NỔ NHƯ TẠC ÐẠN

Một kỳ Nổ Như Tạc Ðạn, Trang 3 Nhật Báo Ngôn Luận. Phần trắng ở cột báo thứ 3 là do tác giả viết thiếu truyên, không phải do Bộ Thông Tin kiểm duyệt. Trang báo này đã sống qua 50 năm, kể từ năm 1960 là năm Nổ Như Tạc Ðạn được đăng từng ngày trên nhật báo Ngôn Luận.

Một kỳ Nổ Như Tạc Ðạn, Trang 3 Nhật Báo Ngôn Luận. Phần trắng ở cột báo thứ 3 là do tác giả viết thiếu truyên, không phải do Bộ Thông Tin kiểm duyệt. Trang báo này đã sống qua 50 năm, kể từ năm 1960 là năm Nổ Như Tạc Ðạn được đăng từng ngày trên nhật báo Ngôn Luận.

Tháng Năm 2013, tôi đọc được trên Internet bài của bạn Nhị Linh – và của một số bạn đọc – viết về truyện Phơi-ơ-tông Nổ Như Tạc Ðạn của tôi.

Nhị LinhHoàng Hải Thủy và Nổ Như Tạc Ðạn

Bìa tiểu thuyết Nổ Như Tạc Ðạn, sách tái bản, Sài Gòn 1970.

Bìa tiểu thuyết Nổ Như Tạc Ðạn, sách tái bản, Sài Gòn 1970.

Hoàng Hải Thủy (tức Công Tử Hà Ðông) rất đặc biệt, và là nhà văn vô cùng được mến mộ. Ông từng thế chỗ Vũ Mộng Long tức Duyên Anh tức Thương Sinh, một thần tượng khác của miền Nam một thuở, tại báo Con Ong, lúc Duyên Anh chuyển sang làm cho tờ Tuổi Ngọc; cả Con Ong lẫn Tuổi Ngọc đều là những ấn phẩm từng “sáng dội miền Nam”, đến nay vẫn còn sinh động trong tâm trí rất nhiều độc giả.

Hoàng Hải Thủy: Tôi viết rõ: Không bao giờ tôi “thế chỗ Duyên Anh” trong tuần báo Con Ong. Không ai có thể “thế chỗ” Duyên Anh trong  Con Ong. Khi Duyên Anh làm chủ bút Con Ong, anh viết bao sân, tức với nhiều bút hiệu anh viết gần như tất cả những bài trong Con Ong. Mình anh viết Con Ong. Anh không cần ai khác. Thời ấy theo tôi nhớ chỉ có Dê Húc Càn được DA mời viết mục “Cà Kê Dê Ngỗng.” DA bỏ Con Ong để làm chủ nhiệm-chủ bút tuần báo Tuổi Ngọc, chủ nhiệm Con Ong Minh Vồ mời vài người viết cho Con Ong; trong số có tôi. Tôi chỉ viết cho Con Ong có một trang. Dường như  tên bài viết năm xưa ấy của tôi là “Nói Láo Mà Chơi, “ký tên Công Tử Hà Ðông và Gã Thâm. Cái tên Công Tử Hà Ðông có từ năm đó – khoảng năm 1968 – Duyên Anh Thương Sinh bỏ đi, Con Ong không còn là Con Ong nữa. Bài vở trên Con Ong không ra làm sao cả, Con Ong sống èo uột với cái dư danh của nó.

Nhị Linh: Hoàng Hải Thủy đứng ở giữa hai lĩnh vực: sáng tác và dịch thuật, phần quan trọng nhất trong văn nghiệp Hoàng Hải Thủy là phóng tác.

Hoàng Hải Thủy: Tôi chuyên phóng tác. Rõ hơn tôi “Việt Nam Hoá tiểu thuyết Âu Mỹ.” Tôi làm cho truyện tiểu thuyết Âu Mỹ trở thành truyện tiểu thuyết Việt Nam, chuyện xẩy ra trên đất Việt với nhân vật là người Việt. Tôi thấy đại đa số người Việt thời tôi viết truyện phơi-ơ-tông – những năm 1960 – chưa một lần dùng tô-lô-phôn, chưa một lần lên xuống thang máy, đi máy bay, ngụ phòng máy lạnh. Những người này đọc truyện thấy khó hiểu khi trong truyện có việc dùng điện thoại, lên xuống thang máy. Khi truyện khó hiểu họ không đọc. Tôi chủ trương viết truyện giải trí cho đồng bào tôi. Giải trí là một nhu cầu của con người. Giải trí là một chức năng của văn nghệ. Tôi muốn mang lại cho người đọc truyện tôi những giây phút họ tạm quên cuộc sống khó chịu quanh họ. Tôi thấy người đọc khó nhớ, khó hiểu, khó chịu khi đọc truyện nào nữ nhân vật lúc tên là Liz, lúc tên là Lizzie, vài trang truyên sau là Elizabeth. Tôi phải tìm những tiểu thuyết Âu Mỹ nào có cốt truyện có thể xẩy ra được với những người Việt Nam, xẩy ra trên đất Việt Nam. Tôi cho Ðỉnh Gió Hú, Kiều Giang xẩy ra ở Ðàlạt, Tìm Em nơi Thiên Ðường xẩy ra ở Huế, Người Vợ Mất Tích xẩy ra ở Sài Gòn. Ðen Hơn Bóng Tối và Như Chuyện Thần Tiên xẩy ra ở Ðà Nẵng, Dữ Hơn Rắn Ðộc xẩy ra ở Ðàlạt, Ðà Nẵng.

Những năm 1960 tôi thường vào tiệm sách, khi tiệm có sách mới, mua một lúc 5, 6 quyển tiểu thuyết detective. Ðêm, tôi nằm đọc truyện,  tôi đọc để thưởng thức truyện. Khi thấy truyện nào hay, có thể phóng tác được, tôi để riêng một chỗ. Vài tháng sau lấy truyện ra đọc lại, vẫn thấy hấp dẫn, khi đó tôi mới quyết định sẽ phóng tác quyển đó. Truyện nào tôi đọc lại vẫn thấy hấp dẫn, tôi mới có thể làm thành truyện hấp dẫn người đọc. Vì đọc kỹ truyện, khi phóng tác, cốt truyện đã thành cốt truyện của tôi. Tôi thấy những tiểu thuyết Âu Mỹ hiện đại đã được những chuyên viên Editor đọc, cắt xén, thêm bớt thật hoàn hảo nên khi phóng tác tôi bỏ qua sự kiện nào là sau đó truyện sẽ mất hay, tôi thêm sự kiện nào là chuyện thừa, chỉ là việc tô vẽ hoa hoè, hoa sói không cần thiết. Nhiều truyện tôi có thể làm như là truyện tôi sáng tác, nhưng tôi thấy làm thế là không lương thiện, nên tôi vẫn để là Truyện Phóng Tác, ghi rõ như “Chiếc Hôn Tử Biệt. Nguyên bản A Kiss before dying của Ira Levin. Kiều Giang. Nguyên bản Jane Eyre của Charlotte Bronte.”.

Tôi có dịch Tình Trong Chiến Hào, nguyên bản Svastopol của Tolstoy, và Tầng Ðầu Ðịa Ngục, nguyên bản The First Circle của Solzhenitsyn. Tôi dịch – có bỏ bớt một số chương – tiểu thuyết  One Hundred Years of Solitude cuả Marquez. Truyện dịch xong nhưng bị Bộ Thông Tin – Bộ Trưởng Hoàng Ðức Nhã – không cho xuất bản. Lý do vì Marquez giao du thân thiết với Castro, Cuba, và phản đối việc Quân Mỹ vào Việt Nam. Tôi rất tiếc công sức của tôi khi dịch tiểu thuyết One hundred years of Solitude của Marquez.

Nổ Như Tạc Ðạn được phóng tác từ Après moi, le déluge!.

Nổ Như Tạc Ðạn được phóng tác từ Après moi, le déluge!.

Nhị Linh: Nổ Như Tạc Ðạn  có lẽ là tác phẩm phóng tác được nhắc đến nhiều của Hoàng Hải Thủy.

Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong đời sưu tầm sách của tôi liên quan đến Hoàng Hải Thủy: có lần tôi nhìn thấy quyển “Môi Thắm Nửa Ðời” có chữ ký của Hoàng Hải Thủy ở chợ sách vỉa hè sau 1975, chỉ vì tần ngần do dự mất một lúc mà sau đó quyển sách đã mất tăm hơi không sao tìm lại được, ba năm rồi thỉnh thoảng nhớ lại tôi vẫn còn tiếc.

Tôi muốn đi sâu vào một tác phẩm rất nổi tiếng của Hoàng Hải Thủy, thậm chí nhan đề còn giống như một “thành ngữ mới”: “Nổ như tạc đạn,” tôi muốn tìm hiểu những gì xung quanh tác phẩm đồng thời cũng tìm hiểu  về cách thức viết văn của nhà văn hồi ấy, rồi cách xuất hiện của tác phẩm, những yếu tố ngày nay hẳn rất xa lạ với tuyệt đại đa số độc giả.

Nổ Như Tạc Ðạn xuất bản năm 1964, nhưng trước đó, NNTÐ đã được đăng feuilleton trên báo. Tôi nhờ hỏi thì nhà văn Hoàng Hải Thủy cho biết đây là truyện phóng tác đầu tiên của ông, ông nhớ là đã đăng truyện trong khoảng 1955-1956 trên tờ Ngôn Luận.

Tìm đi tìm lại mãi trên những tờ truyện Nổ Như Tạc Ðạn tôi cắt từ báo ra để dành đọc lại thì thấy đúng đây là tờ Ngôn Luận, nhưng niên đại thì nhà văn nhớ sai: chính xác là truyện NNTÐ được đăng trên Ngôn Luận năm 1962, như một số mẫu quảng cáo cho thấy, và rõ hơn là lời tác giả ghi ở cuối truyện:

Lời ghi là “Viết xong Tháng Mười năm 1962.” Có vẻ như truyện được loan là truyện đăng tiếp “Ði TìmTình Yêu” Hoàng Hải Thủy sau đã không viết, hoặc đã đổi tên.

Ðây chính là một đặc điểm  nổi bật của truyện phơi-ơ-tông: tác giả thay đổi cốt truyện rất nhiều, và trong quá trình viết nhiều khi cốt truyện đi hẳn theo hướng khác với  dự định ban đầu.

Tôi nhớ những chương Một, Hai, Ba của Nổ Như Tạc Ðạn chẳng có liên quan gì đến nội dung truyện. Gần đây, khi đưa Nổ Như Tạc Ðạn lên trang web riêng của mình, nhà văn Hoàng Hải Thủy đã bỏ đoạn ấy đi. Có vẻ như lúc đầu Hoàng Hải Thủy định viết một câu chuyện hoàn toàn khác: về một người đàn ông tên là Nguyễn Văn Tích có chuyện lằng nhằng với cô con gái (lai) con riêng của vợ.

Từ Chương IV cho đến hết (tức là Chương XXXVI) thì câu chuyện thực sự hoàn chỉnh: Hùng con nhà khá giả gia giáo lọt vào một nhóm bạn ( tất cả chừng 17, 18 tuổi)  Hùng ăn chơi, rất James Dean và có triết lý sống tự do tuyệt đối, hư vô chủ nghĩa, coi việc người con gái lấy chồng như là trở thành cái máy đẻ kiêm máy giặt. Hùng có quan hệ tình cảm với Hạnh, rồi hai người cùng Duy ( lý thuyết gia của nhóm) tham gia một vụ “săng ta” (chantage, tức tống tiền). Cụm từ  ”Nu Ven Va” xuất hiện vài lần, muốn nói đến trào lưu “Nouvelle Vague” Ðợt Sóng Mới. Phong trào mới ở Âu Châu những năm 1960. Cuộc sống của những “enfant terrible” của Sài Thành một thuở được miêu tả rất sinh động trong Nổ Như Tạc Ðạn.

Nhưng Hoàng Hải Thủy cũng cho biết, Nổ Như Tạc Ðạn là truyện phóng tác, và nhớ ông phóng tác từ truyện tên là “Après moi le déluge” nằm trong Série Noire của Pháp, nhưng không nhớ gì thêm. Tìm quyển sách này không phải dễ, vì nhan đề của nó là một thành ngữ rất nổi tiếng do câu nói của Vua Pháp Louis XIV.

Hì hục mãi cuối cùng tôi cũng tạm tin là mình đã tìm ra “nguồn”: cuốn sách Hoàng Hải Thủy đã đọc rồi từ đó phóng tác ra tên là Après moi le déluge (tên gốc tiếng Anh: Sabotage), đứng số 101 trong Série Noire, xuất bản năm 1940, tác giả là Cleve Franklin Adams, nhà văn Mỹ sinh năm 1884 ở Chicago, mất năm 1949 ở California.

Ðặc biệt, nhìn kỹ vào bản in báo, có thể thấy một số đoạn trắng, chắc hẳn là kiểm duyệt đã cắt bỏ những chi tiết quá nóng bỏng, bản sách sau này cũng không khôi phục được.

Hoàng Hải Thủy: Xin thưa: những đoạn trắng trong trang truyện – như quí vị thấy trong hình đi kèm bài này – không phải là “bị Bộ Thông Tin kiểm duyệt.” Thời xưa ấy Bộ Thông Tin VNCH không kiểm duyệt tiểu thuyết. Khi thấy tiểu thuyết đăng báo nào có luận điệu chống chính quyền, ca tụng cộng sản hay khiêu dâm, nhân viên kiểm duyệt Bộ Thông Tin làm báo cáo, ông Giám Ðốc Nha Báo Chi, ông Ðổng Lý Bộ Thông Tin sẽ nói chuyện ấy với ông chủ nhiệm báo.  Cột báo bị trắng đoạn cuối là do tác giả viết thiếu bài. Bọn thợ viết phơi-ơ-tông chúng tôi gọi việc để trắng một cột báo là “mất một ống quần,” để trắng nguyên phần đăng truyện là “ở truồng” – tiếng Pháp là sauter – anh thợ viết nào sốt-tê truyện, tức không đưa truyện, hai, ba lần là bị nhà báo cúp truyện, thay vào truyện của thợ viết khác.

Tôi cũng vào Internet tìm quyển  “Après moi, le déluge” và thấy có sự rắc rối: Internet ghi “Après moi, le déluge” tác giả là Cleve F. Adams, nhưng truyện này không phải là truyện Sabotage của Cleve F. Adams được dịch sang chữ Pháp.

Lâm Vũ. May 8, 2013,

Bài viết của bạn Nhị Linh vô tình đánh “trúng tim đen” của tôi: Nổ Như Tạc Ðạn và Môi Thắm Nửa Ðời là hai tác phẩm của HHT mà thủa teenager tôi mê nhất. Nhưng về mặt “lịch sử” thì hơi ngược, vì tôi chỉ biết đến Mối Thắm Nửa Ðời qua báo, tờ “Chính Luận” thì phải, tôi nhớ khá chắc chắn vì sau “Cách mạng 1/11/1963” tờ Ngôn Luận không còn, và Nổ Như Tạc Ðạn thì tôi  đọc sách (mướn!).

Vì lý do nào đó, tôi biết Nổ Như Tạc Ðạn (phần chính) là một truyện phóng tác và cũng nhớ có phần đầu là một câu chuyện “dan díu” – thậm chí có cảnh hiếp dâm thì phải – không dính dáng gì đến câu chuyện chính…

Ngoài ra, tôi thấy đám bạn học (trung học) của tôi, ở lứa tuổi 16, 17 nhiều đứa thích Môi Thắm Nửa Ðời, nhưng thất vọng vì đoạn kết “lãng xẹt”!

Tôi không đồng ý tí nào với nhận định ” HHT từng thế chỗ Vũ Mộng Long tức Duyên Anh tức Thương Sinh” trong tuần báo Con Ong.

Lý do: HHT viết lách có thể trước Duyên Anh, tôi nhớ đã đọc phóng sự Vũ Nữ Sài Gòn trước Ðiệu Ru Nước Mắt. Nhưng điều này dĩ nhiên chẳng chứng minh được gì. Quan trọng hơn là các tác phẩm của HHT và DA nhằm vào hai giới độc giả khác nhau, tuy chủ yếu là thanh thiếu niên, nhưng độc giả HHT là đàn ông con trai nhiều hơn là đàn bà con gái, trong khi DA thì ngược lại. Trên hết, HHT chuyên về phóng tác (tiểu thuyết Âu Mỹ, kể cả truyện Cao Bồi Viễn Tây), DA không liên quan đến lãnh vực này, mà nghiêng về phía sách nhi đồng, cho các “búp bê”… (Ðó là không nói đến chuyện sau 1975).

Nhị Linh, May 8, 2013.

Về tuổi tác, Duyên Anh và Hoàng Hải Thủy gần bằng tuổi nhau – DA sinh năm 35, HHT sinh năm 33 – xuất hiện trên văn đàn cũng không xa nhau mấy, Duyên Anh xuất hiện chừng năm 60. Hai người còn từng xuất hiện chung với tư cách tác giả, ít nhất ở cùng một cuốn sách. Tác phẩm của Duyên Anh không hẳn thiên về “đàn bà con gái”, mà là thiếu niên (chủ yếu con trai). Ở câu nhắc đến cả HHT lẫn DA, ý tôi chỉ nói ở báo “Con Ong” HHT thế chỗ DA, điều này đã được HHT ghi lại một cách rất trân trọng trong một bài viết.

Lâm Vũ. May 8, 2013,

Trước hết tôi xin lỗi về vụ “HHT thế chỗ DA”. Tôi đã đọc quá nhanh, “nhẩy cóc” mất phần cuối của câu văn. Tôi hay mắc lỗi đó chưa chừa được.

Còn về chuyện ai viết cho con trai, ai viết cho con gái, cũng chỉ là chủ quan của tôi thôi. Số là thủa còn teenager, tôi học trường con trai, chẳng thấy đứa bạn  nào đọc DA, mà đa số ít nhiều mê “văn” HHT. Trong khi đó, lâu lâu ghé mắt vào Tuổi Ngọc (?) chỉ thấy toàn là các “búp-bê” (đa phần là nữ) um xùm trong đó. Một vài búp-bê Tuổi Ngọc tôi biết sau này thành nhà văn “nữ”, nhưng tôi chẳng nhớ tên các nàng.

Vừa tìm trong wiki, thấy có tiểu sử của DA: “Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý.” Vậy là rõ ràng.

HHT chưa thấy có “entry” trong wiki, chắc vì ông còn sống. Nhưng tôi chắc chắn ông đã có tác phẩm in trước 1960. Trong “Viết và đọc tiểu thuyết” – viết trước 1960 – Nhất Linh đã khen bản dịch Ðỉnh Gió Hú của HHT. Ðại khái NL viết: Ðỉnh Gió Hú là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất kim cổ và bản dịch của HHT cũng rất tuyệt! (Quảng cáo khéo thế thì thôi!)

Tôi không phải ngưòi nghiên cứu, không sưu tầm sách, cũng không gần thư viện lớn. Chỉ dựa vào trí nhớ, nhưng nay thì “thằng” trí nhớ của tôi cũng hết  còn tin tưởng đươc.

Hodinhvu. May 8, 2013.

HHT không viết cho tờ Chính Luận. Sau khi hai tờ Sài Gòn Mới và Ngôn Luận bị đóng cửa năm 1964, ông cộng tác với tờ Tiền Tuyến năm 1965.

Trả lời cuộc phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ được đăng trên website gio-o,  HHT cho biết ông viết truyện phóng tác cho đối tượng độc giả là… phụ nữ. Chắc ông nói một cách khiêm nhường.

Nhị Linh. May 8, 2013,

Trong “Viết và đọc tiểu thuyết” Nhất Linh nhắc đến bản dịch Ðỉnh Gió Hú của Hoàng Hải Thủy? Chi tiết này hay, tối nay tôi sẽ kiểm tra. Theo tôi nhớ, vì tôi đã đọc “Viết và đọc tiểu thuyết” , thì NL không nhắc đến HHT. Ông ấy nói đến Ðỉnh Gió Hú là nói về bản dịch của chính ông ấy (Nhất Linh..) Thêm một chi tiết: quyển “Viết và đọc tiểu thuyết” được nhà Ðời Nay xuất bản  năm 1961, nhưng sách được  viết trước đó (1952-1961).

Công Tử Hà Ðông. Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 4 Tháng Hai Mỹ Năm 2010.

Nổ Như Tạc Ðạn là tiểu thuyết phóng tác đầu tiên của tôi. Các ông văn sĩ nhà nghề gọi quyển truyện thứ nhất của một người viết là “tác phẩm đầu tay.” Tôi viết Nổ Như Tạc Ðạn năm 1956, đăng nơi trang trong Nhật Báo Ngôn Luận.

Chiều nay, buổi chiều mùa đông tuyết trắng trời, trắng đất, trắng cây ở Virginia, tôi viết những dòng chữ này về cái gọi là “tác phẩm đầu tay Nổ Như Tạc Ðạn” của tôi.

1956-2010.. Mèn ơi..! 50 mùa thu lá bay đã qua đời tôi kể từ ngày xưa ấy … Cảm khái cách gì..!!!!

Ngày xưa xa lắm, tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Ðời chỉ có hoa và mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Ngày xưa ấy tôi còn trẻ — 25, 26 tuổi đời — kinh nghiệm phóng tác tiểu thuyết của tôi chưa có bao nhiêu. Nguyên bản Nổ Như Tạc Ðạn là truyện nhan đề “Après moi, le déluge” tôi nhớ là tiểu thuyết Pháp trong Série Noire. Dường như năm xưa ấy truyện được làm thành phim, phim đen trắng của Pháp, phim cũng lấy tên là “Après moi, le déluge.” Nam nữ diễn viên trong phim toàn là những người trẻ tuổi. Phim mở đầu cho phong trào làm phim gọi là Nouvelle Vague của Ðiện ảnh Âu châu.

Từ lâu rồi tôi quên không nhớ chút síu gì về truyện Nổ Như Tạc Ðạn. Năm 1973 bà Cosunam Films mua Nổ Như Tạc Ðạn để làm thành phim. Bà đã trả tiền bản quyền cho tôi nhưng tôi, và tiểu thuyết của tôi, không có duyên với Xi-la-ma, tức với Ðiện Ảnh. Nổ Như Tạc Ðạn để mãi mà không được làm thành phim. Năm 1972 ông Quốc Phong, Giám Ðốc Liem Films, mua Như Chuyện Thần Tiên để làm phim. Ðạo diễn Lê Hoàng Hoa và tôi đã gặp nhau bàn về phim ba, bốn lần, nhưng rồi phim cũng không được làm trước Ngày 30 Tháng Tư Ðen Hơn Mõm Chó.

Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh.. Năm 2000, con tôi tình cờ tìm được Nổ Như Tạc Ðạn trong một tiệm sách cũ ờ Sài Gòn. Sau 50 năm không nhìn thấy mặt nhau, Nổ Như Tạc Ðạn đến Kỳ Hoa Ðất Trích với tôi. Cảm khái cách gì !.

Cám ơn bạn Nam Phục, bạn Bắc Thần đã đưa Nổ Như Tạc Ðạn lên “hoanghaithuy.com.”

Cám ơn quí vị đã đọc những tiểu thuyết phóng tác của tôi.

HOÀNG HẢI THỦY

Ðây là một đoạn trích trong Nổ Như Tạc Ðạn

Trong một tiệm bán đĩa hát ngoại quốc ở đường Tự Do … Hùng đến tiệm tìm một đĩa nhạc Jazz của Jerry Mulligan. Hôm đó là một chiều thứ bẩy đầu tháng, tiệm đông người ra vào. Tiệm có máy lạnh, đóng cửa kín, nên tiếng nhạc thử đĩa ồn ào làm choáng tai mọi người ở trong tiệm, nhưng hai cô bán hàng vẫn nhanh nhẹn đi lại, lịch thiệp, tươi tỉnh và mát như hai trái cam Triều Châu nằm trong tủ lạnh. Trong số hai cô bán hàng ấy, Hùng có quen một cô. Nàng là em gái một người bạn không thân lắm của chàng. Trông nàng có đôi mắt và miệng cười giống cô đào điện ảnh Grace Kelly.

Chàng hỏi nàng về đĩa nhạc mới của Mulligan. Nàng cười tươi :

- Không có đâu anh Hùng ạ. Các đĩa nhạc Jazz khó bán ở Sài Gòn lắm. Mỗi lần về chỉ có chừng vài đĩa. Hiện bây giờ thì chẳng còn đĩa Mulligan nào hết …

Thất vọng, Hùng tần ngần đứng trước những chồng đĩa hát sặc sỡ đủ màu, trong lúc nàng “Grace Kelly” của chàng tiếp một ông khách khó tánh đang đòi nghe tất cả những đĩa nhạc mới nhất của Dalida.

Chàng dở từng chiếc đĩa hát trên giá gỗ ra coi. Chàng không hy vọng là nàng “Grace Kelly” nói sai, nhưng sự thực là trong số đĩa nhạc Zazz không có đĩa nào của Jerry Mulligan. Chàng thích chơi đĩa. Chàng thích các đĩa hát đẹp cũng như chàng thích các quyển sách đẹp. Ðược ở trong một hiệu sách hay một tiệm đĩa hát có nhiều hàng mới về, chàng có cái cảm giác của một anh trẻ con được lạc vào một động núi kho tàng. Chàng thích được cầm, được sờ mó trên những mặt giấy láng in nhiều màu rực rỡ. Chàng thích được nhìn những ngón tay dài, thon, đẹp như tay văn sĩ của chàng, vờn trên những mặt bao điã nhạc bìa cứng.

HHT: Tôi viết Môi Thắm Nửa Ðời trên nhật báo Chính Luận khoảng năm 1970. Tôi không viết chung văn phẩm nào với Duyên Anh. Sang Mỹ tôi thấy một quyển phóng sự được xuất bản, để tên Thương Sinh-Gã Thâm. Quyển này là tập truyện của tôi, người xuất bản chép lại trong Nhật báo Ngôn Luận. Tôi không nhớ tên truyện. Tôi có quyển đó. Nó nằm đâu đó trong tủ sách của tôi. Nhưng nay muốn có tên nó, tôi phải chổng mông tìm nó trong các ngăn tủ, có khi tìm cả giờ mới thấy nó. Mất hứng viết.

Tôi không được gặp ông Nhất Linh lần nào. Sau khi tôi phóng tác The Wuthering Heights của Nữ sĩ Emily Bronte thành Ðỉnh Gió Húđăng phơi-ơ-tông trên nhật báo Ngôn Luận và xuất bản thành sách; ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt nói với tôi:

“Ông Nhất Linh ông ấy dịch Les Hauts des Hurlevents, ông ấy nói “Có thằng nào nó lấy cái tên Ðỉnh Gió Hú của tôi. Bực quá.”

Nghe nói, tôi ngẩn ngơ mất nửa phút. Rồi tôi nói:

“Ông ấy dịch, tôi phóng tác. Ai dịch hay phóng tác Les Hauts den Hurlevents cũng thấy cái tên Ðỉnh Gió Hú là hay nhất. Cái tên Ðỉnh Gió Hú đâu phải là do ông ấy đặt ra.”

Tôi phóng tác The Citadel của A.J. Cronin thành “Ði Tìm Người Yêu.” Truyên này đăng trên nhật báo Ngôn Luận, sau đó được xuất bản thành sách.

Khi viết Nổ Như Tạc Ðạn tôi có ý định sáng tác, nhưng thấy vất vả và không có hứng, tôi chuyển ngang sang truyện phóng tác. Khi đó tôi chưa có nhiều kinh nghiệm về việc phóng tác tiểu thuyết.

o O o

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 10 Tháng 5, 2013.

Tôi – Hoàng Hải Thủy – cám ơn các bạn đã viết về tôi và tiểu thuyết Nổ Như Tạc Ðạn. Tôi cảm động khi thấy các bạn viết về tôi, các bạn nhớ về tôi  và những truyện tôi viết trong 60 năm qua còn hơn những gì tôi nhớ về tôi và những tiểu thuyết phóng tác của tôi.

Tôi cám ơn bạn Nhị Linh. Bạn đã cất giữ những trang Nổ Như Tạc Ðạn do bạn cắt trên báo từ năm 1960 cho đến nay – 2013 – là 53 năm. Nhìn trang báo 50 năm trước, tôi cảm khái cách gì.

Cám ơn các bạn.

KHI RỌ MÕM HÁ MÕM SỦA

Bùi Thị Minh Hằng, người biểu tình đả đảo Tàu Cộng, bị bọn Bắc Cộng kết án tù 24 tháng.

Bùi Thị Minh Hằng, người biểu tình đả đảo Tàu Cộng, bị bọn Bắc Cộng kết án tù 24 tháng.

Ðảng viên Cộng Sản Nguyễn Văn Linh – Mười Cúc – làm Tổng Bí Thư Ðảng từ năm 1986 đến năm 1991. Bắt chước Gorbachev, Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Liên Xô, người chủ trương Ðổi Mới và Perestroika Nói Thẳng Nói Thật, Nguyễn Văn Linh hô hào Ðổi Mới và Nói Thẳng Nói Thật. NV Linh viết loạt bài đăng báo “Những Việc Cần Làm Ngay” và nói:

Huỳnh Ngọc Chênh, người được  Hội Phóng Viên Không Biên Giới tuyên dương, bị bọn Rọ Mõm chửi rủa.

Huỳnh Ngọc Chênh, người được Hội Phóng Viên Không Biên Giới tuyên dương, bị bọn Rọ Mõm chửi rủa.

“Ðảng cởi trói cho văn nghệ.”

Câu nói của NV Linh đúng ra là:

“Ðảng cởi rọ mõm cho văn nghệ sĩ.”

Văn nghệ sĩ Xã Hội Chủ Nghĩa bị cấm viết, cấm nói sự thật. Nhân dân coi họ như những con chó bị rọ mõm. Văn nghệ sĩ Bắc Cộng đau nhất, nhục nhất là câu nói Cởi Trói của Nguyễn Văn Linh. Chính đồng chí Tổng Bí Thư Ðảng của họ nói ra tình trạng họ như những con chó bị rọ mõm.

Bảo câm mõm là câm mõm. Bảo sủa là suả.

Việc làm Ðểu và Hèn nhất của bọn  Bắc Cộng là viết những bài đăng báo mạ lỵ, mạt sát, vu cáo, bới móc đời tư của những người chống chúng bị chúng giam tù. Bọn Bắc Cộng bắt chước bọn Nga Cộng, Tàu Cộng làm cái việc Hèn Ðểu ấy. Ðây là hai bài bọn Rọ Mõm Bắc Cộng viết về một người Viết Sự Thật trên Internet, và một người Chống Tàu Cộng xâm lăng Việt Nam.

Hai người đó là Huỳnh Ngọc Chênh và Bùi Thị Minh Hằng.

Văn Nô Rọ Mõm CuTeo@ viết về Huỳnh Ngọc Chênh, người được HộPhóng Viên Không Biên Giới – Reporters sans frontières – tuyên dương là Công Dân Internet Thế Giới.

Tên Rọ Mõm viết bài này lấy tên là Cu Teo.

Cu Teo. Vĩnh Phúc ngày 15 Tháng 3, 2013.

Nổi tiếng nhờ vào việc chửi lại dân tộc, quê hương mình còn bỉ ổi hơn cả các sao nổi tiếng nhờ khoe thân, clip sex, con rơi.

Ðó là lời nhận xét  hài hước nhưng đầy bức bối của CuTeo@. Trong cuộc trò chuyện cùng phóng viên, ông CuTeo@  đưa ra những lý giải về “hiện tượng Huỳnh Ngọc Chênh nhận giải Công Dân Mạng.”

 - Ông đánh giá như thế nào về việc Blogger Huỳnh Ngọc Chênh được nhận Giải Công Dân Mạng tại Pháp?

- Ồ, lại Chênh à? Thời cổ đại Hy Lạp có một kẻ muốn nổi tiếng bằng cách đốt bỏ ngôi đền thiêng Artemis. Nó cũng nổi tiếng, được nhiều người biết đến nhưng không ai gọi tên nó mà chỉ gọi nó là thằng đốt đền. Có một thực trạng là ai đó muốn nổi tiếng nhanh chóng, thì cách nhanh nhất là chửi đất nước mình, chửi dân tộc mình, mang cái điều chưa tốt của đất nước ra mà bêu xấu với quốc tế. Ðiều này cũng giống như anh chửi cha mẹ anh vậy. Huỳnh Ngọc Chênh  thuộc dạng người như thế.

Và thực tế, đã có những Blogger nổi tiếng như HB, hay DG (Dái Ghẻ) cũng đã kêu gọi trao giải “Dái Lệch” cho Chênh để ám chỉ con người này không bình thường về mặt sinh học dẫn đến bất bình thường về nhân cách.

Xin mở rộng ra một chút, ở làng xã Việt Nam có một người rất nổi tiếng đó là anh Mõ, kẻ lúc nào cũng vênh váo,:”Tôi chưa trải chiếu các cụ chưa được ngồi ” và, “Một mình một chiếu thảnh thơi ngồi” đánh chén, khi cao giọng chả ai đối đáp lại, mà không hiểu rằng, ngồi ăn với Mõ, cãi nhau với Mõ là một điều sỉ nhục! Vậy thì thằng Mõ có nổi tiếng nhưng bị mất tên chỉ được gọi bằng cái danh từ chung: Mõ! Dưới góc nhìn này thì người Việt không lấy gì làm tự hào khi có  Chênh nhận Giải.

Cũng cần nói thêm là cái giải của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới bắt đầu rộ lên cách đây một vài năm, đối tượng mà họ nhắm đến chính là những người tìm mọi cách để nổi tiếng như anh Mõ, bất chấp việc nổi tiếng bằng tai tiếng, bằng clip sex, bằng ăn mặc hở hang, bằng khoe không chồng mà chửa, rồi giờ là khoe đi xét nghiệm AND để nhận con, khoe đi hiếp nữ sinh đang ngồi trên ghế nhà trường hay bình bầu cho những phụ nữ của năm.v.v..Tóm lại là lũ biến thái.

- Ý  ông muốn nói là họ chỉ là những tay biến thái?

- Ồ vâng, chính thế. Bình thường, họ vẫn là công dân Việt, có tầm nhận thức khá trung bình, có đời sống vật chất đầy đủ, nhưng lại suy dinh dưỡng về tâm hồn, cho nên mới có chuyện một số GS, hay TS, hay tướng tá về hưu hư hỏng, vì họ không có cái gốc vững, tự thân họ đã là những kẻ cơ hội bênh hoạn.

- Ông nghĩ như thế nào về Giải Thưởng Công Dân Mạng?

- Trước hết, nói về giải thưởng. Thường thì ai đó có công hoặc xuất sắc về một lĩnh vực nào đó thì họ sẽ được đề xuất trao giải. Thế nhưng, chúng ta hiện giờ lại có cả giải ngược. Ví dụ như giải Nobel Ngược, hay giải cho những thảm họa.v.v..Tôi nghĩ, trao giải này cho Huỳnh Ngọc Chênh là thuộc trường hợp thứ hai, tức là trao giải cho những thảm họa. Người phương Tây nói, “Sân khấu là thánh đường, người đến đó thì phải bỏ những đôi giày bẩn của mình ngoài cổng”. Tiêu chuẩn để có thể bước chân vào thánh đường phải là những người tử tế, những thiên thần, nhưng bây giờ rất nhiều ma quỷ cũng thích đến thánh đường khi muốn thể hiện chúng là thiên thần.

Tất nhiên cũng không loại trừ trường hợp, anh muốn nhận giải thì một trong các tiêu chuẩn đầu tiên mang tính bắt buộc là phải có “Ðôi giầy bẩn” hoặc cái tương tự như cái “Bút bẩn”, cái “Miệng bẩn” hay chí ít cũng là cái “đầu bẩn”. Ðiều này cho thấy, bản thân cái anh trao giải cũng phải là loại “cực bẩn” bất kể anh ta khoác áo Nhà nước hay Bộ Ngoại giao hay Phi chính phủ.

- Ô, ông vừa nói đến cái tiêu chuẩn bắt buộc là những ai muốn nhận giải thì trước hết phải “bẩn”, xin ông nói rõ hơn điểm này?

- Vâng, cái đó tôi nghĩ cũng là bình thường thôi. Tiêu chuẩn “bẩn” được mặc định trong giải này. Các anh cứ vào Google mà tra cứu, 100% những người nhận giải này đều là những người “bẩn” hoặc “cực bẩn”, hoặc có thể mở rộng hơn là những anh có vấn đề tâm thần, tôi không nói là họ bị dồ, nhưng não trạng có vấn đề bởi sự phản trắc trong những con người này. Này nhé, tôi liệt kê: Tạ Phong Tần, Huỳnh Ngọc Chênh, Hoàng Vy, Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu). Ðiếu Cày (Nguyễn Văn Hải), Phan Thanh Hải (Blog Anh Ba Sài Gòn), Vũ Quốc Tú (Blog Uyên Vũ), Ngô Thanh Tú (Blog Thiên Sầu), Lê Hồ Ngọc Ðiệp (Blog Trăng Ðêm), rồi Phạm Thanh Nghiêm, Lê Thị Công Nhân hay Hoàng Thục Vy…Tất cả những người này đều có đặc điểm chung là chống lại dân tộc, thóa mạ dân tộc và sẵn sàng quay đầu nâng bị bợ đỡ ngoại bang.

Ý tôi là những kẻ dám leo lên các diễn đàn để thóa mạ lại đất nước mình thì không thể khá lên được, cái gì cũng có cái giá của nó, gieo gió thì sẽ gặt bão. Sau khi tới “Thánh đường” để nhận giải, Tạ Phong Tần, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Hoàng Vi đã trả lời phỏng vấn, “phát biểu cảm tưởng” trên một số cơ quan truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam như VOA, RFA, RFI, BBC… Riêng với Huỳnh Ngọc Chênh, nhân vật này tỏ ra rất hí hửng và đắc thắng với “vinh dự” của mình, nên đã đi quá xa khi phát biểu tại lễ trao giải “Công dân mạng 2013″, đã lớn tiếng vu cáo Nhà nước Việt Nam cản trở các blogger, hạn chế tự do báo chí, cho rằng ở Việt Nam không có báo chí tư nhân nên các thông tin đăng tải trên báo chí đều theo định hướng của Ðảng cầm quyền! Tuy nhiên, những lời lẽ đó lại chứa đựng một mâu thuẫn mà chắc chắn chính Huỳnh Ngọc Chênh không thể lý giải. Bởi, nếu thật sự Việt Nam cản trở các blogger thì làm sao “lực lượng blogger” ở Việt Nam có thể ngày càng phát triển “lớn mạnh và rộng khắp” như chính Huỳnh Ngọc Chênh thừa nhận khi phát biểu tại buổi nhận giải? Làm sao hằng ngày Huỳnh Ngọc Chênh vẫn công bố bài trên blog của ông ta mà không bị gây khó khăn? Sao ông ta lại phủ nhận và nói xấu những điều mà chính ông ta đang được thụ hưởng? Tương tự như thế, khi trả lời phỏng vấn của BBC và RFA, Nguyễn Hoàng Vi và Tạ Minh Tú – em gái Tạ Phong Tần, đều bày tỏ niềm “vinh dự”, “tự hào” vì được trao “giải thưởng”; họ coi đây là nguồn “khích lệ” cho các “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” tại Việt Nam! Họ làm thế khác gì cởi truồng để nổi tiếng?

Có một câu như thế này “người dại cởi truồng, người khôn xấu mặt”, tôi không hiểu bố mẹ, gia đình của những người dùng scandal để “nổi lềnh phềnh như cứt trôi sông” đó có ý kiến gì về con em mình không?

o O o

Tạ Phong Tần và Ðiếu Cày ở tù dài dài.

Tạ Phong Tần và Ðiếu Cày ở tù dài dài.

Người phụ nữ Bùi Thị Minh Hằng là người xuất hiện trong nhiều cuộc nhân dân biểu tình chống bọn Tàu Cộng xâm chiếp đảo và đất ViệtNam. Chỉ vì cái tội Yêu Nước, bà Minh Hằng bị bọn Bắc Cộng bán nước bắt, kết án Tù Khổ Sai 24 tháng. Dưới đây là hai bài báo mạ lỵ bà Minh Hằng.

Nhật báo Hà Nội Mới. Ngày 11 Tháng 4, 2013.

Tại cơ sở giáo dục Thanh Hà có một trại viên khá ”đặc biệt”. Ðặc biệt ở chỗ tuy là nữ và đã đứng tuổi, song trại viên này luôn quậy phá không chịu chấp hành nội quy của trại.

Thượng tá Hoàng Văn Khung, Phó Giám đốc trại Thanh Hà nói:

“Không ngày nào là chúng tôi không phải ”quan tâm đặc biệt” đến Bùi Thị Minh Hằng. Chỉ riêng việc lập biên bản về trại viên vi phạm nội quy, với Hằng đã tốn bao công sức của chúng tôi”.

Vậy, người trại viên ”đặc biệt” Bùi Thị Minh Hằng trong trại Tù Thanh Hà là ai?

Sinh năm 1964, trong một gia đình có truyền thống cách mạng tại thị xã Sơn Tây, bố là thiếu tá quân đội, mẹ là cán bộ thương nghiệp, Bùi Thị Minh Hằng được nuôi dưỡng và được học tập đầy đủ. Tuy vậy,  ngay từ bé, Hằng đã nổi tiếng là một đứa trẻ ương bướng và ngỗ nghịch. Theo những gì mà bà Phạm Thị Hoán – mẹ đẻ Hằng (năm nay đã 86 tuổi, hiện đang sống ở 15 phố Ðệ Nhị (Ðốc Ngữ) thị xã Sơn Tây, Hà Nội) – kể lại, thì ngay từ năm học lớp 3, lớp 4, Hằng đã ăn cắp gạo của mẹ đi bán lấy tiền ăn quà và đi chơi. Cũng theo bà Hoán, trong 4 đứa con, Hằng là đứa khó dạy nhất và bị đòn nhiều nhất. Năm 1981, Bùi Thị Minh Hằng được đi học tại Trường Trung cấp Kỹ thuật công nghiệp nhẹ tại Nam Ðịnh. Vừa ra trường, Hằng lấy chồng. Năm 1987, bỏ lại đứa con gái nhỏ cho mẹ đẻ trông nom, Hằng đi xuất khẩu lao động tại Liên Xô. Trở về nước sau 4 năm, Hằng bỏ chồng và cùng nhân tình vào Vũng Tàu sống. Ở Vũng Tàu, Hằng không chịu yên phận mà thường xuyên đi khỏi nơi cư trú, gây ra nhiều chuyện thị phi. “Quậy” ngoài xã hội chưa đủ, Hằng cũng không để cho gia đình yên ấm, khiến mẹ già nhiều lần rơi nước mắt; nhất là sau khi bố đẻ qua đời, mẹ đẻ bán nhà, chia tiền cho 4 chị em gái. Nhận đủ số tiền được chia nhưng Hằng vẫn thường xuyên về thị xã Sơn Tây gây rối, tranh chấp với các chị em gái và cho rằng gia đình giả mạo chữ ký để bán nhà, kiện chính quyền bao che việc bán đất..

Báo Hà Nội Mới. Ngày 13 Tháng 4, 2013.

Do ngang ngược, quậy phá, coi thường pháp luật Bùi Thị Minh Hằng đã bị một số kẻ cơ hội chính trị, chống phá nhà nước kích động, lôi kéo, lợi dụng để phục vụ những mưu đồ đen tối. Mù quáng, háo danh lại sẵn ”máu liều”, Hằng ngày càng lún sâu vào con đường sai trái.

Trong năm 2011, Hằng đã 3 lần bị tạm giữ vì hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 2-8-2011, Hằng có mặt tại phiên tòa xét xử phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ và trở thành con rối kích động. Ngày 16-10-2011, Bùi Thị Minh Hằng cùng 17 người khác tụ tập trước cổng đền Ngọc Sơn (quận Hoàn Kiếm) phát tán khẩu hiệu. Khi bị lực lượng chức năng xử lý, Hằng giở trò ăn vạ, la hét, lăn lộn trên vỉa hè rồi lại chồm dậy chửi bới, lăng mạ lực lượng làm nhiệm vụ bằng những lời tục tĩu. Ngày 8-11-2011, sau khi có báo cáo của Hội đồng Tư vấn TP, UBND TP Hà Nội đã có Quyết định số 5225/QÐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng đối với Bùi Thị Minh Hằng.

CTHÐ: Luận điệu cũ rích và trơ trẽn của bọn Bắc Cộng là chúng gọi những người đấu tranh cho Dân Chủ, Nhân Quyền là những người “bôi xấu Tổ Quốc, phản bội Tổ Quốc và Dân Tộc.” Ðặc tính kiêm Ðộc Tính của bọn Cộng là chúng chuyên gọi những người chống sự cai trị bạo tàn của chúng là “Bọn Xấu.”

Những tổ chức Ân Xá Quốc Tế – Amnesty International – Văn Bút Quốc Tế – PEN Intern – Phóng Viên Không Biên Giới – Reporters San Frontières – những Ðài Phát Thanh VOA, RFI, BBC với chúng đều là “Bọn Xấu.”

Bất chấp sự lên án của quốc tế, bọn Bắc Cộng – theo đuôi bọn Tàu Cộng – đàn áp, giam tù dài dài những người chống chế độ bạo tàn của chúng. Gần như chúng “săng phú” tất cả những lời can thiệp, kết án chúng của quốc tế. Tổng Thống Hoa Kỳ Obama trong một diễn văn có nhắc đến một người Việt đấu tranh cho Nhân Quyền bị bọn Bắc Cộng giam tù:

“Chúng ta hãy nhớ đến Ðiếu Cày.”

Ðó là lời Tổng Thống Obama. Ông không thể nói rõ hơn. Ðiếy Cày là người đấu tranh cho quyền sống của người Việt trong nước duy nhất được một ông Tổng Thống Hoa Kỳ đang tại chức nhắc đến. Nhưng bọn Bắc Cộng chẳng nể nang gì ông Tổng Thống Hoa Kỳ. Không những không trả tự do cho nhân vật Ðiếu Cày, bọn Bắc Cộng còn giam tù ông Ðiếu Cày tàn nhẫn hơn. Chúng giam người tù Ðiếy Cày không cần có án. Mới đây có tin bọn Bắc Cộng đưa người tù Ðiếu Cày và người tù Tạ Phong Tần ra tù ở một trại tù miền Bắc. Bà mẹ của người tù Tạ Phong Tần tự thiêu để phản đối việc con bà bị giam tù. Bọn Công An VC loan tin bà mẹ người tù Tạ Phong Tần tự tử vì nợ tiền không trả được.

Những người tù Việt Khang, Cù Huy Hà Vũ bị chìm vào quên lãng. Sau một thời gian lên tiếng ủng hộ, đòi thả những tù nhân nói trên, nay người Việt ở hải ngoại dường như đã quên họ.

Từng là một tù nhân của bọn Cộng, từng bị bọn Cộng bôi xấu, bịa đặt chuyện xấu, bới móc đời tư đăng lên báo, xuất bản thành sách, tôi thấy tình trạng người tù đấu tranh với bọn Cai Tù như việc hai người dằng co một con dao: người tù nắm dao đằng lưỡi dao.

Với nỗi cảm thông và niềm thương sót những người Tù Chính Trị ở nước Việt Nam bị bon Cộng chiếm quyền, tôi viết bài này.

OAN và GIẢI OAN

Suối Giải Oan Núi Yên Tử, nơi 100 cung nữ nhà Trần chết oan.

Suối Giải Oan Núi Yên Tử, nơi 100 cung nữ nhà Trần chết oan.

Trong 8 năm sống trong ngục tù Cộng Sản, tôi gặp nhiều vị tu sĩ Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo. Tôi từng ăn chung, từng thân thiết với nhiều ông. Tôi còn gặp những ông tù tín đồ Hoà Hảo, Cao Ðài, Vô Vi – Ðạo Vô Vi còn có tên là Ðạo Ông Tư, Ông Tám – tín đồ của ông Hằng Trường. Trong những lúc nằm phơi rốn trong tù, nhiều lần tôi nghĩ:

“Bọn Bắc Cộng làm được cuộc hòa đồng tôn giáo mà giới tu sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà trong 20 năm không làm được: bọn Bắc Cộng bắt các tu sĩ đủ mọi tôn giáo, cho vào tù, cho trở thành tù. Các ông đủ mọi tôn giáo sống như nhau trong tù. Chẳng phải các ông hoà đồng thì còn là gì.”

Trong bài Viết ở Rừng Phong hôm nay, tôi viết về hai Tu sĩ; Ông Trí Siêu Lê Mạnh Thát, và ông Linh Mục Nguyễn Công Ðoan.

Tu sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát bị Cộng Sản kết án tử hình năm 1988. Án giảm xuống án tù khổ sai 20 năm. Bị bắt năm 1984, ông ở tù đến năm 1998 mới được trở về chuà. Ông ở tù 14 năm.

Năm 2000. bọn Bắc Cộng “dùng” Tu sĩ Trí Siêu, người đã bị chúng xử án tử hình, trong nhiều công việc để chứng tỏ chúng mở rộng tự do cho việc truyền bá đạo Phật. Theo tôi, Trí Siêu là cư sĩ mà không phải là Sư Ông.

Bọn Cộng Bắc Kỳ mặt trơ, trán nhẵn, không biết hổ thẹn: chúng lập ra phong trào ca tụng Vua Trần Nhân Tông. Tu sĩ Trí Siêu, cựu Tù Tử Hình, được đặc biệt dùng để đề cao việc Vua Trần Nhân Tông tha thứ cho những người Việt cộng tác với quân xâm lược. Tu sĩ Trí Siêu được cho đến Ðại Học Harvard, Mỹ, dự cuộc hội thảo về Vua Trần Nhân Tông. Ðại học Harvard thành lập Viện Nghiên Cứu Vua Trần Nhân Tông.

Tu sĩ Trí Siêu đến Ðại Học Harvard tháng 9, 2012. Ðây là bài tường thuật cuộc phỏng vấn ông của Ðài BBC.

BBC: Thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự.

Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ – Việt cũng như Việt – Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:

“Tại Mỹ, thì sau chiến tranh Việt Nam, ông Bộ trưởng Quốc phòng McNamara có viết hồi ký. Ông nói một trong các nguyên nhân mà Mỹ thất bại ở Việt Nam là vì không hiểu Việt Nam. Tôi nghĩ có lẽ sau này những người trí thức Mỹ, đặc biệt các trường Ðại học Mỹ họ quan tâm vấn đề đó, vì vấn đề đó là vấn đề lớn. Và khi họ nghiên cứu Việt Nam, thì có lẽ nhân vật tiêu biểu nhất cho Việt Nam là Trần Nhân Tông.

BBC: Nhưng trong lịch sử Việt Nam thường nói đến những vị như Lý Thường Kiệt, rồi Ngô Quyền lập quốc, hay xa nữa là Hùng Vương…sau này là Quang Trung, Nguyễn Huệ, còn Vua Trần Nhân Tông có vẻ không được nói đến nhiều. Gần đây nhờ đến chuyện bức tranh liên quan đến ông nên chuyện nó trở nên mang tính thời sự hơn. Vậy theo Tiến sỹ, vấn đề ở chỗ nào?

LM Thát: Tôi nhớ là tôi viết quyển sách về Trần Nhân Tông năm 2001. Hình như báo Thanh Niên nói đó là một trong 10 quyển bán chạy nhất Việt Nam. Tức là người ta đọc nhiều, có công chúng, họ rất quan tâm đến vấn đề này. Cho nên sự thực là không phải mới đây đâu, còn trong lịch sử dân tộc ta, trong sách của tôi, tôi cũng nói chuyện đó. Ðối với Trần Nhân Tông thì đánh giá lịch sử chưa đúng. Ví dụ đặt tên đường chẳng hạn.

BBC: Tại sao đánh giá theo ông là chưa đúng?

LM Thát: Ví dụ đặt tên đường thì đường Trần Hưng Ðạo rất lớn, nhưng đường Trần Nhân Tông quá nhỏ, ngắn, đặc biệt là ở vùng Huế chúng tôi chẳng hạn, đường Trần Hưng Ðạo (Tướng) rất lớn nhưng đường Trần Nhân Tông (Vua) rất bé. Cái này là nhận thức sai.

Sau trong sách của tôi có đặt vấn đề đó, và có nhiều bài viết của những người khác cũng đề cập vấn đề đó. Ví dụ ở Hà Nội hay Nam Ðịnh chẳng hạn, đường Trần Nhân Tông rất lớn. Năm 1980 tôi ra Hà Nội, đường Trần Nhân Tông khúc ở phố Huế chỉ dài một đoạn, khoảng mấy chục mét. Rồi đến năm 1999 tôi ra thăm lại Hà Nội, đường này dài hơn cả cây số, rất đẹp.

BBC: Ông có nói tới hòa giải giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau thời chiến tranh và vị Vua Trần Nhân Tông có thể được nhắc lại để cổ vũ đóng một vai trò. Thế nhưng vấn đề hòa giải giữa người Việt thì Trần Nhân Tông đóng vai trò gì?

LM Thát:  Giữa người Việt với nhau, thì (vai trò của) Vua Trần Nhân Tông rất lớn, sự thực là ngay năm 1975, một số vị lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, chúng tôi cũng đã đề cập điều đó. Chúng tôi nói là chúng ta không bàn chuyện đúng sai của cuộc chiến tranh. Bây giờ đất nước hòa bình, thống nhất, thì mình có sách lược rõ ràng. Dân tộc mình có một bộ phận đối lập hẳn với những người chiến thắng, cho nên mình phải có một sách lược rõ ràng.

Tôi có nhắc tới chuyện Vua Trần Nhân Tông, sau khi đánh bại quân Nguyên, thì những tài liệu liên quan tới người Việt Nam của phía Trần Nhân Tông trước đây từng đầu đơn xin theo quân Nguyên, mà những người làm công tác tình báo, an ninh lúc bấy giờ thu đươc, trình lên Vua, đòi phải điều tra những việc này, để xử lý, thì Vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh là đốt hết tất cả những tài liệu ấy.

Tức là không nói đến chuyện lý lịch nữa. Vấn đề là chúng ta đánh thắng giặc rồi, thì bây giờ chúng ta xây dựng. Xây dựng thì chúng ta đoàn kết với nhau. Vấn đề này, ngay từ đầu, ngay sau năm 1975, chúng tôi đã đề cập với Ðảng và Nhà nước Việt Nam.

Và quan niệm của chúng tôi bây giờ vẫn như thế. Còn hôm nay, ở đây người ta nói về hòa giải quốc tế, thì có lẽ là nói đến giữa Mỹ với Việt Nam là chính. Vì chủ đề chiến tranh Việt Nam ở Mỹ vẫn còn là chủ đề hết sức nóng và chua chát.

Ðây có lẽ là một cách thể hiện việc hai bên Việt Mỹ vẫn quan tâm đến nhau. Tôi nghĩ cái này cũng tốt. Về phía Việt Nam, tôi nghĩ những nhà lãnh đạo Việt Nam đã xóa được cấm vận, đi đến những bước đặt quan hệ bình thường. Thực sự bây giờ đối tác về kinh tế của Việt Nam là Mỹ, trong số 100 tỷ đô-la đó, riêng Mỹ chiếm một phần tư. Chứng tỏ là Mỹ rất quan tâm tới Việt Nam.

Cuộc hội thảo và giải thưởng Trần Nhân Tông này cũng rất hay để thể hiện rằng trong quá khứ, dân tộc mình cũng có những dân tộc như thế, đã cố gắng làm để xóa những hận thù, đặc biệt trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ. Bởi vì anh đánh thắng xong thì phải làm được hòa giải.

BBC: Bài phỏng vấn Thiền sư Lê Mạnh Thát được thực hiện khi ông đến dự hội thảo về Hòa Giải tại Viện Trần Nhân Tông ngày21/9/2012 tổ chức tại Ðại học Harvard, Hoa Kỳ. Ông cũng nói về ý nghĩa học thuật của việc phát hiện ra tranh [Trúc Lâm Ðại Sỹ Xuất Chi Ðồ] về Vua Trần Nhân Tông sách của Trung Quốc thời Càn Long đã nhắc nhưng chỉ đến bây giờ người Việt Nam mới thấy bản chụp.

Hết bài Phỏng Vấn.

Thượng Toạ Thích Thiện Minh, người bị bọn Bắc Cộng hành hạ đến chết.

Thượng Toạ Thích Thiện Minh, người bị bọn Bắc Cộng hành hạ đến chết.

CTHÐ: Lời bài tường thuật của Ðài BBC lủng cà lủng củng. Tôi không tin Trí Siêu Lê Mạnh Thát lại nói những câu ấm ớ đến như thế. Nhưng cũng có thể đó là những lời do Trí Siêu nói. Vì ”danh không chính thì ngôn không thuận.” Bọn Bắc Cộng không có tư cách gì – dù cái tư cách nhỏ bằng cái tĩ con chuột nhắt cái – để nói về đức tính khoan hoà của Vua Trần Nhân Tông. Vua Trần tha thứ cho bọn người Việt theo giặc Nguyên xâm lăng, bọn Bắc Cộng sản thẳng tay giết người Việt. Ngay trong Tháng Tám 1945, khi vừa nắm được quyền lực, chúng đã giết nhiều nhân vật Quốc Gia không ở trong Ðảng chúng. Năm 1955 chúng phát động chiến dịch giết người Việt ở miền Bắc. Năm 1975 chúng thực hiện cuộc giam tù, đầy đọa hàng trăm ngàn sĩ quan quân đội Quốc Gia VNCH,  hàng trăm ngàn viên chức chính quyền Quốc Gia. Bọn Bắc Cộng không biết hổ thẹn khi chúng mở Viện Trần Nhân Tông và ca tụng đức độ khoan hồng của Vua Trần.

Tu sĩ Trí Siêu nói:

Vấn đề là chúng ta đánh thắng giặc rồi, thì bây giờ chúng ta xây dựng. Xây dựng thì chúng ta đoàn kết với nhau.”

Tu sĩ nói tôi nghe không vô. Ông ở phe thua trận, ông không thể nói: “Chúng ta đánh thắng giặc.” Bọn Cộng sản không bao giờ chủ trưong đoàn kết. Mồm chúng nói đoàn kết, hòa hợp, tay chúng giết người. Mà chúng toàn giết người Việt. Chuyện đó em nhỏ lên ba cũng biết. Và – nhắc lại – ông Tu sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát không có tư cách gì khi ông đứng chung với bọn Bắc Cộng để ca tụng Vua Trần Nhân Tông với người Mỹ. Ông chống bọn Cộng, chúng cho ông vào nằm  phơi rốn trong Khám Tù Tử Hình Nhà Tù Chí Hoà, chúng tha chết cho ông, chúng bắt ông ở tù 14 năm. Chúng tử tế gì với ông mà ông đứng chung với chúng nó, ông đem thân danh ra đỡ đòn cho chúng nó?

Ðây là vài chuyện trên Internet về Núi Yên Tử, nơi có điện thờ Vua Trần Nhân Tông.

Ðầu năm, phật tử khắp cả nước ùn ùn đổ về Yên Tử như về cõi Phật. Yên Tử không chỉ là danh thắng, mà còn là một đỉnh non thiêng, bởi nó là núi của tâm linh. Vậy nên, dãy núi ấy có vô số chuyện kỳ bí cũng là điều dễ hiểu.

Trong vô vàn những câu chuyện bí ẩn, khó tin, thì chuyện Hồn Ma Cung Nữ  ở suối Giải Oan khiến không ít người phải rùng mình sợ hãi.

50 người bị “hồn ma” dựng giường đòi đá sỏi

Một ngày giữa năm 2007, khi đang lang thang ở suối Giải Oan – nơi 100 cung nữ trẫm mình khi không thuyết phục được Vua Trần Nhân Tông quay về kinh đô, ông Lê Quang – Phó Giám đốc Trung tâm quản lý di tích – danh thắng Yên Tử – gặp một cảnh tượng khá lạ: Mấy chục người đàn bà vừa quỳ vừa lạy, vừa khóc bên bờ suối. Có người chắp tay với nén hương nghi ngút khói, vái lấy vái để.

Ông Quang  tìm gặp tài xế chở những phụ nữ này đến suối Giải Oan hỏi chuyện. Anh này kể rằng, hồi đầu năm, vào đúng dịp lễ hội Yên Tử, anh được công ty chỉ định chở 50 chị em thuộc hội phụ nữ ở một phường của thành phố Lạng Sơn về trẩy hội Yên Tử. Chị em đi lên Yên Tử theo đường cáp treo, nhưng khi về, vì muốn khám phá Yên Tử nhiều hơn nên họ đi theo đường bộ. Cuối buổi hành hương, chị em làm lễ cúng bái ở chùa Giải Oan.

Cúng xong, chị em  ra miếu Bạch Mẫu Giải Oan, là ngôi miếu nhỏ nằm dưới gốc cây ngay cạnh suối. Cúng bái, hóa vàng, thụ lộc xong, chị em xuống suối Giải Oan để rửa mặt, rửa chân, rửa tay. Theo lời một số người, thì rửa mặt, tay chân, hay tắm ở suối Giải Oan người ta sẽ có làn da mịn màng, trắng nõn .

Lúc về, mỗi người nhặt vài hòn cuội làm kỷ vật ghi chuyến đi.  Chị em tin rằng, trong mỗi hòn cuội đều ẩn chứa các linh hồn cung nữ, nên dùng sỏi cuội này kỳ cọ thân thể, sẽ được phù hộ, khiến da dẻ trắng đẹp, mịn màng, đẹp chả khác gì… cung nữ thời Trần.

Anh tài xế cũng nhảy xuống suối nhặt vài viên sỏi. Vợ anh thấy ông chồng bày mấy cục sỏi trên tủ, thì mắng chồng dở hơi. Nhưng khi anh kể chuyện dùng sỏi kỳ cọ, da dẻ sẽ hồng hào, mịn màng như cung nữ, thì… ngày nào chị vợ khi tắm cũng dùng đá sỏi kỳ cọ!

Vài ngày sau khi dùng sỏi để kỳ cọ da thịt thì vợ anh  biến thành người khác, với đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ. Chị kể cả đêm chị không ngủ được, vì hễ cứ nhắm mắt lại mơ thấy những cung nữ xinh đẹp, với màu áo trắng, làn da trắng muốt, nhìn chị bằng đôi mắt giận dữ và hét lên:

“Trả đá cuội cho ta.”

Sau nhiều đêm gặp ác mộng, sợ hãi vì hồn ma về đòi mấy hòn sỏi, chị không dùng để tắm nữa, mà đặt lại trên tủ. Thế nhưng, những cung nữ vẫn tìm gặp chị trong giấc mơ.

Vài hôm sau, doanh nghiệp vận tải gọi anh lái xe này lên và phân công anh chở 50 phụ nữ ở phường nọ về lại Yên Tử. Lúc lên xe, anh mới kinh hoàng biết rằng, 50 phụ nữ từng hành hương về Yên Tử, từng lấy đá cuội ở Yên Tử về làm dụng cụ kỳ cọ cơ thể đêm đêm đều bị… hồn ma cung nữ dựng giường, đòi trả đá. 50 chị này nay trở lại Yên Tử để trả đá. Họ còn phải cúng lễ xin các hồn ma tha tội.

Tục truyền khi Vua Trần Nhân Tông lên núi tu, cả trăm cung nữ của Nhà Vua theo đến Yên Tử xin Vua trở về kinh đô. Vua không về. Số cung nữ này trẫm mình chết hết trong dòng suối núi.

CTHÐ: Tôi nghĩ dòng Suối này không phải là Suối Giải Oan mà là Suối Oan Khiên hay Suối Kết Oan. Ông Vua đi tu chưa thấy có lợi ích gì đã làm chết oan 100 cung nữ. Nhưng dòng suối nước chỉ cao đến đầu gối người, không ai có thể tự trầm ở đây được. Nhưng những bằng chứng là những cục đá sỏi ở suối được người lấy bị hồn ma đòi phải đem trả cũng là chuyện có thật. Tôi théc méc: hồn những người chết đã qua gần nghìn năm mà vẫn không được siêu thoát, vẫn oan khiên, vẫn thù hận? Nếu thật như thế thì tội nghiệp cho các cung nữ Nhà Trần. Nhưng Núi, Suối, Rừng là của chung nhân dân. Dòng Suối Yên Tử không phải là của riêng của số cung nữ đã chết. Các cung nữ đời Trần lấy quyền gì mà không cho người dân lấy mấy cục đá sỏi ở Suối?

Nhắc lại: Suối đó là Suối Kết Oan, không phải là Suối Giải Oan.

Vua Trần Nhân Tông nhường ngôi Vua cho con, lên làm Thái Thượng Hoàng, đến ở phủ Thiên Trường. Một hôm Vua về triều xét Sổ Quan Lại. Vua nói:

“Nước nhỏ bằng cái bàn tay, sao nhiều Quan quá!”

Tôi – CTHÐ – théc méc:

“Vua cũng chỉ là anh đàn ông sức lực có hạn. Vua dùng 10 em cung nữ là được rồi, đủ rồi. Làm gì mà Vua tích trữ đến 100 em. Trước khi Vua đi tu, Vua thừa sức cho các cung nữ về làm dân, cấp cho mỗi em một khoản tiền. Việc thật dễ làm. Sao Vua lại nhẫn tâm bỏ rơi họ để họ phải chết thảm?”

o O o

Linh Mục Nguyễn Công Ðoan bị bọn Công An Thành Hồ vu tội phản động, bắt, xử tù 12 năm. Ở tù 8 năm,  ông được giảm án, ông  về Sài Gòn trước tôi một, hai tháng. Năm 1990 tôi mãn án, về Sài Gòn, tôi có đến thăm Linh Mục. Năm 2000, nhân chuyến đi sang Roma, Linh Mục ghé sang Hoa Kỳ. Linh Mục có ông cháu ruột cũng là Linh Mục ở Hoa Thịnh Ðốn ngay quận Fairfax nơi vợ chồng tôi sống. Một buổi trưa nắng vàng tôi đứng dưới hàng cây trước lối vào Housing chờ Linh Mục đến. Tôi bồi hồi nhớ buổi trưa đầu năm 1989 tôi từ Nhà Tù Chí Hòa trên xe tù đến cổng Trại Tù Khổ Sai Z 30 A.

Tôi viết “Trại Tù Khổ Sai,” tôi không viết “Trại Lao Ðộng Cải Tạo” hay “Nông Trường Cải Tạo.” Vì đó là trại tù khổ sai, không có cái gì gọi là cải tạo.

Tôi nhớ buổi chiều tôi ở Hội Trường, nơi có văn phòng cho Ban Dịch Thuật làm việc, sắp đến giờ điểm danh, tôi phải về phòng giam. Trời mưa, Linh Mục bảo tôi:

- Anh lấy áo mưa của tôi mà về.

Tôi nói:

- Cám ơn cha. Cha cho tôi đi dưới trời mưa. Năm năm rồi tôi không được đi dưới trời mưa ..

Chiều ấy tôi đi về phòng giam dưới mưa, để được cảm thấy mưa rơi trên tóc, trên vai áo, tôi đi chân đất qua những vũng nước mưa trong vắt trong bãi cỏ sân vận động của trại, nhớ lại cảm gíác lội nước mưa ngoài đồng thời tôi làm liên lạc viên trong kháng chiến chống Pháp. Có bị ở tù con người mới thấy những chuyện như đi dưới mưa, đi chân trần lội qua vũng nước mưa trong bãi cỏ, nước mưa trong mát, cảm thấy nắng ấm trên tóc, trên vai, nghe tiếng chim trong vòm cây, nhìn mây trắng bay ngang trời, thấy mặt trời lặn, mặt trăng lên là những lạc thú, những hạnh phúc.

Hai vị linh mục Cậu Cháu ruột lên phòng của vợ chồng tôi trong Housing for Low Income Seniors. Vợ chồng tôi thấy Cha Ðoan không khác xưa bao nhiêu. Vợ chồng tôi xúc động khi chúng tôi được Cha chúc lành.

Hôm nay tôi phải viết những dòng này vì Cha nói những lời này trên Internet:

Father Doan compares their history to the story of the 1001 Nights, where by telling one story per night for 1000 nights a woman was able to stay off her execution, and more than that, was able to change the mind of her captor.

‘For me, that story explains how the Church in Vietnam, and the Society of Jesus in particular, we have been working for 30 years to create this friendship, and closeness and dialogue. From suspicion to dialogue, to being able to live in peace with each other and to respect each other.’

By Michael McVeigh

Tạm dịch: Linh mục Ðoan so sánh lịch sử – ( Dòng Tên ở Việt Nam) – với chuyện Ngàn Lẻ Một Ðêm, chuyện một thiếu phụ thoát chết bằng cách mỗi đêm kể một chuyện cho vị bạo chúa nghe; những chuyện nàng kể làm bạo chúa thay đổi tâm tính.

Linh Muc Nguyễn Văn Vàng, người bị bọn Bắc Cộng giam tù đến chết.

Linh Muc Nguyễn Văn Vàng, người bị bọn Bắc Cộng giam tù đến chết.

Linh mục Ðoan nói:

“Với tôi, chuyện đó giải nghĩa bằng cách nào Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, và riêng Dòng Tên, chúng tôi đã làm việc trong 30 năm để tạo nên tình thân hữu này, sự thân thiết và sự đối thoại. Từ nghi kỵ sang đối thoại. Ðể có thể sống bình yên với nhau và kính trọng lẫn nhau.

Người viết Michael MacVeigh

CTHÐ: Thưa Linh mục,

Bọn Bắc Cộng thẳng tay triệt hạ tôn giáo, giam tù, đầy ải, làm chết các tu sĩ. Từ năm 1975 tất cả các tôn giáo Quốc Gia VNCH bị bọn Cộng triệt hạ cực kỳ hung bạo. Tất cả các ông lãnh đạo các tôn giáo im re, các ông chỉ chịu đựng. Có bao giờ các ông làm công việc hoá giải bọn Cộng Sản như người thiếu phụ kề chuyện trong Truyên Ngàn Lẻ Một Ðêm?

Nay chúng buông thả cho các ông hành đạo vì chúng thấy việc triệt hạ tôn giáo, đàn áp các ông không có lợi cho chúng. Nhưng xin Linh mục nhớ cho: bọn Cộng chỉ cho một số Linh mục tương đối được tự do, chúng vẫn thẳng tay cầm tù nhiều vị tu hành. Xin Linh mục nhớ bọn Cộng coi “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” Một trong những việc chính chúng phải làm là thủ tiêu tôn giáo. Bọn Cộng không sống chung với Tôn giáo. Tôn giáo cũng không sống chung hoà bình với Cộng sản.

Chuyện các vị tu hành sống thân thiết, bình yên và kính trọng  nhau với bọn Cộng sản – theo tôi – là chuyện không thể có trên cõi đời này.

Tôi chắc Linh mục không kính trọng chúng nó, chúng nó cũng chẳng kính trọng gì ông.

Buổi sáng Virginia muà xuân nắng vàng, tôi thả hồn tôi bay về quê hương tôi. Trong khoảnh khắc tôi thấy tôi lần đầu gặp ông Linh mục  Nguyễn Công Ðoan ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Ông trên xe đạp trên con đường đất đỏ xuyên qua những vườn điều, những hàng bạch đàn do tù trồng.

Tôi thấy ông Tu sĩ Phật Giáo Trí Siêu ở trần, quần sà lỏn, ngồi đọc báo trong Phòng 10 Khu ED Nhà Tù Chí Hoà.

Những hình ảnh còn in rõ trong trí nhớ của tôi. Mới đấy mà thời gian qua đã 23 năm.

HẠT LỆ NHƯ SƯƠNG

Này Em.. Ðã đến cuối đường..

Này Em.. Ðã đến cuối đường..

Tháng Sáu 2012, vợ tôi gặp tai nạn.  Tôi nhận được nhiều thương cảm và an  ủi; nhiều người cầu xin cho vợ tôi lành bệnh. Tôi cám ơn các bạn

Không biết nói gì hơn, tôi chỉ có thể nói “Cám ơn Thiên Chuá, cám ơn Ðức Mẹ Maria, cám ơn các bạn,”

Tôi trích một số Thư các bạn từ bốn phương trời gửi đến an ủi tôi:

Phương Lê. February 23, 2013.

Tôi đọc xong bài mà thấy rầu quá, Bố Già CTHÐ như bố đẻ tôi, và như mọi người trên cõi đờy này, trước sau cũng phải một lần ra đi. Ðọc xong bài này có ngu đến mấy người đọc cũng hiểu là Bố Già muốn được cùng cô Alice cùng đi về cõi vĩnh hằng.

Nhưng thôi, đầu năm nói chuyện xúi quẩy nghe không lọt tai chút nào. Con chỉ xin nói một lời. Một lời vô tư nhưng chắc cũng nói lên được phần nào ý nghĩ của không ít người từng hân hạnh được biết Bố. Ðó là Sống và Chết cơ hồ như không có nghĩa lý gì với tên tuổi và nhân cách của Bố. Lúc sống tên tuổi của Bố đã vượt không gian, thì khi Bố chết, tên tuổi Bố sẽ vượt qua biên giới của Thời Gian và sẽ sống mãi.

Dù Bố muốn thế nào đi nữa, con cùng hằng xin Ơn Trên cho Bố được toại ý.

Cnguyễn. February 23, 2012.

Tôi có đọc ở đâu đó: “Sự Sống của con người không có bắt đầu mà chẳng có kết cục, chỉ là một diễn tiến không ngừng nghỉ.” Bác đã vượt qua gần hết chặng đường đời quá phong phú, đã nếm đủ thứ mùi vị của đời sống thì việc chuẩn bị tinh thần cho lần vĩnh biệt cũng là chuyện thường tình. Tôi cảm thấy Bác mang nặng nỗi ân tình với Bác gái quá sâu đậm, và Bác không muốn xa rời người bạn đường đã từng cam phận, cam chịu bao nhiêu sóng gió để cuối cùng được sống bên nhau quãng đời còn lại ở xứ sở tự do. Sống như vậy là quá đủ để biết thế nào là Hạnh Phúc.

Tôi thấy Bác CTHÐ là tấm gương sáng để thế hệ đàn em noi theo và học hỏi. Bác là chứng nhân cho kinh nghiệm về Cộng sản, Tự do, Sự thật, Dối trá, Thiện ác trong một giai đoạn lịch sử của nước nhà. Bác cũng là đệ tử chân truyền của giáo phái “Cơm Nhà..” Bác ca tụng Tình Yêu trong những truyện tình diễm tuyệt do bác phóng tác. Tôi chỉ cần đọc vài đoạn trong truyện Kiều Giang là tôi đã có thể chẳng cần mua vé máy bay, hồn tôi vượt ngàn dậm về thăm Việt Nam đẹp thơ mộng xa xưa, tôi cũng có thể thả hồn tôi phiêu du ở xứ sở mù sương Anh Quốc hay ở những thế giới chỉ có “Tình Yêu,” thế giới chưa bị vẩn đục. Ðẹp thay là những nhà văn đã đem tài năng đóng góp vào kho tàng  “Chân, Thiện, Mỹ” của loài người.

Bác từng cảm khái về những truyện tình của những người yêu nhau đến cuối đời. Bác đã được hưởng Tình Yêu ấy, bác còn gì để mong muốn hay để tiếc nuối?

Phương Lê, April 14, 2013:

Bố Già! Con sẽ dâng lời cầu nguyện cho cô Alice mau khoẻ. Kính mến.

Kim Bồng, April 14, 2013:

Ðọc bài này tôi ứa nước mắt.

Nhưng chuyện cái bát gỗ ông kể khác chuyện tôi đọc và nhớ. Theo chuyện tôi nhớ, hai vợ chồng anh con làm cái máng gỗ cho bố ăn, lại không cho ông bố ngồi cùng bàn, bắt ăn riêng một chỗ. Khi bố chết, chôn rồi, đứa cháu lui cui tìm cái máng, đem rửa ráy. Bố nạt: “Ông chết rồi, mày giữ cái đó làm gì?” Thằng cháu trả lời: “Ðể mai mốt bố mẹ già, có cái mà dùng.” Chuyện luân lý dạy chữ Hiếu, tôi chắc có nguồn gốc Tây Âu, vì có chi tiết ngồi ăn ở bàn.

Nam T. April 15, 2013:

Cầu xin Chúa,Phật phù hộ bác gái khỏe mạnh trở lại.

HV. Oregon. September 2012.

Cô Alice đã yếâu mà còn bị té, cháu thương quá. Thương cô phải nằm một chỗ, thân thể đau đớn. Mấy năm trước, mẹ cháu bị té, cũng phải nằm như cô Alice nên cháu rất thông cảm cái đau của cô. May mà cô  có bác Thủy ở bên. Thuơng cô mà cũng thương bác đã lớn tuổi mà còn phải săn sóc cô.   Cực nhọc lắm. Nếu không có tình yêu thương trăm năm thì khó mà làm nổi.

Thấy bác Thủy và cô Alice ở tuổi này mà yêu thương nhau tha thiết, cháu rất ngưỡng mộ. Cháu thấy trên đời này rất hiếm có cặp vợ chồng nào giữ được tình yêu bền bỉ đến cuối đời. Cháu chỉ thấy quanh cháu những cặp vợ chồng bạn còn sống với nhau tới hôm nay họ chỉ còn ân nghĩa với nhau thôi.

Nguyễn Dũng, August 1, 2008 :

Kinh chào Công tử Hà Ðông.Xin cám ơn Công Tử đã cho xem hình gia đình. Cám ơn là vì có nhiều thần tượng bị sụp đổ khi “fan” được nhìn thấy “chân dung”..

Công Tử không khác mấy vơí sự tưởng tượng của tôi mấy chục năm qua…. Tôi vẫn thắc mắc là tại sao công tử laị chân chỉ hạt bột làm “thuyền trưởng một tàu” trong khi có những văn nghệ sĩ làm thuyền trưởng 3, 4 tàu…. Qua những bài  “Viết ở Rừng Phong” tôi thấy bàAlice tuyệt vời. Có vậy thì bà mới kềm chân được ông “đa tình,đa sát” ở vị trí “Thuyền trưỏng một tàu.”Nay được thấy dung nhan của “Nàng” tôi  nghĩ “Cái ông công tử này được hưởng rất nhiều ân huệ  Trời Ðất ban cho.. Thế mà văn phong vẫn than thân…. “Biết rồi khổ nhắm, than mãi.” Bác gái là một trang sắc nước hương trời… Công tử còn đòi gì hơn nữa. Kính chúc gia đình bé nhỏ của Công Tử ở Rừng Phong luôn luôn tràn ngập hạnh phúc “til the end”. Kính chào Công Tử.

Thường Hằng,  September 27, 2008:

Thư viết từ Sài Gòn,

Kính thưa Nhà văn Hoàng Hải Thủy,

Cám ơn sự tận tình sáng tác của Chú đối với người hâm mộ ở khắp mọi nơi Nay cháu còn được Chú cho xem hình ảnh gia đình thật là hân hạnh.

Không biết lấy gì đáp tạ cùng Chú, cháu xin kính chúc gia đình Chú được vạn an.

Nguyễn Ân, Việt Nam. October  2000:

Tôi được đọc một tin nhắn tìm vợ đăng trên nhật báo Sài Gòn vào thập niên 60, người nhắn tin mời gọi người vợ tên là Alice trở về. Nay tôi mới biết Alice là Bà phu-nhân của Ông. Bởi Bà Alice mang tên Tây nên chắc chắn Bà mang quốc-tịch Pháp, tôi thắc mắc tại sao ở thời điểm năm 75 Bà không đến tạm trú ở Nhà Thương Grall để dược Pháp đưa về nước cả 2 Ông Bà và các cháu, năm đó tôi vào nhà thương Grall vì có cháu nhỏ bị thổ tả vì ăn nhầm thực-phẩm độc và nhờ tôi làm cho Không Quân Pháp từ năm 54, lại nói dược chút tiếng Pháp nên người lính gác cửa bịnh-viện Grall cho tôi đem con vào trong để cứu cấp. Cả nhà tôi ở trong nhà thương 15 ngày mà ngu quá chúng tôi không xin họ cho qua Pháp với những người nằm la liệt trong hành lang bệnh viện, những người Pháp lai, hoặc có quốc-tịch Pháp. Ôi số mệnh cả mà thôi, phải không Ông CTHD. Bà Alice bây giờ tôi  mới biết, bà  vẫn có  dáng mệnh-phụ phu-nhân lắm. Thôi bye Ông CTHD.

Già Hâm April 26, 2013

Người ta thường nghĩ các ông nhà văn, nhà báo hay làm thuyền trưởng nhiều tầu. Các ông bảnh trai như ông HHT lại càng khỏi chê. Vậy mà hai ông bà lại có một cuôc tình đến sáu mươi năm vẫn đẹp như vậy khiến nhiều người hâm mộ. Xin biểu dương ông HHT và cũng xin gửi lời thán phục tới phu nhân của ông bởi nếu bà Alice mà không xứng đáng thì dễ gì cầm chân được ông. Xin cầu chúc cho bà luôn bình yên, luôn là chỗ dựa tinh thần rất vững cho ông và nếu đến lúc phải đi thì hãy cùng dắt tay nhau đi như cặp vợ chồng già yêu nhau thắm thiết trong cuốn phim “Nấc Thang Lên Trời” mà tôi đã xem.

Tiên Phụng. April 26, 2013

Kính bác HHT.

Bài bác viết hay và cảm động quá. Xin kính tặng hai bác bản nhạc:

Le temps qu’il nous reste

Quelle importance le temps qu´il nous reste
Nous aurons la chance de vieillir ensemble
Au fond de tes yeux vivra ma tendresse
Au fond de mon cœur vivra ta jeunesse

Comme une prière du temps de l´enfance
Ces mots sur tes lèvres me donnent confiance
Je nous imagine ta main dans la mienne
Nos moindres sourires voudront dire je t´aime

Mais l´un de nous s´en ira le premier
Il fermera ses yeux à jamais
Dans un tout dernier sourire
Et l´autre en perdant la moitié de sa vie
Restera chaque jour dans la nuit
Son cœur bien sûr battra mais pour qui mais pourquoi

Ton pas résonne la porte s´entrouvre
Mon cœur bat plus vite et je te retrouve
Quand nos mains se tiennent j´oublie tout le reste
J´ai l´impression même que le temps s´arrête

Mais l´un de nous s´en ira le premier
Il fermera ses yeux à jamais
Dans un tout dernier sourire
Un jour l´un de nous sera trop fatigué
S´en ira presque heureux le premier
Et l´autre s´en tarder viendra le retrouver

Je nous imagine ta main dans la mienne
Nos moindres sourires voudront dire je t´aime

Quan trọng gì thời gian còn lại trong đời ta.
Chúng ta may mắn được cùng nhau già đi.
Trong mắt Em sống mãi Tình Yêu của Anh.
Trong tim Anh thời Trẻ của Em sống mãi.
Như lời cầu nguyện khi ta nhỏ tuổi
Những lời trên môi Em cho anh  lòng tin .
Anh tưởng tượng tay Em trong tay Anh.
Mỗi nụ cười của chúng ta nói lên Anh yêu Em.
Nhưng một trong đôi ta sẽ ra đi trước
Sẽ nhắm mắt mãi mãi.
Trong nụ cười cuối cùng
Người còn lại mất một nửa đời
Sẽ ngày ngày sống trong bóng tối
Trái tim người đó vẫn đập nhưng đập cho ai và để làm gì
Tiếng chân Em cánh cửa mở
Tim Anh đập nhanh hơn Anh lại thấy Em
Khi đôi ta cầm tay nhau Anh quên hết
Anh có cảm tưởng thời gian ngừng lại.
Nhưng một nguời trong đôi ta sẽ đi trước
Người đó sẽ nhắm mắt mãi mãi
Trong nụ cười cuối cùng.
Một ngày trong đôi ta có một người quá mệt
Sẽ gần như sung sướng bỏ đi trước
Người còn lại sẽ đi theo người đã đi
Anh tưởng tượng tay Em trong tay Anh
Mỗi nụ cuời của đôi ta nói lên Tình Anh yêu Em.

Hoàng Hải Thủy: Tôi cám ơn các bạn. Cám ơn, cám ơn và cám ơn.

Tôi đọc bài Thơ “Em là Tiên” trong tập báo Xuân Tia Sáng – nhật báo xuất bản ở Hà Nội – năm 1952. Tôi nhớ mãi những lời Thơ ấy.

Tôi vẫn biết Em là người mộng
Em là Tiên trên Ðộng Bồng Lai
Lỡ tay trong tiệc Dao Ðài
Ðánh rơi chén ngọc, đầu thai xuống trần.
Tôi vẫn biết tiền nhân, hậu quả
Em cùng Tôi nợ trả chưa xong
Tiên cung lòng tưởng nhớ lòng
Trần gian Em kết vợ chồng với tôi.
Tôi vẫn biết lệnh Trời có thế
Trăm năm qua, án lệ cũng qua
Xe mây nương cánh hạc già
Bách thần vâng chiếu thiên nha rước về
Tôi vẫn biết trên kia Tiên giới
Em mừng vui Em trở lại nhà
Thiên đình mở tiệc hoan ca
Thiên tiên dâng chén hoàng hoa tẩy trần
Vẫn biết đấy là Xuân Muôn Thuở
Xuân Ngàn Năm rực rỡ khôâng cùng.
Nhưng nơi Nước Nhược, Non Bồng
Em còn tơ tưỏng vợ chồng nhân gian?

o O o

Thơ HHT:

Em chẳng ở dẫu van chẳng ở
Anh thương Em Anh nhớ, Anh thương,
Tuổi già hạt lệ như sương
Mắt Anh lệ chẩy trăm đường chứa chan!

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 6 Tháng 5, 2013.

TƯỚNG CHẠY 30 THÁNG TƯ

Ba Ông Tướng Chạy gặp nhau ở San Jose. Người cầm micro là Cựu Ðại Tá Vũ Văn Lộc – Ðô đốc Trần Văn Chơn, Ðại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình.

Ba Ông Tướng Chạy gặp nhau ở San Jose. Người cầm micro là Cựu Ðại Tá Vũ Văn Lộc – Ðô đốc Trần Văn Chơn, Ðại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình.

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Ðại tướng Trần Thiện Khiêm, cùng một số tướng lãnh  đã chạy ra khỏi nước. Những người Tướng này đã bàn giao chức vụ một cách vội vã và gần như bắt buộc cho những kẻ thuộc quyền. Ðại tướng Trần Thiện Khiêm bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho ông Nguyễn Bá Cẩn, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình bàn giao Phủ Ðặc Ủy cho ông Nguyễn Phát Lộc, chức vụ Ðô Trưởng, Tư lệnh CSQG Ðô Thành v.v… đều được bàn giao lại. Nói cách khác những người Tướng này đã chuẩn bị bỏ chạy từ những ngày Sài Gòn còn yên ổn, họ lên máy bay được nhân viên an ninh đưa tiển đến tận cửa lên phi cơ, họ mang theo đầy đủ gia tài. Bây giờ gia tài họ đã bị hao hớt chút đỉnh, họ đang muốn Hoa Kỳ và Việt Cộng đền bù “ thiệt hại” cho họ.

Không biết Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình mời Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đến San Jose để chào hàng mới gì đây, thưa Thiếu Tướng? Hay để hỗ trợ Thiếu Tướng tạo nên một Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Thứ Ba, thỏa mãn nhu cầu của Ðảng Việt Tân cũng là em Việt Cộng?

Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và di ảnh Ðại Tướng Cao Văn Viên. Hai ông Tướng Chạy.

Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và di ảnh Ðại Tướng Cao Văn Viên. Hai ông Tướng Chạy.

THƯA ÐẠI TƯỚNG: NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975, ÐẠI TƯỚNG Ở ÐÂU?

Người viết: LÃO MÓC

Cuối tháng 9 năm 2010, một cựu lãnh đạo cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và QLVNCH bước theo bước chân ô nhục của cựu Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Phó Tổng Thống VNCH; người bước theo đó là ông Trần Thiện Khiêm, cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, cựu Ðại Tướng QLVNCH.

Sau 35 ông Trần Thiện Khiêm im hơi, lặng tiếng trước những biến động của thời cuộc, trước những tranh đấu của những người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, trước những đòn thù của VC liên tục tấn công vào người Việt tỵ nạn.

Ðùng một cái, vào cuối tháng 9 năm 2010, ông TT Khiêm xuất hiện tại Quận Cam, miền Nam California, trong cái gọi là “Ðại hội Bất thường” của Tập Thể Chiến Sĩ VNHN.

Trên truyền thanh, truyền hình, báo chí và trên các diễn đàn điện tử lúc đó đã có nói nhiều về chuyện xuất hiện của ông Trần Thiện Khiêm. Những lời bênh vực gượng gạo của những người đã từng thọ ơn ông cựu Thủ Tướng, cựu Ðại Tướng của chế độ VNCH đã không át nỗi những âm thanh cuồng nộ của Lẽ Phải và Sự Thật!

Chuyện ô nhục nhất là chuyện ông Trần Thiện Khiêm đã trả lời trong cuộc phỏng vấn 60 phút của phóng viên Việt Dzũng, Ðài Truyền hình SBTN.

“Dù Cộng sản hay không Cộng sản thì họ cũng có tinh thần dân tộc yêu nước. Kết án họ bây giờ hẳn có sự sai lầm chăng?”

Nghe câu trả lời rất ư là “lịch sử” này của ông cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, những người lính đã chết trong cuộc chiến bảo vệ tự do, dân chủ của miền Nam Việt Nam chắc chắn không yên lòng mà nhắm mắt. Nếu có một phép lạ nào mà họ có thể làm được, chắc chắn hàng vạn oan hồn uổng tử sẽ hiện lên để đòi mạng ông cựu Ðại Tướng vô cùng khốn nạn này!

Chưa hết chuyện khốn nạn của một ông cựu Thủ Tướng của chế độ VNCH! Khi được phóng viên Việt Dzũng hỏi:

“Ðại Tướng có thông điệp gì cho tuổi trẻ trong nước và hải ngoại” thì ông Trần Thiện Khiêm trả lời ngon ơ:

“Ðảng Cộng sản Việt Nam đang tổ chức họp đảng và đang lấy từng ý kiến của người dân để thay đổi chế độ. Người dân cứ việc đưa ý kiến cho đảng cộng sản VN”. Theo bà Tôn Nữ Hoàng Hoa diễn tả trong bài “Nghe Nói Mà Mắc Cỡ” thì:

“Nghe như vậy Việt Dzũng luýnh quýnh thấy mà tội bèn phản ứng:

“Ðưa ý kiến sao được, Công An chúng sẽ tóm hết”.

Cụ Thủ Tướng TTK thấy thái độ của Việt Dzũng như vậy, bèn nói trớ là:

“Ở bên Pháp đã đưa ý kiến”.

Thiệt đúng là… “hết nước nói” với ông Trần Thiện Khiêm, người đã từng là Ðại Tướng của QLVNCH và là Thủ Tướng của chế độ VNCH.

o O o

Ba năm sau, cuối tháng 4 năm 2013 ông Trần Thiện Khiêm lại xuất hiện ở San José, Bắc California.

Theo một bài viết được phổ biến trên diễn đàn điện tử mới đây của Nhà văn Giao Chỉ tức cựu Ðại Tá QLVNCH Vũ Văn Lộc với cái tựa dài thoòng “Tháng Tư, 38 năm sau, cựu Thủ Tướng Sài Gòn Trần Thiện Khiêm nói với chính quyền Cộng sản Hà Nội: “ Các anh trật đường rầy.”

Ông Giao Chỉ viết:

“… Nhờ ông Tham mưu trưởng của thời xưa là Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình sắp xếp, chúng tôi có dịp tiếp đón 2 vị niên trưởng hết sức cao niên trong ngày Chủ Nhật vừa qua…”.

Lại cũng ông Thiếu Tướng “thầy dùi” Nguyễn Khắc Bình, “kẻ ném đá không cần giấu tay” đã “noi gương” cựu Trung Tá Trần Như Huỳnh, tức “nhà văn không có tác phẩm Chu Tấn” đang cấu kết với cán bộ cao cấp của đảng Việt Tân và bọn đầy tớ của đảng này tại San Jose để thành lập thêm một Ban Ðại Diện Cộng Ðồng thứ 3 tại Bắc California.

Theo bài viết thì 2 vị niên trưởng cao niên là cựu Ðô Ðốc Trần Văn Chơn và cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm.

Bài viết viết tiếp:

“Bỏ qua chuyện quá khứ, chúng tôi mở đầu câu chuyện về tình hình thế giới, về nội tình VN, về chính sách của Hoa Kỳ, về tương lai của tuổi trẻ. Ðặc biệt mối quan tâm về ngoại xâm từ phương Bắc, về việc cộng sản VN trưng câu dân ý qua việc sửa đổi hiến pháp. Lần trước ông Khiêm có đề cập đến việc góp ý với chính quyền cộng sản về việc thay đổi hiến pháp. Có dư luận đả kích là ngây thơ, có tinh thần hòa giải với cộng sản. Bây giờ ông có ý nói rõ là ông hoan nghênh các nhà lãnh đạo tôn giáo tại VN từ Phật Giáo đến Hội đồng Giám mục đều lên tiếng đáp lại lời cộng sản mà đòi hỏi viết lại hiến pháp thay đổi chế độ, xây dựng đa đảng, dân chủ tự do thực sự. Ông nói đó không phải là hoà giải hòa hợp, đó không phải là ngây thơ tin lời cộng sản. Ðây chính là đường lối đấu tranh chính trị. Ðưa ra lời kêu gọi là cộng sản hở đòn. Bên các cha gọi là chính quyền bị hớ. Tương kế tựu kế phải đáp lời mà phát động phong trào chống đối…”

Góp ý kiến cho tài liệu thu hình, ông Nguyễn Khắc Bình xin anh Tư (Ông TT Khiêm) nói vài lời kêu gọi giới trẻ và đồng bào hải ngoại tiếp tay đốt lửa cho công cuộc đấu tranh quốc nội. “ Anh Tư ” tán thành cho thu hình.

Anh Phạm Phú Nam xin niên trưởng có lời nói trực tiếp với nhà cầm quyền Hà Nội.

Nguyên Thủ Tướng VNCH, 88 tuổi đã đồng ý lên ngay diễn đàn nói trực tiếp với nhà cai trị cộng sản VN.

Ông nói:

“ Các anh trật đường rầy. Xã hội chủ nghĩa không thể thành công đem đến cho dân tự do và hạnh phúc. Còn cộng sản sẽ không có tự do dân chủ. Thế kỷ này là thế kỷ tự do dân chủ thực sự. Sự sai lầm của các anh sẽ làm đất nước rơi vào tay cộng sản Tàu…”.

Năm 2010, cựu Ðại Tướng, cựu Thủ Tướng của VNCH là ông Trần Thiện Khiêm theo bà vợ mới đến Quận Cam, ông ca tụng Việt Cộng  có lòng yêu nước [sic]!

Trước đó, ông ta đã đến “Tượng Ðài Việt Mỹ” và đã dự “Ðại hội Bất Thường” của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH/HN. Không biết ông cựu Ðại Tướng có nhớ đến câu “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô?”

Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình sau “Ðại hội Bất Thường” khi trả lời báo chí có cho biết “ cá nhân ông cũng như Tập Thể vẫn có liên lạc thường xuyên với cựu Ðại Tướng (Trần Thiện Khiêm) vì Ðại Tướng là người có nhiều liên lạc với các giới lãnh đạo Hoa Kỳ”.

Cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa, ông Nguyễn Văn Ngân, cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đều xác nhận ông Trần Thiện Khiêm là người hoạt động cho CIA!

o O o

Ba năm trước, năm 2010, cựu Thủ Tướng VNCH, cựu Ðại Tướng QLVNCH Trần Thiện Khiêm nói: “Dù Cộng sản hay không Cộng Sản thì họ cũng có tinh thần dân tộc yêu nước. Kết án bây giờ hẳn có sự sai lầm chăng”.

Ba năm sau, năm 2013, ngay trong những ngày Quốc Hận, Tháng Tư đen, “Nguyên Thủ Tướng VNCH, 88 tuổi đã lên diễn đàn nói trực tiếp với nhà cai trị CSVN. Ông nói : “ Các anh trật đường rầy. Xã hội chủ nghĩa không thể thành công đem đến cho dân tự do và hạnh phúc. Còn cộng sản sẽ không có tự do dân chủ. Thế kỷ này là thế kỷ của tự do dân chủ thực sự. Sự sai lầm của các anh sẽ làm đất nước rơi vào tay Cộng sản Tàu”.

Ba năm trước đó ông cựu Thủ Tướng VNCH, cựu Ðại Tướng QLVNCH ca tụng là “VC có tinh thần dân tộc yêu nước! (sic!)”.

Ba năm sau, ông lại bảo là những nhà cai trị CSVN là “các anh trật đường rầy…”

Mô Phật! Lạy Chúa tôi!

Nhờ có bài viết của Nhà văn Giao Chỉ với “những lời nói trực tiếp với nhà cai trị CSVN” của cựu Thủ Tướng VNCH, cựu Ðại Tướng QLVNCH Trần Thiện Khiêm nên sau 38 năm VC cai trị đất nước như một đoàn quân ngoại nhập, bọn lãnh đạo VC chúng nó mới biết là chúng nó trật đường rầy! Và 90 triệu dân ngu, khu đen ở trong nước, và 3 triệu người Việt Quốc gia tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại mới biết “Xã hội chủ nghĩa không thể thành công đem đến cho dân tự do và hạnh phúc. Còn cộng sản sẽ không có tự do dân chủ. Thế kỷ này là thế kỷ của tự do dân chủ thực sự. Sự sai lầm của các anh sẽ làm đất nước rơi vào tay cộng sản Tàu.”

Vậy mà 3 năm trước đây  có người dám bảo là ông Trần Thiệm Khiêm kêu gọi hòa hợp, hòa giải với VC. Nay, nhờ bài viết của ông “Nhà-văn-Nhạc-bất-quần” Giao Chỉ tức cựu Ðại Tá QLVNCH Vũ Văn Lộc người ta mới biết đây là “đường lối đấu tranh chính trị” của ông cựu Ðại Tướng QLVNCH, cựu Thủ Tướng của Chính phủ VNCH Trần Thiện Khiêm!

o O o

Nhiều năm trước đây, Nhà văn Giao Chỉ, tức cựu Ðại Tá QLVNCH Vũ Văn Lộc có viết bài “Ba Mươi Tháng Tư năm 1975: Anh (hay chị) ở đâu?”.

Tác giả Tiểu Quyên, vợ một quân nhân QLVNCH đã viết bài trả lời, trong thư có đoạn kết như sau:

“Bác hỏi  Ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975 cháu ở đâu? Vâng, xin thưa ngày 30 Tháng 4 năm 1975, cháu đi chôn chồng cháu ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà. Vậy thì phần Bác. 30 Tháng 4 năm 1975, Bác ở đâu?”.

Không thấy ông nhà văn Giao Chỉ trả lời, trả vốn gì cả cho câu hỏi của bà Tiểu Quyên, vợ của một quân nhân QLVNCH đã hy sinh vào Ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hay có mà Lão Móc không biết. Nếu có đọc bài viết này, xin niên trưởng Vũ Văn Lộc trả lời câu hỏi của bà Tiểu Quyên, vợ của một chiến sĩ của QLVNCH đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Hay ai có biết “30-4 năm 1975, cựu Ðại Tá QLVNCH Vũ Văn Lộc ở đâu?” Xin cho mọi người cùng biết. Cám ơn trước!

Lão Móc bắt chước bà Tiểu Quyên, xin thưa với Ðại Tướng QLVNCH, Thủ Tướng VNCH Trần Thiện Khiêm như sau:

“Tôi, Lão Móc, tức Ðại úy QLVNCH Nguyễn Văn Nghiêm, tôi đã ở lại và tiếp tục cuộc chiến đấu do các ông lãnh đạo cho đến khi ông “Tổng Thống thời cơ” Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng.

Tôi cũng như hàng trăm ngàn người lính QLVNCH đã phải lao động khổ sai qua 8 trại tù VC từ Nam ra Bắc. Chúng tôi đã phải bắt và ăn tất cả những con vật từ chuột chết, gà toi, heo bệnh, bọ cạp, rắn rết, cào cào, châu chấu… (chỉ trừ 2 con bù lon và con bù sít) để mà sống còn. Chúng tôi đã phải ăn cả rau trồng và tưới bằng phân người để mà sống, để mà trở về sum họp với vợ con, gia đình. Nhiều ngàn người đã phải bỏ thân nơi rừng thiêng, nước độc, lam sơn, chướng khí, nơi mà bọn chó đẻ VC gọi bằng mỹ từ “Trại cải tạo”.

Tôi và gia đình tôi đã phải kinh qua chuyến vượt biên mà tàu chúng tôi gặp hải tặc 2 lần, tất cả đàn bà con gái trên tầu đều bị hãm hiếp.

Xin được hỏi:

“Thưa Ðại Tướng: 30 tháng 4 năm 1975, Ðại Tướng ở đâu? 38 năm nay Ðại Tướng ở đâu? Nay, ông lại nói ra những lời không ra làm sao cả!”

Tôi không tin một người làm tới Ðại Tướng QLVNCH, làm tới Thủ Tướng Chính phủ VNCH như Ðại Tướng lại không biết câu:

Bại binh chi Tướng, bất khả ngôn dũng
Thất quốc chi Ðại phú, bất khả ngôn trí”

Nhất Tướng công thành vạn cốt khô!”, kính xin Ðại Tướng đừng tiếp tục làm những việc trái khoáy, đừng nói ra những lời nịnh bợ VC khiến linh hồn hàng triệu tử sĩ  QLVNCH đã hy sinh trong cuộc chiến 20 năm bảo vệ tự do, dân chủ ở miền Nam Việt Nam phải tủi hổ!.

Và những người dân, những người lính mà Ðại Tướng, Thủ Tướng đã từng lãnh đạo phải thêm phần tủi nhục!

Thành thật cám ơn!

LÃO MÓC

Sao y bản chánh

Di Tản USIS

Người Việt di tản lên trực thăng trong sân Tòa Ðại Sứ Mỹ Ngày 29 Tháng Tư 1975.

Người Việt di tản lên trực thăng trong sân Tòa Ðại Sứ Mỹ Ngày 29 Tháng Tư 1975.

Chuyện Xưa quá rồi, Xưa đến cái độ không còn chuyện Xưa nào có thể Xưa hơn. Ðó là chuyện Di Tản ở USIS – United States Information Service: Sở Thông Tin Hoa Kỳ – trong những ngày cuối Tháng Tư 1975.

Tôi đã viết về cuộc Di Tản này, hôm nay tôi viết thêm vì gần 40 năm sau – đến Tháng Ba năm 2013 – một người đọc Viết ở Rừng Phong gửi cho tôi một đoạn chuyện trích trong Hồi Ký Phạm Duy. Ðoạn chuyện này nhắc đến tôi và cuộc di tản Tháng Tư 1975 ở USIS:

Ðây là lời Phạm Duy:

Tôi cũng bốc máy nói gọi vài người quen, hi vọng tìm ra lối đi, cuối cùng gọi được Hoàng Hải Thủy — lúc đó đang làm việc ở Sở Thông Tin Mỹ USIS —  HH Thủy cho tôi biết trong bảng danh sách những người được Mỹ bốc đi, tên gia đình tôi đứng hàng đầu. Ðang sốt ruột ngồi đếm từng giờ từng phút, lại chỉ thấy Giám Ðốc USIS là Carter trấn an tinh thần dân chúng trên màn ảnh truyền hình… … Một hôm, Phạm Thiên Thư và Trần Dạ Từ băn khoăn tới hỏi tôi về đường đi nước lùi. Tôi tâm sự với Phạm Thiên Thư về ý định soạn một bài hát bỏ nước, lấy tên Bầy Chim Bỏ Xứ. Tôi hình dung nước Việt Nam với một bầy chim phải cất cánh bay đi vì ở quê hương sẽ không còn bầu trời tự do cho chim bay bổng nữa. (Hồi ký Pham Duy)

Nhà Văn Nguyễn Ðình Toàn viết về Hoàng Hải Thủy trong Cuộc Di Tản USIS:

Chương ông viết về việc ông bỏ lỡ chuyến di tản năm 1975 là một chuyện cười ra nước mắt.

Khi đó, Hoàng Hải Thủy đang làm việc cho USIS tức Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Trước ngày 30/4 ông Giám đốc USIS cho biết sẽ cho nhân viên đi nhưng con trai các nhân viên phải dưới 17 tuổi mới được đi theo bố mẹ. Nhân viên phàn nàn, ông nói ông phải làm theo lệnh của chính phủ Việt Nam, không thể làm trái luật pháp, cũng không thể nhận diện em nào trên hay dưới 17 tuổi. Ngay lúc đó Hoàng Hải Thủy thật thà không hiểu câu nói của ô. Giám đốc Alan Carter, ý ông muốn bảo “Các anh cứ khai các con anh 16 tuổi chứ tôi có cần các anh chứng minh đâu“. Y hệt như câu thơ của T.T.K.H, “đến khi tôi hiểu thì tôi đã” muộn mất mấy chục năm rồi.

Ngưng trích.

Người trong Xe Bus Mỹ lên phi trường Tân Sơn Nhứt, người ở lại Sài Gòn. Những bàn tay chia ly bị ngăn cách vì khung kính cửa xe.

Người trong Xe Bus Mỹ lên phi trường Tân Sơn Nhứt, người ở lại Sài Gòn. Những bàn tay chia ly bị ngăn cách vì khung kính cửa xe.

CTHÐ: Tôi làm nhân viên Sở Mỹ lần thứ nhất năm 1955.  Tháng Bẩy 1954 tôi lấy vợ. Vợ chồng tôi không còn ở nhờ nhà bố mẹ chúng tôi được nữa, chúng tôi phải ra ở riêng. Năm ấy tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Sàigònmới, luơng tháng của tôi 3.000 đồng. Tiền mướn nhà đã mất 1.000 đồng một tháng. Vợ chồng tôi sống quá eo hẹp với số tiền 2.000 đồââng. Tôi đòi lên lương 4.000 đồng, nhà báo không cho, tôi bỏ việc.

Lâm, anh bạn tôi, lúc ấy  làm việc ở USIS Sài Gòn. Anh đưa tôi đi làm nhân viên Sở Mỹ. Anh nói trước về tôi với anh Lê Kim Thịnh, Trưởng Phòng Nhân Viên US Embassy. Anh Lê Kim Thịnh là Phụ Tá Trưởng Phòng nhưng có thể kể anh là Trưởng Phòng, vì ông Trưởng Phòng Mỹ chỉ lo chuyện nhân viên Mỹ, anh Lê Kim Thịnh phụ trách toàn thể người Việt làm nhân viên Sở Mỹ.

Tôi đến Toà Ðại Sứ Mỹ gặp anh Lê Kim Thịnh. Anh hỏi tôi vài câu:

“What’s your name? How old are you?”

Anh đưa tôi dịch một Memo chữ Mỹ ra chữ Việt. Xong anh cấp giấy giới thiệu cho tôi đến USOM, Số 35 đường Ngô Thời Nhiệm.

USOM: United States Operation Mission là tiền thân của USAID: Sở Viện Trợ Hoa Kỳ. Bà Trưởng Phòng Nhân Viên USOM xem giấy giới thiệu. Bà hỏi tôi vài câu, cho tôi vào làm ở Travel Section, lương tháng 5.500 đồng. Tôi đi làm ngay ngày hôm sau. Công việc ở Travel Section hợp với tôi: Ðến những toà lãnh sự ngoại quốc ở Sài Gòn xin Entry Visa cho nhân viên Mỹ có việc đến những quốc gia đó, đi mua vé máy bay cho nhân viên Mỹ ở Air Vietnam, Air France, Pan Am. Năm đó USOM có phi cơ riêng: phi cơ Air America, mỗi tuần 2 chuyến bay Sài Gòn-Dalat-Huế, mỗi tháng một chuyến bay Sài Gòn-Vientiane-Bangkok-HongKong. Tôi phải lo việc đưa đón những hành khách của Air America. Lo xe USOM đưa họ từ phi trường về Hotel. Quan trong nhất là việc đón những nhân viên Mỹ từ Mỹ sang. USOM đang mở rộng, tháng nào cũng có cả chục nhân viên từ Mỹ đến Sài Gòn. Những người này được gọi là New Arrival. Có những người từ  Mỹ sang, ghé Tokyo, HongKong, Manlle chơi vài ngày, họ đến Tân Sơn Nhứt lúc 2, 3 giờ sáng. Những công việc này làm tôi có nhiều giờ Overtime, và cho tôi có điều kiện đi khỏi Sở nhiều giờ trong ngày.

Tôi có cái tật hay chán công việc – người Mỹ gọi tình trạng này là “Boredom on the job,” – Làm mãi một việc thấy chán. Ngay cả việc làm báo là việc tôi thích nhất tôi cũng đôi khi thấy chán. Làm nhân viên USOM, lương hậu, có xe Sở đưa đón, được hai năm tôi thấy chán.

Năm 1956 Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong ra đời, tôi viết cái gọi là Phóng Sư Tiểu Thuyết Vũ Nữ Sài Gòn trên Văn Nghệ Tiền Phong, rồi tôi viết tiểu thuyết Feuilleton Chiếc Hôn Tử Biệt trên nhật báo Ngôn Luận. Từ năm 10 tuổi, tôi đã mơ được viết tiểu thuyết, 20 tuổi giấc mơ của tôi thành tựu. Tôi kiếm được tiền đủ sống với việc Viết. Một sớm tôi bỏ ngang công việc ngon lành của tôi ở USOM.

Khi tôi nói cho vợ tôi biết tôi bỏ USOM:

“Sáng mai anh không đi làm nữa.”

Nàng hỏi:

“Tại sao?”

Tôi nói:

“Anh muốn làm báo, viết truyện. Anh không muốn làm công việc gì khác. Anh không muốn làm anh thư ký Sở Mỹ đến già.”

Vợ tôi nói:

“Anh cứ làm Sở Mỹ cho mình có đồng lương chắc chắn. Làm Sở Mỹ anh vẫn viết truyện được mà? Sao anh phải bỏ việc?”

“Anh muốn xem anh có thể sống bằng việc viết truyện, làm báo hay không.”

Vợ tôi tức mà không nói được, nàng ưá nước mắt.

Những ngày như lá.. tháng như mây. Dòng đời đưa đẩy tôi trở lại việc làm nhân viên Sở Mỹ. Năm 1973 anh bạn tôi ở USIS cho tôi biết USIS cần người phụ trách Tạp Chí Triển Vọng của USIS. Anh thấy tôi hợp với việc làm này. Nguyên USIS từ lâu có Tạp Chí Thế Giới Tự Do. Khi Mỹ ký Hiêp Ước Paris với Bắc Việt Cộng. USIS dẹp tờ Thế Giới Tự Do, thay vào đó bằng tờ Triển Vọng. USIA – United States Information Agency – Cục Thông Tin Hoa Kỳ – ra Tạp chí Horizons USA. Tạp chí này đăng toàn những bài về xã hội, khoa học hiện đại Mỹ. Tất cả những cơ quan USIS trên thế giới dịch những bài này ra làm thành tạp chí chữ nước mình. Tạp Chí Triển Vọng cũng làm công việc dịch thuật đó với mỗi số có 8 trang tường thuật những công trình người Mỹ làm ở Việt Nam. Những chuyện Mỹ giúp về văn hoá, kinh tế, không có những bài về quân sự, chiến tranh. Triển Vọng không đăng những bài cổ võ chiến tranh như tờ Thế Giới Tự Do.

Năm 1973 tôi trở lại USIS, Số 8 đường Lê Quí Ðôn. Tôi trở lại làm “clerc: thư ký Sở Mỹ” với ý nghĩ tự an ủi: làm Sở Mỹ nhưng mình vẫn làm báo. Tôi làm tờ Triển Vọng chưa được 2 năm thì Tháng Tư 1975 đến.

Từ ngày 20 Tháng Tư 1975 mỗi ngày Giám Ðốc USIS Alan Carter sang Toà Ðại Sứ họp một lần. Trở về USIS ông họp với nhóm nhân viên người Việt gọi là Local Chief vào lúc 5 giờ chiều. Trong số Local Chief này có tôi. Trong cuộc họp. Carter cho chúng tôi biết về tình hình cuộc tiến quân của Bắc Cộng và những quyết định của Tòa Ðại Sứ.

Chúng tôi – nhóm Local Chief USIS – chừng 10 người, hỏi Carter:

“Người Mỹ có đưa chúng tôi ra khỏi nước không?”

Carter trả lời:

“Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy. Lúc này toà nhà Việt Nam đang có nguy cơ sụp đổ. Bao nhiêu người đang chống giữ cho nhà khỏi sụp. Nếu chúng tôi rút mấy người ra khỏi nhà, nhà sẽ sụp ngay.”

Chúng tôi gặng hỏi:

“Nếu khi Việt Cộng vào Sài Gòn, các ông có đưa chúng tôi đi không?”

Cater trả lời:

“Tôi cũng không thể nói  khi ViXi vào Sài Gòn, chúng tôi sẽ đưa các anh chị đi, vì nếu tôi nói thế, các anh chị sẽ nói với người nhà anh chị là nếu ViXi vào Sài Gòn người Mỹ sẽ đưa các anh chị và gia đình đi, vợ con các anh chị sẽ chỉ nói là với mọi người là “Người Mỹ đưa đi..” Lời nói đó có hại cho cuộc chống trả đang diễn ra.”

Năm giờ chiều ngày 22 Tháng Tư 1975, từ Toà Ðại Sứ về, Giám Ðốc Alan Carter lộ rõ vẻ xúc động. Ông xúc động hơn bọn chúng tôi. Ông mở đầu:

“Các anh chị nghe cho rõ và ghi lại để cho các nhân viên khác biết: Toà Ðại Sứ quyết định đưa các anh chị và gia đình các anh chị ra khỏi nước. Các anh chị sẽ sang Mỹ. Anh chị được mang theo bố mẹ chồng, bố mẹ vợ, các con. Con trai dưới 17 tuổi, con gái dưới 21 tuổi. Mỗi người được mang theo một va-li 20 ký. Mỗi gia đình được đổi tiền Việt Nam lấy 2.000 đô-la.”

Trong buổi họp chiều ngày hôm 23, hay 25,  tôi – CTHÐ – hỏi Carter:

“Các ông cho chúng tôi đi mà con trai chúng tôi hơn 17 tuổi, con gái chúng tôi hơn 21 tuổi, không được đi với chúng tôi. Làm sao chúng tôi đi được? Ða số chúng tôi có con trai hơn 17 tuổi, con gái hơn 21 tuổi.”

Carter trả lời:

“Ðấy là Luật của chính phủ nước các anh chị, không phải là Luật của chúng tôi. Chúng tôi làm cuộc di tản đại quy mô, chúng tôi phải làm theo Luật.”

Rồi ông nói:

“Nhưng anh nói với tôi con trai anh dưới 17 tuổi mà tôi thấy nó như ông này – Carter chỉ một Local Chief – anh nói với tôi con gái anh dưới 21 tuổi mà tôi thấy nó như bà này, tôi đâu có biết. Tôi không phải là nhà physiomist. Tôi chỉ biết anh nói với tôi con trai anh dưới 17 tuổi, con gái anh dưới 21 tuổi.”

Giám Ðốc Alan Carter nói như vậy là quá rõ. Ông không thể, và không cần nói thẳng ra: “Anh cứ khai trên giấy con trai anh dưới 17, con gái anh dưới 21 tuổi là các con anh được đi. Chúng tôi không xét thẻ căn cước hay giấy khai sinh của các con anh.” Tôi hiểu và thấm câu nói của Alan Carter ngay khi tôi nghe ông nói câu trên đây. Alan Carter thương chúng tôi, ông muốn cho chúng tôi đi thoát. Dù tôi và vợ con tôi không đi thoát, tôi vẫn cám ơn Alan Carter.

Ngày 20 Tháng Tư 1975 số nhân viên người Mỹ trong USIS đã về nước hết. Nhiều nhân viên Mỹ khóc khi họ bắt tay chúng tôi lần cuối. USIS còn lại 4 nhân viên: Giám Ðốc, Phó Giám Ðốc, Trưởng Phòng Nhân Viên, Trưởng Phòng An Ninh. Chúng tôi được phát mẫu khai vợ con đi theo. Ðến ngày 25 Tháng Tư, cuộc di tản nhân viên Sở Mỹ bắt đầu. Mỗi ngày căn cứ trên số máy bay từ Mỹ sang có thể chở được bao nhiêu người đi, số người đi được chia cho các Sở Mỹ. Người đi được Sở hẹn đưa vợ con đến nơi tập trung lên xe buýt có Lính Marine Mỹ hộ tống – nơi tập trung thay đổi, khi ở trong sân sau Toà Ðại Sứ, khi ở bãi đậu xe của USAID, khi trong sân USIS. – Xe buýt vào Tân Sơn Nhất lúc 5, 6 giờ chiều. Người đi vào một hangar Sở DAO, nằm ngồi trong đó, cứ dần dần ra cửa lên phi cơ. Cứ  xê dịch như thế suốt đêm. Người đi được đưa dần dần, từ từ và đều đều mỗi ngày đến Tân Sơn Nhứt.

Trong cuộc họp ngày 23 hay 24 Tháng Tư tôi hỏi Alan Carter:

“Có nhiều người trong giới báo chí Việt Nam hỏi tôi người Mỹ có cho họ di tản không. Ông cho biết tôi phải trả lời họ ra sao?”

Carter nói:

“Chúng ta sẽ đưa đi một số người Việt làm truyền thông, nhưng chỉ khi nào nhân viên chúng ta đi gần hết. Và ta chỉ đưa đi những người từng cộng tác với chúng ta. Anh cứ làm danh sách họ đi. Khi nào tôi thấy chúng ta có thể đưa họ đi, tôi sẽ xem danh sách ấy.”

Chuyện Phạm Duy kể trong Hồi Ký: “Hoàng Hải Thủy cho tôi biết trong bảng danh sách những người được Mỹ bốc đi gia đình tôi đứng hàng đầu” là Phạm Duy nói phét.

Phạm Duy ngu khi bịa chuyện: “Ðang sốt ruột ngồi đếm từng giờ từng phút, lại chỉ thấy Giám Ðốc USIS là Carter trấn an tinh thần dân chúng trên màn ảnh truyền hình… …” Ngu quá cỡ thợ mộc. Giám Ðốc USIS không có tư cách gì “lên TiVi trấn an tinh thần dân chúng Việt Nam.”

Tôi  hiểu ngay câu nói của Giám Ðốc Carter về số tuổi các con nhân viên được đi theo bố mẹ, tôi không bị lỡ chuyến đi vì cho là con tôi trên 17 tuổi không được đi  nên tôi không đi như lời kể của nhà văn Nguyễn Ðình Toàn.

Trong một cuộc họp. Giám Ðốc Carter nói:

“Chúng tôi cần các anh chị ở lại với chúng tôi để lo cho các đồng nghiệp của các anh, các chị đi. Vì nếu để các anh, các chị đi trước, sẽ không có ai giúp chúng tôi lo cho các nhân viên khác.”

Tôi nói:

“Tôi tình nguyện ở lại.”

Carter:

“Các anh chị không tình nguyện chúng tôi cũng giữ các anh chị lại. Ðến phút cuối các anh chị sẽ đi với chúng tôi. Phút cuối là sáng mai đây ViXi kéo vào Sài Gòn. Khi ấy chúng tôi cũng có thể bị kẹt lại.

“Các anh chị có quyền cho vợ con đi trước, hay giữ vợ con lại để cùng đi.”

Carter đưa ngay cho chúng tôi tờ giấy in roneo, trong chỉ có mấy dòng:

“Tôi… muốn vợ con tôi đi trước.

Tôi muốn vợ con tôi cùng đi với tôi.”

Ai muốn cách nào thì ký tên vào dòng chữ đó.

