh và chương trình ODP, xum họp gia đình do thân nhân bảo lãnh. Năm Thạch vốn là VC nằm vùng, từng làm quản lý  đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga.

Thạch là tên CAVC ăn hối lộ trắng trợn, nên bị Hà Nội cho người vào bắt ép phải tự tử tại nhà Y ở đường Công Lý, công an mở cửa nhà cho công chúng vào xem xác chết Năm Thạch. Ngay sau đó, vợ con Năm Thạch bị đuổi ra khỏi nhà để bọn CA Hà Nội đập tường, đào nền nhà tìm vàng do Năm Thạch chôn dấu.

Huỳnh Bá Thành bị thất sủng ngay sau khi người em ruột của Y vượt biên qua Mỹ. Sau chuyến Huỳnh Bá Thành đi công tác qua Pháp, lý do là để tổ chức hệ thống gián điệp VC ở Pháp, nhưng thực ra Y sang Pháp với mục đích về tài chánh, như việc chuyển tiền, vàng từ Việt Nam sang Pháp. Khi Huỳnh Bá Thành từ Pháp về VN thì bị chết bất đắc kỳ tử, vài ngày sau tên đàn em thân tín của Thành, tên công an chuyên thu tiền cho Thành, là Trung úy Sơn, người Quảng Nam, cũng chết đột ngột với nguyên nhân mờ ám. Dư luận cho rằng Huỳnh Bá Thành, và tên Sơn, bị bọn Công An đầu độc, thanh toán. Nguyên nhân vì ân oán trong những cuộc tranh ăn.

CTHĐ: Theo tôi, anh Công An Huỳnh Bá Thành không phải là nhân vật quan trọng như được mô tả trong những bài viết trên đây. Bọn tổ chức bắt văn nghệ sĩ, tăng ni là bọn cấp trên của Huỳnh Bá Thành.

Bố làm công an VC, bị đồng bọn giết, con gái lừa đảo, bị bọn Công An VC bắt giam. Một nhà lụn bại.

Trời có mắt.

NHẠC SĨ TÔI QUEN

Qua bến nước xưa..

Qua bến nước xưa..

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ngày 22 Tháng Tám, 2014.

Tôi viết về một số nhạc sĩ tôi quen, tôi không viết về những nhạc sĩ tôi biết. Nhạc sĩ tôi biết thì nhiều, nhạc sĩ tôi quen – thân đến độ xưng hô mày tao – thì không bao nhiêu. Hai nhạc sĩ tôi thân và biết nhiều về đời tư nhất là Trọng Khương và Lê Trọng Nguyễn.

Trọng Khương – Bánh Xe Lãng Tử, Lê Trọng Nguyễn – Nắng Chiều.

Internet ghi: Nhạc sĩ Trọng Khương là một trong những nhạc sĩ tân nhạc Việt Nam tiên phong, tác giả ca khúc “Bánh Xe Lãng Tử.” Có rất ít tài liệu về ông. Chỉ biết Trọng Khương làm nhân viên trong Ban Kiểm soát Kỹ thuật, Đài Phát thanh Sài Gòn từ trước 1953.

CTHĐ: Trọng Khương không có thời gian nào làm việc trong Đài Phát Thanh Sài Gòn. Anh là một công tử Hà Đông: anh sinh trưởng ở thị xã Hà Đông. Nhà anh ở cùng một con phố với nhà tôi. Anh hơn tôi khoảng 5 tuổi. Trước năm 1945 ở Hà Đông, anh là bạn của ông cậu tôi, ông anh tôi. Anh có tập tuần báo “ Cậu Ấm, Cô Chiêu,” khoàng 30 số báo, từ Số 1 đến Số báo cuối cùng. Đóng thành tập, bìa các-tông. Từ 1942 đến 1945 tôi vài lần đến nhà anh hỏi muợn “Cậu Ấm, Cô Chiêu” về đọc.  Trang bìa sau đăng truyện Tranh Vẽ của Họa sĩ Mạnh Quỳnh. Hai nhân vật của truyện này là hai anh nhô tên Vá, tên Vếu.

Trước 1945 ở Hà Đông Nhạc sĩ Trọng Khương tên là Thiêm, Trọng Khương là tên anh tự đặt. Từ năm 1943 Trọng Khương đã chơi nhạc. Năm đầu anh chơi accordéon, năm 1944 anh chuyển sang guitare espagnole. Năm 1952 anh là nhân viên Phòng Năm, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Quốc Gia Việt Nam. Năm ấy quân đội Việt Nam tổ chức theo Quân Đội Pháp. Phòng Năm – Cinquième Bureau – Phòng Tâm Lý Chiến. Năm 1952 Thiếu Tá Trần Tử Oai là Trưởng Phòng Năm. Một số nhạc sĩ, ca sĩ được tuyển vào làm nhân viên Phòng Năm. Trọng Khương, Hoàng Giác, Vũ Huyến, Lê Đô.. v..v..trở thành quân nhân với cấp bậc Trung Sĩ đồng hoá. Từ năm 1952 Phòng Năm được đặt ở Sài Gòn. Năm 1952  Trọng Khương, Hoàng Giác, Vũ Huyến, Lê Đô đã làm việc trong Phòng Năm ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.

Năm 1956, 1957 tôi trở thành bạn mày-tao với Trọng Khương. Anh cho tôi biết năm 1947 anh bị Mật Thám Tây bắt, giam ở Nhà Tiền. Tôi nghe nói về Nhà Tiền Hà Nội nhưng không biết cái nhà đó ở đâu trong thành phố Hà Nội. Anh kể chuyện khi Mỹ cho quân Pháp những thùng thịt bò đông lạnh, một vài thùng được đưa đến Nhà Tiền cho tù ăn. Nhà bếp mở thùng thấy những tảng thịt bò đông lạnh cứng hơn gỗ lim. Dao búa không sao cắt xẻ được những tảng thịt bò này. Cả nửa ngày tù hì hục mới được chỉ cách dùng nước sôi dội lên thịt cho thịt mềm ra. Anh kể năm 1948 quân Pháp đánh lên Việt Bắc. Một số tù biết tiếng Pháp trong Nhà Tiền được tuyển làm interprète – thông ngôn – đi cùng quân đội Pháp. Sau chiến dịch, khi trở về những tù nhân interprète này được trả tự do. Trọng Khương từ Nhà Tìền đi chiến dịch Việt Bắc.

Sau 1954, ở Sài Gòn, Trọng Khương có vợ con. Anh nghiện hút nặng nên gia đình anh tan vỡ. Vợ anh nuôi con. Từ năm 1965 anh không kiếm được đồng nào, anh sống nhờ những nhà người quen. Sau năm 1975 những người quen anh không ai có thể cưu mang anh, anh chết trong Nhà Ga Hoà Hưng. Bản nhạc nổi tiếng nhất của anh là bài Bánh Xe Lãng Tử:

Bánh xe quay nhanh nhanh
Chiếc thân xe rung rinh
Chìm trong làn cát trắng
Xe nhịp nhàng quay bánh lướt
Hồn ta mờ khuất trong mênh mông

Ta luyến lưu một kiếp giang hồ
Dù rằng cuộc sống vô bờ
Tim nồng giòng máu vô tư

A ha ha! Suối in hình chiếc xe tàng
Đêm nao đập vỡ cây đàn, giận đời nào ai mắt xanh

Vó câu bấp bênh, trên đường gian nan
Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn

Xe lăn êm êm dưới ánh trăng vàng
Môi ai say sưa hé mấy cung đàn
Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng

Vui ca lên đi trong chiếc xe già
Sau khi men say lắng mấy tơ đàn
Hồn ta vụt bước lên trời xanh lam

Đây là lời bản nhạc thứ hai của Trọng Khương:

Đường về nhà tôi

Đường về nhà tôi xa quá ai ơi
Qua biết bao sông còn đi nhiều lối
Đường về nhà tôi quen quá đi thôi
Sau mấy nương dâu nhà nép bên đồi

Đường mòn nằm im mơ tiếng chân ai
Chân bước hiên ngang người trai ngày ấy
Đường mòn lặng nghe trong gió heo may
Như tiếng chân ai vang trong ngàn cây

Nhà tôi như một bức tranh
Có ba gian nhà gỗ với giàn thiên lý xanh
Đằng xa nước hồ in bóng
Liễu buồn rung thành tiếng với đàn chim trìu mến
Chiều lam mờ trong khói sương
Những mái tranh nhỏ bé với hồn quê vấn vương
Đường quen ai về nơi cũ
Nhắn rằng tôi còn nhớ cho vợi bao nhớ thương

Lạc loài lìa quê lê gót tha hương
Chân bước hoang mang lòng đau nhiều nỗi
Chiều nào ngoài thôn tiếng guốc reo vui
Xa quá đi thôi đường về nhà tôi

Lan Đài, Chiều Tưởng Nhớ:

Tìm kiếm mãi chỉ hoài công thôi
Còn riêng anh tóc xanh buồn vây quanh
Nhớ thương em thương mãi hoài
Đường thêu hoa nay úa phai

Chiều đi lặng lẽ
Thương nhớ muôn bề
Khi người yêu đã chết.
Nhạc thu chưa thấy về.

Chiều buông mờ sương
Quạnh vắng phố phường
Khi người yêu đã chết
Nhạc tình sao luyến thương?

Bàn tay đâu tìm không thấy nữa!
Bờ môi đâu, mắt đâu ôi tìm đâu?
Dấu chân em xa vời vợi
Nghìn muôn xưa quên lãng rồi

Hồn chìm tưởng nhớ
Dòng thư xanh mờ
Hôn tình thư em viết
Gửi anh xưa đến giờ

Chiều đi lặng lẽ
Mộ chí  hoa tàn
Ôi màu hoa tang trắng
Liệm tình anh nát tan

Một chiều Sài Gòn năm 1983 khoảng 5 giờ, tôi đạp xe đến nhà Lê Trọng Nguyễn rủ anh đi uống ruợu. Những năm ấy, như mọi người Sài Gòn – hai chúng tôi quá buồn. Không có tiền, Nguyễn và tôi thường đến một quán rượu nghèo ở ven đường xe lửa Cổng Số 6. Quán rượu này có thể là quán rượu nghèo nhất hành tinh xanh, nôm na là Trái Đất. Năm giờ chiều quán mới dọn ra. Một tấm nylon căng bên bức tường căn nhà ven đường rầy. Vài cái bàn gỗ thông thấp tè. Quán chỉ có một thứ rượu đế giá một đồng tiền Hồ một ly, một gói lạc rang một đồng một gói. Mỗi chiều chúng tôi đến quán ngồi từ 5, 6 giờ đến 8,9 giờ tối. Mỗi tên uống hai ly rượu, nhâm nhi với hai gói lạc rang. Có 10 đồng chúng tôi qua một buổi chiều.

Tôi quen Lê Trọng Nguyễn qua Duy Sinh. Năm 1980 Duy Sinh đi chui sang Mỹ. Tôi trở thành người bạn thân của Nguyễn. Trong buồn phiền và tuyệt vọng, tôi có mấy câu thơ tặng Nguyễn:

Xót mày dạ trúc, lòng tơ,
Họa cung đàn mọi, bây giờ hẳn đau.
Tóc chia hai thứ trên đầu,
Thương thì đã muộn, mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo.

Đầu năm 1983 Nguyễn đưa tôi bản nhạc anh mới sáng tác, bản hành khúc ngắn. Anh bảo tôi:

“Tao tặng bản này cho những kháng chiến quân. Mày làm lời cho tao.”

Tôi nói:

“Thường thì chỉ có Thơ phổ Nhạc. Ít khi có Nhạc trước, Thơ sau. Tao mù tịt về nhạc. Tao phải nghe đàn bản này nhiều lần mới làm lời được.”

Nguyễn viết lời rồi đưa bản nhạc cho tôi. Tôi đặt tên bản nhạc là “Tiếng Hát Trở Về.” Tôi đặt tên tác giả là Trung Nhân, viết  lời giới thiệu:

“Tác giả Tiếng Hát Trở Về là một nhạc sĩ tên tuổi. Nhạc sĩ sống ờ Sài Gòn nên ta tạm gọi ông là Trung Nhân.”

Tôi gửi bản nhạc sang một số bạn tôi ở Pháp, ở Mỹ. Bản nhạc được công bố trên một số báo Việt ở Pháp và Mỹ.

Cuối năm 1983 Nguyễn và vợ con đi sang Mỹ. Gia đình vợ Nguyễn làm bảo lãnh. Vì các con nhỏ, Nguyễn phải bỏ bà mẹ ở lại. Mẹ anh chỉ có anh là con trai và cô em gái anh. Cô em sớm qua đời, để lại con gái sống với bà ngoại và ông bác. Nguyễn rất đau lòng nhưng vì các con mà phải theo vợ ra đi.

Một chiều trên xe đạp tới cửa nhà Nguyễn, tôi gặp Lan Đài và con gái anh từ nhà Nguyễn đi ra. ai bố con chở nhau trên xe đạp. Tôi dừng xe trao đổi vài câu với Lan Đài. Khi vào nhà tôi nói với Nguyễn:

“Tao vừa gặp Lan Đài với con gái nó ngoài kia. Tao thấy nó có vẻ như muốn nói gì với tao mà lại không nói.”

Nguyễn:

“Mày tinh ý đấy. Bố con nó sắp đi chui. Nó đến từ biệt tao.”

Vài ngày sau gặp lại nhau, Nguyễn nói như khóc:

“Lan Đài nó chết rồi. Nửa đêm, từ taxi lên tầu ở cửa sông, nó ngã xuống sông. Người ta tìm được xác nó rồi.”

Tôi hỏi:

“Con nó có đi được không?”

“Con nó cũng không đi được.”

Tôi đọc thấy trên tuần báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ Giải Phóng loan tin “ Nhạc sĩ Lan Đài về quê ăn giỗ, bị bạo bệnh qua đời.”

o O o

Internet ghi về Duy Trác:

Tên thật Khuất Duy Trác, là một ca sĩ nổi tiếng, thành danh ở Sài Gòn từ những năm trước 1960. Tuy là một ca sĩ tài tử – không chuyên nghiệp – Duy Trác được coi là một trong những giọng ca Nam lớn nhất của tân nhạc Việt Nam.

Khuất Duy Trác là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Tháng Sáu năm 1975 ông bị đi tù khổ sai. Một hôm, ở một trại tù miền Bắc ông cùng các bạn tù – toàn là sĩ quan – cuốc đất, đào mương ở bên đường vào trại tù. Thấy các bà vợ tù vào trại thăm nuôi chồng đi trên đường, một ông tù hỏi:

“Sài Gòn có gì vui không, mấy chị?”

Một bà trả lời:

“Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Cảm khái vì câu trả lời, người tù Duy Trác làm bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Lời bản nhạc:

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
Sài Gòn có vui ? Sài Gòn có vui ?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ:
“Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ
Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
Tôi sẽ nguyện cầu cho Tình Yêu và cuộc Sống
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Cám ơn Sài Gòn tôi sẽ trở về
Sài Gòn mến yêu ! Người tình dấu yêu ! Tôi sẽ trở về !

Năm 1980 người tù khổ sai sĩ quan Duy Trác trở về Sài Gòn. Bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui..” được gửi ra nước ngoài. Tháng Tư năm 1984 nhạc sĩ tác giả “Sài Gòn chỉ vui…” bị bọn P25 Việt Cộng bắt. Chúng giam ông 4 năm ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu và Nhà Tù Chí Hoà. Ông bị xếp vào nhóm tù văn nghệ sĩ  mà bọn Phản Gián VC gọi là “Bọn Biệt Kích Cầm Bút.” Sau 4 năm tù, nhóm Biệt Kích Cầm Bút ra toà, người tù tác giả “ Sài Gòn chỉ vui..” bị án tù 4 năm. Vừa phơi rốn đủ 4 năm, ông ra khỏi tù ngay..

o O o

Lê Trọng Nguyễn trên Intenet:

Lê Trọng Nguyễn (1926-2004) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả ca khúc Nắng chiều. Lê Trọng Nguyễn không sống bằng âm nhạc. Năm 1965, ông làm Giám đốc công ty Centra Co., một công ty thương mại của Pháp. Từ năm 1968, ông là Giám đốc điều hành của công ty Sealand tại Đà Nẵng. Năm 1970 sau khi lập gia đình, ông từ bỏ chức vụ Giám đốc công ty SeaLand về sống tại Sài Gòn. Năm 1973, ông làm Giám đốc nhà máy Dầu Hỏa Cửu Long. Sau biến cố 1975, ông mở lớp dạy nhạc tại nhà và tự chế tạo các loại đàn do chính tay ông làm để sinh sống.

Lê Trọng Nguyễn đến Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 1983, định cư tại Rosemead cùng vợ và bốn người con. Ông mất ngày 9 tháng 1 năm 2004 tại bệnh viện City of Hope, Rosemead vì bệnh ung thư phổi.

Lê Trọng Nguyễn viết ca khúc đầu tay “Ngày mai trời lại sáng” năm 1946. Ông sáng tác không nhiều, nhưng các nhạc phẩm của ông đều có giá trị nghệ thuật cao, với giai điệu và lời ca trau truốt, nhiều hình ảnh đẹp. Trong những tác phẩm của Lê Trọng Nguyễn, nổi tiếng hơn cả là bản Nắng chiều, được ông sáng tác vào năm 1952. Nhạc phẩm này không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà nó còn được biết tới nhiều ở Nhật Bản, Đài Loan và ở Hồng Kông với tên Bản tình ca Việt Nam. Nắng Chiều cũng là ca khúc trong bộ phim cùng tên thực hiện năm 1971 của đạo diễn Lê Mộng Hoàng với sự tham gia diễn xuất của diễn viên nổi tiếng Thanh Nga.

