• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

CUỐI THU MƯA NÁT…

berlin1

Lảo đảo năm canh lệ mấy hàng
Ngậm ngùi cố sự, bóng lưu quang.
Cuối thu mưa nát lòng dâu biển
Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.. THÂM TÂM.

Ghen tị thì không, ngậm ngùi thì có.

Tháng Mười cuối Thu, ngậm ngùi chuyện cũ, nên có bài này.

Ông Hát Ô hỏi:

“Ai nói: ai giải phóng ai?”

CTHĐ:

“Lý Thụy Ý.”

reagan

Goóc-ba-chốp sửa giờ đồng hồ theo Tổng Thống Reagan: Liên Xô xụp đổ.

Những ngày u ám năm 1984.  Trong cái gọi là Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của bọn Công An Thành Hồ, anh Doãn Quốc Sĩ, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt bị giam ở Khu C2, Trần Ngọc Tự Khu B, Duy Trác, Dương Hùng Cường và H2T ở Khu C1, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn ở Khu B.

Tháng 5, 1985, nhóm  văn nghệ sĩ trên đây lên xe tù sang Nhà Tù Chí Hòa. Trên xe, sau 12 tháng mới lại gặp nhau, mới được trò chuyện với nhau thoải mái, anh em tôi cười nói râm ran. Tôi có cảm nghĩ như trên chuyến xe tù ấy anh em tôi đi ăn cưới chứ không phải là những người tù từ Trung Tâm Thẩm Vấn của bọn Công An Cộng đi sang Nhà Tù dễ sợ nhất Đông Dương.

Xe tù chạy qua trước rạp Xi-nê Casino Dakao, quẹo vào đường Hiền Vương. Tôi nhìn xuống con đường có căn nhà tôi đã sống trong năm năm thời tôi hai mươi tuổi. Trong năm năm ấy không biết bao nhiêu lần tôi qua lại trên đoạn đường này.

Tim tôi nặng trĩu khi tôi nghe Lý Thụy Ý kể:

“Phòng giam em nhìn ra con đường các anh đi sang phòng thẩm vấn. Có mấy con nhỏ dặn em: “Hôm nào chị thấy ông Hoàng Hải Thủy đi làm việc, chị cho tụi em biết, tụi em chờ nhìn ông ấy lúc ông ấy về.” Hôm đó em thấy anh đi qua, em bảo chúng nó. Chờ lúc anh về nhìn thấy anh xong, chúng nó nói:

“Chị đừng cho chúng em thấy ông ấy thì hơn. Trông ông ấy chúng em buồn quá..”

Tôi biết tại sao mấy cô tù trẻ buồn khi mấy cô nhìn thấy tôi. Tôi tóc bạc, râu ria,  xương sẩu, đen, gầy, dáng đi gù gù không giống ai. Năm ấy, những năm 1976, 1977, sống ngoài nhà tù thân xác tôi đã thê thảm, cô em văn nghệ của tôi là cô Thục Viên nói:

“Anh thay đổi quá. Có hôm em gặp anh trên phố, em muốn gọi anh mà ngại không biết có phải là anh không.”

Cô thấy người ngợm tôi thảm não quá, con người tôi thay đổi khác hẳn tôi trước Ngày 30 Tháng Tu 1975. Sống ở ngoài tôi đã thế, sống trong tù thân xác tôi còn thảm đến chừng nào.

Lời Lý Thụy Ý kể trên xe tù làm tôi ỉu sìu sìu suốt từ lúc nghe chuyện cô đến lúc tôi từ trên xe ôm bọc quần áo, mùng mền xuống sân Nhà Tù Chí Hòa.

Lý Thụy Ý bị bắt vì bài thơ cô làm trong có hai câu:

Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?”

Và:

“Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.”

Nằm ở Số 4 Phan Đăng Lưu một năm, nằm ở Nhà Tù Chí Hòa ba năm, ra tòa, Lý Thụy Ý bị phang án tù khổ sai 5 năm. Người thiếu phụ thi sĩ bị tù khổ sai 5 năm chỉ vì 2 câu Thơ!

berlin2

Cuối thu mưa nát lòng dâu biển. Đêm qua tôi tìm trên Internet bài Thơ trong có hai câu làm Lý Thụy Ý bị tù 5 năm, tôi tìm không thấy. Tôi tìm được mấy bài Thơ Tình của cô:

Thật Tình

Thật tình em rất yêu anh
Thủy chung qua mấy khúc quanh cuộc đời
Thật tình nghe tiếng mưa rơi
Nhớ sao là nhớ những lời tình ru
Thật tình cuộc sống phù du
Mà sao vẫn nói thiên thu đợi chờ ?
Thật tình như một bài thơ
Bên chồng con vẫn bơ vơ nhớ Người
Thật tình – vâng thật tình thôi
Từ yêu khép nửa nụ cười vì anh
Thật tình giọt nắng mong manh
Vô tình làm cả bức tranh loang màu
Thật tình – chẳng thật tình đâu
Thật tình…bởi miệng quen câu …thật tình .

EVE

Em choàng quanh anh vòng tay
Nụ hôn nghiêng ngửa cổ đầy đam mê
Đêm nay lạnh quá - đừng về 
Em xin làm chấcafé quên buồ 
Nửa đời – tóc gỡ chưa suôn
Bởi hay dan díu … không thương cũng ừ !
Chưa chung thủy - đã tạ từ 
Chúa chưa kịp dạy … con hư mất rồi 
Lần nầy … lần này nữa thôi
Chúa cho trái cấm con mời ‘ người ta
Chúa sinh con làm “Đàn bà.”

Khoảng năm 1980 Lý Thụy Ý viết tiểu thuyết Ngọc Lai. Cô gửi bản thảo Ngọc Lai sang Hoa Kỳ cho ông Hồ Anh, báo Văn Nghệ Tiền Phong. Hồ Anh xuất bản Ngọc Lai. Năm 1995 tôi xin ông cho tôi một quyển Ngọc Lai, ông nói sách đã bán hết.

Lý Thụy Ý sống bình yên ở Sài Gòn.

Duy Trác, sĩ quan, tù khổ sai ở miền Bắc. Khi cùng các bạn tù làm khổ sai ven đường vào trại tù, gặp mấy bà vợ tù đi thăm chồng, hỏi:

“Sài Gòn có gì vui không, mấy chị?”

Một bà trả lời:

“Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.”

Cảm khái Duy Trác làm bản nhạc với lời ca:

Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về

Bảo Chương

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
Sài Gòn có vui ? Sài Gòn có vui ?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ
Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ.
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ:
“Sài Gòn chỉ vui khi các anh về!”

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Cám ơn Sài Gòn tôi sẽ trở về
Sài Gòn mến yêu ! Người tình dấu yêu ! Tôi sẽ trở về !

Bị bắt, ra tòa. Duy Trác bị phang án tù 4 năm.

Trần Ngọc Tự, sĩ quan Tâm Lý Chiến, đi tù miền Bắc về Sài Gòn, đem máy ảnh đi chụp một lô ảnh người Sài Gòn trên vỉa hè Sài Gòn. Tập ảnh có ảnh mấy cô Sài Gòn ngồi bán những bàn ủi, nồi cơm điện trên vỉa hè. Anh để tên tập ảnh này là “Nhìn Em đi anh..” Tập ảnh gửi sang Paris. Trần Ngọc Tự bị án tù 4 năm.

Dương Hùng Cường, bút danh Dê Húc Càn, sĩ quan, tù về, viết bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.” Bài viết gửi sang Paris. Cường bị bắt Tháng 4, 1984. Bị giam đến cuối năm 1987, Cường chết trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu.

Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong Phòng 11, Khu ED, Nhà Tù Chí Hòa.

Doãn Quốc Sĩ, tù về, viết bài “Bố về, Đi..” bị án 9 năm tù khổ sai.

Tôi kể chuyện xưa – những chuyện tù đầy của những văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – để nói lên nỗi ngậm ngùi của tôi. Anh em tôi khổ quá, anh em tôi chết không một tiếng vang. Dương Hùng Cường là người văn nghệ sĩ VN thứ V thứ thứ nhất bị Cộng Sản giam đến chết trong sà-lim vì một bài viết gửi ra nước ngoài. Anh Doãn Quốc Sĩ bị tù khổ sai 9 năm vì hai bài viết “Bố về, Đi.”

Không một tổ chức văn nghệ sĩ người Việt nào trên thế giới vinh danh Người Viết Dương Hùng Cường. Nhớ nhắc đến Dương Hùng Cường cũng không, nói gì đến chuyện Vinh danh Người Viết Dương Hùng Cường.

Tôi viết bài này cũng để nói lên chuyện: Khi bức màn sắt hạ xuống nước Nga năm 1920, phải 30 năm sau – năm 1960 – mới có một, hai văn phẩm diễn tả đời sống khổ cực của nhân dân Nga trong ách Búa Liềm thoát vòng kiềm tỏa sang được Âu Mỹ; khi bức màn tre Tầu Cộng dựng lên vây kín nước Tầu, 20 năm sau mới có vài ba nhân vật Tầu thoát thân sang được Pháp, Mỹ, viết ở Pháp, Mỹ những bài tố cáo tội ác của bọn Cộng Tầu. Ở Sài Gòn, thủ đô Quốc giaVNCH bị diệt, chỉ 10 tháng sau ngày bọn Việt Cộng đưa cờ máu vào thành phố, một số văn nghệ sĩ đã viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài. Bọn Cộng Sản thù nhất là những người dân sống trong vòng kìm kẹp của chúng viết bài tố cáo tội ác của chúng gửi sang những nước Âu Mỹ. Những văn nghệ sĩ gửi tác phẩm ra nước ngoài biết như thế nhưng họ vẫn viết, vẫn gửi.

Anh em tôi đã viết tố cáo tội ác của bọn Việt Cộng từ những năm 1980.

o O o

Thơ trích trong Tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào.”Thơ Văn Nhạc sáng tác từ Quốc Nội. Nhà Lá Bối xuất bản ở Paris năm 1981. Thơ Thích Cao Đăng, bút danh của Thượng Tọa Thích Quảng Độ.

Nói chuyện với Tử Thần.

Xà-lim trông hệt cái nhà mồ
Mỗi lần mở cửa tôi ra vô
Thấy như chôn rồi mà vẫn sống
Tử Thần tôi sợ cái cóc khô.

Tử Thần nghe vậy liền sửng cồ
Nửa đêm đập cửa, tôi mời “dô”
Sẵn có thuốc lào phèo mấy khói
Tử Thần khoái trá cười hô hô.

Trong khi vui vẻ tôi trò chuyện
Tử Thần đắc ý nói huyên thiên:
“Trần gian địa ngục ham chi nữa,
Thôi, hãy bay mau về cõi tiên.”

- Tớ xem tướng cậu cũng hiền hiền
Mà sao thiên hạ sợ như điên
Mỗi lần thấy cậu lò dò tới
Chúng nó hè nhau bỏ tổ tiên.

- Ấy cũng bởi vì chúng nó điên
Chứ anh coi ta tướng rất hiền
Đứa nào “hết số “ta mới mới rớ
Bảo chúng làm ăn đừng lo phiền.

- Tớ đây tuy có chút lo phiền
Nhưng mà cũng chẳng ham cõi tiên
Trần gian địa ngục tớ cứ ở
Mê loạn cuồng say với lũ điên.

- Trần gian ta thấy bết hơn tiên
Thân bị gông cùm, tâm chẳng yên
Sống trong hồi hộp, trong lo sợ
Dẫu là thánh hiền cũng phát điên.

- Trần gian tớ thấy “béo “hơn tiên
Ấy cũng bởi chúng có giấy tiền
Kim cổ ngàn đời người vẫn thế
Có tiền đầy túi nó mua tiên.

Mọi người còn đắm mộng triền miên
Hạ tuần trăng đã rọi vào hiên
Tử Thần trang trọng nói từ biệt
Phóng ngựa ma trơi về hoàng tuyền.

Còn một mình tôi vào cõi Thiền
Lâng lâng tự tại cảnh vô biên
Bồ đề phiền não đều không tịch
Niết bàn sinh tử vẫn an nhiên.

CTHĐ: Thượng Tọa Thích Quảng Độ nằm tù ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu những năm 1977, 1978. Hai năm ấy tôi cũng nằm phơi rốn trong xà-lim Nhà Tù này. Một chiều ra “làm việc “– chịu thẩm vấn – trên đường trở về xà-lim tôi thấy một ông bận bộ đồ nâu ngồi trên cái ghế gỗ bên đường. Đi qua mặt ông vài bước tôi mới nhận ra người tù đó là Thượng Tọa Thích Quảng Độ. Ông nằm xà-lim khu C 2. Buổi chiều quản đốc Nhà Tù cho ông Sư Tù ra ngồi ngoài trời một lúc. Kể như ông được Cai Tù đặc biệt ưu đãi. Chiều chiều quản đốc Nhà Tù mở cửa xà-lim cho người tù ra ngồi mát ngoài trời là do lệnh cấp trên của Y.

Ông Tù Quảng Độ làm những bài thơ được trích ở đây trong một xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu.

Thơ Thích Cao Đăng.

Chưởi Muỗi

Bé mẹ mày sao cứ vo ve

Làm ông mất ngủ, mắt cay nhè

Máu ông dù có là nước lã

Vòi mày hút mãi cũng phải se

Ông như con thỏ nằm dưới búa

Mày còn giáng mãi cú trên đe

Nếu mày tiếp tục châm ông nữa

Thì ông đập chết ngẩn tò te.

Trích “Tắm Mát Sông Đào.“Thơ Trần Kha, bút hiệu của Thanh Tâm Tuyền.

Long Giao

Tinh mơ xe đến Long Giao

Đón người đám cỏ tranh cao ven đường

Trông lên đồi núi mờ sương

Mây bay tất tưởi, mưa rong tần ngần

Tiêu điều ngơ ngác trại quân

Đất lầy bùn đỏ quánh chân ghê người

Ngổn ngang chiến cụ bỏ rơi

Xanh um bờ bụi, tả tơi lũy đồn

Nhà hoang vách trống gió luồn

Vắng tanh nỗi nhờ, dập dồn bóng vang

Ngả lưng trên đất mơ màng

Hé trời trôi giạt, ngỡ ngàng tấm thân

Bài Hát Tự Do

Cho Một Người Tù Chết

Trưa nay mệt chết giấc trên đồi

Vẳng quanh tiếng cuốc bổ liên hồi

Đào huyện chôn ta? Ơi chúng bạn

Cứ để yên người tù xác phơi.

Nhìn xem gương mặt hắn thanh thản

Lộng nắng như say chợp ngủ vùi

Người mong giam hãm để bêu riếu

Hắn dầm thân chấp nhận cuộc chơi.

Bởi tinh chung thủy đã kết buộc

Hắn tự chôn theo gió đầy trời.