Vợ con tôi được đi trong chuyến tập trung chiều Ngày 29 Tháng Tư 1975. Vợ con tôi đi, tôi còn ở lại làm việc. Tôi được Trưởng Phòng Nhân Viên báo tin ấy lúc trưa ngày 28. Mỗi gia đình đi được đổi tiền Việt Nam lấy 2,000 đô-la, khoảng 3 triệu đồng Việt Nam,  nhưng đến ngày 28 số đôla của USIS đã hết. Trưởng phòng Nhân Viên cấp cho gia đình tôi một giấy chứng nhận chưa được đổi tiền, vợ tôi cứ mang mấy triệu bạc VN sang Mỹ, vợ tôi sẽ đổi số tiền VN ấy lấy đô-la Mỹ ở Mỹ. 6 giờ chiền tan Sở, tôi ra về, thấy 2  xe buýt đón người lên Tân Sơn Nhút đậu trong sân Sở. Ðấy là những chuyến xe cuối cùng đưa người di tản lên phi trường. Tối ấy bọn Bắc Cộng pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhứt, máy bay từ Guam không sang nữa. Marine Mỹ di tản người bằng trực thăng.

Suốt đêm 28 trực thăng vần vũ trên trời Sài Gòn. Lúc 10 hay 11 giờ đêm tôi nghe radio tiếng “Thủ Tướng” Vũ Văn Mẫu yêu cầu:

“Nhân viên DAO đi khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ.”

Tôi nói với vợ tôi:

“Chúng mình không đi được rồi. Mỹ nó còn ở đây, mình còn hy vọng Mỹ đưa đi. Mỹ đi mất là mình hết hy vọng.”

Nhà ông Trung Tá cạnh nhà tôi có phone. Lúc 10 giờ sáng Ngày 29 con ông chạy sang gọi tôi: “Có người ở Sở ông gọi cho ông.” Tôi sang nghe phone. Ông bạn tôi đang ở trong Sở bảo tôi:

“Còn một chuyến xe lên Tân Sơn Nhứt. Anh đến Sở gấp để đi.”

Vợ chồng tôi và ba con tôi chạy xe Honda, Vespa đến USIS. Ðến nơi thấy đồng bào chờ di tản đứng đầy trước cổng. USIS vẫn còn người gác. Chỉ nhân viên USIS mới được vào trong Sở. Bạn đồng nghiệp cho biết Giám Ðốc Carter đã sang Toà Ðại Sứ, có dùng điện thoại Tiger gọi về đây, bảo nhân viên chuẩn bị lên xe buýt. Xe sắp đến đón. Khoảng 1 giờ trưa một xe buýt của Mỹ về trước cổng. Xe không có Lính Mỹ đi theo. Xe vừa về đến, đồng bào kéo lên ngồi chật cứng.

Ông tài xế vào nói:

“Các ông bà không lên được xe. Tôi bỏ xe tôi về lo cho vợ con tôi.”

Carter lại phone về, hỏi tình hình xe cộ. Chúng tôi nói xe đã về nhưng chúng tôi không lên được xe. Xe bị người bên ngoài lên mất. Bác tài đã bỏ xe. Chúng tôi đề nghị nay chúng tôi sang nhà của Carter ở đường Tú Xương, vào nhà chờ Carter cho xe khác về đấy đón. Nhưng chúng tôi vừa đến nhà Cater thì đồng bào lại đi theo, đứng đầy ngoài cổng. Có người quăng va-li qua hàng rào, trèo tuờng vào nhà, hy vọng cùng đi với nhân viên USIS.

Không có xe nào về đón. Chúng tôi ở đấy đến 6 giờ. Ðiện thoại Tiger tắt liên lạc. Hết hy vọng chúng tôi lục tục ra về.

Nhà Carter số 16 Ðường Tú Xương. Võ Văn Kiệt có thời ở trong nhà này.

Nhà vợ anh bạn nhân viên USIS của tôi ở đường Hiền Vương, anh bảo gia đình tôi về đó ngủ qua đêm. Vi-la rộng, có đủ chỗ ngủ. Ðêm ấy anh bạn tôi gọi phone đi nhiều nơi. Sáu giờ sáng ngày 29, anh bảo tôi:

“Tôi có tầu đi. Mỗi người phải trả 500 đô. Tôi biết ông không có tiền, tôi chi 500 cho ông. Nhưng một mình ông thôi. Ông muốn thì đi với vợ chồng tôi. Ta đi ngay bây giờ.”

Tôi nói:

“Cám ơn. Tôi không bỏ vợ con tôi mà đi được. Chúc ông bà đi bình an.”

Vợ chồng bạn tôi không có con. Hai ông bà đi một xe Honda, hai anh cháu bà vợ đi một xe Honda. Họ đi và họ đi luôn. Họ đi thoát.

Năm 1991, hay 1992, có tin Mỹ sẽ trở lại Sài Gòn. Một chiều tôi đi ngang Nhà Số 8 Lê Quí Ðôn, thấy một nửa vườn nhà nay là quán nhậu. Tôi ghé vào ngồi. Nhà USIS cũ nay bỏ hoang, xác lá đầy vườn. Tôi ngồi uống bia, buồn nhìn lối đi xưa năm nào tha thướt tà áo những nữ nhân viên USIS. Cơn phẫn nổi lên, tôi nói với anh Tầu chủ quán:

“Nhà này là sở làm cũ của tôi. Ngày nào Mỹ trở lại, tôi sẽ tiếp thu nhà này.”

Anh chủ chắc chẳng hiểu tôi nói gì, anh cười hề hề, anh nói:

“Dzạ. Dzạ..”

Những năm 1991, 1992, tôi ngu đến cái độ tôi nghĩ rằng  Mỹ – Việt Cộng lập lại bang giao, Mỹ sẽ trở lại, Mỹ sẽ mở Nhà USIS như năm xưa. Tôi sẽ trở về làm nhân viên USIS.

Năm 2003 các con tôi được tôi bảo lãnh, đến Toà Lãnh Sự Mỹ làm hồ sơ đi Mỹ, nói chúng gặp một bà nhân viên người Việt, bà này có hỏi thăm tôi. Tôi chắc nay những nhân viên người Việt làm việc trong những Toà Lãnh Sự Mỹ, và Toà Ðại Sứ Mỹ ở Việt Nam là những người Việt ở Mỹ được tuyển dụng ở Mỹ.

Hai mươi năm sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 tôi gặp lại Chàng Phi ở Mỹ. Anh là tác giả nhiều bài Mỗi Ngày Một Chuyện trên nhật báo Ngôn Luận những năm 1960. Anh đi thoát trước ngày 30 Tháng Tư. Anh nói:

“Tao nghe chúng nó nói USIS nó cho mày đi, nhưng mày tham tiền, mày ở lại lo cho người ta đi mày lấy tiền của người ta. Tao nghĩ đến lúc ấy mà mày còn tham tiền, cho mày chết.”

Vợ tôi kể nàng gặp lại bà bạn:

“Bà ấy nói nhờ ở hiền, gặp lành, gia đình bà đi thoát trong ngày 30 Tháng Tư. Em nghĩ chắc vợ chồng mình ở ác, gặp dữ, chúng mình không đi được.”

Ngày 25 Tháng Tư 1975 chuyến di tản nhân viên Mỹ thứ nhất được thực hiện. Trước sau chỉ có 4 chuyến đi: Ngày 25, 26, 27, chuyến cuối cùng là chuyến đi lên Tân Sơn Nhứt chiều ngày 28. Chỉ có khoảng 1/4 nhân viên USIS đi thoát. Theo chương trình, Toà Ðại Sứ Mỹ dự định sẽ cho nhân viên di tản dần dần, đến Ngày 15 Tháng 5, 1975 người Việt nhân viên Sở Mỹ mới đi hết.

Chuyện Xưa viết lại, Buồn ơi là Buồn.

NGƯỜI LÍNH CAI TRỊ

Ðêm đông Virginia, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, an ninh 500%, tôi nằm đọc “Ký Ức Huỳnh Văn Lang.” Ký Ức 2 Tập. Tập Một 670 trang, Tập Hai 840 trang. Có đêm tôi đọc Ký Ức Huỳnh Văn Lang đến 2, 3 giờ sáng. Ðọc thì sướng khoái nhưng viết bài Ðiểm Sách Ký Ức Huỳnh Văn Lang thì tôi gặp khó khăn: Ký Ức HVLang nhiều chuyện quá. Tôi không biết nên trích đoạn chuyện nào, đoạn nào tôi thấy cũng nên trích. Tôi không đủ diều kiện để phê phán chuyện nào trong Ký Ức HV Lang đúng, chuyện nào không đúng, chuyện nào lời kể quá đáng.

Chính phủ Ngô Ðình Diệm. Ảnh năm 1957. TT. Ngô Ðình Diệm, các Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Trần Trung Dung, Bộ trưởng Bộ Thông Tin Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễu Hữu Châu.

Chính phủ Ngô Ðình Diệm. Ảnh năm 1957. TT. Ngô Ðình Diệm, các Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Trần Trung Dung, Bộ trưởng Bộ Thông Tin Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễu Hữu Châu.

Vì vậy, bài viết này không phải là bài Ðiểm Sách, tôi chỉ làm cái việc đọc và trích vài đoạn chuyện trong Ký Ức HV Lang để quí vị bạn đọc biết sơ qua về tập Ký Ức này. Nếu quí vị muốn biết thêm, hay muốn biết về 50 năm lịch sử Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà do một người trong cuộc kể, mời quí vị tìm đọc nguyên tác phẩm “Ký Ức Huỳnh Văn Lang.” Hai tập 1.500 trang, 50 đô Mỹ.

Ông Huỳnh Văn Lang là người “đẻ bọc điều.” Không những chỉ là người “đẻ bọc điều suông,” ông HV Lang là người “đẻ bọc điều chân chính, đẻ bọc điều super. “Sinh trưởng trong một gia đình địa chủ tỉnh Trà Vinh, ông sáng dạ, thông minh – ông là mẫu người được giới càn bạt Hà Nội gọi là “Ðẹp trai, trẻ tuổi, học giỏi, con nhà giầu, không có máu ăn cắp vặt.”

Những năm 1950 giới càn bạt Hà Nội có câu “Ðẹp trai, trẻ tuổi, học giỏi, con nhà giầu, chỉ phải cái tội là hay ắp vặt” để riễu những anh rởm tự khoe mình là con nhà gia giáo.

Những năm 1945  ông HV Lang 20 tuổi, ông lên Sài Gòn học. Bà mẹ ông muốn ông làm linh mục, ông đi tu, nhưng mộng Linh mục của ông không thành. Năm 1950 ông HV Lang xuống tầu biển sang Pháp du học. Ông kể về chuyến đi:

Trích Ký Ức Huỳnh Văn Lang:

Hạng Tư là một cái ham tầu trống rỗng, xưa nay dành để chở trâu bò, bây giờ được sơn phết sơ sơ để chở chúng tôi. Mỗi người được một cái võng bố, treo lên như cái bao bị, vì không đủ chiều dài, đầu võng này sang đầu võng kia chỉ chừng 2 thước. Phải là con ông, cháu cha hay là con gái mới đi Hang Ba được.. Hạng Nhì và Hạng Nhất dành cho người Pháp và quan chức Việt Nam làm việc với Pháp.

Khi xuống tàu, tôi mới hay là số sinh viên Việt Nam xuất dương đông đến thế: Hạng Ba có tới 40 người Việt, 30 nữ, 10 nam sinh viên, Hạng Tư có 200 người.

Trên tàu tôi để ý tới hai nhóm sinh viên, mỗi nhóm năm, bẩy anh em hay tập họp nhau và vui vẻ om sòm nhất. Một nhóm người Bắc do anh Hoàng Anh Tuấn cầm đầu, tất cả đều dưới 20 tuổi, hay hát xướng, hay cười giỡn, mấy anh này có hai cây đàn. Một nhóm người Trung làm như do anh Ngô Trọng Anh cầm đầu, nhóm này xem trưởng thành hơn.

Phần đông anh em là người Nam, nhưng lại chia ra nhiều nhóm lẻ tẻ, hai ba người mỗi nhóm, ít nói, ít om sòm hơn. Nhóm anh Tuấn nhận bộ văn hóa, lo âm nhạc, đánh cờ, giải trí cho anh em. Nhóm anh Anh nhận lãnh bộ tiếp tế, lo ăn uống hàng ngày. (.. .. )

Champollon là chiếc tàu đã mục nát, sắp gẫy đến nơi, đáng lý ra phải phế thải từ năm, bẩy năm trước.

CTHÐ: Chuyến hải hành Sài Gòn-Marseille trong Ký Ức HV Lang được kể trong 30 trang. Tôi chỉ trích đoạn trên. Tôi chú ý đến đoạn này vì trong 200 ông sinh viên nằm võng vượt biển sang Pháp học có ông bạn tôi là ông Hoàng Anh Tuấn.

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Nguyễn Ðình Thuần, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Bộ trưởng Phủ Tổng Thống.

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Nguyễn Ðình Thuần, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Bộ trưởng Phủ Tổng Thống.

Tôi có ba ông bạn “mày tao” là các ông Hoàng Anh Tuấn, Trịnh Viết Thành và ông Nguyên Sa Trần Bích Lan. Ba ông sang Pháp học trong khi tôi làm liên lạc viên đi chân đất, cầm thư tay đi đưa thư trong đồng đất những tỉnh Bắc Ninh- Bắc Giang – Việt Minh gọi là Bắc Bắc – Ba ông từ Pháp về nước những năm 1954, 1955. Nhưng..

Mèn ơi..Tôi vẫn cứ tưởng ba ông tôi được quen sang Pháp trên phi cơ Air France, bay đi một sáng đẹp trời từ phi trường Gia Lâm, Bắc Kỳ. Ba ông người Việt trẻ tuổi được những em đầm Hốt-tét đờ Le – Hotesse de l’air Tóc Lông Vàng Óng chiêu đãi, phục vụ.  Ðến nay – 2013 – đọc Ký Ức HV Lang, tôi mới biết trong ba ông, ông Hoàng Anh Tuấn sang Tây trong hầm tầu biển Champollon, tầu biển rỉ sét, hầm tầu dùng để chở trâu bò. Ông nằm võng sang Tây. Tôi théc méc chuyện tầu biển Champoilon đi từ bến Hải Phòng hay đi từ bến Sài Gòn? Nếu tàu đi từ bến Sài Gòn thì ông Hoàng Anh Tuấn từ Hà Nội phải vào Sài Gòn để lên tàu Champolon.

Ba ông Hoàng Anh Tuấn, Trịnh Việt Thành, Nguyên Sa Trần Bích Lan đã ra người thiên cổ.

Ký Ức Huỳnh Văn Lang Tâp II viết nhiều về đề tài “Người Lính Cai Trị.” Tôi trích vài đoạn:

Huỳnh Văn Lang viết về Dương Văn Minh.

Người dân Sài Gòn còn kháo nhau sau đảo chính Dương Văn Minh có xin Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ trích trong Ngân Sách Quốc Gia mấy triệu đồng để cho ông sửa sang lại hồ cá lý ngư và dàn hoa lan của ông ta cho đẹp hơn, lớn hơn.

Người viết không rõ, chỉ nghe nói thôi. Nhưng theo nhận xét về nếp sống, về thái độ chính trị của ông ta, tôi cho DVM chỉ là một người không có bản lãnh, không có kiến thức chính trị, đầu óc có phần đần độn, không thông minh như ông thầy Trần Văn Hương của ông hay quả quyết. DVM là người được đưa lên để bị xỏ mũi, giựt dây hơn là lãnh đạo, lại càng không phải là người có mưu lược, một thứ võ  dũng vô mưu, như ông Ngô Ðình Nhu có lần phê phán trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu (1956-57) để tiêu diệt lực lượng HH ly khai Ba Cụt ở miền Tây 1955-56.

Trong ba tháng Người lính DVM cai trị, tôi không rõ ông ta đã làm được cái gì ngoài việc phá hoại những thành quả chánh trị xã hội của chế độ trước để lại và nhứt là việc phóng thích các tên cán bộ CS nằm vùng bị Ðại tá Nguyễn Văn Y giam giữ từ trước. Nhưng vì bị lãnh đạo hơn là lãnh đạo, DVM chỉ là người bị xỏ mũi, bảo đâu làm đó. Trong những người lính cai trị dẫn dắt DVM phải kể:

  1. Người lính cai trị Ác độc Mai Hữu Xuân, Tổng Giám Ðốc CACS kiêm Trung Tâm Tình Báo Quốc Gia.
  2. Người lính cai trị Playboy Dâm bôn Trần Văn Ðôn, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng + người lính cai trị em rể gian xảo Lê Văn Kim, Tổng Tham Mưu Quân đội.
  3. Người lính cai trị già nghiện thuốc phiện Nguyễn Văn Quan, Cục Trưởng An Niunh Quân Ðội và Quân sư chính hiệu của DVM từ lâu.
  4. Thằng nhỏ ham chơi làm người lính cai trị Tôn Thất Ðính, bộ trưởng Nội Vụ mà không có CACS để thì giờ đi chơi gái Tàu Chợlon để trả thù tác giả Luật Bảo Vệ Luân Lý cho bõ ghét.
  5. Sau hết mà hơn hết là tên VC nằm vùng Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh.

Huỳnh Văn Lang viết về Nguyễn Khánh.

Tướng Nguyễn Khánh là một người lính cai trị thì hèn nhát cũng không lạ. Dám nhận một trọng trách như là Nguyên thủ Quốc gia mà lại luôn sợ chết thì lạ thật. Chỗ ngủ của anh ta luôn xê dịch. Cũng như tướng Khiêm cho quân cảnh rước về để giao cho anh ta lên nắm chính quyền thì có người kể là anh ta sợ bị bắt nên đã lê lết lậy lục xin tha mạng! Mà có người còn bịa chuyện là anh ta còn làm xấu trong quần là khác.

Huỳnh Văn Lang viết về Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ưu tư số 1 của Nguyễn Cao Kỳ là kéo bè, kéo cánh, đem bạn bè ăn chơi lính tráng người Bắc đi nắm hầu hết các chức vụ quan trọng ở đô thành SGCL 90% là dân Nam kỳ, và nhiều chức vụ quốc gia khác nữa, như Nha Thương Cảng, Quan Thuế. Có thể NCK vô ý thức đã thành lập một hệ thống tham những chưa từng thấy. Từ ngày NCK lên nắm chính quyền là ngày 19 tháng 6, 1965, khởi sự mọc lên như nấm những ổ mãi dâm trá hình là những phòng tắm hơi. Những phòng tắm này muốn hoạt động lớn nhỏ gì cũng phải đóng hụi chết cho các quận trưởng. (.. .. )

Người viết muốn nói đến bức ảnh bạn nhậu của NCK là tướng Nguyễn Ngọc Loan cầm súng lục chĩa vào màng tang của tên đại úy Lộp. Ðã đành tên VC này đáng tội chết ngàn lần, nhưng xử y như vậy thật là phản chính trị, vô chính trị, vừa không phải chỗ vừa không phải lúc

Huỳnh Văn Lang viết về TT Nguyễn Văn Thiệu.

Mở đầu tác giả Ký Ức HV Lang trích bài viết của tác giiả Nguyễn Hoàng Lưu, bài này đăng trên báo Thời Luận, Giai phẩm Xuân Nhâm Thìn 2012, bài viết về bà Ngô Ðình Nhu. Trong bài nhắc đến TT Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm:

..những người lãnh đạo sau này không có tư cách như bà Nhu. Tổng Thống Thiệu gửi con trai còn nhỏ đi học tại các trường tư thục thuộc loại đắt tiền nhất ở Thụy Sĩ, Anh. Con rể của Tổng Thống Thiệu và con rể của Thủ Tướng Khiêm đều thuộc thành phần trốn quân dịch, sống phè phỡn bằng tiền của cha mẹ vợ, tiền vơ vét trên xương máu nhân dân. Kể từ khi bắt đầu cầm quyền các ông Thiệu Khiêm đã lo vơ vét tích lũy tài sản đề phòng lúc hữu sự’

(.. .. .. )

Một trong những mẫu số chung của đa số các tướng lãnh là gái và tiền – từ Dương Văn Minh, Trần Văn Ðôn, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Ðỗ Cao Trí, Tôn Thất Ðính, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Cao Kỳ, Ðặng Văn Quang..

Sau đảo chánh 01-11-63, không còn sự kiềm chế và kiểm soát, các tướng lãnh “hội đồng tướng lãnh” ăn chơi trác táng thâu đêm.. các nữ sinh viên Phật tử hiến thân cho anh hùng cách mạng, các bà Phụ Nữ Liên Ðới đem thân xác chuộc tội.

Có người biết đem của che thân, có người đem thân che của, thì thân đi Côn Ðảo, của cải mất, vợ bị chiếm đoạt (trường họp của NVB, vợ ông này về sau là vợ bé của ông Thiệu.)

Gian dâm vợ người, tống tiền của, đoạt tài sản không bị coi là tội ác, được xem là chiến lợi phẩm. Sau vụ đoạt quyền 1/11/63 như ông Thiệu đã nói: “Quân đội làm đảo chánh thì Quân đội hưởng.”

CTHÐ: Tôi có lời bàn loạn về đoạn này:

“Các nữ sinh viên Phật tử hiến thân cho anh hùng cách mạng, các bà Phụ Nữ Liên Ðới đem thân xác chuộc tội.”

Tác giả Ký Ức HV Lang viết quá đáng. Theo tôi không có chuyện nữ sinh viên Phật Tử hiến thân cho các ông Tướng – số nữ sinh Phật Tử tham gia cuộc hạ bệ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không nhiều  còn chuyện các bà Phụ Nữ Liên Ðới đem thân xác chuộc tội thì bà nào cũng năm bó, sáu bó tuổi đời, nhan sắc thuộc loại ma chê, quỉ hờn, thân xác bệu nhệch nát hơn cái mền Sakymen, Xưởng máy ở chân cầu Bình Triệu.. Nàm thao mấy ông Tướng có thể nhận trò đem thân chuộc tội của mấy bà này!

Huỳnh Văn Lang viết về Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ. Sau cuộc đảo chính, ông Nguyễn Ngọc Thơ được các Tướng mời thành lập chính phủ. Ông NN Thơ mời ông HV Lang đến gặp:

HV Lang: Vào phòng, chưa kịp ngồi, ông Thơ nói ngay:

“Toa giúp gì được moa không? Bộ Kinh Tế được không?”

Thật là bất thần, nhưng tôi đã có dự định là không tham gia với võ biền, võ phu. Một người vừa lé vừa lùn như ông Thơ mà đứng giữa những “người lính cai trị” quá vạm vỡ như Dương Văn Minh, Trần Văn Ðôn, Lê Văn Kim hay Ðỗ Mậu ..thì tầm vóc hóa ra quá nhỏ, thì có làm gì được.

“Thưa Phó Tổng Thống, tôi còn quá xúc động, chưa thể làm gì được bây giờ. Xin cho tôi đi nghỉ năm, ba tháng, tôi sẽ về trình Phó Tổng Thống. Tuy nhiên hiện giờ tôi có một vài ý kiến, nếu Phó Tổng Thống cho phép, tôi sẽ viết ra và trình Phó Tổng Thống.

Tôi về nhà, viết một hơi 4 trang giấy, không có gì độc đáo lắm, chỉ nêu lên 6 vấn đề yêu cầu Thủ Tướng lưu tâm. Tóm tắt như sau:

  1. Ấp chiến lược nên củng cố lại.
  2. Phật Giáo đặc biệt lưu ý vì làm gì cũng có Cộng sản len lỏi trong đó.
  3. Sinh viên, học sinh là một lực lượng chính trị đã làm lung lạc bao nhiêu chính phủ trên thế giới.
  4. Kampuchia nên đem ông Nguyễn Hữu Châu về làm Ngoại Giao, vì ông là bạn học với Sihanouk, vì biên giới Việt Miên đã quá hư thối.
  5. Báo chí, phải biết lợi dụng cái quyền thứ tư này, chính nó làm cho chính phủ Diệm suy sụp.
  6. Kinh tế thị trường đòi hỏi phải chơi luật cung cầu, tránh những khúc nghẽn do hành chánh gây ra.

CTHÐ bàn loạn: Tôi théc méc chuyện “Báo chí – Sài Gòn – làm cho chính phủ Diệm suy sụp.” Ông Huỳnh Văn Lang hiện ở Cali, USA, tôi xin hỏi ông: Báo chí Sài Gòn đã làm những thủ đoạn gì làm cho chính phủ Diệm suy sụp? Ðã ca tụng, tâng bốc chính phủ? Ðã đả kích chính phủ? Chuyện báo Sài Gòn đả kích chính phủ Ngô Ðình Diệm là không có. Không có 500%. Tất cả im re, chịu phép. Còn việc báo chí tung hô Tổng Thống và chính phủ thì làm sao mà chính phủ suy sụp đến cái độ bị lật đổ?

Huỳnh Văn Lang viết về Huỳnh Văn Cao.

Như thế có phải là Huỳnh Văn Cao giết hai người anh em không? Chính Cao đã đưx hai người anh em vào cửa Tử. Tức là khi Cao từ chối, hay xem thường lời cầu cứu của Ðại Úy Bằng như Cao có xác nhận trong Hồi ký của mình và không làm gì hết mà lại theo Ðại tá Quân báo Connors đi Cà mâu sáng ngày 01.11.63. Chỉ bởi vì Ðại tá Connors đã hưá với Cao:

“Anh ngồi yên đi, để cho bọn tướng tá làm cỗ cho anh ăn. Minh là một thằng ngu, Ðôn là một playboy, Kim là một tên điếm của Phòng Nhì Pháp, Khiêm là người ba phải, Ðính là một thằng con nít muốn làm đĩ đực. Tất cả là vô tài, bất tướng. Anh là người đạo đức và tài ba mà chúng tôi đã nghĩ đến từ lâu. Chính anh là người chúng tôi sẽ đưa lên thay thế Tổng Thống Diệm.”

CTHÐ viết thêm:  Tác giả Ký Ức HV Lang kể ông Ngô Ðình Nhu đã tính trước 3 đường Tổng Thống chạy khỏi Sài Gòn nếu có đảo chính:

Một: đường Hải Quân. Ði bằng tầu Hải Quân. Nhóm Tướng đảo chính giết Ðai Tá Hồ Tấn Quyền.

Hai: Ðường lên Quân Khu 2 với Tướng Nguyễn Khánh. Tổng Thống không chọn đường thoát nạn này.

Ba: Ðường xuống Cần Thơ với sự bảo vệ của Tướng Huỳnh Văn Cao. Tổng Thống chọn đường này nên ông vào Chợ Lớn chờ quân Vùng 4 lên cứu. Nhưng Tướng Huỳnh Văn Cao đã không cứu Tổng Thống như ông Huỳnh Văn Lang viết trong đoạn trên đây.

Huỳnh Văn Lang viết về Phạm Ngọc Thảo:

..anh coi thường, khinh rẻ bọn võ biền, anh thường than vãn:

“Không đưá nào đáng xách giày cho ông Nhu cả.”

Và anh nhận xét không khác gì Ðại tá Quân báo Connors:

“Minh là một đại ca đại ngu, Ðôn là thằng đần, Ðính là thằng dốt, Ðỗ Mậu là người gian, Kim là một tên điếm chính trị đi đêm với Phòng Nhì, Oai là một thằng hèn, Xuân là tên đại ác.”

CTHÐ: Theo lời ông HV Lang kể ông giao du rất thân với ông Phạm Ngọc Thảo. Hai ông mưu đồ làm cuộc đảo chính để – khi thành công – buộc Tổng Thống Ngô Ðình Diệäm phải đưa ra khỏi nước Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục, ông Ngô Ðình Nhu và bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Ðình Cẩn. Ðảo chính không thực hiện được vì ông Trần Thiện Khiêm không chịu nhập cuộc. Theo lời ông HV Lang người đọc thấy Ông Phạm Ngọc Thảo tuy là Việt Cộng hồi chánh nhưng không phải là Việt Cộng nằm vùng. Ông bị các Tướng bắt sống và giết chết.

Năm ấy tôi – CTHÐ – nghe tin đồn ông Phạm Ngọc Thảo bị đạp từ trên phi cơ trực thăng xuống biển. Lại nghe chuyện đồn ông Phạm Ngọc Thảo bị bóp dzế đến chết. Người bóp là Trung Tá Nguyễn Mộng Hùng, xước danh Hùng Sùi.

Tôi viếtt chuyện này với sự không dzè dzặt thường lệ. Nghe sao viết vậy. Ông Hùng Sùi hiện ở San José, USA. Nếu ông cho độc giả biết thực hư về vụ ông Phạm Ngọc Thảo bị giết thì quí lắm. Cám ơn ông. Dù ông – Hùng Sùi – không lên tiếng tôi cũng cám ơn ông.

Hai mươi năm xa cách, năm 1905 tôi gặp lại ông Hùng Sùi, ở Mỹ. Có lần tôi nghe ông nói về những việc ông làm trong thời Sài Gòn xẩy ra đảo chánh liên miên:

“Tao là thằng cầm c. cho chó đái.”

Tôi chắc ông muốn nói việc ông bị các ông Tướng lợi dụng, ra lệnh làm việc này, việc nọ.

o O o

Tôi viết ông Huỳnh Văn Lang là người đẻ bọc điều vì cuộc đời ông toàn có những may, những phúc, những lộc. 8/10 đời ông là thành công. Ông có bị đi tù khoảng 3, 4 năm: vài tháng ở Nhà Giam Tổng Nha Cảnh Sát, một năm ở Nhà Tù Chí Hoà, ba năm ở Trung Tâm Cải Huấn Tam Hiệp. Nhưng tôi thấy những ông tù thời Quốc Gia VNCH có tiền, chịu chi thì ở tù không khổ chi mấy, các ông ăn uống, ngủ gầân như ở nhà, chỉ thiếu có đàn bà.

Ông HV Lang viết Tháng 7, 1965 Ðại úy Trương Vĩnh Ðắt làm Quản Ðốc Trại Tù Tam Hiệp. Tôi théc méc: Năm 1953 là lính Tuyên Truyền Cục Tâm Lý Chiến tôi ra phục vụ ở Trại Giam Tù Binh Phú Quốc, Ðại úy Trương Vĩnh Ðắt là Ðai úy. Năm 1965 – 12 năm sau – Ðại Uý Trương Vĩnh Ðắt vẫn là Ðại úy???

Ngoài mấy năm tù ấy, cuộc đời Ông Bọc Ðiều toàn có những thành công: lập Trường Bách Khoa Bình Dân, ra Tạp chí Bách Khoa, khai thác gỗ rừng bán cho Nhật, nhập cảg xe Nhật Honda. Làm gì ông cũng thành công. Có thể nói tay ông sờ vào cái gì là cái đó hoá ra Vàng, Ðô-la. Con trai, con gái ông sang học ở Pháp, ở Mỹ. Tháng Tư 1975 có ông Mỹ đến đón gia đình ông 5 người lên phi trường Tây Sơn Nhứt đi Mỹ, giá mỗi người là 4.000 Ðô Mỹ. Từ Mỹ những năm 1995, 2001. 2008 ông về nước. Ông đi từ Sài Gòn xuống Cà Mâu, ông đi từ Sài Gòn lên Lạng Sơn, ông về quê chỉnh trang lại những phần mộ của gia đình ông.

Ai bảo Giầu là Khổ? Giầu như ông Huỳnh Văn Lang không Sướng ư?

Tôi không thể trong một bài kể hết những chuyện tôi thấy hấp dẫn trong tác phẩm Ký Ức Huỳnh Văn Lang. Như chuyện Bà Ðức Lợi bị bắt vì thầu Vé Số Kiến Thiết giá 10 đồng một vé mà bán cho dân 13, 14 đồng. Bà Ðức Lợi khai để trúng thầu mỗi kỳ sổ xố bà phải nộp cho Bác sĩ Trần Kim Tuyến 300.000 đồng, Bộ Trưởng Tài Chính Nguyễn Lương 300.000 đồng, Bộ Trưởng Nguyễn Ðình Thuần 300.00 đồng. Vì phải nộp những số tiền đó, bà phải tăng giá bán vé số.

Ông HV Lang gọi Nguyễn Ðình Thuần là “nịnh thần, gian thần, phản thần.” Theo ông,  Bộ Trưởng Phủ Tống Thống kiêm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Nguyễn Ðình Thuần đã thao túng quyền lực, nắm hết quyền hành, bao vây TT Ngô Ðình Diệm, hãm hại những người có tài, cô lập ông Ngô Ðình Nhu.

Tôi kể vài lỗi trong Ký Ức Huỳnh Văn Lang, những viết sai nhỏ thôi, những viết sai mà nhiều người viết mắc phải. Tôi kể những lỗi này để ông Huỳnh Văn Lang biết tôi đọc Ký ỨÙc của ông kỹ đến chừng nào. Nằm đọc, lấy bút ghi những đoạn có thể trích, góp ý. Trong lời Tựa tác giả có lời cám ơn một số ông bà sửa lỗi chính tả trong Ký Ức, tác phẩm vẫn còn nhiều lỗi không nên, không đáng có, như:

HV Lang : “..có nhà dung nước cho sôi và để nguội..” Ðun nước.

HV Lang: “..tiêu biểu là chiếc Tam bản ( do tiếng Sampan của Pháp)..” Tiếng Sampan do tiếng Tam bản mà có.  “..theo tiêu chuẫn Nho giáo..”Tiêu chuẩn. “..nói chuyện liêng thiêng..” Phải chăng là Huyên thuyên, huyên thiên?? “Cha tôi cho người đi mua rắn, lột da, căng trên dĩ tre, phơi thật khô..” Vỉ tre.”..chờ tầu viễn du xuất cảng qua Ðức..” Tàu viễn dương. “..chở lên dựa ở Chợ Lớn..” Vựa. “..đánh vải, làm sạch vải.. Vẩy cá. “.. cá bung súng, cá rằng ri cá, cá rằng ri voi..” Cá bông súng, cá rằn ri. “..nồi nêu son chảo..” Nồi niêu soong chảo.  “..Ngoại chỉ cảm xoàn thôi..: Cảm xoàng.  “Ngày mùn một Tết.” Ngày Mùng Một.  “Thời khắc biểu rất chặc chẽ..” Chặt chẽ.  “nhà vuôn, nóc vuôn.” Vuông.  “đồng hồ Pathé-Philip.” Patek Philip.  “Tôi thuật lại câu chuyện trên đây hoàn toàn không có hậu ý tố cáo tham nhũng..” Ẩn ý, không phải hậu ý. “Nước Grésyl.” Nước Crésyl.

HV Lang viết “bệnh rệnh.” Tôi théc méc tiếng “bịn rịn,’ sao ông có thể viết thành “Bệnh rệnh.”

Trong Ký Ức, tác giả có dùng tiếng “phơi rún.” Tiếng này là tiếng của tôi – CTHÐ – tiếng do tôi đặt ra.

ÐA THỌ ÐA KHỔ

Vợ chồng H2T ở Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ảnh năm 1995.

Vợ chồng H2T ở Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ảnh năm 1995.

Người Tầu có thành ngữ “Ða thọ đa nhục.” Người  sống lâu  bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục.”

Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.

Ông bà George Sanders

Ông bà George Sanders

Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ.

Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.”

Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm..” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng đượckhông làm được.

Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này.

Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:

“Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”

Ông cầm tay tôi:

“Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”

Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.

Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao. Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.

Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.

o O o

Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.

Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.

Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng  vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào..

Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.

Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.

* Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy  bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội.

Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:

“Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa. “

Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến đoàn bồi thẩm, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.

Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng.

Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.

Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời.

Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:

“Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.”

Ông nói:

“Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.”

Vợ tôi nói:

“Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”

Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được.

Ông kể:

“Vợ tôi nói:

“Bắn đi anh. Cho em đươc chết.”

Tôi nói lời cuối với vợ tôi:

“Em sẽ không cảm thấy đau.”

Và:

 “Anh yêu em. Vĩnh biệt em”

Tôi nổ súng.”

Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói:

“Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.”

Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể:

“Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy.. Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi bố tôi là người tôi cảm phục nhất.”

Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:

“Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”

Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo.

Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói:

“Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”

Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo.  TÙ treo không bị cảnh sát kiểm xoát.

o O o

Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi.

Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.

Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói:

“Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”

Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.

Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.

Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gập Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết:

“Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lức phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.”

Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng.  Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.

Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói:

“Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”

Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.

Bát đại khổ não ghi Tám Nỗi Khổ Lớn của con người:

Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.

Muốn có mà không có: Khổ 5

Có mà không giữ được:  Khổ 6.

Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.

Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.

Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Ðó là những người không yêu ai cả.

Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ. Ðó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.

o O o

Mùa thu mây trắng xây thành.
Tình Em mầy ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng. Trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.

Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây.
Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”

Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:

“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”

o O o

12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạVirginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.

Trong ICU – Ai Si  Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói:

“Xin Thiên Chuá tha tội cho em.”

Tôi nói:

“Em có tội gì. Mà Em có tội gì, Thiên Chuá cũng tha cho Em rồi.”

Nàng chỉ bị rập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.

Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.

Tôi hầu nàng ngày đêm.  Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Ðức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Ðức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.

Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.

Một tháng sau nàng đi được.

o O o

Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Ðêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ:

“Tiếng thở này tắt là..”

Tôi cầu xin:

“Xin Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”

Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.

Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.

Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói:

“Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên: “Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói:

“Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”

Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi:

“Ðau lắm không?”

Ðau thì tôi biết bạn tôi đau nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào. Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói:

“Ðứt ruột, nát gan.”

Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi:

“Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”

Năm sau ông đi trước bà. Ðứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.

Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Ðể bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mát ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.

o O o

Người đời chỉ nói “Good bye.”
“See You next week, next time” là cùng.
Ðôi ta ngọc nữ, tiên đồng,
Ðôi ta Từ Thức vợ chồng Giáng Hương.
Ngàn đời vẫn nhớ, còn thương:
Em yêu, đã đến cuối đường: “Good bye.
See You next Life.”

THÁNG TƯ NGÀY MỘT

Giấy bạc Hồ Thổ Tả được phát hành trong Tháng Tư 2013.

Giấy bạc Hồ Thổ Tả được phát hành trong Tháng Tư 2013.

Hôm nay, một ngày Tháng Tư  Năm 2013, sống ở Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, khi viết bài này, tôi phải cố quên đi  hình ảnh thê thảm của những Những Ngày Tháng Tư 1975; tôi đã viết khá nhiều về những ngày thương thảm ấy. Tháng Tư 2013, tôi bị ám ảnh vì việc nước tôi – nước Việt Nam – đang bị rơi vào Hố Thẳm Tiêu Vong.

Thảm Họa Mất Nước đến gần ngay trước mắt mà tôi không làm gì được để giữ nước, tôi vẫn sống, tôi vẫn thở, tôi vẫn yêu thương, vẫn thù hận, vẫn uất ức..

Tôi sống như lời trong bài hát tôi quên tên, bài hát tôi nghe  những năm 1970 ở Sài Gòn, thủ đô thân thương tôi đã không giữ được:

Em tôi gục ngã trên chiến trường..
Tôi vẫn sống, tôi vẫn thở..

Và tôi vẫn viết những bài Viết ở Rừng Phong.

Ðây là đoạn tin mới về Quốc Gia Tây Tạng:

Tin ngày 13 tháng 2 năm 2013 cho hay người Tây Tạng lưu vong thứ 100 đã tự thiêu nhằm phản đối sự cai trị của nhà cầm quyền Trung Quốc (trên đất nước Tây Tạng).

Cùng phát đi với Tin Người Tây Tạng Thứ 100 Tự Thiêu là một Video  tôn vinh 100 người Tây Tạng Tự Thiêu vì Ðất Nước Tây Tạng bị chiếm, bị tiêu vong. 100 người Tây Tạng đã tự thiêu để làm cho người thế giới chú ý đến nước Tây Tạng. Sáu mươi năm cai trị của Trung Quốc đã tạo ra cuộc khủng hoảng ở quốc gia bị chiếm đóng này. Chính sách đàn áp nghiêm trọng đã gây nên làn sóng tự thiêu chưa từng có trên thế giới bởi các nhà sư Tây Tạng, nữ tu sĩ và cư sĩ Phật tử.

Chúng tôi yêu cầu một phản ứng phối hợp quốc tế của các nhà lãnh đạo thế giới lên án các biện pháp đàn áp của Trung Quốc trên khắp Tây Tạng, và quy định các cơ chế đa phương để vận động cho người dân Tây Tạng được sống tự do.

www.standupfortibet.org

Ngày 13 tháng 2 năm 2013

Từ: mail@tibetnetwork.org

Về việc: TIN KHẨN CẤP: 100 người Tây Tạng đã tự thiêu dưới sự cai trị tàn ác của Trung Quốc

Thưa các bạn

Tôi viết những dòng này với sự tiếc thương sâu xa để báo với quí bạn một tin rất đau đớn về vụ tự thiêu thứ 100 của một người Tây Tạng sống dưới sự cai trị của bạo quyền Trung Quốc. Lobsang Namgyal, 37 tuổi – một Tăng sĩ Tây Tạng của Tu viện Kirti – đã tự thiêu và chết ngày 3 tháng 2 vừa qua tại Dzoge. Tin này chỉ đến với chúng tôi ở hải ngoại hôm nay; cùng ngày với việc một người Tây Tạng trẻ tuổi khác mới tự thiêu tại Kathmandu, Nepal. Tên tuổi của người tự thiêu trẻ tuổi chưa được xác định rõ.

Chúng tôi không còn lời nào để diễn tả về tin quá đau thương này. Chúng tôi quyết định cách tốt nhất để chuyển thông tin chân thật về thảm kịch này là đưa những hình ảnh và tên tuổi của từng người Tây Tạng đã tự thiêu đến mọi người. Xin phổ biến tin này để giúp người thế giới thấy được số người Tây Tạng tự thiêu đã ở mức báo động trầm trọng.

Ngưng trích.

CTHÐ:  Tôi đau buồn nhận thấy số phận nước Việt Nam của tôi không khác gì số phận nước Tây Tạng. Không chỉ không khác mà còn tồi tệ hơn: Bọn Tầu Cộng chiếm nước Việt Nam dễ hơn chúng chiếm Tây Tạng.

Tầu Cộng đưa quân đội vào chiếm Tây Tạng từ năm 1950. Ðã 60 năm qua, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đi không biết bao nhiêu vòng vòng quanh trái đất. Ông đi và ông chắp tay vái những người cầm quyền các nước dân chủ tự do, ông vái nhân dân các nước ấy, ông vái lậy tất cả những người ông gặp để họ nhớ đến nước Tây Tạng của ông.

Nhưng người thế giới vẫn dửng dưng, người thế giới đã quên Tây Tạng.

Nước Việt Nam của tôi rồi cũng thế thôi.

o O o

Năm năm Tháng Tư đến, tôi có hai đề tài để viết: Ngày 30 Tháng Tư 1975, và Chuyện Cá Tháng Tư.

Nhà Tù Chí Hoà được bán cho Tổ Hợp Mỹ  World Hotels Consortium.

Nhà Tù Chí Hoà được bán cho Tổ Hợp Mỹ World Hotels Consortium.

Poissons d’Avril là chuyện của người Âu Châu Da Trắng. Tìm trên Internet thấy ghi Trò Poissons d’Avril có ở Âu châu từ những năm 1850. Người Việt không chơi trò Cá Tháng Tư.

Khổng Tử viết: Quân tử vô hí ngôn. Người quân tử không nói dỡn.

Không phải người Việt Nam nào cũng là quân tử. Nhưng người Việt không quen chơi Trò Cá Tháng Tư.

Nhớ lại Trò Cá Tháng Tư của người Âu châu, những năm 1960 ở Sài Gòn tôi nghe chuyện trong kỳ thi ở một trường đại học Paris, một số sinh viên Pháp chỉ đường cho những thí sinh đi vào một khu khác với khu có phòng thi, làm cuộc thi hôm ấy bị rối loạn, Ban Giám Khảo phải dời  cuộc thi vào một ngày khác.

Năm tháng qua lâu rồi – đã 60 năm đi qua đời tôi – tôi không thể nhớ chính xác những chuyện xẩy ra quá lâu. Tôi kể những gì tôi nhớ. Xin bỏ qua cho tôi những chuyện tôi kể không đúng. Cũng những năm 1960 tôi nghe một tin Cá Tháng Tư: Chính phủ Anh ra lệnh đổi hướng xe chạy. Xe ô tô ở nước Anh, nước Úc, Ái nhĩ lan, Nhật, Hong Kong.. chạy bên tay trái. Từ nay xe chạy bên tay phải, như xe chạy ở nước Pháp, nước Ðức..

Tôi nhớ không rõ lắm: dường như Tin Xe Ðổi Chiều Chạy được Ðài BBC loan. Ngay sau đó BBC xin lỗi, và nói đó là chuyện Cá Tháng Tư.

Tin Vịt và chuyện Cá Tháng Tư giống nhau. Chuyện Cá Tháng Tư chỉ khác Tin Vịt ở chỗ Chuyện Cá Tháng Tư được kể vào Tháng Tư Tây. Pháp Avril, Mỹ April.

Nếu xính sái cho Tin Vịt và Chuyện Cá Tháng Tư như nhau thì Sài Gòn sau 1975 có chuyện  Cá Tháng Tư Ra Ði Ồ Ạt.

Tôi không nhớ năm ấy là năm 1976 hay 1977. Mới hai, ba năm sau ngày bọn Bắc Cộng khiêng ảnh Già Hồ vào Sài Gòn,  khi cuộc sống của người dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà Ðen Như Mõm Chó Mực, khi các sĩ quan quân đội, các viên chức chính quyền, bị bọn Cộng Ác Ôn bắt đi tù mút mùa Lệ Thủy ở rừng núi miền Bắc xa lắc, xa lơ, khi những người tù ấy rên xiết trong tuyệt vọng, nhiều người dân Sài Gòn không bị tù sống quẩn quanh trong thành phố bị đổi tên đã loan truyền những tin “Mỹ trở lại, Mỹ đưa anh em Quốc Gia đi sang Mỹ.”

Một hôm nhiều người truyền nhau tin trong tấm bảng trước cửa toà nhà gọi là Sở Ngoại Vụ ở đầu đường Nguyễn Du, Sài Gon, có một tờ Thông Cáo của Sở. Thông Cáo này cho biết về việc Ra Ði của người Việt. Người ta nói Thông Cáo chỉ được yết ở bảng khoảng nửa ngày là bị nhân viên Sở gỡ đi. Nhưng có người nhanh trí, nhanh tay chép được Thông Cáo ấy, nên Thông Cáo được chép lại, truyền tay.

Trong căn nhà tối của tôi một sáng có ông bạn tới. Ông trịnh trọng lấy ra một vuông giấy nhỏ –  một phần tư trang giấy pelure, đánh máy hẳn hoi – ông đưa cho tôi đọc.

Ðó là bản Thông Cáo mà tôi gọi là Thông Cáo Ra Ði Ồ Ạt. Thông Cáo mở đầu:

“Sẽ cho ra đi ồ ạt những người dưới đây:
Sĩ quan quân đội
Viên chức chính quyền
Hồi chánh viên
Nhân viên Sở Mỹ…’”

Thông Cáo còn vài chuyện nữa, tôi không nhớ nhưng ý chính, chuyện quan trọng nhất là đoạn vưà kể. Tôi đọc, tôi không tin. Không muốn làm ông bạn phật ý, tôi trả ông bản Thông Cáo và nói vài lời vô thưởng vô phạt.

Ðến những năm 1981, 1982, một Tin Vịt khác, lớn hơn, quan trọng hơn, có lý hơn, được nhiều người tin, được “lăng-xê”  ở Sài Gòn. Tin:

“Chánh phủ Úc-đại-lợi nhận người Việt sang Úc định cư. Cho sang Úc hằm bà lằng síu oát. Người Việt nào muốn sang Úc cũng được. Sang Úc cả nhà. Chỉ cần chụp ảnh cả nhà – ảnh 4/6 – làm bản kê khai tên tuổi, nộp cho một ông đại diện Ủy Ban Di Cư sang Úc. Dzậy là xong. Cứ ở nhà đợi ông đại diện – Ông này được gọi là ông Trưởng Toán – Chef de File – mỗi ông Trưởng Toán phụ trách chừng 15 gia đình. Tới ngày đi, ông Trưởng Toán sẽ đến nhà báo trước. Nộp đơn sang Úc không mất khoản phí tổn nào. Chỉ mất tiền chụp ảnh.

Rất nhiều gia đình ở Sài Gòn làm hồ sơ xin sang Úc. Tôi hỏi và được biết ông người Việt được chính phủ Úc ủy nhiệm làm danh sách người Việt sang Úc là ông Năm Bửu – hay ông Năm Biểu – Tôi hỏi một chương trình Nhận Người Di Cư lớn như thế tại sao chính phủ Úc không nhờ bọn Việt Cộng mà lại nhờ một ông Việt thường dân?

Tôi được trả lời:

“Chính phủ Úc không tin bọn Việt Cộng Hà Nội. Nếu để Việt Cộng làm danh sách cho dân đi sang Úc, chúng sẽ cho những gia đình Việt Cộng đi.”

Và:

“Ông Năm Bửu là bạn đồng học với đương kim Thủ Tướng Úc. Ông Năm đã mấy lần từ Sài Gòn bay sang Úc để thảo luận với nhà đưong cục Úc, ông đã chọn được đất để người Việt sang lập nghiệp.”

Và:

“Người Việt sang Úc sẽ không ở những thành phố Úc. Người Việt sang Úc sẽ được chia đất canh tác. Chính phủ Úc sẽ trợ cấp tiền và dụng cụ canh tác cho họ, sẽ chỉ dẫn cho họ trồng cấy loạïi ngũ cốc, trái cây nào mau có lợi nhất, chính phủ Úc sẽ mua những sản phẩm của họ.”

Và:

“Người Việt sang Úc sẽ đi bằng tầu biển. Một chuyến tầu đi chở 4.000 người,”

Tôi nghe nói một trong những người nhận hồ sơ sang Úc nổi tiếng Sài Gòn năm xưa ấy là Nhạc sĩ Lê Thương. Nữ ca sĩ Mộc Lan làm thư ký cho ông.

Tôi nghe sao tôi kể lại như thế.

Mộng đẹp sang Úc làm lại cuộc đời của nhiều người Sài Gòn sì hơi cái rụp khi bọn Công An VC bắt ông Năm Bửu và ba, bốn ông phụ tá của ông. Nghe nói Nhạc sĩ Lê Thương bị công an gọi đến xét hỏi nhưng không bị bắt.

Không biết năm nay – 2013 – những ông trong Ủy Ban Di Cư sang Úc năm xưa có ông nào còn sống hay không.

Ðó là một Tin Vịt – Cá Tháng Tư điển hình. Tháng Tư 2013 đây là một số Tin mới nhất:

* Vì đồng tiền Hồ Thổ Tả bị mất giá – bọn Bắc Cộng in tiền ra quá nhiều – Tháng Tư 2013 Việt Nam Cộng Sản loan báo sẽ phát hành trong Tháng Sáu 2013 giấy bạc 1.000.000.000.000 đồng. Ảnh tờ giấy bạc Hồ Thổ Tả được in theo bài này.

* Tháng Tư 2013 có tin từ Tháng Năm 2013 du khách người nước ngoài vào Việt Nam, Việt Kiều từ nước ngoài về nước, phải đổi ngay ở phi trường tất cả số tiền đem về – đô-la Mỹ, đô-la Úc, đồng quan Pháp – du khách, Việt Kiều không được phép giữ đô-la, tiêu đô-la trong nước.

* Tổ Hợp Kinh Doanh Khách Sạn Thế Giới – World Hotels Consortium – trụ sở ở NewYork, loan báo Tổ Hợp đã được sự thoả thuận của chính quyền CS trong việc VNCS sẽ bán, Tổ Hợp sẽ mua Nhà Tù Chí Hoà để làm thành Trung Tâm Ðiều Dưỡng Quốc Tế.  Cùng với Nhà Tù Chí Hoà, Tổ Hợp World Hotels sẽ mua phần đất chung quanh Nhà Tù Chí Hoà: từ Nhà Tù Chí Hoà ra xa 500 mét. Tất cả nhà dân trong vòng 500 mét quanh Nhà Tù Chí Hoà sẽ được Tổ Hợp mua với giá 700 đô Mỹ một Mét ca-rê, tức một thuớc vuông. Trong số tiền 700 đô một mét ca-rê  Việt Công lấy 400 đô, chủ nhà, chủ đất hưởng 300 đô.

Việc bán Nhà Tù Chí Hoà, việc mua Nhà Tù Chí Hoà vào vùng đất 500 mét quanh Nhà Tù Chí Hoà sẽ được làm trong Tháng Sáu 2013.

Những tin trên đươc loan báo với Sự Không Dzè Dzặt thuờng lệ.

THƯ CUỐI

Phế binh Tomas Young.

Phế binh Tomas Young.

Tháng Ba 2013 một bức thư trên Web làm tôi cảm động. Thư của một  Thương Phế Binh Mỹ viết. Người phế binh Mỹ viết thư là anh TOMAS YOUNG. Thư anh viết gửi ông Bush, ông Cheney, hai ông từng là Tổng Thống, Phó Tổng Thống Hoa Kỳ.

Phế binh Tomas Young bị thương trong một trận đơn vị anh bị phục kích ở Irak năm 2004. Tomas Young kể hai ngày sau ngày 9/11 anh tình nguyện gia nhập quân đội, anh muốn sang Afghanistan đánh trả tổ chức khủng bố đã giết chết 3000 người Mỹ ở NewYork, nhưng quân đội điều động anh sang Iraq.

Năm ngày sau ngày Tomas Young đến Irak, anh dự cuộc hành quân thứ nhất trong đời anh. Anh kể:

“Bọn chúng tôi 30 lính bị dồn lên một quân xa chỉ đủ chỗ cho 18 người. Chúng tôi đứng dồn ép nhau cứng ngắc, Lọt ổ phục kích, tôi không đưa được khẩu súng của tôi lên để bắn lại. Tôi ngã xuống, súng văng khỏi tay tôi, tôi cố vươn tay kéo súng lại mà không được. Tôi hét lên, nhưng tiếng hét của tôi không ra khỏi được họng tôi.”

Chiến binh Tomas Young bị trúng đạn vào xương sống và đầu gối. Anh bại liệt ngay từ đó.

Ðây là nguyên văn bức Thư Cuối Cùng của Phếù Binh Tomas Young.

TOMAS YOUNG: THE LAST LETTER.

To George W. Bush and Dick Cheney.

“I write this letter on the 10th anniversary of the Iraq War on behalf of my fellow Iraq veterans. I write this letter on behalf of the 4,488 soldiers and Marines who died in Iraq. I write this letter on behalf of the hundreds of thousands of veterans who have been wounded and on behalf of [those who bear those wounds. I am one of those.] I am one of the gravely injured. I [am] paralyzed in an insurgent ambush in 2004 in Sadr City. My life is coming to an end. I am living under hospice care.

“I write this letter on behalf of husbands and wives who have lost spouses, on behalf of children who have lost parents, on behalf of the fathers and mothers who have lost sons and daughters and on behalf of those who care for the many thousands of my fellow veterans who have brain injuries. I write this letter on behalf of those veterans whose trauma and self-revulsion for what they have [done, witnessed, endured] in Iraq have led to suicide and on behalf of the active-duty soldiers and Marines who commit, on average, a suicide a day. I write this letter on behalf of the some 1 million Iraqi dead and on behalf of the countless Iraqi wounded. I write this letter on behalf of us all—the human detritus your war has left behind, those who will spend their lives in unending pain and grief.

“Your positions of authority, your millions of dollars of personal wealth, your public relations consultants, [and your privilege and power] cannot mask the hollowness of your character. You sent us to fight and die in Iraq after you, Mr. Cheney, dodged the draft in Vietnam, and you, Mr. Bush, went AWOL from your National Guard unit. Your cowardice and selfishness were established decades ago. You were not willing to risk yourselves for our nation but you sent hundreds of thousands of young men and women to be sacrificed in a senseless war with no more thought than it takes to put out the garbage.

“I write this letter, my last letter, to you, Mr. Bush and Mr. Cheney. I write not because I think you grasp the terrible human and moral consequences of your lies, manipulation and thirst for wealth and power. I write this letter because, before my own death, I want to make it clear that I, and hundreds of thousands of my fellow veterans, along with millions of my fellow citizens, along with hundreds of millions more in Iraq and the Middle East, know fully who you are and what you have done. You may evade justice but in our eyes you are each guilty of egregious war crimes, of plunder and, finally, of murder, including the murder of thousands of young Americans—my fellow veterans—whose future you stole.

“I joined the Army two days after the 9/11 attacks. I joined the Army because our country had been attacked. I wanted to strike back at those who had killed some 3,000 of my fellow citizens. I did not join the Army to go to Iraq, a country that had no part in the [9/11] attacks and did not pose a threat to its neighbors, much less to the [U.S.] I did not join the Army to ‘liberate’ Iraqis or to shut down mythical weapons-of-mass-destruction facilities or to implant what you cynically called ‘democracy’ in Baghdad and the Middle East. I did not join the Army to rebuild Iraq, which at the time you told us could be paid for by Iraq’s oil revenues. Instead, this war has cost the United States over $3 trillion. I especially did not join the [Army] to carry out pre-emptive war. Pre-emptive war is illegal under international law. And as a soldier in Iraq I was, I now know, abetting your idiocy and your crimes. The Iraq War is the biggest strategic blunder in U.S. history. It obliterated the balance of power in the Middle East. It installed a corrupt and brutal pro-Iranian government in Baghdad, one cemented in power through the use of torture, death squads and terror. And it has left Iran as the dominant force in the region. On every level—moral, strategic, military and economic—Iraq was a failure. And it was you, Mr. Bush and Mr. Cheney, who started this war. It is you who should pay the consequences.

“I have, like many other [wounded and many other] disabled veterans, suffered from the inadequate and often inept care provided by the Veterans Administration. I have, like many other disabled veterans, come to realize that our mental and physical [disabilities and] wounds are of no interest to you, perhaps of no interest to any politician. We were used. We were betrayed. And we have been abandoned. You, Mr. Bush, make much pretense of being a Christian. But isn’t lying a sin? Isn’t murder a sin? Aren’t theft and selfish ambition sins? I am not a Christian. But I believe in the Christian ideal. I believe that what you do to the least of your [own] brothers you finally do to yourself, to your own soul.

“I would not be writing this letter if I had been wounded in Afghanistan against those forces that carried out the attacks of 9/11. Had I been wounded there I would still be miserable because of my physical deterioration and imminent death, but I would at least have the comfort of knowing that my injuries were a consequence of my own decision to defend our country I love—the country I love. I would not have to lie in my bed, my body filled with painkillers, my life ebbing away, and deal with the fact that hundreds of thousands of human beings, including children, including myself, were sacrificed by you for little more than the greed of oil companies, for your alliance with the oil sheiks in Saudi Arabia, and your insane visions of empire.

“My day of reckoning is upon me. Yours will come. I hope you will be put on trial. But mostly I hope, for your sakes, that you find the moral courage to face what you have done to me and to many, many others who deserved to live. I hope that before your time on earth ends, as mine is now ending, you will find the strength of character to stand before the American public and  the world, and particular the Iraqi people, and ask for forgiveness.

Phế Binh Tomas Young trên ghế đẩy.

Phế Binh Tomas Young trên ghế đẩy.

Thư chữ Việt:

“Tôi viết thư này trong Ngày Kỷ niệm năm thứ 10 Trận Chiến Iraq nhân danh những người ban cựu chiến binh Iraq của tôi. Tôi viết thư này nhân danh 4.488 chiến binh đã chết ở Iraq. Tôi viết thư này thay cho hàng trăm ngàn cựu chiến binh bị thương, thay cho những chiến binh đang phải chịu những thương tật ấy. Tôi là một trong những người đó. Tôi là người bị thương nặng, Tôi bị bại liệt trong một cuộc phụ kích của những người nổi dậy ở Sadr City năm 2004. Ðời tôi sắp kết thúc. Tôi hiện sống trong nhà Hospice.

“Tôi viết thư này nhân danh những người chồng và những người vợ bị mất vợ, mất chồng, viết thay cho những trẻ em bị mất cha mẹ, thay cho những ông bố, những bà mẹ bị mất con trai, con gái, viết thay cho những người chăm lo cho nhiều ngàn người đồng đội của tôi bị thương tổn trí não. Tôi viết thư này thay cho những cựu chiến binh bị thương tổn não bộ. Tôi viết thư này thay cho những cựu chiến binh mà não bệnh và sự tự-ghê tởm vì những việc họ đã làm, đã thấy, đã chịu đựng ở Iraq, đã làm họ tự tử, tôi viết thay những người lính bộ và Thủy Quân Lục Chiến đang thi hành nhiệm vụ ở Iraq đang mỗi ngày tự tử một người. Tôi viết thư này thay cho vài triệu người Iraq đã bị chết và thay cho vô số những người Iraq bị thương tật. Tôi viết thư này thay cho tất cả chúng tôi – những con người vụn vỡ mà cuộc chiến của hai ông bỏ lại đằng sau, những người phải sống cuộc đời họ trong đau đớn vô tận và khổ cực.

“Ðịa vị về quyền lực của hai ông, nhiều triệu đô-la của riêng hai ông, những chuyên viên giao tiếp công chúng của hai ông ( và những đặc quyền quyền lực của hai ông ) không thể che dấu sự rỗng tuyếch về tính cách của hai ông. Hai ông đưa chúng tôi đến Irak để chiến đấu và chết  sau khi hai ông, ông Cheney trốn động viên đi Việt Nam, và ông, ông Bush, dùng thủ đoạn AWOL ( vắng mặt không phép )  ở đơn vị National Guard ( Vệ Binh Quốc Gia .) Sự hèn nhát và ích kỷ của hai ông đã có từ nhiều thập niên trước. Hai ông không muốn phục vụ quốc gia nhưng hai ông lại đưa cả trăm ngàn người nam, người nữ trẻ tuổi đến chịu hy sinh trong trận chiến vô nghĩa mà không cần suy nghĩ như việc hai ông vứt rác vào thùng rác.

“Tôi viết thư này, Thư Cuối của tôi, cho hai ông, ông Bush và ông Cheney. Tôi viết không phải vì tôi nghĩ hai ông  cảm được những hậu quả về người và tinh thần ghê rợn gây ra vì hai ông nói dối, dàn xếp và vì sự khát tiền và quyền lực của hai ông. Tôi viết thư này vì trước khi tôi chết, tôi muốn làm sáng tỏ sự việc là tôi, và hàng trăm ngàn banï cựu chiến binh của tôi, cùng nhiều triệu người đồng quốc với tôi, cùng hàng trăm triệu người ở Irak và ở Trung Ðông, chúng tôi biết rõ hai ông là người ra sao và hai ông đã làm những gì. Hai ông có thể trốn thoát pháp luật nhưng trước mắt chúng tôi hai ông cùng phạm tôi gây chiến giết người, tội cướp phá, và sau cùng tội giết người, kể cả việc giết hàng ngàn người Mỹ trẻ – những bạn cựu chiến binh của tôi – những người mà tuơng lai của họ bị hai ông đánh cắp.

Tôi vào Quân đội hai ngày sau cuộc Tấn công 9/11. Tôi vào Quân đội vì đất nước chúng ta bị tấn công. Tôi muốn đánh trả những kẻ đã giết khoảng 3000 người đồng quốc với tôi. Tôi không vào Quân đội để đến Iraq, một nước không liên can gì đến cuộc tấn công 9/11, một nước không đe dọa những nươc bên cạnh, tôi không vào Quân đội để đi “giải phóng” người Irak hay để đánh sập những cơ sở chế tạo võ khí giết người hàng loạt hoang đường hay để xây dựng cái mà hai ông trâng tráo gọi là “dân chủ” ở Bagdad và ở Trung Ðông. Tôi không vào Quân đội để tái kiến thiết Irak, việc làm mà hai ông ngày ấy nói là sẽ được trả lại bằng tiền bán dầu của Irak. Thay vì thế, trận chiến này làm Hoa Kỳ chi ra hơn 3 trillion đô-la. Tôi không vào Quân đội để thưcï hiện trận đánh ngăn chặn trận đánh. Trận-ngăn chặn là việc vi phạm luật quốc tế. Vì tôi đã là lính chiến ở Iraq, nay tôi biết sự ngu xuẩn và những tội ác của hai ông. Trận chiến Iraq là vụ bê bối sách lược lớn nhất lịch sử Hoa Kỳ. Nó làm tiêu mất sự cân bằng quyền lực ở Trung Ðông. Nó dựng lên ở Bagdad một chính quyền thối nát và tàn ác thân Iran, chính quyền đó củng cố quyền lực bằng việc dùng tra tấn, giết người và khủng bố. Và chính quyền đó để cho Iran là lực lượng thống trị trong vùng. Trên mọi mặt – tinh thần, sách lược, quân sự và kinh tế – Iraq là một thất bại. Và hai ông, ông Bush, ông Cheney, là hai người khởi động trận chiến đó. Lẽ ra hai ông là người phải chịu những hậu quả.

Nỗi đau thương của người sống.

Nỗi đau thương của người sống.

“Tôi, như nhiều thương phế binh, chịu khổ vì sự chăm lo không đầy đủ và thường là không đúng của Sở Quản Trị Cựu Chiến Binh. Tôi, như nhiều thương phế binh, thấy rằng những thương tích tâm thần và thể xác của chúng tôi  không đáng để hai ông, và những chính trị gia phải bận tâm. Chúng tôi đã bị dùng. Chúng tôi bị phản bội. Và chúng tôi bị bỏ xó. Ôâng, ông Bush, thường khoe ông là người Ky-tô giáo. Nhưng có phải nói dối là tội? Có phải giết người là tội? Tôi không phải là người Ky-tô. Nhưng tôi tin ờ lý tưởng Ky-tô giáo. Tôi tin  những gì ông làm cho những người anh em của ông cuối cùng sẽ đến với ông, với linh hồn ông.

“Tôi không viết thư này nếu tôi bị thương ở Afghanistan vì đánh lại những kẻ đã thực hiện trận tấn công 9/11. Nếu tôi bị thương ở đó tôi vẫn bị khổ vì sự suy hủy thân xác tôi và cái chết gần kề, nhưng ít nhất tôi có niềm an ủi là biết rằng những thương tật của tôi là hậu quả của việc tôi quyết định bảo vệ đất nước của chúng ta – đất nước tôi yêu. Tôi sẽ không nằm trên giường, thân xác tôi đầy thuốc chống đau, đời sống tôi mỏn dần, mà phải đối mặt với sự thật hàng trăm ngàn người, trong số có các em nhỏ, trong số có tôi, bị hai ông hy sinh chỉ vì lòng tham của những công ty dầu, vì sự liên kết của hai ông với ông Sheik dầu ở Saudi Arabia, và vì viễn ảnh đế quốc cuồng điên của hai ông.

“Ngày tôi xong nợ đang đến với tôi. Ngày của hai ông sẽ đến. Tôi mong hai ông sẽ bị xét xử. Nhưng nhiều nhất là việc tôi mong hai ông có đủ đảm lực tinh thần để đối diện với những gì hai ông đã làm với tôi, và với nhiều, rất nhiều người khác, những người đáng được sống. Tôi mong trước khi thời gian sống của hai ông chấm dứt, hai ông có can đảm đứng trước nhân dân Mỹ Quốc, nhân dân Irak mà nói lời xin tha thứ.

TOMAS YOUNG.

CTHàÐông: Tôi đăng “Thư Cuối “nguyên bản chữ Anh của Phế Binh Tomas Young vì:

Tôi dịch thư này không được đúng nghĩa. Nhiều chữ tôi dịch không ổn như những chữ “trillion, hospice.”

Có thể có người đọc nghĩ “Không biết có phải đúng người Phế Binh Tomas Young viết những lời này không?”

Vì nhiều bạn đọc biết tiếng Anh  muốn đọc nguyên văn bức Thư.

Trên Web, đây là một số việc liên quan đến Trận Chiến Irak và Phế Binh Tomas Young.

Khi chính phủ Bush phát động Chiến Tranh Irak, Bộ trưởng Quốc phòng là ông Donald Rumsfeld. Với tư cách Bộ trưởng Quốc Phòng, ông Rumsfeld tuyên bố:

“Trận chiến Irak chỉ kéo dài 6 tháng.”

Quân chính quy Irak của Tổng Thống Saddam tan rã quá nhanh, nhưng sau khi những tượng vỏ đồng, cốt xi-măng của Hussein bị hạ xuống, Hussein bị bắt, bị xử thắt cổ, một lực lượng chống Mỹ của dân Irak tự động thành hình. Dân quân Irak kháng chiến dai dẳng. Võ khí hữu hiệu của họ là người gài mìn tự sát, và phục kích.

Máu binh sĩ Mỹ đổ dài dài trên xứ Irak bị bom đạn tàn phá.

Không có con số chính xác về số người dân Irak bị chết oan.

Viết Thư Cuối và đọc Thư cho đưa lên TiVi, Phế binh Tomas Young nói:

“Tôi đau và mệt vì đau và mệt.

Tôi không muốn thấy thể xác tôi chết dần.

Tôi không muốn sống bằng những ống đưa thực phẩm vào dạ dầy.

Nay tôi từ chối việc đó.”

Tomas Young sống ở Kansas City, năm nay anh 33 tuổi. Anh có vợ.

Có người Mỹ góp ý  về việc Tomas Young tình nguyện nhập ngũ:

“Ta nên khuyến khích những người trẻ không nên tình nguyện gia nhập quân đội. Không có quân tình nguyện, chính phủ và quân đội sẽ phải dùng Luật Ðộng Viên. Khi đó là người công dân bầu phiếu, ta có quyền xét hỏi việc chính phủ đưa binh sĩ vào một cuộc chiến nào đó có đúng không. Nay vì chế độ quân nhân nhà nghề, và vì binh sĩ tình nguyện, chính phủ có quyền dùng binh sĩ bừa bãi vào những cuộc chiến không tuyên chiến. Kết quả của tình trạng này là ta phải thấy người lính Tomas Young phải chịu những thương tích  lẽ ra anh không phải chịu và người Mỹ chúng ta bị thương tổn vì một cuộc chiến tranh mà lẽ ra chúng ta không tham chiến.”

Chiến tranh Irak làm nước Mỹ chi phí nhiều tiền nhất. Số đô-la chi vào Chiến Tranh Irak chỉ đứng dưới chi phí của Mỹ trong Thế Chiến Thứ Hai.

o O o

Tôi không phê phán chuyện riêng của người Mỹ, tôi chỉ viết về cảm nghĩ của tôi về ông Bush, ông Cheney.

Tôi không có cảm tình với hai ông Bush, Cheney. Viết không có cảm tình không đúng, phải viết là tôi có ác cảm với hai ông. Hỏi tại sao tôi có ác cảm với hai ông? Tôi không trả lời được. Có người tự nhiên ta thấy mến, có người tự nhiên ta thấy ghét. Có những người ưa tôi, có những người ghét tôi.

Tuy mù tịt về khoa Tướng pháp, tôi cũng thấy mặt ông Bush là loại mặt gọi là “Khuyết hãm,” xấu nhất là ở chỗ hai com mắt. Hai mắt ông Bush không lộ nhưng quá nông, trông rất vô duyên. Ông Bush là ông Tổng Thống Hoa Kỳ bị người dân Irak ném giầy vào mặt.

Tôi thấy mặt ông Cheney bư bư. Trong 8 năm làm Phó Tổng Thống, ông Cheney gần như không làm qua một công vụ gì với tư cách Phó Tổng Thống. Nghe nói Phó Tổng Thống Cheney chuyên báo trước, dàn xếp cho người nhà, bạn ông trúng thầu những công vụ Hoa Kỳ làm ở Irak, những công vụ làm người trúng thầu kiếm lời bạc tỷ.

Nhiều cơ quan truyền thông Hoa Kỳ có tố cáo TT. Bush, Phó TT làm những vụ phạm pháp để kiếm tiền nhờ chiến tranh Irak. Nhưng mọi chuyện bị chìm suồng.

Tôi kết bài Viết ở Rừng Phong này trong nỗi buồn sầu. Tôi đau nỗi đau của người khác. Thư Cuối của người Phế Binh Mỹ làm tôi nhớ đến những Phế Binh Anh Em Tôi: Những Phế Binh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Một người bạn tôi ở Sài Gòn mới gửi cho tôi một thư. Tôi trích đoạn anh bạn tôi viết về Nữ Ca sĩ Minh Hiếu và người Phế Binh Việt ở Sài Gòn.

Trích Thư Sài Gòn:

Người tôi thấy có nhân cách là Nữ ca sĩ Minh Hiếu của Sài Gòn ta xưa, bà quả phụ của Cố Trung Tướng Vĩnh Lộc.

Lần về Sài Gòn  mới đây Minh Hiếu hỏi Kim Cương số điện thoại của tôi,  MH hẹn gặp tôi ở Givral. MH cho tôi cái áo blouson bằng da thật rất đẹp, đắt tiền. Tôi nói bây giờ già rồi còn chơi blouson da làm gì. MH  nói nếu anh không mặc thì cho anh em Thương phế binh VNCH.

Nói đến chuyện anh em Thương Phế Binh, tôi hỏi MH có muốn gặp 1 anh Thương Phế Binh Việt Nam không?

Minh Hiếu nhờ tôi cho được gặp một anh Phế binh. Tôi nhắn gọi  anh Thưong Phế Binh Nhẩy Dù  cụt hai tay, mù 1 mắt, anh Phế Binh này ngồi xe ôm đến gặp Minh Hiếu. Anh được  chị em Minh Hiếu đón tiếp như thượng khách, mời cơm, cafê, rồi nghe anh  kể chuyện đời anh. Kể  sơ lược thôi. Tháng 4-75 anh đang nằm trong Bệnh Viện  Cộng Hòa thì bị VC vào đuổi ra, cụt hai tay, mù một mắt, anh còn làm gì được để sống! Vậy mà anh cứ lây lất sống mãi.

Nghe chuyện người Phế binh, Minh Hiếu khóc, tặng anh Phế binh 100 USD. MH không cho cô em chụp hình. Mấy hôm sau đến nhà tôi chào tôi để về Mỹ, MH gửi thêm 100 USD cho anh Phế binh.

Minh Hiếu ở Houston từ năm 1975 nhưng không xuất hiện nơi công chúng. Dù về VN được nhiều nơi khẩn khoản mời hát nhưng MH  nhất định không. Lần MH về Sài Gòn lần trước  cũng vậy.

Một nhân cách đáng quý.

o O o

Những Phế Binh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đau, khổ, tủi cực gấp trăm lần những Phế Binh Hoa Kỳ.

Những Ðau Thương không thể nói thành Lời.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích.

Ðêm Tháng Ba 2013.

TRỞ VỀ MÁI TÙ XƯA

Thủ Tướng Trần Văn Hương đến Dinh Gia Long trình diện Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu.

Thủ Tướng Trần Văn Hương đến Dinh Gia Long trình diện Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu.

Trong nửa cuối Thế Kỷ 20 thế giới có một số việc lạ xẩy ra – những việc  2000 năm qua không có – trong số những việc lạ ấy có việc hai ông Tù ra khỏi Tù và trở thành Tổng Thống.

Hai ông Tù ấy là ông Nelson Mandela và ông Vaclav Havel.

Ông Nelson Mandela là người Tù ở tù lâu năm nhất thế giới. Ông ra tù và trở thành Tổng Thống quốc gia Nam Phi. Nuớc này bị Thực Dân Da Trắng ngự trị từ lâu. Người dân Trung Phi da đen, sống trong nước của họ mà bị coi như súc vật. Ông Mandela đấu tranh chống nạn kỳ thị làm người đồng hương của ông đau khổ. Sau cả 20 năm tù, ông thành công, Thực Dân Da Trắng phải trả quyền cho người dân bản xứ. Năm nay, ông Mandela còn sống.

Ông Vaclav Havel là người Tiệp Khắc. Nước ông bị bọn Cộng Sản Nga dàn dựng cho bọn Tiệp Cộng Sản lập chính phủ. Là nhà tranh đấu diệt nạn Cộng Sản, ông Havel còn là nhà viết kịch – kịch tác gia – ông bị bọn Tiệp Cộng giam tù nhiều năm. Tượng Lenin, tượng Stalin ra nằm ở bãi rác, ông Tù Havel trở thành Tổng Thống Tiệp Khắc. Ông đã qua đời.

Tổng Thống không phải là Quốc Trưởng – Chef d’État – nhưng có thể cho là Quốc Trưởng. Thế Giới có hai ông Quốc Trưởng từng ở tù. Có thể viết vì đấu tranh, vì ở tù hai ông thành Quốc Trưởng. Hai ông đó là ông Nelson Mandela, ông Varclay Havel.

Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà ta có ông Tù nào trở thành Quốc Trưởng không?

Tính xem Việt Nam Cộng Hòa có mấy ông Quốc Trưởng? Nổi đình đám nhất là ông Bảo Ðại, Quốc Trưởng thứ nhất của VN. Chức vị Quốc Trưởng của ông Bảo Ðại do người Pháp ban cho ông.

Quốc Trưởng thứ hai của VNCH là ông Phan Khắc Sửu. Ông Quốc Trưởng VNCH Phan Khắc Sửu là người ở tù nhiều năm. Ông là Quốc Trưởng duy nhất ở Á Châu từng ngồi tù vì tội đấu tranh cho dân nước.

Cửa vào một phòng tù Nhà Tù Côn Ðảo. Hai cửa: cửa ngoài mở, cửa sắt thứ hai trước mặt người lính coi tù. Người tù đứng trong cửa thứ hai nhìn ra không thấy được sân tù. Hình ghi khoảng năm 1930: người lính coi tù đội nón, tay cầm dùi cui. Matraque là tên tiếng Pháp của dùi cui.

Cửa vào một phòng tù Nhà Tù Côn Ðảo. Hai cửa: cửa ngoài mở, cửa sắt thứ hai trước mặt người lính coi tù. Người tù đứng trong cửa thứ hai nhìn ra không thấy được sân tù. Hình ghi khoảng năm 1930: người lính coi tù đội nón, tay cầm dùi cui. Matraque là tên tiếng Pháp của dùi cui.

Tiểu sử Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu trên Internet.

Phan Khắc Sửu (1905–1970) là vị Quốc Trưởng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa những năm 1964–1965. Ông sinh ngày 9 tháng 1 năm 1905. Năm 1924, ông học ở Paris, Pháp, ông đậu bằng Kỹ sư Canh nông. Về nước, ông làm công chức từ năm 1930. Năm 1940, ông  hoạt động  trong tổ chức Việt Nam Nhân dân Cách mệnh Ðảng. Ông bị chính phủ bảo hộ Pháp bắt, tuyên án 8 năm tù khổ sai, đầy ra Côn Ðảo.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông  trở về đất liền. Khi chính phủ Bảo Ðại được thành lập năm 1949, ông được cử làm Bộ trưởng Canh Nông và Xã Hội nhưng chỉ một thời gian ngắn ông từ chức.

Khi ông Ngô Ðình Diệm làm Thủ tướng, ông PK Sửu được mời giữ chức Tổng trưởng Canh nông và Cải cách Ðiền địa. Không lâu sau, ông từ chức.

Ông nhiều lần gửi thư, khuyến cáo Tổng thống NÐ Diệm thay đổi chính sách; nên ông bị chính quyền coi ông là “thành phần chống đối”.

Tháng 2 năm 1959, ông đắc cử dân biểu (đơn vị bầu cử Quận Ba, Sài Gòn,) ông gia nhập Mặt Trận Ðại Ðoàn Kết Quốc Dân cùng với ông Nguyễn Tường Tam, Mặt Trận làm đối lập với chính phủ. Ngày 26 tháng 4 năm 1960, ông cùng 17 nhân sĩ ký tên vào bảnTuyên cáo, về sau nổi tiếng với tên gọi “Tuyên cáo Caravelle“, tuyên cáo chỉ trích những sai lầm của chính quyền và yêu cầu Tổng thống NÐ Diệm phải cải tổ chính phủ. Việc làm này  làm ông trở thành cái gai trong mắt chính quyền. Nhân cuộc đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960 thất bại, ông bị chính quyền quy tội ủng hộ đảo chính và bắt giam. Ðêm 11 tháng 7 năm 1963, ông bị Tòa án Quân sự Ðặc biệt Sài Gòn kết án 8 năm tù cấm cố, cùng ra toà với ông là ba ông Phan Quang Ðán, Vũ Hồng Khanh, Bùi Lượng… Ngày 31 tháng 7 năm 1963, ông bị đày ra Côn Ðảo. Ông chỉ ở tù Côn Ðảo có 3 tháng, một cuộc đảo chính khác nổ ra, lật đổ chính phủ Ngô Ðình Diệm, ông được đón về Sài Gòn..

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, ông được Hội đồngQuân nhân Cách mạng mời vào Thượng Hội đồng Quốc gia. Ngày 27 tháng 9, Hội đồng bầu Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch. Ngày 24 tháng 10, 1964 ông được Thượng Hội đồng đề cử làm Quốc Trưởng.

Ngày 16 tháng 2 năm 1965, Tướng Nguyễn Khánh, với danh nghĩa Chủ tịch Hội đồng Quân lực,  ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng. Ngày 14 tháng 6 năm 1965, ông Phan Khắc Sửu  rời ngôi vị Quốc trưởng.

Năm 1966, Ông PK Sửu trở lại hoạt động chính trị, một lần nữa ông đắc cử dân biểu và được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Ông ứng cử Tổng Thống trong cuộc bầu cử Tổng Thống ngày 4 tháng 9 năm 1967, liên danh 2 Tướng Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ dù chỉ giành được 34,8% số phiếu bầu nhưng vẫn dẫn đầu để đắc cử. Sau vụ này, ông PK Sửu từ chức dân biểu để phản đối chính quyền quân sự. Rồi ông ra khỏi chính trường.

Ông PK Sửu qua đời ngày 24 tháng 5 năm 1970. Tang lễ của ông được tổ chức theo nghi thức Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến viếng tang,  tặng ông “Ðệ nhất Bảo quốc Huân chương.”

Ngưng trích.

Công Tử Hà Ðông: Tôi không nhớ đúng năm đó là năm 1966 hay 1967, chỉ nhớ đó là năm ông Luật sư Nguyễn Văn Lộc làm Thủ Tướng Chính phủ, ông Nguyễn Cao Kỳ là Phó Tổng Thống. Năm ấy tôi làm nhân viên nhật báo Tiền Tuyến. Tôi cũng không nhớ Nguyễn Thụy Long hay Tú Kếu bảo tôi:

“Ði chơi Côn Ðảo mấy ngày. Ði trong phái đoàn chính phủ?”

Và hỏi:

“Ði không?”

Ði chứ sao lại không đi. Không biết Tú Kếu, hay Nguyễn Thụy Long bắt được tuy-ô – tuyau – ở đâu, do ai cho tin mà biết Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cùng phái đoàn chính phủ ra thăm Côn Ðảo. Thủ Tướng ra để xem xét những nhà tù ở Côn Ðảo. Các nhật báo Việt dường như không được biết chuyện Thủ Tướng ra thăm Côn Ðảo nên tháp tùng Thủ Tướng chỉ có ba anh ký giả Việt : Tú Kếu, Nguyễn Thụy Long và tôi. Nhưng đám phóng viên Mỹ, Anh, Pháp, Nhật  đi theo thật đông: CBS, NBC, UPI, AP, Reuters có đủ mặt.

Ba chúng tôi theo Thủ Tướng lên chiếc phi cơ KQVN ở Tân Sơn Nhất bay đi Côn Ðảo. Trong phái đoàn chính phủ đi thăm Côn Ðảo có bà Luật sư Hồ Thị Vui. Tôi không nhớ bà giữ chức vụ gì trong chính quyền. Ngày ấy tôi nghĩ vì bọn Mặt Trận Giải Phóng có bà Nguyễn Thị Bình, chính phủ VNCH cũng phải có một bà trong thành phần.

Năm 1953 là lính Ðại Ðội Võ Trang Tuyên Truyền của Phòng Năm – Thiếu Tá Trần Tử  Oai Trưởng Phòng – tôi sống khoảng 6 tháng ở Trại Tù Binh Phú Quốc – như thế tôi đã được đặt chân lên hai hải đảo lớn nhất của đất nước tôi: Côn Ðảo, Phú Quốc.

Côn Ðảo có sân bay. Chiếc xe Hoa Kỳ Lincoln sơn đen, láng coóng ra sân bay đón Thủ Tướng. Ngạc nhiên khi thấy chiếc xe ô tô quá đẹp, quá trang trọng, ở một hải đảo Ngục Tù, tôi hỏi và được cho biết:

“Ông Phan Khắc Sửu từng ở tù ở đây. Khi là Quốc Trưởng, ông ra đây thăm mái tù xưa. Người Mỹ đưa xe Lincoln này ra đảo để Quốc Trưởng đi. Quốc Trưởng ở đảo vài ngày, Lincoln mới toanh đưa ông đi không đến 100 kilômét. Quốc Trưởng về đất liền, Lincoln ở lại với đảo.”

Việc Toà Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn biết tin Quốc Trưởng VN ra thăm Côn Ðảo, lấy ngay – cấp tốc – từ Mỹ một xe Lincoln mới toanh đưa ra đảo để  Quốc Trưởng dùng cho tôi thấy tình trạng người Mỹ chiêu đãi, o bế những ông được coi là nhà lãnh đạo Việt đến là chừng nào. Không chỉ o bế, người Mỹ còn mua chuộc những người thân, những tay chân của các ông như ông Phan Khắc Sửu để biết những việc làm, những toan tính, biết cả về tính tình các ông này, họ đề phòng việc… Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu có thể tuyên bố:

“Nhân danh Quốc Trưởng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, tôi yêu cầu toàn thể Quân Ðội Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam.”

Quốc Trưởng VNCH mà nói một câu như thế thì Ông Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam méo mặt.

Khi đọc “Hồi Ký Không Tên” của Lý Qúy Chung, thấy kể Ðại Tá Timmes của Mỹ đứng thập thò ở sân Tennis chờ ông Dương Văn Minh nghỉ đánh banh, đến trình ông mới đi Bangkok về, ông có mua một số hoa lan, cá cảnh về biếu Ðại Tướng; mới đọc  chuyện này tôi không tin đó là chuyện thật; tôi nghĩ:

“Làm ký gì mà bọn Mỹ o bế ông Dương Văn Minh quá  đến như thế? Ðại Tá Mỹ sao lại làm những việc tẹp nhẹp đi ngoại quốc mua cá, mua lan về khúm núm kính biếu?”

Rồi tôi nhớ chuyện Toà Ðại Sứ Mỹ đưa xe Lincoln bằng trực thăng ra Côn Ðảo để Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu đi, tôi mới thấy Ðại Tá Timmes là người được biệt phái theo dõi ông Dương Văn Minh. Dù khi ấy ông Dương Văn Minh chỉ là Tướng Về Hưu Ngồi Chơi Không Sơi Nước, nhưng nếu ông tuyên bố:

“Tôi yêu cầu Quân Mỹ rút ra khỏi Việt Nam.”

Những hãng Thông Tấn AFP, AP, UPI, Reuters, BBC, NBC loan đi lời tuyên bố ấy; Toà Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gon rơi vào cảnh tang gia bối rối liền một khi.

Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cùng phái đoàn vào thăm những Nhà Tù Côn Ðảo trong một ngày. Nhà Tù Côn Ðảo có 4 Khu Nhà Tù. Vì phái đoàn có bà Hồ Thị Vui nên phái đoàn vào thăm các bà tù chính trị bị giam ở Côn Ðảo. Các bà Tù này khoảng 30 bà, toàn là Nũ Việt Cộng, vợ những Ðầu Xỏ Việt Cộng, trong số có bà Nguyễn Thị Yến, nghe nói là vợ VC Nguyễn Bảo Kíếm. Các bà bị giam ở một khu riêng. Ông Quản Ðốc Nhà Tù đã gặp đại biểu các bà, nói chuyện phái đoàn chính phủ trong có bà Hồ Thị Vui muốn vào thăm hỏi, tặng quà, các bà bằng lòng tiếp phái đoàn với điều kiện:

“Không được chụp hình, quay phim, phỏng vấn.”

Thủ Tướng bằng lòng với lời yêu cầu của các bà Tù. Trước khi vào Khu Giam Nữ Tù, một nhân viên phái đoàn nói với nhóm ký giả:

“Các ông được theo vào nhưng không được chụp hình, quay phim, phỏng vấn.”

Bọn phóng viên Mỹ ở Việt Nam hồi ấy coi nhân viên chính quyền VN rẻ hơn bèo, sức mấy họ chịu bỏ dịp may hiếm có: “ghi ảnh những Bà Tù VC trong Nhà Tù Côn Ðảo.” Họ ào ào vác máy quay phim, máy ảnh vào ghi hình túi bụi. Thấy cảnh trơ trẽn nhếch nhác mất tư cách ấy tôi đứng lại, tôi không vào theo Thủ Tướng. SỰ TRÂNG TRÁO CỦA BỌN PHÓNG VIÊN Mỹ làm tôi xấu hổ.

Nghe nói khi bị chụp hình, quay phim, các Bà Tù tay che mặt, rút vào phòng giam. Tôi không biết có bà nào chịu nói chuyện với bà Hồ Thị Vui hay không.  Tôi chắc nếu có nói, các Bà Tù trách Bà Hồ Thị  Vui không giữ  lời hưá.

Buổi tối ba chúng tôi ngủ ở Nhà Khách dành cho Khách thăm Côn Ðảo, chúng tôi ăn ở Nhà Khách này. Nhà Khách nền xi-măng, mái lá gồi, bốn bề treo mành mành, rất thoáng, mát. Nhân viên Nhà Khách toàn là tù được tuyển ra làm việc.

Một tối ông Quản Lý Nhà Khách, một ông Tù trạc 50 tuổi, biết ba chúng tôi là ký giả, ông pha bình nước trà, mời ba ký giả uống trà, nói chuyện.

Ông kể năm trước ông cùng một số khoảng 50 người Tù Côn Ðảo đã được đưa từ Côn Ðảo về Nhà Tù Chí Hoà chờ làm giấy thả, nhưng số ông chưa hết Tù Tội nên ông – và các bạn Tù của ông – bị đưa từ Nhà Tù Chí Hoà trở lại Côn Ðảo Tù tiếp.

Số là – theo ông Tù Quản Lý kể – khi Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu trở lại thăm Côn Ðảo, Quốc Trưởng tuyển chọn 50 người tù và ký lệnh thả 50 người này.  Quốc Trưởng ký Lệnh Ân Xá, ăn chắc rồi, ăn chắc không phải chăm phần chăm mà là năm chăm phần chăm. Ăn chắc đến cái độ trên cõi đời này không có gì Ăn Chắc hơn.  Dzui mừng dzui khoái dzui. Dzui ra Tù mới thiệt là dzui. 50 Ông Tù Côn Ðảo được ân xá hí hửng sưả soạn về nước. Sẵn tầu, 50 Ông Tù được xuống tầu về nước. Tới Sài Gòn, các ông được đưa vào Nhà Tù Chí Hoà..

Các Ông Tù Côn Ðảo về Nhà Tù Chí Hoà nằm nghỉ ít ngày thôi, lâu lắm là 5, 7 ngày, chờ chính phủ phát giấy tha là thơ thới về nhà với vợ con. Dzui ơi là dzui. Nhưng..

Ðó là thời chính phủ do ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Thủ Tướng Phan Huy Quát không chấp nhận việc Quốc Trưởng thả Tù Côn Ðảo khơi khơi. Việc làm của Quốc Trưởng là việc làm ngang xương, không theo thủ tục pháp lý. Lẽ ra Quốc Trưởng làm bản danh sách đề nghị Thả một số Ông Tù Côn Ðảo, đưa sang Phủ Thủ Tướng, Bộ Tư Pháp sẽ cứu xét, làm bản trình Thủ Tướng,  Thủ Tướng căn cứ bản trình của Bộ Tư Pháp, sẽ ra lệnh Tha hay Chưa Thảû. Bộ Tư Pháp đưa 50 Ông Tù Côn Ðảo xuống tầu trở về Côn Ðảo ở tù tiếp. Ông Tù Quản Lý Nhà Khách Côn Ðảo – sau chừng một tháng nằm phơi rốn thơ thới trong Nhà Tù Chí Hòa – lại trở về đảo làm Quản Lý Nhà Khách.

Vì việc không chấp thuận, không thi hành Lệnh Thả Tù của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, giữa Quốc Trưởng và Thủ Tướng Phan Huy Quát có sự hiềm khích, ác cản, dẫn đến việc chính phủ bị giải nhiệm, quyền lập chính phủ được trao lại cho giới quân nhân.

Buổi tối ở Côn Ðảo, tôi nghe chuyện ông Quản Lý mà nhớ đến câu người Tầu nói “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền dịnh,” “Một miếng ăn, một miếng uống, đều được định trước.” Khi 50 Ông Tù Côn Ðảo xuống tầu về nước, Qủy Cốc Lão Tử,  Trần Ðoàn Tổ Sư Tử  Vi cũng không ông nào dám nói:

“Các anh sẽ trở lại.”

o O o

 Tử Vi Phan Khắc Sửu. Nhà Tử Vi Thiên Lương soạn. Bài đăng trên báo Khoa Học Huyền Bí, Sài Gòn năm 1973.

Nhân sĩ miền Nam Việt Nam có thật ít, trong số phải kể cụ Phan Khắc Sửu. Một ông già ốm o, đầu bạc lại thêm mắt cận thị, ấy thế mà gan cùng mình.

Theo người thân của cụ cho biết, cụ sanh ngày 7 tháng 5 giờ Mùi tuổi Tân Sửu. Mệnh lập tại Hợi.

Nhìn vào bản Tử Vi thấy ngay cụ là người bất mãn với đời, người có nghị lực, phấn đấu thật lòng vì nước vì dân, người chỉ biết có nói điều phải, nói ai nghe đựơc thì nghe, không nghe thì đành chịu. Tài ba như Gia Cát Khổng Minh biết nhà Hán hết thời, và công mình làm chỉ là việc của người ném bùn sang ao, cũng cố phấn đấu vì tình nghĩa của Lưu Huyền Ðức.

Trường hợp cụ Phan Khắc Sửu dấn thân tranh đấu là vì tình non sông và nghĩa đồng bào. Thân cư Phúc Ðức, đóng ở cung Sửu, Ðứng ở cái thế chính nghĩa minh bạch. Tiếc rằng cụ không đủ tài ba (thiếu Tả Hữu) chứ nghị lực có thừa (Mã, Tràng sinh ở Hợi, đắc Khoa).

Ðời cụ chỉ trông vào một chữ Tân, cho nên Ðồng Cự ở Sửu được cái thế Song Lộc, Long , Phượng, Hổ, Cái là phần vinh dư,ï nhưng cụ chỉ được ở cái địa vị khiêm nhượng là một vị Quốc Trưởng hữu danh vô quyền, phù hợïp với Nhật xuất phù tang bị nước biển Ðông tràn ngập (Lưu Hà, Hoá Kị) ở Quan Lộc.

Kể về thời thì không thấy cụ đắc thời một lúc nào hết, hoạ chăng là giai đoạn còn là bạch diện thư sinh, học hành được thành đạt với tấm văn bằng kỹ sư để trở về nước phục vụ  quốc dân.

Suốt 30 năm tranh đấu vì nước vì dân, tuyệt không một sự việc gì gọi là hài lòng cho kẻ sĩ Phan Khắc Sửu. Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn hợp số nhất, thì ôi thôi, Tướng Ấn dính chùm cùng bị Tuần, Triệt kẹp cứng, Long, Phượng, Hổ, Cái, Khoa, Quyền, Lộc chỉ đem lại kết quả là người đời tiễn đưa cụ bằng Lễ Quốc Tang huy hoàng.

Cả nước thương tiếc cụ là một người có lòng với đất nước nhưng không có thời.

Cụ Phan Khắc Sửu như Cựu Hoàng Bảo Ðại, được một cung Thê là nổi bật. Một đàng đúng tư cách đầy đủ là một bà Hoàng Hậu. Một đàng dư tài ba là một bà nội trợ, buôn bán đông tây, một  mình tần tảo, lo cho đủ chi dung của gia đình để cho chồng khỏi bận tâm vì sinh kế mà lo việc nước.

Ngày nay cụ ở suối vàng, xin cụ phù hộ cho cụ bà mạnh khoẻ, buôn may bán đắt. Việc nước, xin thưa cụ, đã có người khác.

o O o

CTHÐ: Nhân sĩ Phan Khắc Sửu bị Pháp đầy ra Côn Ðảo năm 1940. Năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, Bác sĩ Trần Tấn Phát là đại diện chính phủ, ra Côn Ðảo cho tù quốc sự về nước.

Ông Phan Khắc Sửu ba lần ra Côn Ðảo:

Lần thứ nhất ông bị chính phủ Pháp đầy ra Côn Ðảo. Năm 1940.

Lần thứ hai ông bị chính phủ Ngô Ðình Diệm đưa ra Côn Ðảo. Năm 1963.

Lần thứ ba, là Quốc Trưởng, ông Phan Khắc Sửu trở lại Côn Ðảo thăm mái tù xưa. Năm 1965.

Theo lời kể của Nhà Văn An Khê Nguyễn Bính Thinh trong Hồi ký “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo,” cùng về nước với Người Tù Nguyễn Bính Thinh có các ông Phan Khắùc Sửu, ông Trần Quốc Bửu, ông Lê Quyền, ông Bùi Lượng và Lê Duẩn, Phạm Hùng.

Khi các ông Tù này lên bến Sài Gòn – khoảng Tháng 10, 1945, chính phủ Trần Trọng Kim không còn nữa, bọn Trần Văn Giầu Việt Minh đã cướp quyền ở Sài Gòn. Tình hình Sài Gòn rối tinh rối mù. Không có đại diện chính quyền ra đón các ông Tù Quốc Gia từ Côn Ðảo về nước. Bọn VM đón Lê Duẩn, Phạm Hùng và những nguời đồng bọn, đưa vào khu an toàn. Trong khi ấy những Ông Tù Quốc Gia bơ vơ, lủi thủi tìm đường sống.

Năm 1946 Thực Dân Pháp trở lại  Việt Nam, chính quyền Pháp coi những người Tù Côn Ðảo được đưa về nước là “vượt ngục, “ Mật Thám Pháp tìm bắt những người này.

Trích tác phẩm “Hai Mươi Năm Qua. 1945-1964,” của Ðoàn Thêm:

Ngày 10 Tháng 9, 1948, Tổng trấn Nam phần Trần Văn Hữu ra nghị định:

“Ai bắt được tù vượt ngục Côn Luân sẽ được thưởng 200$”

Nhiều Ông Tù Côn Ðảo bị mật thám Pháp bắt đưa trở ra Côn Ðảo, nhiều Ông Tù khi thấy mật thám đến bắt, bỏ chạy, bị mật thám Pháp bắn chết.

Những Ông Tù Phan Khắc Sửu, Nguyễn Bính Thinh, Trần Quốc Bửu, Lê Quyền thoát lưới tìm bắt của mật thám Pháp; các ông sống qua cuộc chiến tranh 1946-1954 và trở thành những nhân vật có tiếng của Quốc Gia VNCH.

Tử Vi Phan Khắc Sửu. Thiên Lương soạn:

“Suốt 30 năm tranh đấu vì nước vì dân, tuyệt không một sự việc gì gọi là hài lòng cho kẻ sĩ Phan Khắc Sửu.”

CTHÐ: Con người suớng khổ đáng kể nhất là trong tuổi già. Ông Phan Khắc Sửu về già làm Quốc Trưởng, các ông Thủ Tướng Trần Văn Hương, Phan Huy Quát phải đến trình diện ông, ông đứng trước, ông ngồi giữa các tuớng lãnh. Là Quốc Trưởng ông trở ra Côn Ðảo thăm nhà tù xưa – nơi ông ở tù hai lần – ông gặp các bạn tù, ông được hoan hỉ chào đón, ông lý Lệnh trả tự do cho 50 người tù. Khi làm việc này ông không đắc chí ư?  Khi ông tạ thế ông được Quốc Gia làm Lễ Quốc Tang. Còn thế nào mới là vinh hạnh, là đắc chí, đắc thời?

Ông Tù Phan Khắc Sửu ba lần ra Côn Ðảo.

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm – coi như Quốc Trưởng – bị bắn chết.

Quốc Trưởng Bảo Ðại hai lần bị hạ bệ, chết già ở xứ người trong sự lạnh lùng của quốc dân,

Quốc Trưởng Dương Văn Minh đầu hàng, chết già ở xứ người trong sự quên lãng của quốc dân.

Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu tạ thế khi còn Quốc Gia VNCH, ông được làm Lễ Quốc Táng.

Lịch sử Quốc Gia VNCH chỉ có một ông Quốc Trưởng được hưởng Lễ Quốc Táng.

Ông Quốc Trưởng ấy là Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu.

BỒ CÂU GIẤY

Ông Tù trạc 65 tuổi, tóc bạc trắng, người Sài Gòn, vẻ  học thức, phúc hậu. Vào phòng, ông ngồi tại chỗ, không nói chuyện với ai. Tôi hỏi Tới, thằng con rởm của tôi. Tới 30 tuổi, vào tù vì tội  ở trong tổ chức Vượt Biên. Nó làm tà loọt, chuyên đi đưa tin, đem vàng đi bán lấy tiền cho đàn anh. Nó xả thân làm việc này mong được cho đi khi tầu làm cuộc vượt biên. Tới nhận tôi là bố. Nó lo chuyện lấy cơm canh cho tôi. Nó biết nhiều chuyện trong phòng. Tôi hỏi:

“Ông già ấy tội gì mà bị bắt ?”

Tới trả lời:

“Ông ấy đem bồ câu đi tặng người ta.”

Bồ Câu Ân Xá Quốc Tế – Amnesty International

Bồ Câu Ân Xá Quốc Tế – Amnesty International

Chờ cho tôi ngạc nhiên, nó mới nói rõ câu chuyện. Ông già tóc bạc mới từ Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu sang. Ông là dược sĩ – pharmacien – con trai ông là pharmacien hiện ở bên Pháp. Hai ôngt bà ở Sài Gòn. Nhờ có chi viện từ Pháp về, ông bà sống không đến nỗi vất vả. Như mọi người Sài Gòn, cuộc sống của ông bà già buồn trôi trong thành phố Sài Gòn nay đầy cờ đỏ. Ông già và anh cháu – không biết cháu ông hay cháu bà – đi mua giấy ve chai một mặt có chữ, một mặt trắng, làm một cái mộc gỗ hình con chim bồ câu. Hai chú cháu cắt giấy thành từng tấm carte, in hình chim bồ câu lên, đem tập carte vào những xóm nhà, tặng mỗi nhà một carte, với lời chúc:

“Mong chim bồ câu hoà bình mang niềm vui đến nhà ông bà.”

Công An bắt ông già và anh cháu. Nằm phơi rốn ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của Sở Công An Thành Hồ, chịu thẩm vấn ít nhất là 5, 6 tháng, hai chú cháu nay bị đưa sang Nhà Tù Chí Hoà. Vụ này xẩy ra năm 1985. Kể lại để nhớ những năm trước năm 1990 – năm Tượng Thánh Tổ CS Lenin, Tượng Ðộc Tài Chúa Stalin bị nhân dân các nước Ðông Âu cho ra nằm ở nhữngt bãi rác – bọn Bắc Việt Cộng xiết cổ nhân dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà bại trận nghiêm ngặt đến như thế nào. Người đi chúc bình an cho đồng bào, tặng đồng bào con chim Bồ Câu biểu tượng của hoà bình, biểu tượng in trên giấy – việc làm vô thưởng, vô phạt – bị bọn Công An Cộng Sản bắt giam cả năm trời. Chúng nghi người này ở trong một tổ chức phản động, có thể nhận lệnh đi làm việc chúc lành, tặng Bồ Câu từ một tổ chức người Việt chống Cộng nào đó ở hải ngoại. Chúng nghi hai người đi làm quen để rồi kêu gọi chống đối. Câu này người ta đã nói lâu rồi:

“Bọn Cộng Sản sợ cả cái bóng của chúng nó.”

Tôi nói lên sự ngạc nhiên và không tin của tôi:

“Chỉ đi phát Bồ Câu với lời chúc bình an thôi mà bắt người ta. Vô lý.”

Ông Tù nằm gần chỗ tôi nói:

“Tại ông ấy phát Bồ Câu Giấy nên chúng nó bắt ông. Nếu ông ấy đi phát Bồ Câu Thịt, chúng nó không bắt ông ấy đâu. Chúng nó còn tổ chức chào đón ổng để chúng nó ăn có vài con bồ câu.”

Người nói câu đó là một ông linh mục. Linh mục Nguyễn Hoàng Hai, bị bắt vì tội tổ chức vượt biên. Ông nói ông là thư ký của Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình. Ông trạc 50 tuổi, khổ người hơi đẫy, vui tính, sống dễ, hay nói đùa. Ông nói rỡn cả chuyện trong Kinh Thánh:

“Những người già không phải xuống Ðịa Ngục. Vì : Trong Ðịa Ngục đầy tiếng than khóc và nghiến răng. Người già đâu còn răng mà nghiến.”

Ông kể trong Toà Tổng Giám Mục có ma. Nhiều ông linh mục thấy ma: ma là một ông già Pháp, ban đêm hiện ra đi trong hành lang.

Người tử tù Lê Mạnh Thát ngồi cùng hàng ghế với Tổng Bí Thư Ðỗ Mười. Trí Siêu Lê Mạnh Thát ở cuối ảnh. Ðỗ Mười đầu ảnh.

Người tử tù Lê Mạnh Thát ngồi cùng hàng ghế với Tổng Bí Thư Ðỗ Mười. Trí Siêu Lê Mạnh Thát ở cuối ảnh. Ðỗ Mười đầu ảnh.

Tôi gọi ông là Cha Sôi Thịt. Ông thích ăn ngon, hút thuốc lá có cán. Ông sống trong Toà Tổng Giám Mục Sài Gòn. Ông là con nhà giầu Lái Thiêu, học trường Taberd. Ông kể ông học cùng thời với danh thủ bóng bàn Lê Văn Tiết. Ông đánh bóng bàn với Lê Văn Tiết ngang tay, ăn qua, ăn lại. Ông và một số người thân quen tổ chức vượt biên, nhưng chỉ mới có con tầu thì cả nhóm bị bắt. Nguyên nhân bị bắt chính là từ Ông Cha Sôi Thịt. Ông từ Toà Tổng Giám Mục đi xuống hậu giang nhiều lần để mua tầu, tìm bến, đúng vào thời Toà Thánh Vatican sắp phong Thánh Tử Ðạo cho một số ông Việt Nam tử đạo. Chuyện em nhỏ lên ba nó cũng biết là bọn Công An canh chừng Toà Tổng Giám Mục đi theo ông, chúng nghi ông là đặc phái viên của Ðức Tổng Giám Mục, ông được lệnh đem thông điệp của Ðức Tổng Giám Mục ra nước ngoài. Phải nhận là chúng nghi có lý.

Tôi viết về những ông Linh Mục. Mục Sư, Tu Sĩ Phật Giáo tôi gặp trong tù. Gặp và sống chung phòng tù. Tôi kể từ đầu. Tháng 4 năm 1984, tôi bị đưa lần thứ hai vào Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Trong 3 năm 1977, 1978, 1979 tôi đã nằm phơi rốn trong Nhà Tù này. 24 tháng tù kéo dài trong 3 năm. Lần này trở vào, sau mấy tháng nằm biệt giam, tôi sang Phòng Tập Thể 6 Khu C1. Tôi được xếp nằm cạnh một chú tù trạc 30 tuổi. Hỏi qua, hỏi lại, tôi được biết chú là tu sĩ Phật Giáo, bị bắt vì ở trong một tổ chức phản động. Chú bị bắt năm 1982, sau một năm ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, chú đã sang Nhà Tù Chí Hoà. Chú mới bị đưa từ Nhà Tù Chí Hòa về đây để chịu thẩm vấn thêm. Tôi nói cho chú biết Ni Cô Trí Hải, hai ông Tuệ Sị, Lê Mạnh Thát mới bị bắt tháng trước. Bẩy ngày sau ngày ba vị trên đây bị bắt, Hoà Thượng Thích Trí Thủ viên tịch.

Tên chú là Thích Tâm Lạc. Ra toà năm 1988, chú bị án tù 10 năm khổ sai. Chú gọi tôi là bác:

“Bác không phải là người Phật Giáo, sao bác biết những chuyện đó?”

Tôi trả lời:

“Ông Cao Hữu Ðính nói cho tôi biết.”

Tôi và Tâm Lạc ăn chung với nhau. Chú ăn chay, có người nhà chùa – Già Lam hay Vạn Hạnh – gửi đồ tiếp tế cho chú. Tôi ăn ké đồ chay của chú. Có những món đồ chay khô, làm như mảng thịt bò khô để lâu không bị mốc, mặn, ăn với cơm tù ngon ơi là ngon. Chú hút thuốc rê. Chú nhưòng chao, sẻ rê cho tôi. Nhờ chú lần đầu tiên và lần duy nhất trong đời tôi được ăn vỏ chuối. Chú lấy vỏ chuối sứ – vỏ chuối tiêu quá đắng không ăn được – treo lên vài ngày cho vỏ chuối khô đen, lấy xuống tước thành sợi nhỏ, ngâm nước một đêm, khi ăn vắt sơ, trộn với chanh, muối mè, ớt, làm thành một thứ rau nộm chua chua, mặn mặn, cay cay, dễ ăn theo cơm, ăn cho có chất sơ. Chú kể quê chú ở Thưà Thiên. Ông thân chú kháng chiến bị lính Pháp treo lên bắn. Ông cậu chú chủ trì một ngôi chùa, Từ năm 10 tuổi, chú  tu trong chùa của ông cậu. Chú kể:

“Những lần mẹ tôi lên thăm chùa, cậu tôi bắt mẹ tôi làm việc cho chùa nhiều hơn, nặng nhọc hơn những bà làm công quả khác. Thấy mẹ tôi phải làm vất vả, tôi oán cậu tôi lắm.”

Vì các vi Trí Hải, Tuệ Sĩ, Trí Siêu, và Thượng Toạ Ðức Nhuận mới bị bắt, Tâm Lạc bị đưa từ Nhà Tù Chí Hoà về Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu chịu tái thẩm vấn. Chú nói giọng rất nặng. Có lần tôi bảo chú:

“Khổ thì nói khổ. Sao lại cứ khộ khộ là cái gì.”

Tôi sống, nằm cạnh, ăn chung với Sư Tâm Lạc chừng ba, bốn tháng thì một tu sĩ Thiên Chúa Giáo vào phòng. Thầy Sáu Lê Văn Bẩy đã học xong nhưng không được bọn Cộng cho thụ phong linh mục.  Bẩy trạc tuổi Tâm Lạc: 30 tuổi, người gầy, cao, da trắng. Bẩy được xếp nằm cạnh tôi. Tôi nằm giữa một tu sĩ Phật Giáo, một tu sĩ Thiên Chúa Giáo. Ba chúng tôi ăn chung. Bẩy kể Bẩy bị bắt cùng hai ông Thầy Sáu bạn. Ba Thầy hầu việc Chúa ở vùng Tân Sa Châu. Thấy tín hữu đói Lời Chuá – Kinh Thánh: “Các ngươi sẽ đói Lời Ta từ bờ biển này sang bờ biển kia.” – ba ông Thầy Sáu in roneo những bài giảng phát cho tín hữu. Tết năm ấy các Thầy in Lịch Công Giáo cũng bằng roneo. Ba Thầy bị bắt vì tôi “in ấn bất hợp pháp.” Bẩy kể:

“Ông Duyên Anh đưa quyển “Ðồi Fanta” cho tôi đánh máy ra mấy bản đề phòng bản thảo viết tay bị mất. Trong tập “Ðồi Fanta” có mấy bức thư ông Trần Tam Tiêp viết cho ông Duyên Anh, Trong một thư ông Tiệp có nhắc đến bác và ông Dương Hùng Cường. Khi đến nhà bắt tôi vì tội in ấn bất hợp pháp, bọn Công bắt được một quyển “Ðồi Fanta” tôi giữ lại.”

Bẩy được tiếp tế vào loại khá. Tôi ăn nhờ Tâm Lạc, nhờ Bẩy. Rồi ông đàn anh tôi là ông Vương Văn Bách xách chiếu, bị cói, vào phòng. Ông nằm cạnh Bẩy. Ông Vương này là ông anh ruột ông Vương Văn Ðông. Luật sư. Ông được mời làm cố vấn cho một anh Tầu Chợ Lớn. Có xe LaDalat đưa rước ông đi làm hàng ngày. Anh Tầu Tư Cai nghe lời bọn Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải kêu gọi “bung ra” làm ăn, mở nhà xuất nhập cảng, buôn bán thẳng với đám Tầu Hong Kong, Singapore, “Bung ra” chưa được bao lâu thì Lê Duẩn cho bắt giam hết những anh Tầu Tưởng Bở Bung Ra. Tội của các anh là “kinh doanh sai nguyên tắc xã hội chủ nghĩa.” Nôm na và huỵch toẹt là được kinh doanh với nước ngoài nhưng bao nhiêu tiền lời phải nộp hết cho Nhà Nước, tức cho Ðảng, không được phép có lời trả lương cao cho nhân viên, mua đất xây nhà cho nhân viên. Tầu Bung Ra Tư Cai bị bắt, ông cố vấn Vương Văn Bách xộ khám.

Tôi được quen ông VV Bách qua Ký giả Tô Văn. Ông ăn chung với ba chúng tôi. Ông có hai người con ở Pháp, con trai ông là docteur, nên ông được bà vợ ông tiếp tế đàng hoàng. Bốn chúng tôi là bọn khá nhất trong phòng tù. Tôi đỡ khổ vì được ba ông bạn tù chiều đãi, bao che mọi bề.

Năm 1990 từ Trại Tù Khổ Sai Z 30 A tôi trở về mái nhà xưa, Bẩy và tôi đến thăm anh Bách. Anh có Paris Match, L’Express, Le Point con anh từ Pháp gửi về, anh bảo tôi:

“Ðọc báo Pháp chán lắm, toàn những chuyện không liên can gì đến mình. Ðọc báo của bọn Nga mình thích hơn. Vì những chuyện xẩy ra ở Nga đều xẩy ra ở nước mình.”

Anh nói đúng. Năm 1990 bọn báo Nga Sputnik, Newtimes – ấn bản tiếng Anh, tiếng Pháp từ lâu vẫn được bán rẻ ở Sài Gòn – những tờ báo chuyên ca tụng Ðảng và Lãnh Ðạo, nay quay mặt chửi Ðảng, bới móc  những lỗi lầm của Ðảng, những bê bối của bọn  lãnh tụ. Sẽ không người Việt nào ngạc nhiên khi mai đây Tượng Bác Hồ “muôn kính, ngàn yêu” của bọn Bắc Cộng bị nhân dân lôi cổ ra cho nằm tênh hênh trước  cửa chợ, bọn báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên – bọn từng ca tụng Ðảng, Bác hết lời – sẽ trở mặt chửi Ðảng, chửi ác, chửi đểu trước hơn ai hết.

Nhưng cuộc đoàn tụ của bốn Tù Nhân chúng tôi không lâu. Mỗi tháng Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu đưa một số tù đã xong thẩm vấn sang Nhà Tù Chí Hoà. Anh Vương Văn Bách xách bị sang Nhà Tù Chí Hoà trước, tháng sau Bẩy và Tâm Lạc cùng ra khỏi phòng. Hai người đi rồi, tôi thấy tôi cô đơn quá đỗi. Tôi ngồi dựa tường, ứa nước mắt tự thương thân.

Rồi tôi cũng sang Nhà Tù Chí Hoà. Một buổi trưa tôi xách bị, chiếu, theo các bạn tù vào trong sân Nhà Tù Chí Hòa. Nhìn lên tôi chỉ thấy những tầng gác cao vây kín với những chấn song sắt đen sì. Tôi nghĩ:

“Mình đang ở trong Nhà Tù Chí Hoà, nhà tù lớn nhất Ðông Dương. Ngày nào ra khỏi đây, mình sẽ kiêu hãnh vì mình đã sống trong Nhà Tù Chí Hoà.”

Tôi nghĩ:

“Người Sài Gòn bị Cộng Sản bắt đi tù, không vào Nhà Tù Chí Hoà, chưa hẳn là Tù.”

Nhóm Biệt Kích Cầm Bút Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cương, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự. Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn và tôi bị chia ra cho vào các phòng. Tôi vào Phòng 10 Khu ED. Người tù đón tôi trong Phòng Tù này là Thầy Sáu Lê Văn Bẩy. Tôi mừng ơi là mừng.

Tha hương ngộ cố tri” đã mừng hết lớn. Người tinh thần yếu sìu chuyên sống dựa dẫm người khác như tôi – trẻ tôi sống nhờ mẹ tôi, có vợ tôi sống dựa vào vợ tôi – mà “ Xô khám ngộ cố tri ” mừng biết chừng bao. Xộ khám Tổng Nha đã ngán đến mang tai, xộ khám Chí Hòa là cái Khám dễ sợ nhất ba nước Ðông Dương Việt-Mên-Lào, bao nhiêu gan ruột anh thường dân yếu sìu là tôi nhão nhoẹt. Chuá thương tôi, Chuá cho tôi gặp lại Bẩy trong Nhà Tù Chí Hoà. Bẩy sang Chí Hòa cùng xe tù với Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Bẩy vào Phòng 10 Chí Hoà cùng với Lê Mạnh Thát. Hai ông tu sĩ  hai tôn giáo thân mật với nhau. Tôi được ăn chung với Bẩy và Thát, ngủ nằm cạnh hai ông. Rồi Lâm Tới Vượt Biên vào phòng. Tới từng là học trò của Thầy Bẩy. Tới nhập bọn với ba chúng tôi. Tới lo đặt bát lấy cơm, canh, rưả bát cho chúng tôi. Tới tên là Nguyễn Văn Tới, tôi gọi nó là Lâm Tới theo tên anh Lâm Tới, diễn viên xi-nê Thành Hồ thời ấy.

Năm 1987 Thầy Sáu Lê Văn Bẩy và hai ông Thầy Sáu In Ấn Bất Hợp Pháp ra toà, hai ông Thầy In Ấn lãnh mỗi ông 3 năm tù khổ sai, Thầy Sáu Lê Văn Bẩy bị phang 8 năm tù. Ông Chủ Nhà In Photocopy bị tịch thu cái máy in. Oan cho ông, thời Quốc Gia VNCH có ai in photocopy vài chục tờ mà phài xin phép.

Lê Văn Bẩy tù khổ sai 3 năm, 5 năm tù khổ sai vì “tội tàng trữ tài liệu phản động: cất giữ quyển “Ðồi Fanta” của Duyên Anh.” Ðó là chưa kể tôi đánh máy “Ðồi Fanta” ra làm nhiều bản. Bẩy kể:

“Tôi nói có người quen đưa tôi tập giấy nhờ giữ dùm. Tôi không biết nhà anh ta. Tôi không quen ai là Duyên Anh.”

Nếu khai và nhận tôi đánh máy chắc 5 năm tù cộng thêm ít nhất là 3 năm tù nữa. Tôi không biết Duyên Anh có biết Lê Văn Bẩy bị tù 5 năm về tôi “cất giữ Ðồi Fanta” hay không, khi Bẩy bị bắt Duyên Anh đã vượt biên đi thoát.

Tôi kể chuyện này để nói lên việc những năm từ Tháng Tư 1975 bọn Bắc Cộng coi người dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà như dân một nước bị chúng xâm lăng, chúng đàn áp người dân VNCH như chúng trừng phạt kẻ thù, chúng cố ý, chúng công khai tiêu diệt người dân VNCH. Tôi viết để nói lên việc bọn BắcCộng những năm nay – những năm 2000 – vẫn trừng phạt những người chống chúng nhưng so vớí mức độ tàn ác của chúng đối với những người dân VNCH những năm 1975-1999 thì không ăn nhằm gì.

Những ngày như lá, tháng như mây.. Năm 2011, tôi liên lạc được với Lâm Tới. Năm 1989 khi Tới và tôi ở tù Chí Hoà, nó chỉ biết lem nhem vài câu tiếng Anh. Vượt biên sang được Mỹ, tôi không biết nó học hành thế nào mà nay nó là chuyên viên bảo trì máy bay không người lái của Mỹ. Tới cho tôi biết Thầy Sáu Lê Văn Bẩy nay là linh mục. Thầy được sang Pháp học giáo lý mấy năm, về nước được thụ phong linh mục. Tôi nghĩ 10 năm tù đầy ấy là do Thiên Chúa thử thách người con yêu của Chúa. Qua trường hợp Linh mục Lê Văn Bẩy, tôi thấây như vậy là bọn Duy Vật Vô Thần – bọn Bắc Việt Cộng – đã thua nặng ở Việt Nam. Chúng muốn tiêu diệt tôn giáo – tất cả các tôn giáo – chúng cấm nhân dân theo đạo, chúng cấm việc truyền đạo, chúng bắt tù, chúng cô lập những nhà tu hành. Nhưng – nhắc lại: chúng đã thất bại.