Trong một cuộc phỏng vấn, Lê Trọng Nguyễn nói:

“Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng Chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”

Nắng Chiều

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
khi đến cuối thôn chân bước không hồn
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ
Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy
Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh
Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm
Má em mầu ngà tóc thề nhẹ bay

Nay anh về qua sân nắng
chạnh nhớ câu thề tim tái tê
chẳng biết bây giờ
người em gái duyên ghé về đâu
Nay anh về nương dâu úa
giọng hát câu hò thôi hết đưa
hình bóng yêu kiều
kề hoa tím biết đâu mà tìm

Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn anh em nói yêu anh
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi…

***

Sao đêm

Còn gì nữa ? Tuổi vàng qua mất rồi
Làn môi khô khan câm nín đau thương
Và tóc rối bời hồn đang lạnh trống
Ðôi mắt mơ xanh mờ theo ánh tà dương

Chờ gì nữa ? Nửa trời sao úa rồi
Vì sao em quên câu hát yêu thương ?
Tìm ít gió lành còn trong cuộc sống
Dìu nhau qua bến vượt sóng đại dương

Em, cánh sao mờ xa cuối trời đi về đâu ?
Em biết chăng hồn ta rã rời trong sầu đau ?
Tìm em không gian hồ đổ vỡ, theo tinh cầu bay
Rồi đêm gối sách mơ trăng sao

Còn gì nữa ? Bầu trời rạn nứt rồi
Ðường lên Thiên Thai sao tắt mây vương
Lạc bước, thiếu tài, nhạc lôi, rượu cuốn
Người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương

Những năm 1981, 1982 LT Nguyễn và tôi gặp nhau gần như mỗi ngày. Tôi sang Hoa Kỳ sau Nguyễn mười năm. Giao tình của chúng tôi đứt đoạn trên đất Mỹ. Không một lần chúng tôi gặp lại nhau.

o O o

 ndt

Nguyễn Đình Toàn, Chiều trong tù

Chiều trong tù anh nhớ em
Ôi đất trời dường như tấm khăn
Bưng kín đời người trong tối tăm
Phương hướng nào nhìn ra mắt em

Hàng song sầu che mắt sâu
Những bóng người ngẩn ngơ ngó nhau
Tay xanh nào thầm ra dấu đau
Thay cho lời chào thăm mỗi chiều

Ai nghe chăng tiếng đời xa vắng
Ta nghe ta đã dường khác xưa
Tay qua ngang vết hằng năm tháng
Trong đau thương tóc người cứng khô

Trên hoang vu những vầng mây trắng
Ta nghe ra trong niềm xót xa
Vai em thơm như mùa thu nắng
Vai bao nhiêu .. máu hồng tình xa

Chiều trong tù anh nhớ em
Anh trông trời , trời như tấm khăn
Trông quanh mình những hàng khóa câm
Những mắt người quầng thâm cũng trông

Người nhớ người, hơi nhớ hơi
Trong âm thầm còn ai nhớ ai
Cho mưa lạnh lùng rơi xuống rồi
Cho đêm buồn, một cơn đau dài

Tháng Bẩy năm 1976 Nguyễn Đình Toàn và tôi cùng đi dự cái gọi là Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị. Nhà Toàn ở Làng Báo Chí, buổi trưa Toàn không thể đạp xe về nhà ăn trưa rồi trở lại lớp lúc 2 giờ; tôi rủ Toàn về nhà mẹ tôi ăn cơm trưa. Trong bữa ăn nghèo có đĩa đậu phụ kho với tóp mỡ, cà chua, đĩa rau luộc, đĩa dưa, mẹ tôi cùng ăn với chúng tôi, bà bảo Toàn:

“Ông ăn đậu đi chứ. Sao ông cứ gắp rau dưa thôi.”

Tôi nói:

“Đau thật. Trước kia mình mời khách thì nói : Ông ăn thịt đi chứ, sao ông cứ ăn đậu thôi.”

Một buổi trưa trời mưa, ngồi chờ đến giờ đi học, Toàn ôm cây guitar của con tôi, đệm đàn, hát nhẹ vài câu. Mẹ tôi nói:

“Nhạc của ông buồn quá.”

Toàn nói với tôi:

“Tao là một nhạc sĩ lỡ.”

o O o

Internet ghi về Nhạc sĩ Văn Phụng: Văn Phụng(1930-1999) là một nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc tình miền Nam trước 1975. Một số nhạc phẩm của ông được xếp vào thể loại Nhạc tiền chiến. Văn Phụng còn được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âm hay nhất của Miền Nam trước 1975.

Văn Phụng và Châu Hà

Văn Phụng và Châu Hà

Nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh năm 1930 tại Hà Nội trong một gia đình bốn anh em mà ông là thứ hai. Học đàn dương cầm từ nhỏ, được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 1945 Văn Phụng đoạt giải nhất độc tấu dương cầm trong một cuộc tuyển lựa tại Nhà Hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm “La Prière d’Une Vierge”.

Thời đi học Văn Phụng là một học sinh xuất sắc, ông học tiểu học tại trường Louis Pasteur, trung học ở trường Albert Sarraut. Năm 16 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tú tài, Văn Phụng theo học ngành Y vì ý muốn của thân phụ ông. Nhưng chỉ được một năm Văn Phụng bỏ học Y khoa để theo âm nhạc.

Năm 1946,  chạy loạn về Nam Định, Văn Phụng trú tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn, ông gặp linh mục Mai Xuân Đình ở đây. Vị linh mục đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý.

Năm 1948, Văn Phụng về Hà Nội. Theo lệnh tổng động viên, ông gia nhập Ban Quân nhạc Đệ tam Tiểu đoàn Danh dự. Ở đây, Văn Phụng đã quen và kết thân với những người về sau cũng trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam như Nhật Bằng, Đan Thọ ,Nguyễn Hiền, Văn Khôi, Vũ Thành… Thời gian đó, ông được nhạc trưởng người Pháp gốc Đức tên Schmetzer chỉ dẫn về hòa âm.

Năm 1948 là năm Văn Phụng sáng tác ca khúc đầu tay “Ô mê ly.”  Bài hát được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú ý. Về sau “Ô mê ly” còn nổi tiếng hơn qua  tiếng hát của ban Thăng Long với Thái Thanh, Hoài Trung, Phạm Đình Chương..

Khoảng 1954, 1955 Văn Phụng di cư vào miền Nam, ông là Nhạc Trưởng của Đài Phát thanh Quân đội thuộc Nha Chiến tranh Tâm lý (Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa) và phụ trách chương trình ca nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn.

Khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc với “Ô mê ly” vào năm 1948 và kết thúc với “Chán nản” vào năm 1972, Văn Phụng đã sáng tác hàng trăm ca khúc, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc sắc như “Trăng sơn cước”, “Yêu”, “Tôi đi giữa hoàng hôn”, “Suối tóc”, “Mưa”, “Tiếng dương cầm”, “Giấc mộng viễn du”, “Tình”, “Bức họa đồng quê”…

Tuy được xem như là một trong số các nhạc sĩ theo trường phái nhạc cổ điển Tây Phương, Văn Phụng cũng viết những bản nhạc giá trị với âm hưởng dân ca như “Trăng sáng vườn chè” (thơ Nguyễn Bính), “Các anh đi” (thơ Hoàng Trung Thông), “Đêm buồn” (phổ ca dao), “Nhớ bến Đà Giang”… Ông còn hòa âm cho nhiều cuốn băng nổi tiếng và được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âm xuất sắc nhất của Sài Gòn khi đó.

Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến Malaysia. Sau 5, 6 tháng ở đây gia đình ông đến định cư tại Mỹ, ở tiểu bang Virginia, cư ngụ tại quận Fairfax.

Ngày 17 tháng 12 năm 1999, Văn Phụng qua đời do tác hại của bệnh tiểu đường.

Suối tóc

Tìm cho thấy liễu xanh-xanh lả lơi
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai
Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai
Anh với em một đêm thu êm ái

Người em gái đứng im trong hồi lâu
Anh ngập ngừng lòng muốn nói đôi câu
Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau
Như chúng ta đôi lần hàn gắn thương yêu

Anh muốn đưa em qua miền giòng núi xanh
Chúng ta cùng thăm con suối dịu êm
Nhưng thiên nhiên không êm như tóc huyền
Nhưng thu qua không trong như đôi mắt em

Lòng anh muốn viết lên đôi vần thơ
Hay cung đàn cùng nét bút tranh hoa
Xin em biết nhé cho tình hai chúng ta
Trong ý thơ, cung đàn và suối tóc mơ

CTHĐ: Sang Hoa Kỳ, tôi gặp Văn Phụng nhiều lần. Anh và chị Châu Hà và tôi ở cùng một thành phố. Nghe nói anh nhiều đêm một mình lái xe vào ở cả đêm trong những sa mạc Mỹ, tôi hỏi anh ban đêm vào sa mạc làm gì, anh nói:

“Tôi vào đó nghe cái im lặng của sa mạc.”

Tôi nghe nói trong những năm cuối đời Văn Phụng không muốn sống. Anh không chịu uống thuốc.

o O o

Nay chỉ còn Duy Trác, Nguyễn Đình Toàn sống ở Kỳ Hoa. Duy Trác ở Houston, Texas, Nguyễn Đình Toàn ở Santa Ana, Cali. Tất cả những nhạc sĩ được kể trong bài này đều đã qua đời.

Nho Ta, Nho Tầu, Nho Tây

Tổng Thống Ngô Đình Diệm bận quốc phục Việt Nam tiếp Hoàng Thái Tử Thái Lan năm 1957.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm bận quốc phục Việt Nam tiếp Hoàng Thái Tử Thái Lan năm 1957.

Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co!
Sao bằng đi học làm thầy Phán,
Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò.

Thơ ông Tú Xương, làm trong những năm cuối  Thế kỷ 19. Cho đến năm nay, năm 2014, bài thơ trên đã sống được hơn một trăm năm.

Ông Tú Xương là người viết về giới Nho Ta cuối Thế kỷ 19 với những lời tả thực nặng nề nhất, những lời thơ gần như lên án sự yếu hèn của các ông Nho Ta thời ông:

Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,
Mười người theo học, chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi.
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ,
Trình có ông Tiên, Thứ chỉ tôi.

Ông Phan Chu Trinh, ông Nho Ta bận âu phục trước nhất trong các ông Nho Ta. Trên Internet không có tấm ảnh nào ông Phan Chu Trinh với khăn đóng, áo dài.

Ông Phan Chu Trinh, ông Nho Ta bận âu phục trước nhất trong các ông Nho Ta. Trên Internet không có tấm ảnh nào ông Phan Chu Trinh với khăn đóng, áo dài.

Cuối Thế kỷ 19 các ông Nho Ta tự nhận các ông không còn hợp thời, nhân dân và đất nước không cần sự có mặt của các ông nữa – đúng ra là nhân dân cần các ông nhưng các ông đã không đáp ứng được nhu cầu của nhân dân – các ông im lặng rút vào vùng quên lãng, nhường chỗ cho những ông Nho Tây, tức những ông Tây học.

Liêu lạc quê người, tuổi đời Bẩy Bó, tôi có điều kiện mầy mò, lục lọi, tra cứu, suy luận, để tìm biết những chuyện xưa trên những trang sách cũ, tôi thấy năm xưa khi văn học Nho Tầu suy tàn ở nước ta, các ông Nho Tây, tức những ông Tây học, như các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Duy Khiêm.. không ông nào viết nửa lời chế nhạo – chế nhạo thôi, đừng nói khinh mạn – các ông Nho Ta, cũng không ông Nho Tây nào viết một lời chê bai, khinh thị chữ Hán. Không những không khinh thị, tôi còn thấy các ông Nho Tây thời xưa đó có mặc cảm tội lỗi trước việc các ông bỏ Hán học để theo Tây học. Tâm trạng ấy của các ông cũng dễ hiểu thôi: ông nội, ông ngoại các ông, ông bố đẻ các ông, ông bố đẻ vợ các ông, là những nhà Nho Ta, sức mấy các ông dám khinh những ông nhà Nho. Các ông ra đời trong khung cảnh những nhà có sập gụ, tủ chè, bộ salon Tầu, tràng kỷ, tủ đồ cổ, hoành phi, câu đối, có những bộ sách chữ Hán mà các ông mù tịt không đọc được một chữ. Gia phả của các ông viết bằng chữ Hán, tất nhiên các ông, khi cần, phải nhờ người đọc dùm, giảng nghĩa gia phả cho mấy ông.

Ðấy là tình trạng những năm 1900. Một trăm năm sau tình hình đổi ngược. Nói một trăm năm sau không đúng, ngay những năm 1960, 1970 chữ Hán lại được nhiều người Việt trọng vọng. Người Việt vẫn không mấy ai học chữ Hán, người Việt vẫn miệt mài học tiếng Anh nhưng họ biết họ học cái tiếng đó là để đi làm, để kiếm cơm, cái tiếng ngoại ấy không giúp cho đời sống tinh thần của họ khá hơn bao nhiêu. Và trong xã hội ta  những thập niên 1960, 1970  có nhiều người biết tiếng Anh, tiếng Pháp – đa số lem nhem – nhưng chỉ có rất ít người Việt biết chữ Hán.

Một trăm năm trước những ông Nho Tây không ông nào tỏ ra khinh thị chữ Hán hay cười chê những ông Nho Ta – hai tuần báo Ngày Nay, Phong Hóa thời xưa ấy có chế riễu hai nhân vật Lý Toét, Xã Sệ, nhưng Lý Toét, Xã Sệ tuy ở làng quê xong hai anh không phải là nho sĩ, hai anh thuộc loại kỳ mục, kỳ nát – người chế riễu, chỉ trích những ông Nho Ta lại chính là những ông Nho Ta, như ông Tú Xương, như ông Dương Bá Trạc.

Dương Bá Trạc. Tính hay bắt chước của người mình. Bài viết năm 1925, đăng trong tập Tiếng Gọi Ðàn, in tại Nghiêm Hàm Ấn Quán, Hà Nội năm 1925:

Người ta ai là khỏi có cái bắt chước người, nhưng bắt chước người mà cũng cần phải có cái trí khôn quyết trạch của mình, bắt chước cái hay mà biết bỏ cái dở: mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải; mình xưa nay không biết rượu chè, hút xách là cái gì cả mà thấy người uống rượu cũng bắt chước uống rượu, thấy người nghiện thuốc phiện cũng bắt chước nghiện thuốc phiện thì chẳng là nguy lắm ru !

Vả mô phỏng của người mà lại cần phải tự ý mình suy nghĩ ra: như người nước Pháp học văn chương La-mã mà lập ra được hẳn một nền văn học riêng; người Nhật học chữ Hán mà chế ra được thứ chữ bình giả, phiến giả, làm một lối chữ Hòa-văn riêng của mình. Xét rộng ra, các điều phát minh, các môn kỹ nghệ cho đến trăm nghề, trăm nghiệp trong thế giới từ xưa đến giờ, cái gì cũng chỉ sáng khởi ra trước tự một hai người, bao nhiêu người sau đều là bắt chước cả, mà nào có ai giống ai, có nước nào giống nước nào, ngày mới tháng lạ, biến hóa vô cùng, càng về sau lại càng thấy hơn về trước nhiều mà không có chút gì là đạo tập người trước nữa. Bắt chước người mà khôn thì là sự tiện lợi thứ nhất, không gì chóng hay, chóng khá bằng.

Người mình có cái thiên tính hay bắt chước, cái gì cũng nhất vị chỉ biết bắt chước người, nên bắt chước dại thì nhiều mà bắt chước khôn thì ít lắm. Bắt chước người Tầu học chữ Hán mà trong khoảng mấy nghìn năm chỉ học nhờ, viết mượn, không hề nghĩ ra được một thứ chữ quốc văn nào – trừ ra có một thứ chữ nôm cũng viết bằng chữ Hán mà ai muốn viết thế nào thì viết, chưa thành lối chữ nhất định – người Tàu bị dại vì cái học khoa cử, mình cũng bắt chước theo cái học khoa cử mà bị dại, người Tàu bị ngu, bị hèn vì cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ, người mình cũng bắt chước theo cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ mà bị ngu hèn; về tư tưởng thì người Tàu có cái học thuyết chán đời, người mình cũng bắt chước chán đời, người Tàu có cái thuyết vị ngã, người mình cũng bắt chước vị ngã; về phong tục thì người Tàu trọng bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người mình cũng bắt chước bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người Tàu thờ ông thánh Quan, bà Tiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi, người mình cũng bắt chước thờ ông thánh Quan, bà Thiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi. Trong cái lúc thâu thái được chút đỉnh luân lý, học vấn, văn chương, kỹ nghệ của người Tàu thì bao nhiêu cái dại, cái dở của người Tàu mình cũng cũng nhắm mắt theo cho kỳ hết.