Chiều cuối năm qua xóm nghèo

Mưa bay lất phất gió căm căm

Đường lầy trơn, nhà cửa tối tăm

Trốn đâu lũ trẻ mặt nhem nhuốc

Co ro đứng xem tù qua thôn

Vác bó cuốc nặng, bước loạng quạng

Về trong xây xẩm buổi tàn đông

Lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

Ảm đạm lòng ta chiều cuối năm.

o O o

Năm 1981 tôi đọc trên tờ nhật báo Sài Gòn Giải Phóng bản tin về Tổng Thống Ronald Reagan. Bọn Cộng viết về ông:

“Hoa Kỳ hết người tài nên nay phải bầu một anh kép xi-nê chuyên đóng phim cao  bồi lên làm Tổng Thống.”

Rồi qua hai đài phát thanh VOA, BBC tôi nghe tin TT Reagan đứng trước bức tường do bọn Cộng xây lên ở Berlin, bức tường để ngăn những người dân Đông Đức trốn sang Tây Đức, ông nói như ra lệnh:

“Mr Gorbachev… Tear down that wall!”

Ông Goóc-ba-chốp.. Phá sập bức tường kia đi.

Và thế là Bức Tường Ô Nhục Berlin, xây lên năm 1961, bị dân Đức phá đổ, nước Đức bị chia đôi từ năm 1945, đến đó thống nhất.

Tên Hôn-nach-cơ, Chủ Tịt Cộng Đức, cúp đuôi chạy trốn ra nước ngoài.

Nước Mỹ có bức tường ở biên giới Mỹ-Mễ-tây-cơ, bức tường này để ngăn người Mễ lén vào Mỹ. Hai bức tường giống nhau và khác nhau. Cảm khái tôi làm thơ:

Cộng Sản xây tường ngăn người dza.

Tư Bổn xây tường ngăn người dzô.

Người dza, người dzô đều đói khổ,

Phải liều mạng sống để dza dzô.

Tôi mến ông Tổng thống Kennedy. Tôi phục ông Tổng Thống Reagan.

Tổng Thống Reagan là ông Tổng Thống duy nhất trên thế giới từng là diễn viên điện ảnh, nôm na là Kép Xi-nê. Ông Kép Xi-nê Ronald Reagan khi thành Tổng Thống Hoa Kỳ là một Tổng Thống xuất sắc, thành công.

Dường như trên thế giới – từ ngàn năm xưa đến năm nay, 2014 – chỉ có ba Bức Tường đáng gọi là Tường:

  1. Vạn Lý Trường Thành Tầu.
  2. Bức Tường Ô Nhục Berlin.
  3. Bức Tường Mỹ-Mễ.

Trên Internet có nhiều ảnh Bức Tường Ô Nhục Berlin, tấm ảnh Bức Tương tôi đăng trong bài này là bức tường làm tôi sợ nhất.

Sau khi chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bọn Cộng Nga chiếm chính quyền nước Aghanistan. Trong tuyệt vọng. tôi nghĩ:

“Như vầy là chít dzồi. Nó sẽ nhuộm đỏ toàn thế giới. Đế Quốc Đỏ của nó sẽ thống trị thế giới trong vài trăm năm. Nó như hòn đá đang bay lên..Còn lâu nó mới rơi xuống.”

Tôi tưởng thế nhưng “hòn đá Cộng sản” rơi xuống ngay sau khi bọn Nga Cộng chiếm Aghanistan. Trong đời tôi, tôi thấy Chủ nghĩa Cộng sản – Lời Lê Duẩn: “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin bách chiến bách  thắng muôn năm.” – bị vứt vào sọt rác!

Cuối thu mưa nát lòng dâu biển..

Lòng dâu biển có thể nát, nhưng lòng thù hận cộng sản của tôi không bao giờ nát, niềm thương nhớ những người bạn văn nghệ của tôi bị bọn cộng sản hành hạ, giam tù, làm chết trong tù trong tôi không bao giờ phai nhạt.

Tôi kiêu hãnh vì  các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã tố cáo tội ác của bọn Bắc Cộng từ năm 1980.

CẦU NGUYỆN

Xin chuyển bức thư này đến các nhóm cầu nguyện!

thuanAnh chị em rất thân mến,

Cách đây vài phút, tôi nhận được một tin nhắn trên điệnt hoại từ anh Sean Malone, người đứng đầu Tổ chức Crisis Relief International (CRI – tạm dịch Viện trợ Khẩn Cấp Quốc Tế). Sau đó, chúng tôi có trao đổi ngắn gọn với nhau trên điện thoại, và tôi hứa chắc chắn với anh ta rằng chúng tôi sẽ nhắn lời kêu gọi cầu nguyện khẩn thiết này đến tất cả những người thân quen.

“Chúng tôi đã bị mất thành phố Queragosh (Qaraqosh). Thành phố ấy đã bị rơi vào tay phiến quân ISIS và bọn này đang chặt đầu rất nhiều đứa trẻ. Hiện nay tại thành phố này, chúng tôi phải hết sức kín đáo trong việc tiếp tế lương thực cho người dân. Phiến quân ISIS đã đẩy lùi Peshmerga (lực lượng người Kurd) và nội trong 10 phút nữa, bọn chúng sẽ tiến đến khu vực mà nhóm CRI của chúng tôi đang hoạt động. Vào tối hôm qua,hàng ngàn người đã tháo chạy đến thành phố Erbil.

Chính vì vậy, Liên Hiệp Quốc đã phải di tản nhân viên của họ tại thành phố này. Riêng nhóm của chúng tôi sẽ vẫn bám trụ tại đây.

Xin mọi người hãy cầu nguyện thật nhiều cho chúng tôi!”.

Xin mọi người hãy giúp lời cầu nguyện cho những người dân đang sinh sống ở phía Bắc Iraq thóat khỏi sự leo thang khủng khiếp của phiến quân ISIS cũng như những mục tiêu Hồi Giáo cực đoan của chúng trước những cuộc tử hình tập thể dành cho người Kitô giáo trong khu vực này.​

Tôi nài xin các bạn đừng làm ngơ trước bức thư này.

Làm ơn đừng chuyển tiếp bức thư này khi các bạn chưa cầu nguyện cho chúng tôi. Sau khi cầu nguyện xong, hãy gửi nó cho càng nhiều người càng tốt.

Xin các bạn hãy chuyển thư này đến những người bạn tốt của các bạn và những người Kitô giáo mà bạn biết. Xin hãy chuyển bức thư này đến các nhóm cầu nguyện.

Xin hãy chuyển bức thư này đến vị mục tử của các bạn và nhờ Ngài cầu nguyện cách đặc biệt vào các buổi phụng tự ngày Chúa Nhật.

Chúng tôi chỉ còn biết trông cậy vào sự hiệp thông của các Kitô Hữu.

Linh mục John Pitzer

HÀ NỘI tái bản BỐ GIÀ

Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ngày 16 Tháng 11, 2014, tôi nhận được thư gửi từ Hà Nội, Việt Nam.

Hà Nội Ngày 31 Tháng 10 năm 2014

photo1_114Kính gửi bác Hoàng Hải Thủy

Cháu là Nguyễn Hà Lý, biên tập viên Công Ty Văn Hóa Đông A.

Công Ty Đông A đã mua bản quyền cuốn The Godfather của Mario Puzo và muốn đưa tới bạn đọc bản dịch Bố Già của dịch giả Ngọc Thứ Lang. Vì vậy Công Ty cháu muốn tìm người thân của dịch giả để tính tiền bản quyền Bố Già nhưng không sao tìm được

Đọc trang wordspress của bác bài viết với bút danh Công Tử Hà Đông, thấy viết: “Viết thêm Ngày 1 Tháng 8, 2011. Hai nhà xuất bản trong nước, một nhà xuất bản ở Hoa Kỳ, in lại BỐ GIÀ của Ngọc Thứ Lang, đều có trả tiền bản quyền.” Chắc bác có tên và địa chỉ người thân của dịch giả Ngọc Thứ Lang. Nếu có xin bác cho công ty cháu biết.

Công ty Đông A mong được hồi âm của bác. Xin bác liên lạc với mail của cháu nguyenhaly@hotmail.com. hay qua địa chỉ:

DONG A PICTURE BOOKS

113 Dong Cac. Ô Chợ Dừa. Hà Nội. Việt Nam.

Tel. +84 4 38569382/+84 4 38569367

 - – - – -

CTHĐ: Khoảng năm 2011 anh con bà chị của Ngọc Thứ Lang – hiện ở Hoa Kỳ – gửi e-mail cho tôi. Anh cho tôi biết hai nhà xuất bản trong nước, một nhà xuất bản ở Hoa Kỳ, in lại BỐ GIÀ của Ngọc Thứ Lang, đều có trả tiền bản quyền. Tôi không ghi địa chỉ của anh. Nay tôi đăng lên đây tin này, mong anh cháu của Ngọc Thứ Lang liên lạc với anh Nguyễn Hà Lý.

CON MA VÚ DÀI

Phước Tám Ngón, Tử Tù vượt ngục Nhà Tù Chí Hoà. Ảnh bên phải là dẫy cửa phòng giam và lối đi một khu trong Nhà Tù Chí Hoà. Bài và ảnh trên báo An Ninh Thế Giới Bắc Cộng. Tử Tù tên là Phước Tám Ngón,- mất hai ngón tay - nhưng trong ảnh hai bàn tay Y còn nguyên 10  ngón tay.

Phước Tám Ngón, Tử Tù vượt ngục Nhà Tù Chí Hoà. Ảnh bên phải là dẫy cửa phòng giam và lối đi một khu trong Nhà Tù Chí Hoà. Bài và ảnh trên báo An Ninh Thế Giới Bắc Cộng. Tử Tù tên là Phước Tám Ngón,- mất hai ngón tay – nhưng trong ảnh hai bàn tay Y còn nguyên 10 ngón tay.

Lúc 12 giờ trưa một ngày Tháng Sáu năm 1985 tôi ôm giỏ quần áo, mùng chiếu, theo anh em tù vào Nhà Tù Chí Hòa. Bọn tù chúng tôi sang đây từ Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của Sở Công An Thành Hồ.

Vào sân Nhà Tù Chí Hoà tôi trông lên: chung quanh tôi chỉ có những hàng chấn song và những hàng chấn song sắt đen sì.

Những người anh em cùng vào Nhà Tù Chí Hòa với tôi hôm ấy là: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, cô Lý Thụy Ý, cô Nguyễn Thị Nhạn. Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt cùng bọn với chúng tôi đã từ Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu sang Nhà Tù Chí Hòa trong chuyến xe chở tù đi tháng trước.

Phút đầu tiên ấy tôi nghĩ:

“Ðây là Nhà Tù Chí Hoà. Mình đang đứng trong Nhà Tù Chí Hoà. Ngày nào mình ra khỏi đây, mình sẽ kiêu hãnh vì mình từng sống trong Nhà Tù Chí Hoà.”

Tháp Canh giữa sân Nhà Tù Chí Hòa. Đứng ở đây Cai Tù có thể nhìn vào tất cả các phòng giam chung quanh. Lời tù đồn: Tháp Canh hình cây kiếm, có yểm xác – chôn sống - mấy trinh nữ khi xây. Kiếm và u hồn trinh nữ làm cho không người tù nào có thể vượt ngục.  Khu tường trắng là Khu Tử Hình. Có người tự nhận là cựu tù nhân Chí Hòa viết hồi ký ở Kỳ Hoa, kể thời anh ở tù Chí Hòa, anh nghe một người tử tù hát suốt đêm; tất cả người tù trong các khu đều nghe tiếng người tử tù hát. Chuyện đó vô lý. Người kể nhận bậy là đã sống trong Nhà Tù Chí Hòa. Phòng tử tù kín như bưng, không tiếng động nào trong phòng giam tử tù thoát được ra ngoài. Tử tù trong phòng giam không nghe được tiếng người, tiếng động bên ngoài. Ðứng trên tháp bát quái giữa sân nhà tù, Cai Tù nhìn vào được tất cả những phòng tù. Trước năm 1975 tháp canh này có đèn pha. Ảnh Nhà Tù Chí Hòa đi trong bài viết này là ảnh ghi vào những năm 1980, khi Nhà Tù đã bị bọn Cai Tù VC xây tường ngăn ra từng khu một.

Tháp Canh giữa sân Nhà Tù Chí Hòa. Đứng ở đây Cai Tù có thể nhìn vào tất cả các phòng giam chung quanh. Lời tù đồn: Tháp Canh hình cây kiếm, có yểm xác – chôn sống – mấy trinh nữ khi xây. Kiếm và u hồn trinh nữ làm cho không người tù nào có thể vượt ngục.
Khu tường trắng là Khu Tử Hình. Có người tự nhận là cựu tù nhân Chí Hòa viết hồi ký ở Kỳ Hoa, kể thời anh ở tù Chí Hòa, anh nghe một người tử tù hát suốt đêm; tất cả người tù trong các khu đều nghe tiếng người tử tù hát. Chuyện đó vô lý. Người kể nhận bậy là đã sống trong Nhà Tù Chí Hòa. Phòng tử tù kín như bưng, không tiếng động nào trong phòng giam tử tù thoát được ra ngoài. Tử tù trong phòng giam không nghe được tiếng người, tiếng động bên ngoài.
Ðứng trên tháp bát quái giữa sân nhà tù, Cai Tù nhìn vào được tất cả những phòng tù. Trước năm 1975 tháp canh này có đèn pha. Ảnh Nhà Tù Chí Hòa đi trong bài viết này là ảnh ghi vào những năm 1980, khi Nhà Tù đã bị bọn Cai Tù VC xây tường ngăn ra từng khu một.

Tôi nghĩ:

“Người Sài Gòn bị tù nếu không vào Nhà Tù Chí Hoà thì chưa biết  Tù Ðày thật sự là gì.”

Những năm trước 1975 tôi có hai, ba lần đến Nhà Tù này thăm mấy người bạn tôi bị tù ở đây. Có anh bạn tôi là ký giả can tội tống tiền – ký giả nhà báo thời Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bị bắt tội đe dọa viết bài đăng báo để làm tiền – tống tiền, chantage – ra tòa lần đầu bị xử phạt tù ngồi 2 năm. Dường như các ông chánh án thời VNCH không ưa gì bọn ký giả nhà báo. Ông chánh án nào cũng tuyên phạt anh ký giả tống tiền án tù 2 năm. Có anh bạn tôi bị bắt bên bàn thờ Cô Ba Phù Dzung, có anh nhận bậy là nhân viên Hội Từ Thiện đi quyên tiền giúp các em mồ côi, nhưng tiền quyên được anh bỏ túi. Có anh làm thư ký hãng Pháp có nhiệm vụ mang tiền ra Nhà Băng ôm tiền đi luôn. Những lần đến thăm ấy tôi là khách của Nhà Tù, tôi chỉ đến khu thăm tù của Nhà Tù Chí Hòa. Khu này ở chỗ nào trong nhà tù này tôi không nhớ. Nay tôi là người tù trong Nhà Tù Chí Hòa.

Tôi đã sống 4 năm trong Nhà Tù Chí Hòa. Những đêm nằm phơi rốn trên sàn xi-măng,  nhiều lần tôi tự hưá:

“Ngày nào mình ra khỏi đây mình sẽ viết về Nhà Tù này.”