Tôi đã viết nhiều về Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Trong bài này tôi không viết lại những gì tôi đã viết về Trí Siêu. Tôi viết vài chuyện mới về Trí Siêu.

Tôi thấy Trí Siêu là một  cư sĩ Phật Giáo nhưng không phải là một tăng sĩ, một ông Sư như ta vẫn nghĩ về các Sư. Cư sĩ Trí Siêu ở chuà, ăn chay, nhưng vẫn để tóc dài. Ðó là chuyện riêng của Cư sĩ Trí Siêu. Mới đây tôi thấy trên Internet loan mấy tin mới về những hoạt động của Trí Siêu.

Trí Siêu Lê Mạnh Thát là vị tu theo Phật duy nhất ở Việt Nam bị bọn Cộng Sản bắt, giam nhiều năm, bị xử tử hình, cho vào nằm Khu Tử Hình Nhà Tù Chí Hoà chờ lên bãi bắn; để rồi khi bọn Cộng Sản trong cơn hấp hối phải trả quyền truyền đạo cho ông. Có ảnh Trí Siêu ngồi cùng hàng ghế với Ðỗ Mười. Việc người tử tù ngồi ngang hàng với tên Ðộc Tài Ðầu Xỏ từng xử tử hình mình là cái Nhục cho tên Ðầu Xỏ Cộng.  Từ 10 năm nay Trí Siêu là Phó Viện Trưởng Viện Phật Học, ông ra ngoại quốc nhiều lần. Ðây là bản văn trên Internet của Ðài BBC.

BBC. Trích : Bài phỏng vấn Thiền sư Lê Mạnh Thát được thực hiện khi ông đến dự hội thảo về Hòa Giải tại Viện Trần Nhân Tông ngày21/9/2012 tổ chức tại Ðại học Harvard, Hoa Kỳ.

Thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự.

BBC: Ông có nói tới hòa giải giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau thời chiến tranh và vị Vua Trần Nhân Tông có thể được nhắc lại để cổ vũ đóng một vai trò. Thế nhưng vấn đề hòa giải giữa người Việt thì Trần Nhân Tông đóng vai trò gì?

LM Thát:  Giữa người Việt với nhau, thì (vai trò của) Vua Trần Nhân Tông rất lớn, sự thực là ngay năm 1975, một số vị lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, chúng tôi cũng đã đề cập điều đó. Chúng tôi nói là chúng ta không bàn chuyện đúng sai của cuộc chiến tranh. Bây giờ đất nước hòa bình, thống nhất, thì mình có sách lược rõ ràng. Dân tộc mình có một bộ phận đối lập hẳn với những người chiến thắng, cho nên mình phải có một sách lược rõ ràng.

Tôi có nhắc tới chuyện Vua Trần Nhân Tông, sau khi đánh bại quân Nguyên, thì những tài liệu liên quan tới người Việt Nam của phía Trần Nhân Tông trước đây từng đầu đơn xin theo quân Nguyên, mà những người làm công tác tình báo, an ninh lúc bấy giờ thu đươc, trình lên Vua, đòi phải điều tra những việc này, để xử lý, thì Vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh là đốt hết tất cả những tài liệu ấy.

Tức là không nói đến chuyện lý lịch nữa. Vấn đề là chúng ta đánh thắng giặc rồi, thì bây giờ chúng ta xây dựng. Xây dựng thì chúng ta đoàn kết với nhau. Vấn đề này, ngay từ đầu, ngay sau năm 1975, chúng tôi đã đề cập với Ðảng và Nhà nước Việt Nam.

Ngưng trích bài BBC phỏng vấn LM Thát.

CTHÐ: Bài tường thuật cuộc BBC phỏng vấn quá dài, lời lẽ luộm thuộm, nên tôi chỉ trích ở đây hai đoạn trên. Tôi không tin Lê Mạnh Thát lại có thể nói ngớ ngẩn quá đến như thế. Bọn Bắc Cộng là bọn đã, đang thẳng tay giết người Việt Nam, giết đồng bào của chúng. Chúng không có qua một tư cách gì – tư cách dù nhỏ bằng cái tĩ con gà mái – để nói lảm nhảm về sự khoan hoà của Vua Trần Nhân Tông. Trí Siêu Lê Mạnh Thát là người từng chống chế độ Cộng Sản bạo ngược, người bị bọn Cộng kết án tử hình, là người không thể ngồi với bọn Bắc Cộng để nói chuyện hoà giải hoà hợp giữa người Việt với người Việt. Bọn Bắc Cộng đã giết hết những người VNCH chống chúng, nay còn ai để chúng tính chuyện hòa hợp hoà giải! Chuyện Vớ Vẩn.

Ðây là bài viết của một người trong nước kể chuyên đến gặp Trí Siêu Lê Mạnh Thát.

Trích Internet:

Một ngày mất điện. Cái nắng miền Trung bỏng rát. Những người bạn của tôi đang khi nhâm nhi ly cà phê ở Hồ Gia Viên, anh Mai Văn Giảng từ Hà Nội vào điện về thăm tư thất của Thiền sư — GSTS Lê Mạnh Thát ở thôn Cu Hoan, xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị và chúng tôi lên đường.

Thiền sư tuổi Giáp thân, năm nay 68 tuổi, thông tuệ. Hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật giáo VN tại TP Hồ Chí Minh.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

“Giáo sư, tiến sĩ, sử gia, thiền sư Lê Mạnh Thát hay Thượng tọa Thích Trí Siêu sinh ngày 15 tháng 4 năm 1944 tại Quảng Trị. Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng ông vẫn để tóc. Năm 1959, ông vào Huế trọ ở chùa Báo Quốc và theo học tại Quốc học Huế. Năm 20 tuổi ông đậu cử nhân ngành triết học tại Viện Ðại học Ðà Lạt.

Từ 1965-1974 ông theo học tại Viện Ðại học Winconsin, Madison, Hoa Kỳ, ông lấy bằng tiến sĩ y khoa, triết học, nhân chủng học.

Năm 1974-1975, ông là giáo sư Viện Ðại học Vạn Hạnh – Sài Gòn, giảng dạy các môn tiếng Sanskrit, lịch sử triết học Ấn Ðộ, lịch sử Phật giáo Việt Nam

Từ 1975-1984, ông giảng dạy tại Viện nghiên cứu Phật học Vạn Hạnh – thành phố Hồ Chí Minh

Từ 1998-đến nay: ông là giáo sư, Phó Viện trưởng – Viện Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ông thông thạo hơn 15 thứ tiếng.

Gặp ông, một con người dung dị. Khi chúng tôi đến, thiền sư đang mặc bộ đồ xanh công nhân đang lao động. Ông pha trà và sau phần giới thiệu ban đầu, ông lui ra thay trang phục và vào tiếp chúng tôi rất lịch thiệp. Trong câu chuyện Thiền sư đề cao vai trò và tư tưởng Hồ Chí Minh và nhiều chuyện về quê hương, làng nước.

Ngưng trích.

CTHÐ: Thiền Sư nói thông thạo 15 thứ tiếng!

Bốc thơm quá lố. Thành ra lố bịch. Thiền Sư Tử Tội thông minh hơn cả “Bác Hồ” của bọn Bắc Cộng. Ở Phòng 10 Nhà Tù Chí Hoà, có lần tôi nghe Thiền Sư đấu tiếng Pháp với một ông tù. Tiếng Pháp của Thiền Sư Giả Cầy, Bồi tệ hơn Bồi.

Trong tiểu sử của Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát thiếu câu “Từ 1994 ông bị bắt về tội chống ộng, ra toà năm 1998 ông bị xử tử hình. Ðược xuống án 20 năm tù khổ sai, ông ở tù đến năm 2000 mới được trở về chùa.”

“Thiền Sư đề cao vai trò và tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh.”

Trong Phòng 10 Nhà Tù Chí Hòa năm 1997 Người Tù Lê Mạnh Thát ca tụng Hồ Chí Minh như sau:

“Lịch Sử Ðảng Cộng Sản Liên Xô do bọn Nga Cộng viết láo. Vậy mà cũng cong lưng ngồi dịch. Chí Minh cái gì, Chí Ngu thì có.”

HÁT Ô CÓ TÓC, HÁT Ô TRỌC ÐẦU

Cảnh chào đón người Việt mới đến ở phi trường Mỹ.

Cảnh chào đón người Việt mới đến ở phi trường Mỹ.

Nhật báo The Washington Post ngày 16 Tháng 3, 2013 đăng tin:

Family Visas could be cut. New Priorities on Immigration. Plan would make room for skilled workers.

Visa đoàn tụ gia đình có thể bị cắt. Ưu tiên mới của việc di cư. Chương trình sẽ dành chỗ cho những chuyên viên có tay nghề.

Trích bài báo The Washington Post có phụ thêm lời bàn: Một số Thượng nghị sĩ mở cuộc thảo luận để đề ra một chương trình làm cho khó khăn hơn việc những công dân Mỹ – những người có quốc tịch Mỹ – bảo lãnh cho những thân nhân của họ di cư sang Hoa Kỳ, chương trình mới này nhắm việc mở rộng hơn việc nhập cư Hoa Kỳ cho những chuyên viên kỹ thuật ngoại quốc.

Hiện nay 65/100 những vụ nhập cư hợp pháp vào Hoa Kỳ là để đoàn tụ gia đình, chỉ có 14/100 người nhập cư Hoa Kỳ là chuyên viên kỹ thuật, số còn lại là những vụ cho người nhập cư vì lý do nhân đạo.

Từ lâu việc cho vợ chồng đoàn tụ, con đoàn tụ với cha mẹ vẫn được Bộ Di Trú Mỹ coi là quyền ưu tiên – mỗi năm có khoảng 90.000 visa nhập Mỹ đoàn tụ gia đình được cấp phát – nay Quốc Hội Mỹ, với chương trình mới – sẽ cắt bỏ hai quyền ưu tiên nhập cư kể trên. Viết rõ: việc vợ chồng đoàn tụ, con sang Mỹ đoàn tụ với cha mẹ, cha mẹ sang Mỹ đoàn tụ với con, sẽ không được coi là ưu tiên nữa. Như vậy việc người Mỹ gốc Việt về Việt Nam lấy vợ, lấy chồng rồi bảo lãnh cho vợ, chồng sang Mỹ từ lâu vẫn được quyền ưu tiên, đuợc làm dễ và nhanh, khi Chương Trình Nhập Cư Mới do Quốc Hội Mỹ ban hành, việc trên đây sẽ không mất hẳn nhưng  sẽ gập nhiều khó khăn, hạn chế, chờ lâu.

Không phải chỉ có người Mỹ gốc Việt làm việc đoàn tụ gia đình, nhiều người các nước cũng làm việc bảo lãnh cho người thân của họ sang Mỹ. Hiện nay, số những hồ sơ xin bảo lãnh người thân vào Mỹ đã nộp và đang được cứu xét như sau:

Mexico               : 1.311.960 hồ sơ

Phillippines      :    423.449  hồ sơ

India                   :    300.780  hồ sơ

Viet Nam           :    267.067  hồ sơ

China                   :   226.921  hồ sơ

Bangladesh        :    161.731

Mỗi năm có khoảng 1 triệu người Mễ vào Mỹ bất hợp pháp. Những người này cứ sống ở Mỹ chờ năm, bẩy năm chính phủ Mỹ ra luật cho họ được nhập cư, họ thành công dân Mỹ và họ bảo lãnh vợ chồng, cha mẹ, con họ vào Mỹ. Dây chuyền bảo lãnh-nhập cư kéo dài trong vòng luật pháp Mỹ. Hiện nay có khoảng 11 triệu dân nhập cư bất hợp pháp sống ở Mỹ.

Tin trên Nhật báo The Washington Post: Visa Gia Ðình có thể bị cắt..

Tin trên Nhật báo The Washington Post: Visa Gia Ðình có thể bị cắt..

Người thế giới vào Mỹ vì sinh kế. Tôi – CTHÐ – bùi ngùi khi thấy trên TiVi cảnh thảm thương có đến 20, 30 người nhập cư lậu vào Mỹ bị chết ngạt trong xe chở đồ đóng kín cửa, cảnh những cảnh sát viên Mỹ nắm cổ những thiếu niên Tầu nhập lậu tống lên xe ô tô.

Trong toà nhà dành cho Seniors Low Income – Người Già Thu Nhập Thấp; nôm na là người già sống bằng SSI: Social Security Income, nôm na hơn nữa là Tiền Già, đúng ra là Tiền Bố Thí – nơi vợ chồng tôi sống từ 18 năm nay – tôi thấy có nhiều ông bà Nam Hàn. Tôi vẫn thắc mắc về chuyện Nam Hàn là quốc gia độc lập, có quân Mỹ trú đóng bảo vệ, kinh tế phát triển, dân chúng no ấm, tại sao họ sang sống ở Hoa Kỳ? Người Việt Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà bị bọn Bắc Việt Cộng chiếm nước, đầy đọa, tù tội, đói khổ, phải mang thân sang sống nhờ người Mỹ, nước Mỹ. Ðã đành. Nhưng người Nam Hàn tại sao cũng sang Mỹ sống nhờ? Họ cũng vào sống trong những Nhà Già, họ cũng lãnh SSI.

Năm 1950 Nhật Bản gượng dậy sau cuộc bại trận, người Nhật chế ra những sản phẩm Canon, Seiko, Sony rồi Toyota, Honda.. Những sản phẩm Nhật vào Mỹ, được mua ở Mỹ và trên khắp thế giới. Ðã đáng phục. Nhưng đó là chuyện xẩy ra từ 50 năm trước. Ðến năm 2000, sản phẩm Nhật chiếm lĩnh thị trường Mỹ từ bao năm, vậy mà người Nam Hàn vẫn đưa sản phẩm của họ vào Mỹ được. Lại càng đáng phục.

Sam Sung Nam Hàn đưa TiVi,  computer vào Mỹ. Nay  xe ô tô Huyndai Nam Hàn vào Mỹ, xe Huyndai chạy trên đường Mỹ ngày một nhiều. Xe đẹp, tốt, bền. Dễ sợ.

o O o

Năm 1989 ở Trại Tù Khổ Sai vZ 30 A tôi đọc báo thấy đăng tin “Người Ði, Người Ở, Người Về.”

Người Ði: sĩ quan quân đội Việt bị tù khổ sai trên 3 năm, viên chức chính quyền VNCH từ cấp Trưởng Ty, bị tù khổ sai trên 3 năm.

Người Về: Người Việt ở nước ngoài về nước thăm thân nhân.

Người Ở: 40 triệu công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, trong số có những người bị Bắc Cộng giam tù nhiều năm về tội chính trị, tội nói lên những khổ cực của nhân dân miền Nam, tội tố cáo với người thế giới những tội ác bọn Bắc Cộng làm với đồng bào của chúng. Những người tù Việt Nam này có ở tù CS 20 năm cũng không được Mỹ cho sang Mỹ.

Tôi không là viên chức chính phủ, tôi không là sĩ quan, biết thân, biết phận tôi không mơ mộng gì việc được sang Hoa Kỳ tị nạn. Ðến năm 1992 tôi được tin từ Mỹ gửi về: tôi có thể được Mỹ nhận cho sang Mỹ.

Anh Ưng Văn Luông, nhân viên Phòng Nhân Viên USIS, sang được Mỹ trong Ngày 30 Tháng Tư 1975. Anh vào làm việc ở USIA – United States Information Agency – thương những bạn đồng nghiệp bị kẹt ở quê nhà, anh vận động với các ông Mỹ USIA lập chương trình cho nhân viên USIS bị kẹt được sang Mỹ. Những ông Mỹ USIA phải đề nghị với Bộ Ngoại Giao Mỹ. Bộ Ngoại Giao Mỹ phải làm Luật, cấp ngân khoản cho việc này.

Nhờ anh Ưng Văn Luông nhân viên USIS Mỹ ở trong nước được quyền nhập cư Hoa Kỳ, nhưng chỉ là loại PIP: Public Interest People, nhập cư Mỹ nhưng không được hưởng những chi viện như người Việt HO.

Từ năm 1990, người Sài Gòn có chuyện “Hát Ô Có Tóc, Hát Ô Trọc Ðầu.” Số là người Sài Gòn không phân biệt được việc trong ODP – Orderly Departure Program – Ra Ði Trong Trật Tự – có hai loại: người đi sang Mỹ do người thân bảo lãnh, gọi là Family Reunion: Ðoàn Tụ Gia Ðình, và sĩ quan, viên chức tù CS được chính phủ Mỹ mang đi, gọi là Political Refugee: Tị nạn chính trị. Do đó những người đi đoàn tụ gia đình không phải là người Hát Ô, nhưng người ta có gọi chung là Hát Ô. Do đó có sự ngạc nhiên:

“Sao gia đình XYZ mới làm hồ sơ ODP 12 tháng đã được sang Mỹ, gia đình TUV làm hồ sơ cả 2 năm rồi vẫn chưa được gọi đi?”

Người ta gọi loại người Ði Mỹ Nhanh là “Hát Ô Có Tóc,” loại người đi Mỹ chậm, chờ lâu, là “Hát Ô Trọc Ðầu.” Số người Việt được phép vào Mỹ do gia đình bảo lãnh ít hơn số người HO.

“Hát Ô Có Tóc” được thân nhân bảo lãnh, chính phủ Mỹ không phải nuôi họ, không phải cấp Medicaid, Medicare, Foodstamp  cho họ, nên họ được đi sang Mỹ dễ và nhanh.

Năm 1993 tôi làm hồ sơ xin đi Mỹ. Khi ấy Luật HO có điều: Con không ở cùng nhà với cha mẹ không được đi theo cha mẹ sang Mỹ.

Sau 1975 các con tôi phải tản đi kiếm ăn, chỉ có vợ chồng tôi sống trong căn nhà nhỏ Cư Xá Tự Do, ở giưã Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền, nên ODP chỉ cho vợ chồng tôi sang Mỹ. Chúng tôi được hưởng tiêu chuẩn dành cho những người Tị Nạn Chính Trị như những người HO.

Năm 2000, Thượng Nghị Sĩ John McCain đệ trình Quốc Hội Mỹ Tu Chính Án cho phép con của những người Việt đi HO vì khi cha mẹ chúng đi chúng không ở cùng nhà nên không được đi sang Mỹ cùng cha mẹ, nay chúng được đi sang Mỹ theo bảo lãnh của cha mẹ.

Nhờ ông Ưng Văn Luông, nhờ ông John McCain, nhờ bà Khúc Minh Thơ làm giúp cho mọi thứ giấy tò bảo lãnh, năm 2003 các con chúng  tôi được đến Virginia với chúng tôi. Ðến hôm nay – Tháng Ba 2013 – các con chúng tôi đã sống ở Mỹ được 10 năm.

Tôi xin cám ơn ông Ưng Văn Luông, bà Khúc Minh Thơ, ông John McCain.

Tôi không biết gì về Luật Di Trú nên không thể viết nhiều về Chương Trình Hạn Chế Family Visa đang được Quốc Hội Mỹ soạn thảo. Xin quí vị độc giả chờ bài giải thích Chương Trình ấy của những vị người Việt biết Luật Di Trú.

THỜI KỲ ÐỒ PHỖNG

Ba Ông Phỗng: Dương Văn Minh, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Khánh.

Ba Ông Phỗng: Dương Văn Minh, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Khánh.

Từ năm 1950  ông Ðoàn Thêm đọc báo, nghe radio, ghi những việc đáng ghi xẩy ra từng ngày. Biết ông làm việc ghi chép ấy có thể có người chê ông lẩm cẩm:

“Ghi làm cái gì những chuyện linh tinh ấy. Ghi cho ai đọc? Ai mà đọc những chuyện vớ vẩn này.”

Nhưng vài chục năm sau những tập ghi “Việc Từng Ngày” của ông Ðoàn Thêm là những tập  sử liệu có giá. Nhờ đọc quyển “1965 Việc Từng Ngày” của ông, hôm nay tôi mới viết được bài Viết ở Rừng Phong này.

Ông Ðoàn Thêm là nhà luật học, nhà thơ, sinh ngày 5-11-1915 tại Hà Nội, quê làng Hữu Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, nay là huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, con trai nhà giáo dục, cử nhân Ðoàn Triển (1854-1919). Thuở nhỏ học tại trường Bưởi (Chu Văn An), đậu bằng Tú tài Pháp Việt, rồi vào trường Ðại học Ðông Dương, tốt nghiệp cử nhân Luật trước năm 1945.

Trong chiến tranh Việt Pháp ông tản cư ra vùng quê, khoảng năm 1951 ông hồi cư về Hà Nội, sau năm 1954 ông vào  Sài Gòn, ông từng làm việc tại văn phòng Phủ Tổng Thống  Ngô Ðình Diệm (1954-1963). Sau đảo chính 1-11-1963, ông bỏ đời sống công chức, viết văn làm báo. Những năm 1960 có lần ông được trao giải thưởng “Văn Chương Toàn Quốc”, ông từ chối vì cho mình là một công chức cao cấp của chính quyền thì không nên nhận giải của chính phủ.

Sau năm 1983 ông sang định cư  tại Canada, đến ngày 8-8-2005 ông qua đời, thọ 90 tuổi.

19651965 Việc Từng Ngày

Ngày 1 Tháng 1 năm 1965, Ðại Tướng Nguyễn Khánh hội đàm với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Trần Văn Hương để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng chính trị, lập một cơ quan thay thế Thượng Hội Ðồng vừa bị giải tán.

Ngày 18 Tháng 1, 1965. Chính phủ Trần Văn Hương cải tổ. 4 tướng tham gia chính phủ: Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Minh, Linh Quang Viên, Nguyễn Cao Kỳ.

Biểu tình chống chính phủ. Nhiều trận xô xát trước Viện Hóa Ðạo. 6 cảnh sát, 10 thường dân bị thương, 30 người bị bắt.

Ngày 23 Tháng 1, 1965. Thủ Tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân, kêu gọi mọi người lãnh trách nhiệm trước tình hình đất nước, tránh bị lôi kéo vào những vụ xách động. Thủ Tướng lên án:

“Lũ lưu manh cạo trọc đầu, bân y phục tăng ni, làm những trò khỉ.”

Hơn một trăm thanh niên kéo tới Viện Hóa Ðạo biểu tình chống chính phủ. Một giáo sư trông thấy cô con gái ông trong đám biểu tình, yêu cầu một Ðại Tá bắt cô lại, đánh cho ba roi. Quân đội nhân thể tóm đánh 60 cô khác mỗi cô 3 roi rồi đuổi về.

CTHÐ:  Ðây là những ngày Sài Gòn xẩy ra những cuộc biểu tình chống chính phủ gần như mỗi ngày, biểu tình liên miên. Danh từ “Xuống đường” đến trong ngôn ngữ Việt Nam từ những năm 1963, 1964. “Xuống đường” là một tên khác để gọi việc ra đường biểu tình. Năm 1965 mở ra với những cuộc xuống đường biểu tình đòi giải tán chính phủ của Thủ Tướng Trần Văn Hương. Nôm na là đòi ông Trần Văn Hương đi chỗ khác chơi.

Ngoài câu nói “Lũ lưu manh cạo trọc đầu, bận y phục tăng ni, làm những trò khỉ..,” nhiều nhật báo Sài Gòn thời đó còn đăng chuyện Thủ Tướng Trần Văn Hương ra lệnh cho lực lượng dẹp biểu tình:

“Không bắt, không giam bọn làm bậy, dùng roi mây quất vào mông chúng nó..”

Ông Trần Văn Hương nguyên là thầy giáo, ông không chấp nhận việc học sinh trung học sống bằng cơm cha, áo mẹ, bỏ học ra đường biểu tình. Chỉ riêng câu nói lên án “Lũ lưu manh cạo trọc đầu làm trò khỉ..” những tăng ni Viện Hóa Ðạo bằng mọi giá phải phá sập chính phủ của ông Trần Văn Hương. Vì Viện Hóa Ðạo – đường Trần Quốc Toản – tổ chưc quá nhiều cuộc biểu tình nên  có nhiều người gọi là Viện Hóa Dại.

Hôm nay – 2013 – 50 năm sau những ngày tôi thấy những cuộc biểu tình chống chính quyền năm 1965 ở Sài Gòn – viết lại chuyện xưa khi sống ở xứ người, tôi thấy một chuyện đáng kể là năm xưa ấy gần như tất cả những cuộc biểu tình chống chính phủ do các tăng sĩ phát động đều xuất phát từ Viện Hóa Ðạo, không cuộc biểu tình nào xuất phát từ Chùa Ấn Quang. Thượng Tọa Trí Quang ở Chùa Ấn Qang, Thượng Tọa Tâm Châu ở Viện Hóa Ðạo.

Jane Fonda ở Hà Nội

Jane Fonda ở Hà Nội

1965. Chuyện Từng Ngày: Hơn một trăm thanh niên kéo tới Viện Hóa Ðạo biểu tình chống chính phủ. Một giáo sư trông thấy cô con gái ông trong đám biểu tình, yêu cầu một Ðại Tá bắt cô lại, đánh cho ba roi. Quân đội nhân thể tóm đánh 60 cô khác mỗi cô 3 roi rồi đuổi về.

CTHÐ: Tôi théc méc về chuyện ghi trên đây. Tôi nhớ thời đó lực lượng cảnh sát dẹp biểu tình, cũng có khi quân đội được dùng đến nhưng rất ít. Nếu có dùng đến quân đội thì nhiều lắm chỉ là một đại đội, sĩ quan chỉ huy là Trung Úy, Ðại Úy. Không có cấp Ðại Tá chỉ huy những đơn vị quân đội ra đường dẹp biểu tình. Mà dù có đi nữa, các binh sĩ không thể tóm một cô nữ sinh trung học đi biểu tình, quất cho cô này ba roi quắn đít. Ðét đít xong cô đó, các binh sĩ nhân thể tóm 60 cô nữ sinh đi biểu tình, đánh cho mỗi cô ba roi quắn đít rồi đuổi về. Chuyện thú vị như dzậy không thể nào xẩy ra. Các cô nữ sinh trung học Sài Gòn những năm 1964, 1965 không thể “đần” đến cái độ cứ đứùng chờ rồi chổng mông lãnh mỗi cô ba roi quắn đít. Bộ các cô không có chân, các cô không biết chạy hay sao? Còn lâu mới quất được roi mây vào mông các cô.

Ông Ðoàn Thêm, tác giả quyển “1965 Việc Từng Ngày” đã qua đời. Nếu ông còn sống, tôi sẽ hỏi ông:

“Ông lấy cái chuyện “Nữ sinh Sài Gòn 1965 đi biểu tình chống chính phủ bị đánh mỗi cô 3 roi quắn đít”ở đâu? Tôi chắc ông không bịa ra chuyện đó. Nếu ông lấy chuyện đó trên một tờ nhật báo Sài Gòn thì chuyện đó là chuyện do một anh phóng viên nhà báo bịa ra. Chuyện đó không thể là chuyện có thật.”

Sau ông Trần Văn Hương đến ông Phan Huy Quát lập chính phủ. Thủ Tướng Phan Huy Quát cầm quyền không bao lâu cũng bị chống đối, cũng bị mời ngồi chơi không sơi nước như ông Trần Văn Hương. Không ông Thủ Tướng nào làm được công việc gì đáng kể. Sau chính phủ Phan Huy Quát, việc lập chính phủ và cầm quyền lại do nhóm tướng lãnh đảm nhiệm. Nguyên do này làm cho Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ có dịp nắm lá cờ Ủy Viên Ủy Ban Hành Pháp.

Ngày 27 Tháng 1, 1965. Hội Ðồng Quân Lực tuyên cáo:

Quân đội đã trả quyền từ ngày 27 Tháng 10, 1964 cho chính quyền dân sự, nhưng tình thế mỗi ngày một rối ren. Nên sau 3 ngày thảo luận, Hội Ðồng quyết định Quân Lực VNCH lại phải đứng ra nhận trách nhiệm trước lịch sử.

Ngày 16 Tháng 2, 1965. Thừa ủy nhiệm của Hội Ðồng Quân Lực, Ðại Tướng Nguyễn Khánh, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH, ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng VNCH, và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng.

CTHÐ: Ngày 16 Tháng 1, 1965 “Ðại Tướng Nguyễn Khánh mới ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng,” Nhưng  ông Phan Khắc Sửu đã là Quốc Trưởng từ năm 1964, sau khi ông từ Nhà Tù Côn Ðảo trở về. Không có quyển “1964 Việc Từng Ngày” nên tôi không biết chắc ông Phan Khắc Sửu được hai ông Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, đại diện Hội Ðồng Quân Lực, ký Lệnh Ủy Nhiệm làm Quốc Trưởng vào ngày tháng nào năm 1964.

Ngày 25 Tháng 2, 2965. Ðại Tướng Nguyễn Khánh, được tặng Nhất Hạng Kim Khánh, đi khỏi Việt Nam lúc 12 giờ trưa. Ông đem theo một nắm đất và hẹn sẽ trở về.

CTHÐ: Ông Nguyễn Khánh đã qua đời ở Hoa Kỳ. Không biết nắm đất Tổ Quốc ông mang đi năm xưa nay về đâu. Khi ra đi ở phi trường Tân Sơn Nhất, ông nói ông sẽ trở về. Việc ông trở về đã không xẩy ra.

Ngày 7 Tháng 3 1965. Phủ Thủ Tướng – chính phủ Phan Huy Quát – thông cáo: vì Bắc Việt vẫn tăng gia cuôc gây hấn, chính phủ Quốc Gia VNCH  yêu cầu, và được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận, gửi 2 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đến Việt Nam. Hai tiểu đoàn Lính Mỹ sẽ đóng ở Ðà Nẵng, Qui Nhơn.

CTHÐ: Năm xưa tôi thấy trên báo tấm ảnh Thủ Tướng Phan Huy Quát đứng trên bãi biển Qui Nhơn. Nhân danh chính quyền quốc gia VNCH, Thủ Tướng Phan Huy Quát đến đón những đơn vị Quân Mỹ thứ nhất đổ bộ lên đất Việt Nam. Ðây là ngày mở đầu thời kỳ Quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam.

Ngày 10 Tháng 3, 1965. Lễ Ra Mắt tại Nhà Văn Hóa Sài Gòn của 1.000 đoàn viên Thanh Niên Ðạo Ðức Ðoàn do Quốc Truởng Phan Khắc Sửu thành lập.

CTHÐ: Trong thời nhiễu loạn này những cái gọi là đoàn này, đoàn nọ được cho ra đời nhưngtoàn là thứ hữu danh, vô dụng. Sau Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu lập Ðạo Ðức Ðoàn, ông Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cho ra đời cái gọi là “Ðoàn Thanh Niên Trừ Gian.”.

Ngày 11 Tháng 3, 1965. Hà Minh Trí, người ám sát hụt Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, được trả tự do.

CTHÐ: Năm 1955 khi ông Ngô Ðình Diệm là Thủ Tướng, ông đến khai mạc Hội Chợ Ban Mê Thuột. Ông bị người tên là Hà Minh Trí dùng súng tiểu liên bắn. Súng kẹt đạn. Một ông Bộ Trưởng bị trúng đạn. Hà Minh Trí bị bắt sống. Trong hồi ký viết về những ngày bị chính phủ Ngô Ðình Diệm bắt, giam ở Tổng Nha Cảnh Sát, ông Trần Văn Hương kể Hà Minh Trí, kẻ bắn Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm ở Hội Chợ Ban Mê Thuột, bị giam cùng một khu phòng giam với ông trong Tổng Nha Cảnh Sát. Chính phủ Ngô Ðình Diệm không đưa Hà Minh Trí ra tòa xử, cứ giam mãi từ năm 1955 đến năm 1963. Những năm 2000 có tờ báo VC đăng tin Hà Minh Trí là người của VC.

Ngày 16 Tháng 3, 1965. 1.000 quân nhân Ðại Hàn đến Sài Gòn.

Ngày 28 Tháng 3, 1965. 2000 quân Lào trung thành với Tướng Phoumi chiếm đóng Thakkhet.

Thủ Tướng Ai Lao Souvanna Phouma tuyên bố: quyết diệt trừ những phần tử nổi loạn tại Thakkhet. Nhiều đơn vị Quân Ðội Hoàng Gia Lào được gửi tới thị trấn này.

CTHÐ: Hai ông Hoàng Lào cùng là Tướng: Ông Hoàng Phoumi là Tướng Quân Lào, Ông Hoàng Phouma là Thủ Tướng Chính phủ Lào. Hai ông tranh quyền, dùng quân đội Lào đánh nhau. Ðánh rồi hoà, hòa rồi đánh. Thủ đô Vientiane bị nạn binh biến nhiều lần. Trong một lần xung đột, phi trường Vientiane bị đóng cửa nhiều ngày. Phi cơ từ Vientiane không về Sài Gòn được. Nguồn tiếp tế Á Phiện từVientiane về Sài Gòn bị cắt đứt. Sài Gòn khan hiếm Á Phiện. Ðệ tử của Phù Dung Tiên Nữ – một tên khác là Cô Ba Phù Dung – lâm vào kiếp nạn Thiếu Thuốc trầm trọng. Thuốc từ Lào không về, những nhà buôn giữ thuốc lại, không bán ra, nếu có bán chút chút thì giá rất đắt. Giới Hít Tô Phe có thể nhịn ăn nhiều ngày nhưng không thể nhịn hút, dù chỉ nhịn một cữ. Trong kiếp nạn ấy một Tiên Ông nào đó có sáng kiến lấy sái thuốc phiện nấu với nước, lọc cặn, dùng ống chích chích cho nước sái thuốc phiện vào ngay mạch máu. Người chích phê ngay lập tức. Ðang hút 100 đồng, chỉ cần chích 10 đồng là phê hơn hút gấp 10 lần. Thuốc phiện hút rồi cháy thành một thứ than gọi là sái. Phải chích bằng nước sái, không thể chích thuốc phiện chưa thành sái. Nạn chích choác có ở Sài Gòn từ ngày hai ông Hoàng Lào Phoumi-Phouma tranh quyền. Thời ấy dân Hít Tô Phe Sài Gòn có câu:

Phu Mi Phu Ma đánh nhau. Phu Mơ chết.

Phu Mơ: Fumeur: Người Hút.

Chuyện Từng Ngày: Ngày 29 Tháng 3, 1965. Văn phòng Thủ Tướng thông báo: Từ nay mỗi ngày Thứ Năm. Thủ Tướng Phan Huy Quát sẽ tiếp đồng bào và tự tay nhận những đơn từ của đồng bào.

Ngày 1 Tháng 4, 1965. Tổng Thống Johnson yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn chi ngân khoản 1 triệu đô-la để xây Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn.

Ngày 29 Tháng 4, 1965. Thủ Tướng Úc Robert Menzies tuyên bố: chính phủ Úc gửi một tiểu đoàn quân sang Việt Nam tham chiến theo lời yêu cầu của chính phủ Quốc Gia VNCH.

Thủ Tướng Tân Tây Lan Keith Holyoake tuyên bố: chính phủ Tân Tây Lan có thể sẽ gửi quân sang Việt Nam tham chiến.

Ngày 8 Tháng 6, 1965. Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu  ký lệnh đại xá cho ông Phan Khắc Sửu cùng 29 người đã bị kết án vì tội hoạt động chính trị.

Ngày 9 Tháng 6, 1965 . Thủ Tướng Phan Huy Quát họp báo giải thích cuộc khủng hoảng chính trị, ông trình bày những nỗ lực điều giải của chính phủ và kể chi tiết  vụ âm mưu đảo chính ngày 20 Tháng 5, 1965, cùng âm mưu thành lập chính phủ trung lập. Cuối cùng, Thủ Tướng Phan Huy Quát yêu cầu các tướng lãnh đứng ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi quốc gia có một chính quyền dân cử.

Ngày 11 Tháng 6, 1965. Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ ở đường Thống Nhất, Sài Gòn.

Hội Ðồng Quân Lực  VNCH chấp nhận việc từ chức của hai ông Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát

Ngày 16 Tháng 6, 1965, Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương được thành lập. Chủ Tịch Ủy Ban – Thủ Tướng Chính phủ – Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày 1 Tháng 7, 1965. Kể từ hôm nay, tiền lương tháng của Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp và Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia là 38,000 đồng.

Ngày 7 Tháng 7, 1965. 8000 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đến Ðà  Nẵng, Qui Nhơn. Tổng số quân Mỹ ở VN là 59.500 người.

Ngày 12 Tháng 7, 1965. 3.000 binh sĩ Lữ Ðoàn 2 Bộ Binh thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ  đổ bộ Cam Ranh. Tổng số quân Mỹ tại VN là 63. 400 người.

Ngày 23 Tháng 7, 1965. Jack Ryan, chuyên viên an ninh của Cơ Quan Viện Trợ Mỹ – USAID – bị bắn chết ở đường Hiền Vương, Sài Gòn, cô Nguyễn Thị Hải, một phụ nữ Việt bị bắn chết cùng Jack Ryan.

Ngày 24 Tháng 7, 1965. Jack  Kimball, nhân viên Sở Viện Trợ Mỹ, bị bắt vì đã hạ sát Jack Ryan và Nguyễn Thị Hải.

Ngày 27 Tháng 10, 1965, Toà tuyên án vụ người Mỹ Jack Kimball can tội giết tình địch là Jack Ryan  và cô Nguyễn Thị Hải, Jack Kimball được tha bổng tội giết Jack Ryan vì tự vệ chính đáng nhưng bị tù 5 năm cấm cố về tội giết cô Nguyễn Thị Hải. Jack Kimball phải bồi thường tiền cho gia đình cô Nguyễn Thị Hải.

CTHÐ: Ðây là vụ Án Tình Việt Mỹ thứ nhất, có thể là duy nhất, xẩy ra ở Sài Gòn. Hai ông Mỹ USAID cùng yêu một phụ nữ Việt. Hai ông bắn nhau ở đường Hiền Vương – đường Mayer trước năm 1956 – người phụ nũ Việt chết vì Tình Yêu của hai ông Mỹ. Có sự théc méc: như vậy là người Mỹ phạm tội trên đất Việt Nam bị Toà Án Việt Nam xét xử? Ông Mỹ Jack Kimball nằm tù 5 năm ở Khám Lớn Chí Hoà? Hay xử xong ông được giao cho Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ??

Việc Từng Ngày. Ngày 30 Tháng 7, 1965. Toà Ðô Chính Sài Gòn thông cáo: Sẽ trừng phạt những tài xế taxi không chịu chở đồng bào nhưng lại chịu chở ngoại kiều.

Ngày 24 Tháng 8, 1965. Ủy Ban Hành Pháp ra thông tư: Nữ công chức không hôn thú khi có thai cũng được nghỉ hộ sản và có lương trong 2 tháng.

Ngày 19 Tháng 9, 1965, Sư Ðoàn 1 Không Vận Hoa Kỳ đến đóng ở An Khê, Bình Ðịnh. Quân số Mỹ tại VN: 125.000 người.

Ngày 30 Tháng 9, 1965. Quân số Mỹ ở VN: 131,700 người.

Ngày 30 Tháng 10, 1965. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cảnh cáo: Người Mỹ nào giúp đỡ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bất cứ bằng cách gì sẽ có thể bị truy tố về tội phản quốc.

CTHÐ: Năm 1972 cô đào điện ảnh Jane Fonda ngang nhiên đến Hà Nội, cô giao du thân mật với quân Bắc Việt. Cô gọi Quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam là bọn giết đàn bà, trẻ con. Cô đàng hoàng trở về Mỹ mà chính phủ Nixon, Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ, không dám làm gì cô cả.

Những năm 1970 phong trào phản đối Chiến Tranh Việt Nam lên đến tột độ ở Mỹ. Khoảng năm 2000, Nhật báo The Washington Post đăng loạt bài “Ngày Này Năm Xưa.” Tôi đọc thấy tin những năm 1969, 1970 dân Mỹ từ khắp nước Mỹ kéo về Thủ đôWashington DC biểu tình đòi Quân Mỹ rút khỏi Việt Nam. Những cuộc biểu tình phản chiến xẩy ra liên miên trên khắp nước ỹ, nhiều nhất ở Washington DC. Cảnh sát Mỹ chỉ giải tán họ, cùng lắm là bắt họ đưa đến giữ một ngày trong một sân vận động rồi thả. Có lần số người bị bắt lên đến 7000 người. Có lần những người biểu tình định làm cho Thủ đô Washington DC tê liệt trong một ngày, họ muốn làm cho tất cả công tư sở trong Thủ đô không làm việc được. Cũng nên nhắc là năm 1972 – năm Jane Fonda đến Hà Nội – Tổng Thống Nixon đang cố gắng để có thể rút quân Mỹ từ Việt Nam về nước mà Mỹ không bị mất mặt, ông đang làm đủ mọi cách để Bắc Việt Cộng thả 600 phi công Mỹ đã bị tù đến 6 năm ở Hà Nội. Do đó chính phủ Nixon làm lơ như không biết việc đến Hà Nội của Jane Fonda.

Những năm 1990, Jane Fonda ân hận về chuyện cô đến Hà Nội. Cô nói về tấm ảnh cô ngồi trong dàn súng bắn máy bay Mỹ của quân Bắc Cộng:

I will go to my grave regretting the photograph of me. … It hurt so many soldiers. It galvanized such hostility. It was the most horrible thing I could possibly have done. It was just thoughtless”

Tạm dịch: Tôi sẽ xuống mồ với nỗi ân hận về tấm ảnh ấy của tôi. Ảnh xúc phạm quá nhiều người lính. Ảnh khêu lên sự thù ghét. Ðó là việc làm ghê rợn nhất mà tôi có thể làm. Thật vô ý thức.”

Jane Fonda mang bệnh hôi nách từ Hà Nội về Mỹ. Bệnh hôi nách của cô quá nặng, không thứ thuốc Mỹ nào có thể làm cô bớt hôi nách. Bớt hôi thôi, không nói gì đến chuyện hết hôi. Nguyên do là cô được bọn Bắc Cộng bày trò mời cô đi chơi xem cảnh Phủ Lý, Nam Ðịnh. Nữ khách đi bằng xe ô tô, có khoảng 10 em cháu gái Bác Hồ cùng đi với cô. Các em cháu gái Bác Hồ này em nào em nấy đít to như cái thúng – em nào cũng hôi nách khủng khiếp, bệnh hôi nách này được dân Bắc Cộng gọi là Bệnh Hôi Nách Pắc Bó – Trên đường xe đi bọn Bắc Cộng dàn cảnh cho máy bay MIG của chúng giả làm máy bay Mỹ bay đến sà xuống tấn công. Súng cao xạ nổ đùng đùng. Bọn Phún Bắc Cộng kè Jane Fonda chạy xuống hầm trú ẩn. Cả chục Thị Phún nằm đè lên người Jane Fonda, ra cái điều các em hy sinh lấy thân, lấy thịt bảo vệ nữ thượng khách. Sau khi bị bọn cháu gái Bác Hồ nằm đè lên, Jane Fonda bị lây bệnh hôi nách. Tất cả bác sĩ Mỹ chuyên trị bệnh hôi nách đều bó tay trước bệnh hôi nách của Jane Fonda. Các ông bác sĩ Mỹ nói:

“Bệnh hôi nách nào chúng tôi cũng trị được, riêng Bệnh Hôi Nách Pắc Bó thì chúng tôi chịu.”

1965. Việc Từng Ngày.  Ngày 29 Tháng 11, 1965. Quân số Mỹ ở VN: 186.000 người.

Ngày 30 Tháng 12, 1965. Trưa nay, ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy bị một đặc công VC sát hại bằng 4 phát súng luc trước nhà riêng của ông ở đường Bà Hạt, Sài Gòn.

CTHÐ: Tin trên đây là Tin Cuối Cùng trong “1965 Việc Từng Ngày” của tác giả Ðoàn Thêm. Trên Internet không có ảnh Từ Chung Vũ Nhất Huy.

“1965 Việc Từng Ngày” ghi việc ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy, Thư Ký Tòa Soạn Nhật báo Chính Luận, bị bắn chết, nhưng không ghi việc Nhà Văn Chu Tử, Chủ nhiệm Nhật Báo Sống bị bắn cùng trong ngày này.

Lúc 8 giờ sáng ngày 30 Tháng 12, 1965, Chủ nhiệm báo Sống ngồi vào xe ô tô trước cửa nhà ông để đến tòa báo, tên ám sát chờ sẵn, bắn ông nhiều phát đạn qua kính sau của xe ô tô. Ðạn trúng vào ót ông, xuyên ra miệng ông. Nhưng ông Chu Tử không chết.

Khoảng năm 1972, 1973 tôi đọc thấy trên Tạp Chí Playboy bài phỏng vấn một Ðại Tá Mỹ. Ông Ðại Tá này đã ra khỏi quân đội, ông kiện chính phủ Mỹ về việc chính phủ cho phép nhân viên CIA lén lút thực hiện những vụ ám sát những nhân sĩ, những tu sĩ Việt Nam để đổ tội giết người cho bọn Việt Cộng, Ông Ðại Tá tố cáo nhân viên CIA ra lệnh cho sĩ quan Mỹ đi làm những vụ giết người vu vạ ấy. Ông nói:

“Tôi là người chiến binh. Tôi có thể bắn địch thủ trên chiến trường, tôi không thể đi giết người vô tội như thế. Tôi không kiện chính phủ để lấy tiếng. Tôi chỉ làm công việc tôi phải làm theo lương tâm tôi.”

Tôi dịch bài phỏng vấn, đưa đăng trên Nguyệt San Diều Hâu của Nguyễn Ðạt Thịnh và Phạm Huấn. Tôi đem bài báo đến để ông Chu Tử đọc. Tôi hỏi anh:

“Cho đến bay giờ anh có biết ai bắn anh không?’

Ông Chu Tử trả lời:

“Cho đến bây giờ tôi vẫn không biết.”

KHÔNG GIỐNG AI

Những năm 1950 Cộng Sản Tầu thù ghét Tư Bổn Mỹ.  Không chỉ thù ghét suông mà là “thù ghét đến xương tủy.” Cộng Sản Tầu coi Tư Bổn Mỹ là kẻ tử thù. Ðến những năm 2000, Cộng Sản Tầu và Tư Bổn Mỹ trở thành “bạn,” “Bạn làm ăn cùng có lợi,” nhưng dù sao cũng là “bạn.”

Nay Cộng Sản Tầu ra mặt ca tụng dân Mỹ, nước Mỹ, cơ chế pháp trị, tổ chức xã hội Mỹ, tinh thần dân chủ  của người Mỹ.

Ðại Tướng  Lưu Á Châu của Cộng Sản Tầu viết bài “Sự Ðáng Sợ Của Nước Mỹ.” Mời quí vị đọc:

Mỹ Tư Bổn – Tầu Cộng Sản đề huề

Mỹ Tư Bổn – Tầu Cộng Sản đề huề

 Sự Ðáng Sợ của Nước Mỹ. Người viết Ðại tướng Lưu Á Châu

Ðây là phần lược dịch bài diễn văn của Ðại tướng Lưu Á Châu, người  đang là Chủ nhiệm Chính Trị  Không quân Quân khu Bắc Kinh.

Lưu Á Châu: Trong quá khứ, vì để giúp Trung Hoa thoát khỏi ách thống trị quân phiệt mà Mỹ đánh bại Nhật, họ – (người Mỹ) – có cống hiến lớn với sự độc lập và tiến bộ văn minh của nước Trung Hoa.

Hai nước Trung Hoa – Hoa Kỳ không có xung đột lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể dùng lối kích động.

Tôi từng nói đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước “phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau”. Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Ðâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ, người Mỹ?

Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái của Mỹ đó không đáng sợ.

Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của người Mỹ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Ðại học Vũ Hán, đến lớp dậy chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói:

“Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết sức sống rồi.”

Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng lên phản bác:

“Thưa thầy, em thấy thầy nói không đúng. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời lên lúc 8-9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là nơi mặt trời đang lặn gì gì đó, mà nước Mỹ là mặt trời lúc giữa trưạ.”

Thầy giáo bực mình, tái mét mặt, ấp úng nói:

“Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!”

Ông ấy không hỏi tôi tại sao trò lại nói thế, mà dùng một chữ “dám”. Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông. Ông cũng biết sự thật là nước Mỹ Tư Bổn đang mạnh nhưng ông không “dám” nói

Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ 20 đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi  có quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia có hàng chục triệu con người  rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy, nay cũng vậy, rất nhiều người lãnh đạo Trung Quốc vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự trái ngược lớn!

Vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi thấy có ba điểm.

- Ðiểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế chính trị-xã hội tinh anh của Mỹ. Bi kịch của Trung Quốc: phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có chức vụ, có chức vụ thì không có đầu óc.

Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên thượng tầng xã hội. Nhờ thế:

1 – Mỹ không mắc sai lầm;

2 – Mỹ ít mắc sai lầm;

3 –Khi mắc sai lầm người Mỹ có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì luôn mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Ðài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc trong nửa thế kỷ. Nước cờ Ðài Loan họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Ðài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế.

Ðiều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Ðài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Người Mỹ không quan tâm đến lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế lực. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì đất đai sở hữu sẽ bị mất.

Những nhà lãnh đạo các quốc gia thường chỉ tính chuyện một bước. Người Mỹ hành sự thường tính trước 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị và sức mạnh của nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể chúng ta sẽ mất hết mọi khả năng chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc.

Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về Khoa Học Kỹ Thuật và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là về ngoại giao.

Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc.

Sức ép quân sự của Nhật, Ðài Loan, Ấn Ðộ lên Trung Quốc cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng Mỹ bao vây chiến lược đối với Trung Quốc theo một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.

Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành những nước gọi là quốc gia “dân chủ”. Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi.

Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines, Indonesia, lại cộng thêm Ðài Loan.

Ðối với Trung Quốc, sự đe doạ chính trị này còn ghê gớm hơn sự đe doạ quân sự. Ðe doạ quân sự có thể có hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia “dân chủ” bao vây là hiệu ứng dài hạn.

Ðiểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của người Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên.

Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.

Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận hờn lên nó, là một dạng trút sự bực bội và để có sự thoả mãn về tâm lý.

Người Mỹ mặc quần áo in quốc kỳ Mỹ là sự rỡn chơi, bỡn cợt, vui cười. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước họ ngoài phố.  Nếu một quốc gia người dân có thể công khai đốt  quốc kỳ  thì anh còn có lý do nào để đốt quốc gia ấy nữa?

Ðiểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức của người Mỹ. Ðây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác người Mỹ ngã xuống, nhưng linh hồn họ vẫn đứng. Có những dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng.

Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất: sau khi phần trên toà nhà Thương Mại Thế Giới bị máy bay khủng bố đâm vào, lửa cháy, khói bốc, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình chung vẫn không rối loạn lắm.

Người ta chạy xuống, lính cứu hoả xông lên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người bị tật nguyền, mọi người tự động nhường lối đi. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Ðứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập ở Mỹ bị hành hung. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng  trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch.

Ðó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Ðô nơi tôi ở, ngày xưa Ðặng Ngải sau khi chiếm được Thành Ðô, con trai của Bàng Ðức giết sạch già trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử  Trung Quốc loang lổ vết máu thù hận không bao giờ phai.

Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị bọn không tặc khủng bố dùng để đâm vào Nhà Trắng. Nhưng hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi khi chưa đến Washington DC,

Vì lúc ấy người Mỹ trên máy bay đã biết tin toà nhà Thương Mại Thế Giới và Lầu Năm Góc bị máy bay khủng bố đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, họ phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố. Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này:

Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Sau khi toàn thể mọi người trên máy bay  đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc.

Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của người Mỹ, vào trong máu, trong xương cốt họ. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì còn dân tộc nào hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì dân tộc nào có thể thống trị thế giới.

o O o

CTHÐ: Người viết bài ca tụng Nước Mỹ, Người Mỹ trên đây không nhắc đến sự việc những năm 1970 người Mỹ đã tách Tầu Cộng ra khỏi vòng liên kết với Liên Xô, người Mỹ còn hỗ trợ Tầu Cộng  trong việc Tầu Cộng xung đột với Liên Xô. Một phần nhờ việc đó mà Liên Xô sụp đổ. Dùng Tầu Cộng đánh Liên Xô là thắng lợi về sách lược lớn của người Mỹ.

Nay mời quí vị đọc bài viết của một người trong nước viết về những cái gọi là “Không Giống Ai” của Việt Nam Cộng Sản.

Người viết bài : Không Giống Ai” là ông Huỳnh Ngọc Tuấn. Những gì ông HN Tuấn kể về những Tật Xấu của bọn Cộng Việt đều đã được nhiều người kể nhiều lần từ lâu. Tôi đăng bài viết của ông Huỳnh Ngọc Tuấn, đăng ảnh ông, vì tôi thấy ông là người can đảm.

Không Giống Ai. Người viết Huỳnh Ngọc Tuấn.

Tôi đang sống trong một đất nước mà hàng ngày, hàng tháng, hàng năm những cái không giống ai vẫn ngang nhiên diễn ra, ngang nhiên hiện hữu. Không ai đồng tình nhưng ai cũng lặng thinh.

Huỳnh Ngọc Tuấn, người viết “Không Giống Ai.”

Huỳnh Ngọc Tuấn, người viết “Không Giống Ai.”

Xin được mô tả diện mạo của những cái không giống ai này.

- Một quốc gia hai quyền lực lãnh đạo: Bên cạnh Nhà Nước – chính phủ có đủ ban bệ Bộ, Vụ, Sở vẫn tồn tại song song một cơ chế Ðảng Cộng Sản với những ban bệ và chức năng tương tự nhưng có quyền lực cao hơn chính phủ. Người ta không nhìn thấy cái chính quyền thứ hai này nhưng nó hiện hữu trong cái gọi là Cấp Ủy. Ðây mới là quyền lực thực sự là chủ nhân ông của đất nước.

Ðất nước không phát triển nổi, nhân dân không giàu có lên được vì phải gánh vác trên vai mình hai guồng máy quyền lực với hai lực lượng nhân sự như con đỉa hai đầu hút hết nguồn lực quốc gia.

- Cái thành quả lớn nhất của nền văn minh nhân loại là Nhà Nước pháp trị và tam quyền phân lập nhưng ở VN thì nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” của đảng CS, như vậy nhà nước pháp trị không có ở VN. Ðảng CS là đảng lãnh đạo nên không có tam quyền phân lập mà chỉ có tam quyền phân nhiệm, có nghĩa là tính độc lập (điều kiện căn bản cho một nhà nước minh bạch và không tha hóa) đã bị thủ tiêu.

- Ở các nước dân chủ văn minh, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa qua các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh v.v… là quyền mang tính phổ quát và quan trọng. Nó quan trọng đến mức tạo nên một quyền lực mới là đệ tứ quyền. Còn ở VN người dân chỉ được phép có một tư tưởng, một tiếng nói, một cách nhìn và một cách suy nghĩ cho nên tính sáng tạo bị bức tử, sự khác biệt là “phản động”, là chống đối.

- Ở các nước văn minh – dân chủ, bầu cử, ứng cử là một quyền cực kỳ hệ trọng, nó quyết định sinh mệnh của thể chế dân chủ đó. Còn ở ta bầu cử là một món nợ quỷ thần phải trả. Cứ đến kỳ bầu cử là người dân phải lo thu xếp mọi công việc để đi bầu cho sớm nếu không muốn bị “nhắc nhở”. Ai đó mà bị chính quyền địa phương “nhắc nhở” nhiều lần vì không thực hiện quyền lợi của mình một cách nghiêm túc thì bị ghi vào Sổ Ðen và người đó và gia đình trở thành “đối tượng” bị theo dõi và trù dập. Trong hai kỳ bầu cử quốc hội vừa qua (năm 2005 và 2011) tôi và các cháu được chính quyền địa phương “quan tâm” gọi điện thoại “nhắc nhở” tổng cộng là 6 lần trước và ngay trong ngày bầu cử!! Tôi và các cháu đã từ chối “quyền lợi” của mình nên bị báo chí và đài phát thanh của chính quyền gọi là phần tử “chống đối”.

Ở VN việc người dân đi bầu là một hình thức để hợp pháp hóa những gì đã được quyết định từ đảng CS, lá phiếu của người dân không quyết định được tương lai đất nước vận mệnh quốc gia, đã có đảng quyết định rồi, kết quả “bầu cử” đã được biết từ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trước đó.

Người dân bị lôi vào cuộc chơi một cách bất khả kháng và trở thành những diễn viên trong trò chơi mang tính khôi hài.

Còn ứng cử là độc quyền của Ðảng, quyền ứng cử không thuộc về người dân và quyền này không chia sẻ, không thương lượng, đây là một đặc quyền của giai cấp thống trị, những ai muốn tranh giành cái quyền này là phải trả giá như Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, Luật sư Lê Quốc Quân.

- Ở các nước dân chủ – văn minh. đảng chính trị chỉ là một hội đoàn dân sự do những người có cùng chủ trương và lý tưởng lập ra để góp phần kiến tạo  một xã hội đa nguyên đa dạng phong phú và lành mạnh, họ độc lập và có quyền bình đẳng với những tổ chức chính trị đối lập hoặc đồng minh, họ không lãnh đạo ai và cũng không bị ai lãnh đạo, tất cả đều phục vụ nhân dân và đất nước và chịu sự ủy quyền của cử tri qua từng cuộc bầu cử và hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ luật pháp. Nhưng ở VN đảng CS là quyền lực tối cao được cái gọi là “Hiến pháp” trao cho quy chế được quyền lãnh đạo vĩnh viễn (tất nhiên là cho đến khi nào chế độ độc tài còn tồn tại được). Ðảng CS là người cầm lái “vĩ đại”, đảng có mặt khắp nơi chi phối và quyết định tất cả. Từ trung ương đến địa phương, từ thành phố đến hang cùng ngõ hẻm, đôi mắt của đảng soi rọi khắp nơi để quan sát và lãnh đạo đến tận “quần” chúng.

Ðảng có mặt ở những nơi không ai nghĩ tới, từ trường học, bệnh viện, công ty tư nhân, cả nhà thờ và thiền viện.

- Giáo dục các cấp, nhất là Ðại học nơi đào tạo nhân tài và nhân lực cho đất nước thì môn Chủ nghĩa Mác- Lê nin là bắt buộc cho dù không ai muốn học vì mất thời gian và vô bổ, nhưng sinh viên phải học và trả tiền cho cái học trình vô bổ và mất thời gian đó!

- Nền kinh tế tư bản rừng rú chụp giật và man rợ  dưới sự độc quyền và lũng đoạn của bọn tư bản đỏ được gọi là nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.  Ở thiên đường XHCN này giai cấp công nhân và nông dân bị bóc lột đến tận cùng, bị khinh miệt và ngược đãi mà không làm gì được để bảo vệ quyền lợi của mình, Ðảng CS lập ra Công đoàn và điều khiển nó như công cụ để kiểm soát công nhân và bảo vệ quyền lợi cho giới chủ. Những tập đoàn kinh tế cá mập được hình thành từ tiền thuế của dân nhưng lại trở thành chủ nhân ông của người dân, muốn vào làm việc ở những tập đoàn này phải là những thành phần con ông cháu cha.

- Lực lượng “công an nhân dân” coi dân như cỏ rác, buồn buồn thì đánh chết một vài người dân cho vui, mục đích là để thị uy. Nếu dư luận trong nước và quốc tế có phản ứng mạnh quá thì cũng xử cho lấy lệ để bịt miệng công luận rồi đâu lại vào đó. Hãy nhìn những cái chết thê thảm của một số nạn nhân trong mấy năm gần đây thì rõ.

- Ở các nước dân chủ – văn minh đất đai là tài sản quan trọng của người dân, quyền này được tôn trọng và bảo vệ bằng luật pháp, khi thật sự cần thiết Nhà Nước muốn sử dụng thì phải thương lượng với người dân làm chủ mảnh đất đó, không áp đặt và không dùng cường quyền để “giải tỏa thu hồi.” Quan hệ giữa người dân và Nhà Nước dân chủ là quan hệ hài hòa, cùng chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm, chỉ có  cái Nhà Mước XHCN “của dân do dân và vì dân” này mới có dân oan, mới có những vụ thu hồi giải tỏa đất đầy máu và nước mắt vì quyền sở hữu đất đai “thuộc về toàn dân”  nhưngø do Nhà Nước “trực tiếp quản lý”.

- Chỉ có ở VN và các nước CS mới có sự phân hóa giàu nghèo đến quái dị . Có những đại gia tài sản vàng bạc như núi, ăn chơi phè phỡn, cuộc sống xa hoa đến lập dị, lố bịch, tài sản của họ nhiều đến mức khó mà ước lượng được vì quá lớn và không minh bạch, từ trăm triệu đến vài tỷ mỹ kim. Bên cạnh họ là rất nhiều người nghèo, cuộc sống lê lết bên những đống rác bẩn thỉu, hôi hám, họ sống trên rác và sống bằng rác. Họ hoàn toàn không có tương lai, đất nước này xã hội này không thuộc về họ, họ chỉ như những con chuột theo nghĩa đen và nghĩa bóng.

- Bất cứ quốc gia và dân tộc nào thì Ðất Nước là của chung, chung về quyền lợi và trách nhiệm, nhưng ở VN đất nước là độc quyền của Ðảng và Nhà Nước, vì tất cả đã có “Ðảng và Nhà Nước lo”. Nhà Nước và Ðảng làm chủ mọi nguồn tài nguyên của quốc gia, được độc quyền quản lý và phân phối. Bảo vệ đất nước như thế nào là quyền của Ðảng và Nhà Nước, người dân chỉ có mỗi một việc là làm theo những gì  Ðảng, Nhà Nước yêu cầu hoặc cho phép. Như trong cuộc chiến tranh Campuchia, Ðảng và Nhà Nước yêu cầu người dân phải hy sinh xương máu để “bảo vệ đất nước” và làm “nhiệm vụ quốc tế” thì người dân phải làm. Ngày hôm nay đất nước bị Tầu Cộng xâm chiếm, lòng tự tôn dân tộc bị sỉ nhục thì người dân VN không được quyền “tự phát” để bày tỏ lòng yêu nước và một điều tuyệt đối là người dân không được biểu tình để đưa ra một thông điệp cần thiết cho thế giới và bọn ngoại xâm biết được suy nghĩ và tình cảm của mình về hiện tình đất nước. Lòng yêu nước là một tình cảm tự nhiên, thiêng liêng và cao quý của bất cứ dân tộc nào trên thế giới nhất là người dân VN đã có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm trong suốt lịch sữ 4000 năm của mình. Lòng yêu nước có thể nói là di sản quý báu của người VN mà tổ tiên của chúng ta trao truyền từ đời này sang đời khác, chưa có một triều đại một chính quyền nào “kiểm duyệt” lòng yêu nước của người dân chứ đừng nói đến chuyện thủ tiêu, ngăn cấm hay độc quyền. Vậy mà ngày hôm nay trước hành động hiếu chiến và ngang ngược của bọn bành trướng Bắc Kinh, người dân Hà Nội, Sài Gòn đã tự nguyện xuống đường để cho thế giới biết là nhân dân VN không hèn yếu, không vô trách nhiệm với quốc gia, vậy mà đã bị chính nhà cầm quyền thong tự nhận là “của dân, do dân, vì dân” đàn áp, bắt bớ, vu khống và chụp mũ. Ðiều này chắc làm cả thế giới kinh ngạc và khó hiểu là VN đang được điều hành bởi một chính quyền đại diện cho ai?

- Trên thế giới này ở đâu cũng vậy, thời nào cũng vậy, tầng lớp nhân sĩ trí thức là tinh hoa của xã hội, họ là nguồn lực sáng tạo nên những giá trị mới trong tất cả mọi lãnh vực từ học thuật đến khoa học học và kinh tế. Chính vì những cống hiến to lớn đó đã tạo nên địa vị cao quý của họ là một điều tự nhiên và hợp lý.

Tầng lớp nhân sĩ trí thức trở thành lực lượng dẫn dắt và lãnh đạo xã hội trong mọi mặt đời sống.

Trong việc bảo vệ đất nước thì vai trò và trách nhiệm của nhân sĩ trí thức càng nổi bật và trở nên trọng yếu, không có họ đất nước như rắn mất đầu xã hội như mù lòa, mất định hướng. Vậy mà tầng lớp nhân sĩ trí thức VN ngày hôm nay ở đâu và đang làm gì khi tầng lớp này rất đông đảo và họ được thụ hưởng một đời sống sung túc hơn nhiều lần so với mức sống của người dân và từ tiền thuế của dân?!

Một điều may mắn là đất nước chúng ta ngày hôm nay đã hình thành được một tầng lớp nhân sĩ trí thức đối lập, dân chủ có đủ khả năng để bù đắp vào khoảng trống này, tuy luôn bị đàn áp và khủng bố.

- Khi đất nước ở vào lúc dầu sôi lửa bỏng, kẻ thù đang dòm ngó và lên kế hoạch thôn tính biển Ðông vì thời cuộc ngày hôm nay đã có những chuyển dịch về hướng nghiêm trọng, thì Bộ chính trị đảng CSVN (cơ quan đầu não và quyền lực tối cao của chế độ) lại tiến hành cái gọi là “PHÊ VÀ TỰ PHÊ” để kiểm điểm phê bình những sai sót của lãnh đạo?!.

Trên thế giới này chỉ có “Văn hóa từ chức” như của Nhật Bản, hoặc “tự xử” kiểu Hàn quốc như vụ cố Tổng thống Roh Moo-hyun. Hoặc như Mỹ và các nước Châu Âu là người công chức làm bậy bị luận tội, bị tù, nhẹ là bị  cách chức tùy mức độ sai phạm hoặc bất xứng. Ở VN ta thì các ông lãnh đạo lại bày ra cái trò “PHÊ VÀ TỰ PHÊ” thật là không giống ai cả!?

Nếu kể ra những cái “KHÔNG GIỐNG AI” ở VN thì  còn nhiều lắm chỉ sợ làm  độc giả mất thì giờ nên tạm dừng.

Một đất nước với quá nhiều cái “KHÔNG GIỐNG AI” như vậy mà nó (những cái không giống ai) vẫn ngang nhiên tồn tại thì đúng là đất nước này “KHÔNG GIỐNG AI”.

Hết bài Không Giống Ai.

CTHÐ: Theo tôi, tác giả Huỳnh Ngọc Tuấn cho những sự việc xẩy ra trong nước Việt Nam Cộng Sản là Không Giống Ai, tức Không Giống Nước Nào, sự đánh giá ấy Không Ðúng. Tất cả những gì bọn Việt Cộng làm bọn Tầu Cộng đã làm từ lâu. Bọn Công Hà Nội bắt chước bọn Tầu Bắc Kinh trong tất cả mọi trò. In hệt. Nuớc Bắc Cộng là một phiên bản thu nhỏ của đại bản Tầu Cộng.

PHAN BỘI CHÂU: TỰ PHÊ, TỰ PHÁN

Nhà Yêu Nước Phan Bội Châu trong bộ đồ tù.

Nhà Yêu Nước Phan Bội Châu trong bộ đồ tù.

Nhiều người viết về Nhà Yêu Nước Phan Bội Châu thường kể bọn Mật Thám Tây bao vây, kiểm xoát nghiêm ngặt căn nhà ông Phan Bội Châu bị an trí ở Bến Ngự, Huế. Nhưng theo những văn liệu tôi – CTHÐ – tìm được, tôi thấy chính phủ Bảo Hộ Pháp đối xử rất “được” với Nhà Yêu Nước Phan Bội Châu. Mật thám Tây không ngăn cản những người Việt tới nhà thăm ông Phan – ông Huỳnh Thúc Kháng đến thăm ông Tù Phan mỗi tuần hai, ba lần, hai ông nói chuyện thoải mái, các ông Ðào Duy Anh, Nguyễn Vỹ viết trong hồi ký hai ông có đến thăm ông Phan. Người đến thăm ông Phan không bị mật thám Tây chặn xét khi ra về. Ông Phan được mời nói chuyện với công chức, thanh niên Huế ở một nhà hội của tỉnh Thừa Thiên, ông Phan có một chiếc thuyền, ông tự do dùng thuyền đi về làng quê mua gạo về bán rẻ cho dân chúng, Ðiều đáng kể là Mật Thám Tây không một lần vào nhà xét xem ông Phan Bội Châu viết gì, giữ những văn liệu gì. Mật Thám Tây không tịch thu những gì ông Phan Bội Châu viết.

Sách Tự Phê Tự Phán của Phan Bội Châu tôi trích vài đoạn dưới đây được Phan tiên sinh viết trong căn nhà Bến Ngự. Ðọc sách này tôi ngạc nhiên, khi thấy Phan Bá Ngọc, người con trai của Nhà Yêu Nước Phan Ðình Phùng làm tay sai cho Mật Thám Pháp, Ðây là trường hợp “Hổ phụ sinh cẩu tử.” Tôi buồn tủi khi thấy những ông Nguyễn Bá Trác, hiệu Tiêu Ðẩu, tác giả bài Tho Hồ Trường nhiều người Việt yêu Thơ thuộc lòng, ông Lê Dư, hiệu Sở Cuồng, ông nhạc phụ của các ông Vũ Ngọc Phan, Tướng VM Nguyễn Sơn và ông Hoàng Văn Chí, sau thời gian sang Nhật, sang Tầu, tìm cách cứu nước, đã trở về nước làm tay sai cho Pháp. Tôi ngậm ngùi khi đoc chuyện ông Phan Bội Châu cùng nhiều người đồng chí của ông có thời phải làm ăn mày, ngửa tay xin tiền ngoài đường ở Thái Lan.

o O o

Tựa sách Tự Phê, Tự Phán. Tác giả Phan Bội Châu viết.

Tôi bị bắt ở nước ngoài đem về, bị giam trong ngục; nhờ quốc dân quá thương nên mới giữ được mạng sống tới nay. Tôi xa nước, xa đồng bào mấy chục năm, nay may được cùng nhau nhắc nhớ chuyện xưa. Có người yêu tôi, có người ghét tôi, có người mong đợi ở tôi, nhưng dù biết tôi hay không biết tôi, ai cũng muốn biết rõ đầu đuôi cái lịch sử của Phan Bội Châu này.

Than ôi..!ịch sử của tôi là lich sử của trăm thất bại mà không có một thành công. Tôi bôn ba gần ba mươi năm, làm cho cả nước liên lụy chịu tai vạ, làm cho nhiều đồng bào bị tù đày, nhiều đồng chí bị giết. Nhiều đêm tỉnh giấc, tôi chỉ có thể ngẩng mặt nhìn trời mà chẩy nước mắt. Hơn năm mươi năm lần lữa, nghĩ mà hổ thẹn với râu mày.

Nhưng xưa nay những công cuộc thay cũ, đổi mới không mấy khi không thất bại mà thành công ngay được. Ngay như nước Pháp khi xây dựng nền dân chủ cộng hòa cũng phải trải qua ba, bốn phen xáo trộn mới thành. Chúng ta nên tránh bánh xe đã đổ trước, bỏ con đường thất bại, tìm đường đi đến thành công, ta phải tìm cái Sống trong muôn ngàn cái Chết, phải cẩn mật cho việc mình làm không bị vỡ lở, phải đồng tâm, đồng đức thì nợ máu mới rửa được. Một ngày kia quốc dân đi đến thành công thì lịch sử Phan Bội Châu lại không phải là cái bánh xe đi trước hay sao.

Các bạn thân nhiều người bảo tôi trước khi chết phải làm cho xong tập lịch sử đời tôi nên tôi vâng mệnh viết ra thiên này, gọi là “Tự Phán.”

Nguyễn Bá Trác tức Tiêu Ðẩu, tác giả bài Hồ Trường.

Nguyễn Bá Trác tức Tiêu Ðẩu, tác giả bài Hồ Trường.

TỰ PHÁN

Lịch sử của tôi là loch sử hoàn toàn thất bại, mà sở dĩ đi đến thất bại khuyết điểm đã rõ ràng, song xét ra không phải là không có vài ưu điểm nhỏ, tôi kể ra đệ tự an ủi. Xin kể mấy điểm đại khái:

Lòng tự ái của tôi mạnh, cho ở đời không có việc gì là không làm được. Ðó là tôi không lượng sức, không đo đức của tôi.

Tôi đối với người quá thật, cho rằng người tạ không có người nào là không tin được. Ðó là tôi thiếu cơ cảnh, quyền thuật.

Xét việc, xét người tôi chỉ chú ý vào những việc lớn, còn những việc nhỏ thì phần nhiều cứ tự ý mà làm nên nhiều khi vì việc nhỏ mà hỏng việc lớn. Ðó là tôi sơ xuất, không cẩn thận.

Ba khuyết điểm trên là những bệnh lớn của tôi. Xin kể những cái Tốt của tôi:

Tôi có tính mạo hiểm, dám làm những việc khó, dẫu chống lại ngàn vạn người cũng chống, nhất là trong thời thanh niên tôi lại càng hăng hái.

Giao thiệp với người nếu được nghe một lời nói hay tôi trọn đời không quên. Những lời trung trực, nghiêm khắc tôi đều vui vẻ tiếp nhận.

Suốt đời tôi chủ trương khi đã mưu tính làm việc gì là làm tới cùng, quyết dành thắng lợi, dù có phải thay đổi thủ đoạn, phương châm cũng không ngần ngại.

Ba điểm trên đây tôi tự cho là tôi có đôi chút sở trường. Ai hiểu tôi, ai trách tôi, tôi xin nhận.

*

Mùa hạ năm Tân Sửu – 1901 – tôi cùng Phan Bá Ngọc, con của ông Phan Ðình Phùng, ông Vương Thục Quý và một số bạn đồng chí ở Nghi Xuân như  ông Trần Hảo, thảo luận, quyết định đến ngày kỷ niệm cộng hòa của Pháp, sẽ dùng giáo mác mà cướp vũ khí của giặc rồi đánh úp tỉnh thành Nghệ An. Ngày hôm ấy – 14 Tháng 7, 1901, anh em đã hội họp đông đủ nhưng cánh nội ứng sai hẹn nên cuộc tấn công phải đình chỉ. Vì thế mưu cơ bị tiết lộ, tên Nguyễn Ðiềm là mật thám của Pháp dò biết, y mật báo với công sứ Pháp. May lúc bây giờ  Tổng Ðốc Nghệ An là Ðào Tấn cho công việc chúng tôi làm là phải nên hết sức che chở, vì thế tôi không bị thất bại. Từ ấy tôi chuyên chú vào việc ngầm tìm nội ứng.

*

Lê Dư Sở Cuồng, người làm tay sai cho Toàn Quyền Pháp.

Lê Dư Sở Cuồng, người làm tay sai cho Toàn Quyền Pháp.

Anh Hoàng Ðình Tuân người Hà Nội, tên họ thật là Nguyễn Kế Chí;  lúc sang Ðông Kinh anh mới 14 tuổi, Anh có học thức, có tài biện luận, nói viết thông thạo tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Ðức, tiếng Pháp. Anh là người nhiệt thành, khẳng khái mà thái độ rất hòa nhã, với bạn hữu no ấm, đói rét có nhau, trong cảnh khốn khổ vẫn vui cười.  Cách 6 năm trước đây, bọn Phan Bá Ngọc đem lời đường mật khuyên rủ anh về nước. Phan Bá Ngọc viết thư cho anh Tuân là người Pháp hưá sẽ cho anh làm giáo viên dậy Trường Cao Ðẳng. Anh ruột của anh là Cử nhân Nguyễn Ðiềm viết thư sang khuyên anh về, nhưng anh đều cự tuyệt. Tiếc rằng thể chất anh vốn yếu, lại sống ở Bắc Kinh, anh không chống nổi với mùa đông băng tuyết,  anh mất vì bệnh lao phổi. Anh mất đi không những tôi bị mất một người cộng tác thông thạo về ngoại giao mà còn làm tôi mất một người bạn tâm huyết. Biết làm sao được với Trời.

Anh Trần Hữu Lục, nguyên tên là Nguyễn Thúc Ðường, người Nghệ An, con thứ hai Thầy học tôi là Ðông Khê tiên sinh. Anh là con nhà nho nhưng có đặc tính hùng dũng như  người võ biền. Năm mười lăm tuổi anh đọc quyển Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư của tôi, anh bỏ lối học khoa cử, chuyên giao du với những người hào hiệp, luyện tập việc đánh côn, đánh kiếm. Chính tay anh đâm chết tên cử nhân Nguyễn Ðiềm là tên làm chó săn cho Pháp. Nguyên anh định không xuất dương, anh ở lại hoạt động trong nước. Nhưng sau khi anh đâm chết tên Nguyễn Ðiềm, ông Ngư Hải sợ anh bị giắc bắt nên khuyên anh xuất dương. Khi chính phủ Nhật theo yêu cầu của Pháp, trục xuất Kỳ Ngoại Hầu và những người Việt chống Pháp ở Nhật, anh Trần Hữu Lục sang Trung Hoa, vào học trường cán bộ Lục Quân cùng với Nguyễn Tiêu Ðẩu, Nguyễn Thái Bạt. Ra trường anh là Thiếu Úy trong quân đội Trung Hoa. Sau anh về hoạt động ở Xiêm. Chính phủ Xiêm để bọn mật thám Pháp bắt anh trên đất Xiêm. Chúng giải anh về Hà Nội và xử bắn anh ở Bạch Mai cùng với anh Hoàng Trọng Mậu.

Hoàng Trọng Mậu tên thật là Nguyễn Ðức Công, sinh tại Nghệ An,. Năm 1915 anh cùng khoảng 30 chiến sĩ vượt biên giới, qua cửa Nam Quan, đánh úp đồn Ta Lùng của Pháp. Anh Mậu cho rằng toán lính tập người Nam trong đồn sẽ không chống cựï nhưng toán lính này đánh lại dữ dội, Lực lượng tấn công bị thất bại. Anh Mậu trở về Quảng Ðông, bị mật thám Pháp bắt ở Thượng Hải. Anh bị Pháp bắn ở Bạch Mai cùng anh Nguyễn Thúc Ðường.

Anh Hoàng Trọng Mậu có câu đối tự phúng:

“Giang san dĩ tử, ngã an đắc thâu dinh; thập niên lai lệ kiếm, ma đao, tráng chí nghĩ phù hồng tổ quốc.

“Vũ dực vị thành, sự hốt yên trung bại, cửu nguyên hạ điều binh, khiển tướng, hùng hồn ám trợ thiếu niên quân.”

Tạm dịch:

“Non sông đã chết, ta há lẽ sống thừa, trong mười năm rũa kiếm, mài đao, chí mạnh mong phù hồng tổ quốc.

“Lông cánh chưa thành, việc bỗng đâu đã hỏng, dưới chin suối điều binh, luyện tướng, hồn thiêng sẽ giúp thiếu niên quân.”

*

Tháng 2 năm Mậu Ngọ – 1918 – Lê Dư từ trong nước sang gặp tôi ở Hàng Châu. Bốn tiếng “ Pháp Việt đề huề” lần thứ nhất đến tai tôi. Lê Dư nói với tôi chính sách của Quan Toàn Quyền Xa-rô – Sarrault – nay khác xa với chính sách của những Toàn quyền Pháp trước ông ta. Lê Dư nói Xa-rô là người Ðảng Xã Hội Pháp, chủ nghĩa xã hội rất mâu thuẫn với chính sách thực dân của Pháp. Lê Dư kể ra một số những việc làm tốt của Xa-rô, như lập trường học, sửa đổi bộ Luật mới Bắc Kỳ, cho người nước ta lập hội, kiến xã như hội Khai Trí Tiến Ðức. Tôi không tin nhưng nghĩ nên tương kế tựu kế, nếu không mình sẽ không có đất xoay sở. Tôi đem ý kiến này bàn với Phan Bá Ngọc. Lúc ấy bên cạnh tôi, nói về việc cùng sống, cùng làm với nhau bao nhiêu năm, cùng mạo hiểm thì với tôi không ai bằng Phan Bá Ngọc. Lúc này Lê Dư và Phan Bá Ngọc giao kết rất gắn bó. Bá Ngọc nóng lòng giúp công cho Lê Dư nên nói:

“Muốn thành công trong việc lớn không thể không dùng mưu mô xảo trá. Bây giờ bác làm một bài lý luận, nêu rõ ý kiến nếu Pháp Việt đề huề thì cả đôi bên cùng có lợi. Người Pháp đọc bài này sẽ nghĩ là Ðảng chúng ta muốn hòa hoãn, họ sẽ không chú ý gắt gao đến Ðảng ta nữa. Ta có thể phái người về nước, cùng người Pháp giao thiệp, trao đổ ý kiến, những người này sẽ là những gián điệp của ta. Như thế thì tình hình của Pháp ta có thể  biết được. Mà những việc bí mật xẩy ra ở trong nước chúng ta cũng có thể biết.”

Nghe lời Bá Ngọc kể ra cũng phải, nên tôi tin mà làm theo. Tôi cho rằng hắn không có lý gì phản cha, phản nước. Tôi viết một bài trường thiên, nhan đề là “ Pháp Việt đề huề luận.” Tôi ký tên dưới bài là “ Ðộc Tỉnh.soạn.”

Phan Bá Ngoc đọc bài, viết thêm mấy chữ:

“Phan Bá Ngoc phụng thư.”

Với năm chữ này Bá Ngọc có dụng ý xảo quyệt.

Lê Dư mang bài viết của tôi về nước. Khoảng 4, 5 tháng sau, người con của ông Phan Ðình Phùng là Phan Bá Ngọc đã lộ mặt làm chó săn cho người Pháp. Lúc đó tôi mới thấy câu ông Tôn Tử nói: “ Dùng gián điệp rất khó” là đúng.

Tháng Hai năm Kỷ Tỵ – 1919 – Phan Bá Ngọc gặp tôi ở Hàng Châu, nói với tôi là Toàn Quyền Xa-rô rất muốn cùng tôi thương nghị về chính sách Pháp Việt đề huề. Tôi nói tôi yêu cầu Chính phủ cử người đến một nơi ở nước ngoài hội thương với tôi, điều cần là chính phủ phải cam kết là những gì chính phủ đề nghị nếu tôi không đồng ý là không được công bố. Bá Ngọc nhận lời tôi rồi lại về nước. Ðến tháng 4, 1919, Bá Ngọc từ trong nước gửi thư cho tôi, trong thư viết:

“Chính phủ đã đồng ý phái nhân viên đến hội thương. Ðiều kiện ra sao thì phải đợi phái viên đến.”

Tháng 6, 1919, một người Pháp tên là Nê-rông – Neron – cùng Bá Ngọc đến Hàng Châu. Tôi yêu cầu địa điểm họp, ngày giờ họp phải do bên ta quyết định, bên Pháp chỉ được một người đến họp, bên tôi muốn đem theo bao nhiêu người tùy ý tôi. Nếu không như thế tôi không đến họp. Bên Pháp nhận lời. Nơi họp là đình Hồ Lâu, giữa Tây Hồ, Hàng Châu. Bên tôi có các ông Trần Hữu Công, Hồ Hinh Sơn và ba thanh niên Việt. Ngồi yên đâu đấy, nói vài câu sáo ngữ, Nê-rông – Neron – đưa ra một văn kiện viết bằng chữ Pháp, có bản dịch chữ quốc ngữ, y nói rằng đây lá ý của quan Toàn Quyền Xa-rô. Tôi bảo một anh thanh niên đọc lên. Tôi lấy làm ngạc nhiên vì những yêu sách:

Tôi phải nhận hai điều kiện:

1 – Viết một bài gửi về nước tuyên bố thủ tiêu ý chí hoạt động cách mạng.

2 – Phải trở về nước. Nếu không về nước  thì phải khai rõ nơi trú ngụ ở nước ngoài, và nên trú ngụ gần tô giới của Pháp.

Chính phủ  Ðông Dương đãi tôi hai điều:

1 – Nếu trở về nước sẽ cho giữ một chức vị trọng yếu trong Nam Triều và cấp lương tháng đặc  biệt hậu hĩ.

2 – Nếu không về nước thì chính phủ cấp cho số tiền thật hậu để sống ở nước ngoài.

Tôi làm bản phúc đáp bằng chữ quốc ngữ, phân tích rõ ý nghĩa tiếng “đề huề,” tôi cự tuyệt những đề nghị của họ. Thư tôi do anh Lý Trọng Bá viết, giao cho Phan Bá Ngọc mang về Hà Nội đưa cho Toàn Quyền Xa-rô. Ðây là lần thứ nhất tôi dùng văn tự giao thiệp với người Pháp..

*

Ngày 15 Tháng Giêng năm Nhâm Tuất – 1922 – là đêm Nguyên Tiêu. Ở Hàng Châu có tục chơi đèn lồng chung quanh Tây Hồ. Ðêm sáng như ban ngày, trai gái quần là, áo lượt, người đông như chợ, quang cảnh thật vui.

Bỗng trong đám đông có ba tiếng nổ của súng lục. Rôi tiếng người hô:

“Có người bị bắn.”

Lính cảnh sát đến. Người bị bắn đã chết. Khám trong mình người bị bắn có số tiền 2.150 đồng, ngón tay có nhẫn vàng trị giá 60 đồng. Người bị bắn chết ấy là người Việt Nam, tên Phan Bá Ngọc. Người giết Bá Ngọc là anh Lê Tản Anh.

*

Tháng 5 năm Ất Sửu tôi đinh về Quảng Ðông. Lần đi này tôi sẽ làm hai việc: cải tổ Việt Nam Quốc Dân Ðảng, dự lễ Kỷ Niệm Ðệ Nhất Chu Niên Ngày Liệt Sĩ Phạm Hồng Thái hy sinh vì Nước.

Tôi vẫn phải mua ngân phiếu của Ðức gửi sang Béc Lanh làm tiền học phí cho anh Trần Trọng Khắc hiện học ở đây. Mỗi năm tôi phải đến Thượng Hải hai lần, vào tháng 6 và tháng 12. Năm nay vì dự lễ kỷ Niệm Liệt sĩ Phạm Hồng Thái, tôi đến Thượng Hải sớm hơn mọi năm.

Ngày 11 tháng 5 tôi đến Thượng Hải. Tôi định mua và gửi ngân phiếu xong sẽ đáp thuyền đi Quảng Ðông. Tôi không biết ngày đi, ngày đến Thượng Hải của tôi đã bị tên Nguyễn Thượng Hiền báo cho người Pháp biết.

Tên Nguyễn Thượng Hiền đến Hàng Châu cùng với anh Trần Ðức Quí. Mới gặp hắn tôi đã có ý nghi ngờ, nhưng nghe nói hắn là cháu của ông Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền, hắn giỏi chữ Hán, đỗ cử nhân, chữ Quốc ngữ, chữ Tây đều khá, nên tôi mến tài hắn mà dùng hắn. Còn việc hắn làm chó săn cho Tây thì tôi không biết được.

Mười hai giờ trưa ngày 11 tháng 5 chuyến tầu hỏa chạy từ Hàng Châu vào ga Thượng Hải. Tôi gửi hành lý ở kho nhà ga rôi xách một túi nhỏ  ra khỏi nhà ga. Thấy một chiếc xe hơi đậu ở cửa ga, quanh xe có mấy người Âu Tây. Một người nói với tôi bằng tiếng Trung Hoa:

“Xe này tốt. Mời tiên sinh lên xe.”

Tôi nhã nhặn từ chối thì một người từ sau xốc tới đẩy tôi lên xe. Xe chạy ra bến tầu, một tầu binh Pháp chờ sẵn ở đây. Tôi bị đưa xuống tầu. Từ lúc đó tôi là người tù của người Pháp.

*

Phan Bá Ngọc. Từ Ðiển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam, Tác giả Nguyễn Quang Thắng

Phan Bá Ngọc tên thật là Phan Ðình Cừ  – chết 1921 – con út ông Phan Ðình Phùng, có tên là Bá Ngọc nên thường được gọi là Phan Bá Ngọc. Năm Bính Thân – 1896 –  Bá Ngọc sang Nhật du học trong phong trào Ðông Du. Sau sang Trung Hoa, ở Hàng Châu, Bá Ngọc thường gặp các ông Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền.

Về sau Phan Bá Ngọc bị giặc Pháp mua chuộc đến nỗi thân bại, danh liệt. Những hành vi mờ ám của Bá Ngọc làm cho các nhà cách mạng Việt không tin nhiệm y nữa.

Năm Tân Dậu – 1922 – khoảng Tháng Chạp Âm Lịch,  vì tội làm mật thám cho Pháp,  Bá Ngọc bị Võ Tán Anh, tức Lê Văn Phan,  bắn chết tại Hàng Châu.

Lê Văn Phan, bí danh Võ Tán Anh,quê Nghệ An. Năm 16 tuổi ông sang Thái Lan rồi sang Nhật, Trung Quốc, hoạt động với ông Phan Bội Châu. Ở Hàng Châu ông theo dõi hành động phản bội của Phan Bá Ngọc. Ông dùng súng bắn chết Phan Bá Ngọc ở Hàng Châu trong đêm Nguyên Tiêu Tháng Giêng Âm Lịc, nhằm ngày 11 Tháng 3, 1922.

Ngày 25 – 9 – Năm 1932 ông bị Pháp bắt ở Thượng Hải. Ông bị giải về nước và bị Pháp xử bắn ở Nam Ðàn, làng quê ông.

Lê Dư. Từ Ðiển Nhân Vật Lịch Sử, Tác giả Nguyễn Quang Thắng.

Lê Dư, nhà nghiên cứu hiệu Sở Cuồng, nguyên quán làng Nông Sơn, Diện Bàn, Quảng Nam. Năm 1905 ông sang Nhật hoạt động cứu quốc cùng ông Phan Bội Châu, rồi sang Nhật. Khoảng năm 1916, 1917 ông trở về nước. Ông làm việc trong Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền Ðông Dương, rồi làm nhân viên Trường Viễn Ðông  Bác Cổ, viết báo, viết sách. Dư luận đương thời cho rằng ông có cộng tác với Pháp. Ông là cha vợ của các ông Vũ Ngọc Phan, Tướng VM Nguyễn Sơn và ông Hoàng Văn Chí. Ông qua đời âm thầm ở Hà Nội sau năm 1945.

Nguyễn Bá Trác. Tự Ðiển Nhân Vật Lịch Sử, tác giả Nguyễn Quang Thắng.

Nhà văn, hiệu Tiêu Ðẩu, quê làng Bảo An, Ðiện Bàn, Quảng Nam.

Năm 1906, ông đỗ cử nhân, sang Nhật du học, hoạt động cứu quốc. Khi Nhật theo đề nghị của Pháp, trục xuất người Việt chống Pháp ra khỏi nước Nhật, Bá Trác sang Trung Hoa. Trong thời gian ở Trung Hoa, Bá Trác đã ngầm làm tay sai cho Pháp.

Khi về Hà Nội, Bá Trác làm việc trong Phòng Báo Chí Phủ Toàn Quyền Ðông Dương. Chức vụ cuối cùng của ông là  Tổng Ðốc Thanh Hoá, Tổng Ðốc Bình Ðịnh. Ông bị VM xử tử cuối năm 1945.

*

Tuyết sương lạnh ngắt sự đời
Trên trang sách đọc chuyện người ngày xưa.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 13 Tháng Giêng Quý Tị. Ngày 22 Tháng Hai 2013.

TIỂU THUYẾT KHIÊU DÂM

Thẻ Thuế Thân của Người Dân Bắc Kỳ VŨ TRỌNG PHỤNG

Thẻ Thuế Thân của Người Dân Bắc Kỳ VŨ TRỌNG PHỤNG

Vũ Trọng Phụng, tác giả những tiểu thuyết Giông Tố, Số Ðỏ, Cơm Thầy, Cơm Cô bị nhiều nhà văn Hà Nội thời ông công kích là “Nhà Văn viết truyện khiêu dâm.” Năm 1937, tuần báo Bắc Hà ấn hành ở Hà Nội, thực hiện một cuộc phỏng vấn Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Ðề tài của cuộc phỏng vấn là “Tiểu Thuyết Khiêu Dâm.”

Ðây là cuộc phỏng vấn:

Ký giả Bắc Hà – Khi viết văn, ông có hay ông không có ý  khiêu dâm độc giả?

Nhà Văn Vũ Trọng Phụng – Khiêu dâm thế nào được độc giả! Ðộc giả của tôi có phải những người ngu muội, dại dột hay trẻ con gì để cho tôi khiêu dâm?

Bắc Hà – Tiểu thuyết của ông là phản ảnh của xã hội, cái đó là một điều hay, nhưng người ta công kích ông là công kích những đoạn văn tả chân trong tiểu thuyết của ông mà người ta cho là khiêu dâm?

Vũ Trọng Phụng – Không thể gọi bất cứ đoạn văn nào trong tiểu thuyết của tôi là văn khiêu dâm! Gọi đó là những đoạn văn tả những cảnh dâm đãng thì đúng hơn. Nhưng ông bảo không tả những cảnh ấy làm sao được! Văn của tôi là văn tả chân, mà những cảnh ấy là cảnh có thực, những cảnh có khi tôi được mục kích; ông thử về những tỉnh như Tuyên Quang mà nghe chuyện người dân ở đấy, ông sẽ biết những chuyện khốn nạn bằng trăm, bằng vạn những chuyện tôi kể trong tiểu thuyết của tôi…

Tôi có ba công việc phải làm, những công việc mà tôi gọi là công việc xã hội:  việc thứ nhất: tả những sự dâm đãng …trong giới gọi là phú quý, thí dụ cái Dâm của Nghị Hách. Một người đã 11 vợ mà còn đi hiếp một cô gái nhà quê, gieo cái hại vào mấy gia đình, gây cái nhục cho bao nhiêu người. Việc thứ hai là tả cái Dâm của người con gái dậy thì mà không được giáo dục đầy đủ, tức là truyện Làm Ðĩ; tôi viết tiểu thuyết Làm Ðĩ  sau khi đọc bản dịch tiếng Pháp  một quyển sách của một văn sĩ Ðức… Trong sách này tác giả sưu tập những lời thú tội của những cô học sinh dưới hai mươi tuổi. Ðọc xong quyển sách khoa học can đảm ấy tôi tưởng như bao nhiêu trẻ con thời bấy giờ đều có thể vì tuổi dậy thì mà thủ dâm, mà hư hỏng, tôi cảm thấy sự cần phải giáo dục trẻ con về sự Dâm… Nếu sau này người ta quen rồi thì những danh từ mà từ xưa đến nay người ta cho là bẩn thỉu sẽ không bẩn thỉu nữa. Công việc thứ ba tôi làm trong tiểu thuyết của tôi là tả những nỗi thống khổ, những trụy lạc do nạn nghèo đói gây nên, tức là cái nạn mãi dâm trong phóng sự “Lục sì“…

Tôi là nhà văn thứ nhất phải hy sinh trong những nhà văn cùng thời với tôi; ông tính, lăn lóc sáu, bảy năm giời trong làng văn, há tôi lại không thể tìm được một nghệ thuật viết tiểu thuyết dễ hơn, một nghệ thuật mà nếu tôi không đi đến thành công được thì dẫu người ta không khen tôi, người ta cũng không công kích? Tội gì tôi lại đi vào con đường nguy hiểm mà tôi đang đi để người ta cho là thế nọ, thế kia. Nhưng tôi không để ý. Tha hồ cho bọn người tầm thường vu cáo tôi bằng những phương pháp cũng tầm thường…

Thẻ Phóng Viên Báo Chí của Văn sĩ VŨ TRỌNG PHỤNG

Thẻ Phóng Viên Báo Chí của Văn sĩ VŨ TRỌNG PHỤNG

Vũ Trọng Phụng

Thư ngỏ gửi ông Thái Phỉ, chủ báo Tin Văn về bài “Văn Chương Dâm Uế“

Thưa ông Thái Phỉ,

Trong  báo Tin Văn Số 25 vừa đây, ông lên tiếng cảnh cáo những nhà văn sĩ tả chân về chuyện văn chương dâm uế.

Sở dĩ tôi đáp ông bằng thư này, không phải là tôi nhận  văn chương của tôi là dâm uế, nhưng vì tôi là một trong số những nhà văn tả chân. Nếu bài cảnh cáo của ông viết mà nghe xuôi tai được, tất nhiên tôi phải bỏ bút hàng phục mà nghe theo ý ông, vì tôi biết phục thiện, lại rất cần có người khác chỉ bảo những khuyết điểm của mình. Phải, ai lại dám tự phụ là mình hoàn toàn, không làm điều gì dở?

Khốn nỗi bài cảnh cáo của ông không những làm cho tôi kinh hoàng mà còn làm cho tôi thất vọng; ông chớ nóng nảy, tôi kinh hoàng chỉ vì tôi chưa hề nghĩ rằng một người làm việc văn chương như ông mà lí sự lại luẩn quẩn, tối tăm như thế; tôi thất vọng  vì vị chủ trương một cơ quan văn học mà quan niệm về văn chương lờ mờ, mù mịt, hỗn loạn đến như ông, thì thật là một sự phỉ báng, và hơn nữa một tội phạm thượng đối với văn chương!

Ðây nhé, để tôi cứ việc trích lại những câu ông viết xem tôi nói đúng hay nhầm. Mở đầu bài ông viết:

“Nhưng ai biết thưởng thức cái văn chương dâm uế ấy ở trong văn học Pháp thì sẽ biết rằng ở văn người ta tuy dâm uế mà vẫn là văn chương. Không cứ hễ đã là văn chương tất phải thanh thú, tao nhã. Tả một cái gì dù xấu xa, bẩn thỉu, mà đạt được đến chỗ hoàn toàn của nghệ thuật, ấy cũng là văn chương.”

Tôi xin cảm ơn ông, xin cảm ơn ông lắm, ông nghe chưa? Nhưng thế nào là đến chỗ  “hoàn toàn của nghệ thuật?”

Ðây, ông đã giải quyết nghĩa câu ấy một cách gián tiếp,nghĩa là ông bài bác những điều mà ông cho là chưa hoàn toàn. Ông viết:

“Họ – bọn văn sĩ tả chân – thấy thiên hạ ưa thích cái dâm uế thì hoặc là cố nhồi nhét cái dâm uế vào, bất cứ truyện gì của mình viết, hoặc là viện cái chủ nghĩa tả chân, dụng tâm tả cái cảnh dâm uế một cách rất táo bạo và, vì thế, thành ra sống sượng khó coi, cố làm rung động giác quan của người đọc hơn là nghĩ đến nghệ thuật.”

Sau khi để độc giả biết ông viết như thế, tôi đây mở một đôi dấu ngoặc thuyết minh về cái điều dâm. Cái dâm tự nó không uế, nếu nó không loạn, cái dâm của cặp vợ chồng chẳng hạn thì là sự thường như sự ăn uống, không có gì uế tạp nhơ bẩn mà lại còn là điều thanh tao, cao thượng nữa, song người ta không cần tả đến vì nếu nói đến nó tất nhiên là khiêu dâm. Song còn những thứ dâm đáng gọi là uế, thí dụ: hiếp dâm, gian dâm, loạn luân, nghĩa là những thứ dâm của hạng nam nữ mà không phải là vợ chồng. Nhà văn sĩ tả chân có quyền và có bổn phận tả chân những thứ dâm  ấy, nếu thấy trong thiên hạ có những điều ấy, mặc lòng đó là những thứ dâm uế tạp, nhơ bẩn, nếu diễn tả đúng thì là đến chỗ hoàn toàn của nghệ thuật rồi, chứ ông Thái Phỉ còn bắt bẻ chỗ nào nữa?

Nhưng đây, ông Thái Phỉ còn viết:

“Bởi họ tả một cái loã lồ, sống sượng nên những người biết đọc thành ra thấy ghê tởm, họ muốn bầy ra cái sự thực trần truồng hẳn, nhưng họ quên rằng khi nào cái sự thực đã trần truồng thì người ta sợ và không thích nó nữa.”

Ồ, ông nói lạ! Ông muốn bắt bọn văn sĩ tả chân, trong khi tả cái sự thực trần truồng nhơ bẩn dâm loạn, mà phải làm cho độc giả thấy thích (sic). Ông muốn độc giả thấy những chuyện kia là thanh tao, nhã nhặn, dễ thường lại hợp với luân lí, để bắt chước theo bọn người dơ bẩn trong chuyện đó sao? Ông có quyền không thích cái sống sượng nhưng ông không có quyền bắt chúng tôi khiêu dâm người đọc.

Những cái sự ngu dại của ông không phải đến những lí luận tôi vừa kể trên mà là bờ bến. Quá lắm nữa, ông lại còn khuyên chúng tôi bằng câu này:

“Chính vì sự quá hùa ấy mà tôi phải viết bài này và tôi mong các nhà kĩ nghệ viết văn dâm uế nên hãm bớt cái đà của họ lại thì vừa, đừng để đến lúc công chúng phải nổi lòng công phẫn.”

Công phẫn? Thì chúng tôi chỉ mong có thế! Nhưng nỗi công phẫn ấy là chỗ hoàn toàn của nghệ thuật vậy. Là cái mà công chúng đối phó với điều nhơ bẩn, với những sai phạm tả trong truyện, chứ có phải đâu là cái công phẫn đối với kẻ thuật chuyện như ông Thái Phỉ lo sợ.

Thưa các ngài, nếu tôi mách các ngài rằng trong số đồng bào của các ngài, hoặc trong số con em của các ngài có đứa phạm những điều nhơ bẩn, dâm lọan đáng ghê tởm như thế này…thế này…thì các ngài sẽ công phẫn với những kẻ phạm tội hay là các ngài sẽ công phẫn với tôi, một người chỉ tố cáo lại cái sự đáng ghê tởm kia? Nếu các ngài không cảm ơn tôi mà lại nổi lòng công phẫn như ông Thái Phỉ thì than ôi, tôi có cần gì quan tâm đến cái sự công phẫn vô nghĩa lí ấy?

Nhưng mà tại sao ông Thái Phỉ lại viết cái bài cảnh cáo ngây ngô trẻ con kia, hở ông Thái Phỉ? Có lẽ tại ông, theo như ông thú tội trong bài “Văn chương dâm uế” thì thế này. Ông viết:

“Không, tôi không phải là một ông thánh, tôi chỉ là người, mà trong mỗi người đều có một con thú, nếu người ta không khéo kìm nó lại thì nó thức dậy, thì nó làm dữ ngay!”

Eo ơi! Cứ như ông nói thì ông đương có bệnh, ông đương bị một sức ám ảnh ghê gớm rất nguy hiểm cho thuần phong mĩ tục, ông đáng bị coi là một kẻ bất thường (anormal) đáng để cho bác sĩ Magmes Hirchfeed khảo cứu trong cuốn sách ông ta khảo về sự dâm dục của những người bất thường.

Cái bệnh của ông, sức ám ảnh kia, đã khiến ông mất hết lí trí đến nỗi trong khi ông đọc một đoạn văn tả cái nhơ bẩn sống sượng đáng ghê tớm thì không thấy thích, thì muốn tác giả phải viết văn chương bóng bẩy thế nào cho ông thấy thích rồi mà ghê tởm, rồi mà lại công phẫn nữa, tuy vậy mà vẫn không kìm nổi cái con thú trong lòng ông – điều ấy mới vô lí – và để đến nỗi bị cái con thú ấy nó hành!

Một lần cuối cùng, tôi xin ông cứ việc buồn nôn, buồn mửa và thấy là ghê tởm, nếu ông đọc đoạn văn nào có tả một cảnh tạp uế, bẩn thỉu, và cố sức kìm con thú trong lòng ông lại, đừng khát khao gì nữa, đừng bắt ai trong khi tả một cảnh nhơ bẩn mà lại phải dùng những câu văn thanh nhã, nửa mở, nửa kín, đọc lên không thấy ngượng mồm mà còn thấy hay ho, văn chương nữa, do thế, cho ông thấy thích, thấy muốn ngâm nga hoặc muốn đọc đi đọc lại để mà nghĩ đến dâm dục được kĩ càng!

Tôi khuyên ông nên đi chữa bệnh, rồi hãy nói chuyện văn chương.

Kính thư

Vũ Trọng Phụng

CTHÐ: Ðây là một hai đoạn trích trong Tập “Ðọc Giông Tố Vũ Trọng Phụng” tôi viết ở Kỳ Hoa năm 2005.

Sau khi Mịch bị hiếp, một đêm nhớ Mịch, Long tìm về làng Mịch. Ðêm ấy Mịch đi đào trộm khoai ngoài đồng. Hai người gặp nhau nửa đêm ngoài đồng vắng. Tác giả tả:

Giông Tố. Trích: 

Long nghe xong cứ đứng đờ người ra. Rồi Long lôi Mịch về mình, ôm chặt lấy người yêu, in lên miệng Mịch một cái hôn đau thương, rỏ trên má Mịch mấy giọt lệ rất nóng. Ngây thơ, Mịch muốn gỡ ra…

Hành động ôm, hôn môi của Long và Mịch là hành động của thanh niên Âu Tây, người Việt Nam những năm 1932 không ôm ghì nhau, không hôn lên môi nhau như thế. Người Á Ðông “hít” chứ không “hôn.” Hít bằng mũi, thường là hít lên má nhau. Chỉ sau năm 1950 bị ảnh hưởng của người Âu Mỹ, đúng hơn là bắt chước người Âu Mỹ, người Á Ðông mới hôn nhau bằng môi. So sánh với tác phẩm tiểu thuyết tình nổi tiếng cùng thời là Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, từ đầu truyện đến cuối truyện hai nhân vật chính là chàng sinh viên Ngọc và cô chú tiểu Lan yêu nhau nhưng không một lần ôm nhau, hít má nhau, không cả cầm tay nhau, những cảnh trai gái tự tình trong Giông Tố như đoạn trên là rất mới và rất bạo.

Ðây là tâm trạng của Mịch khi nàng nghĩ đến Dâm dục:

Giông Tố. Trích: 

Vá xong cái áo, Mịch ngồi thừ người ra. Tự nhiên, Mịch nhìn xuống bụng. Sự trông thấy cái kết quả ấy khiến Mịch nhớ đến nguyên nhân. Mịch thấy hiện ra rõ ràng trong óc cái hình ảnh một lão Nghị Hách phũ phàng, nhưng mà nay mai lấy Mịch chắc phải ăn ở khác hẳn. Mịch chợt nhớ đến cái lúc từ con gái mà trở nên đàn bà, trên chiếc xe hơi. Cái lúc ấy thật là gớm ghiếc, thật là bẩn thỉu, thật là đau đớn, nhưng trong cơn đau không phải là không có một thứ khoái lạc trong xác thịt nó làm cho đỡ  đau. Xưa kia, cũng đôi khi chợt Mịch hơi nhớ lúc ấy, song sự hổ thẹn xua đuổi ý nghĩ ấy đi ngay. Nhưng mà rtừ nay trở đi người kia sẽ là chồng của Mịch, thì Mịch hẳn là có quyền nhớ lại những phút có cái cảm giác mới lạ nhất đời mà không là phạm lỗi gì cả. Trong lúc này, con vật đã nổi dậy trong lòng cô gái quê mập mạp, trẻ trung, đương thì. Mịch nhớ lại lúc ấy một cách say sưa như người háu đói vậy. 

Ðây là cảnh Nghị Hách làm với Mịch ở Hà Nội trong ngày cưới Mịch làm vợ lẽ:

Giông Tố. Trích: 

Ðoạn lão tần mần lột những cúc áo của Mịch ra. Tự lão, lão cởi cho Mịch cái áo nhung dài, và bỏ vòng hoa, xuyến hột. Lão ôm xổ lấy Mịch một cái, lại hôn đánh choét một cái. Mịch hãi hùng đẩy mặt lão ra mà rằng:

– Ấy chết ! Thế không tế tơ hồng sao?

Lão Nghị trố mắt hỏi:

– Cái gì?

– Bẩm, tế tơ hồng…

– Tế tơ hồng ấy à…

– Chứ gì!

Lão cười sằng sặc một hồi dài:

– Tơ hồng…! Tơ hồng…! Ha..Ha..Ha..Ha..! Lại còn tế tơ hồng!

Vì quê mùa mà cũng hơi kệch cỡm, Mịch lại nói:

– Phải thế cũng như mọi người chứ!

– Ôi chà..! Vẽ! Cô dâu về nhà chồng bụng đã to bằng cái thúng, lại còn vẽ tế với lễ! Mày cũng lắm chuyện lắm.

Nói thế xong lão mân mó vợ lẽ, làm đủ những trò của một người mới cưới vợ, vào buổi tối tân hôn.

Mịch giữ lấy tay lão mà rằng:

– Ấy chết, tôi đã có chửa đấy.

Lão Nghị vênh mặt lên mà rằng:

– Biết! Biết! Không thì ông cưới làm thèm vào!

Mịch cũng đến lúc nhờn, gắt:

– Ăn nói đến là hay thôi!

– Chứ lại gì! Ấy may mà mày lại có mang đấy. Thế là có phúc lắm đấy.

– Thôi đi. Nỡm lắm nữa!

Nghị Hách cười một cách đa dâm mà rằng:

– Ông… Ông lại hiếp cho chuyến nữa bây giờ.

Rồi đứng lên, vươn vai và sau khi ngáp dài một cái:

– Lạ thật! Hôm hiếp nó thì thế, mà bây giờ nó lấy mình thì thế!

Lão ra ngồi bàn, nhìn mình trong gương một lúc. Sau cùng, lại đến ngồi giường ôm lấy Mịch mà hôn hít một hồi khắp mọi chỗ. Trong lúc ấy, Mịch nhắm nghiền mắt lại mà tưởng tượng Nghị Hách là Long.

Nhưng chợt lão ta vỗ vào bụng vợ đánh bốp một cái, kêu to lên:

– Thế này thì còn nước mẹ gì nữa!

Thế là Nghị Hách, không ân cần được nửa lời, lại tất tả xuống thang. Vài phút sau, tiếng máy xe hơi nổ lên sình sình.

Ðêm hôm ấy Mịch nằm một mình, nghĩ đến Long, hối hận.

Giông Tố được đăng báo năm 1936, xuất bản thành sách năm 1937, năm xưa ấy những đoạn tả cảnh nam nữ hành dâm như  ta thấy được coi là quá bạo, vì những đoạn ấy Giông Tố bị coi là tiểu thuyết khiêu dâm, Vũ Trọng Phụng bị nhiều người trong văn giới kết tội  là “văn sĩ khiêu dâm.” Hôm nay – những năm 2000 hế Kỷ 21 – đọc lại Giông Tố tôi thấy – dường như – tác giả tả không được đúng lắm về thái độ của Nghị Hách trong đoạn trên đây: Ông cha ta có câu “Ð… l… chửa sướng nửa đời người..!” Mịch mới có chửa ba tháng, người dâm đãng như Nghị Hách không thể bỏ qua cái dịp “sướng nửa đời người” ấy.

Ðây là một đoạn dâm tình nữa trong Giông Tố, đoạn Long phá trinh Tuyết:

Giông Tố. Trích: 

Vẫn ngây thơ, Tuyết cởi áo dài.. Rồi áo ngắn.. Ðến khi cái quần nhiễu trắng của Tuyết rơi xuống đất thành một vòng tròn thì Tuyết hiện ra như một nàng tiên trong một giấc mộng hãn hữu của Long. Mầu đen nháy của cái áo tắm làm cho nước da của mỹ nhân trắng nõn trắng nà. Một cái ngực nở nang như của đàn bà tây phương. Hai cái đùi mạnh khỏe đầy đặn, phốp pháp. Long chạy đến ôm choàng lấy Tuyết:

– Giời ơi..! Em đẹp quá..! Ðẹp quá đi mất..!

Tuyết mỉm cười không đáp, nhắm mắt lại, ngửa cổ ra.

Long vừa nói vừa thở:

– Tuyết ơi..! Tuyết ơi..! Tuyết yêu quí của anh ơi..!

Chàng bế bổng cái kỳ công ấy lên tay, đem đến giường. Cái quạt trần chạy vù vù. Hàng nghìn con ve sầu ca hát ngoài sân. Ánh nắng bị lọc qua lần diềm ở cửa kính làm cho gian phòng có cái không khí mát mẻ dễ chịu.

– Mình ơi, mình có yêu em không?

– Không yêu mà lại thế này à?

– Mình không bao giờ được phụ em đấy nhé?

– Còn phải nhắc lại câu ấy một nghìn lần thì bực lắm.

Long phủ kín cả mình mẩy Tuyết bằng những cái hôn nồng nàn, yêu đương. Sự hoài nghi, sự tò mò, lòng căm hờn, làm cho Long hóa ra rất đáng yêu…..

Khi Long thấy trên nệm có mấy giọt máu đỏ thì chàng mới được sung sướng như những người chồng đã được chứng cớ là vợ mình còn nguyên vẹn vào tối tân hôn.

Trong bản Giông Tố năm 1939 “âm mao” xuất hiện hai lần. Lần thứ nhất là “âm mao” của Tuyết trong đoạn trên đây. Như ta thấy tiếng “âm mao” ấy đã bị cắt bỏ. “Âm mao” xuất hiện lần thứ hai trong đoạn tả Minh Châu, cô gái chơi nằm với Long trong đêm Long tự tử:

Giông Tố. Trích: 

Long ngồi ôm đầu một lúc, rồi như sực tỉnh dậy ôm choàng lấy Minh Châu. Chàng lột hết y phục của con bé ra, xong đâu đấy bỗng phải ngồi hẳn lên, bưng mặt vì sợ hãi.

Trước mặt Long, đây là Tuyết chứ không phải Minh Châu. Thật vậy, chính Tuyết! Cái thân thể đẹp đẽ, trắng nõn, chính là của Tuyết vì cái gì cũng giống hệt từ sống mũi đến cặp môi..! Tuyết ở ngày mà chàng đã âu yếm trong một căn phòng ở Hotel de la Gare, Tuyết ở ngày mà chàng không ngăn nổi dục tình…

Tôi nhớ trong Giông Tố bản in năm 1939 có câu như sau:

“..Cái thân thể đẹp đẽ, trắng nõn, chính là của Tuyết vì cái gì cũng giống hệt từ sống mũi đến căp môi, đến bộ âm mao…”

Ðây là đoạn tả Mịch, sau khi lấy Nghị Hách, thông dâm với Long:

Giông Tố. Trích:

Mịch khóc nức lên. Long cũng nói nghẹn ngào:

– Tú Anh..! Giời ơi.., một người như Tú Anh…

Từ đấy trở đi, hai người mới kể lể hết với nhau. Mới rõ sự thực, mới khám phá ra mối hiểu lầm, mới tranh nhau mà hối hận, mới xin nhau tha thứ cho nhau.

Sáng chủ nhật hôm ấy, không lo ngại gì cả, cũng chẳng nghĩ đến cái thai trong bụng nữa, y như một con dâm phụ, Mịch đã cho Long ái tình…

Trước năm 1945 tiểu thuyết Giông Tố cung cấp cho ngôn ngữ của người Hà Nội hai thành ngữ “Táo Tầu Nghị Hách” và “Thị Mịch nằm nghiêng”. Các bạn đã biết chuyện Táo Tầu Nghị Hách, thành ngữ “Thị Mịch nằm nghiêng” xuất xứ từ đoạn tả Mịch giao hợp với Long trên đây. Vì Mịch có chửa nàng phải nằm nghiêng trên giường với Long. Trong Giông Tố bản in năm 1937 câu đó là “..Mịch đã nằm nghiêng cho Long hưởng thụ ái tình…”

Khoảng tám, chín giờ một buổi tối năm 1981, hay 1982, tôi trên xe đạp đi đến trước cửa Nhà Thờ Ba Chuông đường Trương Minh Giảng thì trời đổ cơn mưa lớn. Tôi tạt xe vào mái hiên một nhà bên đường trú mưa. Mái hiên khá rộng, căn nhà đang được sửa nên không người ở. Trong mái hiên đó, sát bên trong cửa, có một phụ nữ nằm trên cái chiếu. Nàng nằm nghiêng, quay mặt vào trong. Không nhìn thấy mặt nàng nhưng tôi cũng biết nàng khoảng ba mươi tuổi, có chửa.

Sài Gòn sau khi ảnh Già Hồ được khiêng vào có nhiều người phải ăn ngủ ở vỉa hè. Tôi ngồi trên đôi giép, bên cái xe đạp, hút thuốc lá thở khói vào không khí ẩm nước mưa, nhìn ra đường Trương Minh Giảng loáng ướt dưới mưa. Chỉ có nàng và tôi trong mái hiên đầy bóng tối ấy suốt cơn mưa lớn kéo dài cả tiếng đồng hồ. Không biết nàng ngủ hay thức, trong thời gian tôi ngồi gần nàng trong mái hiên ấy nàng không một lần cử động hay xoay mình nằm lại. Nhớ chuyện Thị Mịch nằm nghiêng trong Giông Tố, ngày xưa, tôi mần bài thơ:

Lạc loài góc phố, vỉa hè xưa,
Gặp Em nằm ép mái hiên mưa.
Nửa mái Tây hiên, tình tứ nhỉ,
Chín tầng Ðịa ngục, não nùng chưa!
Từ Thức về trần, buồn chẳng nói.
Giáng Tiên xuống thế, gọi không thưa.
Nàng nghiêng Thị Mịch, chàng ôm gối,
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa…!

o O o

Trong bài viết này có ảnh Thẻ Thuế Thân của người dân Bắc Kỳ trước năm 1945.

Tôi không biết gì về Thẻ Thuế Thân của dân Bắc Kỳ Xưa. Tôi không biết đến tuổi nào – 18 hay 20 tuổi – người dân Bắc Kỳ phải có Thẻ Thuế Thân? Người dân phải đóng tiền cho Nhà Nước để có Thẻ Thuế Thân. Có sự khác nhau về Tiền Thuế giữa người giầu, người nghèo không? Người dân phải đóng tiền làm Thẻ mỗi năm? Số tiền Thuế Thân là bao nhiêu? Người dân Trung Kỳ, Nam Kỳ chắc cũng phải có Thẻ Thuế Thân như người dân Bắc Kỳ. Người dân phải đóng tiền Thuế Thân ở đâu? Ở làng quê nguyên quán của họ  hay ở nơi họ cư trú?

Tiền Thuế Thân mỗi năm là bao nhiêu? Trong tấm ảnh Thẻ Thuế Thân của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng thấy có chữ “2$50.” Hai đồng năm mươi xu. Phải chăng đó là Tiền Thuế Thân của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng?

Hình như năm xưa, Luật của Chính phủ Bảo Hộ Pháp, chỉ có đàn ông phải có Thẻ Thuế Thân. Những năm 1940 tôi thấy Thẻ Thuế Thân của ông thân tôi, tôi không thấy bà mẹ tôi có Thẻ Thuế Thân.

XANH XƯA

Ngày xanh xưa xanh biết bao nhiêu.

lanaPhòng 10, Khu ED, Nhà Tù Chí Hoà, anh bạn tù nói:

“Ngày ông mới vô biệt giam, tôi ở Phòng 3. Biết ông là văn sĩ, bọn tôi mong khi  ông ra biệt giam ông vô Phòng 3, ông kể truyện cho chúng tôi nghe.”

Phòng 3 và phòng biệt giam anh bạn tù nói đây là phòng biệt giam và Phòng Tù Số 3 ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của Sở Công An Thành Hồ. Anh bạn nói tiếp:

“Khi ông từ biệt giam ra, ông vào phòng khác. Bọn tôi thất vọng. Tôi sang đây trước ông. May cho tôi là sang đây ông vào phòng này, tôi có số được ông kể truyện cho nghe.”

Mang danh văn sĩ, vào phòng tù, được anh em tù yêu cầu, tôi gồng mình lên kể truyện cho anh em nghe. Không biết người tù nào bầy ra chuyện tối tối một người tù kể truyện cho anh em tù nghe. Những năm 1977, 1978 lần thứ nhất tôi vào tù, trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu chưa có chuyện Chiếu Phim. Những năm ấy bọn Cai Tù kiểm xoát người tù rất gắt, chúng trừng phạt người tù rất nặng tay. Buổi tối trong những phòng tù, bọn Cai Tù không chấp nhận việc một người tù kể truyện cho anh em tù đỡ buồn. Chúng thường nói:

“Các anh vào đây để cải tạo. Các anh phải suy nghĩ về những tội các anh phạm. Suy nghĩ và sửa đổi để trở thành người tốt.”