Nhân thế mà bao nhiêu cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo mất dần đi tất cả. Người nước nào có cái đặc sắc văn học của nước ấy, mỹ thuật nước ấy. Nói đến văn học của người mình thì ai làm được câu văn thơ nào hay cũng tự đắc rằng câu văn ấy Tàu, câu thơ ấy Tàu mà khen ngợi nhau, khuyến miễn cho nhau cũng lấy thế làm tuyệt phẩm; nói đến mỹ thuật của mình thì không luận là đồ gì, suốt cả nước từ trên chí dưới, từ trẻ chí già cũng đều cho kiểu Tàu, nét Tàu mới là đẹp; kiểu mạc ra không đúng Tàu, đồ làm ra không hệt Tàu là xấu, là bỉ tiện, là ít người thích, phải bán rẻ tiền… Như thế thì còn gì là cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo nữa. Cho nên dân tộïc mình lập quốc đã bốn ngàn năm mà tuyệt không có tí gì là quốc học của mình cả. Các nhà bác học đời nay nghiên cứu về Ðông phương hoặc về mỹ thuật đều cho người mình là nhất thiết cái gì cũng chịu ảnh hưởng của người Tàu cả, thật là đúng lắm. Cái đó chẳng là một cái cớ lớn làm cho người mình bao giờ tiến hóa cũng chậm trễ sau người ta ru?

Hết bài viết của ông Dương Bá Trạc.

o O o

Ðêm, riêng một ngọn đèn..

Với tôi, Viết là hạnh phúc mà Ðọc là lạc thú. Rừng Phong, phòng ấm, đèn vàng, im lặng, an ninh năm chăm phần chăm, ngoài trời tuyết rơi nhưng tôi săng phú! Không phải đi làm, ngán gì tuyết phủ, mặc cho tuyết rơi, ta nằm với những trang sách cũ! Ðọc hết bài viết của ông Dương Bá Trạc, đăng trong sách “Văn Học Việt Nam” của Giáo sư Dương Quảng Hàm, tôi ấp sách lên ngực, nhắm mắt, vắt chân lên trán, xin lỗi, tôi vắt tay lên trán, nghĩ ngợi lăng tăng băng. Mấy anh Việt Cộng bắt chước Tàu Cộng gọi việc suy nghĩ kiểu này là “tư duy.”

Bài viết của ông Dương, viết năm 1925, năm tôi chưa ra đời, văn huê là năm cuộc đời chưa có tôi, làm tôi nhớ đến bài tham luận “Văn Minh Tiểu Phẩm” của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ. Trong bài tham luận của TT. Tuệ Sỹ, viết trong nước gửi ra, đọc tại Ðại Hội Phật Giáo Việt Nam ngày 4 Tháng Giêng 2003 tại San Diego, Hoa Kỳ có đoạn:

Văn Minh Tiểu Phẩm. TT. Thích Tuệ Sỹ. Trích:

Nói rằng chữ Nôm phức tạp cho nên không tiện lợi để phổ biến cho bằng chữ La-tinh, điều này chỉ đúng cho những người mà não trạng đã quen với tập tính lười biếng. Có điều, hình như đại bộ phận trí thức của ta, từ mặc cảm tự ti, bị trị, của một dân tộc nhược tiểu, muốn nhanh chóng rút ngắn con đường giải phóng và cách mạng, để bắt kịp nền văn minh vật chất hào nhoáng từ phương Tây rọi sang. Từ đó phát sinh càng lộ liễu tập tính lười biếng, chỉ cần bắt chước những gì được coi là chuẩn mực của văn minh, không cần đến tư duy sáng tạo, điều mà tiền nhân của chúng ta đã không ngừng trong suốt chiều dài của lịch sử để tự tồn, bên cạnh một thiên triều luôn nghĩ cách thôn tính và đồng hóa. Do đó, người ta không nhìn thấy tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm, trong cách cấu tạo tự hình trong đó hàm tàng những cái nhìn về nhân sinh và thế giới. Chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác.

Ngưng trích.

Nhà ái quốc Phan Bội Châu suốt đời không mặc áo sơ-mi. Trong những năm lưu vong trên đất Tầu, ông bận y phục Tầu.

Nhà ái quốc Phan Bội Châu suốt đời không mặc áo sơ-mi. Trong những năm lưu vong trên đất Tầu, ông bận y phục Tầu.

Một đêm cũng trong căn phòng ấm ở Rừng Phong này, cũng ngọn đèn này, tôi cũng nằm như thế này đọc bài tham luận của Thầy Tuệ Sỹ. Ðọc đến đoạn trên đây tôi xấu hổ quá. Những người đồng thời với tôi, và tôi, ngu muội, hèn mạt, chỉ biết bắt chước bọn Tây, bọn Mỹ. Hèn quá là hèn, nhục ơi là nhục. Ðêm nay bài viết của Dương Bá Trạc Tiên sinh – bài viết từ năm 1925, năm Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ chưa ra đời để cứu người – cho tôi thấy.. té ra..

… Té ra.. không phải chỉ thế hệ ông bố tôi, thế hệ từ năm 1890 đến năm 1960, không phải chỉ thế hệ tôi, thế hệ từ năm 1930 đến năm 2000, là những thế hệ người Việt đốn mạt chỉ biết cong lưng, gục mặt, lé mắt bắt chước và bắt chước người. Té ra thế hệ các ông tằng tổ, kỵ tổ, thủy tổ, đủ thứ tổ, tổ đủ thứ của tôi từ ngàn xưa đã có cái tật bắt chước người nước ngoài. Tổ tiên tôi bắt chước bọn Ðại Tầu, đến đời ông bố tôi, đời tôi, bắt chước bọn Ðại Tây.  Nhưng cái mà Thầy Tuệ Sỹ gọi là “tập tính lười biếng” của dân tộc tôi đó, theo ý ngu của tôi, thì không phải chỉ một dân tộc tôi có, không phải là cái thói xấu, cái tính đáng khinh của riêng dân tộc tôi. Tất cả những dân tộc chậm tiến lúc nhúc trên trái đất này đều bị bắt buộc phải bắt chước bọn người da trắng văn minh hơn. Họ bắt chước xử dụng những dụng cụ để sống cho đỡ khổ do bọn người da trắng sáng chế ra thôi cũng đã phờ râu, mờ mắt, nói đến chuyện cạnh tranh với chúng trong việc sáng chế là ngớ ngẩn. Bắt chước còn chưa xong, ở đó mà hiu hiu nói đến “tư duy sáng tạo.” Trong bẩy, tám trăm năm độc lập, các ông Nho Ta đã không sáng tạo ra được một thứ chữ riêng cho dân tộc tôi, một thứ chữ riêng của dân tộc. Ðừng nói chuyện chưa đủ thời gian, mấy trăm năm là thời gian dư dài để người ta sáng chế ra một thứ chữ viết. Cái gọi là “tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm” quá yếu, vì quá yếu nên Chữ Nôm, có từ đời Hồng Ðức Nhà Lê – Những bài Thơ Nôm, thi phẩm Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, Hồng Ðức Quốc Âm Thi Tập vv.. – đã không được làm cho hoàn chỉnh, chữ Nôm  ở trong tình trạng không ra làm sao cả khi bọn thực dân Pháp đến nước ta. Những người chê khinh Chữ Nôm chính là những ông Nho Ta, chính các ông Nho Ta đánh giá Chữ Nôm bằng câu “Nôm na là cha mách qué.”

Chưa bao giờ “chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc, cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác.” Chữ Nôm không có vị trí nào đáng kể trong đời sống của nhân dân nên nó không thể bị thay thế. Tôi chắc các ông linh mục truyền đạo Gia Tô khi nghĩ ra cách dùng mẫu tự a, bâ, c để ghi tiếng nói của người Việt, để dùng trong việc truyền đạo, không ông nào nghĩ đến việc chế ra một thứ chữ để cho dân cả nước Việt dùng.

o O o

Nhưng tại sao ta lại bắt chước? Ta bắt chước vì nó hay, nó tốt, vì nó có lợi cho ta, vì nó làm cho đời sống của ta sung sướng hơn. Vậy thì câu hỏi có thể là “Tại sao ta lại không bắt chước?” Nếu ta không bắt chước, dân tộc ta cứ nằm ngồi mãi trong tình trạng bán khai. Nếu ta bắt chước mà không khéo, không giỏi, ta có thể bị những ông Việt Nam như ông Dương Bá Trạc, như Thầy Tuệ Sỹ, mắng là “Bọn khốn nạn. Chỉ có việc bắt chước mà cũng không nên thân..” Việc có môt số người bắt chước cả những cái xấu là cái giá phải trả cho sự bắt chước. “Bắt chước” nó là như thế. Ðến Thế kỷ 20 tất cả ba giống dân da vàng, da đỏ, da den đều phải bắt chước bọn dân da trắng. Văn minh đến như dân Ðại Tầu, giống dân có thứ chữ được các ông Nho Ta ca tụng là uyên áo, uẩn súc, tuyệt phẩm.. cũng bắt chước bọn dân da trắng như điên.

Năm 1984 khi bọn Việt Cộng đưa xe bông đến nhà tó tôi đi tù lần thứ hai, Sài Gòn chỉ có rất ít nhà có máy TiVi, năm 1990 khi tôi từ nhà tù cộng sản trở về mái nhà xưa lần thứ hai, gần như nhà nào ở Sài Gòn cũng có máy TiVi. Không những chỉ TiVi mà còn là TiVi mầu. Tôi ngồi xem TiVi và ngạc nhiên khi thấy cảnh một nhà ga ở nước Ðại Tầu đầy những thanh niên nam nữ bận jacket, quần jeans, đi giày thể thao thường gọi  là giày Adidas. Tôi tưởng đó là cảnh thanh niên ở một nhà ga ở Nhật, Nam Hàn, nhưng đó là cảnh một nhà ga Tầu ở gần Thẩm Quyến, khu có những xưởng máy chế tạo công nghiệp do tư bản ngại quốc mở dùng lực lượng công nhân Ðại Tầu rẻ tiền làm thuê. Ðám thanh niên nam nữ Ðại Tầu trong cảnh tôi thấy trên TiVi từ khắp nơi trên đất Ðại Tầu đổ về Thẩm Quyến để tìm việc làm. Họ bị cảnh sát chặn lại ở nhà ga đó vì khu công nghiệp Thẩm Quyến đã quá thừa công nhân. Thế rồi mới đây, bọn Cộng Sản Tầu họp đại hội, bầu bọn lãnh đạo. Tôi thấy trên nhật báo The Washington Post ảnh 6 anh Tầu Cộng được bầu đứng dàn hàng nhận sự hoan hô chúc mừng của đồng đảng. Cả 6 anh Tầu Cộng, chắc còn nhiều anh nữa, đều mặc com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách. Ông Tầu Lin Yu Tang, tên Việt là ông Lâm Ngữ Ðường, là người những năm 1920, 1930 từng viết ca tụng tính cách gọi là nhân văn, đề cao khả năng làm cho người bận thoải mái, dễ chịu của những bộ áo thụng Tầu, người từng kết tội y phục của người phương Tây là gò bó, giam hãm, hành hạ thân thể con người, nếu nhìn thấy bọn đảng viên cộng sản Tầu năm 2000 hoan hỉ, cười toe, bận com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách cả lũ.., chắc phải khóc thét lên..

Vợ chồng Tập Cận Bình, Tầu Cộng, bắt chước Tây 500/100. Còn Tầu đâu nữa, Tây Đầm thế thôi!

Vợ chồng Tập Cận Bình, Tầu Cộng, bắt chước Tây 500/100.
Còn Tầu đâu nữa, Tây Đầm thế thôi!

Người Tây bận com-lê vét-tông vì họ thấy kiểu y phục đó gọn, đẹp, trang trọng, hợp với họ, nên họ bận. Họ không đòi hỏi, hay dụ dỗ, bất cứ một giống dân nào khác bận com-lê vét-tong như họ. Những giống dân khác thấy bộ com-lê vét-tông đẹp, trang trọng, nên bắt chước mặc theo. Bọn Tây dùng toong-đưa cắt tóc ngắn, dùng dao cạo cạo râu ria nhẵn nhụi, rửa mặt, rửa tay, tắm bằng sà-bông, những giống dân khác thấy những trò đó đẹp, tốt, sạch, bèn làm theo. Việc bắt chước làm cho đồng bào tôi bị mất một số những truyền thống như tắm giặt, vo gạo, rửa rau, rửa đít cùng một cầu ao. Việc đồng bào tôi rửa đít ở cầu ao là việc nếu người Việt nào nghi ngờ là làm gì có, thì người nghi ngờ đó là người Việt – không phải mất gốc– mà là người Việt chưa từng lần nào sống ở làng quê hơn ba ngày, đồng bào tôi vo gạo ở cầu ao là việc có thực, vì dân tôi có câu “Ăn mày đánh đổ cầu ao..”, nói lên việc người ăn mày xin được dúm gạo, mang ra cầu ao vo, không may đánh đổ dúm gạo đó xuống ao. Hết ăn. Tôi ngu muội nghĩ rằng những truyền thống như truyền thống vo gạo và rửa đít cùng một cầu ao – ao tù, nước đọng, mùa cạn toen hoẻn năm mươi phân nước – thì có lẽ ta cũng không nên tiếc khi mất, mặc dù truyền thống vo gạo, rửa đít cùng một cầu ao là truyền thống của “bốn ngàn năm văn hiến.”

Dương Tiên sinh viết: “..Mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải..” Ðêm khuya, im lặng hai chăm phần chăm, tôi “tư duy, tư dzéo” về chuyện “ăn bốc, ở truồng..” và tôi muốn nói với Dương Tiên sinh:

– Thưa Tiên sinh.. Một trăm năm trước bọn ăn bốc, ở truồng, thường là bọn dân da vàng, dân da đen, bắt chước bọn dân da trắng ăn bằng cù-dìa, phóng-xét, bọn đàn ông thì bắt chước bận sơ-mi, vét-tông, bọn đàn bà thì sú-cheng, si-líp, dzúp se-rê, rốp sắc. Nhưng một trăm năm sau đó, tức là bi giờ đây, thời tôi sống, thời tôi làm chứng nhân, những năm 2000, bọn dân da trắng thừa quần, thừa áo, lại bắt chước bọn ăn bốc, ở truồng mà ở truồng. Thưa Tiên sinh, tức là bây giờ bọn dân da trắng lại ở truồng tùm lum, tòa loa. Họ kéo nhau đến những khu riêng của họ, thường ở bãi biển, hay ở trong rừng, trên núi. Vào đó vợ chồng, con cái, dâu rể, anh em, chị em, cả ông cháu, bạn hữu ở truồng tồng ngồng cả ngày, lẫn đêm. Kỳ thật là kỳ. Người man dã bắt chước người văn minh, rồi đến lượt người văn minh bắt chước người man dã. Như vậy thì việc “ở truồng” chưa chắc đã là không hay, nói cách khác, việc “người ta ở truồng” có thể là việc hay, việc tốt cho con người. Nếu không hay, không tốt, tại sao có người làm nó?

Mà bọn ở truồng bi giờ lại toàn là bọn dân những nước văn minh nhất thế giới. Tôi chưa được đến những Khu Ở Truồng ấy lần nào, có vài ông bạn tôi đã đến đấy xem thực hư, thường là ở Pháp, kể chuyện: “Mình vào đấy mấy con đầm ở truồng nó chửi mình nhục lắm. Nó quẳng vào mặt mình đủ các thứ đồ.. Ðồ mọi rợ.. Ðồ đểu cáng.. Ðồ dơ dáy.. Ðồ đói khát.. Ðồ dâm đãng.. Ðồ bệnh hoạn.. Ðồ con heo.. Mày vác cái mặt chó của mày vào đây xem cái gì? Mày thèm cái này lắm à? Mày không thấy cái này của mẹ mày bao giờ à.?”

Thưa Tiên sinh, tôi thấy bi giờ bọn ở truồng, đáng lẽ phải gọi là bọn mọi rợ, đáng lẽ phải xấu hổ, lại khinh bỉ bọn bận quần áo  đàng hoàng. Và bọn bận quần áo đàng hoàng, đáng lẽ phải khinh bỉ bọn ở truồng vú vê thỗn thện, lại bị bọn thỗn thện, lông lá chửi cho vuốt mặt không kịp và lấy làm hổ thẹn. Kỳ thật là kỳ!

Người Trong Ảnh

Tôi gửi đến quí bạn đọc truyện ngắn tôi viết khoảng năm 1970; khi tôi 36, 37 tuổi.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích Tháng Tám 2014.

CTHĐ HH Thủy

o O o

Không gian: một tiệm nhẩy đầm trong thành phố Sài Gòn, thời gian: một đêm cuối năm 1968.

photoHai người bạn ngồi trong một góc khuất của đăng-xinh. Ðèn mờ. Phòng lạnh, kín, nặng mùi son phấn, nước hoa và khói thuốc lá. Ánh sáng của tiệm nhẩy bao giờ cũng mờ. Với hơi rượu bốc trong đầu, nhiều lúc Hoàng hoa mắt chỉ trông thoáng thấy ánh mắt Quang, và thoáng thấy nét mặt bạn khi điếu thuốc lá trên môi bạn sáng lên đốm lửa đỏ. Những lúc Quang hít vào một hơi khói, rồi thở ra, khói thuốc quẩn trong căn phòng kín làm chàng cay mắt và nước mắt chàng ứa ra. Tiếng kèn đồng, tiếng trống vang lên từ ban nhạc, văng vào những góc cạnh của bốn bức tường, đâm trở lại chọc vào tai, vào mắt, vào tim Hoàng. Chàng thấy cay mắt, nhức đầu và khó chịu. Ðã lâu rồi chàng mới trở lại một phòng nhẩy đầm. Kể từ ngày Phượng đi. Xương thịt của Phượng, xác thân quyến rũ, quen thuộc với chàng của Phượng, đi ra khỏi cuộc đời chàng, đi xa chàng, đi ra ngoài vòng tay chàng, nhưng hình ảnh nàng vẫn còn nguyên trong chàng. Hình ảnh và kỷ niệm. Hoàng, qua cảm giác nhức đầu, cay mắt, nhớ lại những đêm nào xa xưa, thật xa, chàng đi nhẩy lần đầu.