Vào Nhà Tù Chí Hoà năm 1985, tôi ra khỏi đó đầu năm 1990. Tôi sống một năm – 1989 – ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, Ðồng Nai. Giã từ tù ngục, tôi trở về mái nhà xưa, cư xá cũ năm 1990, rồi tôi và vợ tôi sang Kỳ Hoa, ngày tháng sa đà, tôi quên chuyện viết về Nhà Tù Chí Hoà.

Năm 1977 tôi bị bọn Công An Thành Hồ bắt lần thứ nhất, tôi nằm cùng xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu với anh Nguyễn Kim Báu trong khoảng hai tháng. Anh Báu là giáo sư. Anh bị bắt vì tội “âm mưu lật đổ Bàn Thờ Bác Hồ.” Anh kể tôi nghe một số ông bạn anh lập một lực lượng đòi dân chủ, dân quyền. Các ông bạn anh mời anh tham gia tổ chức, anh từ chối, nhưng khi các ông bạn anh bị bắt, bọn Công An ThànhHồ bắt luôn cả anh. Anh kể ồ Hchuyện những năm 1948, 1949 anh đi kháng chiến chống Pháp. Anh bị Quân Ðội Pháp bắt. Trại tù binh trong có anh do quân đội Pháp quản lý, cho cơm và thức ăn vào những gà-men nhôm, gamelle của Lính Pháp, mỗi người tù một gà-men – ăn xong gà-men được thu lại. Về sau Quốc Gia ta có trại tù binh ở Ðức Hoà – Ðức Huệ, anh Báu về tù trong trại này cho đến ngày anh được thả.

Thời Tù ăn cơm gà-men trong trại tù binh do quân Pháp quản đốc, nhiều anh em tù nói với anh Báu:

“Ngày nào chúng mình ra tù, mỗi năm mình tổ chức một ngày anh em gặp nhau, ăn cơm gà-men để nhớ những ngày này.”

Mấy năm sau ra tù, trở về Sài Gòn, gặp lại vài anh em tù xưa, anh Báu nhắc chuyện làm cuộc gặp nhau ăn cơm gà-men, những ông bạn tù cũ của anh lắc đầu quầy quậy:

“Thôi chứ ông. Nhớ lại những ngày tù khốn nạn ấy làm chi!”

Tôi nhớ chuyện Cơm Gà-men anh Báu kể những khi tôi tự trách tôi đã không chịu viết về Nhà Tù Chí Hoà.

Tôi nghĩ:  Những người đã ra khỏi Nhà Tù Chí Hoà không muốn, không cần đọc những bài viết về Nhà Tù Chí Hoà, những người chưa từng phải sống trong Nhà Tù Chí Hòa không hào hứng đọc về nó. Nếu tôi viết Hồi Ký Nhà Tù Chí Hoà nhiều người cựu tù Chí Hoà đọc nó có thể chê:

“Cha này viết dở ẹt. Chí Hoà có cả ngàn chuyện ly kỳ, hắn viết toàn những chuyện nhạt nhách.”

Không chỉ thế, rất có thể có nhiều vị Cưụ Tù Chí Hoà thấy tôi viết sai về Nhà Tù Chí Hoà.

Tuy không viết về Nhà Tù Chí Hòa xong hình ảnh Nhà Tù Chí Hoà vẫn nằm trong ký ức của tôi, việc tôi không viết về Nhà Tù Chí Hoà vẫn canh cánh trong lòng tôi. Tôi thương Nhà Tù Chí Hoà. Nhà Tù Chí Hòa đã bảo vệ tôi, đã nâng đỡ tôi cho tôi sống. Qua 4 năm – 1500 ngày, 1500 đêm – tôi không một lần đau bệnh nặng, tôi không bị anh em tù cõng xuống cái gọi là trạm y tế của Nhà Tù lần nào, tôi sống đời tù đầy không có án, không biết ngày trở về căn nhà nhỏ trong cư xá, về trong vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng tôi không tuyệt vọng, Tôi vẫn thấy Nhà Tù Chí Hoà là của tôi. Như tôi đã không giữ được Sài Gòn, tôi đã để Nhà Tù Chí Hoà rơi vào tay bọn Bắc Cộng.  Nhưng như Sài Gòn, Nhà Tù Chí Hoà vẫn là của tôi.

Từ ngày sang Kỳ Hoa Ðất Trích tôi vẫn theo dõi, tìm đọc những tài liệu về Nhà Tù Chí Hoà trên các báo, trên  Internet. Tôi tìm được trong Trang Web cuả tờ “An Ninh Thế Giới,” một tờ báo của Công An Bắc Cộng, bài viết về một vụ “Tù Tử Hình vượt ngục Chí Hoà.”

Mời quí vị đọc:

Ảnh Nhà Tù Chí Hòa ghi từ trên trực thăng. Khu tường trắng là Khu Giam Tù Tử Hình.

Ảnh Nhà Tù Chí Hòa ghi từ trên trực thăng. Khu tường trắng là Khu Giam Tù Tử Hình.

An Ninh Thế GiớiCuộc đào tẩu lịch sử trong Trại Giam Chí Hòa

Vụ vượt ngục do Tử tù Phước “Tám Ngón” thực hiện được coi là cuộc đào tẩu duy nhất trong lịch sử Trại Giam Chí Hòa thời hiện đại

Trại Giam Chí Hòa – tên thường gọi là Khám Chí Hòa – được Pháp xây năm 1943 theo thiết kế một hình bát giác, tượng trưng cho 8 Quẻ trong Kinh Dịch, với 3 tầng lầu.

Mỗi cạnh của Bát Quái Trận Ðồ Chí Hoà là một khu, mặt sau nhà tù xây bịt kín ở phía ngoài còn phía trong toàn song sắt, mỗi khu có 12 phòng giam. Ở giữa sân Bát Quái Chí Hòa là một vọng gác cao hơn 20mét trên đó có bể chứa nước và có chòi canh. Ðứng tại đây, lính canh có thể dễ dàng nhìn vào tất cả các phòng giam.

Với kiến trúc Nhà Tù Chí Hòa, phạm nhân khi đã vào đây thì khó mà vượt ngục. Lịch sử Khám Chí Hòa cho đến ngày hôm nay chỉ ghi  có hai trường hợp vượt trại thành công. Lần thứ nhất vào năm 1945, cuộc vượt trại của một số người tù và lần thứ hai, sau đó 50 năm vụ vượt trại của một tử tội hình sự khét tiếng là Phước “Tám Ngón”.

Phước “Tám Ngón” tên thật là Nguyễn Hữu Thành, giang hồ thường gọi biệt danh trên bởi một bàn tay y bị cụt mất 2 ngón. Sinh năm 1971 trong một gia đình nghèo ở Dĩ An, Thuận An, tỉnh Sông Bé, nay là Bình Dương, khi chưa thành niên, Phước đã bỏ nhà đi bụi, sống bằng cờ bạc, trộm, cướp.

Năm 1988, 17 tuổi, lần đầu tiên Phước phải vào nhà giam với bản án tù 36 tháng về tội trộm. Sau đó, Phước bị Công An Vũng Tàu đưa đi cưỡng bức lao động.

Không chịu cải tạo, Phước trốn trại, mua súng lập băng cướp. Ðây cũng là thời kỳ mà tên tuổi của Phước “Tám Ngón” nổi lên trong giới giang hồ như một ông Trùm giết người máu lạnh.

Ðầu năm 1991, tại khu vực Thủy điện Trị An, Ðồng Nai, băng cướp  Phước “Tám Ngón” hoành hành. Chúng dùng súng uy hiếp  cướp xe máy của một người đi đường. Khi bị nạn nhân chống cự, chúng bắn người đó trọng thương. Tiếp đó, chỉ trong vòng nửa tháng, bọn chúng liên tiếp gây ra 2 vụ cướp, một vụ trộm và bắn chết một nạn nhân tại Thủ Ðức.

Ngày 24/6/1994, Phước “Tám Ngón” bị toà án tuyên án tử hình về các tội giết người, cướp tài sản công dân và sau đó gây ra vụ vượt ngục như trong phim xi-nê đêm 26/3/1995 tại Trại Giam Chí Hòa.

Ðây là vụ vượt ngục duy nhất trong lịch sử Trại Giam Chí Hòa thời hiện đại mà sau này khi điều tra về diễn biến của nó qua lời khai của Phước “Tám Ngón”, qua những thực nghiệm điều tra nghiêm túc, khoa học, nhiều người vẫn cứ ngỡ như chuyện chỉ có thể xẩy ra  trong phim xi-nê.

Sau khi đã bẻ gãy đôi chiếc cùm chân, Phước nghĩ ra kế để tránh sự phát hiện của quản giáo. Lúc này chiếc hộp quẹt gas mà hắn xin được từ lâu mới phát huy tác dụng. Phước lấy vải khéo léo quấn xung quanh vết cưa rồi bên ngoài lớp vải ngụy trang đó, Phước lại dùng hộp quẹt gas tỉ mẩn đốt nhựa chảy phủ kín lên trên.

Trong một lần đi vệ sinh, Phước phát hiện vách tường nhà vệ sinh bị mục. Âm mưu khoét tường để đào thoát nẩy ra từ đó.

5 ngày sau khi cưa xong cùm, đêm 26/3/1995 là thời điểm Phước chọn để trốn khỏi xà-lim. Phần vì trời tối thuận lợi, phần vì đây là quãng thời gian các phạm nhân đều đã ngủ, trại vắng.

Khoảng 21 giờ, Phước tháo cùm chui vào nhà vệ sinh. Tại đây, hắn dùng chiếc dùi sắt tự chế tạo được từ một khoen sắt tròn trong nhà vệ sinh, để khoét vách tường, chỗ mà Phước nhìn thấy bị mục từ trước thành một lỗ hổng vừa đủ lọt người qua.

Số xi măng và cát vụn khoét từ tường ra, Phước trút vào lỗ cầu vệ sinh rồi đổ nước cho trôi đi. Còn số gạch thì Phước bê vào trong chỗ ngủ, sắp xếp thành một hình trông giống như hình người đang nằm. Sau đó, hắn lấy mền phủ kín lên trên hình nộm đó để ngụy trang, đề phòng trường hợp quản giáo bất ngờ đi kiểm tra đêm, nhìn thấy thế vẫn tưởng là phạm nhân đang nằm ngủ.

Khoét tường xong, Phước khom người luồn qua lỗ hổng để chui ra phía cầu thang lầu bên ngoài buồng giam số 15 rồi leo xuống cầu thang, bỗng y giật thót mình khi nghe  tiếng bước chân tuần tra đêm của cán bộ quản giáo. Hoảng hốt, Phước bèn vội vã leo ngược trở lên rồi cứ thế đi trên nóc nhà để sang khu AH.

Tại đây, Phước dùng quần áo và khăn nối lại thành một sợi dây rồi cột một đầu vào kèo nhà còn đầu kia thả để theo dây mà đu xuống. Nhưng, đang đu thì dây đứt nên Phước bị té sấp xuống mặt đất, bất tỉnh. Chừng hơn một tiếng sau thì Phước mới tỉnh lại, biết mình vẫn còn đang ở trong khu giam, Phước cố nén đau vùng dậy lết đến cây cột điện ở gần đó.

Giữa sự sống và cái chết, giữa hoảng sợ và đau đớn, như một thứ bản năng, con người bỗng trở nên có sức mạnh ghê gớm. Thế nên, mặc dù cả chân lẫn cột sống đều bị chấn thương nhưng Phước vẫn trèo lên được cột điện khá cao để rồi từ đó leo qua hàng rào tụt xuống đất. Ðây là địa phận khu tập thể của gia đình cán bộ quản giáo nằm kề trại.

Lúc này đã tờ mờ sáng. Phước lết vào trong sân, thấy có một bộ đồ cảnh sát đang phơi, một chiếc xe đạp và một đôi dép. Chỉ trong chớp mắt, hắn bèn nghĩ ra cách ngụy trang. Phước vớ lấy bộ đồ cảnh sát mặc vào người, xỏ dép, dắt xe đạp rồi cố bình tĩnh, nén đau đường hoàng dắt xe ra cổng chính của trại Chí Hòa.

Qua phòng trực cổng trại, Phước vào xin cảnh sát trực cổng được ra ngoài uống cà phê. Thấy người mặc quân phục đàng hoàng lại dắt xe đạp đi ra từ khu gia đình cán bộ, nên cảnh sát trực trại ngỡ đó là anh em cán bộ, chiến sĩ trong trại. Vì vậy, anh đã mở cổng cho Phước dắt xe ra ngoài.

Vậy là sáng sớm 27/3/1995, Phước “tám ngón” – tử tù nguy hiểm đã đào thoát được ra khỏi trại Chí Hòa.

Ngưng trích bài “Tử Tù vượt ngục Chí Hoà.”

Cổng Nhà Tù lớn nhất Đông Dương có bộ mặt như cổng một cư xá.

Cổng Nhà Tù lớn nhất Đông Dương có bộ mặt như cổng một cư xá.

Trên đây là phần đầu bài “Tử Tù vượt ngục Chí Hoà” của tờ báo An Ninh Thế Giới, báo Việt Cộng.

Người viết bài trên đây là người không biết chút gì về Nhà Tù Chí Hoà. Bài viết đầy những sự kiện ngớ ngẩn, vô lý chứng tỏ người viết là người ngu. Không chỉ Ngu thường mà là chí Ngu. Người ta không cần cứ phải là người tù từng sống trong Nhà Tù Chí Hoà mới có thể kể không sai về Nhà Tù Chí Hoà. Anh công an nào là chủ bút tờ An Ninh Thế Giới còn ngu hơn anh viết bài. Là chủ biên, ít nhất anh phải có khả năng cảm thấy, nghi ngờ bài viết có những sự kiện vô lý, sai, bịa, ngu. Tôi cho anh chủ biên này là anh chủ bút, chủ biên ngu nhất thế giới.

Tử tù trong Nhà Tù Chí Hoà nằm trong Khu Tử Tù cách biệt với 7 khu khác trong Nhà Tù. Tử tù trong khám Tử Hình bị còng chân suốt ngày đêm vào một cây sắt dài, thường thì họ ở trần, mặc quần cụt. Không thể có chuyện tử tù nằm phòng tử hình mà có hộp quẹt gas – hắn xin hộp quẹt này của ai?? Hắn lấy rũa ở đâu mà có thể rũa làm bể đôi cái cùm thép??? – “Cùm chân tù Nhà Tù Chí Hoà ” mà tử tù dúng cái bánh xe răng cưa của bật lửa – hộp quẹt máy – rũa mòn, cùm gẫy làm đôi, tù rút chân ra được? Cái cùm ấy phải là cái cùm làm bằng giấy. ” Em nhỏ lên ba nó cũng nghe không nổi.