Một người tù nào đó đặt tên cho những buổi kể truyện trong tù buổi tối là “chiếu phim.” Trong 5 năm tù của tôi ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu và Nhà Tù Chí Hòa – những năm từ 1984 đến 1989 – tôi chiếu phim mệt không nghỉ.

Từ 7 giờ tối trong những phòng tù Chí Hoà chỉ có một bóng đèn điện vàng, phòng không đủ sáng, người tù không còn đánh cờ, chơi domino được, họ chơi cờ, domino cả ngày cũng đã chán. Không phải tất cả những người tù trong phòng đều đánh cờ hay chơi domino. Nằm buồn, anh em tù thường nghĩ vẩn vơ. Tất nhiên họ toàn nghĩ những chuyện buồn. Anh em cần có một người kể truyện để nghe cho đầu óc khỏi bị mệt vì suy nghĩ. Truyện kể hay càng tốt, truyện kể dở cũng chẳng sao. Hai nữa cả phòng phải giữ yên lặng khi có người chiếu phim. Phòng tù đông người, ồn ào, láo nháo từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối, buổi tối người tù cần yên lặng. Giờ chiếu phim là giờ êm đềm nhất trong một ngày của người tù.

Tôi đã kể những truyện Ðồ Long, Thiên Long Bát Bộ, Tam Quốc Chí, Kiều, Võ Tòng đả hổ, Võ Tòng sát tẩu..v..v.. Tôi kể những truyện tiểu thuyết tôi phóng tác: Như Chuyên Thần Tiên, Tiếng Ca Cá Sấu, Người Yêu, Người Giết..v..v..

Tôi kể những truyện phim tôi đã xem: Vacance Romaine, Vertigo, Romeo và Juliette, Truyện Tình Nàng Esmeralda và Anh Bướu Quasimodo – Anh Quansimodo của Nhà Thờ Notre Dame ở Paris có cái bướu trên lưng, anh là Anh Bướu. Một trong những truyện phim tôi nhớ lại, tôi kể trong tù cho anh em tù nghe làm tôi xúc động.

Bộ phim gợi cho tôi nhớ những ngày xanh xưa của tôi, những năm tôi mười tám, hai mươi tuổi. Tôi  xem phim ấy năm tôi 18 tuổi ở Rạp Cinéma Ciro’s, Hà Nội.

lana2Năm 1950 khi tôi từ vùng kháng chiến Bắc Ninh-Bắc Giang – tiếng Việt Minh là Bắc Bắc – trở về Hà Nội, Hà Nội có thêm 3 rạp xi-nê: Rạp Ciro’s, Rạp Porte d’Or trong toà nhà Tủu Lầu Ðông Hưng Viên, và rạp Trung Quốc ở Hàng Bạc.

Rạp Ciro’s nhỏ, xinh, hiện đại, máy chiếu phim mới, chiếu toàn phim MGM: Metro-Goldwyn-Mayer. Hình như ở Hollywood những năm 1950-1960 có NightClub Ciro’s. Năm 1950 tôi xem phim Green Dolphin Street ở Ciro’s Hà Nội. Hôm nay, 63 năm sau ngày tôi xem phim Green Dolphin Street ở Hà Nội, sống ở Virginia, Kỳ Hoa, nhớ những ngày xnh xưa, tôi kể truyện phim Green Dolphin Street.

Phim đen trắng, nói tiếng Mỹ, phụ đề chữ Pháp. Năm 1950 tôi xem phim mà không hiểu cốt truyện, tôi chỉ cảm thấy Green Dolphin Street là một phim Hay, phim do Lana Turner, Richard Hart, Van Helflin và Donna Reed trong bốn vai chính Tôi cảm mến cô đào Donna Reed, tôi cảm thương nữ nhân vật Marguerit trong phim – Marguerit do Donna Reed diễn. Donna Reed chuyên giữ vai phụ, nàng là cô gái bán Bar yêu chàng quân nhân Montgomrey Cliff trong phim From Here to Eternity.

Với tôi, Phim Xi-nê phải là phim Ðen Trắng mới Hay, mới thật có Nghệ Thuật. Phim Mầu làm người xem choá mắt. Toute la ville danse, La Valse dans l’ombre, Vacance Romaine, Tant qu’il y aura des hommes, Le Bossu de Notre Dame với hai diễn viên Charles Laughton, Maureen O’Hara, là những phim Ðen Trắng.

Tôi vào Internet tìm Truyên Phim Green Dolphin Street . Phim làm theo tiểu thuyết của Nữ văn sĩ Elizabeth Goudge. Bà là người Anh,. sinh năm 1900, mất năm 1984, cuộc Tình ở Ðường Cây Dolphin Xanh xẩy ra khoảng năm 1910.

Nàng Sophie yêu chàng Edmund, nhưng nàng bị gia đình gả cho một cậu con nhà giầu. Edmund bỏ thành phố đi xa. Ba mươi năm sau, Edmund trở về thành phố cũ với con trai của ông – nam diễn viên William Hart – nay Sophie có hai cô con gái: Marguerit – Donna Reed – và Marian – Lana Turner. Hai gia đình ở gần nhà nhau, đi lại với nhau khá thân. William – Richard Hart – đẹp trai, học thức. Hai chị em Marguerit, Marian cùng yêu William. William yêu Marguerit.

Trong tỉnh có anh thợ mộc  Timothy – Van Helflin – Timothy yêu Marian. Anh can tội lỡ tay đánh chết người. Edmund, ông bố của William, giúp phương tiện cho Timothy trốn sang nước New Zealand.

William nhập ngũ, vào Hải quân, Không chịu nổi đời sống trong quân ngũ, chàng đào ngũ. Chàng cũng trốn sang New Zealand. Chàng gặp lại Timothy ở New Zealand. Timothy đưa William về sống chung, họ mở một tiệm buôn.

Trong một đêm buồn, William say rượu. Trong cơn say chàng viết thư cho ông bố của Marguerit, thư  chàng viết chàng yêu con gái ông, chàng xin ông cho Marguerit sang New Zealand với chàng. Nhưng chàng lẫn lộn tên hai chị em, thay vì xin Marguerit làm vợ, chàng xin Marian. Chàng viết tên Marian trong thư.

Thảm kích diễn ra khi Marian đến New Zealand. Chỉ sau ít ngày Marian biết William không yêu nàng, William yêu Marguerit, chị nàng. Nàng biết William đã lộn tên hai chị em. Timothy thầm yêu Marian nhưng nay nàng là vợ William. Timothy đau khổ vì anh biết Marian yêu William. Cả ba người cùng đau khổ.

Cả bốn người cùng đau khổ.. Marguerit đau khổ khi người nàng yêu không xin cưới nàng mà xin cưới cô em nàng. Một chiều nàng trở lại bãi biển nơi nàng và người nàng yêu từng đến chơi. Bãi biển có một hang núi, Trong hang có một cái vòm như cái giếng, người ta có thể bám vào vách giếng đá mà trèo  lên đỉnh núi. Trên đỉnh núi có một Viện Nữ Tu.

Marguerit đi lang thang trên bãi biển. Thủy triều lên mà nàng không biết. Nước biển dâng ngập lối nàng trở về thành phố. Nàng chạy vào hang núi.

Nước biển cũng dâng lên trong vòm hang. Margurit phải bám vào những mấu đá trèo lên cao để không bị nước biển dâng dìm chết. Vách giếng quá cao. Những mấu đá sắc làm hai bàn tay nàng chẩy máu. Quá mêt và tuyệt vọng, Marguerit định buông tay. Cùng lúc ấy nàng nghe tiếng hát huyền diệu như tiếng ca của những thiên thần từ miệng giếng cao trên kia vọng xuống.

Matrguerit cố sức trèo lên. Miệng giếng đá ở trong sân Nữ Tu Viện, Các nữ tu đọc Kinh Cầu và hát Thánh Ca trong sân. Một nữ tu nhìn thấy bàn tay đẫm máu của Marguerit đưa lên trên thành đá miệng giếng.

o O o

Ở Phòng 10 Nhà Tù Chí Hoà đêm tôi nằm nhớ lại truyện phim Green Dolphin StreetTôi phóng tác, tôi thêm thắt cho truyện thành truyện võ hiệp kiểu Phim Tầu HongKong. Tu Viện trên núi là sơn động của một võ phái toàn là phụ nữ đau khổ vì Tình, một môn phái giống như môn phái của Diệt Tuyệt Sư Thái trong Ðồ Long Ðao Ỷ Thiên Kiếm – Diệt Tuyệt: Thượng Diệt, Hạ Tuyệt. Người trong võ phái Diệt Tuyệt thù ghét đàn ông. Võ phái trên đỉnh núi trong phim Green Dolphin không thù gthét đàn ông, các nàng chỉ tìm sự Quên Lãng. Các nàng phải luyện tập nội công và võ nghệ đủ để có thể xuống núi và trở lên Tu Viện.

Năm tháng qua đã nhiều, hôm nay tôi không nhớ đoạn kết Truyện Phim Green Dolphin Street tôi kể trong phòng tù Chí Hoà ra sao. Truyện phim tóm lược trên Internet không viết rõ đoạn kết. Tôi nhớ 60 năm xưa tôi đến Ciro’s xem phim Green Dolphin vào một chiều cuối thu.

Không có gì vô duyên cho bằng việc đi xem xi-nê xuất 2 giờ-4 giờ ở Sài Gòn. 4 giờ từ rạp xi-nê máy lạnh ra, người ta hoa mắt, váng đầu vì nắng chiều gay gắt của Sài Gòn. Cảm giác thật khó chịu. Muốn được hưởng lại cảm giác khoan khoái khi từ trong rạp xi-nê ấm ra ngoài trời mát như ở Hà Nội, người ta phải lên Ðàlạt.

Ông Thầy dậy tiếng Anh thứ nhất của tôi là Cậu Luận. Tôi gọi ông là Cậu vì ông có họ với tôi. Cậu cháu- thầy trò gặp nhau ở rạp xi-nê, ông bảo tôi:

“Một cái thú ở đời là đi du lịch, đến những thành phố lớn, những cảnh đẹp trên thế giới. Mình không có điều kiện đi du lịch, mình xem xi-nê cũng gần giống như mình đi du lịch.”

Ở Hà Nội năm 1950 cậu Luận mở một “cua” dậy tiếng Anh tại nhà. Học trò của cậu chỉ bẩy, tám mạng, trong số có Nhân, bạn tôi, và hai chị em Hồng Loan, Hồng Ngọc. Trong rạp Ciro’s buổi chiều xưa tôi đến xem phim Green Dolphin Street có Hồng Loan, Hồng Ngọc. Hai nàng đi xem xi-nê với nhau, Hai nang không đi xem xi-nê với tôi. Tôi chi là kẻ được ngồi chung trong một rạp xi-nê ở Hà Nội xanh xưa với hai nàng trong khoảng 2 giờ đồng hồ.

Hai chị em cùng đẹp. Hồng Ngọc là vợ một sĩ quan, ông là Ðại Tá năm 1975, Hồng Loan lấy chồng Mỹ từ những năm 1960. Nàng ởVirginia. Có lần qua phone nàng mời vợ chồng tôi đến ăn ở một nhà hàng. Tôi xin lỗi trước lời từ chối. Tôi muốn giữ mãi hình ảnh nàng năm nàng hai mươi tuổi. Nàng là người thiếu nữ đẹp nhất Hà Nội của tôi thời tôi mới lớn. Sau 1954 đôi lần tôi gặp lại nàng ở Sài Gòn, ở Ðalạt. Nhớ Hồng Loan Hà Nội năm 1950, tôi thấm  lời Thơ Vũ Hoàng Chương:

Phải chăng từ độ ấy quan san
Trời Ðất cùng đau nỗi hợp tan.
Riêng có mình Ta phai áo lục.
Mà Em sau trước vẫn hồng nhan.

Tôi đổi một câu:

Hồng Loan sau trước vẫn Hồng Loan.

o O o

Ngày xanh xưa xanh biết bao nhiêu.

Xanh Xưa

Hoàng Cầm

Thương em sóng cuốn mà quên
Dọc đê toàn ớt chỉ thiên tía hồng
Ðôi ba năm kết một vòng
Vòng cay xé lưỡi
Mắt ròng tuổi mưa
Chợt nghe sông cạn bao giờ
Ðắng cay đứng sững mấy bờ nhân duyên
Ðáy bùn quẫy mạnh ngó sen
Hỡi ơi sông Sở sông Tiền đó chăng?
Sương mù đóng chắc giá băng
Vùi trong trắng…
Xóa vĩnh hằng thơ ngây
Ðể em đau nỗi riêng này
Chỉ thiên cứ mọc ngón tay nguyện thề

Thôi em! Cỏ mịn chân đê
Anh đưa em nhẹ gót về xanh xưa
Chỉ tay xuống đất làm mưa
Mát chân em khỏa lững lờ nguồn xuân
Tan rồi hạt bụi ái ân
Vướng mi em một đôi lần… phải không?

Phim tình cảm thứ hai tôi nhớ năm tôi 18 tuổi tôi xem ở Hà Nội là phim How Green Was My Valley. Tên phim tiếng Pháp Qu’Elle Etait Verte Ma Vallée. Phin đen trắng chiếu trên màn ảnb Rạp Majestic, Hà Nội.

Hai vai chính của phim do cô đào Maureen O’Hara và nam diễn viên Walter Pidgeon thủ diễn.

Tôi thấy Maureen O’Hara trên màn ảnh Rạp Xi-nê Majestic Hà Ðông năm tôi 10 tuổi. Maureen O’Hara là nàng Esmeralda trong phim Le Bossu de Notre Dame. Từ đấy tôi ái mộ nàng. Tôi đến xem phim How Green Was My Valley vì trong phim có nàng.

Phim làm theo bộ tiểu thuyết cùng tên của Nhà Văn Richard Llewellyn. Bối cảnh của Truyện là một vùng thung lũng xanh trong Xứ Wales. Người kể truyện là một thiếu niên. Năm chú 10 tuổi, vùng quê chú đồi cỏ mượt, cánh đồng, hoa, bướm, chim, trời trong, mây trắng, sông nước xanh ngời. Năm chú hai mươi tuổi, đồng cỏ xanh biến mất, thay vào đó là vùng mỏ than đen sì, bụi bậm. Người ta khai thác mỏ than ở đó, đồi xanh, hoa bướm, chim biến mất.

Cuộc sống đi qua Vùng Xanh với những mất mát: cha mẹ chú thiếu niên qua đời, anh chú có người chết vì tai nạn trong hầm than, các chị chú đi lấy chồng. Cô chị chú lấy chồng nghèo sống vất vả, cô chị chú lấy chồng giầu sống không có hạnh phúc. Chẳng ai được sung sướng. Chú thiếu niên hoài niệm:

“How green was my Valley that day, green anh bright in the sun.”

“Vùng Xanh của tôi ngày ấy xanh biết bao nhiêu, xanh và sáng trong nắng.”

Chú thiếu niên nói câu trên sau khi chú vừa được qua cuộc ái ân thứ nhất.

“How green was my Valley then, and the Valley of them that have gone.”

“Vùng Xanh của tôi ngày ấy xanh biết bao nhiêu, Vùng Xanh của tôi và Vùng Xanh của những người đã đi.”

Chú nói câu trên khi chú sắp bỏ Vùng Xanh bị Tàn  Phá để làm cuộc Ði không bao giờ trở lại.

Tôi nhớ cảnh ông Mục sư Walter Pidgeon nói với nàng kiều nữ Maureen O’Hara:

“Anh không thể để em làm vợ anh. Anh nghèo lắm. Anh không thể để em cùng chịu khổ với anh.”

Ông Muc sư từ chối Tình Yêu của Người Thiếu nữ  yêu ông. Khi nghe câu nói đó tôi mới 18 tuổi, tôi chưa biết gì về đời sống vợ chồng, tôi đã nghĩ:

“Ông này nói kỳ. Lý do không vững. Nàng yêu ông, nàng có quyền làm vợ ông, nàng sẵn sàng chịa xẻ khổ cực với ông. Mà đời mục sư có gì khổ cực lắm đâu. Sao ông lại từ chối Tình Yêu của nàng?”

o O o

Trước 1975 tôi không đọc tiểu thuyết The Green Dolphin Street. Tôi có bản tiếng Pháp Qu’elle était verte ma vallée, nhưng tôi không đọc.

Năm 2000 ở Kỳ Hoa tôi tìm được quyển The Green Dolphin Street trong một tiệm bán đồ cũ của Nhà Thờ. Quyển truyện còn mới giá có 1 đô-la. Nhưng tôi cũng không đọc. Quyển truyện quá dầy, quá nhiều trang chữ nhỏ. Tôi đã qua cái tuổi đọc những truyện Mỹ dài. Tôi chắc những ông, những bà tuổi đời như tuổi đời tôi – Bẩy Bó, Tám Bó – cũng không còn đọc được những bộ truyện dài.

Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư tôi học được trong phim Green Dolphin Street là:

“Không bao giờ ta viết Thư Tình khi ta đang say rượu.”

“Không bao giờ ta viết Thư Tình khi ta đang buồn.”

“Không bao giờ ta viết Thư Tình là tốt hơn cả.”

Có một diểm Yếu, Kém trong Truyện Green Dolphin Street. Ðó là chuyện chàng William viết sai tên người thiếu nữ chàng yêu. Tôi không tin người thanh niên có thể quên tên người yêu của mình. Say rượu, người say có thể không viết được thư, nhất là thư xin cưới vợ, nhưng người say dù say mấy cũng không lộn tên cô chị ra tên cô em.

o O o

Xanh Xưa.

Hoàng Cầm

Thôi em! Cỏ mịn chân đê
Anh đưa em nhẹ gót về xanh xưa
Chỉ tay xuống đất làm mưa
Mát chân em khỏa lững lờ nguồn xuân
Tan rồi hạt bụi ái ân
Vướng mi em một đôi lần… phải không?

Tôi đổi một câu:

“Long lanh giọt lệ ái ân
Hôm nay lại ánh  xanh ngần mắt  Em. 

TIẾNG HÁT HOÀNG HÔN

faces

Cô Nguyễn Thị Hàm Anh – người viết bài này – sống ở Sài Gòn. Cô là con  ông Thượng Sĩ Nguyễn Ðức Long. Ông Thượng Sĩ là nhà phê bình văn học có tiếng ở Hà Nội những năm từ 1950 đến 1954. Ông đã qua đời ở Sài Gòn khoảng năm 2000.

Viết ở Rừng Phong đã đăng bài “Mai Châu Mùa Em..” của cô Hàm Anh. Hôm nay, mời quí vị đọc một bài viết mới của cô Hàm Anh. Ðây là những lời một người ở Sài Gòn phê phán một số ca sĩ Việt ở Hoa Kỳ về nước ca hát. CTHÐ.

Nguyễn Thị Hàm Anh:

Anh chị tôi rủ đi nghe nhạc. Có hai ca sĩ hải ngoại mới về, Duy Quang và Elvis Phương. Hai ca sĩ cũ nổi tiếng từ xa xưa, một thời của quá khứ không mơ hồ… Sau này, qua băng đĩa lưu hành lậu, những giọng hát ấy vẫn khiến người nghe thấy lòng nức nở khi ca sĩ cất lên những bài tình ca bất hủ. Có rất nhiều tình ca do nhạc sĩ VN sáng tác lúc này hay lúc khác, nơi nọ hay nơi kia. Nhưng đặc biệt, tình ca trong quãng thời gian hai mươi năm đó đã đạt đến đỉnh cao cả về số lượng lẫn chất lượng, là một phần lộng lẫy trong gia tài âm nhạc ViệtNam.

Tuy nhiên, những bài hát từng đưa họ lên đỉnh cao danh vọng, đậu lại trong lòng người nghe thì bị cấm, không được hát dù nội dung chỉ ca tụng tình yêu. Ðêm nhạc được tổ chức dưới tên L’histoire d’un amour, tức họ xuất hiện chỉ để trình diễn nhạc tình Pháp. Bởi vì nhạc Pháp có vẻ vô hại, nhạc tình của Pháp lại càng vô hại hơn. Thính giả chỉ thưởng thức nhạc, chẳng mấy ai biết đến lý lịch của các nhạc sĩ sáng tác ra những bài hát đó. Và lý lịch của các nhạc sĩ viết tình ca này hẳn nhiên “trong sạch”!

Hai đêm nhạc được quảng cáo trước cửa phòng trà và dân hoài cổ truyền miệng nhau đi xem. Nói đi xem có vẻ chính xác hơn đi nghe bởi người ta vẫn thường nghe hai giọng ca này qua đĩa và thấp thoáng đâu đó qua vidéo nên không tới nỗi lạ lẫm. Vả lại nhạc nghe qua đĩa dĩ nhiên hay hơn vì âm thanh phòng trà thường rất chát chúa, chói tai. Do vậy chính đi là để nhìn hai ca sĩ bằng xương bằng thịt giờ đây thế nào, có thay đổi nhiều so với ngày xưa chăng. Ði xem họ hát như thể nhặt nhạnh chút gì của một thời xa xưa bỗng nhiên rơi rớt lại, quay về những kỷ niệm bị lãng quên, lục lọi tìm một mảnh của chính mình bị cất dấu, ẩn nấp trong xó xỉnh đâu đó phủ đầy bụi bặm, nấm mốc của thời gian lạnh lùng.

Elvis Phương về nước từ trước, đã hát rải rác chỗ này chỗ nọ nhưng đây là lần đầu tiên Duy Quang xuất hiện trước công chúng. Hai ca sĩ này chỉ hát trong hai đêm nên chị tôi phải gọi điện thoại đặt chỗ trước, hôm sau họ sẽ chuyển sang nơi khác. Nhớ hồi ca sĩ Giao Linh mới xuất hiện cách đây mấy năm. Khi ấy ca sĩ hải ngoại về nước rất ít nên bà được đón tiếp nồng nhiệt. Người ta hào hứng đi xem nguời ca sĩ khi xưa có mái tóc đặc biệt một bên cúp vào, một bên cong ra. Ðiều gì xa xôi, chỉ nghe tiếng đương nhiên rất tò mò muốn thấy hình. Thế nhưng chỉ sau một thời gian rất ngắn được ngự trị ở vài phòng trà trung tâm thì với mấy bài hát ma-ri hết hơi, Giao Linh cùng Tuấn Vũ mau chóng bị dạt ra cho tới khi tên của hai ca sĩ này xuất hiện trên mấy tấm banderole ở rạp Hào Huê, Chợ Lớn và các quán ăn tầm tầm thì kể như ánh hấp dẫn của họ đã tắt ngúm trong lòng dân thành phố. Hương Lan cũng vậy, giọng hát ngọt ngào của ca sĩ này từng lay động lòng người xa xứ với các bài hát mang âm hưởng dân ca, nhưng chính ngay trên quê hương thì đâu có ai hoài hương để lúc nào cũng sẵn sàng rung động trước mấy bài hát bông bầu, bông bí. Không kể vô vàn người hát trong nước nổi tiếng hoặc không nổi tiếng, đều hát ngọt như vậy hoặc hơn vậy, hát những bài như thế và vô số bài mùi mẫn hơn thế, nên chi Hương Lan thỉnh thoảng cũng xuất hiện trên TV trong một chương trình ca nhạc lem nhem nào đó mà không ai để ý đến.

Tiếng tăm của hai ca sĩ hải ngoại Duy Quang và Elvis Phương này có phần nổi trội bởi lẽ thức uống đều tính phụ thu khá cao. Chỉ những ca sĩ ngôi sao mới có phần phụ thu này. Ðêm nhạc tình Pháp bắt đầu. Những bài hát của một thời hoàng kim xa lơ xa lắc được các ca sĩ trẻ hoặc không nổi tiếng lắm hát trước. Aline lầu tình trên cát, Les flots du Danube, L’amour c’est pour rien, Apres toi, Bang bang… Một ca sĩ tên Quang Vượng hát rất hay. Rồi Duy Quang bước ra sân khấu. Biết là đêm nhạc Pháp nhưng dường như trong lòng mọi người vẫn mong mỏi một chút “xé rào” để nghe phảng phất những âm giai mơ mộng phổ thơ Tuệ Mai. Thôi bàn học cũ. Sách vở từng năm. Nhớ người tóc xõa. Ôn bài dưới trăng. Thôi chăn gối lẻ. Gửi lại giường xưa. Hương đào ngây thơ. Ủ giùm cho nhé… hoặc da diết đến nao lòng. Người từ trăm năm. Về khơi tình động. Ta chạy vòng vòng. Ta chạy mòn chân. Nào có hay đời cạn. Nào có hay cạn đời… Có vẻ một người từ trăm năm về thật nhưng hình ảnh không đẹp như lời thơ Nguyễn Tất Nhiên. Duy Quang đứng xa trên sân khấu, đầu như hơi hói, tóc như nhuộm nâu, lưng như hơi gù, cổ đưa ra phía trước và một bàn tay buông thõng. Bà chị chắc lưỡi kêu tướng mạo Duy Quang coi chán đời quá, ông anh lắc đầu nói thì soi gương thử xem, bà tưởng mới vài năm phù du trôi qua sao, ngồi quanh đây “đời đã xanh rêu” cả, nào có ai khá hơn ai. MC luôn luôn ra rả giới thiệu khán giả của phòng trà hôm nay toàn những mái đầu bạc rất quen thuộc với ca sĩ và những bản nhạc của thập niên được trình bày đây. Bà chị lại rên rỉ. Nhìn chút coi, ngoại trừ vài vị ở độ tuổi ngoài tám mươi mới bày tóc bạc. Còn lại đều đen nhánh, toàn người trăm năm không phai tóc nhuộm, bói không ra một cọng sương sương. Ðám trẻ loe hoe tưởng có chi lạ ngồi đến giữa chương trình bỏ về hết. Số người ráng ngồi đến cuối buổi là biết niên kỷ bao nhiêu rồi. Tên MC thật không biết điều, cứ lôi tuổi tác người ta ra “bêu riếu”, về hưu sớm sớm cho được việc!

Duy Quang hát lời Việt của ba bốn bản nhạc Pháp. Rõ ràng Duy Quang được nhắc tới bởi rất thích hợp với những bài thuộc loại Ðưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa… hay Này cô em Bắc kỳ nho nhỏ. Này cô em tóc demi gacon. Chiều hôm nay đón gió. Cô có tình cờ nhìn thấy anh… Chắc ca sĩ này biết rõ chỗ yếu của mình nên mau chóng rút lui nhường phần cuối cùng chương trình cho Elvis Phương.

Nổi danh hồi nào trong ban nhạc Phượng Hoàng, vốn học trường Tây nên dĩ nhiên ca sĩ này hát đúng giọng Pháp. Tuy nhiên Elvis Phương không phải là người duy nhất hát nhạc Pháp đúng giọng, lại càng không phải người hát nhạc Pháp đúng giọng hay nhất. Khán giả cũng không phải tất cả đều am tường để mê nhạc Pháp. Nhạc ngoại quốc không mau chóng và dễ dàng đi ngay vào lòng người như Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời. Ðồng cỏ nào xanh ngát lưng trời… Ngày nào bầu trời còn mây bay. Lòng ta vẫn thấy yêu thương hoài… Tôi muốn làm một thứ cỏ cây. Vui trong nắng và quên ưu phiền… Ðối với đa số, nghe loại nhạc như vậy hiểu liền và thấm liền, quan trọng hơn hết, mới thấy đó là Elvis Phương của họ, ca sĩ thủa nào của đám đông khán giả thủa nào!

Vì thế mặc dù nhạc Pháp đúng giọng và hát hay, nhưng khán giả vẫn thấy điều đó không đủ, chưa đúng. Mọi người ngồi nghe một cách kiên nhẫn, ngán ngẩm ngắm người ca sĩ la hét, gào rú, nhảy nhót liên tục mười mấy bài trên sân khấu mà chẳng thưởng thức bao nhiêu, chỉ thấy… thương thương gì đâu! Elvis Phương cố gắng giữ gìn phong độ và khán giả thừa nhận ca sĩ này vẫn còn phong độ. Tuy nhiên, đừng tỏ ra, đừng cố gắng chứng minh một điều gì cả thì tốt hơn. Bởi vì trong chữ “vẫn”, trong sự cố gắng đó đã hàm ý vớt vát, pha vào điều gì chua chát rồi. La hét, nhảy nhót quá chừng dành cho choi choi đi. Khán giả không đợi xem màn đó. Thấy ca sĩ trình diễn trên sân khấu mà bắt mệt. Cả ca sĩ và khán giả đều là người từ trăm năm, lắng dịu một chút thì hay hơn, nhất là hầu hết mọi người đến đây chỉ muốn gặp Elvis Phương để hoài niệm, không phải để sôi sùng sục trong điệu rock mà họ đã quá mệt mỏi nơi cuộc sống hàng ngày. Họ sẽ chọn để nghe rock ở một phòng trà với khung cảnh và không khí khác, với những ca sĩ khác chứ không phải ca sĩ này.

Dường như chịu hết nổi, khán giả yêu cầu nhạc Việt. Ngập ngừng một chút, Elvis Phương hát một bản nhạc xưa, quá xưa chắc hồi chưa sinh ra đời nên không cách nào tôi nhớ được tựa. Không khí phòng trà nóng hẳn lên, mọi người nghe một cách hào hứng, vỗ tay rào rào chứ không phải vỗ tay vì lịch sự. Hết bài, vài giọng la lên hát nhạc Việt đi, rõ ràng ai nấy nóng lòng mong chờ âm điệu dạt dào của những bài tình ca quen thuộc. Ca sĩ lại hát một bài ngày xưa… Thanh Thúy thường hát. Khán giả có chiều thất vọng, nhưng biết sao, thôi thì nghe đỡ một hai bài như vậy còn hơn đi về không được bài nào như ý. Chỉ hai đêm nhạc thôi chứ kéo dài cũng chẳng ai đi lần thứ hai.

Ðúng là biết sao. Bởi vì với nhạc ngoại quốc còn có thể tổ chức được vài đêm hát chứ bông bầu, bông bí… thì ai thèm đi. Bà chị than đi nghe hát như tới gặp người tình xưa, mới vỡ lẽ người tình thương nhớ thực sự chỉ tồn tại trong ký ức, là hình ảnh mơ hồ chìm vào kỷ niệm. Thời gian như dừng hẳn từ lần cuối cùng chia tay đó, giờ nhìn lại thất vọng não nề và giấc mơ dài theo năm tháng bỗng phút chốc vỡ tan thành bọt bóng!

Thật ra số tuổi của họ vẫn còn hát lâu dài, chưa phải muộn, chưa đến lúc rời sân khấu. Nhưng cách họ quay về, cách xuất hiện sau một thời gian quá dài vắng bóng khi trong lòng người hâm mộ chỉ giữ hình ảnh ngày cũ, và lưu giữ giọng hát của họ không thay đổi qua băng đĩa. Sóng đời đã xô nhiều đợt đổi thay. Những con người thật sự sao chỉ hiện ra trên tấm phông nhạt và chính họ gợi nên vẻ gì gượng gạo, Ánh sáng hắt ra là ánh hồi quang dù rực rỡ vẫn chỉ là vạt nắng níu kéo của buổi tà dương.

Người ca sĩ không thể hát một mình đối bóng. Họ cần sân khấu và ánh đèn, cần khán giả nên chi có một phòng trà được mở ra ở Sài Gòn dành cho các ca sĩ qua thời. Có thể tìm thấy Hồng Vân, Lan Ngọc… và một số ca sĩ sau này như Nhã Phương… Phòng trà tuy cũng đèn đuốc xanh đỏ nhưng sàn nhà ciment và một bà quản lý mập mạp mặc đồ bộ, tay cầm quyển sổ nhỏ đi tới đi lui dòm ngó, chỉ huy mọi việc. Phòng trà chia thành hai gian. Gian ngoài sôi động hơn một chút, gian trong trầm lắng với những nhạc sĩ tóc trắng như bông chơi đàn với tất cả sự mê say, nâng niu và vội vã vì thời gian được ôm nâng cây đàn đang dần dần co lại, sợi dây đàn sẽ đứt lúc nào không biết để thanh âm nao nức sẽ im bặt trên  bục gỗ trống vắng. Nên dưới không khí rất thân thuộc đó là sự hiu hắt khiến lòng người tự nhiên chùng xuống.

Sài Gòn có số lượng thính giả đông  hơn hải ngoại. Vì thế ca sĩ cũ hải ngoại về Sài Gòn hát tìm lại vang bóng là điều đương nhiên. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng thế. Ông mơ ước sống lại ánh hào quang rỡ ràng của thời gian ba mươi năm xưa kia, ông muốn quay về nhằm mục đích mưu sinh hay vì lý do nào khác không rõ. Chỉ có điều những câu tuyên bố quỵ lụy của ông khiến mọi người ngỡ ngàng. Thật ra từ cách đây vài năm, nhạc của ông đã được phát qua băng đĩa khá nhiều tại các quán cà phê. Nhạc cổ điển, nhạc Jazz… kén chọn thính giả, thường chỉ tồn tại ở ít quán trong thành phố. Còn hầu hết tình ca du dương trầm bổng nằm tại quán bar, cà phê. Ðể phân biệt “đẳng cấp”, các quán lịch sự thường chỉ chơi “nhạc Trịnh”, nhưng quanh đi quẩn lại nghe hoài bấy nhiêu bài cũng phát chán. Về sau, gần đây, nhạc Phạm Duy đã từ từ thay thế nhạc Trịnh. Trong không khí êm đềm của các quán nước tao nhã, người nghe thả hồn vào thế giới ngập tràn những giai điệu và ca từ đặc biệt của Phạm Duy. Tìm sâu trong muôn thủa, tìm sau lưng bốn mùa, tìm nhau như thiên cổ tìm ngàn thu, gặp nhau trong hơi thở của cuộc đời… Quả Phạm Duy không cần hạ mình đến thế. Giá trị âm nhạc của ông đã được khẳng định và không thể vùi dấu mãi. Những bài hát đã vang lên trong các quán nhạc ở Saigon, Ðà lạt, Nha Trang… như mọi giá trị văn hoá đích thực khác sẽ tồn tại vĩnh viễn, đứng ngoài mọi biến cố cuộc đời.

Hình như Phạm Duy không biết đến điều đó, hay ông vẫn lo sợ ông bị bỏ quên, vẫn thấy… ngại, hay om sòm vẫn được coi một trong những phương thức quảng cáo thông thường… Thôi thì dù chưa bị đánh cũng xin hàng trước cho chắc ăn. Vả nếu tỏ ra nhu nhã như vậy, may ra bài hát của ông sẽ được chính thức phổ biến rộng rãi. Ông sẽ xuất hiện, sẽ ôm cây đàn hát không phải ở quán nước, phòng trà tẹp nhẹp mà trong những nhà hát to lớn, mở những live show gây được tiếng vang ồn ào. Một giấc mơ quá đẹp có thể giải thích phần nào cho thái độ lạ lùng đạp lên chính mình của ông. Ðẹp quá vì đó là một giấc mơ, và đến giờ giấc mơ vẫn chỉ là điều không tưởng.

Dẫu sao Phạm Duy quá mệt mỏi để có thể chờ đợi lâu, tấm hình chụp trên báo cho thấy ông đã phải ngồi xe lăn khi về tới phi trường. Thời gian của ông không còn bao nhiêu nữa. Ông trở nên gấp rút, vội vã. Ông hối hả xưng tội, nghĩ ra tội để có cái mà hối lỗi. Có còn kịp để ông được hát những bản nhạc của ông trước công chúng thành phố đông đúc cuồng nhiệt như ông tưởng tượng không, bằng bất cứ giá nào? Nhiều người không giận mà chỉ thấy dâng lên cảm giác ngậm ngùi về những cuộc sống mà hoàng hôn đã mênh mông vây tỏa. Nắng úa tàn làm mờ nhòa, lầm lạc nhân ảnh. Một ngày gần cạn, những sôi nổi của bình minh ấm áp, của trưa gắt nồng nàn đã qua đi. Chỉ còn hoàng hôn nghỉ ngơi và tiếng hát vọng từ quá khứ dành cho sự trầm ngâm, hồi tưởng.

Nguyễn Thị Hàm Anh

NHẮC CHI NGÀY XƯA ÐÓ.. ..

gardner

Gió hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách dồn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó
Ðến se buồn lòng ta.

Tôi không để hai chữ Văn Cao dưới những Lời Thơ Nhạc của Văn Cao, như tôi không để những chữ Ðinh Hùng dưới Thơ Ðinh Hùng, những chữ Vũ Hoàng Chương dưới Thơ Vũ Hoàng Chương. Người đọc những Lời Thơ ấy phải biết ai là tác giả

Bánh xe tị nạn khấp khểnh đến Kỳ Hoa năm 1995; sau 20 năm không được Viết, tôi viết ngay những bài Viết ở Rừng Phong. Từ năm 2000, mỗi tuần tôi viết hai bài Viết ở Rừng Phong. Ðến nay trong Blog “hoanghaithuy.com” đã có 500 bài Viết ở Rừng Phong. Trong số 500 bài ấy có một bài tên là “Nhắc chi ngày xưa đó..” Nên bài “Nhắc chi ngày xưa đó” tôi viết hôm nay – Ngày 15 Tháng Hai, 2013, Ngày Mồng 5 Tháng Giêng Ta, Tết Nguyên Ðán mới qua 5 Ngày – tôi đề tên là:

Nhắc chi ngày xưa đó..

Tháng Giêng Quý Tỵ.2013.

o O o

Giữa năm 1951 tôi được anh Thanh Sanh, chủ bút Nhật báo Ánh Sáng nhận vào làm phóng viên. Ðây là việc làm có lương đầu tiên trong đời tôi. Tôi vào đời với việc làm phóng viên nhật báo. Tôi gặp May ngay từ những bước đầu vào đời. Từ năm 10 tuổi, sau khi dọc hai tiểu thuyết Giông Tố, Trường Ðời, tôi muốn khi tôi lớn, tôi sẽ viết tiểu thuyết. Việc làm phóng viên nhà báo mở đường cho tôi trở thành người viết truyện.

Ava Gardner và James Mason

Ava Gardner và James Mason

Lê Minh – Ði và Sống – bảo tôi:

“Thanh Sanh báo Áng Sáng cần một rì-pọc-tơ. Mày đến xem. Nói tao giới thiệu.”

10 giờ sáng tôi đến toà soạn báo Ánh Sáng, đường Bonard – sau năm 1956 là Ðường Lê Lợi, toà báo Ánh Sáng ở cạnh Tiệm Photo Tân Tiến, Restaurant Kim Hoa, Cinema Casino de Saigon – anh Thanh Sanh đưa một phóng sự ngắn về chiến sự ở Bắc Việt cho tôi dịch. Phóng sự cắt trong báo Pháp. Anh xem qua bài tôi dịch rồi quyết định ngay: Toà báo nhận tôi làm nhân viên, lương mở đầu 1.500 đồng một tháng. Hôm sau tôi đến tòa báo làm việc ngay. Ba tháng sau anh Thanh Sanh tăng lương tôi lên 1.800 đồng. Không những tôi không đòi lên lương, tôi không nghĩ cả đến chuyện xin tăng lương. Với tôi – năm 1951 tôi 20 tuổi, số tiền lương tháng 1.500 đồng là quá đẹp, quá đủ cho tôi. Mỗi tháng tôi giúp mẹ tôi 500 đồng, tôi ăn cơm nhà, tôi không phải chi tiền nhà. Có tiền, tôi may mặc theo ý tôi, đi giầy da, đội mũ nỉ – tôi thích đội mũ – đeo đồng hồ Wyler. Tôi may bộ veston thứ nhất bằng tiền của tôi.

1951 – 2013.. Sáu mươi mùa xuân đã qua..Hôm nay sống nhửng ngày cuối đời ở quê người, tưởng niệm hoa niên, những ngày đầu vào đời, những bước đầu vào làng báo, việc làm thứ nhất, người thiếu nữ thứ nhất trong đời, tôi thấy tôi phải cám ơn anh Thanh Sanh – Từ lúc anh tự ý tăng tiền lương cho tôi, chưa một lần tôi cám ơn anh – Hôm nay tôi cám ơn anh. Chắc anh qua đời lâu rồi. Những năm 1973, 1974 có vài lần tôi gặp lại anh Thanh Sanh. Anh nghỉ làm báo từ sau năm 1963. Anh dịch tài liệu cho Sở Thông Tin Hoa Kỳ – USIS, Số 8 đường Lê Quý Ðôn – anh đến lấy tiền công dịch. Trong 20 năm làm báo của tôi, anh Thanh Sanh là ông chủ bút duy nhất tự ý tăng tiền lương cho tôi.

Anh Chu Tử là ông chủ báo duy nhất nói với tôi:

“Báo bây giờ có tiền. Anh muốn bao nhiêu, anh cứ nói.”

Anh trả tôi 20.000 đồng một tháng cho tiểu thuyết phóng tác Người Yêu Người Giết của tôi đăng trên Nhật báo Sống. Truyện phơi-ơ-tông của tôi đăng cùng thời ở những báo khác tôi được trả tiền tháng cao nhất là 10.000 đồng.

Bà Bút Trà là bà Chủ Báo duy nhất đăng báo gọi tôi trở về toà soạn Nhật báo Sàigònmới. Hai năm trước tôi bỏ toà báo vì tôi đòi tăng lương mà không được chấp thuận. Gặp lại tôi, bà Bút Trà nói:

“Biết anh có tài nhưng trước đây báo nghèo không đài thọ được anh nên chúng tôi phải để anh đi, Nay báo bán được, có tiền, chúng tôi mời anh về.”

Năm 1967 tôi từ biệt tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Ðại Tá Vũ Quang làm một tiệc tiễn đưa tôi – buổi tiệc ở Nhà Hàng Victoria có vợ tôi đi với tôi – Ðạt Tá nhân danh nhật báo Tiền Tuyến tặng tôi cái máy chữ Brother có dấu tiếng Viêt, cái máy đánh chữ thứ nhất trong đời tôi – Ðại Tá nói:

“Chúng tôi muốn anh Thủy coi báo Tiền Tuyến là nhà anh. Anh đi đâu thì đi, khi nào anh muốn trở về nhà, xin anh trở về.”

Nhắc chi ngày xưa đó…. ..

Nhắc chứ. Sao lại không? Nhắc lại những chuyện ngày xưa, tôi thấy lòng tôi không se buồn, lòng tôi ấm lại.

o O o

Năm xưa ấy – năm 1951, 1952 – tôi chưa nghiện qua một thứ g, thuốc điếu ngày tôi hút độ 3, 4 điếu, không hút không sao, cà phê chưa bắt buộc phải uống, chưa có thói quen ngủ trưa. Những tòa báo Sài Gòn năm ấy chỉ làm việc buổi sáng. Nhưng buổi chiều tôi cũng đến tòa báo xem có việc gì không. Một buổi chiều trong những buổi chiều ấy, đứng trên đường Bonard nhìn người qua lại, tôi bỗng cảm thấy tôi thiếu một cái gì.

PANDORA và Hộp Vàng.

PANDORA và Hộp Vàng.

Ngay khi đó tôi không biết tôi thiếu cái gì, tôi cần cái gì. Nhiều năm sau nhớ lại chuyện xưa, tôi mới biết khi ấy tôi thiếu Tình Yêu, tôi cần có Người Yêu. Năm ấy tôi 20 tuổi.

Tôi nhìn thấy Nàng lần đầu vào lúc 4 giờ một buổi chiều, nàng đến sạp báo bên cạnh cửa rạp Casino xem báo mới. Nàng dáng người xinh xinh, mặt trái soan, da trắng, nàng mười sáu, mười bẩy tuổi. Tôi thấy nàng mua tờ tuần báo Thẩm Mỹ. Tuần sau, đúng ngày tuần báo Thẩm Mỹ phát, hành, tôi cầm sẵn tờ Thẩm Mỹ mới, trong có lá thư tôi viết cho nàng.

Tôâi đứng chờ nàng ra mua báo. Ðúng như mong muốn của tôi, nàng đến sạp báo đúng lúc tôi đứng chờ nàng. Tôi nói với nàng:

“Tôi có tờ báo này tặng cô.”

Tôi lương thiện mở hé tờ báo cho nàng thấy có lá thư tôi trong đó. Nàng thấy lá thư  của tôi trong tờ báo, nàng vẫn cầm tờ báo. Việc Nàng cầm tờ báo trong có lá thư cho tôi biết nàng chấp nhận cho tôi được nói chuyện với nàng.

Nàng là gái Bắc. Ông thân nàng vào Sài Gòn từ những năm 1928, 1930, nàng ra đời ở Sài Gòn. Ông thân nàng làm chủ một tiệm ảnh.

Nàng không dấu tôi chuyện nàng vì bệnh nên phải nghỉ học. Nàng yếu phổi. Nàng hẹn tôi chờ nàng khoảng 9 giờ một buổi sáng ở cửa Tây chợ Bến Thành. Nàng đi chợ ra, áo bà ba trắng, quần thâm, đi guốc. Nàng xinh quá. Chúng tôi vào một tiệm ăn đường D’Espagne ăn sáng.  Ðến buổi gặp nhau này chúng tôi mới hỏi tên nhau.

Bốn giờ chiều tôi đến phòng mạch bác sĩ chờ nàng. Nàng đến khám bệnh định kỳ. Chiều nay nàng mặc áo dài mầu xanh lá cây, quần trắng, đi giép. Chúng tôi vào Sở Thú. Nàng và tôi ngồi trên cỏ chụp hình. Nàng là người thiếu nữ thứ nhất chụp ảnh với tôi.

Bốn giờ chiều Ngày Mồng Hai Tết chúng tôi vào Rạp Eden xem phim Pandora. Ðây là lần thứ nhất tôi  xem xi-nê với một thiếu nữ.

Pandora, phim mầu Technicolor. Ava Gardner và James Mason trong hai vai chính. Ava Gardner từng được vinh danh là “Sinh Vật đi hai chân Ðẹp Nhất Hành Tinh.” Chuyện phim xẩy ra ở một thị trấn du lịch trên một bãi biển miền Nam Mỹ. Người đẹp Ava Gardner là nữ khách được nhiều người yêu mê. Nhưng ai yêu nàng cũng gặp những chuyện không may,  gặp tai họa khốn khổ. Phim mở đầu trong một Bar rượu. Có năm, sáu người trong BarChàng thi sĩ cùng ly rượu ngồi vào piano. Chàng buông hai viên thuốc vào ly rượu:

“Thuốc độc.” Chàng nói. “Tôi yêu nàng. Nàng không yêu tôi. Tôi không thiết sống.”

Chàng vừa đàn vừa ngâm bài thơ chàng làm tặng Nàng, bài thơ cuối cùng của chàng. Hai viên thuốc sủi tăm rồi tan trong rượu. Ðọc xong bài thơ, chàng nâng ly rượu lên uống. Rồi chàng lại đàn, lại đọc thơ. Chàng ngã xuống.

Trong Bar có ông bác sĩ. Ông xem mạch chàng thi sĩ, ông nói:

“Anh này chết rồi.”

Trên đỉnh dốc núi nhìn xuống biển, NhàVô địch Xe Ðua Thể Thao đứng bên chiếc xe đua của chàng. Nàng đứng bên xe:

“Anh quí cái xe này hơn hay anh quí tôi hơn?” Nàng hỏi.

“Anh quí em hơn.” Chàng đáp.

Nàng ra lệnh:

“Tôi muốn anh đẩy cái xe này xuống biển.”

Nhà Vô địch đẩy cái xe đua từ trên đỉnh dốc núi xuống biển.

Chàng – James Mason – là một du khách huyền bí. Chàng làm chủ một du thuyền trắng, đẹp. Du thuyền đậu ngoài khơi. Chàng lên khu du loch mướn một vi-la sống như một du khách. Tình cờ chàng và nàng gặp nhau trên bãi biển. Nàng bị chàng hấp dẫn. Khi ấy có một chàng đấu bò rừng – một matador người bản địa – yêu Nàng. Chàng Matador  biết Nàng yêu người thuyền trưởng thanh lịch.

Chàng Thuyền Trưởng và Người Ðẹp đi ăn tối. Vào lúc nửa đêm, Thuyền Trưởng trở về vi-la chàng mướn. Ðêm trăng, chàng đi qua vườn cây. Chàng Matador chờ sẵn trong vườn, chàng phóng lưỡi dao găm. Ánh dao bay trong trăng, đến cắm phập vào lưng chàng Thuyền Trưởng. Chàng ngã sấp mặt xuống đất.

Chàng cầu nguyện:

“Xin Chúa cho con được chết.”

Trường đấu bò rừng rực nắng, đầy người, khán giả reo hò hoan hô chàng Matador sắp chiến thắng con bò rừng hung dữ. Giai nhân Ava Gardner ngồi ở hàng ghế trên khán đài, Bên nàng là chiếc ghế trống. Nàng đang băn khoăn vì chàng Thuyền Trưởng chưa đến. Ðêm qua khi chia tay nhau, chàng hứa chàng sẽ đến xem trận đấu bò rừng với Nàng.

Dưới sân, chàng Matador  sắp đâm nhát kiếm cuối cùng kết liễu cuộc sống của con bò rừng đã bị chàng làm cho trọng thương. Theo thông lệ, chàng đến đứng trước chỗ Ava ngồi, chàng sẽ ném cái mũ lên cho Nàng. Việc chàng Matador ném mũ cho ai nói lên việc chàng tặng con bò rừng  cho người đó.

Chàng Matador nhìn lên Người Ðẹp. Ðúng lúc chàng sắp ném mũ thì chàng trông thấy Người Thuyền Trưởng Tình Ðịch của chàng, đi đến chỗ Nàng ngồi. Thuyền Trưởng xanh sao, vẻ mệt mỏi, nhưng chàng vẫn đến được với Người Ðẹp.

Chàng Matador ngẩn người. “Sao nó vẫn sống? Ðêm qua mình phóng dao trúng vào lưng nó.” Chàng nghĩ. “Nó phải chết chứ. Làm sao nó sống được?”

Trong lúc chàng Matador ngẩn người, con bò rừng xông tới húc chàng bay lên.. .. Chàng chết giữa đấu trường.

Ðêm khuya. Chỉ có Chàng và Nàng trên du thuyền.

“Anh chưa kể chuyện đời anh với ai. Em là người đàn bà thứ nhất anh kể. Vì Em yêu anh, anh phải nói sự thật về Anh để Em biết. Anh là người bị trừng phạt: anh phải sống mãi, anh không được chết. Ngày xưa anh là Thuyền Trưởng một thuyền buôn. Anh và thuyền đi xứ lạ trong nhiều tháng. Khi về nhà anh nghi vợ anh ngoại tình. Bị anh nghi oan, nàng tự vận, Thiên Chúa phạt anh:

“Người đàn bà đó yêu ngươi mà ngươi nghi oan cho nàng làm nàng phải chết. Ngươi đã phụ bạc nàng. Ngươi sẽ sống mãi dưới trần gian với nỗi ân hận của ngươi. Ðến bao giờ có người đàn bà yêu ngươi sẵn lòng chịu chết cùng ngươi, ngươi mới được chết.”

Chàng kể tiếp:

“Từ đó anh phải sống trong không biết là bao nhiêu năm. Anh phải chịu bao nhiêu đau khổ. Anh phải thấy những người đàn bà đẹp anh yêu già đi, thấy các nàng chết. Mà anh cứ phải sống.”

Ðêm ấy có bão lớn ngoài biển, du thuyền ra khơi.

Bão đi qua. Biển chan hoà nắng vàng. Trời trong xanh. Có xác hai người nắm tay nhau theo sóng trôi lên bãi biển.

o O o

Tối xuống, Sài Gòn Ngày Tết trời mát. chúng tôi nắm tay nhau đi bộ đến Chợ Cũ. Mồng Hai Tết, tiệm Cơm Thố Tầu đã mở cửa. Nàng hỏi tôi về chuyện phim. Pandora nói tiếng Mỹ, nhờ phim có phụ đề chữ Pháp, tôi trả lời nàng được một số câu Nàng hỏi. Lời cuối Nàng nói về phim Pandora:

“Chuyện Tình Ðẹp, nhưng Buồn.”

Những năm 1950 tôi biết Pandora là tên một cái hộp rất đẹp nhưng bên trong có những thứ hại người. Pandora là một chuyện trong huyền thoại Cổ Hy Lạp. Năm nay – 2013 – tìm trong Internet, tôi được biết:

Pandora là tên một người đàn bà đẹp được cho xuống trần với một cái hộp thật đẹp. Nàng được Thần Zeus dặn không được mở hộp. Nhưng Nàng tò mò mở hôp. Từ trong hộp bay ra những tai họa cho loài Người: Hận Thù, Chiến Tranh, Bệnh Dịch, Bão Lụt, Phản Bội. Sợ Hãi. Pandora vội đậy nắp hộp, nhưng muộn rồi.  Nàng nói cho chồng Nàng biết việc Nàng mở hộp. Chồng Nàng nói:

“Chắc trong hộp cũng phải có gì tốt cho loài người, không lẽ chỉ có toàn sự Xấu.”

“Hết rồi. Trong hộp không còn gì.” Pandora nói.

“Em cứ mở xem.”

Pandora mở hôp, trong hộp bay ra Vật cuối cùng:

“Hy Vọng.”

o O o

Mồng Hai Tết năm 1958, thời gian an bình, thịnh vượng nhất của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, vợ chồng tôi ăn trưa trong một hàng ăn trong thị xã Ðàlạt. Tết ấy chúng tôi lên Ðalạt ăn Tết. Chúng tôi đem theo đưá con trai 2 tuổi của chúng tôi.

Tôi nhìn thấy Nàng và chồng Nàng, đưá con trai khoảng 2 tuổi của vợ chồng Nàng, trong hàng ăn. Tôi thấy Nàng, Nàng không thấy tôi.

Time goes, You say?
Oh no, We go.
Time stays!
Thời gian qua?
Em ơi, không phải.
Chúng ta qua,
Thời Gian ở lại.

*

Tiếng gió trầm tiếng ca
Tiếng phách dồn lắng xa
Nhắc cho ngày xưa đó
Ðến vơi buồn lòng ta.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích

Ngày Mồng Năm Tết Quý Tị. 2013.

Người Việt Gốc Cây

Ông Tù Người Mỹ gốc Việt Nguyễn Quốc Quân được chào đón ở phi trường Los Angeles, Hoa Kỳ.

Ông Tù Người Mỹ gốc Việt Nguyễn Quốc Quân được chào đón ở phi trường Los Angeles, Hoa Kỳ.

Bọn Cai Tù Bắc Cộng bắt những người dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bị chúng giam tù không được gọi  người Tầu là Tầu, phải gọi người Tầu là người Hoa. Gần như tất cả những người Tầu sinh sống ở Việt Nam đều có quốc tịch Việt, nên khi bị bắt  tù, họ được gọi là “Người Việt gốc Hoa.”

Tôi là một trong số những người dân nước Việt Nam Cộng Hòa bị bọn Bắc Cộng giam tù, theo lệnh của bọn cai tù, tôi gọi những người Tầu là người Hoa, và người Việt gốc Hoa. Tôi gọi theo rồi tôi quen đi.

Những năm 1988, 1989, vào những ngày gần Tết, trong nhà tù Chí Hòa những người tù người Việt gốc Hoa, những người tù người Việt gốc Miên được bọn Cai Tù đối xử nhẹ tay hơn: cho ra gặp vợ con, nhận quà, có người được nhân viên Tòa Lãnh Sự của họ đến thăm. Bọn tù người Việt nằm trơ không được ai hỏi đến, anh em tù người Việt nói với nhau:

“Tù người Việt gốc Hoa, tù người Việt gốc Miên được đặc biệt đối xử, mình là người Việt không có gốc, nên mình bị bỏ quên.”

“Không. Mình cũng có gốc chứ. Mình là Người Việt gốc Cây.”

Ông Tù “Người Việt gốc Cây” Phạm Văn Thu bị xử án tù chung thân ở Phú Yên, Việt Nam. Hai tên Công An Cai Tù sẵn sàng trấn áp người tù.

Ông Tù “Người Việt gốc Cây” Phạm Văn Thu bị xử án tù chung thân ở Phú Yên, Việt Nam. Hai tên Công An Cai Tù sẵn sàng trấn áp người tù.

Ba mươi mùa lá rụng sau những ngày nghe tiếng “Người Việt gốc Cây” trong Nhà Tù Chí Hoà, những ngày cuối năm 2012, đầu năm 2013, ở xứ người, tôi nhớ tiếng “Người Việt gốc Cây” khi đọc những bài báo tường thuật hai vụ án bị bọn Bắc Cộng cho là “âm mưu lật đổ bàn thờ Bác Hồ” ở quê nhà. Những người bị bọn Bắc Cộng cho là có tội trong hai vụ án này là người Việt, nhưng họ được, và bị bọn Bắc Cộng đối xử khác hẳn nhau, vì họ là hai loại người: Nguời Việt dân Mỹ – tức Người Mỹ gốc Việt – và Người Việt dân Việt, ttức Người Việt gốc Cây.

Người Việt dân Mỹ” – Vietnamese American – dễ hiểu là “Người Mỹ gốc Việt.”

Ðây là vụ ông Người Mỹ gốc Việt Nguyễn Quốc Quân:

South China Morning Post:

An American prodemocracy activist has returned to the United States after nine months’ detention over accusations that he conspired to overthrow Vietnam’s communist government.Nguyen Quoc Quan smiled broadly as he was greeted by his wife, children and other family members, who bore balloons and placed garlands around his neck as he got off a plane at Los Angeles International Airport on Wednesday night.

“I love you a lot, and I feel very near you every minute of jail,” he told his wife, Huong Mai Ngo, in Vietnamese, then repeated in broken English for reporters. He pulled her to his side. “Now even closer,” he said with a smile. He said he was proud of what he accomplished and would be willing to return to Vietnam, with his wife’s approval.

“The communist government of Vietnam can’t stop you, how can I?” she said.

He answered only a few questions, promising to share details at a news conference on Saturday, including the contents of a handwritten letter he brought back from another prisoner.

Bản tin trên được đăng trên tờ báo South China Morning Post. Phỏng dịch:

Ở tòa án mỗi người Tù bị hai tên Công An ngồi bên.

Ở tòa án mỗi người Tù bị hai tên Công An ngồi bên.

Một người Việt Mỹ hoạt động cho dân quyền đã trở về Hoa Kỳ sau chín tháng bị giam tù vì bị kết tội âm mưu lật đổ chính quyền. Ông Nguyễn Quốc Quân cười tươi khi ông được bà vợ ông, các con ông và thân nhân chào đón, choàng vòng hoa ở phi trường Los Angeles.

“Anh yêu em nhiều, anh cảm thấy anh rất gần em trong những ngày anh sống trong tù.” Ông Nguyễn Quốc Quân nói với bà vợ ông, bà Hương Mai Ngô, bằng tiếng Việt, ông nói lại câu ấy bằng tiếng Anh với phóng viên báo chí. Ông ôm sát bà vợ, “Nay chúng ta gần nhau hơn,” ông nói với nụ cười. Ông nói ông kiêu hãnh vì những gì ông đã làm và ông sẵn sàng trở lại ViệtNam nếu bà vợ ông đồng thuận.

“Chính quyền cộng sản Việt Nam không ngăn được anh về, làm sao em ngăn.” Bà nói.

Ông chỉ trả lời vài câu, ông hứa ông sẽ nói nhiều trong cuộc họp báo ngày Thứ Bẩy, ông sẽ nói cả về một thư viết tay của một tù nhân khác do ông mang về.

o O o

Ðây là một đoạn trong bài tường thuật cuộc hội báo của ông Nguyễn Quốc Quân. Bài đăng trên Blog Việt Tân.

Khoảng hơn 1 giờ, hội trường đã hầu như đầy nghẹt. Ngoài đại diện các cơ quan truyền thông còn có sự hiện diện của 2 nghị viên và tân Thị trưởng Tạ Ðức Trí của Westminster, một số nghị viên thành phố Garden Grove, và đại diện các vị dân cử Loretta Sanchez, Dana Robacher, Lou Correa…

Khi anh Nguyễn Quốc Quân và vợ là chị Mai Hương được giới thiệu thì cả hội trường đồng loạt đứng dậy vỗ tay chào mừng. Chị Mai Hương đã rớm nước mắt khi kể lại những khó khăn chị trải qua và đã phải cố gắng giữ vững tinh thần để tranh đấu suốt thời gian chồng nằm trong tay cộng sản.

Anh Nguyễn Quốc Quân sau một khoảng khắc xúc động đã trở lại bình tĩnh từ tốn kể lại những gì anh trải qua suốt thời gian trong tù. Anh nói chuyện thật sống động, thản nhiên và nhiều lúc dí dỏm. Anh kể tháng Tư, 2012 khi anh vừa bước xuống phi trường là bị công an bắt giữ ngay. Công an biệt giam anh trong căn phòng khoảng 9 mét vuông kín mít với “đầy đủ tiện nghi” như cầu tiêu, phòng tắm và cả 1 “TV” để bên ngoài theo dõi mọi sinh hoạt của anh 24/24. Anh bị giam tại trại B34, nơi dành cho những tù nhân “đặc biệt”. Ở đây anh không bị hành hạ thể xác và không bị công an “mày tao”. Tuy thế họ hành hạ bằng nhiều cách khác như đặt một ngọn đèn sáng choang suốt ngày đêm, cô lập anh hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Anh cười chú thích:

“Có lẽ cũng nhờ không biết tin tức gì về những nhà tranh đấu khác bị xử nặng nên không biết sợ”.

Tuy nhiên, anh đã phải vài lần phản kháng bằng cách tuyệt thực, một lần để đòi lại những sách họ tịch thu của anh và một lần để được gặp luật sư như luật định. Anh cũng tự nêu câu hỏi:

“Nhiều người thắc mắc tôi đã bị bắt 4 năm trước, thế sao còn trở về để bị bắt nữa, như vậy tôi có khờ khạo không?”

Anh tự trả lời:

“Tôi không khờ khạo chút nào, vì muốn tranh đấu cho niềm tin của mình thì phải về tận nơi. Hơn nữa anh chị em Việt Tân đều thường xuyên thay phiên nhau trở về, tôi cũng vậy, tới phiên thì về thôi”

Anh cười nói thêm:

“Phần lớn anh em đều âm thầm hoạt động và trở về an toàn, có lẽ tôi kém khả năng nên mới bị bắt hoài”

Anh tâm sự tiếp:

“Trước khi trở về tôi đã suy tính xác xuất 60% là sẽ bị bắt và đã chuẩn bị cho mình 2 phương án: nếu không bị bắt thì âm thầm thi hành nhiệm vụ, còn nếu bị phát hiện thì cũng là cơ hội cùng chia sẻ với các nhà tranh đấu cho nhân quyền khác”

Qua phần hỏi & đáp của khán giả, có 2 câu đáng chú ý nhất, đại ý:

1- Anh đã bị bắt năm 2007, tại sao cộng sản còn cho anh về lần này để rồi lại bắt và lại thả?

Anh Quân trả lời:

“Thực sự tôi đã về nước vài lần sau 2007 với những cái tên khác và lần này mới bị bắt. Nghĩa là cộng sản cũng chẳng phải ba đầu sáu tay gì. Nếu mình nhất định làm thì sẽ làm được. Lần này tôi về tới phi trường nó mới biết và bắt tôi.”

2- Anh có lời khuyên gì cho những người đi sau?

Anh trả lời:

“Niềm tin. Khi mình có niềm tin vững mạnh thì sẽ không sợ và khi không sợ thì việc gì cũng có thể làm được.”

Anh nói suốt thời gian bị bắt cầm tù anh luôn bình tĩnh, không hề sợ vì biết mình chẳng làm gì sai trái. Công an mới sợ, mới lúng túng vì chẳng biết ghép anh vào tội gì.

o O o

Và đây là bài tường thuật vụ xử những “Người Việt gốc Cây” ở Việt Nam.

Bài trên Công An online:

Sau 5 ngày xét xử sơ thẩm, sáng nay (4-2), Toà Án Nhân Dân tỉnh Phú Yên tuyên phạt 22 bị cáo trong tổ chức chính trị có tên gọi “Hội đồng công luật công án Bia Sơn” phạm vào tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (điều 79, khoản 1, Bộ Luật Hình sự Việt Nam).

Kẻ cầm đầu là Trần Công (tức Phan Văn Thu SN 1948, quê xã An Thạch, huyện Tuy An, Phú Yên) nhận mức án tù chung thân; các bị cáo Lê Duy Lộc, Vương Tấn Sơn, mỗi bị cáo 17 năm tù; 6 bị cáo nhận mức án 16 năm tù gồm Võ Thành Lê, Nguyễn Kỳ Lạc, Võ Ngọc Cư, Tạ Khu, Ðoàn Ðình Nam, Từ Thiện Lương và Võ Tiết, bị cáo Lê Phúc 15 năm tù; 3 bị cáo nhận án 14 năm tù gồm Nguyễn Dinh, Ðoàn Văn Cư, Phan Thành Ý; bị cáo Ðỗ Thị Hồng và Trần Phi Dũng, mỗi người bị phạt 13 năm tù; 5 đồng phạm khác nhận mức án 12 năm tù là Lê Trọng Cư, Trần Quân, Lương Nhật Quang, Lê Ðức Ðộng, Nguyễn Thái Bình; người lĩnh mức án thấp nhất với 10 năm tù là Phan Thành Tường.

Theo cáo trạng, tổ chức phản động “Hội đồng công luật công án Bia Sơn” có tiền thân là tổ chức “Ân đàn đại đạo” (thành lập năm 1975) do Phan Văn Thu cầm đầu. Thu bị bắt, đưa đi tập trung cải tạo 10 năm tại trại A30 Phú Yên (nay là cơ sở giáo dục A1 – Bộ Công an) nhưng đến năm 1976 thì trốn trại và bị bắt lại ngày 26-8-1978. Tháng 5-1983 Thu ra trại và bị quản thúc tại địa phương nhưng đến năm 1984 trốn khỏi nơi quản thúc y vào Ðồng Nai. Tại đây, từ năm 1985 -1990, Thu đổi tên là Trần Công. Năm 2000, Phan Văn Thu móc nối với một số đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền ở các tỉnh Bình Ðịnh, Phú Yên, Ðắc Nông, Nha Trang từng tham gia “Ân đàn đại đạo” và những phần tử xấu để mưu toan tập hợp lực lượng tiếp tục chống phá chính quyền nhân dân.

Năm 2003 lợi dụng chính sách đổi mới kinh tế của Nhà nước ta, Phan Văn Thu cùng “đàn em” thành lập Công ty TNHH Hoàng Long ở Tây Nguyên. Tiếp đó, Thu xúi giục đồng bọn thành lập Công ty TNHH Hoàng Long tại Phú Yên (sau đổi thành Công ty TNHH Huỳnh Long) và đầu tư xây dựng Khu du lịch sinh thái Ðá Bia.

Từ năm 2004 đến 2011, Trần Công về khu du lịch sinh thái Ðá Bia (huyện Ðông Hòa, Phú Yên), lấy nơi đây làm trung tâm chỉ huy hoạt động để bí mật phát triển tổ chức có danh xưng “Hội đồng công luật công án Bia Sơn” ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước với trên 300 đối tượng tham gia, trong đó có cả Việt kiều. Bọn pnản động này  lập thành 12 ban, 26 pháp hội và 4 nhóm gồm 293 đối tượng ở một số tỉnh, thành trong nước. Những kẻ cầm đầu sáng tác, biên soạn nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước, vu khống, nói xấu chế độ hiện tại. Bọn này còn dự kiến cả tên nước, quốc kỳ, quốc ca, thủ đô, ngày quốc khánh, bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, sắc phong 72 tướng lĩnh và thời gian hành động bắt đầu từ năm 2013. Chúng cho rằng năm 2013 chế độ Cộng sản Việt Nam sẽ bị lật đổ và chúng sẽ có thời cơ để thay thế, cầm quyền ở Việt Nam, chúng sẽ thành lập nước “Ðại Nam Kinh Châu” theo “chủ thuyết Công bản”.

Hành vi của bị cáo Phan Văn Thu và đồng phạm đã đi ngược lại nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Sau thời gian củng cố hồ sơ, chứng cứ, sáng 5-2-2012, lực lượng an ninh Công an Phú Yên đã đập tan bộ máy trung ương của tổ chức phản động này, bắt đối tượng cầm đầu Trần Công cùng 21 đối tượng tay chân cốt cán. Qua khám xét, lực lượng chức năng đã thu giữ hàng trăm tập tài liệu thể hiện nội dung cương lĩnh hoạt động của tổ chức phản động này; đồng thời thu giữ 19 kíp nổ, 10 bộ đàm, một ống nhòm, hai máy tính xách tay, một máy ảnh, một máy quay phim, hơn 12.000USD và gần 190 triệu đồng.

o O o

CTHÐ: Ở Kỳ Hoa có hai ông Doctor Nguyễn Quốc Quân: một  ông Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân ở Virginia, một ông Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân ở California. Hai ông cùng nổi tiếng.

Ông Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân ở California là công dân Mỹ nên ông được chính phủ Hoa Kỳ bảo vệ, bọn Bắc Cộng phải đưa ông từ nhà tù ra, tiễn ông lên phi cơ về Mỹ.

Những người tù Người Việt gốc Cây ở Phú Yên – vì là Tù Người Việt gốc Cây – bị phang những án tù nặng làm tôi kinh sợ: tù chung thân, 20 năm, 17 năm, 15 năm, án tù nhẹ nhất là 10 năm – những Người Tù Việt Gốc Cây anh em tôi sẽ chịu  đầy đọa trong ngục tù cộng sản không biết đến bao giờ!

Tù Mỹ gốc Việt về Mỹ phây phây.
Tù Việt gốc Cây nằm đây chịu chết.

Một Bà, Hai Ông

Ngày xuân ông Táo dạo chơi xuân
Ðội mũ, đi hia, chẳng mặc quần.
Ngọc Hoàng phán hỏi: “Sao lại thế?”
Thưa rằng: “Hạ giới chúng duy tân.”

taocongMột Tết xưa – khoảng năm 1940, 1941 – tôi đọc bài Thơ trên trong một tập báo Xuân. Dường như là tờ báo Xuân Ngày Nay. Năm ấy tôi 10 tuổi. Tết đến tôi thấy người ta làm, bán và mua những bộ quần áo bằng giấy để cúng ông Táo nhân Ngày Ông Táo lên chầu Trời – Ngày 23 Tháng Chạp – Bộ quần áo Táo Quân hàng mã xanh vàng gồm: mũ cánh chuồn, áo bào, đôi hia, nhưng không có quần. Nên một nhà thơ hài hước nào đó năm xưa ấy théc méc: như vậy là Táo Quân lên chầu Trời có mũ, áo, hia mà không có quần. Ngọc Hàng hỏi tại sao lại ăn mặc bê bối như thế, ông Táo trả lời:

“Thưa .. Tại vì bay giờ bọn hạ giới chúng nó theo Tây.”

Những ông thợ hàng Mã Bắc Kỳ xưa khi may cắt những bộ y phục bằng giấy cho Táo Công đã tự ý bỏ không cắt cái quần. Như vậy không chỉ hai ông Táo không mặc quần mà bà Táo cũng không quần.

Ông cha tôi Thờ Táo Quân theo Tầu. Sự bắt chước này không biết có từ đời nào. Mỗi năm Tết Nguyên Ðán đến, người nước tôi lại làm bữa tiệc cúng đưa tiễn Ông Táo về chầu Trời. Tôi miễn nhắc lại sự tích Táo Quân. Tôi théc méc:

Ngày 23 Tháng Chạp một ông Táo về chầu Trời hay cả hai Ông Táo cùng về chầu Trời?

Bà Táo có theo ông Táo về chầu Trời hay không?

Nhà đã có Táo Quân, sao lại còn có Thổ Công?

Mỗi nhà có một Thổ Công hay có hai Thổ Công?

Công việc của Thổ Công và Táo Công có khác nhau không?

Ông Thổ Công có bà Thổ Công không?

Hai ông Táo chuyên việc dò xét, để ý, bới móc, ghi chép những việc làm, những lời nói của chủ nhà, làm báo cáo hàng năm đem lên nộp Ngọc Hoàng. Làm việc ấy Táo Công là Tổ Sư Mật Thám.

Mời quí vị đọc bài phiếm luận ông Tản Ðà viết về Thổ Công.

Một Bà Hai Ông Tây Tạng

Một Bà Hai Ông Tây Tạng

Tản ÐàThổ Công phải đòn.

Trong một xư, một khoa thi có hai chuyện.

Một nhà có con gái đã hứa gả cho một người học trò nghèo và nuôi cho ăn học. Ðến khoa ấy, anh đồ hỏng thi, về bị vợ bỏ.

Một nhà khác, con trai nhà ấy thi đỗ, về nhà bỏ vợ.

Cuối năm, sổ gia thư đệ lên đến Thiân Tào, Ngọc Hoàng giận lắm, sai thảo tránh đòi hai Thổ công ở hai nhà ấy lên, phán rằng:

“Ta cho các ngươi xuống làm Thổ công nhà người ta; ngày giỗ, ngày Tết, mồng một, ngày rằm, khi dựng nhà, lúc bán loin, các ngươi đều được cơm no, rượu say, các ngươi có chức phận phải giữ cho cửa nhà người ta yên ổn, người ta phải đạo vợ chồng. Vẻ chi một sự khoa danh nhỏ mọn mà đến nỗi con bỏ chồng, thằng ray vợ. Việc danh giáo đổ nát như thế thời các ngươi ở đấy coi việc gì?”

Phán xong, Ngọc Hoàng sai nọc hai Thổ công xuống, đánh cho mỗi Thổ công 30 roi, cách tuột chứcThổ công. Xong, ngài đòi ông Xếp ( Chef ) Tòa Tư Văn đến, phán:

“Cái trò thi cử ở trần gian nay làm hại đến luân lý như thế. Từ nay bỏ hẳn thi.

Ông Tư Văn cố xin cho thi thêm mấy khoa nữa rồi cấm. Ngọc Hoàng cho các xứ khác được thi ba khoa nữa, riêng xứ ấy thì cấm ngay tức khắc. Vì thế cho nên ở xứ ấy bây giờ không có khoa thi.

Hai bác Thổ công bị cách chức lủi thủi dắt nhau đi mất. Hai chú Táo quân ở nhà chờ mãi không thấy Thổ công về, đi hỏi mới biết chuyện. Hai chú Táo bảo nhau:

“Ừ thôi. Cũng may cho hai chúng ta. Vì ta ăn xó, mó niêu nên được vô tội vạ.”

Bèn có bài thơ bốn câu:

Khéo thay đổi vợ với thay chồng.
Ba chục roi đòn đít Thổ công.
Nhắn bảo trần gian cho chúng biết:
“Mày thi làm bận đến phường ông.”

Ông Tản Ðà thi trượt, mộng công danh của ông không thành.Ôâng không được làm Tri Huyện, Tri Phủ, ông không lấy được người tình của ông vì ông thi trượt, nên ông cay cú. Nỗi bất mãn với việc thi cử của Nhà Thơ Tản Ðà biểu lộ trong bài Phiếm Luận trên đây của ông,

o O o

Người đời chỉ quen với chuyện Một Ông, Hai, Ba Bà. Ở đời những vụ Thuyền Trưởng chạy Hai, Ba Tầu có nhiều nhưng cũng có những vụ Một Bà Chủ Tầu dùng đến Hai, Ba ông Thuyền Trưởng.

Những vụ Một Vợ, Hai Chồng – nghe nói – hiện nay còn có nhiều ở nước Tây Tạng. Mời quí vị đọc vài chuyện Một Vợ, Hai Chồng ở nước Việt ta. Hai chuyện dưới đây được trích trên Internet.

Bà Chủ Tầu Phạm Thị Thịnh.

Hồi trẻ, vốn có nhan sắc khiến nhiều chàng trai mơ ước, rồi chị cưới (không hôn thú) anh La Văn Khảm, người đàn ông hơn chị 10 tuổi, đã qua một đời vợ, quê ở Xuân Trường (Nam Ðịnh).

Khi đã có với nhau hai mặt con, năm 1985, gặp lúc mất mùa, chồng chị ngược xuôi kiếm tiền rồi rất lâu không thấy về, cũng không tin gì cho vợ.

Thời gian vắng chồng, chị được người đàn ông tên Nguyễn Văn Nhất, thợ sửa chữa tàu, quê ở Bình Lục, Hà Nam, giúp đỡ. Dần dà, họ nảy sinh tình cảm, chị đưa người đàn ông thứ hai về ngôi nhà đang sống.

Ðược hơn hai năm, người chồng chị tưởng đã chết bỗng trở về. Vào nhà thấy vợ mình đang nằm cạnh một người đàn ông khác, ông Khảm lầm lũi ra chợ mua đồ ăn và chai rượu về và làm một bữa liên hoan “gặp mặt thân mật”.

Sau bữa “liên hoan” ấy, ông Khảm và ông Nhất cùng chung sống với bà Thịnh dưới một mái nhà. Bà Thịnh bảo, ngôi nhà bà đang ở hiện giờ là do hai ông cùng góp tiền làm chung.

Bà Trần Thị Diễm, một người hàng xóm, cho biết: “Trong suốt hơn 20 năm, cả ba người chung sống trong ngôi nhà ấy. Họ luôn quây quần bên nhau, không có lấy một tiếng cãi vã. Chúng tôi một vợ, một chồng thỉnh thoảng còn va chạm”.

Tiết lộ bí quyết giữ gìn hạnh phúc trong một gia đình phức tạp như vậy, bà Thịnh cho biết chính mình luôn phải là người cầm cân nảy mực, giữ công bằng trong cư xử. Bà không sinh thêm con với ai nữa. “Tôi thật sự cảm ơn hai ông ấy. Không có họ, tôi không thể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống”, bà gạt nước mắt.

Tháng 11 năm ngoái, ông Nhất về hưu, đòi về quê sống với họ hàng, bà và ông Khảm can ngăn không được.

Một bà lấy hai anh em làm chồng

Thời gian gần đây dư luận khá xôn xao về trường hợp “một vợ… hai chồng” ở Thừa Thiên Huế. Chuyện một bà lấy hai ông, lại là hai anh em ruột và cùng sống dưới một mái nhà thì đây có lẽ là gia đình duy nhất ở Việt Nam.

Rõ ràng cuộc hôn nhân “tay ba” này là trái luật và trái với thuần phong mỹ tục của người Việt. Tuy nhiên theo những người dân ở thôn 6, xã Hồng Kim, huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế), nơi có gia đình có một không hai này thì gần 30 năm qua, hai chồng một vợ cùng 10 người con chung vẫn sống rất hòa thuận, êm ấm.

Ðến thôn 6, xã Hồng Kim chỉ cần hỏi nhà anh em ông Cu Tua bạn sẽ nhận được ánh mắt nhìn tò mò và nụ cười  của bất kì ai. Một vài dân bản nhanh chóng họp chuyện trước cổng ngôi nhà đầu thôn để thắc mắc về những vị khách la từ tỉnh thành đến hỏi nhà ông Cu Tua.

Giọng nói chân chất, một cụ bà hỏi khách:

“Mấy chú tìm gặp Kăn Pênh phải không? Nó là vợ Cu Tua, nó ra đồng tắt mặt trời mới về”.

Ðúng như lời bà cụ nói, khi trời tối mịt ngôi nhà của chị Kăn Pênh mới có bóng người, ai nấy đều gùi trên lưng những chiếc gùi nặng trịch.

Vội vã đặt gùi xuống sân, người phụ nữ Pa Cô  nhiệt tình mời khách:

“Mấy chú vào nhà uống nước đợi bố Tua một tí, tôi rửa cái tay rồi lên nói chuyện với mấy chú.”

Bà Kăn Pênh mời chúng tôi  ngồi trên chiếu đã trải sẵn, ấm nước chè nóng hổi nghi ngút hơi. Ngồi khép mình trên chiếu cói, bà Kăn Pênh  kể lại hoàn cảnh gia đình mình.

Trên gương mặt người phụ nữ ấy có chút gì đó ngượng ngùng khi nghe chúng tôi thắc mắc “Con của mẹ Pênh có hai bố à?”. Kăn Pênh cười: “Vâng, con tôi có hai bố, bố nào chúng nó cũng thương như nhau, bố Tuôl với bố Tua là hai anh ruột. Tôi với bố Tuôl làm đám cưới năm 1967. Bố Tuôl đem 4 con bò, 2 con trâu, gà, vịt đến xin tôi về làm vợ. Con đầu lòng của vợ chồng tôi năm nay 31 tuổi rồi, thằng Xuân làm ở công an xã đó.”

Về chuyện có đến hai chồng cùng chung sống với mình, bà Kăn Pênh giải thích cặn kẽ:

“Bố Tuôl  tham gia thanh niên xung phong nên thường phải đi vắng nhà. Có khi bố nó ngủ trên rừng suốt tháng để đắp hào, vá đường giúp dân, lâu lắm bố mới ghé thăm nhà rồi lại đi ngay.”

Cuộc sống thiếu bàn tay đàn ông nên một mình bà Pênh phải cáng đáng mọi việc gia đình. Những lúc ông Hồ Văn Tuôl vắng nhà thì em ruột ông là Hồ Văn Tua phần thương chị dâu phận gái cực nhọc nên thường lui tới phụ giúp việc nương rẫy.

Ông Hồ Văn Tua nhớ lại:

“Ngày trước tôi dạy học cho con em dân bản ở tận Hồng Trung kia, hôm nào nghỉ dạy tôi cũng về nhà giúp chị Kăn Pênh bẻ ngô, cuốc rẫy. Chị Pênh thương tôi ở xa nên cho về cùng sống trong nhà, tôi biết ơn anh chị Pênh nhiều lắm”.

Mặc dù sống cảnh một vợ hai chồng hàng chục năm nay nhưng không ai ở thôn 6, xã Hồng Kim phàn nàn hay có lời lẽ lời xì xào về cuộc sống chung của hai anh em ông Tuôl, Tua và Kăn Pênh.

Những người con của hai bố Tuôl, Tua với mẹ Kăn Pênh rất mực lễ phép, họ quý trọng cả hai bố chứ không hề phân biệt đối xử. Anh Hồ Văn Xuôn  23 tuổi, vừa lập gia đình  cười khi chúng tôi hỏi chuyện anh có hai bố, anh  xưng hô thế nào, anh trả lời:

“Bố Tuôl, Bố Tua đều là bố của mình cả, mình quý và thương  hai bố đã nuôi Xuôn lớn, cưới vợ cho Xuôn.

Còn anh Hoàng Thanh Xuân, người Pa Cô ở đây không nhất thiết phải đặt tên con theo họ mẹ hoặc họ bố, con trai đầu của bà Kăn Pênh hiện đang công tác tại UBND xã Hồng Kim. Vừa vót dây mây vừa trò chuyện với chúng tôi, anh Xuân bộc bạch:

“Lúc đầu cũng có người bảo bố Tua cướp vợ bố Tuôl nhưng không phải, cả hai bố đều thương mẹ Pênh cả, gia đình bố mẹ sống hòa thuận, không cãi vã ảnh hưởng mọi người. Xóm giềng hai bên cũng quen dần vì hai bố và mẹ chưa hề có xích mích hay to tiếng với nhau”.

Ông Quỳnh Biên, 50 tuổi sống đối diện nhà Kăn Pênh xác nhận:

“Hai anh em bác Tua sống hay thiệt, gia đình con cháu đông nhưng sống có tình, từ ngày hai bác với Kăn Pênh chung sống chưa khi nào tui nghe họ  to tiếng”.

Giữa bản làng đại ngàn, gia đình đặc biệt của mẹ Kăn Pênh khiến nhiều dân bản phải phát ghen với cuộc sống đầm ấm, hòa thuận của gia đình đông đúc này. Trong lúc dẫn đường chúng tôi, ông Võ Trế, hàng xóm của Kăn Pênh hơn một lần ghen tỵ:

“Anh em nhà Cu Tua sống hay thiệt, cùng chung một vợ mà không lúc nào cãi nhau”

Trò chuyện với ông Tua, có người trong chúng tôi thắc mắc:

“Thế con  của ông là những đứa nào ?”

Ông Tua thản nhiên trả lời:

“Không biết  và không cần biết, đứa nào cũng là  con”.

Bà Kăn Pênh  thật thà nói:

“Cả mười đứa con của tôi đều có hai bố, tôi không biết  đứa mô là con của bố Tuôl, đứa mô là con bố Tua”.

o O o

Tôi – CTHÐ – được quen biết một gia đình Một Bà, Hai Ông ở Sài Gòn. Ba người này sống chung với nhau từ ngoài Bắc, họ di cư vào Sài Gòn năm 1954. Họ sống êm đềm, tình nghĩa hơn nhiều cặp vợ chồng một bà, một ông. Năm nay – 2013 – tôi không biết gia đình Một Bà, Hai Ông này hiện ở đâu.

Tôi nghe nói ở thành phố Falls Church, quận Fairfax, Virginia, nơi có Rừng Phong, có một gia đình người Việt Một Bà, Hai Ông. Bà Chủ Tầu dùng Hai Thuyền Trưởng làm chủ một tiệm ăn. Tôi không biết hai ông Chủ Tầu, tôi chỉ nghe nói hai ông là dân HO. Dường như không bao giờ có ông nào  đến tiệm ăn của bà vợ.

CĂN NHÀ KHÔNG CÓ MÙA XUÂN

Phim “La Belle de Saigon. “Clark Gable và Jean Harlow.

Phim “La Belle de Saigon. “Clark Gable và Jean Harlow.

Thời tôi son trẻ,  trước năm tôi 20 tuổi, tôi mê xem xi-nê một cây, một cây không phải là cây thường mà là một cây xanh rờn. Sau 4 năm xa thành phố, từ vùng kháng chiến bên kia Sông Ðuống Phúc Yên- Bắc Ninh-Bắc Giang trở về Hà Nội năm 1950, tôi đi xem xi-nê lia chia. Gần như ngày nào tôi cũng xem cxi-ne nếu tôi xoay dược tiền mua vé.  Tôi đến những rạp xi-nê Eden, Majestic, Philharmoniquc Bờ Hồ, Olympia Hàng Da, Modern Hàng Ðàn, Porte d’Or trong nhà Ðông Hưng Viên Hàng Buồm, Trung Quốc Hàng Bạc, Ciro’s Tràng Thi..vv..vv nhiều hơn tôi đến những trường học, thời gian tôi sống trong những rạp xi-nê Hà Nội nhiều hơn thời gian tôi ngồi trên ghế nhà trường.

Thời xưa ấy Hà Nội còn có hai rạp xi-nê nhỏ là Majestic Studio và Eden Studio. Tôi nhớ rạp Eden Hà Nội có những thân cột bằng đá trắng, to  cao, những cây cột đá của rạp làm tôi có cảm giác như vào một ngôi đền cổ. Rạp Eden Hà Nội khác hẳn rạp Eden Sài Gòn. Eden Hà Nội không có balcon, Eden Sài Gòn có 2 balcon: balcon thứ hai ở cao tít, nhìn xuống màn ảnh thấy nhỏ như cái chiếu, khán giả chóng mặt. Năm xưa tôi từng ngồi ở balcon thứ hai của rạp Eden Sài Gòn. Rạp Majestic Hà Nội, rạp Majestic Sài Gòn không có balcon. Trên đường Catinat những năm trước năm 1956, ngoài hai rạp Eden, Majestic, còn có rạp Cinéma Catinat; rạp này chuyên chiếu phim permanent. Rạp nằm trong hành lang từ đường Catinat sang được Charner. Vé vô cửa đồng hạng của rạp cinema permanent thứ nhất Ðông Dương này là 10 đồng; rạp bán nột tập 10 vé vô cửa với giá 80 đồng.

Trên màn ảnh rạp Olympia Hàng Da, Hà Nội.  tôi xem phim The Three Musketeers – Ba Chàng Lính Ngự Lâm – Gene Kelly trong vai D’Artagnan, Lana Turner vai Milady, Angela Lansbury vai Hoàng Hậu Marie Antoinette, Van Helflin vai Athos, June Allyson vai Constance Bonacieux. Phim mầu, Technicolor. Năm 1990Hollywood làm phim The Three Musketeers mới nhưng không hay bằng phim năm 1950. Năm 2000 Nữ diễn viên Angela Lansbury, người thủ vai Hoàng Hậu trong Ba Người Lính Ngư Lâm 1950,  còn đóng vai chính trong loạt phim TiVi Murder She Wrote.

Trên màn ảnh rạp Philharmoniquc Bờ Hồ Hà Nội tôi xem phim L’Odisseé du Dr Wassell. Phim Mỹ, Gary Cooper vai chính, đạo diễn Cecil B. DeMille, tên phim bằng tiếng Pháp nhưng phim vẫn nói tiếng Anh, phụ đề chữ Pháp. Phim mầu, thuật lại chuyến đi có thật khi Quân y sĩ  Wassell đưa một toán thương bệnh binh Mỹ từ một quân y viện ở biên giới Trung Hoa – Miến Ðiện về Hoa Kỳ. Chuyện xẩy ra khi quân Nhật mở cuộc tấn công xâm lăng những nước Ðông Nam Á trong những ngày đầu cuộc Thế Chiến Thứ Hai. Quân y sĩ Wassell là người thật. Cảnh đẹp và thơ mộng nhất của phim là cảnh chia ly ở một ga xe lửa Miến Ðiện. Có thể là ga xe lửa Rangoon. Cô đào Larraine Day đóng vai người yêu của Y sĩ Wassell. Cô là ái nữ của ông Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Miến Ðiện. Cô đến ga xe lửa tiễn biệt Y sĩ Wassell đưa toán thương bệnh binh Mỹ về Hoa Kỳ. Tầu chuyển bánh, Y sĩ Wassell đứng ở cuối tầu nhìn người yêu xa dần, mờ dần ở cuối đường tầu.

Ôi.. Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy..! Chiều nay 60 năm sau, ở xứ người, viết chuyện phim xưa, tôi  thấy mơ màng hình ảnh Larraine Day xa dần ở cuối đường tầu.

Rồi tôi theo gia đình tôi vào Sài Gòn năm 1951, năm 1952 tôi gửi truyện ngắn dự thi Cuộc Thi Truyện Ngắn Năm 1952 của nhật báo Tiếng Dội, rồi giữa năm tôi vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tòa soạn ở đường Bonard, trung tâm Sài Gòn. Thời ấy chỉ có tòa soạn nhật báo Ánh Sáng ở  đường Bonard, chỗ gần tiệm ăn Kim Hoa và Rạp Xi-nê Casino. Ngay cạnh Restaurant Kim Hoa, tiệm cơm Tây, chủ Tầu, năm xưa ấy có một nhà in chủ nhân là người Pháp. Sau năm 1956 nhà in này bị dẹp đi, thay vào đó là Tiệm Kem Kim Ðiệp, rồi Nhà Sách Lê Phan. Năm 2005, dường như Restaurant Kim Hoa vẫn ở chỗ cũ.

Phim “Saigon.” Veronika Lake và Alan Ladd.

Phim “Saigon.” Veronika Lake và Alan Ladd.

Khi làm phóng viên nhà báo, có lương tháng, tôi đi xem xi-nê bằng tiền của tôi, trước đó tôi cơm cha, áo mẹ, tôi chuyên bầy đặt chuyện học, chuyện mua sách  để nã tiền mẹ tôi, có thể nói đến 8 phần 10 tiền mẹ tôi cho tôi chi vào việc học, tôi chi vào việc mua vé xem xi-nê.

Nhưng với tôi việc tôi xem xi-nê không phải là việc vô ích. Nhờ xem phim, tôi có được một “hiểu biết” về Phim Ảnh – cái tôi gọi là “hiểu biết” đây là một thứ “hiểu biết hạng bét”: tôi biết những truyện phim hay, tên tuổi những đào kép xi-nê đóng vai chính trong những phim ấy, phim ấy là phim Mỹ hay phim Pháp, phim ấy chiếu ở Sài Gòn, Hà Nội năm nào, rồi tôi đọc những Tạp chí Pháp Ciné-Revue, Cinémonde chuyên về xi-nê, tôi biết về đời tư – văn huê là về “cuộc đời ái tình và sự  nghiệp” – của những Nữ Minh Tinh Nhà Táng Mỹ, Pháp, Ý. Ðại khái là những chuyện như cô đào Rita Hayworth bao nhiêu tuổi, đến Hollywood năm nào, Rita Hayworth đóng phim Gilda, bộ phim làm nàng nổi danh khắp thế giới, với nam diễn viên nào, Nữ Hoàng Ðiện Ảnh Rita Hayworth có mấy đời chồng.. vv..vv..!

Năm 1951 không nhớ do nguyên nhân nào, do ai giới thiệu, tôi đươcï gặp  anh Lê Tràng Kiều. Trước 1945 tôi nghe danh Nhà Văn Lê Tràng Kiều, tác giả truyện ngắn “Tôi đã gặp người đàn bà ấy.” Những năm 1941, 1942 ở Hà Ðông tôi đọc “Tôi đã gặp người đàn bà ấy.” Năm 1951 ở Sài Gòn khi được gặp tác giả tôi  không nhớ chút gì về truyện. Tôi tìm gặp anh Lê Tràng Kiều để mong được  anh giúp bằng cách giới thiệu tôi viết cho tờ báo nào đó. Dường như Nhà Văn Lê Tràng Kiều đưa gia đình vào Sài Gòn từ những năm 1940. Sau năm 1945 Nhà Văn Lê Tràng Kiều không sáng tác nữa, anh có cái danh văn nghệ sĩ tiền chiến của anh, anh qua đời khoảng năm 1964, 1965 ở Sàì Gòn.

Anh Lê Tràng Kiều giới thiệu tôi viết Trang Ðiện Ảnh cho 2 tờ tuần báo mới ra, những bài báo đầu tiên của tôi viết về xi-nê được đăng nhưng tôi không được lãnh tiền nhuận bút của một tờ báo nào cả, vì cả 2 tờ báo đều ra được mấy số là tự đình bản, vì bán không được. Qua đi một thời gian 5 năm, đến năm 1956 tôi viết phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn trên Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tôi giữ Trang Ðiện Ảnh Văn Nghệ Tiền Phong, Trang Ðiện Ảnh Nhật báo Ngôn Luận, khi làm nhân viên tòa soạn Nhật báo Sàigònmới, tôi giữ Trang Ðiện Ảnh Sàigònmới. Những khoản tiền tôi chi vào việc đi xem xi-nê năm xưa giúp tôi có cái tôi gọi là “hiểu biết” để viết về xi-nê trên báo, viết đăng báo,được trả tiền bài, tôi lấy lại gấp bội số tiền tôi đã chi ra.

o O o

Mùa xuân 2013 là mùa xuân thứ 18 vợ chồng tôi sống trên đất Hoa Kỳ.

Tôi mời quí vị đọc vài đoạn văn tôi đã viết, đã đăng báo trong 10 năm qua. Ðến Kỳ Hoa, gặp lại Nguyên Sa sau 20 năm xa cách, tôi nói với anh:

“Tao định viết một loạt bài lấy tên là “Viết ở Rừng Phong.” Mày có cái tên nào hay hơn cho tao không?”

Nguyên Sa trả lời:

“Mày “Viết ở Rừng Phong” là hay quá rồi. Còn phải tìm cái tên nào  nữa.”

Trong 3 năm đầu ở Kỳ Hoa – 1995 – 1998 – tôi viết bằng máy chữ, nên những bài tôi viết trong 3 năm ấy tôi không giữ được.

Tôi thường viết “Công Tử Hà Ðông Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích.” Nhiều vị théc méc về tiếng “Ðất Trích” Xin thưa “đất trích” xuất từ tiếng “trích địa” của người Tầu. Ngày xưa những ông quan làm việc ở triều đình, ở những đô thị lớn, khi phạm lỗi, khi bị thất sủng, bị giáng chức, bị cho đến làm việc ở những vùng xa xôi, rừng núi, hoang liêu khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối. Những ông quan bị tống đi xa kinh đô như thế gọi là “bị trích”, những nơi hoang sơn, cùng cốc, góc biển, chân trời họ phải đến là “trích địa: đất trích.”

Tỳ Bà Hành. Bạch Cư Dị;

Tầm Dương giang đầu, dạ tống khách,
Phong diệp, địch hoa, thu sắt sắt.
.. .. ..
Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.
Ngã tòng khứ niên từ Ðế kinh,
Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành.
Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc,
Chung tuế bất văn Tỳ Bà thanh.
Trú cận Bồn thành  địa đê thấp,
Hồng lô, khổ trúc nhiễu trạch sinh..

Thơ dịch Phan Huy Vịnh:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.
.. .. ..
Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm.
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ nẩy mầm quanh hiên.

Thơ Công Tử Hà Ðông tặng HO Vũ Thế Quang, người anh em cùng vợ với HO Quang Dù:

Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp lại nhau càng thấy thương nhau.
Từ xa Quê Mẹ bấy lâu,
Kỳ Hoa Ðất Trích gối sầu hôm mai.

Rừng Phong xuất từ Thơ Kiều “Rừng phong thu đã nhuộm mầu quan san.” Xứ Tình Nhân từ câuVirginia is for Lovers.

o O o

Tóc Em có úa nắng hè..! Viết ở Rừng Phong Tháng 8, 2005

Sài Gòn nhớ, Sài Gòn thương,
Tịch dương nền cũ,  mê đường ngựa xe!
Bô-na Em đến Sạc-ne,
Tóc Em có úa nắng hè không Em!

Ðêm đông, xứ người, phòng ấm, đèn vàng, tôi nhắm mắt thả hồn trở về thành phố xưa, thành phố tôi đã sống  trong thời son trẻ của tôi, thành phố đã thương yêu tôi, đã chiều đãi tôi, đã cho tôi gặp Tình Yêu, trong thành phố đó tôi đã yêu và được yêu, thành phố tôi đã để mất, thành phố nay tôi phải xa và nay tôi nhớ, tôi thương.

Tôi trở lại là chàng thanh niên hai mươi tuổi, một buổi tối đến rạp xi-nê Bonard xem phim Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè.. Tôi nhớ mái tóc của Nàng năm ấy. Trong tim tôi, sáu mươi năm rồi tóc nàng vẫn xanh. Xanh như ngày xưa.

Bẩy Bó Tuổi Ðời, Xứ Người, tôi làm Thơ:

Sài Gòn Anh nhớ, Anh thương..Thuyền Anh lạc bến Ðoạn Trường Biển Mê.
Em ơi..
Anh nhớ Bô-na, Anh nhớ Sạc-ne.
Tóc Em
Có bao giờ úa
nắng hè
đâu Em!

Bonard: Lê Lợi, Charner: Nguyễn Huệ, Catinat: Tự Do. Galliéni: Trần Hưng Ðạo, Colonel Boudonnet: Lê Lai, Colonel Grimaud: Phạm Ngũ Lão, Paul Blanchy: Hai Bà Trưng, Dixmude: Ðề Thám, Jaccareo: Tản Ðà, Taberd: Nguyễn Du, Lacoste: Phạm Hồng Thái, Mayer: Hiền Vương, Massige: Mạc Ðĩnh Chi, Général Lizé: Phan Thanh Giản, Richaud: Phan Ðình Phùng.. vv ..

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

o O o

Mò trên Internet, tình cờ tôi tìm được 2 bộ phim Hollywood thực hiện lấy tên Saigon làm tên phim.

Phim “Saigon Belle,” tên phim chữ Pháp là “La Belle de Saigon.” Diễn viên Clark Gable, Jean Harlow.Hollywood làm phim này khoảng năm 1935. Họ chỉ lấy cái tên “Saigon Belle: Người Ðẹp Sài Gòn” làm tên phim. Phim được thực hiện trong phim trường Hollywood. Chuyện phim không dính dáng gì đến người Sài Gòn, cảnh Sài Gòn.

Trong  dòng chữ “La Belle de Saigon,” chữ Saigon có dấu I Trema. Chữ Pháp ngày xưa có dấu trema, như trong chữ “Noel.” Hai chấm trên chữ “e”. Từ sau năm 1950 người Pháp không dùng dấu trema nữa.

Phim Hollywood thứ hai lấy tên “Saigon” do Alan Ladd và Veronicka Lake đồng diễn. Chuyện phim xẩy ra trong một trại tù được coi là ở Ðông Dương. Phim thực hiện khoảng năm 1940. Chỉ những Khưá Lão tuổi đời năm nay Bẩy Bó, Tám Bó mới biết Alan Ladd và Veronika Lake.

Trước khi tình cờ tìm thấy hai phim “Saigon” trên Internet, tôi không biết gì về hai phim này. Tôi không biết là Sài Gòn đã được Hollywood lấy làm tên phim từ những năm trước năm 1940. Tôi chắc nhiều người Việt cũng không biết chuyện ấy như tôi.

o O o

CĂN NHÀ KHÔNG CÓ MÙA XUÂN

Ngày xưa tôi đọc thơ người lạ
Bài thơ sầu muộn một tình buồn
Tôi nhớ ý thơ, không nhớ cả
Bài thơ tôi đọc một mùa xuân

Mùa xuân xưa lắm, tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần
Ðời chỉ có hoa và mật ngọt
Da thịt thơm mùi phấn ái ân

Tôi đã buồn vương, đã cảm thương
Lời thơ sầu mộng ý như sương
Người yêu một tối rời nhân thế
Thi sĩ đau mê chuyện đá vàng

Ðóng cửa nhà xưa, quên gió nắng
Ðàn xưa để mặc nhện tơ dăng
Năm mòn, tháng mỏi, thời gian vắng
Trong căn nhà không có mùa xuân

Ở giữa căn nhà u tịch ấy
Ðời sống buồn trôi với tối tăm
Cho đến một chiều nghe pháo nổ
Người sống bừng cơn mộng cuối năm

Tay gầy vén bức màn cô quạnh
Nhìn ra thiên hạ đón xuân sang
Mới biết từ đêm tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân

Cửa đóng, màn che vội mở tung
Bình hoa cắm vội một đôi bông
Rồi rượu mừng xuân, rồi pháo đỏ
Sắp sẵn lòng vui để đợi trông

Nhưng chờ đợi mãi xuân không đến
Nhà vẫn buồn tênh, vẫn tối tăm
Mới biết một khi tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân

Từ đấy hoa tàn và khói lạnh
Bóng tối trùm lên lưới nhện dăng
Vĩnh viễn mùa xuân không trở lại
Trong căn nhà không có mùa xuân

Năm nay mái tóc không xanh nữa
Tôi đã đau thương, đã nợ nần
Một tối rùng mình tôi cũng thấy
Sao nhà mình không có mùa xuân?

Sao nhà tôi không có mùa xuân?
Bạn ơi người bạn mới qua đường
Xin dừng chân lại cho tôi hỏi:
– Sao nhà tôi không có mùa xuân?

Thơ làm ở Nhà Số 16 A Cư Xá Quân Cụ, Ðường Trần Quốc Toản, Sài  Gòn Xuân 1976

THẦN LONG, ÐIÊU THUYỀN

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, Ngày 24 Tháng 12, 2013.

Ðể tạm biệt Năm Rồng 2012, mời quí vị  đọc bài Viết ở Rừng Phong: THẦN LONG ÐIÊU THUYỀN.

Thần Long Điêu Thuyền và Lã Bố

Thần Long Điêu Thuyền và Lã Bố

Tam Quốc Chí là truyện có nhiều Rồng. Ðứng đầu và nổi nhất là Ngọa Long Tiên Sinh, Ông Quân Tử Tầu kiêm Quân Sư Tầu Rồng Nằm ở Ngọa Long Cương, đất Nam Dương. Nhưng với Ông Rồng Nằm Ngọa Long Gia Cát Khổng Minh ta phải viết một bài riêng, một bài thật dài; còn hôm nay nhân ngày cuối Năm Rồng, mời các bạn gập lại  Nữ Nhân vật Ðiêu Thuyền Tam Quốc, Nữ nhân vật được gọi là Thần Long.

Tào Tháo liên kết với Lưu Bị, bao vây Lữ Bố trong thành Hạ Bì. Mưu sĩ của Lữ Bố là Trần Cung đề nghị Lữ Bố đem binh ra ngoài thành hạ trại, cùng với quân trong thành hai mặt tấn công quân Tào mới đến. Bố nghe theo, nhưng khi cho quân sĩ sửa soạn thì vợ lớn của Bố là Nghiêm thị nói:

– Tướng quân bỏ thành quách an toàn, mặc vợ con bơ vơ, đem quân ra ngoài xa. Một sớm, một chiều xẩy biến, liệu thiếp có còn được làm vợ chàng hay không!

Bố nghe lời vợ, ba ngày ở lì trong phòng vợ. Trần Cung giục giã, Bố lại nói với vợ, Nghiêm thị khóc:

– Nếu chàng ra đi, bọn Trần Cung làm sao giữ nổi thành trì! Ôi.. Nếu xẩy ra chuyện không may thì hối làm sao cho kịp. Trước kia ở Tràng An thiếp đã bị chàng bỏ bơ vơ, may nhờ người che chở, dấu diếm, thiếp mới được tái hợp cùng chàng. Ai ngờ nay chàng lại bỏ thiếp mà đi.. Thôi.. Chàng hãy lo bảo trọng lấy mình, đừng nghĩ ngợi gì đến thiếp nữa..!

Lữ Bố rầu rĩ mò sang phòng Ðiêu Thuyền. Ðiêu Thuyền cũng nói:

– Tướng quân là chủ đời thiếp. Xin đừng nhẹ vó ngựa đi đâu!

Ta thấy hai sự kiện:

– Trước khi lấy Ðiêu Thuyền, Lữ Bố đã có vợ.

– Ðiêu Thuyền sống với Lữ Bố trong thành Hạ Bì cho đến lúc Bố bị Tào Tháo bắt sống, giết chết.

Lữ Bố là Thuyền Trưởng Hai Tầu đời Tam Quốc Tầu

Tam Quốc Chí kể rõ: Tào Tháo diệt Lữ Bố, lấy con ngựa Xích Thố của Lữ Bố ban cho Quan Vân Trường nhưng tuyệt nhiên không nhắc nhở gì đến người đẹp Ðiêu Thuyền. Lữ Bố chết rồi, Ðiêu Thuyền đi đâu, về đâu, thuộc về ai? Hoàn toàn không thấy chuyện đó trong Tam Quốc Chí..

Kim Thánh Thán viết về Ðiêu Thuyền trong Lời Bình Tam Quốc Chí:

Từ khi Lữ Bố chết về sau không ai biết Ðiêu Thuyền lưu lạc về đâu! Như thế là thế nào? Xin thưa: Khi đã thành công mà biết lui kịp thời tức cũng như con thần long chỉ cho người đời thấy đầu mà không cho thấy đuôi. Cái tuyệt diệu chính là ở chỗ “hạ lạc”vậy. Còn nếu như cứ thắc mắc mà hỏi Ðiêu Thuyền lưu lạc về đâu, cuộc đời nàng kết thúc ra sao, thì xin hỏi lại rằng: Sau khi quan Ðại phu họ Phạm cưỡi thuyền đi chơi khắp Ngũ Hồ, nào còn ai biết tông tích nàng Tây Thi ở đâu nữa?”

Ngưng trích Thánh Thán.

Văn Long Chu Chu

Văn Long Chu Chu

Kim Thánh Thán gọi Ðiêu Thuyền là Thần Long. Tiên sinh viết lời bình trên đây ở ngay đoạn Vương Tư Ðồ và Ðiêu Thuyền thành công trong việc dùng Lữ Bố giết Ðổng Trác, không ở đoạn Lữ Bố bị giết và người đời ngơ ngẩn không biết Ðiêu Thuyền đi đâu, về đâu. Tiên sinh viết lời bình Nữ Thần Long ở đoạn đầu Rồng, không ở đoạn đuôi Rồng.

Nhân dân Tầu truyền nhau hai chuyện về Ðiêu Thuyền.

Một: Tào Tháo ban hai chiến lợi phẩm Ðiêu Thuyền, Xích Thố cho Quan Vân Trường. Quan Công vui vẻ thu nạp và dùng tốt cả hai.

Hai: Quan Công chém chết Ðiêu Thuyền.

Cả hai chuyện trên đều không vững. Tào Tháo là tay hiếu sắc nhất đời Tam Quốc. “Hiếu sắc”quá nhẹ với tính dâm của Tào Tháo, phải viết là Tào Tháo đa dâm nhất trong số những nhân vật Tam Quốc.  Ðiêu Thuyền là Ðệ nhất Chuyên Viên Ái Tình đương thời. Không có lý nào Tào A Man lại dửng dưng, lại lửng lơ con cá vàng trước nàng Ðiêu Thuyền thơm hơn múi mít — không phải thơm như.., mà là thơm hơn…– Tào A Man, kiêm Tào Mạnh Ðức, kiêm luôn cả Tào Tháo, không thể quân tử Tầu đến cái độ tự ý buông người đẹp ra khỏi vòng tay Thừa Tướng đa tình, đa dâm, đa đủ thứ, vòng tay chiến thắng có toàn quyền được hưởng thụ và làm chủ chiến lợi phẩm.

Không có lý do gì để Quan Vân Trường chém Ðiêu Thuyền. Lúc này Lưu Bị còn chịu phận làm đàn em Tào Tháo, Quan Công chưa là cái gì cả. Tào Tháo diệt Lữ Bố không phải do công của anh em Lưu Bị. Vân Trường không có một quân công nào trong chiến dịch công phá Thành Hạ Bì.

Tà Long Tào Tháo

Tà Long Tào Tháo

Kể cũng lạ: tại sao Tào Tháo lại ban ngựa Xích Thố của Lữ Bố cho Quan Vân Trường mà không ban cho viên tướng nào của Tháo?   Tháo có thiếu gì đại tướng xứng đáng được cưỡi ngựa Xích Thố? Chuyện Tào Tháo ban Ðiêu Thuyền cho Quan Vân Trường đã là chuyện khó xẩy ra, chuyện Quan Vân Trường tự dưng lôi cổ Ðiêu Thuyền ra chém lại càng khó tin hơn nữa. Quan Vân Trường không hiếu sát hay quân tử Tầu quá khích đến cái độ hung hăng con bọ xít giết Ðiêu Thuyền chỉ vì Ðiêu Thuyền đẹp và làm tình quá tuyệt vời, hoặc chỉ vì nàng từng là vợ Ðổng Trác, vợ Lữ Bố, vá vì nàng một phần mà Ðổng Trác, Lữ Bố bị chết thảm.

Cứ giả như chuyện Tào Tháo “ban” Ðiêu Thuyền Múi Mít cho Quan Vân Trường là có thật thì theo lễ, nếu Vân Trường không “dùng” Ðiêu Thuyền, ông phải trả Ðiêu Thuyền về cho Tào Tháo, hay ông cho nàng đi tu, ông không thể giết nàng khơi khơi được.  Tào Tháo đệ nhất đa dâm, Tháo thấy Ðiêu Thuyền như mèo đói thấy mỡ, chuyện Tháo tự ý “ban”người đẹp Ðiêu Thuyền cho ai khác là chuyện khó tin là có thật.

Ðiêu Thuyền có tội gì mà bị Quan Công xử tử? Ðổng Trác đa dzâm, Y chết vì cái tật Dzâm Ðãng của Y, Lữ Bố không chết vì Ðiêu Thuyền. Lữ Bố chết vì  ngu. Vậy thì Ðiêu Thuyền có tội gì? Ở đời thiếu gì anh chết vì mê Ðàn Bà Ðẹp.

Tam Quốc Chí kể rõ chuyện Tào Tháo ban ngựa Xích Thố cho Vân Trường: Diệt xong Lữ Bố, Lưu, Quan, Trương theo Tào Tháo về Hứa Ðô. Trong thời gian sống ở đây Luu Bị nhàn rỗi ngày ngày ra vườn trồng hoa, tưới cây ra cái điều an phận, không có chí tung hoành. Tào Tháo mời Lưu Bị đến uống rượu; tronng tiệc rượu này Tháo luận anh hùng:

“Anh hùng trong thiên hạ chỉ có Sứ quân với Tháo..”

Sau đó Lưu Bị đi khỏi Hứa Ðô, công khai chống Tào Tháo. Sau trận đánh nhau với quân Tào ở Thổ Sơn, bị vây hãm, Quan Vân Trường phải hàng Tào Tháo, đưa hai bà vợ Lưu Bị về Hứa Ðô. Trong thời gian này Tào Tháo muốn mua lòng Vân Trường nên ban ngựa Xích Thố cho Vân Trường.

Chuyện kể vào chi tiết:

Khi thấy ngựa Xích Thố, Vân Trường quì xuống lậy tạ Tháo. Tháo nói:

– Ta từng ban nhiều vàng bạc cho ông, cho ông cả người nữa; chưa lần nào ông lậy tạ. Sao lần này ông lậy tạ ta vì ta cho ông con ngựa này? Chẳng lẽ ông trọng vật hơn người ư?

Vân Trường nói:

– Thưa Thừa tướng… tôi lạy tạ Ngài vì Ngài ban cho tôi con ngựa tốt này, một ngày nó có thể đi ngàn dặm; khi nào biết Hoàng thúc anh tôi ở đâu, tôi có thể dùng nó đến với anh tôi.

Tào Tháo cho ngựa là muốn Vân Trường cảm kích mà ở với mình; khi nghe Vân Trường nói đến chuyện dùng Xích Thố để ra đi, Tào Tháo thấy hối nhưng lỡ cho rồi không lấy lại được.

Như Kim Thánh Thán chỉ cho ta thấy: rất có thể La Quán Trung vì yêu thương Ðiêu Thuyền nên không nỡ kể lại những ngày cuối cuộc đời của nàng. Tôi tin như thế.

Kim Thánh Thán kính mộ Ðiêu Thuyền nên đề cao Ðiêu Thuyền là Thần Long — Nữ Thần Long duy nhất trong gần một trăm năm Tam Quốc. Ðúng vậy. Nàng như con rồng, chỉ cho thiên hạ thấy đầu mà không thấy đuôi. Thần Long khác với những Rồng Bẩn, Rồng Ðất, Rồng Hèn, Rồng Bị Thịt.., bọn Rồng chỉ để cho người đời thấy đuôi mà không thấy đầu.

Tôi – Công Tử Hà Ðông – cảm khái vì trường hợp Ðiêu Thuyền Ðẹp mà bị người đời lợi dụng. Tôi tin chắc hơn bắp là Tào Tháo giết Lã Bố, Tào Tháo sẽ nạp Ðiêu Thuyền. Những đêm ở xứ người, đọc lại Tam Quốc Chí, cảm thương Ðiêu Thuyền, tôi cảm khái làm mấy Lời Thơ:

Ðiêu Thuyền tuyệt sắc má đào,
Làm sao thoát được tay Tào A Man.

Cọp nào tha em Nai Tơ,
Ðời nào Tào Tháo lửng lơ Ðiêu Thuyền!

Bố “đai”, Tào Tháo ở đâu?
Mà Ðiêu Thuyền lại về hầu Quan Công?

o O o

Tam Quốc có Ngọa Long Khổng Minh, có Thần Long Ðiêu Thuyền, tôi thấy Tam Quốc còn một Văn Long Chu Công Cẩn.

Mời đọc:

Tào Tháo đưa đại quân tiến đánh Ðông Ngô. Lưu Bị sợ Tôn Quyền đầu hàng Tào Tháo nên cho Khổng Minh sang Ðông Ngô du thuyết, làm cho Ðông Ngô đánh Tào..

Ðây là đoạn Lỗ Túc đưa Khổng Minh đến gập Chu Du. Chu Du nói nên hàng, Lỗ Túc nói nên đánh.

Khổng Minh nói:

“Tào Tháo đánh Ðông Ngô là để cướp hai người đẹp của Ðông Ngô là Ðại Kiều, Tiểu Kiều đưa về Ðài Ðồng Tước vui hưởng tuổi già.”

Nàng Ðại Kiều là vợ Tôn Quyền, Tiểu Kiều là vợ Chu Du. Khổng Minh kể bài phú Ðồng Tước Ðài do Tào Thực, con trai thứ của Tào Tháo làm.

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa. Trích:

Bài phú này đã bị Khổng Minh sửa một câu. Nguyên văn của Tào Thực là:

Liên nhị kiều ư Ðông, Tây hề
Nhược trường không chi đế đống.
…..

Bắc hai cầu Ðông, Tây nối lại
Như cầu vồng sáng chói không gian

Khổng Minh muốn chọc tức Chu Du nên đổi là:

Lãm Nhị Kiều ư Ðông Nam hề
Lạc triêu tịch chi dữ cộng.

…..

Tìm hai Kiều Nam phương về sống
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân.

Chu Du nghe xong, đùng đùng nổi giận, đứng phắt dậy trỏ tay về phía bắc, quát lớn:

– Thằng giặc già sao dám khinh ta như thế? Ta thề giết nó!

(.. .. .. )

Du căm gan, tím ruột, nghiến răng :

– Ta thề không đội trời chung với thằng giặc già!

Và thế là Chu Công Cẩn quyết định đánh Tào Tháo! Thực ra Công Cẩn vẫn chủ trương đánh Tào, chàng chỉ nói hàng Tào để thử lòng thiên hạ. Dù không bị Khổng Minh nói khích Chu Du cũng đánh Tào. Ở đây ta thấy La Quán Trung tưởng tượng ra cảnh Khổng Minh sửa câu văn trong bài phú Ðồng Tước để đánh lừa Chu Du cho câu chuyện thêm hấp dẫn.

Nhưng Chu Công Cẩn nổi tiếng là người tài hoa, văn nhã. Chàng  là mẫu thanh niên đẹp trai, con nhà giầu, thông minh, học giỏi, lỗi lạc cả về chính trị và quân sự. Công Cẩn không có tài cầm đao thương xung trận, chém giết tướng địch, nhưng chàng hơn người ở tài chỉ huy, tài chính trị và năng khiếu văn nghệ.

Người đời truyền tụng Chu Lang chơi đàn tuyệt hay và rất sành về âm luật. Những khi uống ruợu chàng thường cho ban nhạc đánh đàn. Khi người đánh đàn đánh sai một âm, chàng biết ngay. Ðang uống ruợu chàng quay lại nhìn đúng vào người đánh đàn vừa gẩy một âm sai ấy. Vì vậy có nhiều người đánh đàn, nhất là phụ nữ, cố ý gẩy sai một âm để được Chu Lang nhìn cho một nhìn.

Thành ngữ Trung Hoa có câu “Chu lang nhất cố”.

Khi người Hoa nói :

“Xin ngài cho tôi một Chu lang nhất cố =  Xin Ngàn cho tôi một cái nhìn của Chu Lang..”

Tức là để nói một cách văn hoa:

“Xin ngài để ý đến tôi, xin ngài giúp tôi.”

Ðây là bài thơ làm bằng chứng về tài thẩm âm của Chu Công Cẩn:

MINH TRANH

Minh tranh kim túc trụ
Tố thủ ngọc phòng tiền,
Dục đác Chu Lang cố
Thời thời ngộ phất huyền.

Lý Ðoan.

Gẩy đàn tranh

Gẩy chiếc đàn tranh trụ vàng
Bàn tay nõn nà, ngồi trước phòng ngọc.
Muốn được Chu Lang ngoảnh lại nhìn
Nên thỉnh thoảng lại gẩy nhầm dây.

Khổng Minh nằm khoèo ở Long Trung còn biết bài Ðồng Tước Ðài Phú của Tào Thực. Thời Tam Quốc chưa có radio, chưa có nhật báo, Khổng Minh không thể nằm trong nhà tranh ở xa kinh đo vài ngàn cây số mà biết những chuyện xẩy ra ở kinh đô, những chuyện văn nghệ, văn gừng như chuyện bài phú Ðồng Tước Ðài Khổng Minh lại càng không thể biết.

Tại sao Ðô đốc Chu Công Cẩn, Tướng Tư Lệnh Quân đội Ðông Ngô, Tướng Quân tất nhiên phải có những điệp viên lấy tin ở kinh đô, Tướng Quân còn là một cây văn nghệ, một cây hào hoa, lại hoàn toàn mù tịt về bài phú ấy?