Những đêm nao nức đầu tiên theo bạn vào tiệm nhẩy, trở về nhà vào giường nằm ngủ, Hoàng thấy nước mắt chàng ứa ra và trong đầu vẫn còn vang vang, choang choang tiếng kèn trống.

- Gần hai mươi năm rồi đó mày…!

- Hai mươi năm gì?

Ðốm than đỏ trên điếu thuốc trước môi Quang sáng lên.

- Hai mươi năm kể từ đêm tao vào đăng-xinh lần đầu tiên. Ðúng ra là mười sáu năm. Năm 1952… Mày nhớ không? Tao đi nhẩy đêm đầu do mày dẫn đi! Mày với thằng Du…

- Ừ. Đúng. Tao với thằng Du đưa mày đi nhẩy lần đầu… Ở Sài Gòn hay Hà Nội nhỉ?

- Sài Gòn. Văn Cảnh Sài Gòn. Tao nhẩy đêm đầu tiên ở Văn Cảnh…

Hoàng xoay xoay nhẹ ly rượu trên bàn.

- Nó chết năm bao nhiêu mày nhỉ?

- Ai? Mày nói thằng Du hả? Tháng Bẩy năm 1958. Ấp Bắc. Nó chết ngay trong năm thứ nhất bọn Việt Cộng mở những trận đánh ở miền Nam.

- Mười năm rồi còn gì?

- Gần mười năm!

- Nó chết được hai tháng thì vợ nó đẻ con. Hai niên sau thì vợ nó đi lấy chồng…

- Ngọc! Chúng nó yêu nhau. Lúc nó chết, tao cứ tưởng… tao cứ sợ… Ngọc nó chết theo… Tao vẫn nghĩ là thể nào nó cũng chờ cho thằng bé lớn lớn một chút mới đi lấy chồng khác…

- Thôi mày! Lại cay đắng đi. Ðừng cay đắng…

- Nói gì thì nói đừng có vỗ vai tao mày. Tao ghét những thằng nào nói chuyện với tao mà vỗ vai tao. Ra cái điều an ủi. Đàn anh vỗ vai đàn em.

- Thì thôi. Tao quên. Tao có cái tật khi nói chuyện hay vỗ vai mà mày thì lại ghét. Vậy mà tại sao tao với mày lại là bạn thân với nhau được? Hồi chúng mình còn học ở Văn Lang, có lần mày đã đấm tao vì tao vỗ vai mày.

- Gọi lấy rượu, mày.

- Mày uống hơi nhiều rồi đấy.

- Ăn thua gì. Tao chưa say!

- Ðúng rồi. Bao giờ ngã xuống nằm thẳng cẳng hay là cho chó ăn chè, gây sự đập nhau với Mẽo… mới là mày say… Uýt ky… Hai cái…

- Ðàn bà! Có thế mới gọi là đàn bà… Yêu thì yêu ghê gớm, yêu có thể chết ngay vì anh được. Ðang đứng với anh trên cầu Bình Lợi, anh bảo em nhẩy xuống sông không cần nhắm mắt, em nhẩy liền tù tì, miễn là anh yêu em. Yêu em mãi. Nhưng cũng dễ quên. Không có anh là nằm với thằng khác được ngay…!

- Cả hai năm sau nó mới đi lấy thằng khác. Mày còn đòi hỏi gì nữa? Ngọc nó yêu thằng Du nhiều chứ? Nó cũng có nỗi khổ tâm riêng của nó mà mình không thể biết hết được… Gia đình thằng Du đâu có nhìn nhận nó!

- Biết rồi. Ðừng nói nữa. Ông già, bà già khùng, dở hơi. Cứ ra cái điều nhà quan, không bằng lòng cho con lấy gái nhẩy. Quan cách cái đíu gì!

- Bố nó là Tuần Phủ mày! Tuần Phủ chẳng là quan thì là cái gì? Ngày xưa ở ngoài Bắc, trong một tỉnh như tỉnh Hà Ðông chẳng hạn, Tuần Phủ chỉ thua có Tổng Ðốc…

- Ðấy là chuyện ngày xưa. Kể làm gì? Vào đây ông Tuần, bà Tuần còn có là cái gì nữa đâu. Ðể cho con cháu chúng nó sống đời của chúng nó chứ? Nếu cứ như ngày xưa Tây nó còn ở đây, quan lại vẫn còn được người đời kính trọng, vẫn còn hách xì xằng thì ông bà ấy bắt con trai lấy vợ môn đăng hộ đối còn có lý… Bây giờ là thời Cộng Huề rồi mà. Quan lại chỉ còn cái vỏ rách. Xã hội bây giờ chỉ có tiền là quan trọng.

Ðốm than đỏ trước mặt Quang bay từ đó xuống đĩa gạt tàn trên bàn. Hai cốc rượu tới. Tiếng muỗng khua động trong lòng thủy tinh hòa với tiếng kèn trống. Những bóng người chập chờn. Hoàng nhìn thoáng thấy một bóng dáng đàn bà như quen thuộc. Bóng dáng đó lướt đi rất nhanh, mất ngay sau khi chàng vừa thoáng thấy. Tà áo chìm mất trong bóng tối và ánh sáng mờ, giữa hàng chục tà áo khác. Hoàng nhớ đến Du, người bạn tài hoa với nụ cười tươi lúc nào cũng như nở trên vành môi. “Người như nó mà chết non. Vô lý thật…!”.

- Bao nhiêu thằng khốn nạn, ăn hại đái nát, bất tài không làm được cái gì đẹp cho loài người… cứ sống nhăn. Thằng có tài như thằng Du thì lại chết sớm… Cuộc đời này vô lý thật…

Hoàng nói lớn lên đoạn tiếp trong ý nghĩ của chàng. Ðôi bạn thân tâm đầu ý hiệp hiểu nhau qua những câu nói nửa vời hoặc không đầu, không cuối. Quang biết là bạn đang nghĩ tới Du.

- Ðời mà! Thiếu gì thằng cu li, khốn nạn, lừa thầy phản bạn ăn nên làm ra, vợ đẹp con khôn. Thiếu gì thằng tử tế, tài hoa… ăn mày, ăn nhặt, khổ sở… Thằng con nó giống bố nó lắm! Mới tí tuổi đầu mà đã vẽ hay cóc chịu được. Ðầu năm có cuộc thi vẽ cho nhi đồng quốc tế. Vì có quân đội ngoại quốc ở đây nên Hội Cha Mẹ Nuôi Quốc Tế mới đến nước mình, không có chiến tranh thì chưa chắc! Thằng nhóc con thằng Du được chú nó đưa tới thi vẽ. Vẽ ngay tại chỗ. Hai giờ đồng hồ. Mày biết thằng nhóc nó vẽ đề tài gì không? Nó vẽ như thằng bố nó ngày xưa, hồi chúng mình còn học lớp ba… Ngày xưa bố nó vẽ cảnh bà già dắt cháu đi học, nó vẽ cảnh bà dắt cháu đi chạy loạn. Bà già tay ôm gói quần áo, tay dắt thằng cháu, vừa đi vừa ngoảnh mặt quay nhìn lại. Ðằng sau là khói lửa… Tranh nó gửi về Hán Thành thi tranh của cả ngàn anh lỏi khác cùng tuổi với nó trên khắp thế giới. Tranh của nó chiếm giải nhất.

- Cừ nhỉ? Con thằng Du đấy à? Tao không biết đấy! Ðược giải nhiều không mày?

- Ðược tới ba ngàn đô-la. Nó sẽ được sang Huê Kỳ du học dưới sự bảo trợ của Hội. Cũng đỡ!

- Nó vẫn sống với ông nội, bà nội nó?

- Ừ. Năm nay nó bẩy, tám tuổi gì đó. Hình như nó là thằng ít tuổi nhất trong bọn nhi đồng dự thi.

- Giống bố hả? Bố mẹ nó đẹp và tài hoa, nó cũng phải đẹp và tài hoa chứ! Còn Ngọc bây giờ nó ở đâu mày?

- Nó ở Pháp. Thằng chồng sau của nó ở Paris.

- Mày biết thằng ấy không?

- Biết. Biết thôi chứ tao không thân. Thằng đó nó cũng yêu con Ngọc cùng một thời với Du. Nhưng Du thắng, nó thua. Tuy Ngọc chọn thằng Du chứ không chọn nó, nó vẫn yêu. Ngọc nó cảm động vì sự chung tình của thằng đó, nên sau ngày Du chết, nó đi theo thằng đó… Cũng nên thương nó! Chồng chết, một xu không có. Gia đình nhà chồng không nhận, con thơ. Ðúng vào lúc mụ Nhu cấm nhót, các em ca ve đói dài, đói dẹt chỉ còn có một con đường kiếm ăn là đi bổ lẻ.. Ngọc nó đáng thương hơn là đáng bị bọn mình thù ghét hay khinh bỉ!

Tiếng nhạc tắt. Từng cặp đưa nhau về bàn. Ðèn trong phòng sáng hơn. Nhiều người nhìn ra nhau. Vài cái vẫy tay, vài nụ cười trao đổi. Quang vẫy tay, hất hàm và cười. Quang nói cho Hoàng biết tên những người chàng quen có mặt trong phòng này đêm nay. Vài anh sĩ quan được đưa ra làm Cò Cảnh sát, vài sĩ quan, vài anh lái buôn, vài anh bồi Mỹ mới giầu nhờ quân đội ngoại quốc tới Việt Nam đánh Cộng Sản.

- Quang… Salut…

Gã dơ tay ra bắt tay Quang. Niềm nở và như rất thân. Hoàng ngước lên nhìn bộ mặt tròn vành vạnh của gã và thấy người bạn của người bạn thân của mình với mình lạ hoắc. Gã mới đến bàn trạc ba mươi tám, bốn mươi.., có vẻ có tiền nhưng quê. Gã bận complet veston. Bộ complet hàng tốt cắt theo kiểu ngắn gọn mới nhất. Chàng nghĩ thầm: “Bố khỉ! Các anh cả quỷnh cứ yên trí kiểu quần áo của các anh là đúng kiểu Paris. Mẹ kiếp… Có sang Paris các anh mới biết là ở bển chúng nó không ăn bận như thế… Kiểu của chúng nó khác…” Ý nghĩ của chàng liên can đến y phục đứt quãng vì gã mặt tròn chìa tay ra trước mặt chàng.

- Hoàng… Bạn moa. Anh Phan…

Cái bắt tay quá chặt, quá chân thành làm cho Hoàng biết ngay là gã mặt tròn giả dối. Mới gặp nhau lần đầu mà đã bắt tay chặt như bạn cũ vẫn mến ưa nhau. Gã mặt tròn học được ngón đòn “bắt tay ai phải bắt tay thật chặt, bắt tay lỏng người ta sẽ biết là mình lãnh đạm, vô tình.” Gã không biết việc bắt tay là con dao hai lưỡi. Gã càng siết chặt tay thiên hạ chừng nào, người ta càng biết là gã giả dối, hời hợt bề ngoài!

- Các ông đi chơi mà ngồi một mình ư? Buồn vậy? Gọi em nào tới cho vui chứ? Sâm banh…

Không cần giữ lễ phép tối thiểu, Hoàng gạt phắt:

- Không! Không có em nào hết. Buồn không có chỗ nào đi chơi tốt hơn, vào đây ngồi uống rượu nghe nhạc. Không nhẩy nhót gì hết. Ðừng gọi em nào tới. Sốt ruột!

- Ề… Hề hề… Rượu thì có đây cho ông… Con là đại lý rượu đây. Ông muốn rượu gì con cũng có… Hề hề… Nhưng đàn anh làm gì mà giận đời thế… Gọi vài em lại ngồi cho chúng nó đấu hót cho vui chứ…?

Phan cười hềnh hệch và nhũn như con chi chi mặc dầu Hoàng cấm cẳn cố ý. Hai bàn tay có ngón tay đeo nhẫn kim cương của Phan xoa xoa vào nhau:

- Sâm-banh… Xin các đàn anh cho đàn em được quyền gọi sâm-banh đêm nay… Quang… Toa đi đâu…? Lâu lắm mới được gặp. Moa thì đêm nào cũng có mặt đây. Moa ăn cơm tháng ở đây… Hì… hì… Nhiều lúc nhớ cậu ghê đi… Anh em… Không biết toa ở đâu mà đi tìm?

Gã nói líu tìu tìu. Hoàng tình nghi có nhiều nước miếng từ miệng gã văng xuống bàn. Chàng kéo ly rượu của chàng về phía gần chàng hơn.

Phan dơ tay lên búng lách tách. Anh bồi áo veste trắng, neoud đen, quần đen, tới cúi khom khom. Phan nghển lên nói nhỏ nhỏ. Gã phẩy phẩy tay ra hiệu cho anh bồi đi rồi quay lại hai người bạn. Hai bàn tay gã lại xoa xoa vào nhau:

- Hai đàn anh cho phép… đàn em gọi mấy em tới tiếp chuyện đàn anh. Ở đây có mấy em thơm lắm. Vả lại… hai đàn anh cũng nên để cho bọn nó kiếm ít tiền sống chứ… Hì… hì… Mình kiếm được tiền cũng nên chia bớt… chia cho các em ca ve là hành động cao đẹp nên làm nhất của anh em mình…

Mặc nhiên, Phan đã làm chủ bàn rượu. Gã có vẻ có nhiều tiền và đang cần có dịp để chi tiền. Hoàng thấy Phan giả dối, tất nhiên, nhưng gã tỏ ra kính nể Quang và chàng, gã như không muốn gì hơn là được chi tiền và được chiều hai người. Hoàng nghĩ thầm: “Mày đã muốn chi tiền thì ông cho mày chi.” Và chàng lặng yên.

Miệng nói, tay vung, Phan đem lại sự hoạt động, tuy hơi quê, cho bàn rượu đang ủ rũ. Gã móc trong túi ra tới hai, ba gói thuốc lá Salem, Lucky, Caraven A…, bật lửa, bao quẹt. Gã vừa đốt điếu thuốc này đặt xuống đĩa gạt tàn đã quên và đốt ngay điếu khác.

Ðèn sáng lại tắt. Ðèn lại mờ. Nhạc nổi. Bóng người đưa nhau ra sàn nhẩy. Hai chai champagne được mang tới trong hai sô đá. Nút mở bốp.

- Dẹp dùm hai cái ly này đi. Mời hai đại ca…

Mùi nước hoa thoảng bay. Người tới. Hai người.

- Anh ạ…

- Chào anh…

Bắt tay. Hoàng chỉ nắm nhẹ hai bàn tay mềm rồi bỏ ra ngay. Chàng cảm thấy một bàn tay có nhiều mồ hôi hơn bàn tay kia. Chang bắt tay hai em ca-ve mà không nhìn mặt họ.

- Thúy hả? Lucie nữa hả? Hề hề… Hên quá… Ngồi đây em. Mấy đêm rồi anh không được ngồi với Thúy, với Lucie. Các em đắt khách quá. Chúng nó nhiều tiền hơn anh, chúng nó bắt các em ngồi với chúng nó suốt buổi. Anh buồn…

- Anh cho em xin. Anh có thèm gọi tới em đâu mà…

- Anh Phan mà tới đây là phải có người đẹp Ly Lan… Ly Lan là đại lý độc quyền ông chủ trẻ tuổi hào hoa ở đây…

- Em hại anh…

Phan cười hềnh hệch. Cái cười dễ dãi và không che dấu sự khoái lạc hưởng thụ. Nghe tiếng cười, Hoàng nghĩ thầm: “Không khéo nó thành công, nó có tiền là vì tiếng cười của nó…”

- Hai em chia với các anh chai sâm banh?

- Cám ơn anh. Ðêm nay người đẹp của anh không có mặt, bọn em mới được anh cho uống sâm banh…

- Cho anh xin mà. Em có yêu anh đâu, hì hì… Làm gì mà em cay cú thế?

Phan nói giọng miền Trung. Gã bắt chước tiếng Hà Nội kéo dài âm “thế”.

Gã long trọng giới thiệu. Hoàng không muốn nhìn mặt hai em vũ nữ nhưng chàng thấy việc cố tình không nhìn mặt, không nói chuyện với họ cũng là một thái độ “cả quỷnh,” chàng chịu khó tươi nét mặt để nhìn hai nàng, cười nói với hai nàng. Họ là những vũ nữ thuộc loại trung bình của làng ca ve Sài Gòn, nghĩa là không xấu, không đẹp, không trẻ mà cũng không già. Một nàng có đôi mắt lá răm, loại mắt đàn bà dâm và gian. Một nàng có làn môi dưới trề ra, cũng tham và gian. Chàng nghĩ ngực họ độn vì hai cánh tay họ không lấy gì làm lớn lắm nhưng ngực họ thật nở.

- Gọi cho bọn anh một em nào cừ khôi nữa chứ? – Phan nói – Bọn anh ba người kia mà? Cho có hai em thôi để bọn anh giết nhau sao? Hai anh này là đàn anh của anh, chỉ có hai em thôi thì anh thất nghiệp nặng rồi…

- Yên chí mà anh – một nàng nói – Hoa nó sắp tới. Anh biết Hoa không? Một hoa khôi ở đây, đẹp không kém gì Ly Lan của anh…

- Thế thì nhất… Nào mời hai đàn anh… Chúng ta cùng các em nâng ly… Sâm ban… Uống cho đời lên hương… A… Hay quá… Thái Thanh tới hát… Moa phải yêu cầu Thái Thanh hát “Ngày đó chúng mình”… Hai đàn anh có điều chi phản đối không?