Tử tù không được giữ bao nylon đựng thực phẩm người nhà gửi vào – nếu có, nếu được phép nhận quà gia đình – tử tù không thể làm  cái cùm sắt cùm chân gẫy làm hai. Tường Nhà Tù Chí Hoà dầy đến 50 phân, bê-tông cốt sắt trộn với sỏi, đá cục, buá tạ đập cả tiếng không hề hấn, xe tăng húc  cả giờ đồng hồ cũng chưa làm những bức tường nhà tù Chí Hoà suy suyển, chuyện tường Nhà Tù Chí Hoà Khu Tử Hình bị “mục” là chuyện kể em nhỏ lên ba nghe cũng không lọt tai.

Tử tù vượt ngục Chí Hòa không thể khơi khơi lên mái nhà tù, đi phây phây trên đó. Cứ cho là tử tù thoát được lên mái nhà cao – một tầng trệt, ba tầng lầu – anh tù lấy quần áo, khăn khố ở đâu ra mà buộc lại làm dây để theo dây tụt xuống đất, mái nhà tù không có cây kèo nào để anh tù có thể buộc dây.

Bọn lính canh trong nhà tù không phải là cán bộ quản giáo, chúng là bọn bảo vệ, bọn cai tù. Bọn Cai Tù là bọn chỉ có phận sự giữ người tù, không cho tù vượt ngục, gây loạn. Bọn Cai Tù không có phận sự “cải huấn” người tù. Chúng không “đấu tranh tư tưởng” với người tù. Người tù phạm luật bị chúng tống vào sà-lim, nằm trần với quần sà lỏn, bị cùm chân, cùm tay. Bọn Cai Tù không ép người tù viết bản nhận tội, làm đơn xin giảm án.

Không có ống nước máy vào các phòng tù Chí Hoà. Viết rõ: có ống dẫn nước máy vào từng phòng tù, nhưng đó là chuyện Nước Robinet Nhà Tù Chí Hòa những năm 1960. Sau năm 1975 nước máy không lên được các phòng tù trên lầu. Tù tử hình không thể có nước để dội cho gạch, xi-măng từ chỗ đục ở tường trôi xuống ống cầu tiêu. Không có ống cầu tiêu nhà tù nào đủ lớn để làm trôi những cục xi-măng đục ở tường. Nhắc lại: tường những phòng giam Nhà Tù Chí Hòa dầy nửa thước tây, bê-tông trộn sỏi, người ta, dù có dao, dùi, búa, không sao đục được tường Phòng Giam Chí Hòa.

Tôi không viết thêm về những chuyện vô lý, chuyện ngu xuẩn trong bài viết quí vị vưà đọc, tôi thấy người viết nó ngu đần quá đỗi, không chỉ người viết bài ngu, cả bọn biên tập báo An Ninh Thế Giới Công An Bắc Cộng là bọn ngu đần.

Vụ vượt ngục Chí Hoà của Tử Tù Phước “Tám Ngón” chắc có xẩy ra thật, nhưng tình tiết chắc chắn không như kể trong bài viết.

Bài viết kể vụ tù Chí Hoà vượt ngục thứ nhất xẩy ra năm 1945. Bậy và ngu hết nước nói. Nhà Tù Chí Hoà khởi công xây cất năm 1943, bị ngừng mấy năm vì cuộc chiến tranh thế giới. Mãi đến năm 1948 Nhà Tù mới làm xong, năm 1953 chính phủ Quốc Gia – Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm – phá Khám Lớn Sài Gòn ở đường Gia Long. Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đến cầm buá đập nhát búa đầu tiên phá Nhà Tù. Từ năm đó, năm 1953, người tù Sài Gòn bị đưa vào Nhà Tù Chí Hoà.

Năm 1987 có một vụ vượt ngục xẩy ra trong Nhà Tù Chí Hoà. Tầng dưới đất ở một số khu  phòng giam có hàng chấn song ra ngay sân. Anh em tù – toàn là hình sự – trong một phòng giam này lén cưa chấn song. Ðêm ấy mưa tầm tã. Khoảng quá nưả đêm nhiều người tù thức giấc vì nghe tiếng súng nổ rồi tiếng la:

“Ðứng lại.”

Tiếp đó là những tiếng:

“Nằm xuống! Nằm xuống!”

Rồi những tiếng chó suả. Bọn Cai Tù Chí Hoà có bầy chó berger. Một tháng đôi kỳ, nửa đêm, bọn bảo vệ Nhà Tù đi tuần qua các hành lang, dắt cặp chó theo dằn mặt người tù.

Anh em tù – tất cả một phòng ở tầng dưới đất – lén cưa rồi bẻ cong song sắt, chui ra sân, cậy nắp ống cống trong sân, chui xuống ống cống để bò ra khỏi nhà tù. Chưa ra khỏi nhà tù – có thể vì ngộp thở, có thể vì tưởng đã chui ra khỏi nhà tù – anh em đẩy nắp ống cống để trèo lên nên bị bọn lính canh trông thấy. Nơi anh em lên là khu vẫn còn nằm trong vòng tường Nhà Tù.

Tù nhân Chí Hoà đêm ấy nhiều người nghe tiếng súng, tiếng la – trong số có tôi, người viết những dòng chữ này, đêm ấy tôi là người Tù nằm ở Phòng 10 Khu ED – nhưng không ai được biết gì nhiều về số phận những anh em tù vượt ngục bị bắt lại. Không ai biết bọn Cai Tù giam số anh em vượt ngục bị bắt lại ấy ở đâu trong Nhà Tù Chí Hoà. Chỉ nghe nói đêm ấy có hai, ba anh em, theo ống cống, thoát được ra ngoài.

Những năm 1970 Nhà Tù Chí Hoà có vụ tay cướp Ðiền Khắc Kim vượt ngục thành công. Nghe nói Ðiền Khắc Kim nằm trong xe chở rác từ trong Nhà Tù ra được ngoài thành phố. Và cũng nghe nói sau đó Ðiền Khắc Kim bị bắt lại.

Khoảng năm 1970 nhật báo Hoà Bình – Chủ nhiệm Linh mục Trần Du – đăng phóng sự “Con Ma Vú Dài” kể chuyện một nữ tù nhân chết trong Nhà Tù Chí Hoà, người tù nữ hoá thành ma, đêm hiện về nằm tò tí với những anh tù có duyên nợ với nàng. Nữ ma có cặp vú – chắc là vú sệ, vú nhẽo, vú chẩy – nên những anh tù được nàng chiếu cố gọi nàng là “Con Ma Vú Dài.” Phóng sự tiểu thuyết “Con Ma Vú Dài” trên nhật báo Hoà Bình năm xưa ấy có nhiều người đọc.

Tôi kể chuyện phóng sự “Con Ma Vú Dzài” để nói lên tình trạng gần đây, ở Mỹ, có một số ông ký giả xuất thân từ Cơ quan Việt Tấn Xã – Việt Nam Thông Tấn Xã, cơ sở thông tin chính thức của chính phủ – viết hồi ký kể đại khái:

“Làng báo Sài Gòn bê bối, bọn ký giả Sài Gòn là bọn vô học, lưu manh, chuyên viết láo, nhiều tên can tội đâm thuê, chém mướn. Chỉ đến khi có những ông ký giả Việt Tấn Xã có học, có đức, có hạnh, có nghề, bước vào làng báo, cái làng báo khốn nạn ấy mới khá được.”

Phóng sự “Khỉ Cà Mâu: Khỉ lấy Người, có con…” đăng trên nhật báo Sàigonmới những năm 1960 được coi là một bằng chứng không thể cãi được của tình trạng hạ cấp của báo chí Sài Gòn. Phóng sự “Con Ma Vú Dài” đăng trên nhật báo Hoà Bình năm 1970 cho thấy tình trạng báo chí Sài Gòn những năm 1970, thời gian đã có những ông ký giả Việt Tấn Xã tài tuấn đưa một luồng gió mới vào làng báo, cái gọi là báo chí Sài Gòn Tiến bộ “Con Ma Vú Dài” không có một xu teng cao cấp hơn cái gọi là báo chí Sài Gòn hạ cấp “Khỉ Cà Mâu..”

Nghe nói trong Khu Kiên Giam Nhà Tù Chí Hòa có Ma. Kiên giam Nhà Tù Chí Hòa là những phòng nhỏ, thường giam một người, nhiều nhất là giam hai người. Bọn Công An cho người tù mới bị bắt vào phòng kiên giam để người tù này không thể gặp những người tù khác. Tôi không biết trước năm 1975, khu kiên giam này được gọi bằng cái tên gì.

Tôi nghĩ tôi không cần phải tưởng tượng, trong những phòng giam Nhà Tù Chí Hòa có biết bao nhiêu người chết oan, oan hồn họ luẩn quẩn trong đó. Nhà Tù Chí Hòa hắc ám, ghê rợn, đầy, nặng những oan khiên, những uất hận, mà không có ma thì còn nơi nào có ma? Tôi nằm phơi rốn 4 năm trong Nhà Tù lớn nhất Ðông Dương ấy – tôi nhát, yếu bóng viá, tôi sợ ma nhất Bắc Kỳ, nhì Ðông Dương – nhưng tôi không thấy, tôi cũng không gặp người tù nào chính mắt  thấy Ma Quỉ trong Nhà Tù Chí Hoà.

Nhưng có nhiều đêm có tiếng Rú tập thể phát lên trong Khu BC của Nhà Tù. Tiếng Rú vang động làm nguời tù khắp các khu choàng tỉnh. Tiếng Rú hú lên trong vài giây rồi thôi. Trong hơn 1500 đêm tôi sống trong những Phòng 10, Phòng 9 Khu ED, Phòng 20 Khu FG, có bốn, năm đêm tôi nghe tiếng Rú ấy. Nghe nói anh em Tù Hình Sự – trộm cướp, giết người – bị giam trong Khu BC, nửa đêm có người đang ngủ choàng dậy trông thấy bộ mặt quỉ sứ hiện lên trong phòng, anh tù này Rú lên, anh em Tù toàn phòng Rú theo. Chỉ có Tù Khu BC bị Phá, bị Sợ đến Rú lên vì nửa đêm thấy Quỷ hiện. Phòng tù ở những khu AH, ED, FG đều bình yên.

Kỳ Hoa Đất Trích. Thu Vàng 2014, hai mươi bốn năm sau buổi sáng xe tù đưa tôi rời Nhà Tù Chí Hoà để đến Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, sống bình yên trên xứ Mỹ, tôi nhớ lại những ngày đêm tôi sống trong Nhà Tù Chí Hòa. Tôi vào Nhà Tù Chí Hoà cùng chuyến xe tù đi từ Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu, cùng với anh em tôi. Tám văn nghệ sĩ. Hai người chết: anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong Nhà Tù Chí Hoà, anh Dương Hùng Cường chết trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, anh Doãn Quốc Sĩ, anh Khuất Duy Trác, anh Trần Ngọc Tự sang Kỳ Hoa, cô Lý Thụy Ý, cô Nguyễn Thị Nhạn, sống ở Sài Gòn.

Khoảng năm 2000, Ngày Cá Tháng Tư đến, tôi làm bản tin:

“Tổ Hợp Modern Inn International mua Nhà Tù Chí Hoà để chuyển thành khu an dưỡng cho những người Âu Mỹ cả đời không được vào tù một lần, nay muốn biết phòng giam nhà tù ra làm sao, đến ngụ như du khách. Tổ Hợp mua khoảng đất vòng quanh nhà tù trong 500 thước. Nhà của dân trong vùng đó được mua lại, trả bằng đô-la tính trên mỗi thước.”

Tin Cá Tháng Tư ấy của tôi được đăng trên một số báo Việt ở K2 Hoa, nhưng không thấy có tiếng vang.

THÉC MÉC MÙA THU

Sổ Xố Mỹ: Không cần mua vé số, chỉ cần ghi tên, nếu trúng số độc đắc người trúng sẽ đưọc chi mỗi tuần 10.000 đô đến trọn đời?

Sổ Xố Mỹ: Không cần mua vé số, chỉ cần ghi tên, nếu trúng số độc đắc người trúng sẽ đưọc chi mỗi tuần 10.000 đô đến trọn đời?

Chín giờ sáng ngày 30 tháng 10, 2014, thấy những tin trên Internet:

- NewYork: con trai chặt đầu bà mẹ, lôi xác ra đường, tự sát.

- Việt Nam: Thêm một người treo cổ trong phòng giam trụ sở Công An. Trong năm 2014, tính tới tháng 10, có 14 người Việt bị bắt giam tự tử trong những trạm công an.

- Heo rừng cắn chết một phụ nữ ở Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Người viết ở Rừng Phong không mong đọc được những tin vui trên Internet; trong mấy tháng dài những tin bọn khủng bố cắt cổ nạn nhân, tin có ảnh đi cùng, tin phi cơ mất tích, tin phà chở người bị chìm, mỗi tai nạn làm chết đến ba trăm, bốn trăm người, tin những thiếu nữ bị bắt cóc, bị giết, xác bỏ trong bụi cây, chân cầu, miệng cống ..v..v..làm trái tim người đọc trầm xuống.

Sáng hôm nay, tin:

- Ông bà Mỹ ở Michigan đã có 12 con trai. Nay bà có bầu, ông bà mong sẽ có cô con gái.

Tin trên làm tôi nhớ một chuyện xẩy ra ở Sài Gòn Xưa – dường như vào khoảng những năm 1970 – ông bà – dường như chủ tiệm vàng – ở bên chợ Tân Định, đã có 12 cô con gái. Nay bà có bầu, ông bà mong sinh cậu con trai. Dường như lần này ông bà có cậu con trai. Tin vui này được đăng trên nhật báo Chính Luận. Tôi đọc tin ấy trên báo.

Năm 1970 Sài Gòn, năm 2014 Arlington, Virginia. Ba mươi tư mùa sầu riêng đi qua cuộc đời, chuyên viên phóng tác tiểu thuyết ở vào tuổi trung niên năm ấy – mái tóc bạnh kim – nay là ông già còm cõi, khuôn mặt in hằn những vết roi đời, mái tóc năm xưa 100.000 sợi nay còn 100 sợi, nếu quên chuyện xưa, nếu kể không đúng chuyện, không phải là sự lạ. Đương sự kể đúng mới là chuyện lạ.

Không biết trong Mười Ba Cô Tân Định có bao nhiêu cô hiện sống ở Pháp, ở Mỹ, ở Úc, ở Việt Nam?? Năm nay – 2014 – các cô chừng trên dưới Năm Bó tuổi đời.

Nên hôm nay, gượng vui, tôi viết những chuyện văn nghệ văn gừng, để quí vị đọc cho tạm quên những đen tối của cuộc đời trong năm, mười phút. Văn nghệ có thể giúp người đọc giải trí. Tôi viết về những théc méc của tôi.

Hịch Tướng Sĩ

Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu mạng Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có ? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được ?

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào ? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu ! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt !

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thực hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào ! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng ?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” làm nguy; nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không ?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy ? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa ?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.

o O o

CTHĐ: Kính thưa Trần Hưng Đạo Đại Vương.