Khi tưởng tượng ra chuyện Khổng Minh dùng bài phú Ðồng Tước Ðài để đánh lừa Công Cẩn, La Quán Trung bắt ta phải nhận trước sự việc: “Công Cẩn không biết chút gì về bài phú”. Và Khổng Minh, người khôn ngoan nhất đời, không một chút e ngại gì về chuyện Công Cẩn cũng biết bài phú Ðồng Tước Ðài như mình, phăng phăng dùng bài phú ấy đánh lừa Chu Du. Dù không thuộc lòng bài phú như Khổng Minh, Công Cẩn cũng có thể biết là bài phú không có đả động gì đến Tiểu Kiều vợ mình, và Ðại Kiều vợ Tôn Sách. Nếu trong bài Ðồng Tước Ðài có nói đến Ðại Kiều, Tiểu Kiều — hai vị Ðệ Nhất và Ðệ Nhị phu nhân của triều đình Ðông Ngô, sức mấy mà chuyện ấy không đến tai Tôn Sách và Chu Du.

Theo tôi, chuyện Khổng Minh sửa bài phú Ðồng Tước Ðài để đánh lừa Chu Công Cẩn là một chuyện  không hay, không chỉnh, không thuyết phục người đọc  trong Tam Quốc Chí.

Tôi kể Tam Quốc có ba Rồng:

Ngoạ Long Gia Cát Lượng.

Thần Long Ðiêu Thuyền

Văn Long Chu Công Cẩn.

Tôi có cảm tình với Văn Long, tôi thương Văn Long khi Văn Long than:

– Trời đã sinh Du, sao còn sinh Lượng!

o O o

Buổi chiều cuối Năm Rồng 2012.

Hẹn gặp nhau Năm Rồng 2024 nếu..

12 năm nữa tôi còn ở cõi đời này.

NGƯỜI THIẾU NỮ BỐN MƯƠI NĂM TRƯỚC

Thi sĩ Thái Thụy Vy

Thi sĩ Thái Thụy Vy

Năm 1995 khi vợ chồng tôi vào sống trong tòa nhà dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Old Seniors Low Income – ở Falls Church,Virginia, chúng tôi có nhiều người giúp đỡ. Một trong những người bạn tốt ấy của vợ chồng tôi là Thái Thụy Vy.

Ðến Kỳ Hoa mới 6 tháng, chúng tôi đã xin được nhà ở. Người có công đầu trong việc này là bà Khúc Minh Thơ. Bà cho vợ chồng tôi biết toà Nhà Lockwood House do Bộ Xã Hội Fairfax quản lý đang xây thêm một nhà mới dành cho Người Già. Thái Thụy Vy sống từ lâu trong Nhà Lockwood, anh có xe, anh có thì giờ, anh có cảm tình với vợ chồng tôi, anh đưa đón chúng tôi đến Nhà Lockwood nộp đơn xin nhà. Nhờ bà KM Thơ, nhờ anh TT Vy, vợ chồng tôi có căn phòng lý tưởng trong tòa Nhà Elmwood, dẫy nhà phụ thuộc Nhà Chính Lockwood.

Thái Thụy Vy đã nghỉ hưu, anh sẵn sàng đưa chúng tôi đi bất cứ đâu. Người mới đến Mỹ, lái xe yếu như tôi mà có người bạn như Thái Thụy Vy ở cùng nhà, sẵn lòng, sốt sắng, giúp đỡ mọi việc là nhất.

Khoảng năm 2000, Thái Thụy Vy sang sống ở Arizona. Chúng tôi vẫn liên lạc với nhau qua phone, qua e-mail. Tháng này – Tháng Giêng Tây 2013 – Thái Thụy Vy xuất bản tập Truyện “Ðêm Nghe Lục Bình Trôi.” Một truyện trong tập làm tôi cảm động. Tôi đăng truyện đó mời quí vị đọc. Tôi sẽ viết vì sao truyện làm tôi cảm động ở cuối bài này.

ÐÊM NGHE LỤC BÌNH TRÔI
Thái Thụy Vy

Tôi không nhớ rõ tôi bị “tiếng sét ái tình… măng dại” (enfantin) đánh trúng tim tôi hồi nào. Tôi chỉ nhớ lúc má tôi bảo tôi cầm dĩa bánh bò qua biếu bà hàng xóm.

Nhà cô Cả cách nhà tôi một vườn cây và một cái ao. Ðàng sau nhà cô có một cây vú sữa cành lá xum xuê. Cô Cả người Huế, là chị em kết nghĩa với má tôi.

Hôm đó tôi không gặp cô Cả mà gặp con gái cô. Chị Lệ lớn hơn tôi ba tuổi. Với cái miệng rất xinh và mái tóc uốn lọn dài giống cô con gái út trong phim Les quatre jeunes filles du Docteur March. Chị coi tôi như em, chúng tôi thân nhau rất dễ vì hai gia đình chúng tôi thân nhau.

Sau  nghe chuyện của mấy ông anh  tôi biết  người anh thứ tư  của tôi yêu chị Lệ.

Trong lòng tôi thầm cảm thấy nuối tiếc một cái gì khó tả. Tôi muốn gần chị Lệ,  nhờ tôi nhỏ tuổi hơn chị nên tôi  có dịp gần gũi chị mà không bị ai nghi ngờ gì.

Tôi qua nhà chị chơi thường xuyên hơn, ngồi trong phòng riêng coi chị đan áo vừa kể chuyên đời xưa, đời nay cho tôi nghe. Nhiều lần tôi  nhìn ngắm mê say cái miệng có duyên của chị mà chị không  biết.

Một hôm tôi cột bông bụp đỏ vô cần câu để câu ếch trên cái ao giữa nhà chị và nhà tôi. Chị Lệ ra câu với tôi, chúng tôi bỗng nhìn thấy con mèo cái đang giỡn với con rắn, tôi bảo chị người lớn nói mèo mà lấy rắn sẽ đẻ ra linh miêu. Người chết mà  người nhà vô ý để linh miêu nhảy ngang qua chỗ xác chết nằm, xác chết sẽ đứng dậy đi và chụp trúng ai người đó sẽ chết theo. Chị Lệ sợ quá bỏ chạy vào nhà.

Cứ mỗi mùa vú sữa chín ửng đỏ, chị Lệõ không quên cho tôi cả rổ.

Thấm thoát chị Lệ đã lớn thành một thiếu nữ diễm kiều. Còn tôi được ba tôi cho xuống Sài Gòn học nội trú mỗi cuối tuần mới được về Biên Hòa. Chiều thứ bẩy về, chiếu chủ nhật lại xuống Sài Gòn vào trường.

Chị Lệ dễ e thẹn hơn và kín đáo hơn. Một hôm tôi nghe nói anh Tư của tôi mê một cô gái khác, cô này tên Lan con của thầy ký Tỵ mới về làm ở hãng dầu Shell gần đó.

Thằng em anh nay bước vào tuổi dậy thì tự nhiên cảm thấy mừng  và bắt đầu biết mình đã yêu thầm người con gái Huế hàng xóm đáng tuổi chị mình.

Buổi chiều xuống trên sông Ðồng Nai với áng mây thành là những buổi chiều tuyệt đẹp. Ráng trời hoàng hôn mỗi chiều nước sông lớn với các đám lục bình trôi bềnh bồng mang sắc hoa màu tím nhạt, đọ màu với hoa bằng lăng tím lãng mạn dọc bờ sông khiến tôi sanh mơ mộng một cái chi chi tuyệt đẹp mà linh tính báo sẽ không thành sự thật.

Tôi thường bám rễ cây da leo lên cái trụ xi măng trong vườn nhà tôi, ngày trước ông nội tôi xây trụ này đặng để bồn chưá nước trên đầu trụ, lúc thành phố chưa có nước máy. Ngày nay bồn nước đã được dẹp bỏ  nên trụ xi măng được chim nhả hột mọc lên cây, lá rậm trùm kín mít trên chóp.

Từ trên chóp tôi có thể ngắm hoàng hôn đến tối mịt.

Một hôm tôi đang mải nhìn đám mây chuyển từ màu hồng sang mầu đỏ thẫm. Chị Lệ xuống đến bến sông lúc nào tôi không biết. Thường cái cầu ván của nhà ông tôi là chỗ tắm giặt và là chỗ cho các phụ nữ trong xóm xuống gánh nước sông.

Chị đợi lúc  vắng người mới xuống bến tắm sông,  mùa nầy nước sông trong xanh và không chảy xiết. Cây vừng  rụng bông đỏ nổi trên mặt nước không gợn sóng.

Tôi định lên tiếng chào chị  nhưng lại thôi. Chị nhìn trước nhìn sau rồi cởi áo và kéo quần lên che ngực. Tôi như người điếng hồn, nửa xấu hổ vì  nhìn lén, nửa bị thu hút, máu chạy rần rần. Nước dâng lấp lánh ánh hoàng hôn, nàng như thủy thần giỡn nước, bỗng nàng tháo lỏng quần để kỳ cọ, đôi ngực vun tròn thời con gái mới lớn bềnh bồng trên sóng nước, với bông lục bình trôi xung quanh tạo thành bức tranh thần thoại… Nàng xước ngược mái tóc làm tung tóe những giọt nước óng ánh vàng, rồi để rơi mái tóc trên đôi bờ vai trắng ngà như nàng tiên vừa hiện xuống trần gian. Hình tượng quá đẹp và khêu gợi nên tôi có ngay một sự so sánh trong đầu là nàng giống La Déesse d’Or…

Tôi bị ám ảnh bởi một kiếp hoa trôi nổi lãng du từ đó. Ban đêm trằn trọc nghe tiếng súng lính gác cầu Gành bắn vào những đám lục bình trôi ngang là biết có một loài hoa tím du mục đang tan tác, lính canh cầu bắn vào mjững đám lục bình trôi trên sông vì sợ có đặc công VC núp dưới đó để trôi đến gài mìn nơi chân cột cầu.

Thân phận bông lục bình ám ảnh tôi thì ít nhưng hình ảnh tuyệt vời của người chị thì nhiều, thật nhiều; tôi đã nắn nót ra bài thơ đầu đời “Ðêm nghe lục bình trôi” để nhớ chị:

 Nằm nghe nước cuốn nghe muốn khóc
Lục bình réo gọi ai đêm đêm
Theo con nước lớn buông hờn tủi
Theo mệnh nước ròng, khóc đêm đêm

Ðêm đêm nước cuốn xiết đam mê
Trôi bỏ nơi sinh, trôi cả dề
Trên bờ bông tím, ô môi tím
Dưới nước lục bình tím lê thê

Phận bèo bạc bẽo, thận nổi trôi
Chiều dâng bến nước phía bên bồi
Hoàng hôn trong mắt, nàng đang tắm
Ngực trần tóc xoã, thủy thần ôi!

Người con gái đó, lục bình đó
Ðêm đêm vẫn sống trong tim tôi
Trải bao năm tháng, vui buồn có
Ngươi còn tím mãi, lục bình ôi!. (TTV)

Một hôm má tôi cho biết cô Cả làm ăn khá giả, cô mua một vườn cam với hệ thống tưới nước tự động ở Bàu Cá và mua thêm nhiều xe be. Hai anh con lớn được cô cho qua Pháp du học. Má tôi ngoài xe hàng và xe lô còn mở thêm vựa bưởi và dưa hấu nên chúng tôi có dịp ăn trái cây thỏa thuê. Nhưng có một tin tôi không được vui là cô Cả sắp gả chị Lệ cho một ông nhà giàu ở Sài Gòn. Nói gì đây, làm gì đây khi tôi còn chưa xong trung học, khi cuộc đời tôi còn đang sấp ngửa, chưa ngã về đâu.

Mấy trận mưa đầu mùa vừa đến nhanh, vừa rơi nhanh vừa nặng hột. Hơi đất nóng gập mưa bốc lên ngồn ngột nghẹt thở. Tình mộng thuở mới lớn của tôi chết âm thầm không một lời trối trăn.

Nhiều đêm nóng bức, mấy anh tôi ưa trải ghế bố ngủ giữa sân nhà, mục đích khác là: má tôi ưa cúng sao ở bàn thiên, bánh trái và nước dừa xiêm… Chắc nhờ thuận thảo với Trời, nên má tôi nuôi mạnh giỏi đủ chín thằng con và hai nữ quý tử và thêm một anh con nuôi lưu lạc từ Bắc vào sau năm 1945. Tụi tôi kêu anh là anh Ba Bắc để khỏi lộn với anh Ba ruột của chúng tôi. Mười ba người con của má tôi sống qua hai cuộc chiến tranh. Không thiếu một đứa.

Sương khuya xuống thấp ôm ấp cây bông chúa cổ thụ tỏa hương thơm bát ngát. Anh Tư tôi ưa huýt gió gọi rắn lục, rắn trong vườn nó huýt gió trả lời và theo tiếng huýt gió của người, nó tìm đến chỗ người nằm làm tôi sợ quá phải năn nỉ anh chấm dứt trò chơi nguy hiểm … Tôi phải chịu điều kiện hứa sẽ đưa thư mèo dùm anh anh mới chịu thôi. Tôi có dịp đọc lén thư anh, ngay thời đó tôi đã thấy lời văn thư tình của anh rất là “dạ cổ hoài lang”.

Ba tôi thấy tôi buồn không biết tại sao nên ông kiếm cách cho tôi vui, ông  đem từ Bà Rá về cho tôi và người chú út mỗi người một con gà con cùng một ổ mối khổng lồ.

Tôi bầu bạn với chú gà con, ngày ngày khẻ ổ mối lấy con mối cho hai chú gà ăn, ăn mối chúng rất mau lớn và mọc lông cánh một màu trắng tinh. Có lẽ vì thiếu được gà mẹ ôm ấp nên khi được bàn tay âm ấm của tôi nâng niu,  chú gà con sanh trìu mến và đeo đẻo chạy theo tôi cùng khắp nơi như con theo mẹ. Tôi đi ngủ nó cũng nhảy lên nằm kề bên gối ríu rít tỉ tê. Ðặc biệt tôi nó quá khôn, mỗi khi cần làm chuyện vệ sinh là nó nhảy xuống nền nhà mà không bao giờ làm dơ nệm giường. Lên bàn ăn cũng vậy, nó không bao giờ mổ vào chén của tôi mà chỉ đợi tôi chia cho vài hạt cơm no mới mổ ăn.

Một hôm vừa ăn mấy con mối mập béo xong, chú gà của tôi uống mấy ngụm nước ở cái mương bên cạnh một cách khoái trá. Hôm sau tới giờ cho gà ăn, tôi thấy chú đứng cú sụ. Tôi nhớ ra có lẽ vì hôm qua chú uống nước mương bị nhiễm trùng, tôi vội đi kiếm một viên Ganidan nghiền nát pha nước ép nó uống vì thời đó chưa có trụ sinh, nhưng than ôi đã quá trễ chú gà con thân yêu của tôi đã ra đi với đôi mắt buồn xo thật tội nghiệp. Tôi ngồi thừ không muốn chôn chú. Ba tôi hứa sẽ đem con gà con khác về cho tôi. Tôi mếu máo:

 ”Ba coi! Con chưa kịp đặt tên cho nó nữa!”.

Từ đó tôi hứa với lòng là sẽ không bao giờ nuôi con vật nào hết.

Lớn lên đi làm việc tại đất Thần Kinh, tôi  có thêm được những suy tư về cuộc đời và định mệnh, nhưng tôi không thể quên hình dáng chị Lệ, chị đã để lại  những cánh Hoa Tình trong trái tim tôi khi tôi là anh  con trai mới lớn.

Tôi bỗng sinh tật thơ thẩn với những cảm xúc xao xuyến tại mảnh đất đầy sương khói quyện những tà áo trắng này:

Tôi đi vào núi tìm tiên
Lối đi xuyên mống trời viền cỏ hoa
Mải mê lạc lối quên nhà
Tỉnh mê chợt thấy mình qua kiếp nào
Lòng tay sáng rực ánh sao
Hào quang từ một thuở nào ấu thơ
Sáng sao sao sáng sao mơ
Góp sao đom đóm dâng thờ tiên thiên
Mắt ngời sao sáng tinh nguyên
Ðã qua mấy kỷ tiên hiền vẫn mong.(TTV)

Tôi đặt tên bài thơ là “Vết Phỏng Một Vì Sao” để nhủ lòng không bao giờ nguôi vết thương tình người con gái Huế  năm xưa ban cho tôi.

Gần bốn mươi năm sau, nàng tiên đó  hiện lên với tôi lần nữa.

Tôi từ Hoa Thạnh Ðốn, với trái tim tan nát, muốn đi thật xa để tìm quên lãng, lấy cớ qua Paris thăm  bạn. Thật tình cờ khi đến Paris tôi được biết cô Cả và chị Lệ hiện ở gần quận 13.  Chị Lệ đã ly dị và có hai đứa con gái .

Người bạn đưa tôi đến thăm cô Cả trước. Lòng tôi ấm lại khi thấy cô ân cần coi tôi như đứa con lưu lạc trở về. Cô hỏi thăm ba má tôi và bảo tôi nên đi thăm chị Lệ, cô nói chị Lệ vẫn nhắc không biết tôi có sống sót qua trận giặc ở quê nhà không và nay tôi trôi giạt về nơi nào.

Ký ức trào dâng, tôi chợt hiểu nỗi lòng của người đàn bà đó tuy chúng tôi chưa hề có một lời tỏ tình với nhau. Nàng Tiên hiền đẹp tuổi  con trai mới lớn của tôi còn sống. Tôi được gặp lại nàng ở Paris. Còn gì hạnh phúc cho bằng.

Tôi tới thăm nàng ngay hôm sau. Nhìn đôi mắt hai đứa con gái nàng ngờ ngợ quan sát tôi, tôi biết nàng đã có nói gì về tôi với các con nhưng tôi giả vờ không biết. Chúng giống mẹ như đúc.

Nàng tự tay làm đặc biệt món đùi trừu kiểu Pháp đãi tôi với rượu vang đắt tiền. Nhưng tôi không thiết ăn uống, tôi cứ nhìn nàng, và tôi gợi cho nàng kể cho tôi nghe về cuốc đời nàng trong bốn mươi năm chúng tôi xa nhau. Khi nàng hỏi về gia cảnh của tôi, tôi chỉ lắc đầu nguầy nguậy. Hôm sau nàng lái xe đến đón tôi mà không lên phòng tôi, nàng sợ người quen tò mò dị nghị.

Chúng tôi đến một nhà hàng Tàu ở quận 13 kêu món ăn nhưng chúng tôi không ăn, chúng tôi mải nói chuyện ngày xưa. Giọng nàng vẫn đầm ấm như thuở nào tuy nay nàng đã có tuổi. Nàng vẫn duyên dáng, sang trọng và nhất là cái miệng của nàng làm tôi nhớ cái miệng của  côø Tiên của tôi ngày xưa.

Chúng tôi ngồi như thế trong tiệm ăn không biết bao lâu, thời gian trôi êm trong buổi chiều Choisy  trắng mây và hiu hiu gió đó.

Nàng nắm tay tôi tha thiết:

“Tên em ghép với tên chị có nghĩa định mệnh. Mấy mươi năm nay chị chỉ ước mong được gặp lại em để nói với em một câu thôi, mà bây giờ chị thấy chị không cần nói nữa, vì khi chị nhìn ánh mắt của em chị đã biết rồi.“

Lúc chia tay nàng cũng không vào phòng tôi tạm trú. Thật bất ngờ khi trong giây phút cuối, nàng  ghé môi hôn lên má tôi.

Trời ơi Trời! Sao nụ hôn đó đã không đến với tôi cách đây bốn mươi năm, bà Tiên của tôi ơi!?

Chúng tôi chia tay không một lời hò hẹn.

Tôi biết. Tôi  yên lặng trở về Hoa Thạnh Ðốn với hình ảnh một dề lục bình tim tím theo dòng đời êm ả cuốn trôi ra biển cả.

Thái Thụy Vy

o O o

Tôi – CTHÐ – cảm động vì chuyện Thái  Thụy Vy kể vì tôi thấy chuyện đó là chuyện thật.

tamNăm 1941, hay 1942, tôi 10 tuổi. Buổi chiều mùa hè, khoảng 5 giờ, tôi trèo lên mái nhà bếp nhà tôi để tìm mấy quả ổi chín trên cây ổi trong khu vườn sau nhà tôi. Khu vườn rộng của ông Bố Chính nhà gần nhà tôi. Có một chị thôn nữ người làng Cầu Ðơ cạnh thị xã làm người giữ vườn, tưới cây, cắt cỏ, trồng hoa. Khi lên đến mái nhà bếp, qua những cành ổi, tôi nhìn thấy chị thôn nữ đứng bên giếng nước trong vườn. Chị không nhìn thấy tôi. Như chị đợi tôi nhìn chị, chị cởi áo, cởi quần, kéo nước giếng lên tắm bên thành giếng.

Lần thứ nhất trong đời tôi nhìn thấy người con gái trần truồng. May mắn đến với tôi: người thiếu nữ trần truồng thứ nhất trong đời tôi là người có tấm thân tuyệt đẹp. Trong nắng chiều mùa hạ, da thịt nàng nâu hồng, nàng như bức tượng đồng biết cử động, biết dội nước mát lên người. Những giọt nước long lanh như ngọc, như kim cương, mơn trên đôi bầu vú căng của nàng, trên đôi mông tròn nây..

Năm 1947, hay 1948, cuộc sống đưa tôi về sống trong một làng vùng quê Bắc Ninh. Tôi giữ một trạm liên lạc của cơ quan trong làng này. Tôi sống trong căn nhà của một ông nhà giầu trong làng. Nhà ông có một gian cho một gia đình tản cư ở. Gia đình chỉ có hai mẹ con. Bà mẹ trạc 40 tuổi, cô con trạc 20 tuổi, chú thiếu niên là tôi 16, 17 tuổi. Tôi biết tên cô gái nhưng tôi và cô chẳng nói chuyện với nhau lần nào. Ðôi khi gặp nhau chúng tôi chỉ mỉm cười chào nhau. Chỉ có thế.

Tôi ăn cơm với ông chủ nhà. Tiền cơm cơ quan trả. Ngày qua ngày, buồn quá không có việc gì làm, không có chỗ đi chơi, không có bạn, tôi sắm một cần câu ra con sông sau làng câu cá. Tôi thích câu cá từ những năm tôi 10 tuổi.

Con sông sau làng là con sông đào – do người đào – không sâu, có chỗ người có thể  lội qua. Lòng sông có cát nên nước sông trong. Buổi chiều, tôi mang cần câu ra bờ sông tìm chỗ ngồi câu, tôi ngồi khuất giữa một vùng cây lá. Ðang câu, tôi nhìn thấy cô thiếu nữ thành phố tản cư ở cùng nhà đi ra bờ sông. Tôi nhìn thấy cô, cô không nhìn thấy tôi. Cô đứng ở chỗ bờ sông cách tôi chừng 20 thước. Cô cởi áo xuống sông tắm. Cô cởi áo thôi, cô vẫn mặc quần. Nhưng chỉ nửa người trên và đôi vú của cô đủ làm cho tôi ngất ngư con tầu đi.

Vì hai người thiếu nữ ngày xưa ấy tôi cảm động với chuyện kể của Thái Thụy Vy. Khác với Thái Thụy Vy, tôi không được nói chuyện với hai nàng, tôi không được gập lại nàng nào trong đời tôi.

Tôi nhìn thấy Nàng trần truồng năm tôi 10 tuổi, tôi nhìn thấy Nàng trần truồng năm tôi 17 tuổi. Hôm nay –  một chiều đầu năm 2013 – tuổi Ðời Tôi Tám Bó, khi viết những dòng chữ này..

Tôi nhìn thấy Nàng bên bờ giếng.

Tôi nhìn thấy Nàng trong dòng sông đào.

Tôi nhìn thấy đôi bầu Vú trinh nguyên chưa có bàn tay đàn ông nào được sờ vào.

Tôi nhìn thấy đôi bầu Vú Ðẹp Nhất Ðời Tôi.

Thanh Xà Bạch Xà

thanhxa2
Năm Tỵ  viết về Rắn để đăng báo Xuân Năm Tỵ là đúng sách vở. Viết bài về Năm Rắn đăng báo Xuân Tỵ mà kể chuyện THANH XÀ BẠCH XÀ là việc làm đúng sách vở thứ hai.

Thanh Xà Bạch Xà là truyện có nhiều người đọc nhất trong bộ Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh, Liêu Trai Chí Dị có 500 truyện, con số truyện ngắn kỷ lục trong một tập truyện. 500 truyện đa số  hấp dẫn, mỗi truyên có những điểm Hay riêng.

Ðây là bản sơ lược truyện Thanh Xà Bạch Xà trên Internet:

Truyền thuyết Thanh Xà Bạch Xà có vào thời Tống, nơi xẩy ra chuyện là  Hàng Châu, Tô Châu và Trấn Giang. Chuyện dân gian đuọc lưu truyền đến ngày nay  có nhiều văn bản khác nhau nhưng những tình tiết chính  thì giống nhau, những chuyện truyền kỳ chỉ khác nhau về chi tiết. Ðây là những sự việc chính của chuyện Thanh Xà Bạch Xà:

Tình cờ hay Duyên Nơ cho gặp nhau ở Tây Hồ, trời mưa, chàng thư sinh – Hưá Tiên – cho nàng kiều nữ – Bạch Xà – mượn ô che mưa. Hai người biết nhau từ đó. Bạch Xà yêu Hưá Tiên, nàng dàn xếp cho chàng và nàng thành vợ chồng.

Pháp Hải Thiền Sư chia rẽ vợ chồng Hưá Tiên – Bạch Xà Tinh. Pháp Hải dùng pháp thuật làm cho Hứa Tiên thấy vợ chàng  hiện nguyên hình là Rắn. Quá sợ, Húa Tiên ngã ra chết. Bạch Xà lên Nga My Sơn lấy trộm cỏ tiên – Linh Chi Thảo – đem về cứu chồng.

Pháp Hải Thiền Sư đưa Hứa Tiên về giữ trong Kim Sơn Tự.  Bạch Xà, Thanh Xà đến Kim Sơn Tự giải cứu Hứa Tiên. Hai nàng dâng nước Tây Hồ lên làm ngập chùa.

Bạch Xà vì sinh con, yếu sức nên bị Pháp Hải bắt, giam trong Lôi Phong Tháp. Thanh Xà chạy thoát.

Hai mươi năm sau, con trai cửa Hưá Tiên – Bạch Xà đỗ trạng nguyên, đến Tháp Lôi Phong làm lễ tế mẹ.  

Thanh Xà sau 20 năm tu luyện, đến Tháp Lôi Phong, đánh bại Pháp Hải, cứu được Bạch Xà.

Một trong các văn bản ghi chuyện như sau:

thanhxa1Lã Ðộng Tân, một trong  Bát Tiên – tám vị Tiên  trong truyền thuyết Tầu – đến bán thuốc ở cầu Ðoạn Kiều bên Tây Hồ. Khi ấy Hứa Tiên – chàng trẻ tuổi được Bạch Xà yêu trong chuyện – được Lã Ðồng Tân cho một viên thuốc tiên. Hưá Tiên uống viên thuốc và bị thuốc phản ứng hành cho gần chết. Lã Ðộng Tân phải mang Hứa Tiên đến Ðoạn Kiều, dốc ngược hai chân chàng lên, viên thuốc bị Hưá Tiên thổ ra rớt xuống Tây Hồ.

Bạch Xà (Bạch Nương Tử ) – nguyên là loài Rắn – tu luyện trong Tây Hồ. Nàng nuốt được viên thuốc tiên do Hưá Tiên thổ ra. Nhờ thuốc tiên, Bạch Xà tăng được công phu như nàng tu luyện trong 500 năm.  Công lực và pháp thuật của nàng tăng tiến. Nay nàng có thể hiện thân thành một xuân nữ tuyệt đẹp. Từ đó nàng lên sống ở Hàng Châu như người phụ nữ thường.

Cùng thời với Bạch Xà, có con rùa đen cũng tu luyện trong Tây Hồ. Con rùa đen này sau là Pháp Hải Hoà Thượng. Rùa đen cũng muốn chiếm được viên thuốc tiên nhưng bị Bạch Xà lấy mất nên đem lòng oán thù. Khi rùa đen hiện được thành người, hoá thành Pháp Hải Thiềâân Sư, ông lên trần tìm Bạch Xà để hãm hại trả thù.

Khi là người, một hôm Bạch Xà  thấy người ở chợ bán một con rắn xanh – rắn thường bị giết lấy mật rắn làm thuốc – nàng mua con rắn ấy. Con rắn xanh ấy là Thanh Xà, Thanh Xà cũng tu luyện nhiều năm nhưng pháp thuật và công lực không bằng Bạch Xà, hai nàng kết làm chị em, cùng sống một nhà.

Ngày Tết Thanh Minh, Bạch Xà và Thanh Xà đi chơi ở cầu Ðoạn Kiều, Hàng Châu. Gặp trời mưa, Bạch Xà được chàng trẻ tuổi Hưá Tiên cho mượn cây dù, từ đó nàng và chàng quen biết nhau.

Bạch Xà yêu Hưá Tiên. Nàng chủ động thực hiện việc chàng và nàng thành vợ chồng. Nàng đưa chồng sang Trấn Giang mở một tiệm thuốc, Thanh Xà đi theo sống với vợ chồng Bạch Xà – Hưá Tiên.  Pháp Hải tìm đến, nói cho Hưá Tiên biết vợ chàng là rắn thành tinh. Hưá Tiên tin lời Pháp Hải, vào tiết Ðoan Ngo, chàng  dùng rượu hùng hoàng do Pháp Hải đưa, cho vợ chàng uống. Bạch Xà uống rượu, hiện nguyên hình là con rắn trắng. Hứa Tiên sợ quá, đứng tim, ngã ra chết.

Bạch Xà đến Nga My Sơn lấy trộm cỏ tiên, đem về cứu chồng. Hưá Tiên sống lại nhưng chàng bị Pháp Hải bắt, đem giam trong  Kim Sơn Tự, Pháp Hải giam Hứa Tiên trong chùa để ngăn cách chàng và cô vợ rắn của chàng. Bạch Xà và Thanh Xà đến chùa Kim Sơn cứu Hưá Tiên. Hai nàng đấu pháp với Pháp Hải, nhưng Bạch Xà vừa mới sinh con trai, công lực chưa phục hồi, hai nàng đánh không lại. Pháp Hải bắt được Bạch Xà, giam  trong Tháp Lôi Phong. Thanh Xà chạy thoát.

Những ngày như lá, tháng như mây. Hai mươi năm sau, con trai của Bạch Xà và Hưá Tiên thi đỗ Trạng nguyên, chàng áo gấm về làng, đến Tháp Lôi Phong làm lễ tế mẹ.

Khi đó  Thanh Xà tu luyện đã thành tiên, trở lại chùa Kim Sơn, thi triển pháp thuật, đánh thắng Pháp Hải, phá được tháp Lôi Phong,, cứu được Bạch Xà.

Thanh Xà dâng nước Tây Hồ tấn công tháp Lôi Phong. Pháp Hải bị đánh bại, nhầy xuống Tây Hồ trốn. Nước Tây Hồ cạn, Pháp Hải chui vào trốn trong bụng loài cua. Vì Pháp Hải bận áo đạo mầu vàng nên từ đó mỡ trong bụng loài cua có mầu vàng.

Vợ chồng Hưá Tiên-Bạch Xà đoàn tụ.

o O o

Ðấy là chuyện Thanh Xà – Bạch Xà trong truyền thuyết của người Trung Hoa. Chuyện được Bồ Tùng Linh viết thành truyện và là truyện được nhiều người Việt đọc nhất trong bộ Liêu Trai Chí Dị.

Thanh Xà Bạch Xà được giới điện ảnh Trung Hoa làm thành phim xi-nê nhiều lần nhất. Xét sơ sơ trên Internet, thấy trước sau – từ năm 1930 tới nay, 2012 – điện ảnh Ðài Loan, Hong Kong, Trung Cộng đã làm tới 20 bộ phim Thanh Xà Bạch Xà.

Những tấm ảnh được đăng cùng bài viết này lấy từ bộ phim Thanh Xà Bạch Xà được thực hiện năm 2011. Phim có tên tiếng Anh là The Sorcerer and The White Snake. Nhà Phù Thủy và con Rắn Trắng.

Trong phim The Sorcerer and The White Snake, diễn viên Lý Liên Kiệt – Jet L – thủ vai Pháp Hải Thiền Sư.  Ðạo diễn làm cho  phim trở thành một phim đấu phép. Cuộc Tình Người Rắn – Hưá Tiên Bạch Xà mờ nhạt. Pháp Hải là vai chính trong phim, Hưá Tiên trở thành vai phụ. Giới phê bình điện ảnh Trung Hoa, và khán giả, cho phim The Sorcerer and The White Snake là phim Thanh Xà Bạch Xà dở nhất. Phim có quá nhiều cảnh đấu phép giữa Pháp Hải và Bạch Xà. Những cảnh đấu phép trong phim toàn là xảo thuật, khán giả đã quá chán với những trò giả tạo: diễn viên tung chưởng phong làm đá chạy, cát bay, diễn viên từ bờ sông nhẩy lên đỉnh núi, phóng tay cho nước hồ dâng lên ngập núi .. v..v…

Tháng Mười 2012 khi tôi, CTHÐ Hoàng Hải Thủy, viết bài Xuân này, nắng vàng trên Rừng Phong. Tôi thả hồn tôi bay ngược dòng thời gian, tôi trở lại là tôi  những năm 1960, tôi ba mươi tuổi. Trong những năm 60 ở Sài Gòn tôi xem 2 phim Thanh Xà Bạch Xà. Phim Thanh Xà Bạch Xà thứ nhất  tôi xem là phim của điện ảnh Ðài Loan, phim mầu Technicolor. Thời ấy, khoảng năm 1960, phim xi-nê Ðài Loan như phim Thanh Xà Bạch Xà là rất được, rất chỉnh.

Sáu mươi năm biển dâu, hai mươi năm trời nghiêng, đất ngả, 1960 – 2012, hôm nay cô liêu ở xứ người, đời tôi không phải là ở vào những chiều xế bóng mà là đã đến những tối không còn mặt trời, nhưng chưa có trăng sao, tôi làm công việc tôi yêu thích nhất và là việc tôi đã làm suốt đời tôi: việc Viết – đã Viết mà còn là Viết chuyện TÌNH YÊU – TÌNH YÊU viết Hoa bẩy chữ, Hoa luôn Dấu Huyền, Dấu Mũ. Muốn Viết, được Viết. Viết từ năm hai mươi tuổi đến năm tám mươi tuổi, tôi thấy tôi là người may mắn, tôi là người sung sướng. Tôi tạ Ơn Trời, tôi cám ơn Ðời.

Sáu mươi năm xưa khi đoc truyện Thanh Xà Bạch Xà  Liêu Trai Chí Dị, tôi không cảm động gì nhiều. Nhưng khi xem phim xi-nê Thanh Xà Bạch Xà, tôi bị ngẩn ngơ vì cuộc TÌNH trong truyên. TÌNH viết Hoa bốn chữ, Hoa dấu Huyền. Tôi thấy YÊU, YÊU viết Hoa ba chữ, Hoa dấu Mũ, như Bạch Xà yêu Hứa Tiên là “Tuyệt đỉnh của Tình Yêu.” Người và Người yêu nhau có gì là lạ. Vật và Người yêu nhau mới ly kỳ.

Tôi thấy Bạch Xà yêu Hưá Tiên hơn Hứa Tiên yêu Bạch Xà. Anh hoc trò tầm thường Hưá Tiên yêu rất lơ tơ mơ. Mấy lần Hưá Tiên khi biết cô vợ đẹp của chàng là Rắn, tìm cách cắt đứt cuộc tình với Nàng, chàng sẵn sàng làm theo lời yêu cầu của Pháp Hải, chàng làm cả những việc có thể làm Bạch Xà phải chết. Tôi cảm khái vì Tình Yêu của Bạch Xà. Năm mươi năm trước, ở Sài Gòn, thành phố thủ đô của tôi, nhiều lần tôi  viết

Yêu như Tố Tố yêu Thúy Sơn là tuyệt đỉnh của Tình Yêu.”

Trên thuyền của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn trên đường đi lên biển Bắc, sau cuộc ân ái thứ nhất, nằm ôm nhau trong khoang thuyền mờ ảo, Tố Tố nói với Thúy Sơn:

“Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, lúc nào chúng ta cũng gần nhau.”

Năm nay, 2012, ở Xứ Người Kỳ Hoa Ðất Trích, tôi viết:

“Yêu như Thanh Xà yêu Hưá Tiên là Tuyệt Ðỉnh của TÌNH YÊU.”

Chín giờ một buổi tối tôi không nhớ là buổi tối năm 1957 hay 1958, 1959, chỉ nhớ là một năm trước năm 1960, tôi vào rạp xi-nê Lido, Chợ Lớn, xem phim Thanh Xà Bạch Xà…. Tôi nhớ chuyện phim không còn rõ lắm, nên tôi kể chuyện như vầy::

Sau khi sống chung vợ chồng với Bạch Xà, một hôm Hưá Tiên gập ông Thầy Phù Thủy ở chợ. Thầy Phù Thủy ngăn chàng lại:

“Mặt cậu có nhiều yêu khí. Sao cậu lại sống chung với yêu quỷ? Chỉ có sống chung với Yêu Quỷ mặt cậu, người cậu mới có nhiều yêu khí đến như thế này. Nói thật với tôi đi, Trong nhà cậu có những ai? Tôi sẽ cứu cho. Nếu không cậu sẽ chết thảm.”

Hứa Tiên kể trong nhà chàng chỉ có vợ chàng, và cô em của vợ chàng, Thầy Phù Thủy quả quyết:

“Nếu chỉ có hai người đó sống chung nhà với cậu thì một trong hai người là yêu quỷ.”

Nghe Thầy Phù Thủy nói, Hưá Tiên nửa tin, nửa ngờ,. Thầy Phú Thủy bảo chàng:

“Tôi cứu cậu. Tôi sẽ trừ con Yêu ấy. Tôi cho cậu lá bùa này. Nửa đâm nay tôi sẽ đến trước cửa nhà cậu. Khi cậu nghe tiếng mõ của tôi, trong nhà cậu châm lửa đốt lá bùa này. Con Yêu trong nhà cậu sẽ hiện nguyên hình. Khi ấy tôi sẽ vào nhà bắt nó.”

Ðêm. Phòng vắng. Ánh sáng lờ mờ. Hưá Tiên từ trong giường ngủ ren rén ra ngồi ở bàn. Ngọn nến chập chờn trên bàn. Trước nhà Thầy Phù Thủy gõ mõ, niệm chú:

“Úm ma ni bát mê hồng.. Cốc.. cốc.. Úm ma ni ..cốc, cốc ..bát mê hồng.. Cốc cốc..”

Trong giường, dưới tấm mền hoa, có vật gì uốn mình cuồn cuộn. Người đàn bà ngồi bên tôi nắm chặt tay tôi, nàng sợ Rắn.

Giữa những tiếng “Cốc.. cốc.. Úm ma ni  bát mê hồng..” Hứa Tiên, tay run run, cầm lá bùa đưa vào lửa nến.

Soạt…! Khán giả giật mình. Bạch Xà ngồi cạnh Hưá Tiên:

“Anh làm cái gì vậy?

Hưá Tiên ú ớ:

“ Bùa.. Bùa trừ yêu quái. Ông thầy nói trong nhà ta có yêu ma.”

“Nói bậy.”

Bạch Xà bắt quyết.

Bịch. Thầy Phù Thủy ngã ngửa, nằm chết ngất.

Tiếng “Um ma ni bát mê hồng” ngừng bặt.

Bạch Xà bảo Hứa Tiên:

“Anh đốt đi.”

Không nhớ Hứa Tiên có đốt lá bùa hay không. Nhớ là sau đó Hưá Tiên bị lính phủ đến bắt: chàng can tội lẻn vào kho bạc Nhà Vua lấy trộm những nén bạc. Bạch Xà bay vào kho bạc lấy trộm bạc cho chồng sài. Khi Hưá Tiên mang những nén bạc đi mua gạo, chủ tiệm nhận ra đó là bạc lấy trộm trong kho bạc. Bị bắt, bị hỏi cung, Hưá Tiên khai vợ chàng đưa cho chàng những nén bạc ấy. Sai nha đến nhà Hứa Tiên. Vợ Hưá Tiên biến mất. Quan phủ không bắt được vợ Hứa Tiên. Hưá Tiên phải chịu tội.

Hứa Tiên bị đi đầy. Bạch Xà đi theo chồng. Nàng là con rắn trắng nằm trong túi vải đựng quần áo của Hưá Tiên. Chỉ những lúc không có lính dẫn tù đi ở bên cạnh, Bạch Xà mới hiện thành người, nàng săn sóc, an ủi chồng.

Hưá Tiên khóc:

“Anh xin em tha cho anh. Em đừng đi theo anh nữa.”

“Em yêu anh. Làm sao em bỏ anh được.”

“Từ ngày em về với anh, anh khổ quá.”

“Anh yên tâm. Em sẽ đưa anh ra khỏi cảnh tù đầy này. Chúng ta sẽ sống bên nhau ở một nơi tuyệt đẹp.”

“Nhụng hai loài khác nhau không thể sống vợ chồng với nhau.”

“Sao lại không được. Chúng ta yêu nhau, chúng ta có quyền sống với nhau..”

Ông Thầy Phù Thủy bị Bạch Xà đánh hộc máu về núi xin Sư  Phụ của ông xuống núi bắt yêu quái. Sư Phụ Thiền Sư cũng không diệt trừ được Bạch Xà, ông bắt Hưá Tiên, đưa về giữ trong ngôi chùa trên núi. Bạch Xà đến trước cổng chùa:

“Trả chồng ta đây.”

Thiền Sư mắng:

“Yêu quái. Ngươi là Rắn, Rắn không thể làm vợ người.”

“Sao lại không được. Chúng tôi yêu nhau, chúng tôi vợ chồng với nhau, Thượng Ðế đâu có cấm chúng tôi yêu nhau. Các người ngăn cản, chia rẽ chúng tôi, các người mới là những người làm trái lòng thương yêu  muôn loài của Thượng Ðế. Không chịu trả chồng tôi, tôi sẽ phá nơi này để cứu chồng tôi.””

“Ngươi nói bậy. Ðây là cõi Phật. Xâm phạm chùa này, ngươi sẽ chết.”

“Chết ta cũng đánh.”

Nàng dâng nước Tây Hồ lên đến tận cổng chùa Kim Sơn trên núi. Nhân dân chết nhiều quá. Phật Tổ được cầu cứu. Phật không giết Bạch Xà. Cảm động vì Tình Yêu của Bạch Xà, Phật nói;

Nó u mê vì Tình. Không phải chỉ mình nó u mê, tất cả chúng sinh đều u mê điên đảo vì Tình như nó. Làm nó mất công phu tu luyện là bất công với nó. Chia rẽ chúng ta không nỡ. Thôi thì không thể cho hai tên u mê đó sống vợ chồng ở trần gian, ta cho chúng sang sống ở một cõi khác.”

Những mùa thu lá bay theo nhau qua…..

Hôm nay nhớ lại chuyện phim tôi xem 60 năm xưa, tôi nhớ những gì tôi kể những gì. Tôi nhớ cảnh cuối cùng của phim Thanh Xà Bạch Xà LIDO Sài Gòn Xưa là cảnh Hưá Tiên và Bạch Xà nắm  tay nhau đi trong trời đất đầy hoa bướm, hai người yêu nhau nắm tay nhay bay trong những tầng mây hồng, mây trắng.

Sau khi xem phim Thanh Xà Bạch Xà tôi nghĩ: “Tình Yêu tuyệt vời. Người và Vật có thể yêu nhau.” Tôi nghĩ như vậy trong nhiều năm, Sau đó cuộc đời làm tôi sáng mắt, sáng lòng, tôi nghĩ:

Làm gì có chuyện Người và Vật yêu nhau, sống chung như vợ chồng. Cứ bảo Bạch Xà là rắn, Hưá Tiên lấy vợ  là con rắn trắng. Nhưng ta thấy  Bạch Xà có phải là Rắn đâu, Bạch Xà là Em Kiều Nữ Trinh Nữ Mười Tám, Ðôi Mươi thơm hơn múi mít. Rắn mà tu luyện thành Người Ðàn Bà Ðẹp như Bạch Xà, ai mà không mê. Dù Nàng nói:

“Em là Rắn đấy.”

Ai mà chẳng nói:

“Em là Rắn anh cũng yêu em.”

Một lần vào một nhà “All You Can Eat”, tôi thấy tấm giấy có hàng chữ ở bàn thức ăn:

“Ăn bao nhiêu, lấy bao nhiêu.”

Một ông Tầu Mỹ viết tiếng Việt. Tôi nghĩ:

“Ăn bao nhiêu, lấy bao nhiêu” đúng chứ.

Nên hôm nay tôi viết:

“Tôi nhớ những gì, tôi kể những gì.”

Hưá Tiên Bạch Xà sau bao nhiêu gian khổ được sống vợ chồng với nhau trong Cõi Tiên. Tình Yêu chiến thắng. TÌNH YÊU viết Hoa bẩy chữ, Hoa dấu Huyền, Hoa dấu Mũ. Tốt Ðẹp cho Bạch Xà, nhưng..

Théc méc : Nhưng còn Em Thanh Xà thì sao? Chuyện bỏ quên Em Thanh Xà. Em này cũng tu luyện ngàn năm, cũng hiện thân thành kiều nữ thơm hơn múi mít. Em từng sống nhiều năm trong nhà Hứa Tiên, Em có công trong việc phá chuà làm cho vợ chồng Hưá Tiên Bạch Xà đoàn tụ gia đình. Quên Em sao đành. Sao nỡ quên Em. Người ta sống ở đời phải có Tình Nghĩa, phải biết ơn người làm ơn cho mình. Biết ơn thì phải trả ơn. Bỏ quên Thanh Xà là không nên. Lại càng không nên để mặc Nàng lủi thủi một mình trở về núi tu luyện thêm ngàn năm nữa.

Tôi, CTHÐ nghĩ:

“Thanh Xà làm Vợ Bé Hưá Tiên là Hay nhất, Ðẹp nhất. Ðể Nàng trở về núi, tội nghiệp Nàng.”

“Bạch Xà có nhiều tình cảm, Nàng vẫn yêu thương cô em Thanh Xà. Rất có thể Bạch Xà chủ động trong việc làm cho Thanh Xà thành Vợ Bé của chồng nàng.”

“Anh chàng Hứa Tiên ngoan hiền vẫn quen làm theo những gì vợ chàng muốn chàng làm. Không có lý do nào để Hưá Tiên không chịu nạp Thanh Xà làm Vợ Bé.”

Ơi.. Ông bạn Bẩy Bó, ông bạn Tám Bó đang đọc những dòng chữ này, ông bạn có thể nghĩ:

“Anh Công Tử Hà Ðông muốn có Vợ Bé mà không có Vợ Bé, nên anh bị ám ảnh vì Vợ Bé, anh hay viết về Vợ Bé. Anh súi người khác có Vợ Bé. Thấy người khác có Vợ Bé, anh có vẻ thích thú như anh có Vợ Bé vậy.”

Oan tôi quá, ông bạn ơi. Em Thi Mầu bị nghi là còn Trinh Oan làm sao thì tôi Oan như thế.. Xin hỏi ông một câu:

“Nếu ông là Hưá Tiên, ông có nạp Em Thanh Xà làm Vợ Bé hay không?”

Khỏi cần ông trả lời. Em nhỏ lên ba cũng biết câu trả lời của ông.

Trong bài này có câu:

“Người đàn bà ngồi bên tôi nắm chặt tay tôi..”

Xin hỏi “Người đàn bà” ấy là:

Nữ khán giả không quen biết tình cờ ngồi cạnh tôi.

Nàng là Người Yêu của tôi.

Nàng là Vợ tôi.

Chúc quí vị Năm Mới Vui Mạnh.

Hẹn gặp lại quí vị Tết sang năm.

TUYỆT ÐỈNH TÌNH YÊU

Bích Hợp đàn ghi-ta. Ảnh năm 1947, hay năm 1948. Một trong bốn người đàn ông trong ảnh là Phùng Tử Lân.

Bích Hợp đàn ghi-ta. Ảnh năm 1947, hay năm 1948. Một trong bốn người đàn ông trong ảnh là Phùng Tử Lân.

TÌNH YÊU viết Hoa Bẩy Chữ, Hoa luôn Dấu Huyền, Dấu Mũ.

Ðêm, Trong khoang thuyền tối, ấm của chiếc Thuyền buồm căng gió trôi lên biển Bắc; sau cuộc ân ái đầu tiên, đôi người trẻ tuổi nằm ôm nhau. Nàng – Ân Tố Tố – nói;

“Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới điạ ngục, ở đâu, lúc nào  đôi ta cũng yêu nhau, cũng sống với nhau.”

Chàng – Trương Thúy Sơn – nói:

“Anh cũng muốn nói với em như thế.”

bich-hopNàng là con gái  Ân Thiên Chính, Giáo Chủ Bạch My Giáo, chàng là thiếu hiệp Võ Ðang. Bạch Mi Giáo bị võ lâm coi là tà giáo, ma giáo. Tất nhiên, theo tiểu thuyết võ hiệp Tầu, chính phái không thân thiện, không dung dưỡng Ma giáo. Võ Ðang là chính phái. Thiếu hiệp Võ Ðang và Ma nữ Bạch Mi không thể là vợ chồng. Việc họ yêu nhau là tai họa cho họ.  Nhưng định mệnh an bài cho hai người gặp nhau, yêu nhau. Ân Tố Tố yêu Trương Thúy Sơn. Ân Tố Tố linh động, mưu trí, sắc xảo hơn Trương Thúy Sơn. Vì yêu chàng, nàng dàn xếp cho chàng cùng nàng ra Vương Bàn Sơn dự đại hội Dương Ðao Lập Oai – Bạch Mi Giáo vừa đoạt được cây đao Ðồ Long. Lời truyền tụng:” Ai làm chủ Ðồ Long Ðao sẽ làm bá chủ võ lâm.” Ðại Hội Dương Ðao Lập Oai được Bạch Mi Giáo tổ chức trên đảo Vương Bàn Sơn ngoài biển Ðông, mời đại biểu các võ phái đến dự, để báo cho thiên hạ biết Bạch Mi Giáo nay làm chủ cây đao Ðồ Long:

Ðồ Long bảo đao
Võ lâm chí tôn,
Hiệu lệnh thiên hạ
Mặc cảm bất tòng
Ỷ Thiên bất xuất
Thùy dĩ tranh phong.

Tạ Tốn, Kim Mao Sư Vương của Bạch Mi Giáo, nhưng ly khai giáo phái, đến Vương Bàn Sơn cướp Ðồ Long Ðao, bắt Ân Tố Tố và Trương Thúy Sơn lên thuyền đi cùng mình đến Băng Hỏa Ðảo.

Ðấy là phần mở đầu của truyện Ðồ Long Ỷ Thiên Ký.

bich-hop-cailuongNhững người Yêu nhau, tất cả, kể từ ngày Trái Ðất có Người đến ngày Trái Ðất tan thành tro bụi, đều muốn được sống gần nhau. Nỗi Khổ thứ nhất trong Tám Nỗi Khổ Lớn của Người – Bát Ðại Khổ Não – là: “Yêu nhau mà không được sống với nhau.”

Với tôi, lời Ân Tố Tố:

 “Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, ở đâu, lúc nào đôi ta cũng yêu nhu, cũng sốngvới nhau.”

Là Lời Tuyệt Ðỉnh Tình Yêu.

Ðề tài bài Viết ở Rừng Phong hôm nay là TÌNH YÊU viết Hoa Bẩy Chữ, Hoa luôn Dấu Huyền, Dấu Mũ.

Tôi đã viết về Tình Yêu của Ông Bà Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận, về Tình Yêu của Dương Hà – Kim Lệ. Hôm nay tôi viết về Tình Yêu của Bích Hợp và Phương Bi Ve.

Chị Bích Hợp là diễn viên thứ hai của Ðoàn Cải Lương Kim Chung, đoàn cải lương Bắc Kỳ duy nhất sống được trong nhiều năm ở Sài Gòn.  Bích Hợp chuyên thủ vai đào thương, giữ những vai phụ bên cạnh diễn viên chính là Kim Chung. Tôi thấy chỉ có một vở tuồng của Ðoàn Kim Chung mà đào Bích Hợp đóng vai chính. Ðó là vở Dưới Mái Tây Hiên. Mỗi năm Ðoàn Kim Chung chỉ diễn Dưới Mái Tây Hiên một, hai lần. Những đêm ấy cô đào Số Một Kim Chung nghỉ diễn. Kim Chung không hợp với vai Thôi Oanh Oanh, nhưng Bích Hợp mà là Thôi Oanh Oanh thì Nhất. Không cô đào nào có thể là Thôi Oanh Oanh Dưới Mái Tây Hiên Hay, Ðúng, Tuyệt  bằng Bích Hợp.

Những năm 1948, 1949, tôi nghe mấy anh trong cơ quan Tình Báo có tôi làm giao liên – liên lạc viên, đi chân đất, đưa thư tay – nói với nhau về vở tuồng Dưới Mái Tây Hiên và cô đào Bích Hợp. Mấy anh này chỉ từ 25 đến 30 tuổi. Mấy anh từng xem những vở tuồng của Ðoàn Kim Chung. Mấy anh mê nhất là vở Dưới Mái Tây Hiên. Mấy anh mê Bích Hợp hơn mê Kim Chung. Có anh nhớ được vài câu trong bài Vọng Cổ cuối cùng của vở Dưới Mái Tây Hiênkhi chàng Trương Quân Thụy thi đỗ Trạng nguyên từ kinh đô trở về với nàng Thôi Oanh Oanh, nhưng nàng đã chết. Tôi nghe mấy câu ca ấy mà trái tim 15 mùa xuân trắng hồng của tôi ngây ngất.

Như vậy là Bích Hợp đã diễn vai Thôi Oanh Oanh Dưới Mái Tây Hiên từ những năm 1942, 1943.

tong-ngocNhững năm 1955, 1956, ở Sài Gòn, tôi nghe nói về Cuộc Tình của Bích Hợp và Phùng Tử Lân, rồi Cuộc Tình của Bích Hợp và Phương Bi Ve. Phùng Tử Lân là một Tiểu Ðoàn Trưởng Việt Minh. Bích Hợp yêu Phùng Tử Lân ở Liên Khu Ba, hay Liên Khu Tư những năm tản cư, kháng chiến 1948, 1949. Phùng Tử Lân bị lao phổi, anh yêu Bích Hợp nhưng anh biết anh không sống được bao lâu nữa nên anh không muốn nàng bị khổ vì anh, anh không chịu cho Bích Hợp làm vợ anh, anh sợ Bích Hợp lây bệnh nên anh không cho nàng ở gần anh. Bích Hợp biểu lộ tình yêu bằng cách ‘ nuốt cục đờm” của Phùng Tử Lân. Việc làm này của Bích Hợp được giới Nhà Hệt và giang hồ Hà Nội gọi là chuyện “Bích Hợp nuốt đờm.” Một chuyện Tình cảm động nhất mà tôi được nghe, được gặp, được nói chuyện với nữ nhân vật chính.

Chuyện kể thứ hai về việc “Nuốt đờm”: Trong chuyện thứ hai này người nuốt đờm là Phương Bi Ve.” Phương nuốt đờm của Bích Hợp. Chuyện như sau:

Phùng Tử Lân chết. Bích Hợp về Hà Nội cùng với Ðoàn Cải Lương Kim Chung. Ðoàn lại diễn ở Hà Nội. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneve chia đôi đất nước, quân Pháp và chính quyền Quốc Gia Việt Nam – Thủ Hiến Bắc Việt Lê Quang Luật – ra khỏi Hà Nội nhưng còn ở Hải Phòng 300 ngày mới  đi khỏi Bắc Việt. Ðoàn Kim Chung ở Hà Nội sang Hải Phòng và ở lại Hải Phòng trong 300 ngày. Ðoàn phải trình Ty Thông Tin Hải Phòng về những vở tuồng đoàn trình diễn. Phương là nhân viên Ty Thông Tin Hải Phòng có nhiệm vụ giao thiệp, cấp giấy phép và theo dõi việc ca hát của đoàn. Anh có dịp lui tới rạp hát. Anh yêu Bích Hợp. Nàng cho anh biết nàng bị lao phổi – vì lây bệnh lao của Phùng Tử Lân – Phương biểu lộ tình yêu bằng cách “nuốt cục đờm” của Bích Hợp. Việc Phương nuốt đờm làm Bích Hợp cảm động, nàng chịu làm vợ Phương. Tuy Phương đã có vợ con, anh bỏ vợ để sống với Bích Hợp. Nghe nói Bích Hợp có đưa cho vợ Phương một khoản tiền làm vốn buôn bán.

Bích Hợp nuốt đờm của Phùng Tử Lân, hay Phương nuốt đờm của Bích Hợp? Tôi có thể hỏi và biết ai nuốt đờm ai nhưng năm xưa tôi đã không hỏi.

Tôi không thể hỏi chị Bích Hợp: “Có phải chị nuốt đờm của anh Phùng Tử Lân không?” Nhưng tôi có thể hỏi Phương Bi Ve: “Moa nghe nói toa nuốt đờm của Bích Hợp. Có chuyện ấy không?”

Tôi có thể hỏi anh Tống Ngọc:

“Có thật là Bích Hợp nuốt đờm của Phùng Tử Lân không? Chuyện Phương Bi Ve nuốt đờm của Bích Hợp có thật không?”

Nhưng năm xưa khi có thể hỏi những câu đó, tôi đã không hỏi.

Năm 1956 sau khi tôi viết phóng sự Vũ Nữ Sài Gòn, Tây Ðực Tây Cái, tôi có chút danh còm, tôi được công nhận là văn nghệ sĩ, tôi được quen anh Phương Bi Ve. Trong đời tôi, tôi thấy ba người có xước hiệu, tức hỗn danh, đúng với con người của họ. Ðó là các anh Hùng Sùi, Kim Vá và Phương Bi Ve.

Phương người hơi thấp, mặt tròn, bụng tròn, toàn thân anh tròn như hòn bi nên anh có tên là Phương Bi Ve.

Trước năm 1945, thiếu niên Bắc Kỳ chơi trò đánh bi theo người Pháp. Tôi không biết thiếu niên Trung Kỳ, Nam Kỳ 70 năm xưa có chơi Bi hay không. Bi: bille. Những hòn bi bằng đá, phải nhập vào nước ta từ bên Pháp, ta năm xưa không làm được bi. Những hòn bi bằng thủy tinh: bille verre, được gọi là Bi Ve. Những hòn Bi Ve này lớn, có mầu, được quí hơn những hòn bi bằng đá. Từ trò chơi Bi, ngôn ngữ Bắc Kỳ những năm 1950 có tiếng “dzin-tê”: entrer, bắn hòn bi vào vòng tròn. Những năm 1950 dân Bắc Kỳ đi tản cư trở về thành phố gọi là “dzinh-tê.”

Phương Bi Ve và tôi không mày tao, không anh tôi, chúng tôi toa, moa với nhau. Tôi tin nếu tôi hỏi anh về chuyện Nuốt Ðờm, anh trả lời mà không bị mặc cảm, không khó chịu. Nhưng năm xưa tôi đã không hỏi. Tôi tin chuyện chị Bích Hợp nuốt đờm của Phùng Tử Lân là chuyện thật. Tôi cho việc đó là biểu hiệu của Tuyệt Ðỉnh Tình Yêu. Nhưng  Bích Hợp không bị lây bệnh lao phổi của Phùng Tử Lân. Nếu Phương Bi Ve không nuốt đờm của Bích Hợp làm Bich Hợp cảm động thì Phương đã làm gì để Bích Hợp yêu anh, làm vợ anh?

Phương Bi Ve và Bích Hợp là vợ chồng từ năm 1955. Khoảng năm 1960 tôi không biết tại sao có một số xe ô tô Hoa Kỳ – loại xe to tổ bố – được bán với giá rẻ. Phạm Duy, Nguyễn Long, Phương Bi Ve mỗi người mua một chiếc xe Hoa Kỳ ấy. Phương lái xe đưa vợ đi làm. Anh đưa Bích Hợp từ nhà ở đường Hiền Vương đến rạp Aristo đường Lê Lai khoảng 7 giờ tối, 11 giờ đêm anh lái xe đến rạp đón vợ về. Những năm 1970 – dường như đến năm 1970 Bích Hợp nghỉ hát – Phương làm nhân viên Hãng National, Giám đốc là ông Nguyễn Thành Nam. Hãng này nhập vào Việt Nam những radio, máy hát đĩa National của Nhật.

Phương nói với tôi:

“Moa nói với Bích Hợp: Em đã nuôi anh trong bao nhiêu năm. Nay em không đi hát  nữa, anh đi làm để nuôi em. Phải đạp xích lô anh cũng đạp.”

Tôi không nhớ đúng năm tháng. Khoảng năm 1970, tôi nghe chuyện  ông Ðức Âm, ông nhà giầu người Bắc di cư  mê Bích Hợp từ những năm 1942, 1943, nay bà vợ ông qua đời, ông bỏ bạc triệu ra “mua” Bích Hợp về làm vợ ông. Và Bích Hợp đã bỏ Phương Bi Ve. Tôi gặp Phương Bi Ve. Phương hỏi tôi ngay:

“Toa có nghe chuyện Bích Hợp bỏ moa chứ?”

Anh không hỏi tôi: “Toa có tin Bích Hợp bỏ moa đề về với Ðức Âm không?” Anh kể:

“Không biết thằng nào bầy đặt ra chuyện đó. Mà có nhiều người tin là thật. Moa ghé tiệm anh em thằng N.  Gặp moa thằng N, nó nói ngay: “Không ngờ Bích Hợp tệ thế. Vợ chồng với nhau mấy chục năm mà bỏ đi lấy lão nhà giầu.” Nó nói thế moa chỉ ừ hữ. Mấy hôm sau moa bảo Bích Hợp ăn bận, trang điểm, đi với moa đến tiệm thằng N. Moa nói với nó: “Hôm nọ anh có hỏi thăm Bich Hợp. Hôm nay tôi đưa Bích Hợp đến gặp anh.” Thằng N. nó ngượng quá.”

Tiệm của anh em N. là tiệm Nouveautés trong hành lang Eden, tiệm chuyên bán đồ đàn ông cravate, mouchoir, bí tất, ví da, giầy, nước hoa của Pháp.

Tôi phải phục kẻ nào bịa chuyện “ông Ðức Âm “mua” cô đào thương  Bích Hợp. “Chuyện có những sự kiện phụ hợp lý làm người nghe dễ tin: ông Ðức Âm mê Bích Hợp từ những năm 1942, 1943. Nay bà Ðức Âm qua đời. Nếu còn bà Ðức Âm, không thể có chuyện ông Ðức Âm “mua” Bích Hợp.

Tôi không biết năm xưa ấy ông Ðức Âm có biết chuyện bịa ông “mua” Bích Hợp hay không.

Sài Gòn những năm 1980 có chuyện Phạm Duy ở Mỹ chết vì bệnh đau tim. Nghe chuyện này tôi nghĩ: “Phạm Duy làm gì có tim mà chết vì đau tim.”

Chuyện bịa thứ hai loan truyền trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn những năm 1980 là diễn viên điện ảnh Glenn Ford chi 3 triệu đô-la để mua nữ diễn viên Kiều Chinh. Không biết ở Mỹ, Kiều Chinh có nghe chuyện đó hay không.

Từ lâu tôi vẫn dự định đêm nào Ðoàn Kim Chung diễn vở Dưới Mái Tây Hiên, tôi sẽ đi xem. Khoảng năm 1960, khi thấy Ðoàn Kim Chung quảng cáo Ðoàn diễn vở Dưới Mái Tây Hiên, tôi nói với vợ tôi:

“Chúng mình đi xem Dưới Mái Tây Hiên nhé!”

Cho đến năm 1960 tôi mới được xem vở tuồng có những lời ca làm tôi ngây ngất những năm tôi 14, 15 tuổi. Ðây là lần thứ nhất, lần duy nhất tôi xem Huỳnh Thái và Bích Hợp diễn Dưới Mái Tây Hiên.

Tôi đi tìm Tống Ngọc, hẹn anh đón vợ chồng tôi ở cửa rạp Aristo. Chúng tôi mua vé dễ thôi nhưng ký giả-văn sĩ đưa vợ đi xem cải lương mà có người của đoàn hát đón vào rạp vẫn hách hơn. Tôi quen anh Tống Ngọc qua anh Lê Văn Vũ Bắc Tiến. Có thời anh Lê Văn giữ trang Kịch Trường Nhật báo Ngôn Luận. Anh Lê Văn lấy chị Thu Nhi, một diễn viên Ðoàn Kim Chung.

Chị Thu Nhi có một đời chồng, có hai, ba con nhỏ, anh Lê Văn có một đời vợ, có hai, ba con nhỏ. Anh chị có hai, ba con với nhau. Vợ chồng Thu Nhi-Lê Văn là vợ chồng trong chuyện kể: chị vợ nói với chồng : “Con anh, con em, chúng nó đang đánh con chúng ta.”

Năm 1955, Bích Hợp mở đoàn hát riêng lấy tên là Ðoàn Bích Hợp. Tống Ngọc là quản lý của đoàn. Trên đường di cư vào Nam, Ðoàn Bích Hợp dừng lại ở những thành phố lớn để hát. Ðoàn vào đến Ðà Nẵng thì tan hàng. Bích Hợp trở về với Ðoàn Kim Chung. Tôâi không biết Tống Ngọc sống bằng gì. Trong cuộc binh biến các ông Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Ðông làm đảo chính hụt, Tống Ngọc ở trong đám quân sư quạt mo. Các vị sĩ quan đi hết, Tống Ngọc bị bắt trong Phòng Hội Bộ Tổng Tham Mưu, Tôi không biết ra toà anh bị án bao nhiêu năm, tôi chỉ biết anh bị đưa ra tù ở Côn Ðảo, anh từ Côn Ðảo về Sài Gòn cùng với ông Tù Phan Khắc  Sửu.

Tống Ngọc chạy được trước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Năm 1998 tôi đựợc các ông  chủ báo Hồ Công Lộ, Vi Túy mời sang thăm Úc, anh Tống Ngọc là người làm giấy bảo lĩnh cho tôi vào Úc. Tôi đến Melbourn, Tống Ngọc ở Sydney, anh ngồi xe bus chạy suốt đêm sang Melbourn để đón tôi ở phi trường Melbourn vào sáng hôm sau. Anh ở chơi với tôi ở Melbourn hai ngày rồi lại ngồi xe bus chạy suốt một ngày về Sydney. Anh đón tôi ở bến xe bus Sydney khi tôi đến Sydney, anh tiễn tôi ở phi trường Sydney khi tôi về Mỹ. Anh bằng tuổi Phạm Duy. Gặp lại nhau sau 20 năm, tôi thấy anh vẫn là anh Tống Ngọc tôi quen biết những năm 1960 ở Sài Gòn. Tôi về nhà anh ở Sydney ngủ một đêm. Anh cho tôi xem một số ảnh ngày xưa: ảnh anh chụp với Phạm Duy, Bích Hợp, Phương Bi Ve. Rất tiếc tôi đã không xin anh mấy tấm ảnh đó. Anh qua đời ở Sydney khoảng năm 2005.

.. .. ..

Ông Nguyễn Ðình Nghị – thường được gọi là ông Kép Nghị – là tác giả vở tuồng Dưới Mái Tây Hiên. Cái tên thơ mộng Dưới Mái Tây Hiên là do ông đặt. Những năm 1942, 1943 ông Kép Nghị ở thị xã Hà Ðông. Luận, con trai ông, là bạn tôi, học cùng lớp với tôi. Nhiều lần đến nhà Luận, tôi thấy ông Kép Nghị nằm bên bàn đèn.

Dưới Mái Tây Hiên được phóng tác – viết đúng hơn là được làm thành Tuồng Cải Lương Việt – từ Kịch Tây Sương Ký của ông Văn sĩ Tầu Vương Thực Phủ.

Sơ lược Truyện:

Chùa Phổ Cứu có một khu vài căn nhà – ngoài khuôn viên chùa, nhưng là nhà của chùa – dành cho khách đến thăm chuà trú ngụ. Thư sinh Trương Quân Thụy gặp Tiểu thư Thôi Oanh Oanh ở đấy. Khu nhà họ ở là khu phiá Tây chùa, nên được gọi là Tây Sương. Chàng và nàng yêu nhau. Trong Truyện Kiều có câu:

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Lứa đôi ai lại đạp tầy Thôi Trương.
Mây mưa đánh đổ đá vàng
Quá chiều nên đã chán chường yến oanh.

Ðêm, Thôi Oanh Oanh sang nhà Trương Quân Thụy. Hai người làm chuyện “mây mưa.” Quân Thụy về kinh đô đi thi, hẹn sẽ trở lại với Oanh Oanh. Chàng thi đỗ, được Tể Tướng gọi gả con gái, chàng từ chối. Trịnh Hằng, kẻ cũng yêu Oanh Oanh, bịa chuyện Quân Thụy ở lại kinh đô, lấy con quan Tể Tướng. Oanh Oanh tự tử. Khi Quân Thụy về đến khu nhà phiá Tây chùa Phổ Cứu, Oanh Oanh không còn nữa.

Chàng khóc nàng:

“..Nhà Vua cho phép du nhai, khi ngựa xe về đến loan đài, bỗng đâu có tú cầu gieo phải..

..Anh thưa với Tướng công  anh đã có bạn đông sàng nên không thể kết duyên cùng họ Vệ..

Khi anh về chốn Tràng An, quyết bẻ nhành tiên quế, đểâ đem về dưới mái Tây hiên, trao tặng cho người tri kỷ..

Anh có ngờ đâu cuộc đời dâu bể, mối tình tan tác như khói mây. Ngày hôm nay anh xa mã về đây thì Em đã ra người thiên cổ!

Anh hỏi trăng thì trăng cứ thờ ơ, anh hỏi nước thì nước cứ lững lờ trôi chẩy.. Tìm giai nhân thì tìm đâu cho thấy.. ..Trăm năm tâm sự ngọn đèn tàn…!

Bích Hợp Thôi Oanh Oanh, Huỳnh Thái Trương Quân Thụy. Những lời ca trên đây là lời cuối của  Dưới Mái Tây Hiên.

Rất tiếc tôi không nhớ được đúng những lời Quân Thụy khóc Oanh Oanh tôi nghe được 60 năm xưa. Tôi nhớ có từng ấy.

Với tôi, cuộc Tình Quân Thụy-Oanh Oanh Dưới Mái Tây Hiên là một cuộc Tình mà TÌNH YÊU viết Hoa Bẩy Chữ, Hoa luôn Dấu Huyền, Dấu Mũ.

NGƯỜI VIỆT và SÚNG

Lời Tuần báo Asian Fortune ghi dưới ảnh: Ông người Việt Trần Cang biểu diễn cách xử dụng khẩu súng tấn công – assault rifle – trong Trường dậy  dùng Súng ở Falls Church của ông Trần Ðức.

Lời Tuần báo Asian Fortune ghi dưới ảnh: Ông người Việt Trần Cang biểu diễn cách xử dụng khẩu súng tấn công – assault rifle – trong Trường dậy dùng Súng ở Falls Church của ông Trần Ðức.

Người Việt trong bài này là Người Việt ở Mỹ, và Súng trong bài này là Súng Mỹ ở Mỹ. Bài này có đoạn viết riêng về Người Việt ở thị trấn Falls Churh, Virginia, và về Súng Mỹ với người Việt ở Virginia.

Ngày 14 Tháng Giêng, 2013 tôi đọc trên Tuần báo Asian Fortune – Tuần báo chuyên phục vụ cộng đồng người Mỹ-Á châu, phát hành ở Virginia,  bài báo:

“Why Don’t Asian American Own Guns?”

“Sao Người Mỹ-Á châu không có Súng?”

Bài báo của ký giả Mary Tablante trên Asian Fortune  gợi ý cho tôi viết bài này.

Ông Lê Khánh và bà Lê Mai cầm những khẩu súng không nạp đạn.

Ông Lê Khánh và bà Lê Mai cầm những khẩu súng không nạp đạn.

Vì mặc cảm Sống Nhờ, tôi không muốn viết những bài phê phán xã hội Mỹ và người Mỹ, tôi không hào hứng viết những bài góp ý với thiện chí làm cho xã hội Mỹ tốt đẹp hơn; tôi cũng không muốn viết những bài ca tụng xã hội Mỹ, những cảnh đẹp trên đất Mỹ, đề cao người Mỹ. Hôm nay tôi viết bài này vì tôi đọc bài báo người Mỹ viết về một số người Việt sống ởVirginia như tôi.

Năm 1995, vài tháng sau khi tôi đến Mỹ, vẩy ra vụ đánh bom làm chết cả trăm em nhỏ ở Oaklahoma. Thế rồi tôi thấy những vụ người Mỹ giết người Mỹ liên tiếp xẩy ra. Người Mỹ bị người Mỹ  bắn chết ở sở làm việc, ở bãi đậu xe. Những tên Mỹ điên vác súng vào bắn người Mỹ trong nhà thờ, trong rạp xi-nê,  bắn giết những em nhỏ trong trường học.

Trên Internet có những số liệu về Súng Mỹ  và số người Mỹ chết vì súng trong những năm từ 2005 đến 2011:

Trong 6 năm, có 30.000 người Mỹ chết vì súng. Trong số 30.000 người này có 11.078 người Mỹ chết vì bị bắn và vì bất cẩn làm súng nổ, 19.382 người chết vì tự sát bằng súng.

Mỹ là nước người dân có nhiều súng nhất thế giới. Tính đến năm 2010 dân Mỹ có 270 triệu khẩu súng. Từ November 2008 – ông Barak Obama đắc cử Tổng Thống – đến November 2012, dân Mỹ mua 60 triệu 700 khẩu súng. Riêng trong 2 tháng November 2012 đến December 2012 dân Mỹ trên toàn quốc mua 2 triệu 700 ngàn khẩu súng. Ðây là hậu quả của vụ tàn sát các em học sinh Trường Newtown. Người Mỹ sợ nên mua súng phòng thân. Người Mỹ viết về vụ  dân Mỹ mua súng nhiều kỷ lục này:

Internet: Americans buy enough guns in last two months to oufit the entire Chinese and Indians Armies.

Trong hai tháng vừa qua người Mỹ mua số súng đủ để trang bị toàn thể quân đội Trung Hoa và quân đội Ấn Ðộ.

Quân chính qui Tầu Cộng tại ngũ: 2 triệu 300 ngàn Lính.

Quân Ấn Ðộ tại ngũ: 1 triệu 130 ngàn Lính.

Chính quyền Mỹ không thể hạn chế việc dân Mỹ mua súng, dùng súng, giữ súng vì Tu Chính Án Số Hai của Hiến Pháp Mỹ cho công dân Mỹ có quyền tự vệ bằng súng.

“All power is inherent in the people. It is their rights and duty to be at all times armed.”

Nhân dân có đủ mọi quyền. Họ có quyền và có bổn phận có võ khí trong mọi thời.”

Trước khi chết, Tổng Thống Thomas Jefferson, viết:

“The Right of the People to bears arms shall not be imfringed.”

Quyền nhân dân được võ trang sẽ không bị xâm phạm.”

Tổng Thống Obama khóc khi ông công báo với quốc dân vụ thảm sát làm chết 26 em nhỏ – từ 6 đến 8 tuổi – ở Newtown:

“I offered Governor Malloy my condolences on behalf of the nation, and made it clear he will have every resource he needs to investigate,” Obama said, noting the country has had “too many of these tragedies in the last few years.”

“Each time I learn the news I react not as a president, but as anyone else would — as a parent. And that was especially true today,” Obama said. “I know there’s not a parent in America who doesn’t feel the same overwhelming grief that I do.”

“They had their entire lives ahead of them — birthdays, graduations, weddings, kids of their own,” Obama said of the children who were killed, tearing up. “Among the fallen were also teachers, men and women who devoted their lives to helping children fulfill their dreams.”

Tôi nhân danh quốc gia gửi đến ông Thống Ðốc Malloy lời phân ưu của tôi, và hưá với ông là ông sẽ có tất cả những phương tiện để điều tra.” Tổng Thống Obama nói, ông ghi nhận quốc gia đã có “quá nhiều những thảm họa như thế này trong mấy năm nay.”

Mỗi lần tôi được những tin như tin này tôi phản ứng không phải như vị Tổng Thống mà như bất cứ ai – như một người làm cha. Tôi biết không có người cha nào ở Mỹ Quốc không cảm thấy nỗi đau buồn lớn như tôi.”

“Các em có đời sống nguyên vẹn trước các em – các em có những sinh nhật, ngày lên lớp, ngày cưới, các con của các em.” Tổng Thống Obama nói về các em bị giết, ông khóc. “Trong số người ngã xuống còn có những vị giáo viên, những người đàn ông và đàn bà đã dành trọn đời họ đế giúp các em hoàn thành những giấc mơ của các em.”

Khi nói những lời trên TT. Obama xúc động; nước mắt ông ứa ra, bốn lần người dân Mỹ thấy ông đưa tay lêm chấm nước mắt ở đuôi mắt.

Những giọt nước mắt trên má Tổng Thống Obama khi ông nói đến các em nhỏ bị bắn chết ở Newtown.

Những giọt nước mắt trên má Tổng Thống Obama khi ông nói đến các em nhỏ bị bắn chết ở Newtown.

Hiện nay người dân Mỹ đang sôi nổi yêu cầu Quốc Hội làm Luật Hạn Chế việc dùng súng nhưng coi bộ sự đòi hỏi của dân Mỹ sẽ không đi đến đâu. Giới Sản Xuất Súng ở Mỹ quá mạnh thế, quá giầu tiền. Từ lâu Hội NRA : National Rifle Association – Hội Súng Quốc Gia – dùng Tiền và Thế Lực giúp cho những ứng cử viên trở thành Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ. Những Dư Luật hạn chế việc dùng Súng sẽ không được Quốc Hội chuẩn y thành Luật.

Nay dân Việt ở Mỹ – bài này viết riêng về Người Việt ở thành phố Falls Church, Virginia – bắt đầu bị lây cơn Sốt phải có Súng để tự vệ của dân Mỹ.

Tôi – CTHÐ – nghĩ người Việt ở Mỹ đa số quá ngán chuyện súng, bom. Trong 20 năm người Việt đau khổ vì súng bom ở quê nhà. Sang Hoa Kỳ, xứ sở của an ninh, không có nhiều người Việt thích chơi súng. Trong nhiều năm có rất ít trẻ em Việt chết vì nghịch súng của bố mẹ.

Ðây là bài phỏng dịch bài báo “Why Don’t Asian Americans Own Guns?” trên Tuần BáoAsian Fortune..Tác giả Mary Tablante.

Falls Church, VA. Sau thảm kịch Newtown, bà Lê Mai, 52 tuổi, đến từ Việt Nam, thấy bà sợ hãi. Cư ngụ ở Springfield, Virgiania, chưa bao giờ bà thấy bà bị đe doạ bởi súng nhưng nay bà thấy bà phải học cách tự bảo vệ.

Bà Lê đến gặp ông Trần Ðức. Ông Trần là người có giấy phép của Liên Bang để bán súng, và là một luật sư, ở Falls Church. Ông Trần mở những lớp dậy dùng súng, Dưới sự chỉ dậy của ông Trần, bà Lê học cách xử dụng khẩu súng đúng cách, Ông Trần là hội viên National Rifle Association, ông có giấy chứng nhận là Chuyên Viên Chỉ Dẫn Cách Dùng Súng của Hội. Ông dậy tất cả mọi người, mọi lứa tuổi,đa số học trò ông là người Mỹ Á châu.

Bà Lê nói:

“Tôi học cách dùng súng. Tôi muốn biết cách  dùng sứng để có thể bảo vệ người thân của tôi và tôi.”

Theo Thống Kê 2008,  dân Việt ở Virginia là sắc dân Châu Á có ít súng nhất so với những sắc dân khác. Một trong những nguyên nhân làm người Việt không ưa súng – ngoài nguyên nhân họ quá ngán súng đạn qua 20 năm đất nước họ bị nạn chiến tranh – là vì ở nước Việt người dân không có quyền dùng súng, không được quyền có súng. Tình trạng này có từ hơn trăm năm trước, người Pháp cấm dân An Nam có súng. Những chính quyền quốc gia Việt Nam cũng cấm người dân thường được dùng súng. Người Hàn, người Hoa, người Lào, người Miên cũng bị cấm dùng súng như người Việt.

Tôi – CTHÐ – bi quan trước việc người Việt dùng súng để tự vệ. Tự vệ không thấy đâu, người ta dễ chết vì súng khi người ta có súng. Sống trong xã hội có tổ chức, người dân được cảnh sát bảo vệ. Khi lực lượng cảnh sát không bảo vệ được người dân, người dân lãnh đủ.

Ai thích súng thì thích, tôi không thích súng. Tôi ngán súng cách gì. Tôi thấy nhiều người Việt chết vì có Súng nhiều hơn là Sống nhờ có Súng. Nay sống những ngày cuối đời ở Mỹ Quốc, không những tôi không bỏ tiền ra mua súng, ai cho tôi khẩu Smith-Wesson 5 viên đạn tôi mê muốn những năm tôi 20 tuổi, tôi cũng sài lắc:

“Em chã.. Em chã.. Thanh ki-u. Ai đôn lai găn. Ai kính nhi viễn chi It.”

MẦU CỜ, SẮC ÁO

two-pingpongs

Xem Thế Vận Olympic, tôi thấy nhiều lực sĩ  đoạt Huy Chương Vàng – Vô Ðịch – ưá nước mắt khi thấy quốc kỳ của họ được kéo lên. Tôi xúc động theo họ. Tôi nghĩ đến chuyện suốt một đời tôi, chưa một lần tôi thấy quốc kỳ của tôi được đưa lên cao nhất trong một cuộc tranh tài thể thao quốc tế. Rồi tôi nhớ có một lần. Một lần mà thôi.

Ðó là lần Ðội Tuyển Bóng Bàn Việt Nam Cộng Hòa đoạt Giải Vô Ðịch  trong Ðại Hội Bóng Bàn ASIAD Tokyo, năm 1958.

ASIAD là Giải Á Châu, nhưng Ðội Tuyển Bóng Bàn Nhật là đương kim Vô Ðịch Thế Giới nên Giải ASIAD quan trọng như Giải Thế Giới.

1958 – 2013. Năm mươi năm đã qua kể từ ngày vinh quang ấy – Ngày Duy Nhất Quốc Kỳ VNCH bay lên cao hơn tất cả những quốc kỳ trên thế giới – hôm nay, Ngày 1 Tháng Giêng Tây, 2013, tôi viết bài hoài niệm Ngày Vinh Quang ấy.

Tôi mê chơi bóng bàn từ năm 1941, 1942 khi tôi mười tuổi. Năm 1950 tôi theo thầy mẹ tôi vào Sài Gòn. Năm 1951 ngày ngày tôi có mặt ở Nhà Bóng Bàn Nam Việt, đường Guillerault – chủ nhân là ông Năm Nghiệp, cô Kim Ngôn, con gái ông, từng là Nữ Vô Ðịch Bóng Bàn Quốc Gia – nhiều hơn thời gian tôi có mặt ở trường học. Cát, anh bạn tôi và tôi, đánh bóng bàn tay đôi với nhau. Cát chuyên thủ, tôi chuyên công. Ở Nhà Bóng Bàn Nam Việt, tôi được quen Nguyễn Kim Hằng, và Hồng, người em của chị Mai Văn Chất hay chị Mai Văn Hòa. Hằng và Hồng bằng tuổi tôi. Có vài đêm đi xem xi-nê ra tôi theo Hằng và Hồng về ngủ ở nhà hai anh Chất, Hoà. Nhà hai anh ở con đường tôi nhớ tên là đường Trần Tấn Phát, Tân Ðịnh – đường từ đường Hiền Vương sang đường Phan Thanh Giản, cùng chiều với đường Hai Bà Trưng – anh chị Chất, anh chị Hòa sống thật dễ: phòng ngoài có cái giuờng của anh chị Hoà, phòng trong có cái giường của anh chị Chất. Bọn trẻ như Hằng, tôi đến ngủ nhờ tự do, chỉ việc tìm cái gối đầu, nằm ngủ trên sàn đá hoa. Chủ nhà chỉ không cho ăn, đến ngủ tha hồ. Năm xưa ấy tôi thấy anh Vũ Ðình Giác nằm ngủ trong một góc, chị người làm nằm ngủ giữa bọn chúng tôi.

Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà bay cao trước Toà Nhà Thể Thao Paris năm 1959. Ngươi ôm Cúp Vô Ðịch là Lê Văn Tiết, đứng bên là Trần Cảnh Ðược, Mai Văn Hòa.

Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà bay cao trước Toà Nhà Thể Thao Paris năm 1959. Ngươi ôm Cúp Vô Ðịch là Lê Văn Tiết, đứng bên là Trần Cảnh Ðược, Mai Văn Hòa.

Năm 1967 Bác sĩ Bùi Duy Tâm được Toà Ðại Sứ Tây Ðức tặng 10 bàn bóng bàn nhập từ Tây Ðức. Bác sĩ cho đặt 10 bàn này trong Hội Trường Sân Vận Ðộng Cộng Hoà. Ông xin Bộ Thanh Niên cho anh Mai Văn Hoà làm huấn luyện viên kiêm quản lý Nhà Bóng Bàn này, dường như ông bác sĩ đặt tên cho nó là Hội Bóng Bàn Gió Khơi. Ông nhờ thêm anh Vũ Ðình Nhạc làm người huấn luyện phụ với anh Hoà. Thiếu nhi đến dượt banh không phải trả tiền mướn bàn, banh Nittaku được phát cho các em, ông giữ sân vận động được nhờ mỗi chiều nấu một nồi nước trà cho các em uống.

Ðây là thời gian tôi được dượt bóng bàn thỏa thích nhất đời tôi. Mỗi chiều làm xong công việc của tôi ở toà báo, tôi vào Hội trường Sân Vận Ðộng Thống Nhất dượt bóng bàn lúc 4 giờ, chơi đến 7, 8 giờ tối. Gần như ngày nào tôi cũng dượt bóng với anh Hoà, hay anh Nhạc. Mỗi set hai anh lấy tôi 20 đồng. Hai anh nói hai anh lấy tiền của tôi để mua vé số kiến thiết. Năm 1967 giá vé số Kiến Thiết là 20 đồng. Anh Nhạc chấp tôi 12 trái, anh Hoà chấp tôi 17 trái. Với anh Nhạc 10 set đôi khi tôi thắng được 1, 2 set, với anh Hoà thì không bao giờ tôi thắng anh được một set. Hai anh cùng thủ cho tôi tha hồ công. Khi dượt với anh Hoà, tôi thấy tôi líp cú đầu, anh cúp trả banh về đúng tay droit cuả tôi, tôi líp cú thứ hai mạnh hơn, anh vẫn trả banh về đúng tay droit của tôi, banh anh trả về cao hơn cú trước, nhưng banh vẫn vào tầm tay phải của tôi. Anh trả banh cho tôi tiu. Cứ như thế đến cú thứ tư tôi tiu mạnh dứt điểm, là banh vướng lưới hay bay ra ngoài bàn. Trăm cú như một.

Mỗi chiều, tôi dượt 5 set với anh Hoà, hay 5 set với anh Nhạc, đưa mỗi anh 100 đồng. Thoải mái và vui như thế cho đến Tết Mậu Thân, chủ nhiệm Nhật Báo Dân Tiến tôi đang làm tự đóng cửa. Từ đó tôi không còn dịp trở lại Nhà Bóng Bàn Gió Khơi ở Hội Trường Sân Vận Ðộng Cộng Hoà. Cũng từ đó tôi không còn lần nào được dượt banh với anh Hoà, anh Nhạc.

Tài năng ngang với Danh thủ Mai Văn Hòa là Danh thủ Trần Cảnh Ðược, tôi, và nhiều anh em chơi bóng bàn, quen gọi anh là Trần Văn Ðức.  Anh hiện sống ở San José. Tôi không một lần được dượt banh với anh Ðức.

Anh Mai Văn Hoà thiệt mạng vì tai nạn xe cộ ở Sài Gòn khoảng năm 1973, anh Mai Văn Chất không biết nay còn ở Úc hay không. Nguyễn Kim Hằng đi thoát trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, Hằng đã qua đời ở Mỹ. Danh thủ Chu Văn Sáng, Ðại Tá, có đi HO sang Mỹ, nay không biết sống ở đâu, Lê Văn Tiết, Ðại úy, và Trần Cảnh Ðến, Trung úy, sống ở Sài Gòn. Tôi không biết anh Roger Trần Văn Liễu nay ra sao.

Trên Internet tôi tìm được bài tường thuật Ðại Hội Bóng Bàn ASIAD Tokyo 1958.

Di ảnh của Danh thủ MAI VĂN HÒA. Di ảnh này được người ái mộ mua với giá 5 lạng vàng để giúp Bà Quả Phụ Mai Văn Hoà.

Di ảnh của Danh thủ MAI VĂN HÒA. Di ảnh này được người ái mộ mua với giá 5 lạng vàng để giúp Bà Quả Phụ Mai Văn Hoà.

Ðể lọt được vào trận chung kết gặp Ðội chủ nhà Nhật Bản, Ðội Tuyển Bóng Bàn VN với bốn tay vợt Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Ðược, Trần Văn Liễu và Lê Văn Tiết đã lần lượt thắng những Ðội tuyển Philippines 5-1, Ðài Loan 5-1, Iran 5-2, Hong Kong 5-1 và Nam Triều Tiên 5-2.

Vì những trận thắng của đội tuyển Việt Nam, đội Nhật dù rất tự tin sẽ thắng nhưng cũng thận trọng tung ra thành phần mạnh nhất của mình ở trận chung kết, gồm Tanaka đương kim vô địch Nam thế giới, Ogimura cựu vô địch thế giới nhiều năm liền  và Tsunoda cây vợt số hai của Nhật lúc đó. Phía VN, Hoà, Ðược và Tiết, ba tay vợt chủ lực được đưa ra tranh tài.

Trước trận đấu, dư luận đánh giá các tay vợt VN chỉ có 10% hi vọng làm chuyện bất ngờ, tức đánh bại đội Nhật và đoạt chức Vô Ðịch. Trước đó một năm, tại Giải Vô địch Thế giới ở Thụy Ðiển, đội Nhật đã hạ đội VN (Hòa, Ðược, Huỳnh Văn Ngọc) 5-3. Vì vậy, Liên đoàn Bóng Bàn Nhật tin chắc họ sẽ thắng, Ðội Tuyển Nhật sẽ Vô Ðịch Toàn Ðội nên ban tổ chức  mời Hoàng Thái tử Nhật đến xem và theo dự định, Thái tử sẽ trao Huy Chương Vàng cho Ðội Tuyển Nhật Vô Ðịch.

Thể thức thi đấu lúc ấy là đánh chín trận đơn, bên nào đến 5/3 trước là chiến thắng. Trận đầu, Hòa thắng Tsunoda 2-1. Kế đến, Ogimura gỡ hòa bằng chiến thắng 2-0 trước Ðược. VN vượt lên ở trận thứ ba khi Tiết hạ Tanaka 2-0. Ðội Nhật lại bắt kịp khi Ogimura hạ Hòa 2-1. Ở trận thứ năm, Tiết hạ Tsunoda 2-0. Ðội VN vượt lên dẫn 4-2 khi Ðược hạ Tanaka 2-0.

Tay vợt lão luyện Ogimura là người “rửa mặt” cho chủ nhà khi thắng đối thủ thứ ba của VN là Tiết 2-1. Trận thứ tám, Hòa gặp Tanaka. Nhà vô địch thế giới hi vọng thắng trận này để gỡ hòa 4-4, và trận quyết định sẽ diễn ra giữa Ðược với Tsunoda. Nhưng với lối chơi vững như tường đồng, Hòa đã xuất sắc hạ Tanaka 2-0 (21/17, 21/18).

Người phóng viên thể thao nổi tiếng Huyền Vũ lúc ấy viết rằng khi ký biên bản sau trận đấu, Ðội trưởng đội Nhật – tay vợt Ogimura – ngậm ngùi nói:

“Ðây là lần đầu tiên trong đời cầm vợt của tôi, tôi phải ký biên bản trước.”

Bên thua phải ký biên bản trận đấu trước bên thắng.

Hôm ấy là ngày 27-5-1958, thời gian là 22g40, Tanaka, tay vợt đương kim Vô địch Bóng bàn Ðơn Nam Thế giới, quăng vợt, chạy đến quì xuống ôm chân bà mẹ anh mà nghẹn ngào khóc. 10.000 khán giả Nhật ngồi lặng ngắt. Hoàng Thái tử Nhật Bản lẳng lặng ra về và nguyên một ngày hôm sau ông không tiếp khách. Mấy năm sau Thái tử lên ngôi Vua, và nay – 2013 – ông là Nhật Hoàng.

Một kỷ niệm, theo lời danh thủ Ðược là lúc đó vào nửa đêm Ðại sứ Nhật tại Sài Gòn đã điện thoại tới văn phòng Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Ðình Diệm  để báo tin mừng: “Ðội tuyển Bóng bàn VN gồm Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Ðược và Lê Văn Tiết đã đoạt Hai Huy Chương Vàng toàn đội và đôi nam tại Ðại Hội Bóng Bàn Á Châu Tokyo.”

Bài trên Internet:

Trần Cảnh Ðược – tức Trần Văn Ðức – là một hảo thủ bóng bàn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam (trước 1975). Ông được xem là “một trong những huyền thoại Bóng Bàn đã từng làm rạng danh nước Việt trên đấu trường quốc tế suốt thập kỷ 50 – 60″.

Ông sinh năm 1933 tại Hội An,   học trường Lasan Taberd . Năm 1951, khi 18 tuổi, ông đoạt chức vô địch bóng bàn toàn quốc và tiếp tục là Vô Ðịch  năm 1952. Ông  là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng hòa nên ông  bị đi học tập cải tạo 8 năm. Từ ngày 20 tháng 1 năm 1993  ông sống tại thành phố San Jose, California.

Thành tích:

  • HuyChương Vàng Ðôi Nam (với Mai Văn Hòa), Huy Chương Bạc (toàn đội)  Giải Vô địch Châu Á tại Tokyo năm 1953.
  • Huy Chương Bạc đồng đội tại tại Giải Vô Ðịch Châu Á tổ chức tại Singapore năm 1955
  • Huy Chương Vàng đồng đội, Huy Chương Vàng đôi nam tại Giải Vô Dịch Châu Á tại Phi Luật Tân năm 1957 (với Mai Văn Hòa, và Trần Văn Liễu)
  • Huy Chương Vàng  đồng đội và đôi Nam (với Mai Văn Hòa) Ðại hội Thể thao Châu Á  - ASIAD 1958 – tại Tokyo 1958. Ðây là chiến thắng lịch sử làm rúng động làng bóng bàn thế giới
  • Huy Chương Ðồng giải Vô địch Bóng Bàn Quốc Tế tại Dortmund 1959 (đồng đội, với Mai Văn Hòa, Lê Văn Tiết)
  • Huy Chương Vàng đồng đội SEAP Games 1959 (với Trần Cảnh Ðến và Huỳnh Văn Ngọc).

Trần Cảnh Ðược – một tên khác là Trần Văn Ðức – có lối đánh vừa công vừa thủ, đặc biệt là sở trường quạt trái, rờ ve bằng đầu vợt lúc phản công rất hiệu nghiệm. Richard Bergmann, một tay vợt người Anh gốc Áo từng hai lần vô địch thế giới vào cuối thập niên 1940, và không ít lần là bị đánh bại  dưới tay Trần Cảnh Ðược – từng nói :

“Ðược là tay vợt hay nhất mà tôi được biết.”

o O o

CTHÐ: Tôi không một lần được dượt banh với anh Trần Cảnh Ðược, nhưng tôi được dượt banh nhiều lần với Trần Cảnh Ðến, em trai của anh Ðược.

Trần Cảnh Ðến là Trung Úy Quân Lực VNCH. Ðến – tôi nghe nói – bị đi tù khổ sai chưa đến 3 năm nên không đủ tiêu chuẩn đi HO sang Mỹ.

Internet ghi về Trần Cảnh Ðến:

Năm 1972-1973, Trần Cảnh Ðến làm Huấn Luyện Viên Ðội Tuyển Bóng Bàn VN. Học trò của ông như Trần Công Lâm, Trần Văn Lực đều đạt đến cấp kiện tướng và thi đấu thành công ở các giải vô địch quốc gia.

Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Ðến không ít lần ngậm ngùi khi nói đến thực trạng của Bóng Bàn VN hiện tại. Ông Ðến nhớ thời của ông (1954-1965) Sài Gòn có bàn bóng bàn nhiều hơn bàn billiard. Mà hồi đó không có nhiều thầy chỉ dậy như bây giờ, các ông chỉ học lóm từ các bậc đàn anh và học hỏi, rút kinh nghiệm qua những lần giao đấu quốc tế. Ông nói:

“Những kỹ thuật như giao banh, độ xoáy banh: xoáy ngang, xoáy lên, xoáy xuống chúng tôi đều học từ những lần chạm vợt với các đấu thủ thế giới, học rồi luyện và phát triển thêm.”

Hồi còn học ở Trường Taberd, vì chơi thể thao giỏi, ông Ðến được giảm tới 50% học phí. Ông mong mỗi trường học có ít nhất 2 bàn bóng bàn để học trò có thể vừa  chơi cho nhanh nhẹn, khéo, khoẻ vừa luyện tài năng vì Bóng Bàn là bộ môn không quá tốn kém tiền bạc, không hao sức lại thích hợp với người Việt.

Cứ có nhiều người chơi bóng bàn thì số người tài sẽ tăng lên. Anh trai của ông Ðến, ông Trần Cảnh Ðược, hiện sống tại California (Mỹ) cũng cùng một niềm trăn trở như ông, ông Ðược không vui vì dân Mỹ không chuộng môn bóng bàn. Cứ mỗi lần được về VN là hai anh em ông cùng bà Trần Thị Minh, bà em út của hai ông, lại ra Câu Lạc Bộ  dợt bóng bàn với nhau cả ngày. Trong đại gia đình ông, tình yêu  bóng bàn lúc nào cũng tràn đầy như thời các ông còn  trẻ.

Không biết có phải vì giữ một ngọn lửa với thể thao như thế và truyền cho các con hay không mà 8 người con của ông Ðến, người nào cũng biết chơi bóng bàn. Con gái út của ông, chị Trần Thị Phượng Liên – đặt tên theo lời đề nghị của nghệ sĩ Diệp Lang “Khi vợ anh sanh con gái út thì nhớ đặt tên Phượng Liên nghe.” – đoạt chức vô địch giải cây vợt trẻ khu vực 6 (các tỉnh miền Ðông Nam bộ). Con trai ông Ðến là  Trần Cảnh Tuấn gần theo được ông khi anh trở thành hảo thủ Bóng Bàn  cấp 1 quốc gia và đoạt chức vô địch giải bóng bàn khu vực 6. Những người con khác của ông thì người nào cũng chơi được hai môn thể thao là bóng bàn và bóng đá.

Ông Ðến vẫn dành nhiều thời gian cho bóng bàn. Ông cùng học trò là HLV Trần Văn Lực theo dõi các giải bóng bàn người cao tuổi và ông cũng  tham gia chơi bóng bàn với các cựu lão tướng. Vợ ông, bà “Hiền”  ngày ngày cùng ông đến Câu Lạc Bộ Bóng Bàn ở Cung Văn hóa Lao động hay CLB bóng bàn Hoa Lư để cùng nhau tập luyện, giữ gìn sức khỏe. Nhắc đến mong ước lớn nhất với bóng bàn VN, ông Ðến nói:

“Ngày xưa bóng bàn VN mạnh vì mỗi hảo thủ đều có được phong cách riêng, các đấu thủ quốc tế khó lòng thắng hết được tất cả các phong cách của chúng tôi. Giờ đây các hảo thủ Bóng Bàn  VN chưa làm được điều đó, nay họ chỉ mới học theo người ta để chơi banh bàn được như người ta, chứ không phải chơi cho riêng mình, nay chưa thấy ai tạo được lối đánh lạ, khác người. Hãy để bóng bàn phát triển theo cá tính …”

Danh thủ Lê Văn Tiết, Ðại Úy Quân Lực VNCH, không đi HO sang Mỹ.

Internet ghi về Lê Văn Tiết:

Năm 11 tuổi, Lê Văn Tiết vào học trường Taberd, trở nên một trong những tay vợt xuất sắc nhất trong giới học sinh và đoạt chức vô địch giải bóng bàn học sinh toàn quốc 1954-1955. Năm 18 tuổi ông chính thức đoạt danh hiệu vô địch bóng bàn Việt Nam Cộng Hòa đồng thời được tuyển chọn vào thành phần chính thức đội tuyển bóng bàn Việt Nam Cộng Hòa dự giải ASIAD 1958 diễn ra tại Tokyo, Nhật Bản.

Tại giải ASIAD 1958, ông cùng với Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Ðược làm  cả nước Nhật phải bàng hoàng và đau buồn khi Ðội tuyển Bóng bàn đương kim Vô địch Thế giới của họ bị Ðội Việt Nam Cộng Hòa đánh bại với tỷ số 5-3 ở trận chung kết ngay tại thành phố Tokyo, Nhật Bản. Trong trận quyết đấu này Lê Văn Tiết oanh liệt hạ tay vợt vô địch thế giới Toshiaki Tanaka 21-19, 21-18, rồi đánh gục tiếp Sunoda 21-6, 21-11 và chỉ chịu thua trước tay vợt cự phách của Nhật là Ichiro Ogimura 11-21, 16-21.

Vinh quang nhất đến với Lê Văn Tiết là khi ông đoạt chức Vô địch Ðơn Nam Giải Bóng bàn Quốc tế Pháp Quốc – một giải đấu bóng bàn nổi tiếng nhất trên thế giới lúc bấy giờ – vào năm 1959, lúc đó ông vừa tròn 20 tuổi.

Năm 1959, Lê Văn Tiết ở trong Ðội Tuyển  Bóng Bàn Việt Nam đến Dortmund, Ðức quốc, dự giải vô địch bóng bàn thế giới. Theo nhà báo thể thao  Huyền Vũ – đã mất tại Hoa Kỳ – thuật lại sau khi đội Việt Nam Cộng Hòa đánh bại đội Anh Quốc, tay vợt đương kim vô địch Anh là Johnny Leach cho biết Ðội Việt Nam sẽ đứng đầu bảng D. Và kết quả y như lời tiên đoán. Vào đến bán kết, gặp lại “oan gia”, đội Nhật Bản đã phục thù được mối hận bại trận năm trước khi thắng đội Việt Nam Cộng Hòa với tỷ số 5-3.

Giã từ đất Ðức, hầu hết các danh thủ bóng bàn thế giới được Liên Ðoàn Bóng Bàn Pháp mời đến Paris tham dự Giải Bóng bàn Quốc tế Pháp 1959. Cả Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Ðược, Trần Văn Liễu và Lê Văn Tiết đều có mặt nhưng trong khi Hòa, Ðược, Liễu lần lượt rơi đài thì Lê Văn Tiết  tiến sâu vào vòng trong và có mặt ở trận chung kết gặp tay vợt sừng sỏ của Nhật là Murakami, vừa đoạt Huy Chương Vàng Thế giới Ðôi Nam tại Ðức.

Bị Murakami dẫn trước 2-0 (21-17, 21-15), trong lúc ai cũng nghĩ là Murakami sẽ giơ cao chiếc Cúp Vô địch, nhưng không ngờ Lê Văn Tiết đã “lội dòng nước ngược” một cách ngoạn mục, thay đổi đấu pháp, thắng lại hai ván liền 21-16 và 21-12. Ở ván quyết định, dù bị Murakami dẫn trước 5-0 rồi 10-5, nhưng Lê Văn Tiết thu ngắn từng điểm một, gỡ hòa 10-10 rồi thắng luôn với tỷ số 21-17 đoạt chức Vô Ðịch Quốc Tế Pháp Quốc. Nhờ chiến thắng này, Lê Văn Tiết được xếp hạng Sáu trên thế giới năm 1959.

Báo chí xưng tụng Lê Văn Tiết là “kỳ quan bóng bàn thế giới” không phải vì những trận thắng nói trên mà vì ông đã sáng tạo được lối đánh phản công độc đáo – contre attaque – và rất hữu hiệu, đối thủ càng tấn công mạnh bao nhiêu thì đòn phản công của Lê Văn Tiết càng nguy hiểm  bấy nhiêu. Ngoài hai chức Vô địch nói trên, Lê Văn Tiết còn cùng bạn đồng đội ba lần đoạt Huy Chương Vàng Bóng Bàn Ðông Nam Á Vận Hội 1961, 1965 và 1967.

Trong suốt thời gian cầm vợt, với 19 lần xuất ngoại dự các giải quốc tế, nhiều tay vợt lừng danh thế giới đã bại  dưới tay Lê Văn Tiết như Tiết Thủy Sơ, Tăng Hùng Bô, Lưu Ðức Phương (Hồng Kông), Hayashi, Fujii, Tsunada, Tanaka, Murakami (Nhật); Kodakiji (Ấn Ðộ), Bergman, Johnny Leach (Anh), Markovic (Tiệp Khắc)…

Sau năm 1975, ông Lê Văn Tiết làm huấn luyện viên cho đội Bóng Bàn Bình Thạnh và cả thành phố Sài Gòn, đến năm 1986 ông chính thức gác vợt và vui hưởng tuổi già.

o O o

CTHÐ: Khi viết bài này tôi nhớ anh Huyền Vũ. Anh nổi tiếng khắp nước vì anh là chuyên viên tường thuật trực tiếp trên radio những trận đá banh ở Sân Vận Ðộng Cộng Hoà. Tôi nhớ những năm từ 1958 đến đầu năm 1964 tôi thường gặp anh Huyền Vũ ở tòa soạn nhật báo Sàigònmới. Những năm ấy nhật báo Sàigònmới có hai phóng viên thể thao: anh Huyền Vũ và anh Dũng Minh. Anh Dũng Minh có mặt ở toà soạn nhiều hơn, phụ trách về tất cả những bộ môn thể thao, anh Huyền Vũ chỉ đưa tin về những trận banh lớn, mỗi tuần anh đến tòa soạn một, hai lần. Tôi thường trêu anh mỗi khi thấy anh vào tòa soạn bằng cách tỉnh queo nói lớn:

- ..Ðá dzô…! Banh đi ra ngoài…!

Tường thuật trực tiếp một trận cầu không biết mấy chục lần anh Huyền Vũ nói câu :

“Ðá dzô..! Banh đi ra ngoài..!”

Tôi còn chọc quê anh bằng cách kể một lô danh từ đá banh huê mỹ mà tôi gọi là “văn chương thể tháo” do nhóm anh Thiệu Võ sáng tác trên Trang Thể Thao của nhật báo Tiếng Dội :

“…Thêu hoa, dệt gấm trên sân cỏ, ngả nón cúi đầu, thua trong hương khói vẻ vang, kỷ lục rơi như lá rụng mùa thu..vv…”

Ðặc biệt tôi chọc quê anh Huyền Vũ về câu “Vùng Cấm Ðịa”:

- Vùng Cấm Ðịa là cái gì? Cấm không cho ai vào đó à? Vô lý! Cấm địa mà phe địch vẫn ra dzô được thì đâu có phải là vùng cấm địa. Cấm không được đá bậy trong vùng đó? Cũng vô lý. Nếu chỉ cấm đá bậy trong vùng đó thôi thì ở ngoài vùng đó cầu thủ đá bậy được ư? Nếu đá bậy trong vùng đó bị phạt nặng thì phải gọi đó là Vùng Ðá Bậy Phạt Nặng, sao lại gọi đó là Vùng Cấm Ðịa?

Có lần anh đang ngồi viết, tôi nói với anh Thư ký Toà Soạn Thanh Phong ngồi bàn bên cạnh anh, tôi nói vừa đủ để anh Huyền Vũ nghe tiếng:

- Hồi nẫy có bà đến đòi gặp ông thầy bói. Quản lý nói đây là nhà báo, làm gì có thầy bói. Bà ấy nói ở đây có thầy bói mà.. Ông thầy bói tên là Huyền Vũ.. Nói ông Huyền Vũ là ký giả thể thao, bà ấy không chịu, bà ấy nói ký giả thể thao gì mà tên là Huyền Vũ..! Huyền Vũ phải là tên thầy bói..!

Anh Huyền Vũ đi khỏi thành phố Sài Gòn trước Ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Hai mươi năm sau tôi mới đến được Mỹ Quốc. Một tối anh Huyền Vũ phone đến hỏi thăm tôi, tôi hỏi anh khoẻ không, anh nói: “Không được khoẻ lắm..!” Anh ở một thành phố bên cạnh Washington DC, dường như là thành phố Ocean Beach.

Rồi những ngày như lá, tháng như mây… Năm 2000 tôi gặp anh Huyền Vũ trong “Ngày Huyền Vũ”. Ngày các bạn hữu của anh đến gặp anh, thật đông, tôi chỉ được gần anh có một lúc, tôi nói với anh;

- Anh Huyền Vũ, tôi là Hoàng Hải Thủy, anh nhớ Hoàng Hải Thủy không?

Anh nói:

- Làm sao quên được!

Anh Huyền Vũ qua đời khoảng năm 2005.

Một thời vang tiếng..

Tôi gửi bài này kính viếng các anh Nguyễn Kim Hằng, Mai Văn Hoà, Huyền Vũ.

Tôi gửi bài hoài niệm này đến các anh Trần Cảnh Ðược – với tôi là anh Trần Văn Ðức – Trần Cảnh Ðến, Lê Văn Tiết, Chu Văn Sáng, Vũ Ðình Nhạc, Vũ Ðình Giác, và Nguyễn Sĩ Cát, bạn tôi.

NHỮNG THẰNG CHÓ ÐẺ

Ảnh hoanguc.com: Hai tên Tù đời đời kiếp kiếp trong Ngục Tù Âm Phủ.

Ảnh hoanguc.com: Hai tên Tù đời đời kiếp kiếp trong Ngục Tù Âm Phủ.

Internet: Trong số những blogger bị Công An VC bắt giam ngày 28/12/2012 khi những người này đến dự phiên xử phúc thẩm ba thành viên CLB Nhà báo Tự do – Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần, Ba Sai Gòn – có cô Nguyễn Hoàng Vi. Không chỉ bị đánh đập, cô Nguyễn Hoàng Vi còn bị bọn an ninh dằn ngửa, lột quần áo, khám xét thân thể rất thô bạo.

Trả lời phỏng vấn của Ðài RFI sau khi được thả về, cô Nguyễn Hoàng Vi kể lại :

Nguyễn Hoàng Vi: Trong đồn công an, một chị an ninh nói với tôi:

- Chúng tôi nghi  em giấu tang vật phạm pháp trong người. Ðề nghị em cho chúng tôi kiểm tra người.

Nghe đến đây, tôi thấy lời nói quen quen. Tôi chợt nghĩ đây là chiêu bài vu vạ ghép tội cho tôi đây. Thế là tôi nói luôn:

- Ðược! Nếu các người đã muốn vậy, hãy mang tôi ra trước sự chứng kiến khách quan của người dân, tôi sẽ tự lột đồ cho mọi người cùng thấy.

Chị an ninh nói:

- Em nói vậy sao được! Em là con gái, còn có danh dự và nhân phẩm. Mang em ra đó, họ nhìn em thế nào?

Tôi nói:

- Ðúng là với người phụ nữ, bao giờ danh dự và nhân phẩm cũng rất quan trọng. Nhưng không vì thế mà tôi để mấy người tự ý vu vạ nhằm ghép tội tôi được.

Nói rồi, họ vẫn làm theo ý họ. Họ nắm chặt chân tay tôi lại, họ lột quần áo tôi ra trong sự chứng kiến lõ mắt của một số nam an ninh  và điều đáng kể là họ còn ngang nhiên mang camera ra thu hình tôi trần truồng. Tôi đoán ra mục đích là họ muốn làm nhục tôi. Vừa chống cự, tôi vừa cảnh cáo họ:

- Mấy người lột đồ tôi đã khó nhưng mặc lại còn khó hơn đấy nhé.

Sau khi trên người tôi  chỉ còn bộ đồ lót, họ mới dừng lại. Camera vẫn tiếp tục thu hình  tôi. Tôi chỉnh sửa lại mái tóc rồi  hướng về camera với thái độ bình thản, điềm nhiên, tôi nói lớn:

- Quay đi! Quay xong nhớ “up” lên mạng cho tôi và mọi người thấy cái tò đê tiện của các ngườ!

Xong, họ lại bỏ ra ngoài to nhỏ với nhau.

Cô Nguyễn Hoàng Vi

Cô Nguyễn Hoàng Vi

Tôi đau nhức và mệt mỏi vì bị đánh, vì bị làm nhục, vì cố gồng sức chống cự lại, tôi nằm xuống nền phòng, nhắm mắt để suy nghĩ về sự dã man của họ. Trước khi theo đạo Công giáo, tôi từng tự nhủ tôi thà chết chứ không bao giờ để họ chà đạp nhân phẩm. Nếu là trước đây, chắc là tôi sẽ lao đầu vào tường chết mẹ cho rồi. Cơ thể  cảm thấy lạnh và buồn nôn, tôi chạy vào nhà vệ sinh. Trong khi tôi đang nôn mửa như vậy có 1 chị phụ nữ nói là bên Y tế Quận 1 đến hỏi tôi đã chồng con gì chưa rồi bắt tôi cởi quần lót ra cho chị ấy khám. Tôi hỏi lý do, chị ấy nói là nôn ói liên quan đến vấn đề tiêu hóa. Tôi bảo là chỗ ấy đâu liên quan đến tiêu hóa, chỉ liên quan đến tiết niệu thôi và từ chối không cho khám. Chị ấy thấy tôi đang trong tình trạng chống đối và nôn mửa nên chị đi ra, chị từ chối yêu cầu khám cửa mình tôi của những người an ninh.

Những người an ninh vẫn cố ép chị ấy làm. Tôi từ trong nhà vệ sinh đi ra khuyên chị là không nên làm những việc trái pháp luật và trái đạo đức lương tâm như vậy. Những người ép chị làm sao họ không làm việc đó  mà đẩy cho chị làm, chính họ đã lột đồ quay phim tôi thì còn việc gì mà họ không dám làm nữa. Chị ấy tháo bỏ găng tay đưa cho những người an ninh và lẳng lặng đi ra. Bọn an ninh lại đi ra ngoài. Tôi ngồi bệt xuống đất mà trong đầu chưa hết  bàng hoàng. Tôi mong là họ đừng làm việc ấy. Vì tôi sợ khi họ làm việc đó, tâm hồn tôi sẽ bị tổn thương nghiêm trọng và hận thù sẽ hiện diện trong tôi – có thể hận thù sẽ hủy diệt chính bản thân tôi và sau nữa mới đến họ. Tôi không biết làm sao để ngăn việc đó đừng xảy ra. Tôi thừ người và bất chợt tôi hát “Kinh hòa bình” và rồi tôi cầu nguyện. Họ quay lại với 2 cô y tá mới trong khi tôi vẫn đang hát lời “Kinh hòa bình.” Họ yêu cầu tôi ngoan ngoãn hợp tác nhưng tôi từ chối.

Họ cưỡng chế tôi, họ khiêng tôi đặt nằm trên bàn rồi họ nắm chặt tay chân tôi, họ lột hết quần áo tôi. Tôi  dùng hết sức chống cự lại họ khiến có mấy ngườiï bị tôi đá văng vào tường. Họ còn bị tôi cào cấu và bị tôi nắm tóc kéo nữa. Nhưng sức 1 người không thể nào làm lại 4 ngườiï, cuối cùng họ cũng lột sạch đồ trên người tôi. Họ dùng tay chọc vào chỗ kín của tôi khiến tôi đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần. Xong, họ  mặc đồ lại cho tôi. Tôi nhất định không chịu để cho họ mặc lại. Tôi nói:

- Cứ để y nguyên như vậy cho tôi đi về. Ðã dám làm mà còn sợ sao? Tôi không ngại thì mấy người ngại điều gì?

Họ cố sức lắm mới mặc được quần lại cho tôi nhưng không mặc được áo, họ bèn lấy áo khoác của tôi trùm ngược vào người tôi rồi kéo dây kéo phía sau lại. Rồi họ bỏ ra ngoài. Có những giọt nước mắt  lăn trên má tôi. Tôi nghĩ đến cái chết. Rồi tôi nhớ đến những lời trong “Kinh hòa bình,” tôi nhớ cuộc đời khổ nạn của Chúa Jesus và tôi lại mỉm cười.

Trong lúc những con người dã man đó tự viết, tự làm biên bản gì đó với nhau, tôi nghe cô  an ninh nói:

- Chú Hải bảo làm như vậy.

Cô Nguyễn Hoàng Vi bị bọn Công An VC đánh sưng miệng.

Cô Nguyễn Hoàng Vi bị bọn Công An VC đánh sưng miệng.

Chú Hải mà cô nói đến phải chăng là anh Lê Minh Hải (an ninh TP) – người đã từng cho đàn em làm với chị Tạ Phong Tần như họ làm với tôi ngày hôm nay.

Khoảng 12 giờ, họ áp giải tôi về đồn công an phường Phú Thạnh, Q. Tân Phú, nơi tôi cư ngụ. Trên xe tôi nhớ việc làm tàn ác của những người cầm quyền Ai Cập trước ngày Ai Cập thay đổi, tôi  bình tĩnh nói  với mấy tay an ninh áp giải tôi:

- Hôm nay tao rất vui vì đã 2 lần tao chiến thắng tụi bây. Thứ nhất là dù bọn bây dùng rất nhiều người và tốn rất nhiều công sức để canh giữ hòng ngăn chặn tao từ nhà. Nhưng không, tao vẫn đi đến được nơi tao muốn đến. Thứ hai là bọn bây dùng những trò đê tiện  làm tổn thương tâm hồn tao để đánh vào tâm lý sợ hãi, khiến tao phải bỏ cuộc. Nhưng tao nói cho bọn mày biết. Ðúng là bạo lực và những trò đê tiện này có thể làm người ta đầu hàng trước bọn mày đấy, nhưng đó chỉ là những kẻ yếu đuối mà, còn với những người như tao thì những trò đó chỉ làm ý chí và tinh thần tao  mạnh lên mà thôi. Tụi bây cũng nên chuyển hết những lời này của tao đến những thằng chỉ đạo tụi bây làm những trò đểu này và nhớ nói thêm rằng:

Bản lĩnh của cả đám bọn mày kém lắm, thua cả 1 phụ nữ như tao nên mới dùng những thủ đoạn bỉ ổi này. Tao vui vì tụi bây đã làm như vậy. Bất cứ  cuộc vận động thay đổi xã hội nào cũng có những sự mất mát, hy sinh. Những việc làm của bọn mày hôm nay chỉ cho tao thấy dấu hiệu của sự thay đổi thực sự đang đến rất gần. Chính bạo lực sẽ giết chết bọn bây!

Lúc đầu, khi tôi bắt đầu nói, họ đòi đánh tôi nhưng sau đó họ im lặng.

Ngưng trích Lời Kể của cô Nguyễn Hoàng Vi.

CTHÐ: Bọn Công An Bắc Cộng là bọn Ðểu nhất trong toàn bộ Công An Cộng Sản Thế Giới. Từ lâu tôi biết như thế nhưng tôi vẫn không thể ngờ những thằng chó đẻ ấy lại có thể đểu đến như thế.

Cô Nguyễn Hoàng Vi kể: “Bọn chúng đã làm việc ấy với chị Tạ Phong Tần.” Như vậy là theo lời cô, cô Tạ Phong Tần, trước cô, cũng bị bọn Công An Thành Hồ bắt, dằn ngửa, lột hết quần áo, thọc tay vào cửa mình tìm tài liệu, và quay phim? Ðểu, khốn nạn hết nước nói.