Hoàng nghĩ thầm: “Mặc xác anh. Anh yêu cầu cái gì kệ bố anh”. Khi người vũ nữ thứ ba tới bên bàn, chàng không buồn ngửng lên nhìn xem nàng đẹp xấu ra sao. Chàng nâng ly rượu uống cạn. Chất rượu vừa ngọt vừa chua trôi vào cơ thể bị rượu mạnh hun đốt từ chập tối như một dòng nước chảy vào vùng cát nóng. Chàng biết lát nữa đâ, nhiều chất rượu hòa với nhau đi vào máu, chàng sẽ say lắm.

Người vũ nữ mới tới ngồi xa chàng, nàng ngồi đối diện với chàng. Khi Phan đưa một nàng ra sàn nhẩy, sự xô động của bàn ghế làm cho chàng nhìn lên. Người vũ nữ có đôi mắt lớn đang nhìn vào mặt chàng. Hoàng ngờ ngợ và điếu thuốc lá từ đĩa gạt tàn bay lên môi chàng dừng nửa vời.

Chàng thấy nàng quen quen. Một vẻ quen thuộc xa xôi, mơ hồ, cái quen của những kẻ chưa từng nói chuyện với nhau lần nào, chưa từng biết tên nhau. Dường như chàng đã gặp nàng ở đâu đó và đã chú ý tới nàng.

Nàngï chừng hai mươi bốn đến hai mươi bẩy tuổi. Tuy mắt chàng đã quen với làn ánh sáng mờ mờ, chàng vẫn không nhìn rõ mặt nàng, nhìn kỹ để nhớ xem chàng đã gặp nàng ở đâu, xem có đúng nàng là người quen hay hoàn toàn xa lạ.

- Em tên gì? Chàng đột ngột hỏi.

- Anh hỏi em ạ?

Giọng nói của nàng nhẹ và yếu chìm mất trong tiếng kèn trống.

- Ừ. Em!

- Em là Hoa.

- Anh đã gặp em ở đâu rồi thì phải?

- Dạ.

Tiếng “dạ” rất thường. Chàng nghe như rất ngoan và hiền. Chàng biết nếu nàng không nói ra, chàng sẽ không bao giờ nhớ được chàng đã gặp nàng, đã thấy nàng ở đâu, nhưng cùng lúc chàng biết chắc đã có lần chàng thấy người thiếu phụ này ở đâu đó và chàng đã có lần chú ý nhiều đến nàng.

- Em nhẩy với anh, Hoa.

- Dạ.

Tango. Nàng bận áo hồng. Trong ánh sáng mờ ảo, mầu áo có sắc tía.

Gần nhau, Hoàng thấy mặt nàng hơi dài, đôi gò má hơi cao và khoảng nhân trung, khoảng giữa chân cánh mũi và viền môi của nàng hơi lớn. Nàng nghiêng đầu và giữ nụ cười mỉm trên môi khi thấy chàng nhìn kỹ mặt mình.

- Nhất định là anh có gặp em ở đâu…

- Dạ. Em vẫn nhẩy ở đây…

- Không. Anh nhớ anh gặp em ở đâu kia, không phải ở trong tiệm nhẩy. Em ở đâu?

- Trước di cư?

- Ừ, trước di cư.

- Em ở Hà Nội.

- Không phải. Hình như anh mới gặp em đây thôi. Ở đâu nhỉ? Hoa… em có thấy anh quen quen không?

- Thưa quen. Chắc anh đi nhẩy nhiều…?

- Không. Anh đã nói không phải gặp em trong đăng-xinh. Hồi sau này anh ít đi nhẩy lắm… Hay là anh gặp em ở trường học? Vô lý… Chắc em đã thôi học từ lâu rồi? Phải không? Anh mới đi dạy học mấy năm nay, em không thể là học trò của anh được… Anh gặp em ở đâu kìa?

Thấy chàng có vẻ suy nghĩ, hồi tưởng, nàng cũng tỏ vẻ sốt sắng hợp tác:

- Em xin lỗi… Anh tên là gì ạ?

- Anh tên là Hoàng. Em nhớ coi em có quen ai tên là Hoàng không?

Hoa yên lặng và Hoàng cũng yên lặng cho tới lúc hết bản nhạc. Họ đưa nhau trở lại bàn. Chai sâm banh thứ hai đã được mở. Họ trở thành một cặp ngồi cạnh nhau và Phan, với một năng khiếu nhận xét sắc sảo, ghi nhận ngay có chuyện gì khác lạ, một liên hệ gì đó đã làm gần đôi người này, gã nheo mắt nhìn họ:

- Tốt! Ðẹp đôi nhắm. Ðại ca… Nó là em gái tôi đó đại ca. Con bé ngoan lắm. Ðại ca có thể yêu được nó. Tôi bảo đảm…

Hoàng không thấy ghét gã nữa. Cái cười hềnh hệch khả ố và ồn ào của Phan đã cười nói thay cho tất cả, chàng có quyền ngồi uống rượu, không cười nói. Chàng say và vẫn cố moi óc nhớ xem chàng đã gặp Hoa ở đâu, bao giờ?

o O o

- Ðúng em rồi, anh nhớ ra em rồi…

- Dạ.

Ðêm nay nàng bận áo trắng. Tóc nàng chải mềm và đơn sơ trôi xuống bờ vai, cong lại trên vai. Ðúng nàng. Không còn lầm. Ðêm nay vẻ yếu đuối của nàng còn hiện ra rõ rệt hơn đêm trước. Chàng đã chú ý nhiều đến vẻ yếu đuối đó của nàng.

- Anh nghĩ về em suốt đêm qua. Anh cố nhớ xem anh đã thấy em ở đâu. Anh nhớ ra em… Có phải trước đây em lấy… em sống chung với thằng Huyến không?

Chàng biết, dù nàng có chối chàng không lầm khi chàng thấy ánh mắt nàng sáng lên. Không chối, nàng gật đầu, nét mặt không ngạc nhiên mà có vẻ vui vui. Vui vì thấy chàng đã tìm ra mình, chàng đã hết thắc mắc vì mình.

- Dạ có… Em có… ít lâu.

- Bây giờ em với Huyến ra sao? Xa nhau rồi ư?

- Dạ. Em chỉ ở với anh ấy được một năm.

- Thế thì đúng rồi. Em có biết anh thấy em ở đâu không? Ở nhà thằng Huyến ngoài Cam Ranh, nhưng anh không gặp mặt em. Anh thấy em trong ảnh. Bức ảnh em để trong phòng khách nhà nó ở Cam Ranh. Hôm anh tới, em về Sài Gòn, em không có ở đó. Anh ngồi một mình trong phòng khách nhà nó, thấy tấm hình em, anh hỏi chị bếp nhà nó, biết em là vợ nó và em về Sài Gòn…

- Dạ phải. Em có cái hình mầu nửa người, em chụp dưới giàn hoa?

- Thằng khốn nạn. Thằng đểu. Anh khinh nó, anh ghét nó, xã hội loạn nên những thằng khốn nạn, ăn mày ăn nhặt, ba que xỏ lá, điếm đàng, bội bạc như thằng khốn nạn ấy mới có tiền, có địa vị…

Bây giờ nhớ ra nàng, Hoàng không còn thắc mắc nữa, chàng uống rượu và nhớ lại những cảm giác, những cảm nghĩ bực bội, giận dỗi, cay đắng, thất vọng của một ngày chàng tới vi la của Huyến. Hai năm trước, chàng gặp chuyện làm ăn thất bại ở miền Trung. Một hôm chàng đi qua Cam Ranh, nơi người Mỹ vừa mới tới thật đông, nơi một hải cảng mới tinh và văn minh nhất nhì Ðông Nam Á Châu đang được tạo lập, chàng ghé vào thị xã Cam Ranh thăm Huyến, tên bạn từ ngày còn học ban Tiểu Học của chàng, bạn như Du, như Quang. Huyến đang ăn nên, làm ra, nó trúng thầu lớn, chàng nghe nói nó sống như một ông vua con ở Cam Ranh, Nha Trang. Một thằng rách nát từng sống bằng nghề đĩ đực và bạc bịp nay là một doanh gia, một businessman giao du toàn với Tỉnh Trưởng, Thị Trưởng, Ðại Tá Hoa Kỳ. Nó ngồi xe Lincoln ra vô căn cứ quân sự của Hoa Kỳ như ra vô nhà riêng của nó. Thằng Huyến vẫn thường ngửa tay xin tiền chàng, thằng bạn nhũn như con chi chi của chàng thay đổi khác hẳn khi chàng gặp lại nó ở Cam Ranh.

Bây giờ thì nó giầu quá rồi. Chiến tranh đưa người Hoa Kỳ và đô-la tới đất này, chiến tranh làm cho bao nhiêu máu đổ, bao nhiêu người chết, bao nhiêu người khổ và không biết bao nhiêu người nghèo đi, chiến tranh làm cho một số những thằng như Văn Huyến trở thành giầu sụ.

- Làm sao em có thể lấy được một thằng như thằng Huyến?

Chàng hối hận sau khi hỏi vì thấy câu hỏi làm nàng ngượng, chàng biết nàng không thể nói xấu được người đàn ông nàng đã sống chung như vợ chồng trong một thời.

Chàng biết nàng còn rất nhiều chuyện để nói về cuộc sống chung giữa nàng với gã đàn ông đó, chàng cũng còn nhiều chuyện để nói với nàng, chuyện về bức hình của nàng chàng thấy trong gian phòng khách ở thị xã Cam Ranh. Buổi trưa đó chàng nhìn hình nàng, thấy nàng có vẻ xanh xao, yếu đuối. Không đẹp lắm nhưng xanh xao dù là hình mầu. Chàng chú ý tới nàng không phải vì nàng đẹp mà chính vì cái vẻ yếu đuối của nàng. Câu hỏi thầm từ buổi trưa đó tới đêm nay mới được thốt ra trên môi chàng: “Tại sao một người con gái như em lại có thể sống chung vợ chồng được với một thằng như thằng Huyến?”.

- Em có thể tin được không?

- Tin gì ạ?

- Tin… Tin rằng người ta có thể chỉ nhìn một bức hình… mà yêu người trong hình được không?

Nàng ngơ ngác như người sợ hãi, như chàng vừa đe dọa sẽ đánh nàng, làm nàng đau đớn:

- Em không biết…

- Nếu anh nói rằng… khi anh nhìn hình em ở Cam Ranh anh đã yêu em… Em có tin không?

Ðôi mắt họ gặp nhau, giữ nhau rất lâu.

- Nếu anh nói thì em tin…

Chàng thấy chàng cần nói nhiều, thật nhiều, nói để cho nàng tin chàng không nói dối. Thực sự, khi nhìn bức hình nàng, chàng đã nghĩ đến yêu thương. Rồi chàng quên đi cho tới đêm nay. Quên nhưng kỳ diệu biết là chừng nào, tình yêu không được nuôi dưỡng, không được biết đến, vẫn sống. Và cho tới đêm nay thì tình yêu đó đã trở thành lớn. Lớn đủ cho họ yêu nhau, chung sống, sung sướng và khổ sở vì nhau.

Nhưng chàng lại thấy lời nói không còn đủ để dùng nữa, chàng lại thấy hơn bao giờ hết, yên lặng nói nhiều hơn tiếng nói. Họ còn nhiều, nhiều thì giờ lắm để nói nhiều với nhau. Nắm nhẹ bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại của nàng, chàng đứng dậy:

- ..Em với anh…

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

Quí vị vừa đọc một truyện ngắn tôi viết ở Sài Gòn khoảng năm 1970. Năm ấy tôi 38 tuổi.

Mới đây tôi tìm lại được bản truyện xưa, đã 35 năm qua kể từ ngày tôi viết “Người trong Ảnh.” Ðể hoài niệm dĩ vàng, hôm nay tôi gửi “Người trong Ảnh” đến quí vị. Ðể chúng ta cùng nhớ lại Sài Gòn của chúng ta ngày xưa.

Kính chúc quí vị một Năm Yên Vui.

Quý Phi WICHITA

Wichita ban đêm.

Wichita ban đêm.

Rời Dallas, Texas, bánh xe lãng tử đưa tôi đến Oaklahoma City, nơi tôi nghe nói ngày xưa là thành trì cuối cùng của dân da đỏ; tôi đến Memphis, thành phố tôi từng thấy tả trên những trang tiểu thuyết Sanctuary của William Faulkner. Một chiều thu tôi đến Wichita.

wichitaWichita.. Ðịa danh tôi chưa từng nghe bao giờ trước khi tôi đến Mỹ. Nhân duyên nào đưa tôi đến Wichita? Phi trường tỉnh lẻ chỉ có hai ba chiếc phi cơ, đường giao thông không bao giờ bị kẹt xe. Tôi được giới thiệu : ” Wichita..Thủ đô Hàng Không-Không Gian Quốc Tế..” Wichita có hoa hướng dương, có bão lốc tornado, có những tia chớp điện như loé từ mặt đất lên trời. Cũng như Oakie City, Wichita có gió lộng quanh năm.

Và Wichita có nàng Dương Quý Phi. Dương Quý Phi Wichita không phải là Dương Quý Phi của Ðường Minh Hoàng mà là Dương Quý Phi của tôi, của chàng Công Tử Hà Ðông,  và của người viết tiểu thuyết Phơi-ơ-tông Hoàng Hải Thủy. Ðúng hơn nàng là Dương Quý Phi của chàng ký giả báo Sàigònmới những năm 1960 xanh thắm, thời gian chàng đang thời xuân sắc, chàng ba mươi cái xuân xanh, chàng đang viết nhiều, kiếm tiền nhiều, chàng ăn chơi vi vút.

Số là vào năm ấy, mới chỉ cách đây có 50 mùa sầu riêng, tôi viết một bài phiếm luận văn gừng về chuyện Ðường Minh Hoàng giết Dương Quý Phi ở Ðèo Mã Ngôi. Hăng tiết vịt tôi viết nếu tôi là Ðường Minh Hoàng tôi nhất định không giết Dương Quý Phi. Tôi mần bài thơ trong đó có những câu :

Em yêu ơi… Nếu ta Ðường Minh Hoàng
Có thể nào ta vị chiếc ngai vàng
Với sông núi mà đang tay tuốt kiếm
Giết cho đành ? Phi  ơi, thương vạn kiếp !
Ðêm hồ tàn. Lòng ta sầu thiêm thiếp..!

Cải lương ra rít. Ði cùng bài thơ ấy tôi viết loạn cào cào:

Quý Phi của anh ơi. Bi giờ Em ở đâu ? Bến Hải hay Cà Mâu ? Anh là Ðường Minh Hoàng trở lại trần gian đây. Anh làm ký giả nhà báo Sàigònmới. Anh biết Em cũng trở lại trần gian như anh. Em ở đâu ? Thư về toà báo cho anh..”

Từ Nha Trang quê hương thùy dương cát trắng, nàng gửi cho tôi lá thư :

“Em là Dương Quý Phi của anh đây..”

Phụ nữ Da Đỏ ngày xưa ở Wichita.

Phụ nữ Da Đỏ ngày xưa ở Wichita.

Ái tình hàm thụ. Thơ mộng ra gì. Nàng và tôi  hẹn gập nhau giữa thành phố Sài Gòn thanh bình những năm 1959, 1960, thành phố thương yêu thời chúng tôi trẻ, thành phố Sài Gòn tuyệt đẹp ngày xưa của chúng tôi. Năm xưa ấy nàng hẹn gặp tôi nhưng nàng không đến. Đúng ra nàng có đến chỗ hẹn, nàng thấy tôi nhưng tôi không thấy nàng. Thế rồi..

Những năm biển dâu, vật đổi, sao dời.. Sau 1975 tôi được gập lại nàng trong thành phố Sài Gòn đau thương thê thảm của chúng tôi. Nàng là Sương phụ. Chồng nàng – Thiếu Tá Quận Trưởng – chết trong một trại tù khổ sai ở Hoàng Liên Sơn. Nàng Bốn Bó, tôi Năm Bó. Nàng kể cho tôi nghe chuyện nàng tính vượt biên, đi chui. Hội Ði Chui trong có nàng bị vỡ vì trong nhóm có cặp vợ chồng chồng già, vợ trẻ. Cô vợ trẻ đa tình nóng ruột chưa đặt gót chân ngà ngọc lên đảo Pulang Bidon, chưa cả đem cái chỗ để ngồi tròn nây của cô lên tầu ra cửa biển, đã tỏ tình yêu quá lộ liễu công khai săng phú tú lơ mo với một chàng trẻ tuổi, đẹp trai, phong tình. Tất nhiên chàng này cũng ở trong nhóm người tấp tểnh vượt biên. Họ tính chuyện sang Hoa Kỳ, sang Úc, sang Pháp, sang Ðức, sang bất cứ đâu, sang cả Congo nếu cần, để làm lại cuộc đời. Ông chồng già không cần nhờ thầy bói – thầy bói mù, thầy bói sáng –  cũng biết tương lai gần của ông đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái Lá Ða Ca Dao. Ông biết không cần con tầu ngất ngư, rệu rã đến Bidong, chỉ cần tầu ra cửa biển thôi là cô vợ trẻ đa tình của ông cho ông nằm cu ky một góc tầu để nàng nằm ôm tình nhân của nàng. Ông biết như thế và ông ghen. Chồng già cũng ghen chứ bộ. Mèn ơi… Chồng già cũng là người, chồng già cũng là chồng. Chồng già ghen, và có quyền ghen, hơn chồng trẻ. Ông chồng già bèn bảo vệ tình yêu và của sở hữu của ông bằng cách đi báo Công An Việt Cộng. Cả nhóm vượt biên chưa thấy tầu bè, bến bãi đâu cả đã bị bắt trọn gói. Dương Quý Phi của tôi cũng bị tó luôn. Nhờ chi tiền nàng chỉ nếm mùi tù tội ViXi có chừng nửa tháng. Nàng mới ở tù ra và tôi được gập nàng lần đầu ở Sài Gòn.