Tôi chắc những người Việt ngày xưa – luôn cả người Việt ngày nay – chẳng ai biết những người tên là Kỷ Tín, Vương Công Kiên, Nguyễn Văn Lập, Cốt Đã Ngột Lang ..v..v.. Tôi tiếc Ngài đã không nhắc đến trong bài Hịch của Ngài những văn thần, danh tướng của dân tộc ta như Lữ Gia, Lý Thường Kiệt, Lê Hoàn….

Lý Thường Kiệt, danh tướng thứ nhất và duy nhất của dân tộc Việt Nam  đã thống lĩnh quân Việt đánh sang đất Tầu. Tôi thắc mắc thấy những người Sài Gòn đặt tên đường phố Sài Gòn năm 1955 đã quên ông. Đến những năm 1960 thành phố Sài Gòn mở con đường qua chợ Tân Bình, tên vị danh tướng Lý Thường Kiệt mới được dùng để đặt tên con đường này.

o O o

Nguyễn Tuân: Ấm đất.

Nguyễn Tuân: Ấm đất.

Ấm đất.

Những buổi có phiên chợ, cụ Sáu ngồi ghé vào nhờ gian hàng tấm của người cùng làng, bày ra trên mặt đất có đến một chục chiếc ấm mà ngày trước, giá có trồng ngay cọc bạc nén, chửa chắc cụ đã bán cho một chiếc. Có một điều mà ai cũng lấy làm lạ, là cụ bán lũ ấm đất làm hai lớp. Mấy kỳ đầu, cụ bán toàn thân ấm và bán rất rẻ. Còn nắp ấm cụ để dành lại. Có lần vui miệng, cụ ghé sát vào tai người bà con:

“Có thế mới được giá. Có cái thân ấm rồi, chẳng nhẽ không mua cái nắp vừa vặn sao? Bán thân ấm rẻ, rồi đến lúc bán nắp ấm, mới là lúc nên bán giá đắt. Đó mới là cao kiến.”

Cụ Sáu cười hề hề, rồi vội quay ra nói chuyện với bạn hàng đang mân mê những cái thân ấm đất đủ màu, cái thì dáng giỏ dâu, cái thì múi na, hình quả vả, quả sung, quả hồng. Cụ đang bảo một ông khách:

- Thế nào tôi cũng tìm được nắp ấm cho ông. Cứ phiên sau lại đây thế nào cũng có nắp. Không, đúng ấm tàu đấy mà. Nếu không tin ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm Tàu.

CTHĐ bàn loạn: Quí vị vừa đọc một đoạn trích trong truyện ngắn Những Chiếc Ấm Đất của Nguyễn Tuân. Tôi sốt ruột khi thấy nhiều người Việt ca tụng văn tài Nguyễn Tuân. Bốc Nguyễn Tuân lên đến mây xanh. Dường như không ai thấy trong những tác phẩm của Nguyễn Tuân có những sự kiện vô lý, ngô nghê, ngớ ngẩn như chuyện những cái ấm đất. Nhân vật bán ấm đất chơi trò láu cá, ma lanh, gạ bán ấm pha trà không có nắp ấm cho người mua giá rẻ, rồi sau đó bán nắp ấm với giá thật đắt. Không ai mua ấm pha trà không có nắp. Ai lỡ mua ấm không nắp để bị bắt buộc phải mua nắp ấm giá đắt, người ta nhổ vào mặt người bán.

o O o

Đại úy Nguyễn Văn Nhung.

Khi anh em ông Diệm cùng Đại Úy Đỗ Thọ và Đại uý Hồ Trung Hậu được dẫn đến chiếc xe M 113 đậu trước cửa nhà thờ Cha Tam thì Đại úy Nguyễn Văn Nhung  ra lệnh tài xế xe M113 mở cửa sau xe và ra hiệu cho hai người bị bắt vào xe.

Ông Nhu phản đối:

“Tổng thống vẫn còn là Tổng thống, đón Tổng thống bằng xe nầy à? “

Đại úy Nhung lầm lì, không trả lời, đẩy mạnh anh em ông Diệm vào trong khoang xe, ra lệnh cho tài xế đóng cửa xe tức khắc. Đáng lẽ xe nầy chở 4 người nhưng vì khoang xe chật, đầy quân dụng nên tôi bảo Đại úy Đỗ Thọ và Đại uý Hồ Trung Hậu sang đi xe khác! Xong, tôi ngồi xe Jeep có Đại úy Nghĩa ngồi băng sau, chỉ huy đoàn xe M 113 đón anh em ông Diệm hướng về Bộ Tổng Tham Mưu.

……..

Đến nơi, khi mở cửa xe M 113 thì sàn xe đẫm máu của anh em ông Diệm, máu tươi tràn ra ngòai sàn xe, ai thấy cũng lấy làm thương tâm, tôi thì hòan tòan sững sờ không ngờ mình là chứng nhân và dính líu trực tiếp vào một cuộc thảm sát vô cùng tàn bạo! Sau nầy, có dịp gặp lại tôi, Đại úy Hồ Trung Hậu cám ơn rối rít. Ông nói:

“Nếu hôm đó tại Nhà thờ Cha Tam, ông không bảo tôi và Đại úy Thọ sang xe khác thì hai đứa tôi chắc cùng chung số phận anh em ông Diệm, chết dưới bàn tay đẫm máu của Đại úy Nhung!”

Đại uý Nguyễn Văn Nhung được thăng lên Thiếu Tá. Nhưng chỉ đến ngày 30 tháng 1, 1964, xẩy ra cuộc chỉnh lý, Tướng Nguyễn Khánh lên cầm quyền.  Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị bắt giam. Ngày 17 tháng 2 năm 1965, sĩ quan Báo chí Bộ Quốc Phòng của Thủ tướng Nguyễn Khánh loan báo:

“Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sỹ quan tùy viên của Trung tướng Dương Văn Minh, bị bắt giữ hồi đêm 30 tháng 1, 1975, bị giam tại Trại Hoàng Hoa Thám, đã tự vẫn bằng dây giày”.

Có lời đồn Tướng Nguyễn Chánh Thi đã tham gia vào việc đánh đá, tra tấn Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung làm cho Thiếu tá Nhung chết thê thảm. Bà Huỳnh Thị Nhi, vợ TT Nguyễn Văn Nhung, cho biết khi khâm liệm xác ông Nhung, bà thấy trên mặt, trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím, có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô. Như vậy, Thiếu tá  Nguyễn Văn Nhung bị trả thù bằng những đòn đấm đá của nhiều người. Theo báo Dân Ý xuất bản ở Sài Gòn, từ số 140 ngày 1/10/70 đến số 160 thì Thiếu tá Nguyễn văn Nhung đã “bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Lời khai của ông được thâu băng trao cho Tướng Khánh.”

CTHĐ: Tôi thắc mắc: tại sao những Tướng làm đảo chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm lại giết Đại úy Nguyễn Văn Nhung?

o O o

Qua những bài Thơ của Nhà Thơ Nguyễn Du tôi thấy ông kể ông đói dài, đói dzẹt, tóc ông bạc sớm, ông nhiều bệnh, trong 10 năm tuổi đời thanh xuân của ông, từ năm ông 20 đến năm ông 30 tuổi, ông sống nhờ nhà người ở chân núi, ở bãi biển, ông thường buồn thương ngửa mặt nhìn trời, tôi cứ tưởng ông là người cơ thể yếu đuối, ông sống cô đơn, buồn sầu như lời ông tả trong Thơ Ông. Nào là:

Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,
Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
Phong trần đội lý lưu bì cốt,
Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng!

Người đến bước đường cùng không có mộng đẹp,
Trời xoay bể khổ lại để thúc giục thêm bước chân phiêu lưu.
Trong đám người phong trần thân ta chỉ còn da bọc xương,
Trên gối khách buồn tênh, mái tóc rối bù!

Nào là:

Thập tải phong trần khứ quốc xa,
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.
Trường đồ nhật mộ, tân du thiếu,
Nhất thất xuân hàn cửu bệnh đa…

Trải gió bụi mười năm bỏ nước đi xa
Phơ phơ tóc bạc ở nhờ nhà người.
Đường dài ngày muộn, ít có bạn mới,
Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều…

Lại nào là:

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên…

Người tráng sĩ đầu bạc bi ai đứng nhìn trời
Hùng tâm và sinh kế cả hai đều mờ mịt…

Lại lại nào là:

Xuân hàn, hạ thử tối tương xâm,
Nhất ngọa Hồng Sơn tuế nguyệt thâm.
Minh kính hiểu hàn khai lão sấu,
Sài phi dạ tĩnh khốn thân ngâm.
Thập niên túc bệnh vô nhân vấn,
Cửu chuyển hoàn đơn hà xứ tầm?
An đắc huyền quan minh nguyệt kiến,
Dương quang hạ chiếu phá quần âm.

Xuân lạnh, hè nóng cứ theo nhau đánh ta,
Ta nằm bệnh ở Núi Hồng nhiều năm rồi.
Sớm mai lạnh soi gương thấy già và gầy,
Đêm vắng, cửa sài đóng, nghe tiếng rên.
Bệnh đã mười năm, không ai thăm hỏi,
Tiên đan chín lần luyện mới thành, biết tìm đâu ra.
Sao được thấy trăng sáng ở huyền quan,
Chiếu ánh sáng phá tan vầng khí âm u.

Những lời Thơ như thế làm tôi yên trí Thi Sĩ Nguyễn Du là người nhiều bệnh, nhiều buồn, người ông gầy gầy, tóc ông bạc sớm, thận ông suy, một đêm ông đi tiểu bốn, năm lần, ông thường bị đau lưng, thấy đàn bà ông sợ, ông sống nhờ nhà những người quen, khi xét trong túi có 30 đồng tiền ông mừng vì ông có tiền mua rượu, ông làm thơ:

Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử, đông hàn, đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh cố giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Lan mùa xuân, cúc mùa thu.. nay thành chuyện hão,
Nắng mùa hạ, lạnh mùa đông đã cướp đi tuổi trẻ.
Dắt con chó vàng đi tìm vui trên núi Hồng,
Nằm bệnh trong mây trắng bên sông Quế.
Nơi thôn quê mua rượu mãi không chán,
Trong túi còn có ba mươi đồng tiền.

… nhiều ngày ông nhịn đói. Về mặt Tình Dục, nói theo Mỹ là về Sex, chắc ông yếu lắm. Nhưng mà..

Đọc Tiểu Sử của ông tôi té ngửa. Mèn ơi.. Nhà Thơ Lớn của tôi, Nhà Thơ tôi vinh danh là “Thi sĩ tài hoa nhất kể từ ngày dân tộc Việt Nam biết làm Thơ “, không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu, ông là Thuyền Trưởng Ba Tầu. Về mặt Thuyền Trưởng, ông hơn ông Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang một cấp. Nhà Thơ Lớn của tôi 3 vợ, 18 con, 12 trai, 6 gái.

Đấy là Nhà Thơ Thuyền Trưởng đói, bệnh, đấy là Nhà Thơ Thuyền Trưởng sống vất vưởng đến năm 30 tuổi mới ra làm quan và chỉ làm quan có 20 năm. Nếu Nhà Thơ đỗ Tiến Sĩ ngay năm Nhà Thơ 20 tuổi, Nhà Thơ làm quan ngay từ năm Nhà Thơ 22 tuổi, số vợ con của ông sẽ đông đến chừng nào, ông đâu có kém gì thân phụ ông là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm 9 bà vợ, 21 người con! Không những không kém, có thể cái gọi là “năng xuất sinh sản” của ông còn cao hơn thân phụ ông!

Tôi théc méc về chuyện Thi sĩ Nguyễn Du 30 tuổi mới ra làm quan. Ông từ trần năm ông 52 tuổi. Như vậy ông có ba bà vợ từ năm nào trong đời ông? Từ năm ông 20 tuổi hay từ năm ông 30 tuổi?

52 tuổi, ba bà vợ, 18 người con. Phải nói ông là người đàn ông khá mạnh về sinh lý.

Người đời sau viết về đời tư Thi sĩ Nguyễn Du thật nhiều. Tôi chưa thấy ai viết đến chuyện Thi sĩ ba vợ, 18 người con.

Tôi théc méc Thi sĩ Nguyễn Du làm nhiều – rất nhiều – bài thơ vịnh những nhân vật lịch sử Tầu, vịnh và ca tụng Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, Kinh Kha, Dự Nhượng, Chu Du .. v.. v… Ông ca tụng Mã Viện:

Đề Đại Than Mã Phục Ba Miếu

Tạc thông Lãnh đạo, định Viêm khư.
Cái thế công danh tại sử thư.
Hưóng lão đại niên căng qu8ác thước.
Trừ y thực ngoại tận doanh dư.
Đại Than phong lãng lưu tiền liệt,
Cổ miếu tùng san các cố lư.
Nhật mộ thành tây kinh cức hạ,
Dâm Đàm di hận cánh hà như.

Đề Miếu Mã Phục Ba ở Đại Than

Đục thông đường Ngũ Lĩnh đi bình định đất miền Nam.
Công danh hơn đời còn ghi ở sử sách.
Về già nhiều tuổi mà còn khoe quắc thước.
Trừ cơm áo ra hết thẩy đều là thừa.
Giữa sóng gió của Đại Than để lại công lao ngày trước.
Cây tùng, cây sam bên miếu cổ xa cách quê nhà.
Xế chiều, dưới đám gai góc phiá tây thành,
Nỗi than tiếc ở Dâm Đàm * nay như thế nào.

CTHĐ: Nhà thơ không làm qua một bài thơ nào về những nhân vật lịch sử dân tộc Việt, dân tộc của ông. Đoc những bài thơ Bắc Hành của ông, tôi có cảm nghĩ tác giả là một ông Tầu.

Tôi théc méc nhất là chuyện ông chứng kiến trận Vua Quang Trung Nguyễn Huệ thống lĩnh quân dân Việt đánh tan quân Mãn Thanh xâm chiếm Thành Thăng Long. Năm ấy ông 20 tuổi. Nhưng ông không có qua một câu thơ nào về chiến công ấy.

Tại sao thế?

Tôi không thấy ai théc méc về việc những thi phẩm vịnh nhân vật lịch sủ của Nhà Thơ Nguyễn Du gần như không có một nhân vật lịch sủ Việt Nam nào.

Nhiều người cho rằng Nguyễn Du thương tiếc nhà Lê. Nhưng thơ ông cho tôi thấy ông sang Tầu chỉ sau Vua Lê Chiêu Thống khoảng mười năm, ông đi qua những con đường Vua Lê Chiêu Thống đã đi, không có bài thơ nào của ông xót thương Vua Cũ.