Lời cô Nguyễn Hoàng Vi chửi bọn công an Bắc Cộng giống như lời chửi của cô Tạ Phong Tần. Cô Tạ Phong Tần bị bắt, bị xử tù 10 năm khổ sai. Bà mẹ cô Tạ Phong Tần tự thiêu chết thảm. Nhiều tổ chức Nhân Quyền, Dân Chủ trên thế giới lên tiếng đòi bọn Bắc Cộng phải trả tự do cho người tranh đấu Tạ Phong Tần. Cô Tạ Phong Tần vẫn phải sống trong tù ngục. Bọn Cộng Hà Nội – theo đuôi bọn Tầu Cộng – không thèm chú ý đến dư luận quốc tế.

Trong những ngày tới rất có thể người tranh đấu Nguyễn Hoàng Vi cũng sẽ chịu số phận như nhà tranh đâu Tạ Phong Tần.

Trước ngày bọn Bắc Cộng đưa nhà tranh đấu Ðiếu Cầy ra toà, Tổng Thống Hoa Kỳ Obama nói:

“Chúng ta hãy nhớ đến ông  Ðiếu Cầy.”

Chưa bao giờ có Nhà Tranh Ðấu Dân Chủ nào trên thế giới được một ông Tổng Thống Hoa Kỳ nói đến như ông Ðiếu Cầy. Bọn Bắc Cộng vẫn phang ông Ðiếu Cầy mức án tối đa: 12 năm tù khổ sai.

Trước thái độ khinh thị ra mặt của bọn Bắc Cộng, tôi nghĩ phải có nhiều người Mỹ thấy khó chịu, xấu hổ.

Mời quí vị đọc một số Tin về Tình Trạng Xã Hội Rữa Nát trong nước Việt. Những Tin này loan trên Internet:

Giúp người gặp nạn, sinh viên bị côn đồ đánh chết

Giúp đỡ hai người ngã xe, anh Linh bị nhóm côn đồ gây ra vụ va quẹt đánh chết.

Ngày 31/12, 2012, Công an quận Thủ Ðức (TP HCM) bắt, ra lệnh tạm giam Nguyễn Văn Thời Tiến (18 tuổi, ngụ Ðồng Nai), Phạm Vũ Luân (16 tuổi, tỉnh Hậu Giang), Lê Chí Thảo (21 tuổi), Lê Trần Minh Vũ (17 tuổi, cùng quận Thủ Ðức) về hành vi Giết người.

Nạn nhân là Phạm Ðức Linh, 28 tuổi, sinh viên năm Thứ 4 Ðại học Giao thông vận tải TP HCM.

Sáng 25/12, từ Bình Dương, 4 nghi can đưa bạn gái về phường Tam Hà (quận Thủ Ðức). Trên đường đi, nhóm này va quẹt xe dẫn đến cãi nhau với một đôi nam nữ, rồi bỏ đi.

Thấy người đi đường gặp nạn, té ngã, xe hư, anh Linh ghé đến giúp đỡ. Anh bị bọn Thảo quay lại vây đánh. Cảnh sát cơ động đi qua vây bắt được một tên trong nhóm gây án.

Ngày 28/12, anh Linh chết vì chấn thương sọ não. Ngay sau đó, 3 nghi can còn lại cũng bị bắt.

5 yêu râu xanh gây tội trên cánh đồng

Thấy thiếu nữ 14 tuổi cao ráo, xinh xắn, ngay lần đầu gặp, Dương đã muốn hãm hại. Anh ta bàn với đám bạn xấu kế hoạch đồi bại của mình.

Trong phòng tạm giữ của Công an huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Nguyễn Văn Dương (18 tuổi, ở Vĩnh Phúc) co ro trong cái giá lạnh của ngày đầu năm. Mái tóc cắt tỉa sành điệu, Dương trông trắng trẻo, đẹp trai. Giọng nói nhỏ nhẹ, Dương kể y là con út trong gia đình có 3 chị em. Bố mẹ làm ruộng, suốt ngày “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Không được học hành, Dương theo bạn đi làm công nhân, lương mỗi tháng 2 triệu đồng.

Không chút xấu hổ, Dương kể về quá trình gây tội với thiếu nữ 14 tuổi. Tối 28/12/2012, Dương và đám bạn hẹn nhau vào ổ mại dâm để “giải khuây” cuối năm. Ðang chuẩn bị rời nhà, Dương nhận được điện thoại của Lưu Văn Thành (14 tuổi) và Lưu Văn Hiệp (cùng 14 tuổi) rủ đi chơi cùng. Trong nhóm của Thành có thiếu nữ tên Hoa (14 tuổi).

Tại chỗ hẹn, từ giây phút đầu tiên nhìn thấy cô gái xinh xắn, cao ráo, dễ thương, Dương nói nhỏ với Thành: “Ðể bọn anh sài con nhỏ  này.” Thành  đồng ý.

Sau đó, Dương gọi điện cho Nguyễn Văn Chiến (17 tuổi) đến nhập hội. Chiến lại rủ Trương Văn Sơn và Hoàng Văn Ðức (19 tuổi) đi cùng. Gặp nhau, Chiến, Dương, Ðức kéo nhau ra một chỗ bàn bạc kế hoạch cưỡng bức Hoa. Dương được xác định là người khởi xướng.

Ðêm hôm đó, cả 6 thanh niên cùng Hoa đi về cánh đồng La Khăng thuộc xã Minh Trí. Ðám đông ép thiếu nữ mới lớn xuống bờ ruộng. Với sự giúp sức của Thành và Ðức, 3 “yêu râu xanh” Chiến, Sơn, Dương đã lần lượt giở trò đồi bại với Hoa.

Thành, Sơn, Dương sau đó đưa Hoa về nhà, dặn không được nói chuyện này với bất cứ ai. Thấy con gái đầu tóc rũ rượi, áo quần lấm đất, bà me hỏi và biết cô Hoa vừa bịï hiếp dâm tập thể. Sơn, Dương, Chiến, Thành, Ðức lần lượt bị bắt giữ.

Khi được hỏi nghe thấy Hoa kêu cứu thì nghĩ gì, Dương nói dửng dưng: “Em chẳng nghĩ gì”.

Sơn, Dương, Chiến, Thành, Ðức đang bị Công an huyện Sóc Sơn khởi tố về tội Hiếp dâm. Cơ quan điều tra đang làm rõ hành vi “biết mà không tố giác tội phạm” của Hiệp.

Bắt bọn cướp có nhiều sinh viên

Tin Ngày 6, Tháng Giêng 2013.

Nhóm cướp “tung hoành” trên địa bàn TP Ðà Nẵng có tới 4 thành viên là Sinh Viên  của một số trường cao đẳng trong thị xã Ðà Nẵng và thành phố  Hội An. Bị bắt, bọn cướp  khai nhận, từ giữa tháng 12/2012 đến khi bị bắt, chúng đã thực hiện trót lọt 16 vụ cướp giật, trong đó 10 vụ giật dây chuyền, 6 vụ giật túi xách.

Lúc 19h20 ngày 4/1, chị Nguyễn Thị Trà 49 tuổi, trú đường Núi Thành, Ðà Nẵng, cùng bạn đang đi bộ trên đường Lê Thanh Nghị thì bị nhóm cướp giật trên xe máy áp sát giật sợi dây chuyền.

Cảnh sát chống cướp giật lập tức có mặt truy đuổi, đến ngã tư Nguyễn Hữu Thọ – Phan Ðăng Lưu thì áp sát, bắt giữ 5 đối tượng gây án đi trên 3 xe máy, thu giữ 2 sợi dây chuyền vàng.

Các đối tượng khai tên Võ Quang Quý (20 tuổi), Bùi Văn Linh (21 tuổi), cùng trú xã Hoa Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; Trần Thái Bảo (21 tuổi), Nguyễn Văn Ron (19 tuổi), Nguyễn Hữu Nghị (20 tuổi), cùng trú xã Hòa Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Trong đó, có 4 đối tượng là sinh viên của một số trường cao đẳng trên địa bàn Ðà Nẵng và TP Hội An.

Dùng xăng đốt chết chồng vì ghen

Tin ngày 3 Tháng 1, 2013.

Chiều 2/1, Công an tỉnh Bình Dương (PC45) cho biết, đối tượng Trương Hà Trúc Lệ, 33 tuổi, ngụ khu phố 1, phường Hiệp Thành, TP Thủ Dầu Một, đã khai nhận tội giết chồng là anh Võ Minh Thông ,33 tuổi, ngụ phường Hiệp Thành, TP Thủ Dầu Một.

Tại cơ quan điều tra, Trúc Lệ khai nhận kết hôn với anh Thông vào năm 2003, sinh hai con gái.  Sống chung, Lệ với chồng thường xảy ra mâu thuẫn vì  anh Thông có quan hệ bất chính với một cô gái khác. Ðầu tháng 12/2012, Trúc Lệ quyết định sống ly thân với chồng chờ ngày ra tòa ly hôn.

Sáng 1/1, Trúc Lệ đến trạm xăng dầu mua 30.000đ xăng đem về nhà với ý định cùng các con tự thiêu. Tuy nhiên, vì thương con gái nhỏ nên Trúc Lệ cất giấu bình xăng ở một góc nhà. Khoảng 19 giờ cùng ngày, anh Thông về đến nhà thì xảy ra cãi vã với Lệ, nguyên nhân cũng vì chuyện Thông ngoại tình. Sau đó, Thông bỏ vào phòng riêng nằm ngủ.

Ðến 22 giờ cùng ngày, khi cơn ghen lên tới “đỉnh điểm”, Lệ đem xăng vào phòng ngủ đổ lên giường chồng đang say ngủ rồi châm lửa. Thấy ngọn lửa bốc cháy ngùn ngụt, Lệ đưa hai con gái về nhà cha mẹ ruột thuộc phường Tân Ðông Hiệp, thị xã Dĩ An, gửi con rồi  đến cơ quan Công an tự thú về việc tưới xăng đốt chồng.

Qua công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Công an tỉnh Bình Dương xác định: anh Thông chết do bị cháy bỏng toàn thân nên ngạt thở.

CHÚT TÌNH LƯU LUYẾN

Hugh Hefner, Chủ Nhiệm Tạp Chí Playboy, và cô vợ trẻ.

Hugh Hefner, Chủ Nhiệm Tạp Chí Playboy, và cô vợ trẻ.

Khi Anh chết, các Em về đây nhé
Vị chút Tình lưu luyến với nhau xưa.
Anh muốn thấy các Em cùng rỏ lệ,
Tay trong tay, xõa tóc đứng bên mồ.

Thơ Thi sĩ Ðinh Hùng.  Thi sĩ qua đời năm 1967,  vài tháng trước Tết Mậu Thân. Nhờ Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị năm ấy là Tổng Trưởng Bộ Thông Tin – Chiêu Hồi, Thi sĩ được nằm trong Nghĩa Trang Mạc Ðĩnh Chi. Dường như không có văn nghệ sĩ Việt nào – chỉ có Thi sĩ Ðinh Hùng – được nằm trong Nghĩa Trang này của kiều dân Pháp ngày xưa. Trước năm 1956 dân Sài quen gọi nghĩa trang này bằng cái tên Ðất Thánh Tây. Chỉ người Pháp, và người Việt quốc tịch Pháp, được chôn xác ở đó. Khi đưa Thi sĩ xuống mồ  không có những cô nữ sinh xõa tóc đứng bên mồ ông như ý ông muốn trong Thơ ông. Trong một số bài viết về đám tang Thi sĩ Ðinh Hùng, tôi thấy có chuyện khi đưa Thi sĩ xuống mộ, có chừng 10 cô nữ sinh xoã tóc đứng bên mộ ông. Nhắc lại: không có các cô thiếu nữ xõa tóc, tay trong tay đứng quanh mộ Thi sĩ Ðinh Hùng.

Chiều cuối năm xứ người, tôi viết bài này vì tấm phiếu mời mua Tạp chí Playboy vừa đến với tôi. Tôi thấy Playboy sắp chết. Playboy rẻ giá đến cái độ một năm 12 số bán có 12 đô, 1 đô Mỹ một số Playboy. Báo gửi đến tận nhà. Nhà báo chịu tiền gửi bưu cục. Ngày xưa, năm tôi hai mươi tuổi, tôi từng mê Playboy. Không phải ngày xưa tôi chỉ mê Playboy vì những hình ảnh đàn bà đẹp trần truồng vú mông nõn nà ngồn ngộn trong nó, năm xưa tôi còn mê Playboy vì trong nó có những trang quảng cáo giầy, quần áo, mũ jeans, bật lửa, pipe, thuốc lá, thắt lưng da, đồng hồ, ca-vát, khuy manchette,  bút máy, máy hát, radio, xe ô tô. Cái gì trong Playboy tôi cũng thấy đẹp. Vị chút tình lưu luyến ấy, hôm nay, khi Playboy sắp chết, tôi viết bài này.

Phiếu Mời Mua 1 Ðô một số Playboy.

Phiếu Mời Mua 1 Ðô một số Playboy.

Năm 1952 Hugh Hefner là nhân viên chuyên viết bài quảng cáo cho Tạp chí Esquire ở Chicago. Chuyện kể Hugh xin tăng lương 5 đô một tuần, không được, anh bỏ Esquire ra làm ăn riêng. Anh vay Nhà Băng 600 đô, mời được 45 người bỏ vốn góp 8.000 đô, bà mẹ anh cho anh 1.000 đô. Với số tiền vốn ấy, Hugh Hefner  xuất bản Playboy số đầu. Tờ tạp chi không đánh Số 1 vì Hugh sợ sẽ không ra được Số 2. Nhưng Playboy Số 1 thành công ngay, tạp chí bán được 50.000 số.

Hugh Hefner làm chủ báo, anh kinh doanh nghề báo, anh không viết gì trong báo của anh. Tôi thấy có nhiều ông chủ báo cả đời không viết bài báo nào, nhưng các ông thành công trong nghề làm báo, như ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, như ông Ðinh Văn Khai, Chủ nhiệm Nhật báo Tiếng Chuông, ông Ðặng Văn Sung, Chủ nhiệm Nhật báo Chính Luận, như Hugh Hefner, Chủ nhiệm Tạp Chí Playboy.

playboy-coverPlayboy Số 1 in ảnh Marilyn Monroe ở trang bià, và vài ảnh Marilyn Monroe khoả thân nơi trang trong. Nhưng không phải MM cho chụp những ảnh đó để Playboy đăng. Ðó là những ảnh MM cho chụp năm 1949 khi nàng chưa đóng phim, chưa nổi tiếng, những tấm ảnh để làm một quyển lịch rất thường. Playboy lấy những ảnh ấy đăng lại. Từ 1953 đến năm 1961 khi Marilyn Monroe qua đời, Hugh Hefner và Marilyn Monroe không một lần gặp nhau. Khoảng năm 2000, Hugh Hefner mua chỗ chôn anh bên cạnh mộ Marilyn Monroe. Nghe nói Hugh mua chỗ nằm ngàn thu này của anh với giá 500.00 đô.

Tôi không nhớ tôi xem Playboy lần thứ nhất năm nào.  Tôi không nhớ ai đưa cho tôi tờ Playboy đầu tiên trong đời tôi.  Chắc là năm 1956 khi tôi làm nhân viên USOM – United States Operation Mission – tiền thân của USAID Viện Trợ Kinh Tế Mỹ – năm tôi kiếm được tiền và có điều kiện chưng diện.

Không bao giờ Playboy được chính thức nhập vào Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Những năm từ 1965 đến 1973 khi lính Mỹ đến Việt Nam, họ xem Playboy rồi quăng đi, lao công người Việt lượm đem ra bán. Do đó Playboy những năm đó nằm lền khên trên vỉa hè các thị trấn miền Nam. Sau 1973  Lính Mỹ rút đi hết, Playboy trở thành khan hiếm. Nhưng có một đường dây nhập Thuốc Lá Mỹ và Playboy vào Sài Gòn: Pall Mall, Lucky Strike, Salem, Philip Morris Vàng, hiệu gì cũng có. Người mua chỉ đến chỗ mấy chị bán thuốc lá ngồi trước tiệm Kem Mai Hương – trước rạp xi-nê Casino de Saigon – là có thuốc lá Mỹ mới toanh. Theo tôi thuốc lá Mỹ vào Sài Gòn qua đường dây nhập hàng lậu, hàng cấm từ những tầu buôn nhỏ của người Hoa đi lại giữa Hong Kong, Singapore và Sài Gòn.

Cùng với Lucky, Pall Mall, Playboy vào Sài Gòn bằng đường dây nhập lậu. Nhưng từ 1973 Playboy không còn bầy bán trên vỉa hè nữa. Cả Sài Gòn chỉ có Xe Báo trước cửa Nhà Viễn Ðông là có Playboy Số Mới. Xe báo để một tập Playboy số cũ trên sạp để cho người mở xem, và để cho khách biết sạp có bán Playboy. Tôi thường đến đấy hỏi mua Playboy. Bà chủ Xe-Sạp lấy trong thùng xe ra một tập Playboy mới tinh. Giá Playboy năm 1974 ở Sài Gòn là 200 đồng một số. Rẻ bằng nửa giá gói thuốc Pall Mall. Những người trẻ không tiền đến xe báo xem cọp mấy tờ Playboy cũ, những người có tuổi, có tiền, mua Playboy số mới về nhà, khuya nằm thưởng thức.

Ở xã hội nào, ở thời nào cũng vậy, người ta hơn nhau về sáng kiến, người ta thành công nhờ sáng kiến, người ta giầu tiền nhờ sáng kiến. Hugh Hefner biết được sự cần có của những người đàn ông Mỹ thời anh. Sau chiến tranh Thế Giới, người Mỹ bị kéo vào Chiến Tranh Triều Tiên, rồi bị ám ảnh vì cuộc Chiến Tranh Lạnh với Liên Xô. Nguy cơ bị Tận Diệt vì Bom Nguyên Tử đè nặng trên tim họ. Ðàn ông Mỹ muốn được hưởng những lạc thú của cuộc sống. Trong những lạc thú người đàn ông Mỹ muốn hưởng, Lạc Thú Thứ Nhất là Ðàn Bà.  Playboy đáp ứng đúng thị hiếu của đàn ông Mỹ, Playboy được đàn ông Mỹ chào đón. Hugh Hefner thành công ngay từ số Playboy đầu tiên. Rồi Playboy phát triển. Playboy bán được cả triệu số, nhiều ấn bản Playboy xuất bản ở Ðức, Nhật bằng chữ Ðức, chữ Nhật, Ở Mỹ những Club Playboy được mở ở những thành phố lớn, hội viên có chià khoá riêng, đến tự mở cửa Club mà vào. Những nữ tiếp viên Bunny trẻ đẹp có đôi tai thỏ trên tóc, đón tiếp họ. Hugh Hefner và Playboy sống huy hoàng trong nhiều năm.

Tháng Tư 1945 Oan Nghiệt đến đời tôi, tôi mất Playboy. Mấy đứa em tôi từ Hà Nội vào sướng rên khi được tôi cho những tờ Playboy còn sót trong đáy tủ nhà tôi. Tôi đã vứt đi gần hết những số Playboy, Penthouse tôi có khi bọn nón cối, dép râu ngơ ngáo vào Sài Gòn.

Trong 20 năm sống lây lất ở Sài Gòn tang thương – từ 1975 đến 1995 – không một lần tôi mơ có ngày tôi lại thấy tờ Playboy. Nhưng định mệnh an bài,  tôi gặp lại Playboy trên đất Mỹ. Qua 20 năm, Playboy tàn tạ. Báo ít trang hơn nên mỏng hơn, báo ít quảng cáo, bài trong Playboy không còn hay nữa, những hình ảnh phụ nữ trình bầy mông vú trong Playboy không còn hấp dẫn. Ðã quá nhàm, không có gì mới. Mông Vú vẫn là Mông Vú hai mươi năm xưa. Video Sex đã chiếm lĩnh thị trường khai thác thân xác đàn bà và gợi tình.  Thời vinh quang của Playboy  qua rồi. Nhưng..

Ðây mới chính là chuyện tôi muốn viết nhân việc tôi hoài niệm Playboy trước khi Playboy chết.

Năm 1973, hay 1974, tôi đọc trong Trang Interview của Playboy bài phỏng vấn một Ðại Tá Lục Quân Mỹ. Ông Ðại Tá – tôi không nhớ tên – từng tham chiến ở Việt Nam, giải ngũ ông về Mỹ, ông kiện chính phủ Mỹ về tội “cho nhân viên CIA dùng lính Mỹ vào việc đi giết những thân hào, nhân sĩ, tu sĩ Việt Nam để đổ tội giết người cho Việt Cộng.”

Trong những năm chiến tranh ác liệt 1978, 1979 trên các báo  Việt gần như tháng nào cũng có tin “VC phục kích đánh mìn xe đò làm chết thường dân, VC chặn xe Lam giữa đường bắn chết ông Linh muc, ông Tu sĩ Phật Giáo..” Tin thường có ảnh đi kèm “VC giết người xong quăng lại bản án tử hình nạn nhân trước khi bỏ chạy. Án tử hình ký Mặt Trận Giải Phóng MiềnNam.”

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Playboy, ông Ðại Tá nói:

“Tôi không kiện vì muốn nổi tiếng. Tôi kiện vì tôi là lính chiến, tôi có thể bắn địch thủ trên chiến trường, tôi không thể làm việc giết thường dân vì mục đích chính trị. Chính phủ Mỹ cho bọn nhân viên CIA dùng chúng tôi vào những công tác ám muội. Bọn CIA chuyên làm việc bí mật. Chúng tôi chỉ biết chúng dưới những cái tên Bob, Dick. Nhưng chúng có quyền sai xử chúng tôi. Chúng ép chúng tôi phải giết người theo lệnh chúng.”

Ông Ðại Tá Mỹ năm 1974 nói nhiều chuyện bê bối của một số Tướng Mỹ ở Việt Nam, như chuyện những ông Tướng Mỹ khi ăn phải có lính bận quân phục trắng đứng hầu. Tôi không nhớ những chuyện đó, tôi nhớ lời nói của ông trên đây.

Tôi dịch bài Phỏng Vấn Playboy đưa cho tờ Diều Hâu – Năm 1974 Trung Tá – hay Ðại Tá? – Nguyễn Ðạt Thịnh chủ nhiệm Diều Hâu, Thiếu Tá – hay Trung Tá? – Phạm Huấn làm chủ bút. Tôi đem số Diều Hâu có bài Playboy phỏng vấn đến đưa anh Chu Tử đọc. Tôi nói với anh:

“Có ông Ðại Tá Mỹ kiện chính phủ Mỹ về việc chính phủ Mỹ cho bọn CIA ám sát người Việt để đổ tội cho Việt Cộng. Tôi dịch bài phỏng vấn đó đăng trong báo này.”

Tôi hỏi anh Chu Tử:

“Ðến bây giờ anh có biết ai bắn anh không?”

Anh trả lời:

“Ðến bây giờ tôi vẫn không biết ai bắn tôi.”

Năm 1965 khi những đơn vị Lính Mỹ thứ nhất đến Qui Nhơn, Ðà Nẵng, anh Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo Sống, bị bắn lúc 8 giờ sáng trước cửa nhà anh khi anh vào xe ô tôi đi đến toà báo. Cùng ngày, lúc 12 giờ trưa, ký giả Từ Chung, Thư ký Toà soạn Nhật Báo Chính Luận, bị bắn trước cửa nhà anh khi anh từ toà soạn về. Hai vụ ám sát này được cho là do Việt Cộng thực hiện.

Từ Chung chết ngay tại chỗ anh bị bắn, bên xe ô tô của anh, trước cửa nhà anh trong cư xá Nguyễn Tri Phương, anh Chu Tử sống sót.

Tôi không biết trong số ký giả nổi tiếng của Sài Gòn có ông nào ra ngoại quốc đi học không? Từ Chung hai lần sang học ở Ðại Học Fribourg, Thụy Sĩ, hay Bỉ? Từ Chung tên thật là Vũ Nhất Huy. Anh học về kinh tế. Anh là bạn của Chủ nhiệm Hồ Anh, anh là bạn của ông Anh Ngọc Từ Ngọc Toản. Từ Chung là tên con trai ông Từ Ngọc Toản. Ði Thụy Sĩ học về Kinh Tế, về nước Từ Chung làm nhật báo.

Có lần tôi hỏi Từ Chung:

“Ê mày.. Mình cần tiền mà không có thì làm sao cho có?”

Nhà Kinh tế trả lời:

“Chỉ có cách đi vay.”

Nhật báo Chính Luận là tờ báo thứ nhất, và duy nhất, có bác sĩ riêng săn sóc sức khoẻ cho nhân viên toà báo. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm được toà báo nhờ khám bệnh, chưã bệnh cho nhân viên Chính Luận. Nhân viên chính Luận và vợ con đau yếu đến nhờ Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm mà không phải trả tiền. Kể từ ngày Việt Nam có nhật báo, Chính Luận là tờ báo duy nhất trả lưong tháng cho Thư Ký Toà Soạn đã chết. Bà quả phụ Từ Chung vẫn có tiền hàng tháng của báo Chính Luận cho đến ngày 30 Tháng Tư 1975. Tôi không biết bây giờ bà Từ Chung còn ở Sài Gòn hay không, các con Từ Chung nay ra sao.

Nếu nhật báo Chính Luận sống đến năm nay – 2000, 2012 – tôi chắc những ông Ký Giả Chính Luận về hưu như ông Thái Lân được báo trả lương hưu. Việc ký giả chết, gia đình ký giả được toà báo tiếp tục trả lương, nhà báo có bác sĩ điều trị cho nhân viên, nhân viên già, về hưu có lương hưu là những việc chưa bao giờ xẩy ra trong báo giới Việt Nam kể từ ngày Việt Nam có nhật báo.

Tòa soạn Chính Luận có hai ông Thái: Thái Linh, Thái Lân. Hai ông Thái làm báo ở Hà Nội từ những năm 1950. Năm 1955 nhật báo Ngôn Luận ra đời ở Sài Gòn, hai ông Thái là nhân viên toà soạn Ngôn Luận từ số đầu cho đến ngày Ngôn Luận bị Nguyễn Khánh – Ðỗ Mậu đóng cửa. Hai ông Thái là nhân viên tòa soạn nhật báo Chính Luận từ số đầu đến Ngày 29 Tháng Tư năm 1975. Cả hai ông cùng làm công việc ở toà soạn, làm tin, làm những phụ trang, hai ông không đi dự họp báo, không đi trong số ký giả tháp tùng Tổng Thống. Trong 20 năm làm ký giả hai ông chỉ bị thất nghiệp – nằm nhà không lương – khoảng 3 tháng – từ ngày báo Ngôn Luận bị đóng cửa đến ngày báo Chính Luận ra đời. Hai ông là hội viên Hội Cơm Nhà, Quà Vợ chân chính, thuần thành. Ký giả nhà báo là giới có nhiều người ăn chơi bê bối, nghiện, cờ bịch, vợ nọ con kia, nói tục. Tật nhẹ nhất của ký giả Sài Gòn là ngồi tiệm uống la ve, đấu hót cả buổi. Các ông uống la ve 33 mà không cần biết ai trả tiền. Cứ uống đã việc trả tiền tính sau. Hai ông ký giả Thái Linh, Thái Lân không mắc một tật nào của ký giả. Tôi – CTHÐ – chưa một lần thấy hai ông ngồi tán gẫu ở tiệm cà phê. Ông Thái Lân những năm 1960-1970 có hút thuốc lá, ông Thái Linh không hút gì cả. Tôi vẫn coi hai ông là một thứ Tư Chức Ký Giả.

Hai ông Thái Linh, Thái Lân chạy thoát sang Mỹ trước ngày bọn VC vào Sài Gòn. Ðến Mỹ, cuộc sống của hai ông khác hẳn nhau. Năm 1995 khi chúng tôi mới đến Mỹ, anh bạn đưa vợ chồng tôi đi thăm Thái Linh. Ký giả Thái Linh bị liệt đã nhiều năm, anh sống trong một Nursing Home ở đường Lee Highway, cách Trung Tâm Eden chừng 2 miles. Ðây là lần thứ nhất vợ chồng tôi vào một Nursing Home ở Mỹ.

Thái Linh bị liệt nửa người dưới, hai tay anh vẫn còn viết được, nhấn số phone được. Anh bận áo thung, quần soọc, ngồi trên giường, đầu giuờng có cái TiVi đen trắng. Khi chúng tôi vào phòng, TiVi đang chiếu phim “I love Lucy.” Thái Linh nói:

“Tôi thích xem phim này. Phim lành mạnh.”

Phòng hẹp mà kê hai giường, hai người bệnh nằm, chia cách bằng cái màn nylon. Anh nói anh vẫn nhớ tôi là ai. Anh nói:

“Tôi sống được. Tôi quen rồi.”

Anh bạn và vợ chồng tôi đứng bên giường. Không có chỗ cho khách đến thăm ngồi. Khi về, vợ tôi nói:

“Lần sau đi thăm anh Thái Linh, anh đi một mình. Thấy anh ấy như thế, em thương quá.”

Người liệt Thái Linh sống trong ánh đèn neon, anh không biết ngày hay đêm. Có những nửa đêm anh bấm phone gọi những người anh có số điện thoại. Anh nói chậm, khó nghe. Tôi buồn mỗi lần anh phone cho tôi, cúp máy thì ái ngại mà nghe thì anh không có chuyện gì để nói cả, thật lâu anh mới nói được hai, ba tiếng.

Thái Linh phụ trách Trang Phụ Nữ – Thiếu Nhi báo Ngôn Luận. Phải là ký giả phụ nữ phụ trách Trang Văn Nghệ Phụ Nữ  mới đúng sách vở nên Thái Linh ký tên là Kiều Diễm Hồng. Năm 2000, ở Kỳ Hoa, tôi thấy có bài viết của một bà kể lại chuyện năm xưa bà và các bạn bà là những nữ sinh trung học, các bà gửi nhiều thơ, truyện cho chị Kiều Diễm Hồng, sáng tác của các bà được Ngôn Luận đăng nhưng nhiều lần các bà yêu cầu được gặp mặt chị Kiều Diễm Hồng mà không một lần các bà được gặp chị. Năm 2000, quí vị nữ sinh yêu văn nghệ những năm 1960 đều trên dưới Sáu Bó tuổi đời.

Ký giả Thái Linh qua đời cách nay khoảng 5 năm.

Ký giả Thái Lân có cuộc sống khác hẳn Ký giả Thái Linh. Ông Thái Linh sống và chết ở Virginia, ông Thái Lân sống ở Cali. Năm nay – 2012 – ông Thái Lân gần 90 tuổi, ông sống mạnh khoẻ, minh mẫn, đi đứng vững. Ông là ký giả cao tuổi nhất trong số những ký giả Bắc Kỳ còn sống linh động năm nay, năm 2012.

Ký giả Ngôn Luận-Chính Luận còn một người sống ở Sài Gòn: Ký giả Vân Sơn. Ông này cùng phụ trách Trang Phụ Nữ Thiếu Nhi Ngôn Luận với ông Thái Linh. Ông ký tên bài viết  là chị Thùy Trang – hay Thùy Dương – sau 1975 ông và bà vợ sống với cửa hàng tạp hóa. Năm 1983 có ông bạn ký giả ở Mỹ gửi về khoản tiền nhờ ông chia cho anh em. Chị Thuỳ Trang Vân Sơn đem cho anh em mỗi người khoảng 20 đô-la. Việc này bị bọn Công An Văn Hoá CS nghi là người ở Mỹ có ý định dùng đám ký giả Sài Gòn vào việc gì đó, chúng tó chị Thùy Trang. Năm 1984 khi tôi ở Phòng Tập Thể Khu C Một Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, chị Thùy Trang nằm phơi rốn trong sà-lim xế cửa phòng tôi. Một sáng chủ nhật, khi không có cai tù gác, tôi nói được với chị Thùy Trang:

“Ðừng sợ. Tội không có gì nặng đâu. Tù nhiều lắm là hai năm.”

Chị hỏi lại tôi:

“Sao biết?”

Tôi đã ở tù CS một lần, tôi biết tội của chị Thùy Trang là việc nhận tiền người bạn ở Mỹ đi chia cho anh em. Bọn VC bắt chị là để đề phòng hậu hoạn. Ðúng như tôi nói, chị Thùy Trang ở tù 2 năm, chị cũng có đi trại tù khổ sai như ai. Tội nghiệp chị. Chị là thứ ký giả Cơm Nhà Quà Vợ không thua kém hai ông Thái Lân, Thái Linh chút nào, dù chỉ kém có một ly ông cụ. Chị không ăn tục, không nói phét, không sài tiếng Ðức, không hút thuốc, không rượu, không cờ bạc, không bê bối vợ nọ con kia. Chị là mẫu Ký Giả Cơm Nhà Quà Vợ điển hình. Tôi không biết năm nay – 2012 – Ký giả Vân Sơn Thùy Trang sống ra sao.

o O o

Tạp Chí Playboy sắp chết, nhưng Bố Già Playboy Hugh Hefner vẫn sống, không chỉ sống suông, Hugh Hefner sống mạnh. Năm nay 86 tuổi, tài sản khoảng 45 triệu đô-la, Hugh Hefner sắp kết hôn với người phụ nữ 26 tuổi.

Hugh Hefner từ năm 20 tuổi, trong 60 năm, uống rượu mạnh, hút thuốc lá, gần đàn bà. Ba lạc thú mà người đời vẫn cho là làm cho đàn ông chết sớm.  Nhưng Hugh Hefner vẫn cứ không chết sớm. Kể ra trường hợp Hugh Hefner cũng đáng gọi là ly kỳ.

Văn Quang– Viết từ Sài Gòn

VỀ QUÊ LẦN CUỐI

Văn Quang và Linh mục Thao.

Văn Quang và Linh mục Thao.

Rất bất ngờ, vào dịp cuối năm 2012, các ông Nhất Giang và Vi Túy từ Úc gọi điện thoại cho tôi với một câu hỏi cũng rất “giật gân”:

“Anh có muốn về Thái Bình không?”

Tôi nghĩ hai ông này định dỡn mặt với mình đây. Tôi còn đang phân vân tìm cách đối phó để khỏi rơi vào bẫy việt vị, Nhất Giang nói ngay:

“Thật đấy, chuyến này báo Văn Nghệ sẽ đi làm từ thiện ở Thái Bình, quê hương anh đấy. Anh thấy thế nào?”

Tôi trả lời không cần suy nghĩ:

– Các anh làm từ thiện từ Ðồng Bằng sông Cửu Long đến Campuchia, rồi Huế, Pleiku, Kontum, chỉ còn thiếu miền Bắc. Ðồng bào đói khổ thì ở đâu cũng là người Việt mình cả. Sao lại không ra miền Bắc một chuyến nhỉ.

Vi Túy hỏi rất thành thật:

– Theo anh, miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo lắm không?

– Ở đâu cũng có người nghèo trên khắp giải đất VN này. Ở miền Bắc, họ hàng tôi còn nhiều, nhất là ở tỉnh Thái Bình mà các anh vừa đề cập tới. Có những người “trên không chằng, dưới không rễ”, nói rõ ra là họ không có người thân, không có họ hàng hang hốc với chính quyền địa phương, phần đông còn nghèo khó là cái chắc, chẳng khác gì những người ở các vùng quê miền Nam đâu. Chưa nói đến trường hợp như mấy đứa cháu tôi, sự nghèo khổ còn thê thảm hơn, kéo dài suốt từ năm 1954 tới bây giờ. Tôi kể lại sơ lược sự thật đó để các anh hiểu rõ hơn.

Ðồng bào Thái Bình đến nhận Quà Úc

Ðồng bào Thái Bình đến nhận Quà Úc

Nỗi khổ từ “muôn năm cũ”

Năm 1954, sau khi gia đình tôi vào Nam, anh cả tôi ở lại miền Bắc bởi anh theo kháng chiến chống Pháp từ những năm 1949. Như tôi đã có lần tường thuật với bạn đọc về cái chết oan uổng của ông anh cả tôi. Anh đang là chính trị viên, nhưng anh bị sốt rét nên sau khi đi bệnh xá, được nghỉ phép về làng dưỡng bệnh. Gặp ngay đợt cải cách ruộng đất, phong trào đấu tố được “phát huy” lên đỉnh điểm. “Chỉ tiêu” của làng tôi là phải đấu tố 3 anh địa chủ. Thế là ông anh tôi, vốn là con ông chánh tổng, bị lôi ra đấu tố rồi xử bắn. Ðể lại vợ và 3 đứa con nhỏ, có cháu mới 2 tuổi, cháu lớn nhất mới 6 tuổi. Bà vợ anh không chịu nổi cảnh nhục nhã này nên đã đâm đầu xuống ao nhà tự tử. Mấy đứa con nhỏ bị đuổi ra ở một túp lều lá trong khu vườn chè nhà tôi. Cả làng, kể cả người thân trong họ, cũng không dám giúp đỡ bất cứ thứ gì cho các cháu. Một lần các cháu mò cua bắt ốc, bắt được mấy con cá nhỏ ngoài đồng, mang về đến gần nhà, vô phúc gặp một anh dân quân du kích bắt đứng lại khám xét. Thấy mấy con cá, anh dân quân này quả quyết rằng hai đứa ăn cắp cá, anh ta mang đổ ngay mấy con cá xuống ao làng. Mấy đứa cháu tôi sống nheo nhóc trong hoàn cảnh đó. Tôi không muốn dài dòng về nỗi khổ này của các cháu. Chỉ biết rằng nỗi nghèo khổ đó đã theo đuổi các cháu từ năm 1954 đến nay. Một cháu đã mất tại Nam Ðịnh, một cháu bỏ làng ra Hà Nội sống cuộc sống lầm than cho đến bây giờ.

Tôi kể lại chuyện này để các anh hiểu thêm ở miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo khổ, cái nghèo “tích lũy” lại từ bao năm nay, đôi khi hơn cả miềnNam. Ở những làng quê Thái Bình không thiếu những gia đình như thế. Các anh đại diện cho bà con người Việt ở nước ngoài phát quà cho bất cứ tỉnh nào ở miền Bắc cũng sẽ gây xúc động cho bà con nghèo trong nước và gây được một tiếng vang đáng kể đấy. Một việc nên làm và không phải ai cũng làm được.

Ông Nhất Giang kết luận một câu hỏi gọn lỏn:

– Vậy anh có đi không? Chúng tôi lấy vé máy bay nhé.

Tôi “nóng máy” gật ngay: “Ði thì đi”.

Kinh Kha qua sông Dịch

Thế là chuyến đi bất ngờ của tôi về quê hương được ấn định từ ngày 25 đến 27-12 vừa qua. Thật ra từ mấy năm trước, mỗi lần báo Văn Nghệ về VN tặng quà, tặng nhà tình thương cho đồng bào nghèo, tôi vẫn còn đủ sức “chiến đấu” với anh em, từ Lộc Ninh đến Biển Hồ Campuchia, đến Tiền Giang, Ðà Lạt tôi đều có mặt. Nhưng mỗi năm tuổi một cao, sức yếu không còn đủ sức “trường chinh” nữa. Năm nay đã 80, tưởng rằng anh em cho yên thân “dưỡng già” trong cái chung cư mục nát này. Nhưng tiếng gọi của quê hương, của những người nghèo khó lại bất ngờ bật dậy, nói theo kiểu chữ nghĩa linh tinh ở đây là nó bật dậy “đột xuất”!

Tôi theo dõi tin thời tiết trên truyền hình, miền Bắc đang vào đợt rất lạnh, có hôm dưới 13 độ C, tôi hơi lo cho “cái thân già” này. Nhưng nhớ lại những ngày nằm trong trại tù cải tạo ở Sơn La, trời lạnh 3 độ C mà chiều vẫn phải tắm nước suối lạnh buốt còn chịu được thì có xá gì cái lạnh Hà Nội. Thế là thêm “dũng khí” ra đi, cứ như Kinh Kha qua sông Dịch vậy. Ði chuyến này rồi về có “bỏ mạng nơi sa trường” cũng đáng lắm.

Xin bạn đừng cho rằng tôi “quan trọng hóa” chuyến đi này. Ở vào tuổi tôi, nhiều bạn tôi đã ra đi, nhiều bạn mới năm trước còn dong chơi đây đó, nay đã nằm bẹp, muốn đi đâu cũng không đi nổi. Bây giờ, tôi đi bộ hàng ngày chỉ 15 phút đã thở “bở hơi tai”. Biết mình sức yếu rồi, chỉ còn điều an ủi cuối cùng là “làm được cái gì thì cứ làm, đi được đến đâu thì cứ đi”. Chẳng có điều gì báo trước cho cỗ máy xài đã 80 năm, không hư chỗ nọ cũng hỏng chỗ kia, lắp vá lung tung, đến lúc nó “bung” là hết lết nổi. Do vậy mà chuyến đi của tôi hoàn toàn nằm ngoài dự tính và ngoài cả ý muốn, nhưng cũng phải “liều”. Bạn đã đọc câu chuyện vui tôi gửi đến quý bạn tuần trước: Ở VN “không liều thì không sống được”. Cho nên tôi đi chuyến này cũng là liều. Bởi tôi biết rất rõ, đi với “cánh Văn Nghệ Úc” là đi liên miên, ngồi xe vào đường làng xóc như nhảy mambo, cuốc bộ đường ruộng hàng vài cây số, đi liên miên để đến được nhiều nơi.

Ðầu năm, cho tôi được tậm sự đường dài với bạn đọc thân mến của tôi thế thôi. Năm sau chẳng biết còn đủ sức, đủ minh mẫn để hầu chuyện bạn đọc nữa không.

Người Sài Gòn tiết kiệm cả đêm Giáng Sinh

Ðêm 24-12, tôi đón Giáng Sinh ở Sài Gòn, vốn lười đi và tiết kiệm nên nằm nhà coi Ti Vi. Từ ngày phố xá Lê Lợi, Nguyễn Huệ trang hoàng đón Giáng Sinh và Năm Mới, tôi chưa hề bước chân ra đến mấy con phố chính rộn ràng đó. Dường như với người già ở thành phố này, nói chung, họ vẫn nghĩ năm nào cũng như nhau thôi, có đi xem cũng chẳng thấy gì khác. Vả lại năm nay đời sống quá khó khăn, những thứ đèn đóm xa hoa, năm nào cũng phải có cho đủ “lệ bộ” thôi, chứ khó mà vui nổi khi còn trăm thứ lo bù đầu. Vô tình, những thứ đó dành cho những người giàu hay ít ra cũng đủ ăn đủ mặc. Dân nhà nghèo năm nay lo chạy gạo, lo thất nghiệp, tiết kiệm cả đến một cuốc xe đi hưởng thú vui không mất tiền, tức là không mất “phí”. Cái gì chứ nghe đến “phí” là dân nghèo hết hồn rồi. Mất tiền đổ xăng, chẳng lẽ không uống ly nước mía, thôi, thà ở nhà, tiết kiệm được cho gia đình bữa ăn sáng, để dành tiền nộp phí sử dụng đường bộ. Ðấy là một sự thật, ít ai nghĩ đến.

Tôi chỉ dám thức đến 11g đêm bởi sáng sớm hôm sau, 05giờ đã phải thức dậy ra máy bay. Coi như phải “bỏ quên đêm Giáng Sinh”. Chuyến Jestar cất cánh từ Tân Sơn Nhất lúc 07g30 phút, sau 1g45 phút sẽ đến sân bay Nội Bài. Jestar là hãng hàng không giá rẻ nhất tại VN bây giờ. Nếu lấy vé trước 1 tháng hoặc 1 tuần, giá sẽ rẻ hơn nhiều. Chỉ bằng nửa giá Air VN và ngang với giá xe lửa có giường nằm. Khoảng hơn 1 triệu đồng 1 lượt Saigon –Hanoi. Tất nhiên bạn lấy vé khứ hồi sẽ còn được bớt thêm nữa. Máy bay lớn, khoang hành khách chật chội, tất nhiên không “sang” bằng những hãng khác, nhưng cũng không tệ. Khi máy bay sắp hạ cánh, phi hành đoàn thông báo nhiệt độ tại Nội Bài là 14 độ C. Cô gái ngồi cạnh tôi lè lưỡi rùng mình. Cô vận chiếc quần soọc để khoe cặp đùi dài trắng nhễ nhại. Có lẽ cô ra Hà Nội lần đầu.

Tôi “trang bị” khá kỹ, áo khoác dầy cộm, khăn len quàng cổ, những thứ hàng “son” mua ở chợ Ðà Lạt từ mấy năm trước, nằm kỹ trong đáy tủ, bây giờ mới “phát huy tác dụng”.

Về quê hương mà chưa biết đó là quê mình

Từ sân bay Nội Bài, chiếc xe 16 chỗ chạy thẳng một lèo về Thái Bình. Con đường khá dài, ngồi ê ẩm mới tới nơi tôi đã sinh ra và lớn lên rồi bỏ xứ ra đi. Gần 3 tiếng sau chúng tôi tới giáo sứ Phục Lễ. Ngôi nhà thờ rất lớn, với những hàng cây được nắn tỉa công phu quanh những khu vườn sạch sẽ làm tôn thêm vẻ trang nghiêm của nơi này. Người đón tiếp chúng tôi là cha Thao, rất lịch lãm, trẻ và đẹp trai không kém gì tài tử màn bạc. Cha đãi đoàn một bữa cơm khá thịnh soạn. Mọi chương trình đã được hoạch định từ trước cả chỗ ăn chỗ ngủ. Nhưng để khỏi làm phiền nơi tôn nghiêm và có tự do hơn, chúng tôi xin phép cha cho ra nghỉ ở khách sạn bên ngoài.

Ðó là một kiểu “nhà nghỉ” ở giữa những con đường lớn. Có nơi treo bảng là “nhà ngủ” cho tiện việc sổ sách. Phòng chật hẹp, cũng có máy lạnh, toilet nhưng có vẻ hơi bầy hầy, bạn kiếm miếng xà bông cũng không ra. Ðêm giữa đồng quê nghe ếch nhái kêu cũng vui tai. Tôi chợt nhớ ra là tôi rời quê ra đi vào năm 1950, đến nay đã hơn 60 năm tôi mới được ngủ lại ở chính quê hương mình. Nhìn khung cảnh đồng quê trước mặt mơ hồ trong ánh đèn đêm, dường như nó vẫn vậy, không có gì thay đổi. Thay đổi chăng là ở con người. Tôi thật sự xúc động khi nhớ lại những con đường, những mái nhà, những ngôi trường tôi đã từng ê a học và những khuôn mặt từ xa xưa. Tất cả như còn đang lẩn khuất đâu đây và đang chờ đợi ngày chúng tôi trở về. Nhưng đồng thời với cảm tưởng ấy là ý nghĩ thực tế hơn, có lẽ đây là lần cuối tôi nghỉ lại nơi này. Niềm vui và nỗi buồn đan xen trong cái đêm “hội ngộ” hi hữu này. Ðêm đó dù rất mệt nhưng tôi vẫn không tài nào nhắm mắt ngủ yên được.

Sáng hôm sau trở lại nhà thờ Phục Lễ, nghe các giáo dân nói chuyện tôi mới biết giáo sứ này thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Vậy mà từ hôm qua tôi cứ tưởng giáo sứ thuộc huyện khác, mãi đến lúc đó tôi mới biết xã này thuộc huyện mình. Cách huyện lỵ Quỳnh Côi có 4 km, tức là cách làng An Hiệp của tôi 9 km. Bỗng dưng tất vả trở nên thân thuộc quá.

Buổi phát quà tại giáo sứ Phục Lễ

Ðúng 9 giờ sáng buổi phát quà bắt đầu ngay tại sân sau nhà thờ Phục Lễ. Chúng tôi thấy việc tổ chức phát quà cho đồng bào nghèo ở một nơi như thế này là rất phù hợp. Nếu tổ chức ở một trụ sở hay ủy ban nào cũng bất tiện vì khẩu hiệu cờ quạt lung tung… Buổi phát quà cho cả đồng bào theo đạo Thiên Chúa và đạo Phật, không hề có sự phân biệt nào. Hơn 100 người đã tề tựu đông đủ, vài người “giàu lắm” cũng chỉ có chiếc xe đạp cũ. Phần quà gồm 2 gói thực phẩm và 100 ngàn tiền mặt. Ðến nhận quà, hầu hết là các cụ già, các cô gái và em nhỏ vừa đủ tuổi xách được gói quà khoảng 4 kg. Quan sát những người dân ở đây, tôi không thấy điều gì khác biệt với những người dân ở các địa phương miền Nam mà tôi đã từng đi qua. Có lẽ người nghèo ở đâu cũng giống nhau cả thôi, quần áo “thời đại si đa” đủ mốt, đủ màu, đủ quốc tịch, chữ ăng lê trên ngực áo đủ kiểu kể cả kiểu “I ♥ you” trên áo các em nhỏ chưa đủ lớn khôn. Khác một chút là mùa lạnh nên ai cũng mặc vài ba chiếc áo chằng đụp nên có vẻ có da có thịt hơn.

Tôi cũng được anh em cử ra đứng phát tiền sau khi các cụ đã lãnh quà. Có cụ bê không nổi, rớt lung tung, người khác phải tới “khuân” giúp. Có cụ quên cả lãnh tiền, dù đã được nhắc nhở, tôi phải kéo áo cụ lại mời cụ lãnh giùm cho. Có cụ nói “các ông cho nhiều quá, chưa có “ông” nào cho nhiều như thế”.

Tiếng gọi nhau í ới, vài người xúm lại “thồ” mấy phần quà trên chiếc xe đạp cũ. Họ vẫn còn quen với kiểu phương tiện vận chuyển thời chiến tranh đi tản cư, di cư.

Ngay hôm đó đoàn lại tiếp tục đi đến 4-5 nhà thờ khác nằm trong địa phận cai quản của cha Thao ở giáo xứ này. Ðường làng nhỏ hẹp như bờ ruộng, có nơi xe gắn máy đi còn chật. Chúng tôi cuốc bộ từng chặng chừng 1-2 cây số. Thú thật, nếu không có mấy ông bạn mang giúp hành lý, tôi không đi nổi. Ở nơi nào bà con cũng có vẻ lạ lẫm với đoàn làm từ thiện từ nước ngoài về. Thậm chí có nhiều người chẳng biết nước Úc ở đâu, nếu không giải thích, họ vẫn cứ nghĩ rằng đó là nước Mỹ. Bà con ở miền này biết đến nước Mỹ và đồng đô la chứ quả tình không biết đồng đô la Úc hoặc đô laCanada. Xin bạn hiểu là rất nhiều người biết có đồng đô la chứ chưa nhìn thấy hoặc chưa được cầm đến bao giờ. Ðó là điều ngược hẳn với dân Hà Nội. Ai cũng biết giá trị của từng đồng đô la và nhiều người định giá trị nhiều món hàng bằng đô la và tiêu bằng đô la mạnh tay hơn các cụ từ nước ngoài về VN đấy. Suy ra từ đấy, ở miền Bắc sự cách biệt về giàu nghèo giữa thành thị và thôn quê quá xa. Xa hơn cả miền Nam.

Trở lại chính nơi chôn rau cắt rốn

Buổi chiều chúng tôi lại lên đường trở về Hà Nội. Trên đoạn đường đó, chúng tôi đi qua huyện Quỳnh Phụ và qua cầu Hiệp. Ðúng ra tên huyện cũ của tôi là Quỳnh Côi, nhưng sau này, các ông “nhà nước mới” sát nhập hai huyện Phụ Dực và Quỳnh Côi là một, đổi thành huyện Quỳnh Phụ. Rồi nhiều huyện, nhiều tỉnh thấy sự cai trị bất tiện nên lại tách lại các tỉnh huyện như cũ. Như Hà – Nam- Ninh, Vĩnh – Phúc – Yên…. Nguyên cái việc sửa tới sửa lui này cũng tốn hết biết bao tiền của công sức của nhân dân. Giấy tờ đều phải làm mới để rồi làm lại như cũ. Sự thiếu nghiên cứu, thiếu kinh nghiệm, với những bộ óc thích “đổi mới vô tội vạ” đã làm điêu đứng người dân không ít.

Ngày nay, cái phố huyện  nhỏ xíu bây giờ được nâng lên thành thị trấn và đặt lại cái tên Quỳng Côi quen thuộc, nhưng huyện thì vẫn là huyện Quỳnh Phụ.

Ði qua con đường đúng 5 cây số từ thị trấn về phố Bến Hiệp, tôi bồi hồi nhớ đến những năm tháng từ phố tôi đi học trường huyện. Con đường trải đá, hai bên đã mòn nhẵn, mỗi ngày có hai chuyến xe đò chạy từ Bến Hiệp đến tỉnh lị Thái Bình. Con đường đã in đậm thuở ấu thơ của tôi, thuở mới tập và thích làm người lớn, thuở bắt đầu biết yêu vụng nhớ thầm cô hàng xén hoa khôi của phố Hiệp. Bốn năm dài như thế, mỗi ngày đạp xe đi trên con đường cái quan này. In đậm trong khối óc trẻ thơ của tôi là vào năm 1943, hai bên bờ cỏ, dọc theo con đường này có rất nhiều người chết đói, nằm la liệt bên đường. Có những xác chết, vì không chôn kịp, đã cháy đen vì nắng như bị hỏa thiêu. Hầu hết họ là những người từ phương xa đến xin ăn ở huyện tôi. Nhà tôi đã bắt tôi phải nghỉ học cả tháng để tránh bệnh tật lây lan từ quãng đường kinh hoàng này. Bây giờ trở lại, đó là những hình ảnh bi đát nhất vẫn còn như trước mắt tôi.

Chùa làng Sơn Ðồng và ông sư tự thiêu

Ði gần hết quãng đường này, chúng tôi vì tò mò ghé vào làng Sơn Ðồng thăm ngôi chùa có vị sư mới tự thiêu cách đây hai tháng. Làng này cách làng tôi vài cái bờ ruộng và một lũy tre thưa. Bà chị ruột tôi lấy chồng ở làng Sơn Ðồng. Anh chị tôi có chừng 7- 8 đứa con hiện ở cả bên Mỹ. Các cháu đề nghị tôi ghé qua chùa thăm lại cảnh xưa có đúng như bức ảnh đã được đưa lên internet không và lý do nào nhà sư đã tự thiêu.

Chúng tôi đến ngôi chùa Sơn Ðồng vào buổi quá trưa “trời không nắng cũng không mưa,  chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung”. Không khí chùa ngoài vắng lặng, không một bóng người. Tôi lần ra phía sau chùa vãn cảnh, bất ngờ gặp được sư thầy, có lẽ là vị sư tạm thời trụ trì ở chùa này sau khi vị sư chính tự thiêu. Tôi gợi lại vài kỷ niệm cũ chứng tỏ mình là người cũ của địa phương này. Hồi đó bố tôi thường sai tôi sang chùa này mời cụ sư Hinh sang nhà tôi đàm đạo. Cụ sư Hinh rất phong khoáng trẻ trung nên tôi nhớ mãi tính cách đặc biệt của cụ. Vị sư thầy trụ trì mới này nhận ra ngay tôi là “người nhà”. Vị này tự giới thiệu tên thật là Phạm Tiến Hường.

Sư thầy ra gặp anh em trong đoàn và thuật lại chuyện vị sư đã tự thiêu. Thầy nói khá chi tiết. Tôi chỉ có thể tóm tắt vài điểm then chốt. Vị sư tự thiêu là thầy Thích Thanh Hoằng; tên tục là Nguyễn văn Mười. Thầy viết thư tuyệt mệnh nói rằng “Thầy không oán trách phật tử, tự thầy oán trách thầy”. Nhưng theo thầy Phạm Tiến Hường thì một buổi sáng thức dậy, thầy Thích Thanh Hoằng bị “người ta” lấy hết toàn bộ đồ dùng của thầy, trong đó có cả máy vi tính và nhiều sách vở. Thầy buồn lắm nên tự thiêu. Tôi không thể suy luận hai chữ “người ta” đây là sư thầy Hường đã ám chỉ nhân vật nào hay cơ quan nào. Vì một lý do nào đó, thầy Hường cũng chỉ nói hai tiếng “người ta”, nhưng bạn đọc thừa thông minh có thể hiểu đó là ai và tại sao thầy Hường không thể nói rõ hơn được. Thầy Hường chính là người đã ở bên và giúp đỡ săn sóc cuộc sống cho thầy Thích Thanh Hoằng từ 10 năm nay nên biết rất rõ. Thầy Hoằng đã đổ 10 lít xăng lên người để tự thiêu vào buổi sáng. Sau đó vài ngày, chùa định làm một đám tang lớn nhưng lại được phường xã đề nghị cho đám táng đi vòng quanh con đường phía ngoài chùa rồi an táng thầy phía sau miếng đất của chùa Sơn Ðồng.

Cây cầu Hiệp mới, nối liền Hải Dương- Thái Bình

Chúng tôi dừng lại chùa Sơn Ðồng khoảng hơn 1 tiếng, buổi chiều anh tài xế trẻ đưa đoàn ra Bến Hiệp. Ðây chính là nơi tôi đã sống suốt thời thơ ấu. Dãy phố có chừng vài chục căn nhà lầu, nơi có một số gia đình người Hoa làm ăn buôn bán cùng người Việt. Ngày nay chỉ còn lại là những dẫy nhà tranh hai bên đường. Chỉ có cái cầu Hiệp mới làm xong, đó cũng là đặc điểm nổi bật nhất của tỉnh Thái Bình.

Cầu Hiệp bắc qua sông Luộc, nối liền đường bộ giữa 2 tỉnh Hải Dương – Thái Bình, cầu này thuộc 2 xã Hưng Long (huyện Ninh Giang) Hải Dương và Quỳnh Giao (huyện Quỳnh Phụ) Thái Bình, được khởi công xây dựng từ năm 2008. Cầu Hiệp có chiều dài 542,5m, rộng 12m. Buổi chiều trời mưa dăng nhẹ như mưa phùn mùa đông, cây cầu uốn cong nổi lên trên nền trời khá hùng vĩ giữa vùng quê nghèo. Tôi nhớ đến những lần bọn nhóc chúng tôi trần như nhộng, bơi qua sông Luộc giữa mùa nước lớn, dòng phù sa đỏ quạch chảy cuồn cuộn, sang bên kia sông ăn trộm vài trái bắp với cái lý do ngây ngô rằng bắp Hải Dương mới ngon. Và chỉ bơi qua sông chạy trốn về bờ nhà khi có người đuổi theo hô hoán, đứng trên bờ chửi theo. Tuổi trẻ ngỗ nghịch có vài phút sống lại.

Cây cầu này khiến tôi nhớ tới cây cầu Bo, lối bắt đầu vào tỉnh lỵ Thài Bình, nơi bà ngoại tôi sinh sống. Mỗi lần tôi được “lên tỉnh”, nhìn thấy cây cầu Bo như nhìn thấy môt thiên đường mới. Ðó mới là ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi về quê ngoại. Tôi nhớ đến mấy câu vè của bọn học trò vẫn hát om xòm: “Thái Bình có cái Cầu Bo. Ðêm đêm trai gái lại bò lên chơi. Cứ 5 mét lại một đôi”.

Bây giờ Thái Bính có tới 2 cây cầu Bo, một mới và một cũ,  nằm song song, nhưng chuyến đi này tôi không đi qua cầu Bo. Chiếc cầu Hiệp đã thay thế, nhiều xe chạy đường Hà Nội đã thay đổi lộ trình chạy qua đường cầu Hiệp sang Hải Dương ngắn hơn và đường xá tốt hơn.

Buổi tối về đến Hà Nội, chúng tôi quá mệt mỏi chỉ còn nước lăn ra ngủ. Trong chuyến đi của đoàn có một ông bạn từ Cali cũng tháp tùng. Ông Tiến, tục gọi là Tiến râu, người nằm chung phòng với tôi và mang vác hành lý, giúp đỡ tôi rất nhiếu trong suốt cuộc hành trình này. Thế là có cả độc giả từ Mỹ về cùng làm từ thiện cho vui vẻ. Hà Nội đối với tôi chỉ là một trạm dừng chân đợi tàu xe. Nhưng cũng có nhận xét rất “vô tư” rằng người Hà Nội giàu hơn người miền Nam. Có rất nhiều nguyên nhân lý giải điều này sau khi tôi tìm gặp một vài người bà con, kẻ giàu nứt đố đổ vách, người nghèo kiết xác như đứa cháu tôi ở giữa lòng Hà Nội.

Buổi tối chúng tôi trở về Sài Gòn trên chuyến bay cất cánh vào 19g30 hoàn tất chuyến đi làm từ thiện lần đầu tiên ở miền Bắc. Thưa thật với bạn đọc, ba hôm sau hai bắp đùi tôi vẫn còn đau, leo lên cầu thang lầu 1 chung cư không muốn nổi. Thế mới thấy rõ mình đã “quá đát” và ngồi tiếc nuối thời trai trẻ. Nhưng dù thế nào tôi cũng bằng lòng với mình vì đã “làm được gì cứ làm, đi được đến đâu cứ đi”. Ðó chính là cuộc sống “có lý” của tuổi già, phải không bạn?

Văn Quang – 04-1-2013

- – - – -

Hình ảnh:

01- Nhà thờ giáo sứ Phục Lễ

02- Các cụ già chờ phát quà tại sân sau nhà thờ Phục Lễ

03- Các cô gái cùng nhau đưa quà lên xe đạp “thồ” về nhà

04- Cha Thao cai quản 11 nhà thờ tại Quỳnh Châu và tác giả

05- Sư thầy Phạm Tiến Hường và Văn Quang trước sân chùa Sơn Ðồng.

06- Vi Túy phỏng vấn sư thầy Phạm Tiến Hường

07- Lối lên cầu Hiệp hiện nay

08- Cầu Bo Thái Bình cũ và những cô gái thuở xa xưa

GIÔNG TỐ. VŨ TRỌNG PHỤNG

Năm 2012, bọn Bắc Cộng làm tem thư kỷ niệm Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Ngày 20 Tháng 12, 2012, tôi viết bài này.

Tem Thư VŨ TRỌNG PHỤNG

Tem Thư VŨ TRỌNG PHỤNG

Tôi tởm vì cái trò “Nhổ rồi Liếm” của bọn Bắc Cộng. Trong 20 năm, Nhà Văn Vũ Trọng Phụng bị bon Ðầu Xỏ Cộng Sản bôi bẩn, vu cáo – Anh Già Cộng Sản Hoàng Văn Hoan, người đảng viên CS có tuổi Ðảng cao hơn Hồ Chí Minh – viết một bài dài kết án Nhà Văn Vũ Trọng Phụng chống bọn Stalin, HV Hoan tố cáo “Vũ Trọng Phụng được Mật Thám Pháp chi tiền, cho xe ô tô đưa đón đi hút thuốc phiện.” Vì lời kết tội của Hoàng Văn Hoan, sau năm 1956 tất cả những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị cấm xuất bản, cấm lưu hành ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Ðừng nói gì đến bọn Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Vũ Ngọc Phan, những tên hèn mạt biết Vũ Trọng Phụng bị kết tội oan mà không dám há mồm nói một tiếng, đến cả những tên Tố Hữu, Trường Chinh cũng câm miệng. Sau khi Lê Duẩn chết,  Chủ Nghĩa Công Sản bị vứt vào hố rác, bọn văn nô Bắc Cộng mới dám móc những tác phẩm của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng trong đáy tủ thời gian quên lãng đưa trở ra ánh sáng. Chúng ca tụng Vũ Trọng Phụng, chúng làm Tem kỷ niệm Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, Và tôi – CTHÐ – người mất nước già sống ở xứ người, người đọc Giông Tố năm Y 12 tuổi, viết bài này.

Tôi đã viết tập “Ðọc Giông Tố Vũ Trọng Phụng 350 trang,” To6i kho6ng có điều kiên để xuất bản tập sách trêm, hôm nay tôi trích vài đoạn trong tập.

Giông Tố. Trích:

Mặt trăng rất to và rất tròn, chiếu vằng văïc..Cánh đồng lúa chín như một tấm thảm vàng. Con đường quan lộ rải nhựa, như một con rắn bóng nhễ nhại, nằm uốn khúc trên tấm thảm ấy. Những làng mạc xa xa hiện ra những nét vẽ thẳng đen sì.

Ðó là vào tháng mười, năm 1930.

Tem Thư PHAN KHÔI

Tem Thư PHAN KHÔI

CTHÐ: Vừa vào truyện, trong 5 dòng đầu của Giông Tố – 5 dòng trên đây – tôi đã thấy có chuyện cần nói:

Ðường quan lộ rải nhựa” là đường do Tây làm, là đường Nhà Nước, một tên khác là “đường thuộc địa: route coloniale.” Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa ta gọi là quốc lộ. Ðường quan lộ, quốc lộ, ở đồng bằng chạy thẳng băng chứ không “uốn khúc như con rắn”. Hãy nhớ lại đườøng Số 5 Hà Nội-Hải Phòng, đường Sài Gòn- Ðà Lạt, Sài Gòn-Vũng Tầu, Sài Gòn-Tây Ninh, Sài Gòn-Cần Thơ… Ðường nào cũng thẳng tắp. Tả đường Nhà Nước trải nhựa chạy giữa đồng bằng mà “uốn khúc như con rắn” là không đúng. Nhà văn lớn không viết như thế. Nhà văn lớn viết như thế là viết sai, là kém nhận xét.

Nhiều lần tôi viết: Trường Ðời của Nhà Văn Lê Văn Trương, Giông Tố của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng là hai tác phẩm tiểu thuyết có sức tác động mạnh nhất đến ý muốn viết tiểu thuyết của tôi. Ðọc Trường Ðời, Giông Tố tôi  muốn trở thành người viết tiểu thuyết. Tôi đọc Trường Ðời, Giông Tố những năm 1941, 1942. Từ đó đến năm 1975 tôi không một lần đọc lại hai tiểu thuyết ấy. Năm 2000 ở xứ người, tôi đọc lại Trường Ðời, Giông Tố, tôi thấy trong hai tiểu thuyết ấy có những lỗi – lỗi nhỏ – như chuyện “đường quan lộ uốn khúc như con rắn giữa vùng đồng bằng Bắc Kỳ” như tôi vừa trích.

Và tôi thấy trong tất cả những tiểu thuyết của nước tôi chỉ có một vụ hiếp dâm. Vụ hiếp dâm duy nhất ấy xẩy ra trong Giông Tố:

Giông Tố. Trích:

Vờ tìm ví da trong túi áo, nhà điền chủ mắt vẫn lẳng lơ nhìn chị nhà quê cho mãi đến khi cầm trong tay cái ví rồi mà vẫn không lấy tiền ra vội, lại hỏi:

– Con tính bao nhiêu?

– Bẩm quan chả mấy tí, quan cho mấy xu cũng được ạ.

– Ðược lắm. Con ngoan lắm, để ta thưởng cho nhiều tiền! Con hãy lên xe này để quan đóng cửa không rét quan. Ta đang đếm tiền đây.

Chị nhà quê nhìn đến những đệm da đẹp đẽ, những chỗ kền mạ bóng nhoáng, con búp-bê Nhật hay hay treo ở bên miếng kính, ngọn đèn nhỏ sáng chói lọi trên nóc xe, thấy nó sạch sẽ quá, sang trọng quá, không dám bước lên. Nhưng mà quan đã với ra định đóng cửa xe lại, chị đành liều mà bước lên vậy. Quan đóng cửa đánh sập lại một cái rồi lại hỏi:

– Thế con làm vất vả thế này thì mỗi ngày được bao nhiêu?

– Bẩm chỉ được mỗi ngày sáu xu và hai bát gạo.

– Khổ nhỉ! Thế để quan cho năm đồng con may áo mặc Tết nhé! Ðây này, năm cái giấy bạc một đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu, mua xã cho chồng.

– Con xin quan lớn, con cảm ơn quan lớn.

– A.. nhưng mà con đã có chồng hay chưa?

Chị nhà quê cúi mặt không đáp, buộc tiền vào thắt lưng xong đứng lên.

– Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi.

– Ấy khoan đã! Mặt con tái đi thế kia, khéo không thì trúng phong rồi đó, để quan lấy cho một tí dầu trong này mà bôi rồi về thì về.

Nhà điền chủ nói xong lấy ở trong túi áo ra một lọ gì nhỏ, để đầu ngón tay vào miệng lọ lắc một cái, rồi qườ tay vào trán chị nhà quê. Chị này cứ để yên và co ro khép đôi đùi lại, kéo cái váy xuống.

…..

– Giời ơi! Con lậy ông, ông buông con ra!

Giọng quan vẫn ngọt ngào:

– Con im, không được cưỡng..

– Giời ơi, lạy ông! Ông đừng làm hại một đời tôi!

– Im ngay. Quan sẽ cho nhiều tiền..

– Bỏ ra! .. Ái…

– Im cho ngoan nào…

– Ối giời đất ơi..! Ối làng nước…

Ngưng trích.

CTHÐ: Tôi thấy Nghị Hách không thể hiếp dâm Thị Mịch trong xe ô tô xuất xưởng năm 1930. Nghị Hách đi xe ô tô của y từ đồn điền về Hà Nội. Xe chết máy giữa đường lúc 8, 9 giờ tối. Nghị Hách thấy một nhóm nông dân gánh rạ đi qua. Cô thôn nữ Thị Mịch đi trong nhóm. Nhìn Thị Mịch, Nghị Hách nổi máu dâm, hỏi mua rạ để sửa xe ô tô. Y đòi Thị Mịch đem rạ đến bên xe, dụ Thị Mịch lên xe, hiếp dâm Thị Mịch trên xe.

Tôi cho chuyện Nghị Hách hiếp Thị Mịch trên xe ô tô là chuyện không thể xẩy ra, vì:

Một: Nghị Hách có vợ nhưng vợ y ở Hải Phòng, không ở đồn điền với y. Nghị Hách có đến bẩy, tám người phụ nữ chuyện phục vụ tình dục cho y. Người đứng đầu nhóm nữ nô này là Thị Kiểm. Thị Kiểm lo đủ thứ linh tinh cho Nghị Hách. Nghị Hách về Hà Nội năm, bẩy ngày tất có Thị Kiểm về cùng. Ðêm ấy nếu có Thị Kiểm ngồi trên xe, Nghị Hách không thể dụ Thị Mịch lên xe.

Hai: Nhà Văn Vũ Trọng Phụng tả cuộc hiếp dâm với những lời yếu sìu. Thị Mịch chỉ í é vài tiếng rồi nằm chịu trận. Mạnh khoẻ như Thị Mịch, Thị chỉ đạp một đạp vào bụng Nghị Hách là Nghị Hách ngã ngửa, ná thở, có khi hộc máu.

Giông Tố có một đoạn làm tôi cảm động. Ðó là đoạn Bố Con Hải Vân-Tú Anh chia tay nhau ở bờ biển. Ðêm qua, khi viết bài này, tôi đọc lại: đoạn truyện Chia Tay, truyện làm tôi trong tuổi già cảm động hơn lần trước tôi đọc nó năm tôi mười tuổi.

Giông Tố. Trích:

Qua tỉnh lỵ Quảng Yên chừng 20 cây số, xe bắt đầu chạy chậm, và cứ thẳng tiến trên con đường thuộc địa đi Tiên Yên. Những luồng gió mạnh mẽ nặng nề và những hạt mưa to ào ào hắt vào bốn bề cửa kính. Lắm lúc qua một chặng đường úng thủy bánh xe lại làm tung lên những cây nước cao ba thước ra hai bên vệ đường. Cơn giông tố phũ phàng bẻ những cành cây mục rồi để rơi dưới mặt đường ngổn ngang. Cả trời đất úng sũng, trắng xóa những nước là nước.

Ngồi bên trong cái xe hơi hòm vun vút nuốt đường, cạnh một ông già kỳ quặc mà mỗi hành vi, ngôn ngữ đều biểu hiện một sự bí mật, lại đã có chứng cớ hiển nhiên là bố mình, Tú Anh thấy mình đương bàng hoàng sống một giấc mộng say sưa.

Chàng đương ngồi ôm đầu trong phòng giấy nghe tiếng mưa gào, gió thét của cảnh trời sầu, đất thảm mà ôn lại tấn kịch ghê gớm dưới Hải Phòng mà tự đặt ra bao nhiêu câu hỏi về người bố đột ngột ấy thì có ba tiếng gõ cửa. Rồi ông già vào với bộ mặt thản nhiên, khó hiểu mà bảo chàng:

“Con ơi, cha đi đây! Con có muốn tiễn biệt cha thì xuống đánh xe đi với cha..”

Ấy thế rồi… cuộc hành trình. Ông già ngồi vào cầm lái xe, và lành nghề như một người đã sống vì nghề lái ô-tô hàng đã vài chục năm rồi vậy. Trong quãng đường dài từ Hà Nội qua Hải Phòng, rồi đi thẳng về mạn Móng Cáy, đà xe chạy cứ thay từ 60 đến 100 cây số một giờ, hai bố con chưa nói được câu nào với nhau. Ðã nhiều lần Tú Anh muốn hỏi, song động cơ nổ ầm ầm, lại thêm mưa gào, gió thét quanh xe, nếu có trò chuyện cũng khó nghe cho hiểu.

Trước mặt có một vệt đen sì… Nhoi lên trên vệt ấy là một cái chòi cao.. Ðồn! Xe dừng chậm ông già thay đèn pha ra đèn cốt để ung dung lẳng lặng qua đồn một cách nghiêm trang, bệ vệ, ý chứng sợ bọn lính gác nghi hoặc gì chăng. Khỏi địa phận của đồn, xe lại phóng nước đại. Ðộ mười phút sau thì trời đất mở ta một vòm bao la, bát ngát, bên trái là đồng ruộng và làng mạc, bên phải là bể, bể với hàng dẫy núi đá và những cồn cát chập chùng. Những cái bóng đen sì có hình thể của những cái roi tiên cắm ngược là những cây phi lao. Dù là giữa đêm khuya, nhờ có ánh sáng của nước mưa, người ta cũng nhìn rõ được những vật ở ngoài cái vòng ánh sáng của đèn xe. Thì ra đã qua khu vực Hạ Long nhiều đường đất lắm.

Tú Anh chưa dám hỏi ông bố định dắt mình đi đến đầu trời, cuối đất nào, thì ông già hãm xe. Cách ba thước trước mặt là một dẫy nhà trong đó có một tòa nhà gạch lối cổ, còn thì là những mái gianh xiêu vẹo. Trông ra xa nữa, một con đường nhỏ dắt đến một dẫy cồn đá, có một cây đa um tùm nhoi lên trên. Dưới cồn đá là bến thuyền có vài chiếc thuyền nhỏ của dân chài lưới. Chung quanh cây đa có vài quán chợ, ý chừng là chợ tôm cá của dân miền duyên hải.

Ông già cho xe quay mũi lại, để lọt hẳn vào vệ đường, rồi bảo Tú Anh bước xuống, đến đấm cửa tòa nhà gạch. Một người đàn ông vặn to đèn lên, ra mở cửa, rồi ba người cùng vào. Ðối với ông già, chủ nhân có vẻ kính cẩn đến nỗi sợ hãi. Tú Anh thấy trên giá áo có bộ quần áo và mũ lính xen-đầm thì cũng hơi ngạc nhiên. Ðã đến lúc chàng phải hỏi:

– Thưa cha, bố con ta biệt nhau ở đây?

Ông già gật đầu:

– Phải. Một giờ đồng hồ nữa thì cha xuống thuyền. Hai giờ đồng hồ nữa thì cha đã lênh đênh giữa mặt biển. Bố con mình chỉ còn có một lúc trò chuyện mà thôi. Mà có lẽ không bao giờ.., không bao giờ cha con ta lại gặp nhau nữa!

Nói đến đây, ông già ngừng lại, nét mặt rầu rĩ, cố giữ hai giọt lệ cho khỏi chẩy xuống đôi má. Lặng lẽ, người chủ nhà lấy ở tủ áo ra, đem lại để trên bàn một bộ quần áo khách, với một gói giấy nhật trình. Gói nhỏ ấy va vào mặt bàn làm một tiếng cạch nặng nề, khiến ông già phải ngửng mặt lên. Ông đứùng dậy, cởi bỏ bộ quần áo vải vàng, lấy bộ quần áo Trung Quốc mặc vào, thì trông đã ra vẻ một ông già Tầu ngay. Ông vừa thay hình, đổi dạng vừa nói:

– Cha đã muốn về ở với con một hôm, song sợ nguy hiểm đành phải để đến phút cuối cùng mới lại tìm con, và mượn xe con đi cho đúng giờ hẹn. Sở dĩ thế là bần cùng. Sáu giờ sáng mai thì cha lên một cù lao nhỏ thuộc Hải Nam. Rồi cha sẽ lên một chiếc tầu nhỏ chở than và đá bọt của khách để đến Hương Cảng. Từ Hương Cảng cha sẽ đường hoàng lên tầu Tây mà về Thượng Hải rồi đi Lữ Thuận thì không còn lo sợ gì nữa. Con là người hay đọc các báo chí, sách vở cực tả, hẳn nghe thế con cũng đủ hiểu cha làm những công việc gì rồi.

Ngoan ngoãn và kính cẩn, sự kiêu căng vì có người bố ấy lộ ra nét mặt, Tú Anh khẽ đáp:

– Vâng.

.. .. ..

Người chủ nhà vội lấy cái áo đi mưa khoác vào rồi đi ngay. Khi gian phòng chỉ còn hai người, Tú Anh khẽ hỏi:

– Người lính xen-đầm này mà lại cũng là..?

Ông già gật đầu và thêm:

– Phải, anh ta chịu trách nhiệm về trình độ tiến hóa của anh em phu mỏ. Từ nay trở đi, cái đảng ấy sẽ kín hơn ngày xưa. Từ nay trở đi sẽ không có những vụ bạo động vô ích.

– Cha về từ bao giờ?

– Ðã hai tháng. Công việc của cha là hòa giải hai đảng, điều đình cho đảng quốc gia hợp nhất với đảng quốc tế mới…, vì phái quốc gia cũ lấy tiền của Ðức với Nhật là hai đế quốc, như vậy thì là sẽ diễn cái trò hề diệt chủng tái nô mà thôi.

Ông già ngừng lại, mở gói giấy nhỏ thì đó là một khẩu súng lục. Ông mở ổ đạn, xem xét máy móc, lại đậy lại, bỏ túi, rồi nói:

– Con có một khối óc không, con có một quả tim không?

Tú Anh đáp:

– Con cũng may mà cũng lại là người biết nghĩ, con cũng có một lý tưởng…

– Quốc gia hay quốc tế?

– Bẩm quốc gia.

Ông bố trừng mắt mắng:

– Ðồ ngu!

Tú Anh cúi đầu chịu qưở, không đáp. Ông bố tiếp:

– Ta không được coi nước Pháp là kẻ thù mà để chịu bàn tay bí mật của phái quân nhân Nhật nó thực hiện cái chương trình Liên Á bằng những khẩu hiệu như “Á Ðông về tay người Á Ðông!” Cái chế độ của nó làm khổ dân ta là chính sách của mấy nhà tư bản vua dầu hỏa, vua mỏ, vua ô tô, vua nhà băng, nhưng đó không phải là toàn thể nước Pháp! Ta có thể hy vọng vào cái nước Pháp bình dân của Rousseau, Danton, Robespierre, Blum, Moutet! Rồi những người ấy sẽ có thế lực làm cho ta đỡ khổ! Mặc dầu bây giờ họ chưa có địa vị gì cả. Ta sẽ không được coi nước Pháp là kẻ thù riêng, trái lại, ta có kẻ thù chung trong bọn đồng chủng của ta, cái phái tọa hưởng kỳ thành vẫn bóc lột cái phái lao động, thí dụ thằng Nghị Hách là một. Nhưng tư tưởng quốc gia của con vừa hẹp hòi, vừa bất đạt. Phân biệt biên thùy với nòi giống là đồ ngu xuẩn, con nên đổi quan niệm đi và nên coi những người Pháp nghèo khổ là bạn thân, và bọn trọc phú A Nam là kẻ tử thù.

……..

Tú Anh ngồi xuống ghế, bưng mặt khóc sì sụt. Người chủ nhà hỏi ông già:

– Bẩm… mọi việc thế là xong cả?

– Xong, việc ta phải quyên tiền cho quỹ đảng cũng xong! Anh có biết bao nhiêu không? Một vạn đồng! Tống tiền như thế mới bõ.

Rồi ông già lôi ở trong áo lót mình ra một đệp giấy bạc một trăm buộc trong dây gai đỏ. Vứt xuống mặt bàn đánh thịch một cái. Tú Anh nhìn lên thì ông già nói:

– Cái giá trị của con đấy! Một vạn đồng đấy con ạ. Cha đã bán con cho lão Nghị rồi. Trong lúc nó còn trù trừ, cha phải dọa nó là nó muốn mất tiền hay thấy con nó bán hết gia tài đã chia cho con nó, rồi đi biệt tăm, biệt tích thì muốn… Thế nó mới chịu nghe theo. Lấy tiền rồi là cha phải ra đi ngay, sợ nó hối hận mà báo Sở Liêm Phóng. Bây giờ thì không còn lo ngại gì nữa rồi. Thế là ta được dịp về thăm cả Tổ quốc, và nhận cả con ta, công tư cùng trọn vẹn.

Người lính trố mắt vì kính phục. Ông già lại cất tiền vào ngực mình. Tú Anh rền rĩ nói:

– Cha ơi… Con muốn đi theo cha lắm. Con không thể sống ở cái đất này nữa. Khi cha làm cho con hiểu cả cái bí mật đời con là khác máu, tanh lòng với lão Nghị, thì con thấy đỡ nhục nhã, nhưng mà… giời ơi, còn mẹ con! Con đau khổ… Không thể..

Tú Anh lại khóc. Ông già nghiêm nghị ưỡn ngực lên, mắng:

– Nam nhi gì mà khóc lóc như đàn bà ấy thế? Phải có can đảm, nên để tâm trí vào lý tưởng của mình thì cái khổ ấy mấy lúc mà quên? Cha đã lấy danh dự mà cam đoan với Nghị Hách rằng con sẽ ăn ở với lão như trước, lẽ nào con lại bán rẻ cái danh dự của cha đi thế! Vả lại xã hội cũng cần có những người như con. Ðã có học thức, nhân phẩm, lại có một lý tưởng mà thờ, con sẽ cố gắng làm những việc hữu ích cho dân chúng trong vòng pháp luật, thì làm gì không trở nên người hữu ích? Con nên quay về sống với xã hội như cũ, coi như trong đời con không có sự gì xẩy ra cả. Như thế là cha bằng lòng lắm rồi. Nếu con cũng như trăm nghìn kẻ khác, có tim, có óc, mà ích kỷ, mà tham sinh, úy tử, mà rồi cứu cánh là một cuộc đời trưởng giả, sống như chó, như lợn, vì kim tiền, vì ái tình, vì vật chất, vì hư danh, thì mới đáng lo cho giống nòi.

– Con xin chôn vào ruột những lời phán bảo của cha.

– Một vài năm nữa, nếu có lệnh cử cha về điều tra nước nhà lần nữa, thì cha sẽ lại đi kiếm con. Mà nếu không thì ắt là một người nào khác. Người ấy sẽ đến tìm con, nói ba câu về cha, thì con sẽ sẵn lòng hy sinh một chút tài sản của Nghị Hách đi, thế là được rồi, thế là cũng theo đuổi cái chí hướng của cha rồi.

– Bao giờ con lại quên được điều ấy.

– Tốt lắm. Cha vất vả lắm, con ạ. Nửa đời người tù tội rồi. Một năm tù ở nước nhà, vì Nghị Hách, ba năm tù ở Phúc Kiến, năm năm tù ở Mãn Châu, chín năm giời trốn tránh, gối đất, nằm sương…

……..

Ngoài đường hình như có tiếng người đi đến. Chủ nhà thổi ngọn đèn tắt phụt, ba người cùng mở cửa nhìn ra. Một chú khách cắm đầu chạy lại. Người chủ nhà reo:

– Thuyền đến đón rồi.

Ông già ra thềm đứng, chú khách trông thấy rõ nhờ một cái chớp nhoáng thì vội dừng lại chào theo kiểu nhà binh. Ông già giới thiệu cho con:

– Anh em đồng chí thuộc chi bộ Phúc Kiến.

Rồi ông đội mũ, khoác cái áo cao-su đen lên vai. Người lính và Tú Anh cũng mặc áo tơi vào, vì giờ xuống thuyền đã đến. Ðoạn ba người theo người khách đi thẳng ra chỗ cồn đá có cây đa.

Một chiếc hải thuyền khổng lồ có hai cánh buồm nâu, bên trên có sáu người khách nữa, đã đỗ ở chỗ có mấy mỏm đá nhỏ. Thấy bọn này, những thủy thủ lẳng lặng chào theo kiểu nhà binh. Ông già dừng chân hỏi lại bằng tiếng Tàu, thì bọn thủy thủ líu lo đáp lại.

Ông già quay lại, dơ tay ra bắt tay con.

Tú Anh quên vũng nước dưới chân, quì xuống hôn hai tay ông bố, gục mặt vào hai bàn tay ông.

Khi thấy bàn tay mình có vài giọt lệ nóng thì Hải Vân kéo Tú Anh đứng lên, hôn hai bên má. Sau cùng, Hải Vân vỗ hai vai con, nói gọn:

– Thôi, ở lại và sống cho can đảm.

Rồi quay đi, nhảy trên những mỏm đá mà xuống chiếc hải thuyền.

Tú Anh đứng ngây ra, mũ cụp xuống mắt, cổ áo tơi che kín cả gáy, có người lính xen-đầm kỳ quái đứng sau lưng trong bộ quần áo thường dân.

Mũi thuyền quay ra khơi. Những làn sóng vỗ vào cồn đá ầm ầm, tiếng vang như núi đổ. Mưa như trút nước. Chiếâc hải thuyền nổi lên, chìm xuống, bập bềnh. Trời và bể trắng xóa như tấm vải trắng mà chiếc thuyền là một chấm đen.

Những luồng điện ngùng ngoằng chốc chốc lại hiện trên vòm trời đánh nhoáng một cái.

Tú Anh vẫn đứng. Nước mưa chui vào cổ chàng, chảy vào lưng chàng. Hai chiếc giày của chàng đã sũng những nước. Nhưng Tú Anh vẫn đứng nhìn.

Ngưng trích Giông Tố.

Tôi mong bạn đọc bài này bạn  là người đã đọc Giông Tố. Nếu bạn chưa đọc Giông Tố, bạn sẽ khó hiểu khi đọc những đoạn truyện Giông Tố trong bài viết này của tôi.

Năm 2012 bọn Bắc Cộng làm Tem Thư Vũ Trọng Phụng. Rất có thể trong những năm tới chúng sẽ làm Tem Thư Phan Khôi.

Cho tới nay – 2012 – Vũ Trọng Phụng là Nhà Văn Việt Nam Thứ Nhất và Duy Nhất có ảnh trên Tem Thư.

Ðọc Giông Tố năm 10 tuổi, lần thứ nhất tôi thấy hai tiếng của bọn Vô Sản: “Ðồng, chí, chi bộ.” Qua những lời ông già Hải Vân nói với Tú Anh về chuyện đảng phái, chính trị, tôi thấy Hải Vân là đảng viên Cộng sản.

NGƯỜI BỊ LÃNG QUÊN

Bà Lê Xuân Mai, bà vợ của Tướng Lê Văn Hưng, 80 tuổi, bị bại liệt. Người ngồi dưới chân bà là cô Lê Ánh Tuyết, 57 tuổi, con gái của bà.

Bà Lê Xuân Mai, bà vợ của Tướng Lê Văn Hưng, 80 tuổi, bị bại liệt. Người ngồi dưới chân bà là cô Lê Ánh Tuyết, 57 tuổi, con gái của bà.

Bà già 80 tuổi, bại liệt, nằm trên ghế bố  là bà vợ goá của Tướng Lê Văn Hưng. Tên bà là Lê Xuân Mai. Người ngồi dưới chân bà là cô LêÁnh Tuyết, cô con gái của ông bà, năm nay 57 tuổi.

Gia đình của một danh tướng mà hàng năm chúng ta trang trọng tưởng niệm, vinh danh nay đang sống khổ cực ở quê nhà Sài Gòn.

Tiệm tạp hoá nghèo của cô Lê Ánh Tuyết  ở Số  7/10 đường 20, phường 6, Quận Gò Vấp, Sài Gòn. Cô Ánh Tuyết có số Cell 0122.2059.262

UK gởi thông tin nầy đến gia đình A20, xin các đại ca giúp UK một tay gởi thông tin nầy đi càng xa, gửi cho càng nhiều người biết càng tốt, để tỏ tình cảm của chúng ta với người cũ,và xoa dịu phần nào những chịu đựng khổ cực của bà vợ và cô con  Tướng Lê Văn Hưng. UK

Bà Lê Xuân Mai và cô con sống nhờ quán tạp hóa nghèo..

Bà Lê Xuân Mai và cô con sống nhờ quán tạp hóa nghèo..

CTHÐ: Tháng 12 ,2012, tôi gặp Lời Nhắn của bạn UK trên Internet. Tôi gửi Lời Nhắn ấy đến quí vị. Tôi không biết Luật ODP của Mỹ có nhận vợ con của những sĩ quan đã chết trên chiến trường trong những tháng cuối của trận chiến đi sang Mỹ trong Chương Trình HO hay không?  Tôi thấy vợ con những sĩ quan chết trong những Trại Tù Khổ Sai miền Bắc được đi HO sang Mỹ. Tại sao bà vợ và cô con của Tướng Lê Văn Hưng lại không được hưởng đặc quyền tị nạn ấy? Tại vì Tướng Hưng tự sát chăng?

Vị nào biết rõ trường hợp này xin cho biết.

Luật HO có một điều làm nhiều sĩ quan quân đội tôi bị thiệt thòi: sĩ quan bị tù khổ sai 3 năm được đi HO sang Mỹ, được nhận là người tị nạn chính trị, sĩ quan tù chỉ thiếu 1 ngày là đủ 3 năm không được đi.

Những sĩ quan thương tật, què cụt, mù, giải ngũ, không bị Cộng sản bắt đi tù, không được đi HO. Thương binh quân đội bại trận là những người sống cực khổ nhất. Họ là những người bị lãng quên.

NGƯỜI BỊ CƯỚP THƠ

Người tên là Trần Mạnh Hảo, ở Sài Gòn, vừa đưa lên Blog TMH bản tin này:

Chúng tôi (TMH) vừa nhận được email của nhà thơ, nhà văn Lý Thụy Ý nói về bài thơ “Lính mà Em” của bà đã từng in trên báo “Văn Nghệ Tiền Phong” tại Sài Gòn năm 1967, sau đó in trong tập thơ “Khói lửa” của bà năm 1972 tại Sài Gòn. Bài thơ này có trong tuyển tập: “Thơ Tình Năm 1975” của miền Nam.

Nhưng, lạ lùng thay, bài thơ “Lính mà Em” của Nhà thơ Lý Thụy Ý lại thấy nằm trong tuyển tập thơ Phạm Tiến Duật do nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam xuất bản năm 2007, tất nhiên là bài thơ mang tên tác giả Phạm Tiến Duật .

Ðây là thư điện tử của Nhà thơ Lý Thụy Ý gửi chúng tôi (TMH):

Kính gởi Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

Tôi tình cờ đọc được trên trang mạng của Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Khắc Phục những luồng ý kiến về bài thơ “LÍNH MÀ EM” mà tôi là tác giả. Tôi, Lý Thụy ý, viết báo và làm thơ tại Sài Gòn trước 1975, đã viết “Lính mà Em” khoảng năm 1967-1968. Bài thơ  đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của Sài Gòn, tạo được tiếng vang cho tên tuổi Lý Thụy Ý, và được đưa vào thi phẩm “Khói lửa 20

Ðó là tâm tư của một người con gái thời chiến yêu lính, “đặc sệt” chất “Em gái hậu phương”, nói với người tình lính chiến hay dùng “Lính mà em” để biện hộ cho những lần thất hứa…. Tôi tin rằng nhiều người Sài Gòn vẫn còn nhớ “Lính mà Em” của Lý Thụy Ý, vì bài thơ được hai nhạc sĩ Y Vân và Anh Thy phổ nhạc, Hùng Cường hát và phát đi phát lại trên đài phát thanh nhiều lần…

Tôi gởi ông 2 bài thơ, 1 bài được cho là của Nhà thơ Phạm Tiến Duật. Bài thơ có lẽ được chép qua những người không “thuộc” cho lắm nên lôm côm và mất ý, tôi tin nếu Phạm Tiến Duật làm, chắc chắn sẽ hay hơn nhiều! Và một bài “Lính mà Em” của chính tác giả, Lý Thụy Ý, để ông thấy rõ sự khác biệt giữa “thật” và “tam sao thất bổn.”

(.. .. .. )

Hy vọng với sự khách quan, ông cho vài ý kiến, và tôi cũng chỉ biết ngậm ngùi khi mà bài thơ nầy giờ đây cũng đã nằm chễm chệ trong tập thơ cuối cùng của Nhà thơ Phạm Tiến Duật với những câu cu ù… đáng buồn!

Hy vọng không làm phiền ông.

Chân thành cám ơn.

Lý Thụy Ý

Sài Gòn 22- 12- 2012

Thơ Lý Thụy Ý

Lính Mà Em

Mình trách anh hay hồi âm thư trễ
- Em đợi hoài! Em sẽ giận cho xem
Thư anh viết: – Bao giờ anh muốn thế
Hành quân hoài đấy chứ- Lính mà Em!

Anh gởi về em mấy cành hoa dại:
- Ðể làm quà không về được Noel
Không đi lễ nửa đêm cùng em gái
Thôi đừng buồn anh nhé- Lính mà em!

 Anh kể chuyện hành quân nằm sương gối súng
Trăng tiền đồn không đủ viết thư đêm
Nên thư cho em nét mờ, chữ vụng
- Hãy hiểu dùm anh nhé – Lính mà Em!

Qua hành lang Eden ghi kỷ niệm
Buổi chiều mưa hai đứa đứng bên thềm
Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím
- Anh quen rồi, không lạnh- Lính mà em

Ngày về phép anh hẹn mình dạo phố
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Mình xót xa đời anh nhiều gian khổ
Anh cười buồn khẽ nói: – Lính mà em!

Ghét anh ghê! Chỉ được tài biện hộ
Làm “người ta” càng thương mến nhiều thêm
Nên xa lánh những cuộc vui thành phố
Ðể nhớ một người hay nói LÍNH MÀ EM !

(Khói Lửa 20-1967)

Lính Mà Em, Thơ Lý Thụy Ý, trong tập THƠ TÌNH NĂM 1975 do gio-o.com tuyển chọn và giới thiệu.

Tiểu sử Lý Thụy Ý

- Tên thật Nguyễn Thị Phước Lý, Sinh ngày 02-04-1947

- Quê nội: Quảng Nam – Quê ngoại: Thừa Thiên – Huế

Lý Thụy Ý, nữ văn, thi sĩ nổi danh từ trước 1975 , khởi sự viết cho tuần báo ‘ Văn Nghệ Tiền Phong’, thư ký tòa soạn tờ báo này trông coi mục Văn Nghệ Kaki.

Sau 1975, Lý Thụy Ý, bạn cải tạo của các nhà văn, báo Thanh Thương Lý Ðại Nguyenâ, văn sĩ Doãn Quốc Sỹ vv.. ở trại tập trung nào đó trên Cao nguyên (tôi không nhớ rõ niên hạn năm cải tạo), sau về Tp. HCM lấy chồng , viết văn , sáng tác.

Ngưng bản tin Trần Mạnh Hảo.

CTHÐ: Cô Lý Thụy Ý là tác giả bài Thơ trong có hai câu:

Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?
Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.

Vì bài Thơ có hai câu trên Lý Thụy Ý bị Công An VC bắt giam năm 1984. Nữ this sĩ bị ghép vào cùng nhóm với các văn nghệ sĩ Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Duy Trác. Nhóm này viết và gửi bài viết ra nước ngoài, nhóm bị bọn Công an Thành Hồ gọi là “Bọn Biệt Kích Cầm Bút” và bị  đưa ra xử ở Toà Án Sài Gòn năm 1988, cô Lý Thụy Ý bị án tù 5 năm.

Người bị Giam Tù

Hội Ân Xá Quốc Tế thông cáo: Ngày 21 tháng 12, 2012.

Việt Nam: Hãy thả blogger, hãy ngưng bóp nghẹt tiếng nói đối kháng

Ba blogger Việt Nam lãnh án tù nặng vì bị buộc tội tuyên truyền chống phá Nhà nước phải được thả ngay lập tức, Ân Xá Quốc Tế lên tiếng trước phiên tòa phúc thẩm xử 3 blogger vào ngày 28 tháng 12, 2012.

Các vị blogger này bị kết án tù vào ngày 24 tháng 9, 2012 sau một phiên xử vỏn vẹn có vài tiếng đồng hồ.

Nguyễn Văn Hải, còn có bút danh Ðiếu Cày, bị kết án 12 năm tù giam; Tạ Phong Tần, cựu sĩ quan công an, bị án tù 10 năm; và Phan Thanh Hải, bút danh Anh Ba Sài Gòn bị 4 năm tù.

Phiên tòa phúc thẩm sẽ diễn ra tại Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, Tp.HCM.

Ông Rupert Abbott, chuyên viên nghiên cứu về Việt Nam của Ân Xá Quốc Tế nói:

 “Bản án cho các blogger này là một mưu tính trắng trợn của nhà chức trách Việt Namđể bóp nghẹt tiếng nói đối kháng”.

“Chúng tôi xem các blogger này là tù nhân lương tâm, bị giam giữ chỉ vì thực thi ôn hòa quyền tự do ngôn luận của họ qua các bài viết trên mạng. Họ phải được thả ngay lập tức và vô điều kiện.”

“Trong năm nay nhà chức trách Việt Nam đã gia tăng việc đàn áp các tiếng nói chỉ trích chính quyền, với các blogger, nhạc sĩ, luật sư, nhà hoạt động công đoàn, thành viên tổ chức tôn giáo, nhà đấu tranh dân chủ và những người khác bị bỏ tù.”

“Ðây là một chiều hướng đáng quan ngại cần phải chấm dứt – các nhà bảo vệ nhân quyền phải được phép đóng góp vào việc phát triển đất nước của họ, mà không phải lo sợ tù tội vì những hoạt động ôn hòa của họ.”

o O o

CTHÐ: Tôi mang ơn Hội Ân Xá Quốc Tế – The Amnesty Intern – Trụ sở ở London, đã giao trách nhiệm cho Chi Hội Amnesty Intern ở Melbourn, Úc Ðại Lợi, can thiệp, xin ân xá cho tôi và giúp đỡ vợ con tôi trong 3 năm 1988, 1989, 1990, xong tôi không thể không viết: Trước đây Hội AXQT đã lên tiếng kêu gọi bọn Bắc Cộng trả tư do cho nhạc sĩ Việt Khang, Lời kêu gọi đó y hệt lời Hội kêu gọi trả tự do cho các blogger Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn:

Trả tự do ngay và thả vô điều kiện..”

Những người tù Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Việt Khang, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn cứ nằm miết trong tù.

o O o

LUẬT HO

January 1, 2013.

Tôi  — CTHÐ — hỏi Bà Khúc Minh Thơ và được Bà cho biết:

Luật HO có những điều:

  • Sĩ quan VNCH chết trong trại cải tạo, vợ con được đi HO sang Hoa Kỳ.
  • Sĩ quan tự sát, vợ con không được đi HO sang Hoa Kỳ.
  • Sĩ quan ra khỏi trại cải tạo mà chết trong thời gian 12 tháng vợ con được đi HO sang Hoa Kỳ.
  • Sĩ quan bị tù trên 3 năm nhưng có thân nhân ở Hoa Kỳ làm hồ sơ bảo lãnh không được xét đi HO.

TÌM BẠN VIỆT NAM

Trung Úy Ngoi

Trung Úy Ngoi

Xin vui lòng giúp một Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ Tìm Hai Chiến Hữu Quân Lực VNCH…

Ông Bill Laurie, một cựu Sĩ Quan Quân Lực Hoa Kỳ, đã phục vụ ba lần tại Viêt Nam, cho đến cuối tháng 4/1975. Hiện nay Ông là một Sử gia, viết sách về chiến tranh Việt Nam. Ðặc biệt Ông rất quý mến và có cảm tình với QLVNCH. Ông nhờ chuyển tin đến Quý Vị ..và hy vọng Quý vị sẽ giúp Ông ta một việc…

Ông Bill Laurie có một người bạn là Ông Henry Darrell Goss đã phục vụ tại quận Cần Ðước, tỉnh Long An từ tháng 4 /1970 cho đến 4/1971. Ông Henry Darrell Goss lúc bấy giờ là Trung Úy thuộc Mobile Advisory Team, MAT III # 26. Trong thời gian này Ông có hai người bạn Việt Nam  là:

Trung sĩ Nguyễn Ngọc Thạch

Trung sĩ Nguyễn Ngọc Thạch

Trung Úy NGOI (?) và Trung Sĩ NGUYỄN NGỌC THẠCH.

Vào tháng 12/1970 ông có dự đám cưới của Trung Sĩ Nguyễn Ngọc Thạch ở Mỹ Tho.

Ông hy vọng hai người bạn Việt Nam của ông nay vẫn còn sống, ông  đã cố gắng tìm kiếm hai người Bạn này trong hơn 40 năm qua, ông mong Quý Vị nào đã từng cư ngụ hay phục vụ tại quận Cần Ðước, tỉnh Long An, nếu biết tin tức gì về hai người Bạn này của Ông, xin vui lòng cho ông biết . Một người Bạn của Ông Goss là Sỹ Quan Trung Ðội Trưởng của PF # 132 cũng muốn biết tin tức của hai người Bạn Việt Nam này.

Nếu có tin  xin Quý Vị vui lòng liên lạc cho Ông Henry Darrell Goss: dg1333@yahoo.com

Xin vui lòng giúp đỡ và tiếp tay phổ biến rộng rãi bản tin Tìm Bạn  này . Chân thành cám ơn .

KÝ GIẢ SÀI GÒN

banbao

Tháng 12, 2012, một chiều — như mọi chiều — mầy mò trên Internet, tôi gặp bài viết của ông Cao Thế Dung. Tiến sĩ  CT Dung viết bài này năm 1991. Trong bài có đoạn tác giả viết đến chuyện một số “Ký giả Sài Gòn là Việt Cộng.” Bài này có nhắc đến Ký Giả Phan Nghị, tôi được quen biết Ký Giả Phan Nghị nên hôm nay tôi viết bài này.

Trích “Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa.” Tác giả Cao Thế Dung, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1991.

Ðiển hình như nhóm Ðông Nam Á Vụ của Cộng sản về đầu thú Pháp ở Hà Nội năm 1952. Pháp dùng làm gián điệp đôi; năm 1955 nhóm này đã len lỏi vào nhiều lãnh vực hoạt động ở Miền Nam, vào cả ngành an ninh tình báo của chính phủ Ngô Ðình Diệm. Ðiển hình như nhóm Ca Dao, nhóm Phan Nghị ( Ký giả ) và nhiều nhóm khác trong đó có Phạm Xuân Ẩn- lúc ấy còn là một cán bộ cấp thấp nhưng đã là nhân viên tình báo 2 mang làm cho Phòng Nhì Pháp từ năm 1950.

Hàng trăm điệp viên hữu hạng của Cộng sản từ Bắc được gửi vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève. Số điệp viên này thuộc Phòng Ðông Nam Á Vụ và Phản Gián, hầu hết đã có kinh nghiệm hoạt động nội thành, chia nhau xâm nhập qua nhiều đường giây thuộc nhiều lãnh vực. Phan Nghị thì hành nghề ký giả sau len lỏi vào làm cho tờ Ngôn Luận và Chính Luận ( sau 1963 ); Vũ Ngọc Nhạ len lỏi vào Công Giáo phía Linh Mục Hoàng Quỳnh; Nguyễn văn Lương, giáo viên tư thục ở Nam Ðịnh là kẻ đã móc nối Vũ Hạnh ( 1964 ) cùng Vũ Hạnh xuất bản tạp chí Tin Văn và sau bí mật cộng tác với Thế Nguyên, tạp chí Trình Bày. Cao Dao nối kết với Phạm Xuân Ẩn …

Ngưng trích.

CTHÐ: Tác giả Cao Thế Dung viết:

Ðiển hình như nhóm Ca Dao, nhóm Phan Nghị (Ký giả) và nhiều nhóm khác trong đó có Phạm Xuân Ẩn.. ..

Phan Nghị thì hành nghề ký giả sau len lỏi vào làm cho tờ Ngôn Luận và Chính Luận ( sau 1963.)

Thi sĩ Hoàng Song Liêm từ Mỹ về thăm Sài Gòn năm 2000. Ảnh Thi sĩ ngồi với Nhà Văn Văn Quang và Ký giả Phan Nghị. Ảnh HSL.

Thi sĩ Hoàng Song Liêm từ Mỹ về thăm Sài Gòn năm 2000. Ảnh Thi sĩ ngồi với Nhà Văn Văn Quang và Ký giả Phan Nghị. Ảnh HSL.

Ba tiếng “Nhóm Phan Nghị” làm người đọc có thể nghĩ có nhiều ký giả Sài Gòn là Việt Cộng cùng với ký giả Phan Nghị. Bọn ký giả này họp thành “Nhóm” do Phan Nghị cầm đầu. Xin thưa – theo như tôi biết – Ký giả Phan Nghị không phải là Việt Cộng, lại  càng không có cái gọi là “Nhóm Phan Nghị. Ký Giả.” Vì “Nhóm” là  phải có nhiều người. Trong bài, Tiến sĩ Cao Thế Dung dùng nhiều tiếng “nhóm”, như “nhóm Ca Dao,” tôi đăng ở đây nguyên văn bản viết của ông Tiến sĩ trên Internet, tôi théc méc “nhóm Ca Dao” là nhóm gì, hay đó là “nhóm Cao Dao?”

Năm 1972 Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ làm Trưởng Phái Ðoàn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa sang Paris dự cuộc đàm phán về chiến tranh VN với Mỹ và Bắc Cộng. Ký giả Phan Nghị, tôi không nhớ năm ấy Phan Nghị là ký giả nhật báo nào, được chính phủ VNCH cho sang Paris theo dõi cuộc hòa đàm. Tôi không nhớ năm ấy có những ký giả Sài Gòn nào được chính phủ cho sang Paris theo dõi hòa đàm. Ký giả Phan Nghị được sang Paris – tiền chính phủ đài thọ — là nhờ Trung Tá Vũ Ðức Vinh. Kể ra trong giới ký giả Sài Gòn Xưa, Ký giả Phan Nghị có nhiều may mắn hơn anh em, ông là ký giả duy nhất của nhật báo Ngôn Luận được chính phủ cho sang Paris ăn chơi bằng tiền Nhà Nước.

Trung Tá Vũ Ðức Vinh, Không Quân, bút hiệu Huy Quang, nguyên là bạn với các ông Phan Nghị, Thanh Nam từ những năm 1950 ở Hà Nội, những năm các ông mới bắt đầu viết tiểu thuyết, làm thơ. Năm đầu di cư vào Sài Gòn, tôi nghe ông Thanh Nam kể ông Vũ Ðức Vinh và ông Phan Nghị mướn một nhà hai gia đình ở chung.

Khi Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ là Thủ Tướng – Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương — Trung Tá Vũ Ðức Vinh làm Giám Ðốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh Quốc Gia. Trung Tá thân và được Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ tin cậy. Ký giả Phan Nghị được chính phủ cho sang Paris theo dõi hòa đàm là do Trung Tá Vũ Ðức Vinh.

Khi Phan Nghị từ Paris về Sài Gòn, anh viết phóng sự “Mít đi Tây,” tôi  không nhớ phóng sự “Mít đi Tây” được đăng trên báo nào. Thời gian qua đã năm, sáu chục mùa lá rụng: 1965-2012, tôi nhớ không đúng lắm về năm tháng – Than ôi, tôi già rồi, trí nhớ của tôi rỉ, mòn, cùn, sứt mẻ, rệu rã — , nhưng những sự kiện xẩy ra tôi kể trong bài này thì tôi nhớ đúng, có thật. Tôi nghe nói Phan Nghị bị bắt, tội liên lac với Việt Cộng ở Pháp – cũng không nhớ cơ quan nào bắt Phan Nghị: Tình Báo-Phản Gián hay  Công An Cảnh Sát – Phan Nghị chỉ bị giữ chừng 10 ngày. Sau đó khi gặp Phan Nghị, tôi hỏi:

“Mày làm gì để bị bắt?”

Phan Nghị cười hì hì:

“Ở Paris có mấy thằng  mời tao đi ăn, đi chơi. Tao đi với chúng nó. Tao đâu có biết trong chúng nó có thằng là Việt Cộng. Thằng này nó ghi  tên tao với một bí số trong sổ tay của nó. Coi như tao là người nó móc nối được. Bọn Tình Báo bắt được  cái sổ này, điều tra tao. Tao mà Việt Cộng cái gì.”

“Mày có bị đòn không?”

“Không. Tao khai hết. Tao khai nhanh lắm. Có cái chó gì đâu mà phải đánh cho tao khai.”

Phan Nghị làm ký giả nhà báo ở Hà Nội từ trước năm 1954. Khoảng năm 1957 anh vào làm phóng viên tòa soạn nhật báo Ngôn Luận.Năm 1965 khi TT Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ Tướng, cũng do Trung Tá Vũ Ðức Vinh lo cho, Phan Nghị được trao cho việc làm chủ nhiệm một nhật báo. Nhật báo của Ký Giả Phan Nghị lấy tên là Nhật Báo Quân Dân, tòa soạn đường Phạm Ngũ Lão. Nhật báo có cái tên đao to, búa lớn là Quân Dân sống được chứng sáu, bẩy tháng. Ðây là thời kỳ Ký Giả Phan Nghị lên đến đỉnh cao nhất trong đời ký giả của anh. Ðây cũng  là thời gian náo động bất ổn nhất của chính quyền Quốc Gia sau khi Tổng  Thống Ngô Ðình Diệm bị giết: những chính phủ được dựng lên, bị chống phá, bị lật đổ. Những cuộc xuống đường biểu tình diễn ra liên miên.  Các Tướng dùng quân đội tranh quyền cai trị đất nước, lãnh tụ những đảng phái đố kỵ nhau, Phật tử xung đột với Ky-tô hữu, Quốc Trưởng và Thủ Tướng không ưa nhau..vv..vv..

Trong cảnh hỗn loạn ấy Nhật báo Quân Dân của Chủ nhiệm Phan Nghị đăng nơi trang tư một bản Nhắn Tin:

Nhắn tin: “Từ con. Tôi là Phan Khắc Ngưu có thằng con nuôi là Trần Văn Nhang. Nó phạm  nhiều việc sằng bậy làm buồn lòng họ hàng  nên tôi từ nó. Kể từ nay bà con đừng coi nó là con nuôi tôi nữa. Nay báo tin. Phan Khắc Ngưu.”

Năm xưa ấy tôi có đọc bản Nhắn Tin trên đây. Tôi không nhớ nguyên văn nhưng mấy lời Nhắn Tin là như vậy. Bản Nhắn Tin này bị coi là quá hỗn xược, đăc biệt “xỏ lá Bắc Kỳ lưu manh.” Nhắn Tin không những bị văn phòng Thủ Tướng lên án xúc phạm mà văn phòng Quốc Trưởng cũng kết tội vô lễ. Nhắn Tin do chính ông Chủ báo Quân Dân sáng tác. Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, chắc bị trách móc, rầy rà nên khó chịu,  ông thấy nhật báo Quân Dân chỉ gây bất lợi cho ông nên ông cúp tiền nuôi báo, Nhật báo Quân Dân  Phan Nghị chết không kèn, không trống.

Khi Nhật báo Chính Luận ra đời, thay Nhật báo Ngôn Luận, 98/100 nhân viên toà soạn, ty trị sự  Ngôn Luận theo Thư Ký Toà Soan Từ Chung sang làm Nhật báo Chính Luận. Chỉ có mấy người không sang. Ðó là các ông Chủ nhiệm Ngôn Luận Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, ông Quản Lý Nguyễn Văn Cương, thường được gọi là ông Quản Cương,  là ông anh rể của ông Hồ Anh, Hoạ sĩ Ðào Ðức Khánh, bạn thân của ông Hồ Anh, chú Nguyễn Văn Châu, tay hòm chìa khoá của ông Hồ Anh, hoạ sĩ Văn Hiếu, họa sĩ Huy Tường và ký giả Phan Nghị. Như trên đã viết: lúc ấy đời Ký giả Phan Nghị đang lên phơi phới, ông làm chủ tờ nhật báo của ông; làm chủ báo là giấc mơ đẹp nhất của nhiều ký giả.

Phan Nghị viết phóng sự “Bờ Lờ” – Buôn Lậu – đăng trên Nhật báo Ngôn Luận khoảng những năm 1957, 1958. Phóng sự “Bờ Lờ” tả chuyện nhân dân đi buôn lậu ở miền Bắc trong thời chiến tranh Việt Pháp. Khi chiến tranh lan rộng, có thời Phan Nghị làm phóng viên chiến trường, đi mặt trận này, theo chiến dịch nọ. Mấy ông ký giả kể chuyện có lần phóng viên chiến trường Phan Nghị được Trung Tá Không Quân Lưu Kim Cương cho lên ngồi trên một phi cơ Skyraider,  hay phi cơ oanh tạc nào đó, bay ra mặt trận, để viết phóng sự sống kiểu mắt thấy, tai nghe. Trên phi cơ chỉ có phi công và phóng viên chiến trường Phan Nghị. Phi cơ bay đi bắn phá một hồi khi trở về đáp xuống phi trường, ông phi công thấy ông phóng viên chiến trường nằm chết ngất trên ghế. Ông phóng viên chiến trường Phan Nghị ngất đi từ lúc phi cơ bay lên, ông vẫn ngất khi phi cơ đáp xuống.

Như thị ngã văn. Tôi nghe chuyện như thế, tôi kể lại như thế. Người kể chuyện là các ông ký giả Sài Gòn đồng nghiệp, đồng thời với ông Ký Giả Phan Nghị.

Sau năm 1990, Phan Nghị sống lai rai bằng việc dịch những bài báo tiếng Pháp bán cho Nguyệt San Kiến Thức và vài tờ báo địa phương khác.

Ký giả Phan Nghị qua đời vì tuổi già – trên 80 — ở căn nhà của ông đường Bàn Cờ khoảng năm 2005. Trung Tá Huy Quang Vũ Ðức Vinh đi khỏi nước trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, qua đời ở bang Washington, hay bang Oregon, Hoa Kỳ.

Những ngày như lá, tháng như mây…. Nhiều vị có tên trên đây nay không còn nữa ở cõi đời này.

Tôi không coi Vũ Hạnh là ký giả nên trong bài này tôi không viết về anh. Tôi không viết về anh Nguyễn Ngọc Lương – các ông ký giả Sài Gòn gọi anh này là Lương Thịt Chó – vì anh quá tầm thường, quá bết. Tôi thấy bọn Bắc  Cộng không dùng anh, anh đói dzài, đói dzẹt như bất cứ người dân Sài Gòn nào sau khi bọn Bắc Cộng đưa ảnh Già Hồ và khoai lang vào đường Tự Do, Sài Gòn. Sau 1975 Lương Thịt Chó đi đâu cùng xách kè kè cái cặp trong đựng đầy ních  những bài viết của các ông bà ký giả, nhà văn Sài Gòn. Những ông bà này tưởng anh VC  Lương Thịt Chó có thể đăng những bài đó trên báo nọ, báo kia của bọn Bắc Cộng.

Ghi thêm: giới ký giả Sài Gòn trước 1975 có hai Nguyễn Ngọc Lương – Nguyễn Ngọc Lương Thịt Chó và Nguyễn Ngọc Lương nhiếp ảnh viên. NN Lương Thịt Chó đã chết.  NN Lương nhiếp ảnh còn sống ở Sài Gòn; trước 1975 anh có nhiều ảnh thời sự bán cho báo Mỹ NewYork Times, anh hay tới toà soạn Nhật báo Sóng Thần.

Tôi không viết về Phạm Xuân Ẩn vì tôi coi anh này không phải là ký giả Sài Gòn, tôi không viết về Hoàng Trọng Miên vì tôi coi anh này không phải là ký giả, vì anh là tên ăn cắp nguyên một quyển khảo luận văn học của một người viết ở Hà Nội.

Khoảng năm 1960 – tôi viết “khoảng năm” vì tôi không nhớ đúng năm, tôi  viết “khoảng năm” để bạn đọc không chê tôi viết sai năm tháng — ông Nguyễn Trân, Tỉnh Trưởng Ðịnh Tường, bắt được một tổ Việt Cộng do tên Trần Bạch Ðằng cầm đầu. Tổ VC này tới 15, 16 người, trong số có hai người trong làng báo Sàu Gòn là Trần Chi Lăng và Văn Mạnh. Ðúng ra chỉ có Trần Chi Lăng là ký giả, Văn Mạnh là nhân viên trị sự toà báo Sàigonmới. Văn Mạnh là anh cháu họ của bà Bút Trà.

Thay vì bắt được Việt Cộng, Công An Ðịnh Tường điều tra xong giải cả bọn lên Tổng Nha Cảnh Sát Công An Quốc Gia, ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Lương lại mở một cuộc gọi là “đấu lý ” với bọn Trần Bạch Ðằng. Cuộc “đấu lý” được tổ chức vào một sáng chủ nhật ở Rạp Hát trong thị xã Mỹ Tho. Vì anh cháu Văn Mạnh, bà Bút Trà xuống thị xã  Mỹ Tho “xem” cuộc “đấu lý.” Bà đi xe hơi nhà báo với cô Kim Châu, con gái bà. Tôi – H2T — với tư cách phóng viên Nhật báo Sàigonmới – com-lê ca-vát – đi theo.

Trên sân khấu rạp hát, một bên là cái bàn dài cho khoảng 12 Việt Cộng ngồi, trong số có anh Trần Chi Lăng và anh Văn Mạnh. VC Trần Bạch Ð8àng ngồi giữa bàn. Tất cả đền bận quần áo xi-vin, tức sơ-mi, quần Tây, Bên kia sân khấu là cái bàn nhỏ một mình ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân ngồi. Gọi là “đấu lý” nhưng tôi thấy chẳng có cái gì gọi là đấu, là lý. Ông Tỉnh nói thao thao bất tuyệt. Ông nói giọng người miền Trung, tôi nghe mà nhiều câu tôi chẳng hiểu ông nói gì. Ông nói cả giờ. Ông nói xong, Trần Bạch Ðằng nói vài câu. Tôi chẳng nhớ TB Ðằng nói cái gì vì một lẽ dễ hiểu là  y nói vớ vẩn, nói cho có nói, y nói vì y không thể không nói.

Việc ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đưa bọn VC Trầân Bạch Ðằng ra “đấu lý” trước công chúng, theo tôi, là việc làm ngớ ngẩn. Không có chuyện người tù đấu lý với người giam giữ mình và có quyền thả mình. Em nhỏ lên ba cũng biết bọn Trần Bạch Ðằng sẽ không cãi lý với ông Tỉnh, bọn chúng biết xong cuộc  “đấu lý” chúng sẽ được thả. Chúng không ngu gì mà cãi lý với ông Tỉnh. Việc chúng muốn là được ra khỏi tù.

Hôm nay, 50 năm sau buổi sáng tôi xem cuộc ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đưa bọn VC Trần Bạch Ðằng ra đấu lý trước công chúng, tôi ghi nhận:

Trần Bạch Ðằng không nói lời nhận tội, không xin khoan hồng.

Trần Bạch Ðằng không hứa nếu được thả bọn y sẽ không theo Việt Cộng nữa.

Ðược thả, Trần Bạch Ðằng đi ngay ra khu Việt Cộng, ký giả Trần Chi Lăng trở về Sài Gòn, chị vợ trẻ của anh – chị này cũng là phóng viên tờ nhật báo nào tôi quên tên – có anh chồng mới, anh chồng mới của chị cũng là ký giả, anh ký giả này trẻ tuổi, chưa vợ con;  anh Trần Chi Lăng sống yên phận và yên lặng ở Sài Gòn. Sau Tháng Tư 1975 tôi nghe nói anh được cho làm chủ một cái gọi là Cưả Hàng Ăn Uống ở Sài Gòn. Tôi không có dịp nào đến Cửa Hàng Ăn Uống có anh làm “chủ nhiệm.”