Sài Gòn đêm cuối năm trời lạnh. Nàng và tôi đi ăn bánh canh ở Tiệm Trảng Bàng đường Lý Thái Tổ, chúng tôi ngồi cà phê vỉa hè trên đường Nguyễn Tri Phương. Nàng bận áo sơ-mi đen dài tay, dáng người thanh thật là thanh. Rồi tôi bị bắt lần hai và ra đi sáu mùa lá rụng mới trở về mái nhà xưa ở Ngã Ba Ông Tạ. Mười năm sau đêm chúng tôi, Ðường Minh Hoàng Dzởm, Dương Quý Phi Lô-canh, ngồi bên nhau uống cà phe phin đen trên vỉa hè đường Nguyễn Tri Phương, Thành Hồ, bánh xe lãng tử rệu rã – đúng ra là bánh xe tị nạn, nhưng tôi dùng “bánh xe lãng tử” cho thơ mộng, chuyện Tình mà, Chuyện Tình Chay cũng là Chuyện Tình – đưa tôi đến Kỳ Hoa Ðất Trích, nàng viết cho tôi:

“Mừng Quân Vương  đến Xứ Tự Do. Thiếp ở Wichita, Kansas. Dương Quý Phi.”

Ông chồng nàng là sĩ quan, ông chết trong trại tù khổ sai ở miền Bắc Cộng, nàng và các con nàng sang Mỹ trong Chương Trình HO năm 1991.

Lê Hồng Long, chủ nhiệm Tạp chí Thế Giới Ngày Nay, đón tôi ở phi trường Wichita. Ở thành phố miền gió lộng  tôi gập anh chị Hương Kiều Loan, và anh bạn Băng Ðình. Ðêm lạnh, trăng mờ, Băng Ðình đọc bài thơ của anh về Wichita. Thơ được quá. Tôi xin anh bài thơ. Tôi ở Virginia, Dương Quý Phi của tôi ở Wichita. Việt Nam của dân Da Vàng; Texas, Kansas, Arkansas.. vv.. của dân Da Ðỏ. Dân Da Vàng thất quốc lưu lạc tới đất nước của dân Da Ðỏ thất thổ. Da Ðỏ thất thổ, Da Vàng thất quốc, hai Thất gập nhau ở Wichita, Băng Ðình cảm khái thành Thơ :

Ðây miền gió lộng Wichita
Trời dẫu vào xuân cây vắng hoa.
Chỉ thấy tuyết bay ngàn cánh trắng
Trên dòng sông lạnh Arkansas.
Thảo nguyên bát ngát phơi hồn gió
Bốn hướng chân mây thiếu núi xa.
Thị trấn đèn vàng khêu nỗi nhớ
Ðất mượn, quê vay thực khéo là…
Nhớ nhau vẩy xuống vài chung rượu
Âm thầm tìm lại dấu chân ma.
Dấu chân ngủ thiếp trong màn bụi,
Da Ðỏ, Da Vàng một Sắc Da
Chung sầu thất quốc, buồn vong thổ
Chẳng hẹn sao cùng “ẩm hận đa.?”
Ðất tạm dung thân trời chẳng khác
Ðôi vừng nhật nguyệt vẫn giao thoa.
Riêng vì sao cũ không quên mọc
Cuối những chiều xanh uá nắng tà,
Giữa những đêm vàng lê gót mỏi
Quê người khắc khoải tiếng quyên ca.
Ðổi đời, đời đổi, lòng không đổi.
Ngó trước, trông sau, ta gập ta.

*****

Gió cuốn ta về phương gió lộng
Hướng dương vàng nở rộ Kansas.
Anh em chín đưá mười phương biệt
Nam, Bắc, Ðông, Tây thiếu mái nhà.
Thúy Kiều sầu mấy mùa Ngưng Bích,
Ðêm vắng, canh chầy Ðộc Vận A !
Bạn tác có thần giao cách cảm
Thì xin vững lái trước phong ba !

Bài Hành Wichita Ðộc Vận A, tác giả Băng Ðình, ở Wichita, Kansas. Từ ngày đến Hoa Kỳ tôi ngất ngư con tầu đi trước số lượng thi ca và thi sĩ hải ngoại. Tôi từng nghĩ Bác Hồ có nhiều tội với nhân dân, với tổ quốc nhưng riêng với thi đàn thì coi bộ Bác cũng có chút công lao còm. Ðó là vì bị Bác và Ðảng xiết cổ, nghẹt thở nên “bất kỳ bình tắc minh”, nhân dân Việt Nam chịu không nổi nên phải kêu lên, phải rên lên. Tinh hoa của Kêu Rên là Thơ. Chính tôi “như thị ngã văn, như thị ngã kiến”, sau Ngày Oan Nghiệt 30 Tháng Tư, tôi thấy riêng ở thành phố Sài Gòn bỗng dưng trong một sớm, một chiều có tới hai, ba triệu người mần thơ. Vuờn Hoa Thi Ca Việt Nam chưa bao giờ nhiều hoa tươi nở rộ như thời gian hai mươi mùa anh đào nở trở lại đây. Số thi sĩ hải ngoại đông gấp bội số thi sĩ nội địa. Dù là thi sĩ nội hay thi sĩ ngoại, tất cả các thi tài đều mần thơ Hay ngang nhau. Chỉ có điều khác nhau là thi sĩ nội mần thơ chỉ đọc cho bạn nghe, không in ra được thành thi phẩm trên giấy trắng, mực đen, nhiều thi sĩ nội chỉ vì Thơ của mình mà bị Công An Thành Hồ cho xe bông đến nhà ưu ái rước đi cho ăn ở không mất tiền năm bẩy niên, thi sĩ ngoại có Thơ là in ra liền tù tì tút suỵt.

Thi sĩ Nguyễn Bính ngày xưa: “Trời còn có bữa sao quên mọc. Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em.”  Thơ và Trời, Sao Wichita của Băng Ðình :

Riêng vì sao cũ không quên mọc
Cuối những chiều xanh uá nắng tà
Giữa những đêm vàng lê gót mỏi
Quê người khắc khoải tiếng quyên ca…

Cảm khái cách gì!

Tôi cũng dzậy. Tôi cũng như Thi sĩ Nguyễn Bính, tôi cũng như Thi sĩ Băng Ðình, ngôi Sao Lẻ Loi của tôi đêm nào cũng mọc, tôi cũng chẳng đêm nào chẳng nhớ Em. Cảm khái vì  Thơ của các Thi sĩ, chiều nay mùa Thu mới thấp thoáng về trên Rừng Phong, tôi tuyên ngôn Tâm Tình của tôi bằng Thơ. Thơ của tôi, chỉ vay mượn tí ti thôi :

Riêng vì sao lẻ không quên mọc
Cuối những chiều xanh uá nắng vàng.
Ðời còn có kẻ tơ quên tóc
Anh chẳng đêm nao chẳng nhớ Nàng !

Mây cuốn Ta về phương gió lộng
Anh đào hồng trắng Virginia.
Trong những đêm vàng Mơ với Mộng
Em có bao giờ Em nhớ Ta ?

THÁNG TÁM 1945

Nhât báo Toronto Star loan tin 150.000 người chết vì bom nguyên tử ở Hiroshima.

Nhât báo Toronto Star loan tin 150.000 người chết vì bom nguyên tử ở Hiroshima.

Rừng Phong, Ngày Một Tháng Tám, 2014.

Tôi không nhớ là trước hay sau năm 1975 tôi đọc được trên trang sách, hay trên trang báo, lời Nhật Hoàng nói với người Nhật về chuyện Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh trong Tháng 8 năm 1945:

“Nay chúng ta phải chấp nhận những việc không thể chấp nhận được, nay chúng ta phải sống trong cảnh sống không thể sống được..”

Tôi nhớ mãi lời nói ấy của ông Vua Nhật, tôi thấm lời nói ấy những lúc tôi như phát cuồng vì phải sống trong thành phố Sài Gòn đầy cờ đỏ Bắc Cộng, khi tôi phải cúi mặt nghe những thằng Cán Cộng nói láo, nói phét. Nhiều lần trong những lúc ấy tôi nhớ lời ông Vua Nhật khi ông kêu gọi dân Nhật:

“Chấp nhận những điều kiện không thể chấp nhận, sống trong những cảnh sống không thể sống được.”

Tháng Tám năm 1945 khi quả bom nguyên tử thứ nhất tàn phá thành phố Hiroshima tôi 14 tuổi. Ngày ấy, tháng ấy, năm xưa ấy tôi mù tịt về chuyện nước Nhật đầu hàng, tôi mù tịt chuyện hai quả bom nguyên tử Mỹ nổ trên nước Nhật. Tháng Bẩy, Tháng Tám 2014 – 60 năm sau – sống những ngày cuối đời trên xứ người – Kỳ Hoa Đất Trích – tôi tìm trên Internet những chuyện Nhật Xưa, chuyện bom nguyên tử nổ trên đất Nhật, chuyện Vua Nhật kêu gọi thần dân…

Sĩ quan Nhật không chịu đầu hàng, mổ bụng tự sát. Nhật Hoàng phải ra lệnh: “Không được tự sát!”

Sĩ quan Nhật không chịu đầu hàng, mổ bụng tự sát. Nhật Hoàng phải ra lệnh: “Không được tự sát!”

Sơ lược về hai vụ thả bom nguyên tử xuống đất Nhật Tháng 8, 1945.

Trích Internet:

Bom nguyên tử nổ trên thành phố Hiroshima.

Bom nguyên tử nổ trên thành phố Hiroshima.

Atomic 1945

Lúc 8 giờ 15 (giờ Hiroshima), chiếc Enola Gay thả quả bom nguyên tử “Little Boy” trên thành phố Hiroshima. Bom nổ cách mặt đất khoảng 600 m, ngay lập tức bom giết chết ít nhất 90.000 người. Trong số này, có khoảng 2 ngàn người Mỹ gốc Nhật và từ 800 đến 1.000 người Mỹ khác mang hậu quả của vụ nổ. Họ là những công dân Mỹ đang theo học ở Nhật và không thể rời khỏi Nhật Bản khi chiến tranh nổ ra. Có thể có cả hàng trăm tù binh phe Đồng Minh bị bắt, bị giam ở Hiroshima bị chết trong lần đánh bom này. Bán kính vùng bị bom tàn phá là 1,6 km. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại.

Sáng ngày 9 tháng 8 năm 1945, pháo đài bay B-29 Bock’s Car, Cơ trưởng Thiếu tá Charles W. Sweeney mang quả bom nguyên tử “Fat Man” với mục tiêu thả bom số một là Kokura, mục tiêu số hai là Nagasaki.

Khi phi cơ đến Kokura mây che phủ 7/10 thành phố, ngăn cản tầm nhìn theo yêu cầu. Sau ba lần bay qua thành phố, với nhiên liệu của chiếc Bock’s Car đã giảm do việc bơm nhiên liệu từ bồn dự trữ không hoạt động sau khi cất cánh, họ bay về mục tiêu thứ hai, Nagasaki. Vào lúc 7 giờ 50 phút giờ Nhật Bản, còi báo động máy bay vang lên ở Nagasaki nhưng sau đó còi báo yên lúc 8 giờ 30 phút. Khi chỉ có hai chiếc B-29 bay đến lúc 10 giờ 53 phút, người Nhật cho rằng đó là những máy bay do thám và không phát lệnh báo động nữa.

Lúc 11 giờ 01, mây đứt quãng trên bầu trời Nagasaki cho phép sĩ quan thả bom trên chiếc Bock’s Car, Kermit Beahan, nhìn thấy sân vận động thành phố bằng mắt qua lớp mây mỏng. Quả bom “Fat Man”, mang khoảng 6,4 kg Plutonium 239 được thả xuống. 43 giây sau, nó nổ ở 469 mét cách mặt đất. Lúc bom nổ, có khoảng 200 ngàn người trong thành phố. Theo một số nguồn ước tính, 70.000 chết ở đây.

Lính Nhật giết trong một ngày cả ngàn người dân Tầu ở thành phố Nam Kinh, dân Tầu kinh sợ quì lậy lính Nhật bên đường.

Lính Nhật giết trong một ngày cả ngàn người dân Tầu ở thành phố Nam Kinh, dân Tầu kinh sợ quì lậy lính Nhật bên đường.

Đây là bản được gọi là “Chỉ Dụ Đầu Hàng” của Vua Nhật. Chỉ Dụ được Nhật Hoàng đích thân nói với dân Nhật qua đài phát thanh Ngày 15 Tháng Tám 1945:

Chỉ dụ đầu hàng

Đài Phát Thanh Tokyo báo trước một sự kiện tối quan trọng. Lúc 12 giờ trưa ngày 15-8-1945, ở khắp nơi trong nước Nhật, người Nhật quây quần bên những chiếc radio.

Lính Nhật giết trẻ nhỏ.

Lính Nhật giết trẻ nhỏ.

Quốc thiều Kimigayo cử hành, mọi người đứng nghiêm. Rồi họ nghe giọng nói của Nhât Hoàng. Từ ngàn xưa đến nay, đây là lần đầu tiên thần dân Nhật được nghe giọng nói của ông Vua của họ, vị Vua họ gọi là Thiên Hoàng.

“Hỡi các thần dân ngoan ngoãn và trung thành của Trẫm! Sau khi đã duyệt xét tình hình thế giới, và cân nhắc kĩ về tình trạng hiện nay của đất nước, Trẫm quyết định giải quyết cuộc chiến tranh hiện tại bằng một biện pháp bất thường. Trẫm đã chỉ thị cho chính phủ liên lạc với các cường quốc Mĩ – Anh – Trung Hoa và Liên Xô, báo cho các nước ấy biết là Đế quốc Nhật sẵn sàng chấp nhận những điều kiện kết thúc chiến tranh do Đồng Minh đưa ra trong Tuyên Cáo Potsdam.

Trước kia, với ý muốn bảo tồn sự Sống cho nước Nhật, chúng ta đã tuyên chiến chống các nước Đồng Minh. Chiến tranh đã kéo dài gần 4 năm.

Mặc dù mọi người đã cố gắng hết mình, mặc dù sự dũng cảm của Hải quân và Lục quân, tinh thần chiến đấu của binh sĩ, công chức và sự hy sinh vô bờ bến của 100 triệu thần dân, nhưng tình hình chiến tranh đã phát triển một cách không cần thiết đối với lợi ích của nước Nhật. Cả thế giới liên kết chống lại chúng ta. Hơn nữa, đối thủ của chúng ta đã sử dụng một loại bom mới, vô cùng độc hại, giết chết bao nhiêu sinh linh vô tội.

Nếu chúng ta tiếp tục chiến tranh, việc này không những dẫn đến sự hủy diệt của nước Nhật mà còn đem lại những thảm họa lớn cho loài người, đưa nền văn minh nhân loại đến chỗ diệt vong. Đó là lí do khiến Trẫm phải chấp nhận Tuyên Cáo của Đồng Minh.

Trẫm có lời chia buồn và xin lỗi các nước Đồng Minh của Nhật ở Đông Á, những nước đã từng tin tưởng và hợp tác chặt chẽ với nước Nhật trong cuộc chiến tranh giải phóng các dân tộc ở Đông Á.

Trẫm rất đau lòng khi nghĩ đến những sĩ quan và chiến sĩ đã ngã xuống trên các chiến trường, đã hy sinh vì công vụ. Trẫm cũng đau lòng khi nghĩ đến hàng triệu thương binh và dân chúng bị thương, tan cửa nát nhà và mất đường sinh kế.

Trẫm cũng biết rõ những ý nghĩ của một số lớn dân chúng và quân đội. Nhưng định mệnh khắt khe khiến Trẫm phải mở đường đi đến hòa bình vĩnh cửu cho hàng ngàn thế hệ mai sau. Trẫm cam chịu những gì khó chịu nhất và khổ đau với những khổ đau nhất.

Trong khả năng có thể cứu vãn và duy trì cơ cấu Đế chế, Trẫm sẽ luôn ở bên các người, những thần dân ngoan ngoãn và trung thành của Trẫm, Trẫm tin cậy nơi các người vì lòng trung thực và ngay thẳng của các người. Hãy thận trọng tối đa đối với nhũng xung động tình cảm bột phát có thể gây ra những rắc rối không cần thiết, hoặc những tranh chấp nội bộ có thể tạo nên sự hỗn loạn làm các người lầm đường lạc lối và mất lòng tin của toàn thế giới. Hãy để cho dân tộc ta mãi mãi trọn vẹn như một gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác, mãi mãi giữ vũng niềm tin về sự bất diệt của đất nước thần thánh, giữ vững những trách nhiệm nặng nề của dân tộc và con đường dài trước nó. Hãy tập trung toàn bộ sức mạnh của các ngươi để hiến dâng cho sự nghiệp xây dựng tương lai. Hãy mở rộng nhũng con đường chính trực, nuôi dưỡng sự cao thượng của tinh thần, quyết tâm làm việc để nâng cao sự vinh quang thiên phú của Đất nước Hoàng gia và hòa nhịp bước với tiến bộ của thế giới”

Nhật Hoàng dứt lời, quốc thiều Kimigayo vang lên một lần nữa. Nhiều người bật khóc. Nhật Bản chìm ngập trong tang thương vì cuộc bại trận của Đế quốc Mặt Trời.

o O o

Chính trường Tokyo đêm 9 – rạng ngày 10-8 – 1945.