———-

* Dâm Đàm: Tên gọi Hồ Tây thời Hai Bà Trưng, Mã Viện. Thời ấy – tôi chắc – hồ thông với sông Hồng nên năm năm, trong mùa nước lớn, nước sông Hồng chẩy vào hồ Tây, hồ rất rộng. Thơ Tầu ghi thời Mã Viện đến hồ ấy, thấy hồ rộng đến độ chim bay qua mỏi cánh, rơi xuống hồ. Thời xưa ấy sông Tô Lịch cũng thông với sông Hồng. Đời nhà Lý cho đắp đê sông Hồng, nước sông Hồng không chẩy vào hồ Tây; hồ Tây thu nhỏ, sông Tô Lịch thành sông cạn. CTHĐ

NGOẠI LAI, NỘI KHỨ

loc1Những năm 1960 nhiều lần tôi đọc thấy trong những bài viết Chống Cộng câu:

Chủ nghĩa Cộng sản là một chủ nghĩa ngoại lai..”

Những năm xưa ấy tôi mù tịt về chuyện chính trị, chuyện chủ nghiã, tôi cũng thấy théc méc:

“Chống cộng sản, vạch tội nó, ghê tởm nó, thù ghét nó, tiêu diệt nó để cho đồng bào mình không bị khổ vì nó,   không phải chỉ vì nó là một “chủ nghĩa ngoại lai” mà là vì nó xấu, nó ác, nó phá hoại xã hội, nó làm khổ nhân dân.”

Và tôi nghĩ có cái chủ nghĩa nào, tôn giáo nào trong nước tôi, dân tôi theo, tin, chống .. v..v.., không phải là “ngoại lai” không? Rõ hơn: có chủ nghĩa nào, tôn giáo nào không phải từ nước ngoài vào, không phải do người nước ngoài mang vào nước tôi: Khổng giáo, Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo. Dân chủ, Tư bản, Cộng sản ?

Dân tộc tôi đón nhận những đạo giáo, chủ thuyết, lối sống từ nước ngoài vào, dân tộc tôi có cái gì từ trong nước đưa ra nước ngoài cho người thế giới theo không? Ngắn gọn hơn: có cái gì đặc biệt, do người Việt nghĩ ra, làm ra – từ trong nước tôi đi ra thế giới, được người thế giới quí trọng, làm theo, trong cuộc sống 80 mùa thu vàng của tôi không?

Hôm nay, một buổi sáng mùa Thu 2014, tôi trả lời câu hỏi trên trong bài viết này.

Ngoại nhập, Nội xuấtNgoại lai thì phải là Nội khứ.

bomb1

Việt Cộng đánh mìn giết dân ở trước Toà Đô Chánh. Sài Gòn.

Dân tộc tôi – Việt Nam – trong cuộc đời 80 mùa thu lá bay của tôi, có Hai Thứ Đặc Biệt đi ra ngoại quốc. Hai việc được người Việt nghĩ ra, chế ra, làm trong nước, được người ngoại quốc làm theo.

Một: Đánh mìn. Việc này được bọn Việt Minh làm trong những năm 1946-1954. Trong chiến tranh Việt Pháp, trong những thành phố, Việt Minh ném tạc đạn. Sự tác hại của tạc đạn không nhiều. Từ năm 1960 đến 1975, Việt Cộng bỏ tạc đạn, dùng mìn giết dân Việt trong những thành phố; nhiều nhất là ở Sài Gòn.

Bài viết này có ảnh ghi cảnh người dân Sài Gòn chết thảm vì mìn Việt Cộng trước Tòa Đô Chính, Sài Gòn, và ảnh người Sài Gòn chết thảm vì mìn Việt Cộng trong Nhà Hàng Nổi Mỹ Cảnh ở bờ sông Sài Gòn. Hai vụ xẩy ra trong khoảng trước sau năm 1965. Các nhật báo Sài Gòn thời ấy tự ý không làm lớn hai vụ VC đánh mìn vừa kể, vì làm lớn chuyện có cái hại như là quảng bá việc làm man rợ của bọn Việt Cộng.

Võ Sư Nguyễn Lộc – Vị Võ Sư sáng lập Việt Võ Đạo - ảnh năm 1944 ở Hà Nội.

Võ Sư Nguyễn Lộc – Vị Võ Sư sáng lập Việt Võ Đạo – ảnh năm 1944 ở Hà Nội.

Những năm 1947-1953 Việt Minh giết dân thành phố bằng tạc đạn.

Những năm 1960- 1975 Việt Cộng giết dân Việt bằng mìn.

Từ 1990 người thế giới bắt chước trò giết người bằng mìn của bọn Việt Cộng. Hai mươi năm qua, người thế giới tiến đến việc dấu mìn trong người, cho nổ mìn và cùng chết với mìn.

Trò giết người bằng Mìn do bọn Việt Cộng đưa ra những nước ngoài.

Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà có cho “ngoại khứ” một Việc Tốt. Đó là Việt Võ Đạo.

Việt Võ Đạo thường đưọc gọi bằng cái tên VOVINAM: Võ Việt Nam. Võ Việt Nam do Võ Sư Nguyễn Lộc sáng lập, được công bố, mở trường dậy võ thứ nhất ở Hà Nội khoảng năm 1950.

o O o

VOVINAM – Việt Võ Đạo là môn võ được Võ sư Nguyễn Lộc sáng lập năm 1936 nhưng đến năm 1938 mới đem ra phổ biến đồng thời ông đề ra chủ thuyết “cách mạng tâm thân” để hướng dẫn môn sinh luôn luôn canh tân bản thân, và hướng thiện về thể chất lẫn tinh thần.

Vovinam là tên quốc tế của võ thuật – võ đạo Việt Nam.

Trong các môn võ của Việt Nam, hiện nay Vovinam được phát triển qui mô và rộng lớn nhất với nhiều môn sinh ở hơn 60 nước trên thế giới, trong đó có Ba Lan, Bỉ, Campuchia, Đan Mạch, Đức, Hoa Kỳ, Maroc, Na Uy, Nga, Pháp, Romania, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Singapore, Uzbekistan, Thái Lan, Ý, Úc, Ấn Độ, Iran, Tây Ban Nha, Algérie, Đài Loan…

Sáng Tổ  môn phái Vovinam là Võ Sư Nguyễn Lộc.

Năm 1938, võ sư Nguyễn Lộc giới thiệu Vovinam với công chúng.

Năm 1960, võ sư Nguyễn Lộc qua đời tại Sài Gòn sau khi trao quyền lãnh đạo Vovinam cho người môn đệ trưởng tràng là võ sư Lê Sáng. Từ 1960, võ sư Lê Sáng tiếp nhận chức Chưởng Môn môn phái và chịu trách nhiệm phát triển và quảng bá rộng rãi Vovinam ra toàn thế giới.

Từ năm 1966, môn Vovinam được đưa vào giảng dạy ở một số trường công lập Quốc gia Việt Nam Cộng Hoà..

Năm 1974, ở Pháp, giáo sư Phan Hoàng gây dựng nền móng phát triển Vovinam ở Âu châu.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, một số võ sư ra nước ngoài đã phổ biến Vovinam ra toàn thế giới, những võ sư còn lại trong nước gồm Chưởng Môn Lê Sáng tiếp tục duy trì việc phát triển Vovinam tại nơi đã khai sinh ra nó là Việt Nam.

10 điều tâm niệm của môn sinh Việt võ đạo, bản mới nhất do Võ sư Nguyễn Văn Chiếu biên soạn và công bố năm 2009:

  1. Việt võ đạo sinh nguyện đạt tới cao độcủa nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại.
  2. Việt võ đạo sinh nguyện trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên dấn thân hiến ích.
  3. Việt võ đạo sinh đồng tâm nhất trí, tôn kính người trên, thương mến đồng đạo.
  4. Việt võ đạo sinh tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh dự võ sĩ.
  5. Việt võ đạo sinh tôn trọng các võ phái khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.
  6. Việt võ đạo sinh chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau dồi đạo hạnh.
  7. Việt võ đạo sinh sống trong sạch, giản dị, trung thực và cao thượng.
  8. Việt võ đạo sinh kiện toàn một ý chí đanh thép, nỗ lực tự thân cầu tiến.
  9. Việt võ đạo sinh sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động.
  10. Việt võ đạo sinh tự tín, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn luôn tự kiểm để tiến bộ.

o O o

bomb2

Tiểu sử Võ Sư Nguyễn Lộc

Nguyễn Lộc (1912-1960) là một tôn sư võ thuật, sáng tổ môn võ Vovinam. Ông sinh ngày 24 tháng 5 năm 1912, tại làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây.

Khi còn nhỏ, thể chất ông không được tốt, ông được gia đình cho theo học võ, để phòng thân và tăng cường sức khoẻ. Do thông minh, và lòng đam mê võ học, ông nhanh chóng tiếp thu những tinh hoa võ thuật Việt Nam.

Sau thời gian dài rèn luyện nhiều môn võ, ông Nguyễn Lộc đã nghiên cứu, phân tích đặc điểm kỹ thuật của từng môn võ, đặc biệt là các môn võ và vật cổ truyền Việt Nam, để đi tới sáng tạo một hệ thống kỹ thuật võ học mới với tên gọi buổi đầu là Võ Việt Nam (Còn được gọi là Việt võ đạo). Một môn sinh Võ Việt Nam với tư cách cá nhân có thể rất hiền lành, nhã nhặn, song khi bắt buộc mang danh nghĩa dân tộc và môn phái chiến đấu với ai thì chỉ có thể hoặc chiến thắng vinh quang hoặc chết vẻ vang chứ không chịu làm nhục quốc thể và tổn thương danh dự môn phái. Với luận cứ đó, ông đã lấy môn vật và võ cổ truyền Việt Nam làm nòng cốt, khai thác mọi tinh hoa võ thuật đã có trên thế giới để sáng tạo thành môn phái riêng đặt tên là Võ Việt Nam. Cuộc nghiên cứu hoàn tất. Ông đem Vovinam ra truyền dậy cho một số thân hữu vào năm 1938.

Năm 1938, môn võ này bắt đầu được truyền thụ tại Hà Nội, do võ sư Nguyễn Lộc đích thân huấn luyện. Một năm sau, môn võ  được nhiều giới biết tới. Hội Thân Hữu Thể Dục Hà Nội của bác sĩ Đặng-Vũ Hỷ mời Võ sư Nguyễn Lộc cộng tác để mở các lớp dạy võ.

Mìn gài trong người tên khủng bố tự sát.

Mìn gài trong người tên khủng bố tự sát.

Mùa Thu 1939, Võ sư Nguyễn Lộc  đem lớp võ sinh đầu tiên ra mắt dân chúng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Cuộc biểu diễn thành công rực rỡ, nên bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (Trưởng Hội Thân Hữu Thể Dục Thể Thao đương thời) mời ông cộng tác. Hội muốn tổ chức những lớp dạy võ cho thanh niên Hà Nội. Nhận lời mời, Võ Sư Nguyễn Lốc  khai giảng lớp võ công khai đầu tiên vào mùa xuân 1940 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Lúc này,  môn Võ Việt Nam được viết tắt là Vovinam. Sau đó nhiều lớp võ liên tiếp được mở ra. Môn sinh Vovinam thời đó rất tiến bộ nhờ phương pháp huấn luyện tinh vi và khoa học, nhớ tinh thần đạo đức dân tộc của môn phái và nhất là nhờ ảnh hưởng trực tiếp cái gương uy vũ bất năng khuất của Võ Sư Chưởng Môn. Sự phát triển của Vovinam khiến nhà cầm quyền Pháp e ngại và đã ra lệnh cấm không cho Võ sư Nguyễn Lộc dạy võ. Lệnh cấm này là một hàng rào ngăn chặn sự mở rộng môn phái nhưng lại có tác dụng thúc đẩy toàn thể môn sinh quyết tâm hơn trong ý chí luyện võ. Trong thời gian bị nhà cầm quyền Pháp ngăn cấm, ông Đặng Vũ Kính đã sử dụng quyền bất khả xâm phạm của một nghị viên đứng ra che chở, bảo vệ các môn sinh Việt Võ Đạo, nhờ vậy mà các lớp võ bí mật vẫn được tổ chức và hoạt động cho tới khi chế độ thực dân Pháp bị Nhật thay thế.

Năm 1946, khi cuộc kháng chiến bùng nổ, Võ sư Nguyễn Lộc  cùng một số môn sinh mở nhiều lớp huấn luyện võ thuật tại vùng Thạch Thất, tại trường Quân chính Trần Quốc Tuấn, tại phường Cổ Đông, thị xã Sơn Tây, và nhiều địa phương khác: Đan Phượng, Vĩnh Tường. Tháng 8 năm 1948, võ sư Nguyễn Lộc trở lại Hà Nội tiếp tục mở lớp dạy võ.

Năm 1951, ông thành lập Việt Nam Võ Sĩ Đoàn và mở rộng việc truyền bá võ thuật qua các lớp võ đại chúng tại sân trường Hàng Than, Hà Nội.

Tháng 7 năm 1954, Ông vào Nam. Cùng một số đệ tử tâm huyết mở võ đường tại Sài Gòn. Ông cử các võ sư môn đệ phụ trách huấn luyện võ thuật cho Hiến Binh Quốc Gia, Trung tâm Huấn luyện Hiến Binh Quốc Gia Thủ Đức  các lớp võ cho Công Binh, Quân lực Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 30 tháng 4 năm 1960, Võ Sư Nguyễn Lộc từ trần tại Sài Gòn, lúc ông mới tròn 48 tuổi. Trước khi từ trần, ông trao quyền chưởng môn cho ông Lê Sáng.

CTHĐ: Những môn Võ Quyền Anh, Võ Thiếu Lâm, Judo, Jiu Jít su. Hapkido, Takondo – Nhu Đạo, Hiệp Khí Đạo – Karaté – Không Thủ Đạo..v..v.. từ những nước ngoài vào nước Việt. Toàn là “Ngoại lai.”

Nước Việt có môn Võ đi ra nước ngoài. “Nội khứ.” Đó là môn VOVINAM.

Tôi thấy Võ Sư Nguyễn Lộc có khuôn mặt, dáng người phong nhã, Nói gọn là “đẹp trai.” Tôi đăng cùng bài viết này ảnh Võ Sư Nguyễn Lộc đội mũ phớt. Feutre: dạ, nỉ. Hàng chữ viết trong ảnh cho biết ảnh chụp năm 1944. Người chơi mũ phớt nhìn ảnh sẽ thấy hình thể mũ phớt những năm 1960-1960 khác với hình thể mũ phớt những năm 199, 2000. Mũ phớt năm xưa quả lớn, bord – vành mũ rộng. Mũ phớt hiện nay, mũ Pháp, mũ Mỹ, đều quả nhỏ, vành ngắn, gọn.  Tôi thích đội mũ phớt. Năm 1950 tôi đứng trước tủ kính một tiệm Nouveatés ở Hàng Đào, Hà Nội, ngắm chiếc mũ phớt hiêu Fléchet mầu nâu bầy trong đó. Tôi định bụng:

“Ngày nào mình kiếm được tiền, mình sẽ đội mũ phớt.”