Chuyện cuối cùng tôi được anh em kể về Trần Chi Lăng là anh về ở nhờ nhà một ký gả bạn anh, anh làm cô con chủ nhà có bầu. Cô này bằng tuổi con gái anh, anh bằng tuổi ông bạn ký giả chủ nhà.

Văn Mạnh trở về làm trong tòa báo Sàigònmới. Nhân viên toà báo chẳng ai théc méc về chuyện anh theo bọn VC. Sau khi báo Sàigònmới bị Nguyễn Khánh đóng cửa, tôi và Văn Mạnh không lần nào gặp lại nhau.

Sau cuộc “đấu lý” ít lâu ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân không còn là Tỉnh Trưởng nữa. Tôi không biết ông từ chức hay ông bị cất chức. Tôâi nghe nói ông trở thành nhân vật đối lập với chính quyền, ông sang Hoa Kỳ trước Ngày 30 Tháng Tư 1975; ở Hoa Kỳ ông viết quyển hồi ký trong đó ông phê phán công và tội của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

Khoảng năm 1960 một người không phải là ký giả Sài Gòn mà được coi là ký giả, bị bắt. Anh này là Văn Quang – trùng tên với ông Nhà Văn Văn Quang – khi bị bắt anh Văn Quang VC là nhân viên USIS – Sở Thông Tin Hoa Kỳ – hay anh là nhân viên Việt Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Có thể thời đó anh Văn Quang VC này có viết vài tin, vài bài cho các báo Việt. Trước khi anh bị bắt tôi có gặp anh vài lần.

Năm tháng qua…, cuối năm 1975 tôi có dịp gặp lại anh Văn Quang VC  một lần. Anh không nhớ tôi. Rồi anh mất tích. Không bao giờ tôi nghe ai nói đến anh Văn Quang VC nữa. Mới đây, ở Mỹ, cũng trong lúc mầy mò như thường ngày trên Internet, tôi thấy một bài viết về Văn Quang VC. Bài do một người ở Hà Nội viết. Trong bài có đoạn kể ông Ðại Sứ Hoa Kỳ đến gặp ông Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, hỏi:

“Tại sao Công An Việt Nam bắt nhân viên Toà Ðại Sứ của tôi?”

Nhiều lần tôi thấy nhiều chuyện, nhiều tin do bọn VC viết ngu thật là ngu; như chuyện VC tả chị Võ Thị Sáu bị dẫn đi chịu án tử hình ở Côn Ðảo. Trên đường đi ra bãi bắn, chị  Võ Thị Sáu hái bông hoa hồng dại bên đường, đưa tặng người lính Bắc Phi sắp bắn chị. Người viết chuyện ngu mà cả bọn toà soạn tờ báo đăng chuyện ngu ấy cũng ngu không kém. Như chuyện đăng trên tuần báo Công An VC viết về một vụ tù vượt ngục ở Nhà Tù Chí Hoà. Truyện kể anh tù vượt ngục dùng cái muỗng nhôm đục tường sà-lim, bao nhiêu vôi, gach, sỏi đục ra anh cho xuống hố cầu tiêu, dội nước cho trôi đi, đục tường nhà tù xong anh chui ra, leo lên mái nhà tù, rồi từ mái nhà tù tụt xuống, phây phây đi vào khu nhà ở của bọn Cai Tù, anh lấy bộ quần áo công an phơi trên dây, mặc vào, đàng hoàng đi ra cỏng chính.

Hai người viết hai chuyện trên đây ngu mà cả bọn toà soạn hai tờ báo đăng hai chuyện ngu ấy cũng ngu không kém.

Người Việt làm nhân viên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, và những cơ sở phụ thuộc: USIS, USAID, không được người Mỹ coi ra cái thống chế gì cả. Khi một nhân viêân Việt bị Công An Việt bắt, cùng lắm là viên sĩ quan an ninh Mỹ – Security Officer – hỏi Công An Việt về lý do bắt người. Chuyện hỏi tin này ít khi xẩy ra. Viết ông Ðại Sứ Mỹ đến hỏi ông Tổng Thống Việt:

“Tại sao Công An của ông bắt nhân viên của tôi..?”

Ngu hết nước nói. Ngu phi-ní lô đia.

o O o

Ông Cao Thế Dung viết về việc phát hành sách báo:

Trích: Hệ thống phát hành sách báo trước Genève 54, Phòng Nhì Pháp kiểm soát khá chặt chẽ nhờ “nghệ thuật” phóng tài hóa thu nhân tâm nhưng đầu năm 1955, những tay Cộng sản làm “chỉ điểm 2 mang” cho Pháp, được rảnh tay và họ thực sự nắm ngành phát hành cũng như ngành cải lương, từ soạn giả đến anh kéo màn sân khấu.

Ngưng trích.

CTHÐ: Tuy gần như mù tịt về việc phát hành sách báo ở Sài Gòn nhưng vì chỉ gần mù tịt thôi nên tôi có thể viết:

Không có thời nào Phòng Nhì Pháp kiểm xoát việc phát hành sách bào ở Sài Gòn. Năm 1952 tôi làm nhân viên Nhật báo Ánh Sáng, tòa soạn, nhà in ở gần Restaurant Kim Hoa, đường Bonard, sau năm 1976 là đường Lê Lợi. Nhà in của người Pháp. Sau năm 1956 chủ nhân Pháp dẹp nhà in này, Tiệm Kem Kim Ðiệp vào nhà này. Những năm ấy các báo tự phát hành và  tự do phát hành, báo nào cũng có một cặp-rằng – caporal – lo việc phát báo. Sách có nhà phát hành Nam Cường. Phòng Nhì Pháp – Deuxième Bureau – lo về tin tình báo, tin Việt Minh, Dauxième Bureau không ăn nhậu gì đến việc phát hành báo Việt, lại càng không có chuyện Deuxième Bureau “phóng tài hoá thu nhân tâm,” tức việc bỏ tiền ra mua lòng người.

Năm 1956, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thành lập Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoa, chính phủ nắm dộc quyền việc phát hành sách báo. Chính phủ thành lập Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam, giao cho Hội điều hành Nhà Phát Hành Thống Nhất, trụ sở ở đường Trần Hưng Ðạo. Tất cả sách báo khi in ra đều phải đưa đến Nhà Thống Nhất để được phát hành. Có nhiều năm ông  Tchya Ðái Ðức Tuấn, ông nguyên là sĩ quan đồng hoá từ những năm 1950, cấp Ðại Úy, giải ngũ, ông về  làm việc ở Nhà Phát Hành  Thống Nhất.

Sau năm 1963 Nhà Phát Hành Thống Nhất bị dẹp, chính phủ không nắm độc quyền việc phát hành sách báo nữa. Các báo trở lại việc tự phát hành, sách được giao cho Nhà Phát Hành Ðồng Nai, có một nhà phát hành sách tư nhân nữa tôi không nhớ tên.

Không có thời nào chính phủ “nắm được ngành cải lương” vì cái lý do đơn giản là “không thể nắm được nó.” Bản chất của Cải Lương – Cải Lương viết hoa hai chữ C, L – là giải trí cho đàn bà. Khán giả cải luơng là những phụ nữ giới trung lưu có tiền nhờ chồng, những bà ít học, nhờ chồng mà có tiền, dư thì giờ, chuyên đi xem bói, nuôi béo Thầy Cúng, Thầy Buà, Thầy Chùa và đi xem cải lương,  và những người đàn bà giới bình dân, giới bà ba.

Không thể bắt Cải Lương diễn tuồng Chống Cộng. Cải Lương là phải diễn những vở tuồng lai căng lai quéo vô nghĩa như “Khi Hoa Anh Ðào Nở, Sầu Lên Ngọn Cỏ, Sơn Nữ Phà Ca..” Ngay thời nay, bọn Cán Bộ Văn Hoá Bắc Cộng nắm chặt cứng tất cả những bộ môn nghệ thuật, chúng cũng không thể bắt Cải Lương Quốc Gia VNCH phải có, phải diễn những vở tuồng xây dựng, đề cao cái Lá Ða ma tịt gọi là Xã Hội Chủ Nghiã.

TRƯỜNG ÐỜI LÊ VĂN TRƯƠNG

Năm tôi 11, 12 tuổi, tôi đọc tiểu thuyết Trường Ðời của Nhà Văn Lê Văn Trương, tôi đọc tiểu thuyết Giông Tố của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, Tôi đã viết nhiều lần:

“Ai hỏi những tiểu thuyết nào có ảnh hưởng đến việc tôi thích viết truyện, tôi trả lời: Trường Ðời của Lê Văn Trương, Giông Tố của Vũ Trọng Phụng.”

levantruongTrước năm 1945 tôi théc méc về 5 chữ “Phổ Thông Bán Nguyệt San” in trên trang bià những quyển tiểu thuyết như quyển “Trường Ðời.” “Phổ Thông Bán Nguyệt San” là cái gì? Mấy ông anh tôi, các ông chú, ông cậu tôi có nhiều ông thích đọc tiểu thuyết, tôi hỏi nhưng không ông nào trả lời được. Những năm xưa ấy tôi không chú ý đến dòng chữ nhỏ “Tạp chí văn học ra đầu tháng và giữa tháng” nằm dưới hàng chữ “Phổ Thông Bán Nguyệt San.” Mà có chú ý tôi cũng không hiểu nghĩa. Nhiều năm sau, khi cuộc đời không còn những quyển tiểu thuyết “Phổ Thông Bán Nguyệt San” tôi mới biết  Phổ Thông Bán Nguyệt San là tờ báo tháng ra hai kỳ, Nhà Xuất bản Tân Dân dùng cách này để được dễ dàng trong việc kiểm duyệt sách, Như vậy mỗi tháng Nhà Tân Dân xuất bản 2 quyển tiểu thuyết, đều đều trong nhiều năm. Một nhà xuất bản mỗi tháng  in ra hai quyển tiểu thuyết phải kể là nhiều. Một kỷ lục trong số những nhà xuất bản Việt từ ngày Việt Nam có Nhà Xuất Bản Tiểu Thuyết.

Tôi không biết sau chiến tranh năm 1946 ông Lê Văn Trương trở về Hà Nội năm nào, tôi chỉ thấy ít nhất ông cũng trở về sống ở Hà Nội hai, ba năm trước năm 1954 là năm ông vào Sài Gòn. Về Hà Nội sau năm 1946,, ông Lê Văn Trương, Nhà Văn viết nhiều tiểu thuyết nhất Việt Nam, nhiều tiểu thuyết của ông rất “ăn khách”, không viết gì cả. Nguồn sáng tác của ông bị cạn. Một truyện ngắn ông cũng không viết. Vào Sài Gòn năm 1954 ông cũng không viết qua một trang tiểu thuyết nào. Thời gian đầu ông tìm những tiểu thuyết đã xuất bản của ông, nhiều quyển ông lấy ở những nhà cho mướn truyện, đem đến dạm bán cho mấy tờ báo, đề nghị nhà báo mua, đăng. Theo lệ, nhân viên những nhà báo nhận tác phẩm dạm bán không trả lời không mua ngay, mà nói:

“Ðể chúng tôi đọc. Tuần sau ông trở lại.”

Tuần sau ông LV Trương trở lại, nhà báo đưa trả mấy quyển truyện của  ông:

“Truyện này không hợp với báo chúng tôi. Xin gửi lại ông.”

Nhà Văn LV Trương bắt đền:

“Trong lúc báo ông giữ tác phẩm của tôi, có người hỏi mua, tôi không có tác phẩm để bán. Báo ông làm tôi bị thiệt hại..”

Nhà báo phải bồi thường cho ông một khoản tiền. Tôi – CTHÐ – chứng kiến chuyện tôi vừa kể ở toà báo Ngôn Luận.

Sau 1954 Sài Gòn tái bản những tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Bằng, Khái Hưng, nhưng không tái bản một tiểu thuyết nào của Lê Văn Trương. Tôi không biết tại sao.

truongdoiÔng Lê Văn Trương là nhà văn Việt Nam – có thể là duy nhất – có đàn em viết truyện, ông sửa lại rồi ký tên ông đem bán cho nhà xuất bản. Vì ông nổi tiếng, vì truyện ông có nhiều người mua đọc, nên cứ truyện ký tên ông là nhà xuất bản mua. Người Pháp gọi những người viết truyện loại này là nègre. Hai ông đàn em viết truyện cho ông Lê Văn Trương ký tên làm tác giả là ông Ðặng Ðình Hồng, và ông Tân Hiến. Hai ông này cùng  vào Sài Gòn năm 1954.  Cả ba ông cùng nghiện thuốc phiện.

Tôi thấy từ ngày vào Sài Gòn ông Lê Văn Trương không làm qua một công việc gì cả. Ông nghiện thuốc phiện nặng. .Ðời sống của ông đi vào tình trạng thiếu đói, vất vả, cực khổ. Từ năm 1960 ngày ngày ông lang thang đi tìm người quen để xin tiền, giới văn nghệ sĩ Sài Gòn gọi việc đi xin tiền người quen này là “đi cốc.”

Khoảng năm 1958 hai ông Hoàng Xứ Lào Phoumi và Phouma tranh quyền làm Thủ Tướng Chính Phủ. Mỗi ông Hoàng có một số quân sĩ, hai ông dùng quân đội đánh nhau, những cuộc binh biến xẩy ra liên miên trên đấi Ai Lao. Nguồn cung cấp thuốc phiện cho Sài Gòn thời ấy là Ai Lao. Thuốc phiện từ Lào về Sài Gòn bằng đường hàng không. Một lần xẩy ra cuộc binh biến, phi trường Vientiane bị đóng cửa nhiều ngày. Nguồn thuốc phiện từVientiane về Sài Gòn phải ngừng. Thuốc phiện trở thành khan hiếm ở Sài Gòn. Những nhà buôn thuốc phiện không bán hàng ra, có bán thì cầm chừng, và bán giá đắt. Giới đệ tử của Phù Dung Tiên Nữ rơi vào tai kiếp không có thuốc hút. Dân Hít Tô Phê – Hít Thuốc Phiện – có thể nhịn ăn vài ngày nhưng nhịn thoóc một bữa thì không được. Không có thoóc. có tiền cũng khó mua được thoóc. Mà 90/100 dân Hít Tốp là dân nghèo, không phải nghèo thường mà là nghèo mạt rệp, nghèo đến con rêp cũng không sống nhờ được.

Thời ấy Sài Gòn có câu:

“Phu-mi, Phu-ma đánh nhau. Phu-mơ chết.”

Phu-mơ: fumeur: người hút.

Trong cơn bĩ cực ấy có ông nghiện nghĩ ra chuyện lấy sái thuốc phiện nấu với nước, lọc cho hết chất sạn, than, tro, dùng ống chich hút chất nước sái thuốc phiện chích thẳng vào mạch máu. Chất thuốc phiện vào máu, người nghiện phê ngay trong nháy mắt. Ðang hút 100 đồng, chỉ cần chích 10 đồng là người nghiện phê hơn hút. Nhưng việc chích – dân nghiện gọi là choác – làm hại cơ thể người chích gấp nhiều lần việc hút. Chích 1 năm hại người bằng hút 10 năm. 10.000 người nghiện hút may ra có một, hai người bỏ được hút, người choác thì 10.000 người chết cả 10.000 người.

Ông Lê Văn Trương trở thành dân choác. Người ông khô đét, da ông đen sạm. Bà vợ sống với ông từ Hà Nội trước 1946 tới ngày ông qua đời ở Sài Gòn là bà Ðào. Bà này không phải là vũ nữ Dancing Fantasio mà là bà cô đầu.

Trên Internet bài viết về Nhà Văn Lê Văn Trương do một người Hà Nội – Việt Cộng – viết có đoạn như sau:

Buồn chán, nhân bệnh gan cũ tái phát ông đến Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu III (lúc ấy đóng ở Xích Thổ, tỉnh Ninh Bình) xin phép được về thành (Hà Nội) chữa bệnh (1953). Về lại Hà Nội, ông cộng tác với báo Mới ở Sài Gòn, và viết sách.

Ðầu năm 1954, ông vào Sài Gòn làm thầu khoán, viết báo, tái bản sách. Năm 1959, ông làm việc cho Ðài Phát thanh Sài Gòn được một thời gian thì gặp chuyện không may: Vì trùng tên với một người dám đả kích bà Cố vấn Ngô Ðình Nhu (tức Trần Lệ Xuân), ông bị gọi vào Phủ Tổng Thống làm việc. Mặc dù đã minh oan và cả sau khi sự việc đã rõ, bà Trần Lệ Xuân vẫn dửng dưng không đính chính. Ông bị Ðài Phát thanh sa thải. Cảnh nhà hết sức quẫn bách cộng thêm nỗi sách in ra không bán được, công việc kinh doanh cũng đình đốn.

Ngày 25 tháng 2 năm 1964, Lê Văn Trương mất tại một căn nhà hẹp ở hẻm Bùi Viện, Sài Gòn (nay thuộc phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh), trong cảnh nghèo đói và tật bệnh, lúc 58 tuổi.

Ngưng trích bài trên Internet.

CTHÐ: Ðoạn trên có những sự kiện không đúng: ông Lê Văn Trương không viết gì khi ông trở về Hà Nội, không có chuyện vào Sài Gòn ông làm thầu khoán, viết báo, tái bản sách, làm nhân viên Ðài Phát Thanh Quốc Gia. Bệnh nghiện làm ông suy nhược cả thể xác và tinh thần. Chuyện ông bị gọi vào Phủ Tổng Thống “làm việc” vì ông trùng tên với một người đả kích bà Ngô Ðình Nhu là chuyện bịa em nhỏ lên ba cũng không tin. Chuyện bịa cho thấy sự ngu dốt của người bịa.

Tú Kếu có bài thơ về Nhà Văn Lê Văn Trương:

Nhớ Một Lần Bác Trương

Một lần tôi gặp bác lang thang
Bác gọi tôi sang giọng vội vàng
“Ðằng ý có tiền cho tớ ít”
Ðường trưa bốc khói nắng chang chang

Lúc ấy tôi đang quả thật nghèo
Tiền lương viết báo chẳng bao nhiêu
Tay không lúng túng sờ trong túi
“Còn mỗi trăm đồng bác tạm tiêu”

“Một trăm tốt quá “mẹc xi vu”
Chính phủ mày xem chúng nó mù
Văn nghệ như tao mà bị đói
Trách nào không khổ bọn dân ngu.”

Bác nói tôi nghe mủi cả lòng
Ngày xưa có thuở bác thành công
Một thời hiển hách ngôi thần tượng
Tiền bạc ê hề như nước sông!

Thấm thoắt qua đi đã hết thời
Bây giờ bác rách chẳng ai chơi
Cái đời văn nghệ buồn hơn chó
Thua thiệt riêng mình thua thiệt thôi

Từ đấy đôi lần nhớ bác Trương
Lòng tôi se thắt nghĩ mà thương
Thương mình, thương bác, thương đồng nghiệp
Muốn dứt tơ tằm sợi vấn vương

Con tằm dứt ruột nhả tơ dâu
Rút cuộc hồn đơn nặng gánh sầu
Nhân thế lập lờ đôi mắt giấy
Chiều tà bóng xế ngẫm càng đau

           – Tú Kếu Trần Ðức Uyển

Tú Kếu tả cảnh Nhà Văn Lê Văn Trương trong những ngày tàn tạ đi lang thang tìm người quen để xin tiền ở Sài Gòn. Ông chỉ xin tiền người quen,  Tôi – CTHÐ – nhiều lần xuống tinh thần khi thấy ông Lê Văn Trương đứng ở cửa những toà báo chờ người quen để cốc tiền.

Theo tôi người bị ông Lê Văn Trương cốc tiền nhiều nhất ở Sài Gòn những năm 1960 là ông Nguyễn Vỹ. Hai ông thân  nhau từ những năm 1940.  Trong Hồi Ký “Những văn nghệ sĩ theo tôi biết” ông Nguyễn Vỹ kể ông không hút thuốc phiện, không uống rượu, không thích đi hát cô đầu,  ông thường phản đối những ông bạn ông sống trụy lạc, nghiện ngập. Một hôm – theo ông Nguyễn Vỹ kể – ông Lê Văn Trương cùng vài ông khác kéọ ông Nguyễn Vỹ đi hát cô đầu cho bằng được. Nể bạn, ông Vỹ đi theo. Sáng ra các ông chuồn hết, bỏ ông Vỹ nằm lại. Kiểu nằm nhà cô đầu này được các ông nhà văn tiền chiến – “tiền chiến”: trước chiến tranh Việt Pháp 1946-1954 – gọi là “nằm va-li.”

Thành ngữ “nằm va-li” đi vào ngôn ngữ ăn chơi Việt  từ việc theo thể thức Hotel của Pháp ngày xưa, khách mướn phòng khi đi mới trả tiền mướn phòng. Khách có thể đi công việc rồi lại về hotel. Va-li của khách để trong phòng là vật bảo đảm việc khách sẽ trở lại. Do đó có những ông khách để lại hotel những cái va-li rách, trong va-li không có gì đáng giá,  để đi mà không trả tiền mướùn phòng. Lại có chuyện những ông văn sĩ thời ông Lê Văn Trương xuống xóm hát cô đầu mà không có tiền trả chầu hát,  nhưng các ông cứ đến hát, ăn hút, sáng hôm sau các ông để một ông nằm va-li ở  nhà cô đầu, mấy ông kia về các tòa báo chạy tiền đến trả.

Ông Nguyễn Vỹ vào Sài Gòn một hai năm trước năm 1954. Khác với ông Lê Văn Trương, ông Nguyễn Vỹ viết truyện, làm thơ, làm báo rất nổi đình đám ở Sài Gòn. Và Nhà Văn Nguyễn Vỹ thành công. Ông là chủ nhiệm tuần báo Phổ Thông, làm thủ lĩnh Thi Ðoàn Bạch Nga – các ông ký giả gọi Thi Ðoàn này là Thi  Ðoàn Ngỗng Trắng – có thời ông làm chủ nhiệm Nhật báo Dân Ta. Ông ngồi cả ngày ở tòa báo đường Phạm Ngũ Lão, ông LV Trương đến tìm ông Nguyễn Vỹ rất dễ. Mỗi lần ông LV Trương chỉ cốc 100 đồng là ông đủ choác một ngày. 100 đồng không lớn. Khổ nỗi ngày nào cũng phải cúng ông 100 đồng thì số tiền đó là vấn đề.

Khoảng năm 1971, 1972 một lần tôi đến tiệm hút của chủ nhân Ba Lân, Bàn Cờ, Sài Gòn. Nghe nói Ba Lân là con trai một nhà hớt tóc ở Hà Nội. Anh theo mấy ông đàn anh đi hát cô đầu. Anh nghiện hút và lấy một bà cô đầu làm vợ. Ðến tiệm Ba Lân khoảng 4 giờ chiều, tôi thấy một bà trạc 50 tuổi ngồi trong phòng khách. Lên lầu, Ba Lân hỏi tôi:

“Có thấy bà ngồi dưới nhà không?”

“Thấy.”

“Biết ai đó không?”

“Ai?”

“Bà Ðào, vợ ông Lê Văn Trương đấy. Bà ấy chờ vợ tôi về để vay tiền.”

Vợ Ba Lân – là cô đầu xưa, là bạn bà Ðào – đi đánh chắn, sáu, bẩy giờ tối mới về nhà.

Tôi thương vẻ mặt buồn của bà Ðào.  Ngay tuần ấy tôi đăng Lời Kêu Gọi anh em Ký giả góp tiền giúp Bà Vợ ông Lê Văn Trương. Tiền quyên  đưa cho Minh Vồ, chủ nhiệm Tuần Báo Con Ong. Ông Trần Tấn Quốc gửi giúp 5.000 đồng. Trong thư ngắn ông viết cho tôi có câu:

Chỉ có người viết truyện mới thương xót người viết truyện.”

Số tiền quyên được khoảng 40.000 đồng. Bà Ðào cùng một người con đến toà báo Con Ong nhận tiền. Sau đó Nữ diễn viên Thẩm Thúy Hằng cho người mời bà Ðào đến nhà, hỏi mua bản quyền tiểu thuyết Bốn Bức Tường Máu để làm phim. Thẩm Thúy Hằng trả bà Ðào 100,000 đồng.

Một hôm có anh tên là Dư đi tìm tôi. Anh này không phải là ký giả mà quen nhiều ký giả. Dư nói:

“Có người quen tao nhờ tao đến nói với mày là ông Lê Văn Trương đã bán bản quyền tiểu thuyết Bốn Bức Tường Máu cho anh ta..”

Tôi biết ngay Dư, và người bạn anh ta, muốn gì. Họ muốn tôi cho Thẩm Thúy Hằng biết chuyện ông Lê Văn Trương đã ký giấy bán bản quyền tiểu thuyết Bốn Bức Tường Máu cho họ. Nay Thẩm Thuýy Hằng muốn làm phim Bn Bức Tường Máu thì phải điều đình với họ, tức là phải chi cho họ khoản tiền. Tôi bảo Dư:

“Chúng mày tồi lắm. Chúng mày đưa ông Trương trăm bạc, chúng mày bắt ông ấy ký cái gì mà ông ấy không ký. Nay thấy có người mua, chúng mày định làm tiền. Chúng mày cứ đến nói cho Thẩm Thúy Hằng biết, tao không dính vào chuyện này.”

Internet ghi Nhà Văn Lê Văn Trương có 5 người con  ra đời  ở Hà Nội trước năm 1954, 5 người này sống ở Hà Nội. Ở Sài Gòn có cô Lan làm vũ nữ ở Dancing Tự Do, cô này có tên là Lan Khùng. Cô này là con gái ông Lê Văn Trương.

Tôi viết vài đoạn về tiểu thuyết Trường Ðời.

Chương 1

Tháng Tám, năm 1935, một chàng tuổi trẻ bước vào sòng bạc Pakha.

Lúc ấy vào khoảng tám giờ đêm. Những chiếc “tai-cong-tắng” ném cái ánh lửa trắng tinh, chiếu một quang cảnh hỗn độn trong một bầu không khí làm mửa ra dạ dày.

Chàng tuổi trẻ vừa giẫm chân lên cái ngưỡng cửa đã in dấu bụi của bao con người máu mê thì liền bị cái mùi hôi hám bắt ngừng ngay lại. Thốt nhiên, chàng đưa tay lên che mũi và miệng, rồi lẩm bẩm:

- Chà chà.. Thế này thì sống làm sao được?

Chàng không sống được nhưng những con người ở trong vẫn sống được, sống say mê, sống sôi nổi, chung đúc bao nhiêu nguồn sống lên cái diện tích nhỏ xíu của mấy đồng tiền sấp ngửa, dồn dập tất cả cảm giác vào cái khắc – cái khắc ngắn ngủi nhưng dài bằng cả một thời gian vô tận – của chiếc bát đồng lúc lật ra.

Ngưng trích.

CTHÐ: Ðoạn mở đầu Trường Ðời gợi tôi nhớ đến đoạn mở đầu tiểu thuyết La Peau de Chagrin của Balzac. Nhân vật Trọng Khang, vai chính tiểu thuyết Trường Ðời, làm nghề buôn gỗ ở nơi ngày xưa người Bắc gọi là mạn ngược. Bè gỗ của chàng thả trôi trên sông Hồng về Hà Nội, gặp bão, bè vỡ, gỗ trôi mất hết, chàng hết vốn. Còn 200 đồng, Trọng Khang vào sòng bạc đánh để gỡ lại vốn. Việc làm ngớ ngẩn đến em nhỏ lên ba cũng không làm.

Ðây là đoạn Trọng Khang gặp nữ nhân vật chính là Marie Khánh Ngọc:

Sáng hôm sau, lúc Trọng Khang ra đứng cửa nhìn ông Phó đóng ngựa cho mình đi thăm Khôi thì thấy một người con gái ăn mặc quần áo cưỡi ngựa, chân đi giày ủng, lưng đeo một khẩu súng lục nhỏ, tay ve vẩy một chiếc roi ngựa bằng sừng từ phiá chợ đi lại.

Người con gái ấy trạc hai mươi hai, hai mươi ba, cắt tóc ngắn theo lối đầm, trang điểm một cách rất Tây phương. Cách đi đứng tỏ ra là một người bạo dạn. Trong Khang đoán ngay là con gái ông chủ thầu.

Nàng đi đến trước mặt Trọng Khang, hỏi bằng tiếng Pháp:

“Con ngựa này của ngài đấy ư? Ngài có thể cho phép tôi được xem một tí không?”

Ngưng trích’

Trọng Khang và Marie Khánh Ngọc nói với nhau về Súng:

Trường Ðời:  “Chà, khẩu súng lục ngài đeo sao to thế? Hình như nặng lắm thì phải. Ðến vài cân.”

“Chả mấy. Hơn ba cân”

“Thế thì lúc bắn thế nào?”

“Dùng nó quen đi. Tôi cho là không nặng. Chúng tôi sống cái đời rừng núi, phải cần đến thứ súng Mauser này mới bắn được xa. Chứ thứ súng của cô, không bắn xa đượïc mấy. Ði ngựa mà lại đeo súng trường thì bất tiện lắm.”

“Súng của ngài bắn xa được bao nhiêu?”

“Có thể được hai cây số.”

“Thế cơ à? Bao nhiêu phát?”

“Hai mươi bốn phát. Sang đến đất Tầu những thứ súng này cần lắm. Bên đó giặc cỏ như rươi.”

“Ba tôi cũng đem theo mười mấy khẩu súng trận. Sang đến địa phận Tầu lại có lính của chính phủ Vân Nam đón chúng tôi. Ông có thể cho tôi xem khẩu súng của ông được không?”

“Xin vâng, nhưng mời cô vào trong này.”

*

Khánh Ngọc hấp tấp hỏi ngay:

“Ông bắn giỏi lắm à?”

“Tôi có thể bắn vỡ một quả trứng ngoài ba mươi thước.”

Ngưng trích.

CTHÐ bàn loạn: Nhà Văn tác giả Trường Ðời quên, hay không biết, trong thời gọi là thời Pháp thuộc, chính phủ Bảo Hộ Pháp không cho phép người An Nam có súng lục. Người An Nam thời ấy được cấp giấy phép mua súng săn thú, đa số là súng bắn chim, nhưng súng lục là loại súng có thể bắn chết người thì Chính phủ Bảo Hộ tuyệt đối cấm. Ngay cả đến Vua Bảo Ðại – tôi chắc – cũng không có súng lục. Ông Trọng Khang chỉ là ông lái buôn gỗ, ông lái gỗ này cần gì đến súng lục mà có súng lục? Ông Lái Gỗ không có việc gì phải sang đất Tầu giặc cỏ như rươi. Cô Marie Khánh Ngọc du học ở Pháp mới về nước, cô có bằng Tiến sĩ, làm ký gì mà cũng lưng đeo một khẩu súng lục nhỏ? Việc ông Nam Long người Việt, thầu làm một đoạn đường bên Tầu, đã là chuyện khó tin, ông Nhà Thầu này còn mang theo mấy khẩu súng trận – súng mousqueton chỉ lính khố xanh, khố đỏ mới có – là chuyện làm tôi phi-nỉ lô đia: tôi hết lời bàn loạn.

Ðây là chuyện hút thuốc phiện trong Trường Ðời:

Cơm xong, Trọng Khang thấy mặt Khánh Ngọc vẫn cứ bần thần, đem lòng ái ngại. Chàng thấy thương cái yếu ớt của người đàn bà ẩn trong cái thân thể mỹ miều của nàng. Chàng khẽ bảo:

“Tôi có một cách làm cho những dây thần kinh của cô lại yên tĩnh được ngay. Nhưng chỉ sợ cụ không bằng lòng. Tôi thú thật với cô chính lòng tôi bây giờ cũng thấy xao động nhưng cái việc nó bắt thế thì phải thế.”

“Ông bảo có cách gì? Tôi chắc ba tôi bằng lòng. Ba bằng lòng trước đi nào.”

“Ừ, ông Trọng Khang đã đề nghị ra thì chắc là hay và hiệu nghiệm.”

“Bây giờ chỉ có cách : tôi cho nó đem một cái bàn đèn về đây, cô hút ba điếu tự khắc hết ghê mình ngay. Thuốc phiện có phép mầu nhiệm làm trấn tĩnh lòng người ta.”

Khánh Ngọc vỗ tay:

“Thế thì tốt quá. Tôi chưa được hút thuốc phiện bao giờ. Tôi nghe người ta nói hút vào đi mây, về gió sướng lắm. Ông cho người đi lấy đi. Tưởng cái gì chứ cái ấy thì ba tôi bằng lòng ngay. Mẹ tôi nói lâu lâu ba tôi cũng có hút.”

Ông Nam Long biểu đồng tình:

“Ừ, phải đấy. Ðã lâu không hút, hút một vài điếu cũng hay. Ông Trọng Khang ở trong rừng nhiều, chắc cũng hay hút.”

“Vâng. Lâu lắm tôi mới hút. Nhưng đã hút một lần thì hút thật nhiều để cho thật say.”

Khánh Ngọc nhìn chàng:

“Ông không sợ nghiện à?”

“Nghiện. Nghiện ở mình. Một người đã để cho thuốc phiện bắt phải nghiện thì người ấy là một người hèn. Nói thí dụ nếu một ngày kia mà tôi có nghiện thì chính tự tôi làm cho tôi nghiện chứ không phải thuốc phiện bắt tôi phải nghiện được. Ông Giáp đã hút bao giờ chưa?”

“Có, tôi có hút vài lần cho nó biết mùi, nhưng về sau thấy tuy có khoái một tí nhưng gãi khổ quá tôi lại thôi.”

Khánh Ngọc hút liền ba điếu đã thấy hơi lảo đảo, hơi thôi, nhưng nàng cũng nhắm mắt giả say, không ngồi dậy, để được huởng cái thú nằm cạnh người mà mình yêu mến.

Một giờ sau cửa mở. Người mang chăn, quần áo, người gánh củi, ngươi bưng một mâm cháo. Lại kèm cả một cái bàn đèn.

Một tên giặc ra dáng là đàn anh trong bọn nói với Trọng Khang:

“Lão gia tôi bảo bưng bàn đèn xuống để các tiên sinh hút cho đỡ buồn. Lão gia tôi bận việc không thể xuống hầu tiếp được.”

Trọng Khang khêu ngọn đèn dầu lạc:

“Tối nay Vương Lão gia có bụng tốt mời thì ta hút cho thật say. Nhưng mai có mời thì ta phải khước đi. Bởi vì ở vào cái cảnh buồn như thế này, cứ hút mãi thì nghiện mất.”

“Phải đấy. Hôm nay ông cho tôi hút say. Tôi thấy trong người buồn bã thế nào ấy.”

“Hút thì có thể hết buồn. Nhưng cái lối này gọi là lấy thuốc độc mà chữa bệnh đây. Bệnh khỏi, thuốc độc ngấm vào người.”

Trọng Khang tiêm luôn cho Giáp ba điếu.

Ðến khi đưa mời Khánh Ngọc, Khánh Ngọc từ chối:

“Ðêm qua tôi đã hút rồi.”

“Cô không thích thì thôi. Nhưng tôi, tôi hút hết chỗ thuốc này, để thử sống lại cái đời lười biếng mơ màng một đêm xem sao. Thứ đời ấy đã lâu lắm tôi không được sống. Nay có cơ hội, sao lại bỏ qua?”

( .. .. .. )

Trọng Khang ngồi dậy, đánh sái mà không trả lời. Và từ đấy chàng chỉ hút mà không nói chuyện gì nữa.

Ngưng trích.

CTHÐ tái bàn loạn: Chuyện ông Lái Gỗ Trọng Khang, cô Tiến sĩ Marie Khánh Ngọc có súng lục đã là chuyện lạ rồi, đến chuyện ông Trọng Khang cho cô Khánh Ngọc hút thuốc phiện để cô hết buồn thì tôi chạy luôn. Thế rồi khi cô Khánh Ngọc đòi đi tắm suối làm cho ông Lái Gỗ Người Hùng Trọng Khang, người xa ba mươi thước bắn súng lục Mauser 24 viên đạn vỡ quả trứng vịt lộn, ông Tấn sĩ Bị Thịt Francois Giáp, cô Tấn sĩ Ða Tình Khánh Ngọc, ông Nhà Thầu Khù Khờ Nam Long bị anh Tướng Giặc Cỏ Tầu, bắt cóc, đòi tiền chuộc mạng. Bốn người bị giam trong hang đá, Anh Tướng Giặc Tầu cho đàn em bưng vào hang một khay đèn thuốc phiện để các vị tù nhân hút cho đỡ buồn trong khi chờ đợi người nhà mang bạc vạn đến chuộc mạng. Ông Lái Gỗ bắn súng vô địch phoong phoong khêu đèn tiêm thuốc hút thoải mái, ông lại còn kẽo kẹt đánh sái nữa.

Lần thứ hai tôi hết nước nói.

Trường Ðời, Giông Tố, hai tiểu thuyết tôi đọc năm tôi 10 tuổi, hai tiểu thuyết làm tôi có mộng viết tiểu thuyết, cả hai tác phẩm cùng có nhiều đoạn các nhân vật Hít Tô Phê. Trong Giông Tố, khi Long vừa đến gặp Nghị Hách, Nghị Hách hỏi:

“Biết tiêm thuốc phiện không?’

Long trả lời biết. Và thế là chàng thư ký Long lên nằm bên bàn đèn ngoay ngoáy tiêm thuốc cho Nghị Hách hút.

Ông Giáo Tú Anh khi đến tiệm hút tìm Long cũng nằm bên bàn đọi tiêm thưốc cho Long hút.

Một lần nữa tôi fi-ní lô đia.

Ti Hí Mắt Lươn

Mời quí vị nhìn ảnh anh Tầu Cộng Tập Cận Bình, Chủ Tịch Nhà Nước Tầu Cộng, và ảnh anh Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nhà Nước Việt Cộng. Tôi gọi hai anh này bằng cái chức vụ đúng là Quốc Trưởng. Chắc quí vị thấy ngay nét giống nhau của hai anh Ðầu Xỏ hai Ðảng Cộng: mắt hai anh ti hí, mắt hai anh cùng nhỏ tí.

Mắt kiểu này ông cha tôi gọi là “ti hí mắt lươn.”

Những người ti hí mắt lươn
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người.

Bọn Bắc Cộng có thêm anh Tổng Bí Nguyễn Phú Trong  mắt mở không ra. Những ngày sắp tới của Ðảng Cộng Tầu, Ðảng Cộng Việt – chắc chắn – sẽ rơi vào chu kỳ đen hơn mõm chó nên hai Ðảng mới có những tên lãnh đạo có những cặp mắt lươn ti hí như thế.

Tập Cận Bình, Quốc Truởng Tầu Cộng: ti hí mắt lươn.

Tập Cận Bình, Quốc Truởng Tầu Cộng: ti hí mắt lươn.

Không có gì mới lạ trong những câu tuyên bố nhiệm chức của Tổng Bí Tập Cận Bình: mục tiêu quan trong nhất của Ðảng mà  Tập Cận Bình  đưa ra là “bài trừ tham những.” Em nhỏ lên ba nghe cũng không lọt tai. Tham những là sản phẩm đặc biệt của chế độ độc tài đảng trị. Bọn đảng viên cộng sản còn nắm dộc quyền cai trị là xã hội còn nan tham nhũng. Nhưng Tập Cận Bình cũng đưa ra vài đổi mới nhỏ: Từ nay Tầu Cộng bỏ danh từ “đồng chí,,” thay vào tiếng “đồng chí” là tiếng “đồng nghiệp.”

Bọn cán bộ làm việc hành chánh có thể gọi nhau là đồng nghiệp, nhưng còn bọn đảng viên? Không lẽ những đảng viên này cũng gọi nhau là “đồng nghiệp?” Bọn Cộng Việt bắt chước tiếng “cán bộ” của bọn Cộng Tầu. Ðúng ra tên gọi của những người làm việc nhà nước là “viên chức” hay “công chức”: người làm một việc công.

Từ 20 năm nay, anh Tổng Bí Việt, Tổng Bí Tầu nào được đưa lên chức cũng tuyên bố “Bài trừ tham nhũng.” Miệng lưỡi mà thôi. Mấy anh chỉ bài trừ cái mồm. Nạn tham nhũng Việt, Tầu càng ngày càng nặng. Chế độ gọi là “vô sản chuyrên chính” đẻ ra nạn tham nhũng, nuôi dưỡng nạn tham nhũng, bảo vệ bọn tham nhũng. Bọn đảng viên Cộng Sản, từ thằng to đầu nhất xuống thằng tép riu, đều tham nhũng. Không gian dối, không lừa gat, không ăn cắp không phải là đảng viên cộng sản.

Bọn Cộng Việt chuyên bám đít bọn Cộng Tầu. Bọn Tầu Cộng làm gì, bọn Cộng Việt bắt chước làm y chang. Năm 1986 Ðặng Tiểu Bình, Tổng Bí Tầu Cộng, cho Mao, Mác, Lê xuống cống, rước Tư Bổn Mỹ vào đất Tầu, đưa toàn thể lực lượng công nhân Tầu vào guồng máy lao động sản xuất hàng tiêu thụ cho Mỹ, công nhân Tầu sản xuất vật phẩm cho Mỹ do Tư Bổn Mỹ trả công. Ðây là việc mà bọn Cộng Sản trong bao nhiêu năm vẫn ra rả lên án là tình trạng Tư Bổn bóc lột công sức công nhân. Nay, nhờ bọn Tầu Cộng, giới công nhân Tầu sung sướng được Tư Bổn Mỹ bóc lột.

Chủ nghĩaMác Lê cấm tiệt việc người dân “làm ăn riêng lẻ.” – “Việc làm ăn riêng lẻ từng giờ, từng ngày để ra chủ nghĩa tư bản.” – Sau khi Ðặng Tiểu Bình mở khoá Mác Lê cho dân Tầu, nhiều anh Tầu làm ăn riêng. Chỉ trong vài năm, nhiều anh Tầu trở thành tỷ phú – tỷ phú không tính theo Tiền Tầu Thổ Tả mà tính theo Ðô-la Mỹ. Tình hình bọn Cộng Việt trở thành tỷ phú Ðô Mỹ giống hệt.

Năm 1988 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà, tôi xem trên tờ tuần báo Tuổi Trẻ cái tranh vẽ công nhân Tầu chui hàng rào dây phép gai bao quanh cái gọi là “Khu Kỹ Nghệ Thẩm Quyến” để thoát ra ngoài. Những năm ấy một số nhà máy đầu tiên chế tạo hàng tiêu dùng cho Mỹ được dựng lên ở Thẩm Quyến. Bài viết đi theo tranh vẽ diễn tả đời sống khổ cực của những công nhân Tầu bị bắt vào làm việc trong khu kinh tế mới Thẩm Quyến. Những công nhân Tầu này phải làm việc ngày đêm. Họ chịu không nổi nên phải liều mạng chui hàng rào dây thép gai trốn ra. Bài báo Tuổi Trẻ kết luận bằng câu:

“Sau ba mươi năm bọn Cộng Sản Trung Hoa xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất Trung Hoa,chúng chỉ làm cho dân Hoa sống khổ như chó.”

Sau trận đánh nhau thằng hộc máu mồm, thằng sồm máu mũi năm 1979, trong nhiều năm bọn Cộng Tầu và bọn Cộng Việt vẫn thù nhau. Hai tên thù nhau đến năm 1990.

Tôi đưa tờ báo cho người tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát:

“Bọn Việt Cộng chúng nó chửi bọn Tầu Cộng sau ba mươi năm cầm quyền chỉ làm cho dân Tầu khổ như chó.”

Trí Siêu nói:

“Bọn chúng nó ba mươi năm xây dựng chủ nghiã xã hội trên đất Việt, chúng chỉ làm cho dân Việt  khổ hơn chó.”

Bọn Cộng Tầu mời Tư Bổn Mỹ vào đất Tầu. Sau khi Lê Duẩn, Trường Chinh chết, bọn Cộng Việt mới có thể mời Tư Bổn Mỹ vào đất Việt. Năm 2000 Tổng Thống Mỹ Bill Clinton bỏ lệnh Cấm Vận Việt Nam Cộng Sản, đến Hà Nội mở cuộc bang giao, bọn Cộng Việt đi theo đít bọn Cộng Tầu từ đó. Bọn Cộng Tầu cướp đất của dân, bọn Cộng Việt cướp đất của dân y chang.

o O o

Trương Tấn Sang, Quốc Trưởng Bắc Cộng: mắt lươn ti hí. Mặït tên Cộng Chồn này ngoài cặp mắt lươn ti hí còn có những nét, những vẻ ngu đần, ác ôn.

Trương Tấn Sang, Quốc Trưởng Bắc Cộng: mắt lươn ti hí. Mặt tên Cộng Chồn này ngoài cặp mắt lươn ti hí còn có những nét, những vẻ ngu đần, ác ôn.

Năm 1989 tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trại Tù Khổ Sai Z 30 A Xuân Lộc. Tại đây tôi gặp lại Lê Vĩnh Xuân. Những năm 1966, 1972, LVXuân làm nhân viên một cơ quan Mỹ. Anh được Mỹ cấp súng lục phòng thân. Giấy phép mang súng do Bộ Nội Vụ VNCH cấp. 1975 Xuân chạy không kịp. 1976 Xuân bị Tình Báo Cộng bắt. Xuân bị nghi là gián điệp do Mỹ cài lại để hoạt động. Theo cung cách “xử lý” những người bị nghi là gián điệp cài lại của bọn Cộng Nga, Cộng Tầu, kẻ bị nghi là gián điệp do Mỹ gài lại Lê Vĩnh Xuân bị giam tù miết. Bọn Cộng giam những người bị nghi là gián điệp cài lại đến 10 năm, 15 năm, giam cho đến khi chúng cho là những địa chỉ để người gián điệp này liên lac trên thế giới không còn nữa.

Từ Z 30 A Xuân Lộc tôi trở về Sài Gòn năm 1990, từ Z30 A Xuân Lộc, Lê Vĩnh Xuân trở về Sài Gòn năm 1991. Bị nghi là “gián điệp Mỹ cài lại,” Lê Vĩnh Xuân bị giam tù từ năm 1976 đến năm 1991.  Hi chúng tôi lại gặp nhau. Một hôm tôi vừa nghe tin radio thì Xuân đến, Tôi báo tin:

“Bọn Cộng Afganistan sụp rôi. Thằng Nadzibula chạy vào trốn trong Trụ Sở Liên Hiệp Quốc ở Kabun.

Xuân nói:

“Chúng nó còn chạy đi đâu được nữa.”

Năm 1991, 1992 Xuân nói đúng. Nếu những năm ấy bọn Ðầu Xỏ Việt Cộng phải chạy ra khỏi nước, chúng không thể chạy sang Tầu, chúng không thể chạy sang Nga, chúng cũng không thể chạy sang Cuba. Như lão Cộng Ðức Honecker. “Ðồng chí Hôn-nách-cơ vĩ đại” của bọn Cộng Việt.  Lão cúp đuôi chạy sang Chili nhưng chính phủ Chili muốn tống khứ Lão. Lão không có nước nào chịu chưá. Bị Toà Án Ðức gọi về, Lão về Ðức, ra toà án chịu xét xử tội ra lệnh cho bọn lính Cộng canh giữ Bức Tường Ô Nhục Berlin bắn chết những người Ðức vượt tường sang Tây Ðức Tự Do.

Hôm nay, một ngày Tháng 12, 2012, tôi nói với Lê Vĩnh Xuân:

“Nay nếu bọn Ðầu Xỏ Việt Cộng chúng nó phải chạy ra khỏi nước, chúng nó sẽ sang Mỹ, Xuân ơi.”

Nay Tư Bổn Mỹ chỉ biết có Tiền thôi. Người nào có Ðô Mỹ là được chính phủ Mỹ cho vô Mỹ. Mà bọn Ðầu Xỏ Việt Cộng, như bọn Ðầu Xỏ Tầu Cộng, không phải chỉ có vài chục triệu Ðô Mỹ mà chúng có cả trăm triệu Ðô Mỹ.

o O o

Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Cộng Ðảng Bắc Cộng: mắt mở không ra.

Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Cộng Ðảng Bắc Cộng: mắt mở không ra.

Ba ngày tối om.

Bí ẩn thế giới: Thông điệp kỳ bí của Công chúa Nhật Bản Kaoru Nakamaru. Thông điệp là trọng tâm  bài phát biểu của Công chúa Nhật Bản Kaoru Nakamaru, trong Hội nghị Pythagoras Toàn cầu 2012 vào hôm 02/01/2012 vừa qua. Bà đã làm cả thế giới phải chấn động và suy ngẫm.

Sau đây là nội dung bài diễn thuyết của bà Kaoru Nakamaru:

Công chúa Kaoru Nakamaru, cháu gái của Nhật hoàng Meiji

Tôi là Kaoru Nakamaru, công chúa Nhật Bản.

Vào năm 1976, tôi  có một một trải nghiệm tâm linh kỳ diệu. Kể từ lúc đó, con mắt thứ 3 của tôi khai mở. Vậy là… Tôi đã có thể giao tiếp với các vật thể bay lạ không xác định, và cả những chủng người sống trong lòng đất. Có tồn tại nền văn minh rất phát triển ở đó. Ðặc biệt là lãnh đạo của chủng người “Lybraryan” sống dưới lòng đất. Và,… tôi cũng giao tiếp với họ.

Và từ tất cả những thông tin này, tôi tin chắc, rằng vào 3 ngày kể từ ngày 22/12/2012, Trái đất sẽ đi vào không gian chiều thứ 5. Có một nơi gọi là “Nuru”. Khi chúng ta vượt xuyên qua nơi đó, trong 3 ngày 3 đêm, chúng ta sẽ không thể sử dụng điện năng. Cả ngày lẫn đêm, trái đất sẽ hoàn toàn chìm trong bóng tối. Không mặt trời, không mặt trăng, không một vì sao, không chút ánh sáng nào. Chúng ta hoàn toàn sống trong bóng tối, suốt 3 ngày.

Không có phương tiện thông tin đại chúng nào thông báo thông tin này cho nhân dân trên thế giới. Những người giấu mặt đằng sau các chính phủ thì biết. Chỉ có họ là biết, và họ nghĩ rằng họ có thể an toàn.

Họ cố gắng rời khỏi hành tinh này hoặc xây dựng những thành phố ngầm trong lòng đất. Bên dưới Atlanta, Na Uy, Hà Lan, Thụy Sỹ, Úc… Khoảng 10.000 người uy quyền sẽ có thể được cứu sống nhờ trú ẩn ở đó.

Nhưng dù sao đi nữa, tôi không nghĩ là họ sẽ an toàn. Chúng ta phải làm thanh khiết tinh thần của mình, theo cả phương diện vật chất lẫn tâm linh.

Tôi sẽ nói cho các bạn biết phải làm như thế nào. Ðiều đó rất quan trọng.

Ðấng Toàn Năng, Ðấng Tạo Hóa, hay Thượng Ðế chính là ánh sáng, lòng thương và năng lượng. Một phần năng lượng lòng thương đó chúng ta đều có ở trong tâm hồn mình. Chúng ta có thể lừa dối người khác, nhưng không thể tự dối mình.

Tôi sẽ gọi đó là ý thức lương tâm.

Mỗi con người đều có phần tuyệt đẹp ấy của Tạo Hóa trong tâm hồn mình. Phần đó sẽ tái sinh. Ðó là sự sống vĩnh hằng mà chúng ta có ở bên trong.

Vậy là, để làm thanh khiết linh hồn mình, cứ tầm khoảng 5 năm hay đại loại thế, kể từ khi sinh ra, chúng ta có thể nhìn lại ý thức [lương tâm] ấy, xem chúng ta đã cư xử ra sao, suy nghĩ ra sao, nói năng như thế nào. Và tất cả những điều này có thể được làm trong sạch bằng cách tự kiểm lại đời mình cứ mỗi 5 năm một lần, mãi cho đến thời điểm hiện tại. Bằng cách đó, mỗi lần chúng ta tìm thấy việc nào đó, chúng ta đã làm điều gì đó có hại cho người khác, thì chúng ta có thể làm rõ nó và rồi thanh tẩy nó. Mỗi khi tìm thấy, tâm hồn chúng ta sẽ rộng mở ra.

Chúng ta có thể bày tỏ điều đó một cách sâu sắc, và mỗi lần chúng ta trải nghiệm điều đó, thì tất cả bóng đêm sẽ thoát ra khỏi tâm hồn ta, thay vào đó là ánh kim quang tràn vào.

Như thế, chúng ta có thể nhìn thấy được càng ngày càng tốt hơn. Cho đến ngày 22 Tháng 12/2012, thì chúng ta vẫn còn một ít thời gian.

Về mặt vật lý, chúng ta có thể làm thanh khiết thân thể mình. Ðầu tiên chúng ta không bao giờ nên uống nước trái cây đóng lon hay bia lon. Chất “nhôm” vô cùng độc hại với thân thể chúng ta, mà chúng ta lại chẳng biết. Chúng ta toàn dùng những thứ đồ ăn thức uống độc hại ấy. Vậy [đối với] mỗi thân xác này của chúng ta, chúng ta có thể chăm sóc bản thân mình đại loại như thế. Cần tập luyện, và mỗi ngày chúng ta có thể nhìn lại tinh thần mình.

Về cơ bản, loài người chúng ta là ánh sáng và tình thương, bởi vì đó là một phần của Ðấng Tạo Hóa ban cho chúng ta, trong tâm hồn, và rằng chúng ta hiện thân ở đây nhờ thân xác thịt trên Trái đất, nhưng còn tinh thần thì đi, đi mãi, vẫn tiếp tục sống.

Trên Trái đất này, tôi có thể nhớ được cuộc sống của mình, nhiều ngàn năm trước ở trên hành tinh này. Và ngoài ra tôi còn từng sống ở nhiều vùng đất khác nhau trên hành tinh này. Tất cả những ký ức đó trở lại với tôi, và tôi thậm chí còn có thể nói thứ ngôn ngữ mà tôi chưa từng học bao giờ [trong kiếp này].

Nghĩa là, thực sự, tôi đã trải nghiệm rằng thuyết luân hồi là sự thật.

Vâng,… bất cứ ai lắng nghe hội thảo này, cứ nghĩ như thể là loài người đang an toàn.

Chúng ta đã bị chia rẽ sâu sắc từ sau năm 1913, một bên là những người tin vào quan niệm [luân hồi] loại này, còn một bên thì không. Họ đã chia rẽ vô cùng sâu sắc.

Và với bên những người mà không hiểu điều này hoặc không tin điều này, hoặc hoàn toàn ngờ vực sự tồn tại của thế giới tâm linh, thì họ sẽ bị sinh ra ở những cảnh giới khác rất giống như Trái đất này, những nơi đó đầy bạo lực và chiến tranh. Họ sẽ bị sinh ra ở những cảnh giới đó. Vì vậy, giờ đây chúng ta được chuẩn bị sẵn sàng nhờ hội thảo tuyệt diệu này. [Ðiều đó sẽ đến] rất sớm, rất nhanh.

Cám ơn rất nhiều.

Hết bản tuyên bố của người đàn bà tự xưng là Công Chúa Nhật Bản.

CTHÐ: Tôi vào Internet tìm và thấy có Công Chuá Kaoru Nakamaru, bà có nói trước đến ngày 22 Tháng 12 năm 2012 Trái Ðất sẽ chìm đắm trong 3 ngày 3 đêm không có áng sáng, không mặt trời, không trăng sao, không có điện. Chuyện Bà Công Chúa Nhật không phải là Chuyện Bịa do một kẻ hiếu sự đặt ra dọa chơi người đời. Nhưng bà không nói rõ  Ba Ngày Tối Om ấy có phải là Ngày Tận Thế hay không. Lời lẽ ở phần cuối bản nói chuyện của Công Chúa rất lờ mờ, bà nói ba lăng nhăng về chuyện tu tâm, chuyện không nên uống bia lon, nước trái cây trong hộp nhôm, chuyện luân hồi.. vv.. Toàn những chuyện không liên can gì đến chuyện Ba Ngày Trái Ðất Tối Om.

Cơ Quan NASA Mỹ ra thông cáo: “Không có chuyện Trái Ðất không ánh sáng trong ba ngày..”

Ðức Giáo Hoàng Benedict XVI kêu gọi mọi người đừng nghe, đừng tin chuyện Ngày Tận Thế sắp đến.

Quý vị đọc bài viết này trong những ngày 14, 15, 16 Tháng 12, năm 2012. Ngày 22 Tháng 12 năm 2012 là ngày Thứ Bẩy, mời quí vị đọc bài Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích như mỗi tuần từ 15 năm nay.

o O o

Có những tên Ðầu Xỏ Ti Hí Mắt Lươn như bọn Cộng Việt, Cộng Tầu, hai Ðảng chúng nó không thể nào khá được.

BIỆT XỨ PHÓNG DZAO

saigon

Sài Gòn Vang Bóng

Tôi buồn không xiết nói
Cánh Tình đã rụng tự đêm qua.
Một khi Tình rụng như Hoa rụng
Máu đỏ lìa tim, dạ xót sa.

Thi sĩ Nguyễn Bính thất tình nên ông buồn, tôi sống nhờ xứ người, tôi thấy:…

… Ðêm buồn – Ðêm nào ở Xứ Người tôi cũng Buồn – Rừng Phong xào xạc tiếng mưa rơi, không ngủ được, tôi không muốn mần Thơ mà Thơ, như người Ðàn bà Ða tình, yêu thương tôi, tự đến với tôi. Nàng biết tôi buồn nên Nàng nỉ non an ủi tôi. Nàng làm tôi có Hứng mần Thơ. Chỉ trong hai đêm, mỗi đêm khoảng hai tiếng đồng hồ – đơ xăng ca-răng mi-nuýt -  tôi mần được mấy bài Thơ này.

Những bài này gọi là Phóng Dzao đúng hơn gọi là Thơ. Phóng Dzao là phóng tác Ca Dao.

Tôi viết về phóng dzao khi tôi bị án lưu đầy biệt xứ, nên tôi gọi những Phóng Dzao này là  “Biệt Xứ Phóng Dzao.”

Chợ Bà Chiểu, Em bán chuối nướng,
Boóc Hồ dzô, đời Em chuyển hướng.
Bỏ chuối nướng, Em làm Phường Trưởng.
Em viết báo cáo, báo cưởng
Mồ hôi nách Em ra..
Khét như Chuối Náy Chướng!

Chợ Ông Tạ, Em bán Thịt Chó,
Vượt biên Em chui, chợ vẫn đó.
Mười năm sau, gặp Em Ca-li,
Tiệc cưới, Em nhẩy đầm như gió.

Chợ Vườn Chuối, Em hột dzịt lộn,
Vượt biên, Em sang Mỹ Tư Bổn.
Ca-li Em là Beauty Queen.
Mê Em, nhiều trự rụng răng, rốn.

Chợ Bàn Cờ, Em ngồi bán mít
Bán cả sơ mít với hạt mít.Vượt biên Em chui sang Kỳ Hoa
Gặp lại, Em thơm như múi mít.

* Sài Gòn 75 Em Bốn Bó
Hai mươi năm vèo qua như gió.
Kỳ Hoa Ðất Trích gặp lại Em,
Em  nói: “Năm nay Em Bốn Bó !”

* Công Tử Hà Ðông sang Kỳ Hoa
Ngẩn ngơ nghe chuyện của người ta.
Người ta nói: “Em mặt con nít
Nhưng đít Em là đít bà già !”

Kính thưa Thi bá Vũ Hoàng Chương,
Ông tha cho tôi tội vẩn vương
Năm xưa tôi nghĩ bậy, nghĩ bạ:
Thơ Thi bá là Thơ Hoang Ðường.
Cuộc đời làm gì có chuyện lạ
Ðàn bà Trẻ, Ðẹp mãi không Già!
Như trong Thơ Tình ông diễn tả
«  Phải chăng từ độ ấy quan san,
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
Riêng có mình ta phai áo lục
Mà Em sau trước vẫn hồng nhan ? »

Sang Mỹ mới biết Thơ ông thiêng
Thơ ông nhân khiếp, quỷ thần kiêng
Năm Bó tôi đà phai áo lục
Mà Nàng Bẩy Bó vẫn thành nghiêng.

Tạọ hóa gây chi cuộc hý đồ
Làm Ca-ti-nát hóa Tư Dzô.
Ngán ngẩm Tây đi, Mỹ lỏn đến
Chán phèo Mẽo chạy, Cộng lòn vô.
Công-tỉ-năng-tal còn đó đó,
Mà Diệm mà Thiệu ở mô mô.
Ông chỉ bốn đời Vua mất ghế.
Tôi năm chế độ, chán thấy mồ !

*Sài Gòn Ðẹp lắm, Sài Gòn eo
Giữa Sài Gòn có Ca-ra-veo
Ca-ra-veo ! Cái tên tiền định
Ca-ra-veo thì Sài Gòn Teo.

Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Hậu Tháng Tư 75

Nguyễn Hiến Lê ù lì
Nguyễn Ðăng Thục cù mì
Vũ Ðăng Bằng ngơ ngáo
Vương Hồng Sển nâng bi.
Vũ Hoàng Chương xộ khám
Doãn Quốc Sĩ đi tì
Mai Thảo đi trốn
Bình Nguyên Lộc cu ki
Nguyễn Mạnh Côn chết khát
Hồ Hữu Tường chết phì
Á Nam chết xà bát
Hiếu Chân chết ngạt
Dê Húc chết đen sì
Chu Tử xuống biển
Bùi Giáng giả điên
Mộng Tuyết lộn mặt.
Lãng Nhân nằm yên.
Sài Gòn văn sĩ, báo sĩ
1.001 anh tiến tùng
10 anh chạy qua biển
90 anh lỗ tai lùng bùng
Anh nào cũng han rỉ
Tồn lao với tồn lung.

Buồn uống rượu bên hoa
Mấy chén, say ngà ngà.
Sì-nẹc vì hoa nói:
- Không nở cho ông già.

Chỉ già mới yêu hoa
Trẻ nó uống săm-pa
Trẻ nó nhẩy rum-ba
Trẻ nó chơi người trẻ
Trẻ nó không chơi hoa.
Chơi hoa chỉ ông già.
Không vì ông già nở!
Hoa nở cho chó à?

Cứ bốc nhằng nhau: Việt Suýp-pe
Ai chê hèn, dzốt, chẳng thèm nghe.
Ông kéo xe, cháu đạp xe
Bốn ngàn văn hiến lộn mè thế thôi.

* Kéo xe tiến lên đạp xe
Bốn ngàn văn hiến bổn lè.. xé keo!

* Nguyễn Du: Thôi..

Thôi..! Khổ lắm..
Chúng mày đừng khóc tao nữa
Ðể tao khóc chúng mày.
Ðời tao, tao cũng tù đày
Tao tù có một trăm ngày mà thôi.
Chúng mày tù rạc cả đời
Ðoạn trường trọn kiếp, triệu lời thất thanh
Tao buồn tao có Tiểu Thanh,
Chúng mày Cộng Sản nó hành chết thôi.

Cuộc sống, dzòng đời trôi chẩy mãi
Ba mươi năm lẻ, một lòng đau.
Mất nhau từ cuộc tang thương ấy,
Anh vẫn buồn, anh vẫn nhớ nhau.
Ðộc tại Kỳ Hoa vi nạn khách
Mỗi phùng Thu tiết, bội thương sầu.

Anh ở Kỳ Hoa làm khách nạn
Mỗi năm Thu đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Ðông Công Tử bạc đầu Rừng Phong.

* Trời không mưa, anh lậy trời mưa!
Sau 75, Thơ vẫn thế ưa?
Ấy  nước, ấy dân là thế thế
Mà Thơ, mà Thẩn cứ bưa bưa.
Trời mưa, nước lụt lên ngang vế
Lậy trời mưa, anh cứ  lậy trời mưa.
Quê hương thê thảm thương hòa lệ
Tôi và Em và Mẹ cù cưa.

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể,
Ngày muộn tim đau kiếp sống thừa.
Kỳ Hoa Ðất Trích sầu vô kể,
Liêu lạc Rừng Phong nhớ nước xưa.

Thơ không cần lời giải thích, tức “phụ đề Việt ngữ, không cần “lời bàn Mao Tôn Cương.” Ðó là Thơ Hay, Thơ Dzở thì cần có lời viết thêm cho chắc ăn. Vậy xin viết thêm:

Ca-ti-nát : Catinat. Tư Dzô : Tự Do.

Ðơ xăng ca-răng mi-nuýt: Deux cents quarante minutes: Hai trăm bốn mươi phút.

Săng-phú: Tiếng Tây Bồi xưa, từ tiếng s’en foute: bất cần, bất kể, của người Pháp.

Công-tỉ-năng-tal: Khách sạn Continental.

Ca-ra-veo: Khách sạn Caravelle.

Phải chăng từ độ  ấy quan san: Thơ Thi bá Vũ Hoàng Chương.

Phú lỉnh : lỉnh đi chỗ khác.

Bốn đời Vua mất ghế: Một nhà thơ triều Nguyễn than ông thấy 4 đời Vua bị người Pháp hạ bệ, hai vua bị đi đầy biệt xứ. Tôi sống trong 5 chế độ Tây, Việt Minh, Tây, Quốc Gia, Cộng sản.

Sau 1975, ông Vũ Bằng ngơ ngáo. Năm 1954 ông phú lỉnh vào Sài Gòn một mình, bỏ vợ con ông lại Hà Nội. Chuyện ông Vũ Bằng là “tình báo viên” do bọn Bắc Cộng cho dzô Sài Gòn hoạt động là chuyện bịa. Nếu ông Vũ Bằng là nhân viên tình báo VC, Cục Tình Báo Bắc Cộng đã tổ chức đưa cả vợ con ông dzô Sài Gòn với ông. Tưởng là chỉ sau hai năm là có chuyện hiệp thương, sẽ gặp lại vợ con, nên ông Vũ Bằng để vợ con ông ở lại Hà Nội giữ nhà, một mình ông vào Sài Gòn làm việc lấy tiền trả nợ. Không ngờ hai năm không có hiệp thương, bị kẹt, ông Vũ Bằng phải lấy bà vợ người Nam, cho ra đời một lô con. Vì vậy, trong những bài viết của ông Vũ ở Sài Gòn, ngoài những chuyện thương nhớ quê hương miền Bắc, với hy vọng lấy điểm may ra vợ con ông ở Hà Nội được đỡ khổ, ông thường xa gần đả kích Mỹ gây chiến tranh ở Việt Nam, kín và khéo bầy tỏ lòng oán hậnMỹ đánh bom Hà Nội, phá nát khu cô đầu cũ Khâm Thiên ..vv.. Nhưng ông không phải là tình báo viên, tình báo hòn do Cộng sản gửi vào Sài Gòn. Sau 1975 ông ngơ ngáo như 4 triệu người dân Sài Gòn khốn khổ, khốn nạn sống cùng thời với ông. Cũng như mọi người Sài Gòn, ông và vợ con ông đói dzài, đói dzẹt. Một anh con ông tên là Vũ Lăng, từ Hà Nội vào Khánh Hội, Sài Gòn tìm ông, anh này cãi lộn tùm lum với bà vợ sau của ông làm ông chán quá cỡ thợ mộc.

Những năm 1970 sống bình yên giữa lòng thành phố Sài Gòn, ông Vũ Bằng viết chuyện ông thương nhớ đất Bắc Kỳ trong tác phẩm “Thương Nhớ Mười Hai.” Ông nhớ thương đất Bắc ngày xưa ra rít. Nhưng khi bọn Bắc Cộng Lính Cái Ðít To hơn cái Thúng, ngơ ngáo kéo vào Sài Gòn, không một lần ông Vũ Bằng về thăm lại Hà Nội. Ông chết ở Khánh Hội. Thân xác ông nằm ở một nghĩa trang quanh Sài Gòn. Ðến năm 2000 bọn Bắc Cộng kể chuyện “Nhà Văn Vũ Bằng là nhân viên Cục Tình Báo Bắc Cộng được đưa vào Nam hoạt động tình báo.” Chuyện bậy bạ, em nhỏ lên ba nghe cũng phải chửi. Bọn Bắc Cộng chuyên môn Nhận Vơ.

Ông Vương Hồng Sển nâng bi Boóc Hồ. Trong “Hơn Nửa Ðời Hư, ông Vương viết về Sài Gòn: “Thành phố mang tên Bác kính trọng.”

Ông Á Nam Trần tuấn Khải làm thơ tự vịnh năm 1975 ông 80 tuổi, trong có câu đại ý nhờ Boóc Hồ dzô Sài Gòn, ông được tái sinh: “80 tuổi ông mới lên một tuổi.”

Ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong Nhà Tù Chí Hòa. Ông bị cao huyết áp. Phòng tù Chí Hòa nhốt đông người, lao nhao, ồn ào từ 6 giờ sáng đến 11 giờ đêm, nhiều ông tù chịu không nổi sự căng thẳng thần kinh, thường ngất đi rồi chết vào lúc 10, 11 giờ đêm.

Ông Dương Hùng Cường, bút danh Dê Húc Càn, chết ban đêm trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, thi thể ông nhiều chỗ nám đen. Bọn Cai Tù đưa xác ông từ Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu về Nhà Xác Nhà Tù Chí Hoà. Bọn gọi là pháp y của Sở Công An Thành Hồ đến nhà xác mổ xẻ nát bấy xác ông tù họ Dương. Xong chúng khâm liệm xác ông, cho vào áo quan, gọi vợ con ông đến nhìn mặt ông lần cuối, chúng đưa ông lên chôn ở một nghiã trang trên Lái Thiêu.

Ông Nguyễn Mạnh Côn tuyệt thực ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc, bọn Cai Tù không cho ông uống nước đến chết.

Ông Hồ Hữu Tường tù khổ sai ở Trại Tù Hàm Tân, người ông bị phù lúc ông chết.

Ông Chu Tử trúng đạn thù bắn theo trên tầu Việt Nam Thương Tín trên đường ra biển ngày 29 Tháng Tư 1975. Ông được thủy táng, tức người ta cho xác ông xuống biển.

Trước 1975 bà Mộng Tuyết mời ông bà Vũ Hoàng Chương về ngụ trong tòa nhà ông Ðông Hồ để lại ở khu Lăng Cha Cả, Sài Gòn. Hai tháng sau Tháng Tư 1975, bà Mộng Tuyết đuổi ông bà Vũ Hoàng Chương ra khỏi nhà. Ông bà Thi Bá lếch thếch dắt nhau sang Quận Tư, Khánh Hội, nhờ bà Ðinh Hùng mướn cho căn gác, Thi Bá “về ngôi” trong hiu quạnh ở căn gác đó sau khi đi tù về được bẩy ngày. Bà Mộng Tuyết mời Huy Cận, Xuân Diệu, Chế lan Viên đến nhà chiêu đãi. Không chắc bọn Huy Cận, Xuân Diệu đã đến nhà bà.

Thi bá Vũ Hoàng Chương bị bắt tháng Ba 1975, 7 tháng sau được thả, về nhà được sáu, bẩy hôm Thi bá qua đời. Thi bá cũng bị bọn Cộng nó giam tù nhưng ông vẫn được chết ở ngoài tù, chết bên bà vợ hiền của ông. Các ông Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hồ hữu Tuồng, Dương Hùng Cường chết thảm trong tù.

Thi sĩ Nguyễn Du có lần bị chính quyền Tây Sơn bắt tù, không rõ vì chuyện gì. Ông để lại bài Thơ Tù trong nói ông bị tù “thập tuần, tức 100 ngày. Thập tuần lao ngục tử sinh tâm.

Ẩm tửu khán mẫu đơn. Thơ Lưu Vũ Tích

Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi.
Ðản sầu hoa hữu ngữ:
- Bất vị lão nhân khai.

Hôm nay uống rượu bên hoa.
Vài chén đã say.
Buồn vì nếu hoa biết nói, hoa sẽ nói:
Không nở vì ông già!

Sống và Chết ở Virginia

Thông báo của gia đình bà Nina Nguyễn. Trong ảnh: Bà Nina Nguyễn Kiều Oanh và con bị bắt cóc, bị giết thê thảm.

Thông báo của gia đình bà Nina Nguyễn. Trong ảnh: Bà Nina Nguyễn Kiều Oanh và con bị bắt cóc, bị giết thê thảm.

Tôi định viết về một số thảm kịch mà nạn nhân là người Việt xẩy ra ở Virginia Xứ Tình Nhân –Virginia is for Lovers – định viết từ lâu nhưng tôi không viết vì tôi sợ làm đau lòng thân nhân của những nạn nhân. Khơi chuyện đau buồn của người là chuyện tôi không nên làm. Hôm nay tôi viết những chuyện đó vì trong Tháng 11, 2012, đọc trên báo, trên Internet, tôi thấy bản thông báo của gia đình một nạn nhân.

$50,000 REWARD

A reward up to $50,000 is offered by the Nguyen family for information leading to the identification and prosecution of those responsible for the 1955 kidnapping/murder of Kieuoanh Thi “Nina” Nguyen and her son, Ryobi Nguyen.

The family of Nina and Ryobi is asking the Vietnamese community to come together and help solve this 1995 kidnapping/murder. This tragic event affected our  community as wel as our family, and someone holds the key to solving this case. Coming forward requires a unique person with principles, conviction and courage. Helping bring justice to Nina and Ryobi.

Please contact the FBI at (703) 686-6508.

Or email: charles.knowles@ic.fbi.gov

THƯỞNG 50.000 ÐÔ

Số tiền thưởng 50.000 Mỹ kim được gia đình họ Nguyễn đề nghị trao tặng người cung cấp những tin để truy tố bọn người đã bắt cóc và giết bà Nguyễn Thị Kiều Oanh “Nina” và con trai của bà là Ryobi Nguyễn.

Gia đình của Nina và Ryobi xin cộng đồng người Việt hợp lực và giúp phá vỡ vụ bắt cóc/giết người xẩy ra năm 1995. Án mạng thê thảm này đã làm hại cộng đồng cùng gia đình chúng tôi, có người giữ chìa khoá giải quyết vụ án này. Chỉ cần người tố cáo là người có nguyên tắc sống, niềm tin và can đảm. Xin giúp mang công lý đến cho Nina và Ryobi,

Xin liên lạc với FBI số (703) 686-6508

Hay gửi email cho: charles.knowles@ic.fbi.gov

o O o

Vợ chồng tôi đến Virginia Xứ Tình Nhân Tháng 11, 1994. Tháng 5, 1995 tôi đọc trên tờ báo Việt thấy tin một phụ nữ Việt, Bà Nina Nguyễn kim Oanh và con bà bị bắt cóc trong lúc ông chồng bà về Việt Nam vì công việc kinh doanh. Bà Nina Nguyễn cư ngụ ở Virginia. Vụ bắt cóc, nghe nói, là để đòi tiền chuộc mạng,

Vanessa Pham, cô sinh viên 19 tuổi bị đâm chết trong xe ô-tô trên đường Arlington. Ðại lộ Arlington ở gần Rừng Phong.

Vanessa Pham, cô sinh viên 19 tuổi bị đâm chết trong xe ô-tô trên đường Arlington. Ðại lộ Arlington ở gần Rừng Phong.

Vụ bắt cóc/tống tiền trở thành vụ bắt cóc/giết người. Vụ giết người hết sức tàn bạo, thê thảm.

Mới đến Mỹ tôi không được biết gì nhiều về vụ bắt cóc này. Mấy tờ tuần báo Việt ở Virginiađăng rất ít về những tin, những việc xẩy ra trong địa phương. Tôi chỉ biết khoảng ba, bốn tháng sau ngày bà Nina Nguyễn bị bắt cóc, một người đàn ông Việt bị FBI bắt vì tội gửi tin đòi gia đình bà Nina Nguyễn trả 200.000 đồng Mỹ kim tiền chuộc mạng. Rồi có tin xác bà Nguyễn, và con trai bà, bị chặt thành nhiều khúc, bỏ trong một thùng đựng rác để ở một đầm nước.

Thời gian qua.. Tôi quên vụ bắt cóc-giết người ghê rợn này. Ðến Tháng 11, 2012 tôi đọc được Thông Báo Thưởng 50.000 Mỹ Kim của gia đình bà Nguyễn. Vụ bắt cóc-giết người xẩy ra đã 17 năm, FBI chưa tìm ra thủ phạm. Tôi vào Internet tìm những tin về vụ án:

Bà Kiều Oanh “Nina” Nguyễn 35 tuổi, con trai bà tên là Ryobi Nguyễn 3 tuổi, cư ngụ tại thành phố Franconia. Bà bị mất tích ngày 16 Tháng 11, 1995. Vài tháng sau, một tin đòi chuộc mạng 200.000 đô được gửi đến gia đình bà Nguyễn. Người đòi tiền bị FBI bắt ngay. Anh tên là Trần Vinh, một người  quen với gia đình nạn nhân. Anh không phải là người bắt cóc mẹ con bà Nguyễn, anh đòi tiền bậy, mong được chi tiền. Trần Vinh bị án tù 51 tháng. Tin này đăng trên Nhật báo The Washington Times ngày 2 tháng 5, 1996.

Thời gian qua.. Thấm thoắt mà đã 17 năm. Theo tôi suy đoán, người bắt cóc mẹ con bà Nguyễn Kiều Oanh là người Việt, việc điều tra tìm thủ phạm trong số người Việt ở Virginia chắc không khó lắm, nhưng đã 17 năm, FBI chưa bắt được hung thủ. Tên sát nhân giết mẹ con bà Kiều Oanh, bị bắt, chắc chắn bị án tử hình.

Vụ án mạng thứ hai xẩy ra trong Quận Fairfax, nơi có Eden Center, và Rừng Phong là vụ cô sinh viên Vanessa Phạm.

Vụ án xẩy ra ngày 27 Tháng 6, 2010. Người ta tìm thấy cô Vanessa Phạm, 19 tuổi, chết trong xe hơi của cô, xe đậu ven đường Arlington, cô bị nhiều vết dao đâm.

Gia đình cô Vanessa Phạm đặt tiền thưởng 20.000 đô cho ai chỉ ra tên sát nhân. Theo tôi suy đoán: tên sát nhân là người Việt, có quen biết với cô Vanessa Phạm. Sát nhân ngồi trong xe nạn nhân, xe do nạn nhân cầm lái, hay tên sát nhân đi một xe khác đưổi theo xe nạn nhân đến đoạn đường đó, nạn nhân ngừng xe, tên sát nhân vào xe dùng dao đâm cô nhiều nhát. Ðường Arlington nhiều xe chạy qua, nhưng không người nào trong những xe chạy qua đấy thấy có gì khả nghi trong chiếc xe đậu bên đường.

Vụ giết cô Vanessa Phạm xẩy ra tới nay đã 2 năm. Nhân viên FBI sẽ bắt dược tên giết mẹ con bà Nguyễn Kiều Oanh, tên giết cô Vanessa Phạm. Ngày nào bọn giết người bị bắt, hai vụ án mạng được giải, tôi sẽ đăng tin ấy trên trang báo này.

Theo ghi nhận trong trí nhớ của tôi, ít nhất có 4 người Việt bị chết trong Parking của EdenCenter; bốn cái chết dữ dội. Người chết thứ nhất là một người đàn ông Việt khoảng 50 tuổi. Vụ này xẩy ra cách nay khoảng 10 năm. Ðang khi trong parking có cuộc lễ kỷ niệm của người Việt, người đàn ông nói trên từ trong một tiệm ăn đi ra, đứng đái ngay bên bàn thờ tổ quốc. Một số người Việt xúm lại đấm đá anh. Anh chết tại chỗ. Vì nhiều người đấm đá, cảnh sát không thể biết ai đánh chết nạn nhân. Người Mỹ gọi những vụ đông người đánh hội đồng chết người như thế là Lynching. Lynching thường không có thủ phạm. Nạn nhân chết thiệt thân, chỉ có vợ con nạn nhân là đau xót.

Án mạng thứ hai: một người bị đâm chết trong vùng sau Tiệm Bánh Mì Số 1. Dường như nạn nhân là một người làm trong Tiệm Bánh Mì Số 1. Tôi không nhớ cảnh sát có bắt được kẻ giết người trong vụ này hay không.

Vụ thứ tư gồm hai người. Án mạng xẩy ra trong parking Eden vào buổi tối. Một người đàn ông khoảng 50 tuổi bị bắn chết, người bắn sau đó tự sát bằng  súng trong xe ô tô.

Người bị bắn trúng phát đạn thứ nhất, bị thương, nhưng còn chạy được, phát đạn thứ hai bắn theo cũng trúng người nạn nhân, ông này ngã xuống chết tại chỗ.

Hai phát đạn súng lục bắn trúng người cả hai. Tôi nhớ năm xưa ở Sài Gòn, những năm 1970, một anh bạn giang hồ của tôi nói:

“Những thằng ru rú xó nhà như mày biết gì về súng đạn mà bầy đặt viết về súng, về chuyện bắn người trúng trật, bắn giỏi, bắn dở. Chúng mày không biết bắn bia là một việc, bắn người là chuyện khác. Tao bắn bia 10 phát trung vòng hồng tâm đến 8 phát. Vậy mà đêm tao bắn thằng T. ở Tự Do. Tao bắn nó 3 phát mà không trúng. Nó chỉ cách tao có 10 thước. Nó chạy, tao bắn theo 2 phát cũng không trúng. Sinh mệnh quan thiên. Sống chết ở Trời. Số nó chưa chết là bắn nó mấy nó cũng không chết.”

Tôi không thích viết về những chuyện người giết người. Tôi chấm hết bài viết này ở đây.

VŨ TRỌNG PHỤNG, NGUYỄN CHÍ THIỆN

Tem Thư NGUYỄN CHÍ THIỆN

Tem Thư NGUYỄN CHÍ THIỆN

Tôi đọc Giông Tố năm tôi mười tuổi, những năm hai mươi, ba mươi, bốn mươi tuổi tôi không lần nào đọc lại Giông Tố — Nhà Xuất Bản Khai Trí Sài Gòn tái bản Giông Tố nhiều lần — nhưng tôi vẫn nhớ từng sự kiện chi tiết truyện Giông Tố, những sự kiện nhỏ trong quyển Giông Tố tôi đọc năm 1940, những sự kiện bị bỏ mất trong những quyển Giông Tố tái bản sau 1945.

Như chuyện Vạn Tóc Mai kể trong tiệm hút: Tây hạ thành Hà Nội, nhà kia bị lính Tây vào — lính Tây đây là chắc là lính người Ấn, người Mã lai, người Phi luật tân được tuyển vào quân đội Pháp — anh chồng trèo lên rường nhà trốn, chị vợ bị lính Tây hiếp. Khi lính Tây bỏ đi, anh chồng xuống đánh vợ.

Hàng xóm can:

“Sao anh lại đánh chị ấy? Chị ấy bị nó hiếp. Chị ấy có muốn thế đâu!”

Anh chồng hậm hực:

“Tôi đánh nó vì lúc nó bị hiếp nó cứ rên lên như là nó sướng lắm..”

Như chuyện Táo Tầu Nghị Hách, chuyện âm mao của Tuyết, chuyện Nghị Hách mần tình với  Thị Tín, chuyện Mịch nằm nghiêng cho Long hưởng thụ ái tình… Tất cả những sự kiện tôi thấy là tuyệt hay tôi nhớ và tôi vừa kể đều bị cắt bỏ, đều không còn trong những bản in Giông Tố tái bản sau năm 1945. Tôi nghĩ: Không ai có quyền cắt bỏ những đoạn ấy.

Tem Thư  VŨ TRỌNG PHỤNG.

Tem Thư VŨ TRỌNG PHỤNG.

Hôm nay tôi viết về chuyện Vũ Trọng Phụng bị những người cộng sản Hà Nội buộc tội “làm mật thám cho Pháp” và tội “chống đối chủ nghĩa cộng sản”, tôi viết về những nguyên nhân làm cho toàn bộ tác phẩm của Vũ Trọng Phụng — Giông Tố, Số Ðỏ, Vỡ Ðê, Dứt Tình, Cạm Bẫy Người, Cơm Thầy, Cơm Cô, Lục Sì, Làm Ðĩ, Trúng Số Ðộc Ðắc..vv.. — bị bọn cộng sản cấm không được tái bản ở miền Bắc Việt từ năm 1958 mãi cho đến năm 1990. Không những chỉ cấm in, cấm dân đọc những tác phẩm của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, bọn đảng viên Bắc Cộng còn vu cáo, chửi rủa, bôi bẩn lên đời tư Nhà Văn họ Vũ.

Tháng Bẩy 1954 Hiệp Ðịnh Geneve được ký, tháng Mười 1954 Việt Minh vào Hà Nội, năm 1956 một số văn nghệ sĩ Hà Nội viết về văn nghiệp của Vũ Trọng Phụng, nhà xuất bản Minh Ðức tái bản những tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Gần như tất cả những văn nghệ sĩ, kể cả Tố Hữu, đều thấy, đều nhận Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có giá trị văn học.

Thế rồi xẩy ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Ðảng Cộng sản, đích danh thủ phạm là Tố Hữu, mở cuộc khủng bố, đàn áp những văn nghệ sĩ đòi được tự do tư tưởng, tự do sáng tác. Nhà văn quá cố Vũ Trọng Phụng bị “đánh” cùng một lúc với những văn nghệ sĩ bị gọi là chống Ðảng. Người “đánh” Vũ Trọng Phụng là Hoàng văn Hoan, anh già vô tích sự, anh già Bình Vôi thứ hai sau Bình Vôi Hồ Chí Minh, anh già đảng viên có tuổi đảng cao nhất thời ấy. Năm 1978 Hoàng Văn Hoan ủng oẳng với Lê Duẩn, bỏ trốn sang Trung Cộng, rồi chết già trên đất Tầu Cộng mà không làm được trò trống gì.

Trên chuyến đi sang Trung Ðông, bọn Tầu Cộng đón Hoàng Văn Hoan ở phi trường Teheran, đưa HV Hoan sang Bắc Kinh. HV Hoan sống ở Bắc Kinh đến ngày y chết.

Trước khi xét HV Hoan, năm 1960, viết những gì về Vũ Trọng Phụng, chúng ta xem lại những dư luận về Vũ Trọng Phụng trong giới văn nghệ Việt Minh trước đó.

Nhà Văn Vũ trọng Phụng với chúng ta. Bài của Trần hữu Tá, viết năm 1999 nhân Kỷ Niệm 60 năm ngày Vũ Trọng Phụng qua đời.

Tại Hội nghị văn nghệ tổ chức ở Việt Bắc (9-1949) chỉ trong một buổi chiều thảo luận, ba nhà văn rất hiểu biết về tình hình văn học trước Cách Mạng Tháng Tám, rất đáng trọng về tài năng và phẩm chất chính trị đã không hẹn mà nên đều nhắc đến Vũ Trọng Phụng. Tác giả Bỉ Vỏ – Nguyên Hồng – đã khẳng định:

“Sáng tạo Số Ðỏ, Vũ Trọng Phụng đã có một thái độ, thái độ không công nhận cái xã hội ấy.” Nguyên Hồng ca ngợi thái độ cách mạng của nhà văn quá cố.

Nhà thơ Tố Hữu trân trọng hơn:

“Vũ Trọng Phụng không phải là cách mạng, nhưng cách mạng cảm ơn Vũ Trọng Phụng”.

Và theo Nguyễn đình Thi, Vũ Trọng Phụng cũng như Balzac: “tác phẩm ghi chép đúng thực tại là đã có giá trị cách mạng rồi.”

Những nhận xét thật khách quan, khoa học và “mắt xanh tri kỷ”.

Những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng (Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê) được in lại và được người đọc đón nhận nhiệt tình Nhà xuất bản Minh Ðức in tập “Vũ Trọng Phụng với chúng ta” gồm các bài viết của Ðào duy Anh, Phan Khôi, Nguyễn mạnh Tường, Trương Tửu, Hoàng Cầm, Văn Tâm. Cũng nhà xuất bản Minh Ðức đã tổ chức kỷ niệm Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Theo Chế lan Viên “Tố Hữu đã giục Nguyễn huy Tưởng làm kỉ niệm Vũ Trọng Phụng ké với Nhà Xuất bản Minh Ðức kì ấy, lúc ta còn trù trừ.” Trong một bài viết cho báo nước ngoài, giới thiệu văn học Việt Nam, khi nhắc đến Vũ Trọng Phụng, Nguyễn đình Thi ca ngợi ông là “tiểu thuyết gia trác tuyệt của văn học Việt Nam” (…) Ðáng chú ý hơn cả, ông Trường Chinh — một trong những vị lãnh đạo chủ chốt của Ðảng Cộng sản Việt Nam — trong báo cáo tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thú hai (1957) đã xếp Vũ Trọng Phụng bên cạnh tên tuổi những nhà văn, nhà thơ gắn bó hết mình với cách mạng như Ngô tất Tố, Nguyễn công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tố Hữu..(…)

Thế nhưng năm 1958 lại có thể được coi là bước ngoặt trong việc đánh giá Vũ Trọng Phụng. Trong một số bài viết quan trọng, ông bị phủ nhận triệt để. Tổng thư ký hội nhà văn Việt Nam Nguyễn đình Thi trong một bài viết nhân dịp kỉ niệm ngày Quốc Tế Lao động năm 1958 đã đi ngược lại với những đánh giá mấy năm trước đó của chính mình. Tác phẩm Vũ Trọng Phụng không còn có “giá trị cách mạng”, nhà văn Vũ Trọng Phụng không còn là “tiểu thuyết gia trác tuyệt của Việt Nam”. Theo Nguyễn đình Thi, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng như tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh “chỉ là hai mặt của cùng một dòng văn học tư sản trước cách mạng. Dòng văn học đó bắt nguồn từ lối sống mục nát của những lớp người trưởng giả bóc lột hoặc ăn bám bóp hầu bóp cổ nhân dân lao động”. Thật khó hiểu trước sự thay đổi thái độ, quan điểm quá nhanh và quá lớn của Nguyễn Ðình Thi.

Tiêu biểu hơn cả là bài viết về Nhà Văn Vũ Trọng Phụng của ông Hoàng văn Hoan.  Ông này viết:

“Vũ Trọng Phụng sống một cách bừa bãi, trụy lạc, chơi bời lung tung, có thể nói là một người sống để mà sống, để hưởng lạc, không có lý tưởng lành mạnhDưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, cách mạng và người cách mạng đã bị xuyên tạc méo mó, quan niệm của Vũ Trọng Phụng đối với dân tộc càng bỉ ổi.”

HV Hoan viết:

“Xét về khuynh hướng văn học, văn Vũ Trọng Phụng là loại văn học đồi trụy, văn học đầu cơ. Chính vì đầu cơ, nên Vũ Trọng Phụng đã có tiền, có xe ôtô đưa đón đi hút thuốc phiện và công khai viết báo chửi cộng sản!”

Bạn vừa đọc vài đoạn trích bài viết về Vũ Trọng Phụng của Hoàng văn Hoan. Tháng 6 năm 1960 ở Hà Nội, Hoàng văn Hoan là Ủy viên Bộ Chính Trị Ðảng Lao động VN, tức đảng Cộng sản. Y tham dự những buổi thảo luận về Vũ Trọng Phụng với tư cách cá nhân. Sau đó y gửi bài viết của y về Vũ Trọng Phụng đến tạp chí Nghiên Cứu Văn Học. Người chủ trương tạp chí NC Văn Học năm ấy là Ðặng Thái Mai đã không đăng bài viết của HV Hoan, nhưng bài viết vẫn được lưu truyền trong giới văn nghệ sĩ. Vì quá sợ bọn trong Bộ Chính Trị Ðảng CS, vì nhóm Nhân Văn Giai Phẩm vừa bị “đánh” tàn nhẫn, đánh đến rập đầu, quì mọp vẫn còn bị đánh, đánh chết dở vẫn không tha, tất cả văn nghệ sĩ đều câm miệng. Tố Hữu, Trường Chinh cũng im tiếng, Vũ Trọng Phụng bị HV Hoan “chôn” từ đấy.

Một vài ý kiến về tác phẩm Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam.” Ðấy là đầu đề bài viết của HV Hoan. Mở đầu HV Hoan đánh nhóm Nhân Văn Giai Phẩm.

HV Hoan: Năm 1956, trong lúc bọn Nhân Văn Giai Phẩm điên cuồng tiến công vào sự lãnh đạo của Ðảng, đặc biệt là lãnh đạo về văn nghệ, thì tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được nêu lên và được coi là đỉnh cao của văn học Việt Nam trong thời gian giữa hai cuộc đại chiến thế giới. Bọn NVGP qua sự lũng đoạn các cơ quan văn hóa, đã in lại hàng nghìn cuốn những tiểu thuyết của VT Phụng, truyền bá rộng rãi trong nhân dân và làm giáo tài về khoa Văn ở một số trường học. Việc làm đầy ý thức của chúng cốt để chứng minh rằng: chỉ có văn chương trước Cách Mạng Tháng Tám mới có giá trị, còn sau Cách Mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhà văn phải phục vụ chính trị, phục vụ công nông binh, nghĩa là nhà văn đã mất tự do, nên văn chương chẳng ra hồn. Chúng đã nói ra mặt rằng: một nhà văn thiên tài như VT Phụng thì chẳng cần cách mạng, chẳng cần phải Ðảng lãnh đạo cũng vẫn có thể có tác phẩm tốt. Chúng cho rằng VT Phụng là nhà văn hiện thực chủ nghĩa xuất sắc nhất của chúng ta, chúng nói VT Phụng đã chết với thời gian, nhưng tác phẩm của anh sống vĩnh viễn với lịch sử văn học, chúng nói VT Phụng là bậc thầy của giới văn chương, VT Phụng là cách mạng hơn cả Ðảng.

Nhưng việc làm đầy ý thức của chúng vẫn không mang lại kết quả mong muốn. Rất nhiều người đã viết thư cho các báo và các cơ quan có trách nhiệm văn hóa, yêu cầu đình chỉ ngay việc xuất bản tác phẩm VT Phụng, đình chỉ ngay việc giảng dạy tác phẩm đó trong các trường. Sau một thời gian đấu tranh, bọn NVGP bị vạch trần, đã cúi đầu nhận lỗi trước nhân dân, và sau khi phát hiện VT Phụng là thư ký tòa soan của Ðông Dương Tạp Chí, đã viết bài công khai chửi cộng sản và Quốc tế cộng sản, thì việc yêu cầu đó mới được thực hiện. (…)

Các đồng chí ta đều biết VT Phụng công khai chửi Ðảng và chửi Quốc tế Cộng sản mà sao lại quan tâm đến tác phẩm VT Phụng một cách sâu sắc như thế? Chắc chắn đó phải là những áng văn chương có cái gì quí giá đặc biệt, nếu không đưa vào văn học sử Việt Nam thì sẽ là một sự đáng tiếc chăng? Ðể giải quyết lúng túng này, tôi đã tìm đọc ba quyển Số đỏ, Giông tố và Vỡ đê của VT Phụng viết hồi 1936 là hồi cao trào cách mạng, mà người ta đã coi là “bậc thầy”, “đỉnh cao của văn học”…

CTHÐ: Ðoạn viết của HV Hoan ta vừa đọc cho ta thấy hai chuyện:

1 — HV Hoan chưa bao giờ đọc VT Phụng, y mù tịt về những tác phẩm của VT Phụng. Như lời cung khai của y, đến lúc cần viết về VT Phụng y mới tìm đọc ba tác phẩm nòng cốt của VT Phụng là Số đỏ, Giông tố, Vỡ đê. Tôi nghi không phải chính HV Hoan là người viết bài về VT Phụng, một tên văn sĩ tay sai nào đó đã viết bài để cho HV Hoan ký tên.

2 — Nguyên nhân làm HV Hoan cay cú và căm thù VT Phụng là “VT Phụng đã viết tố cáo những sai lầm và những tội ác của Ðảng Cộng sản Nga, đã tố cáo đích danh bọn Mạc tư khoa gây ra những cuộc biến động trên thế giới”, đã ví Stalin với Ấm B, đã xếp Chúa Ðỏ ngang hàng với tay cờ bạc bịp trong phóng sự Cạm Bẫy Người. Ðây là lời HV Hoan viết trong bài “Một vài ý kiến về tác phẩm Vũ trọng Phụng…”

HV Hoan: Ðối với Ðảng Cộng sản, Vũ Trọng Phụng viết: “có thể nói rằng những cuộc rối loạn xảy ra trên khắp mặt địa cầu phần nhiều do bàn tay bí mật của Mạc tư khoa gây nên, thì những cuộc thua xiểng liểng của bọn thờ “chủ nghĩa đổ bác” ở khắp Bắc kỳ cũng đều do cái bàn tay bí mật của ông Ấm B. (ý muốn nói Bolchevich) dính vào vậy. Hơn hẳn Stalin một phương diện. Ấm B. đã đặt cho tòa nhà mình ở Phố Hàng Cá là “kinh đô đảng bạc bịp”, trong khi Stalin chưa được lúc gọi “Moscou, Capital du Monde”. (Cạm bẫy người, trang 56-theo VT). Ðây là chưa kể những bài công khai chửi Quốc tế cộng sản trên mặt báo.

CTHÐ: Bồi bút Hoài Thanh, về hùa, theo đuôi, bám đít HV Hoan, viết về chuyện VT Phụng đả kích Nga Cộng trong bài “Tiếp thu phải có phê phán”:

Gần đây, chúng ta có nhắc đến bài báo dài của Vũ Trọng Phụng: “Nhân sự chia rẽ của Ðệ Tam và Ðệ Tứ quốc tế”, đăng trên Ðông Dương tạp chí vào tháng 9 và tháng 10-1937 và sau đó bọn tờrốtkít đem in lại thành tập cho dễ phổ biến. Tài liệu ấy chứng tỏ Vũ Trọng Phụng nhìn Ðảng rất sai, thậm chí đã đả kích vào Ðảng và ngả theo bọn tờrốtkít.”

Như vậy ta thấy nguyên nhân làm cho những người cộng sản Việt Nam ở Hà Nội mạ lỵ, vu khống nhà văn Vũ Trọng Phụng là vì nhà văn chống Cộng sản, chống những tàn ác của cộng sản. Không phải đến những năm 1955, 1960 mới có người Việt chống đảng cộng sản — nhà văn Vũ Trọng Phụng đã chống Cộng từ năm 1933 — những người cộng sản Việt không thể vu cho nhà văn chống Cộng ăn tiền của CIA Mỹ, họ vu cho nhà văn cái tội còn bẩn thỉu hơn là tội « làm mật thám cho Tây », người cộng sản ba láp Hoàng văn Hoan dựng lên chuyện “nhà văn VT Phụng được Pháp chi tiền, cho xe ôtô đưa rước đi hút thuốc phiện,” một chuyện mà những văn nghệ sĩ cùng thời với Vũ Trọng Phụng lúc đó sống nhăn ở Hà Nội như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, Tô Hoài, Ngô Tất Tố, Vũ Ðình Liên biết là không có nhưng tất cả đều câm miệng hến, không ai dám hé răng nói nửa lời chống lại hành động vu cáo hèn mạt ấy.

Thời gian qua… 1960-1986… Cộng sản Việt thắng trận chiến tranh Việt Nam nhưng chủ nghĩa cộng sản lụn bại trên khắp thế giới, nhân dân Ba Lan vùng lên đập phá gông cùm cộng sản từ năm 1980, đảng Cộng sản Nga mất quyền độc đảng, Liên Xô — thành trì  cộng sản thế giới — xụp đổ tan tành không còn mảnh vụn. Những người cộng sản Việt Nam không thể không đi vào cuộc đổi mới, Tổng bí thư Nguyễn văn Linh tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ”, nền văn nghệ-báo chí bị rọ mõm dưới chế độ cộng sản bắt đầu ngọ nguậy, ve vẩy đuôi, le lưỡi, hít hà. Tên tuổi Vũ Trọng Phụng được nhắc đến, những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nằm trong những đáy tủ thời gian dài trong 26 năm được lấy ra, phủi bụi, lau chùi, đánh bóng, được nâng niu, hôn hít, được bưng lên đặt trên bàn thờ, bọn văn nô sì sụp quì lậy, phóng sự tiểu thuyết Số Ðỏ được thực hiện thành phim.

Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số tháng 3-4-1988 đăng bài “Vài ý kiến nhỏ” của Chế Lan Viên:

Chế Lan Viên: …Sau khi chỉnh huấn, phân biệt bạn thù, phe nó, phe ta, thì anh (VT Phụng) là người của phe ta. Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, qua giảm tô, cải cách ruộng đất, anh là người của phe ta. Về Hà Nội, trước các nhố nhăng của tư sản, anh lại càng là người của phe ta. Không phải chỉ tôi thấy như thế mà anh Trường Chinh cũng thấy như vậy khi anh xếp Vũ Trọng Phụng ngang hàng Nam Cao, Ngô tất Tố, Nguyễn công Hoan, Tố Hữu. Và Tố Hữu cũng thấy như vậy khi anh giục Nguyễn huy Tưởng kỉ niệm Vũ trọng Phụng ké với nhà xuất bản Minh Ðức tổ chức lễ ấy, lúc ta còn trù trừ.

Ấy thế mà đùng một cái, Vũ Trọng Phụng đang từ phe ta bỗng bị đẩy sang phe nó. Vừa rồi, anh Trần hữu Tá có công bố một tư liệu về “vụ”ấy. Ở đây, chỉ nhân cái vụ ấy, tôi muốn xin phép đặt một vấn đề này để suy nghĩ. Là cái nhớ tiềm thức có giá trị gì không bên cái biết nhờ kiến thức? Cố nhiên cái nhớ của anh Tố Hữu, của tôi là những người miền Trung, xa anh Vũ Trọng Phụng không đáng kể lắm. Nhưng cái ấn tượng, cái nhớ của anh Trường Chinh, sống giữa Hà Nội, cùng làm báo một thời với Vũ Trọng Phụng là phải tính đấy. Huống gì anh Trường Chinh lại là người lãnh đạo cách mạng, ai phe ta, phe nó, cái gì là nó, cái gì là ta, anh ở giữa vòng vây của địch, của mật thám, nhất nhất anh phải nhận ra ngay. Thế mà suốt một cuộc kháng chiến, về đến Hà Nội, anh vẫn nhớ ra Vũ Trọng Phụng là người của mình kia mà. Tại sao các nhà phê bình ta lúc ấy không tôn trọng sự nhớ ấy? Chỉ một vài lời phán, một vài tư liệu đâu đâu đã lật ngược, xóa nhào tất cả. Thật đáng buồn!

CTHÐ: Anh Chế Lan Viên buồn nôn viết bậy. Vũ Trọng Phụng không bao giờ ở trong phe cộng sản. Không những chỉ không bao giờ ở trong phe Cộng, Vũ Trọng Phụng còn tích cực chống Cộng, đúng ra là tố cáo, lên án những sai lầm, những tội ác của bọn Cộng Nga. Ngay từ năm 1932, khi tuyệt đại đa số dân Việt Nam chưa biết chủ nghĩa cộng sản là gì, Vũ Trọng Phụng đã chống cộng sản, bằng chứng là những bài báo VT Phụng phê phán âm mưu quấy phá thế giới hòng nhuộm đỏ thế giới của Chúa Ðỏ Stalin. Ngoài văn tài, tôi – CTHÐ – thán phục VT Phụng ở điểm ông có năng khiếu sắc bén về chính trị, ông đã nhìn thấy tính ác độc của những đảng viên cộng sản trước đồng bào của ông những năm mươi năm, ông đã chống Cộng trong khi những người được coi là “học giả” cùng thời với ông như Ðặng thái Mai, Bùi Kỷ, Lê Dư vẫn mù tịt về cộng sản. Ông đã một mình lên tiếng chống lại những người cộng sản. Nói ông làm việc ấy vì tiền của Pháp, nói người Pháp chi tiền cho ông làm công việc chống Cộng  là nói láo.

Anh Chế lan Viên Lè Phè, kẻ suốt một đời bợ đít bọn Trường Chinh, Lê Duẩn, Tố Hữu.., mãi đến năm 1988 — 28 năm sau năm Vũ Trọng Phụng bị bôi nhọ, bị phết bẩn, bị chửi bới tàn tệ ở Hà Nội — mới lè phè góp tiếng. Trong bài nói chuyện ngắn không có ý tưởng gì mới cả anh vẫn bợ đít Trường Chinh, anh nâng bi Trường Chinh là “nhà lãnh đạo biết hết mọi chuyện”, lời nói của anh cho ta thấy rõ hơn tính cách bỉ ổi của bọn đầu xỏ cộng sản: Trường Chinh từng ca tụng Vũ Trọng Phụng, y biết Vũ Trọng Phụng không bao giờ làm mật thám cho Tây, y thấy Hoàng văn Hoan kết tội VT Phụng làm mật thám cho Tây là láo, nhưng y cứ ngậm miệng, y cứ để mặc.

Chế Lè Phè nói Trường Chinh “cùng làm báo một thời với VT Phụng”, lời đó tôi nghi cũng là nói láo. Tôi chưa từng nghe, từng đọc ở đâu chuyện trước 1945 anh Ðặng xuân Khu có thời làm báo, viết báo. Anh Lê Duẩn còn có thời hành nghề công nhân Sở Hỏa Xa Ðông Dương, anh giữ việc bẻ ghi đường tầu, nhưng Trường Chinh Ðặng xuân Khu dường như là anh vô nghề nghiệp. Kể cũng lạ, nghề văn, nghề báo vẫn bị mang tiếng là không nuôi nổi người, những người viết văn, làm báo vẫn bị rè bỉu là bọn sống trụy lạc, trác táng, lưu manh, viết khiêu dâm, viết láo — nhà báo nói láo ăn tiền — nhưng có không ít người vẫn cứ tự nhận mình là nhà văn, nhà báo. Phải chăng vì những người làm văn, viết báo có một cái hào quang hấp dẫn mà những người làm các nghề khác không có, đặc biệt là hấp dẫn những nữ độc giả — những nữ độc giả thân mến của bổn báo, những nữ độc giả thường bỏ tiền mua báo chứ không đọc báo cọp — ở Sài Gòn những năm 1960 thường xẩy ra chuyện có những anh ca la bương tự nhận là văn sĩ nổi danh, là người viết có tiểu thuyết đang ăn khách, đi lừa các nữ độc giả. Có lần một thiếu nữ bồng con đến tòa báo Lẽ Sống tìm người viết Ngọc Linh — người viết tiểu thuyết Ngọc Linh đã tạ thế ở Sài Gòn, thọ 72 tuổi — cô nói cô là vợ Ngọc Linh, con cô bồng trên tay là con Ngọc Linh, Ngọc Linh bỏ mẹ con cô nên cô đến tòa báo tìm. Tòa báo cho người đi mời Văn sĩ Ngọc Linh đến gấp để cô nhìn mặt. May quá Ngọc Linh Mái Tóc Dĩ Vãng không phải là anh chàng tự nhận Ngọc Linh văn sĩ đi gạt tiền, gạt tình.

Trong thời gian Vũ Trọng Phụng và những tác phẩm của ông bị bôi nhọ, bị vùi dập, bị lãng quên ở Hà Nội — từ 1960 đến 1988 — thì ở Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, Vũ Trọng Phụng được tôn trọng, những tác phẩm Giông Tố, Số Ðỏ vv..vẫn có người đọc, toàn bộ tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được tái bản đều đều, được in và lưu hành tự do. Người đọc có thể đến nhà sách Khai Trí, hay bất cứ tiệm sách nào trong nước, tìm mua, dễ dàng, có ngay, bất cứ tác phẩm nào của Vũ Trọng Phụng. Chính quyền và văn giới Việt Nam Cộng Hòa không ca tụng Vũ Trọng Phụng thái quá, cũng có những bài phê bình văn phẩm Vũ Trọng Phụng, những bài viết, những số tạp chí đặc biệt về văn nghiệp của ông, thân thế ông. Nhưng với giọng điệu rất vừa phải. Chúng ta tôn trọng, yêu mến Vũ Trọng Phụng nhưng chúng ta không bốc ông lên mây xanh, chúng ta trang trọng, nhưng không khúm núm trước ông, không công kênh ông, chúng ta đặt ông vào đúng chỗ của ông trong văn học sử. Cũng trong thời gian đó những anh cộng sản ở Hà Nội sau khi vứt Vũ Trọng Phụng xuống cống nay lại moi Vũ Trọng Phụng lên, hôn hít, ca tụng…

Năm 1960 khi Hoàng văn Hoan kết tội láo Vũ Trọng Phụng, tất cả văn nghệ sĩ Hà Nội, nếu không hùa theo chửi hôi, đều câm như hến, Trường Chinh, Tố Hữu cũng ngậm miệng.. Thời gian qua.. Những ngày như lá, tháng như mây… 27 năm sau Ủy Viên bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng Cộng Sản Oai Như Hạch Hoàng văn Hoan được một người Hà Nội nhắc đến như sau:

Vũ Trọng Phụng và niềm căm uất không nguôi. Người viết Nguyễn đăng Mạnh, báo Thể Thao & Văn Hóa Việt Cộng số 42, ra ngày 17-10-1987.

Một điều may mắn đối với những giá trị văn học, thời gian vẫn là người thẩm định công minh nhất. Nhớ hồi năm 1960, có một kẻ kia đã viết hẳn một bài “nghiên cứu” đánh giá Vũ Trọng Phụng chỉ được có một tài xỏ xiên và gọi ông là một cây bút lưu manh. Sự nghiệp Vũ Trọng Phụng hồi ấy tưởng chừng bị dìm sâu xuống bùn đen không sao ngoi lên được nữa. Nhưng kẻ phát ra ý kiến ấy sau này đã trở thành một tên đại phản quốc, trong khi đó Vũ Trọng Phụng cứ từng bước được giải oan, chiêu tuyết. Giới nghiên cứu lại viết về ông. Rồi Vỡ Ðê được tái bản và Vũ Trọng Phụng trở lại chương trình văn học sử ở đại học. Và không lâu nữa Tuyển Tập Vũ Trọng Phụng sẽ ra mắt bạn đọc.

CTHÐ: Ðồng chí Ủy viên Bộ Chính Trị Ban Chấp hành Trung Ương Ðảng Cộng sản Việt Nam, người đảng viên cộng sản lão thành có tuổi đảng cao hơn tuổi đảng của Chủ Tịch Hồ chí Minh, người đồng chí trung kiên của Chủ Tịch… mà lại là “tên đại phản quốc..?” Ðồng chí khả kính Hoàng văn Hoan là Việt Gian? Kỳ dzậy? 27 năm sau ngày Hoàng văn Hoan kết tội láo văn tài Vũ Trọng Phụng, mười mấy năm sau ngày Hoàng văn Hoan chết già bên Tầu, người viết Nguyễn đăng Mạnh ở Hà Nội vẫn không dám gọi thẳng tên y, vẫn phải nhắc đến y một cách mơ hồ là “kẻ kia”. Người viết Nguyễn đăng Mạnh không dám, và không thể gọi đích danh Hoàng văn Hoan vì gọi đích danh anh sẽ phải nhắc đến việc Việt Gian Ðại Phản Quốc Hoàng văn Hoan là Ủy viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng..!

Hôm nay 70 năm sau ngày Nhà văn Vũ Trọng Phụng qua đời, tôi sống liêu lạc ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, tôi viết những dòng chữ này về Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Tôi nghĩ nếu không từ trần về bệnh lao phổi năm 1938 Nhà Văn Vũ Trọng Phụng sẽ khó sống nổi với những người cộng sản Việt những năm 1945, 1946. Những người cộng sản Việt Nam sẽ giết ông trong năm 1945 hay năm 1946 như họ đã giết các ông Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Sâm… Những năm trước 1945 các ông Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật chỉ viết tiểu thuyết, đâu có ông nào công khai viết đả kích cộng sản Nga và Stalin như ông Vũ Trọng Phụng. Vậy mà ba nhà văn đó đã bị bọn đảng viên Công sản Việt Nam cắt cổ, cho đi “mò tôm” *,  Nhà Văn Vũ Trọng Phụng chửi ông nội của bọn Cộng là Stalin, làm sao ông thoát được tay chúng nó!.

Rùng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 28 Tháng 11, năm 2012, viết thêm:

Tháng 10, 2012, bọn Cộng Hà Nội phát hành Tem Thư in hình Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Bọn Cộng Hà Nội làm Tem Thư in hình Hồ chí Minh, Các Mác Trần Văn Giầu, nhưng không có Tem Thư in hình các ông Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu. Cho đến nay, Vũ Trọng Phụng là Nhà Văn Việt Nam Thứ Nhất và Duy Nhất đựợc ghi danh bằng Tem Thư.

Một ngày sẽ tới những người Việt đến cõi đời này sau chúng ta có thể thấy Tem Thư in hình Nhà Văn Phan Khôi, Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện.

Tại sao lại không?

Hồng Dương. Trịnh Viết Thành

Những năm 1947, 1948 – Thế Kỷ Hai Mươi – khi tôi đi chân đất đưa thư tay trong vùng đồng đất Bắc Ninh – Bắc Giang – tên Việt Minh là Bắc Bắc – ba chàng thanh niên Hà Nội: Hoàng Anh Tuấn, Trần Bích Lan, Trịnh Viết Thành lên phi cơ Air France từ phi trường Gia Lâm, Bắc Việt, bay sang nước Pháp. Tôi nghe nói ông Hoàng Anh Tuấn sng Pháp trên tầu biển Pháp năm 1950.

Năm 2000, Ký giả Hồng Dương, Việt Kiều về thăm Sài Gòn, đến gặp Chú Tư Cầu Lê Xuyên ở tủ thuốc lá lẻ của chú Tư trên vỉa hè đường Bà Hạt.

Năm 2000, Ký giả Hồng Dương, Việt Kiều về thăm Sài Gòn, đến gặp Chú Tư Cầu Lê Xuyên ở tủ thuốc lá lẻ của chú Tư trên vỉa hè đường Bà Hạt.

Ba chàng cùng trạc tuổi tôi, ra đời trong những năm 1932, 1933, 1934. Ba chàng sang Pháp du học. Những năm 1954, 1955, ba chàng trở về Sài Gòn, Ông Trần Bích Lan là giáo sư Triết, nổi tiếng là Thi sĩ Nguyên Sa – Paris có gì lạ không Em? Mai Anh về, Anh có còn Em? Chỉ biết lòng mình là hương cốm. Chẳng biết tay ai là lá sen – Tôi đã viết nhiều về Thi sĩ Nguyên Sa, Trong bài hồi tưởng-hoài niệm-tri ân Bạn Tốt này, trong ba người, tôi chỉ viết nhiều về Trịnh Viết Thành.

Tôi gặp Trịnh Viết Thành lần thứ nhất – khoảng năm 1953 hay 1954 – ở bàn viết của Thanh Nam trong Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Hôm ấy tôi ghé thăm Thanh Nam, TV Thành từ Pháp mới về cũng ghé thăm ThanhNam. Tôi được Thanh Nam cho biết xước danh của Thành là Thành Nham Nhở.

Hai tiếng Nham Nhở gán cho Thành không mang nghĩa “đểu cáng.” Nham nhở đây có cái nghĩa của tiếng Pháp “Cynique.” Tôi không tìm được tiếng Việt nào có cái nghĩa của tiếng Cynique. Người Cynique theo tôi là người hay nói thẳng, nói trắng trợn  những chuyện cần nói bóng gió, cần che đậy của người đời. Nói làm người ta khó chịu. Như một chiều Thành và tôi ngồi trong Nhà La Pagode. Bàn bên có anh bạn Nhà Văn-Nhà Báo đi với cô bạn của anh. Trời Sài Gòn lất phất mưa. Khi đi, ông Nhà Văn đưa cái áo mưa của cô bạn lên cho cô xỏ tay.

Thành nói:

“Mặc quần cho em mới hay chứ, mặc áo cho em thì ăn thua gì.”

Một chiều ở Ngân Ðình Tửu Gia, nhà hàng Cơm Tây, Cơm Tầu trên bờ sông Sài Gòn – tên hàng ăn này trước năm 1956 là Point des Blagueurs – ông Nhà Văn trẻ hào hoa phong nhã xách cái hộp trang điểm của cô đào xi-la-ma Giao Chỉ đi vào. Cái hộp đồ trang điểm của cô diễn viên giống cái hòm gỗ đồ nghề toong-đơ, dao cạo của các ông thợ hớt tóc dạo.

Thành hỏi ông Nhà Văn:

“Ê mày….. Viết văn không khá, mày đổi nghề, bây giờ mày làm thợ hớt tóc dạo?”

Trịnh Viết Thành, như Hoàng Anh Tuấn, có năm, sáu năm ăn học ở Pháp, nhưng công lực tiếng Phú-lang-sa của hai ông không hơn tôi bao nhiêu. Thành có năng khiếu về làm báo. Anh làm thư ký tòa soạn nhiều nhật báo ở Sài Gòn. Chức vụ thư ký tòa soạn cuối cùng của anh – trước Ngày 30 Tháng Tư 1975 Ðen Hơn Mõm Chó – là thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường, tờ nhật báo của ông Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Ðốc Công An-Cảnh Sát chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1965, hay 1966, Nhật báo Tiền Tuyến ra đời, Báo của Cục Tâm Lý Chiến, nhân viên tòa soạn một nửa là quân nhân, một nửa là dân sự. Thành là thư ký tòa soạn Tiền Tuyến. Khi anh bỏ Tiền Tuyến  để sang làm một nhật báo khác do các bạn anh chủ trương, anh yêu cầu toà báo cho tôi – H2T- làm thư ký tòa soạn thay anh.

Năm ấy đời tôi đang đi vào chu kỳ xuống dzốc không phanh, Série Noire de Luxe, Sau bẩy, tám năm phây phây, phơi phới làm nhân viên toà soạn Nhật Báo Sàigònmới, viết tiểu thuyết quanh năm cho Nhật báo Ngôn Luận, các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Màn Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai; Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị hạ sát, Sàigòmới, Ngôn Luận bị Ðỗ Mậu – Nguyễn Khánh đóng cửa cùng trong một ngày. Tội gán cho hai báo vừa kể là tội “ Tay sai Nhà Ngô,” tôi không có nhật báo nào để làm. Ðang kiếm 20.000 đồng một tháng, thời gian đen tối ấy tôi chỉ kiếm được khoảng ba, bốn ngàn đồng một tháng. Nhờ bán mấy cái truyện ngắn cho mấy tờ tuần báo. Thời gian này kéo dài đến hơn một năm

Thành nhớ tới tôi, Thành đi tìm tôi:

“Tao đã nói với Ðại Tá Vũ Quang, với Lê Ðình Thạch, Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, mày vào Tiền Tuyến thế chỗ của tao. Xong cả. Sáng thứ hai này mày đến làm, không phải hỏi ai mà cũng không chờ ai gọi.”

Hồng Dương trên xe lăn, Cali 2012.

Hồng Dương trên xe lăn, Cali 2012.

Nhờ Thành, tôi trở lại làm báo với công việc trong tòa báo Tiền Tuyến, tôi lại có việc làm có lương tháng; tôi mở đầu loạt truyện Ðiệp Viên O07 bằng truyện Thầy Nô – Doctor  No – nơi trang trong báo Tiền Tuyến. Ðời tôi tuy không lên hương, không phơi phới như  những năm trước 1963 nhưng nhờ Thành, tôi sống được. Nhờ Thành, tôi gượng dậy được.

Trong thời gian ở Pháp, Thành kết hôn với cô em gái của Trần Bích Lan. Vợ chồng Thành có một, hay hai đưá con, Về Sài Gòn, Thành lấy cô vợ hai. Vợ Thành ly dị, chị sang Pháp sống, giao con cho ông anh bảo dưỡng, giám hộ. Kể Thành lấy vợ hai là không đúng, Thành bỏ vợ, đi sống với vợ mới. Thành không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu.

Ông Giám Hộ Nguyên Sa cho con của Thành vào học, ở nội trú trong Trường Taberd. Một hôm, Thành tìm tôi:

“Nguyên Sa nó cấm không cho tao vào trường gặp con tao, không cho tao đón con tao ra trường. Nguyên Sa nó trọng dư luận bọn văn nghệ sĩ lắm. Mày  bảo nó cho tao được gặp con tao.”

Tôi đến gập Nguyên Sa:

“Thằng Thành nó nhờ tao đến nói với mày. Cho nó vào Taberd gặp con nó. Cấm không cho bố con nó gập nhau làm gì.”

Nguyên Sa nói:

“Tao ghét nó. Chẳng thà nó nghiện thuốc phiện đi. Nó lại có vợ bé. Trò nhà quê.”