Theo lời thỉnh cầu của Thủ Tướng Suzuki, cuộc Hội nghị Đế chế được triệu tập lúc 23 giờ 30 phút. Tham dự Hội nghị có 11 thành viên của chính phủ Nhật, trong đó bao gồm 6 thành viên của Hội đồng Quốc phòng Tối cao, thêm Chủ tịch Hội đồng Cơ mật, Bá tước Kiichiro Hiranuma, Đổng lý Văn phòng Phủ Thủ tướng Sakomizu và một số tướng lãnh cao cấp. Cuộc họp diễn ra trong hệ thống hầm tránh bom ngầm của Nhật Hoàng, nằm sâu 20m dưới một ngọn đồi.

Trong phòng họp. mọi người ngồi thành hai hàng đối diện nhau qua một chiếc bàn dài. Chiếc ghế dành cho Hoàng Đế đặt ở đầu bàn, trên một bục cao. Trước mặt mọi người là một bản dịch Tuyên Cáo Potsdam của phe Đồng Minh, một bản tổng lược về lập trường của Thủ Tướng Suzuki Togo liên quan đến tuyên cáo ấy, cùng với một bản tổng lược lập trường đối lập của phe quân sự Anami- Umezu Toyoda.

Đúng 23 giờ 50, Nhật Hoàng Hiro Hito vào phòng họp, theo sau là Tướng Shigeru Hasunuma, Tùy viên quân sự. Mọi người đứng dậy, cúi mình kính chào.

Bá tước Đô đốc Suzuki, Thủ Tướng Chính phủ, khai mạc buổi họp và ra lệnh cho Đổng lý Văn phòng đọc Tuyên cáo Potsdam. Sau đó, Thủ Tướng Suzuki nói :

“Kính bẩm Hoàng Thượng, chúng thần đã họp hai lần để bàn về tuyên cáo của Đồng Minh. Chúng thần đã thấy đầy đủ các khía cạnh của vấn đề, nhưng bầy tôi của Hoàng Thượng không đi đến một kết luận dứt khoát. Vấn đề không thể trì hoãn được, cho nên thần xin phép được tiếp tục cuộc thảo luận nơi đây, trước sự hiện diện của Hoàng Thượng.

Xin Hoàng Thượng cho phép các bầy tôi của Ngài được trình bày ý kiến.”

Đoạn, Thủ Tướng mời Togo, Bộ trưởng Ngoại giao nói trước. Ông này nói:

“Thực là nhục nhã và đau đớn vô cùng cho Nhật Bản khi phải chấp nhận các điều khoản của Tuyên Cáo Potsdam. Nhưng tình hình bắt buộc ta phải chấp nhận.”

Ông kể ra những khó khăn Nhật đang gặp phải, mà yếu tố nặng nhất là việc Liên Xô tuyên chiến với Nhật và tiến quân vào Mãn Châu.

Ông nói tiếp:

“Vì những sự kiện nêu trên, thần xin đề nghị thúng ta chấp nhận Tuyên Cáo Potsdam. Nếu chúng ta dặt điều kiện, phe Đồng Minh sẽ bác bỏ tất cả và dân chúng phải chịu thêm bao đau khổ nữa. Vì vậy, theo ý thần, chúng ta chỉ có một đòi hỏi, đó là: “Sự an toàn của Hoàng Gia và sự giữ vững đế chế.”

Đến phiên Đô đốc Yonai. Ông này không nói dài dòng:

“Thần đồng ý với phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao.”

Bộ trưởng Quốc phòng, Tướng Anami đứng bật dậy:

“Thần hoàn toàn chống lại ý kiến của Bộ trưởng Ngoại giao. Quân đội không chấp nhận đầu hàng. Thần tin rằng chúng ta có thể đẩy lùi quân địch, giáng cho chúng những đòn chí tử. Và bất cứ người Nhật nào cũng muốn bảo vệ Tổ quốc, mái nhà của họ, đến cùng. Vạn bất đắc dĩ, nếu địch quân đổ bộ lên đất Nhật và chúng ta không còn khả năng đẩy lùi chúng, thì chúng ta, tất cả, sẽ chết như một bông hoa đẹp đến giờ tàn héo, để lại cho thế giới một hình ảnh hào hùng, đầy thi vị của một nước Nhật anh hùng, cao thượng. Thế giới sẽ thấy mãi dân Nhật là một dân tộc không bao giờ chịu khuất phục.

“Còn nếu chúng ta muốn “hòa,” thì chúng ta phải tìm một hòa bình trong danh dự. Thần đồng ý rằng chúng ta phải nhấn mạnh điều kiện về sự bảo toàn Hoàng Gia. Nhưng cũng cần phải đòi cho quân đội ta được tự giải giới, đòi không có sự chiếm đóng của quân đội địch trên lãnh thổ Nhật Bản, và tất cả các phạm nhân chiến tranh sẽ do chính phủ Nhật xét xử. Đó là những điều cốt yếu trước hết đối với chúng ta trong việc ta đi đến hòa bình.”

Tổng Tham mưu trưởng, Tướng Umezu tiếp lời Tướng Anami:

“Quân đội hoàn toàn tin tưởng ở khả năng có thể đẩy lùi mọi cuộc đổ bộ của quân địch. Nếu chúng ta chấp nhận đầu hàng, tức là chúng ta phản bội anh hồn hàng triệu chiến sĩ đã xả thân vì Tổ quốc. Bản thân thần không chống lại sự mưu hòa nhưng đề nghị nên đòi phải có 4 điều kiện của Bộ trưởng Quốc Phòng.”

Đến phiên Chủ tịch Hội đồng Cơ mật Hiranuma, một ông già khó tính. Ông ta nói:

“Trình tâu Hoàng thượng, thần xin phép được hỏi quí ông đây một vài câu: Thưa Ngoại trưởng, có phải Liên Xô tuyên chiến với chúng ta rồi không?”

“Phải.”

“Họ viện lí do gì?”

“Họ nói rằng chúng ta hiếu chiến, chúng ta đã bác bỏ Tuyên cáo Potsdam.”

“Vậy chính phủ có bác bỏ không?”

“Đâu có việc ta bác bỏ. Chính phủ chưa trả lời Đồng Minh. Chỉ có báo chí Nhật viết những bài xã luận, thế thôi.”

Đoạn ông Huranuma hỏi các vị tướng:

“Hải quân và Lục quân có hoàn toàn tin tưởng rằng quân ta có đủ khả năng đẩy lùi quân địch không?”

Umezu đáp:

“Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Hoàng gia sẽ có mọi cố gắng để làm việc này.”

“Quý vị có thể làm hơn những gì quý vị đang làm không?”

“Thưa ngài, chúng tôi đã và đang cố gắng hết sức của chúng tôi.”

“Thôi đủ rồi, cái tốt nhất của các ông vẫn không đủ để xoay ngược tình thế.”

Phía quân nhân yên lặng, không gian nặng trĩu.

Thủ Tướng Suzuki, sau hai giờ tranh luận, đứng dậy đến trước mặt Nhật Hoàng:

“Tâu Hoàng Thượng, chúng thần đã xét vấn đề dưới nhiều khía cạnh và không đi đến một sự nhất trí nào cả. Đây là một trường hợp chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử nước Nhật. Chúng ta đứng trước một tình huống quá đặc biệt. Vậy thần xin được phép thỉnh ý của Hoàng thượng: Thưa Ngài, nước Nhật có chấp nhận Tuyên Cáo Potsdam hay đòi hỏi phải có những điều kiện mà vị Bộ trưởng Quốc phòng đã đưa ra?”

Nhật Hoàng Hiro Hito mời Thủ tướng về chỗ ngồi, rồi Vua đứng lên, nói:

“Trẫm đã suy nghĩ rất nhiều về tình hình hiện tại, trước ánh sáng của các sự kiện xảy ra ngay trong nước và ở nước ngoài. Từ đó, Trẫm đi đến một kết luận: Tiếp tục chiến tranh chỉ làm tăng thêm nỗi khổ đau và có thể là sự hủy diệt của dân tộc Nhật.

“Trẫm không chịu nổi khi thấy đau khổ kéo dài. Vậy chấm dứt chiến tranh ngay là đường lối duy nhất để chấm dứt khổ đau cho thần dân Nhật và vãn hồi hòa bình trên thế giới.”

Ngưng nói, Vua gỡ kính mắt ra, lấy găng tay trắng lau mắt kính cận thị, mắt Vua nhìn thẳng như nhìn về phía xa. Mọi người trong phòng đều khóc, nhiều tiếng nấc được nghe thấy. Đoạn, Vua nói tiếp:

“Trẫm rất khổ tâm khi thấy hàng trăm ngàn quân nhân lục quân và hải quân đã vì nước mà bỏ thây nơi chiến địa xa xôi không ai chôn cất. Trẫm cũng khổ tâm khi thấy hàng triệu thần dân trắng tay vì bom và hỏa hoạn. Tâm hồn Trẫm không yên khi thấy những binh sĩ can đảm và trung thành bị tước vũ khí. Trẫm cũng đau khổ vô cùng khi nghĩ rằng nhiều thần dân đã từng tận tâm phục vụ quốc gia, và phục vụ Trẫm, rồi sẽ bị cáo buộc là tội phạm chiến tranh. Nhung, đã đến lúc Chúng ta hãy chấp nhận những gì chúng ta không chấp nhận được.

“Vậy nay Trẫm ứa lệ mà đề nghị các khanh hãy chấp nhận kế hoạch của Bộ trưởng Ngoại giao.”

Sau khi Nhật Hoàng rời phòng họp, Thủ tướng Suzuki nói:

“Thiên Hoàng đã quyết định.”

Đó là lời kết thúc hội nghị.

3 giờ sáng ngày 10-8, Nội Các Nhật họp để thảo luận lần cuối về quyết định đầu hàng. Tất cả các vị thành viên chấp nhận đầu hàng với một điều kiện là “giữ nguyên chính thể và địa vị của Hoàng Đế Nhật Bản.”

CTHĐ: Quí vị vừa đọc những đoạn trích trên Internet về chuyện bom nguyên tử Mỹ nổ trên đất Nhật và chuyện Nhật đầu hàng Đồng Minh Tháng Tám năm 1945. Lời kể chuyện không được rõ ràng, mong quí vị chấp nhận.

Tôi có vài cảm nghĩ:

Người ta sống chết thật bất ngờ. Trái bom được đưa đến thả xuống thị trấn Kokura, nhưng bom lại được thả xuống thành phố Nagasaki.

Quân Nhật gây nhiều tội ác khi họ xâm chiếm các nước ở Á Châu, ttrong số có Việt Nam. Nhật Hoàng không một lời xin lỗi nhân dân những quốc gia này.

Không một quốc gia nào ở Á Đông “cộng tác” với Nhật khi quân phiệt Nhật thực hiện mộng thành lập Đế Quốc Đại Đông Á dưới quyền lãnh đạo của Nhật. Quân phiệt Nhật lật đổ sự thống trị của người Da Trắng trong một số quốc gia Á Đông nhưng để thay vào đó là ách thống trị tàn bạo của quân phiệt Nhật.

Dân Nhật kính trọng và tha thiết với dòng Vua của họ.

Sau thảm bại, dân Nhật, nước Nhật vẫn có Vua, nhưng Nhât theo chế độ Dân Chủ, Vua Nhật chỉ còn là nhân vật tượng trưng đại diện cho dân Nhật.

Chính quyền Nhật không đạt được một đòi hỏi nào khi đầu hàng. Đòng Minh đòi Nhật phải “đầu hàng vô điều kiện”, và Nhật đã “đầu hàng vô điền kiện.” Quân Nhật bị tước vũ khí ở khắp nơi, quân Đồng Minh – đúng hơn là Quân Mỹ – vào chiếm đóng nước Nhật, những nhà lãnh đạo Nhật có tội gây ra chiến tranh bị Tòa Án Đồng Minh xét xử. Việc giữ Nhật Hoàng ở ngôi là do Anh Mỹ đã định trước.

Khi thấy Nhật sắp đầu hàng, Liên Xô mới tuyên chiến với Nhật, Liên Xô cho quân vào Mãn Châu. Dân Nhật còn may là chính phủ Nhật đầu hàng Anh Mỹ trước khi quân Liên Xô vào được nước Nhật.

Từ Tháng Tám năm 1945 tới nay – Tháng Tám năm 2014 – chỉ có 2 trái bom nguyên tử nổ trên trái đất.

Tôi- CTHĐ- và người anh em cùng vợ với tôi là anh H2T, ra đời năm 1933. Năm hai quả bom nguyên tử nổ trên Đất Nước Phù Tang, nơi còn có tên là “Xứ Mặt Trời Mọc,” nơi người dân tự nhận là dòng dõi của Thái Dương Thần Nữ, chúng tôi 14 tuổi.

Cảm khái cách gì!

MÍT tên TÂY

Quảng cáo trên báo của Hiệu May LEMUR CÁT TƯỜNG. Năm 1937 Hà Nội có phố Lê Lợi. Đang thời Tây, Hà Nội có phố mang tên danh nhân Việt Nam: Số Nhà 16 Phố Lê Lợi ( Giốc Cây Thị Hàng Kèn ) Hà Nội. Trong năm đó đường phố Sài Gòn toàn tên Tây.

Quảng cáo trên báo của Hiệu May LEMUR CÁT TƯỜNG. Năm 1937 Hà Nội có phố Lê Lợi. Đang thời Tây, Hà Nội có phố mang tên danh nhân Việt Nam: Số Nhà 16 Phố Lê Lợi ( Giốc Cây Thị Hàng Kèn ) Hà Nội. Trong năm đó đường phố Sài Gòn toàn tên Tây.

Có lần ông Văn sĩ Đặng Trần Huân lên tiếng trách:

“Tại sao người Việt lại cứ tự gọi mình là Mít, Việt Cừu??”

Chắc ông văn sĩ cho rằng người Việt tự gọi mình bằng những cái tên ấy là việc tự hạ, tự khinh, không nên, kỳ cục, ngu xuẩn.

Tôi định thưa với ông người nước nào cũng tự cười mình và dân mình trước khi cười người khác và cười dân nước người. Người Việt gọi Tầu là Tẫu, Tây là Tẩy, Mỹ là Mẽo, người Việt gọi người Việt là Mít cũng phải thôi. Mít do tiếng Anamite mà ra. Anamite xuất từ tiếng “An Nam Đô Hộ Phủ “do bọn Vua Tầu đặt ra, một tên gọi có cả ngàn năm trước. Triều Tiên năm xưa cũng bị bọn Vua Tầu gọi là “An Đông Đông Hộ Phủ “nhưng cái tên nước bị trị này không ở lâu với dân Triều Tiên.

Tôi chưa kịp thưa chuyện đó với ông Đặng Trần Huân thì ông đã qua đời.

Bài này viết về những ông Mít có tên Tây trong giới văn nghệ-văn gừng Việt Nam. Không có nhiều ông. Tôi chỉ thấy trước năm 1945 có hai ông văn nghệ Mít mang tên Tây: Ông Hoạ sĩ Lemur Cát Tường, và ông Thi sĩ J. Leiba. Cái tên TchyA của ông văn thi sĩ Đái Đức Tuấn có vẻ Tây nhưng không phải là tiếng Tây.

Tôi biết ông Thi sĩ J. Leiba qua mấy bài thơ của ông trong tập Thi Nhân Việt Nam. Ông này là Thi sĩ Việt trước nhất mang bút danh Tây. Tôi đọc những chuyện viết về ông Lemur Cát Tường nhưng tôi không biết chuyện năm 1946 ông bị Việt Minh giết ở Hà Nội. Ông chết mất xác. Đây là tiểu sử ông Lemur Cát Tường trên Internet:

cattuong“Cát Tường (1912 – 1946, sinh ở Sơn Tây) tên thật là Nguyễn Cát Tường, bút danh là Lemur Cát Tường (nghĩa tiếng Hán: Cát Tường là điềm lành và tiếng Pháp: le mur là bức tường), là một hoạ sĩ Việt Nam.

Năm 1928, Cát Tường trúng tuyển vào Khóa 4 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – École des Beaux Arts –  ông tốt nghiệp năm 1933

Trong thời gian đô hộ của Pháp ở Việt Nam, chiếc áo dài phụ nữ Việt  đã “biến thiên,” nhờ được cách tân theo văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam. Do học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đầu thập niên 30 của thế kỷ XX, Cát Tường, cùng với nhóm Tự Lực Văn Đoàn, là người khởi xướng phong trào cách tân áo dài truyền thống. Ông đề ra phương châm: “Quần áo tuy dùng để che thân, song nó là tấm gương ngoài phản chiếu ra cái trình độ, trí thức của một dân tộc”.