Năm 1952 tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tòa soạn đường Lê Lợi. Lãnh lương tháng thứ nhất trong đời – 1500 đồng – tôi đến ngay tiệm bán Mũ của chủ nhân Tầu, tiệm cũng trên đường Lê Lợi , gần chợ Bến Thành – năm 1952 là đường Bonard – mua cái mũ phớt đầu tiên trong đời tôi. Mũ Fléchet mầu nâu nhạt, giá 200 đồng.

Vì thích đội mũ phớt, tôi đăng ảnh Võ Sư Nguyễn Lộc đội mũ phớt trong bài bày.

Trên Internet, trong tiểu sử Võ Sư Nguyễn Lộc, không thấy ghi nghề nghiệp của ông.

MÙA THU…LÁ VÀNG…TIẾNG GỌI…

Trên vỉa hè Hà Nội, Lộc Vàng bật lửa cho Toán Xồm châm thuốc. Ảnh Lộc Vàng.

Trên vỉa hè Hà Nội, Lộc Vàng bật lửa cho Toán Xồm châm thuốc. Ảnh Lộc Vàng.

Tôi thấy nữ văn sĩ Quỳnh Dao của Đài Loan là nhà văn nữ Á châu viết nhiều tác phẩm nhất Á châu. Tiểu thuyết của bà tái bản ở Hoa Kỳ đến cả năm, sáu mươi  quyển. Tôi – CTHĐ – không đọc một trang truyện nào của Quỳnh Dao. Nhưng tôi – không muốn, không tìm – trong nhiều năm tôi vẫn nghe tiếng hát bài “Muà Thu Lá Bay”, bản nhạc lấy ý từ tiểu thuyết “Mùa Thu Lá Bay” của Quỳnh Dao. Trong những năm 1970, nhiều người Sài Gòn trẻ ưa thích, hay hát bản nhạc này. Bốn mươi mùa thu qua, tôi nhớ một lời ca:

Mùa thu lá bay…
Hẹn nhau kiếp sau ăn gà xé phay…

Để nhớ những mùa thu xưa ở quê nhà, mời đọc lại lời ca:

Một ngày sống bên Em sẽ muôn đời
Dẫu cho mưa rơi đá mòn tháng năm
Lạy Trời được yêu mãi nhau người ơi
Đừng mang trái ngang chia lìa lứa đôi

Thế gian ơi sao nhiều cay đắng
Tình vẫn đắm say, người cũng xa ta rồi
Ngồi ôm vết thương lòng đớn đau
Nghe tình rên xiết trong tim sầu

Mùa thu lá bay Em đã đi rồi
Vỡ tan ôi bao giấc mông lứa đôi
Giờ đành lìa xa thế nhân sầu đau
Hẹn nhau kiếp sau ta nhìn thấy nhau.

Tôi không biết ai là tác giả lời ca Việt. Nghe được quá.

Nhiều lần tôi xúc động vì lời ca:

Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội
Tuổi phong sương anh vẫn gắng quay về..

Người viết Trần Trung Sáng kể:

Những ngày đại lễ “1000 năm Thăng Long – Hà Nội”, trong những khúc hát hân hoan vang lừng trên phố phường Hà Nội, hẳn rằng không thể thiếu những câu hát:

“Có nhớ mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau xôn xao phím dương cầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về…”.

Thế nhưng, mấy ai biết: người viết nên những lời thơ của bài ca ấy, nhà thơ Tô Như Châu trước khi qua đời cách đây gần 10 năm, vẫn chưa một lần được đặt chân đến Hà Nội.

Muà Thu Hà Nội

Muà Thu Hà Nội

Vào khoảng năm 1995, một buổi sáng, xuất hiện trước cửa văn phòng nơi tôi làm việc, một người đàn ông dựng chiếc xe đạp cũ, cà tàng, bước vào. Anh bận áo thun, quần jean, gương mặt rắn rỏi, phong trần, khó đoán tuổi. Sau mấy lời chào hỏi, anh ngỏ lời, muốn được làm một chân bỏ báo (một dịch vụ phát báo tới từng nhà  trực thuộc cơ quan báo do tôi đang làm đại diện.) Hỏi chuyện một hồi, được biết: anh là Tô Như Châu, nguyên công nhân điện lực – tác giả bài thơ “Có phải em mùa thu Hà Nội” được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ thành ca khúc nhiều người yêu chuộng lâu nay. Ngờ đâu, từ đó định mệnh đã gắn liền nhà thơ Tô Như Châu với công việc đi phát báo, đưa báo từng nhà đến phút cuối cùng..

Trên thực tế, ca khúc “Có phải Em Mùa Thu Hà Nội” từng có tiếng trong một băng nhạc tại miền Nam trước 1975, từ 1990 bài ca được phổ biến trở lại với giọng hát Hồng Nhung, rồi Thu Phương… khiến nhiều người ngỡ đó là bài hát mới. Đáng nói hơn, ngay thời điểm anh Tô Như Châu bắt đầu nhận công việc đi bỏ báo thì bài hát này bỗng dưng rộ lên trở thành ca khúc Top 10 về Hà Nội. Hầu như mọi lúc mọi nơi, hang cùng ngõ hẻm nào cũng thường xuyên vang lên những lời ca: “Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội? Tuổi phong sương Anh  vẫn gắng đi tìm…” .

Tô Như Châu tên thật là Đặng Hữu Có,  sống và làm thơ ở một xóm nhỏ cạnh bến đò An Hải, Sơn Trà, Đà Nẵng. Theo anh, bài thơ nói trên được anh làm từ thời anh còn rất trẻ. Cũng giống như nhiều thanh niên miền Nam thời đó, anh rất mê những cô gái Bắc di cư, và anh đã mơ mộng về mùa thu Hà Nội qua hình ảnh một cô gái Bắc xõa tóc thề ngồi bên phím dương cầm. Bài thơ được Trần Quang Lộc, một nhạc sĩ trong nhóm thân hữu thường gặp anh thời đó đã đồng cảm phổ thành ca khúc hát chơi với bạn hữu. Cả hai người mơ ước ngày thống nhất cùng về Thăng Long, nhưng khi hòa bình đến thì mỗi người thất tán mỗi nơi…

Từ nỗi khát vọng chưa thành tựu ấy, có lần khi đi vòng quanh bỏ báo trên mọi ngã phố trở về, sau khi nghe lại tác phẩm của mình, trán còn lấm tâm mồ hôi, Tô Như Châu đã bày tỏ hạnh phúc không kiềm được qua bài thơ “Đi bỏ báo ngheTthơ phổ Nhạc”:

 “Anh con ngựa già chưa mỏi vó

Vẫn thênh thang bước nhẹ quanh đời

Đi tung bờm tóc gió

Quẳng gánh hương xa lên tiếng gọi mời…”

Đây là một bài thơ hay, xúc động thứ hai, sau “Mùa Thu Hà Nội” của anh. Trong đó, nhiều đoạn anh viết :

“Nghe em hát mùa thu vàng rực rỡ

Bỗng xôn xao nghiêng ngả đường chiều

Răng khểnh, soi Hồ Gươm yêu dấu

Đà Nẵng tung hê một trời thương yêu”

 Hoặc:

“Có phải Em Mùa Thu Hà Nội

Mùa thu trong veo mùa thu tuyệt vời

Sống đẹp âm thầm và khát vọng

Bỏ báo, đọc thơ, nghe nhạc đã đời”

Thế nhưng, niềm vui ấy chắng được bao lâu, thì Tô Như Châu phát hiện ra: trên tất cả các phương tiện đem ca khúc “Có phải Em Mùa Thu Hà Nội” đến với công chúng, hầu như chỉ có tên người viết nhạc, mà không có tên tác giả lời thơ. Nỗi bức xúc chính đáng của anh dần dà được bạn bè thân hữu thấu hiểu, sẻ chia và phản ánh trên một số tờ báo cả nước. Đầu tiên, nhạc sĩ Trần Quang Lộc giải trình lấp liếm, đại khái:

“Chưa hề biết Tô Như Châu là ai, chỉ nhớ thời trai trẻ ở Đà Nẵng gặp một người tên là Có đem đến một bài thơ dài, tôi phải sửa chữa lại nhiều đoạn rồi mới phổ thành bài hát như bấy giờ…”

Dù vậy, trước những chứng cứ rõ ràng về tình bạn giữa hai người – giữa Tô Như Châu và Trần Quang Lộc -  nhất là việc bài bài hát đã được phổ biến ghi rõ tác giả lời và nhạc từ trước 1975, nên một thời gian sau, vị trí của Tô Như Châu được trả lại đúng chỗ trên tác phẩm. Các đơn vị phát hành ca khúc cũng hứa sẽ giải quyết nhuận bút bản quyền cho Tô Như Châu theo quy định (Dù vậy, lời hứa đó vẫn chỉ là lời hứa…cho đến ngày nhà thơ vĩnh viễn ra đi).

Năm 1998, Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành tập thơ “Có phải Em Mùa Thu Hà Nội”, gồm 36 thi phẩm, kể cả bài thơ đầu tiên và bài mới nhất của Tô Như Châu. Được sự ủng hộ của nhiều bạn đọc, bạn hữu, không lâu sau đó, Tô Như Châu dự định ấn hành một tác phẩm mới gồm một số bài thơ tươi trẻ về Đà Nẵng, Bà Nà, bóng đá…Và nhân đó, sẽ một lần thực hiện chuyến thăm “Hà Nội …Mùa Thu của Ước Mơ.”

Thế nhưng, khoảng giữa năm 2002, khi những niềm hưng phấn  đang dâng tràn, một cơn bạo bệnh ập xuống cắt đứt mọi hoài bão của Tô Như Châu – từ khát vọng “mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi” đến những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi “là hạnh phúc quán vỉa hè chút rượu”, và kể cả “bỏ báo đọc thơ nghe nhạc đã đời”… Song với những người yêu thơ, những người yêu Hà Nội, cái tên Tô Như Châu sẽ chẳng bao giờ bị lãng quên.

Ngưng trích.

CTHĐ: Những năm 1976, 1977, tôi nghe nhiều người Hà Nội vào Sài Gòn kể chuyện ở Hà Nội những năm 1960 có những người lén nghe thứ nhạc trước 1954 – gọi là “Nhạc Vàng’ – bị bắt, ra toà, bị ở tù nhiều năm.

Nghe chuyện, tôi không tin lắm. Chỉ vì nghe mấy bản nhạc tình xưa mà bị tù sao?

Mùa Thu 2014, tôi tìm được chuyện Nhạc Vàng Hà Nội trên Internet:

Với nhiều người Hà Nội, vụ án Phan Thắng Toán và đồng bọn bị xét xử về tội truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại chính sách, pháp luật của Nhà Nước, họ vẫn chưa quên được.

Ông Nguyễn Văn Lộc, người bị coi là chủ chốt. trong vụ án Nhạc Vàng Hà Nội năm xưa  nay là chủ quán cà phê Lộc Vàng tại ven đường Hồ Tây. Hồi đó anh Lộc và một số người bạn của anh vì yêu mê Nhạc Tiền Chiến nên đã thành lập một nhóm bạn nhạc để tụ tập đàn hát nhạc của Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đặng Thế Phong…và các nhạc sỹ miền Nam như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng…Ngày 27/3/1968, nhóm nhạc anh Lộc bị bắt, bị  giam ở Nhà Tù Hỏa Lò 3 năm. Ba ngày 6,7,8 tháng 1 năm 1971 Tòa Án Nhân Dân Hà Nội mở phiên toà xét xử những người bị coi là phạm tội vì hát loại nhạc gọi là Nhạc Vàng. Tòa tuyên án Toán “xổm” 15 năm tù, Nguyễn văn Đắc 12 năm tù, anh Lộc 10 năm tù…Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, anh Lộc được giảm án xuống còn 8 năm tù. Năm 1976 anh ra tù

Thương tâm nhất là anh Toán “xổm.” Khi mãn án ra tù, anh mất hết tất cả, không nhà, không vợ con, không việc làm, anh sống nhờ  các bạn anh, sau cùng anh nằm chết ở vệ đường vào năm 1994.

Ra tù anh Lộc  đi làm thợ hồ, nhưng tình yêu nhạc vàng, nhạc tiền chiến trong tim anh không nguội lạnh. Anh quyết định mở quán Lộc Vàng để có nơi, có người nghe anh  hát những bản Nhạc một thời bị coi là “nhạc phản động.” Nhiều người Hà Nội coi những nhạc phẩm Vàng  đó quý hơn vàng y. Bây giờ Quán Lộc Vàng  luôn đông khách. Những đêm thứ ba, đêm thứ năm, đêm thứ bẩy trong tuần tiếng hát Nhạc Vàng vang lên trong quán

Khi nhắc đến người vợ của anh, anh Lộc thường ưá nước mắt, vợ anh qua đời năm 2002, để lại cho anh 2 đứa con. Người vợ đã yêu anh trước khi anh bị bắt, chị chờ đợi anh qua 8 năm anh ngồi tù để làm vợ anh. Anh Lộc nói năm đầu ra tù anh phải đi vào Quy Nhơn  làm thuê để dành tiền về cưới vợ. Anh nói không bao giờ anh quên chị, chị đã hy sinh cả cuộc đời cho  anh vì yêu anh.

Anh kể chị vợ anh  thích nghe anh hát bài “Niệm khúc cuối” của Ngô Thụy Miên. Từ ngày chị ra khỏi cõi đới, anh không thể hát được bài hát đó nữa, vì khi anh vừa cất tiếng  lên thì anh lại nghẹn lời muốn khóc vì thương cảm.

Báo Hà Nội ngày 12/1/1971 đưa tin Phan Thắng Toán và đồng bọn bị bắt, bị toà án xét xử về “tội: truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại chính sách pháp luật của Nhà Nước.”

Tôi chưa nghe người nào hát nhạc phẩm “Gửi người em gái “của Đoàn Chuẩn- Từ Linh hay bằng anh Lộc Vàng. Một giọng hát  trữ tình và sâu lắng. Anh hát đúng bản gốc của tác phẩm này, anh cho biết nhạc phẩm “Gửi người em gái “được thu âm và hát bây giờ đã bị thay lời quá nhiều, nhất cả khi các ca sỹ hải ngoại hát nó.

Tôi tự hỏi trong đám văn nghệ tào lao và khoe mẽ trên truyền thông hôm nay, có mấy ai có được phẩm giá và đam mê âm nhạc như anh Lộc

Tôi được ngồi uống cafe cùng bác Lộc Vàng trong một buổi chiều rét buốt của mùa đông Hà Nội. Nhâm nhi ly cafe và nghe bác kể chuyện ngày xưa, nhiều lúc tôi muốn rớt nước mắt, tôi thương cho một người dành tất cả cho đam mê của mình. Tiếc là lúc đó tôi không có ghi chép lại, may đọc được bài viết của bạn Nguyễn Tuấn Ngọc, xin phép tác giả được đăng bài lên website này!

Chuyện xưa, kể lại…

Báo Công Thương - 09/02/2013

Đầu năm 1968,  tôi đang là thiếu sinh quân, sang học tập tại nước bạn, tôi nhận được thư nhà gửi sang, thư của bố tôi. Ông là một sĩ quan quân đội, bận chuyện quân ngũ, chiến trường, ông lấy đâu ra thời gian mà viết thư dài cho tôi.