Như vậy là ông Thi sĩ cho anh ký giả, anh văn nghệ sĩ nghiện thuốc phiện thì được, có vợ bé là không được, là làm trò nhà quê.

Năm 1967 cuộc tình của Alice và tôi gặp khủng hoảng, Alice bỏ đi, tôi vất vả, vất vưởng tìm Nàng, mong chờ Nàng trở về. Một tối Thành đến tìm tôi trong căn phòng tôi sống một mình ở đường Hồ Biểu Chánh, cạnh nhà Duy Sinh. Phòng này do Lê Trọng Nguyễn ở trước, Nguyễn lấy vợ, có nhà riêng, phòng để lại cho tôi. Thành bảo tôi:

“Mày đừng có quá buồn. Vợ chồng lấy nhau vì tình thường đến tám năm, mười năm là có một cái crise. Nếu vượt qua được, vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.”

Thành không nói: “Vượt qua không được là vợ chồng mày xa nhau luôn.” Tôi biết Thành không nỡ nói ra câu đó. Trịnh Viết Thành là người bạn tốt của tôi, tôi nhớ ơn Thành.

Dòng thời gian dài một ánh bay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Cùng với anh em, Thành đi tù, tôi đi tù. Năm 1990 tôi đi tù lần thứ hai trở về. Tôi được biết Thành bị tù ở Trại Khổ Sai Gia Trung – Gia Lai, đã về năm 1988. Vợ Thành bỏ Thành. Tôi nghe anh em kể khi lên trại thăm nuôi Thành, vợ Thành gặp lại người tình cũ của chị, người tình trước khi chị gặp Thành. Người đàn ông này cũng là tù nhân cùng trại với Thành. Anh này được về Sài Gòn trước Thành, chị vợ Thành bỏ Thành để sống với anh này.

Thành đau ốm. Một trưa mùa mưa tôi đến Nhà In Nam Sơn, đường Nguyễn An Ninh, tìm Thành. Nhà In Nam Sơn của bà mẹ Thành. Người em trai của Thành làm chủ nhà in này.

Khi tôi đến Nhà In Nam Sơn không còn nữa. Máy in bị VC đưa đi hết. Tầng dưới là cửa hàng, nhà kho của Quận, tầng gác  nhất là nơi ở của cán bộ, Thành ở từng lầu thứ hai, từng cao nhất nhà.

Nơi này trước là nơi ở của bà mẹ Thành. Sân gác có một điện thờ, bồn hoa, cây cảnh. Thành sống một mình ở đây. Cơm nước có người nhà mang đến. Thành gầy ốm quá. Thấy tôi, Thành gọi ngay tên tôi:

“Hoàng Hải Thủy.”

Tôi thấy lạ vì tôi gặp Thành lần cuối trưa ngày 29 Tháng Tư 1975. Lần ấy Thành vào Nhà USIS tìm tôi xem có đi nhờ đường USIS được không. Sau lần đó chúng tôi cùng kẹt ở Sài Gòn nhưng không một lần chúng tôi gặp lại nhau. Cho đến buổi trưa năm 1990 này Thành và tôi không gặp nhau trong 15 năm. Tôi đến tìm Thành, tất nhiên tôi nhìn ra Thành ngay. Còn thấy tôi bất ngờ đến sau 15 năm không gặp, Thành vẫn nhận ra tôi ngay.

Thành nói anh sắp đi sang Pháp, con gái anh ở Pháp bảo lãnh anh. Con gái của Thành chắc là con của anh với bà vợ em gái Nguyên Sa. Thành nói hồ sơ đã xong nhưng anh bệnh quá, phải điều trị ít lâu cho khoẻ mới đi khám sức khoẻ được.

Tôi chỉ gặp lại Trịnh Viết Thành sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 có lần ấy. Khoảng một tháng sau tôi trở lại thăm Thành,  thấy cửa phòng đóng, có cái khoá bên ngoài. Trở xuống, tôi hỏi người ở phòng tầng lầu nhất về Thành. Người ta nói:

“Bác Thành mất rồi, bác ơi.”

o O o

Hồng Dương vào làm trong tòa soạn Nhật báo Ngôn Luận khoảng năm 1957, 1958. Năm ấy Nhật báo Ngôn Luận đã sống vững, Chủ nhiệm Hồ Anh ăn nên, làm ra, có nhà in riêng, mở lớn tòa soạn, lấy thêm nhân viên là Hồng Dương, Phan Nghị, hai họa sĩ Văn Hiếu, Huy Tường.

Hồng Dương trẻ hơn tôi khoảng bẩy, tám tuổi, anh có tên Hồng Dương vì trước đó anh là võ sĩ Quyền Anh – boxeur – Lò Võ Hồng Việt. Tất cả những võ sinh Lò Hồng Việt đều có tên Hồng. Tôi quen ba võ sĩ Hồng Việt là  Hồng Dương, Hồng Cương, Hồng Trực. Võ sĩ Hồng Dương từng lên đài trong những năm 1955, 1956.

Ký giả Hồng Dương Nguyễn Hữu Hùng đẹp trai, sống sạch, đàng hoàng, anh không ngồi cả buổi đấu láo, uống la ve ở tiệm như nhiều ký giả cùng thời, anh không nghiện ngập, anh có số đào hoa nhưng không bị tai tiếng, không bị nàng nào thù hận. Tôi thường nói về Hồng Dương với người ngoài làng báo:

“Alain Delon của chúng tôi đấy.”

Hồng Dương kết hôn với Linh Linh Ngọc khoảng năm 1961. 1962. Tôi dự tiệc cưới của hai người. Tháng Tư năm 1964 nhật báo S2igònmới, nhật báo Ngôn Luận – hai Nguồn Tiền của tôi – bị đóng cửa cùng trong một ngày, một giờ. Nhắc lại: tôi rơi vào chu kỳ thất nghiệp, túng tiền, không nhìn thấy việc làm đàng hoàng ở đâu.

Nhật báo Chính Luận ra đời. Nhật báo Chính Luận thế chỗ của Nhật báo Ngôn Luận. Gần như toàn bộ nhân viên tòa soạn, ty trị sự Ngôn Luận sang làm cho Chính Luận. Từ Chung Thư ký tòa soạn Ngôn Luận làm thư ký toà soạn Chính Luận. Từ Chung và tôi thân nhau, chúng tôi mày tao với nhau. Tôi được mời viết tiểu thuyết cho Chính Luận. Nhưng tôi nhận tiền dưa trước mà tôi bê bối, tôi không đưa bài. Từ Chung đến nhà tôi tìm tôi nhưng không gặp tôi.

Từ Chung giận tôi, sau đó tuy cần báo đăng tiểu thuyết, tôi không mặt mũi nào đến gặp Từ Chung, nói:

“Xếp chỗ cho tao viết.”

Tôi đành chịu túng thiếu. Vợ chồng tôi về ở trong một căn nhà nhỏ, vách ván, điện câu, nước câu trong xóm Chuồng Bò. Xóm này ở giữa đường Hai Mươi và Ðường Petrus Ký, nơi năm ấy là bến xe đò đi Ðàlạt. Nhà làm trên một khu mấy năm trước là vũng sình lầy. Ðêm đầu tiên về căn nhà nhỏ này, cái bánh chưng để trên bàn của tôi bị chuột cống tha đi mất, trong bếp thường thấy những con bò cạp to tổ bố. Trời mưa, đường vào nhà ngập nước, tôi phải xách giầy lội nước vào nhà.

Một chiều khoảng 5 giờ, tôi thấy có người đến cửa. Hồng Dương và Linh Linh Ngọc đến, dắt theo đứa con trai thứ nhất mới hai, ba tuổi. Ðứng trước cửa, Hồng Dương bảo tôi:

“Tôi đã dàn xếp để anh viết tiểu thuyết cho Chính Luận. Sáng mai anh đến đưa bài. Có truyện của anh, Chính Luận đăng ngay.”

Hồng Dương nghĩ đến tôi, thương tôi túng quẫn. Trong một cuộc họp tòa soạn Chính Luận, anh đề nghị báo đăng tiểu thuyết của tôi. Nhiều người ngần ngại vì lý do tôi hay đưa bài muộn, làm phiền nhiều người trong nhà in, tôi hay đưa bài không đủ, khung dành cho tiểu thuyết của tôi thường có cột để trống. Có hôm để trắng luôn. Hồng Dương phải bảo đảm lần này H2T sẽ viết đều, đưa bài đúng giờ, không sốt-tê, tức có ngày không đưa truyện. Nhờ Hồng Dương tôi có tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Ðời đăng nhiều tháng trên Chính Luận. Các ông bạn tôi gọi tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Ðời là Môi Thắm Nửa Ðùi.

Những năm 1960 phim võ hiệp HongKong có phim Bẻ Kiếm Bên Trời – Thiên Nhai Chiết Kiếm. Khi phóng tác một truyện điệp viên Mỹ tôi lấy tên truyện là Bỏ Súng Bên Trời. Các ông bạn tôi gọi đó là truyện Bỏ Súng Bên Giường.

Chính Luận chi tôi 7.000 đồng một tháng. Vợ chồng tôi bắt đầu dễ thở. Rồi Trịnh Viết Thành nhường việc thư ký tòa soạn Tiền Tuyến cho tôi. Sau khoảng 2 năm vất vả, vất vưởng, tôi trở vào làng báo, tôi lại sống được với việc Viết Truyện, công việc tôi muốn tôi làm từ năm tôi 11, 12 tuổi. Tôi đã sống trọn đời tôi với công việc tôi thích làm, tôi muốn làm.

Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ. Từ Cali, Hồng Dương phôn cho tôi:

“Tôi mời anh chị sang chơi Cali, anh sẽ gặp lại các bạn ta ở đây.”

Hồng Dương làm paralegal, anh sống được với nghề. Năm 2011, Hồng Dương bị stroke, anh sống nhưng bị bại liệt, nói khó khăn.

Thankgivings 2012, tôi viết Tri Ân Trịnh Viết Thành, Hồng Dương. Tôi còn phải Tri Ân nhiều người nữa, Hôm nay tôi viết Tri Ân có hai người.

Như tôi phải tri ân anh Ung Văn Luông. Không có anh Ung Văn Luông, tôi không thể đưa vợ tôi sang Mỹ. Là nhân viện USIS anh Ung Văn Luông  phụ trách Ban Nhân Viên. Anh và gia đình đi thoát khỏi nước trong Ðêm 29 Tháng Tư 1975.  Sang Mỹ, anh làm việc trong USIA – United States Information Agency – ở Washington DC. Anh đề nghị với các ông Mỹ USIA mở Chương Trình Ðưa Nhân Viên USIS bị kẹt ở Sài Gòn sang Mỹ. Việc này không phải dễ dàng mà thành. Nhưng nhờ anh Ung Văn Luông, nhân viên USIS Sài Gòn bị kẹt ở Sài Gòn nhiều người được chính phủ Mỹ cho ODP đưa sang sống ở Hoa Kỳ.

Luật của chính phủ Hoa Kỳ: “Ðưa người Việt trong quân đội, trong chính quyền VNCH bị tù đày sang Mỹ.” Tôi không là nhân viên chính quyền Quốc Gia VNCH, dù có bị Cộng Sản giam tù 20 năm, tôi cũng không được chính phủ Hoa Kỳ nhận cho sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị. Tôi sang được Hoa Kỳ nhờ anh Ung Văn Luông xin cho. Tôi tri ân anh.

Như tôi chịu ơn bà Khúc Minh Thơ. Năm 1994 khi vợ chồng tôi được ODP nhận cho sang Hoa Kỳ, ba con chúng tôi không đưá nào sống cùng nhà với chúng tôi, các cháu không có tên trong sổ gia đình – tiếng VC là Sổ Hộ Khẩu – nên ODP không cho các cháu đi sang Mỹ theo chúng tôi. Năm 2000, bà Khúc Minh Thơ đề nghị Thượng Nghị Sĩ John Mc Cain đệ trinh Quốc Hội Tu Chính Án cho phép những người đi HO sang Mỹ những năm trước vì các con không ở chung nhà nên không mang được các con đi, nay những người ấy được quyền bảo lãnh các con họ sang Hoa Kỳ. Những người con HO này được hưởng quyền lợi tị nạn như bố mẹ chúng.

Bà Khúc Minh Thơ lo cho các con tôi sang Hoa Kỳ, bà lo cho vợ chồng và các con chúng tôi mọi chuyện. Ðúng la Lo từ A đến Z. Một đêm Tháng Ba năm 2003, tôi đến phi trường đón các con tôi từ Sài Gòn đến. Thấm thoắt dzậy mà các con tôi sang Hoa Kỳ đã 10 năm.

Tôi tri ân bà Khúc Minh Thơ.

Tạ Ân

Tiệm sách trong phi cảng Mỹ

Thanksgiving Meal Ticket

Please help us feed hungry people in Washington this Thanksgiving…

Phiếu Bưã Ăn Lễ Tạ Ơn

Xin giúp chúng tôi nuôi những người bị đói ở Washington trong Lễ Tạ Ân này.

Phiếu bữa ăn này cùng với ngân phiếu mừng Lễ của quí vị sẽ cung cấp bữa ăn nóng, bổ dưỡng cùng nhiều thức ăn khác cho những người đói và không nhà trong mùa Lễ Tạ Ân năm nay. Xin quí vị vui lòng quyên góp để giúp đỡ những người khốn khó trong vùng Washington.

Trên đây là lời kêu gọi của Ban Tổ Chức Bữa Ăn Thanksgiving đăng trên Nhật báo The Washington Post. Dưới đây là chi tiết về thời giá một bữa ăn Thanksgiving ở Thủ đô Hoa Thịnh Ðốn những năm 2000:

- $13.90 cung cấp 10 bữa ăn Thanksgiving.

- $ 27.80 cung cấp 20 bữa ăn Thanksgiving…

Bữa Ăn Thankgiving tặng người Mỹ Nghèo.

Chỉ 1 đô 40 xen một bữa ăn cho những người Mỹ nghèo. Ở xứ này vật chất thừa mứa, thức ăn rẻ rề, người Mỹ, người Việt, người Mễ, và gần như tất cả mọi người sống trên đất Mỹ đều rất thường ăn một nửa đổ đi một nửa. Chuyện giá một bữa ăn nóng, bổ dưỡng, chỉ có hơn một đô-la không phải là chuyện lạ. Ởû Xứ Mỹ, xứ sở của Vật Chất Dư Giả, Thực Phẩm Rẻ Mạt, Người tiêu thỵ phí phạm, mỗi niên chính phủ Mỹ cho không người thế giới không biết bao nhiêu tỷ đô-la nhưng ngay trong nước Mỹ vẫn có những người Mỹ không có mái nhà nát để ở, không có bữa ăn đàng hoàng mà ăn, đến ngày Lễ, ngày Hội, phải nhờ đến lòng thương của người cùng thời mới có được bữa ăn nóng, chuyện đó mới là chuyện đáng nói.

Những năm đen hơn mõm chó 1981, 1982 tôi sống vất vưởng trong lòng Sài Gòn, thành phố thủ đô của quốc gia tôi bị đổi tên là Thành Hồ, có những đêm cuối năm tôi trên xe đạp đi lang thang trong thành phố thương tang – đi mà không có chỗ đến, đi mà không biết mình đi đâu, đi chỉ vì ở nhà buồn quá chịu không nổi – một đêm tôi đi trên đường Hai Bà Trưng, nhìn thấy những dẫy đồng bào tôi nằm ngủ dài dài trên vỉa hè trước Nhà Thờ Tân Ðịnh – đồng bào nằm ở đây không bị Nhà Thờ đuổi, – lòng tôi đau xót, tim tôi như bị dao cưá, rồi bị xát muối.

Ðêm cuối năm, vào những tháng 11, 12 Tây như những tháng này, Sài Gòn ban đêm trời lạnh. Nằm trong nhà kín, có mền đắp còn thấy lạnh, đồng bào tôi nằm bên đường, giữa trời gió cuốn như thế này làm sao ngủ được..!

Ðất nước tôi bị tai họa chiến tranh liên miên mấy chục mùa thu chết. Bị đau khổ nặng nhất, hộc máu mồm, máu mũi nhất thế giới là dân tộc Viêt, nhân dân tôi bị thảm họa cộng sản cai trị, bóc lột, tàn phá nên chúng tôi đói khổ. Nhưng ở Xứ Mỹ giầu có nhất thế giới này tại sao vẫn có những người Mỹ đói khổ đến cái nước không có nhà ở, không có bữa ăn?

Tháng 11, đúng vào những ngày này, tháng này 17 niên trước đây, sau hai ngày, một đêm bay qua biển Thái Bình trên đôi cánh sắt United Airlines, vợ chồng tôi ngỡ ngàng, bồi hồi đặt những bước chân đầu tiên trên đất Xê Kỳ ở phi trường San Francisco – Lạc vào phi cảng Mỹ, hình ảnh đầu tiên tôi chú ý là tiệm sách báo Mỹ – tôi ngây ngất trước tiệm sách trong phi cảng, tiệm sách nhỏ thôi, sáng choang ánh điện, sách báo mới ra lò hàng hàng lớp lớp nằm chờ, mời gọi. Ðẹp cách gì. Cảm khái cách gì.

Sách, sách của tôi chỉ là những quyển tiểu thuyết tình, tiểu thuyết trinh thám, người Mỹ gọi là loại truyện , Detective, Thriller: Sách là một thứ trong mấy thứ tôi thích nhất. Tôi thường nghĩ khi tôi vào tiệm sách là tôi vào vườn hoa, ở đấy những quyển sách là những bông hoa. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng có ngày tôi lạc bước vào một tiệm sách Mỹ trên đất Mỹ.

Chờ chuyến bay sang Washington DC, vợ chồng tôi ngồi bên nhau trên chiếc ghế dài trong phi cảng San Francisco, chúng tôi nhìn những hàng hàng, lớp lớp người Mỹ đi ngang trước mặt, người đứng mà di chuyển trên thang cuốn, tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy cảnh này trên màn ảnh xi-nê ở Sài Gòn, nhưng khi xem xi-nê ở Sài Gòn, thấy cảnh bên trong những phi cảng Mỹ, tôi là người ở ngoài nhìn vào một ảo ảnh, nay tôi ở trong cảnh đó, cảnh bên trong phi cảng San Francisco quanh tôi bây giờ là cảnh thực. Vợ chống tôi đang ngồi trong phi cảngSan Francisco.

Ăn mày năm 2000 ở Sài Gòn

Thế rồi gió mùa thu Mỹ Quốc đưa vợ chồng tôi bay từ bờ biển miền Tây Mỹ Quốc sang bờ biển miền Ðông Mỹ Quốc, chúng tôi đến Virginia của Những Người Yêu.

Ông bạn tôi – ông bạn tên giang hồ là Ba Ðôn, một nhân vật nổi tiếng trong giới Ăn Chơi Càn Bạt ở Sài Gòn Xưa – ông bạn làm nhân viên Thông Tấn CBS ở New York lái xe Jeep xuống Washington DC đưa tôi lên New York chơi.

Xe đi từ Falls Church lúc 8 giờ sáng, khoảng 1 giờ trưa xe đưa tôi vào New York. Ông bạn đưa tôi đến ăn trưa ở một tiệm ăn Việt Nam. Tiệm nhỏ, chứng bốn, năm bàn. Bà chủ tiệm vừa nấu ăn, vừa dọn bàn. Tôi nhìn thấy ông Mẽo Ðen Cái Bang thứ nhất cầm ống lon xin tiền ở vỉa hè New York. Ông đứng, ngồi xin tiền ở xế cửa tiệm ăn Việt,

Tiệm ăn Việt  không có wine license, tức không được phép bán rượu, bia cũng không được bán. Ba Ðôn ra cưả đưa cho ông Cái Bang Mỹ mấy đồng bạc. Trở vào anh nói:

- Bảo nó đi mua cho mình 2 lon bia.

Ông Mỹ mang bia vào tiệm, Ba Ðôn cho ông vài đồng. Tiệm không được phép bán bia. Cảnh sát Mỹ bắt được khách uống bia trong tiệm là chủ tiệm bị phạt nặng. Bà chủ tiệm vì nể Ba Ðôn nên cứ để chúng tôi uống bia trong tiệm.

Xmas năm ấy vợ chồng tôi sang Cali. Chúng tôi đến Santa Ana rồi San Jose, hai nơi đông người Việt nhất nhì Mỹ Quốc. Ở San Jose tôi được mời đến phỏng vấn tại phòng thu-phát thanh của ông Ðỗ Vẫn Trọn. Ðinh Hiển, Hoạ sĩ Hĩm Con Ong năm xưa, và bạn Ngọc Toét, đến đài tìm tôi, đưa tôi đi uống bia, đấu hót.

Ba chúng tôi đi trên đoạn đường đến tiệm bia gần đó. Buổi chiều, trời đất San Jose sám sịt. Sau bốn mươi niên sống hai mùa mưa nắng ở Sài Gòn, tôi rúm ró vì cái lạnh mùa đông năm đầu tiên tôi sống trên đất Mỹ. Buổi chiều này tôi mới sống ở Kỳ Hoa 60 ngày, nhiều lần qua một khu phố nào đó tôi cứ tưởng như tôi đang đi trong thành phố Sài Gòn, tỉnh lại, nhớ tôi đang ở Mỹ, tôi ngơ ngẩn nửa phút.

Ðang co ro đi như thế tôi thấy người thiếu phụ Trung Hoa đứng bên đường nhìn tôi. Bà ta trạc bốn mươi tuổi. Có lẽ vì Hĩm và Ngọc Toét không nhìn bà ta như tôi nên bà ta chắp tay, chào tôi:

- Nhữ hảo ma?

Việt: Ông có khoẻ không ạ?

Mỹ: Are you ok?

Nghĩ rằng bà ta tưởng tôi là người quen, bà chào tôi, tôi dừng lại để nói với bà tôi không phải là người quen của bà. Hĩm nắm cánh tay tôi, kéo đi:

- Nói với nó làm gì. Nó xin tiền đấy mà…

Tôi đi theo bạn. Và tôi ân hận mãi. Tôi bị ám ảnh  vì ánh mắt người đàn bà Trung Hoa xin tiền trên vỉa hè San José Mùa Giáng Sinh năm ấy – thấm thoắt đấy mà đã mười mấy mùa lá rụng – qua ánh mắt của bà tôi thấy  bà ta chờ đợi tôi biểu lộ chút tình thương bằng một, hai tờ giấy bạc một đô. Chỉ một, hai đô Mỹ thôi. Không nhiều. Nhưng tôi đã không đáp ứng sự chờ đợi ấy. Mới đến Kỳ Hoa vợ chồng tôi được nhiều bạn hữu cho tiền, tôi có thể nhẹ nhàng chia xẻ vài đô với người thiếu phụ da vàng ấy. Tôi ân hận vì chỉ có việc làm dễ dàng như thế thôi tôi đã không làm. Tôi ân hận mãi từ buổi chiều xưa ấy đến đêm nay khi tôi viết những dòng chữ này.

Trong gần hai mươi mùa cô hồn không cháo lá đa  mỏi mòn, não nề, tuyệt vọng trong lòng thành phố Sài Gòn bị đổi tên, vợ chồng tôi đã sống nhờ Phép Lạ, và nhờ tình thương của các bạn chúng tôi, các em chúng tôi ở nước ngoài. Trong 20 năm sống ở Sài Gòn vợ chồng tôi được nhiều bạn, nhiều người hảo tâm ở những nước dân chủ gửi đồ, gửi tiền về cứu giúp. Tôi thấy tôi không khác gì người thiếu phụ Á Ðông chờ đợi tôi chia sẻ vài đô chiều cuối năm lạnh lẽo, u ám trên vỉa hè San José gần đài phát thanh của ông Ðỗ Vẫn Trọn, nơi năm ấy có ông bạn tôi là ông Hoàng Anh Tuấn, thi sĩ kiêm đạo diễn điện ảnh, ngồi mần việc. Bà ta với tôi chỉ khác nhau ở điểm: tôi chờ đợi các bạn tôi chi cho tôi năm chục, một trăm đô Mỹ, bà ta chỉ chờ mong tôi cho bà một, hai đô Mỹ.

Ăn mày là ai ? Ăn mày là ta..
Ðói cơm, rách áo hoá ra ăn mày…

o O o

Thái Bình cổ sư thô bố y,
Tiểu nhi khiên dẫn hành giang my,
Vân thị thành ngoại lão khất tử,
Mại ca khất tiên cung thần xuy.
Lân chu thì hữu hiếu âm giả,
Khiên thủ thượng dẫn thuyền song hạ.
Thử thì thuyền trung ám vô đăng,
Khí phạn, bát thủy thùy lang tạ.
Mô sách dẫn thân hướng tọa tháp,
Tái tam cử thủ xưng đa tạ…

Thái Bình mại ca giả. Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Thái Bình đây là Thái Bình ở bên Tầu. Nguyễn tiên sinh làm bài thơ này khi ông đi sứ sang Trung Quốc, đêm đậu thuyền ở bến Thái Bình, gập người mù hát sẩm xin tiền:

Người mù ở Thái Bình mặc áo vải thô,
Ðưá nhỏ dắt đi trên bờ sông,
Người ta bảo đó là người ăn xin ở ngoài thành,
Hát rong, xin tiền, kiếm sống.
Thuyền bên có người thích nghe hát,
Dắt tay dẫn lên thuyền, đến bên cửa sổ.
Bấy giờ trong thuyền tối không có đèn,
Cơm thừa, canh đổ bừa bãi.
Ông Mù mò mẫm đến chỗ ngồi,
Hai ba lần chắp tay nói cám ơn…

Cảnh người mù hát rong làm Thi sĩ xúc động, ông nêu lên một ngạc nhiên và ông đặt một câu hỏi:

Chỉ đạo Trung nguyên tận ôn bão,
Trung nguyên diệc hũu như thử nhân?

Chỉ nghe nói ở Trung quốc ai cũng no ấm
Trung quốc cũng có người nghèo đói như thế này sao?

Hai trăm năm mươi năm sau đêm Nguyễn Du nhìn thấy người mù hát rong ở bến sông Tầu, truớc cảnh những người Mỹ ăn xin ngoài đường, những người Mỹ không nhà, những người Mỹ nhân Lễ Tạ Ân đến nơi phát chẩn ăn bữa ăn  nóng do những người Mỹ hảo tâm đãi, tôi cũng théc méc:

Cứ tưởng ở Xê Kỳ ai cũng no ấm,
Xê Kỳ cũng có người ăn xin, người đói sao?

Hai trăm năm truớc Cao Chu Thần nhìn thấy người ăn mày:

Cái tử lập trì trù,
Cơ hàn bất cảm hô.
Y khiên song lạp phá,
Mệnh đãi nhất tiền tô…

Người ăn xin đứng ngập ngừng,
Ðói rét mà không dám nói.
Khoác cái áo làm bằng hai mê nón rách chắp lại,
Tính mạng chỉ đợi có một đồng tiền là có thể sống được…

Sài Gòn thành phố tôi có Ngã Sáu Gia Long, Ngã Bẩy Lý Thái Tổ, Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Tư Bẩy Hiền, thành phố tôi ở nhờ trong County Fairfax, Mỹ Quốc, có Seven Corners. Xe đến cái gọi là Bẩy Góc này đều phải dừng lại vài phút vì những dàn đèn xanh đỏ chỉ đường. Ở chỗ này thường có những người hành khất Mỹ đứng ôm bảng xin tiền.

Thường người xin là những người đàn ông tàn phế, mới đây thấy có người thiếu phụ giơ tấm bảng: “Evicted, with children”.

Từ ngày bánh xe tị nạn khấp khểnh, gập ghềnh, muộn màng sang đất Kỳ Hoa, tôi biết thân, biết phận nên không dám tự nhận mình là bất cứ cái gì. Sau mấy mùa hoa anh đào nở, hoa anh đào tàn, lá rụng, tuyết rơi, nước sông Potomac cuồn cuồn chẩy về đông, hôm nay tôi nghĩ may ra tôi có thể tự nhận được cái danh hiệu này: “Vợ chồng tôi là người nghèo tiền nhất – không phải nghèo tiền nhất quận Fairfax – mà là người nghèo tiền nhất toàn Bang Virginia của Những Ngtười Yêu. Cũng xin nói thêm là tôi tự nhận thế thôi. Nếu có ai tự nhận là người nghèo nhất Virginia, tôi xuống thứ nghèo nhì. Ông bà nói ông bà nghèo thứ nhì? Chúng tôi xuống hạng nghèo là thứ ba…

Chúng tôi nghèo thật nghèo, người ta nghèo không có đất cắm dùi, chúng tôi nghèo đến cả cái dùi cũng không có để mà đem đi tìm đất cắm. Nhưng mỗi lần gập người Mỹ ngửa tay, chúng tôi đều sẵn sàng chia xẻ một, hai đô với các vị đồng nghiệp của chúng tôi.

Một, hai đô của vợ chồng tôi trị giá bằng một, hai triệu của các ông Bill Gates, Donald Trump. Nhưng chúng tôi vẫn cứ chia xẻ.

Chúng tôi được nghe bảo:

“Cho làm gì. Ngớ ngẩn. Bọn chúng nó nhiều tiền hơn anh chị…”

Và:

“Chúng nó xin tiền mua rượu với chơi sì-ke không à..”

Có thể đúng. Nhưng chúng tôi  làm theo Lời Dậy Thánh:

“Ai xin cứ cho, ai mượn đừng đòi lại..”

Riêng tôi không những tôi chỉ suốt đời cố gắng làm theo Lời Thánh dậy: ai xin tôi cái gì tôi cho được là tôi cho, ai mượn tôi cái gì không đáng giá lắm tôi không đòi lại, tôi còn siêu hơn ở điểm tôi mượn ai cái gì rất ít khi tôi trả lại.

o O o

Những năm 81, 82, đường phố Thành Hồ còn vắng người. Ðấy là thời gian Tổng Bí Thư Lê Duẩn hung hăng con bọ xít thúc đẩy miền Nam “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.

Lê Duẩn vênh váo la lối:

“Chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng.”

“Chủ nghĩa Mác Lê vô địch muôn năm.”

“Yêu nước là yêu Chủ Nghĩa Xã Hội.”

“Phố xá Sài Gòn buồn hiu. Tất cả các cửa tiệm đều féc-mê bu tích. Nhà nhà im ỉm như nhà có tang. Mặt mũi người Sài Gòn khó đăm đăm như nguời nhà tang gia bối rối. Lúc năm, sáu giờ một chiều mùa hạ, trời Sài Gòn đã dịu nắng, tôi đạp xế trên đường Lý Thường Kiệt. Qua cửa chợ Tân Bình, một em trạc ba mươi tuổi, bận bộ đồ áo quần đồng mầu – thường được gọi là “đồ bộ” – đứng bên vỉa hè trước chợ, giơ tay vẫy tôi:

- Anh ơi…

Tôi ngừng xe. Em nói:

- Cho em nhờ anh một quãng…

Tôi hỏi:

- Cô đi đâu?

Nàng hỏi lại:

- Anh đi đâu?

- Tôi đến Cư Xá Lữ Gia.

- Anh cho em quá giang đến đó em xuống.

Nàng ngồi lên cái gọi là “boọc ba-ga” xe tôi, tôi gò lưng tôm đạp xe đưa nàng đi.

Nàng kể:

- Em đến tìm bà dì em nhưng bả dọn nhà đi mất rồi.

Tội nghiệp. Hôm nay em ế khách, gần tối em chưa bắt được khứa nào ra hồn. Khứa ít nhất phải là khứa đi xế Honda, khứa lão đi xế điếc như tôi quá nát, quá rách. Rách này phải nói là rách không còn chỗ vá. Cửa chợ Tân Bình không phải là nơi địa lợi, nhân hoà của em hôm nay. Em bắt anh già Sài Gòn vất vả, mái tóc phong sương, bộ mặt khắc khổ in hằn những vết roi đời, người ngợm gầy gò, xương sẩu, đen đủi chỉ có da với xương như con trâu già, gù lưng trên xế điếc, đưa em đổi chỗ em đứng chờ khách. Chắc em cũng chẳng chờ mong gì ở anh già thiểu não này ngoài việc nhờ anh đưa em đi một quãng đường.

Gần đến đường rẽ vào Cư Xá Lữ Gia em nói:

- Em đói, em khát nước. Có chỗ nào mình ghé vào ăn cái gì không anh?

Lúc đó xe tôi vừa đến trước một xe mì-hủ tíu vỉa hè. Chiều gần tối những xe mì vỉa hè loại này mới được dọn ra bán. Tôi tốp xe, may sao trong túi tôi chiều ấy có năm, sáu chục đồng, tôi đưa cho em tờ giấy 20 đồng có in mặt anh Già Hồ:

- Vào đây ăn gì thì ăn. Tôi phải đi thôi…

- Cám ơn anh…

Nàng cười và tôi mỉm cười. Giang hồ cả, biết nhau quá mà. Rất tiếc anh hết thời rồi, anh không thể chi em hơn. Vào đến nhà ông bạn trong cư xá tôi kể cho ông bà nghe chuyện tôi vừa gập một em đi xe nhờ từ cửa chợ Tân Bình đến ngoài kia, em gọi tôi bằng anh, tôi chi em hai chịch.

Ông bạn tôi nói với bà vợ:

- Thằng này lâu rồi không được em nào gọi là anh. Nó chi hai mươi đồng cho em là phải rồi…

Những ngày như lá, tháng như mây – Thơ Thanh Nam – 81, 82 rồi 91, 92, trong 10 năm ấy có 6 mùa thu lá bay không ăn gà xé phay, ngồi rù ngâm thơ Lăn Tăn, nằm phơi rốn trong Ðại Khách Sạn 15 sao Chí Hoà, lại rồi đến những năm 96, 97 – vèo một cái năm tháng qua nhanh hơn vó câu qua khe cửa, mười sáu, mười bẩy  niên đã trôi qua cuộc đời – vào một chiều  cuối năm trời u ám, tôi lòm khòm, lọm khọm đi qua một parking gần Trung Tâm Eden – tiếng Mỹ là Eden Center, trung tâm dịch vụ, gửi tiền về VN, uốn tóc, ăn uống của người Việt lớn nhất miền Ðông Hoa Kỳ – một thiếu phụ từ sau dẫy xe bước ra, giơ tay ra hiệu cho tôi.

Tôi đứng lại. Nàng trạc Ba Bó, ăn bận đàng hoàng, nước da hơi đen, trông có vẻ là dân Sì, người ViệtVirginia quen gọi người Mễ là Sì.

Nàng nói::

- Mít-tơ.. Ghi mi ề quác-tơ..

Là cựu sinh viên Trường Anh Ngữ Trần Ra Hiệu, có học qua Bộ English for Tonight, tôi hiểu nàng xin tôi đồng 25 xen để gọi phone. Tôi móc túi lấy tiền đưa nàng. Nàng đứng sát vào tôi, bàn tay nàng như vô ý chạm vào chỗ của tôi rồi đặt nhẹ lên chỗ của nàng:

- I am hungry…

Nàng nói nàng đói.

Có mấy đồng một đô trong túi, tôi đưa cho nàng.

Tôi nói:

- I am sorry..!

o O o

Dòng thời gian dài một ánh bay.
Những ngày như lá, tháng nnư mây.
Thời gian qua, đôi ta ở lại.
Mười bẩy năm rồi, Em có hay?

CHỈ LÀ PHÙ VÂN

Phù vân, tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả dưới ánh mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến, trái đất mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lặn, mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó  mọc lên. Gió thổi xuống phía nam rồi xoay về phía bắc: gió xoay lui xoay tới rồi gió đi; gió trở qua trở lại lòng vòng. Mọi khúc sông đều xuôi ra biển nhưng biển cũng chẳng đầy. Sông chẩy tới đâu thì từ đó sông lại tiếp tục. Chuyện gì cũng nhàm chán, chẳng thể nói gì hơn. Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy có gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới.

Ðiều đã có rồi ra sẽ có, chuyện đã làm  rồi sẽ lại làm ra: dưới ánh mặt trời nào có chi mới lạ?

Nếu có điều gì đáng cho người ta nói: “Coi đây, cái này mới!” thì điều ấy đã có trước chúng ta từ bao thế hệ rồi. Chẳng ai còn nhớ đến người xưa,  những người đến sau thì cũng thế, các thế hệ mai sau chẳng còn nhớ đến họ.

o O o

Căn nhà Công Tử Hà Ðông vào đời ở Thị Xã Hà Ðông. Căn nhà này còn ở đó nhiều năm sau khi CT đã từ lâu trở thành bụi đất. Xây lên năm 1933, căn nhà này năm 2012 bằng tuổi CTHÐ. Tám Bó không thiếu, không lẻ Que nào. Bẩy mươi năm xưa CTHÐ từng đứng trên ban-công nhà này nhìn trời. Tám giờ một buổi sáng Tháng 12, 1946, CT Hà Ðông ra khỏi căn nhà này và không một lần trở lại. Ảnh này ghi năm 2000.

Càng nhiều khôn ngoan, càng nhiều phiền muộn, càng thêm hiểu biết, càng thêm khổ đau.

Bây giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao vất vả tôi phải chịu, tôi thấy: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát; dưới bầu trời có lợi lộc gì đâu. Rồi tôi để tâm suy nghĩ về cái Khôn, cái Ðiên và cái Dại. Tôi thấy cái Khôn lợi hơn cái Dại, ánh sáng tốt hơn bóng tối.

Người khôn biết mở mắt nhìn.

Kẻ dại bước đi trong tăm tối.

Còn tôi, tôi biết: cả hai cùng chung một số phận.

Tôi tự nhủ: “Số phận của kẻ dại làm sao thì số phận của  người khôn cũng như thế. Vậy tôi khôn cho lắm để làm gì? Chỉ là phù vân. Ðời đời nhớ người dại, mãi mãi nhớ người khôn: làm gì có chuyện đó. Tất cả đều rơi vào quên lãng. Tất cả đều chết, người khôn cũng như kẻ dại.

Tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.

Dưới bầu trời này

Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời

Một thời để chào đời, một thời để lìa thế

Một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây

Một thời để giết chết, một thời để chữa lành

Một thời để phá đổ, một thời để xây dựng

Một thời để khóc, một thời để cười

Một thời để than vãn, một thời để múa nhẩy

Một thời để quăng đá, một thời để lượm đá

Một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn

Một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất

Một thời để giữ lại, một thời để vứt đi

Một thời để xé rách, một thời để vá khâu

Một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng

Một thời để yêu thương, một thời để thù ghét

Một thời để gây chiến, một thời để làm hoà.

o O o

Của càng nhiều, tiêu pha càng lắm. Người có của được lợi lộc gì, ngoài thú vui được nhìn thấy của cải? Làm việc vất vả thì ngủ ngon, ăn ít hay ăn nhiều thì cũng vậy; lắm bạc, nhiều tiền đâu được ngủ ngon?

Dưới ánh mặt trời, tôi thấy sự dữ làm tôi đau xót, đó là người giữ của mang họa vào thân. Của cải mất sạch khi thất bại trong việc làm ăn, đến lúc sinh con chỉ còn tay trắng. Lọt lòng mẹ, trần truồng làm sao, thì cũng sẽ ra đi như vậy. Chịu đựng bao gian lao vất vả để rồi không mang theo được gì. Ðến làm sao, ra đi làm vậy.

Ðời người trôi qua trong tang tóc, trong khổ đau, trong chán chường.

o O o

Giữa tuổi thanh xuân, bạn hãy tưởng nhớ đến Ðấng đã dựng nên mình.

Ðừng chờ đến ngày tai ương ập tới.

Ðừng chờ cho năm tháng qua đi, những năm tháng mà bạn phải nói:

“Tôi chẳng còn có niềm vui nào.”

Ðừng chờ đến khi mặt trời với ánh sáng, mặt trăng cùng các ngôi sao đều trở thành tối tăm, và mây đen tụ lại khi cơn mưa đã dứt,

Ngày ấy người giữ nhà sẽ run lẩy bay, chàng trai vạm vỡ phải khòm lưng,

Các cô xay bột không còn xay nữa, các bà nhìn qua cửa sổ chỉ thấy cảnh sắc lờ mờ.

Ngày ấy cánh cửa ngó ra đường đóng lại, tiếng cối xay từ từ nhỏ đi, người ta trổi dậy khi nghe tiếng chim hót, những cô ca sĩ sẽ im tiếng hát.

Ngày ấy, đường hơi dốc cũng làm người ta sợ, chân bước đi mà lòng kinh hãi.

Ngày ấy, hoa hạnh đào nở ra trắng xóa, loài châu chấu trở nên chậm chạp, nặng nề, trái bạch hoa hết còn hương vị.

Vì con người đi đến nơi ở ngàn thu, bên đường đầy những người khóc than ai oán.

Ðừng chờ đến khi dây chỉ bạc đứt, bình vàng vỡ, vò nước bể tại hồ nước, ròng rọc gẫy rơi xuống giếng sâu.

Ðừng chờ đến khi bụi đất lại trở về bụi đất,

Khi phàm nhân trả lại Thiên Chúa hơi thở Người đã ban cho mình.

o O o

CTHÐ: Những năm 1981, 1982, sau 24 tháng nằm trong nhà tù cộng sản – lần tù thứ nhất, 24 tháng kéo dài qua 3 năm: 1976, 1977, 1978 – tôi trở về mái nhà xưa dột nát và vòng tay gầy của người vợ hiền – nằm phơi rốn trong tù tôi chỉ mong được ra khỏi tù. Ra khỏi tù tôi sẽ sống khác trước khi tôi vào tù: tôi sẽ cam phận, sẽ không uất hận, sẽ không nghĩ chuyện tôi phải làm việc gì đó để giải tỏa nỗi phẫn hận trong tim tôi, tôi sẽ khiêm tốn sống với vợ con tôi trong đói khổ, trong nhục nhằn, cơ cực, tôi sẽ không diễn tả nỗi buồn sầu, sự tuyệt vọng của tôi bằng thơ, bằng những bài viết gửi ra nước ngoài: tôi sẽ sống như một người dân tầm thường nhất của thành phố Sài Gòn, thành phố bị đổi tên.

Nằm trong tù tôi nghĩ ra tù tôi sẽ sống như thế, tôi sẽ sống được như thế, nhưng ra khỏi tù không lâu – chưa đầy ba bẩy hai mươi mốt ngày – tôi lại thấy tôi sầu buồn, tôi uất hận, tôi phải làm những việc gì đó. Tôi cố quên sầu muộn, uất hận bằng cách đọc sách. Trong căn gác nhỏ tôi dịch đoạn sách Ecclesiastes trong Kinh Thánh ra tiếng Việt.

Cái máy chữ của tôi bị bọn Công An Thành Hồ lấy mất trong lần chúng đến nhà tôi bắt tôi đi tù hai năm trước, tôi viết lại bằng bút. Nhiều năm quen viết bằng máy chữ, chữ tôi viết bằng bút rất xấu. Nhưng nay bị bắt buộc phải viết bằng bút, tôi viết cẩn thận, nắn nót, tập Truyền Ðạo tôi viết chữ khá đẹp. Tôi đóng những trang viết thành những tập sách nhỏ, đem đến tặng các bạn tôi ở nhà thờ. Ai cũng quí. Những năm ấy Sài Gòn có rất ít Kinh Thánh. Những kho sách Kinh Thánh bị bọn Công An lấy sách mang đi hết. Có tiền nhưng người cần không thể tìm mua Kinh Thánh những năm 1980 ấy ở Sài Gòn.

Lời văn Truyền Ðạo hấp dẫn tôi. Rồi tôi lần thứ hai từ biệt vòng tay gầy của người vợ hiền và ngôi nhà dột nát để đi tù lần thứ hai.

Dòng thời gian dài một ánh bay.. Những ngày như lá tháng như mây.. Năm năm sau ngày tôi ra khỏi nhà tù cộng sản lần thứ hai, vợ chồng tôi sang Hoa Kỳ. Trong căn phòng chúng tôi sống những ngày cuối đời  chúng tôi có đến 4 quyển Kinh Thánh.

Ðoạn Sách Truyền Ðạo trên đầu bài này được tôi trích trong quyển Kinh Thánh do Toà Tổng Giám Mục Sài Gòn xuất bản năm 1998. Trong ban biên dịch có Linh mục Nguyễn Công Ðoan. Tôi được ở tù chung trại Tù Khổ Sai  Z 30 A với Linh mục Nguyễn Công Ðoan. Khi Linh mục nằm tù trong Nhà Tù Chí Hoà, tôi tù trong Khu ED với ông nhưng không cùng phòng giam với ông.

Hôm nay, một ngày cuối năm 2012, ở Xứ Kỳ Hoa,đến Lễ Thanksgiving của người Mỹ, tôi mở Kinh Thánh đọc lại những đoạn văn xưa, những đoạn văn làm tôi cảm động ba mươi năm trước, tôi bồi hồi thấy:

Giữa tuổi thanh xuân, tôi sống, tôi ăn chơi, tôi chẳng bao giờ  tưởng nhớ đến Ðấng đã dựng nên tôi. Tôi chẳng lúc nào nghĩ có ngày tai ương đến đời tôi, tôi cứ tưởng cuộc đời tôi sẽ phơi phới sung sướng mãi.

Năm tháng qua đi, nay tôi phải nói:

“Tôi chẳng còn có niềm vui nào.”

Ngày nay với tôi  mặt trời với ánh sáng, mặt trăng cùng các ngôi sao sắp trở thành tối tăm, mây đen tụ lại trong hồn tôi khi cơn mưa chưa dứt,

Nay tôi có những lúc run lẩy bẩy, nay lưng tôi khòm, nay răng tôi không còn cái nào, nay tóc tôi rụng gần hết, nay tôi đi không vững, nay tôi sợ lên cao, tôi chóng mặt khi tôi cúi xuống.

Nay những nữ ca sĩ không còn hát cho tôi nghe nưã – các cô có hát, tôi không nghe được – nhìn qua cửa sổ ra Rừng Phong, tôi chỉ thấy lờ mờ cảnh sắc, mắt tôi nay mang kính lão nặng số nhất nhiều chữ tôi cũng không còn đọc được.

Ngày hôm nay cánh cửa đời tôi sắp đóng lại, tiếng đời nhỏ đi với tôi. Tai tôi sắp không còn nghe được tiếng nữa. Vợ tôi nói, tôi thường phải hỏi:

“Em nói gì?”

Tôi quên tên người.

Ngày nay  đoạn đường hơi dốc, năm bẩy bậc thang cũng làm tôi sợ, chân bước đi mà lòng tôi kinh hãi. Không còn ngồi xổm được, tôi phải ngồi bệt, tôi phải chống hai tay bò lên mới đứng dậy được.

Ngày nay hoa hạnh đào nở trắng trên đầu tôi, cử động của tôi trở nên chậm chạp, nặng nề, vụng về,  tôi nghe, tôi nói khó khăn, hoa trái cuộc đời với tôi hết còn hương vị.

Tôi đang đi đến nơi ở ngàn thu, bên đường tôi đi chẳng có ai than khóc.

Phù vân. Chỉ là phù vân.

Nhìn lại đường đời tôi đã đi, tôi thấy cho tới nay, khi tôi sắp lìa đời,  tôi có nhiều hạnh phúc hơn tai họa, tôi được yêu thương nhiều hơn tôi bị thù ghét, những tai họa đến với tôi nhẹ hơn những tai họa đến với nhiều người khác.

Chiều nay tôi đinh viết bài Tạ Ân, nhưng trái tim tôi bồi hồi, xin hẹn tôi sẽ viết.

Mời bạn đọc vài bài Thơ

REQUIEM

Thơ Robert Louis Stevenson

Under the wide an starry sky
Dig the grave and let me lie:
Glad did I live and gladly die
And I let me down with a will.

This be the verse you grave for me:
“Here he lies where he long ‘d to be.
“Home is the sailor, home from the sea
“And the hunter from the hill.”

Thơ CTHÐ:

Kinh cầu

Dưới trời cao, dưới trời sao
Xin đào huyệt, đặt tôi vào.
Tôi sống vui, tôi chết vui.
Tôi nằm yên, tôi mỉm cười.

Ðây lời thơ trên mộ bia:
“Nơi này người mong trở về,
“Thủy thủ về nhà từ biển,
“Thợ săn về từ đồi kia.”

Z 30 A Tháng Tám 1989.

Thơ Edmund Valler

OLD AGE

The seas are quiet when the winds give o’er
So calm are we when passion are no more.
For then we know how vain it was to boast
Of fleeting things, so certain be lost.
Clouds of affection from our younger eyes
Conceal that emptiness which age decries.

The soul’s dark cottage, batter’d and decay’d
Lets in new light through chinks that Time hath made:
Stronger by weakness, wiser men become
As they draw near to their eternal home,
Leaving the old, both world at once they view
That stand upon the threshold of the new.

Thơ CTHÐ

ÐỜI BÊN KIA TÌNH ÐỢI

Biển yên lặng khi gió trời ngừng thổi,
Ta thản nhiên khi mê đắm dịu rồi.
Vì Ta đã biết những gì sôi nổi
Chỉ thoảng qua đời, thấp thoáng mà thôi.
Bão tố đam mê khi Ta trẻ tuổi
Phù vân bay – khi Ta đến cuối đời.

Tâm hồn già nua, rã rời, mệt mỏi
Vết thời gian để lại những khung trời
Dù tang thương, dù u ám, tả tơi
Ánh sáng mới vào hồn cùng với tuổi.
Mạnh hơn, khôn hơn, mặc dù yếu đuối,
Người đi xa về đến cửa nhà rồi.
Thế giới cũ giã từ không tiếc nuối,
Ngưỡng cửa đời chân dạo với niềm vui.
Ta gửi lại đời mấy hơi thở cuối,
Một đôi Tình hoài niệm tuổi hai mươi.
Thế giới mới đang chờ ta bước tới
Ðời bên kia Tình đợi đấy, Em ơi.

Tháng 12, 1989, Z 30 A.

Năm 2000, ở Atlanta, ông HO Già cầm tay, nói:

“Viết nữa. Viết cho chúng tôi đọc. Viết đến năm Tám mươi.”

Năm nay – 2012 – ông bạn còn ở Atlanta không ông? Thưa ông, tôi đã viết đến năm tôi Tám mươi tuổi.”

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích.

Sáu giờ Tối Thứ Bẩy 17 Tháng Mười Một, Năm 2012.

Tổng Thống Kỳ Hoa

Thống đốc Michigan George W. Romney đến Việt Nam ngày 8 – 11 – 1965.

Khi ông Ronald Reagan được dân Mỹ bầu làm Tổng Thống, tôi đang dzở sống, dzở chết ở Sài Gòn. Tôi nghe bọn Cộng Việt phê bình bôi bác:

“Nước Mỹ nay hết người tài, dân Mỹ phải đưa một anh kép hát mạt hạng chuyên đóng phim cao bồi lên làm Tổng Thống.”

Rồi tôi nghe tin ông Tổng Thống Ronald Reagan bị bắn, ông trúng đạn, nhưng ông không chết. Theo tôi, TT Reagan là vị Tổng Thống oanh liệt nhất của Hoa Kỳ kể từ sau năm 1975. TT Reagan đến trước Bức Tường Ô Nhục Berlin, nói như ra lệnh cho Gorbachev, Tổng Bí Thư Nga Cộng:

“Ðập đổ bức tường kia đi.”

Năm 1961 Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson đến Sài Gòn.

Ngay sau đó cái gọi là Bức Tường Ô Nhục do bọn Cộng xây lên ở thủ đô Berlin bị người dân Ðức phá sập. Rồi chuyện tôi – và nhiều người trên thế giới – không tưởng có thể xẩy ra đã xẩy ra dưới thời TT. Reagan; Liên Xô tan rã, chủ nghĩa Cộng sản bị quăng vào hố rác, tượng Lenin, tượng Stalin ra nằm ở miệng cống, bọn đảng viên cộng sản nắm quyền ở các nước Ðông Âu bị nhân dân nước chúng trừng trị: Tổng Bí Ðảng Cộng Lỗ Sô-sét-cu bị dân Lỗ dí súng vào đầu bắn chết, Nadzbula, Tổng Bí Ðảng Cộng Ac-ga-nit-tan, bị nhân dân Ác treo cổ toòng teeng trên cột đèn.

Những chuyện ấy đã xẩy ra dưới thời TT. Ronald Reagan. Dường như trên thế giơi kể từ ngày loài người có Xi-nê-ma và Tổng Thống, chỉ có diễn viên Movie Ronald Reagan là làm Tổng Thống – làm Tổng Thống một quốc gia lớn, giầu mạnh – và thành công, chiến thắng bọn Cộng – tôi nghe nói ở Phi-luật-tân trước đây ít thời có thời một diễn viên xi-nê được bầu làm Tổng Thống Phi, nhưng chỉ sau ít tháng, ông này bị hạ bệ. Không biết tôi nhớ có đúng không.

Suốt những năm TT. Reagan cầm quyền, tôi nằm phơi rốn ở trong những nhà tù quê hương tôi. Năm 1995 tôi sang Mỹ, tôi nhìn thấy trên màn ảnh TiVi đám tang ông Reagan.

Tôi có nỗi tiếc riêng: Những năm 1960 nữ diễn viên điện ảnh Jane Wyman là vợ diễn viên Ronald Reagan. Ông bà ly dị nhau năm nào tôi không biết. Tôi có cảm tình với bà Jane Wyman, bà không đẹp, bà diễn xuất hay, tôi nhớ bà mãi qua phim Johnny Belinda. Jane Wyman diễn vai thiếu nữ câm trong phim này. Tôi buồn khi thấy ông bà không sống được với nhau. Năm nay – 2012 – bà Jane Wyman còn sống.

o O o

Năm 1991 ở Sài Gòn tôi được ông bạn ở Mỹ viết thư:

“Dân Mỹ bầu một anh blancbec làm Tổng Thống.”

Anh Blancbec ông bạn tôi viết đây là Tổng Thống Bill Clinton, Blancbec có nghĩa là anh con trai mới lớn không hiểu biết gì về chuyện đời. Anh Blancbec đã đem lại 8 năm kinh tế thoải mái cho dân Mỹ.

Năm 2008 tôi bầu ông John McCain làm Tổng Thống.

Năm 2012 tôi bầu ông Mitt Romney.

Gorbachev sửa đồng hồ theo giờ Mỹ của TT. Reagan. Liên Xô tiêu tán thoòng.

Ông Mitt Romney là con ông George Romney. Ông Romney Bố từng là Thống Ðốc BangMichigan. Năm 1965 là Thượng Nghị Sĩ, ông Romney Bố sang thăm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1969 ông Romney Bố ứng cử Tổng Thống Mỹ, ông thua ông Bush.

Ông Mitt Romney đi theo con đường chính trị của ông Romney Bố. Nói theo ngôn ngữ bình dân Việt Nam:

“Nhà Romney không có mả làm Tổng Thống.”

Nhớ lại những ông Tổng Thống Mỹ đã đến Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Ông Tổng Thống Mỹ thứ nhất nhất đến Việt Nam là ông Richard Nixon. Năm 1952 ông Nixon là Phó Tổng Thống – TT Ike Eisenhower – ông đến Hà Nội và Sài Gòn. Năm 1956 Phó Tổng Thống Richard Nixon đến Sài Gòn lấn thứ hai. Lần này nhân danh TT. Eisenhower ông mời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm sang thăm Hoa Kỳ.

Năm 1961 ông Phó Tổng Thống Lyndon Johnson đến Sài Gòn. Cùng đến với Phó Tổng Thống Johnson trong dịp này có bà em của Tổng Thống Kennedy

Năm 1961 anh H2T, người anh em cùng vợ của tôi, là nhân viên Nhật báo Sàigònmới. Anh H2T– com-lê, ca-vát – lên phi cảng Tân Sơn Nhất đón Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson và phái đoàn. Năm 1961 người Mỹ chưa có nhiều ở Sài Gòn. Ðường vào phi cảng không có trạm xét nào. Ra vô tự do. Người đến đón cả Việt  và Mỹ chỉ khoảng 30 người. Phóng viên H2T Sàigònmới đến với anh Nicholas Ðại, nhiếp ảnh viên Sàigonmới. Anh – H2T – dặn anh Nicholas Ðại:

“Lúc ông ấy bắt tay tôi, anh chụp tôi cái ảnh.”

Anh H2T có tấm ảnh ông Phó TT Mỹ Lyndon B. Johnson bắt tay anh đăng trên báo Sàigònmới. Trong lần đến Sài Gòn này, ông Phó TT Johnson được mời ngồi xe cyclo chạy một vòng trước Toà Ðại Sứ Mỹ đường Hàm Nghi. Ông là vị Tổng Thống Mỹ duy nhất từng ngồi xe xích-lô ở Sài Gòn.

Những năm 1965, 1967, khi là Tổng Thống, TT Johnson có đến thăm quân Mỹ ở Chu Lai. Chuyến đến của ông không được báo trước. Phi cơ đưa ông đến Ðà Nẵng, Chu Lai, ông ở đó chừng 2 giờ rồi lên ngay phi cơ về Mỹ.

Năm 2000, Tổng Thống Bill Clinton đến Hà Nội. Ðứng dưới cờ đỏ và tượng Hồ Chí Minh, TT Clinton nói lời hối tiếc về trận chiến tranh vừa qua, ông kêu gọi người Việt quên dĩ vãng để hợp tác với người Mỹ. Sau Hà Nội, TT Clinton vào Sài Gòn. Ông và bà vợ, cô con đến ăn cơm Việt Nam ở hàng ăn Phố Xưa. Chủ hàng ăn Phố Xưa là cô Như Loan. Cô là diễn viện điện ảnh, vai chính phim Ðời Chưa Trang Ðiểm. Cô chạy thoát sang Mỹ trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, cô từ Mỹ trở về Sài Gòn mở hàng ăn Phố Xưa. TT. Clinton đi ăn phở ở tiệm Phở 2000 ở Sài Gòn.

Năm 2006 TT Mỹ Bush đến Hà Nội và Sài Gòn. Ông cụng ly rượu máu với Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng. Ông mời và tiếp vợ chồng Nguyễn Minh Triết ở Nhà Trắng. Ở Sài Gòn ông đến ăn ở Nhà Hàng của cô em Trịnh Công Sơn. Bà chủ quán – lẽ ra phải ôm bà Bush – um ông Bush thấm thít.

TT. Obama chưa một lần đến Việt Nam.  Trong 4 năm nhiệm kỳ đầu của TT. Obama không thấy có anh đầu xỏ Việt Cộng nào đến Nhà Trắng.

TT Obama là ông Tổng Thống Mỹ duy nhất – và  là ông Tổng Thống duy nhất trên toàn cầu – công khai nhắc đến tên một người tù chính trị ở Việt Nam. Ông nói với dân Mỹ:

“Chúng ta hãy nhớ đến ông  Ðiếu Cày đang bị tù ở Việt Nam.”

Bọn Việt Cộng chúng nó không nể nang gì ông. Tôi – CTHÐ – cám ơn ông vì ông đã nhắc đến một người Việt Nam bị bọn Cộng ác ôn giam tù. Tuy người tù không được hưởng ân huệ của ông, việc ông làm cho tôi thấy ông có chú ý đến tình cảnh khốn khổ của người Việt chúng tôi ở trong nước. Việc bọn Cộng đối xử nặng tay với người tù Việt được ông nhắc đến cho người Việt chúng tôi thấy rõ hơn tính chất bất nhân, tàn bạo và sự không biết xấu hổ của chúng.

o O o

Sáng nay – buổi sáng 9 Tháng 11, 2012 – tôi thấy ở Mỹ dường như chẳng còn mấy người Mỹ nhớ đến Thảm Họa 9/11.

Vợ Nguyễn Minh Triết và Bà Laura Bush, Nhà Trắng Hoa Kỳ. Vợ Triết là người đàn bà Việt Nam thứ nhất làm quốc khách của Nhà Trắng.

Tôi mời quí vị đọc lại bài diễn văn nhiệm chức của Tổng Thống John F. Kennedy. Tôi thấy đây là bài diễn văn nhiệm chức Tổng Thống Hay Nhất trong các đời Tổng Thống Mỹ.

Diễn Văn của Tổng Thống John F. Kennedy đọc trong Lễ Nhiệm Chức Ngày 20 Tháng January, 1961,

Thế giới hiện nay đã khác. Nhân loại hiện có sức mạnh có thể thủ tiêu mọi hình thức nghèo đói của loài người và mọi hình thức đời sống nhân loại. Niềm tin cách mạng, mà tổ tiên chúng ta đã chiến đấu, hiện vẫn còn là vấn đề khắp toàn cầu – niềm tin rằng Nhân Quyền không phải đến từ sự ban ơn của chính phủ, mà đến từ  Thượng Ðế.

Hôm nay, chúng ta không dám quên rằng chúng ta là những người kế thừa cuộc cách mạng đầu tiên đó. Vào thời điểm này và ở nơi đây, hãy để cho mọi người biết, hãy để cho bạn  cũng như kẻ thù biết rằng, ngọn đuốc đã được chuyển đến một thế hệ mới của người Mỹ, thến hệ sinh ra trong thế kỷ này, trưởng thành từ chiến tranh, được rèn luyện từ một nền hòa bình khó khăn và cay đắng, tự hào về di sản cổ xưa của chúng ta và không muốn chứng kiến hoặc cho phép Nhân quyền từ từ bị hủy hoại, điều mà đất nước này đã cam kết và điều mà chúng ta cam kết hôm nay, trên đất nước này và trên khắp thế giới.

Hãy để mọi quốc gia biết, cho dù họ cầu mong những điều tốt lành hay những điều tồi tệ đến với chúng ta, rằng chúng ta sẵn sàng trả bất kỳ giá nào, gánh vác bất kỳ gánh nặng nào, chấp nhận bất kỳ khó khăn nào, hỗ trợ bất kỳ người bạn nào, chống lại bất kỳ kẻ thù nào, để bảo đảm tự do được thành công và tồn tại. Ðiều này chúng ta cam kết nhiều và nhiều hơn nữa.

Ðối với những đồng minh cũ có chung nguồn gốc văn hóa và tinh thần với chúng ta, chúng ta cam kết sự trung thành của những người bạn trung thành. Ðoàn kết, chúng ta có thể cùng nhau hợp tác làm được nhiều điều. Chia rẽ, chúng ta sẽ bị suy yếu và không làm được gì cả, chúng ta không dám đương đầu với sự thách thức mạnh mẽ nếu chúng ta không hợp tác và bị xé rời ra.

Ðối với những chính phủ mới, chúng tôi hoan nghênh các bạn đến với nền Tự do, Dân chủ. Chúng tôi cam kết sẽ không để một hình thức kiểm soát thuộc địa thay thế bằng một chế độ độc tài sắt máu hơn. Chúng ta không mong những chính phủ mới này luôn ủng hộ quan điểm của chúng ta, nhưng chúng ta luôn hy vọng tìm thấy sự hỗ trợ mạnh mẽ của họ đối với sự tự do của chính họ. Và nên nhớ rằng, trong quá khứ, những kẻ điên rồ tìm kiếm quyền lực bằng cách cưỡi trên lưng hổ, cuối cùng sẽ nằm trong bụng hổ.

Với những người dân sống trong những túp lều và những ngôi làng trên khắp toàn cầu, đang tranh đấu để phá vỡ xiềng xích của nỗi thống khổ tột cùng, chúng ta cam kết sẽ cố gắng hết sức để giúp đỡ họ, để họ có thể tự giúp bản thân họ, bất cứ khi nào được yêu cầu, không phải vì lo rằng cộng sản sẽ lôi kéo họ, cũng không phải vì chúng ta muốn kiếm lá phiếu của họ, mà bởi vì đó là điều chúng ta cần phải làm. Nếu một xã hội tự do không thể giúp được nhiều người nghèo khổ, thì xã hội đó không thể cứu lấy một ít người giàu có.

Với những người anh em cộng hòa của chúng ta ở phía Nam biên giới, chúng ta có một cam kết đặc biệt, sẽ biến những lời nói tốt đẹp của chúng ta thành những hành động trong một liên minh mới cho sự tiến bộ, để giúp đỡ những người dân tự do và chính phủ các nước tự do thoát khỏi đói nghèo. Nhưng cuộc cách mạng hòa bình của niềm hy vọng này không thể trở thành nạn nhân của các nước thù địch. Hãy để tất cả các nước láng giềng của chúng ta biết rằng, chúng ta sẽ tham gia với họ để chống lại sự xâm lược hay sự lật đổ, tại bất cứ nơi nào ở châu Mỹ. Và hãy để các nước khác biết rằng, chúng ta [là những nước] làm chủ bán cầu này.

Ðối với hội đồng các quốc gia trên thế giới, Liên Hiệp quốc, hy vọng tốt nhất của chúng ta trong lúc này, nơi có nhiều khả năng xảy ra chiến tranh hơn hòa bình, chúng ta tiếp tục cam kết sự hỗ trợ của chúng ta đối với Liên Hiệp quốc, để ngăn chặn nó trở thành một diễn đàn cho những lời công kích, giúp Liên Hiệp quốc có thêm sức mạnh, để giúp đỡ những nước mới thành lập và những nước nghèo khó và để giúp mở rộng hoạt động của Liên Hiệp quốc.

Cuối cùng, đối với những nước muốn làm kẻ thù của chúng ta, chúng ta yêu cầu: cả hai phía hãy tìm kiếm hòa bình, trước khi khoa học tung ra sức mạnh của sự hủy diệt đen tối, nhấn chìm tất cả nhân loại, như đã lên kế hoạch hoặc chỉ bất ngờ xảy ra.

Chúng ta không thể cho thấy sự yếu đuối. Chỉ khi nào chúng ta có đầy đủ vũ khí, chúng ta chắc chắn rằng cả hai phía, không bên nào dám tấn công.

Nhưng hai cường quốc hoặc hai nhóm các nước cường quốc không thể thoải mái làm điều này, bởi vì cả hai phía hiện đã quá tải vì chi phí cho các loại vũ khí hiện đại, cả hai phía đã được báo động do việc phổ biến bom nguyên tử chết người, nhưng cả hai phía vẫn chạy đua để thay đổi sự cân bằng không chắc chắn về mối đe dọa chiến tranh hạt nhân, sẽ giúp chúng ta không tấn công nhau.

Cho nên chúng ta hãy thử một lần nữa, cả hai phía đều nhớ rằng, lịch sự không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, và sự chân thành luôn phải được chứng minh. Chúng ta không bao giờ thương lượng vì sợ hãi. Nhưng chúng ta cũng không bao giờ sợ hãi để rồi thương lượng.

Hãy để hai phía tập trung vào những điểm chung có thể làm cho chúng ta đoàn kết, thay vì phải lo lắng đến những vấn đề chia rẽ chúng ta.

Lần đầu tiên, hãy để hai phía đưa ra những đề xuất chính xác và nghiêm túc, xem xét và kiểm soát vũ khí, và đem sức mạnh tuyệt đối hủy diệt các nước khác, đặt dưới sự kiểm soát hoàn toàn của tất cả các nước.

Hãy để hai phía sử dụng khoa học vào những mục đích tốt thay vì sử dụng khoa học với mục đích [làm cho thế giới] kinh hoàng. Chúng ta hãy cùng nhau khám phá những ngôi sao, chinh phục các sa mạc, xóa bỏ bệnh tật, khai thác sâu dưới đáy đại dương, cổ vũ nghệ thuật và thương mại.

Hãy để hai phía đoàn kết, chú ý đến mọi nơi trên trái đất, theo lời của đấng tiên tri Isaiah, để “không phải mang những gánh nặng… và giải cứu mọi kẻ bị áp bức”.

Và nếu bắt đầu hợp tác, chúng ta có thể đẩy lùi cả khu rừng của sự nghi ngờ, hãy để hai phía tham gia tạo một nỗ lực mới, không phải là một sự cân bằng quyền lực mới, mà là một thế giới luật pháp mới, thế giới mà những nước mạnh không thể đánh những nước yếu, và những nước yếu được an toàn, và nền hòa bình được bảo vệ.

Tất cả những điều này sẽ không thể hoàn thành trong 100 ngày đầu tiên [của một nhiệm kỳ tổng thống]. Cũng không thể hoàn thành trong 1.000 ngày đầu tiên, cũng không thể nào thực hiện trong nhiệm kỳ của chính phủ này, thậm chí có thể không làm được trong suốt cuộc đời của một con người sống trên hành tinh này. Nhưng hãy để chúng ta bắt đầu.

Ðồng bào của tôi ơi, sự thành công hay thất bại cuối cùng trong tất cả mọi hành động của chúng ta đều nằm trong tay của quý đồng bào, nhiều hơn là nằm trong tay của tôi. Kể từ khi đất nước này được thành lập, mỗi thế hệ người Mỹ đã chiến đấu để thể hiện sự trung thành đối với quốc gia. Những ngôi mộ của những người Mỹ trẻ tuổi đã đáp lại sự trung thành đó, phục vụ trên khắp địa cầu.

Bây giờ tiếng kèn lại gọi chúng ta nữa, không phải lời kêu gọi để cầm vũ khí, mặc dù chúng ta cần vũ khí, không phải lời kêu gọi chiến đấu, mặc dù chúng ta đã dàn quân, mà là lời kêu gọi để gánh vác cuộc đấu tranh lâu dài, hàng năm, “vui mừng trong hy vọng, kiên nhẫn trong hoạn nạn”, một cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của con người: sự chuyên chế, nghèo đói, bệnh tật và chiến tranh.

Có thể nào chúng ta cùng nhau chống lại những kẻ thù của một liên minh lớn và toàn cầu, Bắc và Nam, Ðông và Tây, để có thể bảo đảm một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả nhân loại hay không? Các bạn có sẽ tham gia vào nỗ lực lịch sử đó không?

Suốt chiều dài lịch sử thế giới, chỉ có một vài thế hệ được ban cho vai trò bảo vệ tự do trong giờ phút nguy hiểm tột cùng. Tôi không trốn tránh trách nhiệm này, tôi chào đón nó. Tôi không tin rằng người nào đó trong chúng ta muốn đổi vị trí với bất kỳ người nào khác hoặc thế hệ nào khác. Nghị lực, đức tin, sự hiến thân mà chúng ta mang đến nỗ lực này sẽ thắp sáng đất nước ta và những người phục vụ nó, và sự phát sáng từ ngọn lửa đó có thể thật sự soi sáng thế giới.

Và những người bạn Mỹ của tôi, đừng hỏi đất nước sẽ làm gì cho các bạn, mà hãy hỏi các bạn đã làm được gì cho đất nước mình.

Những người bạn trên thế giới của tôi, đừng hỏi nước Mỹ sẽ làm gì cho các bạn, mà hỏi chúng ta có thể cùng nhau làm được gì cho tự do của nhân loại.

Cuối cùng, cho dù các bạn là công dân Mỹ hay là công dân thế giới, hãy yêu cầu chính phủ sống và chịu đựng giống như chính phủ đòi hỏi người dân phải sống như vậy. Với lương tri trong sáng, chúng ta biết chắc chắn ta sẽ được đền bù, lịch sử cuối cùng sẽ phán xét những việc làm của chúng ta. Chúng ta bảo vệ đất nước mà chúng ta yêu quý  nhờ Thượng Ðế phù hộ và giúp đỡ, nhưng chúng ta phải biết rằng, công việc của Thượng Ðế chính là công việc của chúng ta..

Ngưng Diễn Văn.

Hãy để mọi quốc gia biết, cho dù họ cầu mong những điều tốt lành hay những điều tồi tệ đến với chúng ta, rằng chúng ta sẵn sàng trả bất kỳ giá nào, gánh vác bất kỳ gánh nặng nào, chấp nhận bất kỳ khó khăn nào, hỗ trợ bất kỳ người bạn nào, chống lại bất kỳ kẻ thù nào, để bảo đảm tự do được thành công và tồn tại

Và những người bạn Mỹ của tôi, đừng hỏi đất nước sẽ làm gì cho các bạn, mà hãy hỏi các bạn đã làm được gì cho đất nước mình

CTHÐ: Tôi dành quyền suy luận và kết đoán cho các vị. Chỉ xin buồn hỏi một câu:

“Những người Mỹ đã đáp ứng ra sao với những lời kêu gọi của ông Tổng Thống của họ?”

Lá Mặt, Lá Trái

Mời quí vị đọc bài viết của ông Nguyễn Thiếu Nhẫn.

BÁC SĨ NGUYỄN Ý ÐỨC – MỘT KẺ LÁ MẶT, LÁ TRÁI ?!

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức ra mắt sách ở Hà Nội.

Dẫn nhập: Mới đây, trên các diễn đàn điện tử toàn cầu, bác sĩ Nguyễn Ý Ðức có phổ biến bản tin “Lương y bất lương tri (?)” có nội dung kể lại chuyện xin lỗi của Hiệp hội Y sĩ nước Ðức về những thử nghiệm mà các bác sĩ Ðức Quốc Xã đã thực hiện với dân Do Thái trong các trại tập trung vào thời kỳ Hiller nắm quyền từ năm 1933-1945.

Cuối bài, bác sĩ Nguyễn Ý Ðức viết:

“Phải chi những ai gây ra đấu tố giết hại địa chủ, lập ra những trại tập trung tù đầy hành xác người cùng dòng máu Tiên Rồng cũng có lời SORRY tương tự thì lòng người chắc sẽ hòa thuận hơn, để cùng nhau góp phần xây dựng quê hương đất nước”.

Có thực bác sĩ Nguyễn Ý Ðức là “một lương y có lương tri” khi viết những dòng chữ như thế?!

Hay đây chỉ là cách chạy tội của một người tay trót đã nhúng chàm?!

Theo chúng tôi được biết, năm 2009, ký giả Hồng Phúc (Lê Hồng Long) tố cáo đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại của ông Ngô Ngọc Hùng, em của bà Ngô Thị Hiền, ở DC liên lạc với VC ở Ba Lan để “chiêu hồi” VC – qua lời giới thiệu của bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, người viết rất nhiều bài về y khoa được đăng trên rất nhiều báo giấy ở hải ngoại.

Chúng tôi cũng được biết khi về tham dự đại hội Việt kiều trước đây tại Hà Nội, bác sĩ Nguyễn Ý Ðức  đã được Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch của CSVN tổ chức cho ông ra mắt sách “Sức Khoẻ của Người Cao Niên”.

Theo quan niệm của chúng tôi, bác sĩ Nguyễn Ý Ðức với những việc làm “lá mặt, lá trái” của ông ta mới là  nguy hiểm cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Bởi vì “Minh thương dị đoá/Ám tiễn nan phòng!” (Dịch nghĩa: Giáo ngoài sáng dễ né/Tên trong tối khó ngừa (Mỹ Lan).

Những loại “trí thức” như Nguyễn Hữu Liêm, Vũ Ðức Vượng, Tú Gàn Nguyễn Cần, Trần Kiêm Ðoàn, Trần Chung Ngọc, Lê Trọng Văn… này nọ không nguy hiểm bằng loại người như bác sĩ Nguyễn Ý Ðức. Bởi vì, sau lớp vỏ bọc nhung là những kiến thức y khoa là mủi dao kịch độc đâm vào cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản của ông bác sĩ “lá mặt, lá trái” này.

Xin mời bạn đọc đọc bài viết sau đây.

o O o

Cách đây 7 năm, theo tin báo chí, khắp nơi đã tổ chức tiệc gây quỹ để yểm trợ những người trẻ Việt Nam ra ứng cử vào các chức vụ dân cử tại Hoa Kỳ vào ngày 2-11-2004.

Một buổi tiệc gây quỹ yểm trợ  luật sư Trần Thái Văn do cộng đồng Dallas Fort Worth, Texas tổ chức đã thành công tốt đẹp. Theo tường thuật của bài báo thì,:

“Sau phần tâm tình chung chung về việc tranh cử, tranh đấu, vinh danh lá cờ vàng đầu tiên tại Cali, vận động Hội đồng thành phố cấm các phái đoàn VC vào thành phố Westminster v.v… luật sư Trần Thái Văn đã được cử tọa tưởng thưởng bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt.

Phần cuối của bữa cơm gây quỹ là phần trả lời một số câu hỏi từ phía cử tọa. Một lần nữa, luật sư Trần Thái Văn đã trổ tài đối đáp khéo léo liên quan nhiều vấn đề khác nhau. Việc nói tiếng Việt lưu loát của anh là một điểm son đáng ghi nhận.

Cuối cùng – một lời góp ý, tâm tình hơn là một câu hỏi của bác sĩ Nguyễn Ý Ðức:

“Tôi tin rằng luật sư sẽ đắc cử một khi được Ðảng Cộng Hòa đưa ra tranh cử. Năm 1954, chúng tôi được bố mẹ đưa vào Nam vì không thể sống với cộng sản. Năm 1975, chúng tôi lại đưa con cái một lần nữa ra đi lánh nạn cộng sản. Thế nhưng bây giờ tuổi đã già, chỉ mong ở thế hệ trẻ tiếp tục đấu tranh cho quê nhà sớm có tự do dân chủ là điều tối cần. Chính luật sư và các bạn trẻ đã đứng lên giữ lại căn cước của chúng ta, đó là Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ.”(do Lão Móc in đậm)

Nói xong bác sĩ Ðức đã mang ra một xấp cờ Vàng và cờ Mỹ phân phát cho mọi người và nhắc nhở:

“Ðó chính là căn cước của chúng ta.”

Chắc chắn mọi người hết sức ngợi khen lời phát biểu “thiên kinh, địa nghĩa” của bác sĩ Nguyễn Ý Ðức vì ông ta đã ca tụng luật sư Trần Thái Văn và ca tụng những người trẻ tuổi đã đứng lên giữ lại căn cước của chúng ta qua việc đem Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ và cờ Mỹ phân phát ở buổi cơm gây quỹ cho luật sư Trần Thái Văn và nhắc nhở với mọi người:

“Ðó là căn cước của chúng ta.”

Thực tế, chuyện vậy mà không phải vậy!

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức chỉ sử dụng Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ như tấm bình phong để che đậy bộ mặt thật mà ông ta đã hành xử khi được Trung tâm William Joiner (WJC) tuyển chọn cho chương trình “(Re)constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora” được WJC dịch ra là “Tái Xây Dựng Diện Mạo Và Quê Hương Người Việt Ở Nước Ngoài”, niên khóa 2001-2002 cùng với ông nhà văn quân đội “chạy trốn tổ quốc” Hoàng Khởi Phong và ông nhà văn “ăn cơm Quốc gia thờ ma Việt Cộng” Nguyễn Mộng Giác.

Theo WJC, ông Nguyễn Ý Ðức là “bác sĩ Gia đình và Lão khoa, sáng lập viên tổ chức Cộng đồng Việt Nam tại Baton Rouge và phụ cận.”

Như trên đã viết, nếu chỉ đọc qua bản tin gây quỹ được tổ chức ở một nhà hàng ở Arlington, Texas, ai cũng thấy bác sĩ Nguyễn Ý Ðức là người trí thức rất “ưu thời, mẫn thế”, sau 30 năm định cư ở Hoa Kỳ mà vẫn nặng lòng với Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ, nhắc nhở mọi người hãy nhớ đó là căn cước của chúng ta!

Nhưng đó chỉ là cái mặt nạ bên ngoài của ông bác sĩ Nguyễn Ý Ðức. Ðể biết rõ mặt thật của ông bác sĩ này, xin mời độc giả đọc những trích đoạn trong bài viết “Chương Trình Học Bổng Nhân Văn Quỹ Rockefeller (Rockefeller Foundation Humanities Fellowship) Mục Ðích& Nội Dung& Tuyển Chọn Nghiên Cứu Viên (Goal & Purport & Selection) của ông Nguyễn Hữu Luyện, một trong những nguyên đơn đã đứng ra kiện Trung Tâm William Joiner (WJC) vì Trung Tâm này đã thuê mướn 2 cán bộ VC là Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi viết lại căn cước của người Việt Quốc Gia tỵ nạn CS trên khắp thế giới.

Ông Nguyễn Hữu Luyện đã viết như sau:

Hai nhà “học giả” đại bịp này đang cố gắng dùng chương trình của WJC để làm cái việc gọi là “làm rõ căn cước dân tộc trong tâm hồn cộng đồng người Việt hải ngoại” bằng cách vắt nặn những lời tự thú của người hải ngoại như sau:

“Chúng tôi là những kẻ bại trận trong cuộc nội chiến, những tàn dư của một đạo quân và xã hội bại trận, gần một triệu linh hồn bị bứng trồng vào một môi trường hoàn toàn xa lạ…”

Qua lời tự thú đó, Hiến dẫn đến hiện tượng kinh hoàng trong đầu người tỵ nạn:

“Qua thư nhà tôi thấy mình còn tốt phước hơn nhiều người. Như anh tôi, như bạn bè tôi đang học tập cải tạo, có thằng đã chết. Ở đó tù tội, hành xác, hành tinh thần, địa ngục triền miên. Vậy mà tôi không thấy sướng khi ở đây. Ðịa ngục Việt Nam tôi trốn được. Nhưng còn cái địa ngục tôi mang kè kè trong đầu, tôi biết trốn ở đâu.”

Sau khi dùng thủ thuật bài ba lá để đưa ra những hình ảnh đau đớn kinh hoàng của người tỵ nạn CS, Hiến đưa ra một lối thoát cho những nạn nhân này của Hiến:

“… với chủ trương trở về cội nguồn, bằng con đường hòa hợp dân tộc, phá vỡ mọi biên cương, mọi định kiến, hướng tầm nhìn về tương lai, đặt lại tiền đồ dân tộc trên hận thù…” (do Lão Móc in đậm) Hoàng Ngọc Hiến cố gieo vào đầu người đọc ở những thế hệ sau hình ảnh lớp người di tản nay đã già nua, sống trong buồn thảm kinh hoàng như mang cả cái địa ngục ở trong đầu, cùng với cái bi kịch thiếu quê hương… Ðám già này trở nên mất trí. Trong lĩnh vực văn học, những cái do Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi viết ra, chỉ là cách viết theo quan điểm của người viết mà thôi. Ðể bảo đảm giá trị cho những gì hai “học giả” này đã viết, VC đã cho WJC “dụ” một nhân vật nào đó, có thẩm quyền y tế về khoa “người già” để xác nhận những gì Hiến và Chi đã viết.

Vì vậy WJC mời bác sĩ Nguyễn Ý Ðức viết bài “Tìm Hiểu Về Người Cao Niên ViệtNam Tại Hoa Kỳ”.

Theo ông Nguyễn Hữu Luyện thì: “Thật là khó hiểu, vì chương trình nghiên cứu này đã hoàn thành từ tháng 9-2003, mà bây giờ là tháng 12 khi bác sĩ Ðức gửi bài nhờ sửa sau khi bị dư luận lên án.”

Ông Nguyễn Hữu Luyện sau khi đọc bài bác sĩ Nguyễn Ý Ðức kết luận người già ViệtNam ở Hoa Kỳ bị bệnh hoạn cả tâm thần lẫn thể xác đã có những nhận xét như sau:

“Bài viết của BS Ðức chỉ có 14 trang, và là bài nộp chính thức [final project], viết theo cách thông thường như một bài luận văn với những sai lầm rất sơ đẳng.

Xin mời quý vị đọc:

“… Tới nước Mỹ vào đợt đầu hoặc các đợt kế tiếp, hiện nay người chủ gia đình hầu như đều vào tuổi ngoài 60. Một số đông người cao tuổi Việt Nam đều có sức khoẻ từ kém tới trung bình vì những lý do như sau:

a.Hầu hết trải qua trên phần tư thế kỷ sống trong và liên hệ trực tiếp tới cuộc chiến tàn hại tại Việt Nam.

…d. Họ mang nhiều bệnh kinh niên, tâm thần cũng như thế xác:

e. Bệnh thể xác (Chữ “thể xác” là từ ngữ mang ý nghĩa khinh miệt. Ðáng lẽ ra BS Ðức nên dùng chữ cơ thể hoặc thân thể cho thanh nhã và tôn trọng những người già này.)

f. Bệnh tâm thần: Con số người già VN tại Hoa Kỳ bị bệnh tâm thần cũng khá cao mà vấn đề chính là trầm cảm hoặc khổn lực do chấn động. Nguyên nhân nói chung là mất mát quê hương, tài sản, nghề nghiệp, thân nhân, bạn bè; những khó khăn thích nghi trong nếp sống mới; những bực bội vì gia phong đảo ngược… Bệnh ít được phát hiện vì người Việt vốn kín đáo, dè dặt không muốn nói ra khó khăn của mình, không quen với khoa tâm thần cũng như ít tin tưởng ở phương thức cố vấn, điều trị… [Phần quy trách cho hậu quả nhà tù VC] Tâm thần họ bị hoảng loạn, trí não suy nhược. Khi họ được nhập cảnh Hoa Kỳ, họ rất khó khăn hội nhập, không học được tiếng Anh. Một số đông phụ thuộc vào chương trình an sinh xã hội hoặc con cái, nhưng đa số đều cố gắng đi làm. Hiện nay có nhiều ngàn người khó khăn thi vào quốc tịch Hoa Kỳ vì kém Anh văn (trang 9).

…3. Khó khăn vì sư kỳ thị mầu da, chủng tộc.

Dù đã có nhiều tiến bộ trong lãnh vực này, nhưng người Mỹ thiểu số, đặc biệt là dân châu Á vẫn chịu nhiều kỳ thị trong mọi lãnh vực. Một người già VN không thể nào được hưởng đầy đủ sự chăm sóc như người Mỹ da trắng ở bệnh viện, ở nhà dưỡng lão; khi cần sự bảo vệ của giới chức an ninh thì phải đợi lâu hơn mới được phục vụ; dù là được coi như thiểu số nhưng khi xin cho con cháu học chương trình đặc biệt thì bị xếp vào nhóm Mỹ da trắng với tiêu chuẩn cao hơn… Và còn nhiều thiệt thòi, phân biệt khác nữa chỉ vì họ không phải là dân da trắng hoặc ít nhất cũng là da đen.”

Ông Nguyễn Hữu Luyện đã có những nhận xét như sau về việc tìm hiểu những người già VN của bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, được WJC giới thiệu là “bác sĩ Gia đình và Lão khoa” (nhưng không cho biết là có đang hành nghề hay không) và là “sáng lập viên tổ chức Cộng đồng Việt Nam Baton Rouge và vùng phụ cận”:

1.      BS Ðức nói rằng nguyên nhân của bệnh tâm thần nói chung là do mất mát quê hương, tài sản, nghề nghiệp, thân nhân, bạn bè thì hoàn toàn sai. Hai học giả CS nói như vậy thì được và đúng với vai trò lừa bịp của họ, vì họ cố tình miệt thị người tỵ nạn CS nên họ cố tình mô tả sai lạc sự thật. BS Ðức là người tỵ nạn CS thì phải hiểu sự thật là thế hệ tỵ nạn già nua này tự nguyện bỏ nước ra đi, nửa triệu người chết trên đường đi tìm tự do, mà lớp lớp người vẫn cứ ồ ạt ra đi. Lớp người di tản ra đi để chờ này trở lại quê hương an bình, tự do, hạnh phúc, họ không mang tâm trạng buồn khổ và xót xa như những người tù bị đầy ải biệt xứ. Tâm trạng của những người già này giống như người chủ nhà phải ra khỏi căn nhà của mình khi căn nhà đó bị ô nhiễm vi trùng dịch bệnh nguy hiểm, và họ đợi sau khi tẩy uế xong, họ sẽ trở về sống trong căn nhà hạnh phúc đó.

2.      Trải qua 25 năm hay 55 năm chiến tranh đi nữa thì những ông già này cũng là cựu quân nhân QLVNCH, một đạo quân có truyền thống chiến đấu bảo vệ lãnh thổ của chính mình để chống chủ nghĩa CS xâm lăng trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Khi về già thì những kỷ niệm chinh chiến là những kỷ niệm hào hùng để mấy ông già này vui vẻ ôn lại cho con cháu, bạn bè. Hai học giả CS nói rằng hình ảnh chiến tranh kinh hoàng đã làm lớp người già bị sợ hãi đến sinh ra bệnh tâm thần vì họ cố tình mô tả khinh miệt thế hệ già. Sao BS Ðức lại kết luận như vậy. Nếu QLVNCH là một bọn lính đánh thuê thì vì không có lý tưởng, không có trách nhiệm, 25 năm chinh chiến có thể trở nên bạc nhược và vì sợ hãi cảnh chiến trường mới có thể hoảng loạn tâm thần như BS Ðức nói.

3.      BS Ðức viết về vấn đề cực kỳ quan trọng đến phẩm giá của cả thế hệ di tản mà không đưa ra một tài liệu tham khảo, thống kê hoặc đích thân khảo sát theo đúng phương pháp nghiên cứu. Nếu BS Ðức dùng phương pháp khảo sát như làm “sample” [chọn điển hình] rồi làm “generalization” [khái quát hóa] thì ít nhất BS Ðức cũng thấy phải có một tỷ lệ nào đó còn tỉnh táo và còn tiếp tục hoạt động và sống bình thường, có lẽ nào toàn bộ thế hệ người Việt Quốc Gia di tản sống như “cục thịt”, ở VN thì bị VC kỳ thị chính trị, chạy sang Hoa Kỳ thì bị người Mỹ kỳ thị chủng tộc, chịu đựng đau khổ, nhục nhã đến mang bệnh tâm thần. Ít nhất thì BS Ðức cũng biết có hai người không bị kỳ thị chủng tộc là bản thân BS Ðức và phu nhân của ông (do tác giả bài này in đậm) Như vậy sao BS không nói cho hậu thế biết?

4.      Vấn đề kỳ thị màu da là VC đang muốn rêu rao để hạ thấp hay làm nhục thế hệ người Việt bỏ nước ra đi làm thân tôi mọi xứ người. Nhưng VC vì biết rõ đời sống xã hội và luật pháp Hoa Kỳ nên không dám nói. Nay được một vị BS Việt ở Hoa Kỳ nói ra thay cho chúng thì chúng mừng biết bao. Chắc BS Ðức quên rằng kể từ cuộc “March on Washington” của 300 ngàn người da đen với rất nhiều người da trắng đi trong hàng ngũ biểu tình để ủng hộ vào năm 1963, và khi Tiến sĩ Martin Luther King đọc bài diễn văn lịch sử “Tôi mang một giấc mơ – I have a dream” tại Ðài Tưởng niệm cố Tổng Thống Lincoln là hồi chuông báo tử của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Cái chết của Martin Luther King vào tháng 4-1968 đã dẫn đến việc lấy ngày sinh nhật của Tiến sĩ Martin Luther King làm ngày lễ nghỉ trên toàn quốc. Kỳ thị màu da, chủng tộc là những vi phạm luật pháp nghiêm trọng do đó không một người Mỹ trắng nào dám làm. Tôi tin rằng BS Ðức không thể chứng minh được lời ông nói. Một bằng chứng hiển nhiên là WJC kỳ thị về employment đối với cộng đồng người Việt nên đã bị khởi tố trước Tòa án, và WJC đang phải vất vả đối phó, Giám đốc WJC, Tiến sĩ Kevin Bowen và các viên chức cao cấp của Trung Tâm đã phải đi khai cung nhiều lần để chờ tòa xét xử. Như vậy làm sao có thể kỳ thị chủng tộc khi “hated crime” trở thành tội hình sự. Affirmative Action là một chính sách phải áp dụng nghiêm khắc. Kỳ thị theo BS Ðức là xảy ra một cách có hệ thống rồi. Ðiều này là một lầm lẫn rất có hại cho bản thân ông Ðức vì ông Ðức không thể chứng minh được lời ông đã nói. Ngày nay Hoa Kỳ không những có luật bảo vệ các nhóm thiểu số, mà còn có chính sách ưu đãi những nhóm này để khỏi bị thiệt thòi so với nhóm da trắng. Kỳ thị có thể còn tồn tại trong phạm vi giữa cá nhân và trong giới hạn nhỏ. Luật pháp sẽ can thiệp ngay tức khắc.

5.      Việc BS Ðức nói con em người châu Á phải xếp loại ngang hàng người da trắng khi xin học các chương trình đặc biệt. Ðiều đó đúng, nhưng nó là lẽ công bằng và hoàn toàn hợp lý nếu BS Ðức chịu nghiên cứu trước khi viết: Vì tỷ lệ con em của Asian group dự vào các chương trình này ÐÔNG hay NHIỀU hơn dân da trắng [tính theo tỷ lệ dân số của nhóm dân Mỹ gốc Châu Á này đối với dân da trắng]. Hơn nữa, nhiều trí thức trong nhóm thiểu số đã thấy hổ thẹn vì họ nhận học vị do ưu đãi, không phải do năng lực, nên nhiều người không muốn công nhận các đặc ân đó để giữ giá trị cho học vị của họ đối với người da trắng.

6.      Mong sao BS Ðức xét lại toàn bộ bài viết để nói lên sự thật cho hậu thế nhìn thấy cha ông chúng là ai, và sống như thế nào!

o O o

Nhà văn Diệu Tần, cựu Ðệ Nhất Phó Chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trong “Bản văn số 07, ngày 21-3-2004” của “Chương Trình Hỗ Trợ Vụ Kiện WJC” có đoạn viết:

“Chúng tôi được đọc trước bài sơ thảo của bác sĩ đó viết do WJC phân công: “Người già Việt Nam ở Mỹ”. Bài viết hoàn toàn u ám, tiêu cực, chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề, quên đi mặt tích cực, quên đi nguyên do chính khiến người già bị đủ thứ bệnh đó là do kẻ nào gây ra. Trong bài cũng có những dòng đụng chạm đến cộng sản, nhưng đây là những đụng chạm có cho phép, hoặc sẽ bị kiểm duyệt bỏ. Chúng tôi chắc chắn rằng những công chức, quân nhân Miền Nam chúng ta đã bị cộng sản tù đầy, hành hạ, đọc bài viết này sẽ vô cùng phẫn nộ.”

Ðiều đáng nói ở đây là đã 30 năm cầm quyền, Việt Cộng vẫn không đưa được lá cờ của chúng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Cờ của chúng đi tới đâu cũng bị chính người ViệtNam phỉ nhổ tới đó. Nếu lớp người già mang bệnh kinh niên cả tâm thần lẫn thể xác như BS Nguyễn Ý Ðức nói thì ai đấu tranh, ai truyền lại ý thức đấu tranh cho tự do của Việt Nam cho thế hệ trẻ? Vụ Trần Trường ở California, vụ đài truyền hình SBS ở Úc, ai đã trực tiếp đấu tranh và hướng dẫn thế hệ trẻ? Không ai chối cãi, thế hệ già có những người bệnh hoạn cả tâm thần lẫn thân thể, nhưng tỷ lệ là bao nhiêu phần trăm? Những người già không bệnh hoạn thì sống như thế nào? Làm gì? Ðã đạt được những thành quả gì? Bản thân BS Nguyễn Ý Ðức cũng nằm trong số những người già hải ngoại, ông có bị đau khổ vì bị kỳ thị màu da không? Nếu có thì vì sao ông lại được mang danh là hội viên của những hội lớn, nổi tiếng của giới trí thức Hoa Kỳ?”

Và ông Nguyễn Hữu Luyện đã kết luận về việc làm của Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức như sau:

“WJC dùng BS Nguyễn Ý Ðức như một thẩm quyền xác nhận về tình trạng tâm thần của người già với hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) mà BS Ðức dịch là “trầm cảm hoặc khổn lực”, hoàn toàn ăn khớp với luận điệu của Hiến và Chi. Ðây là một hành động vô tình (?) vô cùng tai hại cho vị trí lịch sử thế hệ di tản. Và cũng chính vì lẽ đó, chúng ta phải cương quyết bằng bất cứ giá nào, phải vô hiệu hóa toàn bộ chương trình nghiên cứu đầy gian manh và tội ác này. Ðồng thời đưa vào kho tàng văn học và văn hóa của Hoa Kỳ cũng như của thế giới một tài liệu chân chính về cộng đồng người Việt tỵ nạn CS trên khắp thế giới.” (*)

o O o

Qua tường trình của báo chí cũng như qua trích đoạn bài viết của ông Nguyễn Hữu Luyện, người ta thấy rõ bác sĩ Nguyễn Ý Ðức là người có hai bộ mặt.

Trong hoạt động cộng đồng, bác sĩ Nguyễn Ý Ðức đã đeo chiếc mặt nạ của người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản ngợi ca luật sư Trần Thái Văn, một ứng cử viên vào chức vụ Dân biểu tại tiểu bang California, kêu gọi giới trẻ hãy giữ vững căn cước của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản là Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ.

Cùng lúc, bác sĩ Nguyễn Ý Ðức có một bộ mặt khác là bộ mặt của một người trí thức “xanh vỏ, đỏ lòng” tiếp tay với bọn phản chiến Mỹ và bọn tay sai Việt Cộng trong WJC thực hiện âm mưu nhuộm đỏ căn cước và vị trí người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản trên khắp thế giới với bài viết “Tìm Hiểu Về Người Cao Niên Việt Nam Tại Hoa Kỳ”.

o O o

Trong văn học Hoa Kỳ có truyện “Dr. Jekyll and Mr. Hyde” của nhà văn Robert Louis Stevenon (1886) là một truyện nổi tiếng và rất phổ biến ở Mỹ, mô tả một nhân vật có 2 bộ mặt trái ngược, một là Bác sĩ Jekyll thì rất đàng hoàng tử tế nhưng khi bác sĩ Jekyll trở thành ông Hyde (dấu mặt Jekyll) thì y rất tàn bạo, bất nhân, xấu xa đủ thứ – Mỹ gọi là a good-evil dichotomy tức là “một kẻ lá mặt lá trái.”

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức “bảnh” hơn bác sĩ Jekyll của nhà văn Robert Louis Stevenon nhiều: bác sĩ Nguyễn Ý Ðức chẳng cần giấu mặt, cũng chẳng cần phải thay tên, đổi họ mà vẫn giở được trò lá mặt, lá trái trước bàng dân thiên hạ một cách ngon lành các cái!

(*) “WJC âm mưu nhuộm đỏ căn cước và vị trí người Việt tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới” do “Nhóm ủng hộ vụ kiện WJC” xuất bản năm 2004.

NGUYỄN THIẾU NHẪN

(Trích trong NGUYỄN THIẾU NHẪN TUYỂN TẬP, TẬP I đã phát hành trong tháng 1 năm 2010).

Mua sách xin liên lạc với tác giả qua email: laomoc247@gmail.com

Một Thời Vang Tiếng

Tuyết sương lạnh ngắt sự đời,
Kỳ Hoa Ðất Trích nhớ  người ngày xưa.

Bão Sandy vừa đi qua miền Ðông Bắc Hoa Kỳ, nơi tôi sống từ 18 năm nay – Thành phố Falls Church, Quận Fairfax, Virginia – may mắn không bị Sandy tàn phá. Fairfax, Washington D.C, ở ngoài vòng hủy hoại của Sandy – Fairfax chỉ bị mất điện từ  5 giờ chiều ngày Thú Hai 29 Tháng 10, 2012; đến 10 giờ sáng ngày Thứ Ba 30 Tháng 12, 2012 computer của tôi lại sáng lung linh. Cuộc sống của vợ chồng già Rừng Phong lá vàng trở lại bình thường. Sáng nay Ngày 1 Tháng 11, 2012 tôi trong phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, an ninh 500/100, viết những dòng chữ này.

Chuyện người ngày xưa tôi nhớ, tôi kể hôm nay là chuyện về một số ông Nhà Văn, Nhà Thơ Bắc Kỳ – những ông nổi danh, có tác phẩm xuất bản, được đời công nhận là văn sĩ, thi sĩ trước năm 1945 – vào sống trong miền Nam khi đất nước bị chia cắt năm 1954. Những ông:

Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Nhất Linh Tam Lang, Ðỗ ÐứcThu, Nguyễn Vỹ, Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc, Vi Huyền Ðắc, Bàng Bá Lân, Ðinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Á Nam Trần Tuấn Khải.. v..v..

Nhà Tiểu thuyết Trinh thám Phạm Cao Củng, Hà Nội năm 1950.

Tôi không nhớ hết tên những ông nhà văn Bắc Kỳ di cư vào Nam, nhớ được ông nào tôi kể tên ông ấy. Những gì tôi viết về các ông có thể có chuyện không đúng. Biết sao, nhớ gì tôi viết vậy.

Từ năm 1960 ở Sài Gòn những ông nhà văn Bắc Kỳ di cư còn viết là các ông Nhất Linh, Vũ Bằng, Nguyễn Vỹ, Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc. Tôi không biết ông Lê Văn Trương sau chiến tranh Việt Pháp, trở về Hà Nội năm nào. Tôi chỉ  thấy trước năm 1954 ông Nhà văn Lê Văn Trương không cầm bút viết lại ở Hà Nội. Vào Sài Gòn năm 1954 ông Lê Văn Trương không viết qua một văn phẩm nào, dù chỉ là một truyện ngắn. Ông là Nhà Văn có nhiều tác phẩm tiểu thuyết nhất Việt Nam được xuất bản trước năm 1945. Sau năm 1954 ông là Nhà Văn Di Cư sống và chết khổ cực nhất ở Sài Gòn. Tôi sẽ viết một bài riêng về Nhà Văn Lê Văn Trương và tiểu thuyết Trường Ðời của ông.

Ông Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc là Nhà Văn sống và viết phong lưu nhất trong số các ông Nhà Văn Bắc Việt di cư. Tôi không biết vì nguyên nhân nào sau năm 1956 ông Lãng Nhân làm Giám Ðốc Nhà In Kim Lai Án Quán, một nhà in lớn của người Pháp.

Ở Hà Nội người Pháp lập nhà in IDEO – Imprimerie d’Extrême Orient, ở Sài Gòn người Pháp có nhà in IFOM – Imprimerie Francaise d’Outremer. Sau năm 1956 người Pháp về nước, ông Lãng Nhân trở thành giám đốc nhà in IFOM, ông đổi tên IFOM thành Kim Lai Ấn Quán, ông Phan Cao Phái trở thành giám đốc Nhà Sách Albert Portail, ông đổi tên nhà sách là Xuân Thu Thư Quán. Hai cái tên Việt thật hay. Tôi không biết hai ông Lãng Nhân, Phan Cao Phái mua lại nhà in, nhà sách hay hai ông được chủ nhân Pháp giao cho quyền làm giám đốc, hay có những ông người Việt mua lại nhà in, nhà sách và giao cho hai ông quản đốc.

Trong bài này tôi viết về ba ông Nhà Văn, Nhà Thơ Bắc di cư chìm mất trong dòng đời, các ông:

  • Ðỗ Tốn, tác giả tiểu thuyết Hoa Vông Vang.
  • Phạm Cao Củng, tác giả những tiểu thuyết Kỳ Phát.
  • Thái Can, thi sĩ trước năm 1945.

Tiểu thuyết Hoa Vông Vang được Nhà Ðời Nay xuất bản năm 1945 ở Hà Nội. Ðây là bài TỰA Hoa Vông Vang Nhất Linh viết tại Quảng Châu, Tháng 12 năm 1942.

Ðây là tập truyện ngắn của một nhà văn còn trẻ tuổi, bạn tôi.

Mỗi lần khuyên một người còn ít tuổi quá mà viết văn, theo thói quen tôi chi mong được tác giả cho xem những tập truyện có tính cách mơ màng, bóng bẩy, thường thường đẹp như bài thơ nhưng ít khi đi sâu vào tới sự thực đơn giản và ý nhị của cuộc đời. Trong những tác phẩm đầu tiên ấy, tôi không dám ao ước gì hơn được thấy đôi chút hứa hẹn về tương lai.

Ðỗ Tốn đã làm tôi ngạc nhiên một cách vui sướng từ khi mới xem xong vài ba truyện trong cuốn “HOA VÔNG VANG” này. Người bạn trẻ của tôi đã có những nhận xét rất tinh vi về đời sống, về những hành đông, tâm tính của người đời, có đủ kinh nghiệm không khác gì một nhà văn đã già giặn và sống nhiều.

Các nhân vật trong truyện, người nào cũng có tính cách riêng rõ ràng và linh động như người thực: từ Phong bồng bột và liều lĩnh trong truyện Bình Minh đến ông chủ giây thép an phận và đơn giản, cô Tuyên ngoan ngoãn trong Duyên Số và Kép Già vui đùa luôn để giấu những nỗi đau khổ ngấm ngầm.. Nhất là cô Lan  trong Ðịnh Mệnh,) cô Lan dịu dàng và yên lặng, rất có tính cách một người Việt Nam, tác giả gần như không nói đến mà ta đọc thấy linh hoạt vô cùng.

Tác giả lại biết nhận xét và diễn tả được cả những rung động mong manh thầm kín của lòng người bằng một vài nét rất đơn sơ. Tiếng nói: “Vâng, em yêu anh” của cô Lan, bàn tay cô Tuyên rứt mấy lá cỏ sắc đến chẩy máu, cây na bên cạnh vại nước ướt át, và cỏ đồi rộng rãi.. trong các truyện có rất nhiều những chỗ như thế, không có gì cả, nhưng trong những cử chỉ, những cảnh không đâu ấy, có ngấm ngầm không biết bao nhiêu là những cảm giác mung lung, không cần diễn tả mà rõ ràng hơn cả diễn tả.

Ðể cho tình cảm lôi kéo mình đi quá, và hay lợi dụng cơ hội, đó là thói thường của các nhà văn trẻ, nhưng tác giả “HOA VÔNG VANG” lúc nào cũng giữ được giản dị và giữ được điều độ, biết ngừng lại ở những chỗ nào cần phải ngừng. Tác giả lại tránh được cái tật quá say mê những câu văn hào nhoáng, đọc nghe rất kêu. Tuy văn trong “HOA VÔNG VANG” một đôi khi không đúng mẹo, dùng sai chữ, trùng tiếng, nhưng cái đó không hề gì, miễn là tác giả đến được sự thực và câu văn đã gợi lên trong lòng người đọc những cảm giác đúng hêt ý muốn của tác giả. Tuy mới viết lần đầu nhưng về cách dàn truyện, nhất là trong Duyên Số và Ðịnh Mệnh, tác giả đã tới được mức già giặn của những nhà văn đã viết nhiều.

Ðỗ Tốn viết bằng cảm giác nhiều hơn là bằng ý nghĩ: anh có những cảm giác rất mới lạ, sắc sảo và tâm hồn anh lúc nào cũng sẵn sàng rung động như tâm hồn một nghệ sĩ đa cảm bỡ ngỡ đứng trước cuộc đời muôn mầu đẹp vừa hé mở ra trước mắt.

Xem những truyện trong tập “HOA VÔNG VANG” tôi không thể không đem Ðỗ Tốn ra so sánh với một nhà viết truyện ngắn khác: Thạch Lam. Tôi thấy hai nhà văn có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Ðỗ Tốn sẽ là Thạch Lam thứ hai trong văn giới nước ta.

NHẤT LINH

Quảng Châu Tháng 12 năm 1942.

CTHÐ: Ðỗ Tốn là người viết tiểu thuyết nổi tiếng mà chỉ có một quyển tiểu thuyết duy nhất. Nhà văn Nhất Linh đặt nhiều hy vọng vào văn tài của  Ðỗ Tốn, Nhất Linh đặt Ðỗ Tốn ngang với  Thạch Lam, ông – Nhất Linh – tin tác giả Hoa Vông Vang sẽ là một Thạch Lam thứ hai. Chuyện đáng kể là  Nhất Linh coi Ðỗ Tốn là bạn ông. Dường như không có người viết tiểu thuyết nào được  Nhất Linh đề cao, kỳ vọng như Ðỗ Tốn.

Nhưng sau tác phẩm đầu tay Hoa Vông Vang được đón nhận và ca ngợi, Ðỗ Tốn không viết nữa. Một truyện ngắn cũng không thấy Ðỗ Tốn viết. Tôi không được quen thân với Ðỗ Tốn, sau năm 1954 tôi chỉ được gặp ông vài lần. Tôi không biết ông có qua khoá huấn luyện sĩ quan nào không hay ông là sĩ quan đồng hoá, ông được tuyển dụng vào quân đội và mang cấp sĩ quan? Năm 1957, 1958 Trung Úy Ðỗ Tốn làm việc trong Nha Tâm Lý Chiến; năm 1970 tôi gặp ông là Thiếu Tá ở Pleiku, năm 1972 ông giải ngũ, năm 1994 ông qua đời ở Sài Gòn.

Tác giả Hoa Vông Vang viết về Hoa Vông Vang:

Ðỗ Tốn. Vài Lời Nói Thêm

Từ ngày tập Hoa Vông Vang này xuất bản lần đầu tiên (1) tới nay, tôi thấy đã lắm bận trong khi nói chuyện, nhiều bạn cứ vô tình gọi la “Hoa Vông Vàng.” Trước sự sai lầm tuy nhỏ mọn đó tôi cũng thấy cần phải nói là thứ hoa mà tập truyện này mang tên không phải là hoa Vông mầu vàng như nhiều bạn lầm tưởng, mà là hoa của một thứ cây tên là Vông Vang, còn thứ hoa Vông Vang này mầu gì đó lại là truyện khác, chỉ biết trong các lời ca tình tứ của dân nơi đồng ruộng đã có câu: “Cây Vông Vang hoa vàng như nghệ.”

Hàng năm, cứ về dạo cuối xuân sang hạ, mà có khi tới cả mùa thu, nếu bạn đi chơi về vùng quê, bạn có thấy  những bông hoa lớn bằng hoa râm-bụt nở vàng tươi lẫn trong bờ cây bụi cỏ thì đúng là Hoa Vông Vang đó. Cây ông Vang thường chỉ cao tới độ ngang long. Các cô gái cắt cỏ lành mạnh hồng hào thường mang những bông hoa lớn mầu vàng ónh ánh rất dịu trong nắng sớm. Hoa Vông Vang rất đẹp, tuy nhiên cánh hoa cũng rất mỏng manh, chỉ một làn gió mạnh cũng đủ làm cho cánh hoa giập nát bơ sờ.

Nếu bạn thấy hoa, bạn hãy nên để mặc cho hoa phơ phất giữa cây cỏ thiên nhiên, như vậy thì hoa rất đẹp, chứ nếu vì mến hoa mà bạn vội hái để đem về thì thực là một điều đáng tiếc: hoa Vông Vang chỉ ưa cuộc sống giữa tự do và hoang dại – điều mà tự đáy tâm hồn ai nay chúng ta đều mơ ước – chứ nằm trong tay bạn thì chỉ một giờ thôi cũng đủ cho cả hoa và lá kia phải héo rũ.

Lại cũng có những bạn có nhiều thắc mắc trong sự tìm hiểu nên tôi đã từng nghe những câu hỏi như:

“Hoa Vông Vang là hoa gì hở anh?”

hoặc

“Này anh, hoa Vông Vang có  thực không hay là anh bịa đặt ra đấy? Văn sĩ các anh là hay tán dóc lắm.”

Thường lần nào nghe hỏi tôi cũng chỉ mỉm cười rồi tìm cách nói lảng sang chuyện khác – tự thâm tâm tôi, tôi nghĩ các bạn chẳng nên biết tới những điều đó làm gì – vì thực hoa Vông Vang có thực hay không thì có nghĩa lý gì đâu đối với văn chương.

Tôi có ý nói rằng những điều viết trong văn chương không nhất thiết phải là sự thực mà chỉ cần viết sao cho các điều đó có vẻ thực là đủ.

Vì chính những sự thực ở đời nhiều khi lại có vẻ không thực.

Ðỗ Tốn.

(1) Hoa Vông Vang do Nhà Ðời Nay xuất bản năm 1945.

CTHÐ: Tìm trên Internet, tôi thấy bài viết về Hoa Vông Vang của ông:

Võ Quang Yên. Vietscieces.

Võ Quang Yên: Trong những năm thập niên 40, hầu hết các học sinh Việt Nam đều có đọc Hoa Vông Vang của Ðỗ Tốn, tác phẩm được Giải Văn Chương Tự Lực Văn Ðoàn, và người đọc ít nhiều đều có mơ mộng với mối tình đầu của mình. Tác giả đã khéo tả tâm trạng của chàng thiếu niên yêu đương tha thiết mà chẳng dám thổ lộ với người mình yêu, cho đến lúc nàng lên xe hoa về nhà chồng. Truyện tác động vào trái tim tuổi trẻ khi đã một lần yêu trộm nhớ thầm ! Vậy mà hồi ấy tôi không biết và cũng không tìm hiểu bông vông vang thơm đẹp như thế nào. Có lẽ vì ở Huế không có cây ấy. Gần đây thôi, hơn một nửa thế kỷ sau, bên phương trời Tây, khi dọn nhà, nhân mân mê cuốn sách cũ trước khi sắp vào kệ, tôi như bị lôi cuốn lần giở đọc lại những dòng xưa đã từng làm mình bâng khuâng, hồi hộp thuở còn ngây thơ. Ừ nhỉ, vông vang là cây gì, hoa màu sắc, hương thơm ra sao ?

 Tìm tòi trong sách thì mới biết cây vông vang có nguồn gốc từ Ấn Ðộ nhưng mọc hoang dại khá phổ biến ở vùng trung du, trong vườn, trên nương rẫy, ven đường khắp nước ta, gặp nhiều ở Tiền Giang, Bến Tre, Hậu Giang,… cũng còn thấy ở Mã Lai, Trung Quốc, Philippines. Nó là cây thân cỏ cao khoảng 1m, phía gốc hơi thành gỗ, thân hơi có lông, lá hình tim, hoa màu vàng, quả thuôn trên phủ đầy lông trắng nhạt, trên mặt có những đường nhăn đồng tâm xung quanh rốn hạt. Ðỗ Tốn còn xác định thêm: “Hằng năm, cứ về dạo cuối xuân sang hạ, mà có khi tới cả mùa thu, nếu bạn đi chơi về vùng quê, bạn có thấy những bông hoa lớn bằng hoa râm bụt nở vàng tươi lẫn trong bờ cây bụi cỏ thì đúng là hoa vông vang đó… Hoa vông vang rất đẹp, tuy nhiên cánh hoa cũng rất mỏng manh, chỉ một làn gió mạnh cũng đủ làm cho cánh yếu rập nát bơ sờ”.

CTHÐ: Như vây là cây Vông Vang có ở miền Bắc, miền Nam nước tôi. Rất tiếc tôi chưa từng một lần nhìn thấy Hoa Vông Vang. Có thể tôi đã nhìn thấy hoa vông vang mà tôi không biết đó la hoa ông Vang. Ảnh Hoa Vông Vang đi cùng bài viết này là ảnh của ông Võ Quang Yên.

o O o

CTHÐ: Tôi đọc Thơ Thái Can năm tôi mười tuổi. Tôi không xúc động nhiều vì Thơ Thái Can. Trong bao nhiêu năm tôi không biết Thi sĩ Thái Can là bác sĩ, ông làm y sĩ ở Hà Nội từ những năm 1940, sau 1954 ông là bác sĩ ở Ðà Nẵng, Tháng Tư 1975 ông sang Hoa Kỳ, ông qua đời cách đây mấy năm ở Cali.

Tiểu sử Thi sĩ Thái Can trên Internet:

THÁI CAN (1910- 1998) là một trong 40 Nhà Thơ Việt Nam được nhắc đến trong cuốn Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh.

Ông ra đời năm 1910, nguyên quán tại xã Văn Lâm, Ðức Thọ, Hà Tĩnh. Ông học ở trường Vinh, trường Bảo Hộ, Ðại học Y khoa Ðông Dương. Ông tốt nghiệp Y khoa năm 1940 và hành nghề bác sĩ tại Ðà Nẵng, năm 1975 ông sang Hoa Kỳ. Ngày22/04/1998, Nhà thơ- bác sĩ Thái Can qua đời tại California.

Thơ Thái Can đăng trên các báo: Phong Hóa, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Hà Nội Báo, Văn Học Tạp Chí 1935. Những bài thơ đầu ký Th.C đã in trong quyển “Những nét đan thanh”, Ngân Sơn Tùng Thư – Huế xuất bản năm 1934.

Bài thơ nổi nhất của Thi sĩ Thái Can:

ANH BIẾT EM ÐI

Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che.
Em đừng quay lại nhìn anh nữa,
Anh biết em đi chẳng trở về.

Em nhớ làm chi tiếng ái ân
Ðàn xưa đã lỡ khúc dương cầm.
Dây loan chẳng đượn tình âu yếm.
Em nhớ làm chi tiếng ái ân.

Bên gốc thông già ta lỡ ghi
Tình ta âu yếm lúc xuân thì.
Em nên xóa dấu thề non nước
Bên gôc thông già ta lỡ ghi.

Chẳng phải vì anh, chẳng tại em
Hoa thu tàn tạ rụng bên thềm.
Ái tình sớm nở chiều phai rụng
Chẳng phải vì anh, chẳng p\tại em.

Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan
Tình kia sao giữ được muôn vàn.
Em đừng nên giận tình phai lạt:
Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan.

Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che.
Em đừng quay lại nhìn anh nữa,
Anh biết em đi chẳng trở về.

o O o

CTHÐ: Trước năm 1945 tôi có đọc một số tiểu thuyết của Nhà Văn Phạm Cao Củng, tôi nhớ tôi đọc hai truyện Nhà Sư Thọt, Kỳ Phát giết người, nhân vật Kỳ Phát trong tiểu thuyết của ông không hấp dẫn tôi. Tất nhiên, tôi đọc truyện nhà thám tử tư Kỳ Phát những năm tôi 11, 12 tuổi, tôi không thích những chuyện suy diễn, lý luận. Từ năm 1950 tôi không biết gì về ông Phạm Cao Củng. Tôi không biết những năm 1950 ông Phạm Cao Củng làm gì ở Hà Nội, sau năm 1954 khộng một lần tôi gặp hay nghe nói đến ông Phạm Cao Củng ở Sài Gòn. Sang Hoa Kỳ năm 1995 tôi nghe nói ông Phạm Cao Củng ở Florida, có thời ông viết cho Bán Nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong, những bài viết của ông ký bút hiệu Hạnh Thuần.

Tiểu sử Nhà Văn Phạm Cao Củng trên Internet.

Phạm Cao Củng sinh năm 1913 tại Nam Ðịnh. Năm 1936, khi họcTrường Kỹ Nghệ Thực Hành ở Hải Phòng, ông bắt đầu viết truyện trinh thám. Cuốn Vết tay trên trần xuất bản năm 1936, in khoảng 100 trang lúc đó có thể coi là cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của văn học hiện đại. Ông cũng là nhà văn viết sách series đầu tiên ở Việt Nam. Sau khi vào làm cho tờ Hải Phòng tuần báo của Nhà xuất bản Mai Lĩnh, ông bắt đầu cuộc đời của một nhà văn chuyên nghiệp, viết cho Tiểu Thuyết Nhật Báo, Phong hóa, Ngày Nay… Năm 1954, ông di cư vào Sài Gòn. Năm 1975, ông đến Hoa Kỳ và cho đến nay định cư ở bangFlorida.

CTHÐ: Ra đời năm 1913, đến năm nay, năm 2012, Nhà Văn Phạm Cao Củng đã 100 tuổi. Khoảng năm 1993 quyển Hồi Ký Phạm Cao Củng được xuất bản ở Hoa Kỳ. Khoảng năm 2000, Hồi Ký Phạm Cao Củng được xuất bản ở Sài Gòn. Ông Phạm Cao Củng là nhà văn Việt Nam sống thọ nhất. Năm nay – 2012 – ông vẫn sống ở Florida.

Tôi không được thấy quyển Hồi Ký của Nhà Văn Phạm Cao Củng.

o O o

Tuyết sương lạnh ngắt sự đời
Kỳ Hoa sầu nhớ chuyện người ngày xưa.

Vũ Ngọc Phan viết về Phạm Cao Củng. Trích Nhà Văn Hiện Ðại.

Trong các tiểu thuyết trinh thám, như của Thế Lữ, Bùi Huy Phồn và Phạm Cao Củng, chỉ có tiểu thuyết của Phạm Cao ủng là có phần đặc sắc.

Phạm Cao Củng là tác giả những tập truyện trinh thám Vết Tay trên trần, Chiếc tất nhuộm bùn, Người một mắt, Kỳ Phát giết người, Nhà su thọt,Ðôi hoa tai của Bà Chúa, Ðám cưới Kỳ Phát.

Cái đặc biệt mà người ta thấy ở tiểu thuyết trinh thám của Phạm Cao Củng là những nhân vật và khung cảnh do ông sáng tạo đều có tính chất Việt Nam, hợp với trình độ ng