“Le Mur” là kiểu áo dài cách tân đầu tiên Họa sĩ Cát Tường tung ra, được lấy cảm hứng hoàn toàn từ chiếc robe của phụ nữ phương Tây với đường nối vai, tay phồng, cổ lá sen…, đặc biệt những màu thâm, nâu, đen của áo dài phụ nữ truyền thống được thay bằng những màu sắc tươi sáng, áo mặc với quần trắng. Sau khi thịnh hành một vài năm, đến năm 1934, khi họa sĩ Lê Phổ cải tiến kiểu áo dài “Le Mur” theo cách dung hòa giữa váy phương Tây với áo tứ thân truyền thống, áo “Le Mur” của Cát Tường dần dần không còn được dùng nhiều như trước.

Tháng 12 năm 1946, tình hình ở Hà Nội rối loạn khi quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh sắp xẩy ra, dân Hà Nội tản cư ra khỏi thành phố. Gia đình Cát Tường về làng Tràng Cát, tỉnh Hà Ðông.

Ngày 17 tháng 12 năm 1946, chưa có giao tranh ở Hà Nội, ông Cát Tường trở về nhà ông ở Hà Nội để lấy thuốc men, quần áo cho các con ông và bà vợ ông sắp tới ngày sinh. Ông bị Việt Minh bắt tại Hà Nội và đưa đi biệt tích. Ông mất tích từ đó.

Tiểu sủ Thi sĩ J. Leiba trên Internet:

leibaJ. Leiba (1912 – 18 tháng 12 năm 1941), tên thật là Lê Văn Bái; là nhà báo, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. ( Trước năm 1945.)

J. Leiba – viết tắt chữ Jean Leiba – tuy có vẻ Tây nhưng do hai chữ Lê Bái trong tên ông mà ra. Ông sinh ở Yên Bái, chính quán là làng Nam Trực, phủ Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông học Trường Bưởi (Trường Trung học Bảo hộ), đến năm thứ ba, ông bỏ học, đi theo một nhóm tài tử giang hồ trong một năm. Sau đó, ông trở về quê học chữ Hán, rồi  lên Hà Nội viết báo, làm thơ.

Bước chân vào làng thơ từ khoảng năm 1929-1930, ban đầu với bút danh Thanh Tùng Tử, ông viết cho tờ Hà Thành Ngọ báo. Năm 1934, tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra đời, ông cộng tác với Chủ báo Vũ Đình Long, rồi được mời làm Chủ bút tờ Ích Hữu. Ông còn viết cho các tờ: Tân báo, Tin văn, Việt Báo, Nam Cường, L’Annam Nouveau… Nhưng ông thật sự được người đọc chú ý nhiều là nhờ những bài thơ của ông đăng trên tuần báo Loa.

Năm 1935, ông thi đỗ bằng Thành Chung, được bổ vào ngạch thư ký Tòa Sứ Bắc Kỳ, ông nhận việc ở Tòa Sứ tỉnh Sơn Tây. Trong thời kỳ làm công chức ở đây, ông sống khá trác táng. Đến khi đổi lên làm việc ở Tòa Sứ Hà Giang thì J. Leiba đã mắc hai chứng bệnh: lao phổi và đau tim. Ông xin nghỉ việc để về Hà Nội chữa trị, nhưng đến tháng 7 năm 1940, tự biết mình không thể khỏi bệnh ông về sống ở quê nhà ông. Tại đây, thỉnh thoảng ông  gửi một vài bài thơ cho báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Tri Tân.

Ngày 18 tháng 12 năm 1941, J. Leiba từ trần ở tuổi 29.

J. Leiba có viết một số truyện ngắn, nhưng không thành công bằng thơ. Thơ ông, tuy chỉ có hơn chục bài đăng báo, chưa in thành tập, nhưng đã được giới thiệu trong quyển Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân và trong bộ sách Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoài Chân viết về Thi sĩ J. Leiba:

“Thơ đăng báo Loa với cái tên ký chẳng Việt Nam tí nào, thế mà vừa ra đời Leiba liền được người ta mến thích. Người ta thích thơ J. Leiba có giọng Đường, mà lại nói lên được nỗi lòng của người thời nay. Trong khuôn khổ xưa, cái hương vị mới ấy rất dễ làm say lòng người…Thơ Leiba ra đời (1934) giữa lúc ai nấy đều cảm thấy mình như trẻ lại. Các nhà thơ đương thời, Thế Lữ, Đông Hồ, Thái Can, kẻ trước người sau, đều tả nỗi lòng của người thiếu nữ lúc mới bén tình yêu. Nhưng không ai nói được đầy đủ như tác giả bài “Năm qua”...Những câu như:

Hoa tặng vừa tàn bông thược dược,
Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa…

Hay là:

Sầu đối gương loan, bóng lạ người,
Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?

Có thể để ngang những câu tuyệt hay trong thơ cổ.

..Chán nản đưa người về tôn giáo. Thơ Leiba hồi sau có bài đượm mùi Phật, mặc dầu chưa đúng hẳn với tinh thần đạo Phật. Bài Bến Giác chẳng hạn có một giọng lạnh lùng, chua chát nhưng chưa phải là giọng của kẻ đã dứt hết trần duyên…Tuy thế ông là người gần đạo Phật hơn hết trong các nhà thơ bấy giờ..

Theo Từ điển Văn học: “J. Leiba vì ân hận với những ngày sống trác táng lầm lỡ cũ, ông  hướng về đạo Phật để tìm nguồn an ủi. Những bài thơ của ông lúc này nhiễm mùi đạo nhưng vẫn không tránh khỏi giọng yếm thế và đôi khi còn kiêu bạc.”

Trong quyển Thi Nhân Việt Nam, thơ Leiba được tuyển giới thiệu bốn bài, đó là những bài: “Năm qua”, “Mai rụng”, “Hoa bạc mệnh” và “Bến Giác”.

Bến Giác

Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am không.
Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.

Thi sĩ Leiba trước khi từ biệt cõi đời có bài thơ Lưu biệt, trong đó thi sĩ nói đến một loài hoa ông thích:

Ta vẫn yêu hoa, mé trước song,
Giàn đưa hương sớm, dệt muôn hồng.
Trăm hoa, lòng vốn yêu riêng cúc,
Hương đạm, thần cao, khí tiết trong.

Người đời danh lợi mải đua chen,
Luống tủi hoa thơm bạn cỏ hèn.
Yêu cúc, giận đời tri kỷ ít,
Cùng hoa lên ở chốn non tiên… 

Ví biết phù sinh đời có thế,
Thông minh, tài bộ, thế gia chi!
Học thành, danh đạt, chung quy hão:
Mắt nhắm, tay buông, giữ được gì?
Thà chọn sinh vào nhà ẩu phụ,
Cục cằn, mất dạy, lại ngu si.

o O o

Văn thi sĩ TchyA:

TchyA (1908 – 1969), tên thật Đái Đức Tuấn, bút danh khác: Mai Nguyệt, là  nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Dường như không một lần ông TchyA gỉải thích cái bút danh kỳ bí của ông. Nhiều người  cùng thời với ông giải thích TchyA là “Tôi chẳng yêu ai, “và “Tôi chỉ yêu Angèle.” Những ông bạn ông gọi ông là “Tẩy Chià”, và “Tẩy Sia.” Có thể Nhà Văn Vũ Trọng Phụng nhớ cái tên “TchyA” khi ông tạo ra nhân vật Týp Phờ Nờ – TYPN – Tôi yêu phụ nữ – trong Số Đỏ.

TchyA quê ở làng Ngọc Giáp, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. Xuất thân trong một gia đình quan lại, sau khi có bằng tú tài toàn phần, ông làm tham tá ở Nha Học chánh Đông Dương từ năm 1930. Đái Đức Tuấn bắt đầu viết báo, viết văn từ 1935 cho các tờ Đông Tây, Nhật Tân, Tiểu Thuyết Thứ Bảy

Năm 1946 Đái Đức Tuấn tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng. Khoảng năm 1950 ông gia nhập Quân đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc đại úy đồng hóa, Ông giải ngũ năm 1956. Những năm 1964, 1965 ông làm việc trong Nhà Phát Hành Sách Báo Thống Nhất. Nhà phát hành này những năm đó được giao cho Nha Cựu Chiến Sĩ quản lý.

Ông mất ngày 8 tháng 8 năm 1969 tại Sài Gòn.

Vũ Ngọc Phan nhận xét:

Văn Thi Sĩ TCHYA Đái Đức Tuấn.

Văn Thi Sĩ TCHYA Đái Đức Tuấn.

Văn của Tchya “không phải thứ văn chương hàm súc hay linh hoạt, nên những truyện ngắn của ông đều dài dòng, cổ lỗ…chỉ những tập truyện truyền kỳ là còn kha khá.

Và cũng như văn, thơ ông đượm rất nhiều phong vị cổ. Ở văn, gọt giũa quá, nhiều khi tai hại; nhưng ở thơ, nó lại có được đôi phần hay là lời điêu luyện, già giặn. Tôi nói “có được đôi phần hay”, vì nếu gọt giũa lắm vẻ tự nhiên, sự thành thật sẽ không còn nữa…

Sống liều nghịch với sầu thương
Thuyền cô đẫm bóng tà dương nhẹ chèo
Sương tàn lả ngọn ba tiêu,
Lòng trần thoảng sạch bể chiều nhấp nhô

(trích Thoát Tục)

…Về không nổi, ngày thêm tẻ
Ở chẳng nên chi, tóc điểm vàng
Gánh nợ thê noa nào trả nữa
Chân trời đâu nhỉ cái bồng tang?…

(trích Mưa Gió)

Về thơ, ông chịu ảnh hưởng thơ Đường, còn về tiểu thuyết truyền kỳ, ông chịu ảnh hưởng Liêu Trai. Ông là một nhà văn và là một nhà thơ không có  gì đặc sắc.

Ông Lãng Nhân viết về ông TchyA trong hối ký Nhớ Nơi Kỳ Ngộ:

 Đái Đức Tuấn  quê Thanh Hóa.  Anh đỗ tú tài, làm tham tá Nha Học Chính, hay vẽ và làm thơ ngay trên bàn giấy công chức. Thơ anh có những câu :

Thì giờ  vỗ cánh bay như quạ 
Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi
Rượu đến gà kêu cô cuốn chiếu 
Quay về, còn lại mảnh tình tôi …

Thế chiến Thứ Hai bùng nổ, ách quân phiệt Phù Tang  chồng lên ách thực dân Pháp làm khổ dân ta, TchyA nghỉ việc ở Nha Học Chính, anh nói: “Tây sắp thua rồi, ở lại làm gì ?”

Nhật đầu hàng, chiến tranh chấm dứt. Quân Tầu – chính phủ Tưởng Giới Thạch – vào Bắc Việt giải giới quân Nhật. TchyA biết chữ Hán  đủ để bút đàm với những sĩ quanTầu, anh trở thành một cố vấn Ban Chỉ huy Quân Tầu. Từ đó anh mặc quân phục Tầu, mũ lưỡi trai, giầy ủng, bên hông có khẩu súng lục.

Đến khi quân Tầu Tưởng rút về Tầu, anh đi theo họ sang đến tận Côn Minh …

Khoảng năm 1950, tôi nhận được giấy gọi của Sở Mật Thám Pháp, đến nơi, được biết, có ông Đái Đức Tuấn  ở Côn Minh gửi đơn xin về  Hà Nội, ông cậy tôi đứng bảo lãnh.  Tôi vui vẻ ký nhận bảo lãnh cho anh, ít bữa sau tôi tái ngộ với TchyA,  tóc anh vẫn bồng bềnh. Vài tháng sau, anh vào Huế, do lời mời của Thủ Hiến Phan Văn Giáo, vốn là bạn thân của anh khi trước ở Thanh Hóa. Ông Thủ Hiến mời anh vào quân đội với cấp bực Đại Uý Chiến Tranh Chính Trị. Loại sĩ quan được trưng dụng này được gọi là sĩ quan đồng hoá.

Sáng ngày 10-8-1968, tại  Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, bạn Vũ Hoàng  Chương rưng rưng mắt lệ, đọc mấy lời thống thiết trước quan tài TchyA :

Đành lẽ “trót sinh giàu cảm lụy 
Dẫu tàn thân thế khó quên nhau.”

Mai hoa tái thế bao giờ nữa ?
Minh nguyệt tiền thân biết hỏi đâu ?
Tàn cuộc văn chương từng góp lệ
Tàn đêm lữ thứ lại chung sầu
Tàn đi mãi đấy hồn phong nhã
Tàn cả rồi chăng lớp biển dâu?
Và cũng tàn theo ba tiếng khóc
Ngấm vào ba thước đất vùi sâu…
Tàn mai, tàn nguyệt, tàn cơn mộng
Anh đợi gì chưa nổi trống chầu ?

Câu đối viếng tang Tchya của Vũ Hoàng Chương: Mấy năm liền sao rụng làng văn, vận nước sô nghiêng hồn chữ nghĩa. Rằm tháng bảy anh về đất Phật,  lệ ngâu thấm ướt tập’ Đầy Vơi ‘ 

CTHĐ: Tôi mù tịt về đời tư, tác phẩm của ông Lemur Cát Tường, ông J.Leiba; tôi biết đôi chút về đời tư ông TchyA. Tôi được gặp ông vài lần ở Sài Gòn. Năm 1952, hay 1953, tôi là lính trong cái gọi là Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền của Phòng Năm Quân Đội Quốc Gia VNCH. Về sau Phòng Năm là Cục Tâm Lý Chiến. Vì ba gai, tôi bị Thiếu Tá Trần Tử Oai, Trưởng Phòng Năm, tống xuống một Đại Đội Trọng Pháo ở Sóc Trăng. Sống ở thị trấn Sóc Trăng chừng ba, bốn tháng, tôi xoay xở và được về Sài Gòn học Khoá Huấn Luyện Tâm Lý Chiến. Buổi tối tôi vào tiêm á phiện Amy ở đường Boulevard de la Somme – sau năm 1956 là đường Hàm Nghi – Năm xưa ấy việc hút á phiện chưa bị cấm. Anh bạn đưa tôi vào Amy chỉ cho tôi thấy ông quân nhân – bận quân phục – nằm bên bàn đèn, bảo tôi:

“Ông văn sĩ TchyA đấy.”

Đấy là lần thứ nhất tôi được thấy ông TchyA.

Sáng hôm sau trong lớp học, tôi thấy Đại Úy Đái Đức Tuấn quân phục nghiêm chỉnh, vẻ mặt tươi tỉnh, lon lá đàng hoàng, giảng một bài về kỹ thuật chiến tranh tâm lý.

Năm 1956, hay 1957, Văn sĩ TchyA là hội viên Hội Văn Bút Việt Nam – PEN Club – ông đi dự Đại Hội PEN International họp ở Tokyo. Khi về ông nói chuyện về cuộc Đại Hội PEN Tokyo tại trụ sở Hội Văn Bút Việt Nam. Ông cho biết Đại Hội ra lời kêu gọi các nhà văn Âu Mỹ không nên đòi tiền bản quyền những văn phẩm được dịch trong các nước nghèo, viện lý do văn sĩ những nước nghèo không có tiền trả quyền dịch những văn phẩm Âu Mỹ. Đại Hội đề nghị những nhà văn Âu Mỹ cho người thế giới – Thế Giới Thứ Ba, Thế Giới của những quốc gia nghèo, chậm tiến, ở Á châu, Phi châu – được  tự do dịch tác phẩm để phổ biến văn hóa.

Khoảng năm 1964, 1965, dường như ông TchyA – khi đó là hội viên Hội Cựu Chiến Sĩ Quân Lực Quốc Gia VNCH – làm Quản Đốc Nhà Tổng Phát Hành Sách Báo Thống Nhât.
Đây là một đoạn trong một bài Viết ở Rừng Phong năm 2000.

Trích: Năm 1956, Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa vừa thành hình, chính phủ do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo, thực hiện ngay việc củng cố vị trí của Quốc Gia trên trường quốc tế. Hội Văn Bút Việt Nam được thành lập và được nhận là hội viên của Hội PEN International, tên Việt là Hội Văn Bút Quốc Tế. Theo như tôi biết — rất có thể không đúng lắm — Sở Nghiên Cứu Chính Trị, Giám Đốc là Bác sĩ Trần Kim Tuyến, thành lập Hội Văn Bút Việt Nam; cấp nhà làm trụ sở Hội, bàn ghế, chi kinh phí cho Hội, cấp tô-lô-phôn, thư ký; vị Chủ Tịch Hội thứ nhất là Nhà Văn Đỗ Đức Thu. Năm 1956 Đại Hội PEN Intern. họp ở Tokyo, Chủ Tịch Đỗ Đức Thu và ông Phó Chủ Tịch Tchya Đái Đức Tuấn, đại diện PEN Viet Nam, đi dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Tokyo. Mọi phí khoản đều do Sở Nghiên Cứu Chính Trị đài thọ. Đại Hội PEN Tokyo có sự tham dự của Nhà Văn Mỹ John Steinbeck, tác giả The Grapes of Wrath, một tiểu thuyết nhiều ông Nhà Văn Việt cho là rất hay. Đi dự đại hội về, hai vị đại biểu cho các hội viên Văn Bút Việt Nam ở nhà biết đại hội có ra một bản đề nghị — đề nghị, lời kêu gọi, không phải là lệnh, không phải là Quyết Nghị — đề nghị “các nhà văn Âu Mỹ đừng đòi tiền bản quyền tác giả với những người dịch tác phẩm của các ông trong những nước nghèo; để phổ biến văn hóa trong những nước nghèo, chậm tiến, bị tàn phá, suy bại vì chiến tranh, xin đừng đòi tiền bản quyền tác giả.”

Tháng Tám năm 2014 khi tôi viết bài này tất cả những vị văn nghệ sĩ có tên trong bài đều đã ra người thiên cổ.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 127 other followers