Đọc thư ông, tôi được biết ở nhà đang có chuyện động trời: Một vụ án sắp đưa ra xét xử- vụ “Toán Xồm.” Trong thư, ông bố tôi khuyên tôi chú tâm vào việc học, tiếp thu tinh hoa nước bạn, để về phụng sự Tổ quốc. Chứ ở trong nước, một số thanh niên đang sa đà vào lối sống “đồi trụy,” lối sống đầu độc tinh thần lớp trẻ thành thị, làm suy sụp ý chí chiến đấu của thanh niên…

Rất nhiều tội lỗi tày trời mà trong lá thư “ông già” viết có đề cập tới thú chơi “tàn bạo” của nhóm “Toán Xồm” rằng: họ  uống rượu Tây, hút thuốc lá ba số ( Thuốc 555, hồi đó chúng tôi thường gọi thuốc lá có cán, có chuôi), uống bia thì đổ bia lên người phụ nữ rồi mút, liếm… Nếu những năm đó, ai được xem phim “Nổi Gió” có một tiểu cảnh ca nhạc ở miền Nam, đoàn làm phim phải thuê nhóm Toán Xồm biểu diễn, có thế thấy họ trong phim đó. Còn nếu đúng như thư bố tôi kể thì quả thật là kinh khủng, mức sống của họ quá cao so với một xã hội tem phiếu.

Sau này khi về nước, tôi hỏi lại ông bố tôi, thì được biết ông cũng chỉ được nghe người ta nói lại. Nhưng ấn tượng xấu về vụ án đó đã khiến gia đình tôi quyết tâm khuyên chúng tôi phải vào Trường Đại học Quân sự, ở đó môi trường an toàn, xứng đáng với truyền thống gia đình, phải xông lên tuyến đầu chống Mỹ, tô thắm thêm lá cờ cách mạng. Chứ ở hậu phương, trước sau gì cũng bước theo nhóm “Toán Xồm”. Nghe ông nói, máu tôi sôi lên, quyết tâm mang tấm thân “cường tráng” thời bao cấp, cầm gậy tre, vượt Trường Sơn đi đánh Mỹ. Nhưng, tình thế chiến trường đã thay đổi, đoàn chúng tôi lại được đào tạo ngoại ngữ để đi học nước ngoài, chuẩn bị cho lớp “kế cận”, cách mạng còn lâu dài gian khổ…

Bây giờ, thời đại công dân toàn cầu, thế giới phẳng, thời gian đã có khoảng lùi xa để nhìn lại… những buồn vui ngày xưa!

Một buổi chiều, se lạnh, mưa phùn, một góc hồ Tây bảng lảng sương thu, anh bạn thời thiếu sinh quân rủ tôi đi nhâm nhi cốc cà phê đắng (thiếu sữa, không đường) như thời bao cấp, nghe ông chủ quán hát nhạc tiền chiến: Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Tình nghệ sĩ...

Bạn tôi nói:

“Ông Lộc hát đấy.” “Lộc nào?”- tôi  hỏi lại.

“Lộc Vàng chứ Lộc nào nữa! Ông này nổi tiếng lắm, ông là một nhân vật trong vụ “trọng án văn hóa” năm 1968 ở Hà Nội.” - bạn tôi nói.

Chúng tôi nghe ông “Lộc Vàng” kể lchuyện ngày xưa:

Những năm 1960, những người dân Hà Nội yêu nhạc tiền chiến phải nghe nhạc chui: nghe lén trong nhà mình. Ông Lộc có người bạn là Phan Thắng Toán chơi ghi ta, ông Toán ít cạo râu, vì thiếu lưỡi dao cạo (nên có hỗn danh “Toán Xồm”). Toán Xồm và Nguyễn Văn Thành (“Thành Tai Voi” đệm accordion), Nguyễn Văn Đắc (“Đắc Sọ” đánh trống), thường tụ tập tại nhà ông Thành, hát các bản tình ca của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh…

Thời điểm đó, hai miền Bắc- Nam rền vang  bom đạn. Nhà Toán Xồm ở phố Tô Hiến Thành. Những năm 1960, Toán Xồm đã có đĩa nhạc Steréo, khi mà các gia đình có người đi Liên Xô về mới có Electrophonemono. Ông còn tự chế ghi ta điện từ một ghi ta gỗ, amply cũng tự chế từ hộp bánh bích quy cũ với hai bóng điện tử  dẫn tới hai thùng loa cũng tự đóng. Nghe cũng có Bass có Treffle, tạo nên âm thanh lạ. Thế là một dàn nhạc tư nhân ra đời và… bị bắt.

Ra tù, ông Lộc lấy vợ. Thuở ông 19, cô ấy 17 tuổi, cô mê tiếng hát của ông nhưng đôi người chưa kịp ngỏ lời yêu, thì ông bị bắt, đi tù. Tám năm ông ở sau song sắt, bên ngoài có một người con gái xinh đẹp, mòn mỏi chờ đợi ông.

Ông Lộc ra tù, lý lịch “đen,” không ai dám gần, trừ người con gái ở Đoàn Ca Kịch Trung Ương, cô  da trắng, tóc dài, cô vẫn yêu ông. Ông Lộc ra tù nghèo rớt, người đen, gầy đét, không nghề nghiệp, thế mà vẫn có người yêu xinh đẹp. Ông hãnh diện, tự hào trên đời ông không thể tìm được người đàn bà nào như thế.

Khi cấp trên gọi lên văn phòng khuyên bảo:

“Sao lại chịu làm vợ thằng phản động đi tù về?”

Cô gái không trả lời, hôm sau cô bỏ ngay Đoàn Ca Kịch, cô ra ngồi vỉa hè bán đậu phụ.

Buồn thay, vợ ông bị bệnh. Khi bà mất, ông thức hàng đêm khóc nhớ thương, ân hận. Ông nói, mất mát lớn nhất của đời ông là bây giờ, khi ông đã mở được quán cà phê để sống với niềm đam mê nhạc tiền chiến thì vợ ông đã là người thiên cổ.

Tôi mở quán là để thỏa lòng được hát, thế thôi!”- ông tâm sự.

Đời là vậy, một câu chuyện cảm động, đầy tình nghĩa, cũng rất nhân văn. Một mối tình tưởng như chỉ có trong tiểu thuyết. Vậy mà, nó hiện hữu ngay ở quán cà phê “Lộc Vàng,” quán cà phê trên con đường quanh Hồ Tây  thơ mộng.

Trích trong nhật báo Hà Nội, đăng trên “Tây Bụi.com.”:

Trong ba ngày 6, 7, 8 tháng 1, 1971, Toà án Nhân dân Thành phố Hà-nội đã xử sơ thẩm các bị cáo Phan Thắng Toán, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Lộc, Hà Trung Tân, Trần Văn Thành, Lý Long Hoa, Phạm Văn Ngọ và Lê Văn Trung can tội truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại các chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Phan Thắng Toán, 37 tuổi, hồi giặc Pháp tạm chiếm Hà-nội, đi lính ngụy, làm ở bộ phận mật mã của cơ quan nghiên cứu quân sự của địch.  Toán thú nhận khi ở lại miền Bắc, y đã có tư tưởng không ưa thích chế độ ta, y tán thành quan điểm phản động của bọn “Nhân văn Giai phẩm” và luôn mơ ước có cuộc sống “tự do,” trụy lạc như ở Mỹ và Sài Gòn.

Toán đã tập hợp một số phần tử xấu như: Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Lộc ( tài xế lái ô-tô cho công ty hàng hóa Hà-nội, can tội lấy cắp xăng bị sa thải ); Hà Trung Tân (không nghề nghiệp); Trần Văn Thành (thợ cơ khí bỏ việc, sống du dãng); Phạm Văn Ngọ (thợ nguôi bỏ việc, sống du đãng); Lý Long Hoa, v.v.. thành một ban nhạc nghiệp dư tụ tập chơi nhạc vàng.  Khi đi biểu diễn nhạc kiếm tiền ở những đám cưới, các cuộc liên hoan, chúng tìm cách trình diễn xen kẽ những bản nhạc vàng để truyền bá và thăm dò thị hiếu của đám thanh niên.  Chúng đi tìm mua đĩa hát loại nhạc vàng lọt vào được miền Bắc, đi sưu tầm các bài hát và nhạc vàng cũ, ghi chép các bản nhạc giật, nhạc tâm lý chiến của đài Mỹ và đài Sài-gòn.  Chúng dùng các bản nhạc này để luyện cho nhau những giọng hát, tiếng đàn thật là bi quan, sầu thảm, lả lướt, lãng mạn để đi truyền bá, lôi kéo thanh niên.  Chúng tự tâng bốc lẫn nhau tên này, tên nọ là “ca sĩ số 1″, là “cây đàn số 1″, v.v…

Do các thủ đoạn nói trên, bọn này đã rủ rê được một số nam nữ thanh niên ham thích âm nhạc, nhưng non nớt về nghệ thuật, tụ tập theo bọn chúng.  Chúng thường xuyên tổ chức những buổi chơi nhạc, với lối trang trí “huyền ảo”, kếp hợp cả lời lẽ phỉnh phờ, với câu chuyện kể, về cuộc sống đồi bại, các lối dâm ô trác táng điên loạn của giai cấp tư sản, chúng kích thích, dẫn dắt nam nữ thanh niên đi vào con đường dâm ô, trụy lạc.

Số thanh niên khi đã bị nhiễm độc nhạc vàng thì sinh ra lười biếng, bỏ việc, bỏ học, bỏ nhà đi theo chúng.  Gia đình, nhà trường, cơ quan, xí nghiệp, bạn bè có khuyên răn và ngăn cấm thì chúng bực dọc; lúc đó, bọn Toán lại tiêm thêm cho họ cái nọc độc bất mãn, bằng triết lý cuộc sống “tự do” kiểu Mỹ, bằng triết lý phản động “nghệ thuật vị nghệ thuật”, rồi vu khống xã hội ta không có đất cho tinh thần con người phát triển, v.v…, bọn Toán gợi lên cho lứa tuổi thanh niên những ước mơ kỳ quặc, hoang đường, xa vời, trừu tượng với nội dung cực kỳ phản động và cuối cùng chúng hướng cho lứa tuổi thanh niên ước mơ lối sống Mỹ và Sài Gòn, chống đối lại chế độ ta, trốn tránh nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ quân sự, v.v…

Những hành vi và thủ đoạn phạm tội nói trên của bọn chúng rất thâm độc và xảo quyệt, có ý thức phản cách mạng rõ ràng, đánh trực diện vào các mầm non của đất nước.  Một số nam nữ thanh niên đã bị thấm độc loại văn hóa trụy lạc này và đi vào con đường ăn chơi sa đọa dâm ô trụy lạc.  Một số khác đang có công ăn việc làm hoặc đi học, đã bỏ việc, bỏ học để ăn chơi sao đọa du đãng, cuối cùng phạm tội lưu manh, trộm cắp, hiếp dâm, “làm tiền”, hoặc tuyên truyền phản cách mạng.

Việc làm của bọn này đã gây ảnh hưởng xấu cho phong trào trật tư trị an, phá hoại việc thực hiện một số chính sách của Nhà Nước, nhất là chính sách lao động sản xuất, chính sách nghĩa vụ quân sự… xâm phạm nghiêm trọng đến hạnh phúc, phẩm giá của phụ nữ, đến đạo đức và đời sống của nhiều người, và tuyên truyền xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa trong lúc cả nước đang chiến đấu chống Mỹ xâm lược.

Do tính chất nghiêm trọng của vụ án nói trên, toà quyết định xử phạt Phan Thắng Toán 15 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Đắc, 12 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Lộc 10 năm tù giam và 4 năm bị tước quyền công dân; Hà Trung Tân, 8 năm tù giam và 4 năm bị tước quyền công dân; Lý Long Hoa, 6 năm tù giam và 3 năm bị tước quyền công dân; Trần Văn Thành, 5 năm tù giam và 3 năm bị tước quyền công dân; Phạm Văn Ngọ, 4 năm tù giam, và Lê Văn Trung, 18 tháng tù giam.

Toà tịch thu các tang vật và tiêu hủy tất cả các loại văn hóa phẩm đồi trụy, phản động của các bị can và của những người có liên quan đến vụ án.

Qua vụ án chính trị phản động này, các bậc cha mẹ, các thầy, cô giáo, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và các đồng chí phụ trách chính quyền các cấp càng thấy rõ cần quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục lứa tuổi thanh thiếu niên, kịp thời ngăn chặn và phê phán nghiêm khắc đối với số thanh thiếu niên thích đàn đúm, ham chơi, nhác học, bỏ việc, bỏ nhà, lại có hiện tượng ăn mặc lố lăng, có hành động càn quấy.  Việc giáo dục này cần phải nhẫn nại kiên trì, nhưng cũng phải kiên quyết, triệt để trừ tận gốc, vạch mặt các phần tử xấu còn tiếp tục gây độc cho lứa tuổi thanh, thiếu niên.

Đây là một tư liệu tôi đã tìm ra gần 10 năm trước, nay mới cho phổ biến.  Thêm vài nhận xét -

  1. Những người bị xét xử là người từng sống ở Hà Nội thời trước 1954, đa số là dân Hà Nội gốc.
  2. Tính toàn bộ những người ca hát Nhạc Vàng phải hơn vài trăm người, ở Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định.
  3. Rất hiếm có những đối tượng phạm tội chính trị phản động bị đưa ra trước toà án và bị xét xử công khai như trường hợp này.
  4. Theo tôi  không bao giờ có cái gì “sa đọa dâm ô trụy lạc” xảy ra vì Nhạc Vàng.

CTHĐ: Chuyện người Hà Nội bị bọn Cộng sản giam tù vì lén trình diễn, lén nghe những bản Nhạc Tình cho tôi thấy tôi đã sung sướng đến chừng nào khi tôi được sống những năm tôi trẻ: từ năm 1954 đến năm 1975 – ở Sài Gòn.

Tuy phải sống trong gông cùm Cộng sản đến 20 năm, tôi vẫn không thể ngờ bọn Bắc Cộng lại tàn ác với người Hà Nội đến như thế: chỉ vì nghe nhạc mà bị tù khổ sai 15 năm, 12 năm..

Trước năm 1975 tôi không một lần nghe lời ca “Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội?” Sau 1975 tôi nghe lời ca đó trong căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi, tôi nghe lời ca trong Nhà Tù Chí Hòa, tôi nghe lời ca ấy ở Virginia.

“Có phải Em là Mùa Thu Hà Nội:

Tuổi phong sương Anh vẫn gắng đi tìm..”

Câu hát này của anh H2T:

“Em có nhớ những đêm trăng xa lộ?

Thưở yêu nhau Anh lót áo Em nằm.”

Áo paraverse xanh của Không Quân Mỹ.

Cảm khái cách gì!

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 144 other followers